← The KINGDOM of the GODS_upscaled song ngữ

THE DEVARAJAS – CÁC DEVARAJA

THE DEVARAJAS – CÁC DEVARAJA

Hinduism is replete with information concerning the Gods and prescribed methods for their invocation. The Hindu name of the Devaraja, or Regent, of the East is Dhritarashtra, Lord of Air, and for His subordinate hosts, Gandharvas, their symbolic colour being white. This suggests the attribute of power for the East, as in the Mayan arrangement, which in its later epoch was possibly contemporary with early Indian civilisation. The Gandharvas are the devas of music, embodiments of the power of the sound of the creative “Word”. The Hindu name of the Devaraja of the West is Virupaksha, Lord of Fire, and His hosts, Nagas, their symbolic colour being red. The Hindu name for the De varaja, or Regent, of the South, is Yirudhaka, Lord of Waters, and His hosts are called Kumbhandas, the symbolic colour being blue. The Devaraja, or Regent of the North, is called Vaishravana, also Kuvera, Lord of Earth, and His hosts are the Yakshas, the symbolic colour being golden.

Ấn giáo chứa đầy thông tin liên quan đến các Nam Thần và các phương pháp được quy định để khẩn cầu các Ngài. Tên Ấn giáo của Devaraja, hay Đấng Nhiếp Chính, của phương Đông là Dhritarashtra, Chúa Tể của Khí, và tên của các đoàn tùy thuộc của Ngài là Gandharvas, màu biểu tượng của họ là trắng. Điều này gợi ý thuộc tính quyền năng dành cho phương Đông, cũng như trong cách sắp xếp của người Maya, vốn ở thời kỳ muộn hơn có thể đồng thời với nền văn minh Ấn Độ sơ kỳ. Các Gandharvas là những deva của âm nhạc, hiện thân của quyền năng âm thanh của “Linh từ” sáng tạo. Tên Ấn giáo của Devaraja phương Tây là Virupaksha, Chúa Tể của Lửa, và các đoàn của Ngài là Nagas, màu biểu tượng của họ là đỏ. Tên Ấn giáo của De varaja, hay Đấng Nhiếp Chính, phương Nam là Yirudhaka, Chúa Tể của Nước, và các đoàn của Ngài được gọi là Kumbhandas, màu biểu tượng là xanh lam. Devaraja, hay Đấng Nhiếp Chính phương Bắc, được gọi là Vaishravana, cũng là Kuvera, Chúa Tể của Đất, và các đoàn của Ngài là Yakshas, màu biểu tượng là vàng kim.

ACCORDING TO THE HEBREWS – THEO NGƯỜI HEBREW

Some Jewish traditions say that there are four Orders or Companies of angels, each with an Archangel Head, the first Order being that of Michael, the second of Gabriel, the third of Uriel and the fourth of Raphael. The Cherubim were angels of the power of the strength of God. They seem to have been associated with the East or, as it was called in the Temple, the Mercy Seat. St. Paul, describing the ancient rites of the Jews in his Epistle to the Hebrews, Chapter IX, says:

Một vài truyền thống Do Thái nói rằng có bốn Bộ hay Đoàn thiên thần, mỗi đoàn có một Tổng lãnh Thiên thần đứng đầu; Bộ thứ nhất là của Michael, bộ thứ hai của Gabriel, bộ thứ ba của Uriel và bộ thứ tư của Raphael. Cherubim là các thiên thần của quyền năng thuộc sức mạnh của Thượng đế. Họ dường như liên hệ với phương Đông, hay như được gọi trong Đền Thờ, Ngai Xá Tội. Thánh Paul, khi mô tả các nghi lễ cổ xưa của người Do Thái trong Thư gửi tín hữu Hebrew, Chương IX, nói:

“And after the second veil, the tabernacle which is called the Holiest of all; . . . and over it the cherubims of glory shadowing the mercy seat.”

“Và sau bức màn thứ hai là nhà tạm được gọi là Nơi Chí Thánh;... và phía trên nó là các cherubim vinh quang phủ bóng trên ngai xá tội.”

The Archangel Michael, who is the Angelic Head of the Ray of power, would seem to be the Ruler of the Cherubim, for in Genesis III, verse 24, we are informed:

Tổng lãnh Thiên thần Michael, Đấng là Vị Đứng Đầu Thiên Thần của Cung quyền năng, dường như là Đấng Cai Quản Cherubim, vì trong Sáng Thế Ký III, câu 24, chúng ta được cho biết:

“He placed at the east of the garden of Eden Cherubim and a flaming sword which turned every way to keep the way of the tree of life.”

“Ngài đặt ở phía đông vườn Eden các Cherubim và một thanh gươm rực lửa xoay về mọi phía để giữ con đường dẫn đến cây sự sống.”

The esoteric teachings of the Hebrews known as the Kabbalah are replete with information concerning the Angelic Hosts. Reference is made to them in Part III.

Các giáo huấn huyền bí của người Hebrew, được biết đến là Kabbalah, chứa đầy thông tin liên quan đến các Đoàn Thiên Thần. Chúng được đề cập trong Phần III.

THE WHEEL TURNS – BÁNH XE XOAY CHUYỂN

Evidence of the reality of the Orders of the angels and of co-operation with them is thus afforded by the similarity of the descriptions which are to be found in the separate records of the various ancient races and peoples of the world. Since those days, humanity has entered a cycle in which intellectual development, in its early stage destructive of intuition and mystical experience, predominates and from which only now it is beginning to emerge. When in the present cycle the phase is entered corresponding to that in which communion occurred between Gods and men in preceding cycles, the angels will again be seen by men and their functions made the subject of scientific research. Such a phase 1 believe to be now approaching. Indeed, signs of it are not wanting in the world to-day.

Bằng chứng về thực tại của các Bộ thiên thần và về sự hợp tác với họ như vậy được cung cấp bởi sự tương đồng của những mô tả có trong các ghi chép riêng biệt của nhiều giống dân và dân tộc cổ xưa khác nhau trên thế giới. Từ những ngày ấy, nhân loại đã bước vào một chu kỳ trong đó sự phát triển trí tuệ, ở giai đoạn đầu vốn phá hoại trực giác và kinh nghiệm thần bí, chiếm ưu thế, và chỉ đến nay nhân loại mới bắt đầu thoát ra khỏi chu kỳ ấy. Khi trong chu kỳ hiện tại, nhân loại bước vào giai đoạn tương ứng với giai đoạn mà sự giao cảm giữa các Nam Thần và con người đã xảy ra trong các chu kỳ trước, các thiên thần sẽ lại được con người nhìn thấy và các chức năng của họ sẽ trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học. Tôi tin rằng một giai đoạn như thế hiện đang đến gần. Thật vậy, trong thế giới ngày nay không thiếu những dấu hiệu của nó.

In twenty-five years of world travel, I have found that the angels are living realities to an increasing number of people. Many students of occult philosophy regularly invoke their aid in healing, in Temple, Church and Masonic ceremonials and in meditation for the purpose of radiating spiritual power, blessing and peace upon the world. As man’s ethical and social wisdom develops he will be entrusted with deeper knowledge of Nature’s hidden forces, laws and processes. In the new age of brotherhood and peace the dawn of which, despite many signs to the contrary, may even now be seen, there are grounds for hope that angels will once more walk with men.

Trong hai mươi lăm năm du hành khắp thế giới, tôi đã nhận thấy rằng các thiên thần là những thực tại sống động đối với ngày càng nhiều người. Nhiều đạo sinh triết học huyền bí thường xuyên khẩn cầu sự trợ giúp của họ trong chữa lành, trong các nghi lễ Đền Thờ, Giáo Hội và Tam Điểm, cũng như trong tham thiền nhằm mục đích tỏa rải quyền năng tinh thần, phúc lành và bình an trên thế giới. Khi minh triết đạo đức và xã hội của con người phát triển, y sẽ được giao phó tri thức sâu xa hơn về các mãnh lực, định luật và tiến trình ẩn tàng của Thiên nhiên. Trong kỷ nguyên mới của tình huynh đệ và hòa bình, bình minh của nó, bất chấp nhiều dấu hiệu trái ngược, ngay cả bây giờ cũng có thể được nhìn thấy, có cơ sở để hy vọng rằng các thiên thần một lần nữa sẽ bước đi cùng con người.

CHAPTER III THE RADIATION OF POWER – CHƯƠNG III SỰ TỎA RẢI QUYỀN NĂNG

THOUGHT-PROJECTION – PHÓNG CHIẾU TƯ TƯỞNG

IN this Chapter information is offered concerning the means whereby spiritual and mental forces may be evoked and, with angelic co-operation, radiated upon the world. Such knowledge may be used both for evil and for good. All selfish use of spiritual power is evil. Occult activity for material self-benefit, with the deliberately chosen motive of personal advantage, is black magic. Misery inevitably follows its practice. The employment of spiritual and mental powers for the welfare of all mankind, withput thought of return, is white magic and brings blessings to the world. May those who read on be inspired to use impersonally, dispassionately and solely for the welfare of the race the knowledge conveyed in this Chapter.

Trong Chương này, thông tin được đưa ra liên quan đến các phương tiện nhờ đó các mãnh lực tinh thần và trí tuệ có thể được gợi lên và, với sự hợp tác của thiên thần, được tỏa rải trên thế giới. Tri thức như thế có thể được dùng cho cả điều ác lẫn điều thiện. Mọi cách sử dụng quyền năng tinh thần vì ích kỷ đều là ác. Hoạt động huyền bí vì lợi ích vật chất cho bản thân, với động cơ được cố ý chọn là lợi thế cá nhân, là Hắc thuật. Khổ đau tất yếu theo sau việc thực hành nó. Việc sử dụng các quyền năng tinh thần và trí tuệ vì phúc lợi của toàn thể nhân loại, không nghĩ đến sự đáp trả, là Chánh Thuật và đem phúc lành đến cho thế giới. Mong rằng những ai đọc tiếp sẽ được cảm hứng để sử dụng tri thức được truyền đạt trong Chương này một cách vô ngã, điềm nhiên và chỉ vì phúc lợi của nhân loại.

The mind and brain of man are powerful mental radio stations. Thought moulds not only the character of the thinker, but also that of all recipients of mental broadcasting. The impress produced by the thought of man upon fellow man helps to form individual and national characteristics, and influences both human destiny and the progress of civilisation. So intimate and unceasing is this psychical interaction, that all share in the achievements of each, whilst at the same time few can wholly dissociate themselves from responsibility for the widespread ugliness, cruelty and crime which are the curse of this planet. For these last are the products of ugly, cruel and criminal thoughts.

Thể trí và bộ não của con người là những trạm phát thanh trí tuệ đầy quyền năng. Tư tưởng không chỉ khuôn đúc Tính cách của người suy tưởng, mà còn khuôn đúc Tính cách của tất cả những người tiếp nhận sự truyền phát trí tuệ. Ấn tượng do tư tưởng của con người tạo ra trên đồng loại giúp hình thành các đặc tính cá nhân và quốc gia, đồng thời ảnh hưởng đến cả vận mệnh nhân loại lẫn sự tiến bộ của văn minh. Sự tương tác thông linh này mật thiết và không ngừng đến nỗi tất cả đều chia sẻ thành tựu của từng người, đồng thời ít ai có thể hoàn toàn tách mình khỏi trách nhiệm đối với sự xấu xa, tàn nhẫn và tội ác lan rộng vốn là tai họa của hành tinh này. Vì những điều sau cùng ấy là sản phẩm của các tư tưởng xấu xa, tàn nhẫn và tội lỗi.

When people combine in groups, their power to influence mentally the thought, character and conduct of others is multiplied. The tremendous potentiality for good of groups of dedicated and trained servants of the race who combine to use their thought power for beneficent purposes at once becomes obvious; for service of incalculable value could be performed by such groups. In this work, unity of both purpose and method is of supreme importance. The existence and maintenance of perfect harmony between the members of such groups is essential; for discord would be accentuated by the play of the forces generated and evoked. There must also be wise direction and careful choice of both leaders and members of thought-projection groups.

Khi người ta kết hợp thành các nhóm, quyền năng của họ trong việc ảnh hưởng về mặt trí tuệ đến tư tưởng, Tính cách và hành vi của người khác được nhân lên. Tiềm năng thiện lành to lớn của các nhóm người phụng sự nhân loại đã thánh hiến và được huấn luyện, những người hợp nhất để sử dụng quyền năng tư tưởng của mình cho các mục đích nhân từ, lập tức trở nên hiển nhiên; vì các nhóm như thế có thể thực hiện một công việc phụng sự có giá trị khôn lường. Trong công việc này, sự thống nhất về cả mục đích lẫn phương pháp có tầm quan trọng tối thượng. Sự hiện hữu và duy trì hòa hợp hoàn hảo giữa các thành viên của những nhóm như thế là thiết yếu; vì sự bất hòa sẽ được làm nổi bật bởi tác động của các mãnh lực được tạo ra và gợi lên. Cũng phải có sự chỉ đạo minh triết và lựa chọn cẩn trọng cả những người lãnh đạo lẫn các thành viên của các nhóm phóng chiếu tư tưởng.

The ideas to be projected must be selected with great care. Unquestionable and unchanging truths alone may be safely broadcast; for every truth has behind and within it its own spiritual force. Every philosophic verity is a power as well as an idea. Thought upon a truth taps the power of that truth. Thought-projection by mental affirmation and verbal expression of a truth liberates that power. Ideas selected for projection must therefore subscribe to at least three rules. They must be basically true, non-compulsive (being sent out as offerings only) and wholly beneficent in their influence. In addition, to produce the maximum effect, they must be conceived and affirmed impersonally and with complete clarity.

Các ý tưởng được phóng chiếu phải được chọn lựa với sự cẩn trọng lớn lao. Chỉ những chân lý không thể nghi ngờ và không thay đổi mới có thể được truyền phát an toàn; vì mỗi chân lý đều có mãnh lực tinh thần riêng ở phía sau và bên trong nó. Mỗi chân lý triết học vừa là một quyền năng vừa là một ý tưởng. Tư tưởng về một chân lý khai mở quyền năng của chân lý ấy. Sự phóng chiếu tư tưởng bằng xác quyết trí tuệ và biểu đạt bằng lời của một chân lý giải phóng quyền năng đó. Vì vậy, các ý tưởng được chọn để phóng chiếu phải tuân theo ít nhất ba quy luật. Chúng phải căn bản là chân thật, không cưỡng bách, vì chỉ được gửi đi như những hiến phẩm, và hoàn toàn nhân từ trong ảnh hưởng của chúng. Ngoài ra, để tạo ra hiệu quả tối đa, chúng phải được quan niệm và xác quyết một cách vô ngã và với sự rõ ràng hoàn toàn.

Members of thought-projection groups should therefore be spiritually minded people, moved solely by a sincere aspiration to serve. They must be capable of impersonal eifort in which they have no leading part, being ready, once a trusted leader has been appointed, completely to subordinate the personality. They must also be capable of clear thought, sustained concentration and powerful mental affirmation. They should not be mediumistic, unduly negative and passive people being unsuitable for this kind of work. The seeing of visions during supposed meditation, response to presences, desire to describe them and a general concern with personal psychism, are inadvisable in members of groups organised solely for positive and impersonal activity. Members must also be able to meet regularly and consistently for group work, and to maintain silence; for such work loses power when indiscriminately discussed.

Vì vậy, các thành viên của các nhóm phóng chiếu tư tưởng nên là những người có khuynh hướng tinh thần, chỉ được thúc đẩy bởi một khát vọng chân thành phụng sự. Họ phải có khả năng nỗ lực vô ngã, trong đó họ không giữ vai trò lãnh đạo, sẵn sàng, một khi một người lãnh đạo đáng tin cậy đã được bổ nhiệm, hoàn toàn đặt phàm ngã dưới quyền điều động. Họ cũng phải có khả năng tư tưởng rõ ràng, tập trung bền bỉ và xác quyết trí tuệ mạnh mẽ. Họ không nên là những người có tính đồng tử, quá tiêu cực và thụ động, vì không thích hợp với loại công việc này. Việc thấy các linh ảnh trong khi được cho là tham thiền, đáp ứng với các hiện diện, mong muốn mô tả chúng và sự quan tâm chung đến thông linh cá nhân đều không nên có nơi các thành viên của những nhóm được tổ chức chỉ cho hoạt động tích cực và vô ngã. Các thành viên cũng phải có thể gặp nhau đều đặn và nhất quán để làm việc nhóm, và giữ im lặng; vì công việc như thế mất quyền năng khi bị bàn luận một cách bừa bãi.

The co-operation of the Angelic Hosts can be of the greatest value in such activities. Again a warning must be given; for two dangers exist. One of these is that faith in and attempted co-operation with the angels might degenerate into mere superstition and self-deceit. Against this, the experimenter must ever be on guard, being above all things a realist with a severely practical mind. The other danger is that heightened mental power and glimpses of the cooperating Intelligences might produce the illusion of the receipt of personal favours, and so lead to the evil of pride. Perpetually preserved impersonality and humility are the safeguards against this second danger. Since the Angelic Hosts are the embodiment of impersonality, universality of mind is necessary for man to be en rapport with them. Only as man universalises his consciousness can he enter the Kingdom of the Gods.

Sự hợp tác của các Đoàn Thiên Thần có thể có giá trị lớn nhất trong những hoạt động như thế. Một lần nữa, cần đưa ra một lời cảnh báo; vì có hai nguy cơ hiện hữu. Một là đức tin vào các thiên thần và nỗ lực hợp tác với họ có thể thoái hóa thành mê tín đơn thuần và tự lừa dối. Người thử nghiệm phải luôn cảnh giác trước điều này, trên hết mọi sự phải là một người thực tế với một thể trí nghiêm ngặt thực tiễn. Nguy cơ kia là quyền năng trí tuệ được tăng cường và những thoáng thấy các Trí Tuệ đang hợp tác có thể tạo ra ảo tưởng rằng mình nhận được ân huệ cá nhân, và do đó dẫn đến điều ác của kiêu ngạo. Tính vô ngã và khiêm nhường được giữ gìn thường xuyên là các biện pháp bảo vệ trước nguy cơ thứ hai này. Vì các Đoàn Thiên Thần là hiện thân của tính vô ngã, nên tính phổ quát của thể trí là cần thiết để con người ở trong sự hòa điệu với họ. Chỉ khi con người phổ quát hóa tâm thức của mình, y mới có thể bước vào Thiên Giới của các Nam Thần.

Angels are associated with the Power, Light and Life aspects of Nature. When Power is evoked from the Universal Source, focused by man’s mind into a stream and then impersonally and accurately directed into a chosen field the Angelic Hosts are provided with suitable conditions for their natural activities. One of these is to conserve, direct and employ as a “tool” the energy of cosmic electricity. This force can be tapped and released at spiritual, mental and psychical levels. The will and mind of man, conjoined as in thought projection, both impress this energy with a mental characteristic and direct it into chosen fields. As the power goes forth on its mission, it must be carefully conserved and accurately directed if it is to produce its greatest effect upon receptive minds.

Các thiên thần liên hệ với các phương diện Quyền Năng, Ánh Sáng và Sự Sống của Thiên nhiên. Khi Quyền Năng được gợi lên từ Nguồn Phổ Quát, được thể trí con người tập trung thành một dòng chảy rồi được hướng dẫn một cách vô ngã và chính xác vào một lĩnh vực đã chọn, các Đoàn Thiên Thần được cung cấp những điều kiện thích hợp cho các hoạt động tự nhiên của họ. Một trong các hoạt động này là bảo tồn, hướng dẫn và sử dụng như một “công cụ” năng lượng của điện vũ trụ. Mãnh lực này có thể được khai mở và giải phóng ở các cấp độ tinh thần, trí tuệ và thông linh. Ý chí và thể trí của con người, được kết hợp như trong phóng chiếu tư tưởng, vừa in dấu lên năng lượng này một đặc tính trí tuệ, vừa hướng nó vào các lĩnh vực đã chọn. Khi quyền năng phát ra theo sứ mệnh của nó, nó phải được bảo tồn cẩn thận và hướng dẫn chính xác nếu muốn tạo ra hiệu quả lớn nhất trên các thể trí có khả năng tiếp nhận.

