THE INTERVALS BETWEEN LIVES—NHỮNG KHOẢNG NGHỈ GIỮA CÁC KIẾP SỐNG
A certain amount of misconception exists among students with regard to the average interval which elapses between two incarnations. It seems probable that we misunderstood the information given on this subject in the early days of the Society, and the statements then made have been copied without comment even into some of the later books. Most of the closer students have come to know more or less accurately the facts of the case, but so far as I am aware nothing resembling a tabulation of averages for the various classes of egos has yet been published.
Giữa các đạo sinh có một mức độ ngộ nhận nhất định liên quan đến khoảng nghỉ trung bình giữa hai lần lâm phàm. Có vẻ như chúng ta đã hiểu sai các thông tin được ban cho về chủ đề này trong những ngày đầu của Hội, và các phát biểu khi ấy đã được chép lại nguyên văn, thậm chí cả trong một số sách xuất bản về sau, mà không kèm bình giải. Phần lớn những đạo sinh đào sâu hơn đã biết được ít nhiều chính xác các sự kiện của vấn đề, nhưng theo như tôi được biết, cho đến nay vẫn chưa hề có điều gì giống như một bảng thống kê các trị số trung bình dành cho các hạng chân ngã khác nhau được công bố.
At the end of the chapter on the heaven-world (then called devachan) in Mr. Sinnett’ s monumental work Esoteric Buddhism, the statement is made that the whole period between death and the next physical birth varies greatly in the case of different persons, but rebirth in less than fifteen hundred years is spoken of as almost impossible, while the stay in devachan which rewards a very rich karma is said sometimes to extend to enormous periods. This statement is based upon passages in the same letters from which is derived all the rest of this most interesting book, and there is no question whatever that Mr. Sinnett has quite accurately reported what was told to him. The same general idea is put forward by Madame Blavatsky in The Secret Doctrine (ii. 317): “Let us remember that, save in the case of young children and of individuals whose lives have been violently cut off by some accident, no spiritual entity can reincarnate before a period of many centuries has elapsed.”
Cuối chương nói về cõi thượng thiên (lúc ấy gọi là devachan) trong tác phẩm đồ sộ Phật giáo Huyền Môn của Ông Sinnett, có phát biểu rằng toàn bộ thời kỳ giữa cái chết và lần sinh hồng trần kế tiếp biến thiên rất lớn tuỳ từng người; tái sinh trong thời gian ít hơn một nghìn năm trăm năm được nói đến như hầu như không thể có, trong khi thời gian lưu tại devachan để đáp đền một nghiệp quả hết sức phong phú đôi khi kéo dài tới những giai đoạn to tát. Lời phát biểu này dựa trên các đoạn trong cùng những bức thư vốn là nguồn cho mọi phần còn lại của cuốn sách thú vị bậc nhất này, và hoàn toàn không có gì phải nghi ngờ rằng Ông Sinnett đã thuật lại rất chính xác điều đã được nói với ông. Cùng ý tưởng tổng quát ấy được Bà Blavatsky nêu ra trong Giáo Lý Bí Nhiệm (quyển ii, tr. 317): “Chúng ta hãy ghi nhớ rằng, trừ những trường hợp trẻ nhỏ và những cá nhân có đời sống bị cắt đứt một cách bạo liệt bởi tai nạn nào đó, không một thực thể tinh thần nào có thể tái sinh trước khi nhiều thế kỷ đã trôi qua.”
In those earlier days we took this fifteen hundred years as an average for humanity, but later investigations have clearly shown us that it could not have been meant exactly in that way. To make the statement square with the observed facts, it must be either greatly limited or greatly extended. If confined to a small group of the most advanced of the human race it would be approximately correct; and on the other hand, if it were extended to include not only humanity but the vast hosts of the deva kingdom, it might again be taken as coming very near to the truth. In the case of the quotation from The Secret Doctrine the expression spiritual entities may be read as implying that Madame Blavatsky was speaking only of highly developed persons; but the passage from Esoteric Buddhism gives us fifteen hundred years almost as a minimum.
Trong những ngày đầu ấy, chúng ta đã xem con số một nghìn năm trăm như là một trị số trung bình cho nhân loại, nhưng các khảo sát về sau đã cho thấy rõ rằng điều đó hẳn đã không được hiểu chính xác theo cách như vậy. Để cho lời phát biểu phù hợp với các sự kiện quan sát được, hoặc phải giới hạn nó rất đáng kể, hoặc phải mở rộng nó rất đáng kể. Nếu chỉ giới hạn cho một nhóm nhỏ thuộc những người tiến bộ nhất của nhân loại, thì nó sẽ gần đúng; và ở mặt khác, nếu mở rộng để bao gồm không chỉ nhân loại mà còn cả các đoàn thể đông đảo của giới thiên thần, thì nó lại có thể được xem là rất gần với chân lý. Trong trường hợp trích dẫn từ Giáo Lý Bí Nhiệm, cụm từ các thực thể tinh thần có thể được hiểu ngụ ý rằng Bà Blavatsky chỉ nói về những người phát triển cao; nhưng đoạn trích từ Phật giáo Huyền Môn lại đưa ra con số một nghìn năm trăm năm hầu như như là mức tối thiểu.
We are given to understand that the letters upon which Esoteric Buddhism was founded were written by various pupils of the Masters under Their general direction; and so, while there is plenty of room for inaccuracies to creep in (as we know that they have crept in) it is impossible to suppose that the writers did not know facts quite readily accessible to anyone who can watch the process of reincarnation. We must remember that the letter was written not to the world at large but quite definitely to Mr. Sinnett, with possibly a view to the few others who were at that time studying with him. To state such an average for them would be reasonably exact, and perhaps this is what was done; but we certainly cannot accept it as the mean proportion for the whole human race at the present time.
Chúng ta được hiểu rằng những bức thư làm nền tảng cho Phật giáo Huyền Môn được viết bởi nhiều môn đồ khác nhau của các Chân sư dưới sự chỉ đạo chung của Các Ngài; bởi vậy, dù vẫn có nhiều chỗ cho những sai lệch lọt vào (như chúng ta biết là đã có), thì không thể nào giả định rằng những người viết không biết những sự kiện vốn sẵn sàng trong tầm nhận thức của bất kỳ ai có thể quan sát tiến trình tái sinh. Chúng ta phải nhớ rằng bức thư ấy không được viết cho toàn thế giới nói chung, mà rõ ràng là viết cho Ông Sinnett, có thể là với cái nhìn đến một vài người khác lúc bấy giờ cũng đang học với ông. Đưa ra một trị số trung bình như vậy cho nhóm người ấy sẽ là tương đối chính xác, và có lẽ đó chính là điều đã được làm; nhưng chúng ta chắc chắn không thể chấp nhận nó như là con số trung bình cho toàn thể nhân loại trong thời điểm hiện tại.
It is probably impossible to arrive at a really accurate average, for in order to do that it would be necessary to know at least approximately the number in each of the different classes of monads. Something of the nature of an estimate for each of the main classes may be given, though even then it must be remembered that there will necessarily be wide individual variations on each side of it.
Có lẽ không thể đạt đến một trị số trung bình thật sự chính xác, vì để làm được điều đó thì ít nhất cần biết gần đúng số lượng trong mỗi hạng chân thần khác nhau. Tuy vậy, có thể đưa ra một loại ước lượng cho mỗi hạng chính, dẫu ngay cả khi ấy cũng phải nhớ rằng tất sẽ có các sai biệt cá nhân rất rộng ở mỗi phía.
Three principal factors have to be taken not account; the class to which an ego belongs, the mode in which he has attained individualisation, and the length and nature of his last life. Let us then take up the various classes of humanity in their order, using the nomenclature decided upon by Mrs. Besant in the table facing page 213.
Ba yếu tố chủ yếu phải được tính đến: hạng mà một chân ngã thuộc về, cách thức y đạt đến biệt ngã hóa, và độ dài cùng tính chất của đời sống gần nhất của y. Vậy, chúng ta hãy lần lượt xét các hạng người trong nhân loại theo trật tự của chúng, sử dụng thuật ngữ do Bà Besant ấn định trong bảng đối diện trang 213.
Lords of the Moon
Các Nguyệt tinh quân
At the head of that list appear the Lords of the Moon—those who attained the arhat level at some time or other during the evolution of the moon-chain. For that humanity, as for all others, seven paths open when they have attained the level assigned to their chain; and in this case one of those paths brought a certain proportion of the Lords of the Moon over to the earth-chain to direct the earlier stages of its evolution. All of these, however, have long since attained adeptship, and we need therefore take no account of them in the consideration of our present subject.
Đứng đầu danh sách ấy là các Nguyệt tinh quân—những vị đã đạt cấp độ A‑la‑hán vào một thời kỳ nào đó trong quá trình tiến hoá của Dãy Mặt Trăng. Với nhân loại ấy, cũng như với mọi nhân loại khác, bảy con đường mở ra khi họ đạt đến cấp độ dành cho Dãy của họ; và trong trường hợp này, một trong những con đường ấy đã đưa một tỷ lệ nhất định các Nguyệt tinh quân sang Dãy Địa Cầu để chỉ đạo các giai đoạn sơ kỳ của sự tiến hoá nơi đây. Tuy nhiên, tất cả những vị này từ lâu đã đạt đến địa vị chân sư, nên trong việc xét chủ đề hiện tại, chúng ta không cần tính đến các Ngài.
Moon-Men. (First Order)
Nguyệt nhân. (Đệ Nhất Đẳng)
The next class is the first order of the Moon-men, and that is a class so large and varied that it will be necessary for us to discuss it in the several subdivisions given in the chapter on monads from the moon.
Hạng kế là đệ nhất đẳng của Nguyệt nhân, một hạng đông đảo và dị biệt đến mức sẽ cần bàn trong những tiểu phân nhóm được nêu trong chương về các chân thần đến từ Mặt Trăng.
1 & 2. The first class, as given there, includes those who even on the moon-chain were already on the Path; and the second consists of those who were individualised in the fourth round of the moon-chain. In our present chapter we need not consider either of these classes, since their members have attained adeptship, and so the question of incarnations and the intervals between them no longer concerns them.
1 & 2. Hạng thứ nhất, như đã nêu ở đó, gồm những người ngay trên Dãy Mặt Trăng đã ở trên Thánh Đạo; và hạng thứ hai gồm những người đã được biệt ngã hóa trong cuộc tuần hoàn thứ tư của Dãy Mặt Trăng. Trong chương hiện tại, chúng ta không cần xét đến hai hạng này, vì các thành viên của họ đã đạt địa vị chân sư, và do vậy vấn đề các lần lâm phàm và khoảng nghỉ giữa chúng không còn liên quan đến họ nữa.
3. Those who attained individualisation in the fifth round of the moon-chain.
3. Những người đạt biệt ngã hóa trong cuộc tuần hoàn thứ năm của Dãy Mặt Trăng.
Among these, those who are already on the Path are usually taking a continuous succession of incarnations, so that for them the question of the interval between lives does not arise. If, however, they are for some reason not as yet taking the special series of lives which usually follows upon initiation, their intervals are very long—probably at the least fifteen hundred or two thousand years, or even more. Though not so usual as the series of rapid incarnations, this does sometimes occur; for among the cases known to us those who passed the first initiation some considerable time ago, one ego has been taking successive incarnations in physical life ever since, with scarcely any break, while another has been away from physical life for two thousand three hundred years; and yet the result so far as progress on the Path is concerned seems to have been exactly the same.
Trong số này, những ai đã ở vào Thánh Đạo thường đang liên tục đảm nhận các lần lâm phàm nối tiếp, nên đối với họ, vấn đề khoảng nghỉ giữa các đời không đặt ra. Tuy nhiên, nếu vì lý do nào đó họ chưa nhận chuỗi đời đặc biệt vốn thường theo sau điểm đạo, thì khoảng nghỉ của họ rất dài—có lẽ ít nhất là một nghìn năm trăm hay hai nghìn năm, thậm chí hơn. Dẫu không phổ biến bằng chuỗi lâm phàm nhanh, điều này vẫn đôi khi xảy ra; vì trong những trường hợp chúng ta biết, giữa những vị đã vượt qua lần điểm đạo thứ nhất cách một thời gian đáng kể, có một chân ngã đã liên tiếp thọ sinh trong cõi hồng trần từ đó đến nay hầu như không ngưng nghỉ, trong khi một vị khác đã rời đời sống hồng trần đến hai nghìn ba trăm năm; thế mà kết quả xét về tiến bộ trên Thánh Đạo dường như vẫn hoàn toàn như nhau.
The apportioning of the different stages of a long interval like this varies considerably in different cases. The stay upon the astral plane is short, or the ego may even pass through it rapidly and unconsciously. Most of the time is passed in the highest level of the heaven-world, and then, after that is over, a certain proportion of conscious life in the causal body precedes the next descent into birth. This life of the ego on its own plane is at this stage only about one-tenth of the entire interval between the earth-lives. But this again is a matter in which no two instances are alike.
Việc phân bổ các giai đoạn khác nhau của một khoảng nghỉ dài như thế này biến thiên đáng kể trong các trường hợp khác nhau. Thời gian lưu tại cõi cảm dục là ngắn, hoặc chân ngã thậm chí có thể đi qua đó một cách nhanh chóng và vô thức. Phần lớn thời gian được trải qua ở tầng cao nhất của cõi thượng thiên, rồi sau khi điều đó chấm dứt, một tỷ lệ nhất định đời sống có ý thức trong thể nguyên nhân sẽ đi trước lần giáng sinh kế tiếp. Ở giai đoạn này, đời sống của chân ngã trên chính cõi của mình chỉ vào khoảng một phần mười toàn bộ khoảng nghỉ giữa các đời hồng trần. Nhưng đây lại là điều mà không có hai trường hợp nào giống nhau.
In the case of those who are approaching the Path the general interval is not far from twelve hundred years if the ego has been individualised slowly by intellectual development, and is therefore passing through its blissful experiences at the ordinary rate. If, however, the ego has been individualised suddenly by a rush of emotion or by a stupendous effort of will, and is consequently taking his bliss in the more concentrated form, his interval is about seven hundred years. Both these types are little likely to stay long upon the astral plane; probably five years represents for them an astral life of fair average duration. At the other end of their stay in the heaven-world there most likely comes a certain period of conscious life in the ego on its own plane, but this does not exceed half a-century at most.
Đối với những người đang tiến gần Thánh Đạo, khoảng nghỉ nói chung không xa con số một nghìn hai trăm năm nếu chân ngã đã được biệt ngã hóa chậm qua sự phát triển trí tuệ, và vì vậy đang trải nghiệm phúc lạc của mình theo nhịp độ thông thường. Nhưng nếu chân ngã đã được biệt ngã hóa đột ngột bởi một cơn bộc phát tình cảm hay bởi một nỗ lực ý chí phi thường, và do đó đang thụ hưởng phúc lạc theo hình thức cô đọng hơn, thì khoảng nghỉ của y vào khoảng bảy trăm năm. Cả hai kiểu này đều ít có khuynh hướng lưu lâu ở cõi cảm dục; có lẽ năm năm là con số đại diện cho một đời sống cảm dục có độ dài trung bình công bằng đối với họ. Ở đầu kia của thời gian lưu tại cõi thượng thiên, rất có thể sẽ có một giai đoạn nhất định đời sống có ý thức của chân ngã trên chính cõi của mình, nhưng điều này tối đa cũng không vượt quá nửa thế kỷ.
During their more recent lives we find that it has been the tendency of those people who take the normal interval of twelve hundred years to incarnate successively in the different sub-races. Often we find them running twice through the same set of sub-races, first in male and then in female vehicles, or vice versa.
Trong các đời gần đây của họ, chúng ta nhận thấy khuynh hướng nơi những người lấy khoảng nghỉ thông thường là một nghìn hai trăm năm là đầu thai nối tiếp qua các giống dân phụ khác nhau. Thường thấy họ đi hai lần qua cùng một chuỗi giống dân phụ, lần đầu trong vận cụ nam rồi đến vận cụ nữ, hoặc ngược lại.
The fates of various people differ greatly. Some go on steadily life after life, but nothing particular happens to them. Others are constantly in trouble, shock following shock; and yet both are advancing along the line which is best for them. It often happens that if a man dies young, he is born again in the same sub-race, and when a man goes round the sub-races twice, he usually takes the other sex on the second journey. Broadly speaking, the Indians represent the first sub-race of the Aryan root-race, the Arabs the second, the Parsis the third, the Romance nations the fourth and the Teutons the fifth. If a man takes a birth in France, he does not need one in Italy or Spain, and the same is true of Germany and England.
Số phận của các hạng người khác nhau dị biệt rất lớn. Có người cứ đều đặn tiếp nối đời này qua đời khác mà chẳng có điều gì đặc biệt xảy đến với họ. Có người thì liên tục gặp tai ương, hết cú sốc này đến cú sốc khác; thế mà cả hai hạng đều đang tiến bước theo đường lối tốt nhất cho họ. Thường xảy ra rằng nếu một người chết trẻ, y sẽ tái sinh trong cùng một giống dân phụ; và khi một người đi vòng qua các giống dân phụ hai lần, y thường nhận giới tính kia trong chuyến đi thứ hai. Nói rộng ra, người Ấn Độ đại diện cho giống dân phụ thứ nhất của giống dân gốc Arya, người Ả Rập là giống dân phụ thứ hai, người Parsi là giống dân phụ thứ ba, các dân tộc Rômanh là giống dân phụ thứ tư, và người Teuton là giống dân phụ thứ năm. Nếu một người thọ sinh ở Pháp, y không nhất thiết cần một đời ở Ý hay Tây Ban Nha, và điều tương tự cũng đúng cho Đức và Anh.
Students taking the seven hundred years interval seem to have more the habit of attaching themselves to one sub-race and returning to it whenever possible, and diverging into others only occasionally in order to develope special qualities. As a general rule successive incarnations in the same race intensify its characteristics; equilibrium is brought about by incarnating in various races, or by travel and living among different people. With regard to this matter, the idiosyncrasies of the ego play a considerable part. I mentioned elsewhere how the strong prepossession in the mind of the Jews that they are a special and chosen people tends to bring them back into the same race; and pride of race generally, if unusually intense, is likely to work in that direction.
Những người thuộc khoảng gián cách bảy trăm năm dường như có thói quen gắn bó hơn với một giống dân phụ và quay lại với nó bất cứ khi nào có thể, chỉ thỉnh thoảng rẽ sang các giống dân phụ khác để phát triển những phẩm tính đặc thù. Như một quy tắc chung, những lần lâm phàm liên tiếp trong cùng một chủng tộc sẽ tăng cường các đặc trưng của nó; sự quân bình được đem lại bằng cách đầu thai trong nhiều chủng tộc khác nhau, hoặc bằng việc du hành và sống giữa các dân tộc khác biệt. Về phương diện này, những tính dị biệt của chân ngã đóng vai trò đáng kể. Tôi đã nhắc nơi khác rằng sự thiên chấp mạnh mẽ trong tâm trí người Do Thái cho rằng họ là một dân tộc đặc biệt và được tuyển chọn có xu hướng đưa họ quay lại cùng một chủng tộc; và niềm kiêu hãnh về chủng tộc nói chung, nếu quá mãnh liệt, cũng có khả năng tác động theo chiều hướng ấy.
Even pride of family is not without its result also, and I have known of several cases in which, when abnormally developed, it has brought the ego back into the line of his direct descendants two or three times before he got free. In the beginning of these studies it was given to us as a general rule that a man usually takes not less than three and not more than seven incarnations in one sex before passing over to the other. Although the many researches which we have since undertaken have to a large extent confirmed this general rule, they have also shown us a great number of exceptions to it, some people taking long lines of incarnations in one sex before turning to the other, and others for a time incarnating alternately in male and female bodies; but most of these were in the case of egos who were already advanced somewhat beyond the average, and were therefore probably receiving special treatment.
Ngay cả niềm tự hào gia tộc cũng không phải là không có hệ quả, và tôi đã biết vài trường hợp mà khi được nuôi dưỡng một cách bất thường, nó đã đưa chân ngã trở lại dòng của các hậu duệ trực hệ của y hai hoặc ba lần trước khi y thoát ra được. Vào thời kỳ khởi đầu của những khảo cứu này, chúng ta được ban như một quy tắc chung rằng một người thường không nhận ít hơn ba và không nhiều hơn bảy lần lâm phàm trong một giới tính trước khi chuyển sang giới tính kia. Dù nhiều cuộc khảo sát mà chúng ta đã thực hiện từ đó đến nay phần lớn đã xác nhận quy tắc chung này, chúng cũng cho thấy vô số ngoại lệ, có người nhận những chuỗi dài lâm phàm trong một giới tính trước khi quay sang giới tính kia, lại có người trong một thời gian thì luân phiên đầu thai vào thân nam rồi thân nữ; nhưng phần nhiều những trường hợp ấy thuộc các chân ngã đã tiến bộ vượt trên mức trung bình đôi chút, và do vậy có lẽ đang nhận sự sắp đặt đặc thù.
Evidently there is no hesitation in modifying the general rule to suit particular cases, when for any reason that is seen to be desirable. Though the laws governing reincarnation are allowed to work mechanically upon the vast majority of undeveloped egos, it seems clear from the instances observed that as soon as any one ego makes a little progress of any sort and so becomes hopeful from the evolutionary point of view, considerable elasticity is introduced into the arrangements, and within certain definite limits he is born into the sex, race and conditions which are best suited to give him an opportunity of strengthening the weak points in his character.
Hiển nhiên không có sự do dự trong việc điều chỉnh quy tắc chung để thích ứng các trường hợp riêng lẻ, khi vì một lý do nào đó điều ấy được thấy là đáng mong muốn. Dẫu các định luật chi phối tái sinh được để cho vận hành một cách cơ học trên đại đa số những chân ngã chưa phát triển, có vẻ rõ ràng qua các trường hợp quan sát được rằng ngay khi bất kỳ một chân ngã nào tiến bộ đôi chút theo bất kỳ cách nào, và vì thế trở nên đáng hy vọng từ quan điểm tiến hoá, thì sự linh hoạt đáng kể được đưa vào những sắp đặt, và trong những giới hạn nhất định, y được sinh vào giới tính, chủng tộc và hoàn cảnh thích hợp nhất để cho y cơ hội củng cố những điểm yếu trong Tính cách.
In the case of men who have distinguished themselves greatly along artistic, scientific or religious lines, the interval is usually much the same, though the apportioning may differ slightly. The general tendency is to a longer astral and a shorter causal life, especially in the case of the religious and the artistic. A great philosopher sometimes enormously extends his life in the heaven-world; I remember that Madame Blavatsky has somewhere stated that Plato would be likely to stay away from earth for at least ten thousand years, though I imagine that this is an entirely exceptional ease.
