The outstanding characteristic of spirit (or energy) is the life-principle, that mysterious something which causes all things to be and to persist. The outstanding characteristic of the soul (or of force) is light. It brings into visibility that which exists.
Đặc tính nổi bật của tinh thần (hay năng lượng) là nguyên khí-sống. Nó là điều huyền nhiệm khiến cho muôn loài vạn vật hiện hữu và tồn tại. Đặc tính nổi bật của linh hồn (hay mãnh lực) là ánh sáng. Nó giúp cho vạn hữu trở nên hữu hình.
The outstanding characteristic of living matter is that it is that which "sub-stands" or is found back of the objective body; and provides the true form. It should be remembered here that the basis of all occult teaching and of all phenomena is to be found in the words:
Đặc tính quan trọng của vật chất sống là cái “nền tảng” tiềm ẩn trong cơ thể hữu hình. Nó tạo nên hình thể thực sự. Ở đây, cần ghi nhớ rằng cơ sở của trọn cả giáo huấn huyền môn và mọi hiện tượng trong các bầu thế giới, là câu phát biểu:
"Matter is the vehicle for the manifestation of soul on this plane of existence; and soul is the vehicle on a higher turn of the spiral for the manifestation of spirit." (Secret Doctrine I. 80.)
“Vật chất là phương tiện cho sự biểu hiện của linh hồn trên cảnh giới hiện hữu này; và linh hồn là phương tiện cho sự biểu hiện của tinh thần trên vòng tiến hóa cao hơn.” (Giáo lý Bí nhiệm I. 80.)
When the soul (or force) withdraws itself out of the matter aspect (the tangible objective form), that form is no longer to be seen. It disappears, and temporarily is dissipated. At present this can be adequately accomplished by the seer through a concentration of his consciousness in the ego, the spiritual man or soul, and (through the use of the thinking principle and an act of the will) his withdrawal of the etheric body from the dense physical. This is covered by the word "abstraction" and entails: [283]
Khi linh hồn (hay mãnh lực) tự rút lui khỏi phương diện vật chất (ngoại thể hữu hình), thì hình thể đó không còn được thấy. Nó biến mất, và tạm thời tiêu tan. Hiện nay, nhà nhãn thông có thể hoàn toàn thực hiện điều này qua việc tập trung tâm thức của mình vào chân ngã, con người tinh thần hay linh hồn. Và (qua việc sử dụng nguyên khí tư duy và tác động của ý chí) y rút thể dĩ thái ra khỏi thể xác. Việc làm này được gọi là “trừu tượng hóa” và bao gồm: [283]
1. A gathering together of the life or vital forces of the body into the physical plane nerve centres up the spine,
1. Việc thu góp các mãnh lực sống hay sinh lực của cơ thể vào các trung khu thần kinh dọc theo cột sống, trong thể xác,
2. Their direction up the spine to the head,
2. Việc điều khiển chúng đi lên qua cột sống đến đầu,
3. Their concentration there and subsequent abstraction along the thread or sutratma, via the pineal gland and the brahmarandra,
3. Tập trung chúng ở đó, và kế đến thu rút dọc theo sinh mệnh tuyến hay sutratma, qua tuyến tùng và qua brahmaranda,
4. The seer then stands in his true form, the etheric body, which is invisible to the human eye. As etheric vision develops in the race this will necessitate a further abstraction, then the seer will likewise withdraw the vital and luminous principles (the qualities of sattva and of rajas) out of the etheric body and stand in his kamic or astral body and thus be also etherically invisible. However, that time is still distant.
4. Giờ đây, nhà nhãn thông ở trong hình thể thực sự của mình là thể dĩ thái, nó vốn vô hình đối với thị giác của con người. Khi con mắt dĩ thái phát triển trong nhân loại, sẽ cần có việc rút lui thêm. Bấy giờ, nhà nhãn thông cũng rút luôn các nguyên khí sinh lực và nguyên khí phát quang (các đặc tính sattva và rajas) ra khỏi thể dĩ thái, và trụ trong thể tình cảm hay cảm dục của mình. Bằng cách này, y cũng trở nên vô hình ở cấp dĩ thái. Tuy nhiên, thời điểm đó hãy còn xa.
W. Q. Judge, in his commentary, makes certain interesting remarks, as follows: "Another great difference between this philosophy and modern science is here indicated. The schools of today lay down the rule that if there is a healthy eye in line with the rays of light reflected from an object—such as a human body—the latter will be seen, and that no action of the mind of the person looked at can inhibit the functions of the optic nerves and retina of the onlooker. But the ancient Hindus held that all things are seen by reason of that differentiation of Satwa—one of the three great qualities composing all things—which is manifested as luminosity, operating in conjunction with the eye, which is also a manifestation of Satwa in another aspect. The two must conjoin; the absence of luminosity [284] or its being disconnected from the seer's eye will cause a disappearance. And as the quality of luminosity is completely under the control of the ascetic, he can, by the process laid down, check it, and thus cut off from the eye of the other an essential element in the seeing of any object."
