No.
STREAM
DESTINATION
1
Violet-Blue
Throat Centre
2
Green
Navel Centre and Abdomen generally
3
Yellow
Heart Centre
4
Orange-Dark Red ) and some Dark Purple).
Base of Spine Centre
5
Rose-Red
Nervous System
As the various kinds of Prâna – charged atoms are distributed where required, the charge of Prâna is withdrawn from them, precisely as a charge of electricity might be withdrawn. The Prâna gives life to the Etheric Double and, through that, to the dense body, the degree of health of the parts of the body being largely determined by the volume of Prâna distributed. The bearing of this significant fact on the maintenance of physical vigour and the cure of disease is clearly of very great importance and will be more fully considered in the section devoted to Healing and Mesmerism.
Khi các loại nguyên tử được nạp prana khác nhau được phân phối đến nơi cần thiết, điện tích prana được rút khỏi chúng, chính xác như một điện tích có thể được rút ra. Prana đem sự sống đến cho bản sao dĩ thái và, qua đó, cho thể đậm đặc; mức độ sức khỏe của các phần trong thể phần lớn được xác định bởi lượng prana được phân phối. Ý nghĩa của sự kiện quan trọng này đối với việc duy trì sinh lực hồng trần và chữa trị bệnh tật rõ ràng là hết sức quan trọng, và sẽ được xem xét đầy đủ hơn trong phần dành cho Trị liệu và Thôi miên.
The atoms bearing the rose-coloured Prâna grow gradually paler as they sweep along the nerves and part with their Prânic content. They are eventually discharged from the body through the pores of the skin (as well as in other ways), forming what is called the health aura, a pale bluish-white emanation, of which a plate is given in Man, Visible and Invisible, page 128.
Các nguyên tử mang prana màu hồng dần dần nhạt đi khi chúng quét dọc theo các dây thần kinh và trao đi nội dung prana của mình. Cuối cùng chúng được thải ra khỏi thể qua các lỗ chân lông của da, cũng như theo những cách khác, tạo thành cái được gọi là hào quang sức khỏe, một phát xạ trắng xanh nhạt, có một bản minh họa trong Con Người, Hữu Hình và Vô Hình, trang 128.
In a man in vigorous health the spleen does its work so generously that considerably more of the particles charged with Prâna are present than the man requires for his own use. These unused particles are discharged from the body in all directions, through the health aura, along with the particles from which the Prâna has been extracted. Such a man is thus a source of health and strength to those around him, constantly though unconsciously shedding vitality on any who may be in his vicinity. This process may be considerably intensified by those who definitely set themselves to heal others, by mesmeric passes and otherwise, as we shall see more fully in a later chapter.
Ở một người có sức khỏe dồi dào, lá lách thực hiện công việc của nó một cách hào phóng đến mức có nhiều hạt được nạp prana hiện diện hơn đáng kể so với nhu cầu sử dụng của chính người ấy. Những hạt chưa dùng này được thải ra khỏi thể theo mọi hướng, qua hào quang sức khỏe, cùng với các hạt đã bị rút prana. Vì vậy, một người như thế là nguồn sức khỏe và sức mạnh cho những người xung quanh, liên tục dù vô thức tuôn rải sinh lực lên bất cứ ai ở gần y. Tiến trình này có thể được tăng cường đáng kể bởi những người dứt khoát đặt mình vào việc chữa lành người khác, bằng các đường vuốt thôi miên và những cách khác, như chúng ta sẽ thấy đầy đủ hơn trong một chương sau.
In addition to these particles just mentioned, it is also well known that small particles of dense physical matter are continually being thrown off from a man’s body, in insensible perspiration and in other ways. A clairvoyant sees these particles as a faint grey mist. Many of the particles are crystalline in form and therefore appear as geometrical figures; one of the commonest is that of salt, or sodium chloride, which takes the form of cubes.
Ngoài những hạt vừa đề cập, người ta cũng biết rõ rằng những hạt nhỏ của vật chất hồng trần đậm đặc liên tục bị thải ra khỏi thể của một người, qua mồ hôi không cảm thấy được và bằng những cách khác. Một nhà thông nhãn thấy những hạt này như một màn sương xám nhạt. Nhiều hạt có dạng tinh thể và do đó xuất hiện như các hình hình học; một trong những dạng phổ biến nhất là muối, hay natri clorua, có hình khối lập phương.
A man on the other hand, who is unable for any reason to specialise for his own use a sufficient amount of Prâna, frequently and also unconsciously acts as a sponge, his physical elemental drawing vitality from any sensitive person who happens to be near, to his own temporary benefit, but often to the serious injury of the victim. This phenomenon largely accounts for those feelings of weariness and languor which come over one after being near people who, not being very strong themselves, possess this unfortunate vampire-like faculty of draining others of vitality. The same thing may happen, often in an aggravated form, at spiritualistic séances.
Trái lại, một người vì bất cứ lý do nào không thể chuyên biệt hóa đủ lượng prana cho việc sử dụng của chính mình, thường xuyên và cũng vô thức hoạt động như một miếng bọt biển; tinh linh thể xác của y rút sinh lực từ bất kỳ người nhạy cảm nào tình cờ ở gần, đem lại lợi ích tạm thời cho chính y, nhưng thường gây tổn hại nghiêm trọng cho nạn nhân. Hiện tượng này phần lớn giải thích những cảm giác mệt mỏi và uể oải xuất hiện nơi một người sau khi ở gần những người vốn không mạnh khỏe lắm, lại sở hữu năng lực hút cạn sinh lực người khác theo kiểu hút máu đáng tiếc này. Điều tương tự có thể xảy ra, thường ở dạng trầm trọng hơn, trong các buổi gọi hồn của nhà thần linh học.
The vegetable kingdom also absorbs vitality, but seems in most cases to use only a small part of it. Many trees, especially the pine and eucalyptus, extract from the globules almost exactly the same constituents as does the higher part of man’s etheric body, and reject any superfluous atoms charged with rose-coloured Prâna which they do not themselves require. Hence the proximity of such trees is extremely beneficial for people who are nervously depleted.
Giới thực vật cũng hấp thụ sinh lực, nhưng dường như trong hầu hết các trường hợp chỉ dùng một phần nhỏ của nó. Nhiều cây, đặc biệt là thông và bạch đàn, trích xuất từ các sinh khí cầu hầu như đúng những thành phần giống như phần cao hơn của thể dĩ thái con người, và loại bỏ mọi nguyên tử dư thừa được nạp prana màu hồng mà chính chúng không cần. Do đó, sự gần gũi với những cây như thế cực kỳ có lợi cho những người suy kiệt thần kinh.
The health aura, consisting of these particles ejected from the body, serves the useful purpose of protecting the man from the invasion of disease germs. In health the particles are thrown out through the pores in straight lines, at right angles to the surface of the body, giving to the health aura a striated effect. As long as the lines remain firm and straight the body seems to be almost entirely protected from the attack of evil physical influences, such as disease germs, the germs being actually repelled and carried away by the outrush of Prânic force. But, when on account of weakness, over-fatigue, a wound, depression of spirits, or through the excesses of an irregular life, an unusually large amount of Prâna is required to repair waste or damage within the body, and there is consequently a serious diminution in the quantity radiated, the lines of the health aura droop, become erratic and confused, the system of defence is weakened, and it is then comparatively easy for deadly germs to effect an entrance (vide M., V., & I., p. 132, Plate XXV).
Hào quang sức khỏe, gồm các hạt này bị đẩy ra khỏi thể, phục vụ mục đích hữu ích là bảo vệ con người khỏi sự xâm nhập của vi trùng bệnh tật. Khi khỏe mạnh, các hạt được phóng ra qua các lỗ chân lông theo những đường thẳng, vuông góc với bề mặt của thể, tạo cho hào quang sức khỏe một hiệu ứng có vân. Chừng nào các đường ấy còn vững chắc và thẳng, thể dường như hầu như hoàn toàn được bảo vệ khỏi sự tấn công của các ảnh hưởng hồng trần độc hại, như vi trùng bệnh tật; các vi trùng thực sự bị đẩy lùi và cuốn đi bởi dòng mãnh lực prana tuôn ra. Nhưng khi, do yếu sức, quá mệt mỏi, vết thương, tinh thần suy sụp, hoặc do những phóng túng của một đời sống thất thường, một lượng prana lớn bất thường cần thiết để sửa chữa hao tổn hay hư hại bên trong thể, và do đó lượng phát xạ bị giảm nghiêm trọng, các đường của hào quang sức khỏe rủ xuống, trở nên thất thường và rối loạn, hệ thống phòng vệ bị suy yếu, và bấy giờ các vi trùng chết người tương đối dễ dàng xâm nhập vào.
In The Science of breath, translated by Râma Prasâd, it is stated that the natural length from the body to the periphery of the “halo” of Prâna, is 10 “fingers” during inspiration of the breath and 12 during expiration. At other times the lengths are stated to be as follows: in eating and speaking, 18; in walking, 24; in running, 42; in cohabitation 65; in sleeping, 100. A reduction in length is said to result when a man overcomes desire, gains the 8 Siddhis, etc. It seems probable, though by no means certain, that the “halo” mentioned is the health aura. The term "fingers" here means, according to the method of reckoning used in India, not the length of a finger but with width.
Trong Khoa Học về Hơi Thở, do Râma Prasâd dịch, có nói rằng chiều dài tự nhiên từ thể đến chu vi của “vầng sáng” prana là 10 “ngón tay” trong lúc hít vào và 12 trong lúc thở ra. Vào những lúc khác, các chiều dài được nêu như sau: khi ăn và nói, 18; khi đi bộ, 24; khi chạy, 42; khi giao hợp, 65; khi ngủ, 100. Người ta nói rằng chiều dài giảm xuống khi một người chiến thắng dục vọng, đạt được 8 Siddhi, v.v. Dường như có khả năng, dù hoàn toàn không chắc chắn, rằng “vầng sáng” được nói đến chính là hào quang sức khỏe. Thuật ngữ “ngón tay” ở đây, theo phương pháp tính được dùng ở Ấn Độ, không có nghĩa là chiều dài của một ngón tay mà là bề rộng của nó.
Both etheric matter and Prâna are very readily amenable to the human will. It is possible, therefore, to protect oneself to a considerable extent from hostile influences mentioned above, by making an effort of the will to check the radiation of vitality at the outer extremity of the health aura, building it there into a wall or shell which will be impervious to disease germs and also prevent the vitality from being sucked away by any one near who has the vampire tendency.
Cả vật chất dĩ thái lẫn prana đều rất dễ thuận theo ý chí con người. Vì vậy, có thể bảo vệ bản thân đến một mức đáng kể khỏi những ảnh hưởng thù nghịch đã nói ở trên, bằng cách vận dụng ý chí để chặn sự phát xạ sinh lực ở rìa ngoài của hào quang sức khỏe, xây dựng nó ở đó thành một bức tường hay lớp vỏ không thấm đối với vi trùng bệnh tật, đồng thời ngăn sinh lực bị bất cứ ai ở gần có khuynh hướng hút máu rút đi.
With a little further effort a shell may be made impervious also to astral or mental influence.
Với một chút nỗ lực thêm nữa, một lớp vỏ cũng có thể được làm cho không thấm đối với ảnh hưởng cảm dục hay trí tuệ.
The question of etheric shells is so important that it will be necessary later on in this book to enter into it rather more fully than we have done here, where we are dealing purely with the health aura.
Vấn đề các lớp vỏ dĩ thái quan trọng đến mức về sau trong sách này cần phải đi sâu vào nó đầy đủ hơn một chút so với ở đây, nơi chúng ta chỉ bàn thuần túy về hào quang sức khỏe.
The development of the spleen centre enables the man to remember his astral journeys, though sometimes only very partially, the faculty associated with the corresponding astral centre being that of travelling consciously in the astral body. Those vague memories, that most of us have, of blissful flights through the air are often due to slight accidental stimulation of the spleen chakram.
Sự phát triển của trung tâm lá lách giúp con người nhớ được các cuộc du hành cảm dục của mình, dù đôi khi chỉ rất phần nào; năng lực liên hệ với trung tâm cảm dục tương ứng là khả năng du hành một cách có ý thức trong thể cảm dục. Những ký ức mơ hồ mà phần lớn chúng ta có về các chuyến bay đầy chí phúc trong không trung thường là do sự kích thích nhẹ tình cờ của luân xa lá lách.
It maybe mentioned, in passing, that the astral centre corresponding to the spleen also has the function of vitalising the whole astral body.
Nhân tiện có thể đề cập rằng trung tâm cảm dục tương ứng với lá lách cũng có chức năng tiếp sinh lực cho toàn bộ thể cảm dục.
CHAPTER V – CHƯƠNG V
THE BASE OF THE SPINE CENTRE – TRUNG TÂM ĐÁY CỘT SỐNG
The first centre, or chakram, at the base of the spine, has a primary force which radiates in four spokes, making the centre appear to be divided into quadrants, with hollows between them, like a cross, a symbol which is often used to represent the centre.
Trung tâm thứ nhất, hay luân xa, ở đáy cột sống, có một mãnh lực chính phát xạ theo bốn nan hoa, khiến trung tâm trông như được chia thành bốn phần tư, với các hõm giữa chúng, giống như một thập giá, một biểu tượng thường được dùng để tượng trưng cho trung tâm này.
DIAGRAM V – BIỂU ĐỒ V
Base of Spine Centre – Trung tâm Đáy Cột sống
(a) Normal person – (a) Người bình thường
Function of Astral Centre: Seat of Kundalini
Chức năng của Trung tâm Cảm dục: Chỗ ngự của Kundalini
Function of Etheric Centre: Seat of Kundalini
Chức năng của Trung tâm Dĩ thái: Chỗ ngự của Kundalini
Appearance: "Fiery orange-red". number of "spokes" four
Vẻ ngoài: “Đỏ cam rực lửa”. số “nan hoa” là bốn
N.B. Kundalini has seven layers or degrees of force.
Lưu ý. Kundalini có bảy lớp hay cấp độ mãnh lực.
When aroused into full activity, this centre is fiery orange-red in colour corresponding closely with the stream of dark red and orange vitality which comes to it from the spleen centre. It may be mentioned that in every case there is a similar correspondence between the colour of the stream of vitality flowing into a centre and the colour of the centre itself.
Khi được khơi dậy vào hoạt động đầy đủ, trung tâm này có màu đỏ cam rực lửa, tương ứng rất sát với dòng sinh lực đỏ sẫm và cam đi đến nó từ trung tâm lá lách. Có thể đề cập rằng trong mọi trường hợp đều có một sự tương ứng tương tự giữa màu của dòng sinh lực chảy vào một trung tâm và màu của chính trung tâm ấy.
DIAGRAM V – BIỂU ĐỒ V
Base of Spine Centre – Trung tâm Đáy Cột sống
(b) Developed person – (b) Người đã phát triển
In addition to the orange and darker reds, there is also some dark purple vitality flowing into this centre, rather as though the spectrum bent round in a circle and the colours began again at a lower octave.
Ngoài màu cam và các sắc đỏ sẫm hơn, còn có một phần sinh lực tím sẫm chảy vào trung tâm này, gần như thể quang phổ uốn quanh thành một vòng tròn và các màu bắt đầu lại ở một quãng tám thấp hơn.
From this centre the orange-red ray flows to the generative organs, energising the sexual nature: it also seems to enter the blood and keep up the heat of the body.
Từ trung tâm này, tia đỏ cam chảy đến các cơ quan sinh sản, tiếp năng lượng cho bản chất tính dục; nó cũng dường như đi vào máu và duy trì nhiệt của thể.
A very remarkable and important effect can be produced by a person who persistently refuses to yield to the lower nature. By long and determined effort the orange-red ray can be deflected upwards to the brain, where all three constituents undergo a profound modification. The orange is raised into pure yellow and intensifies the intellectual powers. The dark red becomes crimson and increases the power of unselfish affection; the dark purple is transmuted into a beautiful pale violet, quickening the spiritual part of the nature.
Một hiệu quả rất đáng chú ý và quan trọng có thể được tạo ra bởi một người kiên trì từ chối nhượng bộ bản chất thấp. Bằng nỗ lực lâu dài và kiên quyết, tia đỏ cam có thể được bẻ hướng đi lên bộ não, nơi cả ba thành phần đều trải qua một sự biến đổi sâu xa. Màu cam được nâng lên thành vàng thuần khiết và tăng cường các quyền năng trí năng. Màu đỏ sẫm trở thành đỏ thắm và gia tăng quyền năng của tình cảm vô ngã; màu tím sẫm được chuyển hoá thành một màu tím nhạt tuyệt đẹp, làm linh hoạt phần tinh thần của bản chất.
The seat of Kundalini, the Serpent-Fire, is in the base of the spine centre. This will be dealt with in a later chapter: for THE present we may just note that a man who has achieved the transmutation just mentioned will find that sensual desires no longer trouble him, and when it becomes necessary for him to arouse the serpent-fire he will be free from the most serious of dangers of that process. When a man has finally completed the change, the orange-red ray passes straight into the centre at the base of the spine, and thence runs upwards through the hollow of the vertebral column and so to the brain.
Chỗ ngự của Kundalini, Lửa Rắn, nằm trong trung tâm đáy cột sống. Điều này sẽ được đề cập trong một chương sau; hiện tại, chúng ta chỉ cần lưu ý rằng một người đã đạt được sự chuyển hoá vừa nói sẽ thấy các dục vọng giác quan không còn quấy rầy y nữa, và khi cần khơi dậy lửa rắn, y sẽ thoát khỏi những nguy hiểm nghiêm trọng nhất của tiến trình ấy. Khi một người cuối cùng đã hoàn tất sự thay đổi, tia đỏ cam đi thẳng vào trung tâm ở đáy cột sống, và từ đó chạy lên qua khoang rỗng của cột sống rồi đến bộ não.
A flaming cross is a symbol sometimes used to represent the serpent-fire residing in the base of the spine cenre.
Một thập giá rực lửa là biểu tượng đôi khi được dùng để biểu thị lửa-rắn cư ngụ ở trung tâm đáy cột sống.
CHAPTER VI – CHƯƠNG VI
THE NAVEL CENTRE – TRUNG TÂM RỐN
The second centre, at the navel or solar plexus, receives a primary force which radiates in ten directions, there being ten undulations or petals.
Trung tâm thứ hai, ở rốn hay tùng thái dương, tiếp nhận một mãnh lực chính yếu tỏa ra theo mười hướng, vì có mười làn sóng hay cánh hoa.
Its predominant colour is a curious blending of various shades of red, though there is also a great deal of green in it. It receives the green ray from the spleen centre, that ray also flooding the abdomen, vivifying the liver, kidneys, intestines, and the digestive apparatus generally, centering especially in the solar plexus.
Màu sắc nổi trội của nó là một sự hòa trộn kỳ lạ của nhiều sắc đỏ khác nhau, dù trong đó cũng có rất nhiều màu lục. Nó tiếp nhận cung lục từ Luân xa lá lách; cung ấy cũng tràn ngập vùng bụng, tiếp sinh lực cho gan, thận, ruột và nói chung là bộ máy tiêu hóa, đặc biệt tập trung ở tùng thái dương.
DIAGRAM VI – SƠ ĐỒ VI
Navel Centre – Trung Tâm Rốn
Function of Astral Centre: Feeling: general sensitiveness.
Chức năng của Trung tâm Cảm dục: Cảm giác: sự nhạy cảm tổng quát.
Function of Etheric Centre: Feeling astral influences.
Chức năng của Trung tâm Dĩ thái: Cảm nhận các ảnh hưởng cảm dục.
Appearance: "various shades of red, with much green". Number of "spokes" ten
Sắc tướng: “nhiều sắc đỏ khác nhau, với nhiều màu lục”. Số “nan hoa” là mười
The centre is closely associated with feelings and emotions of various kinds. The corresponding astral centre, when awakened, gives the power of feeling, a sensitiveness to all sorts of influences, though without as yet anything like the definite comprehension that comes from the faculties corresponding to seeing or hearing. When, , therefore, the etheric centre becomes active, the man begins in the physical body to be conscious of astral influences, vaguely feeling friendliness or hostility, or that some places are pleasant and others unpleasant, but without the least knowing why.
Trung tâm này liên hệ mật thiết với các cảm giác và cảm xúc thuộc nhiều loại khác nhau. Trung tâm cảm dục tương ứng, khi được đánh thức, ban cho năng lực cảm nhận, một sự nhạy cảm đối với mọi loại ảnh hưởng, dù khi ấy vẫn chưa có điều gì giống như sự thấu hiểu xác định vốn đến từ các quan năng tương ứng với việc thấy hay nghe. Do đó, khi trung tâm dĩ thái trở nên hoạt động, con người bắt đầu, trong thể xác, có ý thức về các ảnh hưởng cảm dục, mơ hồ cảm thấy sự thân thiện hay thù nghịch, hoặc cảm thấy một số nơi dễ chịu còn những nơi khác khó chịu, nhưng hoàn toàn không biết tại sao.
The Sanskrit name for this centre is Manipûra.