If their co-operation can be obtained, the angels associate themselves intimately with this focused current of force, conserve it against loss in transit and rapid dissipation on arrival and apply it with maximum effectiveness. Clarity of thought and keenness of concentration in the human operators are, however, still essential to success.

Nếu có thể đạt được sự hợp tác của họ, các thiên thần sẽ liên kết mật thiết với dòng mãnh lực được tập trung này, bảo tồn nó khỏi mất mát trong khi chuyển vận và khỏi làm tiêu tan nhanh chóng khi đến nơi, đồng thời áp dụng nó với hiệu quả tối đa. Tuy nhiên, sự rõ ràng của tư tưởng và sự sắc bén của tập trung nơi những người thao tác là con người vẫn thiết yếu cho thành công.

SUN RITUALS – CÁC NGHI LỄ MẶT TRỜI

In addition to this purely mental method of co-operation, bodily posture, gesture and movement, and colour and words, used with concentrated will-thought in simple ceremonial may, for certain temperaments, facilitate the process of collaboration with the Angelic Hosts. Such Rituals may be employed to evoke beneficent forces and distribute them upon the world.

Ngoài phương pháp hợp tác thuần túy trí tuệ này, tư thế thân thể, cử chỉ và chuyển động, cùng màu sắc và lời nói, khi được dùng với tư tưởng-ý chí tập trung trong nghi lễ đơn giản, có thể, đối với một số khí chất nhất định, tạo thuận lợi cho tiến trình cộng tác với các Đoàn Thiên Thần. Những Nghi lễ như thế có thể được sử dụng để gợi lên các mãnh lực nhân từ và phân phối chúng trên thế giới.

Some thirty people recently participated in this method in the open-air in New Zealand. The ladies wore flowing Grecian dresses with long sleeves, and sashes and head bands coloured according to the nature of the influence to be invoked and radiated. The men were dressed in white flannels and wore similarly coloured sashes. Orange, blue, green and rose were used in rituals invoking and radiating power, purity, healing and love respectively.

Gần đây, khoảng ba mươi người đã tham gia phương pháp này ngoài trời tại New Zealand. Các phụ nữ mặc váy kiểu Hy Lạp buông rủ với tay áo dài, cùng đai lưng và băng đầu có màu tùy theo bản chất của ảnh hưởng được khẩn cầu và tỏa rải. Nam giới mặc đồ nỉ trắng và đeo các đai lưng có màu tương tự. Màu cam, xanh lam, xanh lá và hồng được dùng trong các nghi lễ khẩn cầu và tỏa rải lần lượt quyền năng, sự tinh khiết, chữa lành và tình thương.

The participants marched out upon a large lawn and stood facing inwards in three concentric circles, with a flaming brazier in.the centre. They then began each of the four Rituals by saying together, slowly and with full intent:

Những người tham dự tiến ra một bãi cỏ rộng và đứng quay mặt vào trong thành ba vòng tròn đồng tâm, với một lò than cháy rực ở trung tâm. Sau đó, họ bắt đầu mỗi Nghi lễ trong bốn Nghi lễ bằng cách cùng nói, chậm rãi và với trọn ý định:

“I dedicate myself as a channel for spiritual power (purity, healing, love in successive ceremonies) to the world. I salute the Angelic Hosts.”

“Tôi hiến dâng chính mình như một kênh dẫn quyền năng tinh thần, sự tinh khiết, chữa lành, tình thương trong các nghi lễ nối tiếp nhau, đến thế giới. Tôi chào các Đoàn Thiên Thần.”

With arms raised above the head and eyes turned upwards:

Hai tay giơ lên trên đầu và mắt hướng lên trên:

“In reverence I invoke spiritual power (purity, healing, love) from our Lord the Sun. I invoke the co-operation of the Angelic Hosts.”

“Trong lòng tôn kính, tôi khẩn cầu quyền năng tinh thần, sự tinh khiết, chữa lành, tình thương từ Chúa Tể Mặt Trời của chúng ta. Tôi khẩn cầu sự hợp tác của các Đoàn Thiên Thần.”

Turning outwards and lowering arms to a horizontal position:

Quay ra ngoài và hạ tay xuống vị trí ngang:

“May spiritual power (purity, healing, love) pour forth upon the world.”

“Nguyện quyền năng tinh thần, sự tinh khiết, chữa lành, tình thương tuôn đổ trên thế giới.”

Walking outwards for four paces, the participants, with utmost concentration and in co-operation with the Angelic Hosts, mentally directed the invoked power upon the world. Arms were then lowered to sides, with the words:

Bước ra ngoài bốn bước, những người tham dự, với sự tập trung tối đa và trong sự hợp tác với các Đoàn Thiên Thần, hướng quyền năng đã được khẩn cầu lên thế giới bằng trí tuệ. Sau đó tay được hạ xuống hai bên, với những lời:

“Peace, peace, peace.”

“Bình an, bình an, bình an.”

Turning inwards, all raised and joined their hands at the throat, bowed their heads and said in unison:

Quay vào trong, tất cả nâng và chắp tay ở cổ họng, cúi đầu và đồng thanh nói:

“Homage and gratitude to the Source of Light. Greetings and gratitude to the Angelic Hosts.”

“Tôn kính và tri ân Nguồn Ánh Sáng. Kính chào và tri ân các Đoàn Thiên Thần.”

Hands were then lowered and the Ritual was brought to a close. A leader gave the time for all the movements and choral speaking, both of which had been carefully practised.

Sau đó tay được hạ xuống và Nghi lễ kết thúc. Một người lãnh đạo ra hiệu thời điểm cho tất cả các động tác và lời nói đồng ca, cả hai đều đã được luyện tập cẩn thận.

These Rituals were based upon ideas suggested to me by the angel who inspired my book, The Angelic Hosts. Sun Rituals are therein described somewhat as follows:

Những Nghi lễ này dựa trên các ý tưởng do thiên thần đã cảm hứng cho cuốn sách Các Đoàn Thiên Thần của tôi gợi ý cho tôi. Các Nghi lễ Mặt Trời được mô tả trong đó phần nào như sau:

For the worship of the Spiritual Sun no other temples are needed than the free and open places of the world, the sunlit mountain-tops and plains, the fair valleys, and the open fields, the woods, the meadows and the hills. Withdraw yourselves from every artificial form and draw near to Nature’s heart. Assemble, as the angels do, in companies inspired with but a single aim—the worship of the sun. March in stately processions, practise Rituals, engage in joyful dances, chant splendid litanies expressive of the glories of Our Lord the Sun. Standing in circles, in imitation of His glorious form, raise your open hands to the sky. Pour forth your love, your worship and your praise, acknowledging Him as Lord of all your lives.

Để thờ phụng Mặt Trời Tinh Thần, không cần những đền thờ nào khác ngoài các nơi tự do và rộng mở của thế giới, các đỉnh núi và đồng bằng ngập nắng, các thung lũng xinh đẹp, những cánh đồng mở, rừng cây, đồng cỏ và đồi núi. Hãy rút mình khỏi mọi hình tướng nhân tạo và đến gần trái tim của Thiên nhiên. Hãy tụ họp, như các thiên thần vẫn làm, thành các đoàn được cảm hứng chỉ bởi một mục đích duy nhất — thờ phụng mặt trời. Hãy tiến bước trong các đoàn rước trang nghiêm, thực hành các Nghi lễ, tham gia những vũ điệu hoan hỉ, xướng các kinh cầu huy hoàng diễn đạt những vinh quang của Chúa Tể Mặt Trời của Chúng Ta. Đứng thành vòng tròn, noi theo hình tướng vinh quang của Ngài, hãy nâng đôi tay mở rộng lên bầu trời. Hãy tuôn đổ tình thương, sự thờ phụng và lời ngợi ca của các bạn, nhìn nhận Ngài là Chúa Tể của tất cả đời sống các bạn.

Invoke His presence, His power and His life into your midst. Build, by your united thought and aspiration, a chalice to receive the wine of His ever outpoured life. That precious wine shall fill the cup, shall flow into your hearts and lives, and charge you with the power and the splendour of the sun. Your souls shall be irradiated by His light, your wills become resistless with His power, and your hearts be filled to overflowing with His love.

Hãy khẩn cầu Sự Hiện Diện, quyền năng và sự sống của Ngài vào giữa các bạn. Bằng tư tưởng và khát vọng hợp nhất của các bạn, hãy xây một chén thánh để tiếp nhận rượu của sự sống luôn tuôn đổ của Ngài. Rượu quý ấy sẽ làm đầy chén, sẽ chảy vào trái tim và đời sống các bạn, và nạp cho các bạn quyền năng cùng vẻ huy hoàng của mặt trời. Linh hồn các bạn sẽ được chiếu rạng bởi ánh sáng của Ngài, ý chí các bạn trở nên không thể cưỡng lại bởi quyền năng của Ngài, và trái tim các bạn được lấp đầy đến tràn trề bởi tình thương của Ngài.

Thus illumined and refreshed, turn your faces outwards, stretch forth your hands and, with concentrated will, pour out His power and His blessing upon the world. The circle shall become like a sun; for His glowing splendour shall descend among you and effulgent beams shall shine through you to bless, quicken and bring peace to all your world.

Được soi sáng và làm tươi mới như thế, hãy quay mặt ra ngoài, đưa tay ra và, với ý chí tập trung, tuôn đổ quyền năng và phúc lành của Ngài trên thế giới. Vòng tròn sẽ trở nên như một mặt trời; vì vẻ huy hoàng rực sáng của Ngài sẽ giáng xuống giữa các bạn và các tia sáng chói lọi sẽ chiếu qua các bạn để ban phúc, làm linh hoạt và đem bình an đến cho toàn thế giới của các bạn.

With united wills and overflowing hearts, mentally flood all your world with the power of the sun. Thereafter turn your thoughts upwards in gratitude and reverence to the Power’s Source. Close the Ritual by walking slowly outwards from the centre, forming, as all move together, the symbol of His outpoured light and life and love.

Với các ý chí hợp nhất và trái tim tràn đầy, hãy bằng trí tuệ làm ngập tràn toàn thế giới của các bạn bằng quyền năng của mặt trời. Sau đó, hãy hướng tư tưởng các bạn lên trên trong lòng tri ân và tôn kính đối với Nguồn của Quyền Năng. Hãy khép lại Nghi lễ bằng cách chậm rãi bước ra ngoài từ trung tâm, tạo thành, khi tất cả cùng di chuyển, biểu tượng của ánh sáng, sự sống và tình thương tuôn đổ của Ngài.

Graceful flowing robes in the colours of His spectrum may be worn and the wearers so arranged that His glorious hues may best be displayed. Patterns may be formed with solid blocks of colour, long straight lances, interwoven and blended lines and circular arrangements of the different shades in imitation of His rays. Artists shall design the robes and Rituals. Musicians shall compose the music for the chants, odes, hymns and litanies which poets shall write. So may the worship of Our Lord the Sun be once more established on your earth and His kingdom be made manifest among the nations of the world.

Có thể mặc những áo choàng mềm mại buông rủ theo các màu trong quang phổ của Ngài, và những người mặc được sắp xếp sao cho các sắc thái vinh quang của Ngài được phô bày đẹp nhất. Các mô hình có thể được tạo thành bằng những khối màu đặc, những ngọn giáo dài thẳng, các đường đan xen và hòa trộn, cùng những cách sắp xếp tròn của các sắc độ khác nhau mô phỏng các tia sáng của Ngài. Các nghệ sĩ sẽ thiết kế áo choàng và Nghi lễ. Các nhạc sĩ sẽ soạn nhạc cho những bài xướng tụng, tụng ca, thánh ca và kinh cầu mà các thi sĩ sẽ viết. Như vậy, việc thờ phụng Chúa Tể Mặt Trời của Chúng Ta có thể một lần nữa được thiết lập trên Trái Đất của các bạn, và Thiên Giới của Ngài được làm hiển lộ giữa các quốc gia của thế giới.

Collaboration between angels and men is also enjoined by its angel inspirer in my book The Brotherhood of Angels and of Men. There it is written:

Sự cộng tác giữa thiên thần và con người cũng được vị thiên thần cảm hứng của nó truyền dạy trong cuốn sách Tình Huynh Đệ của Thiên Thần và Con Người của tôi. Trong đó có viết:

“Angels and men, two branches of the family of God, may be drawn into close communion and co-operation, the chief purpose of which would be to uplift the human race. To this end the angels on their side are ready to participate as closely as possible in every department of human life and in every human activity in which co-operation is practicable. Those members of the human race who will throw open heart and mind to their angelic brethren, will find an immediate response and a gradually increasing conviction of its reality.

“Thiên thần và con người, hai nhánh của gia đình Thượng đế, có thể được thu hút vào sự giao cảm và hợp tác mật thiết, mục đích chính yếu của điều này là nâng cao nhân loại. Vì mục đích ấy, về phía mình, các thiên thần sẵn sàng tham dự hết sức mật thiết vào mọi lĩnh vực của đời sống con người và vào mọi hoạt động nhân loại trong đó sự hợp tác có thể thực hiện được. Những thành viên của nhân loại nào mở rộng trái tim và thể trí cho các huynh đệ thiên thần của mình sẽ thấy một đáp ứng tức thì và một niềm xác tín ngày càng tăng về thực tại của nó.

“While the angels make no conditions and impose no restrictions upon the activities and developments resulting from co-operation, they assume that no human brother would invoke them for personal and material gain. They ask for the acceptance of the motto of the Brotherhood (of angels and of men)-The Highest —and its practical application to every aspect of human life. They ask those who would invoke their presence to develop the qualities of purity, simplicity, directness and impersonality, and to acquire knowledge of the Great Plan whereby the ordered march of evolutionary progress is maintained. In this way every human activity will be founded upon the teachings and doctrines of that Divine and Ancient Wisdom which has always reigned supreme in the councils of the Angelic Hosts.”

“Dù các thiên thần không đặt điều kiện và không áp đặt hạn chế nào lên các hoạt động và sự phát triển phát sinh từ sự hợp tác, họ mặc nhiên cho rằng không huynh đệ nhân loại nào sẽ khẩn cầu họ vì lợi ích cá nhân và vật chất. Họ yêu cầu chấp nhận khẩu hiệu của Tình Huynh Đệ của thiên thần và con người — Điều Cao Cả Nhất — và ứng dụng thực tiễn nó vào mọi phương diện của đời sống con người. Họ yêu cầu những ai muốn khẩn cầu Sự Hiện Diện của họ phát triển các phẩm tính tinh khiết, giản dị, trực tiếp và vô ngã, và thu nhận tri thức về Thiên Cơ Vĩ Đại nhờ đó cuộc tiến bước có trật tự của tiến bộ tiến hoá được duy trì. Bằng cách này, mọi hoạt động nhân loại sẽ được đặt nền trên các giáo huấn và giáo lý của Minh Triết Thiêng Liêng và Cổ Xưa ấy, vốn luôn ngự trị tối thượng trong các hội đồng của các Đoàn Thiên Thần.”

PART V ILLUSTRATIONS – PHẦN V MINH HỌA

INTRODUCTION – DẪN NHẬP

THE fifth part of this book consists of Miss Quail’s striking pictures and my remarks upon them. As she has painted them to my descriptions, she is responsible only for their execution, not for their composition, colouring or form.

PHẦN thứ năm của cuốn sách này gồm những bức tranh nổi bật của Cô Quail và các nhận xét của tôi về chúng. Vì cô đã vẽ chúng theo các mô tả của tôi, cô chỉ chịu trách nhiệm về việc thực hiện, không phải về bố cục, màu sắc hay hình tướng của chúng.

Appropriate portrayal of the appearance of the Gods is, in fact, impossible through the medium of paint applied to a plane surface. Coloured light or fire moving in three dimensions would be needed to produce the effect of intense brilliance, translucence, delicacy and constant motion characteristic of the radiant forms and shining aura of the Gods. Despite especial care and repeated observation, exactitude of description of these beings is almost impossible to one of my limited clairvoyant faculty. The continual changes in the colours and their arrangement, in the direction of the flow of auric forces and in the varying patterns produced, make accuracy exceedingly difficult.

Thật ra, việc mô tả thích đáng dáng vẻ của các Nam Thần bằng phương tiện màu vẽ trên một mặt phẳng là điều bất khả. Cần có ánh sáng màu hoặc lửa chuyển động trong ba chiều để tạo ra hiệu quả rực rỡ mãnh liệt, trong suốt, tinh tế và chuyển động không ngừng, vốn đặc trưng cho các hình tướng rạng rỡ và hào quang sáng chói của các Nam Thần. Dù đã đặc biệt cẩn trọng và quan sát nhiều lần, sự chính xác trong mô tả những sinh linh này hầu như là điều bất khả đối với một người có năng lực thông nhãn hạn chế như tôi. Những thay đổi liên tục trong màu sắc và cách sắp xếp của chúng, trong hướng chảy của các mãnh lực hào quang và trong các mô hình biến thiên được tạo ra, khiến sự chính xác trở nên cực kỳ khó khăn.

At least two differing conditions of the auras of the Gods are discernible, one of expansion and the other of contraction. In expansion, the attention is outward-turned upon the divine Life and Mind in Nature. The aura is then greatly extended outwards from the central form and frequently, also, from behind in three-dimensional, wing-shaped radiations. In this phase, the component forces are flowing at their full power, which produces a great brilliance throughout the whole aura and a dazzling brightness at the various force-centres or wheels. In contraction, the attention of the God is directed towards the source of all Life and Power. The aura then becomes relatively quiescent and, with the exception of the radiations above the head which may increase in both dimension and brilliance, is much reduced in size. Examples of both of these phases are included in the accompanying pictures, although most of them represent that of expansion. The texture or grain of the aura is exceedingly fine and, despite Miss Quail’s splendid achievement, has so far proved impossible of perfect portrayal. There are various layers of force within this aura, each with its own hues and direction of flow. The general effect is of brilliantly coloured, three-dimensional, shot moire silk, composed of flowing forces rather than substance and in constant, wavelike motion. Through this in many cases, from within outwards, streams of radiant energy, often white and of dazzling brightness, are continually flashing.

Có thể phân biện ít nhất hai trạng thái khác nhau của hào quang các Nam Thần, một là mở rộng và một là co lại. Trong trạng thái mở rộng, sự chú ý hướng ra ngoài đến Sự Sống và Trí Tuệ thiêng liêng trong Thiên nhiên. Khi ấy hào quang được mở rộng rất xa ra ngoài khỏi hình tướng trung tâm và thường cũng từ phía sau thành các bức xạ ba chiều hình cánh. Trong pha này, các mãnh lực thành phần đang tuôn chảy với toàn bộ quyền năng của chúng, tạo ra một vẻ rực rỡ lớn lao khắp toàn bộ hào quang và một độ sáng chói lòa tại các trung tâm mãnh lực hay các bánh xe khác nhau. Trong trạng thái co lại, sự chú ý của Nam Thần hướng về nguồn của mọi Sự Sống và Quyền Năng. Khi ấy hào quang trở nên tương đối tĩnh lặng và, ngoại trừ các bức xạ phía trên đầu có thể tăng cả về kích thước lẫn độ rực rỡ, bị giảm nhiều về kích cỡ. Những ví dụ của cả hai pha này đều được đưa vào các bức tranh kèm theo, mặc dù phần lớn chúng biểu thị pha mở rộng. Kết cấu hay thớ của hào quang cực kỳ mịn và, bất chấp thành tựu xuất sắc của Cô Quail, cho đến nay vẫn chứng tỏ là không thể mô tả hoàn hảo. Có nhiều lớp mãnh lực khác nhau bên trong hào quang này, mỗi lớp có sắc thái và hướng chảy riêng. Hiệu quả tổng quát là như lụa moire ba chiều, nhiều màu rực rỡ, óng ánh, được cấu thành bởi các mãnh lực tuôn chảy hơn là bởi chất liệu, và ở trong chuyển động làn sóng liên tục. Qua đó, trong nhiều trường hợp, từ bên trong ra ngoài, các dòng năng lượng rạng rỡ, thường trắng và sáng chói lòa, liên tục lóe sáng.

