A CONVERSATION IN COLOUR – MỘT CUỘC ĐỐI THOẠI BẰNG MÀU SẮC
Whilst resting in the garden of my cottage in Gloucestershire, I observed the angel teacher travelling at a great height in the air and sent out a greeting and a mental call for further knowledge concerning the Angelic Hosts. At once he paused in his “flight” and descended steeply towards the garden. As he came down, he sent an answering stream of love, which extended from the region of his heart and appeared as rays of glowing rose and crimson light. This outflowing love resembled a flower, for the sides of the funnel form which it produced were divided into petals and in the centre was a brilliant golden “rose”, the whole opening gradually as the angel drew near. This “flower” pulsed rhythmically and the lines of force of which it was composed quivered as he poured forth his affection and life-force. He resembled a glorious Greek God, upon whose breast was an open rose. The petallike radiations reached out and over me, the maximum diameter of the “flower “being about eight feet. A continuous play of brilliantly coloured force in bands of varying size and degrees of luminosity also shone above the angel’s head.
Trong khi nghỉ ngơi trong khu vườn ngôi nhà nhỏ của tôi ở Gloucestershire, tôi quan sát thấy vị thiên thần huấn sư đang di chuyển ở độ cao lớn trong không trung, và tôi gửi đi một lời chào cùng một tiếng gọi bằng trí tuệ để xin thêm tri thức về Đạo Quân Thiên Thần. Ngay lập tức Ngài dừng lại trong “chuyến bay” của mình và lao xuống dốc về phía khu vườn. Khi Ngài đi xuống, Ngài gửi một dòng bác ái đáp lại, dòng ấy vươn ra từ vùng tim của Ngài và hiện ra như những tia sáng hồng rực và đỏ thẫm. Dòng bác ái tuôn ra này giống một bông hoa, vì các cạnh của hình phễu mà nó tạo ra được chia thành các cánh hoa, và ở trung tâm là một “hoa hồng” vàng kim rực rỡ, toàn thể dần dần mở ra khi thiên thần đến gần. “Bông hoa” này đập theo nhịp, và các đường mãnh lực cấu thành nó rung động khi Ngài tuôn đổ tình cảm và sinh lực của mình. Ngài giống một Thượng đế Hy Lạp huy hoàng, trên ngực có một hoa hồng đang nở. Những bức xạ giống cánh hoa vươn ra và phủ lên tôi, đường kính tối đa của “bông hoa” khoảng tám bộ. Một sự vận hành liên tục của mãnh lực màu sắc rực rỡ, theo các dải có kích thước và mức độ sáng khác nhau, cũng toả sáng phía trên đầu thiên thần.
Another angel, chiefly blue in colour, soon appeared and the two engaged in “conversation”. As they “spoke” their auras reached out towards each other, touched and drew back, like the wings of celestial butterflies. They were about twenty-five yards apart, and a little above the fruit trees in the orchard. The fluidic nature of their auras was demonstrated by the ease with which they extended them to cover the intervening space. They “spoke” both with their hearts and their minds, for colours and symbols appeared in the emotional and mental matter of their auras, above their head for the most part, but also flashing between them with a rapidity and brilliance quite beyond my capacity to observe fully and record accurately. The main theme of the first angel found its natural expression through that soft, pale green sometimes seen in a summer sunset, this shade appearing continually both in the bands of colour above his head and in the symbol formed; it also tinged the larger portion of his aura, suggesting the qualities of sympathy and understanding.
Một thiên thần khác, chủ yếu có màu xanh lam, chẳng bao lâu xuất hiện, và hai vị bắt đầu “đối thoại”. Khi các Ngài “nói”, hào quang của các Ngài vươn về phía nhau, chạm nhau rồi rút lại, như đôi cánh của những con bướm thiên thượng. Các Ngài cách nhau khoảng hai mươi lăm thước Anh, và hơi ở phía trên các cây ăn quả trong vườn. Bản chất linh động của hào quang các Ngài được chứng minh bởi sự dễ dàng mà các Ngài kéo dài chúng để phủ kín khoảng không gian ở giữa. Các Ngài “nói” bằng cả trái tim lẫn thể trí của mình, vì các màu sắc và biểu tượng xuất hiện trong chất liệu cảm xúc và trí tuệ của hào quang các Ngài, phần lớn ở phía trên đầu, nhưng cũng lóe lên giữa các Ngài với tốc độ và độ rực rỡ vượt xa khả năng quan sát đầy đủ và ghi chép chính xác của tôi. Chủ đề chính của thiên thần thứ nhất tìm thấy biểu hiện tự nhiên của nó qua màu xanh lục nhạt, dịu, đôi khi thấy trong hoàng hôn mùa hè; sắc thái này liên tục xuất hiện cả trong các dải màu phía trên đầu Ngài lẫn trong biểu tượng được tạo thành; nó cũng nhuốm lên phần lớn hào quang của Ngài, gợi đến các phẩm tính cảm thông và thấu hiểu.
Three beautiful forms like vertical, elongated scallop shells next appeared and hovered in the air above his head, quivering with life and light; in colour they were rose, yellow, and dark blue deepening to purple. Presently they expanded into the shape and appearance of large fans, met and became interwoven into one large, fan-shaped radiation. Alternately widening and narrowing, the single stream of flowing force extended high into the air and then disappeared. From his brother angel this called forth a perfect blaze of response, like a pyrotechnic display. His first answer turned the upper part of his aura into three bands of colours of the same shades as the shells; it then swept forward and embraced the first angel, holding him thus for some two or three seconds and then withdrawing. Three greatly enlarged fan-shaped symbols next appeared above him in succession, each symbol disappearing into the upper air in a flash of colour. A radiant smile illumined his face, and it was evident that the remark of the first angel had touched some responsive chord in his nature.
Ba hình tướng đẹp như những vỏ sò điệp thon dài theo chiều dọc tiếp đó xuất hiện và lơ lửng trong không trung phía trên đầu Ngài, rung động với sự sống và ánh sáng; về màu sắc, chúng là hồng, vàng và xanh lam sẫm chuyển sâu thành tím. Ngay sau đó, chúng mở rộng thành hình dạng và diện mạo của những chiếc quạt lớn, gặp nhau và đan xen thành một bức xạ lớn hình quạt. Luân phiên mở rộng và thu hẹp, dòng mãnh lực tuôn chảy duy nhất vươn cao vào không trung rồi biến mất. Từ vị thiên thần huynh đệ của Ngài, điều này gợi ra một ánh rực đáp ứng hoàn hảo, giống một màn pháo hoa. Câu trả lời đầu tiên của Ngài biến phần trên của hào quang Ngài thành ba dải màu cùng sắc thái với các vỏ sò; rồi nó quét tới trước và ôm lấy thiên thần thứ nhất, giữ Ngài như vậy trong chừng hai hay ba giây rồi rút lui. Tiếp đó, ba biểu tượng hình quạt được phóng lớn rất nhiều lần lượt xuất hiện phía trên Ngài, mỗi biểu tượng biến mất vào tầng không phía trên trong một tia chớp màu sắc. Một nụ cười rạng rỡ soi sáng khuôn mặt Ngài, và rõ ràng lời nhận xét của thiên thần thứ nhất đã chạm đến một dây đàn đáp ứng nào đó trong bản chất của Ngài.
The first angel then explained to me the meaning of this interchange. The blue angel who was the second to appear contained within himself something of the fundamental forces and qualities of character underlying the second, fifth and seventh Rays. His life was an expression of the deepest love and the highest intellect, whilst in his work he displayed perfect precision of action. These qualities represented his ideal of perfection and he was consciously linked with an Archangel Superior in whom they were fully developed. In all Nature he perceived predominantly these three powers, traced the effects of their operation in members of the human race and expressed them in all his own activities.
Vị thiên thần thứ nhất bấy giờ giải thích cho tôi ý nghĩa của cuộc trao đổi này. Vị thiên thần màu lam, là vị thứ hai xuất hiện, chứa đựng trong chính mình một phần các mãnh lực căn bản và những phẩm tính của Tính cách nằm dưới cung hai, cung năm và cung bảy. Sự sống của y là một biểu hiện của tình thương sâu thẳm nhất và trí tuệ cao cả nhất, trong khi trong công việc, y biểu lộ sự chính xác hoàn hảo trong hành động. Những phẩm tính này tượng trưng cho lý tưởng hoàn thiện của y, và y được liên kết một cách có ý thức với một Tổng Thiên Thần Cao Cả nơi các phẩm tính ấy đã phát triển trọn vẹn. Trong toàn thể Thiên Nhiên, y nhận thấy nổi bật ba quyền năng này, lần theo các hiệu quả hoạt động của chúng nơi các thành viên của nhân loại, và biểu lộ chúng trong mọi hoạt động của chính mình.
In order to help human beings, for example, he would unify himself with their love nature, enhancing the human power of love by adding to it his own impersonal and universal affection. He would help scientists by stimulating their mental powers, by increasing their capacity for profound abstraction, and would endeavour to illumine their minds with the solution of any problems which they were seeking to solve. He would assist artists, actors, dancers and ceremonialists to attain greater perfection, grace and beauty of portrayal and more accurate expression of the idea by which their art was inspired. He would similarly aid his brother angels and the evolving life in the sub-human kingdoms of Nature. In all his activities these three characteristics would predominate, forming the background of his life and the source of his inspiration.
Chẳng hạn, để giúp đỡ con người, y sẽ hợp nhất chính mình với bản chất bác ái của họ, làm tăng cường quyền năng yêu thương của con người bằng cách thêm vào đó tình cảm vô ngã và phổ quát của chính y. Y sẽ giúp các nhà khoa học bằng cách kích thích các quyền năng trí tuệ của họ, gia tăng khả năng trừu tượng sâu xa của họ, và cố gắng soi sáng thể trí họ bằng lời giải cho bất cứ vấn đề nào họ đang tìm cách giải quyết. Y sẽ trợ giúp các nghệ sĩ, diễn viên, vũ công và những người hành lễ đạt đến sự hoàn thiện, duyên dáng và vẻ đẹp lớn lao hơn trong sự thể hiện, cũng như biểu đạt chính xác hơn ý tưởng đã truyền cảm hứng cho nghệ thuật của họ. Tương tự, y sẽ giúp các huynh đệ thiên thần của mình và sự sống đang tiến hoá trong các giới dưới nhân loại của Thiên Nhiên. Trong mọi hoạt động của y, ba đặc tính này sẽ chiếm ưu thế, tạo thành hậu cảnh của đời sống y và nguồn cảm hứng của y.
The first angel, with deep and intuitive sympathy, discerned this fact and mentally expressed his brother angel’s ideals with all the fullness and completeness of which he was capable, thereby producing the three shell-like forms in the colours typical of the three Rays. The second angel responded by causing the three highly developed qualities of his nature to shine out successively in greatly enlarged fan-shaped forms.
Vị thiên thần thứ nhất, với sự cảm thông sâu xa và trực giác, phân biện tinh thần sự kiện này và biểu đạt bằng trí tuệ các lý tưởng của huynh đệ thiên thần mình với tất cả sự đầy đủ và trọn vẹn mà y có thể đạt được, nhờ đó tạo ra ba hình dạng giống vỏ sò trong các màu sắc tiêu biểu cho ba cung. Vị thiên thần thứ hai đáp ứng bằng cách khiến ba phẩm tính phát triển cao trong bản chất của y lần lượt toả sáng thành những hình quạt mở rộng rất lớn.
This account, lengthy as it is, is still but a very incomplete description of an interchange of thought and feeling between the angels, which probably lasted no more than a minute. The use of the word “Ray” fails adequately to express the concept in the angel’s mind; he would probably call it an aspect of the Divine Life and Consciousness which is projected as a tongue of flame from the central fiery heart of things, or a stream of specially attuned vital energy permeating the universe. These conceptions were included within each of the shell-shaped symbols which, it will be noticed, are apt representations of the fundamental idea. The point of the shell would be at the central source of power which, as it poured forth, would widen out into the fan shape.
Bản tường thuật này, tuy dài như vậy, vẫn chỉ là một mô tả rất không đầy đủ về một cuộc trao đổi tư tưởng và cảm xúc giữa các thiên thần, có lẽ kéo dài không quá một phút. Việc dùng từ “cung” không đủ để diễn đạt khái niệm trong thể trí của vị thiên thần; y có lẽ sẽ gọi đó là một phương diện của Sự Sống và Tâm Thức Thiêng Liêng được phóng chiếu như một lưỡi lửa từ trung tâm rực lửa của vạn vật, hoặc một dòng sinh lực được điều hợp đặc biệt thấm nhuần vũ trụ. Những quan niệm này được hàm chứa trong mỗi biểu tượng hình vỏ sò, mà cần lưu ý rằng đó là những hình biểu trưng rất thích hợp cho ý tưởng căn bản. Đầu nhọn của vỏ sò sẽ ở nguồn quyền năng trung tâm, nguồn này khi tuôn đổ ra sẽ mở rộng thành hình quạt.
Each of these symbols consisted of radiating lines of force, the number of which I was not able to count, though doubtless that also would have its significance. As the whole symbol took form, the lines of force crossed each other and became interwoven until a broad, expanding stream of the three types of energy was formed. Each stream, however, could still be traced, because it maintained its own shape and colour in spite of the interweaving. The combined effect of these three aspects of Life working both in and through the second angel and in Nature was most appropriately portrayed by this shell-like form.
Mỗi biểu tượng này gồm các đường mãnh lực toả ra, số lượng của chúng tôi không thể đếm được, mặc dù chắc chắn điều ấy cũng có thâm nghĩa riêng. Khi toàn bộ biểu tượng thành hình, các đường mãnh lực giao nhau và trở nên đan dệt vào nhau cho đến khi một dòng rộng lớn, mở rộng của ba loại năng lượng được tạo thành. Tuy nhiên, mỗi dòng vẫn có thể được lần theo, vì nó duy trì hình dạng và màu sắc riêng của mình bất chấp sự đan dệt ấy. Hiệu quả tổng hợp của ba phương diện Sự Sống này, hoạt động cả trong và qua vị thiên thần thứ hai cũng như trong Thiên Nhiên, được diễn tả hết sức thích hợp bằng hình dạng giống vỏ sò này.
The angel further explained that, in addition to this colour language, there is a direct interchange of ideas at mental levels. The colours and symbols are largely produced by that interchange, though they may also be used as illustrations and elucidations of the central idea.
Vị thiên thần giải thích thêm rằng, ngoài ngôn ngữ màu sắc này, còn có một sự trao đổi trực tiếp các ý tưởng ở các cấp độ trí tuệ. Các màu sắc và biểu tượng phần lớn do sự trao đổi ấy tạo ra, mặc dù chúng cũng có thể được dùng làm minh hoạ và làm sáng tỏ ý tưởng trung tâm.
THE DANCE OF THE SYLPHS – VŨ ĐIỆU CỦA CÁC SYLPH
The aerial heights above the district of Gloucestershire in which these teachings were received are peopled with various orders of nature spirits, and especially with sylphs of differing degrees of development. The angel teacher referred to in the preceding description, still remaining near the ground, turned his attention upwards, opened his arms towards the sky and sent out a call which had the effect of bringing a large number of sylphs down into the garden where I was seated. As they descended they drew together in groups, and their blended auras produced the effect of living, sylph-made cloud forms, rose-coloured for the most part and brilliantly self-luminous. They brought with them an atmosphere of superabundant joy, as of a happy band of older children suddenly released from school, though in their case the opposite had occurred, as the angel called them from the freedom of the upper air to serve as subjects for human education.
Những tầng cao của không khí phía trên vùng Gloucestershire, nơi các giáo huấn này được tiếp nhận, có nhiều cấp bậc tinh linh tự nhiên khác nhau cư ngụ, đặc biệt là các sylph thuộc nhiều mức độ phát triển khác nhau. Vị huấn sư thiên thần được nói đến trong phần mô tả trước, vẫn ở gần mặt đất, hướng sự chú ý lên trên, mở rộng hai tay về phía bầu trời và phát ra một tiếng gọi, khiến một số lượng lớn sylph hạ xuống khu vườn nơi tôi đang ngồi. Khi hạ xuống, chúng tụ lại thành từng nhóm, và các hào quang hòa quyện của chúng tạo nên hiệu quả của những hình mây sống động do sylph tạo ra, phần lớn có màu hồng và tự phát quang rực rỡ. Chúng mang theo một bầu không khí hoan hỉ tràn đầy, như một nhóm trẻ lớn vui vẻ bỗng được tan học, mặc dù trong trường hợp của chúng điều ngược lại đã xảy ra, vì vị thiên thần gọi chúng từ tự do của tầng không khí cao xuống để làm đối tượng cho sự giáo dục con người.
The summons consisted of a strong and highly concentrated stream of will-power clothed in mental matter, a will-thought, a mental “shout” as it were. From the upper portion of the angel’s aura a number of small, cone-shaped forms also flashed into the air point upwards; the main colouring was rose, though the points were tipped with steel-blue. Each one “struck” a sylph, attracted its attention and conveyed an order, in response to which it descended. The angel was so far above them in evolution that an expression of his thought and will amounted to a command.
Lời triệu gọi gồm một dòng ý chí mạnh mẽ và tập trung cao độ khoác trong chất liệu trí tuệ, một ý chí-tư tưởng, có thể nói là một “tiếng gọi” trí tuệ. Từ phần trên của hào quang vị thiên thần, một số hình nhỏ dạng nón cũng loé lên trong không trung, đầu nhọn hướng lên; màu sắc chính là hồng, dù các đầu nhọn được viền xanh thép. Mỗi hình “chạm” vào một sylph, thu hút sự chú ý của nó và truyền đạt một mệnh lệnh, để đáp ứng lại nó liền hạ xuống. Vị thiên thần cao hơn chúng rất xa trong tiến hoá đến nỗi một biểu hiện của tư tưởng và ý chí của y có giá trị như một mệnh lệnh.
The angel smiled on them and rose-coloured rays of love shone from the sylphs towards the angel, each one drawing immediate response from him, his aura becoming suffused with a rosy light. He extended it laterally into tw'o wing-like radiations and then stretched these forward until they enveloped and passed beyond the group of sylphs, who were thus played upon by the intensely vivid and luminous auric energies of the angel. With these auric “wings” he maintained a continual, graceful sweeping and swinging movement backwards and forwards between himself and the sylphs, each beat of the “wings” pouring more life and love into them and filling them with an added joy, until their state became one of rapture.
Vị thiên thần mỉm cười với chúng, và các tia bác ái màu hồng từ các sylph chiếu về phía vị thiên thần, mỗi tia đều gợi ngay một đáp ứng từ y, khiến hào quang của y thấm đẫm ánh sáng hồng. Y mở rộng hào quang ấy sang hai bên thành hai bức xạ giống đôi cánh, rồi duỗi chúng ra phía trước cho đến khi chúng bao bọc và vượt qua nhóm sylph, nhờ vậy các sylph được tác động bởi những năng lượng hào quang cực kỳ sống động và sáng chói của vị thiên thần. Với đôi “cánh” hào quang này, y duy trì một chuyển động quét và đong đưa liên tục, duyên dáng, tới lui giữa chính y và các sylph; mỗi nhịp “cánh” lại tuôn thêm sự sống và bác ái vào chúng, làm chúng tràn đầy một niềm hoan hỉ tăng thêm, cho đến khi trạng thái của chúng trở thành ngây ngất.
Towards each other, they displayed considerable mutual affection, many of them “standing” with arms outstretched to rest upon each other’s shoulders. When these felicitations were completed, a concerted movement began in which all were linked in this way, the whole group arranging itself in circular tiers into the shape of a convolvulus flower. One sylph formed the point; three formed a circle above it, all facing inwards; the remainder formed ring upon ring, each larger than the one below, the whole glowing and flashing with rosy light, within which the natural colours of their auras appeared like the changing hues of an opal. Then the whole “flower” began to turn, all the sylphs moving together and maintaining perfectly the convolvulus flower form. Their faces bore an expression of joy and their long “hair” floated out behind them and their shining auric robes blending in expression of their perfect unity of feeling and of thought.
Đối với nhau, chúng biểu lộ tình cảm hỗ tương đáng kể, nhiều sylph “đứng” với hai tay dang ra đặt lên vai nhau. Khi những lời chào mừng này hoàn tất, một chuyển động phối hợp bắt đầu, trong đó tất cả đều liên kết với nhau theo cách ấy; toàn nhóm tự sắp xếp thành các tầng tròn theo hình một bông hoa bìm bìm. Một sylph tạo thành điểm nhọn; ba sylph tạo thành một vòng tròn phía trên, tất cả đều hướng mặt vào trong; số còn lại tạo thành vòng này tiếp vòng khác, mỗi vòng lớn hơn vòng bên dưới, toàn thể rực sáng và lóe lên ánh hồng, trong đó các màu tự nhiên của hào quang chúng hiện ra như những sắc thái biến đổi của đá opal. Rồi toàn bộ “bông hoa” bắt đầu xoay, tất cả sylph cùng chuyển động và duy trì hoàn hảo hình dạng hoa bìm bìm. Gương mặt chúng mang vẻ hoan hỉ, “tóc” dài của chúng bay ra phía sau, và các áo choàng hào quang sáng chói của chúng hòa quyện, biểu lộ sự hợp nhất hoàn hảo trong cảm xúc và tư tưởng.
They revolved with increasing rapidity, until the angel gave the signal of dismissal by his raising his right hand above his head. Then the whole group, still revolving and maintaining the flower formation, rose high into the heavens, after which each ring opened out into a line and broke up into groups of two and three sylphs. Still rotating and rising as it turned, the flower form created in superphysical matter by this aerial dance remained, shining in heavens. Shortly afterwards, as if perceiving this and animated by a new idea, the sylphs re-formed into one big circle round the “flower” and by united thought built an enclosing, translucent sphere of the soft green colour of the teaching angel’s aura. This did not “grow” entirely into a closed sphere, but remained open at the top, streams of energy flowing up through the interior of the form to play out into the air above.
Chúng xoay tròn với tốc độ ngày càng tăng, cho đến khi vị thiên thần ra dấu giải tán bằng cách đưa tay phải lên trên đầu. Khi ấy toàn nhóm, vẫn xoay tròn và duy trì đội hình bông hoa, bay cao lên các tầng trời; sau đó mỗi vòng mở ra thành một hàng và tách thành các nhóm hai hoặc ba sylph. Vẫn xoay và bay lên khi xoay, hình hoa được tạo trong chất liệu siêu hồng trần bởi vũ điệu trên không này vẫn còn lại, sáng rực trên các tầng trời. Ít lâu sau, như thể nhận ra điều này và được một ý tưởng mới làm linh hoạt, các sylph lại hợp thành một vòng tròn lớn quanh “bông hoa” và bằng tư tưởng hợp nhất xây dựng một khối cầu bao quanh, trong mờ, có màu xanh lục dịu của hào quang vị thiên thần giảng dạy. Khối cầu này không “lớn” hoàn toàn thành một khối cầu khép kín, mà vẫn mở ở phía trên, các dòng năng lượng chảy lên qua bên trong hình thể để tỏa ra trong không khí phía trên.
A certain abandon now became apparent in the movements of the sylphs, who continued to wheel with extreme rapidity round the flower form. Their heads were thrown back and their bodies were curved outwards from the circle. At last they dispersed glancing and sending towards the angel thoughts of love which descended upon him in a shower of crimson cones. These entered his aura, within which they flowed for a time with rosy light.
Giờ đây, một sự buông thả nào đó trở nên rõ rệt trong các chuyển động của các sylph, khi chúng tiếp tục xoay vòng với tốc độ cực nhanh quanh hình hoa. Đầu chúng ngửa ra sau và thân chúng cong ra ngoài khỏi vòng tròn. Cuối cùng chúng phân tán, liếc nhìn và gửi về phía vị thiên thần những tư tưởng yêu thương, các tư tưởng ấy đổ xuống trên y như một trận mưa các hình nón đỏ thẫm. Chúng đi vào hào quang của y, và trong đó chúng chảy một thời gian với ánh hồng.
