THE ELEMENT OF FIRE – NGUYÊN TỐ LỬA
The third Sephira is the innermost Soul of the fifth, which is its manifested Power. Fire is their element. The third Sephira is as white heat, the fifth is as its flame-like radiation. Actually there is neither heat nor flame above the physical world. Hot masses and rising flames, caused physically by combustion of certain elements, have no superphysical counterparts. There is no superphysical burning of substance with consequent change of form. Physical fire and flame are the denser counterparts of a subtle universal element, the intelligence, power and activity of which are those of the third and fifth Sephiras. This is a mystery and more may not here be said, except that physical flame is a temporary and local manifestation of the deific Presence, and more particularly of the third and fifth Aspects and Emanations of Deity. Each divine Aspect is outwardly manifest as a Being, an Intelligence whose full nature is beyond human comprehension, save in states of lofty contemplation when divine Immanence is perceived and the divine Transcendence intuitively discerned.
Xê-phi-ra thứ ba là Linh hồn trong cùng của Xê-phi-ra thứ năm, vốn là Quyền Năng biểu hiện của nó. Lửa là nguyên tố của các vị ấy. Xê-phi-ra thứ ba như sức nóng trắng, Xê-phi-ra thứ năm như bức xạ dạng ngọn lửa của sức nóng ấy. Thật ra, không có sức nóng hay ngọn lửa nào bên trên thế giới hồng trần. Các khối nóng và những ngọn lửa bốc lên, về mặt hồng trần do sự cháy của một số nguyên tố gây ra, không có đối phần siêu hồng trần. Không có sự cháy siêu hồng trần của chất liệu với biến đổi hình tướng theo sau. Lửa và ngọn lửa hồng trần là các đối phần đậm đặc hơn của một nguyên tố vũ trụ vi tế, mà trí tuệ, quyền năng và hoạt động của nó là của Xê-phi-ra thứ ba và thứ năm. Đây là một huyền nhiệm và không thể nói thêm ở đây, ngoại trừ rằng ngọn lửa hồng trần là một biểu hiện tạm thời và cục bộ của Sự Hiện Diện thần linh, và đặc biệt hơn là của các Phương diện và Xuất lộ thứ ba và thứ năm của Thượng Đế. Mỗi Phương diện thiêng liêng biểu hiện bên ngoài như một Sinh Mệnh, một Trí Tuệ mà bản chất trọn vẹn vượt ngoài sự hiểu biết của con người, trừ trong các trạng thái chiêm ngưỡng cao cả khi Nội Tại Tính thiêng liêng được nhận biết và Siêu Việt Tính thiêng liêng được trực giác phân biện.
Fire on earth, then, is an expression of divine Intelligence, a localised manifestation of Universal Mind: it is that one of the four modes of manifestation on the physical plane which constitutes the electro-magnetic “soul” of physical substance. The somewhat conical, tongue-like shape of a flame is symbolical of this third Aspect of Deity, for in vertical section it is triangular. The triangle is the archetypal “form” of the fire element, and therefore of the third Sephira.
Vậy, lửa trên Trái Đất là một biểu hiện của Trí Tuệ thiêng liêng, một biểu hiện được định vị của Vũ Trụ Trí: đó là một trong bốn phương thức biểu hiện trên cõi hồng trần, cấu thành “linh hồn” điện-từ của chất liệu hồng trần. Hình dạng hơi nón, giống chiếc lưỡi của ngọn lửa là biểu tượng của Phương diện thứ ba này của Thượng Đế, vì trong mặt cắt dọc nó có dạng tam giác. Tam giác là “hình tướng” nguyên mẫu của nguyên tố lửa, và do đó của Xê-phi-ra thứ ba.
The fifth Sephira transfers the Fire Aspect of Deity to the formal world, where in man it becomes manifest mentally as thought-power, emotionally as desire and physically as heat. In all the varied expressions of the Fire Aspect in Nature and in man, the fifth Sephira is intimately involved as the ensouling Being who is the Mind of Nature.
Xê-phi-ra thứ năm chuyển Phương diện Lửa của Thượng Đế sang thế giới hình tướng, nơi trong con người nó biểu hiện về mặt trí tuệ như quyền năng tư tưởng, về mặt cảm xúc như dục vọng và về mặt hồng trần như sức nóng. Trong mọi biểu hiện đa dạng của Phương diện Lửa trong Thiên Nhiên và trong con người, Xê-phi-ra thứ năm liên hệ mật thiết như Sinh Mệnh phú linh, Đấng là Trí Tuệ của Thiên Nhiên.
The process of physical combustion which produces the impressions of fire, flame and heat upon the senses and mind of man excites into hyper-activity the superphysical noumenon of fire, the Fire Aspect of Deity preponderant in the fifth Sephira. This ensouling fire-principle of Nature has its major embodiment in that Being and in his brother, the third Sephira, who is the noumenon of the noumenon, the soul of the soul, of physical fire.
Tiến trình cháy hồng trần, vốn tạo ra các ấn tượng về lửa, ngọn lửa và sức nóng trên giác quan và thể trí của con người, kích thích nguyên tượng siêu hồng trần của lửa vào trạng thái siêu hoạt động, tức Phương diện Lửa của Thượng Đế vốn trội vượt trong Xê-phi-ra thứ năm. Nguyên khí lửa phú linh này của Thiên Nhiên có hiện thân chính trong Sinh Mệnh ấy và trong huynh đệ của Ngài, Xê-phi-ra thứ ba, Đấng là nguyên tượng của nguyên tượng, linh hồn của linh hồn, của lửa hồng trần.
The fifth Sephira, in its turn, is composed of and manifested as innumerable Fire-Gods, Archangels, angels and nature spirits. This vast Host is in perpetual creative activity, continually occupied in the tranference of the fohatic fire, the cosmic creative fire-force, from its primal source throughout the five planes of present manifestation.
Đến lượt mình, Xê-phi-ra thứ năm được cấu thành bởi và biểu hiện như vô số Thần Lửa, Tổng Thiên Thần, thiên thần và tinh linh tự nhiên. Đạo Quân bao la này ở trong hoạt động sáng tạo không ngừng, liên tục bận rộn với việc chuyển lửa Fohat, mãnh lực-lửa sáng tạo vũ trụ, từ nguồn nguyên thủy của nó xuyên suốt năm cõi của biểu hiện hiện tại.
The fire of Fohat is the agent whereby “virgin” matter is made responsive to and reproductive of the archetypal products of divine Ideation. Cosmic fire, which is no burning flame or heat but a form of electrical energy, is the impregnating agency by the action of which root Substance produces universes and all which they contain. The nature and the shape of those products are decided by a combination of numerical law and divine Thought. Cosmic fire and cosmic mind are therefore intimately related throughout Manvantara. No form can come into phenomenal existence without the combined action of both.
Lửa của Fohat là tác nhân nhờ đó vật chất “trinh nguyên” trở nên đáp ứng với và có khả năng tái tạo các sản phẩm nguyên mẫu của Ý niệm thiêng liêng. Lửa vũ trụ, vốn không phải ngọn lửa cháy hay sức nóng mà là một dạng năng lượng điện, là tác nhân thụ thai; bằng tác động của nó, Chất Liệu gốc sinh ra các vũ trụ và mọi điều chúng chứa đựng. Bản chất và hình dạng của những sản phẩm ấy do sự kết hợp giữa định luật số học và Tư Tưởng thiêng liêng quyết định. Vì vậy, lửa vũ trụ và trí tuệ vũ trụ liên hệ mật thiết trong suốt Giai kỳ sinh hóa. Không hình tướng nào có thể đi vào hiện hữu hiện tượng nếu không có tác động phối hợp của cả hai.
At the physical level, incandescence and flame constitute a release, and therefore an expression, of the creative fire-mind. The degree of the release is dependent upon the amount of material in which incandescence is physically produced. The extent of the expression of fohatic fire, and of the fifth and third Sephiras and their Hosts, is also governed by the size of the fire and the degree of incandescence.
Ở cấp độ hồng trần, sự nóng sáng và ngọn lửa cấu thành một sự giải phóng, và do đó là một biểu hiện, của lửa-trí tuệ sáng tạo. Mức độ giải phóng tùy thuộc vào lượng vật liệu trong đó sự nóng sáng được tạo ra về mặt hồng trần. Phạm vi biểu hiện của lửa Fohat, và của Xê-phi-ra thứ năm cùng thứ ba và các Đạo Quân của các vị ấy, cũng chịu sự chi phối của kích thước ngọn lửa và mức độ nóng sáng.
When a fire is kindled, or a match struck, and inflammable substance reduced to ashes, a release occurs on the physical plane of superphysically manifested creative fire. It is this release which acts as an excitant to nature spirits of fire, under which they play and revel exultantly in the physical manifestation of their element.
Khi một ngọn lửa được nhóm lên, hoặc một que diêm được đánh cháy, và chất dễ cháy bị biến thành tro, trên cõi hồng trần xảy ra một sự giải phóng của lửa sáng tạo đã biểu hiện siêu hồng trần. Chính sự giải phóng này tác động như một chất kích thích đối với các tinh linh tự nhiên của lửa, dưới tác động ấy chúng vui chơi và hân hoan trong biểu hiện hồng trần của nguyên tố mình.
In order that conjoined cosmic fire and mind may create physical forms, the four other elements of earth, water, air and ether as subtle elements and potencies must also be present, thus completing the five elements essential to the production of natural forms. In physical fire, the subtle element of fire preponderates excessively and is almost exclusively active. Destruction of form, and not construction, is the inevitable result.
Để lửa và trí tuệ vũ trụ kết hợp có thể sáng tạo các hình tướng hồng trần, bốn nguyên tố khác là đất, nước, khí và dĩ thái, như các nguyên tố và tiềm lực vi tế, cũng phải hiện diện, nhờ đó hoàn tất năm nguyên tố thiết yếu cho việc sản sinh các hình tướng tự nhiên. Trong lửa hồng trần, nguyên tố vi tế của lửa trội vượt quá mức và gần như hoạt động độc quyền. Sự phá hủy hình tướng, chứ không phải sự kiến tạo, là kết quả tất yếu.
CHAPTER III LIFE AND FORM – CHƯƠNG III SỰ SỐNG VÀ HÌNH TƯỚNG
THE SIXTH SEPHIRA – XÊ-PHI-RA THỨ SÁU
THE conjoined Power and Life of the Solar System, manifested as the second Sephira, the solar Lord of Wisdom and all its “sons”, find expression as the Life Principle of the material worlds. The One Life of Nature, discrete though it may appear when conceived and viewed from below, is a co-ordinated vehicle for an Intelligence, which is the sixth Sephira. Just as the second Sephira directs the vitalising currents of solar energy at higher levels, so the sixth serves as an expression of the One Life at lower levels including the physical world.
Quyền Năng và Sự Sống kết hợp của hệ mặt trời, biểu hiện như Xê-phi-ra thứ hai, Chúa Tể thái dương của Minh Triết và tất cả các “người con” của Ngài, tìm thấy sự biểu hiện như Nguyên Khí Sự Sống của các thế giới vật chất. Sự Sống Duy Nhất của Thiên Nhiên, dù có thể có vẻ rời rạc khi được quan niệm và nhìn từ bên dưới, là một vận cụ được phối hợp cho một Trí Tuệ, tức Xê-phi-ra thứ sáu. Cũng như Xê-phi-ra thứ hai điều khiển các dòng sinh lực của năng lượng thái dương ở các cấp độ cao hơn, Xê-phi-ra thứ sáu phụng sự như một biểu hiện của Sự Sống Duy Nhất ở các cấp độ thấp hơn, bao gồm cả thế giới hồng trần.
The ocean of the One Life has its shores, which are the physical universe, against which its waves beat continuously in rhythmic pulse. As a beach becomes saturated more and more fully with the rising tides, so physical matter is saturated increasingly with the vitalising fluid, which is the One Life. Evolution for physical substance implies an increase in its vital content, a fuller saturation with the One Life, which is continually conveyed into it by the second and sixth Sephiras.
Đại dương của Sự Sống Duy Nhất có những bờ bến của nó, tức vũ trụ hồng trần, nơi các làn sóng của nó liên tục vỗ vào theo nhịp điệu. Như một bãi biển ngày càng thấm đẫm hơn bởi thủy triều dâng, vật chất hồng trần cũng ngày càng thấm đẫm lưu chất tiếp sinh lực, tức Sự Sống Duy Nhất. Tiến hoá đối với chất liệu hồng trần hàm ý sự gia tăng nội dung sinh lực của nó, sự thấm đẫm đầy đủ hơn bởi Sự Sống Duy Nhất, vốn liên tục được Xê-phi-ra thứ hai và thứ sáu truyền vào nó.
The first created, solid physical substance is relatively lifeless. In the beginning its life-content is very low. As evolution proceeds, matter gradually becomes increasingly vitalised; component atoms convey and contain greater proportions of Spirit-Life. They then combine more readily into forms which, in their turn, become proportionately more responsive to thought. Metaphorically, as the tide rises, the degree of saturation increases. High watermark represents the fullest physical manifestation attained in any creative cycle by Spirit-Life and its embodiments, the first, second and sixth Sephiras. Saturation point is reached when physical substance becomes most responsive to thought and most easily moulded by it. Thereafter, the One Mind, as third and fifth Sephiras, finds in every kind of physical substance a highly plastic medium in which to fashion the concepts and products of divine Ideation. All Nature then displays the most perfect adaptation to universal Thought, whether manifested in Sephirothal Hosts or individualised as man.
Chất liệu hồng trần rắn, được sáng tạo đầu tiên, tương đối không có sự sống. Ban đầu nội dung sự sống của nó rất thấp. Khi tiến hoá tiếp diễn, vật chất dần dần được tiếp sinh lực ngày càng nhiều; các nguyên tử cấu thành truyền dẫn và chứa đựng những tỷ lệ lớn hơn của Tinh Thần-Sự Sống. Khi ấy chúng kết hợp dễ dàng hơn thành các hình tướng, và đến lượt mình, các hình tướng ấy trở nên đáp ứng hơn tương ứng với tư tưởng. Nói ẩn dụ, khi thủy triều dâng, mức độ thấm đẫm tăng lên. Dấu nước cao biểu thị sự biểu hiện hồng trần đầy đủ nhất đạt được trong bất cứ chu kỳ sáng tạo nào bởi Tinh Thần-Sự Sống và các hiện thân của nó, tức Xê-phi-ra thứ nhất, thứ hai và thứ sáu. Điểm bão hòa đạt được khi chất liệu hồng trần trở nên đáp ứng nhất với tư tưởng và dễ được tư tưởng uốn nắn nhất. Sau đó, Trí Tuệ Duy Nhất, như Xê-phi-ra thứ ba và thứ năm, tìm thấy trong mọi loại chất liệu hồng trần một môi trường rất dẻo để tạo tác các quan niệm và sản phẩm của Ý niệm thiêng liêng. Khi ấy toàn thể Thiên Nhiên biểu lộ sự thích ứng hoàn hảo nhất với Tư Tưởng vũ trụ, dù biểu hiện trong các Đạo Quân Xê-phi-rốt hay được biệt ngã hóa như con người.
Such, in part, is the “work” of the sixth Sephira and its component Hosts, from Archangels of the solar, vital fluid to the nature spirit inhabitants and embodiments of the subtle element of water. In simplest terms, these beings serve as conductors of Fohat, throughout the physical universe, the “life-blood” of Mother Nature by which she is herself sustained and by which she nourishes her children.
Đó, một phần, là “công việc” của Xê-phi-ra thứ sáu và các Đạo Quân cấu thành của vị ấy, từ các Tổng Thiên Thần của lưu chất thái dương, sinh lực, đến các cư dân tinh linh tự nhiên và hiện thân của nguyên tố vi tế nước. Nói đơn giản nhất, những sinh linh này phụng sự như các chất dẫn của Fohat, xuyên suốt vũ trụ hồng trần, là “máu sống” của Mẹ Thiên Nhiên, nhờ đó chính bà được duy trì và nhờ đó bà nuôi dưỡng con cái mình.
UNDINES AND SYLPHS—EMANATIONS OF THE SIXTH SEPHIRA – CÁC UNDINE VÀ SYLPH—NHỮNG XUẤT LỘ CỦA XÊ-PHI-RA THỨ SÁU
Innumerable “arteries” and “veins” convey throughout the universe from sun to planets and from planets back to sun the vital electricity, which is its life-blood. Thus the sun is the “heart”, the universe the “body”. Archangels are interplanetary “transformers” and “transmitters”. Angels are planetary “receivers” and “transmitters”, and nature spirits are the last superphysical recipients of the charge. This they contain as long as they can and then release or discharge it into the ethenc counterpart of Nature. From there, the physical “beach” or molecular “sands” absorb it and all Nature is thus vitalised, all substance rendered malleable. The Eternal Oblation is fulfilled.
Vô số “động mạch” và “tĩnh mạch” truyền dẫn khắp vũ trụ, từ mặt trời đến các hành tinh và từ các hành tinh trở lại mặt trời, dòng điện sinh lực vốn là máu sống của nó. Như vậy mặt trời là “trái tim”, vũ trụ là “thân thể”. Các Tổng Thiên Thần là những “máy biến thế” và “máy truyền dẫn” liên hành tinh. Các thiên thần là những “máy thu” và “máy truyền” hành tinh, còn tinh linh tự nhiên là những nơi tiếp nhận siêu hồng trần cuối cùng của điện tích. Chúng chứa đựng điện tích này lâu nhất có thể rồi giải phóng hay phóng xả nó vào đối phần dĩ thái của Thiên Nhiên. Từ đó, “bãi biển” hồng trần hay “cát” phân tử hấp thụ nó, và như vậy toàn thể Thiên Nhiên được tiếp sinh lực, mọi chất liệu trở nên dễ uốn nắn. Sự Hiến Dâng Vĩnh Cửu được hoàn tất.
Intense pleasure is felt by undines and sylphs as they perform their function of recipients and dischargers of solar life. They become filled with ecstasy as they carry out to the limit of their capacity the three functions of absorption of life-force, its retention and compression, and its discharge into their immediate surroundings. This is their life, this their “work”, which, as with all nature spirits, is for them but continuous play and, though they do not know it, evolutionary progress is the result. To increase their own joy in this participation in Nature’s processes, they try continually to increase their capacity to absorb and retain the vital charge as long as possible. The resultant heightened compression produces an increasingly more powerful, and therefore more joy-producing, discharge.
Các undine và sylph cảm thấy khoái lạc mãnh liệt khi thực hiện chức năng tiếp nhận và phóng xả sự sống thái dương. Chúng tràn đầy xuất thần khi thực hiện đến giới hạn khả năng của mình ba chức năng: hấp thụ sinh lực, giữ lại và nén chặt sinh lực ấy, rồi phóng xả nó vào môi trường chung quanh trực tiếp. Đây là sự sống của chúng, đây là “công việc” của chúng, mà cũng như với mọi tinh linh tự nhiên, đối với chúng chỉ là cuộc vui chơi liên tục; và dù chúng không biết điều đó, kết quả là sự tiến bộ tiến hoá. Để gia tăng niềm vui của chính mình trong sự tham dự vào các tiến trình của Thiên Nhiên, chúng liên tục cố gắng tăng khả năng hấp thụ và giữ điện tích sinh lực càng lâu càng tốt. Sự nén chặt gia tăng do đó tạo nên một sự phóng xả ngày càng mạnh hơn, và vì vậy càng đem lại nhiều hoan hỉ hơn.
Evolutionary stature for all the Sephirothal Hosts is measured by their capacity to absorb, contain and compress. As they are thus engaged from dawn to eve of Manvantara, their ability to exercise these three functions steadily increases. This, for them, is the way of evolutionary progression, which is marked by an increase both in bodily stature and extension of aura.
Tầm vóc tiến hoá của tất cả các Đạo Quân Xê-phi-rốt được đo bằng khả năng hấp thụ, chứa đựng và nén chặt của các vị ấy. Vì các vị ấy tham dự vào việc này từ bình minh đến hoàng hôn của Giai kỳ sinh hóa, năng lực thực hiện ba chức năng này của họ tăng trưởng đều đặn. Đối với họ, đây là con đường tiến bộ tiến hoá, được đánh dấu bằng sự gia tăng cả về tầm vóc thân thể lẫn sự mở rộng của hào quang.
The nature spirit, for example, when first it emanates from its parent-angel, may measure but an inch or two in the vertical and horizontal diameters of its aura. The continuing practice throughout vast ages of the absorption, retention and discharge of the electric life of the sun steadily increases the size of both the spherical aura and the once minute, but ever lovely, form within.
Ví dụ, tinh linh tự nhiên, khi mới xuất lộ từ thiên thần cha mẹ của nó, có thể chỉ đo được một hoặc hai inch theo đường kính dọc và ngang của hào quang. Sự thực hành liên tục trong những thời đại bao la về việc hấp thụ, giữ lại và phóng xả sự sống điện của mặt trời đều đặn làm tăng kích thước của cả hào quang hình cầu lẫn hình tướng từng nhỏ bé, nhưng luôn đẹp đẽ, bên trong.
THE VISIBLE UNIVERSE – VŨ TRỤ HỮU HÌNH
The seventh Sephira is the Lord of all Nature, which is its physical garment. It is immanent throughout this physical vesture, every atom being created and sustained by the power of which both Sephira and universe are the embodiment and manifestation.