The direction of the flow of these auric currents is generally upwards and outwards from force-centres in the middle of the head and at the brow, the throat and the region of the solar plexus. Outlining the central form there is also a fine radiation, usually white or golden in colour. The head is nearly always crowned by upward-flowing, flame-like forces, which bestow upon the more highly-evolved Gods an appearance of regal splendour. For the most part, the universal energies for which the Gods are agents and directors descend from above the head and flow through the aura, greatly increasing its electric quality and brilliance. Other energies appear to arise directly within the body and chakras, as if from higher dimensions. As stated earlier, one function of the Gods appears to be to transform, in the electrical sense, these forces by means of the resistance offered by their bodies and by passage through their force-centres. Two of the results produced by this procedure are the transmission of spiritualising force into the substance of the lower planes of Nature down to the physical and the passing on of great currents of “stepped down “energy for the use of the angels and nature spirits in their various tasks upon these planes. Matter itself thus gradually becomes increasingly charged with spirit and so more malleable and responsive to consciousness and the forms of Nature gradually resemble more nearly the archetypal ideal.

Hướng chảy của các dòng hào quang này nói chung là đi lên và ra ngoài từ các trung tâm mãnh lực ở giữa đầu và tại trán, cổ họng và vùng tùng thái dương. Bao quanh hình tướng trung tâm cũng có một bức xạ mịn, thường màu trắng hoặc vàng kim. Đầu hầu như luôn được đội vương miện bằng các mãnh lực giống ngọn lửa đang chảy lên trên, ban cho các Nam Thần tiến hoá cao hơn một dáng vẻ huy hoàng vương giả. Phần lớn, các năng lượng phổ quát mà các Nam Thần là những tác nhân và người điều động giáng xuống từ phía trên đầu và chảy qua hào quang, làm tăng mạnh phẩm tính điện và vẻ rực rỡ của nó. Các năng lượng khác dường như phát sinh trực tiếp bên trong thể và chakra, như thể từ các chiều kích cao hơn. Như đã nói trước đây, một chức năng của các Nam Thần dường như là chuyển đổi, theo nghĩa điện học, các mãnh lực này bằng phương tiện sức kháng do các thể của họ đưa ra và bằng sự đi qua các trung tâm mãnh lực của họ. Hai trong số các kết quả do tiến trình này tạo ra là việc truyền mãnh lực tinh thần hóa vào chất liệu của các cõi thấp của Thiên nhiên xuống đến cõi hồng trần, và việc chuyển tiếp các dòng năng lượng lớn đã được “giảm cấp” để các thiên thần và tinh linh tự nhiên sử dụng trong những nhiệm vụ khác nhau của họ trên các cõi này. Như vậy, chính vật chất dần dần ngày càng được nạp đầy tinh thần và do đó trở nên dễ uốn nắn hơn, đáp ứng hơn với tâm thức, và các hình tướng của Thiên nhiên dần dần giống lý tưởng nguyên mẫu hơn.

According to occult philosophy, the superphysical worlds, which are the abodes of the Gods, consist of matter of increasing tenuity of substance ranging from the density of the finest ether up to the rarest and most spiritualised condition. These are six in number and each has its own inhabitants, human and angelic. In terms of human awareness in them, these planes may be called the emotional, the mental, the intuitional and that of the spiritual will. Above these four, but at present beyond the range of normal human awareness, are two others which will be entered by later races of men more highly evolved than ourselves.

Theo triết học huyền bí, các thế giới siêu hồng trần, vốn là trú xứ của các Nam Thần, gồm vật chất có độ tinh tế của chất liệu ngày càng tăng, trải từ mật độ của dĩ thái mịn nhất đến trạng thái hiếm loãng nhất và tinh thần hóa nhất. Chúng có sáu cõi, và mỗi cõi có cư dân riêng, gồm nhân loại và thiên thần. Theo mức độ nhận biết của con người trong chúng, các cõi này có thể được gọi là cõi cảm xúc, cõi trí, cõi trực giác và cõi của ý chí tinh thần. Phía trên bốn cõi này, nhưng hiện nay vẫn vượt ngoài phạm vi nhận biết bình thường của con người, còn có hai cõi khác sẽ được các giống dân nhân loại về sau, tiến hoá cao hơn chúng ta, bước vào.

The planes of Nature, seven in number if the physical be included, and each consisting of seven sub-planes, interpenetrate each other, each more subtle plane also extending much further beyond the surface of the earth than those below it in terms of density. They are of two orders, called the form and the formless worlds. The form worlds, in one classification, consist of the physical, emotional and four lower sub-planes of the mental plane. They are so called because in them form predominates over force and rhythm. The bodies in these worlds tend to be concrete and objective, with relatively clear-cut edges, particularly at the physical and mental levels. The formless worlds, which consist of the three higher sub-planes of the mental plane and those of intuition and spiritual will, are so called because in them life and rhythm predominate and form is reduced to its essence or Archetype.

Các cõi của Thiên nhiên, nếu kể cả cõi hồng trần thì có bảy, và mỗi cõi gồm bảy cõi phụ, xuyên thấu lẫn nhau; mỗi cõi tinh tế hơn cũng mở rộng xa hơn nhiều khỏi bề mặt Trái Đất so với các cõi bên dưới nó về mặt mật độ. Chúng thuộc hai loại, được gọi là các thế giới hình tướng và vô hình tướng. Theo một phân loại, các thế giới hình tướng gồm cõi hồng trần, cõi cảm xúc và bốn cõi phụ thấp của cõi trí. Chúng được gọi như vậy vì trong chúng hình tướng chiếm ưu thế hơn mãnh lực và nhịp điệu. Các thể trong những thế giới này có khuynh hướng cụ thể và khách quan, với các ranh giới tương đối rõ nét, đặc biệt ở các cấp độ hồng trần và trí tuệ. Các thế giới vô hình tướng, gồm ba cõi phụ cao của cõi trí và các cõi trực giác cùng ý chí tinh thần, được gọi như vậy vì trong chúng sự sống và nhịp điệu chiếm ưu thế, còn hình tướng được giản lược về tinh chất hay Nguyên Mẫu của nó.

The illustrations represent Gods inhabiting both of these groups of worlds. In the formless, where auras predominate over bodies, they appear as glowing centres of power surrounded by outflowing energies of many hues, almost veiling the form within. In the form worlds, the suggestion of bodily shape is greater, though here also, the shining aura frequently conceals the lordly and the beautiful form. For this reason the outer auras have been omitted from many of the pictures. In all cases, it should be remembered, the Greater Gods are surrounded by far-flung auras of many brilliant hues.

Các minh họa biểu thị các Nam Thần cư ngụ trong cả hai nhóm thế giới này. Trong các thế giới vô hình tướng, nơi hào quang chiếm ưu thế hơn thể, họ xuất hiện như những trung tâm quyền năng rực sáng được bao quanh bởi các năng lượng tuôn chảy ra ngoài với nhiều sắc thái, gần như che phủ hình tướng bên trong. Trong các thế giới hình tướng, gợi ý về dáng thể lớn hơn, dù ở đây cũng vậy, hào quang sáng chói thường che giấu hình tướng uy nghi và đẹp đẽ. Vì lý do này, các hào quang bên ngoài đã bị lược bỏ khỏi nhiều bức tranh. Trong mọi trường hợp, cần nhớ rằng các Nam Thần Cao Cả được bao quanh bởi những hào quang trải rộng xa với nhiều sắc thái rực rỡ.

PLATE 1 A SEA NATURE SPIRIT – BẢN MINH HỌA 1 MỘT TINH LINH TỰ NHIÊN CỦA BIỂN

As far as my experience goes, variations of this type of primitive sea fairy are commonly to be seen skimming the surface of the oceans and the lakes of the world. Relatively undeveloped, the sea nature spirit has as yet little or no form. There is a rudimentary head which is the seat of consciousness, whilst a current of streaming white force suggests a body and a wing. More complex examples, with two or even more wing forms, are also to be seen.

Theo kinh nghiệm của tôi, các biến thể của loại tiên biển nguyên thủy này thường được nhìn thấy lướt trên mặt các đại dương và hồ nước của thế giới. Tương đối kém phát triển, tinh linh tự nhiên của biển cho đến nay có ít hoặc không có hình tướng. Có một cái đầu sơ khai là nơi trú của tâm thức, trong khi một dòng mãnh lực trắng tuôn chảy gợi ý một thân thể và một cánh. Những ví dụ phức tạp hơn, với hai hoặc thậm chí nhiều hình cánh hơn, cũng có thể được nhìn thấy.

These creatures fly about the surface of the oceans in innumerable hosts. Sometimes they rise high into the air; at others they plunge into the water to reappear in a few moments in a flash of white light, catching the eye with its brilliance. After a moment’s concentration required to focus the appropriate power of vision, the swiftly moving, bird-like form appears to the observer, somewhat as painted by Miss Quail. The distance from head to tip of wing would vary from three to twelve feet, according to phase of manifestation and stage of evolution.

Những sinh vật này bay quanh bề mặt các đại dương thành vô số đoàn. Đôi khi chúng vươn cao lên không trung; lúc khác chúng lao xuống nước để rồi xuất hiện trở lại trong chốc lát trong một lóe sáng trắng, thu hút mắt nhìn bằng vẻ rực rỡ của nó. Sau một khoảnh khắc tập trung cần thiết để chỉnh tiêu điểm quyền năng tầm nhìn thích hợp, hình tướng giống chim chuyển động nhanh hiện ra trước người quan sát, phần nào như Cô Quail đã vẽ. Khoảng cách từ đầu đến chóp cánh có thể thay đổi từ ba đến mười hai feet, tùy theo pha biểu hiện và giai đoạn tiến hoá.

PLATE 2 A SEA SYLPH – BẢN MINH HỌA 2 MỘT SYLPH BIỂN

The sea nature spirit evolves into the type of sea sylph here portrayed. This example has reached individualisation and, with countless similar and different beings, may be seen in the upper air, chiefly above the seas. The average height of the central form at this level of evolution would be from ten to fifteen feet.

Tinh linh tự nhiên của biển tiến hoá thành loại sylph biển được mô tả ở đây. Ví dụ này đã đạt đến biệt ngã hóa và, cùng với vô số sinh linh tương tự và khác biệt, có thể được nhìn thấy trong thượng tầng không khí, chủ yếu phía trên biển. Chiều cao trung bình của hình tướng trung tâm ở cấp độ tiến hoá này vào khoảng mười đến mười lăm feet.

PLATE 3 A SALAMANDER – BẢN MINH HỌA 3 MỘT SALAMANDER

This picture represents a fire nature spirit as described on page 130.

Bức tranh này biểu thị một tinh linh tự nhiên của lửa như đã mô tả ở trang 130.

PLATE 4 A MOUNTAIN SYLPH – BẢN MINH HỌA 4 MỘT SYLPH NÚI

This is one of the many types of non-individualised sylphs commonly to be seen in the air over the land. It is in swift motion, with shining inner aura streaming in beautiful, wing-like shapes behind and above it.

Đây là một trong nhiều loại sylph chưa biệt ngã hóa thường được nhìn thấy trong không trung trên đất liền. Nó đang chuyển động nhanh, với hào quang bên trong sáng chói tuôn chảy thành những hình dạng đẹp như cánh ở phía sau và phía trên nó.

Interpenetrating and extending beyond the form and aura here portrayed are the finer radiations, not shown on the Plate, characteristic of every member of the Angelic Hosts. They are generally ovoid, composed of many brilliant hues, and extend for several yards on every side of the beautiful form within.

Xuyên thấu và mở rộng vượt ra ngoài hình tướng và hào quang được mô tả ở đây là các bức xạ tinh vi hơn, không được thể hiện trong Bản Minh Họa, vốn đặc trưng cho mọi thành viên của các Đoàn Thiên Thần. Chúng thường có hình trứng, gồm nhiều sắc thái rực rỡ, và mở rộng nhiều yard về mọi phía của hình tướng đẹp đẽ bên trong.

The orange sylph is possibly associated with the solar life-force or prana with which the air is charged, and which constitutes the vitality of all organic forms. The height of the central figure of the sylph is about five feet.

Sylph màu cam có thể liên hệ với sinh lực mặt trời hay prana mà không khí được nạp đầy, và vốn cấu thành sinh lực của mọi hình tướng hữu cơ. Chiều cao của hình trung tâm của sylph khoảng năm feet.

PLATE 5 A LORD OF THE TREE FERNS – BẢN MINH HỌA 5 MỘT CHÚA TỂ CỦA CÁC CÂY DƯƠNG XỈ THÂN GỖ

Whilst the building Orders of the Gods play all important parts in solar and planetary creative processes, another Order is concerned with the evolution of consciousness within the form. This ministration to the evolving life in the mineral kingdom is considered in Part II, Chapter I. Trees and forests also receive similar assistance, the classical concept of the dryad of the trees being founded upon fact. Nearly all well-grown trees have attached to them, in addition to innumerable nature spirit builders, an advanced nature spirit or a God which throughout its life remains within or linked to the astro-etheric double and the aura of the tree. The presence of such a being, through the constant play of its thoughts and auric energies, greatly quickens the evolution of tree life and consciousness. Such nature spirits and Gods are subordinate to more advanced beings in charge of groups of trees of the same genus, as are found in large woods, forests and jungles.

Trong khi các Bộ kiến tạo của các Nam Thần giữ mọi vai trò quan trọng trong các tiến trình sáng tạo thái dương và hành tinh, một Bộ khác liên quan đến sự tiến hoá của tâm thức bên trong hình tướng. Sự chăm sóc đối với sự sống đang tiến hoá trong giới kim thạch này được xem xét trong Phần II, Chương I. Cây cối và rừng cũng nhận được sự trợ giúp tương tự, quan niệm cổ điển về dryad của cây cối vốn đặt nền trên sự thật. Gần như mọi cây phát-triển tốt đều có gắn liền với chúng, ngoài vô số tinh linh tự nhiên kiến tạo, một tinh linh tự nhiên tiến bộ hoặc một Nam Thần, suốt đời vị ấy ở lại bên trong hoặc liên kết với bản sao cảm-dĩ thái và hào quang của cây. Sự hiện diện của một sinh linh như thế, qua tác động liên tục của các tư tưởng và năng lượng hào quang của vị ấy, làm linh hoạt mạnh mẽ sự tiến hoá của sự sống và tâm thức cây. Những tinh linh tự nhiên và Nam Thần như thế tùy thuộc các sinh linh tiến bộ hơn, phụ trách các nhóm cây cùng một chi, như được thấy trong các khu rừng lớn, rừng rậm và rừng nhiệt đới.

As an aid to comprehension of the effect of the presence of nature spirits and Gods upon the consciousness in mineral and plant kingdoms, one may think of a bowl of still water as representing the sleeping group consciousness of hill or mountain, plant or tree. Goldfish placed in this bowl would by their movements keep the water in continual motion, and this is in part the effect produced upon mineral and plant consciousness by the presence and play of the thought and auric forces of nature spirits and Gods.

Để giúp thấu hiểu ảnh hưởng của sự hiện diện của các tinh linh tự nhiên và Nam Thần đối với tâm thức trong giới kim thạch và thực vật, người ta có thể nghĩ đến một bát nước tĩnh lặng như biểu thị hồn nhóm đang ngủ của đồi hay núi, cây cỏ hay cây thân gỗ. Cá vàng được đặt trong bát này, bằng các chuyển động của chúng, sẽ giữ cho nước liên tục chuyển động, và đó một phần là hiệu quả được tạo ra trên tâm thức khoáng vật và thực vật bởi sự hiện diện và tác động của tư tưởng cùng các mãnh lực hào quang của tinh linh tự nhiên và Nam Thần.

Quaint, animal-headed nature spirits were found embedded within the trunks of well-grown tree ferns in the jungles on some of the mountains of Malaya and Ceylon. They were quite primitive beings, with little or no external awareness. Indeed, they gave the impression of being fast asleep. The plant growth and reproductive processes would be felt by them as faint stimuli, for they are growing with the trees, being intimately associated with their cell life and consciousness.

Những tinh linh tự nhiên kỳ lạ, đầu thú, được tìm thấy nằm sâu trong các thân cây dương xỉ thân gỗ phát triển tốt trong rừng nhiệt đới trên một số ngọn núi của Malaya và Ceylon. Chúng là những sinh linh khá nguyên thủy, có ít hoặc không có nhận biết bên ngoài. Thật vậy, chúng tạo ấn tượng như đang ngủ say. Sự tăng trưởng của cây và các tiến trình sinh sản sẽ được chúng cảm nhận như những kích thích mờ nhạt, vì chúng đang lớn lên cùng cây, gắn bó mật thiết với đời sống và tâm thức tế bào của cây.

The tree fern God here portrayed was observed over the jungle in the mountain district of Ceylon, near Newara Eliya. Such a being assists the evolution of form and the unfoldment of consciousness of a very large number of tree ferns. It is of interest to observe that the patterns formed by the flow of the lines of force in the aura of this God reproduce within it certain of the tree fern forms. An explanation of this is suggested in the description accompanying Plates 13 and 14.

Nam Thần dương xỉ thân gỗ được mô tả ở đây đã được quan sát phía trên rừng nhiệt đới trong vùng núi Ceylon, gần Newara Eliya. Một sinh linh như thế trợ giúp sự tiến hoá của hình tướng và sự khai mở tâm thức của một số lượng rất lớn cây dương xỉ thân gỗ. Điều đáng chú ý là các mô hình được tạo thành bởi dòng chảy của những đường mãnh lực trong hào quang của Nam Thần này tái tạo bên trong nó một số hình tướng của cây dương xỉ thân gỗ. Một lời giải thích cho điều này được gợi ý trong phần mô tả kèm theo các Bản Minh Họa 13 và 14.

The central form of this being is some fifty feet tall. The aura, however, is capable of extension for at least one hundred yards in all directions and was thus expanded when first seen high in the air, about a mile away. In the picture the outer aura is omitted and the inner aura is shown in phase of contraction, as when the God graciously hovered for a few minutes of mentalcommunion. Through both form and aura currents of force, presumably from the tree fern Archetype, play down into successive areas of the jungle as the God moves above its domain and ministers to its charges.

Hình tướng trung tâm của sinh linh này cao khoảng năm mươi feet. Tuy nhiên, hào quang có khả năng mở rộng ít nhất một trăm yard theo mọi hướng và đã mở rộng như thế khi lần đầu được nhìn thấy ở trên cao trong không trung, cách khoảng một dặm. Trong bức tranh, hào quang bên ngoài bị lược bỏ và hào quang bên trong được thể hiện trong pha co lại, như khi Nam Thần ân cần lơ lửng trong vài phút giao cảm trí tuệ. Qua cả hình tướng và hào quang, các dòng mãnh lực, có lẽ từ Nguyên Mẫu dương xỉ thân gỗ, tuôn xuống những khu vực kế tiếp nhau của rừng khi Nam Thần di chuyển phía trên lãnh địa của mình và chăm sóc những đối tượng được Ngài bảo trợ.

PLATE 6 A LORD OF THE PINES – BẢN MINH HỌA 6 MỘT CHÚA TỂ CỦA CÁC CÂY THÔNG

This being was observed in association with groups of stone pines in the Cape Peninsula, South Africa. As the picture shows, the colouring and the lines of force in the inner aura—the outer is omitted—suggest somewhat the needlelike foliage of the pine. Many well-grown pines were found to have their own tree God resembling the one here portrayed, but smaller in size and lower in evolution. The stature of this God is about thirty feet.

Sinh linh này được quan sát trong liên hệ với các nhóm thông đá ở Bán đảo Cape, Nam Phi. Như bức tranh cho thấy, màu sắc và các đường mãnh lực trong hào quang bên trong — hào quang bên ngoài bị lược bỏ — phần nào gợi đến tán lá dạng kim của cây thông. Nhiều cây thông phát triển tốt được nhận thấy có Nam Thần cây riêng của chúng, giống vị được mô tả ở đây, nhưng nhỏ hơn về kích thước và thấp hơn về tiến hoá. Tầm vóc của Nam Thần này khoảng ba mươi feet.