The flower form was evidently created as an offering and the dance was an expression of love, unity and joy, performed in honour of the angel who called them, to whom they paid the compliment of building the surrounding form in the predominating colour of his aura. A smile lighted his face as he turned to me in a gesture of farewell, and then disappeared.
Hình hoa rõ ràng được tạo ra như một lễ vật dâng hiến, và vũ điệu là một biểu hiện của tình thương, sự hợp nhất và hoan hỉ, được thực hiện để tôn vinh vị thiên thần đã gọi chúng, và chúng bày tỏ lòng kính trọng với y bằng cách xây dựng hình bao quanh trong màu chủ đạo của hào quang y. Một nụ cười làm gương mặt y bừng sáng khi y quay sang tôi trong một cử chỉ từ biệt, rồi biến mất.
CHAPTER IV THE LESSER GODS – CHƯƠNG IV CÁC VỊ THẦN NHỎ HƠN
THE ASTRAL AND THE ETHERIC FORMS – CÁC HÌNH TƯỚNG CẢM DỤC VÀ DĨ THÁI
ON the lower rungs of the ladder of the Angelic Hierarchy are to be found the nature spirits of the four subtle elements of earth, water, air and fire. The English countryside where these studies were made is well populated with the almost infinite variety of denizens of these four kingdoms of Nature.
Ở các nấc thấp của chiếc thang Thánh Đoàn Thiên Thần có thể tìm thấy các tinh linh tự nhiên của bốn nguyên tố vi tế là đất, nước, khí và lửa. Vùng đồng quê Anh quốc nơi các nghiên cứu này được thực hiện có rất nhiều cư dân thuộc bốn giới này của Thiên Nhiên, với sự đa dạng gần như vô tận.
My observations suggest that nature spirits use two distinct forms. One of these is the permanent astral body and the other a temporarily materialised etheric vehicle. The astral form consists of a spherical, many-coloured aura surrounding the delicate, force-built fairy form within. The etheric vehicle is assumed for at least two reasons. One is that, when an etheric body is worn, an added sense of individuality or entity is experienced by the nascent mind, which is normally unselfconscious and diffused throughout a group. The other is that an increased vitality and vividness of life are attained by closer contact with the physical world, both during seasons of plant germination, growth and full development, and in bright sunshine. These experiences provide pleasure. Under these conditions nature spirits emerge from the astral into the etheric levels where they become more easily visible and are more generally first seen. There they dance, play, see each other, and human beings to some extent, imitate them and on occasions become attached to those sufficiently sensitive to respond to their presence and even communicate with them.
Những quan sát của tôi gợi ý rằng các tinh linh tự nhiên sử dụng hai hình tướng riêng biệt. Một trong số đó là thể cảm dục trường tồn, và cái kia là một vận cụ dĩ thái tạm thời được hiện hình. Hình tướng cảm dục gồm một hào quang hình cầu, nhiều màu, bao quanh hình dạng tiên nhỏ bé, tinh tế, được xây bằng mãnh lực ở bên trong. Vận cụ dĩ thái được khoác lấy ít nhất vì hai lý do. Một là, khi mặc lấy một thể dĩ thái, thể trí mới chớm nở—vốn bình thường không có ngã thức và phân tán khắp một nhóm—trải nghiệm thêm một ý thức về tính cá thể hoặc thực thể. Lý do kia là, qua sự tiếp xúc gần hơn với thế giới hồng trần, cả trong các mùa cây cối nảy mầm, tăng trưởng và phát triển đầy đủ, lẫn dưới ánh nắng rực rỡ, chúng đạt được sinh lực và sự sống động gia tăng. Những kinh nghiệm này đem lại khoái cảm. Trong các điều kiện ấy, các tinh linh tự nhiên xuất hiện từ cõi cảm dục vào các cấp độ dĩ thái, nơi chúng trở nên dễ thấy hơn và thường được nhìn thấy lần đầu. Ở đó chúng nhảy múa, vui chơi, nhìn thấy nhau, và ở một mức độ nào đó nhìn thấy con người; chúng bắt chước con người và đôi khi trở nên gắn bó với những người đủ nhạy cảm để đáp ứng với sự hiện diện của chúng, thậm chí giao tiếp với chúng.
When the etheric form is assumed, its shape would appear to be governed by at least three influences. The first of these is that of the Archetype, which is the same for both the Angelic and the human kingdoms. The second is the modification of the Archetype characteristic of the nature spirits of each of the four elements of earth, water, air and fire. Variations of each of these are also to be observed at different levels-below, on and above the surface of the earth, in diverse natural conditions and in differing districts.
Khi hình tướng dĩ thái được khoác lấy, dáng hình của nó dường như chịu sự chi phối của ít nhất ba ảnh hưởng. Ảnh hưởng thứ nhất là của Nguyên Mẫu, vốn giống nhau đối với cả giới thiên thần lẫn giới nhân loại. Ảnh hưởng thứ hai là sự biến đổi của Nguyên Mẫu đặc trưng cho các tinh linh tự nhiên của mỗi trong bốn nguyên tố đất, nước, khí và lửa. Những biến thể của mỗi loại này cũng có thể được quan sát ở các cấp độ khác nhau—dưới, trên và phía trên bề mặt trái đất, trong các điều kiện tự nhiên đa dạng và tại những vùng khác nhau.
The third influence is exerted by the human habits, the dress and the popular thought concerning the appearance of fairy people of particular times and places.
Ảnh hưởng thứ ba do các tập quán của con người, y phục và tư tưởng phổ biến liên quan đến vẻ ngoài của dân tiên ở những thời kỳ và nơi chốn riêng biệt tạo ra.
Certain periods in history have thus left their mark upon the nature spirit kingdom. The gnome shape apparently dates from the first physical inhabitants of the planet in ancient Lemurian days. The impress of Atlantean thought is still to be seen upon the Greater and Lesser Gods of such countries as Central and South America and the Pacific Islands and Archipelagos which were for long periods inhabited by Atlanteans. The appearance of other nature spirits of earth is evidently moulded according to the medieval European rustic, of whom the brownie is in part a miniature reproduction. Whole tribes of earth nature spirits are to be found in England wearing an Elizabethan style of male attire. Fairies frequently assume a relatively modern appearance, even to the style of “hair,” as is also shown in the fairies who were photographed by the two children in Yorkshire. Some nature spirits assume the blacksmith’s attire, and even carry thought-made tools, others the .cobbler’s, whilst, others again, consciously or unconsciously, display similar forms of mimicry of human activities, habits and dress.
Do đó, một số thời kỳ trong lịch sử đã để lại dấu ấn của chúng trên giới tinh linh tự nhiên. Hình dạng gnome dường như có từ những cư dân hồng trần đầu tiên của hành tinh trong thời Lemuria cổ đại. Dấu ấn của tư tưởng Atlantis vẫn còn thấy được trên các Vị Thần Lớn và Nhỏ của những xứ như Trung và Nam Mỹ, cũng như các đảo và quần đảo Thái Bình Dương, những nơi trong thời gian dài đã có người Atlantis cư ngụ. Vẻ ngoài của các tinh linh tự nhiên khác thuộc đất rõ ràng được nặn theo người thôn quê châu Âu thời trung cổ, mà brownie phần nào là một bản sao thu nhỏ. Có thể tìm thấy ở Anh toàn bộ các bộ tộc tinh linh tự nhiên của đất mặc kiểu y phục nam giới thời Elizabeth. Các tiên thường khoác lấy vẻ ngoài tương đối hiện đại, thậm chí đến cả kiểu “tóc”, như cũng được thấy trong những tiên đã được hai đứa trẻ ở Yorkshire chụp ảnh. Một số tinh linh tự nhiên khoác trang phục của thợ rèn, thậm chí mang theo các công cụ do tư tưởng tạo ra; những tinh linh khác khoác trang phục của thợ đóng giày, trong khi những tinh linh khác nữa, một cách có ý thức hoặc vô thức, biểu lộ các hình thức bắt chước tương tự đối với hoạt động, thói quen và y phục của con người.
Fairy thought is powerfully formative upon astral and etheric matter. As far as their limited powers of observation permit, they delight to copy the appearance of such human beings as they can see, an art at which they are very expert. In North America the earth nature spirits are often nude to the waist and wear what appear to be leather or buckskin trousers, these sometimes being fringed after the habit of the American Indian, Their auras, too, are not infrequently arranged in concentric bands of colour, causing them somewhat to suggest the appearance of the Indian war bonnet of dyed eagle feathers. Unclothed, black gnomes resembling aborigines are to be seen in South Africa and Australia whilst certain earth nature spirits in New Zealand look rather like miniature, half-dressed Maori men.
Tư tưởng của tiên có sức tạo hình mạnh mẽ trên vật chất cảm dục và dĩ thái. Trong phạm vi khả năng quan sát hạn chế của mình, chúng thích sao chép vẻ ngoài của những con người mà chúng có thể thấy, một nghệ thuật mà chúng rất thành thạo. Ở Bắc Mỹ, các tinh linh tự nhiên của đất thường để trần đến thắt lưng và mặc thứ trông như quần da hoặc da hươu, đôi khi có tua theo thói quen của người Mỹ bản địa. Hào quang của chúng cũng không hiếm khi được sắp xếp thành các dải màu đồng tâm, khiến chúng phần nào gợi nhớ đến vẻ ngoài của mũ chiến bằng lông đại bàng nhuộm màu của người bản địa. Ở Nam Phi và Úc có thể thấy các gnome đen, không mặc y phục, giống người bản địa, trong khi một số tinh linh tự nhiên của đất ở New Zealand trông khá giống những người Maori thu nhỏ, mặc nửa người.
All descriptions of the hair, wings and garments of nature spirits, especially including the appearance of filmy, gossamerlike clothing, refer to densifications, to the level of the fourth sub-plane from above of the ether, of certain inner portions of their astro-etheric auras. Wands, on the other hand, appear spontaneously as symbols of authority, forms naturally assumed by the attribute of rule by instinctual will by the leaders of concerted movements of nature spirits which control and direct those in their charge.
Mọi mô tả về tóc, cánh và y phục của các tinh linh tự nhiên, đặc biệt bao gồm vẻ ngoài của trang phục mỏng manh như tơ nhện, đều chỉ các sự cô đặc, đến cấp độ của cõi phụ thứ tư tính từ trên xuống của dĩ thái, của một số phần bên trong các hào quang cảm-dĩ thái của chúng. Mặt khác, đũa xuất hiện tự phát như những biểu tượng của quyền uy, là các hình tướng tự nhiên được thuộc tính cai quản bằng ý chí bản năng khoác lấy nơi những thủ lĩnh của các chuyển động phối hợp của tinh linh tự nhiên, vốn kiểm soát và chỉ đạo những đơn vị thuộc quyền mình.
The consciousness of these fairy creatures normally functions upon the astral plane which is a life plane. When a more objective self-expression is entered upon, a process of self-clothing in the matter of the ether which is a form plane is more or less instinctively carried out. This culminates in the temporary creation of an etheric body ensouled, interpenetrated and surrounded by the astral creator. The reproduction as relatively fixed forms of currents in the astral aura and the formation of garlands, belts and wands as expressive of attributes are natural processes. They are, I believe, manifestations in the small world of fairy of those Cosmic creative processes and laws by which external Nature comes into existence as an expression of THAT from which it emanates. Admittedly the nature spirit forms are illusory and evanescent, but so is the whole objective universe from the point of view of ultimate reality.
Tâm thức của các sinh vật tiên này bình thường hoạt động trên cõi cảm dục, vốn là một cõi sự sống. Khi bước vào một sự tự biểu hiện khách quan hơn, một tiến trình tự khoác lấy chất liệu của dĩ thái, vốn là một cõi hình tướng, được thực hiện ít nhiều theo bản năng. Điều này đạt đến cao điểm trong việc tạm thời tạo ra một thể dĩ thái được phú linh, thấm nhập và bao quanh bởi đấng sáng tạo cảm dục. Việc tái tạo thành những hình tướng tương đối cố định các dòng chảy trong hào quang cảm dục, và việc tạo thành các tràng hoa, dây đai và đũa như những biểu hiện của thuộc tính, là những tiến trình tự nhiên. Tôi tin rằng chúng là các biểu hiện trong thế giới nhỏ bé của tiên của những tiến trình và định luật sáng tạo vũ trụ, nhờ đó Thiên Nhiên bên ngoài đi vào hiện hữu như một biểu hiện của CÁI mà từ đó nó xuất lộ. Phải thừa nhận rằng các hình tướng tinh linh tự nhiên là hư ảo và thoáng qua, nhưng toàn bộ vũ trụ khách quan cũng vậy, xét từ quan điểm của thực tại tối hậu.
This microcosmic expression of Macrocosmic powers and laws gives even to the smallest forms and beings of nature their profound interest and significance. The chemical atom is thought to reproduce in ultra-microscopic proportions the form and interior movements of a solar system, themselves both manifestations of still greater units and objective expressions of universal numerical and geometrical principles. Similarly, my observations have led me to believe the forms of elf, fairy and dryad are the result of the operation of the laws by which the Cosmos is built. A study of these beings can, therefore, lead the observer from the minute effect to the great Cause, from the single existence to the general principle.
Biểu hiện tiểu thiên địa này của các quyền năng và định luật đại thiên địa đem lại cho ngay cả những hình tướng và sinh linh nhỏ bé nhất của thiên nhiên mối quan tâm và thâm nghĩa sâu xa của chúng. Người ta cho rằng nguyên tử hoá học tái tạo, trong tỷ lệ siêu hiển vi, hình dạng và các chuyển động bên trong của một hệ mặt trời; chính cả hai đều là các biểu hiện của những đơn vị còn lớn hơn và là các biểu đạt khách quan của những nguyên lý số học và hình học phổ quát. Tương tự, những quan sát của tôi đã dẫn tôi đến niềm tin rằng các hình tướng của elf, tiên và nữ thần cây là kết quả của sự vận hành các định luật nhờ đó Vũ Trụ được xây dựng. Do đó, việc nghiên cứu các sinh linh này có thể dẫn người quan sát từ hiệu quả nhỏ bé đến Nguyên Nhân vĩ đại, từ sự hiện hữu đơn lẻ đến nguyên lý phổ quát.
The remarks and descriptions which follow are admittedly limited, both in range and understanding, being taken from records of my first halting attempts to investigate the Kingdom of Fairy. For the sake of accuracy, however, they are presented almost as then written, rather than expanded in the light of later knowledge. If further explanation and even apology be needed for the inclusion of so much of the apparent trivia of fairy lore in this work, I would answer that in the light of fuller knowledge the little people may be found to occupy, however unconsciously, positions of importance in the fulfilment of Nature’s mysterious plans and processes. The power of the single cell to move, breathe, reproduce and nourish itself and that of groups of cells to communicate, cooperate and co-ordinate their activities in the development of organic bodies, may be explained by the presence and instinctually directive influence of the nature spirits. Amoeba are known to move towards a conjoined, communal existence stimulated and guided physically by certain chemical substances. The origin and action of such substances and of the mechanism apparent in the evolution of the slime moulds and their successors in the scale, may perhaps be traceable to the activities of invisible, astro-etheric organisms of the order of the nature spirits of the four elements.
Các nhận xét và mô tả tiếp theo, phải thừa nhận, bị giới hạn cả về phạm vi lẫn sự thấu hiểu, vì được lấy từ những ghi chép về các nỗ lực đầu tiên còn ngập ngừng của tôi nhằm khảo sát Giới Tiên. Tuy nhiên, vì sự chính xác, chúng được trình bày gần như đúng như khi được viết ra, thay vì được mở rộng dưới ánh sáng của tri thức về sau. Nếu cần thêm lời giải thích, thậm chí lời xin lỗi, về việc đưa vào tác phẩm này quá nhiều điều có vẻ là chi tiết vụn vặt của truyền thuyết về tiên, tôi xin đáp rằng dưới ánh sáng của tri thức đầy đủ hơn, có thể thấy những người bé nhỏ này, dù vô thức đến đâu, vẫn giữ những vị trí quan trọng trong việc hoàn thành các Thiên Cơ và tiến trình huyền nhiệm của Thiên Nhiên. Quyền năng của một tế bào đơn lẻ trong việc di chuyển, hô hấp, sinh sản và tự nuôi dưỡng, cũng như quyền năng của các nhóm tế bào trong việc giao tiếp, hợp tác và phối hợp các hoạt động của chúng trong sự phát triển của các thể hữu cơ, có thể được giải thích bằng sự hiện diện và ảnh hưởng chỉ đạo theo bản năng của các tinh linh tự nhiên. Người ta biết rằng amip di chuyển hướng tới một sự hiện hữu cộng đồng liên hợp, được kích thích và hướng dẫn về mặt hồng trần bởi một số chất hoá học nhất định. Nguồn gốc và tác động của các chất ấy, cũng như của bộ máy hiển lộ trong sự tiến hoá của các loại nấm nhầy và những dạng kế tiếp chúng trên thang bậc, có lẽ có thể được lần về các hoạt động của những sinh thể cảm-dĩ thái vô hình thuộc cấp bậc các tinh linh tự nhiên của bốn nguyên tố.
Nothing in Nature is insignificant. The extremely minute is as important as the inconceivably vast. Dimension and apparent significance in the light of present human knowledge cannot be regarded as standards of importance. Moreover since the smallest atom and the greatest Archangel are produced, shaped and evolved in accordance with the same laws, a study of the minute and the apparently unimportant can lead to a comprehension of all that exists. From this point of view a nature spirit is of as much consequence as a creative God and those who take all Nature for their field of study can hardly afford to neglect these embodiments of Nature’s indwelling life. Nature spirits may one day be found to be links in the chain of causation by which a universe is conceived, mentally “named” and its “name” or “word” uttered so that the sound thereof causes the primordial single concept to become manifest as physical nature in all its infinite complexity and variety of evolving beings, species and forms.
Không gì trong Thiên Nhiên là không có thâm nghĩa. Cái cực kỳ nhỏ bé cũng quan trọng như cái bao la không thể quan niệm. Kích thước và thâm nghĩa bề ngoài dưới ánh sáng tri thức hiện tại của con người không thể được xem là tiêu chuẩn của tầm quan trọng. Hơn nữa, vì nguyên tử nhỏ nhất và Tổng Thiên Thần lớn lao nhất đều được tạo ra, định hình và tiến hoá theo cùng những định luật, nên việc nghiên cứu cái nhỏ bé và cái có vẻ không quan trọng có thể dẫn đến sự lĩnh hội tất cả những gì hiện hữu. Từ quan điểm này, một tinh linh tự nhiên có ý nghĩa không kém một Vị Thần sáng tạo, và những ai lấy toàn thể Thiên Nhiên làm lĩnh vực nghiên cứu của mình khó có thể bỏ qua những hiện thân này của sự sống nội tại trong Thiên Nhiên. Một ngày kia, các tinh linh tự nhiên có thể được phát hiện là những mắc xích trong chuỗi nhân quả nhờ đó một vũ trụ được quan niệm, được “đặt tên” bằng trí tuệ, và “tên” hay “linh từ” của nó được xướng lên, để âm thanh ấy khiến khái niệm đơn nhất nguyên sơ trở nên biểu hiện thành thiên nhiên hồng trần trong toàn bộ tính phức tạp và đa dạng vô tận của các sinh linh, loài và hình tướng đang tiến hoá.
I admit that I have also been moved by the thought that readers—and those read to—of tender years may find in these descriptions much that will entertain, and perhaps provide later on an easy gateway to a deeper study of the Kingdom of the Gods. There is, moreover, a further reason for interest in the elementáis of earth, water, air and fire which will be apparent to those of my readers who are interested in alchemy.
Tôi thừa nhận rằng tôi cũng đã bị thúc đẩy bởi ý nghĩ rằng những độc giả—và những người được đọc cho nghe—còn nhỏ tuổi có thể tìm thấy trong các mô tả này nhiều điều làm họ thích thú, và có lẽ về sau cung cấp một lối vào dễ dàng cho việc nghiên cứu sâu hơn về Giới của các Vị Thần. Hơn nữa, còn có một lý do khác để quan tâm đến các hành khí của đất, nước, khí và lửa, điều này sẽ rõ ràng đối với những độc giả của tôi quan tâm đến thuật luyện kim.
BROWNIES – BROWNIE
The European brownies I have studied, though differing considerably in detail, have always presented certain common characteristics which place them unmistakably in their own family.
Những brownie châu Âu mà tôi đã nghiên cứu, tuy khác nhau đáng kể về chi tiết, luôn biểu lộ một số đặc điểm chung đặt chúng một cách không thể nhầm lẫn vào gia đình riêng của chúng.
A medieval style of attire is generally affected. A short brown coat, sometimes with a wide scalloped collar, bright buttons and facings of green, brown knee-breeches, rough stockings and two distinct kinds of boots are worn. Sometimes a large, heavy “agricultural” boot is seen, and at others a long, pointed, lighter shoe. One way in which variations can occur is suggested in the description given later of the manufacture of a pair of fairy shoes.
Chúng thường ưa khoác một kiểu trang phục trung cổ. Chúng mặc một chiếc áo khoác ngắn màu nâu, đôi khi có cổ rộng viền lượn sóng, nút sáng và nẹp màu xanh lục, quần chẽn nâu đến gối, vớ thô và hai loại ủng khác biệt. Đôi khi thấy một loại ủng “nông nghiệp” lớn và nặng, lúc khác lại là một chiếc giày dài, nhọn và nhẹ hơn. Một cách mà các biến thể có thể xảy ra được gợi ý trong phần mô tả sau đây về việc chế tạo một đôi giày tiên.
A pointed cap is the usual head-dress, though a low-brimmed hat occasionally replaces the nightcap-shape more generally worn. Groups of brownies, apparently believing themselves to be hard at work, have been seen wearing aprons closely resembling those worn by blacksmiths; bright buckles and clasps are generally part of their equipment. Working brownies carry and pretend to use tools, chiefly spades and picks, with which they delve in the earth with great earnestness. Some tribes of brownies are short and squat, with fat, round bodies and short limbs, others being slim and youthful in appearance. Their height varies from some four to twelve inches. Usually the face is that of an old man, with grey eyebrows, moustache and beard, red complexion and a weatherbeaten aspect. The eyes are small and beady and the expression simple and kindly.
Mũ nhọn là vật đội đầu thông thường, mặc dù đôi khi một chiếc mũ vành thấp thay thế cho hình dạng mũ ngủ thường được đội hơn. Các nhóm brownie, dường như tin rằng mình đang làm việc chăm chỉ, đã được thấy mang tạp dề rất giống tạp dề của thợ rèn; các khoá và móc sáng thường là một phần trong trang bị của chúng. Các brownie làm việc mang và giả vờ sử dụng công cụ, chủ yếu là thuổng và cuốc, để đào đất với vẻ hết sức nghiêm túc. Một số bộ tộc brownie thấp và chắc nịch, với thân tròn béo và chi ngắn; những bộ tộc khác thì mảnh mai và có vẻ trẻ trung. Chiều cao của chúng thay đổi từ khoảng bốn đến mười hai inch. Thường thì gương mặt là gương mặt của một ông già, với lông mày, ria mép và râu xám, nước da đỏ và vẻ phong sương. Đôi mắt nhỏ và sáng như hạt cườm, còn nét mặt thì giản dị và hiền hậu.