Tên tiếng Phạn của trung tâm này là Manipura.
CHAPTER VII – CHƯƠNG VII
THE HEART CENTRE – TRUNG TÂM TIM
Having already dealt with the third centre, that near the spleen, we pass next to the fourth centre, that of the heart.
Vì đã đề cập đến trung tâm thứ ba, tức trung tâm gần lá lách, tiếp theo chúng ta chuyển sang trung tâm thứ tư, trung tâm của tim.
DIAGRAM VII – SƠ ĐỒ VII
Heart Centre – Trung Tâm Tim
N.B. The Yellow Ray permeates the blood, and is carried all over the body with it.
Lưu ý. Cung Vàng thấm nhuần máu, và cùng với máu được đưa đi khắp thể.
Function of Astral centre: Comprehension of Astral vibrations.
Chức năng của Trung tâm Cảm dục: Thấu hiểu các rung động Cảm dục.
Function of Etheric Centre: Consciousness of feelings of others.
Chức năng của Trung tâm Dĩ thái: Tâm thức về cảm giác của người khác.
Appearance: "glowing golden". Number of "spokes", 12.
Sắc tướng: “vàng rực rỡ”. Số “nan hoa”, 12.
This chakram has twelve spokes or radiations, and is a glowing golden colour. It receives the yellow ray from the spleen centre; when the current is full and strong it produces strength and regularity in the heart section. Flowing round the heart chakram, the yellow ray also interpenetrates the blood and thus is carried all over the body. It also passes on to the brain and permeates it, though directing itself principally to the twelve-petalled flower in the middle of the seventh or highest centre. In the brain, it confers the power of high philosophical and metaphysical thought.
Luân xa này có mười hai nan hoa hay tia phát xạ, và có màu vàng rực rỡ. Nó tiếp nhận cung vàng từ Luân xa lá lách; khi dòng lưu chuyển đầy đủ và mạnh mẽ, nó tạo ra sức mạnh và sự điều hòa trong khu vực tim. Khi chảy quanh Luân xa tim, cung vàng cũng thâm nhập vào máu và nhờ vậy được đưa đi khắp thể. Nó cũng đi tiếp lên bộ não và thấm nhuần bộ não, dù chủ yếu tự hướng đến đóa hoa mười hai cánh ở giữa trung tâm thứ bảy hay trung tâm cao nhất. Trong bộ não, nó ban cho năng lực tư tưởng triết học và siêu hình cao siêu.
The corresponding astral centre, when awakened, endows a man with the power to comprehend and sympathise with, and so instinctively understand, the feelings of other astral entities.
Trung tâm cảm dục tương ứng, khi được đánh thức, ban cho con người năng lực thấu hiểu, đồng cảm với, và do đó hiểu một cách bản năng, các cảm giác của những thực thể cảm dục khác.
The etheric centre, therefore, makes a man aware, in his physical consciousness, of the joys and sorrows of others, and sometimes even causes him to reproduce in himself by sympathy their physical aches and pains.
Do đó, trung tâm dĩ thái khiến con người, trong tâm thức hồng trần của mình, nhận biết những niềm vui và nỗi buồn của người khác, và đôi khi thậm chí còn khiến y tái tạo trong chính mình, bằng sự đồng cảm, những cơn đau nhức thể xác của họ.
The Sanskrit for this chakram is Anâhata.
Tên tiếng Phạn của luân xa này là Anahata.
CHAPTER VIII – CHƯƠNG VIII
THE THROAT CENTRE – TRUNG TÂM CỔ HỌNG
This chakram, the fifth, has sixteen spokes, and, therefore, sixteen petals or divisions. In colour it shows a good deal of blue, but its general effect is silvery and gleaming, not unlike moonlight on rippling water.
Luân xa này, trung tâm thứ năm, có mười sáu nan hoa, và do đó có mười sáu cánh hoa hay phần chia. Về màu sắc, nó biểu lộ khá nhiều màu lam, nhưng hiệu quả tổng quát của nó là bạc và lấp lánh, không khác mấy ánh trăng trên mặt nước gợn sóng.
It receives the violet-blue ray from the spleen chakram. This ray then appears to divide, the light blue remaining to course through and vivify the throat centre, while the dark blue and violet pass on to the brain.
Nó tiếp nhận cung tím-lam từ Luân xa lá lách. Bấy giờ cung này dường như phân chia: màu lam nhạt ở lại để luân lưu qua và tiếp sinh lực cho trung tâm cổ họng, trong khi màu lam đậm và tím đi tiếp lên bộ não.
The light blue gives health to the region of the throat, the strength and elasticity of the vocal cords of a great singer or speaker, for example, being accompanied by special brilliance and activity of this ray.
Màu lam nhạt đem lại sức khỏe cho vùng cổ họng; chẳng hạn, sức mạnh và độ đàn hồi của dây thanh ở một ca sĩ hay diễn giả lớn đi kèm với sự rực rỡ và hoạt động đặc biệt của cung này.
DIAGRAM VIII – SƠ ĐỒ VIII
Throat Centre – Trung Tâm Cổ Họng
Function of Astral Centre: Hearing
Chức năng của Trung tâm Cảm dục: Nghe
Function of Etheric Centre: Etheric and Astral hearing.
Chức năng của Trung tâm Dĩ thái: Nghe dĩ thái và Cảm dục.
Appearance: "Silvery and gleaming with a good deal of blue".
Sắc tướng: “Bạc và lấp lánh với khá nhiều màu lam”.
Number of "spokes" 16.
Số “nan hoa” 16.
The dark blue expends itself in the lower central parts of the brain, while the violet floods the upper part and appears to give special vigour to the chakram at the top of the head, diffusing itself chiefly through the nine hundred and sixty petals of the outer part of the centre.
Màu lam đậm tiêu hao chính nó ở những phần trung tâm thấp hơn của bộ não, trong khi màu tím tràn ngập phần trên và dường như đem lại sinh lực đặc biệt cho luân xa ở đỉnh đầu, chủ yếu khuếch tán qua chín trăm sáu mươi cánh hoa thuộc phần ngoài của trung tâm.
Ordinary thought is stimulated by the blue ray, mingled with part of the yellow (from the heart centre, vide Chapter VII.).
Tư tưởng thông thường được kích thích bởi cung lam, hòa với một phần cung vàng từ trung tâm tim, xem Chương VII.
In some forms of idiocy the yellow and blue-violet flow to the brain is almost inhibited.
Trong một vài dạng thiểu năng trí tuệ, dòng vàng và lam-tím chảy lên bộ não hầu như bị ức chế.
Thought and emotion of a high spiritual type seem to depend largely upon the violet ray.
Tư tưởng và cảm xúc thuộc loại tinh thần cao dường như phần lớn tùy thuộc vào cung tím.
The awakening of the corresponding astral centre gives the power of hearing on the astral plane, that is to say, the faculty which produces in the astral world the effect similar to that which in the physical world we call hearing.
Sự thức tỉnh của trung tâm cảm dục tương ứng đem lại năng lực nghe trên cõi cảm dục, nghĩa là quan năng tạo ra trong thế giới cảm dục một hiệu quả tương tự với điều mà trong thế giới hồng trần chúng ta gọi là nghe.
When the etheric centre is aroused, the man in his physical consciousness hears voices, which sometimes make all kinds of suggestions to him. He may hear music, or other less pleasant sounds. When fully working, it makes a man clairaudient so far as the etheric and astral planes are concerned.
Khi trung tâm dĩ thái được khơi dậy, con người trong tâm thức hồng trần của mình nghe các tiếng nói, đôi khi đưa ra mọi loại gợi ý cho y. Y có thể nghe âm nhạc, hoặc những âm thanh khác kém dễ chịu hơn. Khi hoạt động đầy đủ, nó khiến con người trở nên thông nhĩ trong phạm vi các cõi dĩ thái và cảm dục.
The Sanskrit name for this centre is Visuddha.
Tên tiếng Phạn của trung tâm này là Visuddha.
CHAPTER IX – CHƯƠNG IX
THE CENTRE BETWEEN THE EYEBROWS – TRUNG TÂM GIỮA HAI LÔNG MÀY
The sixth centre, that between the eyebrows, has ninety-six spokes. In Indian books, however, it is mentioned as having only two petals, this being probably due to the fact that it presents the appearance of being divided into halves. Of these, the one is predominantly rose-coloured, though with a great deal of yellow in it, and the other predominantly a kind of purplish-blue.
Trung tâm thứ sáu, trung tâm giữa hai lông mày, có chín mươi sáu nan hoa. Tuy nhiên, trong các sách Ấn Độ, nó được nói là chỉ có hai cánh hoa, điều này có lẽ do sự kiện rằng nó hiện ra như thể được chia thành hai nửa. Trong hai nửa ấy, một nửa chủ yếu có màu hồng, dù trong đó có rất nhiều màu vàng, còn nửa kia chủ yếu là một loại lam ánh tím.
DIAGRAM IX – SƠ ĐỒ IX
Between the Eyebrows Center – Trung Tâm Giữa Hai Lông Mày
Function of Astral Centre: sight.
Chức năng của Trung tâm Cảm dục: thấy.
Function of Etheric Centre: Clairvoyance: Magnification.
Chức năng của Trung tâm Dĩ thái: Thông nhãn: phóng đại.
Appearance: half' predominantly rose, with much yellow, half "predominantly a kind of purplish blue".
Sắc tướng: một nửa “chủ yếu màu hồng, với nhiều màu vàng”, một nửa “chủ yếu là một loại lam ánh tím”.
Number of "spokes" 96.
Số “nan hoa” 96.
The writer has been unable to find any specific description of the source of the Prânic stream which flows into this centre, though it is mentioned in The Inner Life, p. 449, that the purplish-blue appearance of one half of the centre agrees closely with the colours of the special types of vitality that vivify it. This would seem to indicate the dark blue )and violet?) ray which passes the throat centre and proceeds to the brain.
Tác giả chưa thể tìm thấy bất kỳ mô tả cụ thể nào về nguồn của dòng prana chảy vào trung tâm này, dù trong Đời Sống Bên Trong, trang 449, có nói rằng sắc tướng lam ánh tím của một nửa trung tâm rất tương hợp với màu sắc của các loại sinh lực đặc biệt tiếp sinh lực cho nó. Điều này dường như chỉ ra cung lam đậm và có lẽ tím, vốn đi qua trung tâm cổ họng và tiến lên bộ não.
The development of the corresponding astral centre confers the power to perceive definitely the nature and shape of astral objects, instead of vaguely sensing their presence.
Sự phát triển của trung tâm cảm dục tương ứng ban cho năng lực tri giác một cách xác định bản chất và hình dạng của các đối tượng cảm dục, thay vì chỉ mơ hồ cảm nhận sự hiện diện của chúng.
The awakening of the etheric centre cause a man to see objects, and to have various sorts of waking visions of places or people. When just beginning to awaken, landscapes and clouds of colour are half-perceived. When fully developed it brings about clairvoyance.
Sự thức tỉnh của trung tâm dĩ thái khiến con người thấy các đối tượng, và có nhiều loại linh ảnh tỉnh thức về nơi chốn hoặc con người. Khi mới bắt đầu thức tỉnh, phong cảnh và những đám mây màu sắc được nhận thấy lờ mờ. Khi phát triển đầy đủ, nó đem lại thông nhãn.
The remarkable faculty of magnification of vision, or its converse, is associated with this centre, and will be described in the chapter on Etheric Sight.
Quan năng đáng chú ý về sự phóng đại tầm nhìn, hoặc điều ngược lại của nó, liên hệ với trung tâm này, và sẽ được mô tả trong chương về Thị Giác Dĩ Thái.
In Sanskrit this centre is known as Ajnā.
Trong tiếng Phạn, trung tâm này được biết là Ajna.
CHAPTER X – CHƯƠNG X
THE CENTRE AT THE TOP OF THE HEAD – TRUNG TÂM Ở ĐỈNH ĐẦU
This centre, the seventh, situated at the top of the head, is somewhat different in construction from the other six. It is described in Indian books as the thousand-petalled lotus, though the actual number of radiations of the primary force is 960. In addition to this, it possesses a sort of subsidiary whirlpool or minor activity in its central portion, which has twelve undulations of its own.
Trung tâm này, trung tâm thứ bảy, nằm ở đỉnh đầu, có cấu trúc hơi khác với sáu trung tâm kia. Trong các sách Ấn Độ, nó được mô tả là hoa sen nghìn cánh, dù số tia phát xạ thực tế của mãnh lực chính yếu là 960. Ngoài ra, nó còn có một loại xoáy phụ hay hoạt động nhỏ hơn ở phần trung tâm, có mười hai làn sóng riêng.
When fully alive, this chakram is perhaps the most resplendent of all, full of indescribable chromatic effects and vibrating with almost inconceivable rapidity. The central portion is gleaming white, flushed with gold in its heart.
Khi hoàn toàn sống động, luân xa này có lẽ là rực rỡ nhất trong tất cả, đầy những hiệu ứng màu sắc không thể mô tả và rung động với tốc độ hầu như không thể quan niệm. Phần trung tâm lấp lánh trắng, nơi tim của nó ửng ánh vàng.
The centre receives in its outer portion the violet ray which passes through the throat centre, while in its central portion it receives the yellow ray from the heart centre.
Trung tâm tiếp nhận ở phần ngoài của nó cung tím đi qua trung tâm cổ họng, trong khi ở phần trung tâm nó tiếp nhận cung vàng từ trung tâm tim.
The arousing of the corresponding astral centre rounds off and completes the astral life, endowing a man with the perfection of his faculties.
Sự khơi dậy của trung tâm cảm dục tương ứng làm tròn đầy và hoàn tất đời sống cảm dục, ban cho con người sự hoàn thiện các quan năng của y.
With one type of individual, the astral chakrams corresponding to the sixth and seventh etheric chakrams both converge upon the pituitary body, the latter organ being practically the only direct link between the physical and higher planes.
Ở một loại cá nhân, các luân xa cảm dục tương ứng với luân xa dĩ thái thứ sáu và thứ bảy đều hội tụ vào tuyến yên, cơ quan sau này thực tế là mối liên kết trực tiếp duy nhất giữa cõi hồng trần và các cõi cao hơn.
With another type of person however, while the sixth chakram is still attached to the pituitary body, the seventh is bent or slanted until it coincides with the atrophied organ known as the pineal gland, which with people of this type becomes a line of direct communication with the lower mental, without apparently passing through the intermediate astral plane in the ordinary way. This explains the emphasis sometimes laid on the development of the pineal gland.
Tuy nhiên, ở một loại người khác, trong khi luân xa thứ sáu vẫn gắn với tuyến yên, luân xa thứ bảy bị uốn cong hay nghiêng đi cho đến khi nó trùng với cơ quan đã teo được biết là tuyến tùng; nơi những người thuộc loại này, tuyến ấy trở thành một đường giao tiếp trực tiếp với cõi hạ trí, dường như không đi qua cõi cảm dục trung gian theo cách thông thường. Điều này giải thích sự nhấn mạnh đôi khi được đặt vào việc phát triển tuyến tùng.
DIAGRAM X – SƠ ĐỒ X
Top of Head Centre – Trung Tâm Đỉnh Đầu
Appearance:
Sắc tướng:
Central portion: "gleaming white, flushed with gold".
Phần trung tâm: “lấp lánh trắng, ửng ánh vàng”.
Outer portion: "most resplendent of all, full of indescribable chromatic effects".
Phần ngoài: “rực rỡ nhất trong tất cả, đầy những hiệu ứng màu sắc không thể mô tả”.
Number of "spokes": Central portion 12, outer portion 960.
Số “nan hoa”: Phần trung tâm 12, phần ngoài 960.
Function of Astral Centre: perfects and completes faculties.
Chức năng của Trung tâm Cảm dục: hoàn thiện và hoàn tất các quan năng.
Function of Etheric Centre: gives continuity of consciousness.
Chức năng của Trung tâm Dĩ thái: đem lại sự liên tục của tâm thức.
The awakening of the etheric centre enables a man through it to leave the physical body in full consciousness, and also to re-enter it without the usual break, so that his consciousness will be continuous through night and day.
Sự thức tỉnh của trung tâm dĩ thái giúp con người, qua nó, rời thể xác trong tâm thức đầy đủ, và cũng trở lại thể xác mà không có sự gián đoạn thông thường, nhờ đó tâm thức của y sẽ liên tục suốt đêm ngày.
The real reason for tonsure, as practised by the Roman Church, was to leave uncovered the brahmarandra chakram, so that there might be not even the slightest hindrance in the way of psychic force which in their meditations the candidates were intended to try to arouse.
Lý do thật sự của phép cạo đỉnh đầu, như Giáo hội La Mã thực hành, là để để lộ luân xa brahmarandra, hầu không có ngay cả trở ngại nhỏ nhất trên đường của mãnh lực thông linh mà các ứng viên được dự định phải cố gắng khơi dậy trong các buổi tham thiền của họ.
CHAPTER XI – CHƯƠNG XI
DISCHARGES – CÁC SỰ THẢI RA
Just as the dense physical body uses up its materials, and discharges its waste products through the five excretory organs – the skin, lungs, liver, intestines and kidneys – so does the etheric body use up the material with which it is supplied, through physical food and the absorption of the Vitality Globule, and discharge its waste particles in various ways.
Cũng như thể xác đậm đặc sử dụng hết các vật liệu của nó, và thải các sản phẩm phế thải qua năm cơ quan bài tiết — da, phổi, gan, ruột và thận — thể dĩ thái cũng sử dụng hết vật liệu được cung cấp cho nó, qua thức ăn hồng trần và sự hấp thu Sinh khí cầu, rồi thải các hạt phế thải của nó theo nhiều cách khác nhau.
A Chart of these discharges is appended, the results it shows being described as follows.
Một Biểu đồ về các sự thải ra này được đính kèm, các kết quả mà nó trình bày được mô tả như sau.
Through the breath and the pores of the skin are expelled both the bluish-white particles from which the Prâna has been extracted, such particles still charged with rose-coloured Prâna as are superfluous to the requirements of the body, and also the atoms from the blue rays used by the throat centre.
Qua hơi thở và các lỗ chân lông của da, những hạt trắng ánh lam mà prana đã được rút ra khỏi đó bị tống xuất; những hạt vẫn còn mang prana màu hồng nhưng dư thừa so với nhu cầu của thể cũng bị tống xuất; và cả các nguyên tử từ những cung lam đã được trung tâm cổ họng sử dụng.
Through the excretory organs pass the emptied atoms of the green ray, from the digestive system, and also, in the case of the ordinary man, those of the red-orange ray.
Qua các cơ quan bài tiết đi ra các nguyên tử đã trống rỗng của cung lục, từ hệ tiêu hóa, và cũng vậy, trong trường hợp con người thông thường, các nguyên tử của cung đỏ-cam.
Through the top of the head pass the atoms from the dark blue and violet rays.
Qua đỉnh đầu đi ra các nguyên tử từ những cung lam đậm và tím.
In a developed person, however, who has achieved the deflection upwards of the red-orange ray, the particles from this ray are discharged through the top of the head. These form a fiery cascade, frequently shown as a flame in ancient statues of Buddha and other saints.
Tuy nhiên, ở một người đã phát triển, người đã đạt được sự bẻ hướng lên trên của cung đỏ-cam, các hạt từ cung này được thải ra qua đỉnh đầu. Chúng tạo thành một thác lửa, thường được trình bày như một ngọn lửa trong các tượng cổ của Đức Phật và các vị thánh khác.
Atoms which have been emptied of Prâna become once more precisely like any other atoms. Some of them are absorbed by the body and enter into the various combinations which are constantly being made, while others which are not required are thrown off through any convenient channel.
Những nguyên tử đã bị rút hết prana trở lại chính xác giống như mọi nguyên tử khác. Một số được thể hấp thu và đi vào các tổ hợp khác nhau vốn không ngừng được tạo thành, trong khi những nguyên tử khác không cần thiết thì bị thải ra qua bất kỳ kênh thuận tiện nào.
DIAGRAM XI – SƠ ĐỒ XI
Discharges – Các Sự Thải Ra
N.B. Some of the particles, when depleted of vitality, are used up for building or nourishing the Etheric Body.
Lưu ý. Một số hạt, khi đã cạn sinh lực, được sử dụng để xây dựng hoặc nuôi dưỡng Thể Dĩ Thái.
In addition to the above, the matter of the Etheric Double itself is also constantly being thrown out of the body through the pores of the skin, just as is gaseous matter. Consequently persons who are near one another are liable to absorb each other’s etheric emanations.
Ngoài những điều trên, vật chất của chính bản sao dĩ thái cũng không ngừng bị thải ra khỏi thể qua các lỗ chân lông của da, cũng như vật chất dạng khí. Do đó những người ở gần nhau có khả năng hấp thu các phát xạ dĩ thái của nhau.
The radiation of etheric matter is strongest from the ends of the fingers and toes: hence great importance of scrupulous cleanliness in these parts of the body: a person with dirt under the finger nails, for example, is continually pouring forth a stream of unhealthy influence into the etheric world.