PLATE 7 A TREE NATURE SPIRIT – BẢN MINH HỌA 7 MỘT TINH LINH TỰ NHIÊN CỦA CÂY

This sixteen-year-old Waringan tree grows in a garden in Madioen, in the Island of Java. It was planted by the lady of the house, who became much attached to it and felt it to be a living, conscious being from whom, she assured me, she received a sense of friendliness and rest.

Cây Waringan mười sáu tuổi này mọc trong một khu vườn ở Madioen, trên đảo Java. Nó được trồng bởi nữ chủ nhân ngôi nhà, người trở nên rất gắn bó với nó và cảm thấy nó là một sinh linh sống động, có ý thức, từ đó, bà quả quyết với tôi, bà nhận được một cảm giác thân thiện và nghỉ ngơi.

When taking tea beneath its welcome shade, I became aware of the presence of this delightful tree nature spirit or dryad. I found it to be approaching individualisation, or evolution out of group into individualised consciousness, and to be well aware of the affection of the owner of the tree and responsive to it, which would beneficially affect its development. This nature spirit is approximately five feet tall.

Khi uống trà dưới bóng mát dễ chịu của nó, tôi nhận biết sự hiện diện của tinh linh tự nhiên cây hay dryad đáng yêu này. Tôi thấy nó đang tiến đến biệt ngã hóa, hay tiến hoá từ tâm thức nhóm sang tâm thức đã biệt ngã hóa, và rất nhận biết tình cảm của chủ cây cũng như đáp ứng với tình cảm ấy, điều này sẽ ảnh hưởng có lợi đến sự phát triển của nó. Tinh linh tự nhiên này cao khoảng năm feet.

PLATE 8 A MOUNTAIN GOD – BẢN MINH HỌA 8 MỘT NAM THẦN NÚI

Here is portrayed a mountain God intimately associated with the element of fire. It was observed at Loskop Mountain, near Harrismith in the Orange Free State, South Africa. The remarkable arrangement of the auric forces and the brilliant colouring are unique in my experience. Both are well portrayed in this fine example of Miss Quail’s art. The central figure at the time of observation was partly within the mountain and some fifty feet tall. A greatly extended outer aura, here omitted, shone with similar but more delicate hues

Ở đây mô tả một Nam Thần núi liên hệ mật thiết với Nguyên tố lửa. Vị ấy được quan sát tại Núi Loskop, gần Harrismith ở Orange Free State, Nam Phi. Cách sắp xếp đáng chú ý của các mãnh lực hào quang và màu sắc rực rỡ là độc nhất trong kinh nghiệm của tôi. Cả hai đều được mô tả tốt trong ví dụ đẹp đẽ này của nghệ thuật Cô Quail. Hình trung tâm lúc quan sát một phần ở bên trong núi và cao khoảng năm mươi feet. Một hào quang bên ngoài mở rộng rất lớn, ở đây bị lược bỏ, tỏa sáng với các sắc thái tương tự nhưng tinh tế hơn

.

.

PLATE 9 A MOUNTAIN GOD – BẢN MINH HỌA 9 MỘT NAM THẦN NÚI

This being was observed in the Drakensberg Range in Natal. Two of the most striking features were the remarkable mitre-like effect produced by the uprush of forces from the head and shoulders and the brilliant, four-funnelled force-centres in the region of the solar plexus through which power was flowing into the mountain below. The axes of the rapidly spinning funnels formed an equal-armed cross, the arms of which met within the form of the God and pointed forwards, backwards, to the right and to the left. In this picture the effect of translucency, characteristic of the appearance of all the Gods, is well portrayed. In the process, however, the impression of the tremendous power of the God and of the passage through it at high voltage of mighty forces from above, also of brilliance and radiance, is perhaps, not conveyed quite so adequately as in other pictures.

Sinh linh này được quan sát trong Dãy Drakensberg ở Natal. Hai trong số các đặc điểm nổi bật nhất là hiệu ứng giống mũ giám mục đáng chú ý, do dòng mãnh lực vọt lên từ đầu và vai tạo ra, và các trung tâm mãnh lực bốn phễu rực rỡ ở vùng tùng thái dương, qua đó quyền năng đang chảy vào ngọn núi bên dưới. Các trục của những phễu quay nhanh tạo thành một thập giá có các nhánh bằng nhau, các nhánh ấy gặp nhau bên trong hình tướng của Nam Thần và chỉ về phía trước, phía sau, bên phải và bên trái. Trong bức tranh này, hiệu ứng trong suốt, đặc trưng cho dáng vẻ của tất cả các Nam Thần, được mô tả tốt. Tuy nhiên, trong tiến trình ấy, ấn tượng về quyền năng to lớn của Nam Thần và về sự đi qua Ngài ở điện thế cao của các mãnh lực hùng mạnh từ trên cao, cũng như về sự rực rỡ và chiếu sáng, có lẽ không được truyền đạt đầy đủ như trong các bức tranh khác.

Watching this God throughout successive days, I was reminded constantly of the vision of Ezekiel1 .Certain currents in its aura were arranged in the shape of upward-pointing wings, far more three-dimensional than any picture could suggest. The chakras received and compressed the descending forces, which were then directed into the mountain below. The central form in this case is at least sixty feet tall and it is one of the most majestic and-splendid members of this Order of the Angelic Hosts that I have ever been privileged to behold.

Khi quan sát vị Thượng đế này qua nhiều ngày liên tiếp, tôi luôn được nhắc nhớ đến linh ảnh của Ezekiel1. Một số dòng lưu chuyển trong hào quang của Ngài được sắp xếp theo hình những đôi cánh hướng lên trên, có tính ba chiều hơn xa bất cứ bức tranh nào có thể gợi tả. Các -chakra tiếp nhận và nén các mãnh lực đang giáng xuống, rồi các mãnh lực ấy được hướng vào ngọn núi bên dưới. Hình tướng trung tâm trong trường hợp này cao ít nhất sáu mươi bộ, và đó là một trong những thành viên uy nghi, rực rỡ nhất của Đoàn Thiên Thần mà tôi từng có đặc ân được chiêm ngưỡng.

PLATE 10 A MOUNTAIN GOD – HÌNH 10 MỘT VỊ THƯỢNG ĐẾ CỦA NÚI

This God was also observed in the Drakensberg Range in Natal, presiding over the region known as the Amphitheatre at Mont aux Sources. I have more than once received evidence of similarity of type and appearance in the various Gods of one mountain range. Comparison with Plate 9 reveals a similarity between the two Gods of the Drakensberg Range. In both of them the wing-like radiations and the intensely brilliant, vertical force-centres or “wheels” were noticeably common characteristics. The God is shown in phase of expansion, the auric wings extending at least half a mile from tip to tip, whilst the outflowing and descending energies have a very much greater range. In this picture, part of the outer aura is included. The central form is at least sixty feet tall.

Vị Thượng đế này cũng được quan sát tại dãy Drakensberg ở Natal, chủ trì vùng được gọi là Amphitheatre tại Mont aux Sources. Hơn một lần tôi đã nhận được bằng chứng về sự tương đồng trong kiểu loại và sắc tướng giữa các vị Thượng đế khác nhau của cùng một dãy núi. Việc so sánh với Hình 9 cho thấy sự tương đồng giữa hai vị Thượng đế của dãy Drakensberg. Ở cả hai vị, những bức xạ giống như cánh và các trung tâm mãnh lực hay “bánh xe” thẳng đứng, cực kỳ chói sáng, đều là những đặc điểm chung rất dễ nhận thấy. Vị Thượng đế được trình bày trong pha mở rộng, với đôi cánh hào quang vươn dài ít nhất nửa dặm từ đầu này sang đầu kia, trong khi các năng lượng tuôn ra và giáng xuống có tầm hoạt động rộng hơn rất nhiều. Trong bức tranh này, một phần hào quang bên ngoài được đưa vào. Hình tướng trung tâm cao ít nhất sáu mươi bộ.

PLATE 11 A MOUNTAIN GOD – HÌNH 11 MỘT VỊ THƯỢNG ĐẾ CỦA NÚI

This picture portrays the presiding God of a mountain range, which was observed high above one of the peaks of the Hottentots Hollands Mountains in Cape Province, South Africa. As I observed and gave my description to the artist, the downflow of power was so great and so brilliant as almost to conceal the form and aura of the God. The chief colours shown were lavender, gold and white, the central form of the God and the aura immediately surrounding it shining in those hues with a dazzling radiance quite impossible to reproduce. The uprush of golden-coloured, fiery power above the head was particularly brilliant, bestowing upon the God the appearance of a majestic Deva King wearing a crown of flames. In all cases of devic direction of natural energies, however prodigious the outpouring of power may be, the God always gives the impression of complete mastery of the forces flowing through and all about it. The central figure is at least eighty feet tall.

Bức tranh này mô tả vị Thượng đế chủ trì một dãy núi, được quan sát ở rất cao phía trên một trong những đỉnh của dãy Hottentots Hollands tại tỉnh Cape, Nam Phi. Khi tôi quan sát và mô tả cho họa sĩ, dòng quyền năng tuôn xuống vĩ đại và rực rỡ đến mức hầu như che khuất hình tướng và hào quang của vị Thượng đế. Những màu chính được biểu hiện là tím oải hương, vàng và trắng; hình tướng trung tâm của vị Thượng đế cùng hào quang bao quanh ngay sát đó tỏa sáng trong những sắc thái ấy với một vẻ rạng rỡ chói lòa hoàn toàn không thể tái hiện. Luồng quyền năng bốc lên, có màu vàng và rực lửa phía trên đầu đặc biệt chói sáng, ban cho vị Thượng đế dáng vẻ của một vị Vua Deva uy nghi đội vương miện bằng lửa. Trong mọi trường hợp các năng lượng tự nhiên được định hướng theo lối deva, dù sự tuôn đổ quyền năng có phi thường đến đâu, vị Thượng đế luôn tạo ấn tượng về sự làm chủ hoàn toàn các mãnh lực đang chảy xuyên qua và bao quanh Ngài. Hình tướng trung tâm cao ít nhất tám mươi bộ.

PLATE 12 A MOUNTAIN GOD – HÌNH 12 MỘT VỊ THƯỢNG ĐẾ CỦA NÚI

This God was observed at one of the mountain peaks of the Table Mountain Range in the Cape Peninsula, South Africa. Evidently it has close affinity with the element of fire. The picture shows the inner aura and form alone and in phase of contraction, during which it is drawing into itself universal fire-power. This it directs in a concentrated stream, as an awakening force, into the mineral life and consciousness indwelling in the mountain below.

Vị Thượng đế này được quan sát tại một trong các đỉnh núi của dãy Table Mountain ở bán đảo Cape, Nam Phi. Hiển nhiên Ngài có mối liên hệ mật thiết với nguyên tố lửa. Bức tranh chỉ cho thấy hào quang bên trong và hình tướng, trong pha co rút, khi Ngài đang thu hút vào mình quyền năng lửa vũ trụ. Ngài hướng quyền năng này thành một dòng tập trung, như một mãnh lực đánh thức, vào sự sống và tâm thức của giới kim thạch đang nội tại trong ngọn núi bên dưới.

The upward-flowing streams above the head were enlarged into a cup or bowl of flame, reaching high into the heavens. Fiery energy was playing down into this auric chalice, from which it passed through the form in great sheets, streams and flashes into the surrounding atmosphere and the mountain below.

Những dòng chảy hướng lên phía trên đầu mở rộng thành một chiếc chén hay bát lửa vươn cao lên tận trời. Năng lượng rực lửa đang đổ xuống chiếc chén hào quang này; từ đó, nó đi xuyên qua hình tướng thành những mảng lớn, những dòng chảy và những tia lóe vào bầu khí quyển chung quanh và ngọn núi bên dưới.

In phase of expansion, the God presented the most magnificent appearance. The auric forces then resembled tongues of flame shooting out for hundreds of yards on every side, as if he stood in the midst of a mighty conflagration. The central figure is about sixty feet tall.

Trong pha mở rộng, vị Thượng đế hiện ra với dáng vẻ huy hoàng nhất. Khi ấy, các mãnh lực hào quang giống như những lưỡi lửa phóng ra hàng trăm thước về mọi phía, như thể Ngài đứng giữa một đám cháy hùng mạnh. Hình tướng trung tâm cao khoảng sáu mươi bộ.

PLATES 13 AND 14 A MOUNTAIN GOD – HÌNH 13 VÀ 14 MỘT VỊ THƯỢNG ĐẾ CỦA NÚI

This God was observed in the Cape Peninsula, near the eminence known as Castle Rock, high above the Kirstenbosch Botanical Gardens. Apparently the establishment of the Gardens in this area has offered it an opportunity of extending its operations beyond the mineral and bush consciousness and forms of the mountain into those of the many wild and cultivated flowering plants; for when, studying it for the purpose of these pictures, I noticed that its beautiful lavender and green aura was frequently extended in a great sweep of force to include the whole of the Gardens.

Vị Thượng đế này được quan sát tại bán đảo Cape, gần điểm cao được gọi là Castle Rock, phía trên cao của Vườn Bách thảo Kirstenbosch. Dường như việc thiết lập các khu vườn trong vùng này đã đem lại cho Ngài cơ hội mở rộng hoạt động vượt khỏi tâm thức và hình tướng của khoáng chất và cây bụi trên núi, để đi vào tâm thức và hình tướng của nhiều loài cây hoa dại và cây hoa được trồng; vì khi nghiên cứu Ngài nhằm thực hiện các bức tranh này, tôi nhận thấy hào quang đẹp đẽ màu tím oải hương và xanh lục của Ngài thường được mở rộng thành một vòng quét mãnh lực lớn bao gồm toàn bộ các khu vườn.

The creative energy then flowing through the aura of the God produced within it the geometrical mental forms upon which the shapes of the plants and flowers are founded. This specialisation and intensification, explained in Part I, Chapter III, augments the form-producing capacity of the universal, creative power and thought. Plant devas and nature spirits similarly receive these forces, further specialising them and increasing their power accurately to reproduce in etheric and physical matter the plant forms conceived of by the Major Mind.

Năng lượng sáng tạo khi ấy chảy qua hào quang của vị Thượng đế tạo ra bên trong đó các hình tướng trí tuệ hình học, trên đó hình dạng của cây cối và hoa lá được xây dựng. Sự chuyên biệt hóa và tăng cường này, đã được giải thích trong Phần I, Chương III, làm gia tăng năng lực tạo hình của quyền năng và tư tưởng sáng tạo vũ trụ. Các thiên thần thực vật và tinh linh tự nhiên cũng tiếp nhận các mãnh lực này, tiếp tục chuyên biệt hóa chúng và gia tăng quyền năng của chúng để tái tạo chính xác trong vật chất dĩ thái và hồng trần các hình tướng thực vật do Đại Trí quan niệm.

The High Gods and their individualised subordinates perform this work deliberately and self-consciously as servants of the One Will. Nature spirits serve instinctively in response to impulses natural to them, strengthened on occasion by their deva superiors. The ultra-microscopic builders and the larger nature spirits perform their share in this creative process quite unconsciously. They play with and among the creative forces and the forms which they produce primarily in etheric matter. Their play is, however, quite purposeful, though they are unaware of the fact, for their movements cut lines of force in the ether which mark out the areas and centres of molecular, and later cell formation. All these processes and activities occur within the consciousness of the presiding God.

Các vị Thượng đế Cao Cả và những thuộc cấp đã biệt ngã hóa của Các Ngài thực hiện công việc này một cách có chủ ý và hữu thức, như những người phụng sự của Ý Chí Duy Nhất. Các tinh linh tự nhiên phụng sự theo bản năng, đáp ứng với những xung động vốn tự nhiên đối với chúng, đôi khi được tăng cường bởi các thiên thần cấp trên của chúng. Những đấng kiến tạo cực vi và các tinh linh tự nhiên lớn hơn thực hiện phần việc của mình trong tiến trình sáng tạo này một cách hoàn toàn vô thức. Chúng vui chơi với và giữa các mãnh lực sáng tạo cùng những hình tướng mà chúng tạo ra chủ yếu trong vật chất dĩ thái. Tuy nhiên, trò chơi của chúng hoàn toàn có mục đích, dù chúng không biết điều đó, vì các chuyển động của chúng cắt thành những đường mãnh lực trong dĩ thái, đánh dấu các vùng và trung tâm của sự hình thành phân tử, rồi về sau là tế bào. Tất cả những tiến trình và hoạt động này diễn ra trong tâm thức của vị Thượng đế chủ trì.

The second, profile picture shows in part the arrangement of the inner auric forces of the mountain God, the stature of which is about sixty feet. The outer aura is omitted.

Bức tranh thứ hai, nhìn nghiêng, cho thấy một phần cách sắp xếp các mãnh lực hào quang bên trong của vị Thượng đế núi, vóc dáng của Ngài khoảng sáu mươi bộ. Hào quang bên ngoài được lược bỏ.

PLATE 15 THE GOD OF A SNOWCLAD RANGE – HÌNH 15 VỊ THƯỢNG ĐẾ CỦA MỘT DÃY NÚI PHỦ TUYẾT

In this picture an attempt is made to portray the second of the two Gods of the Sierra Nevadas in California, referred to in Part II, Chapter I.

Trong bức tranh này, có một nỗ lực nhằm mô tả vị thứ hai trong hai vị Thượng đế của dãy Sierra Nevadas tại California, đã được đề cập trong Phần II, Chương I.

In order to show the concentric arrangement, the colouring and the dazzling whiteness of the outer sphere, a cross section has been taken through the centre of the aura. The devic form is approximately fifty feet tall.

Để cho thấy cách sắp xếp đồng tâm, màu sắc và sắc trắng chói lòa của khối cầu bên ngoài, một mặt cắt ngang đã được lấy qua trung tâm hào quang. Hình tướng deva cao xấp xỉ năm mươi bộ.

PLATE 16 A LANDSCAPE GOD – HÌNH 16 MỘT VỊ THƯỢNG ĐẾ CỦA PHONG CẢNH

This very great being is the presiding deva of an area of the Cape Province, South Africa, covering many thousands of square miles. It is stationed high above the region immediately to the north of the Karoo Desert, its sphere of influence extending to the coast where, at certain of the Capes, landscape deMas are established. Natural forces from the South Pole and Antarctic continent flow northwards into South Africa, and doubtless other continents in the Southern Hemisphere. These Gods assist both the development of form and the awakening of consciousness in the mineral kingdom of the desert, plains and mountains of their region and at the same time conserve and direct the forces from the Pole.

Sinh Mệnh rất vĩ đại này là vị deva chủ trì một vùng thuộc tỉnh Cape, Nam Phi, bao phủ nhiều nghìn dặm vuông. Ngài an vị rất cao phía trên vùng ngay phía bắc sa mạc Karoo; khối cầu ảnh hưởng của Ngài vươn đến bờ biển, nơi tại một số mũi đất có các deva phong cảnh được thiết lập. Các mãnh lực tự nhiên từ Nam Cực và lục địa Nam Cực chảy về phía bắc vào Nam Phi, và chắc chắn cũng vào các lục địa khác ở Nam bán cầu. Các vị Thượng đế này trợ giúp cả sự phát triển hình tướng lẫn sự thức tỉnh tâm thức trong giới kim thạch của sa mạc, đồng bằng và núi non thuộc vùng của Các Ngài, đồng thời bảo tồn và định hướng các mãnh lực từ Cực.

Ambassadorial Gods were also perceived moving between the Antarctic and South Africa, whilst others maintained relations between the God here pictured and those of the mountains, jungles, deserts and plains to the North. On many occasions I have become aware of the operation of a system of devic inter-communication maintained by travelling Gods, who visit those stationed at important continental regions of the globe.

Các vị Thượng đế sứ giả cũng được nhận thấy di chuyển giữa Nam Cực và Nam Phi, trong khi những vị khác duy trì quan hệ giữa vị Thượng đế được vẽ ở đây với các vị của núi non, rừng rậm, sa mạc và đồng bằng ở phía Bắc. Nhiều lần tôi đã nhận biết hoạt động của một hệ thống liên lạc nội bộ deva, được duy trì bởi các vị Thượng đế du hành, những vị thăm viếng các vị an vị tại những vùng lục địa quan trọng của bầu hành tinh.

