← THE LIGHT OF THE SOUL

37. These powers are obstacles to the highest spiritual realisation, but serve as magical powers in the objective worlds.

37. These powers are obstacles to the highest spiritual realisation, but serve as magical powers in the objective worlds.

37. các quyền năng này là chướng ngại đối với nhận thức tinh thần cao tột, nhưng được dùng như quyền năng huyền thuật trong những thế giới khách quan.

One fact continuously emerges in this text book of spiritual development, and that is, that the psychic powers, higher and lower, are hindrances to the highest spiritual state and must be left behind by the man who can function freed from the three worlds altogether. This is a hard lesson for the aspirant to grasp. He Is apt to think that a tendency towards clairvoyance or clairaudience is indicative of progress and a sign that his practice of meditation is beginning to take effect. It might prove just the opposite and inevitably [326] will, should the aspirant be attracted by, or attached to, any of these forms of psychic faculty. An old Hindu writer says in connection with these powers:

Trong giáo trình về phát triển tinh thần này, có một sự kiện được nêu lên liên tục: Các quyền năng thần thông, dù cao hay thấp, đều là chướng ngại đối với trạng thái tinh thần cao siêu nhất. Chúng phải bị bỏ lại sau lưng, khi hành giả có khả năng hoạt động tự do, thoát khỏi mọi ràng buộc của tam giới. Đây là bài học khó thuộc đối với người chí nguyện. Y thường nghĩ rằng có khuynh hướng phát triển nhãn thông hay nhĩ thông là dấu hiệu của sự tiến bộ, và cho thấy rằng việc hành thiền của y bắt đầu có hiệu quả. Sự thực có thể là ngược lại, nếu y bị hấp dẫn bởi, hoặc bám chặt vào một dạng nào đó của các quan năng thần thông này. một tác giả của Ấn giáo thời xưa có nói về các quyền năng này như sau:

"A mind whose mind stuff is emergent thinks highly of these perfections, just as a man born in misery considers even a small bit of wealth a pile of wealth. But a yogin whose mind-stuff is concentrated must avoid these perfections, even when brought near to him. One who longs for the final goal of life, the absolute assuagement of the threefold anguish, how could he have any affection for those perfections which go counter to the attainment of that goal."

“Người mà trong trí nổi lên ý nghĩ đánh giá cao các quyền năng này, thì cũng giống như người sinh ra trong nghèo khó xem chút ít tài sản là một gia tài kếch sù. Thế nhưng, nhà yogi có trí tuệ tập trung phải tránh các quyền năng này, cho dù chúng được đưa đến cho y. Người chỉ muốn đạt mục tiêu tối hậu của cuộc sống, hoàn toàn giải thoát khỏi ba nỗi khổ đau, thì làm sao có thể mến thích các quyền năng đó, vì chúng gây trở ngại cho việc đạt đến mục tiêu tối hậu.”

Dvivedi says:

Dvivedi nói:

"The occult powers described hitherto and to be described hereafter...serve as obstacles because they become the cause of distracting the mind by the various feelings they excite. But they are not quite useless inasmuch as they are great powers for good in moments when samadhi is suspended." It is of value to the aspirant to know what these powers are, how to control them and not be controlled by them, and how to use them in the service of his brother and of the Hierarchy, but they must be regarded as instruments and be relegated to the form side. It must be realised that they are the qualities or capacities of the sheaths or the form aspect, otherwise they will assume undue importance, engross undue attention and prove stumbling blocks to the progress of soul unfoldment. [327]

“Các quyền năng thần thông được mô tả từ trước đến nay, và sẽ được mô tả từ đây về sau... chỉ là các chướng ngại. Lý do là vì chúng làm cho cái trí bị xao lãng bởi những xúc cảm khác nhau mà chúng gợi lên. Thế nhưng, chúng không phải hoàn toàn vô dụng, vì chúng là những quyền lực lớn lao để hành thiện, trong những thời gian tạm ngừng samadhi.” Người chí nguyện cần nên biết thực chất của các quyền năng này. Y cần biết cách kiểm soát chúng chứ đừng để bị chúng chế ngự. Y cần biết cách sử dụng chúng để phụng sự huynh đệ của mình, và phụng sự Đại đoàn Chưởng giáo. Nhưng y phải xem chúng chỉ là những khí cụ và xếp chúng vào phương diện hình thể. Cần phải nhận thức rằng chúng là các đặc tính và năng lực của những lớp áo, hay khía cạnh hình thể. Nếu không, y sẽ coi trọng chúng và quan tâm đến chúng một cách không thích đáng. Vì thế, chúng sẽ trở thành chướng ngại, ngăn trở bước tiến trên đường khai mở linh hồn. [327]

38. By liberation from the causes of bondage through their weakening, and by an understanding of the mode of transference (withdrawal or entrance), the mind stuff (or chitta) can enter another body.

38. Nhờ thoát khỏi các nguyên nhân gây giam hãm bằng cách làm cho chúng suy yếu, và nhờ hiểu được phương thức chuyển di (nhập hoặc xuất), trí tuệ chất (hay chitta) có thể nhập vào một cơ thể khác.

This entire science of Raja Yoga is based upon an understanding of the nature, purpose and function of the mind. The basic law of this science can be summed up in the words "energy follows thought" and the sequence of activity might be stated as follows:

Trọn cả khoa Raja Yoga vốn dựa vào sự thấu hiểu bản chất, mục đích và chức năng của thể trí. Có thể tóm lược định luật cơ bản của khoa này bằng câu “năng lượng đi theo tư tưởng,” theo trình tự tác động sau đây:

The thinker on his own plane formulates a thought embodying some purpose or some desire. The mind vibrates in response to this idea and simultaneously produces a corresponding reaction in the kamic, desire or emotional body. The energy body, the etheric sheath vibrates synchronously, and thereby the brain responds and energises the nerve-system throughout the dense physical body, so that the impulse of the thinker works out into physical plane activity.

Người suy tưởng trên cảnh giới của mình phát khởi một ý tưởng với mục đích hay ý muốn nào đó. Thể trí rung động, ứng đáp với ý tưởng này và đồng thời tạo ra một phản ứng tương tự trong thể kama, tức là thể dục vọng hay tình cảm. Thể năng lượng, hay thể dĩ thái cũng rung động đồng bộ. Từ đó, não bộ đáp ứng và phát động hệ thần kinh trong toàn cơ thể. Nhờ thế mà ý muốn của người suy tưởng được thể hiện thành hoạt động ở cõi trần.

There is a close connection between the mind and the nervous system so that we have an interesting triplicity,

Có sự liên kết chặt chẽ giữa thể trí và hệ thần kinh, tạo thành một bộ ba sinh động,

1. The mind,

1. Thể trí,

2. The brain,

2. Não bộ,

3. Nervous system,

3. Hệ thần kinh,

and this triplicity must be carefully borne in mind by the student of Raja Yoga in the initial stage of his work. Later a second triplicity will engross his attention, [328]

và người môn sinh Raja Yoga cần ghi nhớ bộ ba này trong giai đoạn đầu thực hành. Về sau, y sẽ chú ý đến một bộ ba khác, [328]

1. The thinker,

1. Người suy tưởng,

2. The mind,

2. Thể trí,

3. The brain,

3. Não bộ,

but this will be during the demonstration side of his work.

nhưng bộ ba này cũng chỉ thuộc về phương diện biểu lộ trong công tác của y.

It is through an understanding of the method of energising the nerves that the thinker can galvanise its instrument into activity during incarnation, and similarly produce trance, samadhi, or death. The same basic knowledge enables the adept to raise a dead body, as Christ did in Palestine, or occupy the vehicle of a disciple for purposes of service, as Christ occupied the body of the disciple Jesus. This knowledge and its use, we are told, is subject to the great law of karma, of cause and effect, and even the Christ Himself may not set the law aside in any case unless there is adequate "weakening" of the cause producing the bondage.

Chính nhờ hiểu phương pháp dùng năng lượng tác động vào các dây thần kinh, mà người suy tưởng có thể đưa khí cụ của mình đi vào hoạt động trong thời gian nhập thế. Tương tự, người ấy cũng có thể tạo ra sự xuất thần, samadhi, hay sự chết. Chính kiến thức cơ bản này giúp một bậc toàn thông có thể làm cho người chết sống lại, như Đức Christ đã làm ở Palestine. Hoặc nhập vào cơ thể của một đệ tử với mục đích phụng sự, như Đức Christ đã nhập thể người đệ tử Jesus. Chúng ta được biết rằng, việc thấu hiểu và sử dụng kỹ thuật này chịu sự chi phối của đại luật nghiệp quả, hay luật nhân quả. Và ngay cả Đức Christ cũng không được phép trái với luật này trong bất cứ trường hợp nào, trừ phi cái nguyên nhân tạo nên sự giam hãm đã trở nên “suy yếu” đúng mức.

39. By subjugation of the upward life (the udana) there is liberation from water, the thorny path, and mire, and the power of ascension is gained.

39. Bằng cách chế ngự sự sống hướng thượng (udana), hành giả được tự do thoát khỏi ảnh hưởng của nước, đường đi chông gai, và bùn lầy, và có quyền năng khinh thân.

Pervading the whole body is that sum total of nervous force, called by the Hindu, prana. It is controlled by the mind via the brain; it is the vitality which brings into activity the sense-organs and produces the outward-going life of the man; its medium of distribution is the nervous system through certain great distributing centres called plexi, or lotuses. The nerve ganglia known [329] to orthodox medicine, are the reflections or shadows of the more vital plexi. The student will not go far astray if he regards the sum total of prana in the human body as constituting the vital or etheric body. This etheric body is formed entirely of energy currents, and is the substratum of living substance which underlies the dense physical form.

Thấm nhuần toàn cơ thể là sức mạnh thần kinh, mà người Ấn giáo gọi là prana. Sức mạnh này được cái trí kiểm soát qua não bộ. Đó chính là sinh lực khiến cho các giác quan đi vào hoạt động, và tạo nên cuộc sống hướng ngoại của con người. Nó được phân phối nhờ trung gian của hệ thần kinh, qua một số trung tâm phân phối chính gọi là tùng thần kinh, hay hoa sen. Các hạch thần kinh [329] đã biết trong y khoa chính thống, là phản ánh hay hình bóng của các trung tâm quan trọng hơn vừa kể. Người môn sinh sẽ không hiểu sai khi cho rằng toàn bộ prana trong cơ thể con người hợp thành thể sinh lực hay thể dĩ thái. Thể dĩ thái này được hình thành bởi toàn là các dòng năng lượng. Nó là cơ sở của chất liệu sống ẩn trong thể xác.

One term applied to this energy is the "vital airs." Prana is fivefold in its manifestation, thus corresponding to the five states of mind, the fifth principle and to the five modifications of the thinking principle. Prana in the solar system works out as the five great states of energy which we call planes, the medium of consciousness; these are:

Có một thuật ngữ dùng cho năng lượng này là “sinh khí.” Prana có năm cấp biểu hiện, tương ứng với năm trạng thái của trí tuệ, nguyên khí thứ năm, và ứng với năm biến thái của nguyên khí tư duy. Prana trong thái dương hệ biểu hiện thành năm trạng thái chính đại của năng lượng được gọi là các cảnh giới, hay môi trường của tâm thức. Đó là:

1. The atmic or spiritual plane,

1. Cảnh giới atma hay tinh thần,

2. The buddhic or intuitional plane,

2. Cảnh giới bồ-đề hay trực giác,

3. The mental plane,

3. Cảnh giới trí tuệ,

4. The emotional, astral or kamic plane,

4. Cảnh giới tình cảm, cảm dục hay kama,

5. The physical plane.

5. Cảnh giới hồng trần.

The five differentiations of prana in the human body are:

Năm biến phân của prana trong cơ thể con người là:

1. Prana, extending from the nose to the heart and having special relation to the mouth and speech, the heart and lungs.

1. Prana, kéo dài từ mũi đến tim; đặc biệt liên quan đến miệng và lời nói, tim và phổi.

2. Samana extends from the heart to the solar plexus; it concerns food and the nourishing of the body through the medium of food and drink and has a special relation to the stomach.

2. Samana, kéo dài từ tim đến nhật tùng; liên quan đến thức ăn và việc nuôi dưỡng cơ thể bằng thức ăn và thức uống, cũng như đặc biệt liên quan đến dạ dày.

3. Apana controls from the solar plexus to the soles of the feet; it concerns the organs of elimination, of rejection and of birth, thus having special [330] relation to the organs of generation and of elimination.

3. Apana, chi phối từ nhật tùng đến lòng bàn chân; [330] đặc biệt liên quan đến các cơ quan bài tiết và sinh sản hay sinh dục.

4. Vpana is found between the nose and the top of the head; it has a special relation to the brain, the nose and the eyes, and when properly controlled produces the coordination of the vital air~ and their correct handling.

4. Upana ở khoảng giữa mũi và đỉnh đầu, đặc biệt liên quan đến não, mũi và mắt. Khi được chế ngự thích hợp, nó phối hợp các luồng sinh khí và vận dụng chúng đúng cách.

5. Vyana is the term applied to the sum total of pranic energy as it is distributed evenly throughout the entire body. Its instruments are the thousands of nadis or nerves found in the body, and it has a peculiar definite connection with the blood channels, the veins and arteries.

5. Vyana là thuật ngữ áp dụng cho toàn bộ năng lượng prana khi nó được phân bố đều trong toàn cơ thể. Vận cụ của nó là hàng ngàn từ lực đạo hay dây thần kinh trong cơ thể. Nó đặc biệt liên quan đến dòng máu, động mạch và tĩnh mạch.

In this sutra we are told that by mastery of the fourth of these vital airs, certain definite results can be achieved and it will be interesting to note what they are. This mastery only becomes possible as the Raja Yoga system is understood and mastered, for it involves the capacity to function in the head and to control the entire nature from the point within the brain. When a man becomes polarised there, then the nervous force or energy found in the top of the head becomes active and through its correct control and through mastery of it, the right direction of the pranas of the body becomes possible and man reaches liberation; through it, noncontact in the three worlds is brought about. The language used is necessarily symbolic and its meaning must not be lost through a materializing of its real significance. Levitation, the power to walk on water, and ability to withstand the gravitational pull of the earth is its lowest and least important significance. [331]

Trong câu kinh này có nói rằng khi chế ngự được loại sinh khí thứ tư kể trên, hành giả có thể đạt được một số kết quả nhất định. Thế nên cũng thú vị khi biết đó là những kết quả gì. Hành giả chỉ có thể đạt được sự chế ngự này khi đã hiểu rõ và thành thạo hệ thống Raja Yoga. Vì cần có hoạt động bên trong đầu, và điều khiển toàn cơ thể từ điểm trụ bên trong não bộ. Khi hành giả đã phân cực ở đó, thì mãnh lực hay năng lượng thần kinh ở đỉnh đầu sẽ trở nên linh hoạt. Bấy giờ, khi kiểm soát đúng và chế ngự được nó, hành giả có thể điều khiển các dòng prana trong cơ thể đúng cách và được tự do. Với sự tự do này, y không còn tiếp xúc trong tam giới. Tất nhiên, ngôn ngữ được dùng ở đây có tính biểu tượng. Vì thế, thực nghĩa sẽ mất đi nếu bị cụ thể hóa. Thuật khinh thân, quyền năng đi trên mặt nước, và khả năng vô hiệu hóa sức hút trọng lực của trái đất, đều là ý nghĩa thấp nhất và kém quan trọng nhất của câu này. [331]

1. Freedom from water is a symbolic way of stating that the astral nature is subjugated and the great waters of illusion can no longer hold the emancipated soul. The energies of the solar plexus no longer dominate.

1. Tự do đối với nước là lối nói biểu tượng cho thấy rằng bản chất cảm dục được chế ngự. Biển ảo cảm mênh mông không còn cầm giữ được linh hồn đã giải thoát. Năng lượng của luân xa nhật tùng không còn thống trị.

2. Liberation from the thorny path refers to the path of physical life, and is nowhere more beautifully referred to than by the Christ in His parable of the Sowers, where some of the seed fell among thorns. The explanation is given that the thorns are the cares and troubles of worldly existence which succeed in choking the spiritual life and in veiling the true man for so long. The thorny path must lead to the northern path and that in turn to the Path of Initiation. In one of the old books in the Archives of the Lodge, are found these words:

2. Thoát khỏi con đường chông gai chỉ về con đường của đời sống hồng trần. Con đường này được Đức Christ diễn tả một cách thi vị trong câu chuyện ngụ ngôn của Ngài về Người gieo hạt, khi một số hạt giống rơi lên bụi gai. Người ta giải thích rằng chông gai là những nỗi âu lo, phiền phức trong đời sống ở cõi trần. Chúng dễ dàng bóp nghẹt sự sống tinh thần và che lấp chân ngã trong thời gian hết sức lâu dài. Con đường chông gai phải đưa đến con đường hướng về phía bắc. Tức là hướng về Con đường Điểm đạo. Trong Văn khố của Huyền môn có một quyển cổ thư ghi những điều sau đây:

"Let the seeker after truth escape from drowning and climb the river's bank. Let him turn towards the northern star and on firm ground stand, his face directed towards the light. Then let the star lead."