Đối với những người đã nổi bật một cách lớn lao theo các đường hướng nghệ thuật, khoa học hoặc tôn giáo, khoảng nghỉ thường vẫn tương tự, dù việc phân bổ có thể hơi khác. Khuynh hướng chung là đời sống cảm dục dài hơn và đời sống nguyên nhân ngắn hơn, đặc biệt trong trường hợp tôn giáo và nghệ thuật. Một triết gia vĩ đại đôi khi kéo dài đời sống nơi cõi thượng thiên tới mức rất lớn; tôi nhớ rằng Bà Blavatsky đã từng nói ở đâu đó rằng Plato có khả năng vắng mặt khỏi trần gian ít nhất mười nghìn năm, dẫu tôi hình dung đó hoàn toàn là một trường hợp ngoại lệ.
4. Those who attained individualisation in the sixth round of the moon-chain; typical examples of whom are the country gentlemen and professional men.
4. Những người đạt biệt ngã hóa trong cuộc tuần hoàn thứ sáu của Dãy Mặt Trăng; ví dụ điển hình là các địa chủ thôn quê và giới chuyên nghiệp.
Their intervals vary greatly, say from six hundred to a thousand years, of which perhaps twenty or twenty-five may be spent upon the astral plane, and all the rest in various stages of the heaven-world. There is probably just a touch of consciousness in the ego on its own plane, but only a touch.
Khoảng nghỉ của họ biến thiên rất lớn, nói khoảng từ sáu trăm đến một nghìn năm, trong đó có lẽ hai mươi hay hai mươi lăm năm được trải qua nơi cõi cảm dục, và toàn bộ phần còn lại ở các tầng khác nhau của cõi thượng thiên. Rất có thể chỉ có một nét chạm nhẹ của ý thức nơi chân ngã trên chính cõi của mình, nhưng chỉ là một nét chạm.
5. Those who individualised in the seventh round of the moon-chain—the upper middle class. This class generally has an interval between lives of perhaps five hundred years, of which about twenty-five are passed on the astral plane and the rest in the heaven-world. In such a case there is no conscious life in the causal body, though of course, like all other human beings, they have the flash of memory and of prescience which is always vouchsafed to each ego when he touches his own plane between two physical incarnations.
5. Những người biệt ngã hóa trong cuộc tuần hoàn thứ bảy của Dãy Mặt Trăng—tầng lớp trung lưu thượng tầng. Hạng này nói chung có khoảng nghỉ giữa các đời vào khoảng năm trăm năm, trong đó chừng hai mươi lăm năm ở cõi cảm dục và phần còn lại ở cõi thượng thiên. Trong trường hợp như vậy không có đời sống có ý thức trong thể nguyên nhân, dẫu dĩ nhiên, như mọi con người khác, họ đều có tia chớp ký ức và linh tri vốn luôn được ban cho mỗi chân ngã khi y chạm vào cõi riêng của mình giữa hai lần đầu thai hồng trần.
Moon-men, Second Order. The bourgeoisie. Their interval between lives is commonly two hundred to three hundred years, of which about forty are usually spent upon the astral plane, and the rest in the lower levels of the heaven-world.
Nguyệt nhân, Đệ Nhị Đẳng. Tầng lớp trưởng giả. Khoảng nghỉ giữa các đời của họ thường là từ hai trăm đến ba trăm năm, trong đó khoảng bốn mươi năm thường được trải qua nơi cõi cảm dục, và phần còn lại ở các tầng thấp của cõi thượng thiên.
In this, as in all the other types, individualisation may have been obtained by intelligence or by emotion, and there will be a corresponding difference in the average length of the intervals between successive incarnations, but in all these lower classes the difference caused by the mode of individualisation is much less in proportion than in the higher class.
Trong hạng này, như trong mọi hạng khác, biệt ngã hóa có thể đạt được bằng trí tuệ hoặc bằng tình cảm, và sẽ có một khác biệt tương ứng trong độ dài trung bình của những khoảng nghỉ giữa các lần lâm phàm nối tiếp; nhưng ở tất cả các hạng thấp này, sự khác biệt do cách thức biệt ngã hóa gây ra nhỏ hơn nhiều, xét theo tỷ lệ, so với hạng cao hơn.
Moon Animal-men. The pioneers of the first round of the earth-chain, represented now by the skilled workers of the world. Such men have usually an interval between lives varying from one hundred to two hundred years, about forty of which are spent on the middle level of the astral plane, and the rest on some of the lower sub-planes of the heaven-world.
Nguyệt thú‑nhân. Những người tiên phong của cuộc tuần hoàn thứ nhất của Dãy Địa Cầu, hiện nay được đại diện bởi những công nhân lành nghề của thế giới. Những người như vậy thường có khoảng nghỉ giữa các đời biến thiên từ một trăm đến hai trăm năm, trong đó khoảng bốn mươi năm ở tầng giữa của cõi cảm dục, và phần còn lại ở vài phân cõi thấp của cõi thượng thiên.
Moon-animals, First class. Now the un-skilled labourers.
Nguyệt thú, Đệ Nhất Đẳng. Nay là những lao động phổ thông.
Their interval between lives varies from sixty to a hundred years, of which from forty to fifty are spent on the lower parts of the astral plane, and the remainder on the lowest division of the heaven-world.
Khoảng nghỉ giữa các đời của họ biến thiên từ sáu mươi đến một trăm năm, trong đó từ bốn mươi đến năm mươi năm ở các phần thấp của cõi cảm dục, và phần còn lại ở phân khu thấp nhất của cõi thượng thiên.
Moon-animals, Second class. The drunkards and the unemployable.
Nguyệt thú, Đệ Nhị Đẳng. Những kẻ nghiện rượu và những người không thể thuê mướn.
Such people are generally absent from the world some forty or fifty years, which they spend entirely on the astral plane—usually on the lowest subdivision but one.
Những người như vậy thường vắng mặt khỏi thế gian khoảng bốn mươi hay năm mươi năm, thời gian này họ hoàn toàn trải qua nơi cõi cảm dục—thường ở phân cõi thấp nhất trừ một (tức tầng áp chót).
Moon-animals, Third class. The lowest of humanity.
Nguyệt thú, Đệ Tam Đẳng. Tầng thấp nhất của nhân loại.
Their interval between lives is often about five years, spent on the lowest sub-plane of the astral—unless they are earth-bound by crime, which not infrequently happens.
Khoảng nghỉ giữa các đời của họ thường vào khoảng năm năm, trải qua ở phân cõi thấp nhất của cõi cảm dục—trừ khi họ bị trói buộc với cõi trần do tội ác, điều vốn không hiếm khi xảy ra.
In all the cases mentioned above, a certain difference is produced by the mode of individualisation, but this difference is much less in proportion in the lower classes. Still on the whole those individualised through intellect tend always to take the longer of the two intervals mentioned as possible for them, whereas those who come along other paths tend to take the shorter.
Trong tất cả những trường hợp được nêu ở trên, có một khác biệt nhất định do cách thức biệt ngã hóa gây nên, nhưng khác biệt này nhỏ hơn nhiều, xét theo tỷ lệ, ở các hạng thấp. Tuy nhiên, nhìn chung, những người được biệt ngã hóa qua trí tuệ thì luôn có xu hướng nhận khoảng nghỉ dài hơn trong hai khoảng được nêu là khả hữu cho họ, trong khi những người đi theo các con đường khác lại có xu hướng nhận khoảng nghỉ ngắn hơn.
A third factor which exercises great influence is the length and nature of the individual life. Obviously an ego who casts aside his physical body in childhood has not had the opportunity in that body to generate a sufficient amount of spiritual force to keep him on the higher planes for the length of time common to his type. Generally speaking, then, a man who dies young will have a shorter interval than his neighbour who lives to old age. Generally speaking, again, the man dying young is likely to have a greater proportion of astral life, because most of the strong emotions which work themselves out in astral life are generated in the earlier part of the physical existence, whereas the more spiritual energy which finds its result in the heaven-life is likely to continue until the end or near the end of the period spent upon earth.
Yếu tố thứ ba có ảnh hưởng lớn là độ dài và tính chất của đời sống cá nhân. Hiển nhiên một chân ngã vứt bỏ thể xác khi còn thơ ấu đã không có cơ hội trong thân xác ấy để tạo ra một lượng mãnh lực tinh thần đủ để giữ y trên các cõi cao trong thời gian dài thường thấy nơi hạng của y. Nói chung, người chết trẻ sẽ có khoảng nghỉ ngắn hơn so với người hàng xóm sống đến tuổi già. Cũng nói chung, người chết trẻ có khả năng có tỷ lệ đời sống cảm dục lớn hơn, bởi lẽ phần lớn các xúc cảm mãnh liệt được triển khai trong đời sống cảm dục vốn phát sinh ở phần đầu của cuộc sống hồng trần, trong khi năng lượng tinh thần cao hơn tìm thấy kết quả ở đời sống thiên giới thường kéo dài cho đến cuối hoặc gần cuối thời gian sống trên trần thế.
The character of the man during his earth-life is a consideration of the utmost importance. Some men lead a long life in which there is scarcely anything of spirituality, and that naturally tends to shorten the interval between their incarnations and brings it far below what is common for their class. Probably, too, in such a case quite an undue proportion of the interval would be spent on the astral plane. The averages given, therefore, are only averages, and it must be clearly understood that a wide range on each side of them is usually possible, so that the various classes may considerably over-lap one another.
Phẩm hạnh của con người trong đời sống hồng trần là một yếu tố quan trọng bậc nhất. Có người sống lâu nhưng hầu như chẳng có gì của tính chất tinh thần, và điều đó tự nhiên làm ngắn khoảng nghỉ giữa các lần lâm phàm của họ, đưa nó xuống thấp hơn hẳn mức phổ biến cho hạng của họ. Có lẽ, trong trường hợp như vậy, một phần tỷ lệ quá mức của khoảng nghỉ sẽ được trải qua ở cõi cảm dục. Vì thế, các trị số được nêu chỉ là những trị số trung bình, và phải hiểu rõ rằng một biên độ rộng ở mỗi phía thường là khả hữu, đến nỗi các hạng khác nhau có thể chồng lấp nhau khá nhiều.
We have only recently come to understand the importance, in this regard, of strong mutual affection. From our study of past lives it has become clear to us that egos are closely associated in families or group, and that this connection tends on the whole to equalise the intervals between the lives of the members of such a group. It is evidently considered necessary that they should prepare for future work together by constant association as they evolve, and it is manifest that intervals which would otherwise be shorter or longer are so dealt with as to bring the entire party into incarnation together, not once but many times.
Gần đây, chúng ta mới hiểu tầm quan trọng, trong phương diện này, của mối tình thân hỗ tương mạnh mẽ. Từ việc khảo cứu các đời quá khứ, đã trở nên rõ ràng với chúng ta rằng các chân ngã gắn bó mật thiết trong những gia tộc hay nhóm, và mối liên hệ này nói chung có xu hướng làm cân bằng các khoảng nghỉ giữa những đời sống của các thành viên trong một nhóm như vậy. Hiển nhiên điều được xem là cần thiết là họ phải chuẩn bị cho công việc tương lai chung bằng sự gắn bó thường xuyên khi họ tiến hoá, và hiển nhiên những khoảng nghỉ vốn lẽ ra ngắn hơn hoặc dài hơn thì được xử lý sao cho đưa toàn bộ nhóm vào lâm phàm cùng nhau, không chỉ một lần mà là nhiều lần.
This unquestionably involves an increase or decrease of the rate at which the spiritual force discharges itself, and it is clear that this must be a matter of careful regulation by the Authorities in charge of evolution. Though we have not yet discovered the exact law which regulates it, there is little doubt that when we do we shall find that it works automatically, so that the maximum of result may be achieved without injustice to any individual concerned.
Điều này tất nhiên đòi hỏi gia tăng hoặc giảm thiểu tốc độ mà mãnh lực tinh thần tự phóng xuất, và rõ ràng đây phải là một vấn đề được điều hòa cẩn trọng bởi các Vị có thẩm quyền phụ trách tiến hoá. Dù chúng ta chưa khám phá ra định luật chính xác chi phối điều đó, nhưng hầu như không còn nghi ngờ rằng khi khám phá được, chúng ta sẽ thấy nó vận hành một cách tự động, để cho hiệu quả tối đa được đạt đến mà không bất công với bất kỳ cá nhân nào liên hệ.
There seems to be a type of students who are always yearning to discover injustice in the working of the evolutionary machinery; but those who have spent many years in the investigation of the processes of nature know more and more certainly as they go on that injustice is an impossibility, and that any case in which we think we descry it is only a case in which our knowledge is as yet imperfect. Those who have probed the mysteries of nature most deeply are precisely those who have acquired the utter certainty that He who doeth all things doeth all things well.
Dường như có một hạng đạo sinh luôn khát khao phát hiện sự bất công trong vận hành của guồng máy tiến hoá; nhưng những ai đã dành nhiều năm để khảo sát các tiến trình của thiên nhiên thì càng đi sâu càng biết một cách chắc chắn hơn rằng bất công là điều không thể có, và bất kỳ trường hợp nào mà chúng ta tưởng như thấy nó, chỉ là trường hợp cho thấy tri thức của chúng ta hãy còn chưa trọn vẹn. Những ai thâm nhập sâu nhất vào các mầu nhiệm của thiên nhiên chính là những người đã đạt được sự xác quyết tuyệt đối rằng Đấng làm nên muôn sự đều làm nên mọi sự cách hoàn hảo.
Phần Chín: Hội Thông Thiên Học và Vị Sáng Lập của Hội
Eighth Section: Karma
THE LAW OF EQUILIBRIUM
WHEN we are considering the life of man we have three principal forces to take into account, all interacting and limiting one another: the steady pressure of evolution, the law of cause and effect which we call karma, and the free-will of man. The action of the evolutionary force has, so far as we can see, no reference whatever to the man’ s pleasure or pain, but only to his progress, or rather his opportunities for progress. One would say that it was absolutely indifferent as to whether the man was happy or unhappy, and that it might press him sometimes into one of these conditions and sometimes into the other, according to what was best calculated to afford opportunity for the development of the particular virtue on the formation of which he is for the moment engaged. Karma appears as the manifestation of the action of the man’ s free-will in the past. He has accumulated energies which either afford opportunities for the evolutionary force, or limit it in its operation. Then the man’s present use of such free-will as he possesses is a third factor
KHI chúng ta xem xét đời sống của con người, có ba mãnh lực chính cần được tính đến, tất cả đều tương tác và giới hạn lẫn nhau: áp lực ổn định của tiến hóa, định luật nhân quả mà chúng ta gọi là nghiệp quả, và ý chí tự do của con người. Hành động của lực tiến hóa, theo những gì chúng ta có thể thấy, không hề liên quan đến niềm vui hay nỗi đau của con người, mà chỉ liên quan đến sự tiến bộ của y, hay đúng hơn là cơ hội cho sự tiến bộ. Có thể nói rằng lực này hoàn toàn không quan tâm liệu con người có hạnh phúc hay khổ đau, và rằng nó có thể đẩy y vào một trong hai trạng thái này tùy thuộc vào điều gì tốt nhất để tạo cơ hội phát triển đức tính mà y đang tập trung hình thành tại thời điểm đó. Nghiệp quả xuất hiện như là sự biểu hiện của hành động tự do của con người trong quá khứ. Y đã tích lũy các năng lượng hoặc mang lại cơ hội cho lực tiến hóa, hoặc giới hạn nó trong quá trình hoạt động của nó. Sau đó, việc sử dụng ý chí tự do hiện tại của con người là yếu tố thứ ba.
The doctrine of karma explains that advancement and well-being are the results of well-doing; but there should be no mistake as to exactly what is meant by well-doing and well-being respectively. The object of the entire scheme is, so far as we are concerned, the evolution of humanity; and consequently the man who does best is he who does most to help forward the evolution of others as well as his own. The man who does this to the utmost extent of his power and opportunity in one life will certainly find himself in the next in possession of greater power and wider opportunities. These are not unlikely to be accompanied by worldly wealth and power, because the very possession of these usually gives the opportunity required, but they are by no means a necessary part of the karma; and it is important for us to bear in mind that the result of usefulness is always the opportunity for further and wider usefulness, and we must not consider the occasional concomitants of that opportunity as themselves the reward of the work done in the last incarnation.
Giáo lý về nghiệp quả giải thích rằng sự tiến bộ và thịnh vượng là kết quả của việc làm tốt; nhưng không nên nhầm lẫn về chính xác điều gì được hiểu là việc làm tốt và sự thịnh vượng. Mục tiêu của toàn bộ kế hoạch này, khi xét từ góc độ của chúng ta, là sự tiến hóa của nhân loại; do đó, người làm tốt nhất là người giúp đẩy nhanh sự tiến hóa của người khác cũng như chính mình. Người thực hiện điều này ở mức độ tối đa trong một đời sống chắc chắn sẽ tìm thấy trong kiếp sau sự sở hữu của quyền lực lớn hơn và cơ hội rộng lớn hơn. Những điều này có thể kèm theo sự giàu có và quyền lực thế gian, vì sự sở hữu của chúng thường mang lại cơ hội cần thiết, nhưng chúng không phải là phần tất yếu của nghiệp quả; và điều quan trọng cần nhớ là kết quả của sự hữu ích luôn là cơ hội để tiếp tục và mở rộng sự hữu ích đó, và chúng ta không nên coi những yếu tố thỉnh thoảng đi kèm với cơ hội đó như là phần thưởng cho công việc đã hoàn thành trong kiếp trước.
One instinctively shrinks from the use of such words as reward and punishment, because they seem to imply the existence, somewhere in the background, of an irresponsible being who deals out both at will. We shall get a truer idea of the way in which karma works if we think of it as a necessary readjustment of equilibrium disturbed by our action—as a kind of illustration of the law that action and reaction are always equal. It will also help us much in our thinking if we try to take a broader view of it—to regard it from the point of view of those who administer its laws rather than from our own.
Một cách tự nhiên, chúng ta rút lui khỏi việc sử dụng các từ như phần thưởng và trừng phạt, bởi vì chúng dường như ngụ ý sự tồn tại, ở đâu đó phía sau, của một thực thể vô trách nhiệm, người phân phát cả hai tùy ý. Chúng ta sẽ có được một cái nhìn đúng đắn hơn về cách mà nghiệp quả hoạt động nếu nghĩ về nó như là sự điều chỉnh cần thiết của sự cân bằng bị phá vỡ bởi hành động của chúng ta—như là một minh họa của định luật rằng hành động và phản ứng luôn bằng nhau. Nó cũng sẽ giúp ích rất nhiều cho chúng ta trong việc suy nghĩ nếu cố gắng có một cái nhìn rộng hơn—xem xét nó từ quan điểm của những người quản lý các định luật của nó thay vì từ quan điểm của chính chúng ta.
Though the inevitable law must sooner or later bring to each man unerringly the result of his own work, there is no immediate hurry about it; in the counsels of the eternal there is always time enough, and the first object is the evolution of humanity. Therefore it is that one who shows himself a willing and useful instrument in forwarding that evolution always receives as his “reward” the opportunity of helping it still further, and thus, in doing good to others, to do best of all for himself. Of course if the thought of self-advancement were his motive for thus acting, the selfishness of the idea would vitiate the action and narrow its results; but if, forgetting himself altogether, he devotes his energies to the single aim of helping in the great work, the effect upon his own future will undoubtedly be as stated.
Mặc dù định luật không thể tránh khỏi phải mang đến cho mỗi người kết quả của chính công việc của họ, nhưng không có sự vội vàng ngay lập tức trong vấn đề này; trong các lời khuyên của vĩnh cửu, luôn có đủ thời gian, và mục tiêu đầu tiên là sự tiến hóa của nhân loại. Vì vậy, người tỏ ra là một công cụ sẵn lòng và hữu ích trong việc thúc đẩy sự tiến hóa luôn nhận được "phần thưởng" là cơ hội để tiếp tục giúp đỡ, và do đó, khi làm điều tốt cho người khác, y làm tốt nhất cho chính mình. Tất nhiên, nếu động cơ của y là sự tiến bộ của bản thân, thì sự ích kỷ của ý tưởng sẽ làm hỏng hành động và thu hẹp kết quả của nó; nhưng nếu y hoàn toàn quên bản thân và dồn năng lượng vào mục tiêu duy nhất là giúp đỡ trong công việc lớn lao đó, thì tác động lên tương lai của y sẽ không thể nghi ngờ là như đã được mô tả.
A definite protest ought once for all to be entered against the theory that suffering is the necessary condition of spiritual progress. Exercise is the condition of attaining physical strength, but it need not be painful exercise; if a man is willing to, take a walk every day, there is no need to torture him on the tread-mill in order to develop the muscles of his legs. For spiritual progress a man must develope virtue, unselfishness, helpfulness—that is to say, he must learn to move in harmony with the great cosmic law; and if he does this willingly there is no suffering for him but that which comes from sympathy with others.
Cần có một sự phản đối dứt khoát đối với lý thuyết rằng đau khổ là điều kiện cần thiết cho sự tiến bộ tinh thần. Tập thể dục là điều kiện để đạt được sức mạnh thể chất, nhưng không cần thiết phải là một bài tập đau đớn; nếu một người sẵn lòng đi bộ mỗi ngày, không cần phải tra tấn y trên cỗ máy hành xác để phát triển cơ bắp chân. Đối với sự tiến bộ tinh thần, một người phải phát triển đức hạnh, lòng vị tha, sự giúp đỡ—tức là, y phải học cách vận động hài hòa với định luật vũ trụ lớn lao; và nếu y làm điều này một cách sẵn lòng, sẽ không có sự đau khổ cho y ngoại trừ sự đau khổ đến từ lòng trắc ẩn với người khác.
Granted that at the present time most men refuse to do this, that when they set themselves in opposition to the great law suffering invariably follows, and that the eventual result of many such experiences is to convince them that the path of wickedness and selfishness is also the path of folly; in this sense it is true that suffering conduces to progress in those particular cases. But because we wilfully elect to offend against the law, and thereby bring down suffering upon ourselves, we have surely no right so to blaspheme the great law of the universe as to say that it has ordered matters so badly that without suffering no progress can be made. As a matter of fact if a man only will, he can make far more rapid progress without suffering at all.
