← The Human Aura

1 Esoteric Healing của Alice Bailey, Lucis Press.

1 Esoteric Healing của Alice Bailey, Lucis Press.

2 Chi tiết xem tập văn ngắn Đời sống sau chết trong một trận chiến tranh nguyên tử

Part Two—The Creative AuraPhần thứ hai —Hào quang sáng tạo

5. Reconstruction of the Aura—Tái cấu trúc hào quang

The Spiritual Nature of the Aura—Bản chất tâm linh của hào quang

The aura is an electromagnetic phenomenon arising from the interplay and interaction of an electromagnetic force located deep in the core of the planet we live on and of which we are a part; and another electromagnetic force, more positive than the first, emanating from the Heart of the Sun, of which each human being is also a part. We might, if we were oriented towards Christian thinking, refer loosely to the part of Man energised by the core of our planet, as “The Holy Ghost”. Equally, we could refer to that phenomenon of Man’s being which stems primarily from the Heart of the Sun as the “Son” aspect. When these two forces interact, they permit the evolution of a form.

Hào quang là một hiện tượng điện từ phát sinh từ sự tác động và tương tác lẫn nhau của một lực điện từ nằm sâu trong lõi của hành tinh mà chúng ta đang sống và chúng ta là một phần trong đó; và một lực điện từ khác, tích cực hơn lực đầu tiên, phát ra từ Trái tim của Mặt trời, mà mỗi con người cũng là một phần trong đó. Nếu chúng ta hướng về tư duy Cơ đốc giáo, chúng ta có thể đề cập một cách lỏng lẻo đến phần Con người được cung cấp năng lượng bởi cốt lõi của hành tinh chúng ta, với tên gọi “Đức Thánh Linh”. Tương tự, chúng ta có thể đề cập đến hiện tượng Con người hiện hữu chủ yếu bắt nguồn từ Tâm Mặt trời với tư cách là trạng thái “Con”. Khi hai lực này tương tác, chúng cho phép sự tiến hóa của một hình tướng.

When the whole evolution of life on this planet is reviewed, we find that it is dominated by the preponderancy of “The Holy Ghost,” until the stage of Man is reached. With the advent of Man, and the installation of a solar deva within him, the position is changed, and this glorious entity, a manifestation of “The Son,” unites with the Holy Ghost of the man, and thereafter emphasis is no longer upon the third aspect of the trinity in Man but upon the second.

Khi xem xét lại toàn bộ quá trình tiến hóa của sự sống trên hành tinh này, chúng ta thấy rằng nó bị chi phối bởi ưu thế của “Thánh Linh”, cho đến khi đạt đến giai đoạn Con người. Với sự xuất hiện của Con người và sự sắp đặt của một thiên thần mặt trời bên trong con người, vị trí đã thay đổi và thực thể vinh quang này, một biểu hiện của “Con”, hợp nhất với Đức Thánh Linh của con người, và sau đó Phương Diện thứ ba không còn được nhấn mạnh nữa, mà là khía cạnh thứ hai.

When Man is sufficiently integrated as a personality and the forces flowing from the core of the planet are adequately blended with the Solar Fire of his second aspect, he undergoes a baptism by fire. He is reborn when this Spiritual Fire descends on him and progressively expresses itself, in an orderly fashion, through him. This fire is the “Father” aspect of the trinity and has its source in the Centre of the Sun. The meeting of these three Fires is in the three etheric tracts of Ida, Sushumna and Pingala which are coincidental with the spinal column.

Khi Con Người được hợp nhất đủ đầy như một phàm ngã và các mãnh lực tuôn ra từ lõi hành tinh được phối hợp đầy đủ với Lửa Thái Dương của khía cạnh thứ hai nơi y, y trải qua phép rửa bằng lửa. Y được tái sinh khi Ngọn Lửa Thiêng này giáng xuống y và tuần tự biểu hiện một cách có trật tự xuyên qua y. Ngọn lửa này là khía cạnh “Đức Cha” của tam nguyên và có nguồn gốc từ Trung Tâm của Mặt trời. Cuộc hội ngộ của ba Ngọn Lửa này diễn ra trong ba ống dĩ thái Ida, Sushumna và Pingala, trùng hợp với cột sống.

Some trinities may now be considered:

Một số bộ ba bây giờ có thể được xem xét:

Father

Son

Holy Ghost

Spirit

Form

Matter

Power

Quality

Activity

Nucleus

Force Field

Electrons

Spiritual Fire

Solar Fire

Fire by Friction

Cha

Con

Chúa Thánh Thần

Tinh thần

Hình tướng

Vật chất

Quyền Năng

Phẩm Tính

Hoạt động

Nhân

Trường lực

Electrons

Lửa Tinh thần

Lửa Thái Dương

Lửa do ma sát

The aura is a result of the interplay of the elements of these trinities. It is the outpouring, spilling-over and effluence of any meeting place for these trinities in whatever form they may present—as atomic, plant, animal, Man or deva.

Hào quang là kết quả của sự tác động qua lại giữa các yếu tố của những tam nguyên này. Nó là sự tuôn đổ, tràn ra và phát lưu của bất kỳ điểm hội tụ nào của các tam nguyên, dưới bất kỳ hình thức nào mà chúng có thể thể hiện—dù là nguyên tử, thực vật, động vật, Con Người hay thiên thần.

The lower kingdoms carry relatively more of the planetary force called kundalini within them, the Holy Ghost aspect. But in spiritually advanced Man the second aspect, that of the Son, is more emphasised than the other two. In those who are highly advanced, the elect of humanity—the Nirmanakayas, the initiates and the saints—Spiritual Fire, the Father Aspect, is most emphasised. When this fire descends it is as the result of an arousal of the planetary fire of Kundalini, a female force that in turn calls down the male responses of Spiritual Fire from the Centre of the Sun.

Các giới thấp mang tương đối nhiều mãnh lực hành tinh—được gọi là kundalini, tức khía cạnh Đức Thánh Linh—trong chúng. Nhưng nơi Con Người tiến bộ về mặt tâm linh, khía cạnh thứ hai, tức khía cạnh Con, được nhấn mạnh hơn hai khía cạnh còn lại. Ở những ai đã tiến hóa cao, tức những người được tuyển chọn của nhân loại—các vị Nirmanakaya, các điểm đạo đồ và các thánh nhân—Lửa Thiêng, tức khía cạnh Cha, được nhấn mạnh nhiều nhất. Khi ngọn lửa này giáng xuống, đó là kết quả của sự đánh thức ngọn lửa hành tinh Kundalini, một mãnh lực âm, vốn kêu gọi đáp ứng từ mãnh lực dương của Lửa Thiêng từ Trung Tâm của Mặt trời.

This experience puts the initiate into a “state of grace”. He is united with the “All”, with the universal consciousness, and shares the power and omniscience of that Being. His aura is filled and floods into its surroundings, and may even be felt by the uninitiated around him. Then we hear the expression “my cup runneth over”, truly and correctly applied.

Kinh nghiệm này đưa điểm đạo đồ vào một “trạng thái ân sủng”. Y được hợp nhất với “Toàn Thể”, với tâm thức phổ quát, và chia sẻ quyền năng cũng như sự toàn tri của Đấng đó. Hào quang của y được lấp đầy và tuôn tràn ra môi trường xung quanh, và thậm chí có thể được cảm nhận bởi những người chưa được điểm đạo gần y. Khi ấy, chúng ta nghe thấy câu nói “chén ta đầy tràn”, được áp dụng một cách đúng đắn và chân thực.

His subjective senses begin to function. In place of ordinary sight, he experiences inner vision. This may be occasioned by an intense interior illumination when the light of ten thousand suns is shed upon him. This inner illumination manifests as an omniscience in which all things are known. They may be ineffable, impossible to describe, so that the illumined one must needs remain silent.

Các giác quan nội tại của y bắt đầu vận hành. Thay cho thị giác thông thường, y trải nghiệm tầm nhìn nội tâm. Điều này có thể được gây nên bởi một sự soi sáng nội tâm mãnh liệt, khi ánh sáng của mười ngàn mặt trời chiếu rọi trên y. Sự soi sáng nội tâm này biểu lộ như một sự toàn tri trong đó mọi sự đều được biết đến. Những điều này có thể không thể diễn tả nổi, bất khả ngôn, đến mức người được soi sáng buộc phải giữ im lặng.

In place of the sensation of touch, there is the experience of ecstasy which may also manifest as a sense of great power or omnipotence—a feeling that one is at the core of the universe, the hub of a great wheel that is turning the giant cogs of the galaxy. There is, thirdly, a sense of timelessness in which the past, the present and the future are an open book; the sense that all time can be encompassed, manipulated, advanced or retarded.

Thay cho xúc giác, có trải nghiệm về sự ngây ngất, điều này cũng có thể biểu lộ như một cảm giác về quyền năng vĩ đại hay toàn năng—một cảm giác rằng mình đang ở trung tâm của vũ trụ, tâm trục của một bánh xe vĩ đại đang vận hành những bánh răng khổng lồ của dải ngân hà. Thứ ba, có cảm giác về sự phi thời gian, trong đó quá khứ, hiện tại và tương lai trở thành một cuốn sách mở; một cảm giác rằng toàn bộ thời gian có thể được bao quát, thao tác, thúc đẩy hoặc trì hoãn.

This superconsciousness is extremely rare and is usually accompanied by a great inrush of spiritual fire, an all-consuming fire that purifies and changes for all time the outlook and attitudes, and conveys such enduring beliefs in the certainty of one’s immortality. The superconscious experience should be the outcome of the ordinary processes of evolution through countless incarnations and in many planetary systems, but it may also come through the practice of esoteric disciplines and the experiencing of resulting initiations.

Trạng thái siêu thức này cực kỳ hiếm hoi và thường đi kèm với một đợt tràn ngập vĩ đại của lửa thiêng, một ngọn lửa thiêu rụi tất cả, thanh luyện và vĩnh viễn thay đổi quan điểm và thái độ, và truyền tải những niềm tin bền vững vào sự chắc chắn của tính bất tử của chính mình. Trải nghiệm siêu thức là kết quả của tiến trình tiến hóa thông thường qua vô số kiếp lâm phàm và trong nhiều hệ thống hành tinh khác nhau, nhưng nó cũng có thể đến thông qua việc thực hành các kỷ luật huyền môn và kinh nghiệm các cuộc điểm đạo tương ứng.

The spiritual path requires a reconstruction of the aura to allow more of the invisible and celestial world to enter it. It does not exclude the world of matter altogether, attractive as that proposition may be to some over-enthusiastic aspirants. Far from it, as the author has repeated to his own students many times:

Con đường tinh thần đòi hỏi phải tái cấu trúc hào quang để cho phép thế giới vô hình và thiên giới thấm nhập nhiều hơn vào nó. Điều này không có nghĩa là hoàn toàn loại trừ thế giới vật chất, mặc dù đối với một số người chí nguyện quá nhiệt thành, điều đó có vẻ hấp dẫn. Hoàn toàn không phải vậy, như tác giả đã nhiều lần nhắc nhở các học viên của mình:

“Not that we must live in this world less,

“Không phải chúng ta phải sống trong thế giới này ít hơn,

but in BOTH worlds MORE!”

nhưng ở CẢ HAI thế giới NHIỀU HƠN!”

Man is composed of the essences of both worlds … the Earth, Water, Air and Fire of all planes, material, astral and spiritual. Man is meant to express himself on all these planes, being a point of stimulus, elevation and psychosynthesis for all that surrounds him. It is through the aura that such influencing may be achieved consciously and unconsciously.

Con người bao gồm các tinh chất của cả hai thế giới… Đất, Nước, Không khí và Lửa của tất cả các cõi, vật chất, cảm dục và tinh thần. Con người có nghĩa là thể hiện bản thân trên tất cả các cõi giới này, là điểm kích thích, nâng cao và tổng hợp tâm lý cho tất cả những gì xung quanh y. Chính nhờ hào quang mà ảnh hưởng như vậy có thể đạt được một cách có ý thức và vô thức.

“Man, as a whole, is a ‘fifth essence’ extracted from both worlds and wrought into one being. He has received wisdom, reason and the organic composition of his body from the Astrum, and flesh and blood from the elements. ‘Thus man is a fifth essence and microcosm and the son of the whole world.’ “*

“Con người, nói chung, là một ‘bản chất thứ năm’ được chiết xuất từ cả hai thế giới và được tạo thành một bản thể. Y đã nhận được minh triết, lý trí và thành phần hữu cơ của cơ thể mình từ Astrum, thịt và náu từ các nguyên tố. ‘Vì vậy, con người là một bản chất thứ năm và là tiểu vũ trụ và là con của cả thế giới.’ “*

* PARACELSUS, An Introduction to Philosophical Medicine in the Era of the Renaissance, by Walter Pagel, Published by Karger, Basel.

* PARACELSUS, Giới thiệu về Y học Triết học trong Kỷ nguyên Phục hưng, của Walter Pagel, Karger xuất bản, Basel.

FOCUS: The Key to Alchemy (Image above)

The Aura and Spiritual Growth—Hào quang và sự phát triển tinh thần

Through the centuries there have emerged, again and again, the great spiritual leaders of mankind who have taught that there is a way of obtaining such extensions of consciousness as to enable one to pass into the subtle worlds that interpenetrate our planet or which lie just beyond its periphery. This involves the bringing into play of the ‘silent’ areas of the brain and a sharpening of etheric consciousness. Man, from the spiritual point of view, is barely awakened —he is a spiritual embryo, half-formed and awaiting further unfoldment. The spiritual leaders of the race have themselves undertaken certain disciplines to extend their own consciousness way beyond anything known to average Man except during rare states like waking dreams and anaesthesia. In themselves they have demonstrated what average Man could be like a million years from now, no longer needing the added faculties of television and radio, being quite able to look into the future and the past, into the distance and the atomic. Their spiritual progress has not been easily won. Any ‘short-circuiting’ of spiritual unfoldment is bound to be traumatic in some measure, as the symbolic life of the Master Jesus demonstrated. One such discipline that must be undertaken is the reconstruction of the human aura.

Qua nhiều thế kỷ, hết lần này đến lần khác các nhà lãnh đạo tinh thần vĩ đại của nhân loại đã xuất hiện, những người đã dạy rằng có một cách để đạt được sự mở rộng tâm thức như vậy để cho phép một người đi vào các thế giới vi tế, vốn xuyên thấu hành tinh của chúng ta hoặc nằm ngay bên ngoài ngoại vi của nó. Điều này liên quan đến việc phát huy tác dụng của các khu vực ‘im lặng’ của não bộ và mài giũa tâm thức dĩ thái. Theo quan điểm tinh thần, con người hầu như chưa được đánh thức—anh ta là một phôi thai tinh thần, hình thành một nửa và đang chờ phát triển thêm. Bản thân các nhà lãnh đạo tinh thần của nhân loại đã thực hiện một số kỷ luật nhất định để mở rộng tâm thức của chính các Ngài vượt xa bất kỳ điều gì mà Con người bình thường biết đến, ngoại trừ trong những trạng thái hiếm hoi như giấc mộng tỉnh và trạng thái gây mê. Nơi chính bản thân các Ngài, các Ngài đã chứng tỏ một người bình thường có thể trở thành như thế nào trong một triệu năm nữa, không còn cần đến những khả năng phụ trợ của truyền hình và đài phát thanh nữa, hoàn toàn có khả năng nhìn thấu tương lai và quá khứ, nhìn thấu không gian xa xôi và thế giới nguyên tử. Sự tiến bộ tinh thần của các Ngài không dễ đạt được. Bất kỳ sự ‘chập mạch’ nào trong việc khai mở tinh thần chắc chắn sẽ gây tổn thương ở một mức độ nào đó, như cuộc đời biểu tượng của Chân sư esus đã chứng minh. Một trong những kỷ luật phải được thực hiện là tái tạo lại hào quang của con người.

There are many ways in which this great task may be undertaken in full consciousness of effort. One might apply one’s attention to the opening of the lotus-like structures which we have already referred to as ‘chakras’. One might, through special breathing exercises, further extend the lumens of the great spinal tracts Ida, Sushumna, and Pingala in order to allow freer passage for the prana in the etheric body. One might adopt postures which enhance the flows of energy to some areas of the aura and to inhibit their direction in other areas.

Có nhiều cách để nhiệm vụ vĩ đại này có thể được thực hiện với tâm thức nỗ lực đầy đủ. Người ta có thể áp dụng sự chú ý của mình vào việc mở các cấu trúc giống như hoa sen mà chúng ta đã gọi là ‘luân xa’. Người ta có thể, thông qua các bài tập thở đặc biệt, tiếp tục mở rộng lumen của các vùng cột sống lớn Ida, Sushumna và Pingala để cho phép prana đi qua cơ thể dĩ thái một cách tự do hơn. Người ta có thể áp dụng các tư thế giúp tăng cường các dòng năng lượng đến một số khu vực của hào quang và ngăn chặn hướng của chúng ở các khu vực khác.

The Personality is the Home of the Soul —Phàm ngã là ngôi nhà của linh hồn

Man’s personality, including the three bodies —mental, emotional and physical—has often been likened to a house. This is a symbol acceptable to the soul who will often inform us as to the state of the personality in our dreams. We may have a waking dream in which cobwebs cover the windows of the house we are in. This is a suggestive dream conveyed by the soul to inform the lower self that its personality (the house) lacks clear vision or is in need of housekeeping (disciplining).

Phàm ngã của con người, bao gồm ba thể — trí tuệ, cảm dục và hồng trần — thường được ví như một ngôi nhà. Đây là một biểu tượng mà linh hồn chấp nhận, vốn thường xuyên cho chúng ta biết tình trạng của phàm ngã trong những giấc mơ của mình. Chúng ta có thể có một giấc mộng tỉnh, trong đó những mạng nhện phủ kín các cửa sổ của ngôi nhà mà ta đang ở. Đây là một giấc mơ gợi ý được linh hồn truyền đạt để báo cho phàm ngã thấp rằng phàm ngã của nó (ngôi nhà) thiếu sự sáng suốt hoặc đang cần dọn dẹp (kỷ luật hóa).