As indicated in Part II, Chapter II, I have received evidence of the existence of a great planetary, landscape God, so mighty as to be able to hold the whole Earth within its consciousness, a Deva King of the physical world. I have also observed the radiation from the centre and surface of the Earth out into interplanetary space of very powerful, natural energies. In addition, from the sun and the planets, and possibly from outer space, great forces reach the globe, as if the Earth were being subjected to a perpetual inflow of power. Moving amidst these interchanged forces, planetary and extra-planetary, Gods of power, like devic engineers, are to be seen. As in the case of the landscape God here portrayed, they appear to be responsible for the reception, specialisation and re-direction of these energies. This God is at least one hundred feet tall, whilst its auric forces are capable of extension to a distance of a great many miles.

Như đã chỉ ra trong Phần II, Chương II, tôi đã nhận được bằng chứng về sự tồn tại của một vị Thượng đế phong cảnh hành tinh vĩ đại, hùng mạnh đến mức có thể bao hàm toàn bộ Trái Đất trong tâm thức của Ngài, một vị Vua Deva của thế giới hồng trần. Tôi cũng đã quan sát bức xạ từ trung tâm và bề mặt Trái Đất tỏa ra không gian liên hành tinh của những năng lượng tự nhiên rất mạnh mẽ. Ngoài ra, từ mặt trời và các hành tinh, và có thể từ không gian bên ngoài, những mãnh lực vĩ đại đi đến bầu hành tinh, như thể Trái Đất đang chịu một dòng quyền năng tuôn vào không ngừng. Giữa các mãnh lực trao đổi này, thuộc hành tinh và ngoài hành tinh, có thể thấy các vị Thượng đế quyền năng di chuyển, như những kỹ sư deva. Như trong trường hợp vị Thượng đế phong cảnh được mô tả ở đây, dường như Các Ngài chịu trách nhiệm tiếp nhận, chuyên biệt hóa và tái định hướng các năng lượng này. Vị Thượng đế này cao ít nhất một trăm bộ, trong khi các mãnh lực hào quang của Ngài có thể mở rộng đến một khoảng cách rất nhiều dặm.

PLATE 17 A GOD OF THE GOLD REEF – HÌNH 17 MỘT VỊ THƯỢNG ĐẾ CỦA MẠCH VÀNG

An exposition of creative processes, in which gold is used as an example, and the Gods of Gold are described, is to be found in Part I, Chapter III. This picture, whilst an accurate reproduction of my description, somewhat too much suggests human femininity. The descending gold-creative energies,'the brilliant gold points or centres of force in the aura and the smooth, rhythmic flow characteristic of the force aspect of gold are, nevertheless, well portrayed. The lateral extension of the auras of these Gods was less than usual. The vertical extension, on the other hand, was immense, reaching from some two hundred feet in the air to at least the same distance below the surface of the veldt, whilst the actual gold-producing force played on down to the reef, in some cases six thousand or more feet below.

Một phần trình bày về các tiến trình sáng tạo, trong đó vàng được dùng làm ví dụ và các vị Thượng đế của Vàng được mô tả, có thể tìm thấy trong Phần I, Chương III. Bức tranh này, tuy là sự tái hiện chính xác mô tả của tôi, nhưng hơi gợi quá nhiều về nữ tính con người. Tuy nhiên, các năng lượng sáng tạo vàng đang giáng xuống, những điểm hay trung tâm mãnh lực vàng chói sáng trong hào quang, và dòng chảy trơn láng, nhịp nhàng đặc trưng cho phương diện mãnh lực của vàng, đều được mô tả tốt. Sự mở rộng ngang của hào quang nơi các vị Thượng đế này ít hơn thường lệ. Trái lại, sự mở rộng theo chiều dọc thì bao la, vươn từ khoảng hai trăm bộ trên không xuống ít nhất cùng khoảng cách ấy bên dưới bề mặt đồng cỏ, trong khi mãnh lực thật sự tạo ra vàng tiếp tục tác động xuống mạch quặng, trong một số trường hợp sâu sáu nghìn bộ hoặc hơn.

The central figure was unusually small for such an auric extension, being in this case little more than eight or ten feet tall. The presiding God of the Gold Reef is, however, colossal in stature.

Hình tướng trung tâm nhỏ khác thường so với một sự mở rộng hào quang như thế, trong trường hợp này chỉ cao hơn tám hay mười bộ một chút. Tuy nhiên, vị Thượng đế chủ trì Mạch Vàng có vóc dáng khổng lồ.

PLATE 18 A GOD OF THE SOUTHERN PACIFIC – HÌNH 18 MỘT VỊ THƯỢNG ĐẾ CỦA NAM THÁI BÌNH DƯƠNG

This magnificent ocean God was observed from the south coast of Java. Apparently it is the ruling deva of the great area of the Pacific Ocean which extends from Java to Australia. At the higher mental level it is relatively formless, as here portrayed, though the unusual, pointed, oval shape produced by the flowing streams of its auric forces was clearly discernible. As the picture shows, great currents of power descend upon this sea God, are compressed within its aura and then released into the ocean beneath.

Vị Thượng đế đại dương huy hoàng này được quan sát từ bờ biển phía nam Java. Dường như Ngài là deva cai quản vùng rộng lớn của Thái Bình Dương trải dài từ Java đến Australia. Ở cấp độ thượng trí, Ngài tương đối vô hình tướng, như được mô tả ở đây, dù hình bầu dục nhọn, khác thường, do các dòng mãnh lực hào quang đang chảy tạo nên, vẫn có thể phân biện rõ ràng. Như bức tranh cho thấy, những dòng quyền năng lớn giáng xuống vị Thượng đế biển này, được nén trong hào quang của Ngài rồi được phóng thích vào đại dương bên dưới.

These forces are both creative and energising. All atomic and molecular patterns, and the forms of marine vegetation and of fish and their shells, are in part a product of these descending, creative energies. The sea God also directs powerful currents of quickening energy into the consciousness incarnate in every atom of the sea water and in the forms of the mineral, the marine plant and the fish kingdoms.

Các mãnh lực này vừa sáng tạo vừa tiếp sinh lực. Tất cả các mô hình nguyên tử và phân tử, cùng các hình tướng của thảm thực vật biển, cá và vỏ của chúng, phần nào là sản phẩm của những năng lượng sáng tạo đang giáng xuống này. Vị Thượng đế biển cũng hướng những dòng năng lượng kích hoạt mạnh mẽ vào tâm thức đang lâm phàm trong từng nguyên tử nước biển và trong các hình tướng của giới kim thạch, giới thực vật biển và giới cá.

This being is subordinate to a still greater God, responsible for the whole Pacific Ocean, in its turn a Vice-regent of the planetary sea God, which performs similar functions (and doubtless many others as yet unknown to me) for the life and consciousness of the oceans of the world. The God here presented is similarly assisted by great hosts of subordinates in a descending scale of evolutionary stature, the more advanced of whom resemble it in appearance.

Sinh Mệnh này lệ thuộc vào một vị Thượng đế còn vĩ đại hơn, chịu trách nhiệm đối với toàn bộ Thái Bình Dương; vị ấy lại là phó vương của vị Thượng đế biển hành tinh, Đấng thực hiện các chức năng tương tự và chắc chắn còn nhiều chức năng khác mà tôi chưa biết đối với sự sống và tâm thức của các đại dương trên thế giới. Vị Thượng đế được trình bày ở đây cũng được trợ giúp tương tự bởi những đoàn thuộc cấp lớn lao theo một thang bậc vóc dáng tiến hóa đi xuống, trong đó những vị tiến bộ hơn giống Ngài về sắc tướng.

At the lower mental and emotional levels these Gods assume concrete shape and operate in oppositely polarised pairs. Thus, although there is no sex in the Kingdom of the Gods, the appearance of male or female or deva and devi is sometimes suggested according to preponderant polarity. Beneath these in evolution are the non-individualised sea nature spirits, and below them again the primitive beings portrayed in Plate 1.

Ở các cấp độ hạ trí và cảm xúc, các vị Thượng đế này khoác lấy hình dạng cụ thể và hoạt động thành từng cặp phân cực đối nghịch. Vì vậy, dù trong Giới của các vị Thượng đế không có giới tính, đôi khi sắc tướng nam hay nữ, hoặc deva và devi, được gợi ra tùy theo cực tính trội hơn. Bên dưới Các Ngài trong tiến hóa là các tinh linh tự nhiên biển chưa biệt ngã hóa, và thấp hơn nữa là những sinh linh sơ khai được mô tả trong Hình 1.

Under the seas, different types of Gods and nature spirits are to be observed. On occasion I have seen huge, whalelike, etheric monsters drifting about somewhat aimlessly in the great depths. The Kingdom of the Sea is indeed a densely populated empire. It is presided over—chiefly, it would seem, from above the surface—by a very great being, the planetary God of the Sea.

Dưới các biển, có thể quan sát thấy nhiều kiểu loại Thượng đế và tinh linh tự nhiên khác nhau. Đôi khi tôi đã thấy những quái vật dĩ thái khổng lồ, giống cá voi, trôi dạt khá vô định trong các vực sâu lớn. Quả thật, Giới của Biển là một đế quốc đông đúc. Nó được chủ trì — chủ yếu, dường như vậy, từ phía trên bề mặt — bởi một Sinh Mệnh rất vĩ đại, vị Thượng đế hành tinh của Biển.

PLATE 19 A GOD OF THE SOUTHERN PACIFIC – HÌNH 19 MỘT VỊ THƯỢNG ĐẾ CỦA NAM THÁI BÌNH DƯƠNG

Occasionally the deva portrayed in Plate 18 descends to the “form “worlds, assuming there a definite shape somewhat .as shown. Thus seen, it resembles some splendid Sea God from classical mythology, riding the waves upon a shell-like car.

Thỉnh thoảng vị deva được mô tả trong Hình 18 giáng xuống các thế giới “hình tướng “, ở đó khoác lấy một hình dạng xác định phần nào như được trình bày. Khi được thấy như vậy, Ngài giống một vị Thượng đế Biển rực rỡ nào đó trong thần thoại cổ điển, cưỡi trên sóng bằng một cỗ xe giống vỏ sò.

The flowing curves of the aura resemble those of a shell and doubtless are partly produced by the passage through the God of creative energies expressive of the divine thought or Archetype of the shell form. In the higher worlds the God is of immense stature. In the lower, the central form is some thirty feet tall.

Những đường cong chảy của hào quang giống như đường cong của vỏ sò, và chắc chắn phần nào được tạo ra bởi sự đi xuyên qua vị Thượng đế của các năng lượng sáng tạo biểu lộ tư tưởng thiêng liêng hay Nguyên mẫu của hình tướng vỏ sò. Trong các thế giới cao, vị Thượng đế có vóc dáng bao la. Ở các thế giới thấp, hình tướng trung tâm cao khoảng ba mươi bộ.

PLATE 20 AN ANGEL OF MUSIC – HÌNH 20 MỘT THIÊN THẦN ÂM NHẠC

True music is a temporary, physical expression of the sound of the ever-uttered “Word”. Throughout creative Day, the Great Breath is breathed upon the Great Deep, which responds as an aeolian harp of myriad, vibrant strings. As creative Night draws near, the Great Breath is breathed in. Thereafter silence reigns within the Great Deep.

Âm nhạc chân chính là một biểu hiện hồng trần tạm thời của âm thanh của “Linh từ” hằng được phát ra. Suốt Ngày sáng tạo, Hơi Thở Vĩ Đại được thở ra trên Vực Thẳm Vĩ Đại, vốn đáp ứng như một cây đàn gió với vô số dây rung động. Khi Đêm sáng tạo đến gần, Hơi Thở Vĩ Đại được hít vào. Sau đó, im lặng ngự trị trong Vực Thẳm Vĩ Đại.

The Monads of living beings are as breaths in the Great Breath. When at the dawn of creative Day the Voice first speaks, the innumerable lesser breaths contribute the component notes of the creative chord, which is the “Word”. When at creative Eve the Voice is stilled, the lesser voices die away. Thereafter silence broods upon the face of the Deep.

Các chân thần của những sinh linh sống động giống như những hơi thở trong Hơi Thở Vĩ Đại. Khi vào bình minh của Ngày sáng tạo, Tiếng Nói lần đầu cất lên, vô số hơi thở nhỏ hơn góp vào những âm điệu thành phần của hợp âm sáng tạo, tức là “Linh từ”. Khi vào Buổi Chiều sáng tạo, Tiếng Nói lặng đi, các tiếng nói nhỏ hơn cũng tắt dần. Sau đó, im lặng ấp ủ trên mặt Vực Thẳm.

Thus behind and within material universes creative sound subsists, that celestial symphony of which Nature’s forms are a physical expression. The “Word” itself exists in two phases, the pre-Cosmic and the Cosmic, the silent and the uttered. When “spoken”, the “Word” creates and releases the divinest harmonies and upon these, as dynamic Archetypes, the universe is built.

Như vậy, đằng sau và bên trong các vũ trụ vật chất, âm thanh sáng tạo vẫn tồn tại, bản giao hưởng thiên thượng mà các hình tướng của Thiên Nhiên là một biểu hiện hồng trần. “Linh từ” chính nó tồn tại trong hai pha: tiền Vũ trụ và Vũ trụ, lặng im và được phát ra. Khi được “xướng lên”, “Linh từ” sáng tạo và phóng thích những hòa âm thiêng liêng nhất, và trên những hòa âm ấy, như các Nguyên mẫu năng động, vũ trụ được xây dựng.

When the one creative Voice begins to speak, the ten divine Intelligences, the Archangels of the Sephiroth, the first manifested Lords of Light, hear and perfectly express the “Word”. This, as creative sound, they transmit throughout the new-born universe. Thereafter, the myriad.

Khi Tiếng Nói sáng tạo duy nhất bắt đầu cất lên, mười Trí Tuệ thiêng liêng, các Tổng thiên thần của Sephiroth, các Chúa Tể Ánh Sáng biểu hiện đầu tiên, nghe và biểu hiện hoàn hảo “Linh từ”. Điều này, như âm thanh sáng tạo, Các Ngài truyền khắp vũ trụ mới sinh. Sau đó, vô số.

Hosts of the Logos receive and re-express the music of the “Word “in worlds of growing density.

Đoàn của Thượng đế tiếp nhận và tái biểu hiện âm nhạc của “Linh từ “trong những thế giới ngày càng đậm đặc.

Thus the Kingdom of Music is established, the citizens of which are the Spiritual Selves of angels and of men. In this Kingdom vast hosts of Archangels and angels re-echo the harmonies of the creative “Word”, thereby aiding in the construction of the first, archetypal, sound-built forms. Each of these beings is perpetually resonant with the component chords and notes of the basic theme of the universe, its idea-motif.

Như vậy Giới Âm Nhạc được thiết lập, mà công dân của giới ấy là các Chân Ngã Tinh Thần của thiên thần và con người. Trong Giới này, những đoàn Tổng thiên thần và thiên thần bao la vang vọng lại các hòa âm của “Linh từ”, nhờ đó trợ giúp việc kiến tạo các hình tướng đầu tiên, nguyên mẫu, được xây dựng bằng âm thanh. Mỗi sinh linh ấy mãi mãi cộng hưởng với các hợp âm và âm điệu thành phần của chủ đề căn bản của vũ trụ, mô-típ ý tưởng của nó.

The loftiest Archangels first embody and re-sound the glorious harmonies of the “Word”, which are then relayed by their immediate successors in the hierarchical Order. Thence this wondrous music descends through successive ranks of shining beings, until the lower worlds of form are reached. There, too, the Angel Lords of mental and emotional realms re-echo the creative “Word”. Lesser angels and their younger brethren, the nature spirits, answer to the song, and by them the densest, material world is built according to the “Word”.

Các Tổng thiên thần cao cả nhất trước tiên hiện thân và vang lại những hòa âm huy hoàng của “Linh từ”, rồi các hòa âm ấy được những vị kế tiếp trực tiếp của Các Ngài trong Trật tự Huyền Giai chuyển tiếp. Từ đó, âm nhạc kỳ diệu này giáng xuống qua các hàng ngũ kế tiếp của những sinh linh sáng chói, cho đến khi đạt tới các thế giới hình tướng thấp hơn. Ở đó, các Chúa Tể Thiên Thần của các cõi trí tuệ và cảm xúc cũng vang vọng lại “Linh từ” sáng tạo. Các thiên thần nhỏ hơn và những huynh đệ trẻ hơn của họ, tức các tinh linh tự nhiên, đáp lời bài ca, và nhờ họ, thế giới vật chất đậm đặc nhất được xây dựng theo “Linh từ”.

An Angel of Music, or Gandharva as it is known in Hinduism, is here depicted not as a portrait but as a type of celestial musician, the inner form only being shown.

Một Thiên Thần Âm Nhạc, hay Gandharva như được biết trong Ấn giáo, được mô tả ở đây không như một chân dung, mà như một kiểu mẫu của nhạc sĩ thiên thượng, chỉ biểu hiện hình tướng bên trong.

PLATES 21 AND 22 A ROSE ANGEL – HÌNH 21 VÀ 22 MỘT THIÊN THẦN HOA HỒNG

The six pictures which follow portray angels who are associated with aspects of divine consciousness, rather than with currents of creative Life-force and the mineral and plant kingdoms of Nature. Rose angels, such as the one here portrayed, may be thought of as incarnations of divine wisdom and love, qualities which bring them into intimate contact with the Immortal Selves or Egos of men. Association with such beings is indeed a privilege and their co-operation in the service of humanity can be of the greatest value.

Sáu bức tranh tiếp theo mô tả các thiên thần liên hệ với các phương diện của tâm thức thiêng liêng, hơn là với các dòng lưu chuyển của sinh lực sáng tạo và với giới kim thạch cùng giới thực vật của Thiên Nhiên. Các thiên thần hoa hồng, như vị được mô tả ở đây, có thể được xem là những hiện thân của minh triết và bác ái thiêng liêng, những phẩm tính đưa họ vào sự tiếp xúc mật thiết với các Chân Ngã Bất Tử hay chân ngã của con người. Việc liên hệ với những sinh linh như thế quả là một đặc ân, và sự hợp tác của họ trong việc phụng sự nhân loại có thể có giá trị lớn lao nhất.

The second picture is an attempt at portraiture. This closer view shows the various force centres. Those in the head are seen to radiate from a common centre, upward through the crown and forward through the eyes. As stated in the opening paragraphs of this fifth part of the book, no static medium, however skilfully used, can possibly convey the delicacy, the glowing radiance, the translucence, which contribute to the general effect of the intense brilliance and the supernal beauty characteristic of the Angelic Hosts. This is especially true of the ethereal, radiant, angelic incarnation of divine love portrayed in these two Plates. The large and glowing aura, chiefly rose, crimson and gold in colour, has been deliberately omitted from both pictures in order that the graceful central form, normally somewhat veiled within it, may clearly be seen.

Bức tranh thứ hai là một nỗ lực phác họa chân dung. Cái nhìn gần hơn này cho thấy các trung tâm mãnh lực khác nhau. Những trung tâm trong đầu được thấy tỏa ra từ một trung tâm chung, hướng lên qua đỉnh đầu và hướng ra trước qua đôi mắt. Như đã nói trong các đoạn mở đầu của phần thứ năm cuốn sách này, không một phương tiện tĩnh nào, dù được sử dụng khéo léo đến đâu, có thể truyền đạt được nét tinh tế, vẻ rạng rỡ bừng sáng, tính trong suốt, vốn góp phần tạo nên hiệu ứng tổng quát của sự chói sáng mãnh liệt và vẻ đẹp thiên thượng đặc trưng cho Đoàn Thiên Thần. Điều này đặc biệt đúng đối với hiện thân thiên thần dĩ thái, rạng rỡ, của bác ái thiêng liêng được mô tả trong hai Hình này. Hào quang lớn và rực sáng, chủ yếu có màu hồng, đỏ thẫm và vàng, đã được cố ý lược bỏ khỏi cả hai bức tranh để hình tướng trung tâm duyên dáng, vốn thường hơi bị che phủ bên trong đó, có thể được nhìn thấy rõ ràng.