Xê-phi-ra thứ bảy là Chúa Tể của toàn thể Thiên Nhiên, vốn là y phục hồng trần của vị ấy. Vị ấy nội tại khắp lớp áo hồng trần này, mỗi nguyên tử đều được sáng tạo và duy trì bởi quyền năng mà cả Xê-phi-ra lẫn vũ trụ đều là hiện thân và biểu hiện.
Fohat is the creator. Mind is the designer. Matter is the medium in which creative Spirit fashions the external universe. Not one form in Nature, from atom to similarly spinning planet, comes into existence save as an outcome of the creative Activity of the fire of Fohat, the fashioning mind of Spirit, and the receptive, responsive and productive attributes of matter. For this is the eternal, creative Trinity. This is God, the Father, Son and Mother.
Fohat là đấng sáng tạo. Trí Tuệ là đấng thiết kế. Vật chất là môi trường trong đó Tinh Thần sáng tạo tạo tác vũ trụ bên ngoài. Không một hình tướng nào trong Thiên Nhiên, từ nguyên tử đến hành tinh cũng quay tương tự, đi vào hiện hữu ngoại trừ như kết quả của Hoạt Động sáng tạo của lửa Fohat, thể trí tạo tác của Tinh Thần, và các thuộc tính tiếp nhận, đáp ứng và sinh sản của vật chất. Vì đây là Ba Ngôi sáng tạo vĩnh cửu. Đây là Thượng Đế, Cha, Con và Mẹ.
The universe is sevenfold. So also must be and are both the active potency and the action of the triple God. Through the agency of the seven Emanations, each the product of a combination of the three supernal Aspects, the Logos “creates” the seven densities which primordial Substance assumes under fohatic action and influence. The seventh of these Powers, the seventh Sephira, is a mighty Representative of the Logos at the level of density of the element of earth, and is manifested to the senses of man as atom-built, physical substance. Co-ordination is the predominant power of this Sephira, and the construction and maintenance of physical forms throughout their appropriate time-cycles are its preponderant activity. This task of construction and preservation is fulfilled from within the life-currents of atoms and the forms into which they are built. For therein the deific Presence is enshrined.
Vũ trụ là thất phân. Do đó, cả tiềm lực hoạt động lẫn hành động của Thượng Đế tam phân cũng phải và thật sự là thất phân. Qua tác nhân của bảy Xuất lộ, mỗi Xuất lộ là sản phẩm của một kết hợp giữa ba Phương diện thiên thượng, Thượng Đế “sáng tạo” bảy mật độ mà Chất Liệu nguyên thủy khoác lấy dưới tác động và ảnh hưởng Fohat. Quyền Năng thứ bảy trong các Quyền Năng này, Xê-phi-ra thứ bảy, là một Đại Diện hùng mạnh của Thượng Đế ở cấp độ mật độ của nguyên tố đất, và biểu hiện cho giác quan của con người như chất liệu hồng trần được xây bằng nguyên tử. Sự phối hợp là quyền năng nổi trội của Xê-phi-ra này, và việc kiến tạo cùng duy trì các hình tướng hồng trần trong suốt các chu kỳ thời gian thích hợp là hoạt động trội vượt của vị ấy. Nhiệm vụ kiến tạo và bảo tồn này được hoàn thành từ bên trong các dòng sự sống của nguyên tử và của những hình tướng được xây bằng chúng. Vì trong đó Sự Hiện Diện thần linh được tôn trí.
The Immanence of God, His indwelling Presence throughout physical Nature, is made manifest as the power, the life and the consciousness of the seventh Sephira. The Transcendence of God is expressed by the remaining Six, each of whom is as the transcendent Logos of the plane immediately below it. Beyond the Seven are Three who constitute the supernal Trinity of the universe. Immanent within these Three, and again transcendent beyond, is that incomprehensible One Alone, which is the first Emanation from the Absolute. Within THAT reside all potencies. From THAT emanate all ideation, power and life. By THAT all worlds are created and sustained. To THAT, in due time according to numerical law, all return.
Nội Tại Tính của Thượng Đế, Sự Hiện Diện nội cư của Ngài trong khắp Thiên Nhiên hồng trần, được biểu hiện như quyền năng, sự sống và tâm thức của Xê-phi-ra thứ bảy. Siêu Việt Tính của Thượng Đế được biểu hiện bởi Sáu vị còn lại, mỗi vị như Thượng Đế siêu việt của cõi ngay bên dưới mình. Bên ngoài Bảy vị là Ba vị cấu thành Ba Ngôi thiên thượng của vũ trụ. Nội tại trong Ba vị này, và lại siêu việt bên ngoài, là Đấng Duy Nhất Đơn Độc không thể hiểu thấu, tức Xuất lộ đầu tiên từ Tuyệt Đối. Trong ĐẤNG ẤY cư ngụ mọi tiềm lực. Từ ĐẤNG ẤY phát xuất mọi ý niệm, quyền năng và sự sống. Bởi ĐẤNG ẤY mọi thế giới được sáng tạo và duy trì. Về ĐẤNG ẤY, đúng thời theo định luật số học, tất cả đều trở về.
This One Alone is the Supreme Transcendence, the Primordial Mover “above the surface” of—actually within— pre-cosmic Space. The first “movement” sets going all creative processes, which continue throughout Manvantara, just as a pendulum set swinging by a single impulse continues to swing. But the measure of the oscillation and the duration of its continuance depend upon the strength of the initial impulse and the decrees of numerical law. As that agent which imparts to the pendulum that first swing no longer acts, so THAT which imparts to pre-cosmic Substance the first creative impulse no longer acts directly upon the resultant Cosmos. THAT remains, transcendent and alone. Yet from THAT all creation springs; by THAT all creation is moved and lives; in THAT all is contained; to THAT all returns; for, in terms of the outward Cosmos, THAT is infinite and eternal.
Đấng Duy Nhất Đơn Độc này là Siêu Việt Tối Cao, Đấng Chuyển Động Nguyên Thủy “bên trên bề mặt” của—thật ra là ở bên trong—Không Gian tiền vũ trụ. “Chuyển động” đầu tiên khởi động mọi tiến trình sáng tạo, vốn tiếp tục suốt Giai kỳ sinh hóa, giống như một con lắc được một xung lực duy nhất làm cho dao động thì tiếp tục dao động. Nhưng biên độ dao động và thời gian kéo dài của nó tùy thuộc vào sức mạnh của xung lực ban đầu và các sắc lệnh của định luật số học. Như tác nhân truyền cho con lắc cú dao động đầu tiên ấy không còn tác động nữa, ĐẤNG ẤY, Đấng truyền cho Chất Liệu tiền vũ trụ xung lực sáng tạo đầu tiên, cũng không còn tác động trực tiếp lên Vũ Trụ phát sinh. ĐẤNG ẤY vẫn còn đó, siêu việt và đơn độc. Tuy vậy, từ ĐẤNG ẤY mọi tạo vật phát sinh; bởi ĐẤNG ẤY mọi tạo vật được chuyển động và sống; trong ĐẤNG ẤY tất cả được chứa đựng; về ĐẤNG ẤY tất cả trở về; vì, xét theo Vũ Trụ bên ngoài, ĐẤNG ẤY là vô hạn và vĩnh cửu.
The seventh Sephira and its Hosts are the outermost recipients and manifestors of the creative impulse imparted by the One Alone. They represent the extreme limit of the pendulum’s swing. Divine Ideation is the core of the being of the seventh Sephira, which is conjoined Spirit-Mind incarnate. According to the archetypal image existent within divine Thought, the seventh Sephira fashions physical Nature. In this process the whole tenfold Sephiroth is involved. All Sephiras converge and are synthesised in the seventh and its form-producing activity. The One Alone, the Sacred Nine and Universal Law contrive to produce that ultimate wonder of the Cosmos which is physically fashioned divine Ideation, the material universe. The seventh Sephira, who is the tenth if the supernal Three be included, is a synthesis of all, as also is its outer garb, the natural world; for the conjoined whole of the Powers is contained within atom, molecule and form of the physical plane.
Xê-phi-ra thứ bảy và các Đạo Quân của vị ấy là những vị tiếp nhận và biểu hiện ngoài cùng của xung lực sáng tạo do Đấng Duy Nhất Đơn Độc truyền ban. Các vị ấy biểu thị giới hạn cực điểm của cú dao động của con lắc. Ý niệm thiêng liêng là lõi của bản thể Xê-phi-ra thứ bảy, vốn là Tinh Thần-Trí Tuệ kết hợp đang lâm phàm. Theo hình ảnh nguyên mẫu hiện hữu trong Tư Tưởng thiêng liêng, Xê-phi-ra thứ bảy tạo tác Thiên Nhiên hồng trần. Trong tiến trình này, toàn bộ Xê-phi-rốt thập phân đều tham dự. Mọi Xê-phi-ra hội tụ và được tổng hợp trong Xê-phi-ra thứ bảy và hoạt động tạo hình tướng của vị ấy. Đấng Duy Nhất Đơn Độc, Chín Đấng Thiêng Liêng và Định Luật Vũ Trụ cùng phối hợp để tạo ra điều kỳ diệu tối hậu của Vũ Trụ, tức Ý niệm thiêng liêng được tạo tác về mặt hồng trần, vũ trụ vật chất. Xê-phi-ra thứ bảy, là vị thứ mười nếu tính cả Ba vị thiên thượng, là một tổng hợp của tất cả, cũng như lớp áo ngoài của vị ấy, thế giới tự nhiên; vì toàn thể kết hợp của các Quyền Năng được chứa đựng trong nguyên tử, phân tử và hình tướng của cõi hồng trần.
THE ARCHETYPE – NGUYÊN MẪU
Nature’s varied forms have their origin in Universal Mind, which is the third expression of the manifested One, as Will and Life are the first and second. The idea of every form arises spontaneously within Universal Mind, as a manifestation under numerical law of that portion of Cosmic Ideation which is to be expressed within a single universe. In origin and “seed”, all forms are one. That one form may be mentally—and therefore imperfectly and incompletely— conceived as a point within a sphere. The point is the germ. The sphere is the egg. From these two, creative centre and circumscribed region, the universe evolves.
Các hình tướng đa dạng của Thiên Nhiên có nguồn gốc trong Vũ Trụ Trí, vốn là biểu hiện thứ ba của Đấng Duy Nhất đã biểu hiện, cũng như Ý Chí và Sự Sống là biểu hiện thứ nhất và thứ hai. Ý tưởng về mỗi hình tướng phát sinh tự phát trong Vũ Trụ Trí, như một biểu hiện dưới định luật số học của phần Ý niệm Vũ Trụ sẽ được biểu hiện trong một vũ trụ riêng biệt. Về nguồn gốc và “hạt giống”, mọi hình tướng là một. Hình tướng duy nhất ấy có thể được quan niệm bằng trí tuệ—và vì thế một cách bất toàn và không trọn vẹn—như một điểm trong một khối cầu. Điểm là mầm. Khối cầu là trứng. Từ hai điều này, trung tâm sáng tạo và vùng được giới hạn, vũ trụ tiến hoá.
Multiplicity of form arises from the single germ or Archetype, as creative Will and Life move outwards from the centre into the field. The potentialities within the germ then begin to become actualities. The latent combinations and permutations of the several components of the germ, each expressive of universal Ideation, become operative influences, as divine Thought seeks external expression as form.
Tính đa dạng của hình tướng phát sinh từ mầm duy nhất hay Nguyên Mẫu, khi Ý Chí và Sự Sống sáng tạo chuyển động ra ngoài từ trung tâm vào trường. Khi ấy, những tiềm năng trong mầm bắt đầu trở thành hiện thực. Các tổ hợp và hoán vị tiềm ẩn của nhiều thành phần trong mầm, mỗi thành phần biểu hiện Ý niệm vũ trụ, trở thành những ảnh hưởng tác động, khi Tư Tưởng thiêng liêng tìm kiếm sự biểu hiện bên ngoài như hình tướng.
The “still” thought of the universe is in essence single; its active thought is multiple. The timeless, changeless Archetype, whilst containing the potentiality of all forms, is itself a single “creation” or projection from divine Ideation. As its vibrating energies, or “chords”, impinge upon the external, enclosing matter, mental forms arise therein. These forms are gradually densified and at the same time diversified. At the physical level the extreme of both density and diversity is attained. Nature there displays her greatest variety as thought after thought of the divine Mind becomes manifest. Thus the One becomes the many, which arise from within the One.
Tư tưởng “tĩnh” của vũ trụ, về bản chất, là đơn nhất; tư tưởng hoạt động của nó là đa dạng. Nguyên Mẫu phi thời gian, bất biến, tuy chứa đựng tiềm năng của mọi hình tướng, tự nó là một “sáng tạo” hay phóng chiếu đơn nhất từ Ý niệm thiêng liêng. Khi các năng lượng rung động của nó, hay các “hợp âm”, tác động lên vật chất bên ngoài bao bọc, các hình tướng trí tuệ phát sinh trong đó. Những hình tướng này dần dần được cô đặc hóa và đồng thời được đa dạng hóa. Ở cấp độ hồng trần, cực điểm của cả mật độ lẫn tính đa dạng đều đạt được. Tại đó, Thiên Nhiên biểu lộ sự phong phú lớn nhất của mình khi hết tư tưởng này đến tư tưởng khác của Trí Tuệ thiêng liêng trở nên biểu hiện. Như vậy Đấng Duy Nhất trở thành cái nhiều, vốn phát sinh từ bên trong Đấng Duy Nhất.
THE FAIRY BUILDERS OF FORM – CÁC TIÊN KIẾN TẠO HÌNH TƯỚNG
The ultimate fashioners of form are the nature spirits of the element of earth—gnome and brownie—assisted by those of air—fairy and sylph. Unconsciously they aid the designer, Universal Thought, by playing in the fields of force set up by the impact of creative energy as “sound” upon responsive, fructified matter. This establishment of fields of force of varied geometrical designs occurs, not in dense substance, but in the ether which is both mould and matrix of all forms, Mother Nature’s womb. Pleasure is gained by nature spirits in moving, dancing and flying along the lines of force within the fields. This fairy motion accentuates these lines in the ether, as does a pencil line drawn again and again on paper.
Các vị tạo tác hình tướng tối hậu là những tinh linh tự nhiên của nguyên tố đất—gnome và brownie—được trợ giúp bởi các tinh linh của khí—tiên và sylph. Một cách vô thức, chúng trợ giúp đấng thiết kế, Tư Tưởng Vũ Trụ, bằng cách vui chơi trong các trường mãnh lực được tạo lập do tác động của năng lượng sáng tạo như “âm thanh” lên vật chất đáp ứng và đã được thụ tinh. Việc thiết lập các trường mãnh lực với những thiết kế hình học đa dạng này xảy ra không phải trong chất liệu đậm đặc, mà trong dĩ thái, vốn vừa là khuôn vừa là ma trận của mọi hình tướng, tử cung của Mẹ Thiên Nhiên. Các tinh linh tự nhiên đạt được khoái lạc khi di chuyển, nhảy múa và bay dọc theo các tuyến mãnh lực trong các trường. Chuyển động tiên linh này làm nổi bật các tuyến ấy trong dĩ thái, giống như một đường bút chì được vẽ đi vẽ lại trên giấy.
All elements meet at the physical level. All nature spirits participate through play and movement along the lines of force, save those of fire who are associated with the currents of creative energy by which the fields of force are set up. Gnome and brownie, fairy and sylph, unconsciously play their part in the slow production of Nature’s forms in etheric and solid matter. The aerial hosts begin the work. Gnomes, brownies and the like within the earth ultimately fashion the purely solid, densest forms.
Mọi nguyên tố gặp nhau ở cấp độ hồng trần. Mọi tinh linh tự nhiên tham dự qua vui chơi và chuyển động dọc theo các tuyến mãnh lực, ngoại trừ các tinh linh của lửa, vốn liên hệ với các dòng năng lượng sáng tạo nhờ đó các trường mãnh lực được thiết lập. Gnome và brownie, tiên và sylph, một cách vô thức, đóng phần của mình trong sự sản sinh chậm rãi các hình tướng của Thiên Nhiên trong vật chất dĩ thái và rắn. Các đạo quân của khí bắt đầu công việc. Các gnome, brownie và những sinh linh tương tự trong đất sau cùng tạo tác các hình tướng thuần rắn, đậm đặc nhất.
The secret of these workers in mineral, metal, jewel and organic forms, is Nature’s own and may not be revealed to man, it is said, outside her Sanctuaries, and there only to those who first have willingly lent themselves to the Goddess as co-workers in her “quarries” without thought or hope of reward. The apprentice master-builder learns very gradually, and by experiment, these thaumaturgic secrets of the creation of forms by Will-Thought in co-operation with the Sephirothal Hosts. They can no more be conveyed in words alone than can the secrets of success in any art. They must be discovered, or arise within the craftsman’s mind as he experiments.
Bí mật của những người hoạt động này trong các hình tướng khoáng vật, kim loại, ngọc quý và hữu cơ là của chính Thiên Nhiên và, người ta nói, không thể được mặc khải cho con người bên ngoài các Thánh Điện của bà; và tại đó cũng chỉ cho những ai trước hết đã tự nguyện hiến mình cho Nữ Thần như những người cộng tác trong các “mỏ đá” của bà mà không nghĩ tới hay hy vọng phần thưởng. Người học việc của bậc đại kiến tạo học rất từ từ, và bằng thực nghiệm, những bí mật thần thông này về sự sáng tạo hình tướng bằng Ý Chí-Tư Tưởng trong hợp tác với các Đạo Quân Xê-phi-rốt. Chúng không thể được truyền đạt chỉ bằng lời nói, cũng như các bí mật thành công trong bất cứ nghệ thuật nào. Chúng phải được khám phá, hoặc phát sinh trong thể trí của người thợ khi y thực nghiệm.
The little workmen are everywhere and ceaselessly at work. No smallest form of any kind appears unassociated with a builder of form, in none of whom can a thought of self arise. Individuality is not born in them. Inwardly moved by the action within them of Universal Thought, which is their Mother Source, and of their sephirothal senior, their life is one of thought-free, spontaneous play within and with the currents of creative energy flowing through them and their subtle element.
Những người thợ nhỏ bé ở khắp nơi và không ngừng làm việc. Không một hình tướng nhỏ nhất thuộc bất kỳ loại nào xuất hiện mà không liên hệ với một đấng kiến tạo hình tướng; trong không ai trong số họ có thể phát sinh một tư tưởng về bản ngã. Cá thể tính chưa được sinh ra nơi họ. Được thúc đẩy từ bên trong bởi tác động trong họ của Tư Tưởng Vũ Trụ, vốn là Nguồn Mẹ của họ, và của vị trưởng thượng Xê-phi-rốt của họ, đời sống của họ là sự vui chơi tự phát, không tư tưởng, bên trong và cùng với các dòng năng lượng sáng tạo chảy xuyên qua họ và nguyên tố vi tế của họ.
CHAPTER IV THE SEPHIROTHAL TREE – CHƯƠNG IV CÂY XÊ-PHI-RỐT
THE Kabbalah has been variously described as an unwritten or oral tradition, as the esoteric doctrine of the Jewish religion and as the hidden wisdom or theosophy of the Hebrew Rabbis of the Middle Ages, who obtained it from the older secret doctrines concerning divine truths and cosmogony.
Ca-ba-la đã được mô tả theo nhiều cách: như một truyền thống bất thành văn hay khẩu truyền, như giáo lý huyền bí của tôn giáo Do Thái, và như minh triết ẩn giấu hay Thông Thiên Học của các Giáo sĩ Do Thái thời Trung Cổ, những người đã tiếp nhận nó từ các giáo lý bí truyền cổ xưa hơn liên quan đến các chân lý thiêng liêng và vũ trụ luận.
The Hebrew word is derived from the root QBL, “to receive”. Included in the meaning of the word, therefore, is the practice of transmitting esoteric knowledge by word of mouth. On examination, the Kabbalah proves to be a system of theosophy which claims to be of celestial origin and to have reached the early Hebrew patriarchs through the ministry of the angels. King David and King Solomon are said to have been initiated into the Kabbalah, and Rabbi Simeon Ben Jochai daringly took the step of writing a portion of the teachings down at the time of the destruction of the second Temple. His son, Rabbi Eleazar, his secretary and his disciples gathered together his treatises and from them composed the Zohar, meaning “Splendour”, which is the literary source of Kabbalism.
Từ Do Thái này có nguồn gốc từ căn từ QBL, “tiếp nhận”. Vì vậy, trong ý nghĩa của từ này có bao hàm thực hành truyền đạt tri thức huyền bí bằng lời nói. Khi khảo sát, Ca-ba-la tỏ ra là một hệ thống Thông Thiên Học tuyên bố có nguồn gốc thiên giới và đã đến với các tổ phụ Do Thái thuở đầu qua sự phụng sự của các thiên thần. Người ta nói Vua Đa-vít và Vua Sa-lô-môn đã được điểm đạo vào Ca-ba-la, và Giáo sĩ Si-mê-ôn Ben Giô-khai đã táo bạo thực hiện bước ghi chép một phần giáo huấn vào thời điểm Đền Thờ thứ hai bị phá hủy. Con trai ông, Giáo sĩ Ê-lê-a-da, thư ký của ông và các đệ tử của ông đã tập hợp các luận thuyết của ông và từ đó biên soạn nên Sách Huy Hoàng, nghĩa là “Huy Hoàng”, vốn là nguồn văn học của Ca-ba-la giáo.