“Người tìm chân lý hãy vượt thoát khỏi nạn chết chìm và leo lên bờ sông. Y hãy hướng về ngôi sao ở phương bắc và đứng trên nền đất vững vàng, quay mặt về ánh sáng. Hãy theo hướng dẫn của ngôi sao.”

3. Liberation from the mire refers to that mixed nature of kama-manas, desire and lower mind, which causes the unique problem of humanity. It is a symbolic way also of referring to the great illusion which snares the pilgrim for so long. When the aspirant can walk in the light, having found the light (the Shekinah) within himself in the Holy of Holies, then the illusion is dissipated. It is of value to the student to trace the analogy between the three parts of Solomon's Temple, and that of the "Temple of the Holy Spirit," the human frame. [332]

3. Thoát khỏi bùn lầy chỉ về tình chất pha trộn của ka- ma-manas, dục vọng và hạ trí. Chúng gây nên vấn đề khó khăn duy nhất của nhân loại. Đây cũng là lối nói biểu tượng chỉ về bức màn đại ảo tưởng đã khiến người khách hành hương bị sa vào cạm bẫy của chúng quá lâu. Khi người chí nguyện có thể tiến bước trong ánh sáng, đã tìm thấy ánh sáng (Shekinah) trong Thánh điện nội tâm của mình, thì ảo tưởng ấy bị xóa tan. Người môn sinh nên tìm hiểu sự tương đồng giữa ba phần của Ngôi đền Solomon với “Đền thờ Chúa Thánh Thần,” tức là cơ thể con người. [332]

The outer court corresponds to those energies and their corresponding organs found below the diaphragm. The Holy Place is the centres and organs in the upper part of the body from the throat to the diaphragm. The Holy of Holies is the head where is the throne of God, the Mercy Seat, and the overshadowing glory.

Sân ngoài tương ứng với các năng lượng và những cơ quan tương ứng của chúng ở bên dưới cơ hoành. Thánh đường là các luân xa và cơ quan ở phần trên của cơ thể từ cổ họng đến cơ hoành. Thánh điện là phần đầu, nơi có ngôi của Thượng Đế, Bảo tọa của Đấng Từ bi, và nguồn vinh quang bao trùm tất cả.

When these three aspects of freedom have been gained and the man is no longer dominated by the water, the mire or physical plane life, then "the power of ascension" is gained and he can ascend into heaven at will. The Christ or spiritual man can stand upon the mountain of ascension, having passed through the four crises or points of control from the birth to the crucifixion. Thus the "udana" or upward life becomes the controlling factor and the downward life no longer dominates.

Khi đã đạt được ba phương diện này của sự tự do, không còn bị chìm đắm trong nước, bùn lầy, hay đời sống ở cõi trần, hành giả có “quyền năng thăng thiên.” Bấy giờ, y có thể về cõi thiêng liêng tùy ý muốn. Đấng Christ hay là con người tinh thần có thể đứng trên đỉnh núi thăng thiên, vì Ngài đã trải qua bốn cuộc khủng hoảng hay bốn trình độ chế ngự, từ khi giáng sinh cho đến lúc chịu khổ hình thập tự. Thế nên, “udana” hay là cuộc sống hướng thượng trở thành yếu tố chế ngự, và đời sống đồi trụy không còn chi phối.

40. Through subjugation of the samana, the spark becomes the flame.

40. Nhờ chế ngự samana, tia lửa trở thành ngọn lửa.

This sutra is one of the most beautiful in the book and the translation by Charles Johnston should here be noted: "By mastery of the binding life comes radiance." Another interpretation might be "through control of samana the AUM (the Word of Glory) manifests." Out of the heart are the issues of life, and the vital energy called samana controls the heart and the life breath through the lungs. When the body is purified and its energies rightly directed, and when rhythm is achieved, then a radiant life is seen. [333]

Đây là một trong những câu đẹp nhất trong sách, và được Charles Johnston chuyển dịch: “Khi chế ngự được những gì ràng buộc, sự sống phát quang.” Cũng có thể dịch là “khi kiểm soát được samana thì AUM (hay Linh từ Vinh quang) biểu hiện.” Sự sống phát ra từ tim, và hơi thở của sự sống đi ngang qua phổi. Khi cơ thể được tinh luyện, các năng lượng của nó được vận chuyển đúng, và có tiết điệu, thì sự sống phóng quang. [333]

This will work out literally and not simply metaphorically, for when the life currents are directed by the soul upon the throne, through the nerves and the blood channels, then only the purest atoms will be built into the body and the result will be a shining forth of light through the entire man. Not only will the head be radiating light so that the clairvoyant will see a halo or circle of brilliant colors, but all the body will be irradiated by the vibrant centres of electrical force distributed throughout the body.

Điều này sẽ thực sự xảy ra, chứ không chỉ là lối nói ẩn dụ. Bởi vì, khi các dòng sinh lực được linh hồn ẩn ngự điều khiển, qua các dây thần kinh và mạch máu, thì chỉ có những nguyên tử thanh khiết nhất là được đưa vào cơ thể. Kết quả sẽ là ánh sáng chói rạng toàn thân. Không những phần đầu tỏa sáng khiến cho nhà nhãn thông thấy vòng hào quang gồm những màu sắc chói ngời, mà toàn cơ thể cũng được chiếu sáng bởi các trung tâm điện lực sinh động phân bố khắp cơ thể.

41. By the means of one-pointed meditation upon the relationship between the akasha and sound, an organ for spiritual hearing will be developed.

41. Bằng cách tham thiền chuyên nhất về mối liên hệ giữa akasha và âm thanh, cơ quan của thính giác tinh thần sẽ được phát triển.

To understand this sutra, it is essential that certain relationships are comprehended—relationships between matter, the senses and the one who experiences.

Để hiểu câu kinh này, nhất thiết phải thấu đáo được một số mối liên hệ − liên hệ giữa vật chất, các giác quan và người thể nghiệm.

The Christian believes that "all things were made by the word of God." The oriental believer holds that sound was the originating factor in the creative process and both teach that this word or sound is descriptive of the second Person of the divine Trinity.

Người Thiên Chúa giáo tin rằng “mọi sự vật đều được tạo nên bởi linh từ của Thượng Đế.” Người tín hữu phương Đông thì cho rằng âm thanh là yếu tố phát khởi tiến trình sáng tạo. Và cả hai bên đều nói rằng linh từ hay âm thanh này được dùng để mô tả Ngôi thứ hai của Tam vị Nhất thể thiêng liêng.

This sound or word threw into peculiar activity the matter of the solar system, and was preceded by the breath of the Father which started the original motion or vibration.

Âm thanh hay linh từ này thôi thúc vật chất của thái dượng hệ đi vào hoạt động đặc thù. Trước đó là hơi thở của Đức Chúa Cha đã làm phát khởi sự chuyển động hay rung động đầu tiên.

First, therefore, the breath (pneuma or spirit) impinging upon primordial substance and setting up a pulsation, a vibration, a rhythm. Then the [334] word or sound, causing the pulsating vibrating substance to take form or shape, and thus bringing about the incarnation of the second Person of the cosmic Trinity, the Son of God, the Macrocosm.

Thế nên, trước hết hơi thở (của sự sống hay tinh thần) tác động lên vật chất nguyên thủy và tạo một nhịp đập, rung động, hay tiết điệu. [334] Kế đó là linh từ hay âm thanh, khiến cho vật chất khoác lấy hình thể hay hình dạng. Nhờ thế mà có sự lâm phàm của Ngôi hai trong Ba Ngôi vũ trụ, Người Con của Thượng Đế là Đại vũ trụ.

This process eventuated in the seven planes of manifestation, the spheres wherein seven states of consciousness are possible. All of these are characterized by certain qualities and differentiated from each other by specific vibrating capacities and called by certain terms.

Rốt cuộc tiến trình này tạo ra bảy cảnh giới biểu hiện, tức là các bầu thế giới mà trong đó bảy trạng thái tâm thức có thể phát triển. Tất cả các trạng thái tâm thức này đều có một số phẩm tính đặc trưng và phân biệt với nhau bởi các năng lực rung động riêng, và được gọi bằng những thuật ngữ nhất định.

The following tabulation may prove useful if the student will bear in mind that the first triplicity of planes are those of divine manifestation and the lower triplicity constitute the reflection of that divine process and are the three planes of our normal experience. These two triplicities of God and man are connected by the middle plane of at-one-ment or union whereon God and man are made one. This is the Christ plane in Christian phraseology, the buddhic plane in the eastern terminology.

Các bảng biểu dưới đây có thể hữu ích nếu người môn sinh lưu ý rằng ba cảnh giới đầu là các cảnh giới biểu hiện thiêng liêng. Trong khi đó, ba cảnh giới thấp là phản ánh của tiến trình thiêng liêng nói trên, và là ba cảnh giới mà chúng ta thường trải nghiệm. Hai bộ ba nói trên của Thượng Đế và con người được nối kết bởi cảnh giới trung gian, nhất quán hay hợp nhất, nơi mà Thượng Đế và con người là một. Đây là cõi của Đức Christ theo cách gọi của Thiên Chúa giáo, và là cõi bồ-đề nói theo thuật ngữ Đông phương.

THE DIVINE PLANES.

Plane I. Logoic or divine

The Sea of Fire

God the Father

Will.

Plane II. Monadic

The Akasha

God the Son

Love-Wisdom.

Plane lII. Spiritual or atmic

The Æther

God the Holy Ghost.

Active Intelligence.

[335]

THE PLANE OF UNION OR ATONEMENT.

Plane IV. Christ or buddhic

Air

Union

Harmony

At-one-ment.

PLANES OF HUMAN ENDEAVOR.

Plane V. Mental

Fire

Reflection of the Sea of Fire

Human will.

Plane VI. Emotional or astral

Astral Light

Reflection of the Akasha

Human love and desire.

Plane VII. Physical

Ether

Reflection of the Æther

Human activity.

It will be apparent, however, that one gives the microcosmic standpoint, the other gives the macrocosmic, and as the aspirant is one who seeks to function as "free in the macrocosm" and to transcend his microcosmic limitations, it is the first category with which we will concern ourselves.

Tuy nhiên, rõ ràng một cách thì trình bày theo quan điểm tiểu vũ trụ, trong khi cách kia theo quan điểm đại vũ trụ. Nhưng vì người chí nguyện là kẻ tìm cách hoạt động “tự do trong đại vũ trụ” và vượt lên khỏi các giới hạn tiểu vũ trụ của mình, nên chúng ta quan tâm nhiều hơn đến loạt trình bày thứ nhất.

In considering this sutra and its clarification by an understanding of the nature of the planes, their symbols and substance, it becomes apparent that the man who understands the nature of the word and of the second aspect, arrives at the realization of hearing.

Khi xem xét câu kinh này, chúng ta hiểu rõ nhờ biết được tính chất của các cảnh giới, biểu tượng và chất liệu của chúng. Đồng thời ta cũng thấy rõ rằng người nào hiểu được tính chất của linh từ và của trạng thái thứ hai, thì nhận thức được thế nào là thính giác tinh thần.

This might also be grasped mystically by the aspirant when he realizes that when the voices of desire (astral voices or vibratory response to the second aspect of the reflection, the three lower planes) are superseded by the Voice of the Silence or of the Christ within, then the word or sound is known and the second aspect of divinity is contacted.

Về mặt thần bí, người chí nguyện cũng nhận thức rằng khi tiếng nói của dục vọng (tiếng nói cảm dục hay ứng đáp rung động với phương diện thứ hai của cái phản ảnh trong ba cõi thấp) được thay thế bởi Tiếng nói của Im lặng hay của Đấng Christ nội tâm, thì bấy giờ hành giả biết được linh từ hay âm thanh, và giao tiếp với trạng thái thứ hai của thiên tính.

1. The Akasha....The word....The sound....The second aspect in manifestation.

1. Tiên thiên khí...Linh từ...... Âm thanh.........Trạng thái thứ hai đang biểu hiện.

2. The Astral Light..The voices of desire..The reflection of the second aspect. [337]

2. Ánh sáng........... Cảm dục... Tiếng nói của dục vọng...........Phản ảnh của trạng thái thứ hai.

There are many sounds to be heard on all the planes but on the physical is the greatest diversity. The aspirant has to develop the power to distinguish between:

Có nhiều loại âm thanh sẽ được nghe thấy trên tất cả các cảnh giới. Thế nhưng, ở cõi trần âm thanh hết sức đa dạng. Hành giả phải phát triển khả năng phân biệt giữa: [337]

1. The voices of earth........physical,

1. Tiếng nói của đất.... hồng trần,

2. The voices of desire......astral,

2. Tiếng nói của dục vọng.... cảm dục,

3. The speech or formulated thoughts of the mind.....mental,

3. Lời nói hay tư tưởng của cái trí được diễn đạt... trí tuệ,

4. The still small voice of the Christ within......buddhic,

4. Tiếng nói còn yếu ớt của Đấng Christ nội tâm...... bồ-đề,

5. The sounds of the Gods......The creative words.........atmic,

5. Âm thanh của Thượng Đế...Linh từ sáng tạo..... atma,

6. The word or sound.... The AUM... monadic,

6. Linh từ hay âm thanh....AUM.... chân thần,

7. The breath............logoic,

7. Hơi thở.... Thượng Đế,

and in these distinctions are symbolically conveyed the problem of correct hearing on the various planes and in the various states of consciousness. Only the true mystic and aspirant will comprehend the nature of these distinctions.

và những sự phân biệt nói trên tiêu biểu cho vấn đề cần phải nghe đúng trên những cảnh giới khác nhau và trong những trạng thái tâm thức khác nhau. Chỉ có nhà thần bí và người chí nguyện thực sự mới hiểu được tính chất của các phân biệt nói trên.

Just as all the substances of our manifested solar system are differentiations of the akasha, the first differentiation of the primordial stuff, so all these distinctions of sound are differentiations of the one sound; all are divine in time and space. But all have to be heard correctly and all lead eventually to and form in their totality the AUM, the Word of Glory, the Macrocosmic Word.

Tất cả các loại vật chất trong thái dương hệ biểu hiện của chúng ta đều là những biến phân của tiên thiên khí, − vốn là biến phân đầu tiên của chất liệu nguyên thủy. Tương tự, tất cả các phân biệt nói trên của âm thanh đều là biến phân của âm thanh duy nhất. Tất cả đều thiêng liêng trong thời gian và không gian. Nhưng hành giả cần phải nghe tất cả những biến phân này một cách đúng đắn. Vì rốt cuộc tất cả đều qui về và hợp thành AUM, Linh từ Vinh quang, Linh từ của Đại vũ trụ.

With the student of Raja Yoga, however, there are three main voices or sounds with which he is temporarily concerned:

Tuy nhiên, với người môn sinh Raja Yoga, có ba tiếng nói hay âm thanh chính mà tạm thời y cần quan tâm:

1. The speech of the Earth, so as to rightly use it,

1. Lời nói của Địa cầu, để sử dụng nó đúng cách,

2. The Voice of the Silence, so as to hear it. This is the voice of his own inner God, the Christ, [338]

2. Tiếng nói của Im lặng, để nghe được nó. Đây là tiếng nói Đấng Christ, Đức Thượng Đế ở nội tâm y, [338]

3. The AUM, the Word of the Father, expressed through the Son, which will, when heard, put him in touch with the Word of God, incarnate in all nature.

3. AUM, Linh từ của Đức Chúa Cha, được phát biểu qua Đức Chúa Con. Khi hành giả nghe được, Linh từ này sẽ giúp y tiếp xúc với Linh từ của Thượng Đế, ẩn tàng trong toàn thể thiên nhiên.

When speech is rightly used and the sounds of earth can likewise be stilled, then the Voice of the Silence can be heard. It might be noted here that clairaudience is awareness of the voice of the great illusion and gives a man power to hear on the astral plane. This in its right place and when controlled from above through knowledge, opens the ear to certain aspects of divine expression in the three worlds. It is not the divine hearing referred to in the sutra. In Charles Johnston's comments on this sutra, he covers the ground beautifully as follows: "The transfer of a word by telepathy is the simplest and earliest form of the 'divine hearing' of the spiritual man, as that power grows, and as, through perfectly concentrated meditation, the spiritual man comes into more complete mastery of it, he grows able to hear and clearly distinguish the speech of the great Companions, who counsel and comfort him on his way. They may speak to him either in wordless thoughts, or in perfectly definite words and sentences."