When, in the performance of certain Rituals of Freemasonry and those described in Part IV, Chapter III, the power and influence of divine love are invoked and poured forth with angelic aid upon the world, angels of this Order would be likely to respond to the invocation and co-operate in the distribution of the power and its application to general and individual needs. This particular rose angel is some twelve feet tall.

Khi, trong việc thực hành một số Nghi lễ của Hội Tam Điểm và những nghi lễ được mô tả trong Phần IV, Chương III, quyền năng và ảnh hưởng của bác ái thiêng liêng được khẩn cầu và tuôn đổ, với sự trợ giúp của thiên thần, lên thế giới, các thiên thần thuộc Trật tự này rất có thể đáp ứng lời khẩn cầu và hợp tác trong việc phân phối quyền năng ấy cũng như áp dụng nó vào các nhu cầu chung và cá nhân. Vị thiên thần hoa hồng đặc biệt này cao khoảng mười hai bộ.

PLATES 23, 24 AND 25 THREE HEALING ANGELS – HÌNH 23, 24 VÀ 25 BA THIÊN THẦN CHỮA LÀNH

These pictures portray three different types of angels engaged in their healing ministry. The general method is first to direct streams of purifying energy into and through the aura of the sufferer, in order to disperse congestions in the etheric and emotional bodies especially and to drive out harmful substances. They then re-attune the chord or “Word “of the individual, usually dissonant in the psyche during ill-health, and try to restore the harmonious and rhythmic flow of the inner Life-forces throughout the mental, emotional and physical nature. Finally, they invoke divine healing power which flows through their auras, as well as directly from its Source, into the patients, affecting them locally or generally, or both, according to the needs of the case.

Các bức tranh này mô tả ba kiểu thiên thần khác nhau đang tham gia vào thánh vụ chữa lành của họ. Phương pháp tổng quát trước hết là hướng các dòng năng lượng thanh lọc vào và xuyên qua hào quang của người đau khổ, nhằm làm tan các tắc nghẽn, đặc biệt trong thể dĩ thái và thể cảm xúc, đồng thời xua đuổi các chất liệu có hại. Sau đó, họ tái chỉnh âm hợp âm hay “Linh từ “của cá nhân, thường bị nghịch âm trong psyche khi bệnh tật, và cố gắng khôi phục dòng chảy hài hòa, nhịp nhàng của các Sinh lực bên trong khắp bản chất trí tuệ, cảm xúc và hồng trần. Cuối cùng, họ khẩn cầu quyền năng chữa lành thiêng liêng, quyền năng ấy chảy qua hào quang của họ, cũng như trực tiếp từ Nguồn của nó, vào các bệnh nhân, tác động cục bộ hoặc toàn thể, hoặc cả hai, tùy theo nhu cầu của trường hợp.

Such ministrations are far more effective when man consciously invokes and co-operates with the healing angels. A successful method of spiritual healing with angelic cooperation consists of dwelling in concentrated thought upon the Lord Christ, the great Healer of the World, reverently entering His presence in thought and seeking to touch the “hem of His garment”, which means the fringe of His consciousness. The sufferer is then drawn mentally into His Presence, being visualised as radiantly healthy and flooded throughout his whole nature with the golden, glowing, healing Life of God, as portrayed in these pictures. The following or similar prayer may then be uttered with powerful intent and a pause between each sentence:

Những sự trợ giúp như thế hiệu quả hơn rất nhiều khi con người hữu thức khẩn cầu và hợp tác với các thiên thần chữa lành. Một phương pháp chữa lành tinh thần thành công với sự hợp tác của thiên thần gồm việc an trú trong tư tưởng tập trung nơi Đức Chúa Christ, Đấng Chữa Lành vĩ đại của Thế Gian, cung kính đi vào Hiện Diện của Ngài trong tư tưởng và tìm cách chạm đến “gấu áo của Ngài”, nghĩa là rìa tâm thức của Ngài. Khi ấy, người đau khổ được đưa bằng trí tuệ vào Hiện Diện của Ngài, được hình dung là khỏe mạnh rạng rỡ và tràn ngập trong toàn bộ bản chất của y Sự Sống chữa lành bằng vàng, bừng sáng, của Thượng đế, như được mô tả trong các bức tranh này. Sau đó, lời cầu nguyện sau đây hoặc tương tự có thể được xướng lên với chủ ý mạnh mẽ và có một khoảng dừng giữa mỗi câu:

“May the healing power of the Lord Christ descend upon (Christian and surnames of the selected suppliants). May the healing angels encompass them”

“Nguyện quyền năng chữa lành của Đức Chúa Christ giáng xuống trên (tên thánh và họ của những người cầu xin được chọn). Nguyện các thiên thần chữa lành bao quanh họ”

After a pause of some minutes, during which the thought is powerful yet reverently centred upon the Lord Christ, His outpoured healing power and the healing angels, the meditation may be closed with the words:

Sau một khoảng dừng vài phút, trong đó tư tưởng mạnh mẽ nhưng cung kính tập trung nơi Đức Chúa Christ, quyền năng chữa lành được Ngài tuôn đổ và các thiên thần chữa lành, bài tham thiền có thể khép lại bằng những lời sau:

“May the light of His love enfold them forever, Amen”

“Nguyện ánh sáng tình thương của Ngài bao bọc họ mãi mãi, Amen”

Healing angels have been found to be continuing their ministering function for at least twenty-four hours after such an invocation. Regular practice by this or similar methods will quickly demonstrate the efficacy of angelic co-operation in spiritual healing. Those who participate are warned against the exercise of personal will in order to attain desired results. Once the healing power has been invoked, always with the fullest faith, the results should be left to the karma and evolutionary needs of the individuals. When there is a strong desire that some loved one should be healed, surrender to the divine Will and the great Law should be expressed in such words as “according to the Will of God “or “as may be most expedient for them”.

Người ta thấy các thiên thần chữa lành tiếp tục chức năng phụng sự của họ ít nhất hai mươi bốn giờ sau một lời khẩn cầu như vậy. Việc thực hành đều đặn theo phương pháp này hoặc các phương pháp tương tự sẽ nhanh chóng chứng minh hiệu lực của sự hợp tác thiên thần trong chữa lành tinh thần. Những ai tham dự được cảnh báo không nên vận dụng ý chí cá nhân nhằm đạt những kết quả mong muốn. Một khi quyền năng chữa lành đã được khẩn cầu, luôn với đức tin trọn vẹn nhất, các kết quả nên được phó thác cho karma và các nhu cầu tiến hóa của các cá nhân. Khi có một ước muốn mạnh mẽ rằng một người thân yêu nào đó được chữa lành, sự quy phục Ý Chí thiêng liêng và Định luật vĩ đại nên được diễn đạt bằng những lời như “theo Ý Chí của Thượng Đế “hay “như điều gì có thể thích hợp nhất cho họ”.

The occultist learns to work without thought of results. As said in Part IV, Chapter III, in no circumstances should he use his will power and occult knowledge to obtain by force, personal, material benefits for himself or for others. Such would be grey, if not black magic, the error into which Judas fell in selling his Lord for thirty pieces of silver. As Judas died by his own hand, so all who fall into this same error are in danger of a form of spiritual suicide.

Nhà huyền bí học học cách làm việc mà không nghĩ đến kết quả. Như đã nói trong Phần IV, Chương III, trong bất cứ hoàn cảnh nào y cũng không nên dùng quyền năng ý chí và tri thức huyền bí của mình để cưỡng đoạt những lợi ích vật chất, cá nhân cho bản thân hay cho người khác. Điều đó sẽ là huyền thuật xám, nếu không phải Hắc thuật, sai lầm mà Judas đã rơi vào khi bán Chúa của mình lấy ba mươi đồng bạc. Như Judas đã chết bởi chính tay mình, tất cả những ai rơi vào cùng sai lầm ấy đều có nguy cơ chịu một hình thức tự sát tinh thần.

PLATE 26 AN ANGEL OF JAVA – HÌNH 26 MỘT THIÊN THẦN CỦA JAVA

A remarkable Buddhist Shrine, known as the Borobudor, was built in the island of Java, some eight hundred years ago. This is an immense stone structure, with scenes from the life of the Lord Buddha beautifully carved on the sides of the four great galleries. This Shrine has become a place of pilgrimage and is regarded by many as a centre of spiritual power. Investigation revealed the presence of a very great presiding Angel, conserver and distributor of the power of the Shrine and source of potent spiritual forces which flow over the island of Java and the surrounding seas.

Một Thánh điện Phật giáo đáng chú ý, được gọi là Borobudor, đã được xây dựng trên đảo Java khoảng tám trăm năm trước. Đây là một công trình đá đồ sộ, với những cảnh trong đời Đức Phật được chạm khắc đẹp đẽ trên các mặt của bốn hành lang lớn. Thánh điện này đã trở thành một nơi hành hương và được nhiều người xem là một trung tâm quyền năng tinh thần. Việc khảo sát cho thấy sự hiện diện của một Thiên Thần chủ trì rất vĩ đại, Đấng bảo tồn và phân phối quyền năng của Thánh điện, đồng thời là nguồn của những mãnh lực tinh thần mạnh mẽ chảy tràn trên đảo Java và các vùng biển chung quanh.

The height of the central figure is probably from twelve to fifteen feet, but in the case of an Ego which attained Adept-ship as man and then transferred to the Angelic Kingdom, the height of the body is not an indication of spiritual stature.

Chiều cao của hình tướng trung tâm có lẽ từ mười hai đến mười lăm bộ, nhưng trong trường hợp một chân ngã đã đạt đến Chân sư vị với tư cách con người rồi chuyển sang Giới Thiên Thần, chiều cao của thể không phải là dấu hiệu của tầm vóc tinh thần.

PLATE 27 A KUNDALINl DEVI – HÌNH 27 MỘT KUNDALINI DEVI

According to one view, kundalini—also called the Serpent Fire—is the power of giving or transmitting Life. Prana— known physically as vitality—is the power of organising Life. Fohat—known physically as electricity—is the power of using and manipulating Life. These three cosmic forces of the Third, Second and First Aspects of the Logos respectively are present as ensouling energies of all substances on every plane of Nature. Fohat is the universal constructive Force of Cosmic Electricity and the ultimate hidden power in this universe, the power which charges a universe with Life, with Spirit; it is described as the Will and the Mind, the very Self, of God. This supreme force is in all creatures. When specialised and enclosed within the spinal cord of man it is called kundalini or the power that moves in a serpentine path; hence its other name the Serpent Fire, in man, it is sheathed with care, but man must learn to set it free; for it is the God in him, without which he would cease to be.

Theo một quan điểm, kundalini—cũng được gọi là Lửa Rắn—là quyền năng ban cho hay truyền dẫn Sự Sống. Prana—được biết về mặt hồng trần là sinh lực—là quyền năng tổ chức Sự Sống. Fohat—được biết về mặt hồng trần là điện—là quyền năng sử dụng và thao tác Sự Sống. Ba mãnh lực vũ trụ này, lần lượt thuộc Phương diện thứ Ba, thứ Hai và thứ Nhất của Thượng đế, hiện diện như các năng lượng phú linh của mọi chất liệu trên mọi cõi của Thiên Nhiên. Fohat là Mãnh lực kiến tạo vũ trụ của Điện Vũ Trụ và là quyền năng ẩn tàng tối hậu trong vũ trụ này, quyền năng nạp cho một vũ trụ Sự Sống, Tinh thần; nó được mô tả là Ý Chí và Trí, chính Bản Ngã, của Thượng đế. Mãnh lực tối cao này có trong mọi tạo vật. Khi được chuyên biệt hóa và bao bọc trong tủy sống của con người, nó được gọi là kundalini hay quyền năng chuyển động theo một con đường ngoằn ngoèo như rắn; vì thế tên gọi khác của nó là Lửa Rắn. Trong con người, nó được bọc giữ cẩn thận, nhưng con người phải học cách giải phóng nó; vì đó là Thượng đế trong y, không có nó y sẽ ngừng hiện tồn.

Kundalini is in essence creative and, though as yet but slightly aroused, with all other forces and powers of Nature, is represented in the physical body of man. There, at this period of human evolution, it manifests itself as the source of both the sex impulse and the nerve fluid. It resides, coiled serpentlike, in the sacral chakra or “wheel “at the base of the spine, which in its turn is a relay station for the similarly coiled up energy in the centre of the Earth, itself a storehouse of solar kundalini.

Kundalini về bản chất là sáng tạo, và dù cho đến nay chỉ mới được khơi dậy rất ít, cùng với mọi mãnh lực và quyền năng khác của Thiên Nhiên, nó được biểu hiện trong thể xác của con người. Ở đó, trong thời kỳ tiến hóa hiện nay của nhân loại, nó biểu hiện như nguồn gốc của cả xung động tính dục lẫn lưu chất thần kinh. Nó trú ngụ, cuộn lại như rắn, trong chakra xương cùng hay “bánh xe “ở đáy cột sống, vốn đến lượt mình là một trạm chuyển tiếp cho năng lượng cuộn lại tương tự ở trung tâm Trái Đất, tự thân là một kho chứa kundalini mặt trời.

When fully aroused, either by yoga or as a natural result of evolutionary progress, kundalini flows up an etheric canal in the spinal cord called the sushumna nadi, passing through each of the other chakras on its journey. As it passes through the spinal centres in which the chakras arise, some of its force flows down the axis of the funnel of each, vivifying it occultly and thereby awakening the individual to self-conscious awareness in the superphysical worlds.

Khi được khơi dậy hoàn toàn, hoặc bằng yoga hoặc như một kết quả tự nhiên của tiến bộ tiến hóa, kundalini chảy lên một ống dĩ thái trong tủy sống gọi là sushumna nadi, đi qua mỗi chakra khác trên hành trình của nó. Khi nó đi qua các trung tâm cột sống nơi các chakra phát sinh, một phần mãnh lực của nó chảy xuống theo trục của phễu mỗi trung tâm, làm nó sống động một cách huyền bí và nhờ đó đánh thức cá nhân đến sự nhận biết ngã thức trong các thế giới siêu hồng trần.

When kundalini touches the spleen centre, it gives the power of travelling at will on the astral plane whilst away from the physical body. When it touches and opens the heart centre, the forces of the Buddhic or Christ consciousness in man resident in the vehicle of intuition, if sufficiently unfolded, begin to flow through the neophyte at the physical level and the “mystic rose” —the heart chakra—” blooms “upon his breast. The powers of the Christ consciousness— knowledge of the oneness of life, direct, intuitive spiritual perception, wisdom and a profound compassion—then begin to manifest themselves through thought and word and deed. The throat centre, when vivified, bestows the power of clairaudience, or of responding to superphysical sound vibrations as well as to those physical sounds which are beyond the normal auditory range. The brow centre, when occultly vitalised, bestows the faculty of clairvoyance and when the coronal chakra is opened, the neophyte acquires the faculties of using superphysical awareness whilst still awake in the physical body and of leaving and returning to the body at will without any break in consciousness.

Khi kundalini chạm đến Luân xa lá lách, nó ban quyền năng du hành tùy ý trên cõi cảm dục khi rời khỏi thể xác. Khi nó chạm đến và mở trung tâm tim, các mãnh lực của tâm thức Bồ đề hay tâm thức Christ trong con người, cư ngụ trong vận cụ trực giác, nếu đã khai mở đủ, bắt đầu chảy qua người sơ cơ ở cấp độ hồng trần, và “đóa hồng thần bí” —chakra tim—” nở hoa “trên ngực y. Các quyền năng của tâm thức Christ—tri thức về tính duy nhất của sự sống, tri giác tinh thần trực tiếp bằng trực giác, minh triết và lòng từ bi sâu xa—khi ấy bắt đầu biểu hiện qua tư tưởng, lời nói và hành động. Trung tâm cổ họng, khi được tiếp sinh lực, ban quyền năng thông nhĩ, hay khả năng đáp ứng với các rung động âm thanh siêu hồng trần cũng như với những âm thanh hồng trần vượt ngoài tầm nghe bình thường. Trung tâm giữa mày, khi được tiếp sinh lực một cách huyền bí, ban năng lực thông nhãn; và khi chakra đỉnh đầu được mở ra, người sơ cơ đạt được các năng lực sử dụng sự nhận biết siêu hồng trần trong khi vẫn thức tỉnh trong thể xác, và rời khỏi cũng như trở lại thể theo ý muốn mà không có bất cứ gián đoạn nào trong tâm thức.

As kundalini rises up the sushumna nadi it is accompanied by two complementary forces, one positive and the other negative. Each of these flows along its own canal in the spinal cord, sometimes called pingala and ida respectively, though these names are also given to the forces themselves. These two oppositely polarised, akashic forces meet and cross at each of the chakras as they rise, and finally pass, one of which in consequence becomes hypersensitive.They then function somewhat as do the valves or the amplifiers of a radio receiving set, thereby enabling consciousness within the brain to pick up superphysical forces and become aware of superphysical phenomena. Indeed, the cerebro-spinal system of man, when occultly vivified, resembles in many respects a television receiving set. One difference, however, is that superphysical broadcasts are projected upon the screen of the mind-brain, and are clairvoyantly perceived. The full manifestation of these occult faculties during waking consciousness demands a long and ardous training, and depends upon the complete vivification of the pituitary and pineal glands by means of kundalini and its complementary forces.

Khi kundalini đi lên sushumna nadi, nó được đi kèm bởi hai mãnh lực bổ túc, một dương và một âm. Mỗi mãnh lực này chảy dọc theo ống riêng của nó trong tủy sống, đôi khi được gọi lần lượt là pingala và ida, dù các tên này cũng được dùng cho chính các mãnh lực ấy. Hai mãnh lực akashic phân cực đối nghịch này gặp và giao nhau tại mỗi chakra khi chúng đi lên, và cuối cùng đi qua, một trong số đó do vậy trở nên siêu nhạy cảm.Khi ấy chúng hoạt động phần nào giống như các van hay bộ khuếch đại của một máy thu vô tuyến, nhờ đó cho phép tâm thức trong bộ não bắt được các mãnh lực siêu hồng trần và nhận biết các hiện tượng siêu hồng trần. Thật vậy, hệ não-tủy của con người, khi được tiếp sinh lực một cách huyền bí, về nhiều phương diện giống như một máy thu truyền hình. Tuy nhiên, một điểm khác biệt là các phát sóng siêu hồng trần được phóng chiếu lên màn hình của thể trí-bộ não, và được tri nhận bằng thông nhãn. Sự biểu hiện đầy đủ của các năng lực huyền bí này trong tâm thức thức tỉnh đòi hỏi một sự rèn luyện lâu dài và gian khổ, đồng thời tùy thuộc vào việc tuyến yên và tuyến tùng được tiếp sinh lực hoàn toàn nhờ kundalini và các mãnh lực bổ túc của nó.

In the paths followed by these three currents one recognises the caduceus, the staff of the God Hermes, consisting of a rod around which two serpents are coiled, a winged sphere crowning the symbol. Kundalini ascending the sushumna nacdi is represented by the rod, and the forces flowing along ida and pingala by the two serpents, whilst the winged sphere symbolises in part the freed soul of the man who has awakened and learned to use these hidden powers. Such a man does indeed become as a Hermes, a messenger from heaven to earth; for he ranges free in the higher worlds and brings to men the knowledge and wisdom of those realms. Ultimately he also rescues or liberates Persephone, symbolic of the human soul, from the Underworld or normal limitations imposed upon it during waking hours by the occultly unvivified physical body.

Trong những con đường mà ba dòng lực này đi theo, người ta nhận ra cây trượng caduceus, cây trượng của Thần Hermes, gồm một cây gậy quanh đó có hai con rắn cuộn lại, và một khối cầu có cánh đội trên đỉnh biểu tượng. Kundalini đi lên theo sushumna nacdi được tượng trưng bằng cây gậy, còn các mãnh lực tuôn chảy dọc theo ida và pingala bằng hai con rắn, trong khi khối cầu có cánh phần nào tượng trưng cho linh hồn đã được giải thoát của con người đã thức tỉnh và học cách sử dụng các quyền năng ẩn tàng này. Một người như thế quả thật trở nên như Hermes, một sứ giả từ trời xuống đất; vì y tự do rong ruổi trong các cõi giới cao hơn và đem đến cho con người tri thức cùng minh triết của những cảnh giới ấy. Cuối cùng, y cũng cứu thoát hay giải phóng Persephone, biểu tượng của linh hồn con người, khỏi Âm phủ hay những giới hạn bình thường áp đặt lên nó trong giờ thức bởi thể xác chưa được tiếp sinh lực một cách huyền bí.