THE TEN ORDERS OF ANGELS – MƯỜI ĐẲNG CẤP THIÊN THẦN
The Angelic Hosts occupy an important place in the cosmogonical scheme of the Kabbalah. Ten Orders are associated with the ten Sephiras, which constitute the kabbalistic Tree of Life. They are regarded as Emanations of Deity, each Sephira representing a number, a group of exalted ideas, titles and attributes, and a hierarchy of spiritual beings outside of humanity. Each Sephira has a fourfold nature according to its association with each of the four worlds of the Kabbalist. These are: “Atziluth”, the Archetypal World, or World of Emanations, the Divine World; “Briah”, the World of Creation, also called Khorsis, the World of Thrones; “Yetzirah”, the World of Formation and of Angels; “Assiah”, the World of Action, the World of Matter.
Các Đạo Quân Thiên Thần giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống vũ trụ luận của Ca-ba-la. Mười Đẳng Cấp được liên kết với mười Xê-phi-ra, vốn cấu thành Cây Sự Sống Ca-ba-la. Các vị ấy được xem là các Xuất lộ của Thượng Đế, mỗi Xê-phi-ra biểu thị một con số, một nhóm ý tưởng cao cả, danh hiệu và thuộc tính, cùng một huyền giai các sinh linh tinh thần ở ngoài nhân loại. Mỗi Xê-phi-ra có bản chất tứ phân theo sự liên hệ của nó với mỗi trong bốn thế giới của nhà Ca-ba-la. Đó là: “Thế Giới Xuất Lộ”, Thế Giới Nguyên Mẫu, hay Thế Giới của các Xuất Lộ, Thế Giới Thiêng Liêng; “Thế Giới Sáng Tạo”, Thế Giới Sáng Tạo, cũng gọi là Khorsis, Thế Giới của các Ngai; “Thế Giới Tạo Hình”, Thế Giới Tạo Hình và của các Thiên Thần; “Thế Giới Hành Động”, Thế Giới Hành Động, Thế Giới Vật Chất.
In Atziluth, the Sephiras manifest through ten different aspects represented by the ten holy names of God in the Hebrew Scriptures. In Briah, the Sephiras manifest through the ten Archangels. In Yetzirah, they manifest through the Choirs or Hosts of the Angels. In Assiah, and especially on the physical plane, they are associated with the physical planets and the subtle elements of which they are said to be composed. By correspondence they are also associated with the chakras in the etheric double of man and their related glandular and nerve centres.
Trong Thế Giới Xuất Lộ, các Xê-phi-ra biểu hiện qua mười phương diện khác nhau, được biểu thị bởi mười thánh danh của Thượng Đế trong Kinh Thánh Do Thái. Trong Thế Giới Sáng Tạo, các Xê-phi-ra biểu hiện qua mười Tổng Thiên Thần. Trong Thế Giới Tạo Hình, các vị ấy biểu hiện qua các Ca Đoàn hay Đạo Quân Thiên Thần. Trong Thế Giới Hành Động, và đặc biệt trên cõi hồng trần, các vị ấy được liên kết với các hành tinh hồng trần và các nguyên tố vi tế mà người ta nói các vị ấy được cấu thành. Theo tương ứng, các vị ấy cũng được liên kết với các luân xa trong bản sao dĩ thái của con người và các trung tâm tuyến cùng thần kinh liên hệ của chúng.
The Sephiras are also depicted as circles. As Proclus says: “Before the mathematical numbers, there are the self-moving numbers; before the figures apparent, the vital figures, and before producing the material worlds which move in a circle, the Creative Power produced the invisible circles.” At the head of each hierarchy of spiritual Intelligences is a named Archangel, under whom are gradations of angels who perform significant functions in the emanation, formation, preservation and transformation of a universe.
Các Xê-phi-ra cũng được mô tả như các vòng tròn. Như Proclus nói: “Trước các con số toán học, có các con số tự-chuyển động; trước các hình thể hữu hình, có các hình thể sinh động; và trước khi tạo ra các thế giới vật chất chuyển động theo vòng tròn, Quyền Năng Sáng Tạo đã tạo ra các vòng tròn vô hình.” Đứng đầu mỗi huyền giai Trí Tuệ tinh thần là một Tổng Thiên Thần có danh xưng, bên dưới vị ấy là các cấp bậc thiên thần thực hiện những chức năng quan trọng trong sự xuất lộ, tạo hình, bảo tồn và chuyển đổi một vũ trụ.
The Christian religion, which contains much kabbalistic thought, teaches that there are nine Orders of angels called, severally, Angels and Archangels, Thrones, Dominations, Principalities, Virtues, Powers, Cherubim and Seraphim.Certain qualities and activities are assigned to each of these Orders. Angels and Archangels are sent as messengers in matters of high importance, as were Gabriel and Raphael. Thrones contemplate the glory and equity of the divine judgments and teach men to rule with justice. Dominations are supposed to regulate the activities and duties of the angels. Principalities preside over peoples and provinces and serve as angelic rulers of the nations of the world. Virtues have the gift of working miracles. Powers are a check on evil spirits. Cherubim excel in the splendour of knowledge and so enlighten mankind with wisdom; and the Seraphim, being most ardent in divine love, inspire mankind with that quality. In nearly all the Biblical accounts of men’s visions of God, He is described as transcendent in glory and surrounded by countless multitudes of His angels.
Tôn giáo Cơ Đốc, vốn chứa đựng nhiều tư tưởng Ca-ba-la, dạy rằng có chín Đẳng Cấp thiên thần, lần lượt được gọi là Thiên Thần và Tổng Thiên Thần, Ngai, Chủ Quyền, Lãnh Đạo, Đức Năng, Quyền Năng, Cherubim và Seraphim. Một số phẩm tính và hoạt động được gán cho mỗi Đẳng Cấp này. Thiên Thần và Tổng Thiên Thần được phái đi như sứ giả trong những việc có tầm quan trọng cao, như Gabriel và Raphael đã từng được phái đi. Các Ngai chiêm ngưỡng vinh quang và sự công bình của các phán quyết thiêng liêng và dạy con người cai trị bằng công lý. Các Chủ Quyền được cho là điều tiết các hoạt động và bổn phận của các thiên thần. Các Lãnh Đạo chủ trì các dân tộc và tỉnh miền, và phụng sự như những vị cai quản thiên thần của các quốc gia trên thế giới. Các Đức Năng có ân tứ làm phép lạ. Các Quyền Năng là lực kiềm chế các tinh thần ác. Cherubim vượt trội trong vẻ huy hoàng của tri thức và nhờ vậy soi sáng nhân loại bằng minh triết; còn Seraphim, vì cháy bỏng nhất trong bác ái thiêng liêng, truyền cảm hứng cho nhân loại bằng phẩm tính ấy. Trong gần như mọi tường thuật Kinh Thánh về các linh ảnh của con người về Thượng Đế, Ngài được mô tả là siêu việt trong vinh quang và được bao quanh bởi vô số thiên thần của Ngài.
Kabbalism, whilst naming them differently, gives to these beings their due place and certain additional functions. In common with other cosmogonies, it postulates the existence of an Absolute as the basis of everything. This is regarded as negative existence or no-thing and has been described as an illimitable abyss of glory. This negative existence' has three veils which are called AIN, meaning the negatively existent, AIN SOPH, the limitless without form, being or likeness with anything else, and AIN SOPH AUR, the limitless light which concentrates into the first and highest Sephira of the Sephirothal Tree called Kether, the Crown. The nine letters AIN SOPH AUR are said to shadow forth the nine Sephiras as hidden ideas or seed-thoughts which, when manifestation begins, are represented by archangelic Beings or Gods. In the description of this process, the Limitless Ocean of Light is said to concentrate a centre, which is the first Sephira, the Crown, which in turn gives birth to the nine others, the last or tenth being called Malkuth, the Kingdom, meaning “all Nature jnanifcsted”. Together, the ten Sephiras represent the emanation and development of the powers and attributes of Deity. Each number is an outward symbol for inner creative forces and processes and their personifications as Archangels or guilders of the universe. Some of these are male and some female, or rather of positive and negative potencies, Deity having conformed Itself thus in order that It could create. Man, being made in the image of Deity, is male and female also.
Ca-ba-la giáo, dù gọi các vị ấy bằng những tên khác, vẫn dành cho các sinh linh này vị trí thích đáng và một số chức năng bổ sung. Cũng như các vũ trụ luận khác, nó nêu giả định về sự hiện hữu của một Tuyệt Đối làm nền tảng của mọi sự. Điều này được xem là hiện hữu phủ định hay không-vật, và đã được mô tả như một vực thẳm vinh quang vô biên. Hiện hữu phủ định này có ba bức màn, được gọi là Vô Hữu, nghĩa là cái hiện hữu theo phủ định, Vô Biên, cái vô hạn không hình tướng, bản thể hay tương đồng với bất cứ điều gì khác, và Ánh Sáng Vô Biên, ánh sáng vô hạn cô đọng thành Xê-phi-ra đầu tiên và cao nhất của Cây Xê-phi-rốt, gọi là Kether, Vương Miện. Chín chữ cái Ánh Sáng Vô Biên được nói là phủ bóng chín Xê-phi-ra như các ý tưởng ẩn giấu hay tư tưởng hạt giống; khi biểu hiện bắt đầu, chúng được biểu thị bởi các Sinh Mệnh Tổng Thiên Thần hay các Thần. Trong sự mô tả tiến trình này, Đại Dương Ánh Sáng Vô Hạn được nói là cô đọng một trung tâm, tức Xê-phi-ra thứ nhất, Vương Miện, đến lượt nó sinh ra chín Xê-phi-ra còn lại, vị cuối hay thứ mười được gọi là Malkuth, Vương Quốc, nghĩa là “toàn thể Thiên Nhiên biểu hiện”. Cùng nhau, mười Xê-phi-ra biểu thị sự xuất lộ và phát triển các quyền năng và thuộc tính của Thượng Đế. Mỗi con số là một biểu tượng bên ngoài cho các mãnh lực và tiến trình sáng tạo bên trong cùng các nhân cách hóa của chúng như các Tổng Thiên Thần hay các đấng xây dựng vũ trụ. Một số vị này là nam và một số là nữ, hay đúng hơn thuộc các tiềm lực dương và âm, vì Thượng Đế đã tự thích ứng như vậy để có thể sáng tạo. Con người, được tạo nên theo hình ảnh của Thượng Đế, cũng là nam và nữ.
KETHER – KETHER
The first Sephira is Number One, the Monad of Pythagoras. As already stated, this Sephira is called Kether, the Crown, and also the Ancient of the Ancient Ones, the Ancient of Days, the Primordial Point, the White Head, the Inscrutable Height and the Vast Countenance or Macroposopus. In its highest and abstract aspect it is in association with Adam Kadmon (the Heavenly Man)—a collective name—who is a synthesis of the whole Sephirothal Tree, the Archetype of all creation and all humanity, and the first Adam of Genesis. He is also called Seir Anpin, “Son of the Concealed Father”, and so in this highest aspect must be regarded as the Logos, the Christos of the Fourth Gospel.
Sephira thứ nhất là Số Một, Chân thần của Pythagoras. Như đã nói, Sephira này được gọi là Kether, Vương Miện, và cũng là Đấng Cổ Xưa của các Đấng Cổ Xưa, Đấng Thái Cổ, Điểm Nguyên Sơ, Đầu Trắng, Độ Cao Khôn Dò và Đại Diện Mạo hay Macroposopus. Trong phương diện cao nhất và trừu tượng nhất, nó liên hệ với Adam Kadmon, Đấng Thiên Nhân—một danh xưng tập thể—vốn là tổng hợp của toàn bộ Cây Sephiroth, Nguyên mẫu của mọi sáng tạo và toàn thể nhân loại, và là Adam thứ nhất của Sáng Thế Ký. Ngài cũng được gọi là Seir Anpin, “Con của Cha Ẩn Tàng”, và vì thế, trong phương diện cao nhất này, phải được xem như Thượng đế Ngôi Lời, Đức Christos của Phúc Âm thứ Tư.
Since one cannot create alone, Kether is said to vibrate across the field of manifestation or to reflect itself in matter to produce a feminine or dyad, from which in turn all creation and all beings emanate, having been hitherto contained within Kether. The Archangel Head of the associated hierarchy of angels is severally named Metatron, Prince of Faces or “beside (or beyond) the Throne”, Angel of the Presence, World Prince, El Shaddai, the Omnipotent and Almighty One, the Messenger and Shekinah, also associated with the cloud of glory which rested on the Mercy Seat upon the Ark of the Covenant, within the Holy of Holies. Shekinah is also regarded as identical with AIR SOPH AUR, the veil of AIR AUR, pre-cosmic Substance or virgin Space, the Mulaprakriti or Parabrahmic root of Hinduism.
Vì một mình thì không thể sáng tạo, Kether được nói là rung động xuyên qua trường biểu hiện, hay phản chiếu chính nó trong vật chất để tạo ra một yếu tố nữ hay nhị nguyên, từ đó đến lượt mọi sáng tạo và mọi sinh linh xuất lộ, vốn trước đó đã được chứa đựng trong Kether. Vị Tổng Lãnh Thiên Thần đứng đầu Huyền giai thiên thần liên hệ được gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau: Metatron, Hoàng Tử của các Diện Mạo hay “bên cạnh hay vượt ngoài Thánh Ngai”, Thiên Thần của Hiện Diện, Hoàng Tử Thế Gian, El Shaddai, Đấng Toàn Năng và Toàn Quyền, Sứ Giả và Shekinah, cũng liên hệ với đám mây vinh quang từng ngự trên Nắp Xá Tội đặt trên Hòm Giao Ước, trong Nơi Chí Thánh. Shekinah cũng được xem là đồng nhất với AIR SOPH AUR, bức màn của AIR AUR, Chất liệu tiền vũ trụ hay Không Gian trinh nguyên, Mulaprakriti hay Parabrahmic căn nguyên của Ấn giáo.
The Order of angels is the Chaioth Ha-Qadesh, “Holy Living Creatures”. They are associated with the Kerubim, are pictured as sphinxes and regarded as Governors of the four elements in their highest sublimation. They would seem to correspond to the Lipika, the Celestial Recorders or “Scribes”, the Agents of Karma of Hinduism. The hierarchy is concerned with the initiation of the whirling motions by means of which primordial atoms or “holes in space” are formed, presumably using the force which in Tibetan is called Fohat, the essence of cosmic electricity, the ever-present electrical energy and ceaseless formative and destructive power in the universe, the universal propelling, vital force, the primum mobile, whose symbol is the svastika. In Kether are thus said to be the “beginnings of the whirls”, the first stirrings of the divine creative Essence. One of the chief duties of the members of this Angelic Hierarchy is to receive this Essence in Kether and carry it to the succeeding hierarchy of the Auphanim or “Wheels”, associated with the second Sephira.
Đẳng cấp thiên thần là Chaioth Ha-Qadesh, “Các Sinh Vật Thánh Thiêng Sống Động”. Các vị này liên hệ với Kerubim, được hình dung như các nhân sư và được xem là các Vị Cai Quản bốn nguyên tố trong sự thăng hoa cao nhất của chúng. Dường như các vị này tương ứng với Lipika, các Đấng Ghi Chép Thiên Thượng hay “Thư Lại”, các Tác Nhân của Nghiệp quả trong Ấn giáo. Huyền giai này liên quan đến việc khởi phát các chuyển động xoáy, nhờ đó các nguyên tử nguyên sơ hay “những lỗ trong không gian” được hình thành, có lẽ bằng cách sử dụng mãnh lực mà trong tiếng Tây Tạng được gọi là Fohat, tinh túy của điện vũ trụ, năng lượng điện luôn hiện diện và quyền năng tạo hình lẫn hủy diệt không ngừng trong vũ trụ, mãnh lực thúc đẩy phổ quát và thiết yếu, primum mobile, có biểu tượng là svastika. Vì thế, trong Kether được nói là có “những khởi đầu của các vòng xoáy”, những chuyển động đầu tiên của Tinh chất sáng tạo thiêng liêng. Một trong những nhiệm vụ chính của các thành viên Huyền Giai Thiên Thần này là tiếp nhận Tinh chất ấy trong Kether và chuyển nó đến Huyền giai kế tiếp là Auphanim hay “Các Bánh Xe”, liên hệ với Sephira thứ hai.
CHOKMAH – CHOKMAH
Kether produces the other nine Sephiras, the second being Chokmah, Wisdom, a masculine active potency or Father reflected from Kether. Chokmah is the second Adam, from whom is produced Eve, and is associated with Microposopus, the Lesser Countenance. The Archangel Head of the Angelic Hierarchy is Ratziel, “the Herald of Deity”, “the Delight of God”. The Order of angels is the Auphanim or “Wheels”, so-called in reference to the vortex, whirlwind or whirlpool-producing action of the primum mobile. From this Order are said to be drawn the Angels of the Planets, who are described in the First Chapter of Ezekiel. The planetary correspondence is with the Zodiac and, in some systems, Uranus.
Kether tạo ra chín Sephira còn lại, Sephira thứ hai là Chokmah, Minh triết, một quyền năng nam tính chủ động hay Cha được phản chiếu từ Kether. Chokmah là Adam thứ hai, từ đó Eve được tạo ra, và liên hệ với Microposopus, Tiểu Diện Mạo. Vị Tổng Lãnh Thiên Thần đứng đầu Huyền Giai Thiên Thần là Ratziel, “Sứ Giả của Thượng đế”, “Niềm Hoan Hỉ của Thượng đế”. Đẳng cấp thiên thần là Auphanim hay “Các Bánh Xe”, được gọi như vậy vì liên hệ đến tác động tạo xoáy, gió lốc hay xoáy nước của primum mobile. Từ Đẳng cấp này, người ta nói, phát sinh các Thiên Thần của các Hành Tinh, được mô tả trong Chương Một của Ezekiel. Sự tương ứng hành tinh là với Hoàng Đạo và, trong một vài hệ thống, với Sao Thiên Vương.
BINAH – BINAH
The third Sephira is a feminine, passive potency called Binah, Intelligence, the Understanding, co-equal and contemporaneous with Chokmah, to whom she is as Eve, the Mother Supernal. Binah is also called Ama, Eternal, combined with Ab, Father, for the maintenance of the universe in order. She is sometimes called the Great Sea and, kabbalistically, these two Powers weave the web of the universe. The Archangel Head is Tzaphqiel, “He who beholds God”, or “Contemplation of God”. The Order of angels is the Arelim, “the Mighty Ones”, the Thrones of Christian angelology. The number Two as a principle is like two straight lines which can never enclose a space, and is therefore powerless till number Three forms a primary triangle. This Binah does, and makes evident the supernal, but not the material, active Trinity. This upper Triad remains in the Archetypal World, whilst the seven Sephiras which follow create, sustain and transform the manifested, material World. The planet associated with Binah is Saturn.
Sephira thứ ba là một quyền năng nữ tính, thụ động, gọi là Binah, Trí thông minh, Sự Thấu Hiểu, đồng đẳng và đồng thời với Chokmah, đối với Chokmah thì bà như Eve, Mẹ Thiên Thượng. Binah cũng được gọi là Ama, Vĩnh Cửu, kết hợp với Ab, Cha, để duy trì vũ trụ trong trật tự. Đôi khi bà được gọi là Biển Cả và, theo Kabbalah, hai Quyền năng này dệt nên tấm lưới của vũ trụ. Vị Tổng Lãnh Thiên Thần đứng đầu là Tzaphqiel, “Đấng chiêm ngưỡng Thượng đế”, hay “Sự chiêm ngưỡng Thượng đế”. Đẳng cấp thiên thần là Arelim, “Các Đấng Hùng Mạnh”, các Ngai trong thiên thần học Kitô giáo. Số Hai như một nguyên khí thì giống hai đường thẳng không bao giờ có thể bao kín một không gian, và vì thế vô lực cho đến khi số Ba tạo thành một tam giác sơ khởi. Binah thực hiện điều này và làm hiển lộ Ba Ngôi thiên thượng, chủ động, nhưng chưa phải là Ba Ngôi vật chất. Tam nguyên thượng này vẫn ở trong Thế Giới Nguyên Mẫu, trong khi bảy Sephira tiếp theo sáng tạo, duy trì và chuyển đổi Thế Giới vật chất, biểu hiện. Hành tinh liên hệ với Binah là Sao Thổ.
The union of Chokmah and Binah, Wisdom and Understanding, produces Supernal Knowledge, called Daath in Kabbalism. Daath itself is not regarded as a Sephira, but is included in some diagrams of the Sephirothal Tree, in which it is placed between Chokmah and Binah.
Sự hợp nhất của Chokmah và Binah, Minh triết và Sự Thấu Hiểu, tạo ra Tri Thức Thiên Thượng, được gọi là Daath trong Kabbalah. Chính Daath không được xem là một Sephira, nhưng được đưa vào một số sơ đồ của Cây Sephiroth, trong đó nó được đặt giữa Chokmah và Binah.