Now, one would not dream of reconstructing an old house without first clearing away the unneeded debris, old bricks, etc. When we reconstruct the aura, we must clear away much of the old material and introduce the new. The old aura is probably constructed around the three chakras below the diaphragm:

Giờ đây, người ta sẽ không bao giờ nghĩ đến việc tái thiết một ngôi nhà cũ mà không dọn sạch trước những mảnh vụn không cần thiết, gạch đá cũ, v.v... Khi chúng ta tái cấu trúc hào quang, chúng ta phải loại bỏ nhiều chất liệu cũ và đưa vào cái mới. Hào quang cũ có lẽ được xây dựng quanh ba luân xa bên dưới cơ hoành:

a. The chakra at the Base of the Spine.

a. Luân xa ở Gốc cột sống.

b. The chakra overlying the Sacral area.

b. Luân xa bao phủ vùng xương cùng.

c. The chakra at the Solar Plexus.

c. Luân xa tại đám rối thần kinh mặt trời.

In the etheric body, these three centres form a powerful triangle around which the average personality, with its usual drives, operates. The aura is appropriate to this basis and attracts into itself energies of a rather low vibratory order. When, however, Man begins to tread the path of unfoldment, he begins to open centres above the diaphragm and there forms a triangle of a much higher quality. Three of the chakras above the diaphragm are very receptive to the energies of the soul (as distinct from the personality):

Trong thể dĩ thái, ba luân xa này tạo thành một tam giác mạnh mẽ mà quanh đó phàm ngã trung bình, với những thúc đẩy thông thường của nó, vận hành. Hào quang phù hợp với nền tảng này và thu hút vào nó những năng lượng thuộc trật rung động khá thấp. Tuy nhiên, khi con người bắt đầu bước đi trên con đường khai mở, y bắt đầu khai mở các luân xa bên trên cơ hoành và ở đó hình thành một tam giác có phẩm tính cao hơn nhiều. Ba trong số các luân xa trên cơ hoành rất dễ tiếp nhận năng lượng của linh hồn (khác biệt với phàm ngã):

Heart Chakra receptive to the energy of Buddhi.

Luân xa Tim tiếp nhận năng lượng của Bồ đề.

Throat Chakra receptive to the energy of Manas.

Luân xa Cổ họng tiếp nhận năng lượng của Manas.

Head Chakra receptive to the energy of Atma.

Luân xa Đầu tiếp nhận năng lượng của Atma.

When Man treads the path of discipleship, the procedures undertaken make the aura receptive to these three energies which pour into the aura from the planes on which the soul dwells, the planes of Atma, Buddhi and Manas (see my work The Jewel In The Lotus). There, it is said, the soul exists as a sort of lotus bud in the process of opening. At first, the young soul with few lives on the earth has a lotus structure which is almost closed. There are nine petals in the lotus and these are arranged in three tiers each of three petals (see illustration opposite).

Khi con người bước đi trên con đường đệ tử, các tiến trình được thực hiện khiến hào quang trở nên tiếp nhận với ba năng lượng này, vốn tuôn đổ vào hào quang từ các cõi nơi linh hồn cư ngụ, tức các cõi Atma, Bồ đề và Manas (xem tác phẩm của tôi The Jewel In The Lotus). Ở đó, người ta nói rằng linh hồn tồn tại như một nụ hoa sen trong tiến trình khai mở. Lúc ban đầu, linh hồn non trẻ với ít kiếp sống trên trần gian có một cấu trúc hoa sen hầu như khép kín. Hoa sen có chín cánh và những cánh này được sắp xếp thành ba tầng, mỗi tầng gồm ba cánh (xem hình minh họa bên cạnh).

a. An outer tier of Knowledge Petals,

a. Một tầng bên ngoài của Cánh hoa tri thức,

b. A middle layer of Love Petals and

b. Một lớp giữa của Cánh hoa tình yêu và

c. An inner tier of Sacrifice Petals.

c. Một tầng bên trong của Cánh hoa hy sinh.

With each life on earth, the petals are faintly stirred into opening by appropriate experiences. For instance, a life given to the acquisition of knowledge, scholarship, etc., stirs the Knowledge petals and at the same time there is an insurging of energy which locates itself around the Throat centre of the auric field.

Với mỗi kiếp sống trên trái đất, những cánh hoa được khuấy động nhẹ nhàng mở ra bởi những trải nghiệm thích hợp. Chẳng hạn, một kiếp sống dành cho việc thu nhận kiến thức, học thuật, v.v., khuấy động các cánh hoa Tri thức và đồng thời có một sự trỗi dậy của năng lượng nằm xung quanh trung tâm Cổ họng của trường hào quang.

By making adjustments in your life, which must now be orientated towards the soul (rather than towards the personality drives), we manifest the three soul energies in our everyday life increasingly. By understanding the qualities of these soul energies, we can reconstruct our daily actions, thoughts and aspirations appropriately so that the three energies pour into the aura consistently and, in so doing, reconstruction of it will take place around the soul as its nucleus.

Bằng cách thực hiện những điều chỉnh trong cuộc sống của bạn, mà bây giờ phải hướng tới linh hồn (chứ không phải hướng tới những động lực của phàm ngã), chúng ta ngày càng thể hiện ba năng lượng linh hồn trong cuộc sống hàng ngày của mình. Bằng cách hiểu được phẩm chất của những năng lượng linh hồn này, chúng ta có thể tái cấu trúc các hành động, suy nghĩ và nguyện vọng hàng ngày của mình một cách thích hợp để ba năng lượng đổ vào hào quang một cách nhất quán và, khi làm như vậy, việc tái cấu trúc nó sẽ diễn ra xung quanh linh hồn với tư cách là hạt nhân của nó.

Manas —Trí tuệ

The energy of Manas was unknown on this planet nineteen million years ago. But with the coming of the Lords of Flame, from a venusian system (but not the planet Venus), the first flows of Manas into this planetary system became a feature of Earth.

Năng lượng của Manas không được biết đến trên hành tinh này mười chín triệu năm trước. Nhưng với sự xuất hiện của các Đấng Chúa tể của Lửa (các Hoả Đức Tinh Quân), từ một hệ sao Kim (chứ không phải hành tinh Sao Kim), những dòng chảy Manas đầu tiên vào hệ hành tinh này đã trở thành một đặc điểm của Trái đất.

Animal-man, here, had reached a stage in his evolution which was a dead-end. Unless the stimulus of Manasic energy was applied to the cortex of his brain, his species would soon die out, or he would soon regress with the other anthropoids on the planet. With the presence here of the Kumaras as, the Lords of Flame, animal-man quickly evolved into a being whose future was assured. On the one hand, the entity was now linked to an individual soul and, on the other, was constantly being fed with the energy of Manas. Thenceforth, the man part of animal-man became dominant and these early men were distinguishable from the anthropoids by their newly won capacity to exercise the Manasic faculty. To put it simply, they could think abstractly. Animals can think, but they can think only in terms of their needs, whereas Man can dwell upon matters completely unrelated to his needs or even to his survival. The artist, the research-worker, the philosopher and the saint, are testimony to this capacity. Man is more able to deal with the energy of Manas than with the other two—Atma and Buddhi—which make up the triad of soul energies.

Ở đây, Người-thú đã đạt đến một giai đoạn tiến hóa đã đi vào ngõ cụt. Trừ khi kích thích năng lượng Manas được áp dụng cho vỏ não của y, giống loài của y sẽ sớm tuyệt chủng, hoặc y sẽ sớm thụt lùi cùng với các loài người khác trên hành tinh. Với sự hiện diện của các Kumara với tư cách là Các Đấng Chúa tể của ngọn lửa, người-thú nhanh chóng tiến hóa thành một sinh vật có tương lai được đảm bảo. Một mặt, thực thể giờ đây được liên kết với một linh hồn cá nhân và mặt khác, liên tục được cung cấp năng lượng của Manas. Kể từ đó, phần con người của người-thú trở nên chiếm ưu thế và những con người ban đầu này có thể phân biệt được với những người vượn bởi khả năng mới đạt được của họ trong việc sử dụng năng lực trí tuệ. Nói một cách đơn giản, họ có thể suy nghĩ một cách trừu tượng. Động vật có thể suy nghĩ, nhưng chúng chỉ có thể suy nghĩ về nhu cầu của chúng, trong khi Con người có thể tập trung vào những vấn đề hoàn toàn không liên quan đến nhu cầu của y hoặc thậm chí là sự sống còn của y. Nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, triết gia và thánh nhân, là minh chứng cho khả năng này. Con người có khả năng làm việc với năng lượng của Manas hơn là với hai năng lượng kia—Atma và Buddhi—tạo nên bộ ba năng lượng linh hồn.

It has not been sufficient for Man merely to apprehend the energy of Manas—he has had to learn to fashion it into energy patterns which themselves are endowed with life. The ability to construct in Manas constitutes the creative imagination; not the random effects resulting from outer sensory stimuli, but through conscious and dispassionate use of the energy of Manas.

Con người nếu chỉ đơn thuần nắm bắt được năng lượng của Manas là chưa đủ—y phải học cách biến nó thành các dạng năng lượng mà bản thân chúng được phú cho sự sống. Khả năng xây dựng trong Manas cấu thành sự tưởng tượng sáng tạo; không phải là những hiệu ứng ngẫu nhiên do kích thích giác quan bên ngoài, mà thông qua việc sử dụng năng lượng của Manas một cách có ý thức và vô tư.

Ordinary imagination is beyond conscious control. It is aroused and furthered by the senses and its products often modify, amplify or inhibit our actions. The creative imagination is a faculty that is developed patiently through the science of meditation. Through the control of the senses, the activity of the mind is slowed until thoughts become actually ‘spaced out’ and then, in the space between thoughts, it is possible to construct abstract forms of thought out of the energy of Manas. If we construct an abstraction in the region of the brow, say the image of a cross, there will be an immediate input of energy from the level of the soul or higher Self. If we change the image to another visualised form, say that of a lotus bud, there will again be an input of energy from the soul but of a different quality than that which surged in with the construction of the cross. Many individuals of high spiritual standing constantly build abstract forms into their auras throughout the day. This ‘high thinking’ is an energising procedure and is an aspect of true meditation. Whole new sciences of mind are beginning to emerge which will help Man take a giant step in the unfoldment of his consciousness in the new Age of Aquarius. Certain developments in this New Age are already beginning to affect the collective aura of Mankind. The impacts of electricity during the last one hundred years of its conscious use by mankind is having an effect on his aura and on the underlying etheric body.*

Sự tưởng tượng thông thường nằm ngoài tầm kiểm soát của ý thức. Nó được khơi dậy và thúc đẩy bởi các giác quan và các sản phẩm của nó thường sửa đổi, khuếch đại hoặc ngăn cản hành động của chúng ta. Tưởng tượng sáng tạo là một khả năng được phát triển một cách kiên nhẫn thông qua khoa học thiền định. Thông qua sự kiểm soát của các giác quan, hoạt động của tâm trí bị chậm lại cho đến khi các ý nghĩ thực sự trở nên ‘chia cách ra’ và sau đó, trong khoảng trống giữa các ý nghĩ, có thể tạo ra các hình thức trừu tượng của ý nghĩ từ năng lượng của Manas. Nếu chúng ta xây dựng một hình ảnh trừu tượng, chẳng hạn như hình ảnh cây thánh giá, ở vùng trán, thì sẽ có một nguồn năng lượng ngay lập tức được đưa vào từ cấp độ linh hồn hoặc Bản ngã cao hơn. Nếu chúng ta thay đổi hình ảnh sang một hình thức trực quan khác, chẳng hạn như búp sen, thì sẽ lại có một nguồn năng lượng đầu vào từ linh hồn nhưng có chất lượng khác với năng lượng dâng lên khi xây dựng cây thánh giá. Nhiều cá nhân có địa vị tâm linh cao liên tục xây dựng các hình thức trừu tượng vào hào quang của họ suốt cả ngày. ‘Suy nghĩ cao siêu’ này là một thủ tục tiếp thêm năng lượng và là một khía cạnh của thiền định thực sự. Toàn bộ khoa học tâm trí mới đang bắt đầu xuất hiện sẽ giúp Con người tiến một bước khổng lồ trong việc khai mở tâm thức của mình trong Thời đại Bảo Bình mới. Một số phát triển nhất định trong Thời đại Mới này đã bắt đầu ảnh hưởng đến hào quang chung của Nhân loại. Các tác động của điện trong suốt một trăm năm qua được nhân loại sử dụng có ý thức đang ảnh hưởng đến hào quang của nó và thể dĩ thái bên dưới.*

* See this treatise in my book Esoteric Healing, Part One

* Xem chuyên luận này trong cuốn sách Chữa bệnh bí truyền, Phần một của tôi

Buddhi

Bồ đề

When Man was ensouled, a thread of energy linked him to the plane of Buddhi whereon may be found the ‘Heart of God’. The anchorage for this thread in the etheric body is the Heart chakra. When we exercise the faculty of Buddhi in our waking consciousness there is an immediate input of the energy of Buddhi into this centre. From this centre the energy is distributed to all parts of the aura and from there into the collective aura of the race.

Khi Con người được ban cho linh hồn (phú linh), một sợi dây năng lượng đã liên kết anh ta với cõi Bồ đề, nơi có thể tìm thấy ‘Trái tim của Thượng đế’. Nơi neo đậu của sợi chỉ này trong thể dĩ thái là luân xa tim. Khi chúng ta thực hành khả năng của Buddhi trong tâm thức tỉnh táo của mình, sẽ có một nguồn năng lượng của Buddhi ngay lập tức được đưa vào trung tâm này. Từ trung tâm này, năng lượng được phân phối đến tất cả các phần của hào quang và từ đó đi vào hào quang tập thể của nhân loại.

What is the nature of Buddhi? It is easier to account for it through its effects upon us than to give a finite description of it. Any act of true compassion exercises the faculty for bringing down Buddhi into the aura … compassion for all living things, the practice of harmlessness, and of selfless love. These traits in a human personality are indicative of the presence of a strong Heart chakra.

Bản chất của Buddhi là gì? Việc giải thích nó thông qua các tác động của nó đối với chúng ta sẽ dễ dàng hơn là đưa ra một mô tả hữu hạn về nó. Bất kỳ hành động nào của lòng trắc ẩn thực sự đều rèn luyện khả năng đưa Buddhi vào hào quang… lòng trắc ẩn đối với mọi sinh vật, thực hành vô tổn hại và tình thương vị tha. Những đặc điểm này trong tính cách con người là dấu hiệu cho thấy sự hiện diện của luân xa tim mạnh mẽ.

Learning to discriminate what is part of your eternal Self is a Buddhic process. The experience of a flash of intuition is a sign of an active Heart centre. When we are suddenly aware of some great momentary truth there is an insurge of energy from the soul and this registers in our consciousness as intuition. It may happen only once or twice a year, but it is a reminder of the divinity within you. In the emerging subrace (the sixth) this faculty will be highly developed. Just as we, today, exercise the faculty of ‘active intelligence’, Man of the future will exercise his intuition. Some of us have intuitive auras which merely means a functioning of the Heart chakra that has an organised area of the aura in front of the brow called ‘the sacred square inch’. This acts as a screen on to which visualised symbols and images spontaneously occur—the conversion of Buddhic impulses into readable information. The visualising of a crystal ball inside the aura, in a coincidental position with this sensitive part of the aura (i.e., in the sacred square inch between the eyebrows), will enhance the faculty.

Học cách phân biện điều gì thuộc về Chân Ngã vĩnh cửu của bạn là một tiến trình Bồ đề. Trải nghiệm một tia trực giác thoáng chốc là dấu hiệu của một luân xa Tim đang hoạt động. Khi chúng ta bất ngờ nhận biết một chân lý vĩ đại trong khoảnh khắc, tức thì có một luồng năng lượng từ linh hồn tuôn nhập và điều này ghi nhận trong tâm thức của chúng ta như là trực giác. Điều đó có thể chỉ xảy ra một hoặc hai lần trong một năm, nhưng đó là một sự nhắc nhở về thiên tính bên trong bạn. Trong giống dân phụ đang xuất hiện (giống dân phụ thứ sáu), năng lực này sẽ được phát triển cao độ. Cũng giống như chúng ta ngày nay vận dụng năng lực của “trí tuệ linh hoạt”, Con Người của tương lai sẽ vận dụng trực giác của mình. Một số người trong chúng ta có hào quang trực giác, điều này đơn giản có nghĩa là luân xa Tim vận hành, vốn tạo thành một khu vực có tổ chức trong hào quang phía trước tán được gọi là “tấc vuông thiêng liêng”. Nó hoạt động như một màn ảnh, trên đó các biểu tượng và hình ảnh được hình dung xuất hiện một cách tự phát — tức là sự chuyển đổi các xung động Bồ đề thành thông tin có thể đọc được. Việc hình dung một quả cầu pha lê bên trong hào quang, tại vị trí trùng hợp với phần nhạy cảm này của hào quang (tức là trong tấc vuông thiêng liêng giữa hai chân mày), sẽ làm tăng cường năng lực ấy.