Khi hành giả có thể dùng đúng lời nói và đồng thời làm yên lặng các âm thanh của trần gian, bấy giờ y có thể nghe được Tiếng nói của Im lặng. Ở đây cần lưu ý rằng nhĩ thông là ý thức được tiếng nói của đại ảo tưởng và khả năng nghe trên cảnh giới cảm dục. Khả năng này có vai trò đúng đắn của nó. Khi nó được chế ngự từ cấp cao qua sự hiểu biết, thì thính giác có thể đón nhận một số phương diện biểu lộ thiêng liêng trong tam giới. Dù vậy, nó vẫn chưa phải là thính giác thiêng liêng nêu trong câu kinh này. Charles Johnston nhận xét về câu kinh này với những lời bàn rất hay: “Việc chuyển đạt lời nói qua thần giao cách cảm là dạng đơn giản nhất và sơ khởi nhất của ‘thính giác thiêng liêng’ thuộc con người tinh thần. Khi quyền năng này tăng trưởng, và qua tham thiền hoàn toàn tập trung, con người tinh thần ngày càng nắm vững quyền năng này, có thể nghe và phân biệt rõ tiếng nói của những Người bạn đồng hành cao cả. Họ hướng dẫn và khích lệ y trên đường tiến bộ. Họ có thể nói với y bằng tư tưởng không lời, hoặc bằng ngôn từ hoàn toàn xác định.”

42. By one-pointed meditation upon the relationship existing between the body and the akasha, ascension out of matter (the three worlds) and power to travel in space is gained.

42. Khi tham thiền chuyên nhất về mối liên hệ giữa cơ thể và tiên thiên khí, hành giả vượt ra khỏi vật chất (tam giới) và có quyền năng du hành trong không gian.

The akasha is everywhere. In it we live and move and have our being. All is but one substance, [339] and in the human body are found the correspondences to the various differentiations.

Chất tiên thiên khí có ở khắp nơi. Chúng ta sống, di chuyển và hiện tồn trong môi trường chất này. Tất cả đều chỉ là một chất liệu duy nhất [339]. Thế nên, trong cơ thể con người có những tương ứng với các biến phân khác nhau.

When a man knows himself, and is aware of the relationship existing between the energies working through the seven centres and the seven states of matter and consciousness, then he is liberated and free and can contact at will and without time limitations all those states. There is a relation between one of the seven states of matter and one or other of the centres; through each one of the centres is the door to a certain plane of the planetary spheres. When the disciple has worked out into his life in correct realization the various means of yoga dealt with in the previous books, certain keys and knowledge, certain words and formulas, can be entrusted to him which will, through concentrated meditation give him the freedom of the heavens and the right to pass through certain gateways into the Kingdom of God.

Khi hành giả tự biết mình, và biết được mối quan hệ hiện hữu giữa các năng lượng tác động qua bảy luân xa và bảy trạng thái vật chất và tâm thức, thì bấy giờ y được giải thoát, tự do và có thể tùy ý tiếp xúc với tất cả các trạng thái vừa kể mà không hề bị giới hạn thời gian. mỗi trạng thái trong bảy trạng thái của vật chất đều có liên hệ với một trong các luân xa. Qua mỗi luân xa là một cánh cửa đi vào một cảnh giới nhất định của các bầu hành tinh. Khi người đệ tử đã nhận thức đúng và thực hành trong cuộc sống các phương tiện khác nhau của yoga đã bàn trong các quyển trước, thì y có thể được tín nhiệm truyền thụ cho một số bí quyết và kiến thức, một số linh từ và công thức. Nhờ đó, qua hành thiền tập trung, y được tự do bước vào các cảnh giới thiêng liêng, và có quyền đi qua những lối vào Vương quốc của Thượng Đế.

43. When that which veils the light is done away with, then comes the state of being called discarnate (or disembodied), freed from the modification of the thinking principle. This is the state of illumination.

43. Khi màn che ánh sáng bị loại bỏ, hành giả hiện tồn trong trạng thái thoát trần (hay giải thể), không còn bị chi phối bởi biến thái của nguyên khí tư duy. Đây là trạng thái giác ngộ.

Again, we have a free, rather than a literal translation, and in this the true sense of the archaic terms used is preserved instead of academic correctness. The reason for this will be apparent if certain well-known translations are given. They are correct translations but demonstrate [340] the ambiguity which is inevitable when a literal translation of the Sanskrit terms is used.

Ở đây, chúng ta có thêm một câu dịch rất thoáng, hơn là theo nghĩa đen. Cách dịch này lại bảo tồn được thực nghĩa của các thuật ngữ cổ xưa, thay vì chỉ đúng theo lối từ chương. [340] Độc giả có thể thấy rõ lý do cần dịch theo cách này, khi so với một số bản dịch phổ biến khác. Đó là những bản dịch đúng, nhưng không thể tránh được ý nghĩa mơ hồ khi dịch các thuật ngữ Bắc Phạn theo nghĩa đen.

"An outwardly unadjusted fluctuation is the great Discarnate; as a result of this the dwindling of the covering to the brightness." Woods.

“Dao động không điều chỉnh hướng ngoại là sự Thoát trần vĩ đại; kết quả là lớp màn che tiêu mòn dần, nhường chỗ cho sự chói rạng.” Woods.

"The external modification (of the internal organ)... thoughtless is (called) the great incorporeal (modification); therefrom (results) the destruction of the obscuration of the illumination (of intellect)." Tatya.

“Biến thái bên ngoài (của cơ quan nội tại)... phi tưởng (được gọi) là (biến thái) vô hình vĩ đại; từ đó (kết quả) là sự hủy diệt bức màn che ánh sáng chói rạng (của trí tuệ).” Tatya.

Vivekananda expresses the sutra in the following terms:

Vivekananda dịch câu này như sau:

"By making sanyama on the real modifications of the mind, which are outside, called great disembodiedness, comes disappearance of the covering of light."

“Sự thực hành sanyama về các biến thái thực sự của cái trí, vốn ở bên ngoài, và được gọi là sự giải thể vĩ đại, làm tan biến bức màn che ánh sáng.”

The great difficulties under which all translators labour is apparent from this and hence the frank paraphrasing of this passage.

Đến đây, chúng ta thấy rõ rất nhiều nỗi khó khăn mà các dịch giả gặp phải. Vì thế mà cần phải chuyển ngữ câu kinh này trực tiếp theo nguyên nghĩa.

There are two thoughts seeking expression in this sutra. One refers to the veil or covering which prevents the illumination of the mind, and the other to the state of realization which is achieved when a man has freed himself from this veil. That which covers up the light (the "bushel" referred to by the Christ in the New Testament) is the changing, fluctuating sheaths or bodies. When they are transmuted and transcended the light of God (the second divine aspect) can flood the lower man and he knows himself as he is. Illumination pours in and he knows himself as something different to the forms through which he is functioning. He is no longer centred, no [341] longer polarized in his forms, but is actually in a condition of disembodiedness. His consciousness is that of the man out of incarnation, of the true man on his own plane, the real discarnate thinker. St. Paul, as has been pointed out by several thinkers, had a touch of this state of being. He referred to it in these words:

Có hai ý tưởng bao hàm trong câu này. một ý chỉ về bức màn che hay lớp phủ ngăn trở sự chói rạng của trí tuệ. Ý kia nói về trạng thái nhận thức của hành giả khi y đã thoát ra khỏi lớp màn che này. Những gì che phủ ánh sáng (mà Đức Christ gọi là “cái đấu” trong Kinh Tân ước) là những lớp áo hay các thể thường thay đổi và dao động. Khi hành giả siêu hóa và vượt lên khỏi chúng, thì ánh sáng của Thượng Đế (trạng thái thiêng liêng thứ hai) có thể tràn ngập phàm nhân, và y biết chân tính của mình. Ánh sáng giác ngộ tuôn tràn vào, và y biết mình khác với các thể mà xuyên qua đó y đang hoạt động. Y không còn tập trung vào bản thân. Y không còn bám trụ vào các thể của mình, [341] mà thực tế ở trong tình trạng giải thể. Nay y có tâm thức của người xuất thế, là chân nhân ở trên cảnh giới của mình, là người suy tưởng thoát trần thực sự. Nhiều nhà tư tưởng cho rằng Thánh Paul đã đạt đến trạng thái giác ngộ này. Ông đề cập đến nó như sau:

"I knew a man in Christ above fourteen years ago (whether in the body I cannot tell, or whether out of the body I cannot tell; God knoweth); such an one caught up to the third heaven. And I knew such a man... how that he was caught up into paradise, and heard unspeakable words, which it is not lawful for a man to utter." (I Cor. XII)

“Tôi biết có người đã an trú trong Đấng Christ hơn mười bốn năm qua (không thể nói ở trong thân xác hay ở ngoài thân xác, vì chỉ có Thiên Chúa biết). Người ấy đã lên đến cõi trời thứ ba. Và tôi biết một người như thế... vì sao người ấy đã lên đến cõi thiên đàng, và nghe được những lời không tiếng mà một người thường không thể thốt ra.” (II Cor. XII.)

This "third heaven" can be understood in two ways: first, as standing for the mental plane on which is the true home of the spiritual man, the thinker, or a more specific state to be understood as that found on the third or highest of the three abstract levels of the mental plane.

Có hai cách để hiểu “cõi trời thứ ba” nói trên. Trước hết, nó tiêu biểu cho cõi trí, là gia hương của con người tinh thần, hay người suy tưởng. Hoặc cụ thể hơn, đó là cấp thứ ba hay cao nhất trong ba cấp trừu tượng của cõi trí.

44. One-pointed meditation upon the five forms which every element takes, produces mastery over every element. These five forms are the gross nature, the elemental form, the quality, the pervasiveness and the basic purpose.

44. Tham thiền nhất tâm về năm dạng của mọi nguyên tố, hành giả sẽ có khả năng chế ngự mọi nguyên tố. Năm dạng vừa kể là tính chất thô, dạng tinh hoa, phẩm tính, sự đều khắp và mục đích cơ bản.

It should be remembered that this will have a dual reference, to the macrocosm and to the microcosm. It can refer to the five planes of monadic evolution, or to the five forms which every element [342] takes on each and every plane, bearing in mind that·this is the case as regards the mind apprehension and the modifications of the thinking principle, for mind is the fifth principle, and man is the five pointed star and therefore can (as man) achieve only a fivefold illumination. There are, however, two higher forms and two other modes of perception, i. e., the intuitional and spiritual realization. With these, however, the present sutra has not to do. The head centre is dual in itself and is composed of the centre between the eyebrows and the highest chakra, the thousand petalled lotus.

Cần lưu ý rằng câu này có hai nghĩa, vừa cho đại vũ trụ và cho tiểu vũ trụ. Nó có thể chỉ về năm cảnh giới tiến hóa của chân thần, hoặc về năm dạng của mọi nguyên tố [342] trên mỗi và mọi cảnh giới. Cần lưu ý rằng điều này nói theo sự hiểu biết của trí tuệ và các biến thái của nguyên khí tư duy. Bởi vì trí tuệ là nguyên khí thứ năm, và con người là ngôi sao năm cánh. Vì thế, với tư cách con người chúng ta chỉ đạt được năm cấp bậc giác ngộ. Tuy nhiên, còn có hai thể cao siêu hơn, và hai phương cách nhận thức khác. Đó là nhận thức trực giác và nhận thức tinh thần. Thế nhưng, câu này không bàn đến hai cấp vừa kể. Luân xa đầu có hai phần gồm luân xa giữa hai chân mày và luân xa ở đỉnh đầu, hay là hoa sen ngàn cánh.

The study and understanding of this sutra would result in the complete equipping of the white occultist for all forms of magical work. Students must remember that this does not refer to the elements as we have them, but has relation to the elemental substance out of which all gross forms are made. According to the Ageless Wisdom there are five grades of substance having certain qualities. These five grades of substance form the five planes of monadic evolution; they compose the five vibratory spheres in which man and superhuman man are found. These five planes have each an outstanding quality, of which the five physical senses are the correspondence.

Khi nghiên cứu và thấu hiểu câu kinh này, nhà huyền bí học chánh đạo sẽ được trang bị đầy đủ tất cả các dạng công tác huyền thuật. Các môn sinh phải ghi nhớ rằng câu này không nói về các nguyên tố như chúng ta biết. Nó liên quan đến tinh hoa chất mà từ đó tất cả các thể thô kệch hơn được tạo thành. Theo khoa minh triết Ngàn đời, có năm cấp vật chất với những đặc tính nhất định. Đây là năm cấp vật chất hình thành năm cảnh giới tiến hóa của chân thần. Chúng gồm có năm lĩnh vực rung động, mà trong đó con người và các siêu nhân đang hoạt động. mỗi một trong năm cảnh giới này đều có đặc tính nổi bật, mà tương ứng là năm giác quan trong thể xác.

Plane

Nature

Sense

Centre

Earth

Physical

Smell

Base of spine

Astral

Emotional

Taste

Solar Plexus

Manasic

Mental

Sight

Head

Buddhic

Intuitional

Touch

Heart

Atmic

Spiritual

Sound

Throat

Cảnh giới

Tính chất

Giác quan

Luân xa

Hồng trần

Vật thể

Khứu giác

Chót xương sống

Cảm dục

Tình cảm

Vị giác

Nhật tùng

Trí tuệ

Trí tuệ

Thị giác

Đầu

Bồ-đề

Trực giác

Xúc giác

Tim

Atma

Tinh thần

Âm thanh

Cổ họng

[343]

As pointed out in A Treatise on Cosmic Fire, these senses and their correspondences are dependent upon the point in evolution of the man, just as H. P. Blavatsky stated in connection with the enumeration of the principles.

Như đã nêu trong bộ Luận về Lửa Vũ trụ, [343] các giác quan này và những phần tương ứng của chúng đều tùy theo trình độ tiến hóa của mỗi người.

The above sutra therefore can be applied to the mastery of each plane as well as to the mastery of elements composing that plane. It has reference to the mastery and utilization of all the subtler sheaths through which a man contacts a plane or peculiar rate of vibration.

Điều này giống như những gì H. P. Blavatsky đã nói khi kể ra các nguyên khí. Vì thế, câu kinh nói trên có thể được áp dụng cho việc chế ngự mỗi cảnh giới cũng như chế ngự các thành tố tạo nên cảnh giới đó. Nó liên quan đến việc chế ngự và sử dụng tất cả các thể thanh mà qua đó hành giả tiếp xúc với một cảnh giới hoặc một nhịp độ rung động đặc biệt.

Ganganatha Jha in his able commentary says: "The specific qualities, sound and the rest belonging to the earth, together with the properties of shape and the rest, are named 'gross.' This is the first form of the elements. The second form is their respective generic characteristic: Shape for the earth, viscidity for the water, heat for fire, velocity for air and omnipresence for the akasa. The specific forms for these generic ones are sound and the rest." He gives a translation of this forty-fourth sutra which is analogous to all the others with the exception of Johnston's, and which runs as follows:

Trong phần luận giải thông thạo của ông, Ganganatha Jha viết: “Những đặc tính, âm thanh riêng và những cái khác thuộc về đất, cùng với các tính chất về hình dáng và những tính chất tương tự, đều được gọi là ‘thô.’ Đây là dạng thứ nhất của các nguyên tố. Dạng thứ hai là đặc trưng chung của từng loại: Hình dáng của đất, tính nhớt của nước, nhiệt của lửa, sự linh động của không khí, và sự hiện diện khắp nơi của tiên thiên khí. Những dạng riêng cho các loại nói chung kể trên là âm thanh và những cái khác.” Trừ bản dịch của Johnston, ông dịch câu kinh bốn mươi bốn này cũng giống các dịch giả khác, như sau:

"Mastery over the elements, from the sanyama with the reference to grossness, character, subtlety, concomitance and usefulness."

“Hành giả chế ngự được các nguyên tố, qua thực hành sanyama về sự thô kệch, đặc tính, sự tinh tế, sự xảy ra đồng thời và sự hữu ích.”

1. Crossness, gross nature.

1. Sự thô kệch, tính thô thiển.

Sound and the other senses as they show forth on the physical plane. We must bear in mind that this plane is the gross summation of all the others. Spirit is matter at its lowest point.

Âm thanh và các ý nghĩa khác khi chúng biểu lộ ở cõi trần. Chúng ta cần lưu ý rằng cảnh giới này là toàn bộ phần thô của tất cả những cái khác. Tinh thần là vật chất ở mức biểu lộ thấp nhất của nó.

2. Character, elemental form. [344]

2. Đặc tính, dạng tinh hoa. [344]

The nature of the specific characteristics of the elements.

Tính chất đặc trưng riêng của các nguyên tố.

3. Subtlety, or quality.

3. Sự tinh tế, hay phẩm tính.

The basic atomic substance of any one element. That which produces its phenomenal effect. It is that which lies back of all sense perception, and of all the five senses. Another word for this "subtle" form is tanmatra.

Chất liệu nguyên tử cơ bản của bất cứ nguyên tố nào. Cái tạo ra hiệu quả của nó về mặt hiện tượng. Đó là những gì ẩn trong toàn bộ nhận thức giác quan, và của cả năm giác quan. một từ khác dùng cho dạng “tinh tế” này là tanmatra.