Sự bức xạ vật chất dĩ thái mạnh nhất từ các đầu ngón tay và ngón chân; vì thế, sự sạch sẽ cẩn trọng ở các phần này của thể có tầm quan trọng lớn lao: chẳng hạn, một người có đất bẩn dưới móng tay liên tục tuôn ra một dòng ảnh hưởng không lành mạnh vào thế giới dĩ thái.
The physical emanations of the body, consisting largely of finely-divided salts, appear to clairvoyant sight as multitudes of tiny forms, such as dice, stars, and double pyramids. The character of these tiny particles may be affected by loss of health, by a wave of emotion, or even a definite train of thought. In this connection Professor Gates is reported as saying )a) that the material emanations of the living body differ according to the states of the mind as well as the conditions of physical health; (b) that these emanations can be tested by the chemical reactions of some salts of selenium; (c) that these reactions are characterised by various tints or colours according to the nature of the mental impressions; (d) that forty different emotion-products, as he calls them, have already been obtained.
Các phát xạ hồng trần của thể, phần lớn gồm các muối được phân chia rất mịn, hiện ra trước thị giác thông nhãn như vô số hình dạng nhỏ bé, chẳng hạn như xúc xắc, ngôi sao và kim tự tháp kép. Tính cách của những hạt nhỏ bé này có thể chịu ảnh hưởng bởi tình trạng suy giảm sức khỏe, bởi một làn sóng cảm xúc, hoặc thậm chí bởi một dòng tư tưởng xác định. Liên quan đến điều này, Giáo sư Gates được thuật lại là đã nói: a) các phát xạ vật chất của thể sống khác nhau tùy theo các trạng thái của thể trí cũng như các điều kiện của sức khỏe hồng trần; b) các phát xạ này có thể được kiểm nghiệm bằng các phản ứng hóa học của một số muối selen; c) các phản ứng này được đặc trưng bởi nhiều sắc thái hay màu sắc khác nhau tùy theo bản chất của các ấn tượng trí tuệ; d) bốn mươi sản phẩm-cảm xúc khác nhau, như ông gọi chúng, đã được thu nhận.
CHAPTER XII – CHƯƠNG XII
TABULATION OF RESULTS – BẢNG TỔNG KẾT KẾT QUẢ
For the convenience and ready reference of the student, a summary of the processes described –
Để tiện lợi và giúp đạo sinh dễ tham khảo, một bản tóm lược các tiến trình đã được mô tả —
DIAGRAM XII
SƠ ĐỒ XII
Distribution Chart
Biểu Đồ Phân Phối
No
Place
Spokes
Appearance
Vitality Received
Vitality sent out
Region vitalised
Function of Astral Centre
Function of Etheric Centre
1
Base of Spine
4
Fiery orange-red
Orange and red, from Spleen Centre: also some dark purpose
"
Sex organs. Blood, for heat of body
Seat of Kundalini. Kundalini goes to each Centre inturn and vivifies it.
Seat of Kundalini. Kundalini goes to each Centre in turn and vividies it.
2
Navel
10
Various shades of red, with much green
Green from Spleen Centre
"
Solar plexus. Liver, Kidneys, Intestines and Abdomen generally.
Feeling: general sensitiveness.
Feeling astral influences.
3
Spleen
6
Radiant and sun-like
"
(1) Violet-blue to Throat (2) Yellow, to Heart. (3) Green to Solar Plexus (4) Rose, to Nervous Sytem. (5) Orange-Red, to Base of Spine, with some dark purple
"
Vitalises Astral Body. Power to travel consciously.
Vitalises Physical Body. Memory of astral journeys.
4
Heart
12
Glowing golden
Yellow, from Spleen Centre.
Yellow to Blood, Brain and middle of Top of Head Centre
Heart
Comprehension of Astral Vibrations
Consciousness of feelings of others
5
Throat
16
Silvery and gleaming with much blue.
Violet-blue, from Spleen Centre
Dark blue, to Lower and Central Brain. Violet, to Upper Brain and outer part of Top of Head Centre
"
Hearing
Etheric and Astral hearing.
6
Between eyebrows
96
Half: Rose, with much yellow. Half: Purplish-blue
'
"
"
Sight
Clairvoyance. Magnification.
7
Top of Head
12 960
Centre: gleaming white and gold Outer part: full of indescribable chromatic effects
Yellow, from Heart Centre. Violet, from Throat Centre
"
"
Perfects and completes faculties
Continuity of consciousness.
8 9 10
Not used in "white magic".
1
In Developed Person Base of Spine
4
Fiery orange-red
Orange and red, from Spleen Centre, and some dark purple
Orange, through Spinal Column, to Brain: becomes yellow and stimulaes intellect. Dark red, through Spinal Column to Brain: becomes crimson and stimulates affection. Dark purple,through Spinal Column, to Brain: becomes pale violet and stimulates spirituality.
Diagram XIII – Sơ đồ XIII
Chapters II to XI, is given in the tabular statement appended.
từ Chương II đến Chương XI, được trình bày trong bảng kê đính kèm.
The same information is also given in the form of a Distribution Chart, which gives a synthesis of these processes in graphic form, from the emanation of Prâna from the sun to the discharge from the body of the particles from which the Prâna has been extracted.
Cùng thông tin ấy cũng được trình bày dưới hình thức một Biểu Đồ Phân Phối, đưa ra một sự tổng hợp các tiến trình này bằng dạng đồ họa, từ sự phát xạ của prana từ mặt trời cho đến sự thải ra khỏi thể của những hạt mà prana đã được rút ra khỏi đó.
In a still further diagram is shown an outline of the human body with the approximate position of the etheric centres, the streams of vitality and other useful information.
Trong một sơ đồ xa hơn nữa, có trình bày phác thảo thể người với vị trí gần đúng của các trung tâm dĩ thái, các dòng sinh lực và những thông tin hữu ích khác.
CHAPTER XIII – CHƯƠNG XIII
KUNDALINI – KUNDALINI
As we have already seen, Kundalini, or the Serpent-Fire, is one of the forces which emanate from the sun, and is entirely separate and distinct from both Fohat and Prâna, being so far as is known, incapable of being converted into any form of these other forces.
Như chúng ta đã thấy, Kundalini, hay Lửa-Rắn, là một trong các mãnh lực xuất phát từ mặt trời, và hoàn toàn riêng biệt, khác hẳn với cả Fohat lẫn prana; theo những gì được biết, nó không thể chuyển đổi thành bất kỳ hình thức nào của các mãnh lực kia.
Kundalini has been variously called the Serpent-Fire, the Fiery Power, and the World’s Mother. To clairvoyant vision it appears in very truth like liquid fire as it rushed through the body, and the course through which it ought to move is a spiral one like the coils of a serpent. The name of the World’s Mother is appropriate because through it our various vehicles may be vivified.
Kundalini đã được gọi bằng nhiều tên khác nhau: Lửa-Rắn, Quyền Năng Rực Lửa, và Mẹ của Thế Giới. Đối với tầm nhìn thông nhãn, nó thật sự hiện ra như lửa lỏng khi lao qua thể, và lộ trình mà nó phải di chuyển là một đường xoắn ốc giống như các vòng cuộn của con rắn. Danh xưng Mẹ của Thế Giới là thích hợp, vì nhờ nó mà các hiện thể khác nhau của chúng ta có thể được tiếp sinh lực.
An ancient symbol of the spinal column and Kundalini is that of the thyrsus, which is a staff with a pine cone on its top. In India the same symbol is found, but instead of the staff a stick of bamboo with seven knots is used, the knots of course representing the seven chakrams or force centres. In some modifications of the mysteries a hollow iron rod, said to contain fire, was used instead of the thyrsus. It is said that the modern barber’s pole, which is certainly a very ancient symbol, with its spiral bands and a knob at the end, has a similar significance, the modern barber being descended from the ancient chirurgeons or surgeons, who also practised alchemy, a science originally spiritual rather than material.
Một biểu tượng cổ xưa của cột sống và Kundalini là cây trượng thyrsus, tức một cây gậy có quả thông ở đầu. Ở Ấn Độ cũng có cùng biểu tượng ấy, nhưng thay vì cây gậy, người ta dùng một thanh tre có bảy đốt; các đốt dĩ nhiên tượng trưng cho bảy luân xa hay trung tâm mãnh lực. Trong một vài biến thể của các nghi lễ huyền nhiệm, người ta dùng một thanh sắt rỗng, được nói là chứa lửa, thay cho cây thyrsus. Người ta nói rằng cột hiệu của thợ cắt tóc hiện đại, chắc chắn là một biểu tượng rất cổ, với các dải xoắn ốc và một núm ở cuối, cũng có một thâm nghĩa tương tự; người thợ cắt tóc hiện đại là hậu duệ của các y sĩ hay nhà phẫu thuật cổ xưa, những người cũng thực hành thuật luyện kim, một khoa học ban đầu mang tính tinh thần hơn là vật chất.
Kundalini exists on all planes of which we know anything, and it also appears to have seven layers of degrees of force.
Kundalini hiện hữu trên tất cả các cõi mà chúng ta có biết đến, và nó cũng dường như có bảy lớp hay cấp độ mãnh lực.
The astral body originally was an almost inert mass, with only the vaguest consciousness, with no definite power of doing anything, and no clear knowledge of the world which surrounds it. Kundalini was then awakened at the astral level, in the centre corresponding to the base of the spine centre. It moved to the second centre, near the navel, and vivified it, thereby awakening in the astral body the power of feeling, of sensitiveness without definite comprehension.
Ban đầu, thể cảm dục là một khối gần như quán tính, chỉ có tâm thức mơ hồ nhất, không có năng lực xác định để làm bất cứ điều gì, và không có tri thức rõ ràng về thế giới bao quanh nó. Khi ấy Kundalini được đánh thức ở cấp độ cảm dục, trong trung tâm tương ứng với trung tâm đáy cột sống. Nó di chuyển đến trung tâm thứ hai, gần rốn, và tiếp sinh lực cho trung tâm ấy, nhờ đó đánh thức trong thể cảm dục năng lực cảm nhận, tức sự nhạy cảm nhưng không có sự thấu hiểu xác định.
Kundalini then passed to the third (spleen), fourth (heart), fifth (throat), sixth (eyebrows) and seventh (top of the head) centre in turn, awakening in each the various powers already described in previous chapters.
Sau đó Kundalini lần lượt đi đến trung tâm thứ ba, lá lách, thứ tư, tim, thứ năm, cổ họng, thứ sáu, lông mày, và thứ bảy, đỉnh đầu, đánh thức trong mỗi trung tâm các quyền năng khác nhau đã được mô tả trong các chương trước.
The mechanism by means of which we become aware of astral happenings is interesting and should be clearly grasped by the student. Although in the physical body we have special organs, each located in a definite and fixed part of the body, for seeing, hearing, and the rest, an entirely different arrangement is made in the astral body, specialised organs not being necessary for the attainment of the result aimed at.
Bộ máy nhờ đó chúng ta nhận biết các sự việc cảm dục là điều thú vị và đạo sinh nên nắm vững. Dù trong thể xác chúng ta có các cơ quan chuyên biệt, mỗi cơ quan nằm ở một phần xác định và cố định của thể, để thấy, nghe và các chức năng khác, nhưng trong thể cảm dục lại có một sự sắp xếp hoàn toàn khác; các cơ quan chuyên biệt không cần thiết để đạt được kết quả được nhắm đến.
The matter of the astral body is in a condition of constant movement, the particles flowing and swirling about like those of boiling water, and all of them pass in turn through each of the force-centres. Each of these centres then has the power of evoking from the particles of the astral body the ability to respond to a certain set of vibrations, corresponding to what in the physical world we call vibrations of light, sound, heat, and so forth. When therefore, the astral centres are vivified and in working order, they confer these various powers on the whole of the matter of the astral body, so that the latter is enabled to exercise its powers in every part of itself. Consequently a man functioning in his astral body can see equally well objects in front of him, behind, above and below. The chakrams or centres, therefore, cannot be described as organs of sense in the ordinary sense of that term, though they do convey the powers of sense to the astral body.
Vật chất của thể cảm dục ở trong một tình trạng chuyển động liên tục, các hạt chảy và xoáy như các hạt của nước sôi, và tất cả lần lượt đi qua từng trung tâm mãnh lực. Bấy giờ mỗi trung tâm này có quyền năng gợi lên từ các hạt của thể cảm dục khả năng đáp ứng với một tập hợp rung động nhất định, tương ứng với điều mà trong thế giới hồng trần chúng ta gọi là các rung động của ánh sáng, âm thanh, nhiệt, vân vân. Do đó, khi các trung tâm cảm dục được tiếp sinh lực và ở trong trạng thái hoạt động, chúng ban các quyền năng khác nhau này cho toàn bộ vật chất của thể cảm dục, nhờ vậy thể ấy có thể vận dụng các quyền năng của nó trong mọi phần của chính nó. Vì thế, một người hoạt động trong thể cảm dục của mình có thể thấy rõ như nhau các đối tượng ở trước, sau, trên và dưới y. Do đó, các luân xa hay trung tâm không thể được mô tả là các cơ quan giác quan theo nghĩa thông thường của thuật ngữ ấy, dù chúng thật sự truyền các quyền năng giác quan cho thể cảm dục.
But even when these astral senses are fully awake, it by no means follows that the man will be able to bring into his physical body any consciousness of their action. He may in fact, in his physical consciousness know nothing whatever of it. The only way in which the consciousness of these astral experiences can be brought into the physical brain is by means of the corresponding etheric centres which must first be awakened and made active.
Nhưng ngay cả khi các giác quan cảm dục này đã hoàn toàn thức tỉnh, điều đó tuyệt nhiên không có nghĩa là con người sẽ có thể đưa vào thể xác của mình bất kỳ tâm thức nào về hoạt động của chúng. Thật vậy, trong tâm thức hồng trần của mình, y có thể hoàn toàn không biết gì về điều đó. Cách duy nhất để tâm thức về các kinh nghiệm cảm dục này có thể được đưa vào bộ não hồng trần là nhờ các trung tâm dĩ thái tương ứng, trước hết phải được đánh thức và làm cho hoạt động.
The method of awakening is precisely similar to that adopted in the astral body, i.e.., by arousing Kundalini, which lies dormant in etheric matter in the centre near the base of the spine.
Phương pháp đánh thức hoàn toàn tương tự với phương pháp được áp dụng trong thể cảm dục, nghĩa là bằng cách khơi dậy Kundalini, vốn nằm ngủ yên trong vật chất dĩ thái tại trung tâm gần đáy cột sống.
The arousing is achieved by a determined and long-continued effort of the will, bringing the centre at the base of the spine into activity being, in fact, precisely the awakening of Kundalini. When once this is aroused, it is by its tremendous force that the other centres are vivified in turn. The effect on the centres is to bring into the physical consciousness the powers which were aroused by the development of the corresponding astral centres.
Việc khơi dậy được thực hiện bằng một nỗ lực ý chí kiên quyết và kéo dài; việc đưa trung tâm ở đáy cột sống vào hoạt động, thật ra, chính là sự thức tỉnh của Kundalini. Một khi mãnh lực này được khơi dậy, chính bằng sức mạnh khủng khiếp của nó mà các trung tâm khác lần lượt được tiếp sinh lực. Tác động lên các trung tâm là đưa vào tâm thức hồng trần những quyền năng đã được khơi dậy nhờ sự phát triển của các trung tâm cảm dục tương ứng.
In order to bring about these results, however, it is necessary that the serpent-fire move to the chakrams in a certain order, and in a certain way, which varies with different types of people. Occultists who understand these matters from firsthand knowledge are always exceedingly careful to give no clue to the order in which the serpent-fire should be passed through the centres. The reason for this is on account of the very serious dangers, the gravity of which can scarcely be exaggerated, awaiting those who arouse Kundalini accidentally or prematurely. The most solemn warnings are uttered against attempting anything of the kind until the time is fully ripe and unless under the guidance of a Master or an experienced occultist.
Tuy nhiên, để tạo ra các kết quả này, điều cần thiết là lửa-rắn phải di chuyển đến các luân xa theo một trật tự nhất định, và theo một cách nhất định, vốn thay đổi tùy theo các loại người khác nhau. Các nhà huyền bí học hiểu biết những vấn đề này bằng tri thức trực tiếp luôn hết sức cẩn trọng không đưa ra bất kỳ manh mối nào về trật tự mà lửa-rắn phải được dẫn qua các trung tâm. Lý do là vì có những nguy hiểm cực kỳ nghiêm trọng, mức độ trầm trọng của chúng hầu như không thể phóng đại, đang chờ những người đánh thức Kundalini một cách tình cờ hoặc quá sớm. Những lời cảnh báo trang nghiêm nhất được đưa ra chống lại mọi nỗ lực làm bất cứ điều gì thuộc loại ấy cho đến khi thời điểm hoàn toàn chín muồi và trừ khi dưới sự hướng dẫn của một Chân sư hoặc một nhà huyền bí học giàu kinh nghiệm.
Before Kundalini is aroused it is absolutely essential that a definite stage of moral purity be reached and also that the will be strong enough to control the force. Some of the dangers connected with the serpent-fire are purely physical. Its uncontrolled movement often produces intense physical pain, and it may readily tear tissues and even destroy physical life. It may also do permanent injury to vehicles higher than the physical.
Trước khi Kundalini được khơi dậy, điều tuyệt đối thiết yếu là phải đạt đến một giai đoạn xác định của sự thanh khiết đạo đức, và cũng cần ý chí đủ mạnh để kiểm soát mãnh lực ấy. Một số nguy hiểm liên quan đến lửa-rắn hoàn toàn thuộc hồng trần. Sự chuyển động không được kiểm soát của nó thường tạo ra đau đớn thể xác dữ dội, và nó có thể dễ dàng xé rách các mô, thậm chí hủy diệt sự sống hồng trần. Nó cũng có thể gây tổn hại vĩnh viễn cho các hiện thể cao hơn hồng trần.
One very common effect of arousing it prematurely is that it rushes downwards into the lower centres of the body instead of upwards, resulting in the excitation of the most undesirable passions, which are apt to be intensified to such a degree that it is quite impossible for the man to resist them. In the grip of such a force he is as helpless as a swimmer in the jaws of a shark. Such men become satyrs, monsters of depravity, being at the mercy of a force out of all proportion to the human power of resistance. It is probable that they will attain certain supernormal powers, but these will serve only to bring them into contact with subhuman beings with which humanity is intended to hold no commerce, and to escape from this thraldom may take more than one incarnation. There is a school of black magic which purposely uses this power in this way, but the lower force-centres which in this school are used are always left severely alone by followers of the Good Law or White Magic.
Một tác động rất thường gặp của việc khơi dậy nó quá sớm là nó lao xuống các trung tâm thấp của thể thay vì hướng lên trên, dẫn đến sự kích thích những dục vọng đáng ghê tởm nhất, vốn dễ bị tăng cường đến mức con người hoàn toàn không thể chống lại chúng. Trong vòng kềm tỏa của một mãnh lực như thế, y bất lực như người bơi lội trong hàm cá mập. Những người như vậy trở thành những kẻ dâm loạn, những quái vật của sự đồi bại, bị phó mặc cho một mãnh lực vượt xa mọi tỉ lệ so với quyền năng đề kháng của con người. Có lẽ họ sẽ đạt được một vài quyền năng siêu thường, nhưng những quyền năng này chỉ giúp đưa họ tiếp xúc với các sinh linh dưới nhân loại mà nhân loại không được dự định có bất kỳ giao thiệp nào, và để thoát khỏi tình trạng nô lệ này có thể cần hơn một lần nhập thể. Có một trường phái Hắc thuật cố ý sử dụng quyền năng này theo cách ấy, nhưng các trung tâm mãnh lực thấp mà trường phái này sử dụng luôn luôn bị các môn đồ của Định Luật Thiện hay Chánh Thuật tuyệt đối tránh xa.
The premature unfoldment of Kundalini intensifies also everything in the nature, reaching in fact the lower evil qualities more readily than the good. Ambition, for example, in the mental body is very readily aroused and grows to an inordinate degree. Together with great intensification of intellectual power there comes abnormal and satanic pride. The force of the Kundalini is no ordinary force, but something resistless. If an uninstructed man has the misfortune to arouse it, he should at once consult someone who fully understands such matters. As the Hathayogapradipika says, “It gives liberation to Yogis and bondage to fools”.
Sự khai mở quá sớm của Kundalini cũng tăng cường mọi điều trong bản chất, và thật ra chạm đến các phẩm tính xấu thấp kém dễ dàng hơn các phẩm tính tốt. Chẳng hạn, tham vọng trong thể trí rất dễ bị khơi dậy và lớn lên đến mức quá độ. Cùng với sự tăng cường lớn lao của quyền năng trí năng, xuất hiện lòng kiêu hãnh bất thường và quỷ quyệt. Mãnh lực Kundalini không phải là một mãnh lực thông thường, mà là một điều không thể cưỡng lại. Nếu một người chưa được chỉ dạy gặp bất hạnh khơi dậy nó, y nên lập tức tham vấn một người hoàn toàn thấu hiểu những vấn đề như thế. Như Hathayogapradipika nói: “Nó đem lại giải thoát cho các Yogi và xiềng xích cho kẻ ngu”.