Like all basic forces in Nature, kundalini is the manifestation of an Intelligence, an Archangel in fact, though of a nature beyond human comprehension. The picture in part portrays a glimpse unexpectedly obtained whilst passing through the preparatory stages which precede meditation. First a living caduceus was seen of intense, fiery power connecting earth and sun. Contemplating this, I seemed to become aware of a Solar Intelligence or Kundalini Devi, somewhat as here portrayed.

Như mọi mãnh lực căn bản trong Thiên nhiên, kundalini là sự biểu hiện của một Trí Tuệ, thật ra là một Tổng Thiên Thần, dù thuộc một bản chất vượt ngoài sự thấu hiểu của con người. Bức hình phần nào mô tả một thoáng nhìn bất ngờ có được khi đang trải qua các giai đoạn chuẩn bị trước tham thiền. Trước hết, người ta thấy một caduceus sống động với quyền năng rực lửa mãnh liệt, nối liền đất và mặt trời. Khi chiêm ngưỡng điều này, dường như tôi nhận biết được một Trí Tuệ Thái Dương hay Kundalini Devi, phần nào như được mô tả ở đây.

PLATE 28 AND 29 THE MIRACLE OF BIRTH AND THE WORLD MOTHER – HÌNH 28 VÀ 29 PHÉP MẦU CỦA SỰ SINH RA VÀ ĐỨC MẸ THẾ GIỚI

During investigations of pre-natal life I constantly became aware of the presence and ministration of certain types of angels which were assisting in the dual process of the construction of the new bodies, mental, emotional, etheric and physical, and the induction into them of the reincarnating Ego. Though I did not realise it at the time, I have now come to believe that, during the involutionary arc or descent into incarnation of each life cycle, these angels perform for every individual a function closely resembling that carried out on behalf of the race by the Pitris, the so-called ancestors of man, sometimes occultly referred to as the Satanic Hierarchies.

Trong khi khảo sát đời sống trước khi sinh, tôi thường xuyên nhận biết sự hiện diện và hoạt động phụng sự của một vài loại thiên thần đang trợ giúp trong tiến trình kép: kiến tạo các thể mới — trí tuệ, cảm xúc, dĩ thái và hồng trần — và dẫn nhập Chân ngã tái sinh vào các thể ấy. Dù lúc đó tôi chưa nhận ra, nay tôi đã đi đến chỗ tin rằng, trong cung giáng hạ tiến hoá hay cuộc đi xuống vào lâm phàm của mỗi chu kỳ sống, các thiên thần này thực hiện cho mỗi cá nhân một chức năng rất giống với chức năng được các Pitris, những vị được gọi là tổ tiên của con người, đôi khi được huyền bí học gọi là các Huyền Giai Satan, thực hiện thay cho nhân loại.

A study of these angels revealed them as agents of a great Intelligence which presides over and directs all maternal processes throughout Nature. The teachings of occult philosophy relate this Being to the Feminine or Mother Aspect of the Deity, of which. She is a manifestation and a representative.

Việc nghiên cứu các thiên thần này cho thấy họ là tác nhân của một Trí Tuệ vĩ đại, Đấng chủ trì và điều khiển mọi tiến trình mẫu tính trong toàn thể Thiên nhiên. Các giáo huấn của triết học huyền môn liên hệ Sinh Mệnh này với Phương diện Nữ tính hay Mẫu tính của Thượng đế, mà Bà là một biểu hiện và một đại diện.

Matter itself, universal substance or prakriti, is the arche or womb wherein all worlds gestate, from which all are born and to which all return. The true World Mother is this primary substance of a universe when first differentiated from the root of matter or mulaprakriti; for therein reside the seeds of all living things and the powers of conservation and reproduction.

Chính vật chất, chất liệu vũ trụ hay prakriti, là arche hay tử cung, nơi mọi thế giới được thai nghén, từ đó tất cả được sinh ra và tất cả đều trở về. Đức Mẹ Thế Giới đích thực là chất liệu nguyên sơ này của một vũ trụ khi lần đầu biến phân khỏi căn nguyên của vật chất hay mulaprakriti; vì trong đó cư ngụ các hạt giống của mọi sinh vật và các quyền năng bảo tồn cùng sinh sản.

When differentiation occurs at the dawn of Cosmos, following the night of Chaos, the three Aspects of the primordial Trinity, the Creator, the Preserver and the Transformer, become self-manifest and creatively active. They are then represented by lofty divine Intelligences, Powers or Emanations, themselves the highest fruits of preceding Manvantaras, whose bodies are “of the essence of the higher divine light”. Intelligences of such a nature, when emanated from root substance, direct the course of evolution under immutable Law. They are no Beings such as the human mind can conceive. They constitute both the highest Sephirothal Triad and the Seven which proceed from them, or rather the Spirit behind each. They may perhaps be described as Very Soul of the Very Soul of the universe.

Khi sự biến phân xảy ra vào buổi bình minh của Vũ trụ, sau đêm của Hỗn mang, ba Phương diện của Ba Ngôi nguyên thuỷ — Đấng Sáng Tạo, Đấng Bảo Tồn và Đấng Chuyển Hoá — trở nên tự biểu hiện và hoạt động sáng tạo. Bấy giờ, Các Ngài được đại diện bởi những Trí Tuệ, Quyền Năng hay Xuất lộ thiêng liêng cao cả, chính các Đấng ấy là những quả trái cao nhất của các Manvantaras, trước đó, có các thể “thuộc tinh chất của ánh sáng thiêng liêng cao hơn”. Những Trí Tuệ có bản chất như thế, khi được xuất lộ từ chất liệu căn nguyên, điều khiển dòng tiến hoá dưới Định luật bất biến. Các Ngài không phải là những Sinh Mệnh mà thể trí con người có thể hình dung. Các Ngài cấu thành cả Tam nguyên Sephiroth cao nhất lẫn Bảy Đấng xuất phát từ Tam nguyên ấy, hay đúng hơn là Tinh thần phía sau mỗi Đấng. Có lẽ có thể mô tả Các Ngài là chính Linh Hồn của Linh Hồn vũ trụ.

The cosmic maternal Principle is universally manifest and its conserving and reproducing attributes are active throughout all Nature. Physically, it is expressed both as chemical, negative polarity and as femininity throughout the whole organic world. It is active within every single cell as also in every multi-cellular organism. Without it nothing could be conceived and born, nothing preserved, nothing reproduced. Superphysically, the maternal Principle is of equal importance. For man, it is the Auric Envelope, the arche of the Spiritual Soul, the Augoeides or Causal Body, the womb wherein gestate Initiate, Adept, Logos-to-be.

Nguyên khí mẫu tính vũ trụ biểu hiện khắp nơi, và các thuộc tính bảo tồn cùng sinh sản của nó hoạt động trong toàn thể Thiên nhiên. Về mặt hồng trần, nó được biểu lộ vừa như cực tính âm trong hoá học, vừa như nữ tính trong toàn bộ thế giới hữu cơ. Nó hoạt động trong từng tế bào riêng lẻ cũng như trong mọi cơ thể đa bào. Không có nó, không gì có thể được thụ thai và sinh ra, không gì được bảo tồn, không gì được sinh sản. Vượt trên hồng trần, nguyên khí mẫu tính cũng có tầm quan trọng ngang như vậy. Đối với con người, nó là Bao hào quang, arche của Linh Hồn Tinh Thần, Augoeides hay thể nguyên nhân, tử cung trong đó thai nghén điểm đạo đồ, Chân sư, Thượng đế tương lai.

All nations have recognised, honoured and worshipped this maternal Principle in Nature. All their exoteric religions have personified it as a Goddess, an Archangel Mother of universes, races, nations and men. These personifications of the World Mother are amongst the very noblest concepts of the human mind, which in creating, reverencing and serving them reaches its highest degree of idealism, devotion and religious self-expression. Such reverence, such devotion and such'worship as are offered to World Mothers are therefore worthy of the deepest respect and, gross superstition apart— ever to be resisted—may usefully be encouraged. For through human devotion, human beings may be reached from on high. Through human aspiration, highest love and supplication, man is susceptible to both his own Spiritual Self and the influence of the Adept Ministrants of mankind. The Madonna ideal, for example, has been and still is of incalculable value in consoling, purifying and ennobling humanity. Through it, a realisation of the Mother-Love of God has been brought within reach of millions of suffering and aspiring people. The concepts of Kwan Yin, Isis, Ishtar, Parvati and other Goddesses are similarly founded upon the existence, nature and function of the same great being. Perhaps because I am a Christian and the cases I was examining were also Christian, the Madonna-like forms here pictured presented themselves to my mind.

Mọi dân tộc đều đã nhận biết, tôn vinh và thờ phụng nguyên khí mẫu tính này trong Thiên nhiên. Tất cả các tôn giáo công truyền của họ đều nhân cách hoá nó như một Nữ Thần, một Tổng Thiên Thần Mẫu của các vũ trụ, nhân loại, quốc gia và con người. Những nhân cách hoá này của Đức Mẹ Thế Giới nằm trong số các quan niệm cao quý nhất của thể trí con người; khi tạo dựng, tôn kính và phụng sự các hình tượng ấy, thể trí ấy đạt tới mức độ cao nhất của chủ nghĩa lý tưởng, sự sùng tín và biểu hiện tôn giáo của chính mình. Vì thế, sự tôn kính, sự sùng tín và sự thờ phụng như được dâng lên các Đức Mẹ Thế Giới đều đáng được kính trọng sâu xa nhất, và — ngoại trừ mê tín thô thiển, điều luôn phải được chống lại — có thể được khuyến khích một cách hữu ích. Vì qua sự sùng tín của con người, các sinh linh con người có thể được tiếp cận từ trên cao. Qua khát vọng, tình thương cao cả nhất và lời cầu xin của con người, con người trở nên nhạy cảm với cả Chân Ngã Tinh Thần của chính mình lẫn ảnh hưởng của các Chân sư Phụng sự nhân loại. Chẳng hạn, lý tưởng Madonna đã từng và vẫn đang có giá trị không thể tính được trong việc an ủi, thanh luyện và nâng cao nhân loại. Qua lý tưởng ấy, sự chứng nghiệm về Tình Thương Mẫu Tính của Thượng đế đã được đưa vào tầm với của hàng triệu người đang đau khổ và đang khát vọng. Các quan niệm về Kwan Yin, Isis, Ishtar, Parvati và các Nữ Thần khác cũng được đặt nền trên sự hiện hữu, bản chất và chức năng của cùng Sinh Mệnh vĩ đại ấy. Có lẽ vì tôi là một tín đồ Kitô giáo, và những trường hợp tôi đang khảo sát cũng là Kitô giáo, nên các hình tướng giống Madonna được vẽ ở đây đã hiện ra trước thể trí tôi.

The planetary World Mother is conceived in certain schools of occult philosophy as a highly-evolved Archangel Representative and Embodiment on earth of the Feminine Aspect of the Deity. She is also thought of as an Adept Official in the Inner Government of the World, in whom all the highest qualities of womanhood and motherhood shine forth in their fullest perfection.

Trong một số trường phái triết học huyền môn, Đức Mẹ Thế Giới hành tinh được quan niệm như một Đại Diện Tổng Thiên Thần tiến hoá rất cao và là Hiện Thân trên Trái Đất của Phương diện Nữ tính của Thượng đế. Bà cũng được xem như một Chức Sự Chân sư trong Nội Chính của Thế Giới, nơi mọi phẩm tính cao nhất của nữ tính và mẫu tính toả sáng trong sự toàn thiện trọn vẹn nhất.

Since she is beyond all limitation of form, no picture can truly represent Her. In Plate 28 She, in a Madonna-like form, and her ministering angels appear in close association with a mother and her unborn child as the time of birth draws near. Plate 29 symbolically portrays her in Her solar aspect, brooding in divine love over all worlds.

Vì Bà vượt ngoài mọi giới hạn của hình tướng, không bức hình nào có thể thật sự biểu hiện Bà. Trong Hình 28, Bà, trong một hình tướng giống Madonna, cùng các thiên thần phụng sự của Bà xuất hiện trong mối liên hệ gần gũi với một người mẹ và đứa con chưa sinh của bà khi giờ sinh nở đến gần. Hình 29 mô tả Bà một cách biểu tượng trong phương diện thái dương của Bà, đang ấp ủ mọi thế giới trong tình thương thiêng liêng.

In reverent salutation to Her as Queen of the Angels, I bring to a close this illustrated study of the Angelic Hosts.

Trong lời kính chào tôn nghiêm dâng lên Bà với tư cách Nữ Vương của các Thiên Thần, tôi khép lại công trình nghiên cứu minh hoạ này về các Đạo Binh Thiên Thần.

My previous visits to this great Buddhist Shrine in Java have been described as having revealed to me the presence of a very great presiding Angel, conserver and distributor of the power of the Shrine and source of potent spiritual forces which flow over the Island, of Java and the surrounding seas. The height of the central figure is probably from twelve to fifteen feet, but in the case of an Ego which attained Adeptship as man and then transferred to the Angelic Kingdom, the height of the body is not an indication of spiritual stature.

Những lần viếng thăm trước đây của tôi đến Thánh điện Phật giáo vĩ đại này ở Java đã được mô tả là đã mặc khải cho tôi sự hiện diện của một Thiên Thần chủ trì rất vĩ đại, vị bảo tồn và phân phối quyền năng của Thánh điện, đồng thời là nguồn của các mãnh lực tinh thần mạnh mẽ tuôn chảy trên đảo Java và các vùng biển chung quanh. Chiều cao của hình thể trung tâm có lẽ từ mười hai đến mười lăm bộ, nhưng trong trường hợp một Chân ngã đã đạt Chân sư Đoàn khi còn là người rồi sau đó chuyển sang Giới Thiên Thần, chiều cao của thể không phải là dấu hiệu của tầm vóc tinh thần.

The kindness and generosity of friends in Sourabaya made possible a further visit in January, 1971. Although not thinking especially of this great Being at the time, whilst some seven or more miles still separated our party from the Shrine itself, I again became aware of the presiding presence and power of the Devaraja. In consequence, 1 realised that its influence is by no means limited to the immediate region of the Shrine, but in varying degrees reached over the whole of Java and the seas and Islands far beyond. In addition, great rays of spiritual power shone forth in many directions throughout the superphysical worlds, as was partly indicated by the picture in my book.

Lòng tốt và sự rộng lượng của các bạn hữu tại Sourabaya đã giúp tôi có thể viếng thăm thêm một lần nữa vào tháng Giêng năm 1971. Dù lúc ấy tôi không đặc biệt nghĩ đến Sinh Mệnh vĩ đại này, khi nhóm nhỏ của chúng tôi còn cách chính Thánh điện chừng bảy dặm hoặc hơn, tôi lại nhận biết sự hiện diện chủ trì và quyền năng của Devaraja. Do đó, tôi nhận ra rằng ảnh hưởng của Ngài tuyệt nhiên không giới hạn trong vùng trực tiếp quanh Thánh điện, mà với những mức độ khác nhau vươn khắp toàn đảo Java, các vùng biển và các đảo xa hơn nhiều. Ngoài ra, những tia sáng lớn của quyền năng tinh thần chiếu toả theo nhiều hướng trong khắp các thế giới siêu hồng trần, như bức hình trong sách của tôi đã phần nào chỉ ra.

Having arrived with our small party at the summit of the Shrine. I sought by meditation again and more deeply, if it might be, to receive such instruction as the Great Devaraja might deign to give. . . From his mind to mine there gradually began to flow a stream of ideas concerning the life, the force and the consciousness of the universe and their self-expression as angels and as men. This description of the process is not strictly accurate, however; because during such communication, the sense of duality is reduced to a minimum. Rather did the two centres of consciousness, those of the great angel and myself, become almost coexistent, temporarily forming one “being “within which the stream of ideas arose. This, I believe, is essentially true of all interchanges which occur above the level of the formal mind, and especially at those of spiritual Wisdom and spiritual Will. In the latter, it is assumed, duality virtually disappears and oneness, uttermost interior unity, alone remains.

Sau khi cùng nhóm nhỏ của chúng tôi lên đến đỉnh Thánh điện, tôi tìm cách, bằng tham thiền, một lần nữa và sâu xa hơn, nếu có thể, tiếp nhận giáo huấn mà Devaraja Vĩ Đại có thể hạ cố ban cho... Từ thể trí của Ngài đến thể trí của tôi, dần dần bắt đầu tuôn chảy một dòng ý tưởng liên quan đến sự sống, mãnh lực và tâm thức của vũ trụ cùng sự tự biểu hiện của chúng thành các thiên thần và con người. Tuy nhiên, mô tả tiến trình này như vậy không hoàn toàn chính xác; bởi trong sự giao tiếp như thế, ý thức về Nhị nguyên được giảm xuống mức tối thiểu. Đúng hơn, hai trung tâm tâm thức, trung tâm của vị đại thiên thần và của chính tôi, trở nên hầu như đồng hiện hữu, tạm thời tạo thành một “sinh thể “bên trong đó dòng ý tưởng khởi lên. Tôi tin rằng điều này về cơ bản đúng với mọi sự trao đổi xảy ra bên trên cấp độ của thể trí hình tướng, và đặc biệt ở các cấp độ của minh triết tinh thần và Ý Chí tinh thần. Ở cấp độ sau, có thể giả định rằng Nhị nguyên hầu như biến mất, và chỉ còn lại sự duy nhất, sự hợp nhất nội tại tột cùng.

The Devarajas and Devas whose consciousnesses and being are established in the Arupa worlds, are of themselves entirely free of any restrictions of location, even the idea of which can have little or no place in the higher Manasic, Buddhic and Atmic planes. When, therefore, one refers to an Arupa Dev a by the name of a physical plane locality or centre, the title can be either incorrect or misleading, especially if it suggests spatial limitations which restrict the consciousness established at levels where the idea or space-location cannot exist.

Các Devarajas và Devas có tâm thức và hiện tồn được thiết lập trong các thế giới Arupa, tự thân hoàn toàn thoát khỏi mọi giới hạn về vị trí; ngay cả ý niệm về điều đó cũng rất ít hoặc không có chỗ trong các cõi Manasic, Buddhic và Atmic cao hơn. Vì vậy, khi người ta gọi một Arupa Dev a bằng tên của một địa phương hay trung tâm trên cõi hồng trần, danh xưng ấy có thể hoặc không chính xác hoặc gây hiểu lầm, nhất là nếu nó gợi ý những giới hạn không gian vốn hạn chế một tâm thức được thiết lập ở các cấp độ nơi ý niệm về vị trí trong không gian không thể hiện hữu.

How, then, it may be asked, may one permissibly associate an Arupa Deva with a place or even consecrated Shrine on the physical plane? A brief dissertation on the subject of Cosmogenesis may perhaps aid one’s understanding or at least partially answer the question. All Creative Logoi, meaning Emanators of universes, may be thought of as voluntarily making a sacrifice which, in its fullness, is beyond the comprehension of man.

Vậy thì, có thể hỏi, làm sao người ta được phép liên hệ một Arupa Deva với một nơi chốn hay thậm chí với một Thánh điện đã được thánh hiến trên cõi hồng trần? Một khảo luận ngắn về đề tài Vũ trụ khởi nguyên có lẽ có thể giúp sự thấu hiểu của người ta, hoặc ít nhất phần nào trả lời câu hỏi. Mọi Thượng đế Sáng Tạo, nghĩa là các Đấng Xuất Lộ của những vũ trụ, có thể được nghĩ đến như tự nguyện thực hiện một sự hi sinh mà trong sự viên mãn của nó, vượt ngoài tầm thấu hiểu của con người.