Atma

The energy of Atma makes up the third of the triad interpenetrating the soul and its causal body. Atma is the manifestation of the divine Will and is rarer in its fullest expression than the other two. Whereas some emotion may rise within us, the Atma or Will is felt to descend upon us. All three energies are Fire in some of its manifestations, but of the three, Atma can be the most concentrated. There are notable expressions of it in men who have performed tasks on the frontiers of human endeavour, like Moses in the desert at Sinai, Ghandi leading the forces of passive resistance in India, Scott of the Antarctic, etc.; men whose persistence and divinity of will are unquestioned. Roger Bannister, a medically qualified doctor, cabinet minister and fine sportsman, was the first man to run the mile in under four minutes. In achieving his goal, he described how an energy came into play when he was under the greatest pressure:

Năng lượng của Atma tạo thành phần thứ ba của bộ ba thâm nhập vào linh hồn và thể nguyên nhân của nó. Atma là biểu hiện của Ý chí thiêng liêng và hiếm khi được biểu hiện đầy đủ nhất so với hai biểu hiện còn lại. Trong khi một số cảm xúc có thể trỗi dậy trong chúng ta, thì Atma hay Ý chí được cảm nhận đang giáng xuống chúng ta. Cả ba năng lượng đều là Lửa trong một số biểu hiện của nó, nhưng trong ba năng lượng, Atma có thể được tập trung nhiều nhất. Có những biểu hiện đáng chú ý về nó ở những người đàn đã thực hiện các nhiệm vụ ở biên giới của nỗ lực con người, như Moses trong sa mạc ở Sinai, Ghandi lãnh đạo lực lượng kháng cự thụ động ở Ấn Độ, Scott ở Nam Cực, v.v.; những người có sự bền bỉ và ý chí thiêng liêng là điều không cần bàn cãi. Roger Bannister, một bác sĩ có trình độ y khoa, bộ trưởng nội các và vận động viên thể thao giỏi, là người đầu tiên chạy một dặm dưới bốn phút. Để đạt được mục tiêu của mình, ông đã mô tả năng lượng đã phát huy tác dụng như thế nào khi anh ấy phải chịu áp lực lớn nhất:

[For a description of Man’s evolution, see my book Anthropogeny.

[Để biết mô tả về sự tiến hóa của Con người, hãy xem cuốn sách Anthropogeny của tôi.

The secret of a champion runner is MENTAL POWER: by tapping this source, the champion takes more out of himself than he knew he possessed. This mental source is at the roots of most great athletic performances.

Bí quyết của một nhà vô địch chạy là SỨC MẠNH TINH THẦN: bằng cách khai thác nguồn này, nhà vô địch khai thác được nhiều hơn bản thân mình mà anh ta biết mình sở hữu. Nguồn tinh thần này là gốc rễ của hầu hết các màn trình diễn thể thao tuyệt vời.

He described how, near the winning post when his energies were flagging, a great force entered him and bore him onwards to the post.

Anh ấy mô tả làm thế nào, gần cột chiến thắng khi năng lượng của anh ấy đang giảm dần, một lực lượng lớn đã xâm nhập vào anh ấy và đưa anh ấy tiếp tục đến cột.

The three energies we have described best express themselves in the three vehicles of the personality as follows:

Ba năng lượng mà chúng ta đã mô tả biểu lộ tốt nhất trong ba hiện thể của phàm ngã như sau:

Manas………the Mental Body

Manas………Thể trí

Buddhi………the Emotional Body

Buddhi………cơ thể cảm xúc

Atma…………the Physical Body

Atma………… thể xác

Characteristics of Colour in the Aura

Đặc điểm của Màu sắc trong Hào quang

Man is anchored in two worlds. The aura is the link between both. C.W. Leadbeater described the nature of the interplay between the worlds in terms of the aura in his book Man, Visible and Invisible. The book is somewhat fanciful and detailed but it does give a fine insight into the veritable ‘milieu’ of energies that interpenetrate Man:

Con người bị neo giữ trong hai thế giới. Hào quang là mối liên kết giữa cả hai. CW Leadbeater đã mô tả bản chất của sự tương tác giữa các thế giới dưới dạng hào quang trong cuốn sách Man, Visible and Invisible của ông. Cuốn sách có phần tưởng tượng và chi tiết nhưng nó cung cấp một cái nhìn sâu sắc về ‘môi trường’ thực sự của các năng lượng thâm nhập vào Con người:

An outburst of anger will charge the whole aura with deep red flashes on a dark ground, while sudden terror will, in a moment, change everything to a ghastly grey.

Một cơn giận dữ bùng phát sẽ khiến toàn bộ hào quang lóe lên những tia sáng đỏ thẫm trên nền đất tối, trong khi nỗi kinh hoàng bất ngờ sẽ trong giây lát biến mọi thứ thành một màu xám xịt kinh hoàng.

Remembering that the colours of the aura are symbolic rather than actually ‘seen,’ we could correlate colours and emotions in the following way: Rose pure affection; Brilliant Red anger and force; Dirty Red passion and sensuality; Yellow of the purest lemon colour the highest type of intellectual activity; Orange intellect used for selfish ends, pride and ambition; Brown avarice. Green is a colour of varied significance. Its root meaning is the placing of one’s self in the position of another, but not empathy. In its lower aspects it represents deceit and jealousy; higher up in the emotional gamut it signifies adaptability; and at its very highest—almost the colour of foliage—sympathy, the very essence of thinking for other people. In some shades green stands for the lower intellectual and critical faculties, merging into yellow. Blue indicates religious feeling and devotion, its various shades being said to correspond to different degrees of devotion, rising from fetishism to the loftiest religious idealism. Purple represents psychic faculty, spirituality, regality, and spiritual power arising from knowledge and occult pre-eminence. One should make one’s own correspondences where possible. Most of the relationships above have proved true for me and seem to fit well with the appropriate Rays. The author remembers the first “colouring” he ever saw. It was around the head of a very prominent artist in Cape Town, South Africa, and it was the intellectual ‘pale lemon,’ described above. You may find the description of the red strains of aura in that fine little book by Lobsang T. Rampa, The Third Eye:

Hãy nhớ rằng các màu sắc của hào quang mang tính biểu tượng hơn là thực sự “nhìn thấy”, chúng ta có thể liên hệ màu sắc và cảm xúc theo cách sau: màu hồng biểu lộ tình cảm trong sáng; màu đỏ rực rỡ biểu lộ sự giận dữ và mãnh lực; màu đỏ sậm biểu lộ dục vọng và tính xác thịt; màu vàng tươi của quả chanh tinh khiết biểu lộ loại hoạt động trí tuệ cao nhất; màu cam biểu lộ trí tuệ được sử dụng cho những mục đích ích kỷ, sự kiêu ngạo và tham vọng; màu nâu biểu lộ lòng tham. Màu xanh lục là một màu có nhiều ý nghĩa khác nhau. Ý nghĩa gốc của nó là đặt bản thân vào vị trí của người khác, nhưng không phải là sự đồng cảm. Trong những khía cạnh thấp hơn, nó biểu lộ sự dối trá và ghen tuông; ở bậc cao hơn trong cung bậc cảm xúc, nó biểu lộ sự thích nghi; và ở mức cao nhất của nó — gần như màu lá cây — nó biểu lộ sự cảm thông, bản chất cốt lõi của việc nghĩ cho người khác. Ở một số sắc thái, màu xanh lục biểu trưng cho những năng lực trí tuệ thấp hơn và phê phán, hòa lẫn vào màu vàng. Màu xanh lam biểu lộ tình cảm tôn giáo và lòng sùng kính, các sắc thái khác nhau của nó được cho là tương ứng với các cấp độ sùng kính khác nhau, từ sự sùng bái vật tổ đến chủ nghĩa lý tưởng tôn giáo cao cả nhất. Màu tím biểu lộ năng lực thông linh, tính tinh thần, sự vương giả và quyền năng tinh thần phát sinh từ tri thức và sự ưu việt trong huyền bí học. Người ta nên tự xây dựng các tương ứng của riêng mình khi có thể. Hầu hết những mối liên hệ nêu trên đều được chứng nghiệm là đúng đối với tôi và dường như cũng phù hợp với các Cung tương ứng. Tác giả nhớ lại lần đầu tiên Ông từng thấy một “màu sắc” của hào quang. Đó là quanh đầu của một nghệ sĩ rất nổi tiếng ở Cape Town, Nam Phi, và đó là màu vàng nhạt trí tuệ, như đã mô tả ở trên. Các bạn có thể tìm thấy phần mô tả về những sắc đỏ của hào quang trong cuốn sách nhỏ tuyệt vời của Lobsang T. Rampa, The Third Eye:

Out of the door, I hurried … approaching me was a figure smothered in blue smoke, shot through with flecks of angry red. I uttered a squeak of alarm and dashed back into the room. The others looked up at my horrified expression. “There’s a man on fire in the corridor,” I said. The Lama hurried out but came back smiling. “Lobsang, that is a cleaner in a temper. His aura is smoky blue and he is not evolved, and the flecks of red are the temper impulses showing.”

Ra khỏi cửa, tôi vội vã… đến gần tôi là một bóng người bị bao phủ bởi làn khói xanh, bị bắn ra bởi những vệt đỏ giận dữ. Tôi thốt lên một tiếng ré lên báo động và chạy vội vào phòng. Những người khác nhìn lên vẻ mặt kinh hoàng của tôi. “Có một người đàn ông đang bốc cháy trong hành lang,” tôi nói. Lạt ma vội vã đi ra ngoài nhưng mỉm cười quay lại. “Lobsang, đó là một người dọn dẹp trong cơn nóng nảy. Hào quang của anh ấy có màu xanh khói và anh ấy chưa tiến hóa, và những đốm đỏ là biểu hiện của những xung động giận dữ.”

Odours, Scents and Incense—Mùi, mùi hương và hương

In his earliest days on the planet, Man saw etheric forms clearly, and as his physical brain developed, he continued to have etheric vision but with lessening efficiency. He was developing concurrently a visual equipment of extraordinary complexity in physical matter and it took far longer to elaborate than the other physical senses. Still to this day, the development of Man’s eyes remains a contradiction to Darwinian principles of natural selection. But man retained some of his etheric faculties which could be located quite easily in the etheric matrix of parts of the primitive brain. The sense of smell is very old, and in earlier days the size of the olfactory lobes was much greater in relation to the rest of the brain than it is today. What is more, the roots of the olfactory system end in the regions of the brain closely related to emotion.

Trong những ngày đầu tiên trên hành tinh, Con Người nhìn thấy các hình thể dĩ thái một cách rõ ràng, và khi bộ não hồng trần của y phát triển, y vẫn tiếp tục có thị kiến dĩ thái nhưng với hiệu quả giảm dần. Đồng thời, y cũng đang phát triển một bộ máy thị giác có độ phức tạp phi thường trong vật chất hồng trần, và phải mất một thời gian dài hơn nhiều để hoàn thiện so với các giác quan hồng trần khác. Cho đến ngày nay, sự phát triển của đôi mắt con người vẫn còn là một sự mâu thuẫn đối với các nguyên lý Darwin về chọn lọc tự nhiên. Tuy nhiên, con người vẫn giữ lại được một số năng lực dĩ thái, vốn có thể được định vị khá dễ dàng trong khuôn mẫu dĩ thái của các phần thuộc bộ não nguyên thuỷ. Khứu giác là một năng lực rất cổ xưa, và trong những ngày đầu, kích thước của các thùy khứu giác lớn hơn rất nhiều so với phần còn lại của bộ não, so với ngày nay. Hơn thế nữa, các rễ của hệ khứu giác kết thúc ở những vùng của bộ não có liên quan mật thiết đến cảm xúc.

Today, most of us sense the subtle worlds not so much through vision but through a modified olfaction—a smell, feeling, emotional, sixth sense. In some, this can be highly developed. Our domestic pets often use olfaction in preference to vision and frequently perceive astral and etheric structures which we cannot.

Ngày nay, hầu hết chúng ta cảm nhận các thế giới vi tế không nhiều qua thị giác mà qua một dạng khứu giác biến đổi — một mùi, một cảm giác, một cảm xúc, một giác quan thứ sáu. Ở một số người, khả năng này có thể được phát triển rất cao. Những thú nuôi trong nhà của chúng ta thường sử dụng khứu giác hơn là thị giác và thường xuyên tri giác được các cấu trúc cảm dục và dĩ thái mà chúng ta không thể.

It seems that we each exude a scent of our own, and tracker dogs can follow this up with ease. But it would seem that the sense of smell, where this is located in the corresponding area of the brain which is etheric, locates idiosyncrasies of the aura as well, and that lumped in with the odour of the body we exude auric qualities which some sense along with the odour.

Có vẻ như mỗi chúng ta đều toát ra một mùi hương riêng, và những con chó săn có thể dễ dàng lần theo dấu vết này. Nhưng dường như khứu giác, vốn được định vị trong vùng tương ứng của bộ não dĩ thái, cũng xác định những nét đặc thù của hào quang, và cùng với mùi của thể xác, chúng ta còn toát ra những phẩm tính của hào quang, vốn được một số người cảm nhận cùng với mùi ấy.

Our state of health, our spiritual standing, the cosmetics we use, the mineral content of our sweat, our thoughts, and our feelings all seem to be, at least in part, expressed along with the odour and fragrance of the body. We still talk about people giving off “an aura of gloom”, or “an odour of sanctity”.

Tình trạng sức khỏe, trạng thái tinh thần của chúng ta, mỹ phẩm chúng ta sử dụng, hàm lượng khoáng chất trong mồ hôi, suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta dường như, ít nhất là một phần, được thể hiện cùng với mùi và hương thơm của cơ thể. Chúng ta vẫn nói về những người tỏa ra “hào quang u ám”, hay “mùi thánh thiện”.

In the medieval period, when the saints occupied in man’s consciousness the position which we today allocate to the “archetypes”, it was said that each saint exuded his own characteristic and existential odour. From early historians we have records that St Catherine exuded the attar of violets; St Cajetan that of orange blossom; St Trevere, lilies; St Teresa, jasmine and orris; and St Lydwine, the bark of cinnamon.

Vào thời trung cổ, khi các vị thánh chiếm giữ vị trí trong tâm thức con người mà ngày nay chúng ta gán cho các “nguyên mẫu”, người ta nói rằng mỗi vị thánh đều toát ra đặc điểm và mùi hiện sinh của riêng mình. Từ các nhà sử học đầu tiên, chúng ta có những ghi chép rằng Thánh Catherine đã toát ra tinh dầu của hoa violet; St Cajetan của hoa cam; St Trevere, hoa loa kèn; St Teresa, hoa nhài và hoa diên vĩ; và St Lydwine, vỏ quế.

Such fragrances are more suggestive of the aura than of the body secretions. Nor should they be limited only to the spiritual. The confined conditions of trench fighting in World War II forced upon one the odours of a comrade confined with you to a small area of, say, a dugout. This could sometimes be a most unpleasant experience; and on others, when the environmental situation might be even worse, it could present no problem at all. Some men have a sweet and pleasant body odour even when they sweat profusely. Others have the opposite. The latter often coincides with very sweaty palms, a sure indication of an astral body that falls short of being integrated.

Những mùi hương như vậy gợi đến hào quang hơn là những chất tiết ra từ cơ thể. Chúng cũng không nên chỉ giới hạn trong lĩnh vực tinh thần. Các điều kiện hạn chế của chiến đấu trong chiến hào trong Thế chiến thứ hai buộc người ta phải ngửi thấy mùi của một đồng đội bị giam giữ cùng bạn trong một khu vực nhỏ, chẳng hạn như một cái hầm. Điều này đôi khi có thể là một trải nghiệm khó chịu nhất; và đối với những người khác, khi tình hình môi trường có thể còn tồi tệ hơn, nó không thể gây ra vấn đề gì cả. Một số người có mùi cơ thể ngọt ngào và dễ chịu ngay cả khi đổ nhiều mồ hôi. Những người khác thì ngược lại. Điều thứ hai thường trùng hợp với lòng bàn tay đẫm mồ hôi, một dấu hiệu chắc chắn về một thể cảm dục không thể tích hợp được.

We have already shown how the ‘atmosphere’ of a room is contributed to by the auric emissions of everyone in it as well as by others who have used it. The crudest emissions of man are easily detected by our pets. Sometimes a person is also extremely sensitive to these without even being psychic. One such person was the well-known French detective Vidocq, who once said, “Put me into a crowd of a thousand persons, and by the sense of smell alone, I will single out every violator of the moral law.” He believed that the different types of criminals could be related to particular odours.

Chúng tôi đã chỉ ra cách ‘bầu không khí’ của một căn phòng được đóng góp bởi sự phát xạ hào quang của mọi người trong đó cũng như của những người khác đã sử dụng nó. Phát thải thô nhất của con người dễ dàng được phát hiện bởi vật nuôi của chúng ta. Đôi khi một người cũng cực kỳ nhạy cảm với những điều này mà không cần phải là nhà ngoại cảm. Một trong những người như vậy là thám tử nổi tiếng người Pháp Vidocq, người đã từng nói: “Hãy đặt tôi vào một đám đông hàng nghìn người, và chỉ bằng khứu giác, tôi sẽ phát hiện ra mọi kẻ vi phạm luật đạo đức”. Ông tin rằng các loại tội phạm khác nhau có thể liên quan đến những mùi đặc biệt.

Be that as it may, it certainly is true that any teacher with twenty years’ experience can easily point out children in the class who are likely to become criminals in adulthood. It is a pity that this early awareness of risk in a child is not capitalised upon so that the child could have special help in his adolescent years, thus saving the state vast sums of money in maintenance of the grown delinquent in state penitentiaries. The sense involved here, too, is one that pertains to auric rather than visual appearance.

Dù thế nào đi nữa, chắc chắn là bất kỳ huấn sư nào với hai mươi năm kinh nghiệm đều có thể dễ dàng chỉ ra những đứa trẻ trong lớp có khả năng trở thành tội phạm khi trưởng thành. Thật đáng tiếc khi nhận thức sớm về rủi ro này ở một đứa trẻ không được tận dụng để đứa trẻ có thể nhận được sự giúp đỡ đặc biệt trong những năm tuổi vị thành niên, do đó tiết kiệm cho nhà nước một khoản tiền lớn để duy trì những kẻ phạm pháp đã lớn trong các trại giam của bang. Cảm giác liên quan ở đây cũng là một cảm giác liên quan đến hào quang hơn là hình thức bên ngoài.