There are some cases where Kundalini wakes spontaneously, so that a dull glow is felt: it may even, though rarely, begin to move of itself. In this case it would probably cause severe pain, as, since the passages are not prepared for it, it would have to clear its way by actually burning up a great deal of etheric dross, a process necessarily painful. In such cases the force would usually rush up the interior of the spine, instead of following the spiral course into which the occultist is trained to guide it. An effort of will should be made, if possible, to arrest such an upward rush, but if that proves to be impossible, as is most likely, it will probably rush out through the head and escape into the atmosphere probably doing no harm further than causing a slight weakening. It may also cause a temporary loss of consciousness. The really serious dangers, however, are connected, not with the upward, but with the downward rush.
Có một vài trường hợp Kundalini tự phát thức dậy, khiến người ta cảm thấy một ánh sáng âm ỉ; thậm chí, dù hiếm, nó có thể bắt đầu tự di chuyển. Trong trường hợp này, nó có lẽ gây đau đớn dữ dội, vì do các lối đi chưa được chuẩn bị cho nó, nó sẽ phải tự mở đường bằng cách thật sự đốt cháy rất nhiều cặn bã dĩ thái, một tiến trình tất yếu đau đớn. Trong những trường hợp như vậy, mãnh lực thường lao lên bên trong cột sống, thay vì đi theo lộ trình xoắn ốc mà nhà huyền bí học được huấn luyện để dẫn dắt nó. Nếu có thể, nên vận dụng nỗ lực ý chí để chặn sự lao vút lên như thế; nhưng nếu điều đó tỏ ra không thể, như rất có thể xảy ra, nó có lẽ sẽ lao ra qua đầu và thoát vào khí quyển, có lẽ không gây hại gì hơn ngoài một sự suy yếu nhẹ. Nó cũng có thể gây ra sự mất ý thức tạm thời. Tuy nhiên, những nguy hiểm thật sự nghiêm trọng không liên quan đến sự lao lên, mà liên quan đến sự lao xuống.
As already briefly mentioned, the principal function of Kundalini in occult development is to pass through the etheric force centres and vivify these so that they bring through into the physical consciousness astral experiences. Thus The Voice of The Silence teaches that a vivification in this manner of the eyebrows centre enables one to hear the voice of the Master, that is, of the Ego or Higher Self. The explanation of this is that the pituitary body when fully working affords a perfect link between astral and physical consciousness.
Như đã nói vắn tắt, chức năng chính của Kundalini trong sự phát triển huyền bí là đi qua các trung tâm mãnh lực dĩ thái và tiếp sinh lực cho chúng, để chúng truyền các kinh nghiệm cảm dục vào tâm thức hồng trần. Như vậy Tiếng Nói của Im Lặng dạy rằng việc tiếp sinh lực theo cách này cho trung tâm lông mày giúp người ta nghe được tiếng nói của Chân sư, tức của Chân ngã hay Bản Ngã Cao Siêu. Lời giải thích là khi tuyến yên hoạt động đầy đủ, nó cung cấp một mối liên kết hoàn hảo giữa tâm thức cảm dục và tâm thức hồng trần.
The mastery of Kundalini has to be repeated in each incarnation, because in each life the bodies are new, but after it has once been thoroughly achieved, repetition becomes an easy matter.
Sự làm chủ Kundalini phải được lặp lại trong mỗi lần nhập thể, vì trong mỗi kiếp sống các thể đều mới; nhưng sau khi điều đó đã một lần được thành tựu triệt để, sự lặp lại trở thành một việc dễ dàng.
The formation of the link between the physical consciousness and that of the Ego has its correspondences also at higher levels, meaning for the Ego a link with the consciousness of the Monad , and for the Monad a link with the consciousness of the Logos.
Sự hình thành mối liên kết giữa tâm thức hồng trần và tâm thức của Chân ngã cũng có các tương ứng của nó ở những cấp độ cao hơn, nghĩa là đối với Chân ngã là một mối liên kết với tâm thức của chân thần, và đối với chân thần là một mối liên kết với tâm thức của Thượng đế.
Age does not appear to affect the development of the chakrams by means of Kundalini, but health is a necessity, as only a strong body could endure the strain.
Tuổi tác dường như không ảnh hưởng đến sự phát triển của các luân xa nhờ Kundalini, nhưng sức khỏe là một điều cần thiết, vì chỉ một thể mạnh mẽ mới có thể chịu được sức căng.
CHAPTER XIV – CHƯƠNG XIV
THE ATOMIC WEB – MÀNG NGUYÊN TỬ
We have already seen that there is a very close connection between the chakrams in the astral body and those in the Etheric Double. Between these two sets of centres, and interpenetrating them in a manner not easy to describe, there is a web or sheath, composed of a single layer of physical atoms, closely woven, much compressed, and permeated with a special variety of Prâna. The Prâna which normally comes from the astral into the physical is such that it can pass with perfect ease through the atomic shield, but the latter is an absolute barrier to all other forces which cannot use the atomic matter of both planes.
Chúng ta đã thấy rằng có một mối liên hệ rất chặt chẽ giữa các luân xa trong thể cảm dục và các luân xa trong bản sao dĩ thái. Giữa hai bộ trung tâm này, và thâm nhập vào chúng theo một cách không dễ mô tả, có một tấm màng hay lớp vỏ, được cấu thành từ một lớp duy nhất gồm các nguyên tử hồng trần, dệt chặt, nén mạnh, và thấm nhuần một loại prana đặc biệt. Prana thường đi từ cõi cảm dục vào cõi hồng trần có tính chất khiến nó có thể đi qua tấm khiên nguyên tử một cách hoàn toàn dễ dàng, nhưng tấm khiên này là một hàng rào tuyệt đối đối với mọi mãnh lực khác không thể sử dụng vật chất nguyên tử của cả hai cõi.
DIAGRAM XIV – SƠ ĐỒ XIV
The Atomic Shield – Tấm Khiên Nguyên Tử
Function of Shield: To prevent astral influences from prematurely entering physical consciousness.
Chức năng của Tấm Khiên: Ngăn các ảnh hưởng cảm dục đi vào tâm thức hồng trần quá sớm.
Ways of injuring the shield: - (1) Emotion shock, e.g., fear, anger. (2) Alcohol. (3) Narcotic drugs, e.g., tobacco. (4) "Sitting for development".
Các cách làm tổn thương tấm khiên: - (1) Cú sốc cảm xúc, ví dụ, sợ hãi, giận dữ. (2) Rượu. (3) Ma túy gây nghiện, ví dụ, thuốc lá. (4) “Ngồi để phát triển”.
The shield is thus a protection provided by nature to prevent premature opening up of communication between the astral and physical planes. Were it not for this wise provision, all kinds of astral experiences might pour into the physical consciousness where, in the case of most men, they could be productive of nothing but harm.
Như vậy, tấm khiên là một sự bảo vệ do thiên nhiên cung cấp để ngăn việc mở ra quá sớm sự giao tiếp giữa các cõi cảm dục và hồng trần. Nếu không có sự sắp đặt minh triết này, mọi loại kinh nghiệm cảm dục có thể tràn vào tâm thức hồng trần, nơi mà, trong trường hợp của đa số con người, chúng không thể tạo ra gì ngoài tổn hại.
At any moment an astral entity might introduce forces which ordinary man would be quite unprepared to meet, and which would be entirely beyond his strength to cope with. A man would be liable to obsession by any astral entity who desired to seize his vehicle.
Bất cứ lúc nào, một thực thể cảm dục cũng có thể đưa vào những mãnh lực mà con người bình thường hoàn toàn chưa sẵn sàng đối diện, và hoàn toàn vượt quá sức y để ứng phó. Con người có thể bị ám ảnh bởi bất kỳ thực thể cảm dục nào muốn chiếm đoạt hiện thể của y.
The atomic shield thus serves as an effective safeguard against these undesirable happenings. It also serves under normal conditions to prevent clear recollection of the sleep life from reaching the physical brain consciousness; and it accounts for the momentary unconsciousness which always occurs at death. Occasionally the returning astral body succeeds in making a momentary impression on the Etheric Double and dense body, so that when the latter awake there is a touch of vivid memory. This usually quickly vanishes, effort to recall it rendering success more impossible, as each effort sets up physical brain vibrations which tend to overpower the subtler astral vibrations.
Lá chắn nguyên tử vì thế đóng vai trò như một sự bảo vệ hữu hiệu chống lại những biến cố không mong muốn này. Trong các điều kiện bình thường, nó cũng ngăn không cho ký ức rõ ràng về đời sống trong giấc ngủ đi vào tâm thức bộ não hồng trần; và nó giải thích tình trạng vô thức thoáng qua luôn xảy ra lúc chết. Đôi khi thể cảm dục trở về thành công trong việc tạo một ấn tượng thoáng qua trên bản sao dĩ thái và thể đậm đặc, đến nỗi khi thể sau thức dậy, có một nét ký ức sống động. Điều này thường nhanh chóng tan biến; nỗ lực nhớ lại nó lại càng khiến sự thành công trở nên bất khả hơn, vì mỗi nỗ lực đều khơi lên những rung động trong bộ não hồng trần, có khuynh hướng lấn át các rung động cảm dục vi tế hơn.
It is clear, therefore, that any injury to the shield is a serious disaster. Such injury may occur in several ways. Any emotional shock, or any strong emotion of an evil character, which produces a kind of explosion in the astral body, may produce such an effect, rending apart the delicate web and, as we say, driving the man mad. A terrible fright may do this, or an outburst of anger.
Do đó, rõ ràng rằng bất kỳ tổn thương nào đối với lá chắn cũng là một tai họa nghiêm trọng. Tổn thương như thế có thể xảy ra theo nhiều cách. Bất kỳ cú sốc cảm xúc nào, hoặc bất kỳ cảm xúc mạnh nào có tính chất xấu ác, tạo ra một loại bùng nổ trong thể cảm dục, đều có thể tạo nên hiệu quả ấy, xé toạc tấm lưới tinh tế và, như chúng ta nói, làm cho con người phát điên. Một cơn kinh hãi khủng khiếp có thể làm điều này, hoặc một cơn giận bùng phát.
Sitting for development, as spiritualists call the process, may also injure the web and throw open the doors which nature intended to keep closed.
Việc ngồi để phát triển, như các nhà thần linh học gọi tiến trình ấy, cũng có thể làm tổn thương tấm lưới và mở toang những cánh cửa mà thiên nhiên dự định giữ kín.
Certain drugs, notably alcohol and all the narcotics, of which tobacco is one, contain matter which on breaking up volatilises, some of it passing from the physical to the astral state. Students of dietetics, especially those who have studied the effect of toxins, will be interested to learn that even tea and coffee contain the class of material described, though in quantities so small that only after long-continued abuse of them would the effect manifest itself. When this takes place, these constituents rush out through the chakrams in the direction opposite to that for which they are intended, and after doing this repeatedly they injure and finally destroy the delicate web.
Một số chất gây nghiện, đặc biệt là rượu và tất cả các chất ma túy, trong đó thuốc lá là một, chứa vật chất mà khi phân rã sẽ bay hơi, một phần chuyển từ trạng thái hồng trần sang trạng thái cảm dục. Các đạo sinh về dinh dưỡng học, đặc biệt những người đã nghiên cứu tác dụng của độc tố, sẽ quan tâm khi biết rằng ngay cả trà và cà phê cũng chứa loại vật liệu được mô tả, tuy với lượng nhỏ đến mức chỉ sau khi lạm dụng kéo dài thì hiệu quả mới biểu lộ. Khi điều này xảy ra, các thành phần ấy lao ra qua các luân xa theo hướng ngược lại với hướng mà chúng được dự định phải đi, và sau khi làm như vậy nhiều lần, chúng làm tổn thương và cuối cùng phá hủy tấm lưới tinh tế.
There are only two ways in which this deterioration or destruction may be brought about, according to the type of person concerned and the proportion of the constituents in his etheric and astral bodies. In the first type the rush of volatilising matter actually burns away the web, and thus breaks down nature’s barrier.
Chỉ có hai cách khiến sự suy thoái hoặc phá hủy này có thể xảy ra, tùy theo loại người liên quan và tỷ lệ các thành phần trong thể dĩ thái và thể cảm dục của y. Ở loại thứ nhất, luồng vật chất đang bay hơi thực sự đốt cháy tấm lưới, và như thế phá vỡ hàng rào của thiên nhiên.
In the second type the volatile constituents harden the atom, checking and crippling its pulsations, so that it can no longer carry the special form of Prâna which welds it into the web. The web thus becomes as it were ossified so that instead of too much coming through from one plane to another, we have very little of any kind coming through.
Ở loại thứ hai, các thành phần dễ bay hơi làm cứng nguyên tử, kìm hãm và làm tê liệt các nhịp rung của nó, khiến nó không còn có thể chuyên chở dạng prana đặc biệt vốn hàn gắn nó vào tấm lưới. Như vậy tấm lưới trở nên, có thể nói, bị hóa xương, đến nỗi thay vì có quá nhiều thứ đi xuyên từ cõi này sang cõi khác, thì hầu như chẳng có gì thuộc bất kỳ loại nào đi xuyên qua được.
The two types are readily recognisable. In the former case we have instances of delirium tremens, obsession, and certain forms of insanity. In the latter case, which is by far the more common, we notice a general deadening of the higher feelings and qualities, resulting in materialism, brutality, animalism, and loss of self-control. It is well know that those who indulge excessively in narcotics, such as tobacco, will persist in their self-indulgence even at the expense of the pain or discomfort of their neighbours. Their finer susceptibilities have to that extent become blunted.
Hai loại này dễ nhận ra. Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta có các trường hợp mê sảng do rượu, ám ảnh, và một số dạng điên loạn. Trong trường hợp thứ hai, vốn phổ biến hơn rất nhiều, chúng ta nhận thấy sự chai lì nói chung của những cảm xúc và phẩm tính cao hơn, dẫn đến chủ nghĩa duy vật, sự thô bạo, tính thú vật, và mất tự chủ. Ai cũng biết rằng những người quá đắm chìm trong các chất ma túy, như thuốc lá, sẽ cứ tiếp tục buông thả bản thân ngay cả khi gây đau đớn hoặc khó chịu cho những người chung quanh. Những cảm thụ tinh tế hơn của họ đã trở nên cùn nhụt đến mức ấy.
As the consciousness of the ordinary man cannot normally use atomic matter, either physical or astral, there is normally no possibility of conscious communication between the two planes. As, however, he purifies his vehicles, he becomes able to function in the atomic matter and then is able to carry his consciousness along a direct road from one atomic level to another. In this case the atomic web fully retains its position and activity, permitting the consciousness to pass form one plane to another, while at the same time fulfilling its purpose of preventing close contact with those lower sub-planes from which many kinds of undesirable influences are liable to come.
Vì tâm thức của con người bình thường không thể sử dụng vật chất nguyên tử, dù là hồng trần hay cảm dục, nên thông thường không có khả năng giao tiếp hữu thức giữa hai cõi. Tuy nhiên, khi y thanh luyện các hiện thể của mình, y trở nên có thể hoạt động trong vật chất nguyên tử, và khi ấy có thể mang tâm thức của mình theo một con đường trực tiếp từ cấp độ nguyên tử này sang cấp độ nguyên tử khác. Trong trường hợp này, tấm lưới nguyên tử hoàn toàn giữ nguyên vị trí và hoạt động của nó, cho phép tâm thức đi từ cõi này sang cõi khác, đồng thời vẫn hoàn thành mục đích của nó là ngăn ngừa sự tiếp xúc gần gũi với những cõi phụ thấp hơn, từ đó nhiều loại ảnh hưởng không mong muốn có thể đến.
The only safe way, therefore, for genuine students of occultism, is not to force in any way the development of psychic powers, but to wait for these to unfold, as they will unfold, in the normal course of evolution. By this way all the benefits will be obtained and the dangers avoided.
Vì vậy, con đường an toàn duy nhất cho các đạo sinh huyền bí học chân chính là không cưỡng ép bằng bất cứ cách nào sự phát triển các quyền năng thông linh, mà hãy chờ chúng khai mở, như chúng sẽ khai mở, trong tiến trình bình thường của tiến hoá. Theo cách này, mọi lợi ích sẽ đạt được và các nguy hiểm sẽ được tránh khỏi.
CHAPTER XV – CHƯƠNG XV
BIRTH – SỰ SINH RA
It will now be useful to study the Etheric Double in its connection with the birth and death of the physical body.
Bây giờ sẽ hữu ích khi nghiên cứu Bản sao Dĩ thái trong mối liên hệ của nó với sự sinh ra và cái chết của thể xác.
Those who have studied the mechanism of reincarnation will be familiar with the fact that, in the case of the etheric body, a factor comes into play which does not operate in the case of the astral or mental bodies. The Etheric Double is actually built in advance for the incoming Ego, by an elemental which is the joint thought-form of the four Devarājas, each of whom presides over one of the four etheric sub-planes of physical matter. The primary business of this building elemental is to construct the etheric mould into which the physical particles of the new baby-body are to be built.
Những ai đã nghiên cứu bộ máy luân hồi sẽ quen thuộc với sự kiện rằng, trong trường hợp thể dĩ thái, có một yếu tố tham gia hoạt động mà không vận hành trong trường hợp thể cảm dục hay thể trí. Bản sao Dĩ thái thực sự được xây dựng trước cho Chân ngã sắp nhập thể, bởi một hành khí vốn là hình tư tưởng chung của bốn vị Thiên vương, mỗi vị chủ trì một trong bốn cõi phụ dĩ thái của vật chất hồng trần. Công việc chính yếu của hành khí kiến tạo này là xây dựng khuôn dĩ thái, trong đó các hạt hồng trần của thể hài nhi mới sẽ được dựng nên.
The form and colour of this elemental vary in different cases. At first it accurately expresses in shape and size the infant body it has to build; clairvoyants sometimes see this doll-like figure hovering about, and afterwards within, the body of the mother, and have occasionally mistaken it for the soul of the coming baby instead of the mould of its physical body.
Hình dạng và màu sắc của hành khí này thay đổi trong từng trường hợp. Lúc đầu, về hình dáng và kích thước, nó biểu hiện chính xác thể hài nhi mà nó phải xây dựng; các nhà thông nhãn đôi khi thấy hình hài giống búp bê này lơ lửng quanh, rồi sau đó ở bên trong, thân thể người mẹ, và đôi khi đã lầm nó là linh hồn của đứa trẻ sắp đến, thay vì là khuôn của thể xác nó.
As soon as the fœtus has grown to the size of the mould, and is ready for birth, the form of the next stage at which it has to aim is unfolded – the size, shape and condition of the body as it is to be, so far as the work of the elemental is concerned, at the time when it proposes to leave it. After the elemental has retired, all further growth of the body is under the control of the Ego himself.
Ngay khi bào thai đã lớn đến kích thước của khuôn và sẵn sàng để sinh ra, hình tướng của giai đoạn kế tiếp mà nó phải nhắm tới được khai mở — kích thước, hình dạng và tình trạng của thân thể như nó sẽ là, trong phạm vi công việc của hành khí, vào lúc hành khí dự định rời bỏ nó. Sau khi hành khí đã rút lui, mọi sự tăng trưởng tiếp theo của thân thể đều nằm dưới sự kiểm soát của chính Chân ngã.
In both these cases the elemental uses itself as the mould. Its colours largely represent the qualities required in the body it has to build, and its form is also usually that destined for it. As soon as its work is done, there is no power left to hold together its particles and the elemental disintegrates.
Trong cả hai trường hợp này, hành khí dùng chính nó làm khuôn. Các màu sắc của nó phần lớn biểu thị những phẩm tính cần có trong thân thể mà nó phải xây dựng, và hình dạng của nó cũng thường là hình dạng đã định cho thân thể ấy. Ngay khi công việc của nó hoàn tất, không còn quyền năng nào giữ các hạt của nó lại với nhau, và hành khí tan rã.
In determining the quality of etheric matter to be used in building the etheric body, we have two things to consider: first, the type of matter, regarded from the point of view of the seven Rays or vertical divisions, and secondly, the quality of matter, regarded from the point of view of its coarseness or fineness, or horizontal divisions. The former, the ray-type, is determined by the physical permanent atom, which has the type and subtype impressed upon it. The latter is determined by the past karma of the man, the building elemental being charged with the production of the type of physical body suited to the man’s requirements. The elemental, in fact, consists of that portion of the (prârabda) karma of the individual which is to express itself in the physical body. On the selection made by the building elemental depends, for example, whether the body will be naturally clever or stupid, placid or irritable, energetic or lethargic, sensitive or unresponsive.The potentialities of heredity are latent in the maternal ovum and the paternal spermatozoon, and from these the elemental makes his selection according to the requirements of the case.