By nature they are communicative and friendly creatures, living in tribes and, like most of the fairy peoples, highly imitative of man in their habits, their attire and their methods of work and play. They belong to the soil and have much of the rustic simplicity of the tiller of the ground. What function they perform in the processes of Nature is not clear; they are generally to be found on or just beneath the surface of the ground. I have seen them digging most solemnly amongst the roots of growing plants, yet such an expression of mock seriousness and make-believe pervades all their activities that it is never quite clear whether they regard their endeavour as work or play. The following accounts of nature spirits of earth, water, air and fire are taken from descriptions of scenes observed on different occasions, and may help to an understanding of these little people.
Theo bản chất, chúng là những sinh vật giao tiếp và thân thiện, sống thành bộ tộc, và giống như hầu hết các dân tộc tiên, chúng bắt chước con người rất nhiều trong thói quen, trang phục và các phương pháp làm việc cũng như vui chơi. Chúng thuộc về đất và mang nhiều nét giản dị thôn dã của người canh tác ruộng đồng. Chúng thực hiện chức năng gì trong các tiến trình của Thiên Nhiên thì chưa rõ; thường có thể tìm thấy chúng trên hoặc ngay dưới bề mặt đất. Tôi đã thấy chúng đào bới rất trang nghiêm giữa rễ các cây đang mọc, nhưng một biểu hiện nghiêm túc giả tạo và trò giả vờ thấm nhuần mọi hoạt động của chúng đến nỗi không bao giờ thật rõ chúng xem nỗ lực của mình là công việc hay trò chơi. Các tường thuật sau đây về các tinh linh tự nhiên của đất, nước, khí và lửa được lấy từ những mô tả các cảnh quan sát vào những dịp khác nhau, và có thể giúp thấu hiểu những người bé nhỏ này.
A BROWNIE VILLAGE – MỘT LÀNG BROWNIE
On the steep side of one of the crags on the western shores of Thirlmere is a very large colony of brownies; they live a few feet below the ground level and spend their time as much beneath as above the surface. I see a number of small houses, just under the surface of the hill. Quite perfect in shape, with windows and doors, they are scattered irregularly about the hillside, and amongst the leaves, the roots and the rocks which surround them numbers of brownie figures are to be seen. The following is an attempt to describe one of these selected at' random.
Trên sườn dốc của một trong các mỏm đá ở bờ tây Thirlmere có một thuộc địa brownie rất lớn; chúng sống cách mặt đất vài foot và dành thời gian ở dưới mặt đất cũng nhiều như trên mặt đất. Tôi thấy một số ngôi nhà nhỏ, ngay dưới bề mặt ngọn đồi. Có hình dạng khá hoàn hảo, với cửa sổ và cửa ra vào, chúng rải rác không đều trên sườn đồi; giữa lá cây, rễ cây và đá xung quanh chúng, có thể thấy vô số hình dáng brownie. Sau đây là một nỗ lực mô tả một trong số chúng, được chọn ngẫu nhiên.
Not more than six inches high, he looks like a little old man, wearing a brown hat shaped like a nightcap, and a brown suit consisting of what appears to be the brownie regulation knickerbockers, stockings and boots. The face is grey-beared and bears the impress of an ancient rusticity. Undoubtedly there is the make-believe of domestic life, though I do not see any female figure in this fairy village. Brownies literally swarm over this hillside and vary little in appearance, expression or intelligence. They seem to be just “evolving” here. They differ from any brownies I have previously seen in that they do not appear to “work” in connection with any processes of Nature; though they venerate the trees, they do not serve them in any capacity.
Không cao quá sáu inch, y trông như một ông già nhỏ bé, đội một chiếc mũ nâu hình mũ ngủ, và mặc một bộ đồ nâu gồm thứ có vẻ là quần chẽn, vớ và ủng theo quy định của brownie. Gương mặt có râu xám và mang dấu ấn của một vẻ thôn dã cổ xưa. Chắc chắn có trò giả vờ về đời sống gia đình, mặc dù tôi không thấy bất cứ hình dáng nữ nào trong làng tiên này. Brownie thật sự nhung nhúc trên sườn đồi này và rất ít khác biệt về vẻ ngoài, nét mặt hoặc trí thông minh. Chúng dường như chỉ đang “tiến hoá” ở đây. Chúng khác với bất cứ brownie nào tôi từng thấy trước đó ở chỗ chúng dường như không “làm việc” liên quan đến bất kỳ tiến trình nào của Thiên Nhiên; mặc dù chúng tôn kính cây cối, chúng không phụng sự cây cối trong bất kỳ khả năng nào.
One of a younger looking type of nature spirit which also lives here has now approached me and, standing some two or three yards on my right, is proceding to display himself with extravagant gestures and simple-minded humour. He is much slimmer than the older-looking brownies, and has a touch of colour about him—a little red on the hat (which is conical with the point hanging back) and a little green in his costume. I hardly think he can be a brownie; his feet run down to a point, his nether limbs are thin and elongated and his hands are too large for the rest of his body. He rests his left hand on his hip and points with his right hand in the direction of the wood, as if proudly displaying the beauties of the place. Added to his pride there is a good deal of vain glory and childish self-satisfaction. His face is clean-shaven and red, his eyes small, his nose and chin prominent, his mouth very wide and still further expanded into a grin. His gestures and postures are extravagant and amazing. His body is so supple that he can bend and stretch to almost any position.
Một tinh linh tự nhiên thuộc loại trông trẻ hơn, cũng sống ở đây, giờ đã tiến lại gần tôi và, đứng cách tôi khoảng hai hoặc ba yard bên phải, bắt đầu phô diễn bản thân bằng những cử chỉ phóng đại và sự hài hước ngây ngô. Y mảnh mai hơn nhiều so với các brownie trông già hơn, và có một chút màu sắc trên người—một chút đỏ trên mũ, vốn có hình nón với đầu nhọn rủ ra sau, và một chút xanh lục trong trang phục. Tôi khó nghĩ rằng y có thể là một brownie; bàn chân y thu lại thành đầu nhọn, các chi dưới mảnh và kéo dài, còn hai bàn tay quá lớn so với phần còn lại của thân thể. Y đặt tay trái lên hông và chỉ tay phải về phía khu rừng, như thể tự hào phô bày vẻ đẹp của nơi này. Thêm vào niềm kiêu hãnh của y còn có khá nhiều tự phụ và tự mãn trẻ con. Gương mặt y nhẵn nhụi và đỏ, mắt nhỏ, mũi và cằm nhô, miệng rất rộng và còn mở rộng hơn nữa thành một nụ cười toe toét. Các cử chỉ và tư thế của y phóng đại và đáng kinh ngạc. Thân thể y mềm dẻo đến nỗi y có thể uốn cong và duỗi ra hầu như bất cứ tư thế nào.
I cannot persuade him to approach any nearer, as when I try to do so he immediately begins to show apprehension. He appears to feel uncomfortable, though not, I think, really afraid. The human aura is inharmonious to him and he would probably lose his equilibrium within it. By contrast I realise how ethereal and fragile is his make-up, possessing less consistency than a puff of wind; yet the form is clearly outlined and the details are sharply defined.
Tôi không thể thuyết phục y tiến lại gần hơn, vì khi tôi cố làm vậy, y lập tức bắt đầu tỏ vẻ lo ngại. Y dường như cảm thấy khó chịu, mặc dù tôi nghĩ là không thật sự sợ hãi. Hào quang con người không hài hòa đối với y, và có lẽ y sẽ mất thăng bằng trong đó. Ngược lại, tôi nhận ra cấu tạo của y thanh nhẹ và mong manh biết bao, có độ đặc còn kém hơn một luồng gió; tuy vậy hình tướng vẫn có đường nét rõ ràng và các chi tiết được xác định sắc nét.
Looking again at the brownie community and striving to grasp some of the details of its life, certain peculiar facts present themselves. For example, an endeavour to see the inside of their houses showed to my surprise that when one “went in at the door” there was nothing there! The outside shape is fairly perfect and quite picturesque, but the inside is just darkness. In fact, the illusion of a house entirely disappears when the consciousness is directed to the interior. Certain fine lines of flowing magnetism are all that one sees. The brownies enter by the door and then put off the brownie form, descending deeper into the earth in a relatively formless state. They all seem to have the conception of being busy, hurrying about the place in a pseudo-serious manner; but to me the whole thing is pure make-believe.
Nhìn lại cộng đồng brownie và cố nắm bắt một số chi tiết trong đời sống của nó, một vài sự kiện kỳ lạ hiện ra. Chẳng hạn, một nỗ lực nhìn vào bên trong nhà của chúng đã cho tôi thấy, thật ngạc nhiên, rằng khi một người “đi vào cửa” thì bên trong chẳng có gì cả! Hình dáng bên ngoài khá hoàn hảo và rất nên thơ, nhưng bên trong chỉ là bóng tối. Thật ra, ảo ảnh về một ngôi nhà hoàn toàn biến mất khi tâm thức hướng vào bên trong. Tất cả những gì người ta thấy là một số đường từ điện tinh tế đang chảy. Các brownie đi vào qua cửa rồi cởi bỏ hình tướng brownie, hạ xuống sâu hơn trong lòng đất trong một trạng thái tương đối vô hình tướng. Tất cả chúng dường như có quan niệm rằng mình bận rộn, vội vã quanh nơi ấy theo một cách giả-nghiêm túc; nhưng đối với tôi toàn bộ việc ấy thuần túy là trò giả vờ.
The houses do not belong to any individual or group. Any member of the colony uses them, this “use” being limited merely to passing in and out through the door. They certainly get some satisfaction from contemplating the exterior of these thought-built structures. I do not see, belonging to these woodland brownies, any of the working tools, satchels or aprons which I have noticed on other occasions. They appear to be less intelligent and less highly evolved and far more aimless in their existence than any others I have met.
Các ngôi nhà không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào. Bất cứ thành viên nào của thuộc địa cũng sử dụng chúng, sự “sử dụng” này chỉ giới hạn ở việc đi vào và đi ra qua cửa. Chắc chắn chúng nhận được một sự thỏa mãn nào đó từ việc chiêm ngưỡng bên ngoài các cấu trúc do tư tưởng xây dựng này. Tôi không thấy, thuộc về các brownie trong rừng này, bất cứ công cụ làm việc, túi đeo hay tạp dề nào mà tôi đã nhận thấy vào những dịp khác. Chúng dường như kém thông minh hơn, kém tiến hoá cao hơn và hiện hữu vô định hơn nhiều so với bất kỳ loại nào khác tôi đã gặp.
MANUFACTURE OF FAIRY BOOTS – CHẾ TẠO ỦNG TIÊN
Among the little folk on this hillside facing Helvellyn, the first to be observed is an elderly brownie who, now that we have seated ourselves, steps out to the edge of the firewood behind us. He is some six or eight inches high and wears a long, pointed cap, like a slightly imperfect cone, and a little green jerkin scalloped at the lower edge and falling about his hips; it is edged with brown, fastened with buttons and has a broad, cape-like collar, also scalloped and edged. Little trousers complete his attire. At first he shows the lower limbs of an elf, elongated and pointed. He has a long, grey, scanty beard, and both his face and body are thinner and more austere than those of the usual brownie. He reminds me slightly of a caricature of Uncle Sam, clothed in the constume of Falstaff.
Giữa những người bé nhỏ trên sườn đồi đối diện Helvellyn này, đối tượng đầu tiên được quan sát là một brownie già, giờ đây khi chúng tôi đã ngồi xuống, bước ra đến rìa đống củi phía sau chúng tôi. Y cao khoảng sáu hoặc tám inch và đội một chiếc mũ dài, nhọn, giống một hình nón hơi không hoàn hảo, mặc một chiếc áo chẽn xanh lục nhỏ có mép dưới viền lượn sóng và rủ quanh hông; nó được viền nâu, cài nút và có cổ rộng giống áo choàng ngắn, cũng viền lượn sóng và có nẹp. Một chiếc quần nhỏ hoàn tất trang phục của y. Lúc đầu y để lộ các chi dưới của một elf, kéo dài và nhọn. Y có một bộ râu dài, xám và thưa, cả gương mặt lẫn thân thể y đều gầy hơn và khắc khổ hơn so với brownie thông thường. Y làm tôi hơi nhớ đến một bức biếm hoạ Chú Sam, mặc trang phục của Falstaff.
He takes much interest in our dog and fearlessly approaches close to its nose. He appears unable to take in the group as a whole. He realises the presence of human beings, but the first detail which strikes him is the type of boots which I am wearing— canvas-topped, army gum-boots. After looking at mine steadily he proceeds to make himself a very respectable imitation of them, of which he is inordinately proud. His simple mental image is quite sufficient to cover his own feet with a copy of the pair of boots at which he looks so admiringly. After strutting about for a time, as if to get used to them, he finally stalks off into the woods.
Y rất quan tâm đến con chó của chúng tôi và không sợ hãi tiến sát đến mũi nó. Y dường như không thể nắm bắt cả nhóm như một toàn thể. Y nhận ra sự hiện diện của con người, nhưng chi tiết đầu tiên gây ấn tượng với y là kiểu ủng tôi đang mang—ủng cao su quân đội, phần trên bằng vải bạt. Sau khi chăm chú nhìn đôi ủng của tôi, y bắt đầu tạo cho mình một bản sao chép rất đáng nể của chúng, và y tự hào quá mức về điều đó. Hình ảnh trí tuệ giản dị của y hoàn toàn đủ để phủ lên đôi chân mình một bản sao của đôi ủng mà y nhìn một cách ngưỡng mộ đến vậy. Sau khi bước đi vênh vang một lúc, như thể để làm quen với chúng, cuối cùng y sải bước vào rừng.
ELVES – ELF
Elves differ from other nature spirits chiefly in that they are not usually clothed in any reproduction of human attire, and their bodily constitution consists of one solid mass of etheric substance, entirely without interior organisation.
Elf khác với các tinh linh tự nhiên khác chủ yếu ở chỗ chúng thường không khoác bất kỳ bản sao nào của trang phục con người, và cấu tạo thân thể của chúng gồm một khối đặc duy nhất bằng chất liệu dĩ thái, hoàn toàn không có tổ chức bên trong.
WOOD ELVES – ELF RỪNG
Two tiny wood elves come racing over the ground past us, as we sit on a fallen tree trunk. Seeing us they pull up about five feet away and stand regarding us with considerable amusement, but quite without fear. They appear as if completely covered in a tight-fitting, one-piece skin, which glistens as if wet, and is coloured like the bark of a beech tree. There is a large number of these figures racing about the ground. Their hands and feet are large out of all proportion to the rest of their bodies. Their legs are thin and their ears run upwards to a point, being almost pear-shaped. Their noses, too, are pointed and their mouths wide. No teeth, no structures, exist inside the mouth—not even a tongue, so far as can be seen—just as if the whole were made up of a piece of etheric jelly. A small green aura surrounds them. The two I am specially observing live in the roots of a huge beech tree. Now they disappear through a crevice, into which they walk as one might enter a cave, and sink below the ground to become merged into the etheric double of the tree.
Hai elf rừng tí hon chạy vụt trên mặt đất ngang qua chúng tôi, khi chúng tôi ngồi trên một thân cây đổ. Thấy chúng tôi, chúng dừng lại cách khoảng năm foot và đứng nhìn chúng tôi với vẻ rất thích thú, nhưng hoàn toàn không sợ hãi. Chúng có vẻ như được phủ kín bởi một lớp da liền thân, bó sát, lấp lánh như ướt, và có màu như vỏ cây sồi beech. Có rất nhiều hình dáng như vậy chạy khắp mặt đất. Tay và chân của chúng lớn quá mức so với phần còn lại của thân thể. Chân chúng mảnh, tai vươn lên thành đầu nhọn, gần như có hình quả lê. Mũi chúng cũng nhọn và miệng rộng. Không có răng, không có cấu trúc nào bên trong miệng—ngay cả lưỡi cũng không thấy được—như thể toàn bộ được tạo nên từ một mảnh thạch dĩ thái. Một hào quang xanh lục nhỏ bao quanh chúng. Hai elf mà tôi đặc biệt quan sát sống trong rễ của một cây sồi beech khổng lồ. Giờ chúng biến mất qua một khe nứt, bước vào đó như người ta có thể vào một hang động, rồi chìm xuống dưới mặt đất để hòa vào bản sao dĩ thái của cây.
SEASIDE ELVES – ELF VEN BIỂN
Playing on the shore, amongst the seaweed and the stones, are queer little elf-like forms. They have oversize heads, elfish faces, large ears, little round bodies and short, thin legs ending in feet which appear almost web-like. They are from three to six inches in height, are familiar with human beings and are in no way disturbed by their presence. They are apparently concerned with the life and the cell processes of seaweed.
Đang chơi trên bờ biển, giữa rong biển và đá, là những hình tướng nhỏ kỳ lạ giống elf. Chúng có đầu quá khổ, gương mặt elf, tai lớn, thân nhỏ tròn và đôi chân ngắn, mảnh, kết thúc bằng bàn chân trông gần như có màng. Chúng cao từ ba đến sáu inch, quen thuộc với con người và không hề bị sự hiện diện của con người làm xáo trộn. Dường như chúng liên quan đến sự sống và các tiến trình tế bào của rong biển.
GNOMES – GNOME
“Gnome” is a generic title for the nature spirits of the element of earth. Investigation shows that while all the types of traditional fairy exist in Nature, there are wide divergences within each type. Some of the differentiations are so great as to call for new names and new classifications. In the future, when doubtless the naturalist, ethnologist and explorer will enter Fairyland and text-books of the Kingdom of Fairy will be studied in every school, special names will of necessity be given to all the many and various kinds of fairy people. As I find the traditional names to be the most satisfactory from many points of view, I have classified such inhabitants of Fairyland as I have studied under the name given to the race they most nearly resemble.
“Gnome” là danh xưng chung cho các tinh linh tự nhiên của nguyên tố đất. Sự khảo sát cho thấy rằng, mặc dù mọi loại tiên truyền thống đều tồn tại trong Thiên Nhiên, vẫn có những khác biệt rộng lớn trong mỗi loại. Một số biến phân lớn đến mức đòi hỏi tên gọi và phân loại mới. Trong tương lai, khi chắc chắn nhà tự nhiên học, nhà dân tộc học và nhà thám hiểm sẽ bước vào Xứ Tiên và các sách giáo khoa về Giới Tiên sẽ được học trong mọi trường, tất yếu sẽ cần đặt những tên gọi đặc biệt cho tất cả rất nhiều loại dân tiên khác nhau. Vì tôi thấy các tên gọi truyền thống là thỏa đáng nhất từ nhiều quan điểm, tôi đã phân loại những cư dân của Xứ Tiên mà tôi đã nghiên cứu dưới tên gọi được trao cho nhân loại mà chúng giống nhất.
Tree creatures and winged manikins are described under this heading, although they differ in many important particulars from the true gnome. The students may hesitate to accept the existence of a winged gnome which lives in a tree; nevertheless, so far as my observation goes, those I have classed under this heading resemble the gnome more closely than any other type. I shall class as “gnomes”, therefore, several creatures which differ in many respects from the gnome of fairy tradition.
Các sinh vật cây và mannikin có cánh được mô tả dưới đề mục này, mặc dù chúng khác với gnome thật ở nhiều điểm quan trọng. Các đạo sinh có thể ngần ngại chấp nhận sự tồn tại của một gnome có cánh sống trong cây; tuy nhiên, theo như quan sát của tôi, những sinh vật tôi xếp dưới đề mục này giống gnome hơn bất cứ loại nào khác. Vì vậy, tôi sẽ xếp vào “gnome” một số sinh vật khác với gnome của truyền thống tiên ở nhiều phương diện.
The true gnome normally lives within the etheric double of the earth, is usually thin and lanky, grotesque in appearance, cadaverous and lantern-jawed and is sometimes a solitary. He gives the impression of extreme old age; his whole appearance and bearing are utterly different from those of present-day man. His arms are too long for our sense of proportion and, like his legs, are bent at the joints as if they had grown stiff with age. The complexion is very rough and coarse, the eyes are small and black, sloping slightly upwards at the sides. As has been said, the gnome is apparently a relic of the days of ancient Lemuria, and if this is true it may mean that the type is a representation of the appearance of the peoples of those days. The earth gnome is not a pleasant type of elemental; those met with in England have been either quite black or peat-brown in colour and though I have rarely incurred their active hostility, their atmosphere is decidedly unpleasant.
Gnome thật bình thường sống trong bản sao dĩ thái của đất, thường gầy và cao lêu nghêu, có vẻ ngoài kỳ quái, hốc hác và hàm dài, và đôi khi sống đơn độc. Y gây ấn tượng về tuổi già cực độ; toàn bộ vẻ ngoài và phong thái của y hoàn toàn khác với con người ngày nay. Cánh tay y quá dài đối với Ý thức về tỉ lệ của chúng ta, và giống như chân y, chúng cong ở các khớp như thể đã cứng lại vì tuổi tác. Nước da rất thô ráp và sần sùi, mắt nhỏ và đen, hơi xếch lên ở hai bên. Như đã nói, gnome dường như là một tàn tích của thời Lemuria cổ đại, và nếu điều này đúng, nó có thể có nghĩa là loại hình ấy là một hình biểu trưng cho vẻ ngoài của các dân tộc thời đó. Gnome đất không phải là một loại hành khí dễ chịu; những gnome gặp ở Anh hoặc hoàn toàn đen hoặc có màu nâu than bùn, và mặc dù tôi hiếm khi chuốc lấy sự thù địch chủ động của chúng, bầu không khí của chúng rõ ràng là khó chịu.
AN EMBRYO ROCK GNOME – MỘT GNOME ĐÁ PHÔI THAI
Deep within the solid rock behind us there is an evolving consciousness which manifests chiefly as formless blotches of colour within the otherwise almost colourless elemental essence of the rock—a sort of embryo gnome. The beginnings of a head, with eyes and mouth, are visible in shadowy outline, but the rest of the body is only faintly suggested, like the preliminary work of an artist who might put in his main patches of colour and leave the clear outlines to a later stage. But for this vagueness, the creature would be excessively ugly, not to say monstrous in appearance. To etheric sight, the whole rock is transparent and its inhabitant appears as if within a huge celluloid receptacle, through which it is but hazily aware of its surroundings. The only power of volition that it appears to possess is that of slowly changing the focus and direction of its dim and limited consciousness; this it does very vaguely and dreamily. The presence of this creature gives a certain individuality to the rock, noticeable on the physical plane as specialised magnetic vibration. It is difficult to judge the size of the gnome, but it is probably ten to fifteen feet high. The embryo feet are deep below the surface of the earth in which the rock is buried, and the head some three feet from the top of the rock.
Sâu bên trong khối đá rắn phía sau chúng tôi có một tâm thức đang tiến hoá, biểu hiện chủ yếu như những mảng màu vô định hình trong tinh chất hành khí gần như không màu của đá—một loại gnome phôi thai. Những khởi đầu của một cái đầu, với mắt và miệng, có thể thấy trong đường nét lờ mờ, nhưng phần còn lại của thân thể chỉ được gợi ý rất nhạt, giống công việc sơ khởi của một nghệ sĩ có thể đặt vào các mảng màu chính và để các đường nét rõ ràng cho một giai đoạn sau. Nếu không vì sự mơ hồ này, sinh vật ấy sẽ cực kỳ xấu xí, nếu không muốn nói là quái dị về vẻ ngoài. Đối với thị giác dĩ thái, toàn bộ khối đá trong suốt và cư dân của nó hiện ra như ở trong một vật chứa bằng chất trong khổng lồ, qua đó nó chỉ nhận biết mờ mịt về môi trường xung quanh. Quyền năng ý chí duy nhất mà nó dường như sở hữu là quyền năng chậm rãi thay đổi tiêu điểm và hướng của tâm thức lờ mờ, hạn hẹp của nó; nó làm điều này một cách rất mơ hồ và mộng mị. Sự hiện diện của sinh vật này đem lại một tính cá thể nào đó cho khối đá, có thể nhận thấy trên cõi hồng trần như một rung động từ tính chuyên biệt. Khó đánh giá kích thước của gnome, nhưng có lẽ nó cao từ mười đến mười lăm foot. Đôi chân phôi thai nằm sâu dưới bề mặt đất nơi khối đá bị chôn vùi, còn đầu cách đỉnh khối đá khoảng ba foot.