In the esoteric sciences, we relate the odours of the classical incenses to Ray qualities. Jasmine is related to the Ray of Love-Wisdom and is by far the most popular incense amongst neophytes. It is true, also, that Second Ray souls predominate on the planet at this particular time. Sandalwood is related to the First Ray of Will and Power, a favourite of my friend Swami Rama. With my own Ray affinities, the author has a predilection for cinnamon which is correlated to the Fifth Ray of Concrete Knowledge and, therefore, to other minds, like his own, which are on the Fifth Ray of Analytical Science. The Rays of the incenses may therefore also reflect something of auric qualities and predilections. Readers may find the chart opposite of some assistance.

Trong khoa học bí truyền, chúng ta liên hệ mùi hương cổ điển với các phẩm chất của Cung. Hoa Nhài có liên quan đến Cung Bác Ái – Minh Triết và cho đến nay là loại hương phổ biến nhất đối với những người mới nhập môn. Cũng đúng là các linh hồn của Cung Hai chiếm ưu thế trên hành tinh vào thời điểm đặc biệt này. Gỗ đàn hương có liên quan đến Cung Một Ý chí và Quyền Năng, một cung yêu thích của người bạn Swami Rama của tôi. Với những mối quan hệ về Cung của riêng tôi, tác giả có một sở thích đối với quế, vốn có mối tương quan với Cung Năm của Tri thức Cụ thể và, do đó, với những tâm trí khác, giống như của chính ông, vốn thuộc Cung thứ Năm của Khoa học Phân tích. Do đó, các Cung của trầm hương cũng có thể phản ánh một điều gì đó thuộc tính chất hào quang và những thiên hướng. Độc giả có thể tìm thấy biểu đồ ngược lại với một số hỗ trợ.

6. Auric Exchanges—Trao đổi Hào Quang

Rejuvination of the Aura—Hồi sinh hào quang

Through the centuries, Man has always sought an elixir that would prolong his life. Every conceivable remedy has been considered, and with the advent of modern biochemistry there have been attempts to explain rejuvenation in scientific ways.

Qua nhiều thế kỷ, Con người luôn tìm kiếm một loại thuốc trường sinh kéo dài tuổi thọ của mình. Mọi biện pháp khắc phục có thể tưởng tượng được đã được xem xét, và với sự ra đời của hóa sinh hiện đại, đã có những nỗ lực giải thích sự trẻ hóa theo những cách khoa học.

Every conceivable food has been recommended to prolong life. More recently, emphasis has been placed upon a cholesterol-free diet. Businessmen, in particular, have been admonished to eat less animal protein and saturated fats in order to prevent the development of pathology in the walls of the arteries. This is usually a sign of old age, but may develop early. The results of such dietary changes have not been very encouraging. There is still no indication that high cholesterol really causes arterial disease. The Eskimo lives off a diet of seal meat and blubber and does not show any extraordinary affinity for heart and arterial disease. Thirty years ago, the rage was to graft monkey glands on old men to rejuvenate them and there were whispers that Chancellor Adenaure and the Duke of Windsor had been doctored in this way. The environs of places like the Caucasus Mountains have been examined for an explanation as to why the inhabitants there are long-lived. All in all, these practices and many others do not seem to have prolonged life very much.

Mọi thực phẩm có thể tưởng tượng được đã được khuyến khích để kéo dài cuộc sống. Gần đây, người ta đã nhấn mạnh vào chế độ ăn không có cholesterol. Đặc biệt, các doanh nhân được khuyên nên ăn ít protein động vật và chất béo bão hòa để ngăn ngừa sự phát triển của bệnh lý trong thành động mạch. Đây thường là dấu hiệu của tuổi già, nhưng có thể phát triển sớm. Kết quả của những thay đổi chế độ ăn uống như vậy không được khuyến khích lắm. Vẫn chưa có dấu hiệu nào cho thấy cholesterol cao thực sự gây ra bệnh động mạch. Người Eskimo sống bằng chế độ ăn kiêng thịt hải cẩu và mỡ và không biểu hiện bất kỳ mối quan hệ bất thường nào đối với bệnh tim và động mạch. Ba mươi năm trước, người ta nổi cơn thịnh nộ về việc ghép tuyến khỉ vào người già để trẻ hóa họ và có những lời xì xào rằng Thủ tướng Adenaure và Công tước xứ Windsor đã được chữa bệnh theo cách này. Các vùng lân cận của những nơi như dãy núi Kavkaz đã được kiểm tra để giải thích tại sao cư dân ở đó sống lâu. Nhìn chung, những thực hành này và nhiều thực hành khác dường như không kéo dài tuổi thọ cho lắm.

Modern medicine has raised the span of life in general, but we are nowhere near to reaching 150 years, which is said to be the age that Man should live to. It is just as well that we do not reach such advanced years yet. Humanity is not ready for this development. Already people are retiring at fifty with prospects of surviving until one hundred years of age. But such people are not ready for this extension of years—they are not equipped for it. Boredom soon sets in. The passing of the years becomes tedious. What is needed is for Man to equip himself whilst still young in a variety of hobbies and crafts and for him to devote himself to helping the rest of humanity along its way. For such a standard of behaviour to be reached, in which there is concern for all humanity, it is necessary to know something of the esoteric sciences so that subjective states may be reached and the creative streams of the collective unconscious of mankind tapped. The care and conditioning of the aura is also important if the physical body and its sensory faculties are to remain efficient in advanced years.

Y học hiện đại đã nâng cao tuổi thọ nói chung, nhưng chúng ta còn lâu mới đạt đến 150 tuổi, được cho là độ tuổi mà Con người nên sống. Thật tốt khi chúng ta chưa đạt đến những năm tháng tiên tiến như vậy. Nhân loại chưa sẵn sàng cho sự phát triển này. Mọi người đã nghỉ hưu ở tuổi 50 với triển vọng sống sót đến 100 tuổi. Nhưng những người như vậy chưa sẵn sàng cho việc kéo dài nhiều năm này—họ không được trang bị cho điều đó. Chán nản sớm bắt đầu. Năm tháng trôi qua trở nên tẻ nhạt. Điều cần thiết là Con người phải trang bị cho mình ngay từ khi còn trẻ nhiều sở thích và nghề thủ công và để y cống hiến hết mình để giúp đỡ phần còn lại của nhân loại trên con đường của mình. Để đạt được một tiêu chuẩn hành vi như vậy, trong đó có mối quan tâm đến toàn thể nhân loại, cần phải biết một số điều về khoa học bí truyền để có thể đạt được các trạng thái chủ quan và khai thác các dòng sáng tạo của vô thức tập thể của nhân loại. Việc chăm sóc và điều hòa hào quang cũng rất quan trọng nếu cơ thể vật lý và các khả năng cảm giác của nó vẫn hoạt động hiệu quả trong những năm tuổi già.

Rejuvenation through Auric Exchanges—Trẻ hóa thông qua trao đổi Hào quang

The person should live in a place where interests, climate, and company can refresh his aura. Old people should particularly seek out the young. When approached for advice on how to deal with the interminable boredom of old age, the author has advised widows and widowers to seek out some group or even a single person which has youth on its side and to assist the chosen one towards a better life … perhaps with the help for education or the raising of children under optimum conditions. Surrounding yourself with youth in your advancing years helps you to stay young, and the mechanism of this works via the aura.

Con người nên sống ở một nơi mà sở thích, khí hậu và bằng hữu có thể làm tươi mới hào quang của y. Người già đặc biệt nên tìm đến người trẻ. Khi được hỏi xin lời khuyên về cách đối diện với sự buồn chán bất tận của tuổi già, tác giả đã khuyên các góa phụ và góa phu nên tìm đến một nhóm hoặc thậm chí một cá nhân nào đó có tuổi trẻ bên mình và giúp đỡ người được chọn ấy hướng đến một đời sống tốt đẹp hơn… có lẽ bằng sự hỗ trợ cho việc học hành hoặc nuôi dạy con cái trong những điều kiện tối ưu. Bao quanh mình bằng tuổi trẻ trong những năm tháng xế chiều giúp bạn duy trì sự trẻ trung, và cơ chế của điều này hoạt động thông qua hào quang.

Grandchildren love to visit their grandparents and the grandparents themselves reciprocate. Children derive very useful energies which act on their higher centres when they co-mingle with the aged, and the aged draw vitalising energies from the young, especially at the etheric level.

Cháu chắt rất thích đến thăm ông bà và chính ông bà cũng đáp lại tình cảm ấy. Trẻ em tiếp nhận những năng lượng rất hữu ích, vốn tác động lên các luân xa cao hơn của chúng khi chúng hoà nhập với người già, và người già thì rút được những năng lượng tiếp sinh lực từ người trẻ, đặc biệt là ở bình diện dĩ thái.

The story is told that when Hermippus, an ancient Roman, was very old he learnt the secret of maintaining unabated vigour and strength. He cut himself off from the aged and feeble around him and sought out young, active and healthy companions, taking part in their games, their pursuits and their studies. In this way, he lived to the ripe old age of one hundred and fifty-three!

Người ta kể rằng khi Hermippus, một người La Mã cổ đại, đã rất già, ông khám phá ra bí quyết duy trì sức sống và sức mạnh không suy giảm. Ông tách mình khỏi những người già nua và yếu đuối quanh mình và tìm đến những bạn đồng hành trẻ trung, năng động và khỏe mạnh, cùng tham gia vào các trò chơi, theo đuổi và việc học hành của họ. Bằng cách này, ông đã sống đến tuổi thọ cao hiếm có là một trăm năm mươi ba!

From the viewpoint of the occult sciences, it would have to be admitted that there are many ways of establishing links between the young and the old in such a way that there can be constant interplay between the two. True teaching, in the end, is really seduction at the mental and emotional levels. The young pupil falls in love with the teacher’s beliefs or, if you wish, with his syllabus. Sometimes the rapport between teacher and pupil is entirely detached from any emotional or mental involvement, but that is rare. More often there are profound links in the continuum of the planetary aura that ensure energy exchanges that are refreshing to the teacher and “enwisdoming” for the pupil. Sometimes a physical love may develop which adds to the energy exchanges.

Từ quan điểm của các khoa học huyền bí, phải thừa nhận rằng có nhiều cách để thiết lập mối liên kết giữa người trẻ và người già sao cho có thể có sự tác động qua lại thường xuyên giữa đôi bên. Sự dạy dỗ đích thực, sau cùng, thực sự là một sự cuốn hút ở các bình diện thể trí và cảm xúc. Người học trò trẻ đem lòng yêu những niềm tin của người thầy, hay nếu bạn muốn, yêu chính giáo trình của ông. Đôi khi, sự tương hợp giữa thầy và trò hoàn toàn tách biệt khỏi bất kỳ sự liên quan nào về cảm xúc hay thể trí, nhưng điều đó là hiếm. Thông thường hơn, có những mối liên kết sâu sắc trong trường liên tục của hào quang hành tinh, vốn bảo đảm cho những sự trao đổi năng lượng vừa đem lại sự tươi mới cho người thầy vừa đem lại sự “khai minh” cho người trò. Thỉnh thoảng, một tình yêu thể xác có thể phát triển, bổ sung thêm vào những sự trao đổi năng lượng đó.

Anyone holding within his aura a witness or testimony of his beloved, such as a relic like hair or blood-stained fabric, has a powerful channel connecting him or her to the object of affection. In ancient days, drinking the blood of the slain hero endowed he who sipped with the hero’s attributes: his courage, his initiative, etc., and the mechanism whereby this was established was through the aura. The occult foundations for sex and the act of love-making involve exchange of auric materials and energies. Living with someone involves an automatic exchange of this sort. This is true not only of husband and wife who, through the years, begin to grow to look like each other, but also between, say, a man and his dog.

Bất cứ ai giữ trong hào quang của mình một nhân chứng hoặc bằng chứng về người mình yêu, chẳng hạn như một di vật như tóc hoặc vải dính máu, đều có một kênh mạnh mẽ kết nối anh ta hoặc cô ta với đối tượng của tình cảm. Vào thời cổ đại, việc uống máu của người anh hùng đã hy sinh sẽ ban cho người uống máu những thuộc tính của người anh hùng: lòng dũng cảm, sự chủ động của anh ta, v.v., và cơ chế theo đó điều này được thiết lập là thông qua hào quang. Những nền tảng huyền bí cho tình dục và hành động làm tình liên quan đến việc trao đổi chất liệu và năng lượng hào quang. Sống chung với ai đó liên quan đến sự trao đổi tự động kiểu này. Điều này không chỉ đúng với vợ chồng, những người mà qua nhiều năm bắt đầu trở nên giống nhau, mà còn đúng giữa một người đàn ông và con chó của anh ta.

Regeneration of the Aura—Tái tạo hào quang

There are many ways in which one may regenerate the aura. Taking a break from it all, going on a vacation—any sort of change, especially if it brings us closer to nature or into the company of those we love —will revitalise the aura. Those who are intellectual will have the aura stimulated by reading a new book, or seeing the latest play. New things, in astrology, are ruled by Venus. New things are clothed in a numinous energy; they attract us and give us joy. We buy a new motor car and feel good when we take it out for a spin. We don’t even want to let anyone drive it for the first few weeks and then the novelty wears off: we have exhausted the numinous energies. Venus also rules youth and rejuvenation. Rejuvenation always begins in the aura.

Có nhiều cách để tái sinh hào quang. Nghỉ ngơi, đi du lịch — bất kỳ sự thay đổi nào, đặc biệt nếu nó đưa chúng ta đến gần thiên nhiên hơn hoặc ở trong vòng bạn bè, người thân mà ta yêu mến — sẽ làm hào quang được tiếp sinh lực. Những ai thiên về trí tuệ sẽ có hào quang được kích thích bởi việc đọc một cuốn sách mới, hay xem một vở kịch mới. Những điều mới mẻ, trong chiêm tinh học, được sao Kim cai quản. Những điều mới mẻ khoác lên mình một năng lượng thiêng, chúng hấp dẫn chúng ta và mang lại cho chúng ta niềm vui. Chúng ta mua một chiếc xe hơi mới và cảm thấy dễ chịu khi lái nó lần đầu. Trong vài tuần đầu, ta thậm chí không muốn ai khác lái nó, rồi sau đó sự mới lạ phai nhạt: chúng ta đã tiêu hao hết những năng lượng thiêng liêng ấy. Sao Kim cũng cai quản tuổi trẻ và sự hồi xuân. Sự hồi xuân luôn bắt đầu trong hào quang.

As we grow older and the ordinary drives no longer exercise their hold upon our attention, the eternal processes of evolution begin to take over once more as they had done in early childhood and the aura seeks to strengthen itself in its own ways as old age sets in. One way it does this is to urge the personality by subtle injunctions to seek out places which were dear to it during youth. Walking once more in amongst the gardens and houses we inhabited in our youth gives us pleasure, a little sense of wonder and no little energy reinforcement of the aura.

Khi chúng ta già đi và những thúc đẩy thông thường không còn chi phối sự chú ý của mình nữa, các tiến trình vĩnh cửu của tiến hoá lại bắt đầu tái chiếm quyền kiểm soát, như chúng đã từng làm trong thuở ấu thơ, và hào quang tìm cách tự củng cố theo những cách riêng của nó khi tuổi già đến. Một trong những cách đó là thúc giục phàm ngã, qua những mệnh lệnh tinh tế, tìm đến những nơi mà nó từng yêu quý trong thời thanh xuân. Một lần nữa đi dạo giữa những khu vườn và ngôi nhà mà ta đã từng sống khi còn trẻ mang lại cho chúng ta niềm vui, một chút cảm giác kỳ diệu và không ít sự bổ sung năng lượng cho hào quang.

Queen Victoria frequented places in which she had dwelt as a child and later in her marriage years. She kept photographs of her children and of features of her times. These not only gave the nation, after her death, a very valuable heritage in the form of her photographic collections, but also gave the aging queen opportunities to refresh her aura by perusing them. Our present Queen, Elizabeth II, derives the same sort of joy and refreshment with her stamp collections.

Nữ hoàng Victoria thường lui tới những nơi bà từng sống khi còn nhỏ và cả trong những năm tháng hôn nhân sau này. Bà giữ những bức ảnh của con cái và những hình ảnh đặc trưng của thời đại mình. Những điều này không chỉ mang lại cho đất nước, sau khi bà qua đời, một di sản rất quý giá dưới dạng các bộ sưu tập ảnh của bà, mà còn cho vị nữ hoàng già nua những cơ hội để làm tươi mới hào quang của mình bằng cách ngắm nhìn chúng. Nữ hoàng hiện tại của chúng ta, Elizabeth II, cũng có cùng loại niềm vui và sự tươi mới đó với bộ sưu tập tem của bà.

Queen Victoria even had models made of her children’s limbs and kept rooms in her palaces unchanged where her family had lived. She was constantly revitalised by her memories and the silent testimonies of her beloved photographs. Patriarchs and matriarchs both derive energies from their large families, especially the younger members. Some families will have dozens of grandchildren and there are always lively attempts made to introduce the grandchildren to their aged forbears, and this is good for the latter who become the central hub of a great energy wheel, the orbiting family.

Nữ hoàng Victoria thậm chí còn cho làm những mô hình từ tay chân của con cái mình và giữ nguyên những căn phòng trong cung điện nơi gia đình bà đã từng sống. Bà liên tục được tiếp sinh lực bởi những ký ức và những bằng chứng lặng lẽ của những bức ảnh yêu quý. Các vị gia trưởng và mẫu hệ đều rút được năng lượng từ những gia đình đông đúc của họ, đặc biệt là từ các thành viên trẻ tuổi. Một số gia đình có đến hàng chục cháu chắt, và luôn có những nỗ lực đầy hứng khởi nhằm đưa các cháu chắt đến với những bậc cao niên, và điều này thật tốt cho những người sau, vốn trở thành trục trung tâm của một bánh xe năng lượng vĩ đại, tức là gia đình quay quanh họ.