Khi xác định phẩm tính của vật chất dĩ thái được dùng để xây dựng thể dĩ thái, chúng ta phải xét đến hai điều: thứ nhất, loại vật chất, nhìn từ quan điểm của bảy cung hay các phân chia theo chiều dọc; và thứ hai, phẩm tính của vật chất, nhìn từ quan điểm về độ thô hay độ tinh, hay các phân chia theo chiều ngang. Điều trước, tức loại cung, được xác định bởi nguyên tử trường tồn hồng trần, vốn có loại và phân loại in dấu trên nó. Điều sau được xác định bởi nghiệp quả quá khứ của con người, hành khí kiến tạo được giao nhiệm vụ tạo ra loại thể xác phù hợp với các nhu cầu của y. Thật vậy, hành khí gồm phần nghiệp quả của cá nhân vốn phải tự biểu hiện trong thể xác. Ví dụ, việc thân thể tự nhiên thông minh hay ngu đần, điềm tĩnh hay dễ cáu, năng động hay uể oải, nhạy cảm hay không đáp ứng, đều tùy thuộc vào sự chọn lựa do hành khí kiến tạo thực hiện. Các tiềm năng di truyền nằm tiềm ẩn trong noãn của mẹ và tinh trùng của cha, và từ đó hành khí chọn lựa theo các yêu cầu của từng trường hợp.
Although the elemental in charge of the body from the first, the Ego only comes into contact with his future habitation later, some time before physical birth. If the characteristics the elemental has to impose are few in number, it is able to withdraw early and leave the Ego in full control of the body. Where however, much time is required to develop the limitations needed, the elemental may retain its position until the body is seven years old.
Mặc dù hành khí phụ trách thân thể ngay từ đầu, Chân ngã chỉ tiếp xúc với nơi cư ngụ tương lai của mình về sau, một thời gian trước khi sinh ra trên cõi hồng trần. Nếu các đặc tính mà hành khí phải áp đặt không nhiều, nó có thể rút lui sớm và để Chân ngã kiểm soát trọn vẹn thân thể. Tuy nhiên, nơi nào cần nhiều thời gian để phát triển các giới hạn cần thiết, hành khí có thể giữ vị trí của nó cho đến khi thân thể được bảy tuổi.
Etheric matter for the infant body is taken from the body of the mother; hence the importance of the latter supplying her body with only the purest materials. Unless the elemental is charged with some special development in the way of features, such as unusual beauty or the reverse, the principal agency at work in this direction will be the thoughts of the mother and the thought-forms which float around her.
Vật chất dĩ thái cho thể hài nhi được lấy từ thân thể của người mẹ; do đó, điều quan trọng là người mẹ phải cung cấp cho thân thể mình chỉ những vật liệu tinh khiết nhất. Trừ khi hành khí được giao cho một sự phát triển đặc biệt nào đó về đường nét, như vẻ đẹp khác thường hoặc điều ngược lại, tác nhân chính hoạt động theo hướng này sẽ là các tư tưởng của người mẹ và những hình tư tưởng trôi nổi quanh bà.
The new astral body comes into connection with the Etheric Double at a very early stage, and exercises considerable influence over its formation, the mental body also working through it upon the nervous organisation.
Thể cảm dục mới đi vào liên hệ với Bản sao Dĩ thái ở một giai đoạn rất sớm, và tác động đáng kể lên sự hình thành của nó; thể trí cũng hoạt động qua nó lên tổ chức thần kinh.
CHAPTER XVI – CHƯƠNG XVI
DEATH – CÁI CHẾT
We have previously seen that, under certain conditions, the Etheric Double may be separated from the dense body, though it is always connected with it by a thread or cord of etheric matter. At death the double finally withdraws from the dense body and may be seen as a violet mist, gradually condensing into a figure which is the counterpart of the expiring person and attached to the dense body by a glistening thread. This thread or magnetic cord is snapped at the moment of death.
Trước đây chúng ta đã thấy rằng, trong một số điều kiện nhất định, Bản sao Dĩ thái có thể tách khỏi thể đậm đặc, dù nó luôn được nối với thể ấy bằng một sợi dây hay dây nối bằng vật chất dĩ thái. Lúc chết, bản sao cuối cùng rút khỏi thể đậm đặc và có thể được thấy như một làn sương tím, dần dần cô đặc thành một hình dáng là đối phần của người đang hấp hối, và gắn với thể đậm đặc bằng một sợi dây sáng lấp lánh. Sợi dây hay dây từ tính này đứt vào khoảnh khắc chết.
As the buddhic life-web, accompanied by Prâna, disentangles itself from dense physical matter at death, it draws itself together in the heart round the permanent atom. The atom, web and Prâna then rise along the secondary Sushumna-nadî into the third ventricle of the brain, thence to the point of junction of the parietal and occipital sutures, and finally out of the body. The life-web remains enshrouding the physical permanent atom, in the causal body, until the time comes for a new physical body to be built.
Khi tấm lưới sự sống Bồ đề, đi kèm với prana, tự gỡ khỏi vật chất hồng trần đậm đặc lúc chết, nó tự co lại trong tim quanh nguyên tử trường tồn. Khi ấy nguyên tử, tấm lưới và prana đi lên theo kinh mạch trung ương phụ vào não thất thứ ba, từ đó đến điểm giao nhau của các đường khớp đỉnh và chẩm, và cuối cùng ra khỏi thân thể. Tấm lưới sự sống vẫn bao bọc nguyên tử trường tồn hồng trần, trong thể nguyên nhân, cho đến khi đến lúc xây dựng một thể xác mới.
The withdrawal of the Etheric Double, and with it of course Prâna, destroys the integral unity of the physical body, thus leaving it merely as a collection of independent cells. The Life of the separate cells themselves continues, as evidenced by the well known fact that hairs on a corpse will sometimes continue to grow.
Sự rút lui của Bản sao Dĩ thái, và dĩ nhiên cùng với nó là prana, phá hủy sự thống nhất toàn vẹn của thể xác, như vậy chỉ để lại nó như một tập hợp các tế bào độc lập. Sự sống của chính các tế bào riêng rẽ vẫn tiếp tục, như được chứng minh bởi sự kiện ai cũng biết rằng tóc trên xác chết đôi khi vẫn tiếp tục mọc.
The moment the Etheric Double withdraws, and consequently Prâna ceases to circulate, the lower lives, i.e., the cells, run rampant and begin to break down the hitherto definitely organised body. The body is thus never more alive than when it is dead: but it is alive in its units, and dead in its totality; alive as a congeries, dead as an organism. As Eliphas Levi says: “The corpse would not decompose if it were dead; all the molecules which compose it are living and struggle to separate.” (Isis Unveiled, I, 480).
Khoảnh khắc Bản sao Dĩ thái rút lui, và do đó prana ngừng lưu thông, các sự sống thấp, tức các tế bào, trở nên phóng túng và bắt đầu phá vỡ thân thể cho đến lúc ấy vẫn được tổ chức rõ rệt. Như vậy, thân thể không bao giờ sống động hơn khi nó đã chết: nhưng nó sống trong các đơn vị của nó, và chết trong toàn thể; sống như một khối kết tụ, chết như một cơ cấu. Như Eliphas Levi nói: “Xác chết sẽ không phân hủy nếu nó đã chết; tất cả các phân tử cấu thành nó đều sống và đấu tranh để tách rời.” (Nữ thần Isis Không Màn Che, I, 480).
When the double finally quits the dense body, it does not go far away but usually floats over it. In this condition it is known as the wraith, and sometimes appears to those with whom it is closely bound up as a cloudy figure, very dully conscious and speechless. Unless disturbed by tumultuous distress or violent emotion, the state of consciousness is dreamy and peaceful.
Khi bản sao cuối cùng rời khỏi thể đậm đặc, nó không đi xa mà thường lơ lửng bên trên thể ấy. Trong tình trạng này, nó được biết đến như bóng ma, và đôi khi hiện ra với những người mà nó gắn bó mật thiết như một hình dáng mờ đục, có ý thức rất lờ mờ và không nói được. Trừ khi bị khuấy động bởi đau khổ dữ dội hoặc cảm xúc mãnh liệt, trạng thái tâm thức ấy mơ màng và an bình.
It is during the withdrawal of the double, as well as afterwards, that the whole of the man’s past life passes swiftly in review before the Ego, every forgotten nook and corner of the memory yielding up its secrets, picture by picture, event by event. In these few seconds the Ego lives over again his whole life, seeing his successes and failures, loves and hatreds: he perceives the predominant tendency of the whole, and the ruling thought of the life asserts itself, marking the region in which the chief part of the post-mortem life will be spent. As the Kaushitakopanishat describes it, at death Prâna gathers everything together and, withdrawing from the body, hands everything onwards to the Knower, who is the receptacle of all.
Chính trong lúc bản sao rút lui, cũng như sau đó, toàn bộ đời sống quá khứ của con người nhanh chóng lướt qua trước Chân ngã để được xem xét lại, mọi ngõ ngách bị quên lãng của ký ức đều trao ra các bí mật của nó, từng hình ảnh một, từng biến cố một. Trong vài giây này, Chân ngã sống lại toàn bộ đời mình, thấy những thành công và thất bại, những tình thương và thù ghét của mình: y nhận ra khuynh hướng chi phối của toàn thể, và tư tưởng chủ đạo của đời sống tự khẳng định, đánh dấu vùng mà phần chính của đời sống sau khi chết sẽ được trải qua. Như một Áo nghĩa thư mô tả, lúc chết prana gom mọi sự lại, và khi rút khỏi thân thể, trao mọi sự về phía trước cho thức giả, vốn là nơi tiếp nhận tất cả.
This stage is usually followed by a brief period of peaceful unconsciousness, due to the withdrawal of the etheric matter and its entanglement with the astral body, thus preventing the man from functioning either in the physical or the astral world. Some men shake themselves free from the etheric envelope in a few moments; others rest within it for hours, days, or even weeks, though usually the process does not take longer than a few hours.
Giai đoạn này thường được tiếp theo bởi một thời kỳ ngắn ngủi vô thức an bình, do sự rút lui của vật chất dĩ thái và sự vướng mắc của nó với thể cảm dục, do đó ngăn không cho con người hoạt động trong thế giới hồng trần hay thế giới cảm dục. Một số người tự thoát khỏi lớp bao dĩ thái trong vài khoảnh khắc; những người khác nghỉ trong đó nhiều giờ, nhiều ngày, hoặc thậm chí nhiều tuần, dù thông thường tiến trình này không kéo dài quá vài giờ.
As the days pass, the higher principles gradually disengage themselves from the double, and the latter then becomes in its turn an etheric corpse, which remains near the dense one, both disintegrating together. These etheric wraiths are often seen in churchyards, sometimes as violet or bluish-white mists or lights, but often presenting an unpleasant appearance as they pass through various stages of decomposition.
Khi ngày tháng trôi qua, các nguyên khí cao dần dần tách khỏi bản sao, và khi ấy bản sao đến lượt nó trở thành một xác dĩ thái, vẫn ở gần xác đậm đặc, cả hai cùng tan rã. Những bóng ma dĩ thái này thường được thấy trong các nghĩa địa, đôi khi như những làn sương hay ánh sáng màu tím hoặc trắng xanh, nhưng thường mang một vẻ khó chịu khi chúng đi qua các giai đoạn phân hủy khác nhau.
One of the great advantages of cremation is that by destroying the dense body, the etheric body also loses its nidus and so rapidly disintegrates.
Một trong những lợi ích lớn của hỏa táng là, khi phá hủy thể đậm đặc, thể dĩ thái cũng mất chỗ nương của nó và vì thế nhanh chóng tan rã.
If a man is so misguided as to wish to cling to the physical life, and even to his own corpse, the preservation of the dead body, either by burial or embalming, offers a distinct temptation to him to do so, and immensely facilitates his unfortunate purpose. Cremation entirely prevents any attempt at partial and unnatural temporary reunion of the principles. In addition, there are certain unpleasant forms of black magic, fortunately rare in Western countries at least, which make use of the decaying physical body; the etheric body of a dead person may also be similarly used in a variety of ways.All of these possibilities are avoided by the wholesome practice of cremation. It is quite impossible for a dead person to feel the effects of the fire on his discarded body, for, so long as it is death, the astral and etheric matter have been completely separated from the dense physical.
Nếu một người lầm lạc đến mức muốn bám víu vào đời sống hồng trần, và thậm chí vào chính xác chết của mình, thì việc bảo tồn thi hài, bằng chôn cất hay ướp xác, tạo cho y một cám dỗ rõ rệt để làm như vậy, và hỗ trợ rất nhiều cho mục đích bất hạnh của y. Hỏa táng hoàn toàn ngăn chặn mọi nỗ lực tái hợp tạm thời, một phần và trái tự nhiên, của các nguyên khí. Ngoài ra, có một số dạng Hắc thuật khó chịu, may thay hiếm gặp ít nhất ở các nước phương Tây, sử dụng thể xác đang phân rã; thể dĩ thái của một người chết cũng có thể được sử dụng tương tự theo nhiều cách. Tất cả những khả năng này đều được tránh khỏi nhờ thực hành hỏa táng lành mạnh. Người chết hoàn toàn không thể cảm thấy tác dụng của lửa trên thân thể đã bị y bỏ lại, vì, chừng nào đó là cái chết, vật chất cảm dục và dĩ thái đã hoàn toàn tách khỏi thể hồng trần đậm đặc.
Although it is quite impossible for a dead person to get back entirely into his dead body, yet, in the case of one who knows nothing beyond purely physical life and is crazy with fear at being entirely cut off from it, it is possible for him, in his frantic effort to keep in touch with physical life, to get hold of the etheric matter of the discarded body and drag it about with him. This may be the cause of considerable suffering, entirely unnecessary, and easily avoided by the practice of cremation.
Mặc dù người chết hoàn toàn không thể trở lại trọn vẹn vào xác chết của mình, tuy nhiên, trong trường hợp một người không biết gì ngoài đời sống thuần túy hồng trần và điên cuồng vì sợ bị cắt đứt hoàn toàn khỏi nó, y có thể, trong nỗ lực tuyệt vọng nhằm giữ liên hệ với đời sống hồng trần, nắm lấy vật chất dĩ thái của thân thể đã bỏ lại và kéo nó theo mình. Điều này có thể là nguyên nhân của đau khổ đáng kể, hoàn toàn không cần thiết, và dễ dàng tránh được bằng thực hành hỏa táng.
In the case of people who cling desperately to physical existence, the astral body cannot altogether separate from the etheric, and they awaken still surrounded by etheric matter. The condition is very unpleasant, as such a person would be shut out from the astral world by the shell of etheric matter, and at the same time the loss of physical sense organs prevents him from coming fully in touch with earth life. Consequently he drifts about, lonely and dumb and terrified, in a thick and gloomy fog, unable to hold intercourse with either plane.
Trong trường hợp những người tuyệt vọng bám víu vào sự tồn tại hồng trần, thể cảm dục không thể hoàn toàn tách khỏi thể dĩ thái, và họ thức dậy vẫn còn bị vật chất dĩ thái bao quanh. Tình trạng ấy rất khó chịu, vì một người như thế sẽ bị lớp vỏ vật chất dĩ thái ngăn khỏi thế giới cảm dục, đồng thời việc mất các giác quan hồng trần ngăn y tiếp xúc trọn vẹn với đời sống trần gian. Do đó y trôi dạt, cô độc, câm lặng và kinh hãi, trong một màn sương dày đặc và u ám, không thể giao tiếp với cõi nào cả.
In process of time the etheric shell wears out, in spite of his struggles, though usually not until after he has suffered intensely. Kindly people among the dead, and others, endeavour to help the class of person described, but seldom with success.
Theo thời gian, lớp vỏ dĩ thái mòn đi bất chấp những vùng vẫy của y, dù thường không trước khi y đã chịu đau khổ dữ dội. Những người tử tế trong số người chết, và những người khác, cố gắng giúp loại người được mô tả, nhưng hiếm khi thành công.
Sometimes a person in this condition may endeavour to get in touch once again with the physical plane through a medium, though usually the medium’s “spirit guides” sternly forbid them access, knowing that the medium runs the risk of being obsessed or maddened.Occasionally an unconscious medium – usually a sensitive young girl – may be seized upon, but the attempt can be successful only if the girl’s Ego has weakened his hold on his vehicles by indulging in undesirable thoughts and passions. Occasionally also a human soul wandering in this grey world may succeed in partially obsessing an animal, those most commonly seized upon being the less developed – cattle, sheep or swine, though cats and dogs or monkeys may also be used in this way.This appears to be the modern, i.e.., Fifth Race, substitute for the awful life of the vampire, found in Fourth Race peoples. Once entangled with an animal, it is possible to disentangle oneself only gradually and by considerable effort, extending probably for many days. Freedom usually comes only at the death of the animal, and even then there remains an astral entanglement to shake off.
Đôi khi một người trong tình trạng này có thể cố gắng liên hệ một lần nữa với cõi hồng trần qua một đồng tử, dù thông thường các “thần hướng dẫn” của đồng tử nghiêm khắc cấm họ tiếp cận, vì biết rằng đồng tử có nguy cơ bị ám ảnh hoặc phát điên. Đôi khi một đồng tử vô thức — thường là một cô gái trẻ nhạy cảm — có thể bị chiếm lấy, nhưng nỗ lực ấy chỉ có thể thành công nếu Chân ngã của cô gái đã làm suy yếu sự nắm giữ của mình trên các hiện thể do buông theo những tư tưởng và đam mê không mong muốn. Đôi khi cũng vậy, một linh hồn con người lang thang trong thế giới xám này có thể thành công trong việc ám ảnh một phần một con vật; những con thường bị chiếm lấy nhất là những con kém phát triển hơn — bò, cừu hoặc heo, dù mèo, chó hoặc khỉ cũng có thể được dùng theo cách này. Điều này dường như là sự thay thế hiện đại, tức của Giống dân thứ năm, cho đời sống khủng khiếp của ma cà rồng, được thấy nơi các dân tộc Giống dân thứ tư. Một khi đã vướng mắc với một con vật, người ta chỉ có thể tự gỡ ra dần dần và bằng nỗ lực đáng kể, có lẽ kéo dài nhiều ngày. Sự tự do thường chỉ đến khi con vật chết, và ngay cả khi ấy vẫn còn một vướng mắc cảm dục phải rũ bỏ.
CHAPTER XVII – CHƯƠNG XVII
HEALING – TRỊ LIỆU
We have already seen that a man in vigorous health is continually throwing off from his body vital emanations which may be absorbed by others. In this way the latter will be strengthened, and minor illnesses may be cured, or, at least, recovery expedited.
Chúng ta đã thấy rằng một người có sức khỏe cường tráng liên tục phóng ra từ thân thể mình các xuất lộ sinh lực có thể được người khác hấp thụ. Theo cách này, những người sau sẽ được tăng cường sức mạnh, và các bệnh nhẹ có thể được chữa khỏi, hoặc ít nhất sự hồi phục được thúc đẩy nhanh hơn.
As, however, the currents of Prâna are amenable to the will, it is possible for a man consciously to direct the streams of vitality which pour out of him, as well as greatly to augment their natural flow. By directing the currents on to a patient who is depleted of strength, owing to the fact that his spleen is not doing its work properly, considerable help towards recovery may be given, the additional vitality poured in by the healer keeping the patient’s bodily machinery working until it is sufficiently recovered to manufacture supplies of Prâna itself.
Tuy nhiên, vì các dòng prana thuận theo ý chí, con người có thể hữu thức hướng dẫn các luồng sinh lực tuôn ra từ y, cũng như làm gia tăng rất nhiều dòng chảy tự nhiên của chúng. Bằng cách hướng các dòng ấy đến một bệnh nhân bị suy kiệt sức lực do lá lách không làm việc đúng mức, có thể đem lại sự trợ giúp đáng kể cho việc hồi phục, sinh lực bổ sung do người chữa bệnh tuôn vào giữ cho bộ máy thân thể của bệnh nhân hoạt động cho đến khi nó đủ hồi phục để tự sản xuất nguồn prana.
The healing of the weak by the strong may thus be achieved, in certain cases, merely by physical proximity, the process being either entirely unconscious and automatic, or it may be assisted and expedited to almost any extent by conscious effort. Much benefit may often be given merely by pouring into the patient copious streams of vitality, which will flood the patient’s system with vitalising energy; or the operator may direct the flow to the particular portion of the body which is out of health. Merely to increase the circulation of Prâna is sufficient to cure many minor diseases. All nervous diseases imply a jangled condition of the Etheric Double, and that is also the cause of digestive troubles and sleeplessness. Headaches are usually caused by congestion, either of blood or of the vital fluid, sometimes called magnetism. A strong current directed by the healer through the head of the sufferer will wash away the congested matter and the headache will disappear.