AN ENGLISH FAIRYLAND – MỘT XỨ TIÊN ANH QUỐC
Deep in the heart of the Cotswold district of England there is a lovely, verdant valley through which no highway passes. Its name, said to mean “Vale of Peace”, truly indicates one of its greatest charms. The ubiquitous motor-bus brings parties of tourists to nearly all the famous beauty spots of Britain, but not to the Vale of Peace.
Sâu trong trung tâm vùng Cotswold của Anh có một thung lũng xanh tươi, đáng yêu, không có đường lớn nào chạy qua. Tên của nó, được cho là có nghĩa “Thung Lũng Bình An”, thật sự chỉ ra một trong những nét quyến rũ lớn nhất của nó. Xe buýt du lịch có mặt khắp nơi đưa các đoàn khách đến gần như tất cả các thắng cảnh nổi tiếng của Anh, nhưng không đến Thung Lũng Bình An.
The winding valley is perhaps two miles in length. Its steep hillsides are partly covered with thick beech-woods, with here and there a grove of larch and fir. Dotted about on the green hillsides are the grey stone cottages and farms of which the little village consists. A stream runs through wood and meadow and flows with gentle murmur past orchards and cottage gardens to the great world beyond. Within the valley there is green beauty, a wealth of wild flowers, seclusion and the peace of the countryside. The woodmen’s voices and the blows of their axes, the call of the birds, the lowing of the cattle in the pastures, the sighing of the trees in the soft breezes, are the only sounds which normally reach one in summer time when gazing on the restful scene. These are blended to form a harmonious undertone, the song which Nature sings in those places where her beauty is unspoiled. Sometimes, on calm and windless summer days, the valley seems to be steeped in silence and in peace.
Thung lũng uốn lượn này có lẽ dài khoảng hai dặm. Các sườn đồi dốc của nó một phần được phủ bởi những rừng sồi beech rậm rạp, đây đó có một lùm cây thông rụng lá và linh sam. Rải rác trên các sườn đồi xanh là các nông trại và nhà tranh bằng đá xám tạo nên ngôi làng nhỏ. Một dòng suối chảy qua rừng và đồng cỏ, rồi róc rách nhẹ nhàng qua các vườn cây ăn quả và vườn nhà tranh để đi ra thế giới rộng lớn bên ngoài. Trong thung lũng có vẻ đẹp xanh tươi, sự phong phú của hoa dại, sự biệt lập và bình an của thôn quê. Tiếng nói của những người đốn gỗ và tiếng rìu của họ, tiếng chim gọi, tiếng bò rống trong đồng cỏ, tiếng cây thở dài trong làn gió nhẹ, là những âm thanh duy nhất thường đến tai người vào mùa hè khi ngắm nhìn cảnh vật yên bình. Chúng hòa quyện để tạo thành một âm nền hài hòa, bài ca mà Thiên Nhiên hát ở những nơi vẻ đẹp của bà chưa bị làm hư hoại. Đôi khi, vào những ngày hè lặng gió và êm đềm, thung lũng dường như đắm trong im lặng và bình an.
TREE MANIKINS – MANNIKIN CÂY
The fairy folk seem less shy of human beings in these woods and meadows than elsewhere. The tree nymphs, the water spirits and the numerous tribes of little brownie men have not learned as yet to shrink and hide themselves when man appears. Playing about on the thick carpet of the beech leaves of past seasons, with which the ground under the trees is covered, are hundreds of small brown manikins. From eight to twelve inches high, they vary in colour from the grey-green of the beech trunks to the rich brown of the dead leaves. Many of them have the faces of old men and they wear coats and knee-breeches of a material which looks like brown beech bark. They have long, pointed feet and some wear tiny boots.
Dân tiên trong các khu rừng và đồng cỏ này dường như ít e dè con người hơn ở những nơi khác. Các nữ thần cây, các tinh linh nước và nhiều bộ tộc người brownie nhỏ bé vẫn chưa học cách co mình và ẩn trốn khi con người xuất hiện. Đang chơi trên tấm thảm dày bằng lá sồi beech của những mùa trước, phủ mặt đất dưới tán cây, là hàng trăm mannikin nhỏ màu nâu. Cao từ tám đến mười hai inch, chúng thay đổi màu sắc từ xám lục của thân sồi beech đến nâu đậm của lá khô. Nhiều con có gương mặt của ông già và mặc áo khoác cùng quần chẽn đến gối bằng một chất liệu trông như vỏ sồi beech màu nâu. Chúng có bàn chân dài, nhọn, và một số mang những chiếc ủng tí hon.
Their facial expression is one of intent seriousness and earnestness—all about nothing. At first glance one might think that they were very important people, but in looking into what corresponds to their minds—the merest instinct as of young animals or birds—one finds an almost complete blank.
Nét mặt của chúng là sự nghiêm trọng và chuyên chú—tất cả đều chẳng vì điều gì. Thoạt nhìn, người ta có thể nghĩ chúng là những nhân vật rất quan trọng, nhưng khi nhìn vào cái tương ứng với thể trí của chúng—chỉ là bản năng đơn sơ nhất như của thú non hoặc chim non—người ta thấy gần như hoàn toàn trống rỗng.
They “live” inside the etheric double of the trees into which there are accepted entrances. These are generally at small hollows in the trunk, frequently, though not always, level with the ground. There are groups which live up in the forks where the branches leave the main trunk and the etheric currents divide. Though they can move for a short distance in the air, they seem to prefer to run up the trunks of the trees. This they do as easily as if they ran upon the flat ground. They seem to be unaffected by the law of gravity, for they sometimes maintain a horizontal position with their bodies at right angles to the trunks as they pass up and down.
Chúng “sống” bên trong bản sao dĩ thái của cây, nơi có những lối vào được chấp nhận. Những lối này thường ở các hốc nhỏ trên thân cây, thường, dù không phải luôn luôn, ngang mặt đất. Có những nhóm sống trên các chạc nơi cành rời khỏi thân chính và các dòng dĩ thái phân chia. Mặc dù chúng có thể di chuyển một quãng ngắn trong không khí, chúng dường như thích chạy lên các thân cây hơn. Chúng làm điều này dễ dàng như thể đang chạy trên mặt đất phẳng. Chúng dường như không chịu ảnh hưởng của định luật trọng lực, vì đôi khi chúng duy trì tư thế nằm ngang, thân thể vuông góc với thân cây khi đi lên đi xuống.
Although their ether-built forms are a homogeneous “solid”, without interior organisations, a close observation of their movements seems to indicate something corresponding to a muscular system. This is particularly noticeable when they jump, as they often do for short distances, the last half-yard of their journey back to their trees being frequently covered by a leap. The leg with which the take-off is made certainly seems slightly to harden and stiffen, to relax during flight, and both legs to be braced up for the landing; this is perfectly smooth, the forward movement continuing at practically the same speed.
Mặc dù các hình tướng được xây bằng dĩ thái của chúng là một “khối đặc” đồng nhất, không có các tổ chức bên trong, việc quan sát kỹ các chuyển động của chúng dường như cho thấy một cái gì đó tương ứng với hệ cơ. Điều này đặc biệt dễ thấy khi chúng nhảy, như chúng thường làm trong các khoảng ngắn; nửa yard cuối cùng trong hành trình trở về cây của chúng thường được vượt qua bằng một cú nhảy. Chân dùng để bật lên chắc chắn dường như hơi cứng lại và săn chắc, rồi thả lỏng trong lúc bay, và cả hai chân căng lên để tiếp đất; việc tiếp đất này hoàn toàn trơn tru, chuyển động về phía trước tiếp tục với gần như cùng một tốc độ.
A great number of these little people have gradually become aware of the presence of our party and, gathered in a semicircular crowd, are observing us from within the wood. Some are sitting as if transfixed; others walk up and down and appear to be addressing remarks to their seated fellows as they pass them. Others again make little exploratory journeys in our direction, retiring as our auras become too much for them. This contact with us seems slightly to quicken all their faculties, such as they are. Whilst the comparison is not a nice one, the effect is not unlike that of alcohol upon one unaccustomed to it. Though it will die down, it will leave some permanent result upon them—one hopes a quickening of their evolution.
Rất nhiều người bé nhỏ này đã dần nhận biết sự hiện diện của nhóm chúng tôi và, tụ lại thành một đám đông hình bán nguyệt, đang quan sát chúng tôi từ trong khu rừng. Một số ngồi như bị thôi miên; những con khác đi tới đi lui và dường như đang nói những lời nhận xét với các bạn ngồi của chúng khi đi ngang qua. Những con khác nữa thực hiện các chuyến thám sát nhỏ về phía chúng tôi, rồi rút lui khi hào quang của chúng tôi trở nên quá mạnh đối với chúng. Sự tiếp xúc này với chúng tôi dường như làm linh hoạt nhẹ mọi năng lực của chúng, dù các năng lực ấy là gì. Mặc dù sự so sánh này không mấy dễ nghe, hiệu quả không khác mấy tác động của rượu lên một người chưa quen với nó. Dù nó sẽ lắng xuống, nó sẽ để lại một kết quả trường tồn nào đó trên chúng—người ta hy vọng là một sự thúc đẩy tiến hoá của chúng.
A LANDSCAPE ANGEL – MỘT THIÊN THẦN PHONG CẢNH
Some gnomes, as far as my observations reveal, eventually evolve into presiding geniuses or gods of areas of countryside of increasing dimensions. A beautiful landscape angel presides over this valley. About twenty feet tall, its brilliant, many-coloured aura, when extended, reaches out to a distance of at least one hundred yards on all sides. Occasionally it is further extended to reach across the valley at its widest, as well as down to the little stream below.
Theo như các quan sát của tôi tiết lộ, một số gnome cuối cùng tiến hoá thành các tinh thần chủ quản hoặc các vị thần của những vùng quê có kích thước ngày càng lớn. Một thiên thần phong cảnh xinh đẹp chủ quản thung lũng này. Cao khoảng hai mươi foot, hào quang rực rỡ, nhiều màu của nó, khi được mở rộng, vươn ra đến khoảng cách ít nhất một trăm yard ở mọi phía. Đôi khi nó còn được mở rộng thêm để vươn ngang qua thung lũng ở chỗ rộng nhất, cũng như xuống đến dòng suối nhỏ bên dưới.
The face is noble and beautiful and the eyes are dazzlingly bright. They are centres of force rather than organs of sight, for they are not used, as are the human eyes, for vision and the expression of thought and emotion. The colours of the aura are brilliant, and change constantly as the auric forces flow in waves and vortices outward from the central form. Now the predominant hue is deep royal blue, with scarlet and golden yellow sweeping across and through it, making eddies and waves of colour as they flow outwards in a continuous stream. Then a background of pale rose appears, with soft nile-green, sky-blue and the palest of yellow shining through. In addition, streams of force flow upwards from the head and shoulders, the most brilliant of these arising from a force centre in the middle of the head, which is the seat of consciousness in the form.
Gương mặt cao quý và đẹp đẽ, đôi mắt sáng chói lòa. Chúng là các trung tâm mãnh lực hơn là cơ quan thị giác, vì chúng không được sử dụng, như mắt người, cho tầm nhìn và cho sự biểu đạt tư tưởng cùng cảm xúc. Các màu sắc của hào quang rực rỡ và liên tục thay đổi khi các mãnh lực hào quang tuôn ra từ hình tướng trung tâm thành từng đợt sóng và xoáy. Lúc này sắc thái chủ đạo là xanh lam hoàng gia đậm, với đỏ tươi và vàng kim quét ngang và xuyên qua nó, tạo thành những xoáy và sóng màu khi chúng tuôn ra ngoài trong một dòng liên tục. Rồi một hậu cảnh hồng nhạt xuất hiện, với xanh lục dịu, xanh da trời và vàng rất nhạt chiếu xuyên qua. Ngoài ra, các dòng mãnh lực tuôn lên từ đầu và vai, rực rỡ nhất trong số đó phát sinh từ một trung tâm mãnh lực ở giữa đầu, là nơi trú của tâm thức trong hình tướng.
By moving slowly down the valley with extended aura, the angel is able to touch with its auric forces every living thing within it, pouring into each a share of its own stimulating life-force. The hosts of the lesser nature spirits instinctively respond to the quickening impulses from this angel, and I see the brownies, the tree spirits and the fairies answering to its touch as its powers rush out upon them. The elves and the brownies feel a sudden exaltation, the source of which they cannot fully comprehend, though they recognise it as a constant feature of their lives. The fairies feel an added joy under the stimulating influence of the deva's outpoured power.
Bằng cách di chuyển chậm rãi xuống thung lũng với hào quang mở rộng, vị thiên thần có thể chạm đến bằng các mãnh lực hào quang của nó mọi sinh vật sống trong thung lũng, tuôn vào mỗi sinh vật một phần sinh lực kích thích của chính nó. Đoàn đông các tinh linh tự nhiên nhỏ hơn đáp ứng theo bản năng với các xung động làm linh hoạt từ vị thiên thần này, và tôi thấy các brownie, các tinh linh cây và các tiên đáp lại sự chạm đến của nó khi các quyền năng của nó đổ ào ra trên chúng. Các elf và brownie cảm thấy một sự nâng cao đột ngột, nguồn gốc của nó chúng không thể thấu hiểu đầy đủ, mặc dù chúng nhận ra đó là một đặc điểm thường hằng trong đời sống của mình. Các tiên cảm thấy một niềm hoan hỉ gia tăng dưới ảnh hưởng kích thích của quyền năng tuôn đổ từ vị thiên thần.
The character of this genius loci is an unusual combination of devic universality of consciousness and impersonality of outlook with a human comprehension of the needs and the sufferings of man. I feel sure that every birth and death within the valley must be known to this deva, and that any pain which might accompany either is eased as far as its powers permit. I see memory thought-forms in the aura, which show the angel taking within its glowing radiance the souls of those who have recently died. I see, too, that it watches the children at play and the old folk taking their ease. It is, indeed, the Guardian Angel of the valley, and happy are those who live within its care. The experiences referred to in the Introduction, which proved so far-reaching in its results, came to me in this delightful place.
Tính cách của vị tinh thần chủ quản nơi chốn này là một sự kết hợp khác thường giữa tính phổ quát thiên thần của tâm thức và quan điểm vô ngã với sự thấu hiểu của con người về các nhu cầu và đau khổ của con người. Tôi tin chắc rằng mọi sinh và tử trong thung lũng đều phải được vị thiên thần này biết đến, và bất cứ đau đớn nào có thể đi kèm với một trong hai đều được làm dịu đến mức quyền năng của nó cho phép. Tôi thấy trong hào quang những hình tư tưởng ký ức, cho thấy vị thiên thần đón vào ánh sáng rực rỡ của nó các linh hồn của những người mới qua đời. Tôi cũng thấy rằng nó dõi theo trẻ em đang vui chơi và người già đang nghỉ ngơi. Quả thật, nó là Thiên Thần Hộ Mệnh của thung lũng, và hạnh phúc thay những ai sống trong sự chăm sóc của nó. Những kinh nghiệm được nói đến trong Phần Dẫn Nhập, vốn tỏ ra có kết quả sâu rộng đến vậy, đã đến với tôi tại nơi đầy vui thú này.
The presence of this angel gives a certain quality to the atmosphere, a local characteristic, distinctly noticeable throughout the whole length of the valley, which has a charm amounting to glamour. It must also affect every human being who resides here for any length of time, particularly those who are born and live within the angel’s consciousness and the continual play of its aura.
Sự hiện diện của thiên thần này đem lại một phẩm tính nào đó cho bầu khí quyển, một đặc trưng địa phương, có thể nhận thấy rõ rệt suốt chiều dài thung lũng, với một vẻ quyến rũ gần như thành ảo cảm. Điều đó hẳn cũng ảnh hưởng đến mọi con người cư trú ở đây trong bất kỳ khoảng thời gian đáng kể nào, đặc biệt là những ai sinh ra và sống trong tâm thức của thiên thần ấy và trong sự vận động liên tục của hào quang của vị ấy.
UNDINES – THỦY TIÊN NỮ
The undine belongs to the subtle element of water and, so far as my experience goes, is never to be found far away from ocean, lake, river, stream and fall. She is definitely feminine in form, is always unclothed, does not usually have wings and only rarely wears any kind of adornment. Her form, whether diminutive or of human stature, is entrancingly beautiful, and her movements are full of grace. The waterfall is one of her favourite haunts and there she is to be seen disporting herself, often with a group of water sprites, enjoying to the full the magnetic forces of the fall.
Thủy tiên nữ thuộc về nguyên tố vi tế của nước và, theo kinh nghiệm của tôi, không bao giờ thấy ở xa đại dương, hồ, sông, suối và thác nước. Nàng rõ rệt có hình tướng nữ tính, luôn không mặc y phục, thường không có cánh và chỉ hiếm khi mang bất kỳ vật trang sức nào. Hình tướng của nàng, dù nhỏ bé hay cao bằng người, đều đẹp mê hồn, và mọi cử động đều đầy duyên dáng. Thác nước là một trong những nơi nàng ưa thích nhất, và ở đó có thể thấy nàng đang nô đùa, thường cùng với một nhóm tinh linh nước, tận hưởng trọn vẹn các mãnh lực từ tính của thác.
Apparently there are periods when the undine retires from the vivid, external life in which she is most frequently observed and finds a measure of calm and repose deep down in the still, cool depths of the pools below the falls or in the quieter reaches of the rivers, as well as in lakes and tarns. This peaceful life below the waters is in marked contrast to the intense activity and joy she manifests amid falling water and sunlit spray.
Dường như có những thời kỳ thủy tiên nữ rút lui khỏi đời sống bên ngoài rực rỡ mà trong đó nàng thường được quan sát nhất, và tìm được một mức độ tĩnh lặng, nghỉ ngơi sâu dưới những tầng nước yên ắng, mát lạnh của các hồ nhỏ bên dưới thác, hoặc trong những khúc sông êm đềm hơn, cũng như trong các hồ và hồ nhỏ miền núi. Đời sống an bình dưới nước này tương phản rõ rệt với hoạt động mãnh liệt và niềm hoan hỉ mà nàng biểu lộ giữa dòng nước đổ và làn bụi nước chan hòa ánh mặt trời.
The three fundamental processes of Nature—absorption, assimilation and discharge—are expressed fully in the outer life of the undine; indeed, that life may be said to consist of a continued repetition of those three processes. Poised amid the spray, or in the centre of the downward rushing torrent, she gradually absorbs the vital energy from the sunlight and the magnetism from the fall. As the limit of absorption is reached, in one dazzling flash of light and colour, she releases the energy with which she has become surcharged. At that magical moment of release she experiences an ecstasy and exaltation beyond anything normally possible to mere mortals dwelling in the prison of the flesh. The expression on the face, and particularly in the eyes, is beautiful beyond description. The countenance expresses rapturous joy and a sense of heightened vitality and power, whilst the eyes flash with dazzling radiance. The whole bearing, the perfect form and the brilliant splendour of the auric radiance combine to produce a vision of enchanting loveliness. This condition is immediately followed by one of dreamy pleasure, in which the consciousness is largely withdrawn from the physical world and its etheric counterpart, and centred in the astral world. The undine etheric body becomes vague and indistinct for the time being until, she having enjoyed and assimilated the whole experience, it reappears and the threefold process is repeated. After a time she returns to the quietude of the watery depths.
Ba tiến trình căn bản của Thiên nhiên—hấp thu, đồng hóa và phóng thích—được biểu hiện trọn vẹn trong đời sống bên ngoài của thủy tiên nữ; quả thật, có thể nói đời sống ấy gồm một sự lặp lại liên tục của ba tiến trình đó. Giữ thăng bằng giữa làn bụi nước, hoặc ở trung tâm của dòng nước đổ ào xuống, nàng dần dần hấp thu sinh lực từ ánh mặt trời và từ điện từ thác nước. Khi đạt đến giới hạn hấp thu, trong một tia chớp rực rỡ của ánh sáng và màu sắc, nàng phóng thích năng lượng mà mình đã được nạp đầy quá mức. Vào khoảnh khắc phóng thích huyền diệu ấy, nàng trải nghiệm một sự xuất thần và hân hoan siêu vượt mọi điều thường có thể xảy ra đối với những người phàm cư ngụ trong nhà tù xác thịt. Vẻ mặt, và đặc biệt là đôi mắt, đẹp vượt ngoài mọi mô tả. Khuôn mặt biểu lộ niềm hoan hỉ ngây ngất và một cảm thức về sinh lực cùng quyền năng được gia tăng, trong khi đôi mắt lóe lên vẻ rạng rỡ chói ngời. Toàn bộ dáng vẻ, hình tướng hoàn hảo và vẻ huy hoàng sáng chói của bức xạ hào quang kết hợp lại để tạo nên một linh ảnh về vẻ đẹp quyến rũ mê hồn. Tình trạng này lập tức được tiếp nối bởi một trạng thái khoái lạc mơ màng, trong đó tâm thức phần lớn rút khỏi thế giới hồng trần và đối phần dĩ thái của nó, rồi tập trung vào thế giới cảm dục. Thể dĩ thái của thủy tiên nữ trở nên mờ nhạt và không rõ rệt trong một thời gian, cho đến khi nàng đã tận hưởng và đồng hóa toàn bộ kinh nghiệm ấy, nó lại hiện ra và tiến trình tam phân được lặp lại. Sau một thời gian, nàng trở về sự tĩnh lặng của những tầng sâu nước.
UNDINES AT A WATERFALL – THỦY TIÊN NỮ TẠI MỘT THÁC NƯỚC
These water fairies resemble graceful young girls, are entirely unclothed and are probably from eight to twelve inches tall. Their long “hair” streams behind them and they wear a decoration, resembling a garland of small flowers, around their foreheads. They play in and out of the fall, flashing through it from different directions, and calling all the time in wild, unearthly tones. The voice is infinitely remote and reaches me but faintly, like a shepherd’s call across some Alpine valley. It is a complex vowel sound, but as yet I cannot easily name the series of vowels of which it is composed. Undines can either travel up the fall against the stream or remain motionless within it, but they generally play and flash through it. When a cloud has passed away from the face of the sun and the fall again becomes brilliantly sunlit, they appear to experience an added joy; the tempo of their movements then quickens and their singing becomes more unrestrained. I can most nearly represent their song by the vowels e, o, u, a, i, in one long, plaintive tone which ends with an appealing cadence.
Các tiên nữ nước này giống những cô gái trẻ duyên dáng, hoàn toàn không mặc y phục và có lẽ cao từ tám đến mười hai inch. “Tóc” dài của họ buông bay phía sau, và họ mang một vật trang trí quanh trán, giống như vòng hoa nhỏ. Họ nô đùa ra vào thác, lóe sáng xuyên qua đó từ nhiều hướng khác nhau, và luôn gọi nhau bằng những âm điệu hoang dã, phi trần. Tiếng gọi xa xăm vô cùng và chỉ đến với tôi rất mờ nhạt, như tiếng gọi của người chăn cừu vọng qua một thung lũng Alps nào đó. Đó là một âm nguyên âm phức hợp, nhưng cho đến nay tôi vẫn chưa thể dễ dàng gọi tên chuỗi nguyên âm cấu thành nó. Thủy tiên nữ có thể đi ngược lên thác chống lại dòng nước, hoặc đứng yên bất động trong đó, nhưng nói chung họ nô đùa và lóe sáng xuyên qua thác. Khi một đám mây vừa trôi khỏi mặt trời và thác nước lại trở nên rực rỡ trong ánh nắng, dường như họ trải nghiệm thêm một niềm hoan hỉ; khi ấy nhịp độ chuyển động của họ nhanh hơn và tiếng hát của họ trở nên phóng khoáng hơn. Tôi có thể diễn tả gần đúng nhất khúc hát của họ bằng các nguyên âm e, o, u, a, i, trong một âm điệu dài, ai oán, kết thúc bằng một nhịp luyến đầy khẩn cầu.