The Aura of Nations—Hào quang của các quốc gia

We are not surprised that a nation has a distinctive aura of its own. The aura evolves with the nation itself. As people gather around heroes, they sing their praises. Their works become incorporated into the mythology and legends of the land. The hero himself acts as an archetype, a gateway for energies arising in the unconscious realms of man’s psyche.

Chúng ta không ngạc nhiên khi một quốc gia có một hào quang riêng biệt của nó. Hào quang tiến hóa cùng với chính quốc gia ấy. Khi người dân tụ họp quanh những anh hùng, họ ca ngợi công đức của các vị. Các công trình của họ trở thành một phần trong thần thoại và truyền thuyết của đất nước. Bản thân người anh hùng đóng vai trò như một nguyên hình, một cánh cửa cho những năng lượng phát sinh từ các cảnh giới vô thức của tâm thức con người.

As the nation matures, so does its aura. Devices like a monarchy, a capital city, insignia, poetry of a patriotic nature, foreign wars, national projects, collective suffering, etc., all help to intensify the national aura. Eventually, national characteristics emerge, a common law, language, folkways and mores. A stranger has only to live within the aura of a nation to be profoundly affected by it. When immigrants are actually born in their adopted land, they quickly adapt themselves to its ways. The attitude of the personality has something to do with this, but much of the change is due to the sharing of the nation’s aura.

Khi quốc gia trưởng thành, hào quang của nó cũng vậy. Những phương tiện như chế độ quân chủ, thủ đô, quốc huy, thi ca mang tính yêu nước, chiến tranh với ngoại bang, các công trình quốc gia, những đau khổ tập thể, v.v…, tất cả đều góp phần làm tăng cường hào quang quốc gia. Cuối cùng, các đặc tính dân tộc xuất hiện: luật pháp chung, ngôn ngữ, tập quán và phong tục. Một người ngoại quốc chỉ cần sống trong hào quang của một quốc gia cũng sẽ chịu ảnh hưởng sâu đậm của nó. Khi người nhập cư thực sự được sinh ra trong vùng đất đã chọn, họ nhanh chóng thích ứng với các tập quán của nó. Thái độ của phàm ngã có liên quan phần nào đến điều này, nhưng phần lớn sự thay đổi là do sự chia sẻ hào quang của quốc gia.

When a country is very old, its institutions exert a strong effect on its inhabitants and the aura of that nation may affect those of other nations. Just as a human personality has its own qualities, so too does a nation, and they are like the qualities of the human personality to such an extent that we can apply a Ray analysis to both. We talk of human personalities having a mental body, an emotional/astral body, and a physical body and we can discover quite easily which Ray “rules” which body. My own The Seven Rays—Key to the Mysteries explains these matters clearly.

Khi một đất nước đã rất lâu đời, các định chế của nó tạo ra một ảnh hưởng mạnh mẽ lên dân cư của nó và hào quang của quốc gia đó có thể tác động đến các quốc gia khác. Cũng như phàm ngã con người có những phẩm tính riêng, một quốc gia cũng vậy, và chúng tương tự đến mức chúng ta có thể áp dụng một phân tích về Cung cho cả hai. Chúng ta nói về các phàm ngã con người có một thể trí, một thể cảm dục/cảm dục, và một thể xác, và chúng ta có thể dễ dàng khám phá Cung nào “cai quản” thể nào. Tác phẩm The Seven Rays—Key to the Mysteries của tôi giải thích rõ ràng những vấn đề này.

Great Britain has a personality on the Ray of Will and Power and a Soul that responds to the Second Ray of Love-Wisdom. The latter is the Ray of the teacher, and Britain occupies such a role in the community of nations. Germany has a First Ray Soul and a personality on the Ray of Art and Harmony through Conflict (the Fourth Ray).

Vương quốc Anh có một phàm ngã trên Cung của Ý chí và Quyền năng và một Linh hồn đáp ứng với Cung Hai của Bác ái–Minh triết. Cung sau là Cung của người thầy, và nước Anh đảm nhận vai trò như vậy trong cộng đồng các quốc gia. Nước Đức có một Linh hồn Cung Một và một phàm ngã trên Cung của Nghệ thuật và Sự hài hoà qua Xung đột (Cung Bốn).

The Rays operate via the auras of organisms at all levels. Nations, planets, solar systems— all have auras and the qualities of their auras can be expressed in terms of the Seven Rays. (See my book Esoteric Psychology, The Seven Rays.) There is another auric matter of great importance related to the Rays. We can trace sympathies which exist between organisms that have similar Rays. The diamond is on the First Ray. So is the horse, Fascism, the colour flame-red, and the planet Mercury. Thus, by means of the Rays we can trace correspondences between organisms. This is very helpful in such matters as healing and teaching. First Ray types make good leaders, explorers, frontiersmen and archeologists. Sixth Ray types, on the Ray of Devotion and Idealism, make poor scientists but good clergymen.

Các Cung vận hành thông qua hào quang của các sinh thể ở mọi cấp độ. Các quốc gia, hành tinh, hệ mặt trời — tất cả đều có hào quang, và những phẩm tính của hào quang ấy có thể được diễn đạt bằng các Cung. (Xem tác phẩm Esoteric Psychology, The Seven Rays của tôi.) Có một vấn đề khác về hào quang có tầm quan trọng lớn liên quan đến các Cung. Chúng ta có thể truy nguyên những sự đồng cảm tồn tại giữa các sinh thể có cùng Cung. Kim cương thuộc Cung Một. Con ngựa, chủ nghĩa Phát xít, màu đỏ lửa, và hành tinh Thuỷ tinh cũng vậy. Do đó, nhờ các Cung mà chúng ta có thể truy tìm các sự tương ứng giữa các sinh thể. Điều này rất hữu ích trong những vấn đề như chữa trị và giảng dạy. Những người thuộc Cung Một là những nhà lãnh đạo, nhà thám hiểm, người khai phá và nhà khảo cổ học giỏi. Những người thuộc Cung Sáu, trên Cung của Lòng sùng tín và Chủ nghĩa lý tưởng, thì không phải là những nhà khoa học giỏi nhưng lại là những mục sư tốt.

Compatibility and Incompatibility of Auras—Khả năng tương thích và không tương thích của các Hào Quang

Sometimes we cannot account for a feeling of antagonism that rises in us when we meet someone for the first time. You just know that you will not hit it off with that person and that there is, therefore, no point in persisting with the relationship. When such an antagonism exists between members of a family or between two employees in a business it can be extremely disruptive and unpleasant. Some people even react to their environments adversely. Others, like those who retire, cannot go on living without the energies they derived from their former conditions in employment and may literally waste away. Some even manifest what appear to be ‘allergic’ responses to such situations and come out in spots or show signs of being in shock. Exhaustive tests reveal no actual physical basis for their responses and we must then assume allergy at the auric level. We do react to each others’ auras.

Đôi khi chúng ta không thể lý giải được một cảm giác đối kháng nảy sinh trong mình khi lần đầu gặp một ai đó. Bạn chỉ biết rằng mình sẽ không thể hoà hợp với người ấy và do đó chẳng có lý do gì để cố gắng duy trì mối quan hệ. Khi sự đối kháng như vậy tồn tại giữa các thành viên trong một gia đình hoặc giữa hai nhân viên trong một doanh nghiệp, nó có thể gây rối loạn và khó chịu cực độ. Một số người thậm chí còn phản ứng tiêu cực với môi trường xung quanh. Những người khác, như những người về hưu, không thể tiếp tục sống thiếu những năng lượng mà họ đã nhận được từ điều kiện làm việc trước đây, và có thể sẽ dần hao mòn. Một số người thậm chí còn biểu lộ những phản ứng tưởng chừng như “dị ứng” trước những tình huống như vậy và nổi mẩn hoặc có dấu hiệu bị sốc. Những cuộc kiểm tra kỹ lưỡng cho thấy không có cơ sở thể chất thực sự nào cho những phản ứng đó, và khi ấy chúng ta phải giả định rằng đó là dị ứng ở mức độ hào quang. Quả thật, chúng ta phản ứng với hào quang của nhau.

There may be, of course, the opposite of antagonism between the auras such as compatibility and affinity. Usually karma is at the basis of these auric responses and the horoscope can give fairly detailed pointers to causes. Karma is the name given to that great law of nature which redresses. To every action there is a reaction. Set in motion a pendulum and it will swing back to you. Set in motion a cause in your life and there will follow, inevitably, but not always rapidly, an effect. The appropriateness of the effect and its timing is governed by the law of karma. The ‘spread’ of the particular cause and effect may be over many lives. The impact of the effect may be purely physical or it may be emotional, mental and even spiritual. When it is related to the latter, it is effective usually through the aura. Where bad karma exists between two people, or two races, it may lie just below the level of consciousness and there will be a rancour between the two when they confront each other. We are all prone to this unless we have especially good karma.

Tất nhiên, cũng có thể tồn tại điều ngược lại với sự đối kháng giữa các hào quang, như sự hoà hợp và đồng cảm. Thông thường, nghiệp quả là nền tảng của những phản ứng hào quang này, và lá số chiêm tinh có thể chỉ ra khá chi tiết những nguyên nhân. Nghiệp quả là tên gọi dành cho định luật vĩ đại của thiên nhiên vốn điều chỉnh sự công bằng. Mọi hành động đều có phản ứng. Đặt một con lắc chuyển động và nó sẽ đung đưa trở lại về phía bạn. Khởi động một nguyên nhân trong đời bạn và tất yếu sẽ có một hậu quả theo sau, nhưng không phải lúc nào cũng nhanh chóng. Tính thích đáng của hậu quả và thời điểm xảy ra của nó được chi phối bởi định luật nghiệp quả. “Phạm vi” của nguyên nhân và hậu quả cụ thể có thể trải rộng qua nhiều kiếp sống. Tác động của hậu quả có thể hoàn toàn là thể chất hoặc có thể là cảm xúc, trí tuệ và thậm chí cả tinh thần. Khi liên quan đến những điều sau, nó thường biểu lộ qua hào quang. Khi có nghiệp quả xấu giữa hai người, hoặc hai giống dân, nó có thể nằm ngay dưới mức ý thức và sẽ có sự oán hận giữa họ khi họ đối diện nhau. Tất cả chúng ta đều dễ mắc phải điều này, trừ khi chúng ta có nghiệp quả đặc biệt tốt.

In such a situation, we feel all sorts of strange urgings and inhibitions which cannot be accounted for in terms of ordinary psychology. It is wise for young couples to have the charts of both parties compared for incompatibilities which are karmic and may operate at deep levels. “His moon” and “her sun” are usually examined in the chart and if they do not actually form a ‘square’ aspect, then a go-ahead may be given to the marriage. These two ‘planets’ are called luminaries, the sun giving direct light and the moon reflecting light, hence, through light, their affinities with matters that are auric.

Trong một tình huống như vậy, chúng ta cảm thấy đủ loại thôi thúc và sự ức chế kỳ lạ không thể giải thích bằng tâm lý học thông thường. Thật khôn ngoan cho các cặp đôi trẻ khi so sánh lá số của cả hai bên để xem có những bất hoà mang tính nghiệp quả hay không, vốn có thể tác động ở các tầng sâu. “Mặt trăng của người này” và “Mặt trời của người kia” thường được xem xét trong lá số, và nếu chúng không thực sự tạo thành một khía cạnh “vuông góc” thì có thể cho phép tiến tới hôn nhân. Hai “hành tinh” này được gọi là các thiên thể sáng, Mặt trời chiếu sáng trực tiếp và Mặt trăng phản chiếu ánh sáng, do đó, thông qua ánh sáng, chúng có mối liên hệ với những vấn đề thuộc về hào quang.

We can usually speak very well for our own auric responses. The author has sometimes been confronted, perhaps on lecture tour, by a complete stranger who has had the ability to raise, literally, the hairs on the back of his neck. This tells him immediately that there is bad karma, probably of very ancient origin and whilst there would be no outward show on his part of such auric incompatibility, he would make sure that such a person plays no strategic role in his own life in the future or, if he must, then it should be regulated to occur when he, the author, is in a position of strength to deal with it.

Chúng ta thường có thể nói rất rõ về những phản ứng hào quang của chính mình. Tác giả đôi khi đã đối diện, có lẽ trong một chuyến đi giảng, với một người lạ hoàn toàn, người có khả năng khiến cho lông gáy của Ông dựng đứng lên. Điều này nói với Ông ngay lập tức rằng có nghiệp quả xấu, có lẽ có từ thời rất xa xưa, và mặc dù Ông sẽ không biểu lộ ra ngoài bất kỳ dấu hiệu nào về sự bất hoà hào quang như vậy, Ông sẽ chắc chắn rằng người đó sẽ không đóng vai trò chiến lược nào trong đời Ông sau này, hoặc nếu buộc phải có, thì nó phải diễn ra trong điều kiện mà Ông, tức tác giả, đang ở vị thế đủ mạnh để đối diện với nó.

The Influences of Karma—Ảnh hưởng của nghiệp quả

The bible truly states “Whatever a man sows, that shall he also reap.” Too frequently, we reap through the sensitive parts of our aura even to the extent of being made ill. In the horoscope, Saturn is the signifier of karma of long standing that brings sorrow and suffering or of good karma of ancient origin that shows as rewards in old age. On the other hand, Mars is the signifier of karma of short standing, going back perhaps only a few lives. When Mars is adversely related to the planet Uranus in the horoscope, then that karma tends to surface as the tendency to be ‘accident prone1. Fortunately, accident proneness shows up quite early in life because the karma behind it is not of long standing. It is easily recognisable in children and very special considerations have to be given to that child and his behaviour by the watchful parents. They can usually absorb much of this karmic situation through their own receptiveness and stability. Much of it is taken in through the parents’ auras unconsciously. They may be only faintly aware of these processes through experiencing an uneasiness in the child’s presence or through feeling for him when he suffers in any way from his accident proneness. Most of these unexpressed empathies are in the aura but they may, unconsciously, tax the nervous systems of the parents.

Kinh Thánh quả thật đã nói: “Người gieo giống nào thì sẽ gặt giống ấy.” Quá thường xuyên, chúng ta gặt hái qua những phần nhạy cảm của hào quang, thậm chí đến mức bị sinh bệnh. Trong lá số chiêm tinh, Thần tinh (Saturn) là hành tinh biểu thị nghiệp quả lâu đời, vốn mang lại đau khổ và phiền muộn, hoặc là nghiệp quả tốt có nguồn gốc cổ xưa, được biểu lộ như phần thưởng vào tuổi già. Mặt khác, Hỏa tinh (Mars) là hành tinh biểu thị nghiệp quả ngắn hạn, có lẽ chỉ trở lại vài kiếp sống. Khi Hỏa tinh có mối liên hệ bất lợi với hành tinh Thiên Vương tinh (Uranus) trong lá số, thì nghiệp quả ấy có khuynh hướng trồi lên thành xu hướng “dễ gặp tai nạn”. May thay, khuynh hướng dễ gặp tai nạn này thường bộc lộ khá sớm trong đời, vì nghiệp quả đứng đằng sau nó không thuộc loại lâu đời. Nó có thể dễ dàng được nhận ra nơi trẻ em, và cần phải có những lưu tâm đặc biệt đối với đứa trẻ ấy và hành vi của nó từ những bậc cha mẹ cảnh giác. Thông thường, họ có thể hấp thu phần lớn tình huống nghiệp quả này thông qua sự tiếp nhận và sự ổn định của chính họ. Nhiều phần của nó được hấp thu một cách vô thức qua hào quang của cha mẹ. Họ có thể chỉ mơ hồ nhận biết những tiến trình này thông qua việc cảm thấy bất an trong sự hiện diện của đứa trẻ hoặc thông qua sự đồng cảm dành cho nó khi nó chịu bất kỳ đau khổ nào từ khuynh hướng dễ gặp tai nạn của mình. Phần lớn những sự đồng cảm không được biểu lộ này tồn tại trong hào quang, nhưng chúng cũng có thể, một cách vô thức, gây gánh nặng cho hệ thần kinh của cha mẹ.

Shared Auras—Hào quang chia sẻ

Extraordinary things may occur when auras are shared with other individuals. In true healing, the aura of the healer must merge with that of his patient. The two auras become one. In the combined aura, the healer becomes the North Pole and the vortex of the complex. The patient becomes the South Pole and torrent of the same complex. Vast currents of energy flow from the psyche of the healer into the South Polar Region which interpenetrates the patient. The patient’s aura is ‘flushed out’ with the energies of the healer. The patient’s natural vital processes are revivified and he returns to health. This is very elementary in healing.

Những điều phi thường có thể xảy ra khi các hào quang được chia sẻ với những cá nhân khác. Trong sự chữa lành chân chính, hào quang của người chữa lành phải hoà nhập với hào quang của bệnh nhân. Hai hào quang trở thành một. Trong hào quang hợp nhất ấy, người chữa lành trở thành Cực Bắc và xoáy tâm của toàn thể phức hợp. Bệnh nhân trở thành Cực Nam và dòng xoáy của cùng phức hợp đó. Những dòng năng lượng to lớn tuôn chảy từ tâm thức của người chữa lành vào Vùng Cực Nam vốn thâm nhập vào bệnh nhân. Hào quang của bệnh nhân được “tẩy sạch” bằng những năng lượng của người chữa lành. Các tiến trình sinh lực tự nhiên của bệnh nhân được hồi sinh và y trở lại tình trạng khoẻ mạnh. Đây là điều rất sơ đẳng trong chữa lành.