Được thừa nhận rằng vào thời điểm hiện tại, hầu hết mọi người từ chối làm điều này, rằng khi họ đối nghịch với định luật lớn lao, đau khổ không thể tránh khỏi sẽ theo sau, và kết quả cuối cùng của nhiều kinh nghiệm như vậy là khiến họ nhận ra rằng con đường của tội lỗi và sự ích kỷ cũng là con đường của ngu muội; theo nghĩa này, đúng là đau khổ góp phần vào sự tiến bộ trong những trường hợp cụ thể đó. Nhưng vì chúng ta cố tình chọn làm điều trái ngược với định luật, và do đó mang đến đau khổ cho chính mình, chúng ta chắc chắn không có quyền phỉ báng định luật vũ trụ lớn lao mà nói rằng nó đã sắp đặt mọi thứ tệ đến nỗi nếu không có đau khổ thì không thể đạt được tiến bộ. Trên thực tế, nếu một người thật sự muốn, y có thể tiến bộ nhanh hơn nhiều mà không hề phải chịu bất kỳ đau khổ nào.
It must, however, be remembered that any man who has once realised the glorious goal which lies before us can never be perfectly happy until he has attained that goal, and that he finds an ever-present source of dissatisfaction in his own failings. Now even dissatisfaction is a modified form of suffering; and from that no man can hope to be free until the imperfection has been outgrown. “God, Thou hast made us for Thyself, and our hearts are ever restless till they find their rest in Thee.”
Tuy nhiên, cần nhớ rằng bất kỳ người nào đã một lần nhận ra mục tiêu vinh quang nằm trước mặt y sẽ không bao giờ có thể hoàn toàn hạnh phúc cho đến khi y đạt được mục tiêu đó, và y luôn tìm thấy một nguồn gốc bất mãn trong những thiếu sót của chính mình. Giờ đây, ngay cả sự bất mãn cũng là một dạng đau khổ được giảm nhẹ; và không ai có thể hy vọng thoát khỏi điều này cho đến khi các sự không hoàn hảo đã được khắc phục. "Lạy Chúa, Ngài đã tạo ra chúng con cho chính Ngài, và trái tim chúng con luôn bất an cho đến khi chúng tìm thấy sự yên nghỉ trong Ngài."
Whether it is comforting or the reverse to know that one’ s sufferings are deserved may be a matter of opinion; but that in no way alters the undoubted fact that unless they had been so deserved they could not possibly come to us. It is lamentable that so many people should adopt the unphilosophical and indeed childish attitude which leads them to assume that any idea which does not fall in with their particular sectarian preconceptions cannot possibly be true. Unintelligent people constantly say: “The Theosophical teaching about karma does not seem to me so comfortable as the Christian idea of forgiveness of sins,” or “The Theosophical heaven-world does not seem so real and beautiful as the Christian, and so I will not believe in it.”
Việc biết rằng những đau khổ của mình là xứng đáng có thể mang lại sự an ủi hay ngược lại tùy quan điểm cá nhân; nhưng điều đó không thay đổi sự thật không thể phủ nhận rằng, nếu không có lý do chính đáng, chúng không thể đến với chúng ta. Thật đáng tiếc rằng có quá nhiều người chấp nhận thái độ không triết lý và thậm chí trẻ con dẫn đến việc cho rằng bất kỳ ý tưởng nào không phù hợp với những quan niệm giáo phái cụ thể của họ không thể đúng. Những người thiếu hiểu biết thường nói: “Giáo lý Thông Thiên Học về nghiệp quả không có vẻ dễ chịu như ý tưởng Kitô giáo về sự tha thứ tội lỗi,” hoặc “Thế giới thiên đường của Thông Thiên Học không có vẻ thực và đẹp như của Kitô giáo, vì vậy tôi sẽ không tin vào nó.”
They evidently think, poor creatures, that their likes and dislikes are powerful enough to alter the laws of the universe, and that nothing of which they do not approve can possibly be on any plane. We, however, are engaged in studying the facts of existence, which after all are not modified because Mr. and Mrs. So-and-so would rather believe them to be otherwise than they are. If it were possible for anyone to be an innocent victim there would be no certainty of the operation of the great law of cause and effect anywhere in the universe, which would be a far more terrible thing for us than having to work out the results of any amount of sin committed in former lives. It can never be too strongly emphasized that the law of karma is not the vindictive vengeance of some angry deity, but simply an effect naturally and inevitably following upon its cause in obedience to the action of universal law.
Họ rõ ràng nghĩ, những sinh vật tội nghiệp ấy, rằng sở thích và không thích của họ đủ mạnh để thay đổi các định luật của vũ trụ, và rằng không có điều gì mà họ không tán thành có thể tồn tại ở bất kỳ cảnh giới nào. Tuy nhiên, chúng ta đang nghiên cứu các sự kiện của sự tồn tại, những sự thật không thay đổi chỉ vì Ông A hay bà B muốn tin rằng chúng khác biệt. Nếu có ai đó là nạn nhân vô tội thì sẽ không có sự chắc chắn về việc vận hành của định luật nhân quả ở bất kỳ đâu trong vũ trụ, và điều này còn đáng sợ hơn rất nhiều so với việc phải gánh chịu hậu quả của mọi tội lỗi đã phạm phải trong những kiếp sống trước. Không bao giờ có thể nhấn mạnh quá mức rằng định luật nghiệp quả không phải là sự trả thù ác độc của một vị thần giận dữ, mà chỉ đơn thuần là một hệ quả tự nhiên và không thể tránh khỏi theo sau nguyên nhân của nó, tuân theo sự vận hành của định luật vũ trụ.
Every individual will have to pay to the utmost every debt that he contracts, and to every individual the most perfect justice will be done; but for this purpose it is not always necessary that a vast crowd of egos should be perpetually meeting one another in successive lives. If one man so acts towards another as seriously to hasten or retard his evolution, if he does anything which produces upon the other a marked or permanent effect, it is fairly certain that the two must meet again in order that the debt may be adjusted. It is obvious that that may be done in various ways.
Mỗi cá nhân sẽ phải trả đến cùng mọi món nợ mà họ đã tạo ra, và đối với mỗi cá nhân, sự công lý hoàn hảo nhất sẽ được thực hiện; nhưng để đạt được điều này, không phải lúc nào cũng cần thiết rằng một đám đông các chân ngã phải liên tục gặp lại nhau trong các kiếp sống liên tiếp. Nếu một người hành động theo cách làm chậm hoặc thúc đẩy sự tiến hóa của người khác một cách nghiêm trọng, nếu y làm điều gì đó có tác động rõ ràng hoặc lâu dài đến người kia, thì có khả năng cao là hai người đó sẽ gặp lại nhau để món nợ được điều chỉnh. Rõ ràng rằng điều này có thể được thực hiện theo nhiều cách khác nhau.
A man who murders another may conceivably sometimes himself be murdered in turn in another incarnation; but he can cancel the karma much more satisfactorily if he happens to have an opportunity in that next incarnation of saving the life of his former victim at the cost of his own. It would seem that sometimes he may cancel it without losing his own at all; for among the many lines of lives which have been examined we found at least one case in which a murderer apparently fully expiated his fault by patiently devoting the whole of a later life to the service of the person whom he had previously slain.
Một người đã giết một người khác có thể đôi khi bị giết trở lại trong một kiếp sống khác; nhưng y có thể giải quyết nghiệp quả một cách thỏa đáng hơn nếu trong kiếp sau y có cơ hội cứu mạng người mà y đã giết trước đây, thậm chí bằng cách hy sinh mạng sống của chính mình. Có vẻ rằng đôi khi y có thể giải quyết nghiệp quả mà không cần mất đi mạng sống của mình; vì trong nhiều chuỗi kiếp sống đã được nghiên cứu, chúng ta tìm thấy ít nhất một trường hợp trong đó một kẻ giết người dường như đã chuộc lỗi hoàn toàn bằng cách kiên nhẫn cống hiến cả cuộc đời sau này để phục vụ người mà y đã từng giết hại.
There is a vast amount of minor karma which appears to go into what may be described as a kind of general fund. The schoolboy who mischievously pinches a classmate will certainly not have to meet that classmate a thousand years hence under other skies in order to be pinched by him in return, though it is unquestionable that even in so small a matter as this perfect justice will be done to both the parties. Constantly as we pass on through life we shower small kindnesses upon those whom we meet; carelessly and often unconsciously we do them small injuries in thought and word and deed. Every one of these brings its corresponding result of good or evil to ourselves, and we too, though we knew it not, were the agents of karma in those very actions. The small kindness which we attempt will prove a failure if the recipient does not deserve even that much of help; the careless slight will pass unnoticed by its victim if there has been nothing in his past for which it is a fitting retribution.
Có một lượng lớn nghiệp quả nhỏ dường như đi vào cái có thể được mô tả như một loại “quỹ chung”. Một cậu học sinh nghịch ngợm véo bạn cùng lớp chắc chắn không phải gặp lại cậu bạn đó hàng ngàn năm sau dưới những bầu trời khác để bị véo lại; mặc dù không thể phủ nhận rằng ngay cả trong những việc nhỏ nhặt như thế này, sự công lý hoàn hảo cũng sẽ được thực hiện đối với cả hai bên. Liên tục khi chúng ta bước qua cuộc sống, chúng ta gieo rắc những ân huệ nhỏ cho những người mà chúng ta gặp; vô tình và thường xuyên không có ý thức, chúng ta làm hại họ qua suy nghĩ, lời nói và hành động. Mỗi một hành động trong số này đều mang lại kết quả tương ứng tốt hoặc xấu cho chúng ta, và chúng ta cũng, mặc dù không nhận ra, là những tác nhân của nghiệp quả trong chính những hành động đó. Lòng tốt nhỏ mà chúng ta cố gắng sẽ không thành công nếu người nhận không xứng đáng nhận ngay cả một sự giúp đỡ nhỏ như thế; sự coi thường hờ hững sẽ không được nạn nhân chú ý nếu không có gì trong quá khứ của y xứng đáng với sự trả thù thích đáng đó.
It is not easy to draw the line between these two classes of karma—that which necessitates personal adjustment and that which goes into the general fund. It is certain that whatever influences a person seriously belongs to the first category, and small everyday troubles belong to the second; but we have at present no means of knowing exactly how much influence must be exerted in order that an action may rank in the first-class.
Không dễ để vạch ra ranh giới giữa hai loại nghiệp quả này—nghiệp quả yêu cầu sự điều chỉnh cá nhân và nghiệp quả đi vào quỹ chung. Chắc chắn rằng bất cứ điều gì ảnh hưởng nghiêm trọng đến một người đều thuộc về loại đầu tiên, và những rắc rối hàng ngày nhỏ thuộc về loại thứ hai; nhưng hiện tại chúng ta không có phương tiện để biết chính xác mức độ ảnh hưởng cần phải có để một hành động được xếp vào loại thứ nhất.
We must remember that some of the greatest and most important of all karma can never be personally repaid. In all our line of lives, past and future, no benefit can be greater than that which the Masters have conferred upon us in giving us access to the Theosophical teaching; yet to Them as individuals we can make absolutely no return, since They are far beyond the need of anything that we can do. Yet even this stupendous debt must be discharged like all the rest; but the only way in which we can ever repay it is by handing on the knowledge to others. So we see that here is another kind of karma which may be said to go into the general fund, though not quite in the same sense as before.
Chúng ta phải nhớ rằng một số nghiệp quả lớn nhất và quan trọng nhất không bao giờ có thể được trả lại cá nhân. Trong tất cả các chuỗi kiếp sống của chúng ta, cả trong quá khứ và tương lai, không có lợi ích nào lớn hơn những gì mà các Chân sư đã ban cho chúng ta khi trao cho chúng ta sự tiếp cận với giáo lý Thông Thiên Học; tuy nhiên, với các Ngài như những cá nhân, chúng ta không thể đáp trả gì, vì các Ngài đã vượt xa khỏi nhu cầu của bất cứ điều gì mà chúng ta có thể làm. Tuy vậy, món nợ khổng lồ này cũng phải được trả như tất cả các món nợ khác; nhưng cách duy nhất mà chúng ta có thể trả lại là truyền lại kiến thức đó cho người khác. Vì vậy, chúng ta thấy rằng đây là một loại nghiệp quả khác có thể được nói là đi vào quỹ chung, mặc dù không hoàn toàn giống như trước.
A querent asks, “If it is a man’ s karma to have scarlet-fever, by what mechanism is the result brought about?”
Một người hỏi, "Nếu nghiệp quả của một người là mắc phải bệnh sốt đỏ, thì cơ chế nào khiến kết quả đó xảy ra?"
I do not think that, in the sense in which the questioner means it, it ever is a man’ s karma to have scarlet-fever. It is his karma in a given incarnation to have as the result of his actions in past lives a certain amount of physical suffering, and if a scarlet-fever germ happens to be at hand when he is in a sensitive condition, it may be permitted to fasten upon him, and part of that debt of suffering may be discharged in that way. But if such a germ does not happen to be there at the moment, one of cholera or tuberculosis will do just as well, or instead of a disease there may be a broken limb caused by a bit of orange-peel on the pavement or by a passing motor car.
Tôi không nghĩ rằng, theo nghĩa mà người đặt câu hỏi muốn nói, một người bao giờ có nghiệp quả để mắc phải bệnh sốt đỏ. Nghiệp quả của y trong một kiếp sống nhất định là phải chịu đựng một mức độ đau khổ thể xác nhất định do những hành động trong quá khứ, và nếu một vi khuẩn sốt đỏ tình cờ có mặt khi y ở trong tình trạng nhạy cảm, nó có thể được phép bám vào y, và một phần của món nợ đau khổ đó có thể được trả qua cách đó. Nhưng nếu vi khuẩn đó không có mặt vào lúc đó, một con vi khuẩn gây bệnh tả hoặc bệnh lao có thể thực hiện công việc đó, hoặc thay vì một bệnh tật, y có thể gãy một chân do một miếng vỏ cam trên vỉa hè hoặc bởi một chiếc xe ô tô đi qua.
I am aware that there are books which lay down with great precision the exact type of karma which follows upon certain action—as, for example, that if a man is rude to his father in one incarnation he will be born lame of the right leg in the next, whereas if it is with his mother that he has a difference of opinion it will be the left leg which is affected, and so on. But in the many lines of lives which we have examined in order to study the working of karma we have found no such rigidity. On the contrary, We were especially struck no less by the wonderful flexibility of karma than by its unerring certainty. By no possible effort can the man escape a single feather-weight of the suffering destined for him, but he may often avoid it in one shape only to find it inexorably descending upon him in a different form, from some unsuspected quarter.
Tôi biết rằng có những cuốn sách giải thích rất chi tiết về loại nghiệp quả cụ thể sẽ theo sau một hành động cụ thể—chẳng hạn, nếu một người bất kính với cha mình trong một kiếp, thì y sẽ được sinh ra với chân phải bị què trong kiếp sau, trong khi nếu xung đột xảy ra với mẹ, thì đó sẽ là chân trái bị ảnh hưởng, và những điều tương tự. Nhưng trong nhiều chuỗi kiếp sống mà chúng ta đã nghiên cứu để tìm hiểu về sự vận hành của nghiệp quả, chúng ta không tìm thấy sự cứng nhắc như vậy. Ngược lại, chúng ta đặc biệt ấn tượng không chỉ bởi sự chắc chắn không thể sai lệch của nghiệp quả mà còn bởi tính linh hoạt tuyệt vời của nó. Không có nỗ lực nào có thể khiến con người thoát khỏi dù chỉ một lượng đau khổ nhỏ nhất định cho y, nhưng y có thể thường tránh được nó dưới hình thức này chỉ để thấy nó không thể tránh khỏi giáng xuống dưới hình thức khác, từ một góc khuất nào đó.
Just as a debt of ten pounds can be paid in a single note, in two smaller notes, in gold or silver, or even in a bag-full of copper, so a certain amount of karma may come in one terrible blow, in a number of successive but less severe blows of various kinds, or even in a long series of comparatively petty annoyances; but in any and every case the full tale must be paid.
Cũng giống như một khoản nợ mười bảng có thể được thanh toán bằng một tờ tiền duy nhất, bằng hai tờ tiền nhỏ hơn, bằng vàng hay bạc, hoặc thậm chí bằng một túi đồng, vì vậy một lượng nghiệp quả nhất định có thể đến dưới hình thức một cú đánh kinh hoàng, một chuỗi các cú đánh liên tiếp nhưng ít nghiêm trọng hơn, hoặc thậm chí là một chuỗi dài các phiền toái nhỏ nhặt tương đối không đáng kể; nhưng trong mọi trường hợp, toàn bộ món nợ phải được thanh toán.
The same sin, committed under the same circumstances by two exactly similar people, must result in the same amount of suffering, yet the kind of suffering might be almost infinitely varied, according to the requirements of the case. Take as an example one of the very commonest of failings, and let us think what would be the probable result of selfishness. This is primarily a mental attitude or condition, so we must look for its immediate result on the mental plane. It is undoubtedly an intensification of the lower personality at the expense of the individuality, and one of its results will therefore certainly be the accentuation of that lower personality, so that selfishness tends to reproduce itself in aggravated form, and to grow steadily stronger.
Cùng một tội lỗi, được thực hiện trong cùng một hoàn cảnh bởi hai người giống hệt nhau, chắc chắn sẽ dẫn đến cùng một mức độ đau khổ, nhưng loại đau khổ có thể gần như vô hạn trong sự đa dạng của nó, tùy thuộc vào các yêu cầu của trường hợp. Lấy ví dụ một trong những lỗi rất phổ biến, và hãy xem xét kết quả có thể xảy ra của tính ích kỷ. Đây chủ yếu là một thái độ hoặc tình trạng tinh thần, vì vậy chúng ta phải tìm kiếm kết quả tức thời của nó trên cõi trí. Nó chắc chắn là sự gia tăng của phàm ngã ở mức độ thấp hơn với chi phí của chân ngã, và một trong những kết quả của nó sẽ là sự nhấn mạnh phàm ngã đó, khiến cho tính ích kỷ có xu hướng tự tái tạo trong một dạng trầm trọng hơn, và ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn.
Thus more and more of the higher would be lost in each life through entanglement with the lower, and persistence in this fault would be a fatal bar to progress; for nature’ s severest penalty is always deprivation of the opportunity for progress, just as her highest reward is the offering of such opportunity. So here we have already a glimpse of the way in which selfishness may itself bring about its own worst result, in so hardening the man as to make him insensible to all good influences, and to render his further progress impossible until he had conquered it.
Như vậy, càng nhiều phần cao hơn của chân ngã sẽ bị mất đi trong mỗi kiếp do sự vướng víu với phần thấp hơn, và việc tiếp tục lỗi này sẽ là một chướng ngại nghiêm trọng đối với tiến bộ; vì hình phạt nghiêm khắc nhất của tự nhiên luôn là sự tước đi cơ hội tiến bộ, giống như phần thưởng cao nhất của y là sự cung cấp cơ hội đó. Do đó, chúng ta đã có một cái nhìn sơ lược về cách mà tính ích kỷ có thể tự nó mang lại hậu quả tồi tệ nhất của nó, bằng cách khiến con người trở nên chai sạn trước tất cả các ảnh hưởng tốt đẹp, và làm cho sự tiến bộ tiếp theo của y trở nên không thể thực hiện được cho đến khi y đã chiến thắng tính ích kỷ.
There would also be the karma on the physical plane of all the unjust or unkind acts which the man’ s selfishness might lead him to commit; but the worst penalty that those could bring upon him would be trivial and evanescent beside the effect upon his own mental condition. It is possible that one result might be that he would be drawn by affinity into the society of selfish people, and so through suffering from this vice in others he would learn how heinous it is in himself. But the resources of the law are endless, and we mistake if we imagine it as cramped down to the line of action on which we in our ignorance think it ought to be administered.
Cũng sẽ có nghiệp quả trên cõi vật lý từ tất cả các hành động bất công hoặc bất nhân mà tính ích kỷ của con người có thể khiến y phạm phải; nhưng hình phạt nặng nhất mà những hành động đó có thể mang lại sẽ tầm thường và thoáng qua so với ảnh hưởng lên trạng thái tinh thần của chính y. Có thể một trong những kết quả là y sẽ bị hút vào xã hội của những người ích kỷ, và do đó, qua việc chịu đựng tính xấu này từ người khác, y sẽ học được mức độ nghiêm trọng của nó trong chính bản thân. Nhưng nguồn lực của định luật là vô tận, và chúng ta mắc sai lầm nếu tưởng tượng rằng nó bị hạn chế trong cách thức hành động mà chúng ta, trong sự thiếu hiểu biết của mình, nghĩ rằng nó nên được áp dụng.
A large proportion of the man’ s suffering is what Mr. Sinnett calls “ready-money karma”—that is to say, it is not due to the result of actions in past lives, and not in any real sense necessary at all. But his actions, in spite of examples put before him and advice freely given to him, are so foolish, and his ignorance is so invincible, so apparently perverse, that he is constantly involving himself in suffering the causes of which are transparently obvious and readily evitable. I do not think that I exaggerate when I say that nine-tenths of the suffering of the ordinary man is utterly unnecessary, for it is not the result of the distant past, but is simply the outcome of the mistaken action or foolish attitude of this present life.
Một phần lớn đau khổ của con người là những gì mà Ông Sinnett gọi là “nghiệp quả trả ngay lập tức” — tức là, không phải kết quả của những hành động trong kiếp sống trước, và không cần thiết theo nghĩa thực sự nào cả. Nhưng hành động của y, mặc dù có những ví dụ được đặt ra trước mặt và những lời khuyên được đưa ra tự do, lại quá ngu ngốc, và sự thiếu hiểu biết của y dường như không thể vượt qua, đến mức y liên tục tự đưa mình vào những tình huống đau khổ mà nguyên nhân rõ ràng và có thể tránh được. Tôi không nghĩ rằng mình đã phóng đại khi nói rằng chín phần mười sự đau khổ của người thường là hoàn toàn không cần thiết, vì nó không phải là kết quả của quá khứ xa xôi, mà đơn giản là hậu quả của hành động sai lầm hoặc thái độ ngu ngốc trong cuộc sống hiện tại.
Another point to be taken into account is that man in his calculations so often fails to discriminate between good and evil effects. The average man regards death as the greatest of all evils, either for himself or for his friends; yet in many cases karma grants it as a reward. It is, indeed, hardly ever an evil or a punishment, but simply an incident—a kind of move in the game, inevitable at certain intervals, but at all times available as a temporary solution of a difficult position when it is seen to be desirable. It is rarely a matter of anything approaching the importance which is commonly attributed to it.