CHESED – CHESED
An active dyad now exists in Chokmah and Binah. Their union produced Chesed, a masculine or active potency. Chesed is Mercy or Love and is also called Gedulah, Greatness or Magnificence. The Archangel Head is Tzadqiel, “Justice of God”, “Righteousness of God”. The Order of angels is the Chasmalim or “Scintillating Flames”, or “Brilliant Ones”. They are the Dominations of Christian angelology and are regarded as angels of light. The planet is Jupiter.
Giờ đây một nhị nguyên chủ động hiện hữu trong Chokmah và Binah. Sự hợp nhất của các vị tạo ra Chesed, một quyền năng nam tính hay chủ động. Chesed là Lòng Từ Bi hay Tình thương và cũng được gọi là Gedulah, Sự Vĩ Đại hay Sự Huy Hoàng. Vị Tổng Lãnh Thiên Thần đứng đầu là Tzadqiel, “Công Lý của Thượng đế”, “Sự Công Chính của Thượng đế”. Đẳng cấp thiên thần là Chasmalim hay “Những Ngọn Lửa Lấp Lánh”, hay “Các Đấng Rực Rỡ”. Các vị là các Quyền Quản Trị trong thiên thần học Kitô giáo và được xem là những thiên thần ánh sáng. Hành tinh là Sao Mộc.
GEBURAH – GEBURAH
From Four or Chesed emanated the feminine, passive, fifth potency, Geburah, Severity, Strength, Fortitude, Justice. This Sephira is also called Pachad, Fear. The Archangel Head is Khamael, “the Right Hand of God”, and is sometimes called the Punishing Angel. The Order of angels is the Seraphim, known in Christian angelology as Powers. They are thus described in Isaiah VI. 1-3:
Từ Bốn hay Chesed xuất lộ quyền năng thứ năm, nữ tính, thụ động: Geburah, Sự Nghiêm Khắc, Sức Mạnh, Kiên Cường, Công Lý. Sephira này cũng được gọi là Pachad, Nỗi Sợ. Vị Tổng Lãnh Thiên Thần đứng đầu là Khamael, “Tay Phải của Thượng đế”, và đôi khi được gọi là Thiên Thần Trừng Phạt. Đẳng cấp thiên thần là Seraphim, được biết trong thiên thần học Kitô giáo là các Quyền Năng. Các vị được mô tả như sau trong Isaiah VI. 1-3:
“I saw also the Lord sitting upon a throne, high and lifted up, and his train filled the temple.
“Tôi cũng thấy Chúa ngự trên một ngai cao và được tôn vinh, và vạt áo của Ngài phủ đầy đền thờ.
“Above it stood the seraphims: each one had six wings; with twain he covered his face, and with twain he covered his feet, and with twain he did fly.
“Phía trên ngai có các seraphim đứng: mỗi vị có sáu cánh; với hai cánh, vị ấy che mặt mình, với hai cánh che chân mình, và với hai cánh vị ấy bay.
“And one cried unto another, and said, Holy, holy, holy, is the Lord of hosts: the whole earth is full of his glory.”
“Và vị này xướng với vị kia rằng: Thánh thay, thánh thay, thánh thay, Chúa Tể các đạo binh: toàn thể địa cầu đầy vinh quang của Ngài.”
The Hebrew name of the Seraphim is translated “Serpents”, and as this is related to the verbal root ShRP, “to burn up”, it may be assumed that these are the fiery Serpents associated with the creative fire and processes in both Nature and man. The planet is Mars.
Tên Hebrew của Seraphim được dịch là “Rắn”, và vì tên này liên hệ với căn ngữ ShRP, “thiêu đốt”, có thể giả định rằng đây là những Rắn lửa liên hệ với lửa sáng tạo và các tiến trình sáng tạo trong cả Thiên Nhiên lẫn con người. Hành tinh là Sao Hỏa.
TIPHERETH – TIPHERETH
From Chesed (masculine) and Geburah (feminine) emanated the sixth and uniting Sephira, Tiphereth, Beauty or Mildness, the heart and centre of the Sephirothal Tree. This is said to be the place allotted by the Israelites to the Messiah and by the early Christians to the Christ. The Archangel Head is Michael, “who is like unto God”. The Order of angels is the Malachim, meaning “Kings” and known in Christianity as Virtues. Another system places Raphael here, and Michael in the eighth Sephira. The “planet” is the Sun.
Từ Chesed nam tính và Geburah nữ tính xuất lộ Sephira thứ sáu và hợp nhất, Tiphereth, Vẻ Đẹp hay Sự Dịu Dàng, trái tim và trung tâm của Cây Sephiroth. Nơi này được nói là chỗ mà người Israel dành cho Đấng Messiah và các Kitô hữu sơ kỳ dành cho Đức Christ. Vị Tổng Lãnh Thiên Thần đứng đầu là Michael, “ai giống như Thượng đế”. Đẳng cấp thiên thần là Malachim, nghĩa là “Các Vua” và trong Kitô giáo được biết là các Đức Hạnh. Một hệ thống khác đặt Raphael ở đây, và Michael ở Sephira thứ tám. “Hành tinh” là Mặt Trời.
In terms of planes of Nature and levels of normal human consciousness, Tiphereth marks both a boundary and a place of union between the Divine and the human, the Macrocosm and the microcosm, the Abstract and the concrete. Here is said to exist, symbolically, Paroketh, the so-called Veil of the temple both of seven-planed Nature and of seven-principled man. This Veil must be pierced by those who would ascend in consciousness the middle pillar of the Tree of Life, liberate themselves from the purely human delusion of separated selfhood which must be “crucified” and enter into realisation of unity with the One Great Self of All. Thereafter the occult forces of the abstract or formless worlds and their angelic directors may be invoked both to quicken human evolution by arousing the hidden forces in the force-centres in the personal nature and body of man and to assist in various kinds of occult work.
Xét theo các cõi của Thiên Nhiên và các cấp độ tâm thức bình thường của con người, Tiphereth đánh dấu cả một ranh giới lẫn một nơi hợp nhất giữa Thiêng Liêng và nhân loại, Đại thiên địa và tiểu thiên địa, Trừu tượng và cụ thể. Ở đây, theo biểu tượng, được nói là có Paroketh, cái gọi là Bức Màn của đền thờ, vừa của Thiên Nhiên thất phân vừa của con người bảy nguyên khí. Bức Màn này phải được xuyên thủng bởi những ai muốn thăng lên trong tâm thức theo trụ giữa của Cây Sự Sống, tự giải thoát khỏi ảo tưởng thuần túy nhân loại về bản ngã biệt lập vốn phải được “đóng đinh” và bước vào chứng nghiệm sự hợp nhất với Đại Ngã Duy Nhất của Tất Cả. Từ đó về sau, các mãnh lực huyền bí của những thế giới trừu tượng hay vô hình tướng cùng các vị chỉ đạo thiên thần của chúng có thể được khẩn cầu, vừa để thúc đẩy tiến hoá nhân loại bằng cách khơi dậy các mãnh lực ẩn tàng trong các trung tâm lực nơi bản chất phàm ngã và thể xác của con người, vừa để trợ giúp trong nhiều loại công việc huyền bí.
By the union of Geburah or Severity, Justice and Chesed or Mercy, Beauty, Harmony, Clemency are produced, and the second Sephirothal Trinity is complete. This sixth Sephira, Tiphereth, with the fourth, fifth, seventh, eighth and ninth, is spoken of as the Microposopus or Lesser Countenance, the reflection into manifestation of Macroposopus, and its antithesis.
Nhờ sự hợp nhất của Geburah hay Sự Nghiêm Khắc, Công Lý với Chesed hay Lòng Từ Bi, Vẻ Đẹp, Hòa Điệu, Sự Khoan Dung được tạo ra, và Ba Ngôi Sephiroth thứ hai được hoàn tất. Sephira thứ sáu này, Tiphereth, cùng với Sephira thứ tư, thứ năm, thứ bảy, thứ tám và thứ chín, được nói đến như Microposopus hay Tiểu Diện Mạo, sự phản chiếu vào biểu hiện của Macroposopus, và là đối cực của nó.
NETZACH – NETZACH
The seventh Sephira is Netzach, Firmness, Victory. The Archangelic Head is called Hamiel, “the Grace of God”, and the Order of angels is the Elohim, “the Gods”, also called Tsarshisim, “Brilliant Ones”, known as Principalities in Christianity. Hamiel, it is, who is said to be thus described in the Book of Daniel, Chapter X. 5, 6:
Sephira thứ bảy là Netzach, Sự Kiên Định, Chiến Thắng. Vị Tổng Lãnh Thiên Thần đứng đầu được gọi là Hamiel, “Ân Sủng của Thượng đế”, và Đẳng cấp thiên thần là Elohim, “Các Thượng đế”, cũng được gọi là Tsarshisim, “Các Đấng Rực Rỡ”, trong Kitô giáo được biết là các Quyền Chủ Trị. Chính Hamiel được nói là được mô tả như sau trong Sách Daniel, Chương X. 5, 6:
“Then I lifted up mine eyes, and looked, and behold a certain man clothed in linen, whose loins were girded with fine gold of Uphaz:
“Bấy giờ tôi ngước mắt lên nhìn, và kìa, một người mặc vải gai, lưng thắt vàng ròng Uphaz:
“His body also was like the beryl and his face as the appearance of lightning, and his eyes as lamps of fire, and his arms and his feet like in colour to polished brass, and the voice of his words like the voice of a multitude.”
“Thân thể người ấy giống như beryl, mặt người ấy như ánh chớp, mắt người ấy như những ngọn đèn lửa, tay và chân người ấy có màu như đồng bóng loáng, và tiếng nói của người ấy như tiếng của một đám đông.”
The planet associated with this Sephira is Venus.
Hành tinh liên hệ với Sephira này là Sao Kim.
HOD – HOD
From Netzach proceeded the feminine, passive potency, Hod, the eighth Sephira, Splendour, the God of Armies. The Archangel Head is Raphael, “Divine Physician”, the Angel of Healing, intermediary between man and God, who is assisted by a hierarchy of ministering angels known in one interpretation as the Beni Elohim, “the Sons of God”, and as Archangels in Christianity. The planet is Mercury.
Từ Netzach phát sinh quyền năng nữ tính, thụ động, Hod, Sephira thứ tám, Sự Huy Hoàng, Thượng đế của các Đạo Binh. Vị Tổng Lãnh Thiên Thần đứng đầu là Raphael, “Lương Y Thiêng Liêng”, Thiên Thần Chữa Lành, trung gian giữa con người và Thượng đế, được trợ giúp bởi một Huyền giai các thiên thần phụng sự, trong một cách diễn giải được biết là Beni Elohim, “Các Con của Thượng đế”, và trong Kitô giáo là các Tổng Lãnh Thiên Thần. Hành tinh là Sao Thủy.
YESOD – YESOD
Hod and Netzach together produced the ninth Sephira. Yesod, the Foundation of Basis, “the Mighty Living One”. The Archangel Head is Gabriel, “the Mighty One of God”. The Order of angels is the Kerubim, “the Holy Living Creatures”, the Angels of Christianity. Evidently an intimate connection exists between the Kerubim of the first Sephira in the supernal worlds and those of Yesod in the etheric counterpart and body of the outer, material universe. They are sometimes called Aishim or “the Flames” and are also referred to as the four angels of the subtle elements of earth, fire, water and air.
Hod và Netzach cùng nhau tạo ra Sephira thứ chín. Yesod, Nền Tảng của Cơ Sở, “Đấng Sống Động Hùng Mạnh”. Vị Tổng Lãnh Thiên Thần đứng đầu là Gabriel, “Đấng Hùng Mạnh của Thượng đế”. Đẳng cấp thiên thần là Kerubim, “Các Sinh Vật Thánh Thiêng Sống Động”, các Thiên Thần của Kitô giáo. Rõ ràng có một mối liên hệ mật thiết giữa Kerubim của Sephira thứ nhất trong các thế giới thiên thượng và Kerubim của Yesod trong đối phần và thể dĩ thái của vũ trụ vật chất bên ngoài. Đôi khi các vị được gọi là Aishim hay “Những Ngọn Lửa” và cũng được nói đến như bốn thiên thần của các nguyên tố vi tế đất, lửa, nước và khí.
The Kerubim are associated with the constellations of Taurus, Leo, Scorpio and Aquarius, or the Bull, the Lion, the Eagle and the Man. Part of their duty is said to be to gather the forces of Nature on the astral plane and pour them into the Kingdom of Earth, Malkuth, and to control them in all their complex manifestations. They are also regarded as agents of the Lipika or Recorders, the Lords of Karma and Regents of the four quarters of the universe. The planet is the Moon. Netzach, Hod and Yesod together complete the third Trinity in the Sephirothal Tree.
Kerubim liên hệ với các chòm sao Kim Ngưu, Sư Tử, Hổ Cáp và Bảo Bình, hay Bò Mộng, Sư Tử, Đại Bàng và Con Người. Một phần nhiệm vụ của các vị được nói là thu gom các mãnh lực của Thiên Nhiên trên cõi cảm dục và tuôn chúng vào Vương Quốc của Trái Đất, Malkuth, đồng thời kiểm soát chúng trong mọi biểu hiện phức tạp. Các vị cũng được xem là tác nhân của Lipika hay các Đấng Ghi Chép, các Chúa Tể của Nghiệp quả và các Vị Nhiếp Chính bốn phương của vũ trụ. Hành tinh là Mặt Trăng. Netzach, Hod và Yesod cùng nhau hoàn tất Ba Ngôi thứ ba trong Cây Sephiroth.
MALKUTH – MALKUTH
From the ninth Sephira came the tenth and last, completing the decade of the numbers. It is called Malkuth, the Kingdom of Earth, all Nature, and also the Queen, Matrona, the Inferior Mother. Malkuth is sometimes called Shekinah and so would seem to represent the veil both of primordial Matter and of physical Nature.
Từ Sephira thứ chín phát sinh Sephira thứ mười và cuối cùng, hoàn tất thập phân của các con số. Nó được gọi là Malkuth, Vương Quốc của Trái Đất, toàn thể Thiên Nhiên, và cũng là Nữ Hoàng, Matrona, Mẹ Hạ Đẳng. Đôi khi Malkuth được gọi là Shekinah và vì thế dường như biểu thị bức màn của cả Vật Chất nguyên sơ lẫn Thiên Nhiên hồng trần.
Two Archangels are associated with Malkuth. They are the Metatron of Kether and his brother and co-worker, Sandalphon, the kabbalistic Prince of Angels. Sandalphon, the Dark Angel, may be regarded as the densely material shakti or power of Metatron, the Bright Angel. Since the physical plane of the planet Earth is the place of the outworking of man’s physical karma, Sandalphon is sometimes regarded as an Angel of personal karma. Metatron, on the other hand, is associated with the Celestial Agents of Karma who are concerned with the karma of the human race as a whole. The Archangel of our Earth in particular is said to be Auriel, “the Light of God”. The Order of angels is the Ishim or “Fires”. No single planet, unless it be the Earth, is allotted to Malkuth, which apparently includes the whole of physical Nature and is concerned with the four subtle and material elements and their use in the building and transformation of the “kingdom” of the visible universe.
Hai Tổng Lãnh Thiên Thần liên hệ với Malkuth. Đó là Metatron của Kether và huynh đệ kiêm cộng sự của Ngài, Sandalphon, Hoàng Tử Thiên Thần theo Kabbalah. Sandalphon, Thiên Thần Hắc Ám, có thể được xem là shakti hay quyền năng vật chất đậm đặc của Metatron, Thiên Thần Sáng Chói. Vì cõi hồng trần của hành tinh Trái Đất là nơi diễn ra nghiệp quả hồng trần của con người,karma, Sandalphon đôi khi được xem là một Thiên Thần của nghiệp quả cá nhân. Mặt khác, Metatron liên hệ với các Tác Nhân Thiên Thượng của Nghiệp quả vốn liên quan đến nghiệp quả của toàn thể nhân loại. Tổng Lãnh Thiên Thần của Trái Đất chúng ta nói riêng được nói là Auriel, “Ánh Sáng của Thượng đế”. Đẳng cấp thiên thần là Ishim hay “Các Ngọn Lửa”. Không có hành tinh đơn lẻ nào, trừ phi là Trái Đất, được gán cho Malkuth, vốn dường như bao gồm toàn bộ Thiên Nhiên hồng trần và liên quan đến bốn nguyên tố vi tế và vật chất cùng việc sử dụng chúng trong công cuộc xây dựng và chuyển đổi “vương quốc” của vũ trụ hữu hình.
THE TREE OF LIFE IN MAN – CÂY SỰ SỐNG TRONG CON NGƯỜI
Such, in part, is the Tree of Life of the Kabbalah, said to be derived from the primeval Secret Doctrine of the East.
Đó, một phần, là Cây Sự Sống của Kabbalah, được nói là có nguồn gốc từ Giáo Lý Bí Nhiệm nguyên thủy của phương Đông.
It is regarded as one of the great master symbols and keys of occult science. With the Hebrew alphabet, it is said to exemplify the principle that evolution is simple or single at the source, and infinitely complex in manifestation.
Nó được xem là một trong những biểu tượng chủ yếu và chìa khóa vĩ đại của khoa học huyền bí. Cùng với bảng chữ cái Hebrew, nó được nói là minh họa nguyên lý rằng tiến hoá thì đơn giản hay đơn nhất tại nguồn, và phức tạp vô hạn trong biểu hiện.
This mathematical diagram sets forth a system by which man can rise to spiritual heights by manifesting in and through himself the qualities of the ten Sephiras. As he awakens in himself his inherent powers, represented in the universe by each of the ten Sephiras, and in himself physically by his nerve and glandular centres and superphysically by his chakras and their vivifying triune Serpent Fire, he enters into conscious rapport with the Orders of angels associated with each, and ultimately with their Archangelic Heads. Thus attuned, he collaborates with them and they with him, in the fulfilment of the Great Work to which both angels and men are called.
Sơ đồ toán học này trình bày một hệ thống nhờ đó con người có thể vươn đến những độ cao tinh thần bằng cách biểu hiện trong và qua chính mình các phẩm tính của mười Sephira. Khi y đánh thức trong chính mình các quyền năng cố hữu, được biểu thị trong vũ trụ bởi mỗi một trong mười Sephira, và trong chính y về mặt hồng trần bởi các trung tâm thần kinh và tuyến, còn về mặt siêu hồng trần bởi các chakra cùng Lửa Rắn tam phân làm sinh động chúng, y đi vào mối liên hệ có ý thức với các Đẳng cấp thiên thần liên hệ với từng Sephira, và cuối cùng với các Vị Tổng Lãnh Thiên Thần đứng đầu của các Đẳng cấp ấy. Được điều hợp như vậy, y cộng tác với các vị và các vị cộng tác với y, trong việc hoàn thành Đại Công Trình mà cả thiên thần lẫn con người đều được kêu gọi tham dự.
In every man, indeed, exist potentially Rashith Ha-Galgalim, the primum mobile, the beginning of whirling motions of Kether; the Masloth, the sphere of the Zodiac, of Chokmah; the Shabbathai or rest, Saturn of Binah; the Tzedeq, righteousness, Jupiter of Chesed; the Madim, vehement strength, Mars of Geburah; the Shemesh, the solar light, the Sun of Tiphereth; the Nogah, glittering splendour, Venus of Netzach; the Kokab, the stellar light, Mercury of Hod; the Levanah, the lunar flame, the Moon of Yesod; the Cholom Yesodoth, the breaker of the foundations, the elements of Malkuth. All these exist potentially within every man, and throughout his existence he gradually unfolds the whole pattern and image of Deity which ultimately is made manifest in him. Then he fulfils his destiny as enunciated by our
Thật vậy, trong mỗi người đều tiềm tàng Rashith Ha-Galgalim, primum mobile, khởi đầu của các chuyển động xoáy của Kether; Masloth, khối cầu của Hoàng Đạo, thuộc Chokmah; Shabbathai hay sự nghỉ ngơi, Sao Thổ của Binah; Tzedeq, sự công chính, Sao Mộc của Chesed; Madim, sức mạnh dữ dội, Sao Hỏa của Geburah; Shemesh, ánh sáng mặt trời, Mặt Trời của Tiphereth; Nogah, vẻ huy hoàng lấp lánh, Sao Kim của Netzach; Kokab, ánh sáng tinh tú, Sao Thủy của Hod; Levanah, ngọn lửa mặt trăng, Mặt Trăng của Yesod; Cholom Yesodoth, kẻ phá vỡ các nền tảng, các nguyên tố của Malkuth. Tất cả những điều này đều tiềm tàng trong mỗi người, và trong suốt cuộc hiện tồn của mình, y dần dần khai mở toàn bộ mô hình và hình ảnh của Thượng đế, điều cuối cùng sẽ được biểu hiện nơi y. Bấy giờ y hoàn thành định mệnh của mình như đã được Chúa của chúng ta
Lord: “Ye shall be perfect, even as your Father which is in heaven is perfect”, and completes, as far as he himself is concerned, the Great Work.
phán: “Các ngươi hãy nên hoàn thiện, như Cha các ngươi ở trên trời là hoàn thiện”, và, trong chừng mực liên quan đến chính y, hoàn tất Đại Công Trình.