4. Concomitance, or pervasiveness.

4. Sự xảy ra đồng thời hoặc hiện diện khắp nơi.

This is the all-pervasive nature of every element; its inherence. It is the sum total of the three gunas, tamas, rajas and sattva. Every element according to its place in the manifested scheme is characterised by inertia, activity or rhythm. It is inherent in substance. Only the rate of vibration differs. There is the correspondence to every element on every plane.

Đây là tính cách phổ biến của mọi nguyên tố; là tính cố hữu của nó. Nó bao gồm cả ba guna tức là tamas, rajas và sattva. Tùy theo vị trí của nó trong cuộc biểu hiện, mỗi nguyên tố đều có đặc trưng là trì trệ, năng hoạt hay tiết điệu. Nó vốn có trong vật chất. Chỉ khác về tần số rung động. Có sự tương ứng với mọi nguyên tố trên mọi cảnh giới.

5. Usefulness, or basic purpose.

5. Sự hữu ích, hay mục đích cơ bản.

This is the right use of every element in the great work of evolution. It is literally the power hidden in every atom of substance which drives it on (through all the kingdoms of Nature) to self expression, and enables it to perform its work in time and space and to proceed towards eventual fruition.

Đây là công dụng đúng của mọi nguyên tố trong cuộc tiến hóa vĩ đại. Thực sự đó là năng lượng ẩn trong mọi nguyên tử vật chất. Nó thôi thúc nguyên tử ấy tiếp tục phát triển (qua tất cả các trường tiến hóa trong Thiên nhiên) đến mức tự phát biểu. Nhờ đó nó làm tròn nhiệm vụ trong thời gian và không gian, và tiến đến thành quả cuối cùng.

When, through concentrated meditation upon the five distinctive forms of all the elements, the knower has arrived at a knowledge of all their qualities, characteristics and nature, he can then cooperate intelligently in the plan and become a white magician. For the majority it is as yet only possible for us to arrive at three of the forms, and this is touched upon in Light on the Path in [345] the words: "Inquire of the earth, the air and the water, of the secrets they hold for you. The development of your inner sense will enable you to do this."

Qua tham thiền tập trung về năm dạng khác nhau của tất cả các nguyên tố, hành giả biết được tất cả các đặc tính, đặc trưng và tính chất của chúng. Bấy giờ, y có thể hợp tác một cách thông minh với thiên cơ, và trở thành nhà chánh thuật. Đối với đa số mọi người, chúng ta chỉ có thể bàn đến ba trong số các dạng nói trên. Như trong quyển Ánh sáng trên Đường Đạo [345] có ghi: “Hãy hỏi đất, không khí và nước, các bí mật mà chúng gìn giữ cho con. Nhờ phát triển giác quan bên trong, con có thể hỏi.”

45. Through this mastery, minuteness and the other siddhis (or powers) are attained, likewise bodily perfection and freedom from all hindrances.

45. Qua cố gắng chế ngự này, hành giả đạt được sự cực vi và các siddhi (hay quyền năng) khác, cũng như sự hoàn hảo của thân xác và thoát khỏi mọi chướng ngại.

Towards the close of each of these three books on Raja Yoga, there comes a sutra summing up results and giving a vision of that which is possible to the faithful intelligent aspirant. They are as follows:

Gần đến cuối của mỗi quyển trong ba quyển này về Raja Yoga, có một câu kinh tổng kết các kết quả và đưa ra hình ảnh mà người chí nguyện thông minh và thuần thành khả dĩ thành tựu. Như sau đây:

"Thus his realization extends from the infinitely small to the infinitely great, and from annu (the atom or speck) to atma (or spirit) his knowledge is perfected." (Book I. Sutra 40.)

“Bằng cách đó, nhận thức của hành giả mở rộng từ cái vô cùng nhỏ đến cái vô cùng lớn, và y hiểu biết đầy đủ từ annu (hạt nguyên tử hay vi trần) đến atma (hay tinh thần).” (Quyển I. Câu 40.)

"As a result of these means there follows the complete subjugation of the sense organs." (Book II. Sutra 55.)

“Kết quả của sự thực hành các phương tiện nói trên là các giác quan được hoàn toàn chế ngự.” (Quyển II. Câu 55.)

"Through this mastery minuteness and the other siddhis (or powers) are attained, likewise bodily perfection and freedom from all hindrances." (Book III. Sutra 45.)

“Qua cố gắng chế ngự này, hành giả đạt được sự cực vi và các siddhi (hay quyền năng) khác, cũng như sự hoàn hảo của thân xác và thoát khỏi mọi chướng ngại.” (Quyển III. Câu 45.)

It will be seen from this how, first there is the attaining of the vision and the inner realization of God; then the complete subjugation of the lower nature and the control of the senses and their organs so that the realization becomes fact in physical plane experience, and there comes the manifestation of that control by the display of certain powers. [346]

Từ trích dẫn này chúng ta thấy rằng trước hết là cố gắng đạt được tầm nhìn tinh thần và nhận thức nội tâm về Thượng Đế. Kế đến là hoàn toàn chế ngự phàm tính và kiểm soát các giác quan cùng các cơ phận của chúng, nhờ thế mà nhận thức nói trên trở thành hiện thực trong kinh nghiệm ở cõi trần. Từ đó, sự chế ngự vừa kể biểu hiện và hiển thị một số quyền năng. [346]

The entire fourth book deals with the great consummation growing out of the three above results, producing:

Trọn cả quyển bốn bàn về thành tựu lớn lao phát triển từ ba kết quả nói trên, mang lại:

1. Cessation of sorrow and toil. (Sutra 30.)

1. Sự chấm dứt những nỗi khổ đau và khó nhọc. (Câu 30.)

2. Attainment of infinite knowledge. (Sutra 31.)

2. Đạt được sự hiểu biết vô hạn. (Câu 31.)

3. Eternity entered. (Sutra 33.)

3. Đi vào vĩnh cửu. (Câu 33.)

4. Return of consciousness to its centre. (Sutra 34.)

4. Tâm thức trở về trung tâm của nó. (Câu 34.)

In connection with the sutra which is our present consideration, the eight siddhis or psychic powers are frequently called the eight perfections and with the two others make up the ten of perfection as it concerns the lower man. These powers are:

Nói về câu kinh hiện chúng ta đang xét, tám siddhi hay quyền năng thần thông thường được gọi là tám sự hoàn thiện. Cùng với hai cái khác nữa, chúng hợp thành mười sự hoàn thiện của phàm nhân. Các quyền năng này là:

1. Minuteness... anima. This is the power which the yogi possesses to become as small as an atom, to identify himself with the smallest part of the universe, knowing the self in that atom to be one with himself. This is due to the fact that the anima mundi, or soul of the world, is universally spread throughout all aspects of divine life.

1. Sự thu nhỏ... anima. Đây là quyền năng giúp nhà yogi có thể trở thành nhỏ như một hạt nguyên tử. Y có thể tự đồng nhất với cái cực nhỏ trong vũ trụ, biết cái ngã trong vi tử ấy là một với mình. Lý do là vì anima mundi, hay linh hồn thế giới, vốn thấm nhuần khắp mọi phương diện của sự sống thiêng liêng.

2. Magnitude... mahima. This is the power to expand one's consciousness and thus enter into the greater whole as well as into the lesser part.

2. Sự phóng đại... mahima. Đây là quyền năng giúp hành giả mở rộng tâm thức để nhập vào cái toàn thể vĩ đại, cũng như nhập vào những vật thể nhỏ hơn.

3. Gravity... garima. This concerns weight and mass and deals with the law of gravity which is an aspect of the Law of Attraction.

3. Trọng lực... garima. Quyền năng này liên quan đến trọng lượng và khối lượng. Nó vận dụng luật trọng trường, vốn là một khía cạnh của Luật Hấp dẫn.

4. Lightness... Laghima. This is the power underlying the phenomenon of levitation. It is the capacity of the adept to offset the attractive [347] force of the planet and to leave the earth. It is the opposite to the third siddhi.

4. Sự thanh nhẹ... laghima. Đây là quyền năng tạo nên hiện tượng khinh thân. Bậc toàn thông có năng lực hóa giải hấp lực của hành tinh và rời địa cầu. Quyền năng này ngược lại với siddhi thứ ba. [347]

5. The attainment of the objective... prapti. This is the capacity of the yogin to achieve his goal, to extend his realization to any locality, to reach anything or any place he desires. It will be apparent that this will have an application on all the planes in the three worlds, as indeed all the siddhis have.

5. Đạt được mục tiêu... prapti. Nhà yogi có năng lực đạt được mục tiêu của mình. Y mở rộng nhận thức đến bất cứ địa điểm, bất cứ vật gì hoặc nơi chốn nào tùy ý muốn. Rõ ràng quyền năng này được ứng dụng trên mọi cấp độ của tam giới như tất cả các siddhi khác.

6. Irresistible will... prakamya. This is sometimes described as sovereignty, and it is that driving irresistible force found in every adept which bring about the fruition of his plans, the attainment of his desires, and the completion of his impulses. It is this quality which is the distinguishing characteristic of the black and the white magician alike. It necessarily demonstrates with greatest force on that plane in the three worlds which reflects the will aspect of divinity, the mental plane. All the elements obey this force of will as used by the yogin.

6. Ý chí bất khả kháng... prakamya. Quyền năng này đôi khi được mô tả là quyền làm chủ. Đó là sức thôi thúc không thể đối kháng của các bậc toàn thông. Nhờ đó, các vị có thể hoàn thành kế hoạch, đạt được điều muốn có, và thành tựu các cố gắng của mình. Đây là đặc trưng của nhà hắc thuật cũng như nhà chánh thuật. Tất nhiên nó là lực cường mãnh nhất trên cõi trí, là cõi trong tam giới phản ánh trạng thái ý chí của thiên tính. Tất cả các nguyên tố đều tuân theo mãnh lực ý chí này khi nó được nhà yogi vận dụng.

7. Creative power... isatva. This concerns the power of the adept to deal with the elements in their five forms and produce with them objective realities, and thus to create on the physical plane.

7. Quyền năng sáng tạo... isatva. Đây là quyền năng của bậc toàn thông có thể xử lý các nguyên tố trong năm thể của mình. Các vị dùng chúng để tạo nên những điều thực tế ở ngoại giới, và bằng cách đó sáng tạo ở cõi trần.

8. The power to command... vasitva. The magician as he controls the elemental forces of nature, utilizes this power and it is the basis of mantra yoga, the yoga of sound or of the creative word. Creative power, the seventh siddhi, concerns the elements and their vitalizing, so that they become "effective causes;" this siddhi, the [348] eighth, concerns the power of the Word to drive the building forces of nature into coherent activity so that forms are produced.

8. Quyền năng ra lệnh... vasitva. Nhà huyền thuật sử dụng quyền năng này để điều khiển các mãnh lực tinh linh trong thiên nhiên. Đây là cơ bản của khoa mantra yoga, tức là yoga về âm thanh hay các linh từ sáng tạo. Quyền năng thứ bảy là quyền năng sáng tạo, có liên quan đến các nguyên tố và việc làm sinh động chúng. Do đó, chúng trở thành “những nguyên nhân mang lại hiệu quả.” Siddhi thứ tám này [348] liên quan đến quyền năng của Linh từ. Nó thôi thúc các mãnh lực kiến tạo trong thiên nhiên hoạt động kết hợp để tạo nên hình hài, sắc tướng.

When these eight powers are functioning, then the ninth, bodily perfection, results, for the adept can construct a vehicle adapted to his need, can do with it as he will and through its medium attain his objective. Finally, the tenth power will be seen in full manifestation and no form provides any hindrances or obstacles to the fruition of the yogin's will. He is liberated from the form and its qualities.

Khi tám quyền năng nói trên đi vào hoạt động, thì chúng mang lại quyền năng thứ chín, sự hoàn hảo của cơ thể. Bởi vì bậc toàn thông có thể kiến tạo một thể thích nghi với nhu cầu của mình, dùng nó làm việc như ý muốn, và dùng nó làm phương tiện để đạt mục tiêu. Cuối cùng, quyền năng thứ mười là sự biểu hiện trọn vẹn. Không hình thể nào gây chướng ngại hay trở ngại cho sự hoàn thành ý muốn của nhà yogi. Y được giải thoát khỏi hình thể và các đặc tính của nó.

46. Symmetry of form, beauty of colour, strength and the compactness of the diamond, constitute bodily perfection.

46. Sự hoàn thiện của cơ thể là hình thể cân đối, màu sắc tốt đẹp, sức mạnh và sự rắn chắc của kim cương.

Though many commentators, give to this sutra a purely physical interpretation, a much wider concept is involved. In it we have pictured for us in carefully chosen terms (of which the English is but a paraphrase, lacking the expression fully to convey the idea) the condition of the third or form aspect through which the second or Christ aspect is manifesting. This third aspect is itself triple, yet forms one coherent whole and hence the use of four terms to express this lower personal self. The occultist never concerns himself with the dense physical vehicle. He considers the etheric body to be the true form and the dense as simply the material used to fill in the form. The etheric body is the true substantial form, the framework, the scaffolding, to which the dense [349] body necessarily conforms. This form must be symmetrical, or built truly according to number and design, and its basic distinction will be the geometrical exactness of its many units. The emotional or astral body is, as is well known, distinguished by its colourfulness, and according to the stage of unfoldment so will the colours be beautiful, clear and translucent, or ugly, dark and cloudy. The astral body of the adept is a thing of radiant loveliness, lacking all the colours of low vibration. Then the highest aspect of the personal self, the mental body will vibrate to the highest aspect of the spirit, which is will, power or strength—any of these words suffice. Strength, beauty and form, the reflections of power, love and activity, these are the characteristics of the body of manifestation of any son of God who has entered into his kingdom. Then the fourth expression conveys the idea of the unity, the coherence of the three, so that they function as a whole and not independently and separately. Man is thus the Three in One and the One in Three, as is his Father in Heaven, being "made in the image of God."

Dù nhiều nhà luận giải cho câu kinh này ý nghĩa hoàn toàn thuộc về thể chất, nó vẫn bao hàm một khái niệm rộng lớn hơn. Câu kinh này có những thuật ngữ được lựa chọn thận trọng (mà tiếng Anh không thể chuyển dịch được trọn vẹn ý nghĩa). Nó minh họa tình trạng của phương diện thứ ba hay phương diện hình thể mà qua đó phương diện thứ hai hay là trạng thái Christ biểu hiện. Chính phương diện thứ ba này cũng tam phân. Nhà huyền bí học không bao giờ bận tâm đến thể xác. Y xem thể dĩ thái mới chính là thể thực. Còn thể xác chỉ là vật chất được dùng để lấp đầy hình thể này. Thể dĩ thái là hình thể đích thực, là khuôn khổ, hay giàn giáo [349] mà thể xác cần được cấu tạo theo đó. Hình thể này phải cân đối, tức là kiến tạo thực sự đúng theo số học và thiết kế. Đặc điểm cơ bản của nó là độ chính xác về mặt hình học của nhiều thành phần trong đó. Như chúng ta biết, thể tình cảm hay thể cảm dục có đặc trưng là rất nhiều màu sắc. Tùy theo giai đoạn khai mở, những màu sắc đó có thể xinh xắn, trong suốt hay trong mờ, hoặc xấu xa, đen tối và vẩn đục. Thể cảm dục của một bậc hoàn thiện thì chói sáng và xinh đẹp, không còn bất cứ màu sắc nào có độ rung động thấp. Bấy giờ trạng thái cao nhất của phàm tính, là thể trí, sẽ rung động hòa nhịp với trạng thái cao nhất của tinh thần, là ý chí, quyền năng hoặc mãnh lực − một trong các từ này cũng đủ mô tả. Sức mạnh, mỹ lệ và hình thể là các phản ánh của quyền lực, tình thương và hoạt động. Đây là các đặc trưng trong thể biểu hiện của bất cứ người con nào của Thượng Đế đã bước vào vương quốc của Ngài. Bấy giờ sự hoàn thiện thứ tư hợp nhất và phối kết ba đặc trưng nói trên. Nhờ đó, chúng cùng tác động như một toàn thể, chứ không còn độc lập và riêng rẽ. Thế là hành giả trở thành Ba trong một và một trong Ba, như Đấng Cha lành của mình ở trên Trời. Y “được kiến tạo theo hình ảnh của Thượng Đế.”

Two words are used by translators to convey this idea of compact cohering force, i. e., the diamond, and the thunderbolt. The human being who has taken the highest of all our planetary initiations is termed "the diamond-souled"—the man who can perfectly transmit the pure white light and yet reflect equally all the colours of the rainbow, the seven colours of the chromatic scale. His personality is here called by the same term [350] for it has become a transmitter of the inner light or radiance.