Một điểm khác cần tính đến là con người trong những tính toán của y thường không phân biệt được giữa kết quả tốt và xấu. Người thường coi cái chết là điều xấu nhất trong tất cả các điều xấu, cho bản thân y hoặc cho những người thân yêu của y; tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, nghiệp quả ban tặng nó như một phần thưởng. Trên thực tế, gần như không bao giờ là điều ác hoặc một sự trừng phạt, mà chỉ là một sự kiện—một kiểu di chuyển trong trò chơi, không thể tránh khỏi ở những khoảng thời gian nhất định, nhưng luôn có sẵn như là một giải pháp tạm thời cho một tình huống khó khăn khi nó được coi là cần thiết. Nó hiếm khi là vấn đề có tầm quan trọng lớn như thường được gán cho nó.
If we can conceive two newly-formed egos standing side by side, absolutely primitive and karmaless, and one of them should kill the other, or, indeed, act in any way with regard to the other, a result would be produced which would be, strictly speaking, undeserved. I doubt whether any such condition ever exists, for I think that the individualised animal brings over something of karma into his first human birth.
Nếu chúng ta có thể hình dung hai chân ngã mới được hình thành đứng cạnh nhau, hoàn toàn nguyên sơ và không có nghiệp quả, và một trong số họ giết người kia, hoặc thực hiện bất kỳ hành động nào khác đối với người kia, một kết quả sẽ được tạo ra mà xét về mặt kỹ thuật, là không xứng đáng. Tôi nghi ngờ rằng có bất kỳ điều kiện như vậy từng tồn tại, vì tôi nghĩ rằng loài thú được biệt ngã hóa sẽ mang theo một số nghiệp quả vào trong lần sinh ra làm người đầu tiên của chúng.
Many animals have a sense of right and wrong, or at least a knowledge that some things ought to be done and that others ought not to be done; and they are capable of feeling ashamed when they have done what they think to be wrong. They have in many cases a power of choice; they can exercise (or not exercise) patience and forbearance; and where there is a power of choice there must be responsibility, and consequently karma. The savage animal becomes a savage and cruel man; the gentle and patient animal becomes a gentle and kindly man, however primitive he may be. This serious difference is clearly the consequence of karma made in the animal kingdom. Such karma must inhere in the group-soul, but must be equally distributed through it, so that when a portion breaks off as an individual, it will carry within it its share of that karma.
Nhiều loài động vật có ý thức về đúng sai, hoặc ít nhất là một nhận thức rằng có những điều nên làm và những điều không nên làm; và chúng có khả năng cảm thấy xấu hổ khi chúng làm điều mà chúng cho là sai. Trong nhiều trường hợp, chúng có khả năng lựa chọn; chúng có thể thực thi (hoặc không thực thi) sự kiên nhẫn và lòng khoan dung; và nơi nào có quyền lựa chọn thì sẽ có trách nhiệm, và do đó có nghiệp quả. Con vật hung dữ trở thành con người hung bạo và tàn nhẫn; con vật hiền lành và kiên nhẫn trở thành con người hiền lành và tử tế, cho dù y có nguyên thủy đến đâu. Sự khác biệt nghiêm trọng này rõ ràng là hệ quả của nghiệp quả đã được tạo ra trong vương quốc động vật. Nghiệp quả như vậy phải được thừa hưởng trong linh hồn nhóm, nhưng phải được phân phối đồng đều thông qua nó, vì vậy khi một phần tách ra như một cá thể, nó sẽ mang theo phần nghiệp quả đó.
It may be said that that only pushes our difficulty a little farther back, for there must be a first step sometime, and we must technically consider the result of that first step as unjust.
Có thể nói rằng điều này chỉ đẩy vấn đề của chúng ta đi xa hơn một chút, bởi vì sẽ luôn có một bước đầu tiên, và về mặt kỹ thuật, chúng ta phải coi kết quả của bước đầu tiên đó là bất công.
Not necessarily. Let us suppose the first step to be a fight between two animals. The wish to kill or wound would be equally present in both; the karma of that wish would in the case of the vanquished be worked out at once by death, whereas the victor would still owe a debt which would probably be discharged later by his own death by violence. In considering the case of humanity, however, we need not indulge in any such speculations.
Không nhất thiết. Hãy giả sử bước đầu tiên đó là một cuộc chiến giữa hai con thú. Ý muốn giết hoặc làm tổn thương sẽ có mặt trong cả hai; nghiệp quả của ý định đó, trong trường hợp con bị thua, sẽ được giải quyết ngay lập tức bằng cái chết, trong khi kẻ chiến thắng vẫn còn mắc một món nợ, món nợ đó có thể sẽ được trả lại sau này bằng chính cái chết của nó dưới bạo lực. Tuy nhiên, khi xem xét trường hợp của nhân loại, chúng ta không cần phải sa vào những suy đoán như vậy.
We have behind us a great mass of accumulated energy of both kinds, desirable and undesirable, and I can hardly imagine any conceivable “accident” that would not suit as an expression for some part of its infinite variety. Therefore shipwreck or financial ruin does not discriminate, because it need not; there is always something which can work itself out in that way in the whole mass of karma which lies behind an ordinary man. In the rare cases where there is nothing remaining which can so work itself out, the man cannot be injured, and is therefore what is commonly called miraculously saved.
Chúng ta có phía sau mình một khối lượng năng lượng tích lũy rất lớn, bao gồm cả những loại đáng mong muốn và không đáng mong muốn, và tôi khó có thể tưởng tượng được bất kỳ “tai nạn” nào có thể xảy ra mà không phù hợp như là một biểu hiện cho một phần nào đó của sự đa dạng vô tận này. Do đó, đắm tàu hay phá sản tài chính không cần phải phân biệt, bởi vì nó không cần thiết; luôn có điều gì đó trong toàn bộ khối nghiệp quả đằng sau một người bình thường có thể tự giải quyết theo cách đó. Trong những trường hợp hiếm hoi khi không còn gì có thể tự giải quyết theo cách đó, người đó không thể bị tổn hại, và do đó, được coi như là “được cứu sống một cách kỳ diệu.”
Nothing could be more wildly absurd than the idea that anything we can do can prevent the working out of karma. For example, if a child is born under circumstances which lead to its being cruelly treated, no doubt such treatment is in accordance with its previous karma; but if kindly intervention delivers it from the demons in human form who torment it, then that intervention also is in accordance with its karma. If it were not, then the well-intentioned effort to rescue it would fail, as we know it sometimes does. Our obvious duty is to do all the good we can, and to render all the help within our power in every direction; and we need have no haunting fear that in doing so we are interfering with the work of the great karmic deities, who are assuredly perfectly capable of managing their business with absolute exactitude, whatever we do or do not do.
Không gì có thể vô lý hơn ý tưởng rằng bất cứ điều gì chúng ta làm đều có thể ngăn cản việc nghiệp quả được thực hiện. Ví dụ, nếu một đứa trẻ được sinh ra trong hoàn cảnh dẫn đến việc nó bị đối xử tàn nhẫn, chắc chắn rằng sự đối xử như vậy là phù hợp với nghiệp quả trước đó của nó; nhưng nếu sự can thiệp từ thiện cứu nó khỏi những kẻ hành hạ, thì sự can thiệp đó cũng phù hợp với nghiệp quả của nó. Nếu không phải vậy, thì nỗ lực tốt đẹp nhằm cứu nó sẽ thất bại, như chúng ta đôi khi thấy. Trách nhiệm hiển nhiên của chúng ta là làm tất cả những điều tốt chúng ta có thể, và cung cấp mọi sự giúp đỡ trong khả năng của chúng ta trong mọi phương diện; và chúng ta không cần lo sợ rằng trong việc làm như vậy, chúng ta đang can thiệp vào công việc của các vị thần nghiệp quả vĩ đại, những người chắc chắn hoàn toàn có khả năng quản lý mọi việc với sự chính xác tuyệt đối, dù chúng ta có làm gì hay không.
Does karma seem merciless? If that adjective can be correctly applied to the working of Nature’ s laws, I suppose we must admit that it is so, just as the law of gravitation is. If a child slips over the edge of a precipice, no matter how sad may be the circumstances surrounding the slip, he usually falls to the bottom of that precipice just as effectually as would an older and more responsible person; if a man seizes a red-hot iron bar, he is equally burnt whatever may have been his object in seizing it, or whether he knew that it was hot or not. Yet it would hardly occur to us to think of the bar or the precipice as merciless, or to blame the law of gravitation or the law of the radiation of heat. Does not exactly the same thought apply in the case of karma?
Nghiệp quả có vẻ tàn nhẫn không? Nếu tính từ đó có thể được áp dụng đúng cách vào sự vận hành của các định luật tự nhiên, tôi cho rằng chúng ta phải thừa nhận rằng nó là như vậy, giống như định luật hấp dẫn. Nếu một đứa trẻ trượt khỏi rìa vách đá, bất kể hoàn cảnh xung quanh cú trượt đó có buồn bã đến mức nào, nó thường sẽ rơi xuống đáy vách đá một cách chắc chắn giống như một người lớn có trách nhiệm hơn; nếu một người nắm lấy thanh sắt đang nóng rực, y sẽ bị bỏng dù mục đích của y là gì, hoặc liệu y có biết thanh sắt đó nóng hay không. Tuy nhiên, sẽ không ai nghĩ đến việc cho rằng thanh sắt hay vách đá là tàn nhẫn, hoặc đổ lỗi cho định luật hấp dẫn hay định luật bức xạ nhiệt. Có phải ý tưởng tương tự không áp dụng trong trường hợp nghiệp quả?
THE METHOD OF KARMA
It is scarcely possible to put into words the appearance presented to clairvoyant vision on the higher planes by the working of this law of karma. It seems as though the man’ s action built cells or channels stored with energy, through the reactions of which he can be reached by the law of evolution. The appearance is as though all sorts of forces are playing round him, but they are able to influence him only by acting through these energies which he has himself set in motion. He is continually adding to the number of these cells or channels of energy, and so is continually modifying the possibilities of reaching him. It is in meeting and dealing with all these kaleidoscopic changes, and yet in spite of them all getting in its work and accurately performing its task, that the marvellous and all but incredible adaptability and versatility of karma is exhibited.
Thật khó có thể diễn tả bằng lời hình ảnh được trình bày trước tầm nhìn thông nhãn trên các cõi cao hơn về sự vận hành của định luật nghiệp quả này. Dường như hành động của con người tạo ra các tế bào hoặc kênh chứa đầy năng lượng, thông qua những phản ứng của chúng mà y có thể bị tác động bởi định luật tiến hóa. Hình ảnh cho thấy như thể đủ loại lực đang chơi quanh con người, nhưng chúng chỉ có thể ảnh hưởng đến y thông qua những năng lượng mà chính y đã kích hoạt. Y liên tục gia tăng số lượng các tế bào hoặc kênh năng lượng này, và do đó liên tục thay đổi các khả năng tiếp cận y. Chính trong việc xử lý tất cả những thay đổi như trong kính vạn hoa này, và mặc dù có chúng nhưng vẫn thực hiện công việc một cách chính xác, mà tính thích ứng và linh hoạt tuyệt diệu đến khó tin của nghiệp quả được thể hiện.
There is another aspect of karma the consideration of which I have found helpful in the effort to understand its working; but it belongs to a plane so high that it is unfortunately impossible to put it clearly into words. Imagine that we see each man as though he were absolutely alone in the universe, the centre of an incredibly vast series of concentric spheres. Every thought, or word, or action of his sends out a stream of force which rushes towards the surfaces of the spheres. This force strikes the interior surface of one of the spheres, and, being at right angles to it, is necessarily reflected back unerringly to the point from which it came.
Có một khía cạnh khác của nghiệp quả mà tôi nhận thấy hữu ích trong nỗ lực hiểu cách nó hoạt động; nhưng nó thuộc về một cõi quá cao nên thật không may là không thể diễn tả rõ ràng bằng lời. Hãy tưởng tượng rằng chúng ta thấy mỗi người như thể y hoàn toàn cô độc trong vũ trụ, là trung tâm của một loạt các quả cầu đồng tâm khổng lồ không thể tưởng tượng được. Mỗi suy nghĩ, lời nói, hay hành động của y phát ra một dòng lực lao nhanh về phía bề mặt của các quả cầu. Lực này đập vào bề mặt bên trong của một trong các quả cầu và, vì nó vuông góc với bề mặt đó, nó sẽ chắc chắn được phản xạ lại không sai lệch đến điểm mà nó đã xuất phát.
From which sphere it is reflected seems to depend upon the character of the force, and this also naturally regulates the time of its return. The force which is generated by some actions strikes a sphere comparatively near at hand, and is reflected back very quickly, while other forces rush on almost to infinity, and return only after many lives. But in any case they inevitably return, and they can return nowhere but to the centre from which they came forth. Each man makes his own spheres, and the play of his forces is in no way affected by the action of those sent up by his neighbor, for they cross one another without interfering, just as do the rays of light from two lamps. And the medium through which they move is frictionless, so that the amount of force which returns is precisely that which the man himself has generated.
Quả cầu nào mà lực đó phản xạ dường như phụ thuộc vào tính chất của lực đó, và điều này cũng điều chỉnh thời gian của sự trở lại của nó. Lực được tạo ra bởi một số hành động va vào một quả cầu tương đối gần và phản xạ lại rất nhanh, trong khi các lực khác lao đi gần như vô hạn và chỉ trở lại sau nhiều kiếp sống. Nhưng trong mọi trường hợp, chúng không thể tránh khỏi việc trở lại, và chúng không thể trở lại bất cứ đâu ngoài trung tâm mà từ đó chúng đã xuất phát. Mỗi người tự tạo ra các quả cầu của mình, và sự chơi đùa của các lực của y không hề bị ảnh hưởng bởi hành động của những lực phát ra từ người láng giềng của y, vì chúng giao nhau mà không can thiệp, giống như các tia sáng từ hai chiếc đèn. Và môi trường mà qua đó chúng di chuyển là không có ma sát, nên lượng lực quay lại chính xác là lượng mà người đó đã tự tạo ra.
The prarabdha karma of an individual, that is, the karma selected by the authorities for him to discharge in his present life, divides itself into two parts. That which is to express itself in his physical body is made by the Devarajas into the thought-form or elemental which builds the body, of which we have spoken in a previous section; but the other and far larger block which is to indicate his fate through life, the good or evil fortune which is to come to him—this is made into another thought-form which does not descend; hovering over the embryo, it remains upon the mental plane. From that level it broods over the man and takes or makes opportunities to discharge itself by sections, sending down from itself a flash like lightning to strike, or a finger to touch, sometimes far down on the physical plane, sometimes a sort of extension which reaches only the astral plane, and sometimes what we may call a horizontal flash or finger upon the mental plane.
Nghiệp quả prarabdha của một cá nhân, tức là nghiệp quả được các bậc quyền uy lựa chọn để y xử lý trong đời sống hiện tại, chia thành hai phần. Phần nghiệp quả sẽ biểu hiện ra ở thể xác của y được các Devaraja biến thành hình tư tưởng hoặc tinh linh xây dựng thể xác, điều mà chúng ta đã đề cập trong phần trước; nhưng phần nghiệp quả lớn hơn và xa hơn, phần định đoạt số phận của y trong suốt cuộc đời—những vận may tốt hoặc xấu sẽ đến với y—được biến thành một hình tư tưởng khác, không đi xuống mà lơ lửng trên cõi trí. Từ mức độ đó, nó bao trùm lấy con người và tạo ra hoặc nắm lấy cơ hội để giải phóng theo từng phần, gửi xuống từ chính nó một tia chớp giống như tia sét để đánh vào, hoặc một ngón tay để chạm, đôi khi xuống tận cõi vật lý, đôi khi chỉ đến cõi cảm dục, và đôi khi là một dạng tia chớp hoặc ngón tay ngang trên cõi trí.
This elemental goes on discharging itself until it is quite empty; and then, like the other, it fades into nothingness, or more correctly is disintegrated and returns to the matter of the plane. The man can modify its action by the new karma which he is constantly making, by the new causes which he is perpetually setting up. The ordinary man has usually scarcely will enough to create any strong new causes, and so the elemental empties itself of its contents according to what may be described as its original programme, taking advantage of convenient astrological periods and surrounding circumstances, which make its work easier or more effective; and so the horoscope of the man may work out with considerable exactitude. But if the man be sufficiently developed to possess a strong will, the elemental’ s action is likely to be much modified, and the life will by no means follow the lines laid down in the horoscope. Sometimes the modifications introduced are such that the elemental is unable fully to discharge himself before the time of the man’ s death; and in that case whatever is left of him is again absorbed into the great mass of the sanchita karma—that which has not yet been worked out; and out of that another and more or less similar elemental is made ready for the beginning of the next physical life.
Tinh linh này tiếp tục giải phóng chính nó cho đến khi nó hoàn toàn trống rỗng; và rồi, giống như những cái khác, nó phai nhạt đi vào hư vô, hoặc đúng hơn là bị phân rã và quay trở lại chất liệu của cõi. Con người có thể sửa đổi hành động của nó bằng nghiệp quả mới mà y liên tục tạo ra, bằng những nguyên nhân mới mà y liên tục thiết lập. Người bình thường thường không có đủ ý chí để tạo ra bất kỳ nguyên nhân mới mạnh mẽ nào, do đó tinh linh đó giải phóng bản thân nó theo chương trình gốc, tận dụng các giai đoạn chiêm tinh thuận lợi và các hoàn cảnh xung quanh, giúp công việc của nó trở nên dễ dàng hoặc hiệu quả hơn; vì vậy, lá số chiêm tinh của con người có thể diễn ra với độ chính xác khá cao. Nhưng nếu con người phát triển đủ để có ý chí mạnh mẽ, hành động của tinh linh có thể bị sửa đổi rất nhiều, và cuộc sống sẽ không đi theo những gì đã được vạch ra trong lá số chiêm tinh. Đôi khi những sự thay đổi được đưa vào có thể làm cho tinh linh không thể giải phóng hoàn toàn trước khi người đó qua đời; và trong trường hợp đó, những gì còn lại của nó sẽ lại được hấp thụ vào khối nghiệp quả sanchita lớn—phần nghiệp quả chưa được xử lý; và từ đó, một tinh linh khác, tương tự hơn hoặc ít hơn, sẽ được tạo ra sẵn sàng cho khởi đầu của đời sống vật lý tiếp theo.
The great mass of the accumulated karma can also be seen hovering over the ego. Usually it is not a pleasant sight, because by the nature of things it contains more evil than good result. In the earlier days of their development in the remote past, most men have done many things that they should not have done, and thereby have laid up for themselves as a physical result a good deal of suffering on this lowest plane. In the present day all civilised beings have risen at least to the level of good intention, and consequently there is much less of directly evil karma being made by such people. We all do foolish things at times; we all make mistakes; but still on the whole the average civilised being is trying to do good and not harm, and therefore on the whole is likely to be making more good karma than bad. But by no means all of the good karma goes into that great accumulated mass, and so we get the impression in that of a preponderance of evil over good.
Khối nghiệp quả lớn của nghiệp quả tích lũy cũng có thể được nhìn thấy lơ lửng trên chân ngã. Thường thì đó không phải là một cảnh tượng dễ chịu, vì theo bản chất của sự việc, nó chứa nhiều hậu quả xấu hơn là tốt. Trong những ngày đầu của sự phát triển xa xưa, hầu hết con người đã làm nhiều điều mà họ không nên làm, và do đó, họ đã để lại cho bản thân mình một lượng lớn đau khổ trên cõi thấp nhất này như là kết quả vật lý. Ngày nay, tất cả những người văn minh ít nhất đã đạt đến mức độ có ý định tốt, và do đó có ít nghiệp quả xấu trực tiếp được tạo ra bởi những người như vậy. Tất cả chúng ta đều làm những việc dại dột đôi khi; chúng ta đều mắc sai lầm; nhưng nói chung, người văn minh trung bình đang cố gắng làm điều tốt và không gây hại, do đó, nhìn chung, y có khả năng tạo ra nhiều nghiệp quả tốt hơn xấu. Nhưng không phải tất cả nghiệp quả tốt đều đi vào khối tích lũy lớn đó, và do đó chúng ta có cảm giác rằng phần nghiệp quả xấu nhiều hơn phần tốt.
The result of most good thoughts or good actions is to improve the man himself, to make one or other of his bodies vibrate in response to higher forces, or to bring out in him qualities of courage, determination, affection, devotion, which he did not possess in so full a measure before. All this effect then shows in the man himself and in his vehicles, but not in the mass of piled up karma which is waiting for him. If, however, he does some good action definitely with the thought of its reward in his mind, good karma for that good action will come to him, and will store itself up with the rest of the accumulation until such time as it may be brought forward and materialised into activity. This good karma naturally binds the man to earth just as effectually as evil karma, and consequently the man who is aiming at real progress learns to do all actions absolutely without thought of self or of the result of his action, because if there is no thought of self, results of the ordinary kind cannot touch him.
Kết quả của hầu hết các suy nghĩ tốt hoặc hành động tốt là cải thiện chính con người, khiến một hoặc các thể của y rung động để đáp ứng với các lực cao hơn, hoặc phát triển trong y những phẩm chất như dũng cảm, quyết tâm, tình cảm, sự tận tụy mà trước đây y chưa sở hữu đầy đủ. Tất cả những tác động này sau đó thể hiện trong chính con người và các thể của y, nhưng không trong khối nghiệp quả tích lũy đang chờ đợi y. Tuy nhiên, nếu y làm một hành động tốt một cách cụ thể với ý nghĩ về phần thưởng trong tâm trí, nghiệp quả tốt cho hành động tốt đó sẽ đến với y, và sẽ được lưu trữ cùng với phần còn lại của sự tích lũy cho đến khi nó được đưa ra và hiện thực hóa thành hành động. Nghiệp quả tốt này đương nhiên sẽ ràng buộc con người với trái đất một cách hiệu quả như nghiệp quả xấu, và do đó, người đang nhắm đến sự tiến bộ thực sự học cách làm tất cả các hành động mà hoàn toàn không có ý nghĩ về bản thân hay kết quả của hành động của mình, bởi vì nếu không có ý nghĩ về bản thân, kết quả của loại thông thường không thể chạm tới y.
Not that the man can escape the benefit of a good deed, any more than he can escape the result of an evil deed; but if the man thinks of the reward that will come to him he will receive the benefit in the shape of that reward, whereas if he forgets himself entirely and does this thing out of the fulness of his heart, because it is the right thing to do and therefore he can do no other, then the whole force of the result is spent in the building of his own character, and nothing of it remains to bind him to the lower planes. The fact is that in each case the man gets what he wants. As the Christ said Himself: “Verily I say unto you, they have their reward.” The man who thinks of good result to himself obtains that good result; the mail who is not thinking of himself at all, or thinking only of making himself a channel for the forces of the LOGOS, is made into a better channel as the result of the action which that thought prompted.