However, on the debit side the same sort of thing may occur where one person’s aura may encroach on that of another’s and, again, the two auras become one, more or less on a permanent basis. This occurs in many cases of homosexuality, especially in the male where a dominant mother may thus encroach on her son’s aura quite unwittingly. Sometimes this is made easier when the father of the boy is away for long periods or is deceased and where the son fills the vacuum for the mother’s attention. Normally, a boy is attracted to the father’s ways and mannerisms in what is known as the apprenticeship complex. This is very healthy: the boy wants to become an engine-driver or milkman, like his daddy. He absorbs masculinising qualities from his father’s aura. When he is fully adult and male, the father’s influence wanes and the boy’s aura is fully independent and male. The sharing of an aura between mother and son confers extraordinary sensitivity during the feminising processes and the changes occurring may escape detection until after puberty. If the father’s influence is not re-established by this time, the homosexuality is usually irreversible.

Tuy nhiên, ở phương diện bất lợi, điều tương tự có thể xảy ra khi hào quang của một người xâm nhập vào hào quang của người khác và, một lần nữa, hai hào quang trở thành một, ít nhiều trên cơ sở thường trực. Điều này xảy ra trong nhiều trường hợp đồng tính luyến ái, đặc biệt ở nam giới, nơi một người mẹ có tính cách áp đảo có thể vô tình xâm nhập vào hào quang của con trai mình. Đôi khi điều này càng dễ xảy ra khi người cha của cậu bé vắng mặt trong thời gian dài hoặc đã qua đời, và khi đó người con trai lấp đầy khoảng trống trong sự chú ý của người mẹ. Thông thường, một cậu bé bị thu hút bởi những thói quen và tác phong của cha trong cái gọi là phức hợp tập sự. Điều này rất lành mạnh: cậu bé muốn trở thành một người lái tàu hay một người giao sữa giống như cha mình. Cậu hấp thụ những phẩm tính nam tính hoá từ hào quang của cha. Khi trưởng thành hoàn toàn và là một người đàn ông, ảnh hưởng của người cha giảm dần và hào quang của cậu trở nên độc lập và mang tính nam hoàn toàn. Sự chia sẻ một hào quang giữa mẹ và con trai mang lại một độ nhạy cảm phi thường trong suốt tiến trình nữ tính hoá, và những thay đổi xảy ra có thể thoát khỏi sự phát hiện cho đến sau tuổi dậy thì. Nếu ảnh hưởng của người cha không được tái lập vào thời điểm đó, đồng tính luyến ái thường là không thể đảo ngược.

The same pattern of events may occur in the relationship between father and daughter, but it is usually masked and its effects are not nearly so severe. The recent tendencies of women to wear men’s clothes anyway and to become involved in what were formerly male occupations, covers up what might have been a more obvious problem.

Cùng một mô thức sự kiện có thể xảy ra trong mối quan hệ giữa cha và con gái, nhưng nó thường bị che giấu và tác động của nó không nghiêm trọng đến thế. Xu hướng gần đây của phụ nữ mặc quần áo nam và tham gia vào những công việc trước kia vốn dành cho nam giới, đã che phủ đi điều vốn có thể là một vấn đề hiển nhiên hơn.

7. Dissemination of the Aura—Sự lan toả của hào quang

Dissemination of the aura may be achieved through simple exercises, some of them based on the science of yoga; but there can be no extensive dissemination without radical changes in the ways of thinking and especially so through the modification of attitudes. In astrology, attitudes come under the rulership of the First House in the horoscope and this is coincidentally the house which is the Home of the Soul. Those who practise yoga, however, can often be grossly misled into believing they are affecting their auric growth purely through physical gymnastics. Some believe that the achievement of robust health is synonymous with spiritual well-being. We have, all of us, known the glories of physical perfection through our lives in the bodies provided by the great Lemurian civilisations. However, whereas mastery of the physical body was the target of spiritual unfoldment in those days, it is no longer so in this age.

Sự lan toả của hào quang có thể đạt được thông qua những bài tập đơn giản, một số dựa trên khoa học yoga; nhưng không thể có sự toả rộng rãi nếu không có những thay đổi căn bản trong cách tư duy, và đặc biệt là qua sự điều chỉnh các thái độ. Trong chiêm tinh học, thái độ thuộc sự cai quản của Nhà Thứ Nhất trong lá số, và trùng hợp thay, đây chính là nhà vốn là Nhà của Linh hồn. Tuy nhiên, những người thực hành yoga thường có thể bị lầm lạc nặng nề khi tin rằng họ đang ảnh hưởng đến sự phát triển hào quang của mình chỉ bằng những bài tập thể dục. Một số tin rằng đạt được sức khoẻ cường tráng đồng nghĩa với sự an lạc tinh thần. Tất cả chúng ta, đều đã từng biết đến vinh quang của sự toàn hảo thể chất qua những kiếp sống trong các thể xác được ban cho bởi những nền văn minh Lemuria vĩ đại. Tuy nhiên, trong khi làm chủ thể xác là mục tiêu của sự khai mở tinh thần vào thời ấy, thì ngày nay điều đó không còn đúng nữa.

The author once lectured to a prominent yoga group in Johannesburg where his words were enthusiastically received. However, the following morning the leader of the group was inundated with phone calls from pupils enquiring how they could begin the practice of Raja Yoga. My words had stimulated them to seek further. The leader had bragged how she could bring robust health to all her flock and how they would “sleep like horses” after practising her methods. The true aim for our own root race is very different from this. Robust health is welcome, but not at the expense of sensitivity. In this day and age, a sensitive physical instrument, receptive to the dictates of its immortal self, the Soul, is now required. Sleeping like a horse is hardly conducive to receptivity. Even with a sensitive physical vehicle, many have great difficulty in remembering the content of their dreams, the substance of their meditations, etc. were individuals blessed with a high receptivity to the Soul and they rarely possessed robust physical bodies as history shows. Their auras were extensive and of the highest quality. We must, even as personalities, accept that different laws begin to govern man, once he treads the path of return and that the criterion of his existence alters too. We must, for instance, be prepared to sacrifice robust health, or trade it in for ‘sensitive health.’

Tác giả từng có một buổi thuyết giảng trước một nhóm yoga nổi tiếng ở Johannesburg, nơi lời nói của ông đã được đón nhận đầy nhiệt thành. Tuy nhiên, sáng hôm sau, lãnh đạo của nhóm bị ngập trong các cuộc gọi từ học viên, hỏi xem họ có thể bắt đầu thực hành Raja Yoga như thế nào. Lời nói của tôi đã khích lệ họ tìm kiếm thêm. Vị lãnh đạo ấy đã khoe khoang rằng bà có thể mang lại sức khoẻ cường tráng cho toàn thể môn sinh của mình và rằng họ sẽ “ngủ như ngựa” sau khi thực hành các phương pháp của bà. Nhưng mục tiêu đích thực cho giống dân gốc của chúng ta thì rất khác. Sức khoẻ cường tráng là điều đáng quý, nhưng không phải với cái giá phải trả là sự nhạy cảm. Trong thời đại ngày nay, một khí cụ thể chất nhạy cảm, tiếp nhận những mệnh lệnh từ chân ngã bất tử của nó, tức Linh hồn, là điều được đòi hỏi. Ngủ như ngựa thì khó mà thuận lợi cho sự tiếp nhận. Ngay cả khi có một thể xác nhạy cảm, nhiều người vẫn gặp khó khăn lớn trong việc ghi nhớ nội dung giấc mơ, nội dung các cuộc tham thiền, v.v… Những cá nhân được ban phúc lành với sự tiếp nhận cao đối với Linh hồn hiếm khi sở hữu những thể chất cường tráng, như lịch sử cho thấy. Hào quang của họ rộng lớn và thuộc phẩm chất cao nhất. Ngay cả với tư cách phàm ngã, chúng ta phải chấp nhận rằng những định luật khác bắt đầu chi phối con người, một khi y bước đi trên con đường trở về, và tiêu chuẩn cho sự hiện hữu của y cũng thay đổi. Chúng ta, chẳng hạn, phải sẵn sàng hy sinh sức khoẻ cường tráng, hay đánh đổi nó để có được “sức khoẻ nhạy cảm.”

The Example of the Saint—Gương Thánh

In the ideal of the saint and, indeed, in the ideal saint himself, we have a living lesson on dissemination of the aura. Sidney Ransom, the well-known theosophist, wrote a revealing article in ‘The Theosophist’ of September 1958 which is relevant here. He wrote that the list of virtues necessary for entry into the Kingdom of Heaven is the series of brief challenging sentences called ‘The Beatitudes’. “Blessed are the poor” almost foretold the teaching of St Francis. Later saints have proved the truth of that other beatitude: “Blessed are ye, when men shall revile you, and persecute you, and shall say all manner of evil against you falsely …” And the hope of some modern saints is to be found in that brief prophecy: “Blessed are the peacemakers.”

Trong hình mẫu của vị thánh và, thật vậy, trong chính vị thánh lý tưởng, chúng ta có một bài học sống động về sự phổ truyền của hào quang. Sidney Ransom, nhà Thông Thiên Học nổi tiếng, đã viết một bài báo tiết lộ trong The Theosophist tháng 9 năm 1958 có liên quan đến điều này. Ông viết rằng danh sách các đức hạnh cần thiết để được bước vào Nước Trời chính là chuỗi những câu ngắn gọn đầy thách thức gọi là “Các Mối Phúc”. “Phước cho ai nghèo khó” gần như đã tiên báo giáo huấn của Thánh Francis. Các thánh nhân sau này đã chứng minh chân lý của mối phúc khác: “Phước cho các ngươi, khi người ta lăng mạ các ngươi, bắt bớ các ngươi, và vì Ta mà vu khống đủ điều gian ác chống lại các ngươi…” Và niềm hy vọng của một số vị thánh hiện đại được tìm thấy trong lời tiên tri ngắn gọn ấy: “Phước cho ai kiến tạo hoà bình.”

There is little doubt that one of the required virtues of a saint is that he must learn to live together with his fellow-saints, learn to co-operate on all planes, to work and play together, and all “to the glory of God”. The science of community living, even without any saintliness, is valuable, but no lasting Utopia will exist unless both these elements are present.

Không còn nghi ngờ gì nữa, một trong những đức hạnh cần có của một vị thánh là Ngài phải học cách sống cùng nhau với các huynh đệ thánh nhân, học cách hợp tác trên mọi bình diện, cùng nhau làm việc và vui chơi, tất cả đều “vì vinh quang của Thượng đế.” Khoa học về đời sống cộng đồng, ngay cả khi không có sự thánh thiện, cũng rất giá trị, nhưng sẽ không bao giờ tồn tại một Utopia bền vững nếu thiếu cả hai yếu tố này.

In the case of St. Augustine, his efforts, like those of other saints, were directed to the conquering of fleshy desires, but when this victory had in a large measure been reached, he quickly saw that the next enemies to be fought were pride and arrogance, and whether from personal experience, or from reading biographies, we know how many subtle and unexpected ways pride rears its ugly head!

Trong trường hợp của Thánh Augustine, những nỗ lực của Ngài, giống như những vị thánh khác, được hướng đến việc chinh phục những dục vọng xác thịt, nhưng khi chiến thắng này đã đạt được ở mức độ lớn, Ngài nhanh chóng nhận ra rằng những kẻ thù tiếp theo cần phải chiến đấu là sự kiêu hãnh và ngạo mạn, và dù từ kinh nghiệm cá nhân hay từ việc đọc tiểu sử, chúng ta đều biết bao nhiêu cách tinh vi và bất ngờ mà sự kiêu hãnh có thể ngóc đầu dậy!

The opposite of pride is humility, but we need to be careful as to what kind of humility is being aimed at. The essence of true humility is that it is entirely natural, without any possible trace of pose—the humility which a young amateur astronomer would possibly have when surveying the majestic sky with a small boy’s telescope. What has been called “false modesty” is but a distressing social lapse and is, of course, but a form of the old besetting sin of pride. Humility is often learnt by the hard way of experiencing what it feels like to be humiliated, even as the hard and quickest way of learning the meaning of justice may be to experience some treatment of injustice. So what the saints were striving after may sometimes be indicated in the very experiences they suffered— and sometimes rejoiced in.

Điều đối nghịch với kiêu hãnh là khiêm nhường, nhưng chúng ta cần cẩn trọng xem loại khiêm nhường nào mới là điều nhắm đến. Bản chất của sự khiêm nhường đích thực là hoàn toàn tự nhiên, không hề có chút giả vờ nào — đó là sự khiêm nhường mà một nhà thiên văn trẻ có thể có khi quan sát bầu trời hùng vĩ bằng kính viễn vọng của một cậu bé. Cái gọi là “giả khiêm tốn” chỉ là một sự sa sút đáng buồn về mặt xã hội và, dĩ nhiên, chỉ là một hình thức khác của tội lỗi xưa cũ — kiêu hãnh. Khiêm nhường thường được học qua con đường khó khăn là trải nghiệm cảm giác bị hạ nhục, cũng như cách khó khăn và nhanh nhất để học ý nghĩa của công bằng có thể là trải nghiệm một sự đối xử bất công nào đó. Vậy nên, những gì các vị thánh khao khát hướng tới đôi khi có thể được chỉ ra ngay trong những kinh nghiệm mà các Ngài đã chịu đựng — và đôi khi vui mừng trong đó.

An early form of humility is, of course, just ordinary plain vanity!—being vain, for example, as to one’s appearance. If pride is the sin “by which angels fell,” as Cardinal Wolsey found, we need not be unduly ashamed at owning to one or other of the innumerable ways in which it appears.

Một hình thái sớm của khiêm nhường, dĩ nhiên, chỉ là sự phù phiếm đơn giản! — ví dụ, sự tự mãn về vẻ bề ngoài của mình. Nếu kiêu hãnh là tội lỗi “khiến các thiên thần sa ngã,” như Hồng y Wolsey từng nhận ra, thì chúng ta cũng không cần quá xấu hổ khi thừa nhận một trong vô số cách mà nó biểu lộ.

The biographies of many cardinals suggest how great were the temptations arrogantly to love power, influence and social status, and how it was pride that brought about the fall; pride of one’s own achievements, and sometimes pride in one’s nation or church.

Tiểu sử của nhiều hồng y cho thấy những cám dỗ to lớn khiến họ ngạo mạn yêu thích quyền lực, ảnh hưởng và địa vị xã hội, và chính sự kiêu hãnh đã đưa đến sự sa ngã; kiêu hãnh về thành tựu của bản thân, và đôi khi là kiêu hãnh về quốc gia hay giáo hội của mình.

What a saint says in a sermon or prayer in an assembly may not always be in accord with what he is and how he acts in private life; but when the outer and the inner are in accord, then the sayings of such a saint may be accepted as true teaching indeed. Such a saint was St Francis:

Điều mà một vị thánh nói trong một bài giảng hay một lời cầu nguyện trước công chúng không phải lúc nào cũng phù hợp với bản chất và hành vi của Ngài trong đời sống riêng tư; nhưng khi cái bên ngoài và cái bên trong hài hòa, thì lời nói của một vị thánh như vậy mới có thể được chấp nhận là giáo huấn chân chính. Một vị thánh như thế chính là Thánh Francis:

Lord, make me an instrument of your Peace —

Lạy Chúa, xin hãy biến con thành khí cụ của Bình An Ngài —

Where there is hatred let me sow love;

Nơi nào có hận thù, xin cho con gieo Tình thương;

Where there is injury, pardon;

Nơi nào có tổn thương, xin cho con gieo Tha thứ;

Where there is doubt, faith;

Nơi nào có hoài nghi, xin cho con gieo Đức tin;

Where there is despair, hope;

Nơi nào có tuyệt vọng, xin cho con gieo Hy vọng;

Where there is darkness, light;

Nơi nào có bóng tối, xin cho con gieo Ánh sáng;

Where there is sadness, joy.

Nơi nào có buồn sầu, xin cho con gieo Niềm vui.

Disciplines for Processing the Aura

Kỷ luật để Xử lý Hào quang

The neophyte often worries too much about the disciplines needed to process the aura. They are really very simple and are usually undertaken in the normal course of everyday living. But a guideline is needed. Basic, perhaps, is the importance of attitudes. A very large part of our daily living is taken up by the attitudes we adopt, our outlooks, policies and intentions. The most important attitude of all is that of ‘harmlessness’. By being meticulous about hurting nobody with our thoughts, words and deeds, we immediately reduce the load of our karma and introduce an expansive factor into the aura. The outermost reaches of the aura are extended so that the ring-pass-not of it becomes more voluminous and our presence is ‘felt’ at greater and greater distances and by more and more creatures. It is said of the Lord Buddha, that his aura could be felt to a radius of three miles.

Người sơ cơ thường lo lắng quá mức về những kỷ luật cần thiết để xử lý hào quang. Thực ra chúng rất đơn giản và thường được thực hiện trong tiến trình sống hằng ngày. Nhưng một chỉ dẫn là cần thiết. Có lẽ, căn bản là sự quan trọng của thái độ. Một phần rất lớn trong đời sống hằng ngày của chúng ta bị chi phối bởi những thái độ mà chúng ta chọn, quan điểm, chính sách và ý định của mình. Thái độ quan trọng nhất trong tất cả chính là “vô tổn hại”. Bằng cách tỉ mỉ để không làm tổn thương ai bằng ý nghĩ, lời nói và hành động của mình, chúng ta lập tức giảm bớt gánh nặng nghiệp quả và đưa vào hào quang một yếu tố mở rộng. Những ranh giới ngoài cùng của hào quang được kéo dài ra để vòng-giới-hạn của nó trở nên rộng lớn hơn, và sự hiện diện của chúng ta được “cảm nhận” ở những khoảng cách ngày càng xa hơn và bởi ngày càng nhiều sinh linh hơn. Người ta nói rằng hào quang của Đức Phật có thể được cảm nhận trong một bán kính ba dặm.