Các dịch giả dùng hai từ kim cương và tia chớp để chuyển đạt ý tưởng về lực phối kết và vững chắc nói trên. Người đã đạt trình độ điểm đạo cao nhất trên hành tinh chúng ta được gọi là “linh hồn kim cương.” Người ấy có thể truyền chuyển ánh sáng trắng hoàn toàn tinh khiết, đồng thời vẫn phản ánh tất cả các màu của cầu vồng, tức là bảy màu của quang phổ. Ở đây, [350] phàm nhân của người này cũng được gọi là kim cương, vì nó đã trở thành phương tiện dẫn truyền ánh sáng hay là sự phóng quang của nội tâm.

The term "thunderbolt" is equally expressive, conveying as it does the idea of electrical force. All that we can know of God or of man is the quality of his energy as it demonstrates in force and activity, hence in the Secret Doctrine, the highest aspect of divinity is called electric fire.

Thuật ngữ “tia chớp” cũng rất có ý nghĩa, chính nó truyền đạt ý tưởng về điện lực. Tất cả những gì mà chúng ta biết về Thượng Đế hoặc con người là phẩm chất năng lượng của người ấy, bày tỏ qua sức mạnh và hoạt động. Vì thế, Giáo lý Bí nhiệm gọi trạng thái cao nhất của thiên tính là lửa điện.

47. Mastery over the senses is brought about through concentrated meditation upon their nature, peculiar attributes, egoism, pervasiveness and useful purpose.

47. Hành giả làm chủ các giác quan nhờ tham thiền tập trung vào tính chất, thuộc tính đặc thù, ngã thức, tính đều khắp, và mục đích hữu ích của chúng.

Sutra 44, dealt very largely with objectivity and the nature of the five forms which every element assumes. This sutra concerns itself with that which is subjective, and with the subtle apparatus through which forms are contacted and likewise turned to specific purposes. We are dealing here with the indriyas, or senses, which are usually divided by Hindu philosophers into ten instead of five. They divide the five senses into two groups, those which we call the organs of sense, such as the eye, the nose, etc., and then the faculty which makes it possible for the eye to see and the nose to smell.

Câu 44 đã bàn rất nhiều về tính biểu lộ khách quan của năm dạng mà mọi nguyên tố đều có. Câu kinh này thì bàn về tính cách chủ quan, và cái phương tiện tinh tế được dùng để tiếp xúc với các dạng đó cũng như dùng chúng cho những mục đích cụ thể. Ở đây, chúng ta bàn về các indriya, hay các giác quan, được các triết gia Ấn giáo chia thành mười, thay vì năm giác quan. Họ chia năm giác quan thành hai nhóm. một nhóm gọi là các cơ phận của giác quan như mắt, mũi, v.v. Và nhóm kia là các tính năng khiến cho mắt có thể thấy và mũi có thể ngữi.

In considering the senses, the student studies them, therefore, in five connections and this likewise in relation to their counterparts on the astral and mental planes. The five divisions are as follows:

Vì thế, xét về các giác quan, người môn sinh nghiên cứu chúng trong năm phương diện, và cũng xét đến các đối ứng của chúng trên cõi cảm dục và cõi trí. Đó là năm phương diện sau đây:

1. Their nature. He studies each sense in its twofold condition, that of the external instrument [351] and the internal capacity of that instrument to respond to certain vibratory impacts. He knows why, for instance, the organ of sense called the eye vibrates to those impacts which produce the condition of sight, but fails to respond to those impacts which cause scent or smell. He discriminates therefore between the senses and learns thereby to follow a vibratory impulse back to its source along one or other of the five possible lines of approach, and this he does intelligently and not simply blindly.

1. Tính chất của chúng. Y nghiên cứu mỗi giác quan trong điều kiện lưỡng phân. Tính chất của cái khí cụ bên ngoài, [351] và năng lực bên trong khí cụ đó để có thể ứng đáp với một số tác động hay rung động. Ví dụ như, y biết tại sao cơ phận của giác quan gọi là mắt rung động với các ảnh hưởng tạo ra tình trạng thấy, nhưng lại không ứng đáp với những tác động khiến y cảm nhận được các mùi. Vì thế, y phân biệt giữa các giác quan. Từ đó y học cách theo dõi một xung động ngược về nguồn của nó, theo một trong năm lối tiếp cận khả dĩ có. Y thực hiện điều này một cách thông minh, chứ không chỉ mù mờ.

2. Their peculiar attributes. He studies then the quality of the senses, laying the emphasis not so much upon the particular sense concerned (this is covered above) as upon the peculiar attribute of the sense and of that to which it gives the key in the macrocosm.

2. Thuộc tính đặc thù của chúng. Sau đó, y nghiên cứu đặc tính của các giác quan. Y không chú trọng nhiều đến giác quan đang xét (như đã bàn ở trên) mà chú ý đến thuộc tính đặc thù của nó, và những gì y biết được trong đại vũ trụ, khi dùng nó làm chìa khóa.

3. Egoism, refers to the "I" making faculty which so predominantly distinguishes the human being and thus brings in the sixth sense, the mind, as the interpreter and synthesizer of the other five. It is the capacity of the human being to say "I see," "I smell,"—a thing the animal cannot do.

3. Ngã thức, chỉ về năng khiếu tạo nên cái “tôi” vốn rất rõ nét trong con người. Ngã thức này giúp giác quan thứ sáu, là cái trí, diễn giải và tổng hợp năm giác quan kia. Đây chính là năng lực khiến con người có thể nói “Tôi thấy,” “Tôi ngửi,” − một điều mà loài vật không thể làm.

4. Pervasiveness. All the senses are capable of infinite extension and every sense when consciously followed and utilized can lead a man in three main directions:

4. Tính đều khắp. Tất cả các giác quan đều có thể mở rộng vô hạn. mọi giác quan, khi được hữu thức theo dõi và sử dụng, đều có thể đưa hành giả đi theo ba chiều hướng chính:

a. To the centre of all things, back to the heart of God,

a. Đến tâm của vạn vật, trở về với tâm của Thượng Đế,

b. Into close communication with his fellow man, putting him en rapport with him, when so desired,

b. Liên thông trực tiếp với huynh đệ của mình, khiến họ hòa hợp với y, nếu y muốn,

c. Into touch with all forms. [352]

c. Giao tiếp với mọi hình hài, sắc tướng. [352]

To the average man there is only that which he can hear, touch, see, taste and smell, only five ways in which he can know. There are only five responses possible to him as he contacts vibration of any kind and in our solar system there is naught else but vibrating energy, God in active motion. These five methods put him en rapport with the five elements and when this is realized, the infinite possibilities open to the aspirant, begin to appear. Later to the advanced man another and higher range of vibration opens up when he can use the mind itself, not only as the unifier of all the five senses but as a sixth sense also. This is the object of all Raja Yoga practice. Through the mind, the soul realm is cognized, just as through the senses the objective world was contacted.

Đối với người bình thường, chỉ có những gì mà y có thể nghe, tiếp xúc, thấy, nếm và ngửi. Y chỉ có thể biết được sự vật theo năm cách vừa kể. Y chỉ có thể ứng đáp theo năm cách này khi giao tiếp với một loại rung động nào đó, và trong thái dương hệ chúng ta không có gì khác hơn là năng lượng đang rung động, là Thượng Đế đang chuyển động linh hoạt. Năm phương pháp này giúp y giao tiếp với năm nguyên tố. Khi nhận thức được như thế, người chí nguyện bắt đầu thấy những khả năng vô hạn mở ra cho y. Về sau, với người hành giả tiên tiến, một khoảng rung động khác cao siêu hơn mở ra, khi y có thể sử dụng chính cái trí. Y không chỉ dùng nó để thống nhất cả năm giác quan, mà còn với tính cách giác quan thứ sáu. Đây là mục tiêu của toàn bộ việc thực hành Raja Yoga. Qua cái trí, y biết được lĩnh vực của linh hồn, giống như khi y tiếp xúc với ngoại giới qua các giác quan.

5. Useful purpose. When the relation of the five senses to the five elements is understood, and the Law of Vibration is studied and mastered, the adept can then turn to useful purposes all the powers of his nature. He not only can enter into communication with all parts of our planetary system but can also use discriminatingly and wisely all those parts of his own nature which are allied to, or correspondences of the nature of God as shown in the macrocosm.

5. Mục đích hữu ích. Khi hiểu được mối liên hệ của năm giác quan với năm nguyên tố, đã nghiên cứu và thấu đáo Luật Rung động, bấy giờ bậc toàn thông có thể dùng tất cả các quyền năng nơi mình cho những mục đích hữu ích. Y có thể liên thông với mọi thành phần trong hệ thống hành tinh chúng ta. Ngoài ra, y còn có thể sử dụng một cách phân biện và khôn ngoan tất cả những gì nơi mình, vốn tương đồng hay tương ứng với bản tính của Thượng Đế biểu hiện trong đại vũ trụ.

48. As a result of this perfection, there comes rapidity of action like that of mind, perception independent of the organs, and mastery over root substance.

48. Kết quả của sự hoàn thiện này là khả năng hành động mau lẹ như cái trí, có nhận thức độc lập với các cơ quan, và vận dụng được chất liệu căn bản.

We have been considering the many results of [353] the meditation process when carried forward to perfection and we are now reaching a climax. The seer has achieved the consummation of the alignment process. His triple personal self has been purified, adjusted and controlled. Each of the three bodies is vibrating in tune with the note of the ego or higher self, which in turn is in process of synchronizing with the Monad or divine self, the spirit on its own plane. The great "Son of Mind," the thinker on the higher levels of the mental plane, is the dominating factor now, and the result of this domination is triple, each effect manifesting on all planes yet primarily on one or another. These results are:

Chúng ta đã xem xét nhiều kết quả [353] của tiến trình tham thiền khi được thực hành đến mức hoàn hảo, và nay đã đạt tột đỉnh. Người tri kiến đã đến mức viên mãn của tiến trình chỉnh hợp. Phàm ngã tam phân của y đã được tinh luyện, điều chỉnh và chế ngự. mỗi một trong ba thể đều đang rung động hòa hợp với âm điệu của chân nhân hay chân ngã. Và chính chân ngã cũng đang trong tiến trình đồng bộ hóa với Chân thần, hay cái ngã thiêng liêng, là tinh thần trên cảnh giới của chính mình. Nay “Người con của Trí tuệ” cao cả, là người suy tưởng trên các cấp cao của cõi trí, đang thống ngự. Sự thống ngự này mang lại ba kết quả. mỗi kết quả đều biểu hiện trên mọi cảnh giới, nhưng chính yếu chỉ trên một trong các cảnh giới đó. Các kết quả này là:

1. Rapidity of action like that of the mind. The term "swift as a thought" is frequently used when an expression of the intensest rapidity is required. In the yogin his acts on the physical plane are so synchronized with his thought processes, his decisions are so instantaneous and his ends so swiftly achieved that his physical plane life is characterized by a most startling activity and most amazing results. Of him it can be said in degree as is said of the Creator: "God meditated, visualized, spoke, and the worlds were made."

1. Hành động mau lẹ như cái trí. Câu “mau lẹ như tư tưởng” thường được dùng để chỉ những gì cần xảy ra hết sức nhanh chóng. Trong trường hợp nhà yogi, hành động của y ở cõi trần được đồng bộ hóa với tiến trình tư tưởng của mình, y quyết định gần như tức thời, và đạt mục tiêu mau lẹ đến đỗi cuộc sống của y ở cõi trần có những hoạt động hết sức bất ngờ, với kết quả gây kinh ngạc. Y có thể thực hiện đến mức nào đó như Đấng sáng tạo: “Thượng Đế tham thiền, hình dung, tuyên phán, và các bầu thế giới được tạo thành.”

2. Perception independent of organs. The adept is not dependent upon the organs of sense for the acquiring of knowledge, nor is he dependent upon the sixth sense, the mind.

2. Nhận thức độc lập với các cơ quan. Bậc toàn thông không tùy thuộc vào các cơ phận của giác quan để thu đạt kiến thức, và cũng không phụ thuộc vào giác quan thứ sáu, là cái trí.

With him, the intuition has been developed into a usable instrument, and direct apprehension of all knowledge, independently of the reasoning faculty [354] or rationalizing mind is his privilege and right. The mind need no longer be used to apprehend reality, the senses need no longer be employed as mediums of contact. He will employ all six but in a different manner. The mind will be utilized as a transmitter to the brain of the wishes, and plans and purposes of the one Master, the Christ within; the five senses will be transmitters of different types of energy to the chosen objectives, and herein opens up a vast field of study for the interested investigator. The eye is one of the most potent transmitters of energy, and it was the knowledge of this in the olden days which gave rise to the belief anent the evil eye. There is much to be discovered concerning sight for this study will include not only physical vision, but the development of the third eye, clairvoyance, perfect spiritual vision and on up to that inconceivable mystery covered by the terms the "All-seeing Eye" and the "Eye of Shiva." The hands are potent factors in all magical work of healing and utilization of the sense of touch is an esoteric science. The sublimation of the sense of hearing and its utilization to hear the Voice of the Silence, or the music of the spheres, is a department of occult teaching of the most profound kind and those adepts who have specialized in the science of sight, and the science of sound are some of the most erudite and advanced in the hierarchy.

Với vị này, trực giác đã được phát triển thành một khí [354] cụ hữu dụng. Người có quyền và đặc quyền thấu đáo trực tiếp mọi sự hiểu biết, một cách độc lập với cái trí suy luận hay suy lý. Cái trí không còn cần được sử dụng để hiểu được thực tại. Các giác quan không còn cần được dùng để làm trung gian giao tiếp. Người sẽ dùng cả sáu giác quan này nhưng bằng cách khác. Thể trí sẽ được dùng để truyền đến não bộ những ý muốn, kế hoạch và mục đích của vị Chủ nhân duy nhất, là Đấng Christ ở nội tâm. Năm giác quan sẽ là phương tiện để truyền những loại năng lượng khác nhau đến các mục tiêu đã chọn. Đây là một lĩnh vực nghiên cứu rộng lớn cho nhà khảo cứu có quan tâm. mắt cũng là một trong những phương tiện truyền năng lượng rất mạnh. Chính vì hiểu biết này mà người xưa người ta mới có sự tin tưởng về con mắt độc. Có nhiều điều cần được khám phá về thị giác, vì vấn đề nghiên cứu này sẽ bao gồm không những cái thấy của thể chất mà còn gồm việc phát triển con mắt thứ ba, thông nhãn, nhãn quan tinh thần hoàn hảo, cứ thế cho đến điều bí nhiệm không thể hiểu về “Con mắt thấy Tất cả” và “Con mắt của Shiva.” Đôi bàn tay là yếu tố mạnh mẽ trong toàn bộ công tác trị liệu huyền thuật, và việc sử dụng xúc giác là một khoa nội môn. Việc thăng hoa thính giác và dùng nó để nghe Tiếng nói của Im lặng, âm nhạc của các bầu thế giới là một ngành giáo huấn huyền bí hết sức thâm sâu. Trong Đại đoàn Chưởng giáo, những vị trọn lành nào chuyên về khoa học thị giác và khoa học âm thanh là những vị uyên bác và tiên tiến nhất.

The other senses are capable too of profound unfoldments, but they are peculiarly hidden in [355] the mysteries of initiation, and more anent them is not possible here. The three senses of hearing, touch and sight are the three characteristics of the three human races and the three planes in our three worlds.

Những giác quan khác cũng đều có thể được khai mở sâu xa. Thế nhưng chúng được đặc biệt che giấu [355] trong các bí nhiệm điểm đạo, nên ở đây không thể bàn thêm về chúng. Ba giác quan thính giác, xúc giác và thị giác là ba đặc trưng của ba giống dân và tam giới của chúng ta.

1. Hearing

Lemurian

Physical plane

Ear

Response to sound.

2. Touch

Atlantean

Astral plane

Skin

Response to touch or vibration.

3. Sight

Aryan

Mental body

Eye

Response to vision.

This third sense primarily affects our race and hence the word of the prophet "Where there is no vision the people perish." The development of sight and the achievement of spiritual insight is the great objective of our race, and the objective of all Raja Yoga work. This may be called "illumination" by the mystic or "pure vision" by the occultist but it is one and the same thing.

Giác quan thứ ba này chủ yếu ảnh hưởng đến giống dân hiện nay. Vì thế mà có lời tiên tri “Ở đâu không có tầm nhìn tinh thần thì dân chúng tiêu vong.” Sự phát triển thị giác và đạt sự thấu hiểu tinh thần là mục tiêu chính đại của giống dân hiện nay, và cũng là mục tiêu của toàn bộ việc thực hành Raja Yoga. Có thể gọi điều này bằng từ “giác ngộ” của nhà thần bí, hoặc từ “tầm nhìn tinh thần thuần khiết” của nhà huyền bí học, nhưng cả hai đều đồng nghĩa.

The two other senses are as yet veiled; their true significance will be unfolded in the sixth or seventh races which are to succeed ours, and their true relation is to the buddhic or intuitional and the atmic or spiritual planes.

Hai giác quan còn lại vẫn còn bị che giấu; thực nghĩa của chúng sẽ được sáng tỏ trong giống dân thứ sáu hoặc thứ bảy tiếp theo giống dân hiện nay. Chúng sẽ thực sự liên quan đến cảnh giới bồ-đề hay trực giác và cảnh giới atma hay tinh thần.