There are between eight and twelve undines of varying heights playing at this fall, the tallest being about twelve inches high. Some of them have rosy-coloured auras, some pale green, and the closer contact I am now obtaining shows me what extremely beautiful creatures they are, and at the same time how utterly remote from the human family. Their etheric bodies pass in and out of the great rocks at the side of the fall without experiencing any obstruction. I am quite unable to attract their attention or to influence them in any Way. Some of them pass under the water in the basin at the foot of the fall, and occasionally appear amidst the swirling froth. The garland, referred to previously, is luminous and apparently forms part of their auras.
Có khoảng tám đến mười hai thủy tiên nữ với chiều cao khác nhau đang nô đùa tại thác này, người cao nhất khoảng mười hai inch. Một số có hào quang màu hồng, một số màu xanh lục nhạt, và sự tiếp xúc gần hơn mà tôi hiện đang đạt được cho tôi thấy họ là những sinh linh đẹp đẽ đến mức nào, đồng thời cũng hoàn toàn xa cách gia đình nhân loại đến mức nào. Các thể dĩ thái của họ đi vào và đi ra khỏi những tảng đá lớn bên cạnh thác mà không gặp bất kỳ sự cản trở nào. Tôi hoàn toàn không thể thu hút sự chú ý của họ hay ảnh hưởng đến họ theo bất kỳ cách nào. Một số đi dưới nước trong hồ nhỏ ở chân thác, và thỉnh thoảng xuất hiện giữa lớp bọt xoáy. Vòng hoa đã nói trước đây phát sáng và dường như tạo thành một phần hào quang của họ.
THE PRESIDING SPIRIT OF A FALL – TINH LINH CHỦ QUẢN CỦA MỘT THÁC NƯỚC
We are in a bower of bracken and rocks, a veritable fairyland, close to a waterfall in the Lake District of England. The undine of this fall looks like a tall and graceful young girl, unclothed and of singular beauty. She differs in some characteristics from undines previously observed in that she is taller, has a more highly developed intelligence and auric forces flow out behind her in wing-like form as well as on every side. She seems to ensoul the rocks, trees, ferns and mosses, in addition to the waterfall and pools. When first seen, she sprang out of the solid rock—a marvellously beautiful figure—and remained poised for a moment in the air, after which the etheric form disappeared. She repeated this process several times but her presence, whether etherically visible or not, continued to be distinctly felt.
Chúng tôi ở trong một vòm cây dương xỉ và đá, một xứ sở thần tiên thật sự, gần một thác nước trong Vùng Hồ của nước Anh. Thủy tiên nữ của thác này trông như một cô gái trẻ cao và duyên dáng, không mặc y phục và đẹp lạ thường. Nàng khác với các thủy tiên nữ đã quan sát trước đây ở một số đặc điểm: nàng cao hơn, có trí thông minh phát triển hơn, và các mãnh lực hào quang tuôn ra phía sau nàng thành hình giống cánh, cũng như tỏa ra mọi phía. Dường như nàng phú linh cho đá, cây, dương xỉ và rêu, ngoài thác nước và các hồ nhỏ. Khi được thấy lần đầu, nàng bật ra khỏi khối đá đặc—một hình bóng đẹp kỳ diệu—và giữ thăng bằng trong không trung trong chốc lát, rồi hình tướng dĩ thái biến mất. Nàng lặp lại tiến trình này nhiều lần, nhưng sự hiện diện của nàng, dù có thể thấy bằng dĩ thái hay không, vẫn tiếp tục được cảm nhận rõ rệt.
Her whole form is a soft rose pink. The “hair” is fair and shining, the brow broad, the features beautifully modelled, the eyes large and luminous and, whilst their expression has something of the spirit of the wild, their glance is not unkindly. The auric wings are small in proportion to the body and would surely be inadequate for flight, if such had been their purpose; they, too, are of a glowing roseate hue. Even more striking than the form is the rainbow-like aureole which surrounds her, as a halo sometimes seems to surround the moon. This aura is almost spherical in shape and consists of evenly arranged, concentric spheres of colour, too numerous and in far too rapid movement for detailed description. It would seem to contain all the colours of the spectrum in their palest shades, with rose, green and blue predominating. Some of the spheres of colour are outlined with a golden fire and beyond the outer edge a shimmering radiance of pearly white gives added beauty to the aureole and lovely form within. Over the head a powerful upward flow of forces interpenetrates the aura in a fan-shaped radiation. This appears to come from a point in the middle of the head, where there is a brilliant golden centre, slightly below the level of the eyes and midway between them. The whole region of the fall is vibrant with her life.
Toàn bộ hình tướng của nàng có màu hồng phấn dịu. “Tóc” vàng nhạt và sáng, vầng trán rộng, các nét mặt được nắn tạo đẹp đẽ, đôi mắt lớn và phát sáng; tuy trong biểu cảm có điều gì đó thuộc tinh thần hoang dã, ánh nhìn của chúng không hề thiếu thiện cảm. Đôi cánh hào quang nhỏ so với thân thể và chắc chắn sẽ không đủ để bay nếu đó là mục đích của chúng; chúng cũng có sắc hồng rực sáng. Còn nổi bật hơn hình tướng là quầng sáng giống cầu vồng bao quanh nàng, như đôi khi một vầng hào quang dường như bao quanh mặt trăng. Hào quang này gần như có dạng khối cầu và gồm các khối cầu màu đồng tâm được sắp xếp đều đặn, quá nhiều và chuyển động quá nhanh để có thể mô tả chi tiết. Dường như nó chứa tất cả các màu của quang phổ trong những sắc thái nhạt nhất, với hồng, xanh lục và xanh lam chiếm ưu thế. Một số khối cầu màu được viền bằng lửa vàng, và vượt ngoài mép ngoài, một bức xạ lung linh trắng ngọc trai làm tăng thêm vẻ đẹp cho quầng sáng và hình tướng đáng yêu bên trong. Trên đầu, một luồng mãnh lực mạnh mẽ hướng lên xuyên thấu hào quang trong một bức xạ hình quạt. Dường như luồng này xuất phát từ một điểm ở giữa đầu, nơi có một trung tâm vàng rực rỡ, hơi thấp hơn mức của đôi mắt và nằm giữa hai mắt. Toàn bộ vùng thác rung động với sự sống của nàng.
LAKE SPIRITS – CÁC TINH LINH HỒ
At different parts of the surface of Lake Thirlmere, which lies beneath us, numbers of nature spirits of the element of water are to be seen skimming swiftly over the surface, generally at a height of some six or eight feet, but sometimes rising much higher. Although they usually remain over the water, they make occasional flights above the fields. They somewhat resemble large, white birds flying at great speed. At this distance I cannot make out any distinct shape, for they assume and discard many different, bird-like forms with great rapidity. There is a permanent suggestion of a wing-like formation of the aura, and sometimes the likeness of a human face and head.
Ở nhiều phần khác nhau trên mặt hồ Thirlmere, nằm bên dưới chúng tôi, có thể thấy nhiều tinh linh tự nhiên của nguyên tố nước lướt nhanh trên bề mặt, thường ở độ cao khoảng sáu hoặc tám feet, nhưng đôi khi vươn lên cao hơn nhiều. Dù thường ở trên mặt nước, họ thỉnh thoảng bay qua các cánh đồng. Họ hơi giống những con chim lớn màu trắng bay với tốc độ rất nhanh. Ở khoảng cách này, tôi không thể nhận ra hình dạng rõ rệt nào, vì họ nhận lấy rồi bỏ đi nhiều hình dạng khác nhau giống chim với tốc độ rất nhanh. Luôn có gợi ý về một cấu tạo hào quang giống cánh, và đôi khi có nét giống khuôn mặt và đầu người.
FAIRIES – TIÊN NỮ
In order to help the reader to visualise clearly the appearance of a fairy when materialised, I recommend the study of the fairy photographs in Sir Arthur Conan Doyle’s book The Coming of the Fairies and E. L. Gardner’s book Fairies . I am personally convinced of the bona fides of the two girls who took these photographs. I spent some weeks with them and their family, staying in their home, and became assured of the genuineness of their clairvoyance, of the presence of fairies exactly like those photographed in the glen at Cottingley, and of the complete honesty of all parties concerned.
Để giúp độc giả hình dung rõ ràng dáng vẻ của một tiên nữ khi hiện hình, tôi khuyên nên nghiên cứu các bức ảnh tiên nữ trong sách Sự Đến của Các Tiên Nữ của Sir Arthur Conan Doyle và sách Các Tiên Nữ của E. L. Gardner. Cá nhân tôi tin chắc vào thiện tín của hai cô gái đã chụp những bức ảnh này. Tôi đã ở vài tuần với họ và gia đình họ, lưu trú trong nhà họ, và trở nên xác tín về tính chân thực của thông nhãn nơi họ, về sự hiện diện của các tiên nữ đúng hệt như những tiên nữ được chụp trong thung lũng nhỏ ở Cottingley, và về sự trung thực hoàn toàn của tất cả những người liên quan.
In order that such photographs could be taken, the fairies had to be materialised, presumably by an invisible Adept operator; for only thus could they reflect actinic light. In this process of densification, the true nature of the fairy form was concealed beneath the covering of etheric and tenuous, reflective, physical substance. The photographs show, in consequence, apparently solid, fleshy forms, clothed with transparent garments. At the astral level, the fairy body is at once seen to be without solid substance, to consist of streams of flowing energies which might give, especially at first glance, the illusory appearance of a fixed shape.
Để có thể chụp được những bức ảnh như vậy, các tiên nữ phải được hiện hình, có lẽ bởi một chân sư vận hành vô hình; vì chỉ như thế họ mới có thể phản chiếu ánh sáng tác quang. Trong tiến trình đậm đặc hóa này, bản chất thật của hình tướng tiên nữ bị che khuất bên dưới lớp bao phủ bằng chất liệu dĩ thái và hồng trần mỏng manh, có tính phản chiếu. Do đó, các bức ảnh cho thấy những hình tướng dường như rắn chắc, bằng thịt, mặc các y phục trong suốt. Ở cấp độ cảm dục, thể của tiên nữ lập tức được thấy là không có chất liệu rắn, mà gồm các dòng năng lượng đang chảy, có thể tạo nên, đặc biệt thoạt nhìn, vẻ ngoài ảo tưởng của một hình dạng cố định.
The human mind inevitably tends to give to its perceptions familiar forms. In consequence, unless great care is taken, every appearance of solidity will present itself to the mind-brain of seers, and generally without their being in the least aware of the process and its effects. The observer must, in consequence, be constantly on guard against this action of the mind and try to see and record the reality, however unusual it may appear. Although I have thus tried, I cannot guarantee the complete absence of error in my descriptions.
Thể trí con người tất yếu có khuynh hướng trao cho các tri giác của mình những hình tướng quen thuộc. Do đó, nếu không hết sức cẩn thận, mọi vẻ ngoài của tính rắn chắc sẽ tự trình hiện với trí-tuệ-bộ-não của các nhà thông nhãn, và nói chung họ hoàn toàn không ý thức chút nào về tiến trình ấy cũng như các hiệu quả của nó. Vì vậy, người quan sát phải luôn cảnh giác trước hoạt động này của thể trí, và cố gắng thấy cũng như ghi lại thực tại, dù nó có vẻ khác thường đến đâu. Dù tôi đã cố gắng như vậy, tôi không thể bảo đảm rằng các mô tả của mình hoàn toàn không có sai lầm.
DRYADS – MỘC TIÊN
The mento-emotional counterparts of woods are often filled with entrancing interest and beauty. The life forces from the plant kingdom and other emanations from the trees, particularly the larger ones, fill the atmosphere with fine radiations amidst which the tree nature spirits play and angels live and move. The latter sometimes give the impression of a rather dreamy state of consciousness and of being themselves expressions of tree life, one with the ensouling spirit of all the vegetation. They merge into and emerge from the trees, glide about the wood rather like tall, somewhat shy maidens, slender, graceful and robed in diaphanous garments of many shades of green. A description may serve as illustration:
Các đối phần trí-cảm của rừng cây thường đầy sức hấp dẫn và vẻ đẹp mê hồn. Các mãnh lực sống từ giới thực vật và những xuất lộ khác từ cây cối, đặc biệt là những cây lớn hơn, làm đầy bầu khí quyển bằng các bức xạ tinh tế, giữa đó các tinh linh tự nhiên của cây nô đùa, còn các thiên thần sống và chuyển động. Những vị sau đôi khi tạo ấn tượng về một trạng thái tâm thức khá mơ màng, và về chính họ như những biểu hiện của sự sống cây cối, hợp nhất với tinh thần phú linh cho toàn bộ thảm thực vật. Họ hòa nhập vào và xuất hiện ra khỏi cây cối, lướt qua rừng khá giống những thiếu nữ cao, hơi e lệ, mảnh mai, duyên dáng và khoác những y phục trong mờ với nhiều sắc xanh lục. Một mô tả có thể dùng làm minh họa:
The tree fairies and higher nature spirits inhabiting a wood near Kendal, in Westmorland, are truly beautiful. They move about amongst the trees with a gentle, quiet grace. One of them whom I think has observed us and does not seem to be afraid, slightly raises her light, filmy garment, through which the rosy form can faintly be seen. The “hair” is long and tiny lights play like a garland around her head. So beautiful is her carriage that, were it not for the complete absence of self-consciousness and the perfect candour shown in the expression of face and eyes, I should have thought she was posing. All around are others equally beautiful, each differing in some slight degree from her fellows, and many of them far less outward-turned in consciousness. Another, whose back is toward me, has lovely, long, dark “hair”, which hangs well below the waist. One slender white arm is stretched out before her, a little to the side, as she glides slowly through the wood. They often seem to be less nature spirits with separate identities than the souls of the trees, as it were nature spirit expressions of the evolving tree life; for they blend themselves with the larger trees, disappearing from view for a time, later to re-emerge and move about the wood.
Các tiên nữ cây và các tinh linh tự nhiên cao hơn cư ngụ trong một khu rừng gần Kendal, ở Westmorland, thật sự đẹp đẽ. Họ chuyển động giữa cây cối với một vẻ duyên dáng dịu dàng, lặng lẽ. Một trong số họ, mà tôi nghĩ đã quan sát chúng tôi và dường như không sợ, hơi nâng chiếc y phục nhẹ, mỏng như sương, qua đó hình tướng hồng nhạt có thể thấy lờ mờ. “Tóc” dài và những ánh sáng nhỏ chơi đùa như một vòng hoa quanh đầu nàng. Dáng điệu của nàng đẹp đến nỗi, nếu không có sự hoàn toàn vắng bóng ngã thức và vẻ thành thật trọn vẹn hiện rõ trong nét mặt và đôi mắt, tôi hẳn đã nghĩ nàng đang tạo dáng. Chung quanh là những người khác cũng đẹp như vậy, mỗi người khác biệt đôi chút so với các bạn đồng loại, và nhiều người trong số họ ít hướng ngoại hơn nhiều trong tâm thức. Một người khác, quay lưng về phía tôi, có “tóc” dài, sẫm màu, rất đẹp, buông xuống quá eo. Một cánh tay trắng mảnh mai duỗi ra trước mặt nàng, hơi lệch sang bên, khi nàng chậm rãi lướt qua khu rừng. Họ thường dường như ít là những tinh linh tự nhiên có bản sắc riêng biệt hơn là linh hồn của cây cối, như thể là những biểu hiện tinh linh tự nhiên của sự sống cây đang tiến hoá; vì họ hòa mình với những cây lớn hơn, biến mất khỏi tầm nhìn trong một thời gian, rồi sau đó lại xuất hiện và chuyển động trong rừng.
Similes can prove misleading but, when watching the nature spirits and angel inhabitants of wood and forest, they sometimes appear before one as would fishes floating out of ocean depths into clear focus for a few moments and then receding, to be lost as if merged once more with their watery element. The more advanced tree angels, those associated with very old and large trees, exhibit a more human clarity of mental outlook and power. Their gaze can be keen and penetrating as they turn their attention upon one who enters their realm and is able to see and communicate with them. Nevertheless, in their case also the impression is received of an intimate blending of their life and consciousness with that of the tree which they ensoul, and the evolution of which they assist.
Những so sánh có thể gây hiểu lầm, nhưng khi quan sát các tinh linh tự nhiên và cư dân thiên thần của rừng cây và rừng lớn, đôi khi họ hiện ra trước người ta như những con cá nổi lên từ đáy đại dương vào một tiêu điểm rõ ràng trong vài khoảnh khắc, rồi lùi xa, mất hút như thể lại hòa nhập với nguyên tố nước của mình. Các thiên thần cây tiến hóa hơn, những vị liên kết với các cây rất già và lớn, biểu lộ một sự rõ ràng trí tuệ và quyền năng có tính người hơn. Ánh nhìn của họ có thể sắc bén và xuyên thấu khi họ hướng sự chú ý vào người bước vào lãnh vực của họ và có thể thấy cũng như giao tiếp với họ. Tuy nhiên, trong trường hợp của họ cũng vậy, người ta nhận được ấn tượng về sự hòa trộn mật thiết giữa sự sống và tâm thức của họ với sự sống và tâm thức của cây mà họ phú linh, và sự tiến hoá của cây ấy mà họ hỗ trợ.
FAIRY GLAMOUR – ẢO CẢM TIÊN NỮ
On one occasion, whilst studying the nature spirit life in the countryside of Lancashire, a somewhat advanced nature spirit of air associated with the plant kingdom provided an interesting display of the glamorous influence which certain kinds of fairies are able to throw over one who approaches their domain. My record of the experience reads:
Có một lần, khi đang nghiên cứu đời sống tinh linh tự nhiên ở vùng nông thôn Lancashire, một tinh linh tự nhiên của khí khá tiến bộ, liên kết với giới thực vật, đã cung cấp một biểu hiện thú vị về ảnh hưởng ảo cảm mà một số loại tiên nữ có thể phủ lên người tiến gần lãnh địa của họ. Bản ghi chép kinh nghiệm của tôi như sau:
A beautiful and highly developed fairy is associated with a briar hedge on which wild roses are blooming in profusion. She is of an especially engaging character and in stature is some four feet tall. Lightly robed in a flowing, transparent, filmy, auric garment, she regards us with the friendliest of smiles. Her aura is noticeably vital and looks like a cloud of many soft yet radiant hues, through which shafts of dazzling light flash and radiate. The colours include soft, luminous pale rose, pale green, lavender and misty blue, throughout which shoot the brilliant lances of light. She is in a state of exalted happiness.
Một tiên nữ đẹp đẽ và phát triển cao liên kết với một hàng rào tầm xuân, trên đó những đóa hồng dại đang nở rộ. Nàng có tính cách đặc biệt lôi cuốn và cao khoảng bốn feet. Khoác nhẹ một y phục hào quang chảy buông, trong suốt, mỏng như sương, nàng nhìn chúng tôi với nụ cười thân thiện nhất. Hào quang của nàng rõ rệt đầy sinh lực và trông như một đám mây gồm nhiều sắc thái dịu nhẹ nhưng rạng rỡ, xuyên qua đó những tia sáng chói lòa lóe lên và tỏa chiếu. Các màu gồm hồng nhạt mềm mại, sáng trong, xanh lục nhạt, tím oải hương và xanh lam mờ sương, khắp đó phóng qua những mũi giáo ánh sáng rực rỡ. Nàng ở trong một trạng thái hạnh phúc cao vời.
As an experiment, I yielded partially to the enchantment which she deliberately exercised and to the appealing call with which she invited, nay even challenged me to forsake the worldof men and share with her, and others of her kin hovering near, the irresponsible gaiety of the Kingdom of Fairy. For a time, almost unconscious of the body yet always sufficiently awake in it to return at will, I experienced some measure of the joyful, care-free radiant happiness which seems to be the permanent condition of a’l the dwellers in the fairy world. There is danger in too close a contact;1 for it requires a decided effort to withdraw and take up the burden—as it then seemed—of physical existence once again.
Như một thí nghiệm, tôi phần nào thuận theo bùa mê mà nàng cố ý thi triển, và theo tiếng gọi quyến rũ mà qua đó nàng mời gọi, thậm chí thách thức tôi từ bỏ thế giới của loài người để cùng nàng và những người đồng loại của nàng đang lượn lờ gần đó chia sẻ niềm vui vô trách nhiệm của Vương quốc Tiên. Trong một thời gian, gần như không ý thức về thân thể nhưng vẫn luôn đủ tỉnh thức trong đó để trở về theo ý muốn, tôi trải nghiệm một phần niềm hạnh phúc rạng rỡ, vui tươi, vô tư, dường như là tình trạng thường hằng của tất cả cư dân trong thế giới tiên. Có nguy hiểm trong sự tiếp xúc quá gần;1 vì cần một nỗ lực dứt khoát để rút lui và lại gánh lấy gánh nặng—như khi ấy tôi cảm thấy—của sự tồn tại hồng trần.
FAIRIES AND GRASS ELVES – TIÊN NỮ VÀ ELF CỎ
The surface of this field is densely populated by fairies, brownies and a species of tiny elves associated with grass. The fairies float through the air, assuming graceful poses and expressing in the highest degree the qualities of lightheartedness and gaiety. A number of them are flitting about singly, pausing a moment between each flight and bearing in their hands something which they appear to give to the plants and flowers at each of their stopping places. They stretch out their hands as if applying vital forces to the plants, the etheric doubles of which glow in consequence and then move swiftly away again. They are definitely feminine in appearance, dressed in white or very pale rose coloured, shimmering material of exceedingly fine texture. This is drawn in at the waist and shines like mother-of-pearl. The auric wings, when etherically materialised, are small and oval in shape.
Bề mặt cánh đồng này có mật độ cư dân dày đặc gồm các tiên nữ, brownie và một loài elf nhỏ bé liên kết với cỏ. Các tiên nữ trôi nổi trong không khí, nhận những dáng điệu duyên dáng và biểu lộ ở mức độ cao nhất các phẩm tính nhẹ lòng và vui tươi. Một số bay lượn đơn lẻ, dừng lại một chốc giữa mỗi chuyến bay và cầm trong tay một điều gì đó mà dường như họ trao cho cây cối và hoa ở mỗi nơi họ dừng lại. Họ duỗi tay ra như thể đang áp dụng các mãnh lực sinh lực vào cây cối, khiến các bản sao dĩ thái của chúng phát sáng, rồi lại nhanh chóng bay đi. Về dáng vẻ, họ rõ rệt nữ tính, mặc chất liệu trắng hoặc hồng rất nhạt, lung linh, có kết cấu cực kỳ tinh tế. Chất liệu này thắt lại ở eo và sáng như xà cừ. Khi hiện hình bằng dĩ thái, đôi cánh hào quang nhỏ và có dạng bầu dục.
The elves are from three to six inches in height. They are little, force-built figures, shining with a green light, and look as if they were clothed with a single close-fitting grass-green garment.
Các elf cao từ ba đến sáu inch. Họ là những hình bóng nhỏ được xây bằng mãnh lực, sáng với ánh xanh lục, và trông như thể mặc một y phục duy nhất ôm sát màu xanh cỏ.
Their faces are chubby and childlike. The eyes have a somewhat arch expression and they are wholly absorbed in the short, swinging flights with which, alone and in groups, they move about the field.
Khuôn mặt họ bầu bĩnh và giống trẻ con. Đôi mắt có vẻ hơi tinh nghịch, và họ hoàn toàn mải mê trong những chuyến bay ngắn, đung đưa, qua đó họ di chuyển quanh cánh đồng, một mình và theo nhóm.