THE AURIC TREE OF LIFE – CÂY SỰ SỐNG HÀO QUANG
In the diagram, the Auric Tree of Life, an attempt is made to portray the microcosmic tree as it presumably exists in man. This diagram shows the areas in the subtle bodies which are vibrating in unison with the Regents of the planets and the Zodiacal Signs, each of whom have their representations in the nature, the aura and the physical body of man, thereby linking Macrocosm with microcosm.
Trong sơ đồ, Cây Sự Sống Hào Quang, người ta cố gắng mô tả cây tiểu thiên địa như nó có lẽ hiện hữu trong con người. Sơ đồ này cho thấy những vùng trong các thể vi tế đang rung động đồng điệu với các Vị Nhiếp Chính của các hành tinh và các Dấu Hiệu Hoàng Đạo, mỗi vị đều có sự biểu hiện của mình trong bản chất, hào quang và thể xác của con người, nhờ đó nối kết Đại thiên địa với tiểu thiên địa.
The middle pillar of the diagram corresponds to the spinal cord and the feminine column containing Binah, Geburah and Hod would be on the right side, and the masculine pillar containing Chokmah, Chesed and Netzach on the left. These three currents of force may also refer to the threefold creative Serpent Fire in Nature and in man with its triple currents and their channels called Ida (feminine), Pingala (masculine) and Sushumna (neutral and spinal).
Trụ giữa của sơ đồ tương ứng với tủy sống, và cột nữ tính chứa Binah, Geburah và Hod sẽ ở bên phải, còn trụ nam tính chứa Chokmah, Chesed và Netzach ở bên trái. Ba dòng mãnh lực này cũng có thể quy chiếu đến Lửa Rắn sáng tạo tam phân trong Thiên Nhiên và trong con người, với ba dòng của nó và các kênh của chúng gọi là Ida nữ tính, Pingala nam tính và Sushumna trung tính và thuộc cột sống.
If the two currents of force represented by the two pillars (white in the diagram) in the front of the aura are followed over the head, where they will presumably cross, then they will travel down the back of the aura (black in the diagram) on opposite sides to make four pillars in all, with the central one in the midst.
Nếu hai dòng mãnh lực được biểu thị bởi hai trụ, màu trắng trong sơ đồ, ở phía trước hào quang được lần theo lên trên đầu, nơi chúng có lẽ sẽ giao nhau, thì chúng sẽ đi xuống phía sau hào quang, màu đen trong sơ đồ, ở hai bên đối diện, tạo thành tổng cộng bốn trụ, với trụ trung tâm ở giữa.
In practical, esoteric Kabbalism these forces, chakras and correspondences with the Creative Intelligences of the universe are aroused into conscious activity by means of various forms of meditation, ritual invocations to the Gods who are addressed by their Divine Names and other mantric titles, magical ceremonials and very potent prayers. This Chapter closes with one version of an ancient kabbalistic prayer.
Trong Kabbalah huyền bí thực hành, các mãnh lực, chakra và các tương ứng này với những Trí Tuệ Sáng Tạo của vũ trụ được đánh thức vào hoạt động có ý thức bằng nhiều hình thức tham thiền, các lời khẩn cầu nghi lễ dâng lên các Thượng đế được xưng hô bằng các Danh Xưng Thiêng Liêng của các Ngài và những tước hiệu mantric khác, các nghi lễ huyền thuật và những lời cầu nguyện rất mạnh mẽ. Chương này kết thúc bằng một phiên bản của một lời cầu nguyện Kabbalah cổ xưa.
Universal God, One Light, One Life, One Power,
Thượng đế Phổ Quát, Một Ánh Sáng, Một Sự Sống, Một Quyền Năng,
Thou All in All, beyond expression, beyond comprehension, Oh,
Ngài là Tất Cả trong tất cả, vượt ngoài diễn đạt, vượt ngoài thấu hiểu, Ôi,
Nature! Thou something from No-thing,
Thiên Nhiên! Ngài là một điều gì đó phát sinh từ Không-gì-cả,
Thou symbol of Wisdom,
Ngài là biểu tượng của Minh triết,
In myself I am nothing,
Trong chính tôi, tôi chẳng là gì,
In Thee I am I.
Trong Ngài, tôi là Tôi.
I live in Thee,
Tôi sống trong Ngài,
Live Thou in me,
Xin Ngài sống trong tôi,
And bring me out of the region of self,
Và đưa tôi ra khỏi vùng của bản ngã,
Into the eternal Light.
Vào Ánh Sáng vĩnh cửu.
AMEN
AMEN
THE TEN SEPHIROTH – MƯỜI SEPHIROTH
AIN, the negatively existent
AIN, cái hiện hữu theo nghĩa phủ định
AIN SOPH, the limitless
AIN SOPH, cái vô hạn
AIN SOPH AUR, the limitless light
AIN SOPH AUR, ánh sáng vô hạn
ADAM KADMON, THE HEAVENLY MAN, THE LOGOS
ADAM KADMON, ĐẤNG THIÊN NHÂN, THƯỢNG ĐẾ NGÔI LỜI
In Whom the Ten Sephiroth Are Synthesised and from whom they emanate
Trong Ngài, mười Sephiroth được tổng hợp và từ Ngài chúng xuất lộ
NUMBER NAME MEANING
ORDER OF ANGELS MEANING FUNCTION
ARCHANGEL MEANINGS
CLASSIFICATIONS
PLANE PRINCIPLE
OF MAN PLANET
FUNCTION DIVINE NAME AND MEANING
INVERSE SEPHIRAS
ORDERS
ARCH-DEMONS
KETHER Crown
CHERUBIM
Holy living creatures (4-faced)Solar Lipika In Yetzirah
METATRON Angel of the Presence
World Prince Shekinah
In Briah
Positive Yod of Tetra-grammaton Atziluth Archetypal Macroposopus
Adi Chiah Primum Moblie
Emanates Nine Sephiras Eheieh (I am) The Lord who Blinks
Thamiel
Satan-Moloch
CHOKMAH Wisdom
AUPHANIM
Cherubim Wheels
RATZIEL The Herald of Deity
Positive Yod Briah Creative The Throne of Glory
Anupadaka Chiah Zodiac
The Father Jehovah Existence as male and female
Chaigidel
Beelzebub-God of Files God of the Sacred Scarabei God of the Dwelling
BINAH Intelligence
ARELIM Mighty Oaes Thrones
TZAPHQIEL Contemplation of God
Negative He Briah
Atma Spiritual Will Nechamah Saturn
The Supernal Mother Jehovah Elohim. Exist-ence as Gods
Satariel
Lucifuge
CHESED
Mercy
CHASHMALIM Brilliant Ones Dominations
TZADQIEL Justice of God
Positive Vau Yetzirah Microposopus
Buddhi Intuition Jupiter
EI
Gamchico-th
Ashtaroth
GEBURAH
SSERAPHIM Burning, Fiery Serpents Powers
KHAMAEL SAMAEL Severity of God
Negative Vau Yetzirah Microposopus
Higher Mind Casual Body and Ruach Mars or Saturn
Elohim Gibor
Galab
Asmodeus The evil spirit of concupiscen-ce Ashmedai the Destroyer
TIPHERETH beauty Clemency The Spiritual Sun
MALACHIM Kings Virtues
MICHAEL Like unto God
Androgyne Vau Yetzirah Microposopus
Middle mind Antahkarana Ruach And Auric Envelope Sun
Eloah
Vadaeth
Tagaririm
Belphegor
NETZACH
Victory
ELOHIM
Gods Tsarshisim Brilliant Ones Principalities
HAMIEL Grace of God
Positive Vau Yetzirah Microposopus
Astral Emotional Body and Ruach Venus
The Fighting God JehovahTzabaoth The Lord of Sabaoth
Harab-Serapel
Baal
HOD Splendour
BENI ELOHIM Sons of God Wind Brcath Holy Ghost Archangels
RAPHAEL Divine Physician
Negative Vau Yetzirah Microposopus
Lower Mind Mental Body and Ruach Mercury and Mars
Elohim Tzabaoth
Samael Incarnation of Human Vices Death Satan
Adrammalech
YESOD Foundation
CHERUBIM
Four beasts whatchers Angels
GABRIEL Man-God
Androgyne Vau Yetzirah Microposopus
Etheric Etheric Body and Nephesch Prana-Kama Moon
A Nursing Mother Shaddai EI Chai The Pourer Forth
Gamalied
Lilith, First Wife of Adam Night Lamia or Female Demon
MALKUTH Kingdom The material Universe
KLIPOTH
ISHIM The Multitude of the Redeemed
Metatron (second phase) Sandalphon Messias
Negative He Asiah
Physical Veil of Nephesch - Physical Body Four Element
The Inferior Mother Bride and Queen of Microposopus Adonai Melekh Lord King
Nahemoth
Nahema
The world of darknes and shells, elementaries, evil spirits, demons
CHAPTER V THE INVERSE SEPHIRAS AND THE PROBLEM OF EVIL – CHƯƠNG V CÁC SEPHIRA ĐẢO NGHỊCH VÀ VẤN ĐỀ CÁI ÁC
SATAN AND ARMAGEDDON – SATAN VÀ ARMAGEDDON
IN occult philosophy, Deity is Eternal Life, manifested in form according to numerical law in Manvantara and unmanifest in any form conceivable by the human mind in Pralaya. In one aspect, Satan is Eternal Substance, resistingly shaped into forms by the One Life during Manvantara, and remaining formless during Pralaya.
TRONG triết học huyền bí, Thượng đế là Sự Sống Vĩnh Cửu, biểu hiện trong hình tướng theo định luật số học trong Giai kỳ sinh hóa và không biểu hiện trong bất cứ hình tướng nào mà thể trí con người có thể quan niệm được trong Giai kỳ qui nguyên. Theo một phương diện, Satan là Chất liệu Vĩnh Cửu, được Đấng Duy Nhất uốn nắn một cách kháng cự thành các hình tướng trong Giai kỳ sinh hóa, và vẫn vô hình tướng trong Giai kỳ qui nguyên.
The Archangels and angels in their ten Orders make manifest Eternal Life according to the “Word”. In one of their many aspects, the Inverse Sephiras are expressions of Eternal Substance and its inherent spirit of resistance to Life. In man these two meet, and his Herculean task is to bring them to perfect equipoise. As adept, he achieves this in his own nature. As Logos, he establishes it in a Solar System of his own emanation. Since man is the only being in whom spirit and matter are equally present, he becomes the battleground of the universe. Armageddon is waged within him. The spirit in him suffers continual “defeat” until the day of the development of the Higher Mind. From that time onwards, the “defeat” of matter is assured. When the light of intuition begins to shine within man, victory is in his hands. As a race he then establishes brotherhood on his Planetary home. As an individual he “enters the Stream”,becoming an Initiate of the Greater Mysteries, and later an Adept.
Các Tổng Lãnh Thiên Thần và thiên thần trong mười Đẳng cấp của các Ngài làm biểu hiện Sự Sống Vĩnh Cửu theo “Linh từ”. Trong một trong nhiều phương diện của mình, các Sephira Đảo Nghịch là những biểu hiện của Chất liệu Vĩnh Cửu và tinh thần kháng cự cố hữu của nó đối với Sự Sống. Trong con người, hai điều này gặp nhau, và nhiệm vụ như Hercules của y là đưa chúng đến trạng thái quân bình hoàn hảo. Với tư cách chân sư, y đạt được điều này trong bản chất của chính mình. Với tư cách Thượng đế Ngôi Lời, y thiết lập nó trong một Hệ mặt trời do chính y xuất lộ. Vì con người là sinh linh duy nhất trong đó tinh thần và vật chất hiện diện ngang nhau, y trở thành chiến trường của vũ trụ. Armageddon được tiến hành bên trong y. Tinh thần trong y chịu “thất bại” liên tục cho đến ngày Thượng trí phát triển. Từ đó trở đi, “thất bại” của vật chất là điều chắc chắn. Khi ánh sáng của trực giác bắt đầu chiếu rạng trong con người, chiến thắng nằm trong tay y. Với tư cách một nhân loại, bấy giờ y thiết lập tình huynh đệ trên quê nhà Hành Tinh của mình. Với tư cách cá nhân, y “nhập Lưu”,trở thành một điểm đạo đồ của các Bí Nhiệm Lớn, và về sau là một Chân sư.
As manifested powers, both spirit and matter are septenates, and find expression in and through seven principles. Those of Deity are the modifications in Divine consciousness of which the seven states of matter are the material product. The seven principles of Satan, in the occult sense, are those seven planes of matter and their seven sub-planes. Neither Satan as a personal devil, an isolated embodiment of infamy, nor God as an extra-Cosmic, almighty, infinite yet personal, moral Governor, whose laws can be abrogated or modified by personal persuasion or bargaining, as assumed in the popular imagination or the theological mind, has any place in occult philosophy. There is truth in the concept of a Cosmic pair of opposites, spirit and matter, activity and inertia, construction and destruction, I-am-ness and I-am-all-ness, but their man-made images are a delusion.
Như các quyền năng biểu hiện, cả tinh thần lẫn vật chất đều là những thất phân, và tìm thấy biểu hiện trong và qua bảy nguyên khí. Các nguyên khí của Thượng đế là những biến thái trong tâm thức Thiêng Liêng mà bảy trạng thái của vật chất là sản phẩm vật chất của chúng. Bảy nguyên khí của Satan, theo nghĩa huyền bí, là bảy cõi vật chất ấy và bảy cõi phụ của chúng. Cả Satan như một ác quỷ cá nhân, một hiện thân cô lập của sự đê tiện, lẫn Thượng đế như một Đấng Cai Quản đạo đức, toàn năng, vô hạn nhưng có tính cá nhân, ở ngoài Vũ trụ, mà các định luật của Ngài có thể bị bãi bỏ hay sửa đổi bằng sự thuyết phục cá nhân hoặc mặc cả, như trí tưởng tượng bình dân hay tâm trí thần học giả định, đều không có chỗ trong triết học huyền bí. Có chân lý trong quan niệm về một cặp đối cực Vũ trụ: tinh thần và vật chất, hoạt động và quán tính, xây dựng và hủy diệt, tính Ta-là và tính Ta-là-tất-cả, nhưng các hình ảnh do con người tạo ra về chúng chỉ là ảo tưởng.
Nevertheless, in their exoteric aspects, almost all religions have promulgated the idea of an Evil Being in perpetual opposition to the Supreme Deity. Popular Christianity is no exception, though, as is the case with so many of its doctrines, the Satanic form has changed with the passage of time. Dante described the Devil as a giant with three heads, coloured red, yellow and black. Milton and Goethe presented a tragic, yet heroic and even reasonable, man of the world. The Devil has also been made to wear a one-piece suit of red and to be armed with* a pitchfork. Behind these popular images is a concept of Satan as a fallen angel, a once-pure spirit, continually tempting man to sin. Since evil is a negative quality, being merely the lack of good in man, and Satan is the embodiment of that evil, he cannot be regarded as a positive, existing principle. Rather does he represent the absence of the good, empty spaces in the omnipresent web of the universe, interstices, perhaps, in the warp and weft upon which the great Weaver perpetually weaves, or manifests outwardly, Divine ideas.
Tuy nhiên, trong các phương diện ngoại môn của chúng, hầu như mọi tôn giáo đều đã truyền bá ý tưởng về một Sinh Mệnh Ác trong sự đối lập vĩnh viễn với Thượng đế Tối Cao. Kitô giáo bình dân cũng không ngoại lệ, mặc dù, như trường hợp của rất nhiều giáo lý của nó, hình tướng Satan đã thay đổi theo thời gian. Dante mô tả Quỷ Dữ như một gã khổng lồ có ba đầu, mang màu đỏ, vàng và đen. Milton và Goethe trình bày một con người của thế gian bi kịch, nhưng anh hùng và thậm chí hợp lý. Quỷ Dữ cũng đã bị làm cho mặc một bộ đồ liền thân màu đỏ và cầm* một cây chĩa. Đằng sau những hình ảnh bình dân này là quan niệm về Satan như một thiên thần sa ngã, một tinh thần từng thanh khiết, liên tục cám dỗ con người phạm tội. Vì cái ác là một phẩm tính tiêu cực, chỉ là sự thiếu vắng điều thiện trong con người, và Satan là hiện thân của cái ác ấy, y không thể được xem là một nguyên khí hiện hữu, tích cực. Đúng hơn, y biểu thị sự vắng mặt của điều thiện, những khoảng trống trong tấm lưới toàn hiện của vũ trụ, có lẽ là những kẽ hở trong sợi dọc và sợi ngang trên đó Đấng Dệt Vĩ Đại mãi mãi dệt nên, hay biểu hiện ra bên ngoài, các ý tưởng Thiêng Liêng.
The existence of both Devil and evil is intimately associated with the attribute of free-will in man. Within the structure of cosmic law, and apart from the irresistible evolutionary thrust, man possesses the freedom to think, plan, speak and act either in accordance with Nature’s purpose or against it. When, whether consciously or unconsciously, he operates against it, he becomes an antagonist of cosmic purpose. In consequence, he generates for himself adverse or “evil” experiences and conditions of life. If he continues, he tends to become cut oif from the currents of the universal Life-force, isolated, a being of death rather than of life. Some men have thus continued to exercise their freedom of action. They are the so-called black magicians, the Dark Powers, the followers of the Left Hand Path, the Lords of the Dark Face, the dread Brothers of the Shadow. Their destiny is not to be annihilated, but to sink into the condition known as Avichi, the “wave-less”, the opposite pole to Nirvana to which the Adepts of the Right Hand Path attain. Ultimately, in a later cycle of manifestation, these who become highly developed embodiments of self-separateness re-embark upon the involutionary and evolutionary journey. Satan himself, if regarded as an existent being, would seem to have exercised this freedom; for at some time he must have chosen a path of individualistic, self-separative motive and action.
Sự hiện hữu của cả Quỷ Dữ lẫn cái ác liên hệ mật thiết với thuộc tính ý chí tự do trong con người. Bên trong cấu trúc của định luật vũ trụ, và ngoài xung lực tiến hoá không thể cưỡng lại, con người có tự do suy nghĩ, lập kế hoạch, nói năng và hành động hoặc phù hợp với mục đích của Thiên Nhiên, hoặc chống lại nó. Khi, dù có ý thức hay vô thức, y vận hành chống lại mục đích ấy, y trở thành kẻ đối kháng với mục đích vũ trụ. Do đó, y tạo ra cho chính mình những kinh nghiệm và điều kiện sống bất lợi hay “ác”. Nếu y tiếp tục, y có khuynh hướng bị cắt lìa khỏi các dòng của Mãnh lực Sự Sống phổ quát, trở nên cô lập, một sinh linh của chết hơn là của sống. Một số người đã tiếp tục sử dụng tự do hành động của mình như vậy. Họ là những nhà hắc thuật được gọi như thế, các Quyền Lực Hắc Ám, những người theo tả đạo, các Chúa Tể của Diện Mạo Hắc Ám, những Huynh Đệ đáng sợ của Bóng Tối. Định mệnh của họ không phải là bị tiêu diệt, mà là chìm vào trạng thái được biết là Avichi, cái “không sóng”, cực đối lập với Niết Bàn mà các Chân sư của chánh đạo đạt tới. Cuối cùng, trong một chu kỳ biểu hiện về sau, những kẻ trở thành các hiện thân phát triển cao của sự tự biệt lập lại lên đường trong hành trình giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá. Chính Satan, nếu được xem như một sinh linh hiện hữu, dường như đã sử dụng sự tự do này; vì vào một thời điểm nào đó, y hẳn đã chọn một con đường của động cơ và hành động cá nhân chủ nghĩa, tự phân ly.
Thus, in one aspect, Satan is a personification of Ahamkara, the I-making impulse from which arises the delusion of self-separateness within omnipresent Spirit-Life. All evil, and in consequence all human sorrow, is said to spring from this heresy of “separateness”. In another aspect, the fabulous monster which is the Satan of popular theology may be regarded as an excuse, a scapegoat, someone to take the blame for the errors into which humanity falls whilst passing through the purely emotional and mental (especially) phases of its evolution.
Như vậy, theo một phương diện, Satan là sự nhân cách hóa của Ahamkara, xung lực tạo cái Tôi, từ đó phát sinh ảo tưởng về sự tự biệt lập trong Tinh Thần-Sự Sống toàn hiện. Mọi cái ác, và do đó mọi khổ đau của con người, được nói là phát sinh từ tà thuyết “biệt lập” này. Theo một phương diện khác, con quái vật huyền thoại vốn là Satan của thần học bình dân có thể được xem như một lời bào chữa, một vật tế thần, một kẻ gánh tội cho những sai lầm mà nhân loại rơi vào khi đi qua các giai đoạn thuần cảm xúc và trí tuệ, đặc biệt là trí tuệ, trong tiến hoá của mình.
The action of the Inverse Sephira, Beelzebub, “God of Flies”, Prince of Devils, may be taken as an example of the place granted in occult philosophy to some of the dark Numerations. They are regarded in general as personifications of the resistance of matter to the harmonising process which Nature must achieve in and through her son—man—before the close of Maha-Manvantara. This resistance cannot with truth be regarded as evil, since without it there could be no development and expression of latent powers.