3. Mastery over root substance. This root substance is the pradhana and is sometimes called the root of all, primordial substance, and root matter. Rama Prasad in his translation and commentary has these words: "Mastery over the Pradhana means the power of control over all [356] the modifications of the Prakriti. These three attainments... are obtained by conquering the substantive appearance of the five instruments of sensation."

3. Vận dụng chất liệu nguyên thủy. Chất liệu nguyên thủy này là Pradhana. Đôi khi nó được gọi là cội rễ của tất cả, vật chất bản sơ và vật chất cơ bản. Trong phần chuyển dịch và bình giải của ông, Rama Prasad có nói: “Chế ngự được Prahana có nghĩa là quyền năng kiểm soát tất cả các biến thái của Prakriti. [356] Ba sự thành đạt này... có được nhờ chinh phục sự biểu hiện thực tế của năm khí cụ cảm giác.”

It is interesting to note that these three attainments demonstrate:

Điều thú vị là ba sự thành đạt kể trên cho thấy:

a. The inability of matter and form to hold the yogi confined,

a. Vật chất và hình thể không còn khả năng giam hãm nhà yogi,

b. The powerlessness of substance to prevent the yogi cognizing any aspect of manifestation he desires,

b. Vật chất không còn năng lực ngăn trở nhà yogi nhận biết bất cứ phương diện nào trong cuộc biểu hiện mà y muốn biết,

c. The helplessness of matter to withstand the will of the yogi.

c. Vật chất không thể nào cưỡng lại ý chí của nhà yogi.

These three factors explain how it is that the adept can create at will and his freedom from the limitations of matter forms the basis of all white magic.

Ba yếu tố vừa kể cho thấy lý do tại sao vị cao đồ có thể sáng tạo tùy ý muốn. Sự tự do của người đối với các giới hạn của vật chất là cơ sở của trọn cả khoa chánh thuật.

It might be noted in conclusion that this capacity is in itself relative, for the adept is freed from limitation in the three worlds of human endeavour. The Master has perfect freedom of action in the three worlds plus the buddhic realm, whilst the Christ and those of similar initiation have this freedom in the five worlds of human evolution.

Có thể kết luận rằng năng lực này có tính cách tương đối, vì vị cao đồ đã thoát khỏi mọi giới hạn trong tam giới của cuộc tiến hóa nhân loại. Vị Chân sư hoàn toàn tự do hành động trong tam giới cũng như cõi bồ-đề. Trong khi đó Đức Christ và các vị có cấp điểm đạo tương tự đạt được sự tự do này trong cả năm cảnh giới tiến hóa của nhân loại.

49. The man who can discriminate between the soul and the spirit achieves supremacy over all conditions and becomes omniscient.

49. Khi có thể phân biệt giữa linh hồn và tinh thần, hành giả thấu đáo được mọi điều kiện và trở nên toàn tri.

The condition of the man who can do this has been well described in the comment of Charles Johnston on this sutra and the beauty of his [357] thought will be seen by the study of his words as follows:

Tình trạng của người có thể thực hiện điều vừa kể được Charles Johnston mô tả trong phần ông bình luận câu kinh này, [357] với những ý tưởng và ngôn từ thi vị sau đây:

"The spiritual man is enmeshed in the web of the emotions; desire, fear, ambition, passion; and impeded by the mental forms of separateness and materialism. When these meshes are sundered, these obstacles completely overcome, then the spiritual man stands forth in his own wide world, strong, mighty, wise. He uses divine powers, with a divine scope and energy, working together with divine Companions. To such a one it is said: 'Thou art now a disciple, able to stand, able to hear, able to see, able to speak, thou hast conquered desire and attained to self-knowledge, thou hast seen thy soul in its bloom and recognized it, and heard the voice of the silence.'"

“Con người tinh thần bị vướng mắc trong lưới tình cảm; ham muốn, sợ hãi, tham vọng, đam mê. Y cũng bị chướng ngại do những hình tư tưởng chia rẽ và tôn thờ vật chất. Khi những ràng buộc này bị loại bỏ, và những trở ngại này được hoàn toàn khắc phục, bấy giờ con người tinh thần trở nên tự tại trong thế giới rộng lớn của mình, mạnh mẽ, uy dũng, và minh triết. Người sử dụng các quyền năng thiêng liêng, trong phạm vi và năng lượng thiêng liêng, làm việc cùng các Đồng sự thiêng liêng. Những lời sau đây áp dụng cho người đó: “Nay con là một đệ tử, có khả năng đứng vững, có khả năng nghe, có khả năng thấy, có khả năng nói. Con đã chiến thắng dục vọng, và đạt sự tự tri. Con đã thấy hoa linh hồn bừng nở và nhận biết nó, và nghe tiếng nói của im lặng.’”

The wonderful synthesis of the teaching is nowhere more apparent than in this sutra, for the point reached here is of a higher order again than the one referred to in Book II. Sutra 45, and intermediate to the condition mentioned there and that referred to in Book IV. Sutra 30 to 34.

Câu kinh này rõ ràng có sự tổng hợp tuyệt vời của giáo huấn hơn các câu khác. Bởi vì trình độ đạt được ở đây cao siêu hơn những gì nói trong Quyển II, Câu 45. Nó là trung gian giữa trình độ nêu ở đó và trình độ được đề cập trong Quyển IV, Câu 30 đến 34.

In Book I. Sutra 4, we find the true man entangled in the meshes of the psychic nature and the light in him veiled and hidden. By learning to discriminate between the true self and the lower personal self he disentangles himself, the light which is in him is seen and he is liberated. Having achieved liberation, developed the soul-powers and attained mastery, there opens up before him a still vaster and wider experience and realization. He can begin to expand his consciousness from the planetary to the solar, and group consciousness [358] can be developed into God consciousness. The first step towards this is stated in the sutra we are now considering, which is more fully dealt with and hinted at in the final book. The rules for this expansion are not given, for they concern the development of the Master and the unfoldment of the Christ into that higher state of being which is for Him possible, but the fourth book touches on the preparatory stages and hints at further possibilities. Here the first basic requirement is touched upon, discrimination between the soul, the Christ within and the spirit or Father aspect. Intelligent activity has been demonstrated, based upon an unfoldment of the love nature. With safety now the spirit or will aspect can be developed and power delivered into the hands of the Christ.

Trong Quyển I, Câu 4, chúng ta thấy chân nhân bị trói buộc bởi các lưới rập trong tâm tính của mình, và ánh sáng trong y bị che án và che giấu. Khi học phân biện giữa chân ngã và phàm ngã thấp kém, y tự tháo gỡ mọi ràng buộc. Ánh sáng trong y bừng lên và y được tự do. Đã được giải thoát, đã phát triển các quyền năng của linh hồn và đạt sự tự chủ, y thấy mở ra những kinh nghiệm và nhận thức còn rộng lớn hơn nữa. Y có thể bắt đầu mở rộng tâm thức từ cấp hành tinh đến cấp thái dương. Tâm thức tập thể nơi y được phát triển thành tâm thức của Thượng Đế. [358] Bước đầu tiến đến sự phát triển này đã nêu trong câu kinh mà chúng ta đang xem xét, sẽ được luận bàn đầy đủ hơn trong quyển cuối. Các qui tắc để thực hiện sự mở mang tâm thức này chưa được đưa ra, vì chúng liên quan đến sự phát triển của vị Chân sư và sự khai mở của Đức Christ vào trạng thái sống cao siêu mà Ngài có thể thực hiện. Thế nhưng, quyển thứ tư có nói đến các giai đoạn chuẩn bị, với những ngụ ý về các khả năng cao hơn. Ở đây, yêu cầu cơ bản đầu tiên được đề cập. Đó là sự phân biệt giữa linh hồn, Đức Christ ở nội tâm và tinh thần hay là Đấng Cha lành. Hoạt động thông minh đã phát biểu, dựa vào sự khai mở tình thương. Nay tinh thần hay trạng thái ý chí có thể phát triển và được trao cho Đức Christ một cách an toàn.

Three terms serve to throw light on this process of unfoldment.

Ba thuật ngữ sau đây có thể soi sáng tiến trình khai mở này.

The first great realization which the aspirant has to achieve is that of omnipresence; he has to realize his unity with all, and the oneness of his soul with all other souls. He has to find God in his own heart and in every form of life. Then, as an initiate, he arrives at omniscience or all-knowledge, and the Halls of Learning and of Wisdom render up to him their secrets. He becomes a Christ, a knower of all things, knowing what is in the heart of the Father and in the hearts of men. Finally, he can eventually achieve omnipotence or all-power, when the keys of Heaven will be handed to the Son of Man and all power will be his. [359]

Nhận thức quan trọng đầu tiên là vô sở bất tại. Người môn sinh cần nhận thức được sự hợp nhất của mình với tất cả. Đồng thời y cần hiểu rằng linh hồn của mình và tất cả những linh hồn khác đều là một. Y phải tìm thấy Thượng Đế nơi tâm của mình và trong mọi hình thái của sự sống. Khi là một điểm đạo đồ, y trở nên toàn tri hay là hiểu biết tất cả. Bấy giờ, y được trao cho các bí mật của Phòng Học tập và Phòng minh triết. Y trở nên một vị Christ, một người hiểu biết mọi sự. Y hiểu những gì ở trong tâm của Đấng Cha lành, và trong tâm của con người. Cuối cùng, y đạt được sự toàn năng hay là có đủ mọi quyền năng. Người Con của Nhân loại nay được trao cho chìa khóa của cõi Thiêng liêng cùng với tất cả các quyền năng. [359]

50. By a passionless attitude towards this attainment and towards all soul-powers, the one who is free from the seeds of bondage, attains the condition of isolated unity.

50. Với thái độ không ham muốn sự thành đạt này và tất cả các quyền năng của linh hồn, người đã giải thoát khỏi các chủng tử của nô lệ, nay đi vào trạng thái nhất như tự tại.

The isolated unity referred to here is that of complete separation from all form aspects and the achievement of spiritual Oneness. It is aloofness from the material consciousness and a living in the spiritual consciousness. It is harmony with the spirit and disharmony with matter. It involves identification with the Father in Heaven, and a true understanding of the word of the Master of all the Masters, "I and My Father are one." A proper sense of values has been established and the powers which have been developed, and the perceptions which have been gained are seen as having in them the "seeds of bondage" and therefore with them the true yogin does not concern himself. At will and in service he will perceive that which is needed; at will and in service he will employ the occult powers, but he himself remains detached, and freed from all karmic limitations.

Nhất như tự tại ở đây là tâm thái hoàn toàn buông xả mọi phương diện hình hài sắc tướng, và đạt được tính Duy nhất tinh thần. Hành giả không còn bận tâm đến ý thức vật chất và sống trong tâm thức tinh thần. Đó là sự hài hòa với tinh thần và không còn hòa điệu với vật chất. Đó là sự đồng nhất với Đấng Cha lành ở cõi Thiêng liêng. Nay hành giả thấu hiểu câu nói thốt ra từ vị Thầy của các Chân sư, “Ta và Cha Ta là một.” Nhà yogi chân chính đã phát triển ý thức giá trị đúng thực. Y thấy trong các quyền năng đã phát triển, và các nhận thức đã đạt, đều có ẩn “những chủng tử của sự nô lệ.” Vì thế, y không bận tâm về chúng. Trong phụng sự, y sẽ tùy ý nhận biết những gì cần thiết. Trong phụng sự, y sẽ tùy ý vận dụng các quyền năng huyền môn. Những chính y vẫn tự tại, không vướng bận gì đến các hạn chế nghiệp quả.

51. There should be entire rejection of all allurements from all forms of being, even the celestial, for the recurrence of evil contacts remains possible.

51. Cần hoàn toàn thản nhiên đối với mọi sự cám dỗ của mọi hình thái sống, cho dù là sống ở cõi trời, vì vẫn khả dĩ có sự tái diễn ảnh hưởng của điều ác.

Rama Prasad's translation is illuminating and should be quoted here. It runs as follows:

Bản dịch của Rama Prasad rất sáng tỏ, và thiết tưởng nên trích dẫn ở đây:

"When the presiding deities invite, there should [360] be no attachment and no smile of satisfaction, contact with the undesirable being again possible."

“Khi có sự mời gọi của các vị thần đang ngự trị, [360] không nên chiều theo với nụ cười hài lòng, vì hành giả có thể tiếp xúc lại với những gì bất hảo.”

And Dvivedi's interpretation gives still another angle:

Và Dvivedi còn giải thích theo phương diện khác:

"There should be entire distinction of pleasure or pride in the invitations by the powers of various places, for there is possibility of the repetition of evil."

“Cần phân biệt rõ niềm vui thú hoặc sự kiêu căng trong lời mời gọi của các quyền năng trên những cảnh giới khác nhau, vì có thể tái diễn những điều tà vạy.”

The yogin or disciple has achieved his objective. He has (through dispassion and discrimination) freed himself from the trammels of form and stands free and liberated. But he needs to be on his guard for "Let him that thinketh he standeth take heed lest he fall." Form life ever beckons, and the allurements of the great illusion are ever present. The emancipated soul must turn his eyes away from the invitation of the "presiding deities" (those lives who in the three worlds form the sum total of plane life) and fix them on those more spiritual aspects which constitute the life of God Himself.

Nhà yogi hay người đệ tử đã đạt mục tiêu. Với hạnh vô dục và trí phân biện, y đã tự giải thoát khỏi các hạn chế của hình tướng và hoàn toàn tự do. Thế nhưng y cần phải đề phòng vì “Người nghĩ rằng mình đã đứng vững thì hãy thận trọng, đề phòng vấp ngã.” Cuộc sống hình thể bao giờ cũng mời gọi, và sự quyến rũ của đại ảo tưởng lúc nào cũng có sẵn. Linh hồn đã được giải thoát phải thản nhiên trước lời mời mọc của “các vị thần đang ngự trị” (là chúng sinh trong tam giới hợp thành toàn bộ cuộc sống trên mỗi cảnh giới). Y hãy chú tâm vào những phương diện tinh thần hơn, chính là sự sống của Thượng Đế.

Even the realm of the soul itself, and the "Voice of the Gods," as it is called, are seen to have latent in them the seeds of attachment; therefore, turning his back upon all that he has gained, and putting behind him all thought of the perfections achieved and the powers developed, the Son of God, the Christ in manifestation, again presses forward towards a higher goal. At every stage of the path, the injunction sounds forth: "Forgetting the things which are behind, press forward" (Phil: IV.), and every new initiation but marks [361] the commencement of a new cycle of endeavour.

Ngay cả lĩnh vực của chính linh hồn, và cái gọi là “Tiếng nói của các vị Thần,” vẫn có ẩn trong đó những chủng tử của sự bám chấp. Vì thế, y phải quay lưng đối với tất cả những gì đã thu đạt, và bỏ lại mọi ý nghĩ về những sự hoàn thiện đã thành tựu và các quyền năng đã phát triển. một lần nữa, người Con của Thượng Đế, vị Christ đang biểu hiện, lại dấn bước hướng về mục tiêu cao cả hơn. Ở mỗi giai đoạn trên đường đạo, đều vang ra lời huấn thị: “Hãy quên đi những gì ở sau lưng, và tiến bước.” (Phil: IV.) Mọi cuộc điểm đạo mới [361] đều đánh dấu sự khởi đầu của chu kỳ cố gắng mới.

Commentators upon this sutra point out that there are four classes of chelas or disciples. These are:

Các nhà luận giải câu kinh này nói rằng có bốn hạng môn đồ hay đệ tử sau đây:

1. Those whom the light is just beginning to illumine. They are called "observant of practice," and are those who are just entering the Path. These are the probationers, the aspirants.

1. Những người có ánh sáng chỉ vừa mới bừng lên. Họ được gọi là “người cần mẫn thực hành,” và là những người mới bước vào Đường Đạo. Đây là các đệ tử dự bị, những người chí nguyện.

2. Those whose intuition is awakening and who demonstrate a corresponding development of psychic power. This is a stage of great danger for such disciples are apt to be allured by the possibilities of power which the possession of psychic faculty opens up. They are apt to be deluded and to consider that psychic power is an indication of spiritual growth and unfoldment. Such is not the case.

2. Những người có trực giác đang thức động và tỏ ra có phát triển các quan năng thần thông tương ứng. Đây là giai đoạn hết sức nguy hiểm. Vì những người đệ tử này thường bị cám dỗ bởi những điều kiện khả dĩ có quyền năng mà việc sở hữu quan năng thần thông mở ra cho họ. Họ thường bị lừa gạt và cho rằng phép thần thông là dấu hiệu chứng tỏ sự tăng trưởng và khai mở tinh thần. Tuy nhiên, sự thực không phải vậy.

3. Those disciples who have overcome all sense attractions and cannot be deluded by the form aspect in the three worlds. They have conquered the senses and are victors over the form nature.