Occasionally the currents of force in their auras seem to join and cross above the head, giving to some of them the appearance of being horned. They are associated with the ensouling life in the cells of the grass and other plants and presumably play some part, however small, in its enclosure in form.
Thỉnh thoảng, các dòng mãnh lực trong hào quang của họ dường như nối lại và giao nhau phía trên đầu, khiến một số trông như có sừng. Họ liên kết với sự sống phú linh trong các tế bào của cỏ và những cây khác, và có lẽ đóng một vai trò nào đó, dù nhỏ bé đến đâu, trong việc bao bọc sự sống ấy vào hình tướng.
DANCING FAIRIES, COTTINGLEY – TIÊN NỮ NHẢY MÚA, COTTINGLEY
A bright radiance suddenly shines out over the field, some sixty yards away. It is due to the arrival of a group of fairies under the control of a superior fairy, who is autocratic and definite in her orders, holding unquestioned command. They spread themselves out into a gradually widening circle around her, and as they do so a soft glow shines over the grass. Since they swung high over the tree tops and down into the field, the circle has spread to approximately twelve feet in width. Each member of this fairy band is connected by a stream of light with the directing fairy, who is in the centre and slightly above them. These streams are of different shades of yellow, deepening to orange; they meet in the centre, merging in her aura, and there is a constant flow backwards and forwards along them. The form produced by this is something like an inverted opalescent, glass fruit dish, with the central fairy as the stem and the lines of light, which flow in graceful, even curves, forming the sides of the bowl. The impression was received, that the interchanges and the complex designs produced by the dance which followed stimulated, and provided a model for, the development of forms in the plant kingdom of Nature in the neighbourhood.
Một ánh rạng rỡ sáng chói đột nhiên tỏa ra trên cánh đồng, cách khoảng sáu mươi yard. Điều này do sự xuất hiện của một nhóm tiên nữ dưới sự kiểm soát của một tiên nữ cấp cao hơn, người có tính chuyên quyền và dứt khoát trong các mệnh lệnh, nắm quyền chỉ huy không ai chất vấn. Họ tỏa ra thành một vòng tròn dần mở rộng quanh nàng, và khi làm như vậy, một ánh sáng dịu tỏa trên cỏ. Từ khi họ vung mình cao trên ngọn cây rồi hạ xuống cánh đồng, vòng tròn đã lan rộng đến khoảng mười hai feet. Mỗi thành viên của nhóm tiên này được nối với tiên nữ chỉ đạo bằng một dòng ánh sáng, nàng ở trung tâm và hơi cao hơn họ. Những dòng này có các sắc thái vàng khác nhau, đậm dần thành cam; chúng gặp nhau ở trung tâm, hòa vào hào quang của nàng, và có một luồng chảy liên tục tới lui dọc theo chúng. Hình tướng do điều này tạo ra hơi giống một đĩa đựng trái cây bằng thủy tinh óng ánh úp ngược, với tiên nữ trung tâm làm cuống và các đường ánh sáng, chảy thành những đường cong đều đặn, duyên dáng, tạo thành thành bát. Người ta nhận được ấn tượng rằng những trao đổi và các thiết kế phức tạp do vũ điệu tiếp theo tạo ra đã kích thích và cung cấp một mô hình cho sự phát triển các hình tướng trong giới thực vật của Thiên nhiên ở vùng lân cận.
LAKE DISTRICT – VÙNG HỒ
A group of fairies is gambolling and dancing on a small plateau on the side of the Wythburn stream. Their bodies, some six inches in height, are feminine in appearance. Their clothing is chiefly pale blue and their “wings”, which are similarly coloured and almost oval in shape, are constantly fluttering as they dance in a circle, hand in hand. Some of them wear a loose girdle from which is suspended an instrument like a horn. All are draped with a material which serves to conceal the roseate form more completely than is usual with this type of nature spirit. Their “hair”, which in all cases is brown, varies from very light to quite dark shades.
Một nhóm tiên nữ đang nô đùa và nhảy múa trên một cao nguyên nhỏ bên cạnh dòng Wythburn. Thân thể họ, cao khoảng sáu inch, có dáng vẻ nữ tính. Y phục của họ chủ yếu màu xanh lam nhạt, và “cánh” của họ, cũng có màu tương tự và gần như hình bầu dục, liên tục rung động khi họ nhảy múa thành vòng tròn, tay trong tay. Một số mang một dây đai lỏng, từ đó treo một nhạc cụ giống kèn. Tất cả đều phủ một chất liệu giúp che giấu hình tướng hồng nhạt hoàn toàn hơn mức thường thấy nơi loại tinh linh tự nhiên này. “Tóc” của họ, trong mọi trường hợp đều màu nâu, thay đổi từ sắc rất nhạt đến khá sẫm.
They are carrying out a concerted movement which resembles a country dance and I think it must be their thought and their movements that cause numbers of small, astro-etheric daisy-like flowers to appear and disappear near the ground, within and around the circle, sometimes singly and sometimes as wreaths or chains. They are also discharging into the surrounding atmosphere a specialised energy in the form of silver sparks, and an entrancingly beautiful effect is produced by this miniature electrical display flowing through their auras and the luminous mist in which the whole group is bathed. This mist extends to a height of probably eight or ten inches above their heads and reaches its highest point over the centre of the group. The effect of it upon the fairies is to give them the sense of complete seclusion. In fact, no nature spirit in the neighbourhood enters the charmed sphere.
Họ đang thực hiện một chuyển động phối hợp giống một điệu nhảy đồng quê, và tôi nghĩ hẳn chính tư tưởng và chuyển động của họ khiến nhiều bông hoa nhỏ dạng cảm dục-dĩ thái, giống hoa cúc, hiện ra và biến mất gần mặt đất, bên trong và chung quanh vòng tròn, đôi khi đơn lẻ và đôi khi thành vòng hoa hoặc chuỗi hoa. Họ cũng đang phóng thích vào bầu khí quyển chung quanh một năng lượng chuyên biệt dưới dạng các tia lửa bạc, và một hiệu quả đẹp mê hồn được tạo ra bởi màn trình diễn điện nhỏ bé này chảy qua hào quang của họ và làn sương phát sáng trong đó toàn bộ nhóm được tắm gội. Làn sương này vươn lên đến độ cao có lẽ tám hoặc mười inch trên đầu họ và đạt điểm cao nhất phía trên trung tâm của nhóm. Tác động của nó đối với các tiên nữ là đem lại cho họ cảm thức hoàn toàn tách biệt. Thật vậy, không tinh linh tự nhiên nào trong vùng lân cận đi vào khối cầu được mê hoặc ấy.
The fairy dancers have now changed their formation and are going through an evolution of considerable intricacy, making radial “chains” across the circle. This does not remain in the same place, and when the group moves the secluding aura moves with it. The dance, which is also a ritual, resembles certain figures in the Lancers. The fairies have a decided sense of rhythm, for although their movements are spontaneous and free, they are to some extent keeping time.
Các vũ công tiên nữ giờ đã thay đổi đội hình và đang trải qua một diễn biến khá phức tạp, tạo nên các “chuỗi” xuyên tâm ngang qua vòng tròn. Điều này không ở lại cùng một chỗ, và khi nhóm di chuyển, hào quang tách biệt cũng di chuyển theo. Vũ điệu, vốn cũng là một nghi thức, giống một số hình thể trong điệu Lancers. Các tiên nữ có ý thức nhịp điệu rõ rệt, vì dù các chuyển động của họ tự phát và tự do, ở một mức nào đó họ vẫn giữ nhịp.
As I watch them, there develops slowly in the centre of the circle a rose-coloured, heart-shaped form whose pulsations discharge the silvery force, which flows out in fine lines or striations. The auric encasement has now increased considerably in size and is not unlike a large, inverted glass bowl. They seem to have some idea that they are creating or building a definite shape, for radial divisions, extremely thin and glittering, have been built, dividing the tenuous form into compartments. Gradually the group drifts away out of range of my vision, having doubtless carried out some formative function on behalf of the plant kingdom.
Khi tôi quan sát họ, ở trung tâm vòng tròn dần phát triển một hình tướng màu hồng, hình trái tim, mà các nhịp đập của nó phóng thích mãnh lực bạc, chảy ra thành những đường mảnh hoặc vân sọc. Lớp bao hào quang giờ đã tăng kích thước đáng kể và không khác mấy một chiếc bát thủy tinh lớn úp ngược. Dường như họ có ý niệm nào đó rằng họ đang sáng tạo hoặc xây dựng một hình dạng xác định, vì các vách chia xuyên tâm, cực kỳ mỏng và lấp lánh, đã được xây dựng, chia hình tướng mỏng manh ấy thành các ngăn. Dần dần nhóm trôi ra khỏi tầm nhìn của tôi, chắc chắn đã thực hiện một chức năng tạo hình nào đó thay mặt cho giới thực vật.
A FAIRY QUEEN – MỘT NỮ HOÀNG TIÊN
We are surrounded by a group of joyous, dancing fairies. The leader is some two feet tall, clothed in transparent, flowing draperies, and has a star on her forehead. She has large, glistening “wings” of delicate shades of pink and lavender. Her “hair” is light golden brown and streams behind her, merging with the other flowing forces of her aura. The form is perfectly modelled and rounded, like that of a young girl, and the right hand holds a wand. Her face is stamped with a decided impress of power, especially noticeable in the clear blue eyes which, on occasion, glow as with living fire. Her brow is broad, her features small and rounded, the tiny ears a poem of physical perfection. The bearing of head, neck and shoulders is queenly, the whole pose being full of grace. A pale blue radiance surrounds this beautiful creature, while golden flashes of light play around and above her head. The lower portion of the aura is shell pink, irradiated with white light.
Chúng tôi được bao quanh bởi một nhóm tiên nữ vui tươi, đang nhảy múa. Người dẫn đầu cao khoảng hai feet, khoác những dải y phục trong suốt, chảy buông, và có một ngôi sao trên trán. Nàng có đôi “cánh” lớn, lấp lánh, với những sắc hồng và tím oải hương tinh tế. “Tóc” nàng màu nâu vàng nhạt và buông bay phía sau, hòa vào các mãnh lực chảy khác của hào quang nàng. Hình tướng được nắn tạo và làm tròn hoàn hảo, như của một cô gái trẻ, và tay phải cầm một cây đũa. Khuôn mặt nàng in rõ dấu ấn quyền năng, đặc biệt dễ nhận thấy trong đôi mắt xanh lam trong trẻo, đôi khi rực lên như lửa sống. Trán nàng rộng, nét mặt nhỏ và tròn, đôi tai tí hon là một bài thơ của sự hoàn hảo hồng trần. Dáng đầu, cổ và vai mang vẻ nữ vương, toàn bộ tư thế đầy duyên dáng. Một bức xạ xanh lam nhạt bao quanh sinh linh đẹp đẽ này, trong khi những tia sáng vàng chơi đùa quanh và trên đầu nàng. Phần dưới của hào quang có màu hồng vỏ sò, được ánh sáng trắng chiếu rạng.
She is aware of our presence, seems to understand my purpose, and has graciously remained more or less motionless for this description. She holds up her wand, which is about the length of her forearm and is white and shining, glowing at the tip with a golden light. I hear faint, far-away music, too ethereal to capture, such music as might be given forth by diminutive, pendant needles, delicately tuned and struck with tiny hammers. It is more a series of tinkles than a consecutive melody, possibly because I am unable fully to catch the sound. Perchance it is a far-off echo of divine creative song, the music of the Voice, thus audible deep down in these etheric regions of the physical world. Now the whole group rises into the air and vanishes.
Nàng ý thức về sự hiện diện của chúng tôi, dường như thấu hiểu mục đích của tôi, và đã nhã nhặn giữ gần như bất động để tôi mô tả. Nàng giơ cây đũa lên, dài khoảng bằng cẳng tay của nàng, màu trắng và sáng, đầu đũa rực lên ánh sáng vàng. Tôi nghe thấy âm nhạc mờ nhạt, xa xăm, quá thanh nhẹ để nắm bắt, thứ âm nhạc như có thể phát ra từ những kim nhỏ bé treo lơ lửng, được lên dây tinh tế và gõ bằng những chiếc búa tí hon. Đó là một chuỗi tiếng leng keng hơn là một giai điệu liên tục, có lẽ vì tôi không thể nắm bắt trọn vẹn âm thanh. Có lẽ đó là tiếng vọng xa xôi của khúc ca sáng tạo thiêng liêng, âm nhạc của Âm Thanh, nhờ vậy có thể nghe được sâu bên dưới trong các vùng dĩ thái này của thế giới hồng trần. Bây giờ toàn bộ nhóm vươn lên không trung và biến mất.
SYLPHS – SYLPH
Above the high moorlands of Lancashire, revelling in the force of the wind, large numbers of angels and nature spirits of air are to be seen. These sylphs are rather below human height, but quite human in form, though asexual.
Trên các vùng đồng hoang cao của Lancashire, vui hưởng mãnh lực của gió, có thể thấy rất nhiều thiên thần và tinh linh tự nhiên của khí. Các sylph này hơi thấp hơn chiều cao con người, nhưng khá giống người về hình tướng, dù vô tính.
They are disporting themselves wildly in groups of two and three, travelling at great speed across the sky. There is a certain fierceness in their joy as they call to each other, their cries sounding like the whistling of the wind, reminiscent of the call of the Valkyries in Wagner’s opera of that name.
Họ đang nô đùa hoang dại theo nhóm hai hoặc ba, di chuyển với tốc độ rất lớn ngang qua bầu trời. Có một sự dữ dội nào đó trong niềm hoan hỉ của họ khi họ gọi nhau, tiếng kêu nghe như tiếng gió rít, gợi nhớ tiếng gọi của các nữ chiến binh trong vở opera cùng tên của Wagner.
At first sight they appear to be winged a pair of magnificent white pinions being attached to the body from the top of the shoulders and reaching down to the feet. One even seems to detect a regular, featherlike formation within these “wings”.
Thoạt nhìn, họ dường như có cánh, một đôi cánh trắng tuyệt đẹp gắn vào thân thể từ đỉnh vai và kéo xuống đến bàn chân. Người ta thậm chí dường như nhận ra một cấu tạo đều đặn như lông vũ bên trong những “cánh” này.
This is, however, an illusion produced by the forces flowing through their auras. Pale shades of rose and azure blue predominate, while a radiant light of many hues plays continually about their heads. A group of three, which I am especially watching, presents a most spectacular appearance. As they wheel and fly across the wide arch of the heavens, brightly coloured forces flash with extreme rapidity between and all about them, but more especially in the air above. Occasionally, variegated sheets of colour, arranged in shining bands, stream from one sylph to the other. These are chiefly pale blue, rose, green and lavender, through which golden, flame-like energies continually scintillate. There is a definite order in this colour communication, the meaning of which is hidden from me, though the chief notes seem to be fierce exultation and joy-.
Tuy nhiên, đây là một ảo tưởng do các mãnh lực chảy qua hào quang của họ tạo ra. Các sắc hồng nhạt và xanh lam thiên thanh chiếm ưu thế, trong khi một ánh sáng rạng rỡ nhiều màu liên tục chơi đùa quanh đầu họ. Một nhóm ba vị mà tôi đặc biệt quan sát tạo nên một cảnh tượng hết sức ngoạn mục. Khi họ xoay vòng và bay ngang qua vòm trời rộng, các mãnh lực có màu sáng chói lóe lên với tốc độ cực nhanh giữa họ và khắp quanh họ, nhưng đặc biệt hơn cả là trong không khí phía trên. Thỉnh thoảng, những tấm màu loang lổ, sắp thành các dải sáng, tuôn từ sylph này sang sylph kia. Chúng chủ yếu là xanh lam nhạt, hồng, xanh lục và tím oải hương, xuyên qua đó các năng lượng vàng, giống ngọn lửa, liên tục lấp lánh. Có một trật tự rõ rệt trong sự giao tiếp bằng màu này, ý nghĩa của nó bị che khuất đối với tôi, dù các âm điệu chính dường như là sự hân hoan dữ dội và niềm hoan hỉ.
The faces of these astro-mental creatures of the air are like those of strangely beautiful but fierce Amazons, strong, vital, and controlled despite their apparently reckless abandon.
Khuôn mặt của các sinh linh cảm dục-trí tuệ của khí này giống những nữ chiến binh đẹp lạ lùng nhưng dữ dội, mạnh mẽ, đầy sinh lực và có kiểm soát bất chấp vẻ buông thả dường như liều lĩnh của họ.
Their movement through the air is very rapid, for they appear to travel distances of ten to fifteen miles in a moment of time.
Chuyển động của họ trong không khí rất nhanh, vì họ dường như đi qua những khoảng cách mười đến mười lăm dặm chỉ trong một khoảnh khắc.
STORM SYLPHS – SYLPH BÃO
While I watched from the slopes of Helvellyn the approach of dark masses of storm-cloud, I observed a number of birdlike air spirits travelling in front of the on-coming clouds. Many of these sylphs are dark and fearsome to look upon, being slightly suggestive of large, swiftly swooping bats. They are darting backwards and forwards across the Wythburn valley, sometimes following quite closely the conformation of the hills. They appear to be in a condition of high excitement and give the impression that they are intensifying the electric and magnetic conditions characteristic of a storm. Their faces are human and fully formed, though their expression is distinctly unpleasant. There are large numbers of them—probably a hundred—including some whiter varieties of sylph. They utter a weird, shrieking noise and occasionally shoot vertically upwards, passing into the clouds and reappearing above them.
Khi tôi quan sát từ các sườn núi Helvellyn sự tiến đến của những khối mây bão đen, tôi nhận thấy một số tinh linh khí giống chim đang di chuyển phía trước các đám mây đang tới. Nhiều sylph trong số này tối đen và đáng sợ khi nhìn, hơi gợi đến những con dơi lớn đang sà xuống nhanh chóng. Họ phóng qua phóng lại ngang thung lũng Wythburn, đôi khi bám khá sát hình thể các ngọn đồi. Họ dường như ở trong một tình trạng phấn khích cao độ và tạo ấn tượng rằng họ đang tăng cường các điều kiện điện và từ tính đặc trưng của một cơn bão. Khuôn mặt họ có tính người và được tạo hình đầy đủ, dù biểu cảm rõ rệt khó chịu. Có rất nhiều—có lẽ một trăm—trong đó gồm một số biến thể sylph trắng hơn. Họ phát ra một tiếng rít kỳ dị, the thé, và thỉnh thoảng phóng thẳng đứng lên trên, đi vào các đám mây rồi lại xuất hiện phía trên chúng.
THE GREAT STORM IN LONDON – CƠN BÃO LỚN Ở LONDON
Demoniacal and terrific beyond description are the beings who, high in the aerial regions, are to be seen exulting in the fury of the storm as the jagged flashes of the lightning and the deafening roar of the thunder continue hour after hour through the night. Their appearance faintly resembles that of gigantic bats. Their bodies are human in shape, yet it is no human spirit which shines through those large, upward slanting eyes. Their colour is black as night, red and flamelike, the aura which surrounds them dividing into two huge pinions behind the central form. The “hair” streams back from the head like tongues of flame. Thousands of beings, of whom this is but a halting description, revel in the power of the storm. The clash of the mighty forces produces in them intense exaltation of consciousness as they soar, hover, dart, wheel and swoop, apparently intensifying the forces of the storm which in them seem to find embodiment.
Ma quái và khủng khiếp vượt ngoài mọi mô tả là những sinh linh, ở cao trong các vùng không trung, được thấy đang hân hoan trong cơn cuồng nộ của bão, khi những tia chớp răng cưa và tiếng sấm gầm điếc tai tiếp diễn giờ này sang giờ khác suốt đêm. Dáng vẻ của họ hơi giống những con dơi khổng lồ. Thân thể họ có hình người, nhưng không phải tinh thần con người chiếu qua đôi mắt lớn, xếch lên ấy. Màu của họ đen như đêm, đỏ và giống lửa; hào quang bao quanh họ tách thành hai cánh khổng lồ phía sau hình tướng trung tâm. “Tóc” tuôn ngược khỏi đầu như những lưỡi lửa. Hàng ngàn sinh linh, mà đây chỉ là một mô tả vụng về, đang say sưa trong quyền năng của bão. Sự va chạm của các mãnh lực hùng mạnh tạo nơi họ một sự hân hoan tâm thức mãnh liệt khi họ bay vút, lơ lửng, lao nhanh, xoay vòng và sà xuống, dường như tăng cường các mãnh lực của bão, vốn có vẻ tìm được sự hiện thân nơi họ.
Behind these and above them, in the very heart of the tempest, is one beside whom the elementáis of storm and disintegration are but as fluttering bats. There, in the midst of it all, is to be seen one of the great devas of the elements, human in form, yet in beauty, majesty and power like unto an exalted superman. The knowledge of this presence inspired courage and calmness when, just before a flash of lightning cleaved the heavens with a ribbon of fire, one of the dark beings seemed to swoop down and for a moment hover threateningly, close above us. The baleful eyes, gleaming with frenzy, were fixed upon the earth below. For a fraction of a second the consciousness behind those eyes was touched, producing a feeling of vertigo and terror such as had not been experienced since the days and nights of the first World War. Under this present test the value of those trials was realised, for automatically the will overcame the fear and stilled the trembling of the body, caused by the vision and the deafening crack of thunder by which it was accompanied. Then the dark storm-fiend sped away, uttering the weird, exulting, unearthly cry of his kind, which was continually audible throughout the storm.
Đằng sau và phía trên những sinh linh này, ngay trong tâm bão tố, có một vị mà so với vị ấy, các hành khí của bão và tan rã chỉ như những con dơi chập chờn. Ở đó, giữa tất cả, có thể thấy một trong các thiên thần vĩ đại của các nguyên tố, có hình tướng người, nhưng trong vẻ đẹp, uy nghi và quyền năng thì giống một siêu nhân cao cả. Sự nhận biết về hiện diện này khơi dậy can đảm và bình tĩnh khi, ngay trước lúc một tia chớp xé đôi bầu trời bằng một dải lửa, một trong các sinh linh tối đen dường như sà xuống và trong chốc lát lơ lửng đầy đe dọa ngay phía trên chúng tôi. Đôi mắt ác hiểm, lóe sáng vì cuồng loạn, chăm chăm nhìn xuống mặt đất bên dưới. Trong một phần rất nhỏ của giây, tâm thức phía sau đôi mắt ấy được chạm đến, tạo nên một cảm giác chóng mặt và kinh hoàng như chưa từng trải nghiệm kể từ những ngày đêm của Thế chiến thứ nhất. Dưới thử thách hiện tại này, giá trị của những thử thách kia được nhận ra, vì ý chí tự động thắng vượt nỗi sợ và làm lắng yên sự run rẩy của thân thể do linh ảnh và tiếng sấm nổ điếc tai đi kèm gây nên. Rồi quỷ bão tối đen ấy lao đi, phát ra tiếng kêu kỳ dị, hân hoan, phi trần của giống loài mình, vốn liên tục nghe được suốt cơn bão.
In the midst of all this uproar was a calm, an unshake able poise, a power acknowledged even by these unruly legions. Beyond a certain limit they could not go, for they were ever held in check by the will of that Lord of the Storm who reigned supreme over the elemental forces.
Giữa tất cả tiếng náo động này có một sự tĩnh lặng, một thế quân bình bất lay chuyển, một quyền năng được ngay cả các đạo quân ngang ngược này thừa nhận. Vượt quá một giới hạn nhất định, họ không thể đi, vì họ luôn bị kiềm chế bởi ý chí của vị Chúa Tể Bão Tố, Đấng ngự trị tối cao trên các mãnh lực hành khí.