Hoạt động của Sephira Đảo Nghịch, Beelzebub, “Thượng đế của Ruồi”, Hoàng Tử của Quỷ Dữ, có thể được lấy làm ví dụ về vị trí dành trong triết học huyền bí cho một số Phân Số hắc ám. Nói chung, chúng được xem là những nhân cách hóa của sự kháng cự của vật chất đối với tiến trình hài hòa hóa mà Thiên Nhiên phải đạt được trong và qua con của bà—con người—trước khi Đại giai kỳ sinh hóa kết thúc. Sự kháng cự này không thể thật sự được xem là cái ác, vì nếu không có nó thì các quyền năng tiềm tàng không thể phát triển và biểu hiện.
As the scarab beetle encloses the seed of its life in a ball of mud, so, it would seem, does Beelzebub, also named Lord of Scarabs, enshroud the Monads of men in material vehicles. Having performed its enclosing function, the scarab rolls the ball of mud to a sunny spot and leaves it to its own devices and to the influence of the sun. Ultimately the egg hatches and brings forth the larva which becomes the winged scarab, in its turn parent of further eggs. Beelzebub, in its esoteric meaning, may perhaps be regarded as a personification of that impulse, which the scarab shares with all Nature, to enclose life in forms, Monads in bodies, and to send them forth on their cyclic journeyings or bind them to the wheel of major and minor cycles. That is probably why the scarab was sacred in Egypt; for as an insect, it habitually exhibits one of Nature’s most mysterious powers and attributes.
Như bọ hung bao bọc hạt giống sự sống của nó trong một viên bùn, thì dường như Beelzebub, cũng được gọi là Chúa Tể của Bọ Hung, cũng che phủ các chân thần của con người trong các vận cụ vật chất. Sau khi thực hiện chức năng bao bọc, bọ hung lăn viên bùn đến một nơi có nắng và để nó tự xoay xở, dưới ảnh hưởng của mặt trời. Cuối cùng, trứng nở và sinh ra ấu trùng, rồi trở thành bọ hung có cánh, đến lượt nó lại là cha mẹ của những trứng khác. Theo ý nghĩa huyền bí, Beelzebub có lẽ có thể được xem như sự nhân cách hóa của xung lực mà bọ hung cùng chia sẻ với toàn thể Thiên Nhiên: bao bọc sự sống trong các hình tướng, các chân thần trong các thể, và đưa chúng ra đi trên những cuộc hành trình chu kỳ của chúng, hoặc buộc chúng vào bánh xe của các chu kỳ lớn và nhỏ. Có lẽ đó là lý do tại sao bọ hung được xem là thiêng liêng ở Ai Cập; vì với tư cách một côn trùng, nó thường xuyên biểu lộ một trong những quyền năng và thuộc tính huyền nhiệm nhất của Thiên Nhiên.
One Order of the Inverse Sephiras, possibly the second and third Numerations, are Intelligences who fashioned the mental, emotional and etheric-physical bodies of the first three Races of men to inhabit this earth in this world period. These Pitris, as they are called in Hinduism, also fulfilled the office of “inducting “or “luring “the Monad-Egos of those Races into the bodies which they had constructed for them. Since this materialising function appears evil from the point of view of the evolutionary arc which tends towards spiritualisation, these Intelligences are sometimes referred to as the Satanic Hierarchies. As is stated in Part V, “The Miracle of Birth and the World Mother”, when investigating the descent of human Egos into birth, I received evidence that a corresponding function is still performed by members of the Angelic Hosts for all human beings on the pre-natal or downward “arc “of the cycle of each successive birth, when the Ego projects a ray of its power, life and consciousness from the realm of Spiritual Intelligence in which it abides. Members of one Order of the Angelic Hosts assist in building the mental, emotional, etheric-physical bodies, in their mutual adjustment and in the induction of human consciousness into them.
Một Đẳng cấp của các Sephira Nghịch, có thể là các Số Đếm thứ hai và thứ ba, là những Trí Tuệ đã tạo dựng các thể trí, cảm xúc và dĩ thái-hồng trần của ba Giống dân đầu tiên của nhân loại cư ngụ trên Trái Đất này trong chu kỳ thế giới này. Các Pitris, như chúng được gọi trong Ấn giáo, cũng hoàn thành chức năng “dẫn nhập “hay “lôi cuốn “các Chân thần-Chân ngã của những Giống dân ấy vào các thể mà chúng đã kiến tạo cho họ. Vì chức năng vật chất hóa này có vẻ là ác từ quan điểm của cung tiến hóa vốn hướng đến sự tinh thần hóa, nên những Trí Tuệ này đôi khi được gọi là các Huyền Giai Satan. Như đã nêu trong Phần Năm, “Phép Lạ của Sự Sinh và Mẹ Thế Giới”, khi khảo sát sự giáng hạ của các Chân ngã con người vào sự sinh ra, tôi đã nhận được bằng chứng rằng một chức năng tương ứng vẫn còn được các thành viên của các Đạo Binh Thiên Thần thực hiện cho mọi con người trên cung tiền-sinh hay giáng hạ “cung “của chu kỳ mỗi lần sinh kế tiếp, khi Chân ngã phóng chiếu một tia quyền năng, sự sống và tâm thức của nó từ cõi Trí Tuệ Tinh Thần nơi nó an trú. Các thành viên của một Đẳng cấp thuộc các Đạo Binh Thiên Thần trợ giúp trong việc xây dựng các thể trí, cảm xúc, dĩ thái-hồng trần, trong sự điều chỉnh lẫn nhau của chúng và trong việc dẫn nhập tâm thức con người vào chúng.
Whilst the enshrouding, burying, embodying function of certain of the Inverse Sephiras does impose temporary limitations upon the life within, it cannot truly be regarded as evil. Neither can the Intelligences concerned with these processes, be regarded, with any truth, as Satanic; for descent is essential to ascent, temporary embodiment to the development of latent powers. In the Egyptian religion, the God “Khepera, ‘he who rolls was the ‘father’ of the Gods and the creator of all things in heaven and earth ... self-begotten and self-born . . . identified with the rising sun and new birth generally.”
Dù chức năng che phủ, chôn vùi, nhập thể của một số Sephira Nghịch quả thật áp đặt những giới hạn tạm thời lên sự sống bên trong, nó không thể thực sự được xem là ác. Những Trí Tuệ liên quan đến các tiến trình này cũng không thể, với bất cứ chân lý nào, được xem là Satan; vì sự giáng hạ là thiết yếu cho sự thăng lên, sự nhập thể tạm thời là thiết yếu cho sự phát triển các quyền năng tiềm tàng. Trong tôn giáo Ai Cập, vị Thượng đế “Khepera, ‘đấng lăn’ là ‘cha’ của các Thần và là đấng sáng tạo mọi sự trên trời và dưới đất... tự sinh và tự xuất sinh... được đồng nhất với mặt trời mọc và sự sinh mới nói chung.”
In Kabbalism, the Inverse Sephiras are opposite Numerations to the Superior Sephiras. They are personifications of functions apparently opposed to those which the Superior Sephiras perform. The former are on the side of matter and the latter on that of spirit. The former accentuate the guna of tamas, the latter rajas. The middle pillar in the diagram of the Sephirothal Tree represents, in one aspect, man the harmoniser, the balancer, the embodied principle of equilibrium. His office in the universe is to establish and maintain sattva.
Trong Kabbalism, các Sephira Nghịch là những Số Đếm đối nghịch với các Sephira Thượng Đẳng. Chúng là sự nhân cách hóa của các chức năng dường như đối lập với những chức năng mà các Sephira Thượng Đẳng thực hiện. Nhóm trước đứng về phía vật chất, còn nhóm sau đứng về phía tinh thần. Nhóm trước nhấn mạnh guna của tamas, nhóm sau rajas. Cột giữa trong đồ hình của Cây Sephiroth biểu trưng, theo một phương diện, cho con người là kẻ điều hòa, kẻ quân bình, nguyên khí nhập thể của sự quân bình. Chức năng của y trong vũ trụ là thiết lập và duy trì sattva.
The symbol of involution, the blazing sword with curved blade, resembling a lightning flash, is portrayed in the Tree of Life by means of a line drawn from Kether through Chokmah, Binah. Chesed, Geburah, Tiphereth, Netzach, Hod and Yesod into Malkuth. The evolutionary path, symbolised by the caduceus, the wand of Hermes, in one of its many meanings, is obtained by two lines rising from Malkuth, proceeding upwards and crossing over at each Sephira of the central pillar.
Biểu tượng của giáng hạ tiến hóa, thanh kiếm rực lửa với lưỡi cong, giống như tia chớp, được mô tả trong Cây Sự Sống bằng một đường kẻ từ Kether qua Chokmah, Binah, Chesed, Geburah, Tiphereth, Netzach, Hod và Yesod vào Malkuth. Con đường thăng thượng tiến hoá, được biểu tượng bằng trượng caduceus, cây gậy của Hermes, theo một trong nhiều ý nghĩa của nó, được tạo thành bởi hai đường đi lên từ Malkuth, tiến lên trên và giao nhau tại mỗi Sephira của cột trung tâm.
THE ARCH-FIENDS – CÁC ĐẠI ÁC MA
The Inverse Sephiras in their ten degrees thus answer to the decade of the Sephiroth, but in inverse ratio, as darkness and impurity increase with the descent of each degree. This position becomes apparent when the functions of the Inverse Sephiras are compared with those of their corresponding Superior Sephiras. The former are also referred to as the Lords of Unbalanced Forces, sometimes associated with “the Kings that reigned in the land of Edom, before there reigned any king over the children of Israel”. Kabbalistically they are linked with the Qliphoth who were Intelligences or Pitris connected with the deepest phases of the process of involution or forthgoing at which, before the path of return was entered upon, a condition of unbalance or non-equilibrium between spirit and matter existed for a time. In terms of human evolution the kings of Edom referred to the Archetypal, shadowy, non-physical, “pre-Adamite “first race of men on earth which was androgynous or created before the balance of the sexes. The equilibrated compound of spirit and matter, positive and negative, male and female came about after the separation of the sexes in the later Third Root Race.
Như vậy, các Sephira Nghịch trong mười cấp độ của chúng tương ứng với thập vị của Sephiroth, nhưng theo tỷ lệ nghịch, vì bóng tối và bất tịnh gia tăng theo sự giáng xuống của mỗi cấp độ. Vị trí này trở nên rõ ràng khi các chức năng của các Sephira Nghịch được so sánh với các chức năng của các Sephira Thượng Đẳng tương ứng. Nhóm trước cũng được gọi là các Chúa Tể của Những Mãnh Lực Bất Quân Bình, đôi khi được liên kết với “các vua đã trị vì trong đất Edom, trước khi có bất cứ vua nào trị vì trên con cái Israel”. Theo Kabbalah, chúng được liên hệ với Qliphoth, vốn là các Trí Tuệ hay Pitris liên quan đến những giai đoạn sâu nhất của tiến trình giáng hạ tiến hoá hay sự đi ra, trong đó, trước khi Con Đường Trở Về được bước vào, đã có trong một thời gian một tình trạng mất quân bình hay không-quân-bình giữa tinh thần và vật chất. Theo tiến hóa nhân loại, các vua Edom chỉ Giống dân đầu tiên trên Trái Đất, có tính nguyên mẫu, bóng mờ, phi-hồng trần, “tiền-Adam “vốn là lưỡng tính hay được tạo ra trước khi có sự quân bình của hai phái tính. Hợp thể quân bình của tinh thần và vật chất, dương và âm, nam và nữ, xuất hiện sau sự phân chia hai phái tính trong Giống dân gốc thứ Ba về sau.
The Orders of retrograde spirits and Arch-fiends correspond to the angels and Archangels, and are enumerated by A. E. Waite in his book The Doctrine and Literature of the Kabalah as follows:
Các Đẳng cấp của những tinh thần thoái hóa và các Đại ác ma tương ứng với các thiên thần và Tổng lãnh thiên thần, và được A. E. Waite liệt kê trong sách của ông Giáo Lý và Văn Học của Kabalah như sau:
“THAUMIEL, the doubles of God, said to be two-headed and so named, because they pretend to be equal to the Supreme Crown. This is properly the title of the averse Sephira corresponding to Kether. The cortex is CATHARIEL, according to the Supplements of the Zohar. Satan and Moloch are said to be the arch-demons, but the attributions are hopelessly confused throughout, partly owing to the obscure classifications of the Zohar and the contradictions of later Kabalists.
“THAUMIEL, những đối ngẫu của Thượng đế, được nói là có hai-đầu và được gọi như vậy vì chúng giả vờ ngang hàng với Vương Miện Tối Cao. Đây đúng ra là danh xưng của Sephira nghịch tương ứng với Kether. Lớp vỏ là CATHARIEL, theo các Phụ Lục của Zohar. Satan và Moloch được nói là các đại quỷ, nhưng các quy thuộc đều rối rắm đến vô vọng, một phần do các phân loại mù mờ của Zohar và các mâu thuẫn của những nhà Kabbalah về sau.
“CHAIGIDIEL, a term connecting with the significance of placenta, or, according to other authorities, with that of obstruction, in the sense of an impediment to the heavenly influx. This averse Sephira corresponds to Chokmah. Its cortices are the OGHIEL or GHOGIEL which cleave to illusory or material appearances in opposition to those of reality and wisdom. This explanation is, of course, very late. The arch-demon is said to be ADAM BELIAL, and so again is Beelzebuth. The Dukes of Esau are also connected with this number.
“CHAIGIDIEL, một thuật ngữ liên hệ với ý nghĩa của nhau thai, hoặc, theo các thẩm quyền khác, với ý nghĩa của sự cản trở, theo nghĩa một chướng ngại đối với luồng tuôn đổ thiên thượng. Sephira nghịch này tương ứng với Chokmah. Các lớp vỏ của nó là OGHIEL hay GHOGIEL vốn bám chặt vào các vẻ ngoài ảo tưởng hay vật chất, đối lập với những gì thuộc về thực tại và minh triết. Dĩ nhiên, lời giải thích này rất muộn. Đại quỷ được nói là ADAM BELIAL, và Beelzebuth cũng lại được nói như vậy. Các Công tước của Esau cũng được liên hệ với số này.
SATHARIEL, the concealment of God, meaning that this averse Sephira, unlike Binah, or Intelligence, hides the face of mercy. In the Supplements of the Zohar it is termed sheiriel, from the hirsute body of Esau. The Dukes of Esau are referred to this number, instead of to the averse correspondence of Chokmah, by the same work. lucifuge is said to be the arch-demon, but this is obviously not a Kabalistic term; it is known, however, to the grimories and to some later demonologists of the Latin church.
SATHARIEL, sự che giấu Thượng đế, nghĩa là Sephira nghịch này, không giống Binah, hay Trí Tuệ, che khuất khuôn mặt của lòng thương xót. Trong các Phụ Lục của Zohar, nó được gọi là sheiriel, từ thân thể đầy lông của Esau. Cũng tác phẩm ấy quy các Công tước của Esau vào số này, thay vì vào tương ứng nghịch của Chokmah,. lucifuge được nói là đại quỷ, nhưng rõ ràng đây không phải là một thuật ngữ Kabbalah; tuy nhiên, nó được biết đến trong các sách ma thuật và với một số nhà quỷ học về sau của giáo hội Latinh.
GAMCHICOTH, OR GOG SHEKLAH, disturber of all things, the averse correspondence of Chesed. According to the Zoharic Supplements the cortex seems to be azariel. The arch-demon is astaroth in late Kabalism.
GAMCHICOTH, HAY GOG SHEKLAH, kẻ khuấy động mọi sự, là tương ứng nghịch của Chesed. Theo các Phụ Lục Zohar, lớp vỏ dường như là azariel. Đại quỷ là astaroth trong Kabbalism muộn.
GOLAB, or burning in the sense of incendiarism. This is the averse correspondence of Geburah and the antithesis of the Seraphim or Fiery Serpents. The cortex is usiel. The arch-demon of late Kabalism is asmodeus.
GOLAB, hay sự cháy theo nghĩa phóng hỏa. Đây là tương ứng nghịch của Geburah và là phản đề của Seraphim hay các Xà Lửa. Lớp vỏ là usiel. Đại quỷ của Kabbalism muộn là asmodeus.
TOGARINI, wranglers, because, according to Isaac de Loria, this averse correspondence of Tiphereth strives with the supernal Geburah. The cortices are called zomiel and the arch-demon is BELAHEGOR.
TOGARINI, những kẻ tranh cãi, vì theo Isaac de Loria, tương ứng nghịch này của Tiphereth tranh đấu với Geburah thiên thượng. Các lớp vỏ được gọi là zomiel và đại quỷ là BELAHEGOR.
HARAB SERAP, dispersing raven, referring to the idea that this bird drives out its young, the averse correspondence of Netzach. The cortices are the theumiel and the arch-demon is baal chan an.
HARAB SERAP, quạ phân tán, ám chỉ ý tưởng rằng loài chim này đuổi con non của nó đi, là tương ứng nghịch của Netzach. Các lớp vỏ là theumiel và đại quỷ là baal chan an.
SAMAEL, or embroilment, corresponding to Hod, the supernal Victory. The cortices are THEUNIEL according to the Supplements of the Zohar, and ADRAMALEK is the name assigned to the archdemon by late writers.
SAMAEL, hay sự gây rối, tương ứng với Hod, Chiến Thắng thiên thượng. Các lớp vỏ là THEUNIEL theo các Phụ Lục của Zohar, và ADRAMALEK là tên được các tác giả muộn gán cho đạiquỷ.
GAMALIEL, the obscene, in averse correspondence with Jesod, which signifies the generation of the higher order, OGIEL, which other classifications attribute to the averse correspondence of Chesed, seems to be the cortex mentioned in the Zoharic Supplements, and the arch-fiend is LILITH, according to late Kabalism.
GAMALIEL, kẻ dâm ô, trong tương ứng nghịch với Jesod, vốn biểu thị sự sinh thành của đẳng cấp cao hơn, OGIEL, mà các phân loại khác quy cho tương ứng nghịch của Chesed, dường như là lớp vỏ được nhắc đến trong các Phụ Lục Zohar, và đại ác ma là LILITH, theo Kabbalism muộn.
LILITH is, however, according to another tabulation, the averse correspondence of Malkuth, with whom later Kabalism connects NAHEMA, the demon of impurity.”
LILITH tuy nhiên, theo một bảng kê khác, là tương ứng nghịch của Malkuth, mà Kabbalism muộn liên hệ với NAHEMA, con quỷ của sự bất tịnh.”
THE SATANIC HIERARCHIES – CÁC HUYỀN GIAI SATAN
Lofty Intelligences, Dhyan Chohans, the Archangels and angels of Kabbalism, direct both the involutionary and the evolutionary processes and ensure their “success”. Those assisting on the downward arc tend to be regarded by man as Satanic. Those active on the upward arc are regarded as redemptive. Scriptural allegories present them as antagonists and man looks upon them as devilish and divine respectively. In reality, they are mutually equipoised powers working for temporarily opposite objectives.
Những Trí Tuệ cao cả, Dhyan Chohans, các Tổng lãnh thiên thần và thiên thần của Kabbalism, điều khiển cả các tiến trình giáng hạ tiến hoá lẫn tiến hóa và bảo đảm “thành công” của chúng. Những vị trợ giúp trên cung giáng hạ có khuynh hướng bị con người xem là Satan. Những vị hoạt động trên cung thăng thượng được xem là có tính cứu chuộc. Các ẩn dụ trong thánh kinh trình bày họ như những đối thủ, và con người nhìn họ lần lượt như ma quỷ và thiêng liêng. Trong thực tại, họ là những quyền năng quân bình lẫn nhau, đang làm việc cho các mục tiêu tạm thời đối lập.
The Irish poet, James Stephens, intuited and expressed this profoundly occult teaching in his poem, The Fullness of Time:
Nhà thơ Ireland, James Stephens, đã trực nhận và diễn đạt giáo lý huyền bí sâu xa này trong bài thơ của ông, Sự Viên Mãn của Thời Gian:
“On a rusty iron throne,
“Trên ngai sắt hoen gỉ,
Past the furthest star of space,
Vượt ngôi sao xa nhất của không gian,
I saw Satan sit alone,
Tôi thấy Satan ngồi một mình,
Old and haggard was his face;
Gương mặt y già nua và hốc hác;
For his work was done, and he Rested in eternity.
Vì công việc y đã hoàn tất, và y an nghỉ trong vĩnh cửu.
“And to him from out the sun Came his father and his friend,
“Và từ mặt trời, đến với y là cha và bạn của y,
Saying,—Now the work is done Enmity is at an end—
Phán rằng,—Nay công việc đã xong, hận thù đã chấm dứt—
And He guided Satan to Paradises that He knew.
Và Ngài dẫn Satan đến những Thiên Đàng mà Ngài biết.
“Gabriel, without a frown;
“Gabriel, không chau mày;
Uriel, without a spear;
Uriel, không ngọn giáo;
Raphael, came singing down,
Raphael, ca hát đi xuống,
Welcoming their ancient peer;
Chào đón bạn đồng hàng cổ xưa của các Ngài;
And they seated him beside One who had been crucified.”
Và các Ngài đặt y ngồi bên cạnh Đấng đã chịu đóng đinh.”
THE NATURE OF EVIL – BẢN CHẤT CỦA ÁC
Pneumatology apart, Satan as the personification and incarnation of pure evil has, in occult philosophy, no existence by himself. Evil is but the absence of good. It exists only for him or her who is made its victim. Demon Deus inversus est. The Devil is the shadow of himself which a man sees when he turns his back to the light. Nature is neither good nor evil, and manifestation follows only unchanging and impersonal law.