Như vậy, trong một số trường hợp, việc chữa lành kẻ yếu bởi người mạnh có thể đạt được chỉ bằng sự gần gũi hồng trần, tiến trình ấy hoặc hoàn toàn vô thức và tự động, hoặc có thể được hỗ trợ và thúc đẩy nhanh đến hầu như bất kỳ mức độ nào bằng nỗ lực hữu thức. Nhiều lợi ích thường có thể được trao chỉ bằng cách tuôn vào bệnh nhân những luồng sinh lực dồi dào, làm ngập hệ thống của bệnh nhân bằng năng lượng tiếp sinh lực; hoặc người thao tác có thể hướng dòng chảy đến phần thân thể đặc biệt đang bất ổn. Chỉ cần gia tăng sự lưu thông của prana cũng đủ chữa nhiều bệnh nhẹ. Mọi bệnh thần kinh đều hàm ý một tình trạng rối loạn của Bản sao Dĩ thái, và đó cũng là nguyên nhân của các rối loạn tiêu hóa và mất ngủ. Nhức đầu thường do sự ứ nghẽn, hoặc của máu hoặc của lưu chất sinh lực, đôi khi được gọi là từ điện. Một dòng mạnh do người chữa bệnh hướng qua đầu người đau sẽ cuốn trôi vật chất ứ nghẽn và cơn nhức đầu sẽ biến mất.
These methods are comparatively simple and by no means difficult to apply, though a skilful healer, especially if clairvoyant, can improve on them enormously. One such improvement, which demands some knowledge of anatomy and physiology, is to make a mental picture of the diseased organ, and then image it as it should be in health. The strong thought will mould etheric matter into the desired form, which will help nature to build us new tissues much more rapidly than would otherwise be possible.
Những phương pháp này tương đối đơn giản và tuyệt nhiên không khó áp dụng, dù một người chữa bệnh khéo léo, đặc biệt nếu là nhà thông nhãn, có thể cải thiện chúng rất nhiều. Một cải thiện như thế, đòi hỏi một ít hiểu biết về giải phẫu và sinh lý học, là tạo một hình ảnh trí tuệ về cơ quan bị bệnh, rồi hình dung nó như nó phải là trong trạng thái khỏe mạnh. Tư tưởng mạnh sẽ nắn vật chất dĩ thái thành hình dạng mong muốn, điều này sẽ giúp thiên nhiên xây dựng cho chúng ta các mô mới nhanh hơn nhiều so với khả năng thông thường.
A still more thorough method is to create the organ in mental matter: then to build into it astral matter: then to densify it with etheric matter: and finally to build into the mould gases, liquids and solids, utilising materials available in the body and supplying from outside an deficiencies.
Một phương pháp còn triệt để hơn là tạo ra cơ quan ấy trong vật chất trí tuệ; rồi xây dựng vào đó vật chất cảm dục; rồi làm cho nó đậm đặc bằng vật chất dĩ thái; và cuối cùng xây dựng vào khuôn ấy các chất khí, chất lỏng và chất rắn, sử dụng các vật liệu sẵn có trong thân thể và cung cấp từ bên ngoài bất kỳ phần thiếu hụt nào.
A methodical and effective way to set to work to heal magnetically is as follows: The patient assumes a comfortable position, either sitting or lying down, and is instructed to relax as thoroughly as possible. A very convenient method is for the patient to sit in an easy chair, with solid flat arms, the operator sitting sideways on the arms and thus slightly above the patient. The operator then makes passes with his hands over the patient’s body, or over that portion of it which he proposes to treat magnetically, making an effort of will to withdraw from the patient the congested or diseased etheric matter. These passes may be made without actually touching the patient, though it is often an assistance to lay the whole hand on the skin gently and lightly.After each pass the operator must take care to throw off from himself the etheric matter he has withdrawn, otherwise some of it may remain in his own system and he may presently find himself suffering from a complaint similar to that of which he has cured his patient. Many cases of this kind are on record; thus, an operator may remove pain from a patient’s tooth, or elbow, only to find himself presently suffering from toothache or pain in the elbow. In some cases, where repeated treatments are given, an operator who neglects to throw off the diseased matter which he has extracted may make himself seriously ill and even become a chronic sufferer.
Một cách có phương pháp và hiệu quả để bắt đầu chữa lành bằng từ điện như sau: Bệnh nhân ở một tư thế thoải mái, hoặc ngồi hoặc nằm, và được hướng dẫn thư giãn hết mức có thể. Một phương pháp rất tiện lợi là để bệnh nhân ngồi trên ghế bành êm, có tay ghế phẳng và chắc, người thao tác ngồi nghiêng trên tay ghế và như vậy hơi cao hơn bệnh nhân. Sau đó người thao tác đưa tay vuốt dọc trên thân thể bệnh nhân, hoặc trên phần thân thể mà y dự định trị liệu bằng từ điện, đồng thời nỗ lực bằng ý chí để rút khỏi bệnh nhân vật chất dĩ thái ứ nghẽn hoặc bệnh hoạn. Những lượt vuốt này có thể được thực hiện mà không thật sự chạm vào bệnh nhân, dù thường sẽ hữu ích nếu đặt cả bàn tay lên da một cách dịu dàng và nhẹ nhàng. Sau mỗi lượt vuốt, người thao tác phải cẩn thận hất bỏ khỏi chính mình vật chất dĩ thái mà y đã rút ra; nếu không, một phần vật chất ấy có thể còn lại trong hệ thống của chính y, và chẳng bao lâu y có thể thấy mình mắc một chứng bệnh tương tự chứng bệnh mà y đã chữa khỏi cho bệnh nhân. Nhiều trường hợp thuộc loại này đã được ghi nhận; như vậy, một người thao tác có thể lấy đi cơn đau khỏi răng hoặc khuỷu tay của bệnh nhân, chỉ để rồi chẳng bao lâu chính y bị đau răng hoặc đau khuỷu tay. Trong một số trường hợp, khi việc điều trị được lặp lại, người thao tác nào lơ là không hất bỏ vật chất bệnh hoạn mà y đã trích xuất có thể khiến chính mình bệnh nặng và thậm chí trở thành người mắc bệnh mạn tính.
A.P.Sinnett gives a curious case of a lady who was cured of chronic rheumatism and then went to live in a part of Europe other than that in which the mesmeric operator resided. Four years afterwards the operator died, and the old rheumatic trouble at once returned to the lady with its former virulence. In this case, it would seem that the unhealthy magnetism which the operator had withdrawn from the patient, but had not destroyed, had for years been hanging around the aura of the operator, and on his death, had at once flown back to where it originally belonged.
Ông A. P. Sinnett kể một trường hợp kỳ lạ về một phụ nữ được chữa khỏi bệnh thấp khớp mạn tính, rồi sau đó đi sống tại một vùng ở châu Âu khác với nơi người thao tác thôi miên từ điện cư trú. Bốn năm sau, người thao tác qua đời, và chứng thấp khớp cũ lập tức trở lại với người phụ nữ ấy với mức độ dữ dội như trước. Trong trường hợp này, dường như từ điện không lành mạnh mà người thao tác đã rút khỏi bệnh nhân, nhưng chưa phá hủy, trong nhiều năm đã lởn vởn quanh hào quang của người thao tác, và khi ông chết, nó lập tức bay trở lại nơi vốn thuộc về nó.
Usually it is sufficient to jerk the hands sharply downwards and away from oneself, or the magnetism may be thrown into a basin of water, the water afterwards of course being thrown away. The process may be assisted after this preliminary portion of the treatment is completed by washing the hands in water before commencing the next and more positive part of the treatment.
Thông thường chỉ cần hất mạnh hai tay xuống dưới và ra xa khỏi mình là đủ, hoặc từ điện có thể được ném vào một chậu nước, rồi dĩ nhiên nước ấy sau đó phải được đổ bỏ. Sau khi phần sơ bộ này của điều trị hoàn tất, tiến trình có thể được hỗ trợ bằng cách rửa tay trong nước trước khi bắt đầu phần tiếp theo và tích cực hơn của việc điều trị.
It is also said to be possible to direct the unhealthy magnetism to certain classes of elementals, where it will find its appropriate sphere. The Bible parable of the herd of swine may well be an allegorical description of the process. It would certainly seem to be preferable for something of this kind to be done than for the unhealthy magnetism to be left floating about near the aura either of the healer or of others who may happen to be near.
Người ta cũng nói rằng có thể hướng từ điện không lành mạnh đến một số loại hành khí, nơi nó sẽ tìm được phạm vi thích hợp của mình. Dụ ngôn trong Kinh Thánh về bầy heo rất có thể là một mô tả ẩn dụ của tiến trình này. Chắc chắn dường như làm một điều gì đó thuộc loại này vẫn tốt hơn là để từ điện không lành mạnh trôi nổi gần hào quang của người chữa bệnh hoặc của những người khác tình cờ ở gần.
A slight variation of the above method, especially useful in the case of local congestion, is to place the hands, one on either side of the affected area, and to direct a stream of cleansing magnetism from the right hand to the left hand, this magnetism driving out the patient’s congested material.
Một biến thể nhẹ của phương pháp trên, đặc biệt hữu ích trong trường hợp ứ nghẽn cục bộ, là đặt hai tay, mỗi tay ở một bên vùng bị ảnh hưởng, và hướng một luồng từ điện thanh tẩy từ tay phải sang tay trái, từ điện này đẩy vật liệu ứ nghẽn của bệnh nhân ra ngoài.
The way having been prepared, the next stage is to pour into the patient one’s own magnetic fluid and Prâna. This is done by making similar passes, though this time with a strong effort of will to pour out one’s own force into the patient. This, as before, may be done by means of long sweeping passes over the whole body, or by shorter passes over a special area: or again, the two hands may be used, the current being passed from the right hand to the left, through the area that is being treated.
Khi con đường đã được chuẩn bị, giai đoạn kế tiếp là tuôn vào bệnh nhân lưu chất từ tính và prana của chính mình. Điều này được thực hiện bằng cách đưa tay vuốt tương tự, dù lần này với một nỗ lực ý chí mạnh mẽ nhằm tuôn mãnh lực của chính mình vào bệnh nhân. Như trước, điều này có thể được thực hiện bằng những lượt vuốt dài quét qua toàn thân, hoặc bằng những lượt vuốt ngắn hơn trên một vùng đặc biệt; hoặc lại nữa, có thể dùng cả hai tay, dòng chảy được dẫn từ tay phải sang tay trái, xuyên qua vùng đang được điều trị.
The student will readily recognise the desirability of the healer being himself perfectly healthy, because otherwise he is liable to pour into the patient some of his own unhealthy magnetism.
Đạo sinh sẽ dễ dàng nhận ra điều đáng mong muốn là chính người chữa bệnh phải hoàn toàn khỏe mạnh, vì nếu không y có thể tuôn vào bệnh nhân một phần từ điện không lành mạnh của chính mình.
It should be noted that in magnetic healing clothing is somewhat of a barrier, silk being in this respect the worst. The minimum possible, therefore, according to circumstances, should be worn by the patient.
Cần lưu ý rằng trong trị liệu bằng từ điện, quần áo phần nào là một hàng rào, trong phương diện này lụa là tệ nhất. Do đó, tùy hoàn cảnh, bệnh nhân nên mặc ít nhất có thể.
From the fact that certain forms of insanity are due to defects in the etheric brain, its particles not corresponding perfectly with the denser physical particles and thus being unable to bring through properly vibrations from the higher vehicles, we may surmise that such cases might lend themselves to cure by magnetic treatment.
Từ sự kiện rằng một số dạng điên loạn là do các khuyết tật trong bộ não dĩ thái, các hạt của nó không tương ứng hoàn hảo với các hạt hồng trần đậm đặc hơn và do đó không thể truyền đúng các rung động từ các hiện thể cao hơn, chúng ta có thể suy đoán rằng những trường hợp như thế có thể thích hợp để chữa bằng điều trị từ điện.
There are, of course, other methods of affecting the etheric body, because the connection between mental, astral and etheric bodies is so close that any one of the three may affect any of the others.
Dĩ nhiên, có những phương pháp khác để tác động đến thể dĩ thái, vì mối liên hệ giữa thể trí, thể cảm dục và thể dĩ thái mật thiết đến mức bất kỳ thể nào trong ba thể cũng có thể ảnh hưởng đến bất kỳ thể nào khác.
Generally speaking, it may be said that anything which promotes physical health also reacts favourably on the higher vehicles. Unused muscles, for example, not only tend to deteriorate, but produce a congestion of magnetism: this means a weak place in the Etheric Double, through which unpleasant germs, such as those of infection, may enter.
Nói chung, có thể nói rằng bất cứ điều gì thúc đẩy sức khỏe hồng trần cũng tác động thuận lợi lên các hiện thể cao hơn. Ví dụ, các bắp thịt không được dùng đến không chỉ có khuynh hướng suy thoái, mà còn tạo ra sự ứ nghẽn từ điện: điều này có nghĩa là một điểm yếu trong Bản sao Dĩ thái, qua đó các mầm bệnh khó chịu, như mầm lây nhiễm, có thể đi vào.
Similarly, mental or astral ill-health will almost surely, sooner or later, be reflected as physical disease. A person who is astrally “fussy”. i.e.., who allows his astral body to fritter away his strength on petty little emotions, troubles and worries, not only is apt to produce unpleasant and disturbing effects on the astral bodies of other sensitive persons, but frequently the perpetual astral disturbance reacts through the etheric upon the dense physical body, and all sorts of nervous diseases are produced.
Tương tự, tình trạng bất ổn về trí tuệ hoặc cảm dục hầu như chắc chắn, sớm hay muộn, sẽ được phản ánh thành bệnh hồng trần. Một người “rối rít” về cảm dục, tức là người để thể cảm dục của mình phung phí sức lực vào những cảm xúc, phiền toái và lo âu nhỏ nhặt, không chỉ dễ tạo ra những tác động khó chịu và gây rối trên thể cảm dục của những người nhạy cảm khác, mà thường thì sự xáo trộn cảm dục liên tục còn tác động qua thể dĩ thái lên thể hồng trần đậm đặc, và đủ loại bệnh thần kinh được tạo ra.
Nearly all nerve troubles, for example, are the direct result of unnecessary worry and emotion, and would soon disappear if the patient could be taught to hold his vehicles still and peaceful. Magnetic healing blends almost imperceptibly into mesmerism, which we shall therefore now proceed to examine.
Ví dụ, gần như mọi rối loạn thần kinh đều là kết quả trực tiếp của lo âu và cảm xúc không cần thiết, và sẽ sớm biến mất nếu bệnh nhân có thể được dạy giữ các hiện thể của mình yên tĩnh và an bình. Trị liệu bằng từ điện hòa nhập gần như không thể nhận ra vào thôi miên từ điện, điều mà vì thế bây giờ chúng ta sẽ tiếp tục khảo sát.
CHAPTER XVIII – CHƯƠNG XVIII
MESMERISM – THÔI MIÊN TỪ ĐIỆN
The student should recognise the perfectly clear and definite distinction between hypnotism and mesmerism. Hypnotism, derived from the Greek hypnos, meaning sleep, stands literally for the art of putting to sleep. It usually results from a nervous paralysis brought about by a slight strain either to the nerves of the eye or in some other way. It is not, in itself, an injurious state to be in, though it may of course be turned to ends either good or bad. It frequently makes the subject insensible to pain, and it may give the system a rest which may be highly beneficial. It is primarily a self-induced condition: its main result is that it usually places the subject to a greater or lesser extent under the control of the operator who, within certain limits which vary according to the nature and character of the subject and the degree of the hypnosis as well as the power and skill of the operator, may be compelled to do what the operator wishes.
Đạo sinh nên nhận ra sự phân biệt hoàn toàn rõ ràng và xác định giữa thuật thôi miên và thôi miên từ điện. Thuật thôi miên, phát xuất từ một từ Hy Lạp có nghĩa là ngủ, theo nghĩa đen là nghệ thuật đưa vào giấc ngủ. Nó thường là kết quả của một sự tê liệt thần kinh do một căng thẳng nhẹ hoặc ở các dây thần kinh của mắt hoặc theo một cách nào khác. Tự nó không phải là một trạng thái gây hại, dù dĩ nhiên nó có thể được dùng cho mục đích tốt hoặc xấu. Nó thường khiến đối tượng mất cảm giác đau, và có thể cho hệ thống một sự nghỉ ngơi rất có lợi. Về căn bản, đó là một tình trạng tự gây ra: kết quả chính của nó là thường đặt đối tượng, ở mức độ lớn hay nhỏ, dưới sự kiểm soát của người thao tác; trong một số giới hạn thay đổi tùy theo bản chất và tính cách của đối tượng, mức độ thôi miên cũng như quyền năng và kỹ năng của người thao tác, đối tượng có thể bị buộc làm điều người thao tác muốn.
Mesmerism depends upon quite a different principle. The word itself is derived from Frederick Mesmer (1734-1815) a doctor of Vienna, who, towards the end of the eighteenth century, discovered that he could effect cures by means of influences proceeding from the hand, to which he gave the name “animal magnetism”. The essence of Mesmerism is that the operator drives out or forces back the patient’s own magnetism or vital fluid, and replaces it with his own fluid. The natural effect of this is that the patient loses all power of feeling in that portion of his body from which his own fluid has been expelled. We have previously seen that the power of feeling depends on the transmission of contacts to the astral centres, through the matter of the Etheric Double. When therefore, the etheric matter is removed, the connection between the dense physical body and the astral body is broken, and consequently there can be no sensation experienced.
Thôi miên từ điện dựa trên một nguyên lý hoàn toàn khác. Chính từ này bắt nguồn từ Frederick Mesmer (1734-1815), một bác sĩ ở Vienna, người vào cuối thế kỷ mười tám đã khám phá rằng ông có thể thực hiện các chữa lành bằng những ảnh hưởng phát xuất từ bàn tay, mà ông đặt tên là “từ điện động vật”. Bản chất của thôi miên từ điện là người thao tác đẩy ra hoặc ép lùi từ điện hay lưu chất sinh lực của chính bệnh nhân, và thay thế nó bằng lưu chất của chính mình. Hiệu quả tự nhiên của điều này là bệnh nhân mất hết khả năng cảm giác ở phần thân thể mà lưu chất của chính y đã bị trục xuất. Trước đây chúng ta đã thấy rằng khả năng cảm giác tùy thuộc vào việc truyền các tiếp xúc đến các trung tâm cảm dục, qua vật chất của Bản sao Dĩ thái. Vì vậy, khi vật chất dĩ thái bị lấy đi, mối liên hệ giữa thể hồng trần đậm đặc và thể cảm dục bị cắt đứt, và do đó không thể có cảm giác nào được kinh nghiệm.
The withdrawal of the vital fluid does not in any way interfere with the circulation of the blood, for the portion of the body concerned remains warm.
Việc rút lui lưu chất sinh lực không hề can thiệp vào sự lưu thông của máu, vì phần thân thể liên quan vẫn ấm.
It is thus possible to drive out a patient’s own etheric matter from, say an arm or a leg, so that complete anæsthesia in the limb results. The mesmeric process being in such a case purely local, the patient will retain full normal consciousness in the brain; all that happens is that a local anæsthetic has been applied to the limb concerned. Under such mesmeric anæsthetic surgical operations, both major and minor, have been performed. Perhaps the best known collection of such operations is recorded in the book Mesmerism in India, first published in 1842, by Dr. Esdaile. Another surgeon, one Dr. Elliotson, also performed large numbers of operations under mesmeric anæthesia in London about three-quarters of a century ago. At this time chloroform was unknown, and every operating room was a torture chamber.Graphic and interesting accounts of the work of these two pioneers may be found in The Rationale of Mesmerism, by A. P. Sinnett, a book strongly recommended to the student.
Như vậy có thể đẩy vật chất dĩ thái của chính bệnh nhân ra khỏi, chẳng hạn, một cánh tay hay một chân, khiến chi ấy hoàn toàn mất cảm giác. Vì tiến trình thôi miên từ điện trong trường hợp như thế hoàn toàn cục bộ, bệnh nhân sẽ giữ trọn tâm thức bình thường trong bộ não; tất cả những gì xảy ra là một thuốc gây tê cục bộ đã được áp dụng cho chi liên quan. Dưới trạng thái gây tê bằng thôi miên từ điện như thế, các ca phẫu thuật, cả lớn lẫn nhỏ, đã được thực hiện. Có lẽ bộ sưu tập nổi tiếng nhất về các ca phẫu thuật như vậy được ghi lại trong sách Thôi Miên Từ Điện ở Ấn Độ, xuất bản lần đầu năm 1842, của Bác sĩ Esdaile. Một phẫu thuật gia khác, Bác sĩ Elliotson, cũng đã thực hiện nhiều ca phẫu thuật dưới gây tê bằng thôi miên từ điện tại London khoảng ba phần tư thế kỷ trước. Vào thời ấy, chloroform chưa được biết đến, và mọi phòng mổ đều là một phòng tra tấn. Những tường thuật sinh động và thú vị về công việc của hai nhà tiên phong này có thể được tìm thấy trong Cơ Sở Hợp Lý của Thôi Miên Từ Điện, của A. P. Sinnett, một cuốn sách rất được khuyến nghị cho đạo sinh.
The mesmeric process may be pushed further, to the extent of driving out the subject’s own magnetic fluid from the brain and replacing it by that of the operator. In this case, the subject entirely loses control of his own body, and the control passes to the operator, who can then make the subject’s body do what the operator wishes.