Điều này không có nghĩa là con người có thể thoát khỏi lợi ích của một việc làm tốt, cũng giống như y không thể thoát khỏi kết quả của một việc làm xấu; nhưng nếu con người nghĩ về phần thưởng sẽ đến với y, y sẽ nhận được lợi ích dưới hình thức của phần thưởng đó, trong khi nếu y hoàn toàn quên mình và làm điều này từ tận đáy lòng, vì đó là điều đúng đắn phải làm và do đó y không thể làm điều gì khác, thì toàn bộ sức mạnh của kết quả sẽ được sử dụng để xây dựng nhân cách của y, và không gì trong nó còn lại để ràng buộc y với các cõi thấp hơn. Thực tế là trong mỗi trường hợp, con người nhận được những gì y muốn. Như Đức Christ đã nói: “Quả thật, Ta nói với các ngươi, họ đã nhận phần thưởng của mình.” Người nghĩ về kết quả tốt cho bản thân sẽ nhận được kết quả tốt đó; người không nghĩ về bản thân chút nào, hoặc chỉ nghĩ về việc làm cho mình trở thành một kênh dẫn cho các lực của THƯỢNG ĐẾ, sẽ trở thành một kênh dẫn tốt hơn nhờ vào hành động mà suy nghĩ đó thúc đẩy.
Another complication is introduced by the fact that many people do good deeds in the name of and for the sake of some other, and in that way they make that other a partaker with them of the results. Many a man does a good deed in the name of the Christ, or if he be a Theosophist, in that of the Master, and justice demands that in such a case, since it is the thought of the Christ or the Master which has produced this result, something of the effect must go to the great person in question. In this way vast stores of helpful magnetism are constantly at the disposal of those Great Ones to whom many send thoughts of affection and devotion, in whose name many kindly deeds are done. Naturally it would be utterly impossible that the result of such action should in any way bind the Great One. It simply provides him with additional spiritual force for the work which he has in hand.
Một sự phức tạp khác được đưa vào bởi thực tế là nhiều người làm việc thiện nhân danh và vì lợi ích của một người khác, và theo cách đó, họ khiến người đó trở thành người cùng chia sẻ kết quả với họ. Nhiều người thực hiện hành động tốt nhân danh Đức Christ, hoặc nếu họ là Thông Thiên Học gia, thì nhân danh Chân Sư, và công lý đòi hỏi rằng trong trường hợp như vậy, vì suy nghĩ về Đức Christ hoặc Chân Sư đã tạo ra kết quả này, một phần của tác động phải được chuyển đến vị vĩ đại đó. Theo cách này, những kho dự trữ khổng lồ của từ tính hữu ích luôn sẵn sàng cho các vị Vĩ Đại, những người mà nhiều người gửi đến những suy nghĩ yêu thương và tận tụy, nhân danh nhiều hành động tốt đẹp được thực hiện. Dĩ nhiên là hoàn toàn không thể rằng kết quả của những hành động như vậy sẽ dưới bất kỳ hình thức nào ràng buộc các vị Vĩ Đại. Nó chỉ đơn giản cung cấp cho các Ngài thêm năng lực tinh thần để thực hiện công việc mà các Ngài đang đảm nhận.
THE KARMA OF DEATH
It is by no means certain that in the majority of cases a time for death is definitely appointed by the Lords of Karma at all. The whole arrangement is far more elastic and adaptable than most students suppose. The clue to its comprehension lies in never forgetting that there are three great types of karma, which the Indians call sanchita, prarabdha and kriyamana.
Chưa có sự chắc chắn rằng trong đa số các trường hợp, thời điểm tử vong được các Đấng Chủ Tể Nghiệp Quả định đoạt một cách rõ ràng. Toàn bộ sự sắp xếp này linh hoạt và thích nghi hơn nhiều so với những gì hầu hết các học viên có thể hình dung. Manh mối để hiểu điều này nằm ở việc không bao giờ quên rằng có ba loại nghiệp quả chính, mà người Ấn Độ gọi là sanchita, prarabdha và kriyamana.
The first is the whole vast mass of unexhausted karma, good or bad, which still waits to be worked out; let us call it mass-karma. The second is that particular part of the first which has been selected to be worked out in this incarnation; let us call it the man’ s destiny for this life. The third is the new karma which we are constantly making by our present actions.
Loại nghiệp đầu tiên là toàn bộ khối lượng khổng lồ của nghiệp chưa được giải quyết, tốt hay xấu, vẫn đang chờ để được xử lý; chúng ta có thể gọi nó là nghiệp tổng thể. Loại thứ hai là phần cụ thể của loại nghiệp thứ nhất đã được chọn để giải quyết trong kiếp sống này; chúng ta có thể gọi nó là định mệnh của một người trong kiếp sống này. Loại thứ ba là nghiệp mới mà chúng ta liên tục tạo ra bằng các hành động hiện tại của mình.
It is the karma of the second type that the astrologer or the palmist tries to read; and his calculations, are often invalidated by intrusions from the other two varieties. It is quite certain that nothing can happen to a man which is not in the great mass of his karma, but unquestionably something may happen which was not originally included in his destiny for this life.
Chính là nghiệp thuộc loại thứ hai mà nhà chiêm tinh hoặc người xem chỉ tay cố gắng đọc; và những tính toán của họ thường bị ảnh hưởng bởi sự xâm nhập từ hai loại nghiệp còn lại. Chắc chắn rằng không điều gì có thể xảy ra với một người mà không thuộc về khối nghiệp tổng thể của y, nhưng rõ ràng là có những sự kiện có thể xảy ra mà ban đầu không nằm trong định mệnh của y cho kiếp sống này.
Suppose the case of a man on board a vessel which is about to be wrecked, or in the first car of a train which is about to come into collision. It may or may not be in the destiny appointed for this particular life that that man should die about this time. If it is, he will no doubt be killed; if it is not, he may be saved, if such saving does not involve too great an interference with the ordinary laws of nature. I think we may say that he probably will be saved if the prolongation of his physical life would appreciably hasten his evolution. It is intended that in each life some lesson should be learnt, some quality developed. If that life-work is already done—or if, on the other hand, it is obvious that the man will not succeed in doing it this time, no matter how long he lives—he has nothing to gain by continued physical life, and he may just as well be delivered from it.
Hãy giả sử trường hợp một người đang ở trên một con tàu sắp bị đắm, hoặc ở toa đầu tiên của một đoàn tàu sắp xảy ra va chạm. Có thể hoặc không thể có trong định mệnh của kiếp sống này rằng người đó sẽ chết vào lúc này. Nếu có, thì chắc chắn y sẽ tử vong; nếu không, y có thể được cứu, nếu việc cứu y không liên quan đến sự can thiệp quá lớn vào các định luật tự nhiên. Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể nói rằng y có thể sẽ được cứu nếu sự kéo dài cuộc sống hồng trần của y có thể đẩy nhanh đáng kể quá trình tiến hóa của y. Mục đích của mỗi kiếp sống là học một bài học nào đó, phát triển một phẩm chất nào đó. Nếu công việc của kiếp sống đó đã hoàn thành — hoặc nếu, ngược lại, rõ ràng rằng người đó sẽ không thành công trong việc thực hiện nhiệm vụ lần này, bất kể y sống bao lâu — thì y sẽ không có lợi ích gì từ việc kéo dài cuộc sống hồng trần và có thể được giải thoát khỏi nó.
Also, if there be in the vast mass of his previous karma some debt that can be adequately cancelled by whatever of physical or mental suffering may be involved in such a death, the opportunity of that cancellation may very well be taken when it thus offers itself, even though it may not have been included in the original plan for this particular life. But if in the whole of the mass-karma there is nothing that will fit in with such a death, the man simply cannot die that way, and he will inevitably be saved, even though it be by means which seem miraculous. We hear of such cases—cases in which a huge beam has fallen so as just to save a man from being crushed by the superincumbent weight of the wreckage, or in which when an ocean steamer has gone down with all hands, one man has somehow floated ashore on a hen-coop.
Ngoài ra, nếu trong khối nghiệp lớn của y có một món nợ nào đó có thể được xóa bỏ một cách hợp lý nhờ vào những đau đớn về thể xác hoặc tinh thần liên quan đến cái chết như vậy, cơ hội đó có thể được nắm lấy khi nó xuất hiện, ngay cả khi điều đó không nằm trong kế hoạch ban đầu cho kiếp sống cụ thể này. Nhưng nếu trong toàn bộ nghiệp tổng thể không có điều gì phù hợp với cái chết như vậy, thì người đó đơn giản là không thể chết theo cách đó, và y sẽ không thể tránh khỏi việc được cứu, thậm chí bằng những phương tiện có vẻ như là kỳ diệu. Chúng ta nghe về những trường hợp như vậy—những trường hợp trong đó một thanh gỗ lớn rơi xuống một cách vừa khéo để cứu một người khỏi bị nghiền nát bởi đống đổ nát, hoặc khi một con tàu biển chìm mà mọi người đều thiệt mạng, một người đàn ông đã nổi lên bờ trên một chiếc chuồng gà.
We must not forget the influence on our destiny of that third variety of karma which we are making for ourselves every day. A man may be doing such good work that for the moment he cannot be spared; he may or he may not have acted so as to deserve release from the physical plane at that particular period. Our tendency is to attach an altogether exaggerated importance to the time and the manner of our death. If for a moment we try to imagine how the matter must present itself to the Great Beings in charge of our evolution, we shall gain a much truer appreciation of relative values. To them the progress of the egos in their charge is the one matter of importance. They know the lessons to be learnt, the qualities to be developed.
Chúng ta không nên quên ảnh hưởng của loại nghiệp thứ ba, loại nghiệp mà chúng ta tự tạo ra mỗi ngày, lên số phận của mình. Một người có thể đang làm những công việc tốt đến mức y không thể bị tước đi vào thời điểm đó; y có thể đã hành động xứng đáng với việc được giải thoát khỏi cõi trần tại thời điểm đó hoặc không. Xu hướng của chúng ta là gán cho thời điểm và cách thức của cái chết một tầm quan trọng quá mức. Nếu chúng ta thử tưởng tượng cách vấn đề này được thể hiện với các Đấng Cao Cả chịu trách nhiệm cho sự tiến hóa của chúng ta, chúng ta sẽ có một sự đánh giá chính xác hơn về giá trị tương đối của nó. Đối với các Ngài, sự tiến bộ của chân ngã trong sự chăm sóc của họ là vấn đề duy nhất quan trọng. Các Ngài biết những bài học cần được học, những phẩm chất cần được phát triển.
They must regard it much as a schoolmaster regards the amount of work which a boy has to do before qualifying himself for entrance to the university. The schoolmaster divides that work according to the time at his disposal; so much must be done in each year, and the year’ s work in turn must be subdivided into terms and even into days. But he will allow himself a considerable amount of latitude with regard to these minor divisions; he may decide to devote two days instead of one to some specially difficult point, or he may close a lesson earlier than he intended if its object is clearly achieved.
Các Ngài có lẽ nhìn vấn đề này tương tự như cách một thầy giáo nhìn khối lượng công việc mà một học sinh phải hoàn thành trước khi đủ điều kiện nhập học đại học. Người thầy phân chia công việc đó theo thời gian có sẵn; một khối lượng nhất định phải được hoàn thành trong mỗi năm, và công việc của từng năm được chia nhỏ thành các học kỳ và thậm chí là các ngày. Nhưng thầy giáo có thể cho mình một mức độ linh hoạt đáng kể đối với các phân chia nhỏ hơn này; có thể thầy sẽ quyết định dành hai ngày thay vì một ngày cho một vấn đề đặc biệt khó khăn, hoặc thầy có thể kết thúc một bài học sớm hơn dự định nếu mục tiêu của bài học đó đã đạt được rõ ràng.
Our lives are exactly these days of school life, and, the lesson may be lengthened or shortened as the teacher sees to be best. Death is merely the release from school at the end of one day’ s lesson. We need not trouble ourselves about it in the least; we should thankfully accept it whenever karma permits it to us. We must realise that the one important thing is that the appointed lesson should be learnt. The sections into which that lesson shall be divided, the length of the various lesson-hours, and exactly when they shall begin or end—all these are details which we may well leave to the agents of the Great Law.
Cuộc đời chúng ta chính là những ngày học đó, và bài học có thể được kéo dài hoặc rút ngắn theo cách mà giáo viên cho là tốt nhất. Cái chết đơn giản chỉ là sự giải thoát khỏi trường học vào cuối một ngày học. Chúng ta không cần phải lo lắng về điều đó; chúng ta nên chấp nhận nó một cách biết ơn bất cứ khi nào nghiệp quả cho phép. Điều quan trọng là bài học đã được chỉ định phải được học. Những phần mà bài học được chia nhỏ, độ dài của các giờ học khác nhau, và chính xác khi nào chúng bắt đầu hay kết thúc—tất cả những điều này đều là những chi tiết mà chúng ta có thể hoàn toàn phó thác cho các Đấng Chủ Tể của Đại Định Luật.
From this point of view no death can be described as premature, for we may always be absolutely certain that what comes to us from without is what is best for us. Our business is to do our very best with each life, and to make every effort to retain it as long as possible. If we ourselves cut it short by recklessness or improper living, we are responsible, and the effect will assuredly be prejudicial; but if it is cut short by something entirely beyond our control, we may be sure that the curtailment is for our good.
Từ quan điểm này, không có cái chết nào có thể được mô tả là “chết non”, vì chúng ta có thể hoàn toàn chắc chắn rằng những gì đến với chúng ta từ bên ngoài là điều tốt nhất cho chúng ta. Nhiệm vụ của chúng ta là làm hết sức mình trong mỗi kiếp sống, và nỗ lực giữ lại nó càng lâu càng tốt. Nếu chúng ta tự mình rút ngắn nó vì sự bất cẩn hoặc lối sống không đúng đắn, chúng ta phải chịu trách nhiệm, và hậu quả chắc chắn sẽ có hại; nhưng nếu nó bị rút ngắn bởi một điều gì đó hoàn toàn ngoài tầm kiểm soát của chúng ta, chúng ta có thể chắc chắn rằng sự cắt ngắn đó là vì lợi ích của chúng ta.
Nevertheless what has been written in some of our books about “premature” death is quite true. In extreme old age desire fades away, and so something of the work of the astral life is already done before the man leaves the physical plane. A similar result is achieved by long sickness, and so in either of these cases the astral life is likely to be comparatively short and without serious suffering. This may be called the ordinary course of nature, and it is only by comparison with it that an earlier death may be spoken of as “premature.” If a person dies in youth, desire is still strong, and therefore a stronger and more strenuous astral life may be expected—a condition on the whole less desirable. But if the Powers behind decided that an earlier death is best, we may feel sure that They know of other considerations which outweigh the prolongation of the astral life.
Tuy nhiên, những gì đã được viết trong một số sách của chúng ta về “chết non” là hoàn toàn đúng. Trong tuổi già, dục vọng phai nhạt, và do đó một phần của công việc trong đời sống cảm dục đã được hoàn thành trước khi người đó rời khỏi cõi hồng trần. Một kết quả tương tự cũng đạt được nhờ bệnh tật kéo dài, và do đó trong cả hai trường hợp này, đời sống cảm dục có thể sẽ tương đối ngắn và không có nhiều đau khổ nghiêm trọng. Điều này có thể được gọi là quy luật tự nhiên, và chỉ khi so sánh với điều đó mà một cái chết sớm hơn mới có thể được coi là “chết non”. Nếu một người chết trẻ, dục vọng vẫn còn mạnh mẽ, và do đó một đời sống cảm dục mạnh mẽ và căng thẳng hơn có thể được dự đoán—một tình trạng nhìn chung ít mong muốn hơn. Nhưng nếu các Đấng Cao Cả đã quyết định rằng cái chết sớm hơn là tốt nhất, chúng ta có thể chắc chắn rằng các Ngài biết về những yếu tố khác có sức nặng hơn việc kéo dài đời sống cảm dục.
It seems probable, therefore, that in the majority of cases the exact time and manner of a man’ s death is not decided before or at his birth. Astrologers tell us that in many instances they cannot actually foretell the death of the subject whose horoscope they are examining. They say that at a certain time malefic influences are strong, and the man may die then, but if he does not, his life will continue until a certain other occasion when evil aspects threaten him, and so on. In the same way a palmist will tell us that at such and such points there are serious breaks or markings upon the life-line; they may indicate death, or it may be only serious illness. It is likely that these uncertainties represent points which were left open for later decisions, depending largely upon the modifications introduced by the action of the man during his life, and by the use which he makes of his opportunities. At any rate we may be well assured that whatever decision is made it will be a wise one, and that, whether in death or in life, all things are working together for our good.
Vì vậy, có vẻ hợp lý rằng trong đa số các trường hợp, thời điểm và cách thức của cái chết của một người không được quyết định trước hoặc vào thời điểm y sinh ra. Các nhà chiêm tinh cho chúng ta biết rằng trong nhiều trường hợp, họ không thể thực sự dự đoán cái chết của người mà họ đang xem xét lá số chiêm tinh. Họ nói rằng vào một thời điểm nhất định, các ảnh hưởng xấu mạnh mẽ và người đó có thể chết vào lúc đó, nhưng nếu không, cuộc sống của y sẽ tiếp tục cho đến một dịp khác khi những khía cạnh tiêu cực đe dọa, và cứ thế. Tương tự, một người xem chỉ tay sẽ nói với chúng ta rằng tại một số điểm nào đó có những đứt gãy hoặc dấu hiệu nghiêm trọng trên đường sinh mệnh; chúng có thể biểu thị cái chết, hoặc cũng có thể chỉ là bệnh tật nặng. Những sự không chắc chắn này có thể đại diện cho những điểm đã được để mở cho các quyết định sau này, phụ thuộc phần lớn vào những thay đổi được tạo ra bởi hành động của con người trong cuộc sống, và bởi cách mà y sử dụng các cơ hội của mình. Dù thế nào đi nữa, chúng ta có thể chắc chắn rằng bất kỳ quyết định nào được đưa ra đều là quyết định khôn ngoan, và rằng dù trong sự sống hay cái chết, mọi thứ đều đang làm việc vì lợi ích của chúng ta.
KARMA AS AN EDUCATOR
No man can ever receive what he has not earned, and all things come to us as the result of causes which we ourselves have set in motion. If we have caused anything we have also caused its result, for the cause and the effect are like the two sides of a coin—we cannot have one without the other; indeed, the result comes upon us as part of our original action, which may be said in this case to be still continuing. Everything which comes to us is our own doing, good and bad alike; but it is also being employed definitely for our good. The payment of the debt is being utilised to develope the man who owes it, and in paying it he may show patience, courage, and endurance in the face of adverse circumstances.
Không ai có thể nhận được điều gì mà mình chưa xứng đáng, và mọi điều đến với chúng ta đều là kết quả của những nguyên nhân mà chính chúng ta đã khởi xướng. Nếu chúng ta đã gây ra điều gì đó, chúng ta cũng đã tạo ra kết quả của nó, vì nguyên nhân và kết quả giống như hai mặt của một đồng xu—chúng ta không thể có cái này mà không có cái kia; thực ra, kết quả đến với chúng ta như một phần của hành động ban đầu, mà trong trường hợp này có thể nói rằng nó vẫn đang tiếp diễn. Mọi thứ xảy ra với chúng ta đều là do chính chúng ta, dù tốt hay xấu; nhưng tất cả cũng được sử dụng một cách rõ ràng vì lợi ích của chúng ta. Việc trả món nợ đó đang được sử dụng để phát triển con người mắc nợ, và trong quá trình trả nợ, y có thể thể hiện sự kiên nhẫn, can đảm và chịu đựng trước những hoàn cảnh bất lợi.
People constantly grumble against their circumstances. A man will say:
Mọi người thường xuyên than phiền về hoàn cảnh của mình. Một người có thể nói:
“I cannot do anything, situated as I am, with so many cares, with so much business, with so large a family. If only I had the liberty which so-and-so has!”
"Tôi không thể làm được gì cả, với hoàn cảnh như hiện tại, với quá nhiều lo toan, quá nhiều công việc, với một gia đình lớn như vậy. Nếu tôi chỉ có được sự tự do như người này người kia!"
The man does not realise that these very hindrances are part of his training, and that they are put in his way just in order to teach him how to deal with them. He would like no doubt to have some opportunity of showing off the powers which he has already developed, but what is needed is that he should develope the powers which he has not, and this means hard work and suffering, but also rapid progress. There is assuredly no such thing as punishment and reward, but there is the result of our actions, which may be pleasant or unpleasant. If we upset the equilibrium of nature in any way it inevitably readjusts itself at our expense.
Người đó không nhận ra rằng chính những trở ngại này là một phần của sự rèn luyện của y, và chúng được đặt trên con đường của y chính để dạy y cách đối phó với chúng. Y có thể mong muốn có cơ hội thể hiện những khả năng mà mình đã phát triển, nhưng điều cần thiết là y phải phát triển những khả năng mà y chưa có, và điều này đòi hỏi công việc khó khăn và đau khổ, nhưng đồng thời cũng mang lại sự tiến bộ nhanh chóng. Chắc chắn không có thứ gọi là trừng phạt và thưởng, mà chỉ có kết quả của những hành động của chúng ta, có thể dễ chịu hoặc không dễ chịu. Nếu chúng ta làm xáo trộn sự cân bằng của tự nhiên theo bất kỳ cách nào, tự nhiên sẽ điều chỉnh lại và điều đó chắc chắn sẽ xảy ra bằng chi phí của chúng ta.
An ego sometimes chooses whether he will or will not take certain karma in the present life, though often the brain-mind may know nothing of this choice, so that the very adverse circumstances at which a man is grumbling may be exactly what he has deliberately chosen for himself in order to forward his evolution. When he is becoming a disciple, and is therefore somewhat out of the stage of evolution which is normal at present, he often dominates and largely changes his karma—not that he can escape his share, or any least portion of it, but that he gains much new knowledge and therefore sets in motion new forces in many directions, which naturally modify the working of the old ones. He plays off one law against another, thus neutralising forces whose results might hinder his progress.