3. Những người đệ tử đã thắng phục tất cả các hấp dẫn của giác quan, và không hề bị lừa gạt bởi phương diện hình thể trong tam giới. Họ đã chinh phục được các giác quan và là người chiến thắng bản chất hình tướng.

4. Those who have passed beyond all the above and who stand firm in the true spiritual consciousness. These are the illuminated ones, who have progressed through the seven stages of illumination. See Book II., Sutra 27.

4. Những người đã vượt qua tất cả các chướng ngại nói trên, và đã trụ vững trong tâm thức tinh thần đích thực. Đây là những bậc giác ngộ, đã tiến qua bảy giai đoạn của sự khai ngộ. Xem Quyển II., Câu 27.

If the student will here study Book III. Sutra 26, and the commentary upon it, he will gain some idea of the nature of these worlds of form and their presiding deities whose voices seek to lure the aspirant off the path into the realm of illusion. He will find it also of interest to contrast and compare the first four classes of spirits enumerated [362] there with these four types of disciples. Everything in the three worlds is a reflection of that which is found in the heavenly realms and much may be gained through a comprehension of the great Hermetic aphorism, "As above, so below." That reflection is what constitutes evil; that reverse aspect of reality forms the great illusion, and with these the sons of God have no concern. It is evil where they are concerned but in no other sense. The forms of life in these worlds, and the lives animating those forms are good and right in themselves and are pursuing their own evolutionary path, but their immediate objective and their state of consciousness is not synchronized with that of the evolving disciple and therefore with them there must be no trafficking.

Ở đây, người môn sinh nên nghiên cứu lại Câu 26 của Quyển III, và phần luận giải về nó. Y sẽ có được chút ý niệm về các thế giới của sắc tướng này và những vị thần đang ngự trị ở đó. Họ có những lời cám dỗ người chí nguyện rời khỏi đường đạo để đi vào lĩnh vực của ảo tưởng. Y cũng sẽ thấy hữu ích khi so sánh, đối chiếu bốn loại đầu của các tinh linh được kể ra trong [362] câu đó với bốn hạng đệ tử nêu ở đây. mọi sự vật trong tam giới là phản ảnh của những gì có trong các cảnh giới thiêng liêng. Vì thế, chúng ta có thể hiểu được nhiều điều, khi thấu đáo câu châm ngôn của Hermes, “Ở trên sao, ở dưới vậy.” Phản ảnh đó gồm những gì được gọi là điều ác. Chính cái khía cạnh trái ngược ấy của thực tại tạo nên đại ảo tưởng. Những người con của Thượng Đế không hề bận tâm đến các phản ánh đó. Phản ảnh đó chỉ trở nên tà vạy khi được họ quan tâm, chứ không vì lý do gì khác. Các hình thể của sự sống trong các cảnh giới này và những sinh linh khiến cho các hình thể ấy hoạt động vốn tốt đẹp và đúng đắn, vì chúng đang đi theo con đường tiến của riêng mình. Thế nhưng, mục tiêu và trạng thái ý thức của chúng hiện nay không đồng bộ với mục tiêu và tâm thức của người đệ tử. Do đó, y không nên dính líu gì đến chúng.

52. Intuitive knowledge is developed through the use of the discriminative faculty when there is one-pointed concentration upon moments and their continuous succession.

52. Hiểu biết trực giác phát triển nhờ dùng khả năng phân biện, khi hành giả chuyên chú vào những khoảnh khắc và sự tiếp diễn liên tục của chúng.

It has been said that a complete understanding of the Law of Cycles would bring man to a high degree of initiation. This Law of Periodicity underlies all the processes of nature and its study would lead a man out of the world of objective effects into that of subjective causes. It has also been said that time itself is simply a succession of states of consciousness and this is true of an atom, a man or a God. It is this truth which underlies the great systems of mental science and Christian Science in the occident, and many of the [363] oriental philosophies. This sutra gives the key to the relation between matter and mind, or between substance and its informing soul, and this can be realized when the words of a Hindu commentator are considered. He says:

Có lời giáo huấn rằng hoàn toàn thấu hiểu Luật Chu kỳ sẽ giúp hành giả đạt được cấp điểm đạo cao siêu. Luật Tuần hoàn này ẩn trong tất cả các tiến trình của thiên nhiên. Thế nên, khi nghiên cứu luật này chúng ta sẽ thoát ra khỏi thế giới của các hậu quả khách quan để bước vào thế giới của các nguyên nhân nội tại. Chúng ta cũng được biết rằng chính thời gian chỉ là một chuỗi các trạng thái tâm thức. Điều này đúng với một nguyên tử, một con người hay Thượng Đế. Chính chân lý này là nền tảng của các hệ thống quan trọng như khoa học trí tuệ và Khoa học Thiên Chúa giáo ở phương [363] Tây, và nhiều triết thuyết của phương Đông. Câu kinh này có chìa khóa để hiểu mối liên hệ giữa vật chất và trí tuệ, hoặc giữa thể chất và linh hồn ở trong đó. Chúng ta có thể nhận thức được điều này khi xét theo những lời của nhà luận giải Ấn giáo sau đây:

"As an atom is a substance in which minuteness reaches its limit, so a moment is a division of time in which minuteness reaches its limit. Or a moment is that much of time which an atom takes in leaving the position in space it occupies and reaching the next point. The succession of moments is the non-cessation of the glow thereof."

“Như một nguyên tử là vật chất ở mức giới hạn tế vi, một khoảnh khắc cũng là sự phân chia thời gian đến mức giới hạn tế vi. Hoặc khoảnh khắc là khoảng thời gian mà một nguyên tử cần để rời vị trí hiện tại của nó trong không gian và đến điểm kế tiếp. Chuỗi các khoảnh khắc là sự bừng cháy của nó tiếp diễn liên tục.”

When we can realize that an atom and a moment are one and the same, and that back of these lies the Realizer or Cognizer of both, we have got the clue to all states of consciousness itself, and to the nature of energy. We shall also have reached a true understanding of the Eternal Now, and a just appreciation of the significance of the past, the present, and the future. This, we are told here, can be gained by concentrated meditation upon time and its units.

Khi chúng ta có thể nhận thức rằng một nguyên tử và một khoảnh khắc là một và là như nhau, và hiểu rằng ẩn trong cả hai là Người nhận thức và Người hiểu biết chúng, thì bấy giờ chúng ta nắm được manh mối về mọi trạng thái của chính tâm thức, và manh mối về bản chất của năng lượng. Bây giờ, chúng ta cũng sẽ thực hiểu thế nào là Hiện tại Vĩnh cửu. Từ đó, chúng ta thấu đáo ý nghĩa của quá khứ, hiện tại, và tương lai. Câu kinh này bảo rằng chúng ta có thể thấu hiểu điều này bằng cách tham thiền tập trung vào thời gian và các đơn vị thời gian.

It might be appropriate here to point out that the various kinds of concentration dealt with in this third book are not applicable or appropriate to all types of aspirants. Men are found to exist in seven main types, with distinguishing characteristics and natures and with definite qualities predisposing them to certain definite aspects of the Path of Return. Certain types with mathematical bent and with a tendency to divine geometry and space and time concepts, will with wisdom follow the method of developing intuitive [364] knowledge, dealt with in this sutra; others will find it of great difficulty and would wisely turn to other forms of concentrated meditation.

Ở đây cần lưu ý rằng những loại tập trung khác nhau nêu trong quyển thứ ba này không thể áp dụng hay thích hợp với tất cả các hạng người chí nguyện. Có bảy mẫu người chính, với các đặc trưng và tính chất khác biệt. Họ cũng có những phẩm tính cố hữu khiến họ đi theo một số phương diện rõ rệt trên Con đường Phản bổn Hoàn nguyên. một số mẫu người có khuynh hướng toán học, nhắm đến khoa hình học thiêng liêng và các khái niệm về không gian và thời gian. Với sự minh triết, họ theo phương pháp phát triển trực giác nêu trong câu kinh này. Những người khác nhận thấy phương [364] pháp này quá khó, và thấy rằng tốt hơn họ nên áp dụng những hình thức tham thiền tập trung khác.

53. From this intuitive knowledge is born the capacity to distinguish (between all beings) and to cognize their genus, qualities and position in space.

53. Từ sự hiểu biết trực giác này phát sinh khả năng phân biệt (giữa tất cả các chúng sinh) và biết được chủng loại, đặc tính và vị trí của họ trong không gian.

The difficulty of this sutra will be obviated if a free paraphrase is here given.

Câu kinh này sẽ không còn khó hiểu nếu được chuyển ngữ theo lối phóng khoáng sau đây.

"Through the development of the intuition there will arise exact knowledge of the sources of the manifested life, of its characteristics or qualities, and of its location within the whole."

“Nhờ phát triển trực giác, hành giả sẽ biết chính xác nguồn của sự sống biểu hiện, đặc trưng hay đặc tính của nó, và vị trí của nó bên trong cái toàn thể.”

Right through the Yoga Sutras it has been made apparent that the divine triplicities are everywhere to be found, and that every form ensouling a life (and there is naught else in manifestation) is to be known as:

Qua bộ Yoga Điển tắc này, chúng ta thấy rõ rằng các bộ ba thiêng liêng vốn có ở khắp mọi nơi. Và chúng ta cũng thấy rằng mỗi hình thể đều có ẩn chứa một sự sống (chứ không có gì khác trong cuộc biểu hiện này). Cần hiểu đó là:

1. Life. The life of God emanates·from its source in seven streams, emanations or "breaths," and every form in the objective world is the expression of a life as breathed forth on one or other of these streams. The development of the intuition enables the seer to know the nature of the life atom. This is inferred in the word "genus." The modern occultist might prefer the word "ray," and the Christian "pneuma" or spirit, but the thought is one.

1. Sự sống. Sự sống của Thượng Đế từ nguồn cội của mình phát ra thành bảy dòng năng lượng hay là “hơi thở.” mọi hình thể trong thế giới khách quan đều là phát biểu của một sự sống được thở ra trên một trong các dòng năng lượng nói trên. Khi phát triển trực giác, người tri kiến có thể biết được tính chất của nguyên tử sự sống. Tính chất này được suy diễn trong từ “giòng loài.” Nhà huyền bí học hiện nay có thể thích dùng từ “cung,” và người Thiên Chúa giáo gọi là “hơi thở của sự sống” hay tinh thần. Thế nhưng, chung qui ý tưởng vẫn là một.

2. Consciousness or soul. All these living forms of divine life are conscious, even though all states of consciousness are not the same but range from the life of the atom of substance, limited [365] and circumscribed as it may be, to that of a solar Logos. The state of the conscious response of all forms to their environment, exoteric and unseen, produces the varying characteristics plus the distinction produced by:

2. Tâm thức hay linh hồn. Tất cả các hình thể sinh động của sự sống thiêng liêng này đều hữu thức. Dù rằng mọi trạng thái tâm thức đều không giống nhau, chúng vẫn ở trong khoảng từ sự sống của một nguyên tử vật chất, vốn bị hạn chế [365] và bao bọc, đến sự sống của một vị thái dương Thượng Đế. Tình trạng ứng đáp hữu thức của mọi hình thể với môi [366] trường chung quanh chúng, ở cõi hữu hình và vô hình, khiến có những đặc trưng khác nhau cùng với sự phân biệt do:

a. Ray,

a. Cung,

b. Plane of manifestation,

b. Cảnh giới biểu hiện,

c. Rate of vibration,

c. Nhịp độ rung động,

d. Point of development,

d. Trình độ phát triển,

and these characteristics form the quality referred to in the sutra. This is the subjective aspect in contradistinction to the objective and the essential.

và các đặc trưng này là đặc tính nêu trong câu kinh. Đây là phương diện nội tại, khác với cái bên ngoài và cái tinh túy.

3. Form or body. This is the exoteric aspect, that which emerges from the subjective as a result of spiritual urge. The position in space is that part of the body of the Heavenly Man in which any atom or form has its locale. Here it should be remembered that according to the occult student "space is an entity" (Secret Doctrine I. 583), and this entity is one and the same as the cosmic Christ, the "body of Christ," referred to by St. Paul in I. Cor. XII.

3. Hình thể hay cơ thể. Đây là phương diện ngoại tại, xuất lộ từ cái nội tại, do sự thôi thúc tinh thần. Vị trí trong không gian là phần trong cơ thể của vị Thiên Nhân mà một nguyên tử hay hình thể ở trong đó. Ở đây chúng ta cần lưu ý rằng theo giáo huấn huyền môn “không gian là một thực thể” (Giáo lý Bí nhiệm I. 583). Thực thể này là một và đồng nhất với Đấng Christ vũ trụ, là “cơ thể của Đấng Christ”, như được Thánh Paul đề cập trong I. Cor. XII.

In this sutra, therefore, it is made apparent that the liberated yogi who has developed the intuition can know all things about all forms of life, and this involves a knowledge of:

Vì thế, trong câu kinh này có nói rõ rằng nhà yogi đã giải thoát, đã phát triển trực giác, có thể hiểu biết mọi điều về mọi hình tướng của sự sống. Đây là sự hiểu biết về:

1. Genus.

2. Quality.

3. Position in Space.

Ray

Character

Place in body of Heavenly Man.

Spirit

Soul

Body.

Life aspect

Consciousness

Form.

Essence

Subjective nature

Objective form.

[366]

Of this knower we can apply the words of the teacher whose works are found in the archives of the Lodge:

Về người hiểu biết nói trên, chúng ta có thể áp dụng những lời sau đây của vị huấn sư có các tác phẩm lưu trữ trong văn khố của Huyền môn:

"To him, standing before the Spark, the flame and the smoke are equally to be seen.

“Đối với y, khi đứng trước Tia lửa, y thấy cả ngọn lửa và làn khói.

To him, the shadow veils the reflection and yet the light is seen.

Đối với y, hình bóng che án phản ảnh, nhưng y vẫn thấy ánh sáng.

To him, the tangible but demonstrates the intangible, and both reveal the spirit, whilst form, color and number speak aloud the word of God."

Đối với y, cái hữu hình chỉ biểu lộ cái vô hình, và cả hai cùng hiển lộ tinh thần. Trong khi đó, hình thể, màu sắc và con số xướng lên linh từ của Thượng Đế.”

54. This intuitive knowledge, which is the great Deliverer, is omnipresent and omniscient and includes the past, the present and the future in the Eternal Now.

54. Sự hiểu biết trực giác này là Tác nhân hiển lộ quan trọng. nó có ở khắp nơi, toàn tri và gồm cả quá khứ, hiện tại và tương lai trong hiện tại Vĩnh cửu.

The only part of this sutra which is not clear even to the superficial reader is the significance of the words Eternal Now, and these it is not possible to comprehend until soul-consciousness is developed. To say that time is a succession of states of consciousness and that the present is lost in the past instantaneously, and merged in the future as it is experienced, is of small avail to the average student. To say that there is a time when sight is lost in vision, when the sum total of life anticipations are realized in a moment of accomplishment and that this persists for ever, and to point to a state of consciousness in which there is no sequence of events and no succession of realizations is to speak in a language of mystery. Yet so it is and will be. When the aspirant has reached his goal he knows the true significance of his immortality and the true nature of his liberation. [367] Space and time become for him meaningless terms. The only true Reality is seen to be the great central life force, remaining unchanged and unmoved at the centre of the changing evanescent temporal forms.

Phần duy nhất của câu kinh này không rõ ràng khi chỉ đọc thoáng qua, đó là ý nghĩa của các từ Hiện tại Vĩnh cửu. Thực ra, người ta không thể hiểu được các từ này nếu chưa phát triển tâm thức của linh hồn. Khi nói rằng thời gian là một chuỗi những trạng thái tâm thức, và nói rằng hiện tại lập tức trôi về quá khứ và hòa lẫn vào tương lai ngay khi trải nghiệm, thì người môn sinh trình độ trung bình cũng chẳng hiểu được bao nhiêu. Nếu nói rằng có một loại thời gian mà cái thấy chìm trong linh ảnh, khi toàn bộ các dự kiến trong đời đều được nhận thức trong một khoảnh khắc hoàn thành viên mãn, và nói rằng khoảnh khắc ấy trở thành thiên thu, và khi nêu lên một trạng thái tâm thức mà trong đó không hề có trình tự các sự kiện và không hề có chuỗi các nhận thức, thì đó tức là nói theo ngôn ngữ bí nhiệm. Ấy vậy, nó lại là thế và sẽ là như thế. Khi người chí nguyện tiến đến mục tiêu, y thực sự hiểu rằng mình vốn bất tử, và hiểu thực nghĩa của giải thoát. Đối với y, không gian và thời gian trở thành những từ vô nghĩa. [367] Y thấy Thực tại duy nhất là mãnh lực của sự sống vĩ đại ở trung tâm, không hề thay đổi và bất di bất dịch ở tâm điểm các hình thể tạm thời, luôn biến đổi và chóng tàn phai.