Tiến trình thôi miên từ điện có thể được đẩy xa hơn, đến mức trục xuất lưu chất từ tính của chính đối tượng khỏi bộ não và thay thế nó bằng lưu chất của người thao tác. Trong trường hợp này, đối tượng hoàn toàn mất quyền kiểm soát thân thể của chính mình, và quyền kiểm soát chuyển sang người thao tác, người khi ấy có thể khiến thân thể của đối tượng làm điều người thao tác muốn.
An interesting consequence of replacing a subject’s magnetic fluid by that of the operator is that a stimulus applied to the operator may appear to be felt by the subject, or, on the other hand, a stimulus applied to the subject may be felt by the operator.
Một hệ quả thú vị của việc thay thế lưu chất từ tính của đối tượng bằng lưu chất của người thao tác là một kích thích tác động lên người thao tác có thể dường như được đối tượng cảm nhận, hoặc, mặt khác, một kích thích tác động lên đối tượng có thể được người thao tác cảm nhận.
Thus, for example, suppose that an arm has been mesmerised, the subject’s own magnetic fluid being replaced by that of the operator. Then if the operator’s hand be pricked, the subject may receive the feeling, owing to the fact that the nerve-ether of the operator has been connected to the subject’s brain: the subject therefore, receiving the message from the operator’s nerve-ether, supposes it to have come from his own nerve-ether and so responds accordingly. This phenomenon is usually known as magnetic sympathy, and many cases may be read of in the literature of the subject.
Như vậy, ví dụ, giả sử một cánh tay đã được thôi miên từ điện, lưu chất từ tính của chính đối tượng được thay thế bằng lưu chất của người thao tác. Khi ấy nếu bàn tay của người thao tác bị châm, đối tượng có thể nhận cảm giác ấy, do sự kiện rằng dĩ thái thần kinh của người thao tác đã được nối với bộ não của đối tượng: do đó đối tượng, nhận thông điệp từ dĩ thái thần kinh của người thao tác, cho rằng nó đến từ dĩ thái thần kinh của chính mình và đáp ứng tương ứng. Hiện tượng này thường được gọi là sự cộng cảm từ tính, và có thể đọc thấy nhiều trường hợp trong văn liệu về đề tài này.
It is not essential to make passes with the hands in order to mesmerise. The only use of the hands is to concentrate the fluid, and perhaps to help the imagination of the operator, anything which assists the imagination making it easier that belief upon which the action of the will so largely depends. A skilful mesmerist, however, can manage quite well without any passes whatever, achieving his results merely by looking at his subject and using his will.
Không nhất thiết phải đưa tay vuốt để thôi miên từ điện. Công dụng duy nhất của hai bàn tay là tập trung lưu chất, và có lẽ giúp Sự tưởng tượng của người thao tác; bất cứ điều gì hỗ trợ Sự tưởng tượng đều làm cho niềm tin, mà trên đó hành động của ý chí phần lớn tùy thuộc, trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, một nhà thôi miên từ điện khéo léo có thể xoay xở rất tốt mà không cần bất kỳ lượt vuốt nào, đạt được kết quả chỉ bằng cách nhìn vào đối tượng và sử dụng ý chí của mình.
It would appear that the etheric mechanism of the body consists of two distinct divisions, the one unconscious and connected with the sympathetic, the other conscious and voluntary, and connected with the cerebro-spinal system, and that it is possible to mesmerise the latter, but not the former. A mesmerist would not, therefore, usually be able to interfere with the ordinary vital processes of a patient’s body, such as breathing or the circulation of the blood.
Dường như bộ máy dĩ thái của thân thể gồm hai phần phân biệt, một phần vô thức và liên kết với hệ giao cảm, phần kia hữu thức và tự ý, liên kết với hệ não-tủy; và có thể thôi miên từ điện phần sau, nhưng không phải phần trước. Do đó, một nhà thôi miên từ điện thường sẽ không thể can thiệp vào các tiến trình sinh lực thông thường của thân thể bệnh nhân, như hô hấp hoặc tuần hoàn máu.
This may, perhaps be the explanation of the statement in Theosophy that Prâna exists in two main forms in the physical body: energising Prâna in the Etheric Double, and Automatic Prâna in the dense body.
Điều này có lẽ là lời giải thích cho phát biểu trong Thông Thiên Học rằng prana tồn tại dưới hai hình thức chính trong thể xác: prana tiếp năng lượng trong Bản sao Dĩ thái, và prana tự động trong thể đậm đặc.
As in the case of magnetic healing, it is obviously eminently desirable that a mesmerist should be physically healthy. For a healer or magnetiser pours into the patient not only Prâna, but also his own emanations, and in this way it is possible for the operator to convey physical disease to the subject. Further, as astral and mental matter are also thrown into the subject, moral and mental diseases may likewise be transferred.
Như trong trường hợp trị liệu bằng từ điện, rõ ràng điều hết sức đáng mong muốn là một nhà thôi miên từ điện phải khỏe mạnh về hồng trần. Vì một người chữa bệnh hay nhà từ hóa tuôn vào bệnh nhân không chỉ prana, mà còn cả các xuất lộ của chính mình, và theo cách này người thao tác có thể truyền bệnh hồng trần sang đối tượng. Hơn nữa, vì vật chất cảm dục và trí tuệ cũng được ném vào đối tượng, các bệnh về đạo đức và trí tuệ cũng có thể được chuyển giao tương tự.
For similar reasons a mesmerist may thus, even unconsciously, gain great influence over his subject – a far greater power than is generally known. Any quality of heart or mind possessed by the mesmerist is very readily transferred to the subject, hence the avenues of possible danger in this respect are apparent.
Vì những lý do tương tự, một nhà thôi miên từ điện do đó có thể, thậm chí vô thức, giành được ảnh hưởng lớn trên đối tượng của mình — một quyền năng lớn hơn rất nhiều so với điều thường được biết. Bất kỳ phẩm tính nào của tâm hoặc trí mà nhà thôi miên từ điện sở hữu đều rất dễ chuyển sang đối tượng; vì thế những lối mở của nguy hiểm có thể có trong phương diện này là hiển nhiên.
Mesmerism purely for curative purposes, by those who understand what they are doing and can be trusted not to abuse their powers, has much to be said for it; but mesmerism for other purposes is distinctly not advisable.
Thôi miên từ điện thuần túy nhằm mục đích chữa trị, do những người hiểu điều họ đang làm và có thể được tin cậy là không lạm dụng các quyền năng của mình thực hiện, có nhiều điều đáng nói để bênh vực; nhưng thôi miên từ điện vì các mục đích khác thì rõ ràng không nên.
An advantage possessed by mesmerism over healing of disease by will is that when will-forces are poured down into the physical, there is a danger of driving the disease back into the subtler vehicles from which it came, thus inhibiting the final working out to the physical plane of evil which has its origin in mind and emotion. Curative mesmerism is free from this danger.
Một lợi thế mà thôi miên từ điện có so với việc chữa bệnh bằng ý chí là khi các mãnh lực ý chí được tuôn xuống cõi hồng trần, có nguy cơ đẩy bệnh trở lại vào các hiện thể vi tế hơn, nơi nó xuất phát, như vậy ức chế sự vận hành cuối cùng xuống cõi hồng trần của điều xấu ác có nguồn gốc trong trí tuệ và cảm xúc. Thôi miên từ điện chữa trị không có nguy cơ này.
An interesting example of magnetic or mesmeric healing is the Buddhist Paritta or Pirit ceremony (meaning literally “blessings”), in which the monks sit in a circle or hollow square and hold in their hands a rope about as thick as a clothes line, from which strings run to a large pot of water. Relays of monks recite texts from the scriptures for many days continuously, keeping clearly in their minds the will to bless. The water becomes very highly charged with magnetism and it is then distributed to the people, or a sick man may hold a thread connected to the rope.
Một ví dụ thú vị về trị liệu từ tính hay thôi miên là nghi lễ Paritta hay Pirit của Phật giáo, nghĩa đen là “các phúc lành”, trong đó các tu sĩ ngồi thành một vòng tròn hoặc một hình vuông rỗng, tay cầm một sợi dây thừng dày khoảng bằng dây phơi quần áo, từ đó các sợi dây nhỏ nối đến một chum nước lớn. Các nhóm tu sĩ luân phiên tụng đọc kinh văn liên tục trong nhiều ngày, đồng thời giữ rõ ràng trong trí ý chí ban phúc. Nước trở nên được nạp từ điện rất mạnh, rồi được phân phát cho dân chúng, hoặc một người bệnh có thể cầm một sợi chỉ nối với sợi dây thừng ấy.
It may be noted, in passing, that it is possible to mesmerise plants and procure specific and distinct results in stimulation of their growth. There are probably very few who practise this consciously, at least in Western countries, though the fact that some persons have a “lucky hand” with plants and flowers, etc., may perhaps be partially explained on the lines indicated. A more common cause, however, of such phenomena has to do with the composition of the etheric and other bodies and the relationship of the person to the elementals, the most friendly to him being those whose element is preponderant in his vehicles.
Nhân tiện, có thể lưu ý rằng người ta có thể thôi miên cây cối và tạo ra những kết quả đặc thù, rõ rệt trong việc kích thích sự tăng trưởng của chúng. Có lẽ rất ít người thực hành điều này một cách có ý thức, ít nhất là tại các nước phương Tây, dù sự kiện một số người có “bàn tay may mắn” đối với cây cối, hoa cỏ, v.v., có lẽ phần nào có thể được giải thích theo những đường hướng đã nêu. Tuy nhiên, một nguyên nhân phổ biến hơn của các hiện tượng như thế liên quan đến cấu tạo của thể dĩ thái và các thể khác, cũng như mối quan hệ của người ấy với các hành khí; thân thiện nhất với y là những hành khí có nguyên tố chiếm ưu thế trong các hiện thể của y.
Nature-spirits, possessing little sense of responsibility and wills not strongly developed, can usually readily be dominated mesmerically, and can then be employed in many ways to carry out the will of the magician: so long as the tasks given to them are within their powers they will be faithfully and surely executed.
Các tinh linh tự nhiên, vốn ít có ý thức trách nhiệm và ý chí chưa phát triển mạnh, thường có thể dễ dàng bị chế ngự bằng thôi miên, rồi sau đó có thể được sử dụng theo nhiều cách để thực hiện ý chí của nhà huyền thuật; miễn là những nhiệm vụ được giao cho chúng nằm trong khả năng của chúng, chúng sẽ thực hiện một cách trung thành và chắc chắn.
It is also possible to mesmerise persons who have recently died and who are still hovering close about us in their astral bodies.
Cũng có thể thôi miên những người mới chết gần đây và vẫn còn lảng vảng gần chúng ta trong thể cảm dục của họ.
CHAPTER XIX – CHƯƠNG XIX
SHELLS AND SHIELDS – CÁC LỚP VỎ VÀ TẤM CHẮN
There are certain circumstances in which it is both permissible and desirable to form either a shell or a shield of etheric matter, to protect oneself or other people from unpleasant influences of various kinds.
Có những hoàn cảnh nhất định trong đó việc tạo nên một lớp vỏ hoặc một tấm chắn bằng vật chất dĩ thái để bảo vệ bản thân hay người khác khỏi những ảnh hưởng khó chịu thuộc nhiều loại khác nhau là điều vừa được phép vừa đáng mong muốn.
Thus for example, in a mixed crowd there is quite likely to be present some physical magnetism distasteful, if not positively injurious, to a student of occultism. Some persons, also, being themselves low in vitality, have the faculty, usually unconscious, of depleting others in their vicinity of their stores of Prâna. Provided these vampire-like people took from others only those etheric particles which are normally expelled from the body as not needed, no harm would be done, but often the suction is so intense that the whole circulation of Prâna in the victim is hastened, the rose-coloured particles also being drawn out of the system before their Prânic content has been assimilated by their owner. A capable vampire can thus drain a person of all his strength in a few minutes.
Chẳng hạn, trong một đám đông hỗn tạp, rất có thể hiện diện một loại từ điện hồng trần gây khó chịu, nếu không nói là thực sự có hại, đối với một đạo sinh huyền bí học. Một số người, do bản thân có sinh lực thấp, lại có khả năng, thường là vô thức, làm cạn kiệt kho dự trữ Prana của những người ở gần họ. Nếu những người giống như ma cà rồng này chỉ lấy từ người khác các hạt dĩ thái vốn bình thường bị thải ra khỏi thể vì không còn cần thiết, thì không gây hại gì; nhưng thường thì sức hút mạnh đến mức toàn bộ sự tuần hoàn Prana trong nạn nhân bị thúc nhanh, các hạt màu hồng cũng bị rút ra khỏi hệ thống trước khi hàm lượng Prana của chúng được chủ nhân đồng hóa. Như vậy, một ma cà rồng có năng lực có thể rút cạn toàn bộ sức lực của một người chỉ trong vài phút.
The vampire is not appreciably benefited by the vitality of which he has robbed others, because his own system tends to dissipate what he acquires without proper assimilation. A person in this condition needs mesmeric treatment, strictly limited quantities of Prâna being supplied to him, until the elasticity of his etheric double is restored, so that both the suction and the leakage cease. The leakage of vitality takes place through every pore of the body rather than through any one portion of it.
Ma cà rồng không được lợi đáng kể từ sinh lực mà y đã cướp đoạt của người khác, vì chính hệ thống của y có xu hướng làm tiêu tan những gì y thu được mà không đồng hóa đúng mức. Một người trong tình trạng này cần được điều trị bằng thôi miên, với những lượng Prana được cung cấp cho y trong giới hạn nghiêm ngặt, cho đến khi độ đàn hồi của bản sao dĩ thái của y được phục hồi, để cả sức hút lẫn sự rò rỉ đều chấm dứt. Sự rò rỉ sinh lực diễn ra qua từng lỗ chân lông của thể, hơn là qua một bộ phận riêng biệt nào của nó.
In certain abnormal cases another entity may attempt to seize and obsess the physical bodies of others. Or, again, it may be necessary to sleep, e.g.., in a railway carriage, in close proximity with people of the vampire type or whose emanations are coarse and undesirable; or the student may have to visit persons or places where disease is rampant.
Trong một số trường hợp bất thường, một thực thể khác có thể cố tìm cách chiếm đoạt và ám ảnh thể xác của người khác. Hoặc, cũng có khi cần phải ngủ, chẳng hạn trong toa xe lửa, gần sát với những người thuộc kiểu ma cà rồng hoặc có các xuất lộ thô trược và không mong muốn; hoặc đạo sinh có thể phải thăm viếng những người hay những nơi bệnh tật đang hoành hành.
Some people are so sensitive that they are apt to reproduce in their own bodies the symptoms of others who are weak and diseased; others, again, suffer considerably from the incessant play of the multiplex vibrations of a noisy city.
Một số người nhạy cảm đến mức họ dễ tái tạo trong chính thể của mình các triệu chứng của những người yếu đuối và bệnh tật; một số khác lại chịu khổ đáng kể vì sự tác động không ngừng của các rung động phức hợp nơi một thành phố ồn ào.
In all these cases an etheric shell may be utilised with advantage to protect oneself. It is important to note, however, that an etheric shell which keeps out etheric matter will also keep it in, and that therefore one’s own etheric emanations, many of which are poisonous, will be kept within the shell.
Trong tất cả các trường hợp này, một lớp vỏ dĩ thái có thể được sử dụng một cách hữu ích để bảo vệ bản thân. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là một lớp vỏ dĩ thái giữ vật chất dĩ thái ở bên ngoài cũng sẽ giữ nó ở bên trong, và do đó các xuất lộ dĩ thái của chính mình, nhiều thứ trong đó là độc hại, sẽ bị giữ lại bên trong lớp vỏ.
The shell is made by an effort of will and imagination. It may be done in two ways. Either the periphery of the etheric aura, which follows the shape of and is slightly larger than the physical body, may be densified, or an ovoid shell of etheric matter may be manufactured out of the surrounding atmosphere. The latter is preferable, though it demands a far greater exertion of the will and a more definite knowledge of the way in which physical matter is moulded by it.
Lớp vỏ được tạo nên bằng một nỗ lực của ý chí và Sự tưởng tượng. Việc này có thể thực hiện theo hai cách. Hoặc chu vi của hào quang dĩ thái, vốn theo hình dạng của thể xác và hơi lớn hơn thể xác, có thể được làm đậm đặc; hoặc một lớp vỏ hình trứng bằng vật chất dĩ thái có thể được tạo ra từ bầu khí quyển chung quanh. Cách sau đáng chuộng hơn, dù nó đòi hỏi một sự vận dụng ý chí lớn hơn nhiều và một tri thức xác định hơn về phương cách vật chất hồng trần được ý chí ấy uốn nắn.
Students who wish to guard their physical bodies during sleep by means of an etheric shell must be careful to make the latter of etheric, not astral, matter. A case is recorded of a student who made this mistake, with the consequence that the physical body was left entirely unprotected, while he himself floated away in an impenetrable astral shell which permitted nothing to pass either to or from the consciousness imprisoned within.
Các đạo sinh muốn bảo vệ thể xác của mình trong khi ngủ bằng một lớp vỏ dĩ thái phải cẩn thận tạo lớp vỏ ấy bằng vật chất dĩ thái, chứ không phải vật chất cảm dục. Có ghi lại một trường hợp một đạo sinh đã phạm sai lầm này, hậu quả là thể xác bị bỏ lại hoàn toàn không được bảo vệ, trong khi chính y trôi đi trong một lớp vỏ cảm dục không thể xuyên thấu, không cho bất cứ điều gì đi vào hay đi ra khỏi tâm thức bị giam giữ bên trong.
The formation of an etheric shell before going to sleep may be of assistance in helping the experiences of the Ego to come through into the waking consciousness by preventing the thoughts which are always floating in the etheric world, and constantly bombarding the vehicles, from entering into the sleeping etheric brain and becoming mixed up with the thoughts of that etheric brain itself.
Việc tạo nên một lớp vỏ dĩ thái trước khi đi ngủ có thể hỗ trợ giúp các kinh nghiệm của chân ngã đi vào tâm thức lúc thức, bằng cách ngăn những tư tưởng vốn luôn trôi nổi trong thế giới dĩ thái và liên tục dội vào các hiện thể không đi vào bộ não dĩ thái đang ngủ và không lẫn lộn với các tư tưởng của chính bộ não dĩ thái ấy.
The etheric part of the brain, being the playground of the creative imagination, takes an active part in dreams, especially those caused by impressions from outside, or from any internal pressure from the cerebral vessels. Its dreams are usually dramatic, for it draws on the accumulated contents of the physical brain, and arranges, dissociates, and recombines these after its own fancies, thus creating the lower world of dream.
Phần dĩ thái của bộ não, vốn là sân chơi của Sự tưởng tượng sáng tạo, tham gia tích cực vào các giấc mơ, đặc biệt là những giấc mơ do các ấn tượng từ bên ngoài, hoặc do bất cứ áp lực nội tại nào từ các mạch não gây nên. Các giấc mơ của nó thường có tính kịch, vì nó rút từ nội dung tích lũy của bộ não hồng trần, rồi sắp xếp, tách rời và kết hợp lại những nội dung ấy theo các tưởng tượng riêng của nó, nhờ đó tạo ra thế giới thấp của mộng.
The best method of remaining, whilst awake, practically impervious to the impingement of thought from without is to keep the brain fully employed instead of leaving it idle, the door wide open for the streams of inconsequent chaos to pour into it.
Phương pháp tốt nhất để, trong khi thức, hầu như không thấm nhiễm trước sự va chạm của tư tưởng từ bên ngoài là giữ cho bộ não hoàn toàn bận rộn, thay vì để nó nhàn rỗi, với cánh cửa mở rộng cho các dòng hỗn độn vô nghĩa tuôn vào.
In sleep the etheric part of the brain is of course even more at the mercy of outside thought-currents. By the means suggested above the student should be able to keep himself free from such troubles. In some cases it is not necessary to make a shell to surround the whole body, but merely a small local shield to guard oneself against a special contact.
Trong giấc ngủ, phần dĩ thái của bộ não dĩ nhiên còn phó mặc hơn nữa cho các dòng tư tưởng bên ngoài. Bằng phương tiện đã gợi ý ở trên, đạo sinh có thể giữ cho mình khỏi những phiền nhiễu như thế. Trong một số trường hợp, không cần tạo một lớp vỏ bao quanh toàn bộ thể, mà chỉ cần một tấm chắn nhỏ tại chỗ để bảo vệ bản thân khỏi một tiếp xúc đặc biệt.
Thus some sensitive people suffer acutely merely shaking hands with others. In such cases a temporary shield of etheric matter may be formed, by an effort of will and imagination, which will completely protect the hand and arm from the entry of a single particle charged with undesirable magnetism.
Chẳng hạn, một số người nhạy cảm chịu đau đớn dữ dội chỉ vì bắt tay người khác. Trong những trường hợp như thế, một tấm chắn tạm thời bằng vật chất dĩ thái có thể được tạo nên bằng một nỗ lực của ý chí và Sự tưởng tượng, và tấm chắn ấy sẽ bảo vệ hoàn toàn bàn tay và cánh tay khỏi sự xâm nhập của dù chỉ một hạt mang từ điện không mong muốn.