Một chân ngã đôi khi chọn liệu y có muốn nhận một nghiệp quả nhất định trong kiếp sống hiện tại hay không, mặc dù não bộ có thể hoàn toàn không biết gì về sự lựa chọn này, nên những hoàn cảnh bất lợi mà một người đang than phiền có thể chính xác là những gì y đã cố ý chọn cho mình để thúc đẩy sự tiến hóa của mình. Khi y trở thành một đệ tử và do đó bước ra khỏi giai đoạn tiến hóa bình thường ở hiện tại, y thường chi phối và thay đổi phần lớn nghiệp quả của mình—không phải rằng y có thể trốn tránh phần của mình, hay bất kỳ phần nhỏ nào, mà là y có được nhiều tri thức mới và do đó khởi xướng nhiều lực mới theo nhiều hướng, điều này tự nhiên làm thay đổi sự hoạt động của các lực cũ. Y sử dụng một định luật để hóa giải một định luật khác, do đó làm vô hiệu hóa những lực có thể cản trở sự tiến bộ của y.
It has often been said that the disciple who takes steps to hasten his own progress thereby calls down suffering upon himself. That is not perhaps quite the best way to put it. All that he does is to take his own evolution earnestly in hand, and to endeavour, as rapidly as may be, to eradicate the evil and develope the good within himself, in order that he may become ever a more and more perfect living channel of the divine love. It is true that such action will assuredly attract the attention of the great Lords of Karma, and while Their response will be to give him greater opportunity, it may and often does involve a considerable increase of suffering in various ways.
Người ta thường nói rằng người đệ tử khi tiến hành các bước để đẩy nhanh tiến trình của chính mình sẽ gọi đến những khổ đau cho bản thân. Có lẽ cách nói đó không hoàn toàn đúng. Tất cả những gì y làm là tự mình đảm nhận nghiêm túc quá trình tiến hóa của mình và cố gắng nhanh chóng xóa bỏ điều ác và phát triển điều thiện trong chính mình, để trở thành một kênh sống hoàn hảo hơn nữa cho tình yêu thiêng liêng. Đúng là hành động như vậy chắc chắn sẽ thu hút sự chú ý của các Đấng Chủ Tể Nghiệp Quả vĩ đại, và trong khi phản ứng của các Ngài sẽ là mang lại cho y cơ hội lớn hơn, điều đó thường cũng bao gồm một sự gia tăng đáng kể về đau khổ theo nhiều cách khác nhau.
But if we think carefully we shall see that this is exactly what might be expected. All of us have more or less of evil karma behind us, and until that is disposed of, it will be a perpetual hindrance to us in our higher work. One of the earliest steps in the direction of serious progress is therefore the working out of whatever of this evil still remains to us, and so the first response of the Great Ones to our upward striving is frequently to give us the opportunity of paying off a little more of this debt (since we have now made ourselves strong enough to do it) in order that it may be cleared out of the way of our future work. The manner in which this debt shall be paid is a matter which is entirely in Their hands and not in ours; and we can trust Them to manage it without inflicting additional suffering upon others—unless of course those others have also some outstanding karmic debt which can be discharged in this way. In any case the great karmic deities cannot act otherwise than with absolute justice to every person concerned, whether directly or remotely.
Nhưng nếu chúng ta suy nghĩ cẩn thận, chúng ta sẽ thấy rằng đó là điều hoàn toàn có thể dự đoán. Tất cả chúng ta đều có nghiệp xấu ở mức độ ít nhiều, và cho đến khi điều đó được giải quyết, nó sẽ mãi mãi là một trở ngại cho chúng ta trong công việc cao cả của mình. Một trong những bước đầu tiên hướng đến sự tiến bộ nghiêm túc là xử lý những gì còn lại của nghiệp xấu này, và do đó, phản ứng đầu tiên của Các Đấng Cao Cả đối với sự nỗ lực của chúng ta thường là trao cho chúng ta cơ hội trả thêm một phần nợ này (vì chúng ta đã tự làm mình mạnh mẽ đủ để làm điều đó) để nó có thể được loại bỏ khỏi con đường của công việc tương lai của chúng ta. Cách thức trả món nợ này hoàn toàn nằm trong tay Các Ngài chứ không phải trong tay chúng ta; và chúng ta có thể tin tưởng rằng Các Ngài sẽ giải quyết nó mà không gây thêm đau khổ cho những người khác—trừ khi tất nhiên những người khác đó cũng có một món nợ nghiệp cần được thanh toán theo cách này. Trong mọi trường hợp, các vị thần nghiệp quả vĩ đại không thể hành động khác ngoài việc thực hiện công lý tuyệt đối đối với tất cả mọi người có liên quan, dù trực tiếp hay gián tiếp.
VARIETIES OF KARMA
The karma of service done is always the opportunity for more service. This is one of the rules which emerge with the greatest certainty from our study of the working of karma in the many past lives which have been examined. When a man leads a particularly good life it by no means follows that in the next one he will be rich or powerful or even comfortable; but it does absolutely follow that he will have wider opportunities for work. Clearly the LOGOS wants His work done, and if we wish for opportunities of progress we must show that we are willing to work.
Nghiệp quả của công việc phụng sự đã hoàn thành luôn mang lại cơ hội cho nhiều công việc phụng sự hơn nữa. Đây là một trong những quy luật hiển nhiên nhất từ việc nghiên cứu cách vận hành của nghiệp qua nhiều kiếp trước đã được xem xét. Khi một người sống một cuộc đời đặc biệt tốt, điều đó không có nghĩa rằng kiếp sau y sẽ giàu có, quyền lực, hoặc thậm chí thoải mái; nhưng chắc chắn y sẽ có nhiều cơ hội hơn để làm việc. Rõ ràng, LOGOS muốn công việc của Ngài được thực hiện, và nếu chúng ta mong muốn có cơ hội tiến bộ, chúng ta phải chứng tỏ rằng mình sẵn sàng làm việc.
Knowledge brings responsibility, along with opportunity. To yield to what you know to be wrong, or to go back a step in order to gain force for a greater spring forward, is to miss your opportunity. Lives may pass before you gain the same opportunity again. If you neglect the knowledge or vision which points out to you a fault, you will certainly be born in the next life without that knowledge or vision. Knowledge should always be used; it is a mistake to think that you can postpone your activity and retain the knowledge.
Tri thức mang lại trách nhiệm, đồng thời cũng mang lại cơ hội. Nếu làm điều mà bạn biết là sai, hoặc lùi lại một bước để lấy đà tiến xa hơn, đó là bỏ lỡ cơ hội của mình. Có thể sẽ phải trải qua nhiều kiếp sống trước khi bạn có lại cùng một cơ hội. Nếu bạn bỏ qua tri thức hoặc tầm nhìn chỉ ra cho bạn một lỗi lầm, chắc chắn trong kiếp sau bạn sẽ sinh ra mà không có tri thức hoặc tầm nhìn đó. Tri thức luôn phải được sử dụng; thật sai lầm khi nghĩ rằng bạn có thể hoãn lại hoạt động của mình mà vẫn giữ được tri thức.
We may make for ourselves most unpleasant future conditions if we choose to behave foolishly, but it is practically impossible for us who are now cultured people to throw ourselves back in a future birth into the position of savages or people of really low class. We may waste our time and make no progress, but unless we actually take to the practice of black magic, and use tremendous power in the wrong direction, we cannot throw ourselves back as far as that. Through misconduct or through neglect of opportunities we may be born in an uncomfortable position in our own class, or even in one a little lower, but it would upset the scheme of things if we could be thrown back into the savage state. Exceptional actions sometimes produce exceptional results, but as a general rule violent ups and downs are not practical; obviously it would be impossible for a cultured man to work out the kind of karma which in his position he must have made, if he were thrown back into the narrow conditions of an ignorant agricultural labourer. For the plans of the LOGOS an ever-increasing number of cultured people are needed, and therefore when once a man is born into a noble position he is on whole likely to continue to be so born.
Chúng ta có thể tạo ra những điều kiện tương lai rất khó chịu nếu chọn hành động ngu xuẩn, nhưng hầu như không thể nào một người đã có văn hóa như chúng ta lại bị đẩy lùi trong kiếp sống tương lai vào vị trí của những kẻ man rợ hoặc những người thuộc tầng lớp thấp. Chúng ta có thể lãng phí thời gian và không tiến bộ, nhưng trừ khi thực hành hắc thuật và sử dụng sức mạnh to lớn vào hướng sai lầm, chúng ta không thể tự đẩy mình lùi xa đến mức đó. Do hành vi sai trái hoặc bỏ lỡ cơ hội, chúng ta có thể sinh ra trong một hoàn cảnh bất tiện trong tầng lớp của mình, hoặc thậm chí thấp hơn một chút, nhưng sẽ làm rối loạn trật tự của vạn vật nếu chúng ta có thể bị đẩy trở lại trạng thái man rợ. Những hành động đặc biệt có thể dẫn đến những kết quả đặc biệt, nhưng nhìn chung, những sự thăng trầm dữ dội là không thực tế; rõ ràng là một người có văn hóa không thể làm tròn nghiệp quả mà y đã tạo ra nếu y bị đẩy trở lại vào điều kiện hẹp hòi của một lao động nông nghiệp không có học vấn. Đối với kế hoạch của LOGOS, ngày càng cần nhiều người có văn hóa, và do đó, khi một người đã sinh ra trong một vị trí cao quý, y có khả năng sẽ tiếp tục sinh ra trong những hoàn cảnh tương tự.
There are, however, certain kinds of action which bring unusually horrible karma as their results. For example, the karma of cruelty of any kind, whether to men or to animals, is always especially awful in character; it often brings with it chronic physical ailments, accompanied by most acute sufferings, and often also it produces insanity—this last more especially when the cruelty is of a refined and intentional character. We have found, for example, that many members of the ignorant mob who tortured Hypatia in Alexandria have been reborn in Armenia, and have themselves suffered all sorts of cruelties at the hands of the Turks. People who are now, apparently by accident, burnt to death with awful sufferings are often those who have burnt others in the middle ages, or looked on with glee at those ghastly scenes of martyrdom.
Tuy nhiên, có những hành động nhất định mang lại nghiệp quả khủng khiếp một cách bất thường. Ví dụ, nghiệp quả của sự tàn ác dưới bất kỳ hình thức nào, dù đối với con người hay động vật, luôn mang tính chất đặc biệt đáng sợ; nó thường mang đến các bệnh tật mãn tính về thể xác, kèm theo những đau khổ tột cùng, và thường cũng dẫn đến sự điên loạn—đặc biệt khi sự tàn ác mang tính tinh vi và cố ý. Chúng ta đã phát hiện, ví dụ, rằng nhiều thành viên của đám đông vô học đã tra tấn Hypatia ở Alexandria đã được tái sinh ở Armenia, và chính họ đã phải chịu đựng nhiều hình thức tàn ác dưới tay của người Thổ. Những người mà hiện tại, dường như do tai nạn, bị thiêu chết trong sự đau đớn khủng khiếp thường là những người đã từng thiêu người khác trong thời Trung Cổ, hoặc đã nhìn với sự thích thú vào những cảnh tượng ghê rợn của sự tử đạo.
Any injury done to a highly developed person reacts terribly upon the doer. We should indeed be careful about our attitude towards any Great One who may come, for He, being far in advance of us, is likely to be misunderstood—to be different from what we have expected, and therefore not to be appreciated. One reason why the Great Ones do not more often come amongst men is that the karma of misjudging and ill-using Them is dreadful, and the fools among mankind are sure to incur it. I have myself seen a case in which a great soul, born where he was not understood, fell when young into the hands of a brutal and incompetent pedagogue who shamefully abused him. I have also been allowed to see the karma which will follow upon that cruelty, and I shudder when I think of it. Truly may it be said of that miserable wretch, in the words attributed to the Christ, that before he had “offended one of these little ones, it had been better for him that a millstone had been hanged about his neck, and he had been drowned in the depths of the sea.”
Bất kỳ sự tổn hại nào gây ra cho một người phát triển cao đều phản ứng cực kỳ nghiêm trọng lên người thực hiện. Chúng ta thật sự cần cẩn thận với thái độ của mình đối với bất kỳ Đấng Cao Cả nào có thể đến, vì Ngài, do phát triển vượt bậc hơn chúng ta, có khả năng sẽ bị hiểu lầm—khác với những gì chúng ta mong đợi, và do đó không được đánh giá đúng mức. Một trong những lý do tại sao các Đấng Cao Cả không thường xuyên đến giữa loài người hơn là vì nghiệp quả của việc phán xét sai và lạm dụng các Ngài là đáng sợ, và những kẻ ngu ngốc trong nhân loại chắc chắn sẽ mắc phải điều đó. Tôi đã từng chứng kiến một trường hợp trong đó một linh hồn vĩ đại, sinh ra ở một nơi mà y không được hiểu đúng, đã rơi vào tay một thầy giáo tàn nhẫn và vô năng khi còn trẻ, người đã ngược đãi y một cách tàn nhẫn. Tôi cũng đã được phép thấy nghiệp quả sẽ theo sau hành vi tàn bạo đó, và tôi rùng mình khi nghĩ đến nó. Thật sự có thể nói về kẻ khốn khổ đó, bằng những lời gán cho Đức Christ, rằng trước khi y "xúc phạm đến một trong những kẻ nhỏ bé này, tốt hơn là y nên bị buộc một cối đá vào cổ và bị ném xuống biển sâu."
Closely associated with this is the subject of the karma of ingratitude, which is always exceptionally heavy—most of all when the ingratitude is shown to an occult teacher. People are constantly pressing forward, desiring to come into touch with the Masters, to attract Their attention; and they sometimes think that the pupils of those Masters try to hold them back, or at any rate decline to assist them in their efforts to approach. The pupil of the Masters exists only to help others, and nothing pleases him more than to draw another to the Feet where he has learned so much himself. But when he sees from the type of the aspirant that he does not yet understand those Great Ones, that his attitude towards Them is captious, irreverent, presumptuous, he will take no responsibility in the matter, for he knows that serious disaster is certain to result. A man of such temperament is sure to make bad karma anywhere; it would be foolish to put him into a position where he can multiply it a hundredfold.
Liên quan chặt chẽ đến điều này là chủ đề nghiệp quả của sự vô ơn, luôn đặc biệt nặng nề—đặc biệt là khi sự vô ơn được thể hiện đối với một vị thầy huyền môn. Người ta liên tục cố gắng tiến tới, mong muốn tiếp xúc với các Chân sư, thu hút sự chú ý của Các Ngài; và đôi khi họ nghĩ rằng các đệ tử của các Chân sư cố tình cản trở họ, hoặc ít nhất từ chối giúp họ trong nỗ lực tiếp cận. Người đệ tử của các Chân sư chỉ tồn tại để giúp đỡ người khác, và không có gì làm y hài lòng hơn việc đưa một người khác đến Chân Ngài, nơi y đã học được rất nhiều điều. Nhưng khi y thấy rằng người chí nguyện chưa hiểu đúng về các Đấng Cao Cả, rằng thái độ của y đối với Các Ngài là chê bai, thiếu tôn trọng, kiêu ngạo, y sẽ không chịu trách nhiệm trong việc này, vì y biết rằng chắc chắn sẽ có thảm họa nghiêm trọng xảy ra. Một người có tính cách như vậy chắc chắn sẽ tạo ra nghiệp quả xấu ở bất kỳ nơi nào; thật ngu ngốc nếu đặt y vào vị trí mà y có thể nhân lên nghiệp xấu của mình hàng trăm lần.
For example, I have noticed cases in which people who have been deeply devoted to our President change their minds, and begin to abuse and slander her. That is a wicked thing, and it makes far worse karma than would be the maligning of a person to whom they owed nothing. I do not mean that people have no right to change their minds. If a man finds that he can no longer conscientiously follow our President, he has a full right to withdraw himself from among her disciples; we may regret his blindness, but we have no word of blame for him, for each man must do what he sees to be right. For such a departure there is no evil karma but that of the loss of opportunity—the ordinary result of failing in a test and making a serious mistake. But if after dropping away the man begins venomously to attack her and to circulate scandalous falsehoods against her, as so many have done, he is committing a very grave sin, and the karma of his action is exceedingly heavy. Vindictiveness and lying are always wicked; but when a man directs them against one from whose hands he has received the cup of life, they become a crime the effects of which are appalling.
Ví dụ, tôi đã nhận thấy những trường hợp trong đó những người đã từng rất tận tụy với Bà Hội Trưởng của chúng ta thay đổi quan điểm của họ và bắt đầu lăng mạ và phỉ báng bà. Đó là một hành động xấu xa và tạo ra nghiệp quả tồi tệ hơn nhiều so với việc bôi nhọ một người mà họ không mắc nợ gì cả. Tôi không có ý nói rằng mọi người không có quyền thay đổi quan điểm. Nếu một người nhận thấy rằng y không còn có thể theo Bà Hội Trưởng của chúng ta một cách lương tâm, y có đầy đủ quyền rút lui khỏi hàng ngũ các đệ tử của bà; chúng ta có thể tiếc nuối sự mù quáng của y, nhưng không có lời trách móc nào dành cho y, vì mỗi người phải làm điều mà y thấy là đúng. Đối với một sự ra đi như vậy, không có nghiệp quả xấu nào ngoài việc mất cơ hội—kết quả thông thường của việc thất bại trong một thử thách và mắc một sai lầm nghiêm trọng. Nhưng nếu sau khi rời đi, người đó bắt đầu tấn công bà một cách cay độc và lan truyền những lời nói dối độc địa về bà, như rất nhiều người đã làm, y đang phạm một tội rất nghiêm trọng, và nghiệp quả của hành động đó cực kỳ nặng nề. Lòng thù hận và dối trá luôn là tội lỗi; nhưng khi một người nhắm vào ai đó mà từ tay người đó y đã nhận được cốc nước sự sống, những hành vi đó trở thành tội ác với những hậu quả kinh khủng.
The fact that a man has a large amount of bad karma behind him makes anything like occult advancement impossible for him until it is worked off. For example, those who are deeply involved in karmic debts are not likely to be candidates for membership in the community of the sixth root-race. No one could become an adept if he had evil karma behind him, because he must be free from any necessity for rebirth. A man who can function freely in his buddhic or rational vehicle, and so drop the causal body, need never again take up the latter; but naturally this cannot be done until all the karma of the lower planes is exhausted. The Master sends out all of HIS forces in open curves; but any lower thought of self causes the force sent out to travel in a closed curve, so that, whether it be good or bad, it has to return to its source and the man must come back to receive it.
Việc một người có nhiều nghiệp xấu phía sau khiến cho bất kỳ sự tiến bộ huyền môn nào trở nên không thể đạt được cho đến khi nghiệp đó được giải quyết. Ví dụ, những người mắc nợ nghiệp quả sâu sắc không có khả năng trở thành ứng viên cho việc gia nhập cộng đồng của giống dân chính thứ sáu. Không ai có thể trở thành một Chân Sư nếu y còn nghiệp xấu phía sau, vì y phải thoát khỏi sự ràng buộc với việc tái sinh. Một người có thể hoạt động tự do trong thể Bồ Đề hoặc thể trí sáng suốt của mình và do đó có thể bỏ qua thể nhân quả, sẽ không bao giờ phải tiếp nhận lại thể này nữa; nhưng điều này tự nhiên không thể xảy ra cho đến khi tất cả nghiệp quả của các cõi thấp hơn đã được tiêu tan. Chân Sư phát ra tất cả các lực của Ngài theo đường cong mở; nhưng bất kỳ ý nghĩ thấp kém nào về bản ngã sẽ khiến lực được phát ra di chuyển theo một đường cong khép kín, do đó, dù là tốt hay xấu, nó đều phải quay lại với nguồn gốc của nó và con người phải quay lại để nhận lấy nó.
A man is not free from the binding results on lower planes until he is perfectly selfless on those planes. A man who when helping another feels perfectly the unity with him, obtains the result of his action on the rational plane only, and not lower down. Do not forget also that we are making karma on the astral plane, for a man can make karma wherever his consciousness is developed, or wherever he can act or choose. I have seen cases where actions done on the astral plane have borne karmic fruit in the next physical life. Another point to remember is that there is always a general karma belonging to an order or a nation, and that each individual in that order or that nation is, to a certain extent, responsible for the action of the whole. For instance, a priest has a certain responsibility for all that the collective priesthood does, even though he may not personally approve of it.
Con người không thoát khỏi kết quả ràng buộc trên các cõi thấp hơn cho đến khi y hoàn toàn vô ngã trên các cõi đó. Một người khi giúp đỡ người khác mà cảm nhận được sự hợp nhất hoàn toàn với họ, sẽ chỉ nhận được kết quả hành động của mình trên cõi trí sáng suốt, và không phải trên các cõi thấp hơn. Đừng quên rằng chúng ta cũng đang tạo nghiệp trên cõi cảm dục, vì con người có thể tạo nghiệp ở bất cứ nơi nào ý thức của y phát triển, hoặc bất cứ nơi nào y có thể hành động hoặc lựa chọn. Tôi đã thấy những trường hợp trong đó các hành động thực hiện trên cõi cảm dục đã mang lại kết quả nghiệp quả trong kiếp sống hồng trần tiếp theo. Một điểm khác cần nhớ là luôn có một nghiệp quả chung thuộc về một tổ chức hoặc một quốc gia, và mỗi cá nhân trong tổ chức đó hoặc quốc gia đó đều có trách nhiệm, ở một mức độ nào đó, đối với hành động của toàn thể. Ví dụ, một linh mục có trách nhiệm nhất định đối với tất cả những gì mà giới linh mục tập thể thực hiện, ngay cả khi y không cá nhân đồng tình với điều đó.
ANIMAL KARMA
Students often ask questions upon the working of karma in connection with the animal kingdom, saying that since it is scarcely conceivable that animals can have made much karma of any kind, it is difficult to account for the extreme differences to be observed in their conditions—one being well and kindly treated, while another is subjected to all kinds of brutalities, one always protected and well-fed, while another is left to starve and to fight for the bare right of living.
Học viên thường đặt câu hỏi về sự vận hành của nghiệp quả liên quan đến giới động vật, nói rằng bởi vì khó có thể tưởng tượng rằng loài động vật có thể tạo ra nhiều nghiệp quả theo bất kỳ hình thức nào, thật khó để lý giải cho những sự khác biệt cực kỳ rõ rệt trong điều kiện sống của chúng—một con thì được chăm sóc tốt và tử tế, trong khi con khác phải chịu đựng đủ loại tàn ác, một con luôn được bảo vệ và nuôi dưỡng tốt, trong khi con khác bị bỏ đói và phải chiến đấu cho quyền được sống tối thiểu.