Gác khoa thần linh học sang một bên, Satan với tư cách sự nhân cách hóa và hiện thân của ác thuần túy, trong triết học huyền bí, không có sự tồn tại tự thân. Ác chỉ là sự vắng mặt của thiện. Nó chỉ tồn tại đối với người nam hay người nữ bị biến thành nạn nhân của nó. Demon Deus inversus est. Quỷ là cái bóng của chính con người mà y nhìn thấy khi quay lưng lại với ánh sáng. Thiên Nhiên không thiện cũng không ác, và sự biểu hiện chỉ tuân theo định luật bất biến và phi cá nhân.
The existence and human experience of the duality of spirit and matter, light and darkness, motion and inertia, expansion and contraction, cause man to think of these as good and evil respectively. If resistance provides a fulcrum, then it is regarded as good. If it frustrates—as by the all-too-familiar “malice of the object” —or harms man, then it is evil in his eyes. The analogy of the searchlight partly illustrates this. Outside the beam and, as it were, pressing upon it from every side, is darkness. Light and darkness are perceived as a pair of opposites. The light-giving effects of the beam ceases at the limit of its range. There darkness begins. Thereafter darkness reigns. The instant the current is switched off, darkness reigns everywhere. If light is good, then the searchlight might be classed by man as good and the darkness as evil. But what, in fact, is that darkness which man calls evil? It is matter not subjected to light. Darkness is unlighted matter. Man calls it evil, and for him the Devil personifies this state.
Sự tồn tại và kinh nghiệm của con người về Nhị nguyên của tinh thần và vật chất, ánh sáng và bóng tối, chuyển động và Quán tính, mở rộng và co rút, khiến con người lần lượt nghĩ về chúng như thiện và ác. Nếu lực cản cung cấp một điểm tựa, thì nó được xem là thiện. Nếu nó làm thất bại—như qua “ác ý của vật thể” quá quen thuộc—hoặc gây hại cho con người, thì trong mắt y nó là ác. Hình ảnh tương đồng của đèn pha phần nào minh họa điều này. Bên ngoài chùm sáng, và như thể ép lên nó từ mọi phía, là bóng tối. Ánh sáng và bóng tối được nhận thức như một cặp đối cực. Các hiệu quả phát sáng của chùm sáng chấm dứt ở giới hạn tầm chiếu của nó. Ở đó bóng tối bắt đầu. Sau đó bóng tối ngự trị. Ngay khi dòng điện bị tắt, bóng tối ngự trị khắp nơi. Nếu ánh sáng là thiện, thì con người có thể xếp đèn pha vào loại thiện và bóng tối vào loại ác. Nhưng trên thực tế, bóng tối mà con người gọi là ác ấy là gì? Đó là vật chất chưa chịu ánh sáng. Bóng tối là vật chất không được soi sáng. Con người gọi nó là ác, và đối với y, Quỷ nhân cách hóa trạng thái này.
Plotinus, in his Tractate on The Nature and Source of Evil, translated by Stephen McKenna and B. S. Page, says:
Plotinus, trong khảo luận của ông về Bản Chất và Nguồn Gốc của Ác, do Stephen McKenna và B. S. Page dịch, nói rằng:
“Evil is from the Ancient Kind which we read is the underlying Matter not yet brought to order by the Ideal Form.
“Ác đến từ Loại Cổ Xưa mà chúng ta đọc thấy là Vật Chất nền tảng chưa được Hình Tướng Lý Tưởng đưa vào trật tự.
“Given that The Good is not the only existent thing, it is inevitable that by the outgoing from it or, if the phrase be preferred, the continuous down-going, or away-going from it, there should be produced a Last something after which nothing more can be produced; this will be evil.
“Nếu thừa nhận rằng Thiện không phải là sự vật hiện tồn duy nhất, thì điều tất yếu là do sự đi ra từ nó, hoặc nếu muốn dùng cụm từ ấy, sự liên tục đi xuống, hay đi xa khỏi nó, sẽ tạo ra một cái Sau Cùng nào đó mà sau nó không còn gì có thể được tạo ra nữa; cái này sẽ là ác.
“As necessarily as there is Something after the First, so necessarily there is a Last; this Last is Matter, the thing that has no residue of good in it; here is the necessity of evil.”
“Cũng tất yếu như có Cái Gì Đó sau Đấng Đầu Tiên, thì cũng tất yếu có một Cái Sau Cùng; Cái Sau Cùng này là Vật Chất, sự vật không còn chút tàn dư thiện nào trong nó; ở đây là sự tất yếu của ác.”
To this, whilst concurring, the occultist would doubtless add “according to the mind and values of man”. For in their essential existence, spirit and matter are neither moral nor unmoral, neither good nor bad. They exist as apparent opposites; that is all. Matter appears to resist spirit. But so does the fulcrum of lever, yet without a fulcrum, leverage is impossible. So, apart from human values and human experience, evil as an actual creation does not exist. The origin of evil is in the mind of man. All things can appear as either evil or good, according to human experience and human use of them. Shakespeare echoed this teaching in his words: “Nothing is either good or bad, but thinking made it so.”
Đối với điều này, trong khi đồng ý, nhà huyền bí học chắc chắn sẽ thêm “theo thể trí và các giá trị của con người”. Vì trong sự tồn tại cốt yếu của chúng, tinh thần và vật chất không có đạo đức cũng không vô đạo đức, không thiện cũng không xấu. Chúng tồn tại như những đối cực biểu kiến; chỉ vậy thôi. Vật chất dường như chống lại tinh thần. Nhưng điểm tựa của đòn bẩy cũng vậy, thế mà nếu không có điểm tựa thì không thể có tác dụng đòn bẩy. Do đó, tách khỏi các giá trị và kinh nghiệm của con người, ác như một tạo vật thực sự không tồn tại. Nguồn gốc của ác nằm trong thể trí con người. Mọi sự có thể hiện ra như ác hoặc thiện, tùy theo kinh nghiệm của con người và cách con người sử dụng chúng. Shakespeare đã vọng lại giáo lý này trong lời của ông: “Không có gì tự nó là thiện hay ác, chỉ tư tưởng khiến nó thành như vậy.”
PART IV CO-OPERATION – PHẦN IV SỰ HỢP TÁC
CHAPTER I CEREMONIAL AS A MEANS OF CO-OPERATION BETWEEN ANGELS AND MEN – CHƯƠNG I NGHI LỄ NHƯ MỘT PHƯƠNG TIỆN HỢP TÁC GIỮA THIÊN THẦN VÀ CON NGƯỜI
THE INDWELLING LIFE – SỰ SỐNG NỘI TẠI
THE ministry of the angels, a cardinal doctrine of many faiths, has long been a living reality to a great many people. Occult research supports the doctrine, revealing that, as part of that ministry, certain Orders of angels are regularly present at religious Services and certain other Ceremonials; for whenever superphysical forces are evoked and directed, whether by means of thought and will alone or by the use of symbols, signs and words of power, appropriate Orders of angels at once appear as the natural agents of those forces. Their function is both to conserve and direct the forces generated by ceremonial action, prayer and adoration and to serve as channels for the power and the blessing which descend in response. This ministration is far more effectively carried out when recognised by ministrants and congregation.
Sứ vụ của các thiên thần, một giáo lý chủ yếu của nhiều tín ngưỡng, từ lâu đã là một thực tại sống động đối với rất nhiều người. Khảo cứu huyền bí ủng hộ giáo lý này, mặc khải rằng, như một phần của sứ vụ ấy, một số Đẳng cấp thiên thần thường xuyên hiện diện tại các Buổi Lễ tôn giáo và một số Nghi lễ khác; vì bất cứ khi nào các mãnh lực siêu hồng trần được gợi lên và điều hướng, dù chỉ bằng tư tưởng và ý chí hay bằng việc sử dụng các biểu tượng, dấu hiệu và Quyền năng từ, thì các Đẳng cấp thiên thần thích hợp lập tức xuất hiện như những tác nhân tự nhiên của các mãnh lực ấy. Chức năng của các Ngài vừa là bảo tồn và điều hướng các mãnh lực được tạo ra bởi hành động nghi lễ, cầu nguyện và tôn kính, vừa là phụng sự như các kênh dẫn cho quyền năng và phúc lành giáng xuống để đáp ứng. Sự phụng sự này được thực hiện hiệu quả hơn rất nhiều khi được các vị hành lễ và hội chúng nhận biết.
Two other aspects of the subject are, however, worthy of consideration. There are the effect upon the evolving life in Nature of Church Services such as the Celebration of the Holy Eucharist and the participation in human worship of the nature spirits and the Angelic Hosts. A digression is, however, necessary in order to present the point of view from which I write concerning the life and consciousness of Nature. Under certain conditions of heightened awareness, the universal, indwelling, divine Life becomes visible, though translation of such vision into brain consciousness and words presents many difficulties. When this state is attained, the divine Life in Nature is seen as an all-pervading, glowing, golden Life-force, omnipresent as an ensouling principle in every atom of every world. Physical forms then disappear. One is within and part of an all-pervading ocean of golden, glowing Life, which consists of myriads of points of light, interconnected by lines of force, the whole being part of an apparently infinite, living web of exceedingly fine mesh which pervades all beings, all things, all worlds. Each of the points is found to be a source of Life, almost a sun, within which Life-force wells up as from an inexhaustible fount. From these centres, the golden power flows along the great web, vitalising all substance. There is no dead matter. All beings and all things are seen to be filled with the indwelling Life or Fire of God.
Tuy nhiên, hai phương diện khác của chủ đề này đáng được xem xét. Đó là hiệu quả của các Buổi Lễ Nhà Thờ, như Lễ Cử Hành Thánh Thể, đối với sự sống đang tiến hóa trong Thiên Nhiên, và sự tham dự của các tinh linh tự nhiên cùng các Đạo Binh Thiên Thần vào việc thờ phượng của con người. Tuy nhiên, cần có một đoạn lược luận để trình bày quan điểm mà từ đó tôi viết về sự sống và tâm thức của Thiên Nhiên. Dưới một số điều kiện của sự nhận biết được nâng cao, Sự Sống thiêng liêng, phổ quát, nội tại trở nên khả kiến, dù việc chuyển dịch linh ảnh ấy vào tâm thức bộ não và ngôn từ gặp nhiều khó khăn. Khi trạng thái này đạt được, Sự Sống thiêng liêng trong Thiên Nhiên được thấy như một Mãnh lực-Sự sống vàng óng, rực sáng, thấm nhuần khắp mọi nơi, hiện diện khắp nơi như một nguyên khí phú linh trong mỗi nguyên tử của mỗi thế giới. Khi ấy các hình tướng hồng trần biến mất. Người ta ở bên trong và là một phần của đại dương Sự Sống vàng óng, rực sáng, thấm nhuần khắp mọi nơi, gồm vô số điểm sáng, liên kết với nhau bằng các đường mãnh lực, toàn thể là một phần của một mạng lưới sống động dường như vô hạn, có mắt lưới cực kỳ tinh vi, thấm nhuần mọi sinh linh, mọi sự vật, mọi thế giới. Mỗi điểm được thấy là một nguồn Sự Sống, gần như một mặt trời, bên trong đó Mãnh lực-Sự sống tuôn trào như từ một nguồn suối vô tận. Từ các trung tâm này, quyền năng vàng óng chảy dọc theo mạng lưới vĩ đại, tiếp sinh lực cho mọi chất liệu. Không có vật chất chết. Mọi sinh linh và mọi sự vật được thấy là đầy tràn Sự Sống nội tại hay Lửa của Thượng đế.
An inspired poet truly described this state of consciousness:
Một thi sĩ được cảm hứng đã mô tả thật đúng trạng thái tâm thức này:
“Lo! Heaven and earth are burning, shining, filled
“Kìa! Trời và đất đang cháy sáng, rạng ngời, tràn đầy
With that surpassing glory which Thou art.
Vinh quang siêu tuyệt là chính Ngài.
Lost in its light each mortal weakness, stilled
Trong ánh sáng ấy, mọi yếu đuối phàm nhân tan mất, lặng yên
Each rapt adoring heart.”
Mỗi trái tim ngây ngất tôn thờ.”
In the light of this vision, it would seem that the life of Nature is quickened every time the Holy Eucharist and certain other rituals are performed. The degree of response varies in each of the kingdoms of Nature and depends upon evolutionary development. In the mineral kingdom in which consciousness “sleeps” it is relatively dull; in the plant in which consciousness “dreams” it is greater; in the animal and in nature spirits, in both of which consciousness “awakens”, it is greater still; and in self-conscious beings such as angels and men it is greatest of all. At each Celebration, the power of response throughout the five kingdoms is increased, and this aid in the attainment of heightened awareness is part of the usefulness of every valid religious Rite.
Trong ánh sáng của linh ảnh này, dường như sự sống của Thiên Nhiên được làm cho linh hoạt mỗi khi Thánh Thể và một số nghi lễ khác được thực hiện. Mức độ đáp ứng thay đổi trong mỗi giới của Thiên Nhiên và tùy thuộc vào sự phát triển tiến hóa. Trong giới kim thạch, nơi tâm thức “ngủ” thì nó tương đối mờ nhạt; trong cây cỏ, nơi tâm thức “mơ” thì nó lớn hơn; trong giới động vật và trong các tinh linh tự nhiên, nơi ở cả hai tâm thức “thức tỉnh”, nó còn lớn hơn nữa; và trong các sinh linh có ngã thức như thiên thần và con người, nó lớn nhất trong tất cả. Ở mỗi Lễ Cử Hành, quyền năng đáp ứng trong khắp năm giới được gia tăng, và sự trợ giúp này trong việc đạt tới sự nhận biết được nâng cao là một phần hữu ích của mọi Nghi lễ tôn giáo chân chính.
In illustration, Nature may be likened to a plant which depends upon sunlight for its growth and flowering. If, after many cloudy days, the sun suddenly appears in all its brilliance, the life-processes of the plant are greatly stimulated, as the experiments of Sir Jagadish Chandra Bose, the great Indian scientist, so clearly demonstrated. If, in addition, the sun itself could be brought down to the plant without harming it and the plant receive into itself directly and individually an added measure of sunlight, then its whole growth would be correspondingly stimulated. It has seemed to me that a similar but spiritual, quickening occurs at Holy Communion, when the Lord Christ, the Sun of Divine Love, as also the Son of God, in His own Person draws near to all Nature and through the Sacred Elements is received by man.
Để minh họa, Thiên Nhiên có thể được ví như một cây trồng tùy thuộc vào ánh sáng mặt trời để tăng trưởng và nở hoa. Nếu sau nhiều ngày mây phủ, mặt trời bỗng xuất hiện trong toàn bộ vẻ rực rỡ của nó, các tiến trình sự sống của cây được kích thích mạnh mẽ, như các thí nghiệm của Sir Jagadish Chandra Bose, nhà khoa học Ấn Độ vĩ đại, đã chứng minh rất rõ. Nếu thêm vào đó, chính mặt trời có thể được đưa xuống với cây mà không làm hại nó, và cây trực tiếp, riêng biệt tiếp nhận vào trong mình một lượng ánh sáng mặt trời tăng thêm, thì toàn bộ sự tăng trưởng của nó cũng sẽ được kích thích tương ứng. Đối với tôi, dường như một sự làm linh hoạt tương tự nhưng có tính tinh thần xảy ra trong Lễ Hiệp Thông Thánh, khi Đức Chúa Christ, Mặt Trời của Tình Thương thiêng liêng, cũng là Con của Thượng đế, trong chính Ngôi Vị của Ngài đến gần toàn thể Thiên Nhiên và, qua các Yếu Tố Thiêng Liêng, được con người tiếp nhận.
THE HOLY EUCHARIST – THÁNH THỂ
My understanding of this wider significance of Church worship was deepened by observation of the response of Nature and the participation of the angels at an open-air Celebration of the Holy Eucharist in Java. The selected site of the temporary Church, which was a garden on the slopes of Arjoena Mountain, permitted a splendid view across a great plain to Mount Kawi and, in the remote distance, to Mount Semeroe.
Sự thấu hiểu của tôi về thâm nghĩa rộng lớn hơn này của việc thờ phượng trong Nhà Thờ đã được đào sâu nhờ quan sát sự đáp ứng của Thiên Nhiên và sự tham dự của các thiên thần tại một Lễ Cử Hành Thánh Thể ngoài trời ở Java. Địa điểm được chọn cho Nhà Thờ tạm thời, vốn là một khu vườn trên sườn Núi Arjoena, cho phép nhìn thấy một cảnh quan tráng lệ qua một đồng bằng rộng lớn đến Núi Kawi và, ở khoảng cách xa xôi, đến Núi Semeroe.
Before the service began, nature spirits assembled near the Church in large numbers, attracted by the preparations and the intent of all concerned. As might be expected in this lovely land of luxuriant tropical vegetation, fairies and tree-spirits predominated in this assembly, whilst the great mountain Gods participated from their stations above their respective peaks. In addition, certain high Gods of earth, water, air and fire attended, as would seem to be the case at every such Celebration, when they contribute their special power and direct the participation in the Service of their subordinates and the forces of their element. This is especially noticeable at the Offertorium, in which all Nature seems to unite with man in the offering of the elements and in selfsurrender to the Lord of Life.
Trước khi buổi lễ bắt đầu, các tinh linh tự nhiên tụ họp gần Nhà Thờ với số lượng lớn, bị thu hút bởi những chuẩn bị và ý định của tất cả những người liên quan. Như có thể dự đoán trong vùng đất xinh đẹp với thảm thực vật nhiệt đới sum suê này, các tiên nữ và tinh linh cây chiếm ưu thế trong cuộc tụ hội này, trong khi các vị Thần núi vĩ đại tham dự từ vị trí của các Ngài phía trên những đỉnh núi tương ứng. Ngoài ra, một số vị Thần cao cả của đất, nước, khí và lửa cũng tham dự, như dường như vẫn xảy ra ở mọi Lễ Cử Hành như thế, khi các Ngài đóng góp quyền năng đặc biệt của mình và điều hướng sự tham dự vào Buổi Lễ của các thuộc cấp và các mãnh lực thuộc nguyên tố của các Ngài. Điều này đặc biệt đáng chú ý tại Offertorium, trong đó toàn thể Thiên Nhiên dường như hợp nhất với con người trong sự dâng hiến các yếu tố và trong sự tự hiến cho Chúa Tể của Sự Sống.
As angels and nature spirits from near and far thus shared in human worship, the Celebration in Java assumed a magnitude far beyond anything visible at the physical level. At the moment of Consecration when, as always, the Power and the Presence of the Lord descended in a golden radiance, with the Host at its heart, the angels bowed low in reverence. The Life in all Nature in the neighbourhood of the Church seemed to glow more brilliantly. The consciousness of mineral and plant seemed to awake and respond, as the glory of His Presence shone from the altar as the truly magical words of Consecration were uttered. Angels joined mentally with the human congregation in fullest measure in the te adoremus and adeste fideles, their participation appearing to be far more vivid than man’s, since human consciousness is dulled by incarnation. At the ite missa est, as is usual, the spiritual forces generated by the whole ceremony were liberated upon the world, angels accompanying them on their spiritualising mission. The Gods of Nature and the nature spirits, having received into themselves these quickening forces, later released them into those aspects of Nature with which they were variously associated.
Khi các thiên thần và tinh linh tự nhiên từ gần và xa cùng tham dự vào sự thờ phượng của con người như vậy, Lễ Cử Hành ở Java đạt đến một tầm vóc vượt xa bất cứ điều gì có thể thấy ở cấp độ hồng trần. Vào khoảnh khắc Thánh Hiến, khi, như luôn luôn, Quyền Năng và Sự Hiện Diện của Chúa giáng xuống trong một hào quang vàng óng, với Bánh Thánh ở trung tâm, các thiên thần cúi thấp trong lòng tôn kính. Sự Sống trong toàn thể Thiên Nhiên quanh vùng Nhà Thờ dường như rực sáng hơn. Tâm thức của giới kim thạch và thực vật dường như thức tỉnh và đáp ứng, khi vinh quang của Sự Hiện Diện của Ngài chiếu sáng từ bàn thờ lúc những lời Thánh Hiến thực sự huyền thuật được thốt ra. Các thiên thần hợp nhất trong trí với hội chúng nhân loại đến mức trọn vẹn nhất trong te adoremus và adeste fideles, sự tham dự của các Ngài dường như sinh động hơn con người rất nhiều, vì tâm thức con người bị làm mờ bởi sự nhập thể. Tại ite missa est, như thường lệ, các mãnh lực tinh thần được tạo ra bởi toàn bộ nghi thức được giải phóng lên thế giới, các thiên thần đi cùng chúng trong sứ mệnh tinh thần hóa. Các Thần của Thiên Nhiên và các tinh linh tự nhiên, sau khi đã tiếp nhận vào trong mình các mãnh lực làm linh hoạt này, về sau phóng thích chúng vào những phương diện của Thiên Nhiên mà các vị ấy lần lượt liên hệ.