SALAMANDERS – SALAMANDER
Since, like their relatively formless element, nature spirits of fire are without a fixed form, descriptions of them are somewhat difficult to obtain and record. The suggestion is received of an underlying human shape, limbs and “hair” being built of streams of rushing fiery energy and only rarely conforming in shape and position to the human frame.
Vì, giống nguyên tố tương đối vô hình tướng của họ, các tinh linh tự nhiên của lửa không có hình tướng cố định, nên việc đạt được và ghi lại các mô tả về họ khá khó khăn. Người ta nhận được gợi ý về một hình dạng người nằm bên dưới, với tay chân và “tóc” được xây bằng các dòng năng lượng lửa lao nhanh, và chỉ hiếm khi phù hợp về hình dạng và vị trí với khung người.
The face, however, when not veiled by auric flames is distinctly human in appearance. Quite non-human, however, is its expression, whilst the upward-slanting eyes seem to be lit with a kind of unholy delight in the destructive power of their element. The face is triangular, chin and ears being pointed, and the head surrounded and outlined by flickering, orange-red flamelets, through which shoot flashing tongues of fire. Salamanders vary in height from two or three feet to the great colossi of fire-power who are the Fire Lords associated with the sun. The description which follows, although not of Lesser but of Greater Gods, and included here for the sake of continuity in the study of the four elements and their denizens, is taken from the Introduction to and Chapter IV of my book, The Angelic Hosts.
Tuy nhiên, khuôn mặt, khi không bị các ngọn lửa hào quang che phủ, rõ rệt có dáng vẻ người. Nhưng biểu cảm của nó lại hoàn toàn không phải người, trong khi đôi mắt xếch lên dường như được thắp sáng bằng một thứ khoái cảm bất thiện trước quyền năng hủy diệt của nguyên tố họ. Khuôn mặt hình tam giác, cằm và tai nhọn, đầu được bao quanh và viền bởi những ngọn lửa nhỏ màu cam-đỏ chập chờn, xuyên qua đó phóng ra những lưỡi lửa lóe sáng. Salamander thay đổi chiều cao từ hai hoặc ba feet đến các khổng thể vĩ đại của quyền năng lửa, vốn là các Chúa Tể Lửa liên kết với mặt trời. Mô tả tiếp theo, dù không nói về các Vị Thần Nhỏ mà về các Vị Thần Lớn, và được đưa vào đây vì tính liên tục trong việc nghiên cứu bốn nguyên tố và cư dân của chúng, được trích từ phần Dẫn nhập và Chương Bốn trong sách của tôi, Các Đạo Quân Thiên Thần.
I seemed to be standing with him (the angel teacher referred to in the Introduction to the present book) submerged in a sea of fire, which was homogeneous and all-pervasive, yet translucent and transparent. I seemed also to see the sunflower formation of the fire aspect of the Solar Logos and His System, as if the angel and I were standing on one of the petals. Though the distances and dimensions of this fire-world were so colossal as to be physically incomprehensible and beyond measure, yet at this level they were well within my grasp, and the fact that I was standing completely submerged in a veritable cataract of flame as it rushed past and swirled about me, did not prevent me from seeing the whole of it and its shape, as if I were also looking down upon it from above. I could trace its source in the sun and see its limits where the tip of a petal touched the Ring-Pass-Not, or edge, of the System. I was not able to discover the relation of the physical sun to the fiery sun, but the relative size and luminosity were such that the physical sun would be almost lost in its fiery counterpart.
Dường như tôi đang đứng cùng vị ấy—vị huấn sư thiên thần được nhắc đến trong phần Dẫn nhập của quyển sách hiện tại—chìm trong một biển lửa, đồng nhất và thấm khắp, nhưng trong mờ và trong suốt. Tôi dường như cũng thấy cấu tạo hoa hướng dương của phương diện lửa của Thái dương Thượng đế và Hệ của Ngài, như thể vị thiên thần và tôi đang đứng trên một trong các cánh hoa. Dù các khoảng cách và kích thước của thế giới lửa này khổng lồ đến mức không thể hiểu được bằng hồng trần và vượt ngoài đo lường, nhưng ở cấp độ này chúng vẫn hoàn toàn nằm trong tầm nắm bắt của tôi; và việc tôi đang đứng chìm hẳn trong một thác lửa thật sự khi nó lao qua và xoáy quanh tôi không ngăn tôi thấy toàn bộ nó và hình dạng của nó, như thể tôi cũng đang nhìn xuống nó từ phía trên. Tôi có thể lần theo nguồn của nó trong mặt trời và thấy các giới hạn của nó nơi đầu một cánh hoa chạm đến vòng-giới-hạn, hay rìa, của Hệ. Tôi không thể khám phá mối liên hệ giữa mặt trời hồng trần và mặt trời lửa, nhưng kích thước và độ sáng tương đối thì đến mức mặt trời hồng trần gần như sẽ mất hút trong đối phần lửa của nó.
Under the angel’s guidance I moved about within this world of fire but, however great the distance we covered, the same aspect always presented itself. Whether we rose or fell in the sea of fire, or crossed a wide area of flame, the System continued to appear like a sunflower presenting its full face towards us. Contradictory though this may sound, it will be intelligible to those who are familiar with the idea of the fourth dimension. At the fire-level, however, the apparent directions of space, or characteristics revealed by superphysical cognition, are more than four.
Dưới sự hướng dẫn của thiên thần, tôi di chuyển trong thế giới lửa này, nhưng dù khoảng cách chúng tôi đi qua lớn đến đâu, cùng một phương diện vẫn luôn trình hiện. Dù chúng tôi vươn lên hay hạ xuống trong biển lửa, hoặc băng qua một vùng lửa rộng, Hệ vẫn tiếp tục hiện ra như một hoa hướng dương phô trọn mặt về phía chúng tôi. Dù điều này nghe có vẻ mâu thuẫn, nó sẽ dễ hiểu đối với những ai quen thuộc với ý niệm về chiều kích thứ tư. Tuy nhiên, ở cấp độ lửa, các hướng không gian biểu kiến, hay các đặc tính được nhận biết qua tri thức siêu hồng trần, nhiều hơn bốn.
The appearance of the solar Fire Lords was glorious and awe-inspiring. Their stature must be gigantic. Though they did not approach the size of the main petals themselves, as they stood like an inner corolla round the central fiery heart of the flower they were large enough to be noticeable from points near the outer edge of the System. When we approached the centre, they were seen to be solar colossi, and at one of our resting places a single Fire Lord completely filled the field of vision. Their forms were definitely human, though every cell in their bodies resembled a roaring furnace, while flames leapt and played about them continuously. I was not able to see their faces with any distinctness and their eyes were shaded from my view—perhaps by a merciful providence—but I received the impression of beauty quite as strongly as I received that of power. Their beauty was not so much that of shape and form, though their bodies are inexpressibly beautiful. Rather does it belong to the abstract ideal of beauty which they embody. In the fire-world I perceived beauty in the abstract as a living power, equally potent with fire, and realised that as there is a fire aspect of God, so is there a beauty aspect, equal to that of fire in its regenerating, transforming and destructive effects, equally glorious, equally terrible, equally dangerous to him who gazes upon its naked power. I begin to appreciate the truth of the saying that no man may see God and live. Man may climb the heights of the spiritual mountain and the beauty of God may transfigure him, but unless he is prepared for its resistless power, he may be utterly destroyed. In the world of fire there seems to be a highly organised system whereby such dangers are made as remote as possible. The illimitable power, glory and beauty of the Logos pass through the Angelic Hierarchy, which serves as a transformer to reduce and temper them so that forms are built instead of destroyed and dwellers at lower levels are not blinded by their awful might.
Dáng vẻ của các Chúa Tể Lửa thái dương thật huy hoàng và gây kính sợ. Tầm vóc của Các Ngài hẳn là khổng lồ. Dù Các Ngài không gần bằng kích thước của chính các cánh hoa chính, nhưng khi đứng như một tràng hoa bên trong quanh trái tim lửa trung tâm của bông hoa, Các Ngài đủ lớn để được nhận thấy từ các điểm gần rìa ngoài của Hệ. Khi chúng tôi đến gần trung tâm, Các Ngài được thấy là những khổng thể thái dương, và tại một trong những nơi chúng tôi dừng lại, một Chúa Tể Lửa duy nhất lấp đầy hoàn toàn trường nhìn. Hình tướng của Các Ngài rõ rệt có tính người, dù mỗi tế bào trong thân thể Các Ngài giống một lò lửa gầm roaring, trong khi các ngọn lửa liên tục nhảy vọt và chơi đùa quanh Các Ngài. Tôi không thể thấy khuôn mặt Các Ngài một cách rõ ràng, và đôi mắt Các Ngài bị che khỏi tầm nhìn của tôi—có lẽ do một sự quan phòng từ bi—nhưng tôi nhận được ấn tượng về vẻ đẹp cũng mạnh mẽ như ấn tượng về quyền năng. Vẻ đẹp của Các Ngài không hẳn là vẻ đẹp của dáng vẻ và hình tướng, dù thân thể Các Ngài đẹp không thể diễn tả. Đúng hơn, nó thuộc về lý tưởng trừu tượng của vẻ đẹp mà Các Ngài hiện thân. Trong thế giới lửa, tôi tri giác vẻ đẹp trong trừu tượng như một quyền năng sống, mạnh mẽ ngang với lửa, và nhận ra rằng cũng như có một phương diện lửa của Thượng đế, cũng có một phương diện vẻ đẹp, ngang bằng với lửa trong các hiệu quả tái sinh, chuyển đổi và hủy diệt của nó, huy hoàng như nhau, đáng sợ như nhau, nguy hiểm như nhau đối với người nhìn vào quyền năng trần trụi của nó. Tôi bắt đầu cảm nhận chân lý của câu nói rằng không ai có thể thấy Thượng đế mà còn sống. Con người có thể leo lên các đỉnh cao của ngọn núi tinh thần và vẻ đẹp của Thượng đế có thể biến hình y, nhưng nếu y không được chuẩn bị cho quyền năng không thể cưỡng của nó, y có thể bị hủy diệt hoàn toàn. Trong thế giới lửa, dường như có một hệ thống được tổ chức cao nhờ đó những nguy hiểm như vậy được làm cho xa vời nhất có thể. Quyền năng, vinh quang và vẻ đẹp vô hạn của Thượng đế đi qua Thánh Đoàn Thiên Thần, vốn phụng sự như một bộ biến áp để giảm bớt và điều hòa chúng, nhờ đó các hình tướng được xây dựng thay vì bị hủy diệt, và cư dân ở các cấp độ thấp hơn không bị làm mù bởi uy lực khủng khiếp của chúng.
The Archangels of Fire dwell amidst these forces and direct the play of the fiery, solar energies according to the will of that supreme Lord of Fire who is the Source of their existence. They are the Gods of Fire, the Archangels of Flame, the spiritual regenerators of the System. Living embodiments of fire-power, they are Viceregents of the Supreme Ruler, of whom both Solar System and Lords of Fire are expressions. All golden and flamelike, they resemble gigantic men built of flame, in the hand of each a spear and on the head a golden crown of living fire. Flames shoot forth from them on every side. Every change of consciousness sends forth tongues of flame, each gesture a flood of fire.
Các Tổng Thiên Thần Lửa cư ngụ giữa những mãnh lực này và điều khiển sự vận động của các năng lượng lửa, thái dương, theo ý chí của vị Chúa Tể Lửa tối cao, Đấng là Nguồn của sự tồn tại của Các Ngài. Các Ngài là các Thần Lửa, các Tổng Thiên Thần của Ngọn Lửa, những Đấng tái sinh tinh thần của Hệ. Là những hiện thân sống động của quyền năng lửa, Các Ngài là các Phó Vương của Đấng Cai Trị Tối Cao, mà cả Hệ Mặt Trời lẫn các Chúa Tể Lửa đều là những biểu hiện của Ngài. Toàn vàng và giống lửa, Các Ngài giống những người khổng lồ được xây bằng ngọn lửa, trong tay mỗi Ngài có một ngọn giáo và trên đầu là một vương miện vàng bằng lửa sống. Lửa phóng ra từ Các Ngài về mọi phía. Mỗi biến đổi của tâm thức đều phóng ra những lưỡi lửa, mỗi cử chỉ là một dòng lửa tràn.
Power passes through them, transformed lest its naked force should destroy the very system which, by their mediation, it recreates, regenerates and transforms. They shield the Solar System lest the fiery energy should blind the eyes of those to whom it is a source of light, burn those to whom it is a source of heat, and shatter those to whom it is a source of power. Such in small part are the Mighty Ones who stand before the fiery throne of the Father of Angels and of Men. Below them, rank on rank, are ranged the Gods of Fire. Youngest amongst them are the nature spirits of their elements, the salamanders, Lords of Fire in-the-becoming.
Quyền năng đi qua Các Ngài, được chuyển đổi để mãnh lực trần trụi của nó không hủy diệt chính hệ thống mà, qua trung gian của Các Ngài, nó tái tạo, tái sinh và chuyển đổi. Các Ngài che chở Hệ Mặt Trời để năng lượng lửa không làm mù đôi mắt của những ai mà đối với họ nó là nguồn ánh sáng, không đốt cháy những ai mà đối với họ nó là nguồn nhiệt, và không làm tan vỡ những ai mà đối với họ nó là nguồn quyền năng. Chỉ một phần nhỏ như vậy là các Đấng Đại Hùng đang đứng trước ngai lửa của Cha của các Thiên Thần và của Con Người. Bên dưới Các Ngài, hàng hàng lớp lớp, là các Thần Lửa. Trẻ nhất trong số đó là các tinh linh tự nhiên của các nguyên tố của họ, các salamander, những Chúa Tể Lửa đang-trở-thành.
PART III THE SEPHIROTH – PHẦN BA SEPHIROTH
CHAPTER I THE ANGELS OF WILL, WISDOM AND INTELLIGENCE – CHƯƠNG MỘT CÁC THIÊN THẦN CỦA Ý CHÍ, MINH TRIẾT VÀ TRÍ TUỆ
UNIVERSES are formed and permeated by an infinite, creative, vitalising and transforming deific Power which, in Tibetan, is called Fohat. This One Life contains within itself infinite potentialities for the production of universes, beings and forms. It has two modes of existence, one passive, one active. During the reign of the passive mode, from the objective point of view, darkness alone exists. The processes of emergence, densification, evolution and transformation of universes, beings and forms into spiritual states occur during the period of activity. These two phases, the passive and the active, alternate ceaselessly throughout eternity. In the world’s cosmogonies they are known as Nights and Days.
CÁC VŨ TRỤ được hình thành và thấm nhuần bởi một Quyền Năng thiêng liêng vô hạn, sáng tạo, tiếp sinh lực và chuyển đổi, trong tiếng Tây Tạng được gọi là Fohat. Sự Sống Duy Nhất này chứa trong chính nó những tiềm năng vô hạn để tạo ra các vũ trụ, các sinh linh và các hình tướng. Nó có hai phương thức tồn tại, một thụ động, một hoạt động. Trong thời kỳ phương thức thụ động ngự trị, theo quan điểm khách quan, chỉ có bóng tối tồn tại. Các tiến trình xuất hiện, đậm đặc hóa, tiến hoá và chuyển đổi các vũ trụ, các sinh linh và các hình tướng thành những trạng thái tinh thần diễn ra trong thời kỳ hoạt động. Hai giai đoạn này, thụ động và hoạt động, luân phiên không ngừng suốt vĩnh cửu. Trong các vũ trụ khởi nguyên luận của thế giới, chúng được biết đến như các Đêm và các Ngày.
At the opening of the creative period, the principle of Ideation inherent in the One Life becomes manifest as Universal Mind or divine Intelligence. This is not yet a Being, but a power which awakens from boundless Space at the fructifying touch or “breath” of the One Life. Within Universal Mind, localised or focussed areas of divine Thought appear. These are the “nuclei” within the first “thought cell” of a universe, from which emanate creative impulses. They are not yet individual Beings, though they contain the potentiality of all beings.
Vào lúc mở đầu thời kỳ sáng tạo, nguyên khí Ý niệm vốn cố hữu trong Sự Sống Duy Nhất trở nên biểu hiện như Vũ Trụ Trí hay Trí Tuệ thiêng liêng. Đây chưa phải là một Đấng, mà là một quyền năng thức dậy từ Không Gian vô biên dưới sự chạm đến thụ tinh hay “hơi thở” của Sự Sống Duy Nhất. Bên trong Vũ Trụ Trí, các vùng Tư Tưởng thiêng liêng được định vị hay tập trung xuất hiện. Đây là các “hạt nhân” bên trong “tế bào tư tưởng” đầu tiên của một vũ trụ, từ đó phát xuất các xung lực sáng tạo. Chúng chưa phải là các Đấng riêng biệt, dù chúng chứa tiềm năng của tất cả các sinh linh.
The process of emanation continues, the first to emerge being the Sephiras, the Numerations, the divine Creative Intelligences. These combine under numerical law to carry out the designs included within divine Ideation. The highest Archangels, from whom in turn the Angelic Hosts emerge, are included within such Emanations. Angels are thus Mind-born Emanations from Absolute Life and the nearer in time and condition to Absoluteness, the greater the beings… Thus hierarchy is part of the established order of Creation. At the summit of the ladder of angelic existence are the primordial Sephirothal Intelligences, the Archangels of the Face, the Mighty Spirits before the Throne. These are the First Born, the highest, greatest—save for the Primal Embodiment of Universal Mind—manifestations of Creative Intelligence and Power in the Universe. They are everlasting, existing from dawn to eve of Creative Day. At the other end of the scale of angelic existence are the last born, the minute lives emergent from the ocean of Life, the Sephiras in miniature, the nature spirits.
Tiến trình phát xuất tiếp tục, những vị đầu tiên xuất hiện là các Sephira, các Số Đếm, các Trí Tuệ Sáng Tạo thiêng liêng. Các vị này kết hợp dưới định luật số học để thực hiện những thiết kế được bao hàm trong Ý niệm thiêng liêng. Các Tổng Thiên Thần cao nhất, từ các Ngài đến lượt các Đạo Quân Thiên Thần xuất hiện, được bao hàm trong những Xuất lộ như vậy. Vì thế, thiên thần là các Xuất lộ sinh từ Trí của Sự Sống Tuyệt Đối, và càng gần về thời gian cũng như trạng thái với Tính Tuyệt Đối, các sinh linh càng vĩ đại… Như vậy, thánh đoàn là một phần của trật tự đã được thiết lập của Sáng tạo. Trên đỉnh thang tồn tại thiên thần là các Trí Tuệ Sephiroth nguyên thủy, các Tổng Thiên Thần của Thánh Nhan, các Tinh Thần Hùng Mạnh trước Thánh Ngai. Đây là các Đấng Đầu Sinh, những biểu hiện cao nhất, vĩ đại nhất—ngoại trừ Hiện Thân Nguyên Thủy của Vũ Trụ Trí—của Trí Tuệ và Quyền Năng Sáng Tạo trong Vũ Trụ. Các Ngài trường tồn, hiện hữu từ bình minh đến hoàng hôn của Ngày Sáng Tạo. Ở đầu kia của thang tồn tại thiên thần là các sinh linh sinh sau cùng, những sự sống nhỏ bé xuất hiện từ đại dương Sự Sống, các Sephira thu nhỏ, tức các tinh linh tự nhiên.
THE SONS OF WILL – CÁC CON CỦA Ý CHÍ
Within this hierarchically-ordered race of beings are at least seven main divisions, classified according to the predominant power manifest in each. The Sephira of Will gives birth to innumerable, but not unnumbered, “sons”, each in its turn the parent of a vast progeny, all imbued with the fire of the omnipotent Will. Their attribute is power and they are agents for the manifested will of that summation of the Sephiras which is the Logos of the Universe. Invested
Bên trong nhân loại các sinh linh được sắp xếp theo thánh đoàn này có ít nhất bảy phân bộ chính, được phân loại theo quyền năng nổi trội biểu hiện trong mỗi phân bộ. Sephira của Ý Chí sinh ra vô số, nhưng không phải không được đánh số, “người con”, mỗi người đến lượt mình là cha mẹ của một hậu duệ bao la, tất cả đều được thấm nhuần bằng lửa của Ý Chí toàn năng. Thuộc tính của họ là quyền năng và họ là các tác nhân cho ý chí biểu hiện của tổng hợp các Sephira, vốn là Thượng đế của Vũ Trụ. Được khoác
with cosmic power, robed in white radiance, these parent “Morning Stars” shine more brightly than a thousand suns. They are creators in that the creative ray, the fohatic “dart”, the arrow of Eros, is by them as “bowmen” directed to its mark, which in the beginning is that region of space in which the universe is to appear. Throughout its formation and growth they continue to direct the fiery ray which, “bursting” into innumerable, whirling shafts of force brings atoms into being. Primordial atoms are of one kind alone. They form the upper layer of each of the seven degrees of density of matter of which the seven worlds or planes are formed. Different atomic combinations form different substances or chemical elements in both the noumenal and phenomenal aspects of the universe. The atom-forming power is Fohat. The directors of the process are the Sephira of Will and its Emanations.
quyền năng vũ trụ, mặc áo bằng bức xạ trắng, các “Sao Mai” cha mẹ này sáng hơn một ngàn mặt trời. Họ là những đấng sáng tạo ở chỗ cung sáng tạo, “mũi lao” fohat, mũi tên của Ái Thần, do họ như những “cung thủ” hướng đến mục tiêu của nó, mà lúc khởi đầu là vùng không gian nơi vũ trụ sẽ xuất hiện. Trong suốt sự hình thành và tăng trưởng của vũ trụ ấy, họ tiếp tục điều hướng cung lửa vốn, khi “bùng vỡ” thành vô số trục mãnh lực xoáy tròn, đưa các nguyên tử vào hiện hữu. Các nguyên tử nguyên thủy chỉ có một loại duy nhất. Chúng tạo thành lớp trên của mỗi một trong bảy cấp độ đậm đặc của vật chất, từ đó bảy thế giới hay cõi được hình thành. Những tổ hợp nguyên tử khác nhau tạo thành những chất liệu khác nhau hay các nguyên tố hóa học khác nhau trong cả các phương diện bản thể và hiện tượng của vũ trụ. Quyền năng tạo nguyên tử là Fohat. Những vị điều khiển tiến trình này là Sephira của Ý Chí và các Xuất lộ của vị ấy.
In full self-consciousness, the Will-Archangels wield this mighty power. In diminishing degrees, angels of will perform their parts. Pure instinct guides the nature spirits in their functions as servants of the One Will. These are the gnomes, the elementalis of earth.
Trong ngã thức trọn vẹn, các Tổng Thiên Thần của Ý Chí vận dụng quyền năng hùng mạnh này. Ở những mức độ giảm dần, các thiên thần của ý chí thực hiện phần việc của mình. Bản năng thuần khiết hướng dẫn các tinh linh tự nhiên trong chức năng phụng sự Ý Chí Duy Nhất. Đó là các gnome, các hành khí của đất.
THE SONS OF WISDOM – NHỮNG NGƯỜI CON CỦA MINH TRIẾT
The Sephira of Wisdom and its “sons” embody and make manifest the principles of cohesion, balance, harmony, inherent in Fohat and all that it creates. They also direct the vitalising currents of solar energy by which atomic combinations, molecules, substances and forms are given co-ordination and life. They are called Sons of Wisdom, because Intelligences which blend and harmonise are ever wise. They consciously maintain the balanced equipoise of Nature’s several and diverse parts. Each enfolds vast regions within its aura and serves as both vehicle and container for outrushing and returning fohatic shafts of power.