Similar shields are used for protection against fire, though for this purpose a far greater knowledge of practical magic is needed. Such shields of etheric matter, the thinnest layer of which can be so manipulated as to be absolutely impervious to heat, may spread over the hands, the feet, or over the hot stones or other substances used in fire walking ceremonies still practised in some parts of the world. This phenomenon is occasionally seen at spiritual séances, the sitters being enabled to handle red-hot coals with impunity.
Những tấm chắn tương tự được dùng để bảo vệ chống lửa, dù cho mục đích này cần một tri thức thực hành huyền thuật lớn hơn nhiều. Những tấm chắn bằng vật chất dĩ thái như thế, với lớp mỏng nhất có thể được điều khiển sao cho hoàn toàn không thấm nhiệt, có thể phủ trên bàn tay, bàn chân, hoặc trên các phiến đá nóng hay những chất liệu khác được dùng trong các nghi lễ đi trên lửa vẫn còn được thực hành ở một số nơi trên thế giới. Hiện tượng này đôi khi được thấy trong các Buổi gọi hồn thần linh học, khi những người tham dự có thể cầm than đỏ rực mà không hề hấn gì.
It will, of course, be recognised that the shells and shields we have been speaking about are purely etheric, and therefore have no effect in keeping off astral or mental influences, for which purpose shells of the material of those planes would have to be employed; with these, however, we are not here concerned.
Dĩ nhiên cần nhận ra rằng các lớp vỏ và tấm chắn mà chúng ta đã nói đến hoàn toàn là dĩ thái, và do đó không có tác dụng ngăn các ảnh hưởng cảm dục hay trí tuệ; để làm việc ấy, phải dùng các lớp vỏ bằng chất liệu của những cõi đó. Tuy nhiên, ở đây chúng ta không đề cập đến những điều ấy.
CHAPTER XX – CHƯƠNG XX
MEDIUMSHIP – ĐỒNG TỬ TÍNH
A MEDIUM is an abnormally organised person in whom dislocation of the etheric and dense bodies easily occurs. The Etheric Double, when extruded, largely supplies the physical basis for “materialisations.”
Một ĐỒNG TỬ là một người có tổ chức bất thường, nơi y sự lệch khớp giữa thể dĩ thái và thể đậm đặc dễ dàng xảy ra. Bản sao dĩ thái, khi bị đẩy ra ngoài, phần lớn cung cấp nền tảng hồng trần cho các hiện tượng “hiện hình”.
Such materialised forms are usually strictly confined to the immediate neighbourhood of the medium, the matter of which they are composed being subject to an attraction which is constantly drawing it back to the body from which it came, so that if kept away from the medium too long the figure collapses, the matter which composes it instantly rushing back to its source.
Những hình tướng được hiện hình như thế thường bị giới hạn nghiêm ngặt trong vùng lân cận ngay sát đồng tử, vì vật chất cấu thành chúng chịu một sức hút liên tục kéo nó trở về thể mà từ đó nó xuất phát; do đó, nếu bị giữ xa đồng tử quá lâu, hình thể ấy sụp đổ, và vật chất cấu thành nó lập tức lao trở về nguồn của mình.
Such forms are able to exist for a few moments only amidst the intense vibrations of brilliant light.
Những hình tướng như thế chỉ có thể tồn tại trong vài khoảnh khắc giữa các rung động mãnh liệt của ánh sáng chói lọi.
The condition of mediumship is, on the whole, dangerous, and fortunately comparatively rare: it gives rise to such nervous strain and disturbance. When the Etheric Double is extruded, the double itself is rent in twain; the whole of it could not be separated from the dense body without causing death, since the life-force, or Prâna, cannot circulate without the presence of etheric matter. Even the partial withdrawal of the double produces lethargy in the dense body and almost suspends the vital activities: this dangerous condition is usually followed by extreme exhaustion )see Chapter I., p. 5)
Tình trạng đồng tử tính nói chung là nguy hiểm, và may mắn thay tương đối hiếm; nó gây ra sự căng thẳng và xáo trộn thần kinh như thế. Khi Bản sao dĩ thái bị đẩy ra ngoài, chính bản sao ấy bị xé làm đôi; toàn bộ nó không thể bị tách khỏi thể đậm đặc mà không gây ra cái chết, vì sinh lực, hay Prana, không thể tuần hoàn nếu thiếu sự hiện diện của vật chất dĩ thái. Ngay cả sự rút ra một phần của bản sao cũng tạo ra trạng thái hôn trầm trong thể đậm đặc và hầu như đình chỉ các hoạt động sinh lực; tình trạng nguy hiểm này thường theo sau bởi sự kiệt sức cực độ)xem Chương I., tr. 5)
The terrible drain on the vitality, set up by a withdrawal of the means by which the Prâna is circulated, is the reason why mediums are so often in a state of collapse after a séance, and also why so many mediums eventually become drunkards, stimulants being taken in order to satisfy the terrible craving for support by the sudden loss of strength.
Sự rút cạn khủng khiếp sinh lực, phát sinh do việc rút đi phương tiện nhờ đó Prana được tuần hoàn, là lý do vì sao các đồng tử rất thường ở trong tình trạng suy sụp sau một Buổi gọi hồn, và cũng là lý do vì sao rất nhiều đồng tử cuối cùng trở thành người nghiện rượu, các chất kích thích được dùng để thỏa mãn cơn thèm khủng khiếp được nâng đỡ do sự mất sức đột ngột.
Sir William Crookes, on page 41 of his Researches, writes: “After witnessing the painful state of nervous and bodily prostration in which some of these experiments have left Mr. Home – after seeing him lying in almost fainting condition on the floor, pale and speechless – I could scarcely doubt that the evolution of psychic force is accompanied by a corresponding drain on vital force.”
Ngài William Crookes, ở trang 41 trong tác phẩm Những Nghiên Cứu của ông, viết: “Sau khi chứng kiến tình trạng đau đớn của sự suy sụp thần kinh và thân thể mà một số thí nghiệm này đã để lại nơi ông Home — sau khi thấy ông nằm trên sàn gần như ngất xỉu, tái nhợt và không nói được — tôi khó có thể nghi ngờ rằng sự phát triển của mãnh lực thông linh đi kèm với một sự rút cạn tương ứng nơi sinh lực.”
The condition closely resembles the shock which follows a surgical operation.
Tình trạng này rất giống với cú sốc xảy ra sau một cuộc phẫu thuật.
At a spiritual séance a clairvoyant can see the Etheric Double oozing usually out of the left side of the medium, though sometimes from the whole surface of the body, and it is this which often appears as the “materialised spirit”, easily moulded into various shapes by the thoughts of the sitters, and gaining strength and vitality as the medium sinks into a deep trance. Usually of course, this takes place without any conscious effort on the part of the sitters: it may, however, be achieved deliberately. Thus, H.P.Blavatsky stated that during the remarkable phenomena at the Eddy homestead she deliberately moulded the “spirit” form which appeared into various likenesses, these being seen by the sitters present.
Trong một Buổi gọi hồn thần linh học, một người thông nhãn có thể thấy Bản sao dĩ thái thường rỉ ra từ phía bên trái của đồng tử, dù đôi khi từ toàn bộ bề mặt của thể; và chính điều này thường xuất hiện như “tinh thần được hiện hình”, dễ dàng được các tư tưởng của những người tham dự uốn nắn thành nhiều hình dạng khác nhau, đồng thời đạt thêm sức mạnh và sinh lực khi đồng tử chìm vào trạng thái xuất thần sâu. Thường thì dĩ nhiên điều này diễn ra mà không có bất cứ nỗ lực hữu thức nào từ phía những người tham dự; tuy nhiên, nó có thể được thực hiện một cách cố ý. Chẳng hạn, Bà H. P. Blavatsky đã nói rằng trong các hiện tượng đáng chú ý tại trang trại Eddy, bà đã cố ý uốn nắn hình tướng “tinh thần” xuất hiện thành nhiều dáng vẻ khác nhau, và những hình dạng ấy được những người tham dự hiện diện nhìn thấy.
Although etheric matter, moulded into such “spirit” forms, is invisible to ordinary sight, it may nevertheless be able to affect a photographic plate, the latter being sensitive to certain wavelengths of light which leave the human eye unaffected. This is the rationale of the many cases on record where “spirit forms” have appeared on the negative of an ordinary photographic portrait.
Mặc dù vật chất dĩ thái, được uốn nắn thành các hình tướng “tinh thần” như thế, là vô hình đối với thị giác thông thường, tuy nhiên nó vẫn có thể tác động đến một bản kính nhiếp ảnh, vì bản kính ấy nhạy cảm với một số bước sóng ánh sáng không tác động đến mắt người. Đây là cơ sở hợp lý của nhiều trường hợp được ghi nhận trong đó các “hình tướng tinh thần” đã xuất hiện trên âm bản của một chân dung nhiếp ảnh thông thường.
In addition, to the matter of the Etheric Double of the medium, it frequently happens at séances that etheric matter is withdrawn also from the bodies of the sitters: hence the lassitude frequently felt by those who attend such séances.
Ngoài vật chất thuộc Bản sao dĩ thái của đồng tử, trong các Buổi gọi hồn thường xảy ra việc vật chất dĩ thái cũng bị rút ra khỏi thể của những người tham dự; vì thế sự uể oải thường được cảm thấy bởi những người tham dự các Buổi gọi hồn như thế.
It is only in conditions of perfect passivity that much matter can be withdrawn from the physical body without danger to life. Although the medium is usually conscious all the time in the background, yet any attempt to assert the individuality, or to think connectedly, immediately weakens the materialised form , or brings it back to the “cabinet.” A sudden shock or disturbance, or any attempt to seize the “spirit form” is apt to be in the highest degree dangerous and may even result in death.
Chỉ trong những điều kiện hoàn toàn thụ động, một lượng lớn vật chất mới có thể bị rút khỏi thể xác mà không gây nguy hiểm cho sự sống. Mặc dù đồng tử thường vẫn có ý thức suốt thời gian ấy ở hậu cảnh, nhưng bất cứ nỗ lực nào nhằm khẳng định cá tính, hoặc suy nghĩ mạch lạc, đều lập tức làm yếu hình tướng được hiện hình, hoặc kéo nó trở lại “phòng kín”. Một cú sốc hay sự xáo trộn bất ngờ, hoặc bất cứ nỗ lực nào nhằm nắm bắt “hình tướng tinh thần”, đều rất dễ trở nên cực kỳ nguy hiểm và thậm chí có thể dẫn đến cái chết.
In addition to the extrusion of etheric matter, in many cases the dense physical matter, probably chiefly gases and liquids, is also removed at the same time from the body of the medium. Many cases are on record where, during a materialisation, the body of the medium shrivelled perceptibly, the shrunken, wizened appearance of the face being said to be singularly ghastly and unpleasant to see. By actual weighing, the physical body of the medium has been found to be as much as 40 pounds less than normal, whilst the weight of the materialised form has been found to be at least as much as the diminution of the medium’s weight, and usually more than this, presumably owing to the extraction of some dense matter from the bodies of the sitters. In one well known case a materialised form carried the diminished body of the medium – Mr. Eglington.
Ngoài việc đẩy vật chất dĩ thái ra ngoài, trong nhiều trường hợp vật chất hồng trần đậm đặc, có lẽ chủ yếu là khí và chất lỏng, cũng đồng thời bị lấy ra khỏi thể của đồng tử. Nhiều trường hợp được ghi nhận trong đó, trong khi hiện hình, thể của đồng tử co rút thấy rõ, vẻ mặt teo tóp, nhăn nheo được nói là hết sức rùng rợn và khó chịu khi nhìn. Qua việc cân đo thực tế, người ta thấy thể xác của đồng tử có thể nhẹ hơn bình thường đến 40 pao, trong khi trọng lượng của hình tướng được hiện hình được thấy ít nhất bằng mức giảm trọng lượng của đồng tử, và thường còn nhiều hơn, có lẽ do việc rút một số vật chất đậm đặc từ thể của những người tham dự. Trong một trường hợp nổi tiếng, một hình tướng được hiện hình đã mang theo thể bị giảm sút của đồng tử — ông Eglington.
To an astral entity, who wishes to “manifest” himself or to produce some phenomenon on the physical plane, a medium serves the purpose of providing the necessary etheric matter, which acts as an intermediary to convey the astral forces into physical matter.
Đối với một thực thể cảm dục muốn “biểu hiện” chính mình hoặc tạo ra một hiện tượng nào đó trên cõi hồng trần, một đồng tử phục vụ mục đích cung cấp vật chất dĩ thái cần thiết, vốn tác động như một trung gian để chuyển các mãnh lực cảm dục vào vật chất hồng trần.
A somewhat similar process takes place when a dead drunkard, hovering about a gin-shop, draws round himself a veil of etheric matter, in order that he may absorb the odour of the alcohol for which he craves. Being unable to smell alcohol in the same way as we do, he tries to induce others to become drunk, so that he may be able partially to enter their physical bodies and obsess them, thus once more directly experiencing the taste and other sensations he so ardently desires.
Một tiến trình phần nào tương tự xảy ra khi một người nghiện rượu đã chết, lảng vảng quanh một quán rượu gin, kéo quanh mình một màn vật chất dĩ thái để y có thể hấp thụ mùi rượu mà y thèm khát. Vì không thể ngửi rượu theo cùng cách như chúng ta, y cố gắng khiến người khác say rượu, để y có thể phần nào nhập vào thể xác của họ và ám ảnh họ, nhờ đó một lần nữa trực tiếp trải nghiệm vị rượu và các cảm giác khác mà y khao khát mãnh liệt.
Sometimes only sufficient etheric is withdrawn from a medium to produce an etheric hand, or even just sufficient of the fingers to hold a pencil and write, or to enable “raps” to be made, objects to be overturned or moved, and so forth. Usually, etheric matter, as well as dense physical matter, is withdrawn from the medium and utilised so as to cover an astral shape just sufficiently to make the latter visible to the sitters, the form seen thus not being solid but merely a thin film.
Đôi khi chỉ có một lượng dĩ thái vừa đủ được rút ra khỏi đồng tử để tạo ra một bàn tay dĩ thái, hoặc thậm chí chỉ vừa đủ phần các ngón tay để cầm một cây bút chì và viết, hoặc để tạo ra các “tiếng gõ”, làm lật đổ hay di chuyển các vật thể, v.v. Thường thì vật chất dĩ thái, cũng như vật chất hồng trần đậm đặc, được rút ra khỏi đồng tử và được sử dụng để phủ lên một hình dạng cảm dục vừa đủ khiến hình dạng ấy thấy được đối với những người tham dự; hình tướng được thấy như vậy không rắn chắc mà chỉ là một lớp màng mỏng.
“Spirit” drapery, however, so usual at séances, is frequently made from the clothing of the medium or of a sitter. The texture may be quite coarse, or exceedingly fine, finer in fact than any product of Eastern looms. Occasionally such drapery may be removed from the séance room, sometimes lasting for years, at other times fading away in an hour or so, or even in a few minutes.
Tuy nhiên, y phục của “tinh thần”, vốn rất thường thấy trong các Buổi gọi hồn, thường được tạo từ quần áo của đồng tử hoặc của một người tham dự. Kết cấu của nó có thể khá thô, hoặc cực kỳ mịn, thực ra còn mịn hơn bất cứ sản phẩm nào của các khung cửi phương Đông. Đôi khi y phục như thế có thể được mang ra khỏi phòng gọi hồn, có lúc tồn tại trong nhiều năm, có lúc tan biến trong khoảng một giờ, hoặc thậm chí chỉ trong vài phút.
There can be no question that, except possibly in vary rare cases, and where every possible precaution is taken, the practise of mediumship is harmful, and may be exceedingly dangerous. Nevertheless, it must be admitted that by its means large numbers of people have acquired knowledge of, or belief in, the reality of the unseen world and of the continuance of life after death. On the other hand, it may be urged that such knowledge or such belief could have been secured in other and less harmful ways.
Không thể nghi ngờ rằng, ngoại trừ có lẽ trong những trường hợp rất hiếm và khi mọi biện pháp phòng ngừa có thể đều được thực hiện, việc thực hành đồng tử tính là có hại và có thể cực kỳ nguy hiểm. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng nhờ phương tiện ấy, nhiều người đã đạt được tri thức về, hoặc niềm tin vào, thực tại của thế giới vô hình và sự tiếp tục của sự sống sau khi chết. Mặt khác, có thể lập luận rằng tri thức hoặc niềm tin như thế lẽ ra có thể được bảo đảm bằng những cách khác ít gây hại hơn.
A trained occultist, for example, connected with any school of “white magic”, would never interfere with the Etheric Double of any man in order to produce a materialisation; nor would he disturb his own if he wished to make himself visible at a distance. He would simply condense and build into and around his astral body a sufficient quantity of the surrounding ether to materialise it, and hold it in that form by an effort of will as long as he needed it.
Chẳng hạn, một nhà huyền bí học lão luyện, liên hệ với bất cứ trường phái “chánh thuật” nào, sẽ không bao giờ can thiệp vào Bản sao dĩ thái của bất cứ người nào để tạo ra một sự hiện hình; y cũng sẽ không làm xáo trộn bản sao của chính mình nếu y muốn khiến mình hiện ra ở xa. Y chỉ đơn giản cô đọng và xây dựng vào trong cũng như chung quanh thể cảm dục của mình một lượng dĩ thái chung quanh đủ để hiện hình nó, và giữ nó trong hình tướng ấy bằng một nỗ lực của ý chí bao lâu y cần.
Most “spirit guides” are well aware of the dangers to which their mediums are exposed, and take every precaution in their power to protect the mediums. Even the “spirits” themselves may occasionally suffer when, for example, a materialised form is struck or wounded, owing to the intimate connection established between the etheric matter of the materialised form and the astral matter of the “spirit’s body.”
Phần lớn các “người hướng dẫn tinh thần” đều ý thức rõ các nguy hiểm mà đồng tử của họ phải đối diện, và thực hiện mọi biện pháp phòng ngừa trong khả năng của họ để bảo vệ các đồng tử. Ngay cả chính các “tinh thần” đôi khi cũng có thể chịu đau đớn khi, chẳng hạn, một hình tướng được hiện hình bị đánh hoặc bị thương, do mối liên hệ mật thiết được thiết lập giữa vật chất dĩ thái của hình tướng được hiện hình và vật chất cảm dục của “thể tinh thần”.
It is of course, true that no physical weapon could affect an astral body, but an injury to a materialised form may be transmitted to the astral body by the phenomenon known as "repercussion.”
Dĩ nhiên, đúng là không vũ khí hồng trần nào có thể tác động đến một thể cảm dục, nhưng một tổn thương nơi hình tướng được hiện hình có thể được truyền sang thể cảm dục qua hiện tượng được gọi là “phản chấn”.
Owing to the fact that during a materialisation matter may be borrowed from all the sitters present as well as from the medium, a considerable intermixture of such matter may take place, and consequently undesirable qualities or vices in any one of the sitters are liable to react upon the others and most of all upon the medium, who is most drawn upon and is almost certainly the most sensitive person present. Nicotine and alcohol poisoning appear to be especially liable to produce unpleasant effects in this manner.
Do sự kiện trong khi hiện hình, vật chất có thể được vay mượn từ tất cả những người tham dự hiện diện cũng như từ đồng tử, nên có thể xảy ra một sự pha trộn đáng kể của loại vật chất ấy; và do đó những phẩm tính không mong muốn hoặc các thói xấu nơi bất cứ người tham dự nào cũng dễ phản ứng lên những người khác, và hơn hết lên đồng tử, là người bị rút lấy nhiều nhất và gần như chắc chắn là người nhạy cảm nhất hiện diện. Ngộ độc nicotin và rượu dường như đặc biệt dễ tạo ra các ảnh hưởng khó chịu theo cách này.
Mediums of low type inevitably attract eminently undesirable astral entities, who may reinforce their own vitality at the expense of mediums and sitters. Such a “spook” may even attach itself to any one present, who is of low development, with deplorable results.
Các đồng tử thuộc loại thấp chắc chắn thu hút những thực thể cảm dục hết sức không mong muốn, những thực thể này có thể tăng cường sinh lực của chính chúng bằng cái giá phải trả của đồng tử và những người tham dự. Một “bóng ma” như thế thậm chí có thể bám vào bất cứ ai hiện diện có mức phát triển thấp, với những hậu quả đáng tiếc.
Cases are known where some outside entity, either incarnate or excarnate, has seized upon the body of a sleeping man and used it, perhaps in sleepwalking, for his own ends. This would be most likely to happen with a person who is mediumistic.
Người ta biết có những trường hợp trong đó một thực thể bên ngoài nào đó, hoặc đang lâm phàm hoặc đã thoát xác, đã chiếm lấy thể của một người đang ngủ và sử dụng nó, có lẽ trong trạng thái mộng du, cho các mục đích riêng của mình. Điều này rất dễ xảy ra nhất với một người có tính đồng tử.