Overwork can inhibit, even damage the aura. True, we may vary the work to reduce the burden on any one spot in the aura, but this is not nearly as effective as taking short rests or diverting oneself with joyful tasks (exercise merely for the sake of it alone is not recommended). Sir Francis Bacon, an earlier incarnation of the Count St Germain, and a Master of the Wisdom, recommended “lucid intervals and happy pauses” for the dynamic aura. Robert Browning, poet, and formerly the English Master, also recommended light tasks to his disciples, tasks that are a joy, like gardening, to refresh the aura. He also thought that a walk through the market place each day was a refreshing act which reduced auric tensions. Reading and writing regularly, and certainly study itself, make auric impacts on those parts of it related to the face, the sundial of man. The breath of intellect soon removes the blankness of a callow life and introduces character into Man’s sundial.

Làm việc quá sức có thể ức chế, thậm chí làm tổn hại hào quang. Đúng là chúng ta có thể thay đổi công việc để giảm bớt gánh nặng trên một điểm nào đó trong hào quang, nhưng điều này không hiệu quả bằng việc nghỉ ngắn hoặc làm mới bản thân bằng những công việc vui vẻ (tập thể dục chỉ vì bản thân nó thì không được khuyến khích). Sir Francis Bacon, một kiếp trước của Bá tước St Germain, và là một Chân sư Minh triết, đã khuyên “những khoảng nghỉ sáng suốt và những giây phút hạnh phúc” để duy trì một hào quang năng động. Robert Browning, thi sĩ, và nguyên là một Chân sư người Anh, cũng đã khuyên các đệ tử của mình nên có những công việc nhẹ nhàng, vui vẻ, như làm vườn, để làm mới hào quang. Ông cũng nghĩ rằng việc đi dạo qua chợ mỗi ngày là một hành động làm tươi mới, giúp giảm căng thẳng hào quang. Đọc và viết thường xuyên, và dĩ nhiên cả việc học tập, tạo ra những tác động hào quang lên những phần liên quan đến khuôn mặt, vốn là đồng hồ mặt trời của con người. Hơi thở của trí tuệ nhanh chóng xoá bỏ sự trống rỗng của một cuộc đời non nớt và đưa vào đồng hồ mặt trời của Con Người tính cách đích thực.

Acquiring and Maintaining Mental Integration—Có được và duy trì sự tích hợp trí tuệ

Garrulous old ladies and gossiping pensioners on the benches in the park may appear harmless enough but this talk may harden certain areas of the aura that feed prana to the cerebral cortex of the brain and hasten, relentlessly, the onset of senility. The habit of writing a few passages each day in the spiritual or psychological diary enhances the capacity for exactness. The mental body, through the habit of writing, lines itself up more precisely with the matrix of the etheric body which interpenetrates the physical structures and energises them.

Những bà lão lắm lời và những người hưu trí nhiều chuyện trên các băng ghế trong công viên có thể trông như vô hại, nhưng những câu chuyện đó có thể làm cứng lại những khu vực nhất định của hào quang vốn cung cấp prana cho vỏ não của bộ não và thúc đẩy, một cách không thương xót, sự khởi phát của chứng lú lẫn. Thói quen viết vài đoạn mỗi ngày trong nhật ký tinh thần hay tâm lý làm tăng năng lực chính xác. Thể trí, nhờ thói quen viết, tự sắp xếp chính xác hơn với khuôn mẫu của thể dĩ thái vốn thâm nhập vào cấu trúc thể chất và tiếp sinh lực cho chúng.

Neglect of writing not only leads to poor spelling but to lack of precise thinking and poor co-ordination of the mental body with the other two. Keeping a spiritual diary carefully each day rewards us with infusions of energy from the mental plane and, depending on the spiritual quality of the thoughts behind the entries, energies from the higher, spiritual planes as well.

Sự lơ là việc viết không chỉ dẫn đến chính tả kém mà còn dẫn đến sự thiếu chính xác trong tư duy và sự phối hợp kém giữa thể trí với hai thể còn lại. Việc giữ một cuốn nhật ký tinh thần một cách cẩn thận mỗi ngày mang lại cho chúng ta sự tuôn đổ năng lượng từ cõi trí, và tuỳ thuộc vào phẩm chất tinh thần của những tư tưởng đứng sau các ghi chép, còn có cả năng lượng từ những cõi tinh thần cao hơn nữa.

Some comments of Francis Bacon on the art of reading are relevant here. He said that some books are to be tasted, others to be swallowed, and some few to be chewed and digested. That is, some books are to be read only in parts; others to be read but not curiously; and some few to be read wholly, and with diligence and attention. Some books may also be read by deputy, and extracts made of them by others. To these comments, the author would add that the writing out of two or three quotations of high merit in the spiritual diary from a book like The Voice Of The Silence has enormous effects upon the disseminating aura.

Một số nhận xét của Francis Bacon về nghệ thuật đọc sách có liên quan ở đây. Ông nói rằng có những cuốn sách chỉ để nếm, có những cuốn để nuốt, và có một số ít để nhai và tiêu hóa. Nghĩa là, có những cuốn chỉ nên đọc từng phần; có những cuốn nên đọc nhưng không quá tò mò; và có một số ít cần được đọc toàn bộ, với sự siêng năng và chú tâm. Một số sách cũng có thể được đọc gián tiếp, và trích đoạn của chúng được ghi lại bởi người khác. Vào những nhận xét này, tác giả muốn thêm rằng việc chép ra hai hay ba câu trích dẫn có giá trị cao trong nhật ký tinh thần từ một cuốn như The Voice Of The Silence có tác động to lớn đến hào quang phổ truyền.

Francis Bacon also wrote that “Reading maketh a full man; conference, a ready man; and writing an exact man.” He said, “Histories make men wise; poets, witty; the mathematics, subtile; natural philosophy, deep; moral, grave; logic and rhetoric, able to contend.”

Francis Bacon cũng đã viết rằng: “Đọc sách tạo nên một con người đầy đủ; đàm luận tạo nên một con người linh hoạt; và viết lách tạo nên một con người chính xác.” Ông nói: “Lịch sử làm cho con người khôn ngoan; thi ca làm con người dí dỏm; toán học làm con người tinh tế; triết học tự nhiên làm con người sâu sắc; luân lý làm con người nghiêm trang; logic và tu từ làm con người có khả năng tranh luận.”

The impacts of such disciplines upon the personality of the reader, have no explanation except in terms of the mechanism of the aura.

Tác động của những kỷ luật như vậy lên phàm ngã của người đọc không có lời giải thích nào khác ngoài cơ chế của hào quang.

Concentration Exercise for Disseminating the Aura—Bài tập tập trung để phát tán hào quang

Concentration, as an exercise, is performed in the morning at the very earliest moment possible after the aspirant awakes. He must not arise to open blinds or perform any other unnecessary act. If the body is comfortable, he should at once relax and commence to concentrate. This is very important, as the spirit has just returned from the desire, or astral, world at the moment of waking, and at that time the conscious touch with that world is more easily regained than at any other time of the day.

Tập trung, như một bài tập, được thực hiện vào buổi sáng vào thời khắc sớm nhất có thể ngay sau khi người chí nguyện thức dậy. Y không được ngồi dậy để mở rèm cửa hay làm bất kỳ hành động không cần thiết nào khác. Nếu thân thể thoải mái, y nên lập tức thư giãn và bắt đầu tập trung. Điều này rất quan trọng, vì tinh thần vừa mới trở về từ thế giới dục vọng, hay cõi cảm dục, vào khoảnh khắc thức giấc, và vào lúc đó sự tiếp xúc có ý thức với thế giới ấy dễ dàng được khôi phục hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong ngày.

We remember that during sleep the currents of the desire body flow, and its vortices move and spin with enormous rapidity. But as soon as it enters the dense body, its currents and vortices are almost stopped by the dense matter and the nerve currents of the vital body which carry messages to and from the brain. It is the object of this exercise to still the dense body to the same degree of inertia and insensibility as in sleep, although the spirit within is perfectly awake, alert, and conscious. Thus we make a condition where the sense centres of the desire body can begin to revolve while inside the dense body.

Chúng ta nhớ rằng trong lúc ngủ, các dòng chảy của thể dục vọng luân lưu, và các xoáy của nó chuyển động và quay với tốc độ khổng lồ. Nhưng ngay khi nó nhập vào thể đậm đặc, các dòng chảy và các xoáy hầu như bị dừng lại bởi chất liệu đậm đặc và các dòng thần kinh của thể sinh lực, vốn truyền tải thông tin đến và đi từ bộ não. Mục đích của bài tập này là khiến cho thể đậm đặc bất động ở cùng mức độ trì trệ và vô cảm như trong giấc ngủ, mặc dù tinh thần bên trong hoàn toàn tỉnh táo, linh hoạt và có ý thức. Như vậy chúng ta tạo ra một trạng thái trong đó các trung tâm giác quan của thể dục vọng có thể bắt đầu quay vòng trong khi vẫn ở bên trong thể đậm đặc.

Concentration is a word that puzzles many and carries meaning to but few, so we will endeavour to make its significance clear. The dictionary gives several definitions, all applicable to our idea. One is “to draw to a centre”; another, from chemistry, “to reduce to extreme purity and strength by removing valueless constituents.” Applied to our problem, one of the above definitions tells us that if we draw our thoughts to a centre, a point, we increase their strength on the principle that the power of the sun’s rays is increased when focused to a point by means of a magnifying glass. By eliminating from our mind for the timebeing all other subjects, our whole thought power is available for use in attaining the object or solving the problem on which we are concentrating. We may become so absorbed in our subject that if a cannon were fired above our heads we would not hear it. People may become so lost in a book that they are oblivious to all else, and the aspirant to spiritual sight must acquire the faculty of becoming equally absorbed in the idea he is concentrating upon so that he may shut out the world of sense from his consciousness and give his whole attention to the spiritual world. When he learns to do that he will see the spiritual side of an object or idea illuminated by spiritual light, and thus he will obtain a knowledge of the inner nature of things undreamt of by a worldly individual. When that point of abstraction has been reached the sense centres of the desire body commence to revolve slowly within the dense body and will thus make a place for themselves. This in time will become more and more defined, and it will require less and less effort to set them going.

“Tập trung” là một từ khiến nhiều người bối rối và chỉ có ít người thấu hiểu ý nghĩa của nó, vì vậy chúng ta sẽ nỗ lực làm rõ tầm quan trọng của nó. Từ điển đưa ra nhiều định nghĩa, tất cả đều có thể áp dụng cho ý tưởng của chúng ta. Một định nghĩa là “hội tụ vào một trung tâm”; một định nghĩa khác, trong hoá học, là “giảm đến mức tinh khiết và mạnh mẽ tối đa bằng cách loại bỏ các thành phần vô giá trị.” Áp dụng cho vấn đề của chúng ta, một trong những định nghĩa trên cho biết rằng nếu chúng ta tập trung tư tưởng vào một trung tâm, một điểm, thì chúng ta gia tăng sức mạnh của chúng theo nguyên lý rằng năng lực của các tia mặt trời được tăng cường khi hội tụ vào một điểm bằng kính lúp. Bằng cách loại bỏ khỏi tâm trí trong một thời gian mọi đối tượng khác, toàn bộ năng lực tư tưởng của chúng ta sẽ sẵn có để sử dụng nhằm đạt được mục tiêu hoặc giải quyết vấn đề mà ta đang tập trung. Chúng ta có thể trở nên quá đắm chìm vào đối tượng của mình đến mức nếu một khẩu pháo được bắn ngay trên đầu, chúng ta cũng không nghe thấy. Con người có thể trở nên quá lạc vào một cuốn sách đến nỗi không nhận biết gì ngoài nó, và người chí nguyện cho thị kiến tinh thần phải đạt được khả năng đắm chìm hoàn toàn vào ý tưởng mà y đang tập trung để có thể loại bỏ thế giới giác quan khỏi tâm thức và dồn toàn bộ sự chú ý vào thế giới tinh thần. Khi y học được điều đó, y sẽ thấy được khía cạnh tinh thần của một đối tượng hay ý tưởng được soi sáng bởi ánh sáng tinh thần, và như thế y sẽ đạt được tri thức về bản chất nội tại của sự vật mà người thế tục không bao giờ mơ tưởng đến. Khi điểm ly trần ấy đã đạt tới, các trung tâm giác quan của thể dục vọng bắt đầu quay chậm bên trong thể đậm đặc và như thế tạo cho chúng một chỗ đứng. Điều này theo thời gian sẽ trở nên ngày càng rõ ràng, và sẽ cần ít nỗ lực hơn để làm cho chúng vận hành.

The subject of concentration may be any high and lofty ideal, but should preferably be of such a nature that it takes the aspirant out of the ordinary things of sense-, beyond time and space; and an excellent formula is the first five verses of St John’s gospel. Taking them as a subject, sentence by sentence, morning after morning, will in time give the aspirant a wonderful insight into the beginning of our universe and the method of creation—an insight far beyond any book learning.

Đối tượng của sự tập trung có thể là bất kỳ lý tưởng cao đẹp nào, nhưng nên thuộc loại có thể đưa người chí nguyện thoát khỏi những điều bình thường của giác quan, vượt ngoài thời gian và không gian; và một công thức tuyệt hảo chính là năm câu đầu tiên của Phúc âm Thánh Gioan. Đem chúng ra làm đề tài, từng câu một, buổi sáng này nối tiếp buổi sáng khác, sẽ dần dần mang lại cho người chí nguyện một sự thấu hiểu tuyệt vời về sự khởi nguyên của vũ trụ chúng ta và phương pháp sáng tạo — một sự thấu hiểu vượt xa bất kỳ kiến thức sách vở nào.

After a time, when the aspirant has learned to unwaveringly hold before him for about five minutes the idea upon which he is concentrating, he may try to suddenly drop the idea and leave a blank, thinking of nothing else and simply waiting to see if anything enters the vacuum. In time the sights and scenes of the desire world will fill the vacant space. After the aspirant has become used to that he may demand this, that, or the other thing to come before him. It will come, and then he may investigate it.

Sau một thời gian, khi người chí nguyện đã học được cách giữ vững không lay chuyển trong khoảng năm phút ý tưởng mà y đang tập trung, y có thể thử buông bỏ ý tưởng ấy đột ngột và để tâm trống rỗng, không nghĩ gì khác và đơn giản chờ xem liệu có điều gì nhập vào khoảng không đó không. Theo thời gian, những cảnh tượng và hình ảnh của thế giới dục vọng sẽ tràn ngập không gian trống rỗng ấy. Khi người chí nguyện đã quen thuộc với điều đó, y có thể đòi hỏi điều này, điều kia xuất hiện trước mặt. Nó sẽ đến, và rồi y có thể khảo sát nó.

The main point, however, is that by following the above instructions the aspirant is purifying himself. His aura commences to shine and will, without fail, draw the attention of a teacher who will depute someone to give help when required for the next step in advancement. Even if months or years should go by and bring no visible result, rest assured that no effort has been in vain; the Great Teachers see and appreciate our efforts. They are just as anxious to have our assistance as we are to work. They may see reasons which make it inexpedient for us to take up work for humanity in this life or at this time. Sometime the hindering conditions will pass, and we shall be admitted to the light where we can see for ourselves.

Điểm chính yếu, tuy nhiên, là bằng cách tuân theo những chỉ dẫn trên, người chí nguyện đang tự thanh luyện mình. Hào quang của y bắt đầu toả sáng và chắc chắn sẽ thu hút sự chú ý của một vị Thầy, Ngài sẽ cử ai đó đến giúp khi cần cho bước tiến kế tiếp. Ngay cả khi nhiều tháng hay nhiều năm trôi qua mà không mang lại kết quả hiển nhiên, hãy tin chắc rằng không một nỗ lực nào là vô ích; Các Đại Huấn Sư thấy và trân trọng nỗ lực của chúng ta. Các Ngài cũng khát khao có sự trợ giúp của chúng ta như chúng ta khao khát được phụng sự. Các Ngài có thể thấy những lý do khiến cho việc chúng ta đảm nhận công việc cho nhân loại trong kiếp này hay vào lúc này là chưa thích hợp. Một ngày nào đó, những điều kiện ngăn trở sẽ qua đi, và chúng ta sẽ được bước vào ánh sáng, nơi chúng ta có thể tự mình nhìn thấy.

Silence and the Aura—Im lặng và hào quang

Many people ask, “What can I do? I can’t meditate.” While it is true that meditation, more than any other known discipline, can be the most potent transformer of the aura, there are other faculties that can be developed when meditation cannot. The ability to listen and to suspend judgment on what we hear, is a powerful disseminator of spiritual energies in the aura. It may surprise many that the male lead in the soap opera “Dallas” has a ‘silent’ day once each week in which he suspends all vocal activity completely.

Nhiều người hỏi: “Tôi có thể làm gì? Tôi không thể tham thiền.” Dù đúng là tham thiền, hơn bất kỳ kỷ luật nào khác, có thể là tác nhân chuyển hoá mạnh mẽ nhất của hào quang, vẫn còn những năng lực khác có thể được phát triển khi việc tham thiền không thể thực hiện. Năng lực biết lắng nghe và hoãn lại sự phán đoán về những gì ta nghe được là một phương tiện phổ truyền mạnh mẽ các năng lượng tinh thần trong hào quang. Nhiều người có thể ngạc nhiên khi biết rằng nam diễn viên chính trong vở kịch truyền hình nhiều tập Dallas có một ngày “im lặng” mỗi tuần, trong đó ông hoàn toàn ngưng mọi hoạt động phát ngôn.

It is profoundly true that the aura grows in strength in conditions of silence. Even the great Masters seek out conditions in which, for much of their time, they can dwell in silence.

Điều vô cùng đúng đắn là hào quang tăng trưởng sức mạnh trong điều kiện tĩnh lặng. Ngay cả các Chân sư vĩ đại cũng tìm kiếm những điều kiện trong đó, phần lớn thời gian của Các Ngài, Các Ngài có thể sống trong tĩnh lặng.