Xê-phi-ra của Minh Triết và các “người con” của nó hiện thân và làm biểu hiện các nguyên khí cố kết, cân bằng, hài hòa, vốn nội tại trong Fohat và trong mọi điều mà nó sáng tạo. Các Ngài cũng điều khiển những dòng sinh lực của năng lượng thái dương, nhờ đó các tổ hợp nguyên tử, phân tử, chất liệu và hình tướng được phối hợp và được ban sự sống. Các Ngài được gọi là Những Người Con của Minh Triết, vì những Trí Tuệ biết hòa hợp và điều hòa thì bao giờ cũng minh triết. Các Ngài hữu thức duy trì sự quân bình thăng bằng của những phần khác nhau và đa dạng trong Thiên Nhiên. Mỗi vị bao bọc những vùng rộng lớn trong hào quang của mình và phụng sự vừa như vận cụ vừa như bình chứa cho những tia quyền năng Fohat phóng ra và trở về.
These activities of the Sons of Wisdom and other Sephiras were portrayed in the language of the Mysteries as creative intercourse, lawful or unlawful, between Gods and Goddesses and as the progeny supposedly produced. Sephirothal functions and the resulting natural phenomena were thus explained by allegory and fable which, revealing the sacred truths to the sanctified, concealed them from the profane. For such has ever been the method of the Mysteries.
Những hoạt động này của các Người Con của Minh Triết và các Xê-phi-ra khác được diễn tả trong ngôn ngữ của các Bí Pháp như sự giao hợp sáng tạo, hợp luật hoặc phi luật, giữa các Nam Thần và Nữ Thần, cùng hậu duệ được cho là do đó sinh ra. Như vậy, các chức năng Xê-phi-rốt và những hiện tượng tự nhiên phát sinh được giải thích bằng ngụ ngôn và huyền thoại; những điều ấy mặc khải các chân lý thiêng liêng cho người đã được thánh hóa, đồng thời che giấu chúng khỏi kẻ phàm tục. Vì đó luôn là phương pháp của các Bí Pháp.
Angels of Wisdom serve in regions of lesser dimensions and deeper density. Nature spirits of water as a subtle element, the great container and conductor in Nature, instinctively play their parts in the outermost regions and densest states of substance in the universe.
Các thiên thần của Minh Triết phụng sự trong những vùng có kích thước nhỏ hơn và mật độ sâu hơn. Các tinh linh tự nhiên của nước, như một nguyên tố vi tế, bình chứa và chất dẫn lớn trong Thiên Nhiên, theo bản năng thực hiện phần việc của mình trong những vùng ngoài cùng và các trạng thái chất liệu đậm đặc nhất của vũ trụ.
THE SONS OF INTELLIGENCE – NHỮNG NGƯỜI CON CỦA TRÍ TUỆ
The Thought that slept as a potency throughout creative Night awoke at Dawn to find embodiment in the most tenuous of all substance, pre-atomic Space. When, thereafter, Fohat formed the first atoms, Mind directed their formation. When atoms blended into denser substance, Mind ordered the pattern of their cohesion. When elements appeared, it was Mind that conceived them. When forms followed, Mind fashioned them according to a transcendental “dream” from which it had awakened at Dawn. Mind is the Artist-Crafts-man of the universe.
Tư Tưởng từng ngủ yên như một tiềm lực suốt Đêm sáng tạo đã thức dậy lúc Bình Minh để tìm sự hiện thân trong chất liệu vi tế nhất trong mọi chất liệu, Không Gian tiền nguyên tử. Sau đó, khi Fohat tạo thành những nguyên tử đầu tiên, Trí Tuệ điều khiển sự hình thành của chúng. Khi các nguyên tử hòa trộn thành chất liệu đậm đặc hơn, Trí Tuệ sắp đặt mô hình cố kết của chúng. Khi các nguyên tố xuất hiện, chính Trí Tuệ đã quan niệm chúng. Khi các hình tướng tiếp nối, Trí Tuệ tạo tác chúng theo một “giấc mộng” siêu việt mà từ đó nó đã thức dậy lúc Bình Minh. Trí Tuệ là Nghệ Sĩ-Thợ Thủ Công của vũ trụ.
The Sephira of Mind, through and from itself, brought forth innumerable progeny, the Angelic Hosts of Mind from which, in their turn, came forth sylphs and nature spirits, fairies and all the aerial hosts. These serve the Universal Mind. These fashion Nature’s outer garb. These conceive and, plane by plane, mentally project the Archetypes, until the densest world is reached and earthly forms appear.
Xê-phi-ra của Trí Tuệ, xuyên qua và từ chính nó, đã sinh ra vô số hậu duệ, các Đạo Quân Thiên Thần của Trí Tuệ; từ các đạo quân ấy, đến lượt mình, phát sinh các sylph và tinh linh tự nhiên, các tiên nữ và mọi đạo quân của khí. Các vị này phụng sự Vũ Trụ Trí. Các vị này tạo tác lớp áo ngoài của Thiên Nhiên. Các vị này quan niệm và, từng cõi một, phóng chiếu bằng trí tuệ các Nguyên Mẫu, cho đến khi đạt tới thế giới đậm đặc nhất và các hình tướng trần thế xuất hiện.
The Universal Mind is omnipresent. With the Egyptians, the God Tehuti, Sephira of Thought and Law, was its symbol and embodiment, preceding in time yet standing behind the creative Logos, ram-headed Amen Ra. Upon his palette he both calculates and records the cosmic cycles and the Nights and Days of Ra. Even Fohat is obedient to the Sephira of Thought, the Lord of Number and of Law,
Vũ Trụ Trí hiện diện khắp nơi. Đối với người Ai Cập, Thần Tehuti, Xê-phi-ra của Tư Tưởng và Định Luật, là biểu tượng và hiện thân của nó, có trước trong thời gian nhưng đứng đằng sau Thượng Đế sáng tạo, Amen Ra đầu cừu. Trên bảng ghi của Ngài, Ngài vừa tính toán vừa ghi lại các chu kỳ vũ trụ và những Đêm cùng Ngày của Ra. Ngay cả Fohat cũng vâng phục Xê-phi-ra của Tư Tưởng, Chúa Tể của Con Số và Định Luật,
GODS AND GODDESSES – CÁC NAM THẦN VÀ NỮ THẦN
Each Sephira is assisted by its twin. Every Archangel has its counterpart which is the animate “shadow” of itself, its duplicate. All Gods thus have Goddess consorts who are spiritual embodiments and expressions of their powers, just as the Gods themselves are in their turn embodied Universal Power in one or more of its many aspects. The last three of the seven Sephiras are the reflections of the first three, their Goddesses, though each is a mighty individual Intelligence which, in this and preceding universes, has evolved to its present high degree.
Mỗi Xê-phi-ra đều được đối phần song sinh trợ giúp. Mỗi Tổng Thiên Thần có đối phần của mình, là “bóng” sống động của chính mình, bản sao của mình. Vì thế mọi Nam Thần đều có phối ngẫu Nữ Thần, là những hiện thân tinh thần và biểu hiện của quyền năng các Ngài, cũng như chính các Nam Thần, đến lượt mình, là Quyền Năng Vũ Trụ được hiện thân trong một hay nhiều phương diện của nó. Ba Xê-phi-ra cuối trong bảy Xê-phi-ra là phản chiếu của ba Xê-phi-ra đầu, là các Nữ Thần của chúng, dù mỗi vị là một Trí Tuệ cá biệt hùng mạnh, đã tiến hoá đến cấp độ cao hiện nay trong vũ trụ này và trong những vũ trụ trước.
Each of the seven Sephiras is an Official, appointed to an office in the government of the universe. Each is a specialist in one group of creative activities, an expert in creative processes, with special powers in one of the seven “fields”.
Mỗi trong bảy Xê-phi-ra là một Vị Chức Trách, được bổ nhiệm vào một chức vụ trong sự cai quản vũ trụ. Mỗi vị là chuyên gia trong một nhóm hoạt động sáng tạo, một bậc tinh thông trong các tiến trình sáng tạo, với những quyền năng đặc biệt trong một trong bảy “lĩnh vực”.
Sephirothal Intelligences are great beyond the comprehension of man. Will and thought are virtually omnipotent in them. By means of these two agencies they establish and maintain throughout creative Day those regions within the circumscribed field at which sun and planets will later be built. Throughout the periods of densification from pure Spirit-Matter to physical sun and globes, and the subsequent progressive etherealisation back to the original pure state, the concentration by which these phenomena are produced is perfectly sustained. Perpetually creating according to numerical law by the action of unified will-thought, the Sephiras are the motionless Lords whose concentration is unbroken and unwavering throughout the whole period of creative activity.
Các Trí Tuệ Xê-phi-rốt vĩ đại vượt ngoài sự hiểu biết của con người. Ý chí và tư tưởng nơi các Ngài hầu như toàn năng. Bằng hai tác nhân này, các Ngài thiết lập và duy trì suốt Ngày sáng tạo những vùng trong phạm vi đã được giới hạn, nơi mặt trời và các hành tinh về sau sẽ được xây dựng. Suốt các thời kỳ cô đặc hóa từ Tinh Thần-Vật Chất thuần khiết đến mặt trời và các bầu hành tinh hồng trần, rồi sự tinh luyện dĩ thái tăng tiến sau đó trở về trạng thái thuần khiết nguyên thủy, sự tập trung tạo ra những hiện tượng này được duy trì hoàn hảo. Không ngừng sáng tạo theo định luật số học bằng tác động của ý chí-tư tưởng hợp nhất, các Xê-phi-ra là những Chúa Tể bất động, có sự tập trung không gián đoạn và không dao động trong suốt toàn bộ thời kỳ hoạt động sáng tạo.
CHAPTER II THE ANGELS OF BEAUTY, MIND AND FIRE – CHƯƠNG II CÁC THIÊN THẦN CỦA VẺ ĐẸP, TRÍ TUỆ VÀ LỬA
THE first three Sephiras; those of Will, Wisdom and Intelligence, are the primaries. The last three are their secondaries. The fourth represents the linking principle between these two groups. The power of the three primaries and the “responses” of the three secondaries all pass through the intermediate fourth Sephira. The interplay between such mighty Powers, the interflow between the three spiritual and three material Sephiras, sets up a stress in the interspace. Lines of force are formed in primordial substance, and it is these which provide the major and minor Archetypes, the living geometrical models upon which all forms are founded.
Ba Xê-phi-ra đầu tiên; tức các Xê-phi-ra của Ý Chí, Minh Triết và Trí Tuệ, là những nguyên cấp. Ba Xê-phi-ra cuối là các thứ cấp của chúng. Xê-phi-ra thứ tư biểu thị nguyên khí nối kết giữa hai nhóm này. Quyền năng của ba nguyên cấp và các “đáp ứng” của ba thứ cấp đều đi qua Xê-phi-ra thứ tư trung gian. Sự tương tác giữa những Quyền Năng hùng mạnh như thế, dòng chảy tương nhập giữa ba Xê-phi-ra tinh thần và ba Xê-phi-ra vật chất, tạo nên một sức căng trong khoảng giữa. Các tuyến mãnh lực được hình thành trong chất liệu nguyên sơ, và chính chúng cung cấp các Nguyên Mẫu chính và phụ, những mô hình hình học sống động mà trên đó mọi hình tướng được đặt nền.
The fourth Sephira is therefore an Official of supreme significance. Amid the creative stress it must maintain the predetermined “forms”, the parent and the offspring Archetypes. Maintenance of rhythm and of pre-chosen frequencies of oscillation in the interplay between the apparently opposing primaries and secondaries, are the preoccupation of the fourth Sephira and its subordinates. All the powers, attributes, offices and activities of the six Sephiras must be possessed and mastered by the fourth, which has to contain and direct them according to numerical Law. The mind of man perceives products of these labours of the fourth Sephira as the order and the beauty of the universe.
Vì vậy, Xê-phi-ra thứ tư là một Vị Chức Trách có thâm nghĩa tối thượng. Giữa sức căng sáng tạo, vị này phải duy trì những “hình tướng” đã được định trước, các Nguyên Mẫu cha mẹ và hậu duệ. Việc duy trì nhịp điệu và các tần số dao động đã được chọn trước trong sự tương tác giữa các nguyên cấp và thứ cấp dường như đối lập là mối bận tâm của Xê-phi-ra thứ tư và các vị dưới quyền. Tất cả quyền năng, thuộc tính, chức vụ và hoạt động của sáu Xê-phi-ra phải được Xê-phi-ra thứ tư sở hữu và làm chủ, và vị này phải chứa đựng cũng như điều khiển chúng theo Định Luật số học. Thể trí của con người nhận biết các sản phẩm từ những công việc này của Xê-phi-ra thứ tư như trật tự và vẻ đẹp của vũ trụ.
In concentric spheres from the innermost to the outermost, or from the topmost rung of the sephirothal ladder to its lowest, the fashioners of forms labour in the workshop-studio, which is the objective universe. Their tool is creative fire; their medium creatively impregnated substance. The Source of the power and the genius with which they work is creative Intelligence, active also in both tool and medium. From the centre to the arm-tips of the fiery, six-armed cross formed of the six paths followed by the forthgoing and returning creative energy, the fourth Sephira and its Emanations are omnipresent and ceaselessly at work.
Trong các khối cầu đồng tâm từ trong cùng đến ngoài cùng, hoặc từ bậc cao nhất của chiếc thang Xê-phi-rốt đến bậc thấp nhất, các vị tạo tác hình tướng lao động trong xưởng-nghiên cứu, tức vũ trụ khách quan. Công cụ của các Ngài là lửa sáng tạo; môi trường của các Ngài là chất liệu được thụ thai một cách sáng tạo. Nguồn của quyền năng và thiên tài mà các Ngài dùng để làm việc là Trí Tuệ sáng tạo, cũng hoạt động trong cả công cụ lẫn môi trường. Từ trung tâm đến tận đầu các cánh tay của thập giá sáu tay bằng lửa, được tạo nên bởi sáu con đường mà năng lượng sáng tạo đi ra và trở về noi theo, Xê-phi-ra thứ tư và các Xuất lộ của nó hiện diện khắp nơi và không ngừng làm việc.
The Contemplative Lord itself stands at the centre whence all arms radiate, all force arises. From it all force flashes and to it all force returns. Archangels and angels have their stations along the arms at increasing distances from the naked power. Nature spirits, like dancing motes within a beam, dwell at the outer ends. Yet all are one. Archangels, angels and nature spirits are but emanations and embodiments of the One Life within their own sephirothal Source. Being thus at one, all are moved solely by impulses arising in that Source and are obedient to a single sephirothal thought and will.
Chính Chúa Tể Chiêm Ngưỡng đứng ở trung tâm, nơi mọi cánh tay tỏa ra và mọi mãnh lực phát sinh. Từ vị ấy mọi mãnh lực lóe ra, và về vị ấy mọi mãnh lực trở lại. Các Tổng Thiên Thần và thiên thần có vị trí của mình dọc theo các cánh tay ở những khoảng cách ngày càng xa quyền năng trần trụi. Các tinh linh tự nhiên, như những hạt bụi nhảy múa trong một tia sáng, cư ngụ ở các đầu ngoài. Tuy vậy, tất cả đều là một. Các Tổng Thiên Thần, thiên thần và tinh linh tự nhiên chỉ là những xuất lộ và hiện thân của Sự Sống Duy Nhất trong Nguồn Xê-phi-rốt riêng của họ. Vì hợp nhất như thế, tất cả chỉ được thúc đẩy bởi những xung lực phát sinh trong Nguồn ấy và vâng phục một tư tưởng cùng một ý chí Xê-phi-rốt duy nhất.
THE SEPHIRA OF MIND-FORMS – XÊ-PHI-RA CỦA CÁC HÌNH TƯỚNG TRÍ TUỆ
The fifth Sephira and all its Hosts are the first conceivers of evolving forms. Through the mind of this mighty One, the divine Ideations pass from the archetypal to the concrete state. Time, the deceiver, confines the limitless and the timeless within thiat prison-house, the “walls” of which are built of thousands of centuries. Past, present and future imprison therein that divine Thought which for the third Sephira is durational, for the second is everlasting and for the first is eternal. With one foot, as it were, in time and one in timelessness, the fourth Sephira links the form and the formless states, makes possible the transference of divine Ideation from the non-evolving Archetype into myriads of evolving forms. At first these local, temporal forms are faulty, crude and imperfect. At last they are faultless, finished, flawless.
Xê-phi-ra thứ năm và toàn thể các Đạo Quân của vị ấy là những vị đầu tiên quan niệm các hình tướng đang tiến hoá. Qua thể trí của Đấng hùng mạnh này, các Ý niệm thiêng liêng đi từ trạng thái nguyên mẫu sang trạng thái cụ thể. Thời gian, kẻ lừa dối, giam giữ cái vô hạn và phi thời gian trong ngục thất ấy, mà “tường” của nó được xây bằng hàng nghìn thế kỷ. Quá khứ, hiện tại và tương lai giam giữ trong đó Tư Tưởng thiêng liêng vốn, đối với Xê-phi-ra thứ ba, là kéo dài trong thời hạn; đối với Xê-phi-ra thứ hai, là trường tồn; và đối với Xê-phi-ra thứ nhất, là vĩnh cửu. Như thể một chân đặt trong thời gian và một chân trong phi thời gian, Xê-phi-ra thứ tư nối kết trạng thái có hình tướng và vô hình tướng, làm cho việc chuyển dịch Ý niệm thiêng liêng từ Nguyên Mẫu không tiến hoá vào vô số hình tướng đang tiến hoá trở nên khả hữu. Ban đầu, những hình tướng cục bộ, thời gian này còn khiếm khuyết, thô sơ và bất toàn. Sau cùng, chúng trở nên không khiếm khuyết, hoàn tất, hoàn mỹ.
The processes of perfecting forms are directed by the fifth Sephira, beneath whom, rank upon rank, labour Archangels, angels and nature spirits. These beings do not create the forms. Divine Ideation from within the One Life, through the third Sephira, gives birth to parental Archetypes. These ‘‘breathe” upon the virgin waters of lower space and “speak” the archetypal “Word”. Space conceives and slowly brings forth the separate forms, the potentiality of which resides forever in divine Thought.
Các tiến trình hoàn thiện hình tướng do Xê-phi-ra thứ năm điều khiển; bên dưới vị ấy, từng cấp bậc một, các Tổng Thiên Thần, thiên thần và tinh linh tự nhiên lao động. Những sinh linh này không sáng tạo các hình tướng. Ý niệm thiêng liêng từ bên trong Sự Sống Duy Nhất, xuyên qua Xê-phi-ra thứ ba, sinh ra các Nguyên Mẫu cha mẹ. Các Nguyên Mẫu này “thở” trên những dòng nước trinh nguyên của không gian thấp và “xướng” “Linh từ” nguyên mẫu. Không gian thụ thai và chậm rãi sinh ra các hình tướng riêng biệt, mà tiềm năng của chúng cư ngụ mãi mãi trong Tư Tưởng thiêng liêng.
These first, time-prisoned forms, life-filled and developing, appearing as if spontaneously in the mind-stuff of the universe, are immediately subjected to two processes by the fifth Sephira and its Hosts. Their shape is improved and, in successive cycles, they are projected into the astral and physical regions where the sixth and seventh Sephiras preside. There they are perfected and hardened, polished and densified by the combined activities of the last three Sephiras and their Hosts. They first appear as thought-forms, imperfect, ill-formed. Life-filled and with dawning sentiency, they are clothed in denser substance. Fully hardened or manifest as densest physical, like plaster models cast in bronze, their deepest density is in course of time attained. Thus are born planets. Ultimately, they die and disintegrate; but their life and ideal forms are preserved and projected anew into their successors.
Những hình tướng đầu tiên bị giam trong thời gian này, đầy sự sống và đang phát triển, xuất hiện như thể tự phát trong chất liệu trí tuệ của vũ trụ, lập tức chịu hai tiến trình do Xê-phi-ra thứ năm và các Đạo Quân của vị ấy thực hiện. Hình dạng của chúng được cải thiện và, trong các chu kỳ liên tiếp, chúng được phóng chiếu vào các vùng cảm dục và hồng trần, nơi Xê-phi-ra thứ sáu và thứ bảy chủ trì. Tại đó chúng được hoàn thiện và làm cứng lại, được đánh bóng và cô đặc hóa bởi hoạt động phối hợp của ba Xê-phi-ra cuối và các Đạo Quân của các vị ấy. Trước hết chúng xuất hiện như các hình tư tưởng, bất toàn, dị dạng. Đầy sự sống và với cảm năng đang ló dạng, chúng được khoác bằng chất liệu đậm đặc hơn. Khi đã hoàn toàn cứng lại hoặc biểu hiện như hồng trần đậm đặc nhất, giống như các mô hình thạch cao được đúc bằng đồng, mật độ sâu nhất của chúng theo thời gian được đạt tới. Như vậy các hành tinh được sinh ra. Sau cùng, chúng chết và tan rã; nhưng sự sống và các hình tướng lý tưởng của chúng được bảo tồn và phóng chiếu lại vào những hình tướng kế thừa.
The sephirothal labours do not cease. The perfection implicit within the imperfect dominates the resistant substance. Matter becomes more malleable, thought more formative, life more sentient, as forms improve. Eventually thought becomes omnipotent. The sevenfold sephirothal “Word” is then “made flesh” and finally in full perfection “dwells among us”, or is made materially manifest.
Các công việc Xê-phi-rốt không ngừng nghỉ. Sự hoàn thiện tiềm ẩn trong cái bất toàn chế ngự chất liệu kháng cự. Vật chất trở nên dễ uốn nắn hơn, tư tưởng có sức tạo hình hơn, sự sống có cảm năng hơn, khi các hình tướng được cải thiện. Cuối cùng, tư tưởng trở nên toàn năng. Bấy giờ “Linh từ” Xê-phi-rốt thất phân được “làm thành xác thịt” và sau cùng, trong sự hoàn thiện trọn vẹn, “ở giữa chúng ta”, hay được biểu hiện bằng vật chất.
The fifth Sephira is thus responsible for the mental reproduction in form of abstract creative Ideation, which has passed.Through he archetypal stage under the third Sephira. This all-inclusive, single thought-form, which divides into myriads of separate forms, must be mentally maintained throughout Manvantara. No break in the concentration of the will-thought of the fifth Sephira must mar the projection and evolution to perfection of the universe of concrete forms.
Như vậy, Xê-phi-ra thứ năm chịu trách nhiệm về sự tái tạo bằng trí tuệ trong hình tướng của Ý niệm sáng tạo trừu tượng, vốn đã đi qua giai đoạn nguyên mẫu dưới quyền Xê-phi-ra thứ ba. Hình tư tưởng đơn nhất, bao gồm tất cả này, phân chia thành vô số hình tướng riêng biệt, phải được duy trì bằng trí tuệ suốt Giai kỳ sinh hóa. Không một đứt đoạn nào trong sự tập trung của ý chí-tư tưởng của Xê-phi-ra thứ năm được phép làm hỏng sự phóng chiếu và tiến hoá đến hoàn thiện của vũ trụ các hình tướng cụ thể.
Divine thought is embodied in this mighty One. He is Lord of Mind, the embodiment of the directive Intelligence of the “formal” universe. In one sense he is the universe of thought, the One Mind, and of him all other minds are part, being contained within him and being expressions of himself. The power of this Being is that of Universal Will expressed as thought, or Fohat-Atma-Manas.
Tư tưởng thiêng liêng được hiện thân trong Đấng hùng mạnh này. Ngài là Chúa Tể của Trí Tuệ, hiện thân của Trí Tuệ chỉ đạo trong vũ trụ “hình tướng”. Theo một nghĩa, Ngài là vũ trụ của tư tưởng, là Trí Tuệ Duy Nhất, và mọi trí khác đều là một phần của Ngài, được chứa đựng trong Ngài và là những biểu hiện của chính Ngài. Quyền năng của Sinh Mệnh này là Ý Chí Vũ Trụ được biểu hiện như tư tưởng, hay Fohat-Atma-Manas.