Thus, externally, through the Rite which He instituted, and by the co-operation of angels and men, the Lord of Love keeps His promise to be with us “always even unto the end of the World”. Interiorly, He needs no ceremonial to keep this promise; for in His mystical at-one-ment with the Spiritual Selves of all mankind, He pours into them His perfected and quickening Life and Light and Power. Even so, awareness in consciousness of His perpetual atoning Ministry could be aided by united worship in forms found to be elevating to those of various temperaments.
Như vậy, bên ngoài, qua Nghi lễ mà Ngài đã thiết lập, và nhờ sự hợp tác của thiên thần và con người, Chúa Tể của Tình Thương giữ lời hứa của Ngài là ở cùng chúng ta “luôn luôn cho đến tận cùng Thế Giới”. Bên trong, Ngài không cần nghi lễ nào để giữ lời hứa này; vì trong sự hợp nhất thần bí của Ngài với các Bản Ngã Tinh Thần của toàn thể nhân loại, Ngài tuôn đổ vào họ Sự Sống, Ánh Sáng và Quyền Năng hoàn thiện và làm linh hoạt của Ngài. Dẫu vậy, sự nhận biết trong tâm thức về Sứ Vụ Cứu Chuộc thường hằng của Ngài có thể được hỗ trợ bởi sự thờ phượng hợp nhất trong những hình thức được thấy là nâng cao đối với những người thuộc các khí chất khác nhau.
CHAPTER II ANGELIC CO-OPERATION IN THE MAYAN, HINDU AND JEWISH RELIGIONS – CHƯƠNG II SỰ HỢP TÁC THIÊN THẦN TRONG CÁC TÔN GIÁO MAYA, ẤN ĐỘ VÀ DO THÁI
THE DEVIC SEAL – ẤN DẤU THIÊN THẦN
WHILST ceremonial intelligently performed is one of the most effective means of co-operation between angels and men, it is by no means essential. The human mind is a powerful broadcasting and receiving station. When empowered by strong will, trained in concentration and illumined by intuitive recognition of the unity of life, the mind becomes an exceedingly potent instrument.
TRONG KHI nghi lễ được thực hiện một cách thông minh là một trong những phương tiện hữu hiệu nhất để hợp tác giữa thiên thần và con người, nó tuyệt nhiên không thiết yếu. Thể trí con người là một trạm phát và thu mạnh mẽ. Khi được tiếp quyền năng bởi ý chí mạnh mẽ, được rèn luyện trong sự tập trung và được soi sáng bởi sự nhận biết trực giác về tính duy nhất của sự sống, thể trí trở thành một khí cụ cực kỳ mạnh mẽ.
When human thought is strongly directed towards a particular Order of angels, a mental signal is despatched and received by members of that Order. If the sender has attained to a certain universality of consciousness, and his motive is. In consequence entirely selfless, the angels will unfailingly respond. Man may then direct his thought-force into, and himself enter, the chosen field of work, assured of angelic co-operation.
Khi tư tưởng con người được hướng mạnh mẽ đến một Đẳng cấp thiên thần đặc biệt, một tín hiệu trí tuệ được phóng đi và được các thành viên của Đẳng cấp ấy tiếp nhận. Nếu người gửi đã đạt tới một mức độ phổ quát nào đó của tâm thức, và động cơ của y do đó hoàn toàn vô ngã, các thiên thần sẽ đáp ứng không sai chạy. Khi ấy con người có thể điều hướng mãnh lực tư tưởng của mình vào, và chính mình bước vào, lĩnh vực công việc đã chọn, với sự chắc chắn về hợp tác thiên thần.
This combined activity may consist of such ministrations to others as spiritual healing, inspiration, protection, or aid in overcoming weakness of character. Collaboration may also be sought in order to achieve needed inspiration in the execution of altruistic work. Angels are powerful allies in such ministrations, being able both to open up the channels of inspiration between the higher consciousness and the brain and telepathically to convey a train of illuminating ideas to receptive minds.
Hoạt động phối hợp này có thể gồm những sự phụng sự đối với người khác như trị liệu tinh thần, cảm hứng, bảo hộ, hoặc trợ giúp trong việc vượt qua sự yếu kém của Tính cách. Sự cộng tác cũng có thể được tìm kiếm nhằm đạt được cảm hứng cần thiết trong việc thực hiện công việc vị tha. Các thiên thần là những đồng minh đầy quyền năng trong những sự phụng sự như thế, vì các Ngài có thể vừa mở các kênh cảm hứng giữa tâm thức cao hơn và bộ não, vừa truyền bằng viễn cảm một chuỗi các ý tưởng soi sáng đến những thể trí tiếp nhận.
The regular practice of invoking the help of the angels is found to produce a change in the human aura. The link thus formed is visible as an area of brilliant light vibrating at the frequencies characteristic of the auras of the angels. When this devic seal, as it is called, is vivified by ceremonial action or by thought and will alone, it “transmits” a signal on the wave-lengths of the particular Order of angels whose aid is being invoked. This call is then “picked up” by the angels to whom it corresponds in terms of vibratory frequency. Their attention thus gained, they are at once ready to render assistance.
Việc thực hành đều đặn sự khẩn cầu trợ giúp của các thiên thần được thấy là tạo ra một biến đổi trong hào quang con người. Mối liên kết được hình thành như vậy có thể thấy được như một vùng ánh sáng rực rỡ rung động theo các tần số đặc trưng của hào quang các thiên thần. Khi ấn dấu thiên thần này, như nó được gọi, được làm cho sống động bởi hành động nghi lễ hoặc chỉ bởi tư tưởng và ý chí, nó “truyền” một tín hiệu trên các bước sóng của Đẳng cấp thiên thần đặc biệt mà sự trợ giúp đang được khẩn cầu. Lời gọi này khi ấy được các thiên thần tương ứng với nó về tần số rung động “bắt được”. Khi sự chú ý của các Ngài đã được thu hút như vậy, các Ngài lập tức sẵn sàng trợ giúp.
Although clairvoyance is of help in this process, it also is not essential. Regular practice, based upon intuitive recognition of the truth of these ideas, will quickly provide strong evidence, if not proof, of the reality and efficacy of co-operation between angels and men. Such co-operation is indeed, continually occurring in the realm of the Higher Self of man, unaware of the fact though the lower self may be.
Mặc dù thông nhãn có ích trong tiến trình này, nó cũng không thiết yếu. Sự thực hành đều đặn, dựa trên sự nhận biết trực giác về chân lý của các ý tưởng này, sẽ nhanh chóng cung cấp bằng chứng mạnh mẽ, nếu không phải là chứng cứ, về thực tại và hiệu lực của sự hợp tác giữa thiên thần và con người. Quả thật, sự hợp tác như thế đang liên tục diễn ra trong cõi của Bản Ngã Cao Siêu nơi con người, dù phàm ngã có thể không hay biết điều đó.
As previously stated, each of the well-established nations of the world is presided over by an angel Ruler who assists the race in the fulfilment of its destiny. These great Archangels—” Thrones” in Christian angelology—inspire the nation through the national Ego or Oversoul, and its leaders through their Higher Selves. Under such conditions of angelic inspiration, a statesman becomes possessed of powers hitherto unsuspected in him. As long as he selflessly serves his nation, his power will grow. Should selfish interests blind him to his duty to the State, angelic and other inspiration would be withdrawn and his power decline, a phenomenon not infrequently observable in the lives of public men. Whilst such co-operation is always available and is not infrequently given, its effectiveness is greatly increased when it is initiated and recognised by man.
Như đã nêu trước đây, mỗi quốc gia đã được thiết lập vững chắc trên thế giới đều được một thiên thần Chủ Tinh chủ trì, vị này trợ giúp nhân loại trong việc hoàn thành định mệnh của nó. Các Tổng lãnh thiên thần vĩ đại này—“Các Ngai” trong thiên thần học Kitô giáo—gợi cảm hứng cho quốc gia qua Chân ngã hay đại hồn quốc gia, và cho các nhà lãnh đạo của nó qua các Bản Ngã Cao Siêu của họ. Dưới những điều kiện của cảm hứng thiên thần như vậy, một chính khách trở nên sở hữu các quyền năng mà trước đó trong ông chưa hề được ngờ tới. Chừng nào ông phụng sự quốc gia mình một cách vô ngã, quyền năng của ông sẽ tăng trưởng. Nếu các lợi ích ích kỷ làm ông mù lòa trước bổn phận đối với Nhà Nước, cảm hứng thiên thần và các cảm hứng khác sẽ được rút lại và quyền năng của ông suy giảm, một hiện tượng không hiếm khi có thể quan sát trong đời sống của các nhân vật công chúng. Dù sự hợp tác như vậy luôn sẵn có và không hiếm khi được ban cho, hiệu quả của nó tăng lên rất nhiều khi con người khởi xướng và nhận biết nó.
The Gods were thus recognised by the peoples of olden days and their aid was invoked. Belief in them by the peoples of ancient Egypt, Greece, Assyria and India should not, however, be regarded as evidence of polytheism. The existence of one Supreme Being was always recognised, the Gods being regarded as subordinate manifestations of aspects and powers of that One Alone. These beings were not mere figments of the imagination, nor were they solely personifications of natural forces, laws and phenomena. Occult research reveals that certain of them had a real existence and were none other than the Angelic Hosts with whom the people of those days, particularly the Initiates of the Sanctuaries, consciously co-operated.
Các Thần đã được các dân tộc thời xưa nhận biết như vậy, và sự trợ giúp của các Ngài được khẩn cầu. Tuy nhiên, niềm tin nơi các Ngài của các dân tộc Ai Cập, Hy Lạp, Assyria và Ấn Độ cổ đại không nên được xem là bằng chứng của đa thần giáo. Sự tồn tại của một Đấng Tối Cao duy nhất luôn luôn được nhận biết, còn các Thần được xem là những biểu hiện phụ thuộc của các phương diện và quyền năng của Đấng Duy Nhất ấy. Những sinh linh này không phải chỉ là sản phẩm tưởng tượng, cũng không chỉ là sự nhân cách hóa của các mãnh lực, định luật và hiện tượng tự nhiên. Khảo cứu huyền bí mặc khải rằng một số trong các Ngài có sự tồn tại thực sự và không ai khác hơn là các Đạo Binh Thiên Thần mà người dân thời ấy, đặc biệt là các Điểm đạo đồ của các Thánh điện, đã hợp tác một cách có ý thức.
MAYAN GODS – CÁC THẦN MAYA
Interesting records of such collaboration have been discovered in Central America. According to the researches of Ricardo Mimenza Castillo of Yucatan, who has for many years been interested in Mayan research, this ancient people practised co-operation between angels and men. Apparently every department of life was supposed to be presided over by an appropriate deity. Here is a list of them as given in the St. Louis Star:
Những ghi chép thú vị về sự cộng tác như thế đã được phát hiện ở Trung Mỹ. Theo các khảo cứu của Ricardo Mimenza Castillo ở Yucatan, người trong nhiều năm đã quan tâm đến nghiên cứu Maya, dân tộc cổ đại này đã thực hành sự hợp tác giữa thiên thần và con người. Dường như mọi lĩnh vực của đời sống đều được cho là do một thần linh thích hợp chủ trì. Sau đây là danh sách các vị ấy như được nêu trong St. Louis Star:
“Hunab-Ku, comparable to Zeus, goddess of medicine; Ixazahualoh, goddess of weaving; Ixchebelyax, goddess of painting; Zuhuykah, goddess of virginity; Zitholontum, god of medicine; Xocvitun, god of singing; Akinzoc, god of music; Pizlimtec, god of poetry; Kukulcan, god of war; Ahchuykak, the twins of the past and of attributes; Acate, god of commerce; Mutulzec, god of tortures; Chas, god of agriculture; Tabai, god of fishing; Kinichkakmo, god of fire; Ztab, god of suicide; Ekxhuah, god of travellers; to which are to be added the following tutelary deities: Kinch Ahan Haban, god of Campeche; Chun Caan, god of T-ho; Kabul, god of a place not known, but also the right hand of Izamal; Kakupacat, god of fire and Hun Ahau, also known as Yum Kimil, god of the underworld.
“Hunab-Ku, có thể so sánh với Zeus, nữ thần y học; Ixazahualoh, nữ thần dệt; Ixchebelyax, nữ thần hội họa; Zuhuykah, nữ thần trinh khiết; Zitholontum, thần y học; Xocvitun, thần ca hát; Akinzoc, thần âm nhạc; Pizlimtec, thần thi ca; Kukulcan, thần chiến tranh; Ahchuykak, cặp song sinh của quá khứ và của các thuộc tính; Acate, thần thương mại; Mutulzec, thần tra tấn; Chas, thần nông nghiệp; Tabai, thần đánh cá; Kinichkakmo, thần lửa; Ztab, thần tự sát; Ekxhuah, thần của những người du hành; thêm vào đó là các thần bảo hộ sau đây: Kinch Ahan Haban, thần của Campeche; Chun Caan, thần của T-ho; Kabul, thần của một nơi chưa được biết, nhưng cũng là tay phải của Izamal; Kakupacat, thần lửa và Hun Ahau, cũng được biết đến là Yum Kimil, thần của âm phủ.
“To make these names pronounceable, it should be stated that Mayan and Aztec “x “had the sound of “sh “in English.
“Để làm cho các tên này có thể phát âm được, cần nói rằng chữ “x” trong Maya và Aztec có âm “sh” trong tiếng Anh.
“Whether by accident or relationship, many of these Mayan gods had their counterparts in the mythology of the Greeks. For instance, the Mayan underworld was very similar to that presided over by Pluto. It was a place wrapped in eternal darkness and all those cast into it for transgressions in life suffered without end from cold, hunger, thirst, sleepiness, tortures, the sight of cruel spectacles, and were obliged to keep on wandering in the fashion of the Wandering Jew.
“Dù do ngẫu nhiên hay do quan hệ, nhiều vị thần Maya này có các đối phần của họ trong thần thoại Hy Lạp. Chẳng hạn, âm phủ Maya rất giống với nơi do Pluto chủ trì. Đó là một nơi bị bao phủ trong bóng tối vĩnh cửu, và tất cả những ai bị ném vào đó vì các vi phạm trong đời đều chịu khổ vô tận vì lạnh, đói, khát, buồn ngủ, tra tấn, cảnh tượng tàn ác, và bị buộc phải tiếp tục lang thang theo kiểu Người Do Thái Lang Thang.
“The Mayans also had their heaven or paradise. It was an abode blessed with an ideal climate in which all plant and animal life flourished as nowhere in this physical world. The souls that were translated into this Elysium spent their time in what may be called the Platonian discussions of the purpose of existence and the true nature of the supreme God. From these labours they rested by listening to music and regaling themselves with perfumes and other delights.
“Người Maya cũng có thiên đường hay lạc cảnh của họ. Đó là một nơi cư ngụ được ban phúc với khí hậu lý tưởng, nơi mọi đời sống thực vật và động vật phát triển thịnh vượng như không nơi nào trong thế giới hồng trần này. Các linh hồn được chuyển vào cõi Elysium này dành thời gian của họ cho những điều có thể gọi là các cuộc luận đàm kiểu Plato về mục đích của sự tồn tại và bản chất đích thực của Thượng đế tối cao. Sau những công việc ấy, họ nghỉ ngơi bằng cách lắng nghe âm nhạc và thưởng thức hương thơm cùng những lạc thú khác.
“This heaven was presided over by four Bacabes, the Bacabe being a sort of angel, one of whom sat at each of the principal cardinal points and was assisted by one of the Chaques, gods of wind and rain. The four Chaques were of different hues. The one in the north was white, the one in the south yellow, he in the east, red and he in the west, black.
“Cõi trời này do bốn Bacabes chủ quản, Bacabe là một loại thiên thần, mỗi vị ngự tại một trong các điểm phương chính yếu và được một trong các Chaques, các thần gió và mưa, trợ giúp. Bốn Chaques có những sắc thái khác nhau. Vị ở phương bắc màu trắng, vị ở phương nam màu vàng, vị ở phương đông màu đỏ và vị ở phương tây màu đen.
“The underworld was under the rule of Abcatanas, whose duty it was to foster the sacred tree with its four roots and four branches. Here, as in the celestial regions, everything was arranged in fours, due possibly to the notion of the Mayans that the earth was a square plane.
“Cõi âm nằm dưới sự cai quản của Abcatanas, vị có phận sự nuôi dưỡng cây thiêng với bốn rễ và bốn cành của nó. Ở đây, cũng như trong các vùng thiên giới, mọi sự đều được sắp xếp theo bộ bốn, có thể do quan niệm của người Maya rằng Trái Đất là một mặt phẳng hình vuông.
“In Chicen-Itza, Hunab-Ku, the Supreme, is pictured as the god from whose eyes flow two streams of tears, one to the right and one to the left of him. From these streams rise all floral and faunal life. The general interpretation of this is that Hunab-Ku is engaged in the creation either as act of sacrifice or grief.
“Tại Chicen-Itza, Hunab-Ku, Đấng Tối Cao, được mô tả như vị thần từ đôi mắt tuôn chảy hai dòng lệ, một dòng về bên phải và một dòng về bên trái của Ngài. Từ những dòng này phát sinh toàn bộ sự sống thực vật và động vật. Cách giải thích tổng quát về điều này là Hunab-Ku đang dấn thân vào công cuộc sáng tạo, hoặc như một hành vi hi sinh, hoặc như một nỗi sầu thương.
“All in all, the Mayan concept of religion was unusually spiritual and refined and lacked entirely the grossness of what came to be known as the religion of the Aztecs, a similar people living contemporaneously on the Tableland of Anahuac, more especially the tribes that inhabited then the valley of Mexico.
“Nhìn chung, quan niệm tôn giáo của người Maya đặc biệt tinh thần và tinh tế, hoàn toàn thiếu sự thô bạo của điều về sau được biết đến như tôn giáo của người Aztec, một dân tộc tương tự sống cùng thời trên Cao nguyên Anahuac, đặc biệt hơn là các bộ lạc khi ấy cư ngụ trong thung lũng Mexico.
“The Mayan temples resemble the structure of the Aztecs in their major feature which was the pyramid base of the sanctuary. It is still a question whether the Mayan borrowed this important detail from the builders of the pyramids who left the ruins at San Juan Teotihuacan, in the valley of Mexico, to tell their heroic tale; or whether the Mayan remains at Chicen-Itza were the prototype.”
“Các đền thờ Maya giống với cấu trúc của người Aztec ở đặc điểm chính yếu, đó là nền kim tự tháp của thánh điện. Vẫn còn là một vấn đề liệu người Maya đã vay mượn chi tiết quan trọng này từ những đấng kiến tạo kim tự tháp, những người để lại các tàn tích tại San Juan Teotihuacan, trong thung lũng Mexico, để kể lại câu chuyện anh hùng của họ; hay liệu các di tích Maya tại Chicen-Itza mới là nguyên mẫu.”
The sound of these unusual names is very interesting. Experimenting with them, I found that they have a distinct mantric value. A continuous repetition of some of them, with a strong intent to evoke its possessor, has the effect of calling certain of these Mayan Gods and Goddesses. Here is an interesting field of experiment for any reader who is sufficiently sensitive to know when an answer is obtained to an evocation of this kind, which, however, should never be made without a definite and lawful purpose.
Âm thanh của những tên gọi lạ thường này rất thú vị. Khi thử nghiệm với chúng, tôi thấy rằng chúng có một giá trị mantram rõ rệt. Việc lặp lại liên tục một vài tên trong số đó, với ý định mạnh mẽ nhằm gợi lên chủ nhân của tên ấy, có tác dụng triệu gọi một số Nam Thần và Nữ Thần Maya này. Đây là một lĩnh vực thử nghiệm thú vị cho bất cứ độc giả nào đủ nhạy bén để biết khi nào đã nhận được một đáp ứng đối với một sự gợi lên thuộc loại này, tuy nhiên, điều này không bao giờ nên được thực hiện nếu không có một mục đích xác định và hợp pháp.
The Mayan angels present a characteristic appearance, their faces somewhat resembling those of Mayan and Peruvian statues. Many of them seem to have close affinity with the sun and with sun worship. Kakupacat, for example, would appear to be a salamander of great power and to be associated with solar fire resident in the centre of the earth, also which manifested through volcanoes. Kinichkakmo apparently represents surface fire and the element of fire generally. A point of interest in the account of the Mayan Gods is the reference to the four Bacabes of the cardinal points with their assistant Chaques and symbolic colours. Of these, the God of the East was red, that of the North, white, that of the South, yellow and that of the West, black.
Các thiên thần Maya có một dáng vẻ đặc trưng, khuôn mặt của họ phần nào giống với các tượng Maya và Peru. Nhiều vị trong số họ dường như có mối liên hệ mật thiết với mặt trời và với việc thờ phụng mặt trời. Chẳng hạn, Kakupacat dường như là một salamander có quyền năng lớn và liên hệ với Lửa Thái dương cư ngụ trong trung tâm Trái Đất, cũng là lửa biểu hiện qua các núi lửa. Kinichkakmo dường như đại diện cho lửa bề mặt và Nguyên tố lửa nói chung. Một điểm đáng chú ý trong tường thuật về các Nam Thần Maya là sự đề cập đến bốn Bacabes của các điểm phương chính yếu cùng với các Chaques phụ tá và các màu sắc biểu tượng của họ. Trong số này, Thần phương Đông màu đỏ, Thần phương Bắc màu trắng, Thần phương Nam màu vàng và Thần phương Tây màu đen.