"I am," says the human unit and regards himself as the self, and identifies himself with the changing form. Time and space are for him the true realities. "I am That," says the aspirant and seeks to know himself as he truly is, a living word, part of a cosmic phrase. For him space no longer exists; he knows himself as omnipresent. "I am That I am," says the freed soul, the liberated man, the Christ. Neither time nor space exist for him, and omniscience and omnipresence are his distinctive qualities.

Con người nói “Tôi là,” cho mình là phàm ngã, và tự đồng hóa với cái hình thể đang thay đổi. Y cho rằng thời gian và không gian là những điều thực tế. Người chí nguyện nói “Tôi là Cái Đó,” và tìm cách biết được chân tính của mình, một linh từ sống động, là thành phần của nhóm từ vũ trụ. Đối với y, không gian không còn hiện hữu. Y biết mình có khả năng hiện diện ở mọi nơi. Linh hồn đã được tự do, người đã giải thoát, Đấng Christ, thì nói “Tôi là Chân như.” Đối với người, cả thời gian và không gian đều không còn hiện hữu. Đặc tính rõ rệt của người là toàn tri và vô sở bất tại.

In his comment upon this sutra, Charles Johnston quotes from St. Columba and says:

Trong nhận xét của ông về câu kinh này, Charles John- ston trích dẫn lời sau đây của Thánh Columbia:

"Some there are, though very few, to whom divine grace has granted this: that they can clearly and most distinctly see, at one and the same moment, as though under one ray of the sun, even the entire circuit of the whole world with its surroundings of ocean and sky, the innermost part of their mind being marvellously enlarged."

“Có một số người, dù rất ít, đã nhận được ân huệ thiêng liêng: họ có thể thấy hết sức rõ rệt ngay tức khắc và đồng thời, như trong tia nắng mặt trời, toàn thể thế giới với các đại dương và bầu trời bao bọc. Nơi thâm sâu nhất trong trí tuệ của họ đang rộng mở đến mức kỳ diệu phi thường.”

It might be helpful also if the brief comment of Dvivedi were quoted here as it is well put, and the state of consciousness arrived at concisely summed up:

Ở đây cũng nên trích dẫn lời bình giải vắn gọn và rất hay của Dvivedi về trạng thái tâm thức này, một cách súc tích như sau:

"In aphorism XXXIII. of this section we have already described the nature of taroka-jnana—the knowledge that saves from the bonds of the world. The discriminative knowledge described [368] here results in taraka, the knowledge which is the end and aim of yoga. It relates to all objects from the pradhana (spirit-matter. A.B.) to the bhutas (elements. forms. A.B.), as also to all conditions of these objects. Moreover it produces knowledge of all things simultaneously, and is quite independent of the ordinary rules of cognition. Hence it is the highest knowledge which can be desired by the yogin, and it is a sure index of Kaivalya (state of absolute oneness. A. B.) to be described in the following aphorism as its result."

“Trong câu châm ngôn XXXIII của phần này, chúng ta đã mô tả tính chất của taroka-jnana − sự hiểu biết giúp chúng ta thoát khỏi những trói buộc của thế gian. Sự hiểu biết có phân biện được trình bày ở đây [368] đưa đến taraka, là sự hiểu biết cứu cánh và là mục tiêu của yoga. Nó liên quan đến mọi sự vật, từ pradhana (tinh thần-vật chất. A.B.) đến các bhuta (các nguyên tố, hình hài sắc tướng. A.B.), cũng như liên quan đến tất cả các tình trạng của những sự vật đó. Hơn thế nữa, nó còn mang lại sự hiểu biết về mọi sự việc cùng một lúc và hoàn toàn độc lập đối với các qui tắc thông thường của nhận thức. Thế nên, nó là sự hiểu biết cao nhất mà nhà yogi có thể hoạch đắc. Nó cũng là chỉ báo chắc chắn về Kaivalya (trạng thái duy nhất tuyệt đối. A.B.) với tính cách là kết quả của nó, sẽ được trình bày trong câu châm ngôn tiếp theo.”

55. When the objective forms and the soul have reached a condition of equal purity, then is At-one-ment achieved and liberation results.

55. Khi các ngoại thể và linh hồn đã đạt độ tinh khiết như nhau, bấy giờ có sự nhất quán đưa đến giải thoát.

That which veils the light of the soul has been rendered pure, and thus the light of God streams forth. That which proved a hindrance and an obstacle to the full expression of divinity in manifestation has been so dealt with that now it serves as an adequate expression and means of service. The soul can now function freely and intelligently in the three worlds because complete unity has been reached between the lower and the higher man.

Bức màn che ánh sáng của linh hồn đã trở nên tinh khiết, để cho ánh sáng của Thượng Đế chiếu xuyên qua. Những gì trước đây gây chướng ngại và trở ngại cho sự phát biểu trọn vẹn của thiên tính trong cuộc biểu hiện nay đã được khắc phục đến mức chúng được dùng cho sự biểu lộ viên mãn, và là phương tiện cho phụng sự. Giờ đây linh hồn có thể hoạt động tự do và sáng suốt trong tam giới. Bởi vì phàm ngã và chân ngã đã hoàn toàn hợp nhất.

The soul and its vehicles form a unit and are at one; complete alignment of the bodies has been achieved and the Son of God can function freely on earth. Thus has the great objective been reached and through a following of the eight means of yoga the soul can manifest through the [369] lower threefold man, and in its turn form a medium of expression for the spirit. Matter has been brought into a state where its vibration can synchronise with that of the soul, and the result is that—for the first time—spirit can make its presence felt, for "matter is the vehicle for the manifestation of soul on this plane of experience and the soul is the vehicle for the manifestation of spirit on a higher turn of the spiral. These three are a trinity synthesized by life which pervades them all." To the man who has achieved this there is no rebirth. He is free and liberated, and can say with full conscious realization of the significance of the words:

Linh hồn và các hạ thể trở thành một đơn vị duy nhất. Các thể đã hoàn toàn chỉnh hợp, và người Con của Thượng Đế có thể hoạt động tự do ở cõi trần. Thế là mục tiêu trọng đại đã đạt. [369] Nhờ theo đúng tám phương tiện của yoga, linh hồn có thể biểu hiện qua phàm nhân với ba hạ thể. Và nay linh hồn trở thành phương tiện phát biểu cho tinh thần. Thể chất đã được nâng cao tần số rung đến mức đồng bộ với tần số của linh hồn. Kết quả là lần đầu tiên tinh thần có thể thị hiện. Bởi vì “vật chất là phương tiện cho linh hồn biểu hiện ở cõi trần, và linh hồn là phương tiện cho tinh thần biểu hiện trên cảnh giới cao siêu. Cả ba là tam vị nhất thể được tổng hợp bởi sự sống thấm nhuần tất cả.” Người đã đến trình độ này không cần phải tái sinh. Y đã tự do và giải thoát, và có thể nói lên với nhận thức sáng tỏ và trọn vẹn về ý nghĩa của những lời sau đây:

"My life (the lower physical life) is hid with Christ (the soul life) in God (the spirit)." (Col: III. 3.)

“Cuộc sống của tôi (đời sống phàm trần) nay cùng với

BOOK IV. – ILLUMINATION—GIÁC NGỘ

a. Consciousness and form.

a. Tâm thức và hình thể.

b. Union or at-one-ment.

b. Hợp nhất hay nhất quán.

Topic: Isolated unity. [373]

Chủ đề: Nhất như tự tại.

1. The higher and lower siddhis (or powers) are gained by incarnation, or by drugs, words of power, intense desire or by meditation.

1. Có thể đạt được các siddhi (quyền năng) cao và thấp bằng cách nhập thế, hay dùng thuốc, dùng các quyền lực từ, với ý muốn mạnh mẽ hoặc qua tham thiền.

2. The transfer of the consciousness from a lower vehicle into a higher is part of the great creative and evolutionary process.

2. Việc chuyển tâm thức từ một thể thấp vào một thể cao là một phần của diễn trình tiến hóa và sáng tạo vĩ đại.

3. The practices and methods are not the true cause of the transfer of consciousness but they serve to remove obstacles, just as the husbandman prepares his ground for sowing.

3. Những cách thực hành và phương pháp không phải là nguyên nhân thực sự của việc chuyển di tâm thức. Chúng chỉ nhằm loại bỏ các trở ngại, như người nông dân làm đất để gieo hạt vậy.

4. The "I am" consciousness is responsible for the creation of the organs through which the sense of individuality is enjoyed.

4. Nhận thức “Tôi là” tạo nên các cơ quan mà qua đó ý thức về cá tính được thể nghiệm.

5. Consciousness is one, yet produces the varied forms of the many.

5. Tâm thức vốn duy nhất, nhưng những gì nó tạo nên thì thiên hình vạn trạng.

6. Among the forms which consciousness assumes, only that which is the result of meditation is free from latent karma.

6. Trong số các hình thể mà tâm thức khoác lấy, chỉ hình thể nào là kết quả của tham thiền mới thoát khỏi nghiệp quả ẩn tàng.

7. The activities of the liberated soul are free from the pairs of opposites. Those of other people are of three kinds.

7. Các hoạt động của linh hồn giải thoát không còn vướng vào các cặp đối cực. Hoạt động của những người khác thì gồm ba loại.

8. From these three kinds of karma emerge those forms which are necessary for the fruition of the effects.

8. Từ ba loại nghiệp nói trên, nảy sinh các hình thể cần cho việc tạo quả.

9. There is identity of relation between memory and the effect-producing cause, even when separated by species, time and place.

9. Có sự liên hệ đồng nhất giữa ký ức và cái nguyên nhân tạo nên hậu quả, cho dù chúng bị tách biệt bởi dòng loài, thời gian và địa điểm.

10. Desire to live being eternal, these mind-created forms are without known beginning. [374]

10. Lòng ham sống vốn vĩnh cửu, không thể biết được lúc khởi đầu của những hình thể này do cái trí tạo ra. [374]

11. These forms being created and held together through desire, the basic cause, personality, the effective result, mental vitality or the will to live, and the support of the outward going life or object, when these cease to attract then the forms cease likewise to be.

11. Những hình thể này, được tạo ra và tập hợp lại qua sự ham muốn, là cái nguyên nhân căn bản, qua phàm tính, là cái hậu quả thực sự, qua sức sống của cái trí hay là ý chí muốn sống, được hỗ trợ bởi sự sống hướng ngoại hay đối tượng. Khi những điều vừa kể không còn hấp dẫn, thì các thể nói trên cũng không tồn tại.

12. The past and the present exist in reality. The form assumed in the time concept of the present is the result of developed characteristics and holds latent seeds of future quality.

12. Quá khứ và hiện tại hiện tồn trong thực tại. Hình thể có được trong khái niệm thời gian của hiện tại là kết quả của những đặc tính đã phát triển. Trong đó có ẩn tàng những chủng tử của phẩm tính tương lai.

13. The characteristics, whether latent or potent, partake of the nature of the three gunas (qualities of matter).

13. Các đặc trưng, dù tiềm ẩn hay biểu lộ, đều có tính chất của ba guna (ba đặc tính của vật chất).

14. The manifestation of the objective form is due to the one-pointedness of the effect-producing cause (the unification of the modifications of the chitta or mind stuff).

14. Sự biểu hiện của hình thể bên ngoài là do sự hội tụ của cái nguyên nhân tạo quả (tổng hợp các biến thái của chitta hay trí tuệ chất).

15. These two, consciousness and form, are distinct and separate; though forms may be similar, the consciousness may function on differing levels of being.

15. Hai cái vừa kể, tâm thức và hình thể, thì phân biệt và riêng biệt. Dù hình thể khả dĩ tương tự, tâm thức có thể hoạt động trên những cấp sinh hoạt khác nhau.

16. The many modifications of the one mind produce the diverse forms, which depend for existence upon those many mind impulses.

16. Nhiều biến thái của trí tuệ duy nhất tạo nên những hình thể khác nhau. Chúng tồn tại tùy thuộc vào các xung lực trí tuệ vừa kể.

17. These forms are cognized or not, according to the qualities latent in the perceiving consciousness.

17. Những hình thể này được nhận biết hay không, là tùy theo các phẩm tính ẩn tàng trong cái tâm nhận thức.

18. The Lord of the mind, the perceiver, is ever aware of the constantly active mind stuff, the effect-producing cause.

18. Vị Chúa của trí tuệ, là người nhận thức, bao giờ cũng biết đến cái trí tuệ chất đang hoạt động liên tục, là cái nguyên nhân tạo quả.

19. Because it can be seen or cognised it is apparent that the mind is not the source of illumination.

19. Vì chúng ta có thể thấy hay biết được nó, nên rõ ràng cái trí không phải là nguồn giác ngộ.

20. Neither can it know two objects simultaneously, itself and that which is external to itself.

20. Nó cũng không thể đồng thời biết hai đối tượng, chính nó và những gì ở ngoài nó.

21. If knowledge of the mind (chitta) by a remoter mind is postulated, an infinite number of knowers must be inferred, and the sequence of memory reactions would tend to infinite confusion.

21. Nếu mặc nhiên công nhận rằng cái trí (chitta) có thể được biết [375] bởi một cái trí khác ở xa cách nó, thì tất phải có vô số thực thể hiểu biết, và trình tự các phản ứng của ký ức hẳn sẽ bị vô cùng lẫn lộn.

22. When the spiritual intelligence which stands alone and freed from objects, reflects itself in the mind stuff, then comes awareness of the Self.

22. Khi sự thông tuệ tinh thần, vốn độc lập và thoát khỏi mọi đối tượng, tự phản ánh trong trí tuệ chất, bấy giờ hành giả trực thức được chân ngã.

23. Then the mind stuff, reflecting both the knower and the knowable, becomes omniscient. [375]

23. Bấy giờ, trí tuệ chất phản ánh cả người tri thức và cái được hiểu biết, trở nên toàn tri. [375]

24. The mind stuff also, reflecting as it does an infinity of mind impressions, becomes the instrument of the Self and acts as a unifying agent.

24. Với khả năng phản ánh vô số ấn tượng của trí tuệ, trí tuệ chất cũng là khí cụ của Chân ngã, và có vai trò là tác nhân thống nhất.

25. The state of isolated unity (withdrawn into the true nature of the Self) is the reward of the man who can discriminate between the mind stuff and the Self, or spiritual man.

25. Trạng thái nhất như tự tại (thu tâm thức vào thực tính của Chân ngã) là phần thưởng cho những ai có thể phân biệt giữa trí tuệ chất và Chân ngã, hay con người tinh thần.

26. The mind then tends towards discrimination and increasing illumination as to the true nature of the one Self.

26. Bấy giờ cái trí có khả năng phân biện và ngày càng thấu ngộ thực tính của Chân ngã duy nhất.

27. Through force of habit, however, the mind will reflect other mental impressions and perceive objects of sensuous perception.

27. Tuy nhiên, do sức mạnh của thói quen, cái trí sẽ phản ánh các ấn tượng từ cõi trí và cảm nhận các đối tượng của nhận thức giác quan.

28. These reflections are of the nature of hindrances, and the method of their overcoming is the same.

28. Những phản ánh này có tính chất chướng ngại, thế nhưng phương pháp khắc phục chúng thì như nhau.

29. The man who develops non-attachment even in his aspiration after illumination and isolated unity, becomes aware, eventually, through practised discrimination, of the overshadowing cloud of spiritual knowledge.

29. Người đã phát triển hạnh buông xả, cho dù đối với khát vọng muốn được giác ngộ và được nhất như tự tại, rốt cuộc sẽ ý thức được nguồn hiểu biết tinh thần đang tuôn đổ xuống.

30. When this stage is reached then the hindrances and karma are overcome.

30. Đến giai đoạn này, các chướng ngại và nghiệp quả đã được vượt qua.

31. When, through the removal of the hindrances and the purification of all the sheaths, the totality of knowledge becomes available, naught further remains for the man to do.

31. Khi đã giải trừ chướng ngại và tinh luyện các thể, hành giả có toàn bộ hiểu biết, và không còn điều gì phải làm thêm.

32. The modifications of the mind stuff (or qualities of matter) through the inherent nature of the three gunas come to an end, for they have served their purpose.

32. Các biến thái của trí tuệ chất (hay đặc tính của vật chất), qua tính chất cố hữu của ba guna, nay chấm dứt, vì chúng đã phục vụ xong mục đích.

33. Time, which is the sequence of the modifications of the mind, likewise terminates, giving place to the Eternal Now.

33. Thời gian, vốn là trình tự các biến thái của thể trí, cũng chấm dứt, nhường chỗ cho Hiện tại Vĩnh cửu.

34. The state of isolated unity becomes possible when the three qualities of matter (the three gunas or potencies of nature) no longer exercise any hold over the Self. The pure spiritual consciousness withdraws into the One.

34. Có thể đạt đến trạng thái nhất như tự tại khi ba đặc tính của vật chất (là ba guna hay ba mãnh lực của thiên nhiên) không còn cầm giữ Chân ngã. Tâm thức tinh thần thuần khiết rút vào Đấng duy nhất.

THE YOGA SUTRAS OF PATANJALI