There are two points to be borne in mind in this connection: first, an animal often does make a good deal of karma; second, the well-treated animal has not always so much advantage as he appears to have, for association with man does not always improve the animal or tend to evolve it in the right direction. The sporting dog is taught by the hunter to be far more savage and brutal than it could ever become in any form of life that could come to it by nature; for the wild animal kills only to satisfy his hunger, and it is only man who introduces into animal life the wickedness of killing for the sake of the lust of destruction. However much his intelligence may be developed, it would have been far better for this unfortunate creature if he had never come into contact with humanity; for through him his group-soul has now made karma—karma of the most evil kind, for which other dogs which are expressions of that group-soul will have to suffer later in order that gradually the savagery may be weeded out.
Có hai điểm cần được ghi nhớ trong bối cảnh này: thứ nhất, một con vật thường tạo ra một lượng nghiệp quả đáng kể; thứ hai, con vật được đối xử tốt không phải lúc nào cũng có nhiều lợi thế như vẻ ngoài của nó. Bởi vì sự tương tác với con người không phải lúc nào cũng cải thiện con vật hoặc thúc đẩy sự tiến hóa của nó theo hướng đúng đắn. Chó săn được thợ săn dạy để trở nên tàn nhẫn và dã man hơn nhiều so với bất kỳ hình thức sống tự nhiên nào có thể đến với nó; vì động vật hoang dã chỉ giết để thỏa mãn cơn đói, và chỉ có con người mới đưa vào cuộc sống động vật sự xấu xa của việc giết chóc vì khao khát phá hủy. Dù trí tuệ của nó có phát triển bao nhiêu đi nữa, sẽ tốt hơn rất nhiều cho sinh vật bất hạnh này nếu nó chưa từng tiếp xúc với con người; vì thông qua nó, linh hồn nhóm của nó đã tạo ra nghiệp quả—nghiệp quả loại ác nhất, mà những con chó khác, là biểu hiện của linh hồn nhóm đó, sẽ phải chịu đựng sau này để từ từ loại bỏ tính tàn ác.
The same may be said of the lap-dog who is pampered by some foolish mistress so that he gradually loses all the canine virtues, and becomes an embodiment of selfishness and love of ease. In both these cases man is criminally abusing his trust with regard to the animal kingdom, and is deliberately developing the lower instead of the higher instincts in the creatures committed to his care, thereby making bad karma himself, and leading a group-soul to make bad karma also. Man’ s duty towards the dog is clearly to evolve in him devotion, affection, intelligence and usefulness, and to repress kindly but firmly every manifestation of the savage and cruel side of his nature, which a brutalised humanity has for ages so sedulously fostered.
Điều tương tự cũng có thể nói về con chó cảnh được một bà chủ ngớ ngẩn nuông chiều, khiến nó dần mất hết những đức tính của loài chó, và trở thành hiện thân của sự ích kỷ và yêu thích sự nhàn hạ. Trong cả hai trường hợp này, con người đã phạm tội lạm dụng niềm tin của mình đối với giới động vật, và cố ý phát triển bản năng thấp kém thay vì những bản năng cao hơn ở các sinh vật được giao phó cho sự chăm sóc của mình, qua đó tự mình tạo ra nghiệp xấu, và dẫn dắt linh hồn nhóm cũng tạo ra nghiệp xấu. Nhiệm vụ của con người đối với chó rõ ràng là phát triển trong nó lòng trung thành, tình cảm, trí tuệ và sự hữu ích, đồng thời kìm chế một cách nhẹ nhàng nhưng kiên quyết mọi biểu hiện của bản chất tàn ác và hung dữ của nó, mà một nhân loại bị tàn bạo đã chăm chút kỹ lưỡng trong nhiều thời đại.
Questioners sometimes speak as though they thought that a dog or a cat receives a certain incarnation as a reward of merit. We are not as yet dealing with a separated individuality, and therefore there is for that particular animal no past in which individual karma in the ordinary sense of the word can have been generated—nothing either to merit or to receive a reward. When a particular block of that monadic essence which is evolving along the line of animal incarnation which culminates in (let us say) the dog, has reached a fairly high level, the separate animals which form its manifestation down here are brought into contact with man, in order that its evolution may receive the stimulus which that contact alone can supply.
Những người đặt câu hỏi đôi khi nói như thể họ nghĩ rằng một con chó hoặc mèo nhận được một kiếp sống nhất định như là phần thưởng cho công lao. Chúng ta vẫn chưa đề cập đến một cá nhân được biệt lập, và do đó đối với con vật cụ thể đó không có quá khứ trong đó nghiệp quả cá nhân theo nghĩa thông thường của từ này có thể đã được tạo ra—không có gì đáng khen hoặc đáng thưởng. Khi một khối lớn của bản chất chân thần đang tiến hóa theo con đường nhập thể động vật mà đỉnh điểm là (giả sử) con chó, đã đạt đến một mức độ khá cao, những con vật riêng biệt tạo thành biểu hiện của nó ở đây được đưa vào tiếp xúc với con người, để sự tiến hóa của nó có thể nhận được sự kích thích mà chỉ có sự tiếp xúc đó mới có thể cung cấp.
The block of essence ensouling that group of dogs has in the matter so much of karma as is involved in having so governed its manifold expressions that it has been able to reach the level where such association is possible; and each dog belonging to that group-soul has his share of the result. So that when people ask what an individual dog can have done to merit a life of ease or the reverse, they are allowing themselves to be deceived by the illusion of mere outward appearance, and forgetting that there is no such thing as an individual dog, except during the latter part of that final incarnation in which the definite breaking away of a fresh soul from the block has occurred.
Khối bản chất nhập hồn nhóm chó đó có nghiệp quả liên quan đến việc đã điều khiển các biểu hiện đa dạng của nó đến mức đạt được mức độ mà sự kết hợp như vậy có thể xảy ra; và mỗi con chó thuộc về linh hồn nhóm đó đều có phần của nó trong kết quả. Do đó, khi mọi người hỏi một con chó cụ thể có thể đã làm gì để xứng đáng với một cuộc sống dễ dàng hoặc ngược lại, họ đã để bản thân bị đánh lừa bởi ảo ảnh của vẻ ngoài bên ngoài, và quên rằng không có gì gọi là một con chó cá thể, ngoại trừ trong giai đoạn sau của kiếp sống cuối cùng, khi sự tách biệt hoàn toàn của một linh hồn mới khỏi khối đã xảy ra.
Some of our friends do not realise that there may be such a thing as the commencement of an entirely new piece of karma. When an injury is done by A to B, they always fall back on the theory that at some previous time B must have injured A, and is now imply reaping what he has sown. That may be so in many cases, but such a chain of causation must begin somewhere, and it is quite as likely that this may be a spontaneous act of injustice on A’ s part, for which karma will assuredly have to repay him in the future, while B’ s suffering, though undeserved as far as A is concerned, is the payment for some other act or acts which he has committed in the past in connection with some one else.
Một số người bạn của chúng ta không nhận ra rằng có thể có một điều như sự khởi đầu của một mảnh nghiệp quả hoàn toàn mới. Khi một tổn hại được gây ra bởi A cho B, họ luôn dựa vào lý thuyết rằng trước đó B phải đã làm tổn thương A, và giờ đây đang đơn giản là gặt hái những gì mình đã gieo. Điều đó có thể đúng trong nhiều trường hợp, nhưng chuỗi nguyên nhân này phải bắt đầu từ đâu đó, và rất có thể đây là một hành động bất công tự phát từ phía A, mà nghiệp quả chắc chắn sẽ phải trả lại cho y trong tương lai, trong khi nỗi đau khổ của B, mặc dù không xứng đáng với A, lại là sự thanh toán cho một số hành động khác mà y đã thực hiện trong quá khứ liên quan đến một người nào khác.
In the case of the ill-treatment of an animal by a man this is certain—that it cannot be the result of previous karma on the part of the particular animal, because if it were an individual capable of carrying over karma it would not have been again incarnated in animal form. But the group-soul of which it is a part must have acquired karma, or the thing could not happen. Animals do often intentionally cause each other terrible suffering. It is reasonably certain from various considerations that the prey killed by a wild beast for food, in what may be called the natural necessary course of business, does not suffer appreciably; but in the unnecessary and intentional fights which so often occur between animals—bulls, stags, dogs or cats, for example—great pain is wilfully inflicted, and that means bad karma for the group-soul, karma that must in the future be paid by it through some of its manifestations.
Trong trường hợp một con vật bị con người đối xử tồi tệ, điều này chắc chắn—rằng nó không thể là kết quả của nghiệp quả trước đó của con vật cụ thể, bởi vì nếu nó là một cá thể có khả năng mang theo nghiệp quả thì nó sẽ không còn nhập thể trong hình thức động vật nữa. Nhưng linh hồn nhóm mà nó là một phần phải đã tích lũy nghiệp quả, nếu không sự việc không thể xảy ra. Động vật thường cố ý gây ra đau khổ khủng khiếp cho nhau. Từ nhiều cân nhắc khác nhau, người ta có thể cho rằng con mồi bị giết bởi dã thú để làm thức ăn, trong những gì có thể gọi là quy trình kinh doanh cần thiết tự nhiên, không cảm thấy đau đớn đáng kể; nhưng trong những cuộc chiến không cần thiết và có chủ ý thường xảy ra giữa động vật—ví dụ như bò đực, hươu, chó hoặc mèo—nỗi đau lớn đã bị cố ý gây ra, và điều đó đồng nghĩa với nghiệp xấu cho linh hồn nhóm, nghiệp phải được trả trong tương lai qua một số biểu hiện của nó.
Not for one moment, however, not by one tittle, does that lesson the guilt of the human beast who treats the animal cruelly, or causes him to fight or inflict pain on other creatures. Most emphatically there is karma, and exceedingly heavy karma, stored up for himself by the man who thus abuses the power to help which has been placed in his hands, and in many and many a life to come he will suffer the just result of his abominable brutality.
Tuy nhiên, điều đó không giảm bớt một chút nào tội lỗi của con người dã thú đối xử tàn nhẫn với động vật, hoặc khiến nó chiến đấu hoặc gây đau đớn cho những sinh vật khác. Nhất quyết rằng có nghiệp quả, và nghiệp quả vô cùng nặng nề, đang được tích lũy cho chính người đàn ông đã lạm dụng quyền lực giúp đỡ mà y đã được trao, và trong nhiều kiếp sống tới, y sẽ phải chịu đựng kết quả công bằng của sự tàn ác đáng ghê tởm của mình.
If one takes the trouble necessary to obtain a complete grasp of such knowledge as is already available in Theosophical literature on the subjects of karma and of animal reincarnation, the main principles upon which their laws work will be found clear and readily comprehensible. I fully recognise how small and general such knowledge is, and I realise that many cases are constantly occurring in which the details of the method in which the karma works itself out are entirely beyond our ken; but you may see enough to show you that what we have been taught as to the inevitability and the absolute justice of the great law is one of the fundamental truths of nature. Secure in that certainty, you can afford to wait for the more detailed comprehension until you gain those higher faculties which alone will give the power to see the working of the system as a whole.
Nếu một người chịu khó nắm vững kiến thức hiện có trong văn học Thông Thiên Học về các chủ đề nghiệp quả và tái sinh của động vật, các nguyên tắc chính mà các quy luật của chúng vận hành sẽ được thấy là rõ ràng và dễ hiểu. Tôi hoàn toàn nhận thức được rằng kiến thức như vậy nhỏ bé và chung chung đến mức nào, và tôi nhận ra rằng nhiều trường hợp đang xảy ra liên tục mà chi tiết về phương pháp mà nghiệp quả tự thể hiện hoàn toàn vượt ra ngoài tầm hiểu biết của chúng ta; nhưng bạn có thể thấy đủ để cho bạn biết rằng những gì chúng ta đã được dạy về tính tất yếu và công lý tuyệt đối của định luật vĩ đại này là một trong những chân lý cơ bản của tự nhiên. Được đảm bảo trong sự chắc chắn đó, bạn có thể chờ đợi sự hiểu biết chi tiết hơn cho đến khi bạn đạt được những năng lực cao hơn mà chỉ chúng mới có thể mang lại khả năng nhìn thấy sự vận hành của hệ thống một cách toàn diện.
Assuredly, as we progress, the divine light will illumine for us many corners that as yet remain in shadow, and we shall gradually but surely grow towards a perfect knowledge of the divine truth which even now is enfolding us, guarding and guiding us. All those who have had the privilege of studying these subjects under the guidance and with the help of the great Masters of the Wisdom are so fully persuaded of this that even where at present they do not see fully, they are more than willing and ready to trust to that great Power of which as yet only dim glimpses can be vouchsafed to human eye.
Chắc chắn, khi chúng ta tiến bộ, ánh sáng thiêng liêng sẽ chiếu sáng cho chúng ta nhiều góc khuất mà cho đến nay vẫn còn trong bóng tối, và chúng ta sẽ dần dần nhưng chắc chắn phát triển hướng tới sự hiểu biết hoàn hảo về chân lý thiêng liêng vốn đã đang bao trùm, bảo vệ và dẫn dắt chúng ta. Tất cả những ai có đặc ân nghiên cứu các chủ đề này dưới sự hướng dẫn và với sự giúp đỡ của các Chân sư Minh Triết đều tin tưởng sâu sắc vào điều này đến mức, ngay cả khi hiện tại họ chưa thấy rõ, họ vẫn sẵn sàng và hoàn toàn tin tưởng vào Quyền Lực vĩ đại mà mắt người chỉ có thể được hé lộ đôi chút."
Ninth Section: The Theosophical Society and its Founder
WHAT IS THE THEOSOPHICAL SOCIETY?—
IT would appear that some of its members have not quite comprehended the position of this Theosophical Society to which they belong. It is not a Society which is formed merely for the promotion of learning in some special branch, like the Royal Asiatic or the Royal Geographical Societies; still less is it a Church, which exists only to spread some particular form of doctrine. It has a place in modern life which is all its own, for its origin is unlike that of any other body at present existing. To understand this origin we must glance for a moment at the hidden side of the history of the world.
Có vẻ như một số hội viên vẫn chưa hoàn toàn thấu hiểu vị trí của Hội Thông Thiên Học mà họ thuộc về. Đây không phải là một Hội được lập ra chỉ để cổ vũ học thuật trong một chuyên ngành nào đó, như các Hội Hoàng gia Á Châu hay Hoàng gia Địa Lý; lại càng không phải là một Giáo hội, vốn chỉ hiện hữu để truyền bá một hình thức giáo lý đặc thù nào đó. Hội có một vị trí riêng trong đời sống hiện đại, vì nguồn gốc của Hội khác hẳn mọi đoàn thể hiện đang tồn tại. Để hiểu nguồn gốc ấy, chúng ta phải thoáng nhìn vào mặt ẩn tàng của lịch sử thế giới.
All students of occultism are aware that the evolution of the world is not being left to run its course haphazard, but that its direction and administration are in the hands of a great Hierarchy of Adepts, sometimes called the White Brotherhood. To that Brotherhood belong Those whom we name the Masters, because They are willing under certain conditions to accept as pupils those who prove themselves worthy of the honour. But not all Adepts are Masters; not all will take such pupils; many of Them, though equal in occult rank, have the whole of Their time occupied in quite other ways, though always for the helping of evolution.
Mọi đạo sinh của huyền bí học đều biết rằng sự tiến hoá của thế giới không phải được để mặc cho ngẫu nhiên, mà sự chỉ đạo và quản trị của nó nằm trong tay một Đại Thánh Đoàn các Chân sư, đôi khi được gọi là Huynh đệ Đoàn Chánh đạo. Thuộc về Huynh đệ Đoàn ấy là Những Vị mà chúng ta gọi là các Chân sư, bởi Các Ngài sẵn lòng, dưới những điều kiện nhất định, chấp nhận làm thầy cho những ai tự chứng tỏ mình xứng đáng với vinh dự ấy. Nhưng không phải mọi Chân sư đều là các Bậc Thầy theo nghĩa nhận đệ tử; không phải ai cũng nhận môn đồ; nhiều Vị trong Các Ngài, tuy bình đẳng về phẩm trật huyền thuật, lại dành trọn thời gian của Mình cho những công việc hoàn toàn khác, dẫu luôn là nhằm giúp đỡ tiến hoá.
For the better surveillance and management of the field of action, They have mapped out the world into districts, much as the Church divides its territory into parishes (though these are parishes of continental size), and an Adept presides over each of these districts just as a priest does over his parish. But sometimes the Church makes a special effort, not connected specially with any one of its parishes, but intended for the good of all; it sends forth what is called a “home mission,” with the object of stirring up faith and arousing enthusiasm all over a country, the benefits obtained being in no way a matter of personal gain to the missioners, but going to increase the efficiency of the ordinary parishes.
Để giám sát và quản trị hữu hiệu hơn cánh đồng hoạt động, Các Ngài đã phân bản đồ thế giới thành các khu vực, cũng như Giáo hội chia lãnh thổ của mình thành các giáo xứ (dẫu các giáo xứ này có kích thước bằng cả lục địa), và một vị Chân sư cai quản mỗi khu vực ấy cũng như linh mục coi sóc giáo xứ của mình. Nhưng đôi khi Giáo hội thực hiện một nỗ lực đặc biệt, không gắn riêng với bất kỳ giáo xứ nào, mà nhằm lợi ích chung cho tất cả; Giáo hội phái ra điều gọi là một “truyền giáo nội địa,” với mục đích khơi dậy đức tin và đánh thức nhiệt tâm ở khắp một quốc gia, và các lợi ích đạt được không hề thuộc về mối lợi cá nhân của những vị truyền giáo, mà quay lại làm gia tăng hiệu năng cho các giáo xứ thông thường.
In a certain way the Theosophical Society corresponds to such a mission, the ordinary religious divisions of the world being the parishes; for this Society comes forth among them all, not seeking to take away from any one of them those people who are following it, but striving to make them understand it and live it better than they ever did before, and in many cases giving back to them on a higher and more intelligent level the faith in it which they had previously all but lost. Yes, and other men too, who had nominally no religion—who, though at heart of the religious type, have yet been unable to accept the crudities of orthodox teaching—have found in Theosophy a presentation of the truth to which, because of its inherent reasonableness and wide tolerance, they are able heartily to subscribe. We have among our members Hindus, Buddhists, Jains, Parsis, Jews, Muhammadans and Christians, and no one of them all has ever heard or read from any of the officials of our Society a word against the religion to which he belongs; indeed, in many cases the work of the Society has produced a distinct revival of religious interest in places where it has been established.
Theo một nghĩa nào đó, Hội Thông Thiên Học tương ứng với một cuộc truyền giáo như vậy, còn các phân chia tôn giáo thông thường của thế giới là những giáo xứ; vì Hội này đi ra giữa tất cả những phân chia ấy, không nhằm lôi kéo khỏi bất kỳ phân hệ nào những người đang theo nó, nhưng cố khiến họ hiểu và sống đạo của mình tốt hơn bao giờ hết, và trong nhiều trường hợp trao lại cho họ, trên một bình diện cao hơn và sáng suốt hơn, đức tin mà trước đó họ hầu như đã đánh mất. Vâng, và cả những người khác nữa, vốn trên danh nghĩa thì không theo một tôn giáo nào—những người tuy trong thâm tâm thuộc loại thiên về tôn giáo, nhưng lại không thể chấp nhận những điều thô lậu của giáo huấn chính thống—đã tìm thấy trong Thông Thiên Học một trình bày chân lý mà, nhờ tính hợp lý bẩm sinh và lòng khoan dung rộng rãi của nó, họ có thể thành tâm chấp thuận. Trong hàng ngũ hội viên của chúng ta có người Ấn giáo, Phật giáo, Jain, Parsi, Do Thái giáo, Hồi giáo và Kitô giáo, và không một ai trong số họ từng nghe hay đọc được từ bất kỳ vị chức trách nào của Hội một lời chống lại tôn giáo mà họ thuộc về; thật vậy, trong nhiều trường hợp, công việc của Hội đã tạo ra một sự phục hưng rõ rệt về mối quan tâm tôn giáo tại những nơi Hội được thiết lập.
Why this should be so is readily comprehensible when we remember that it is from this same great Brotherhood that all the religions of the world have their origin. In this true though hidden government of the world there is a department of Religious Instruction, and the Head of that department has founded all the different religions either personally or through some pupil, suiting the teaching given in each case to the people for whom it was destined, and to the period in the world’ s history which had then been reached. They are simply different presentations of the same teaching, as may at once be seen by comparing them. The external forms vary considerably, but the broad essentials are always the same. By all the same virtues are commended; by all the same vices are condemned; so that the daily life of a good Buddhist or a good Hindu is practically identical with that of a good Christian or a good Muhammadan. They do the same things, but they call them by different names; one spends much time in prayer, and the other in meditation, but really their exercises are the same, and they all agree that the good man must be just, kindly, generous and true.
Vì sao lại như thế là điều dễ hiểu khi chúng ta nhớ rằng chính từ Đại Huynh Đoàn ấy mà mọi tôn giáo của thế giới đã có nguồn gốc. Trong chính quyền chân thật tuy ẩn tàng của thế giới ấy có một bộ phận Giáo Huấn Tôn Giáo, và Vị đứng đầu bộ phận ấy đã sáng lập mọi tôn giáo khác nhau hoặc đích thân hoặc qua một môn đồ, điều chỉnh giáo huấn trong mỗi trường hợp cho phù hợp với dân tộc mà nó hướng đến, và với giai đoạn trong lịch sử thế giới đã đạt tới khi ấy. Chúng đơn giản là những trình bày khác nhau của cùng một giáo huấn, điều có thể thấy ngay bằng cách so sánh chúng. Hình thức bề ngoài có thể dị biệt rất nhiều, nhưng những yếu tính lớn lao thì luôn như nhau. Tất cả đều khen ngợi cùng những đức hạnh; tất cả đều lên án cùng những thói xấu; cho nên đời sống hằng ngày của một Phật tử tốt hay một Ấn giáo tốt trên thực tế giống hệt với đời sống của một Kitô hữu tốt hay một tín đồ Hồi giáo tốt. Họ làm những điều như nhau, chỉ là gọi bằng những tên khác nhau; một người dành nhiều thời gian cho cầu nguyện, người kia cho tham thiền, nhưng thực ra các pháp tu của họ là một, và tất cả đều đồng ý rằng con người thiện lành phải công chính, nhân hậu, rộng lượng và chân thực.