Timelessness, meaning absolute freedom from time-restrictions, and spacelessness, meaning absolute freedom from space-restrictions or even the remotest concepts of either of these—may be thought of as partially surrendered by both Creative Logoi and the Heads of those Hierarchies of Creative Intelligences who participate with the Logoi in the procedures of the objective space-time manifestation of THAT which is eternal and infinite.

Sự phi thời gian, nghĩa là tự do tuyệt đối khỏi các giới hạn của thời gian,- và sự phi không gian, nghĩa là tự do tuyệt đối khỏi các giới hạn của không gian, hay ngay cả khỏi những khái niệm xa xôi nhất về cả hai điều ấy — có thể được xem như phần nào được cả các Thượng đế Sáng Tạo lẫn các Đấng đứng đầu những Huyền Giai của các Trí Tuệ Sáng Tạo, vốn cùng tham dự với các Thượng đế trong các thủ tục biểu hiện khách quan trong không-thời gian của CÁI vĩnh cửu và vô hạn, tự nguyện từ bỏ.

One example of this surrender is an Arupa Deva who, in accordance with the procedures of involution and evolution and the Directors thereof, agrees to use specially selected places on Earth as centres through which the powers for which he is agent may reach the world of forms and so also the Life which is evolving within the restrictions of form. The very great Devaraja of Borobudor may, I suggest, be regarded as one who long ago became associated with the great Shrine for such purposes. The Devaraja is in no sense limited to that particular part or place upon the surface of the planet Earth, but voluntarily agrees to whatever limitation there may be in order to fulfil the functions which are assigned to it or which it has accepted.

Một ví dụ về sự từ bỏ này là một Arupa Deva, Đấng, phù hợp với các thủ tục của giáng hạ tiến hoá và tiến hoá cùng các Đấng Điều Khiển các thủ tục ấy, đồng ý sử dụng những nơi được tuyển chọn đặc biệt trên Trái Đất làm các trung tâm qua đó các quyền năng mà Ngài là tác nhân có thể đến với thế giới của hình tướng, và nhờ đó cũng đến với Sự Sống đang tiến hoá trong các giới hạn của hình tướng. Tôi xin gợi ý rằng Devaraja rất vĩ đại của Borobudor có thể được xem là một Đấng từ lâu đã liên hệ với Thánh điện lớn vì những mục đích như thế. Devaraja tuyệt nhiên không bị giới hạn vào phần hay nơi chốn đặc biệt ấy trên bề mặt của hành tinh Trái Đất, nhưng tự nguyện chấp nhận bất cứ giới hạn nào có thể có để hoàn thành các chức năng được giao cho Ngài hoặc Ngài đã chấp nhận.

These are in part to subjugate matter itself, particularly physical matter, to the rhythmic impact and interpenetration of forces which the Devaraja has “stepped down “from higher levels. Throughout the ages, this passage of energy through dense substance gradually reduces its inertia and so reduces the resistance of matter to Spirit, to evolving life and to spiritualising consciousness.

Những chức năng này một phần là khuất phục chính vật chất, đặc biệt là vật chất hồng trần, trước tác động có nhịp điệu và sự thâm nhập lẫn nhau của các mãnh lực mà Devaraja đã “hạ giảm “từ các cấp độ cao hơn. Qua các thời đại, sự đi qua của năng lượng này xuyên qua chất liệu đậm đặc dần dần làm giảm tính trì trệ của nó, và do đó làm giảm sức kháng cự của vật chất đối với Tinh thần, đối với sự sống đang tiến hoá và đối với tâm thức đang được tinh thần hoá.

A second function, I gathered, is to reduce the degree of impenetrability or resistance to Spirit of the layers or highest sub-planes of matter of each of the planes of nature. As the ages pass, these barriers gradually become more readily penetrated by consciousness, this being one of the effects of the energy or “driving force “which the Deva directs into the substance of the rupa planes.

Tôi hiểu rằng một chức năng thứ hai là giảm mức độ bất khả thâm nhập hay sức kháng cự đối với Tinh thần của các lớp hay các cõi phụ cao nhất của vật chất thuộc mỗi cõi của thiên nhiên. Khi các thời đại trôi qua, những hàng rào này dần dần trở nên dễ được tâm thức thâm nhập hơn; đây là một trong những hiệu quả của năng lượng hay “mãnh lực thúc đẩy “mà Deva hướng vào chất liệu của các cõi rupa.

A third function consists of the subjection of the indwelling and. evolving Life to the receipt and passage through it of energies which “awaken “it to gradually increased interior and external sensitivity and responses, thereby quickening the evolutionary processes. This third, function is more especially helpful to the Life evolving through the organic kingdoms than the inorganic, although all Nature is stimulated and its evolution hastened by the Angelic Hosts. Thus, the “Devaraja of Borobudor “may be thought of as of planetary or terrene evolutionary stature and in no sense limited in consciousness to the great Shrine.

Một chức năng thứ ba gồm việc đặt Sự Sống nội tại và đang tiến hoá dưới sự tiếp nhận và để cho các năng lượng đi xuyên qua nó, những năng lượng “đánh thức “nó đến mức độ nhạy cảm và đáp ứng nội tại lẫn bên ngoài ngày càng tăng, nhờ đó làm nhanh thêm các tiến trình tiến hoá. Chức năng thứ ba này đặc biệt hữu ích cho Sự Sống đang tiến hoá qua các giới hữu cơ hơn là các giới vô cơ, mặc dù toàn thể Thiên nhiên đều được các Đạo Binh Thiên Thần kích thích và tiến hoá của nó được thúc nhanh. Như vậy, “Devaraja của Borobudor “có thể được nghĩ đến như một Đấng có tầm vóc tiến hoá hành tinh hay địa cầu, và tuyệt nhiên không bị giới hạn trong tâm thức vào Thánh điện lớn ấy.

Such in part are thoughts which arose in my mind as I meditated on the summit of Borobudor.

Đó phần nào là những tư tưởng đã khởi lên trong thể trí tôi khi tôi tham thiền trên đỉnh Borobudor.

L’ENVOI – LỜI TIỄN ĐƯA

“The Gods await the conscious re-union of the mind of man with the Universal Mind. Humanity awakens slowly. Matter-blinded through centuries, few men as yet perceive the mind within the substance, the life within the form.

“Các Thần đang chờ sự tái hợp nhất hữu thức của thể trí con người với Vũ Trụ Trí. Nhân loại thức tỉnh chậm chạp. Bị vật chất làm mù qua nhiều thế kỷ, cho đến nay ít người nhận ra được trí tuệ bên trong chất liệu, sự sống bên trong hình tướng.

“In search of power and wealth, men have traversed the whole earth, have penetrated the wilds, scaled the peaks and conquered the polar wastes. Let them now seek within the form, scale the heights of their own consciousness, penetrate its depth, in search of that inner Power and Life by which alone they may become strong in will and spiritually enriched.

“Để tìm kiếm quyền lực và của cải, con người đã đi khắp địa cầu, đã xuyên vào những miền hoang dã, trèo lên các đỉnh cao và chinh phục các hoang mạc vùng cực. Giờ đây, hãy để họ tìm kiếm bên trong hình tướng, leo lên các đỉnh cao của chính tâm thức mình, xuyên vào chiều sâu của nó, để tìm kiếm Quyền Năng và Sự Sống bên trong ấy, nhờ đó mà thôi họ có thể trở nên mạnh mẽ trong ý chí và phong phú về tinh thần.

“He who thus throws open his life and mind to the Universal Life and Mind indwelling in all things will enter into union therewith and to him the Gods will appear.”

“Ai mở rộng đời sống và thể trí của mình như thế cho Sự Sống Phổ Quát và Trí Tuệ Phổ Quát đang nội tại trong mọi vật, người ấy sẽ bước vào sự hợp nhất với điều đó, và các Thần sẽ hiện ra với y.”

A Mountain God

Một Thần Núi

BIBLIOGRAPHY – THƯ MỤC

ABC of Atoms, The, (Bertrand Russell).

Vỡ Lòng về các Nguyên tử, (Bertrand Russell).

Angelic Hosts, The, (Geoffrey Hodson).

Các Đạo Binh Thiên Thần, (Geoffrey Hodson).

An Outline of Theosophy, (C. W. Leadbeater).

Đại Cương Thông Thiên Học, (C. W. Leadbeater).

A Study in Consciousness, (A. Besant).

Một Nghiên Cứu về Tâm Thức, (A. Besant).

Bhagavad Gita, The, (Trans. A. Besant).

Chí Tôn Ca, (Dịch: A. Besant).

Brotherhood oj Angels and of Men, The, (Geoffrey Hodson),

Huynh Đệ Đoàn của Thiên Thần và Con Người, (Geoffrey Hodson),

Causal Body, The, (A. E. Powell).

Thể Nguyên Nhân, (A. E. Powell).

Chakras, The, (C. W. Leadbeater).

Các Luân Xa, (C. W. Leadbeater).

Clef des Mysteres, (Eliphas Levi).

Chìa Khoá các Bí Nhiệm, (Eliphas Levi).

Collected Poems, (Janies Stephens).

Thi Tập, (Janies Stephens).

Coming of the Angels, The, (Geoffrey Hodson).

Sự Đến của các Thiên Thần, (Geoffrey Hodson).

Coming of the Fairies, The, (Sir Arthur Conan Doyle).

Sự Đến của các Tiên, (Sir Arthur Conan Doyle).

Devachanic Plane, The, (C. W. Leadbeater).

Cõi Devachan, (C. W. Leadbeater).

Doctrine and Literature of the Kabalah, The, (A. E. Waite).

Giáo Lý và Văn Học Kabalah, (A. E. Waite).

Essential Unity of All Religions, The, (Bhagavan Das).

Sự Hợp Nhất Căn Bản của Mọi Tôn Giáo, (Bhagavan Das).

Etheric Double, The, (A. E. Powell).

Bản Sao Dĩ Thái, (A. E. Powell).

Fairies, (E. L. Gardner).

Các Tiên, (E. L. Gardner).

Fairies at Work and at Play, (Geoffrey Hodson).

Các Tiên Khi Làm Việc và Khi Vui Chơi, (Geoffrey Hodson).

First Principles of Theosophy, (C. Jinarajadasa).

Các Nguyên Lý Đầu Tiên của Thông Thiên Học, (C. Jinarajadasa).

Gods of Egypt, The, (Budge).

Các Thần của Ai Cập, (Budge).

Great Design, The, (Sir James Arthur Thompson).

Thiết Kế Vĩ Đại, (Sir James Arthur Thompson).

Hidden Side of Christian Festivals, The, (C. W. Leadbeater).

Mặt Ẩn của các Lễ Hội Kitô Giáo, (C. W. Leadbeater).

Initiation and the Perfecting of Man, (A. Besant).

Điểm Đạo và Sự Hoàn Thiện Con Người, (A. Besant).

Inner Government of the World, The, (A. Besant).

Nội Chính của Thế Giới, (A. Besant).

Inner Side of Church Worship, The, (Geoffrey Hodson).

Mặt Bên Trong của Sự Thờ Phượng trong Nhà Thờ, (Geoffrey Hodson).

Journal of Parapsychology.

Tạp Chí Tâm Lý Học Siêu Thường.

Kabbalah Unveiled, The, (S. L. MacGregor Mathers).

Kabbalah Được Vén Màn, (S. L. MacGregor Mathers).

Key to Theosophy, The, (H. P. Blavatsky).

Chìa Khoá Thông Thiên Học, (H. P. Blavatsky).

Lotus Fire, The, (G. S. Arundale).

Lửa Hoa Sen, (G. S. Arundale).

Main Currents in Modern Thought, (Editor: F. Kunz).

Các Dòng Chính trong Tư Tưởng Hiện Đại, (Biên tập: F. Kunz).

Man and His Bodies, (A. Besant).

Con Người và các Thể của Y, (A. Besant).

Man, Visible and Invisible, (C. W. Leadbeater).

Con Người, Hữu Hình và Vô Hình, (C. W. Leadbeater).

Masters and the Path, The, (C. W. Leadbeater).

Các Chân sư và Đường Đạo, (C. W. Leadbeater).

Miracle of Birth, The, (Geoffrey Hodson).

Phép Mầu của Sự Sinh Ra, (Geoffrey Hodson).

Monad, The, (C. W. Leadbeater).

Chân Thần, (C. W. Leadbeater).

Mysterious Universe, The, (Sir James Jeans).

Vũ Trụ Huyền Bí, (Sir James Jeans).

Nature and Source of Evil, (Plotinus. Trans. S. McKenna).

Bản Chất và Nguồn Gốc của Cái Ác, (Plotinus. Dịch: S. McKenna).

Physics and Philosophy, (Sir James Jeans).

Vật Lý và Triết Học, (Sir James Jeans).

Reach of the Mind, The, (J. B. Rhine).

Tầm Với của Thể Trí, (J. B. Rhine).

Reincarnation, Fact or Fallacy? (Geoffrey Hodson).

Tái Sinh, Sự Thật hay Ngụy Thuyết? (Geoffrey Hodson).

Review, The, (of Calcutta).

Tạp Chí, (của Calcutta).

St. Alban Hymnal.

Thánh Ca St. Alban.

Science of Seership, The, (Geoffrey Hodson).

Khoa Học về Sự Thông Nhãn, (Geoffrey Hodson).

Science of the Sacraments, The, (C. W. Leadbeater).

Khoa Học về các Bí Tích, (C. W. Leadbeater).

Secret Doctrine, The, (H. P. Blavatsky).

Giáo Lý Bí Nhiệm, (H. P. Blavatsky).

Seven Human Temperaments, The,' (Geoffrey Hodson).

Bảy Khí Chất Con Người,' (Geoffrey Hodson).

Seven Rays, The, (Ernest Wood).

Bảy Cung, (Ernest Wood).

Solar System, The, (A. E. Powell).

Hệ Mặt Trời, (A. E. Powell).

Soul and Its Vestures, The, (A. Besant).

Linh Hồn và các Lớp Áo của Nó, (A. Besant).

Theosophical Glossary, The, (H. P. Blavatsky).

Thuật Ngữ Thông Thiên Học, (H. P. Blavatsky).

Thought Forms, (A. Besant and C. W. Leadbeater).

Các Hình Tư Tưởng, (A. Besant and C. W. Leadbeater).

Thought Power: its Control and Culture, (A. Besant).

Quyền Năng Tư Tưởng: Sự Kiểm Soát và Văn Hoá của Nó, (A. Besant).

Transcendental Magic, (Eliphas Levi).

Huyền Thuật Siêu Việt, (Eliphas Levi).

Web of the Universe, The, (E. L. Gardner).

Mạng Lưới của Vũ Trụ, (E. L. Gardner).

World Mother as Symbol and Fact, The (C. W. Leadbeater).

Đức Mẹ Thế Giới như Biểu Tượng và Sự Thật (C. W. Leadbeater).

ABOUT THE AUTHOR – VỀ TÁC GIẢ

GEOFFREY HODSON was born and educated in England. During the First World War he served with distinction in the British Army and afterwards became actively interested in Theosophical studies. He carried out occult research in collaboration with medical men, physicists, anthropologists and archeologists.

GEOFFREY HODSON sinh ra và được giáo dục tại Anh. Trong Thế Chiến thứ nhất, ông phục vụ xuất sắc trong Quân đội Anh và sau đó tích cực quan tâm đến các nghiên cứu Thông Thiên Học. Ông tiến hành nghiên cứu huyền môn với sự cộng tác của các bác sĩ, nhà vật lý, nhà nhân học và nhà khảo cổ học.

For some sixty years Mr Hodson lectured for the Theosophical Society, speaking in America, England, Europe, South Africa, India, New Zealand, Australia and the Far East. He was the author of about forty Theosophical and other books, dealing with such topics as meditation, the spiritual life, health and disease, and the life and powers of the occultist. He carried out special and first-hand investigation of fairies and angelic evolution.

Trong khoảng sáu mươi năm, ông Hodson thuyết giảng cho Hội Thông Thiên Học, diễn thuyết tại Mỹ, Anh, châu Âu, Nam Phi, Ấn Độ, New Zealand, Úc và Viễn Đông. Ông là tác giả của khoảng bốn mươi cuốn sách Thông Thiên Học và các sách khác, bàn đến những đề tài như tham thiền, đời sống tinh thần, sức khoẻ và bệnh tật, cùng đời sống và các quyền năng của nhà huyền bí học. Ông tiến hành khảo sát đặc biệt và trực tiếp về các tiên và sự tiến hoá thiên thần.

Mr Hodson was four times Director of Studies at the School of the Wisdom at the International Headquarters of the Theosophical Society, Adyar, Chennai.

Ông Hodson bốn lần là Giám đốc Nghiên cứu tại Trường Minh Triết ở Trụ sở Quốc tế của Hội Thông Thiên Học, Adyar, Chennai.

He was awarded the Subba Row Medal in 1954 for his contributions to Theosophical literature.

Ông được trao Huy chương Subba Row năm 1954 vì những đóng góp của ông cho văn học Thông Thiên Học.

For information on Theosophy and the Theosophical Society please read on.

Để biết thông tin về Thông Thiên Học và Hội Thông Thiên Học xin đọc tiếp.

Theosophy and The Theosophical Society – Thông Thiên Học và Hội Thông Thiên Học

The Theosophical Society, founded in 1875, is a worldwide body whose primary object is Universal Brotherhood based on the realization that life, in all its diverse forms, human and nonhuman, is indivisibly One. The Society imposes no belief on its members, who are united by a common search for truth and the desire to learn the meaning and purpose of existence by engaging themselves in study, reflection, purity of life and loving service.

Hội Thông Thiên Học, được thành lập năm 1875, là một tổ chức toàn cầu có mục tiêu chính là Tình Huynh Đệ Phổ Quát, đặt nền trên sự nhận ra rằng sự sống, trong mọi hình tướng đa dạng của nó, nhân loại và phi nhân loại, là Một một cách bất khả phân. Hội không áp đặt niềm tin nào lên các thành viên, những người được hợp nhất bởi cuộc tìm kiếm chung về chân lý và ước muốn học biết ý nghĩa cùng mục đích của hiện hữu bằng cách dấn thân vào học hỏi, suy tư, đời sống thanh khiết và phụng sự bằng tình thương.

Theosophy is the wisdom underlying all religions when they are stripped of accretions and superstitions. It offers a philosophy which renders life intelligible and demonstrates that justice and love guide the cosmos. Its teachings contribute to the unfolding of the latent spiritual nature in the human being, without dependence or fear.

Thông Thiên Học là minh triết nằm dưới mọi tôn giáo khi chúng được gỡ bỏ các lớp bồi đắp và mê tín. Nó đưa ra một triết học làm cho đời sống trở nên có thể hiểu được và chứng minh rằng công lý cùng tình thương hướng dẫn vũ trụ. Các giáo huấn của nó góp phần vào sự khai mở bản chất tinh thần tiềm ẩn trong con người, không lệ thuộc và không sợ hãi.

For general information, contact:

Để biết thông tin chung, liên hệ:

International Secretary

Thư ký Quốc tế

The Theosophical Society

Hội Thông Thiên Học

Adyar, Chennai 600 020, India

Adyar, Chennai 600 020, India

Tel: (+91-44) 2491-2474/Fax: 2490-2706

Điện thoại: (+91-44) 2491-2474/Fax: 2490-2706

E-mail: theossoc@dataone.in

E-mail: theossoc@dataone.in

Website: http://www.ts-adyar.org

Website: http://www.ts-adyar.org

For catalogue, enquiries and to order books and magazines, contact:

Để nhận danh mục, hỏi thông tin và đặt mua sách cùng tạp chí, liên hệ:

The Theosophical Publishing House Adyar, Chennai 600 020, India

Nhà Xuất Bản Thông Thiên Học Adyar, Chennai 600 020, India

Tel: (+91-44) 2491-1338 & 2446-6613

Điện thoại: (+91-44) 2491-1338 & 2446-6613

Fax: (+91-44) 2490-1399

Fax: (+91-44) 2490-1399

E-mail: tphindia@gmail.com

E-mail: tphindia@gmail.com

tphindia@dataone.in

tphindia@dataone.in

Website: http://www.ts-adyar.org/catalogue.asp

Website: http://www.ts-adyar.org/catalogue.asp