It is also true that the nature of the aura is golden (not just its colour) and Man sits constantly within its fine spray. We also say “Silence is golden.” Indeed, silence, the aura and the qualities of gold have powerful correlations. An ancient legend says that digging for treasure must be done in the stillness of night and in perfect silence; to speak one word until the treasure is safely excavated will inevitably cause it to disappear. That is a mystic parable which has reference to the search for spiritual illumination. If we gossip or recount to others the experiences of our concentration period, we lose them; for they cannot bear vocal transmission and will fade into nothingness. By meditation we must extract from them a full knowledge of the underlying cosmic laws. Then the experience itself will not be recounted, for we shall see that it is but the husk which hid the kernel of worth. The law is of universal value as will be at once apparent, for it will explain facts in life, and teach us how to take advantage of certain conditions and to avoid others. The law may be freely stated at the discoverer’s discretion for the benefit of humanity. The experience which revealed the law then will appear in its true light as of only passing interest and unworthy of further notice. Therefore, the aspirant should regard everything that happens during concentration as sacred and should keep it strictly to himself.

Cũng đúng là bản chất của hào quang là vàng (không chỉ là màu sắc) và Con Người luôn ngồi trong màn sương tinh tế của nó. Chúng ta cũng nói “Im lặng là vàng.” Thật vậy, sự im lặng, hào quang và các phẩm tính của vàng có mối tương quan mạnh mẽ. Một truyền thuyết cổ kể rằng việc đào kho báu phải được thực hiện trong tĩnh lặng của đêm và trong sự im lặng tuyệt đối; chỉ cần thốt ra một từ trước khi kho báu được khai quật an toàn thì nó tất yếu sẽ biến mất. Đó là một dụ ngôn thần bí ám chỉ việc tìm kiếm sự soi sáng tinh thần. Nếu chúng ta ngồi lê đôi mách hay kể lại cho người khác nghe những trải nghiệm trong giai đoạn tập trung, chúng ta sẽ đánh mất chúng; vì chúng không thể chịu đựng sự truyền đạt bằng lời nói và sẽ tan biến thành hư vô. Qua tham thiền, chúng ta phải trích xuất từ những trải nghiệm ấy một tri thức đầy đủ về các định luật vũ trụ nền tảng. Khi đó chính trải nghiệm sẽ không còn được kể lại, vì chúng ta sẽ thấy nó chỉ là vỏ bọc che giấu hạt nhân giá trị. Định luật là giá trị phổ quát, điều này sẽ hiển nhiên ngay tức thì, vì nó sẽ giải thích những sự kiện trong đời, và dạy chúng ta cách tận dụng những điều kiện nhất định và tránh những điều khác. Định luật có thể được phát biểu công khai tuỳ theo quyết định của người khám phá, vì lợi ích của nhân loại. Khi ấy, trải nghiệm vốn đã hé lộ định luật sẽ được nhìn nhận đúng trong ánh sáng thật sự của nó như chỉ là mối quan tâm thoáng qua và không đáng để lưu ý thêm. Do đó, người chí nguyện nên coi mọi điều xảy ra trong suốt quá trình tập trung là điều thiêng liêng và nên giữ kín cho riêng mình.

If there is nothing else you can do but learn to sit in silence, you will find rewards enough in that process that will reassure you that your aura has begun to disseminate hugely. Silent periods enable the soul to grasp its vehicles and to enhance their aura.

Nếu không thể làm gì khác ngoài việc học cách ngồi trong tĩnh lặng, bạn cũng sẽ tìm thấy đủ phần thưởng trong tiến trình ấy để trấn an rằng hào quang của bạn đã bắt đầu phổ truyền một cách to lớn. Những khoảng thời gian im lặng cho phép linh hồn nắm bắt các vận cụ của nó và nâng cao hào quang của chúng.

Finally, beware of regarding the exercises as a burdensome task. Estimate them at their true worth: they are our highest privileges. Only when thus regarded can we do them justice and reap from them their full benefits.

Cuối cùng, hãy cẩn trọng đừng coi các bài tập như một gánh nặng. Hãy đánh giá chúng đúng với giá trị thực: đó là những đặc quyền cao cả nhất của chúng ta. Chỉ khi được nhìn nhận như thế, chúng ta mới có thể thực hiện chúng một cách xứng đáng và gặt hái đầy đủ lợi ích từ chúng.

8. Classical References to the Aura— Tài liệu tham khảo cổ điển về hào quang

There are many occult traditions about the human aura and mythology and religions have classical allusions to it. It was said that the aura of the Buddha extended some nine miles and his disciples could feel his presence at a great distance. When Moses descended from the Mountain of Sinai, the children of Israel noted an extraordinary light around him that was so intense that he could not be looked upon as he bore the stone tablets with the Ten Commandments inscribed upon them. Paul, on the way to Damascus, experienced a blinding light during his conversion to Christianity. The Golden Fleece is a mythological reference to the aura. Fleeces were used to trap gold in the mountain streams of Colchis. Man himself is a trap for the golden energies of the aura. The aura of the Christ was seen during the transfiguration of Jesus, when his raiment shone with a brightness that could not be equaled. The nimbus, seen around the heads of the Holy Family and of many of the saints in Renaissance pictures, is a tribute to their auras.

Có nhiều truyền thống huyền bí về hào quang của con người, và thần thoại cũng như các tôn giáo đều có những ám chỉ kinh điển về nó. Người ta nói rằng hào quang của Đức Phật lan rộng đến chín dặm và các đệ tử của Ngài có thể cảm nhận sự hiện diện của Ngài từ một khoảng cách rất xa. Khi Moses từ Núi Sinai xuống, con cái Israel nhận thấy một ánh sáng phi thường quanh ông, đến nỗi họ không thể nhìn thẳng vào ông khi ông mang theo các bia đá khắc Mười Điều Răn. Phao-lô, trên đường đến Damascus, đã trải nghiệm một luồng sáng chói loà trong lúc cải đạo sang Kitô giáo. Bộ lông Cừu Vàng là một ám chỉ mang tính thần thoại về hào quang. Người ta dùng lông cừu để giữ lại vàng trong các dòng suối núi ở Colchis. Con người tự thân cũng là một chiếc bẫy giữ lấy những năng lượng vàng của hào quang. Hào quang của Đức Christ đã được nhìn thấy trong sự biến hình của Đức Jesus, khi y phục của Ngài chiếu sáng với một độ rực rỡ không gì sánh được. Vầng hào quang, được nhìn thấy quanh đầu của Thánh Gia và của nhiều vị thánh trong các bức hoạ thời Phục Hưng, là sự tôn vinh dành cho hào quang của họ.

Medieval saints were surrounded with clouds of light. Some said that whilst he was at the altar, or kneeling in prayer, a brightness darted from the face of St John of the Cross:

Các thánh nhân Trung cổ được bao quanh bởi những đám mây ánh sáng. Người ta nói rằng khi Ngài ở bàn thờ hoặc đang quỳ cầu nguyện, một luồng sáng từ gương mặt của Thánh Gioan Thánh Giá bừng phát ra.

In Christian art, round the heads of saints and the sacred characters is to be found portrayed the halo or nimbus which is supposed to represent the aura; sometimes the luminous cloud is shown around the whole of the body as well as the head, when it is called the aureola. It is also thought that the colours of the body and the clothing in medieval paintings and stained glass are intended to portray the auric colours of the individual… The crowns and distinctive head-dresses worn by the kings and queens and priests of antiquity, are said to be symbolic of the aura.

Trong nghệ thuật Kitô giáo, quanh đầu của các vị thánh và những nhân vật thiêng liêng thường được vẽ vòng hào quang hoặc vầng sáng, vốn được cho là đại diện cho hào quang; đôi khi đám mây sáng được thể hiện quanh toàn thân cũng như quanh đầu, khi đó nó được gọi là hào quang toàn thể (aureola). Người ta cũng cho rằng màu sắc của cơ thể và y phục trong các bức tranh Trung cổ và tranh kính màu nhằm diễn tả màu sắc hào quang của cá nhân… Những vương miện và mũ đội đặc trưng của các vua chúa và tư tế thời cổ đại được cho là tượng trưng cho hào quang.

In many of the sacred books of the East representations of the great teachers and holy men are given with the light extending around the whole of the body. Instances of this may be found in the temple caves of India and Ceylon, in the Japanese Buddhistic books, also in Egypt, Greece, Mexico and Brazil.*

Trong nhiều sách thiêng liêng của phương Đông, các hình ảnh mô tả những bậc đạo sư và các bậc thánh nhân thường được thể hiện với ánh sáng lan toả quanh toàn thân. Có thể tìm thấy những ví dụ như vậy trong các hang động đền thờ ở Ấn Độ và Tích Lan, trong các sách Phật giáo Nhật Bản, cũng như ở Ai Cập, Hy Lạp, Mexico và Brazil.

* Encycopaedia Of Occultism by Lewis Spence. Citadel Press, New Jersey.

Encycopaedia Of Occultism của Lewis Spence, Citadel Press, New Jersey.

The Christ Force—Mãnh lực Christ

It is hard to find direct references to the aura in Christian teachings but this is understandable when there is so much wrong thinking about the nature of Christ. The Christ force may be better expressed as the movement of that energy we associate with healing and teaching. In a sense, all living things are receptive to it and are renewed by it according to the way in which their purpose on earth is in accord to the Divine Plan. The aura is a force-field in which the cosmic energies of the Christ have free-play as compared to the actual physical body wherein there is anything but freedom of Christ force to express itself effectively and invisibly. In healing, no matter how brilliant the presiding doctor, he merely assists in the process. This is true also of teachers and the act of teaching. In the end, wisdom is gained through a process of unveiling or in letting the Christ force through, rather than as a result of, say, repetitive learning. Even without the intervention of the healer and teacher the Christ force still acts as one of the archetypal streams that constantly raises living things towards Truth, Beauty and Goodness.

Rất khó để tìm thấy những tham chiếu trực tiếp về hào quang trong các giáo huấn Kitô giáo, nhưng điều này có thể hiểu được khi có quá nhiều sự hiểu sai về bản chất của Đức Christ. Lực Christ có thể được diễn đạt tốt hơn như là sự chuyển động của năng lượng mà chúng ta liên kết với sự chữa lành và giảng dạy. Theo một nghĩa nào đó, mọi sinh thể đều tiếp nhận được năng lượng này và được đổi mới bởi nó tuỳ theo mức độ mà mục đích sống trên trần gian của chúng phù hợp với Thiên Cơ. Hào quang là một trường mãnh lực trong đó các năng lượng vũ trụ của Đức Christ được tự do vận hành, so với thể xác hồng trần, nơi mà hầu như không có sự tự do để Lực Christ có thể biểu lộ một cách hiệu quả và vô hình. Trong chữa lành, bất kể vị bác sĩ chủ trì tài giỏi đến đâu, ông ta chỉ đơn thuần hỗ trợ tiến trình. Điều này cũng đúng với các huấn sư và hành động giảng dạy. Sau cùng, minh triết đạt được qua một tiến trình vén mở hay cho phép Lực Christ tuôn chảy, hơn là kết quả của, chẳng hạn, việc học tập lặp đi lặp lại. Ngay cả khi không có sự can thiệp của người chữa lành và người thầy, Lực Christ vẫn hoạt động như một trong những dòng chảy nguyên hình liên tục nâng đỡ mọi sinh thể hướng về Chân lý, Cái Đẹp và Điều Thiện.

Through the comprehension that man is basically a unit of energy (manifesting as bodies within the aura), we come to accept that “the Christ” is a cosmic force, not an anthropomorphic being, an aspect of Love-Wisdom and that the religious interpretations of this fact in terms of an historical personage like Jesus are merely masks hiding the divine.

Qua sự thấu hiểu rằng con người về căn bản là một đơn vị năng lượng (biểu lộ thành các thể trong hào quang), chúng ta đi đến sự chấp nhận rằng “Đức Christ” là một mãnh lực vũ trụ, không phải một hữu thể nhân hình, mà là một phương diện của Bác Ái–Minh triết; và rằng những diễn giải tôn giáo về sự thật này dưới hình thức một nhân vật lịch sử như Jesus chỉ là những chiếc mặt nạ che giấu điều thiêng liêng.

H.P. Blavatsky was always very clear about this matter. She said:

H.P. Blavatsky luôn luôn rất rõ ràng về vấn đề này. Bà nói:

I deny ‘in toto,’ the Christ invented by the Church, as well as all the doctrines, all the interpretations, and all the dogmas, ancient and modern, concerning that personage … I have the keenest aversion for the ‘Christolatry’ of the Churches. I hate those dogmas and doctrines which have degraded the ideal Christos by making of it an absurd and grotesque anthropomorphic fetish. Jesus, crucified, was nothing but an illusion, and his story an allegory. For me Jesus Christ, i.e., the Man-God of the Christians, copied from the Avatars of every country, from the Hindu Krishna as well as the Egyptian Horus, was never an historical person. He is a deified personification of the glorified type of the great Hierophants of the Temples, and his story as told in the New Testament is an allegory.

“Tôi phủ nhận hoàn toàn ‘Đức Christ’ do Giáo hội sáng chế, cũng như tất cả các giáo lý, mọi diễn giải và mọi giáo điều, cổ xưa lẫn hiện đại, liên quan đến nhân vật đó… Tôi cực kỳ ghét sự ‘sùng bái Christ’ của các Giáo hội. Tôi căm ghét những giáo điều và giáo lý đã làm suy đồi hình mẫu lý tưởng của Christos bằng cách biến nó thành một ngẫu tượng nhân hình lố bịch và phi lý. Jesus bị đóng đinh chẳng là gì ngoài một ảo ảnh, và câu chuyện về ông chỉ là một ngụ ngôn. Với tôi, Jesus Christ, tức là Con Người–Thần của các Kitô hữu, được sao chép từ các Đấng Hoá Thân ở mọi quốc gia, từ Krishna của Ấn Độ cũng như Horus của Ai Cập, chưa bao giờ là một nhân vật lịch sử. Ông ta là sự nhân cách hoá được thần thánh hoá của hình mẫu vinh quang của các Đại Tế sư của Đền thờ, và câu chuyện về ông được kể trong Tân Ước chỉ là một ngụ ngôn.”

And again she said that a divine Christ (or Christos) never existed under a human form outside the imagination of the blasphemers who have carnalised a universal and entirely impersonal principle.

Và bà lại nói rằng một Đức Christ thiêng liêng (hay Christos) chưa bao giờ hiện hữu dưới một hình tướng nhân loại bên ngoài trí tưởng tượng của những kẻ phạm thượng đã vật chất hoá một nguyên lý phổ quát và hoàn toàn vô ngã.

There are several ways by which the Christ force can be encouraged into the auric force fields of Man. The holding of the consciousness in the region of the brow and the focus of attention on any object visualised within the “sacred square inch” of the brow, opens the aura to a tremendous input of the Chirst force which can then be channelled to others in healing and teaching. St Paul put is clearly: If thine eye be single, thy whole body shall be filled with light. If you bring both your eyes to a single point in concentration you will be flooded with the light of the Christ force.

Có nhiều cách để Lực Christ có thể được khích lệ tuôn nhập vào các trường hào quang của Con Người. Việc giữ tâm thức trong vùng ấn đường và tập trung sự chú ý vào bất kỳ đối tượng nào được hình dung trong “tấc vuông thiêng liêng” của ấn đường mở ra hào quang để tiếp nhận một dòng nhập vào to lớn của Lực Christ, vốn sau đó có thể được dẫn truyền đến người khác trong sự chữa lành và giảng dạy. Thánh Phao-lô đã nói rõ: “Nếu mắt ngươi chỉ là một, thì cả thân thể ngươi sẽ tràn đầy ánh sáng.” Nếu bạn tập trung cả hai mắt vào một điểm duy nhất, bạn sẽ được tràn ngập bởi ánh sáng của Lực Christ.

Hylozoism and the Aura—Hoạt vật luận và hào quang

In his work The Jewel in the Lotus the author has given seven great postulates which lie at the basis of human growth out of his own kingdom into the higher. The first of these is that of Hylozoism. It proposes that all things are alive, from the tiniest atom to the greatest planet. This is not a new idea. Aristotle taught it and so did the Christian church leader Origen. It is a postulate that must be ‘realised’ and the moment we can conceive that a thing lives, say a piece of quartz crystal, then our consciousness unites somewhat with that other living being and there is a corresponding growth of our own aura into its:

Trong tác phẩm The Jewel in the Lotus, tác giả đã đưa ra bảy tiên đề vĩ đại làm nền tảng cho sự trưởng thành của con người vượt ra khỏi vương quốc của y để bước vào những cảnh giới cao hơn. Tiên đề đầu tiên trong số đó là Hylozoism. Nó khẳng định rằng mọi sự đều sống động, từ nguyên tử nhỏ bé nhất cho đến hành tinh vĩ đại nhất. Đây không phải là một ý tưởng mới. Aristotle đã dạy điều đó và nhà lãnh đạo Kitô giáo Origen cũng vậy. Đây là một tiên đề cần phải được “thực chứng,” và ngay khoảnh khắc chúng ta có thể quan niệm rằng một sự vật sống động, chẳng hạn một mảnh tinh thể thạch anh, thì tâm thức của chúng ta phần nào hợp nhất với sinh thể sống kia, và có một sự tăng trưởng tương ứng của chính hào quang chúng ta vào trong hào quang của nó:

O Hidden Life! vibrant in every atom;

Ôi Sự sống Ẩn giấu! rung động trong mọi nguyên tử;

O Hidden Light! shining in every creature;

Ôi Ánh sáng Ẩn giấu! chiếu sáng trong mọi sinh thể;

O Hidden Love! embracing all in oneness;

Ôi Tình thương Ẩn giấu! ôm trọn tất cả trong sự duy nhất;

May each who feels himself one with Thee

Nguyện cho mỗi người cảm thấy mình là một với Ngài

Know that he is therefore one with every other.

Biết rằng nhờ đó y cũng là một với mọi sinh linh khác.

Shanti Kumar

Shanti Kumar