It is said that some hundreds of years ago the leading officials of the Brotherhood decided that once in every hundred years, in what to us is the last quarter of each century, a special effort should be made to help the world in some way. Some of these attempts can be readily discerned—such, for example, as the movement initiated by Christian Rosenkreutz in the fourteenth century, simultaneously with the great reforms in Northern Buddhism introduced by Tsong- kha-pa; the remarkable renaissance of classical learning and the introduction of printing into Europe in the fifteenth; the work of Akbar in India in the sixteenth, at the same time with the publication of many works in England and elsewhere by Lord Bacon, and the splendid development of the Elizabethan age; the founding of the Royal Society, and the scientific work of Robert Boyle and others after the Restoration in the seventeenth; the activities in the eighteenth (the secret history of which on higher planes is known to but few) which escaped from control and degenerated into the French Revolution; and in the nineteenth the foundation of the Theosophical Society.
Người ta nói rằng cách đây vài trăm năm, các vị lãnh đạo của Huynh đệ Đoàn Chánh đạo đã quyết định rằng cứ mỗi một trăm năm, tức vào quý cuối của mỗi thế kỷ theo cách tính của chúng ta, cần thực hiện một nỗ lực đặc biệt nào đó để trợ giúp thế giới. Một số nỗ lực như thế có thể dễ dàng nhận ra—chẳng hạn như phong trào do Christian Rosenkreutz khởi xướng vào thế kỷ mười bốn, đồng thời với những cải cách lớn trong Phật giáo phương Bắc do Tsong-kha-pa đưa vào; cuộc phục hưng kỳ diệu của học thuật cổ điển và việc đưa kỹ nghệ in ấn vào châu Âu ở thế kỷ mười lăm; công cuộc của Akbar tại Ấn Độ vào thế kỷ mười sáu, đồng thời với việc công bố nhiều tác phẩm ở Anh và nơi khác của Lord Bacon, và sự phát triển rực rỡ của thời Elizabeth; việc sáng lập Royal Society, cùng công trình khoa học của Robert Boyle và những người khác sau Thời Phục vị vương quyền ở Anh trong thế kỷ mười bảy; những hoạt động ở thế kỷ mười tám (lịch sử bí mật của chúng trên các cõi cao chỉ ít người biết) đã vượt khỏi tầm kiểm soát và suy thoái thành Cách mạng Pháp; và ở thế kỷ mười chín là sự thành lập Hội Thông Thiên Học.
This Society is one of the great world-movements, destined to produce effects far greater than any that we have yet seen. The history of its work so far is but a prologue to that which is to come, and its importance is out of all proportion to what it has hitherto appeared to be. It has this difference from all movements that have preceded it, that it is first, the herald of the Coming Christ, and secondly, the first definite step towards the founding of a new root-race. Many of our students are aware that the Master M., the great Adept to whom both of our founders owe special allegiance, has been selected to be the Manu of that race, and that His inseparable friend the Master K. H. is to be in charge of its religious teaching.
Hội này là một trong những phong trào lớn của thế gian, được định sẵn sẽ tạo ra những hiệu quả vượt xa mọi điều mà chúng ta từng thấy. Lịch sử công việc của Hội cho đến nay chỉ là khúc dạo đầu cho những gì sắp đến, và tầm quan trọng của Hội vượt hẳn mọi điều mà bề ngoài trước nay có vẻ như thế. Hội khác với mọi phong trào đã có trước ở chỗ, trước hết, Hội là sứ giả của Đấng Đang Đến, Đức Christ, và thứ đến, là bước đi đầu tiên, rõ rệt hướng tới việc khai sáng một giống dân gốc mới. Nhiều đạo sinh của chúng ta biết rằng Chân sư M., vị Chân sư vĩ đại mà cả hai vị sáng lập của chúng ta đều có sự quy ngưỡng đặc biệt, đã được chọn làm Manu của giống dân ấy, và rằng bạn hữu bất phân ly của Ngài là Chân sư K. H. sẽ đảm trách giáo huấn tôn giáo của giống dân này.
It is evident that in the work which these two Great Ones will have to do They will need an army of devoted subordinates, who must above all things be loyal, obedient and painstaking. They may possess other qualities also, but these at least they must have. There will be scope for the keenest intelligence, the greatest ingenuity and ability in every direction; but all these will be useless without the capacity of instant obedience and utter trust in the Master. Self-conceit is an absolute bar to progress in this direction. The man who can never obey an order because he always thinks he knows better than the authorities, the man who cannot sink his personality entirely in the work which is given him to do, and co-operate harmoniously with his fellow-workers—such a man has no place in the army of the Manu. Those who join it will have to incarnate over and over again in rapid succession in the new race, trying each time to bring their various bodies nearer and nearer to the model set before them by the Manu—a very laborious and trying piece of work, but one that is absolutely necessary for the establishment of the new type of humanity which is required for the race. The opportunity of volunteering for this work is now open to us.
Hiển nhiên trong công việc mà Hai Đấng Cao Cả này sẽ đảm nhận, Các Ngài sẽ cần một đạo binh thuộc hạ tận tâm, những người trước hết phải trung tín, vâng phục và miệt mài. Họ có thể sở hữu các phẩm chất khác nữa, nhưng tối thiểu phải có những điều ấy. Sẽ có đất dụng võ cho trí tuệ sắc bén nhất, óc sáng tạo khéo léo nhất và năng lực trên mọi mặt; nhưng tất cả những điều ấy sẽ vô dụng nếu thiếu năng lực vâng phục tức thời và niềm tín thác trọn vẹn nơi Chân sư. Tự phụ là rào chắn tuyệt đối đối với tiến bộ trên con đường này. Người không bao giờ chịu tuân lệnh vì luôn nghĩ mình hiểu biết hơn nhà cầm quyền; người không thể dìm phàm ngã của mình trọn vẹn vào công việc được trao, và hoà hợp cộng tác với các bạn đồng công—người như thế không có chỗ đứng trong đạo binh của Manu. Những ai gia nhập sẽ phải lâm phàm hết lần này đến lần khác trong nhịp độ mau lẹ vào giống dân mới, mỗi lần cố gắng đưa các thể của mình ngày càng tiệm cận khuôn mẫu do Manu đề ra—một công cuộc rất lao lực và thử thách, nhưng tuyệt đối cần thiết cho việc thiết lập kiểu mẫu nhân loại mới cần có cho giống dân ấy. Cơ hội tình nguyện cho công việc này hiện đã mở ra cho chúng ta.
Those who wish to join in it must begin to differentiate their aims from those of the ordinary man of the world. If we are to be selected for that work, we must show ourselves ready and willing by doing this which is now offered to us. The great Head of the department of Religious Instruction, the Lord Maitreya, who has already spoken as Krishna to the Indians and as Christ to the Christians, has decided soon to pay another visit to the world for the healing and the helping of the nations, and for the revival of spirituality on the earth which has well-nigh lost it. One great work which the Theosophical Society has to do is to try to prepare men for His coming, so that more may be able to profit by the unequalled opportunity which His presence will give. The religion which He founded when He came down in Judaea two thousand years ago has now spread widely over the world; but when, after He left His physical body, His followers gathered together to discuss the situation, we are told that the number of the names was only a hundred and twenty. A single preacher was His herald then; now it is a world-wide Society of twenty thousand members. May we hope to do a little better this time—to keep Him with us longer than three years before the wickedness of the world drives Him away, to draw round Him a somewhat larger body of followers before He leaves us? That is yet to be seen; but it depends largely upon the energy, effort and selflessness of members of the Theosophical Society now.
Những ai ao ước tham gia phải bắt đầu phân biệt mục đích của mình khỏi mục đích của người đời thông thường. Nếu chúng ta được tuyển chọn cho công việc ấy, chúng ta phải tỏ ra sẵn sàng và thiện chí bằng cách thực hiện điều hiện đang được trao cho chúng ta. Vị Đại Chủ quản của ngành Giáo Huấn Tôn Giáo, Đấng Maitreya, Đấng đã từng lên tiếng như Krishna với người Ấn và như Đức Christ với người Kitô hữu, đã quyết định sớm viếng thăm thế gian một lần nữa để chữa lành và trợ giúp các dân tộc, và để phục hưng tinh thần trên trần thế vốn hầu như đã đánh mất nó. Một công việc lớn mà Hội Thông Thiên Học phải làm là cố gắng chuẩn bị con người cho sự quang lâm của Ngài, hầu có thêm nhiều người có thể hưởng lợi từ cơ hội vô song mà sự hiện diện của Ngài sẽ mang lại. Tôn giáo mà Ngài khai sáng khi Ngài giáng trần ở Giu-đê hai nghìn năm trước nay đã lan rộng khắp thế giới; nhưng khi, sau khi Ngài rời bỏ thể xác, các môn đồ của Ngài nhóm họp lại để bàn định tình hình, chúng ta được cho biết rằng “số các tên” chỉ là một trăm hai mươi. Khi ấy chỉ có một nhà giảng đạo làm sứ giả trước của Ngài; nay là một Hội rộng khắp thế giới với hai mươi nghìn hội viên. Chúng ta có thể hy vọng làm tốt hơn đôi chút lần này—giữ Ngài ở với chúng ta lâu hơn ba năm trước khi sự gian ác của thế gian xua đuổi Ngài, quy tụ quanh Ngài một đoàn môn đồ đông đảo hơn trước khi Ngài rời chúng ta chăng? Điều đó còn phải chờ xem; nhưng phần lớn tùy thuộc vào nghị lực, nỗ lực và tinh thần vô ngã của các hội viên Hội Thông Thiên Học hiện nay.
Besides its primary object of spreading occult truth throughout the world, the Theosophical Society has also this secondary object—that it may act as a kind of net to draw together out of all the world the people who are sufficiently interested in occultism to be willing to work for it. Out of that number a certain proportion will be found who desire to press on further, to learn all that the Society has to teach, and to make real progress. Probably not all of those will succeed, but some certainly will, as some have done in the past; and from those who thus obtain a footing the Adepts Themselves may choose those whom They consider worthy of the great privilege of working under Them in the future. Such selection cannot of course be guaranteed to any one who passes even into the innermost groups of the Society, since the choice is absolutely in the hands of the Masters; we can say only that such selections have been made in the past, and that we know that many more volunteers are required.
Bên cạnh mục đích chính là truyền bá chân lý huyền bí trên khắp thế giới, Hội Thông Thiên Học còn có một mục đích thứ yếu—rằng Hội có thể đóng vai như một tấm lưới để kết tụ từ khắp nơi những người quan tâm đủ nhiều đến huyền bí học đến mức sẵn sàng làm việc cho nó. Từ số đó, một tỷ lệ nhất định sẽ được tìm thấy là những người mong muốn tiến xa hơn, học trọn những gì Hội dạy, và tạo ra tiến bộ thực sự. Có lẽ không phải tất cả những người ấy đều thành công, nhưng chắc chắn sẽ có một số, như trong quá khứ đã có; và từ những người nhờ vậy mà đặt được bàn chân vào cửa, chính Các Chân sư có thể chọn ra những ai Các Ngài xét là xứng đáng với đặc ân lớn lao được làm việc dưới quyền Các Ngài trong tương lai. Dĩ nhiên không thể bảo đảm sự tuyển chọn như vậy cho bất kỳ ai, ngay cả khi người đó bước vào các nhóm nội môn sâu nhất của Hội, vì sự chọn lựa hoàn toàn do Các Chân sư quyết định; chúng ta chỉ có thể nói rằng những tuyển chọn như thế đã từng được thực hiện trong quá khứ, và chúng ta biết rằng hiện cần thêm nhiều tình nguyện viên nữa.
Many have joined the Society without knowing anything of the inner opportunities which it offers, or the close relation with the great Masters of Wisdom into which it may bring its members. Many have come into it almost carelessly, with but little thought or comprehension of the importance of the step which they have taken; and there have been those who have left it equally carelessly, just because they have not fully understood.
Nhiều người đã gia nhập Hội mà chẳng biết gì về những cơ hội nội môn mà Hội cung ứng, hay mối liên hệ gần gũi với các Đại Sư Minh triết mà Hội có thể mang lại cho hội viên của mình. Nhiều người bước vào Hội một cách hờ hững, với rất ít suy tư hay thấu hiểu về tầm quan trọng của bước đi họ đã thực hiện; và cũng có những người rời Hội hờ hững như thế, chỉ vì họ chưa hiểu đầy đủ.
Even those have gained something, though far less than they might have gained if they had had greater intelligence. The Countess Wachtmeister tells how once when some casual visitors called to see Madame Blavatsky and offered to join the Society, she immediately sent for the necessary forms and admitted them. After they had gone, the Countess seems to have said half-remonstratingly that not much could be expected from them, for even she could see that they were joining only from motives of curiosity or courtesy.
Ngay cả những người ấy cũng đã gặt hái được điều gì đó, tuy ít hơn nhiều so với điều họ có thể đạt được nếu họ có trí tuệ lớn hơn. Nữ bá tước Wachtmeister kể rằng có lần khi vài khách ghé thăm tình cờ đến gặp Bà Blavatsky và ngỏ ý xin gia nhập Hội, Bà lập tức cho gọi các mẫu đơn cần thiết và thu nhận họ. Sau khi họ ra về, Nữ bá tước có vẻ đã nửa trách nửa than rằng không thể kỳ vọng nhiều ở họ, vì ngay chính bà cũng thấy họ gia nhập chỉ vì tò mò hay vì xã giao.
“That is true,” said Madame Blavatsky, “but even this formal act has given them a small karmic link with the Society, and that, little as it is, will mean at least something for them in the future.”
“Điều đó đúng,” Bà Blavatsky nói, “nhưng ngay cả hành động hình thức này cũng đã tạo cho họ một mối dây nghiệp quả nhỏ với Hội, và điều ấy, tuy nhỏ bé, sẽ có nghĩa là ít nhất cũng có điều gì đó cho họ trong tương lai.”
Some have committed the incredible folly of leaving it because they disapproved of the policy of its President, not reflecting first of all, that that policy is the President’ s business and not theirs; secondly, that as the President knows enormously more in every direction than they do, there is probably for that policy some exceedingly good reason of which they are entirely unaware; and thirdly, that Presidents and policies are after all temporary, and do not on any way affect the great fundamental fact that the Society belongs to the Masters and represents Them, and that to abandon it is to desert Their standard. Since They stand behind it, and intend to use it as an instrument, we may be sure that They will permit no serious error. It is surely not the part of a good soldier to desert from the ranks because he disapproves of the plans of the General, and to go off and fight single-handed. Nor is such fighting likely to be specially efficient or useful to the cause which he professes to champion.
Có người đã phạm sự dại dột không thể tin được khi rời Hội vì bất đồng với chính sách của Hội trưởng, mà không suy xét trước hết rằng chính sách ấy là công việc của Hội trưởng chứ không phải của họ; thứ đến, vì Hội trưởng biết nhiều vô cùng trên mọi phương diện hơn họ, hẳn là có một lý do cực kỳ chính đáng nào đó cho chính sách ấy mà họ hoàn toàn không hay biết; và thứ ba, rằng Hội trưởng và chính sách rốt cuộc đều nhất thời, và không hề ảnh hưởng theo bất kỳ cách nào đến sự thật nền tảng vĩ đại rằng Hội thuộc về Các Chân sư và đại diện Các Ngài, và rời bỏ Hội là bỏ rơi ngọn cờ của Các Ngài. Vì Các Ngài đứng sau Hội và dự định dùng Hội như một khí cụ, chúng ta có thể chắc rằng Các Ngài sẽ không để xảy ra sai lầm nghiêm trọng nào. Chắc chắn đó không phải là phần việc của một người lính tốt—bỏ hàng ngũ vì bất đồng với kế hoạch của vị Tổng chỉ huy, rồi đi đánh trận một mình. Mà lối “tác chiến” như thế khó lòng hữu hiệu hay có ích cho chính lý tưởng mà y tuyên xưng là đang bênh vực.
Some have deserted simply from a fear that if they remained in the Society they might be identified with some idea of which they disapprove. This is not only selfishness but self-conceit; what does it matter what is thought or said of any of us, so long as the Master’ s work is done and the Master’ s plan carried out? We must learn to forget ourselves and think only of that work. It is true that that work will be done in any case, and that the place of those who refuse to do it will quickly be supplied. So it may be asked, what do defections matter? They do not matter to the work, but they matter very much to the deserter, who has thrown away an opportunity which may not recur for many incarnations. Such action shows a lack of all sense of proportion, an utter ignorance of what the Society really is and of the inner side of its work.
Có người đào ngũ đơn giản vì sợ rằng nếu họ ở lại Hội, họ có thể bị đồng nhất với một ý tưởng mà họ không tán thành. Điều này không chỉ là ích kỷ mà còn là tự phụ; điều người ta nghĩ hay nói về bất cứ ai trong chúng ta có nghĩa lý gì, miễn là công việc của Chân sư được hoàn thành và kế hoạch của Chân sư được thực thi? Chúng ta phải học quên mình và chỉ nghĩ đến công việc ấy. Đúng là công việc ấy dù sao cũng sẽ được làm, và chỗ của những người từ chối làm sẽ chóng được bù đắp. Vậy có thể hỏi: những cuộc đào ngũ có hệ trọng gì chăng? Không hệ trọng đối với công việc, nhưng vô cùng hệ trọng đối với kẻ đào ngũ, vì y đã ném bỏ một cơ hội có thể không tái diễn trong nhiều kiếp lâm phàm. Hành động như thế cho thấy sự thiếu hẳn Ý thức về tỉ lệ, một sự vô tri hoàn toàn về Hội trên thực chất là gì và về nội diện công việc của Hội.
This work which our Masters are doing, this work of the evolution of humanity, is the most fascinating thing in the whole world. Sometimes those of us who have been able to develope the faculties of the higher planes have been allowed a glimpse of that mighty scheme—have witnessed the lifting of a tiny corner of the veil. I know of nothing more stirring, more absorbingly interesting. The splendour, the colossal magnitude of the plans take away one’ s breath, yet even more impressive is the calm dignity, the utter certainty of it all. Not individuals only, but nations, are the pieces in this game; but neither nation nor individual is compelled to play any given part. The opportunity to play that part is given to it or to him; if he or it will not take it, there is invariably an understudy ready to step in and fill the gap.
Công việc mà Các Chân sư của chúng ta đang thực hiện, công cuộc tiến hoá của nhân loại, là điều hấp dẫn nhất trên đời. Đôi khi những người trong chúng ta đã có thể phát triển các năng lực của những cõi cao được phép thoáng thấy đồ án vĩ đại ấy—được chứng kiến cảnh bức màn được vén lên một góc nhỏ. Tôi không biết có gì khuấy động hơn, cuốn hút hơn thế. Vẻ lộng lẫy, tầm vóc khổng lồ của kế hoạch khiến người ta nghẹt thở, thế nhưng còn ấn tượng hơn là phẩm cách trầm tĩnh, sự chắc chắn tuyệt đối của tất cả. Không chỉ các cá nhân, mà cả các quốc gia, là những quân cờ trong ván cờ này; nhưng cả quốc gia lẫn cá nhân đều không bị cưỡng bức phải đóng một vai định sẵn. Cơ hội để đóng vai ấy được trao cho nó hay cho y; nếu y hay nó không nhận, bao giờ cũng có một người dự bị sẵn sàng bước vào lấp chỗ trống.
At this present time a magnificent opportunity is being offered to the great Anglo-Saxon race—to the whole Teutonic sub-race, if it will only sink its petty rivalries and jealousies and take it. I hope with all my heart that it will do so; I believe that it will; but this I know, that if unfortunately it should fail, there is another nation already chosen to assume the sceptre which in that case would fall from its hands. Such failure would cause a slight delay, while the new nation was being pushed rapidly forward to the necessary level, but at the end of a few centuries exactly the same result would have been achieved. That is the one thing that is utterly certain—that the intended end will be achieved; through whose agency this will be done matters very much to the agent, but nothing at all to the total progress of the world.
Ngay lúc này một cơ hội huy hoàng đang được trao cho giống dân Anglo-Saxon vĩ đại—cho toàn thể giống dân phụ Teutonic, nếu giống dân ấy chịu gác bỏ những ganh đua và đố kỵ vụn vặt để nắm lấy cơ hội. Tôi hết lòng hy vọng rằng họ sẽ làm như vậy; tôi tin rằng họ sẽ làm; nhưng điều tôi biết là, nếu chẳng may họ thất bại, đã có một dân tộc khác được chọn sẵn để nắm lấy vương trượng sẽ rơi khỏi tay họ khi ấy. Sự thất bại như thế sẽ gây một chậm trễ nhỏ, trong khi dân tộc mới được thúc đẩy tiến nhanh tới mức cần thiết, nhưng sau vài thế kỷ rốt cuộc chính kết quả ấy sẽ được đạt tới. Đó là điều tuyệt đối chắc chắn—rằng cứu cánh đã định sẽ được thực hiện; qua tác nhân nào thì điều ấy hệ trọng vô cùng đối với tác nhân, nhưng chẳng ảnh hưởng gì đến tiến trình tổng thể của thế giới.
Let us throw ourselves into that work, not out of it, trying ever to do more and more of it, and to do it better and better. For if we do well now in comparatively small matters—in Lodge activities, in propaganda work, in the service of those around us—we may be permitted to do something much grander—to help to smooth the way for the coming of the Lord; if we have the glorious privilege of earnestly and humbly making ourselves useful then, we may presently be entrusted with even greater responsibilities in connection with that new root-race, and of us will be true what was said of old: “Well done, good and faithful servant; thou hast been faithful over a few things; I will make thee ruler over many things; enter thou into the joy of thy Lord.”
Chúng ta hãy dấn thân vào công việc ấy, chứ không rút ra khỏi nó, luôn cố gắng làm được ngày càng nhiều hơn và làm ngày càng tốt hơn. Vì nếu hiện nay chúng ta làm tốt những việc tương đối nhỏ—trong các sinh hoạt của Chi hội, trong công tác truyền bá, trong phụng sự những người quanh ta—chúng ta có thể được phép làm điều lớn lao hơn nhiều—giúp san phẳng con đường cho sự quang lâm của Đấng; nếu khi ấy chúng ta được đặc ân rạng rỡ là thành tâm khiêm cung làm cho mình trở nên hữu ích, thì chẳng bao lâu chúng ta có thể được uỷ thác những trọng trách còn lớn hơn nữa liên quan đến giống dân gốc mới ấy, và đối với chúng ta sẽ ứng nghiệm điều đã được nói thời xưa: “Tốt lắm, đầy tớ ngay lành và trung tín; ngươi đã trung tín trong ít việc; Ta sẽ lập ngươi cai quản nhiều việc; hãy vào hưởng sự vui mừng của Chúa ngươi.”
THEOSOPHY AND WORLD-LEADERS— THÔNG THIÊN HỌC VÀ CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO THẾ GIỚI