Trong phần luận giải của mình, ông W. Q. Judge có một số nhận xét thú vị như sau: “Ở đây có thêm một khác biệt lớn giữa triết thuyết này và khoa học hiện đại. Các trường phái hiện nay đưa ra qui tắc là nếu có một con mắt lành mạnh nằm trong đường đi của các tia sáng phản chiếu từ một vật thể − ví dụ như cơ thể người − thì mắt sẽ thấy được cơ thể đó. Bấy giờ, không hành động nào từ cái trí của người được quan sát có thể ức chế các chức năng thần kinh thị giác và võng mạc của người quan sát đó. Thế nhưng, người Ấn giáo thời xưa lại cho rằng tất cả các sự vật được thấy là do sự biến phân của Satwa − một trong ba đặc tính quan trọng cấu thành vạn vật. Đặc tính này được biểu hiện như là tính phát quang, tác động kèm theo hoạt động của mắt, vốn cũng là một phương diện biểu hiện khác của Satwa. Hai phương diện này phải kết hợp với nhau. Nếu thiếu tính phát quang, [284] hoặc nó bị tách khỏi mắt của người quan sát, thì đối tượng sẽ biến mất. Và khi đặc tính phát quang hoàn toàn chịu sự kiểm soát của người tu sĩ, thì y có thể, áp dụng một tiến trình, ngăn chặn nó, và do đó mà tách khỏi mắt của người kia một yếu tố quan trọng trong việc thấy được vật thể.”
This entire process is only possible as the result of concentrated and one pointed meditation, and hence is impossible to the man who has not passed through the long discipline and training involved in the work of gaining control of the thinking principle and setting up that direct alignment and functioning which is possible when the thinker on his own plane, the mind, and the brain, are all aligned and coordinated via the sutratma, thread or magnetic silver cord.
Chỉ có thể thực hiện trọn cả tiến trình này nhờ tham thiền tập trung và chuyên nhất. Vì thế, hành giả không thể thực hiện nếu chưa trải qua một thời gian dài nghiêm trì giới luật và rèn luyện cần để chế ngự nguyên khí tư duy, và thiết lập sự chỉnh hợp và hoạt động trực tiếp. Điều này khả dĩ có khi cả người suy tưởng trên cảnh giới của mình, thể trí, và não bộ đều chỉnh hợp và phối hợp qua sutratma, là sợi dây bạc từ lực.
22. Karma (or effects) are of two kinds: immediate karma or future karma. By perfectly concentrated meditation on these, the yogi knows the term of his experience in the three worlds. This knowledge comes also from signs.
22. Nghiệp quả (hay hậu quả) có hai loại: nghiệp quả hiện tại hay nghiệp quả tương lai. Qua tham thiền hoàn toàn tập trung về các loại nghiệp quả này, nhà yogi biết được phạm vi kinh nghiệm của mình trong tam giới. Sự hiểu biết này cũng nhờ xem các dấu hiệu.
This sutra can be somewhat elucidated if read in connection with Sutra 18 of Book III. The karma referred to here deals primarily with the present life of the aspirant or seer. He knows that every event in that life is the effect of a previous cause, initiated by himself in an early incarnation; he knows also that every act of the present life must produce an effect (to be worked [285] out in another life) unless it is done in such a way that:
Câu kinh này có thể phần nào sáng tỏ khi đọc cùng với Câu 18, Quyển III. Nghiệp quả được đề cập ở đây chủ yếu nói về kiếp sống hiện tại của người chí nguyện hay hành giả. Y biết rằng mọi sự kiện xảy ra trong đời này là hậu quả của một nguyên nhân đã có, do chính y phát khởi trong một tiền kiếp. Y cũng biết rằng mọi hành động trong hiện kiếp đều phải mang lại một hậu quả (sẽ được thể hiện trong một kiếp khác), [285] trừ phi hành động đó được thực hiện thế nào để:
1. The effect is immediate and culminates within the scope of the present life time,
1. Hậu quả xảy ra tức thì và hoàn tất trong phạm vi kiếp sống hiện tại,
2. The effect involves no Karma, for the act has been done from a selfless motive and carried out with complete detachment. He then produces the effect desired in accordance with the law but it carries no consequences for himself.
2. Hậu quả không tạo Nghiệp, vì hành động đã được thực hiện với động cơ vô kỷ, và tiến hành với thái độ hoàn toàn buông xả. Bấy giờ, y tạo nên kết quả đúng theo định luật, nhưng nó không mang lại hậu quả gì cho chính y.
When the seer enters into incarnation in a life wherein only a few more effects remain to be worked out, and when all that he initiates is freed from karma, then he can set a term to his life experience and he knows that the day of liberation is at hand. Through meditation and ability to function as the ego he can arrive at the world of causes, and he knows therefore what acts must be performed to release the few remaining effects. Through strict attention to the motive underlying every act of the present life he obviates the necessity for their effects to tie him in any way to the wheel of rebirth. Thus he consciously and intelligently nears his goal and every deed, act and thought is governed by direct knowledge, and in no way chains him.
Khi người tri kiến nhập thế trong một kiếp sống, ở đó chỉ còn một ít hậu quả cần phải thanh toán, và khi tất cả những gì y phát khởi đều không tạo nghiệp, thì bấy giờ y có thể bắt đầu một giai đoạn kinh nghiệm sống mới. Và bấy giờ y biết rằng ngày giải thoát gần kề. Qua tham thiền và khả năng có thể hoạt động như chân ngã, y có thể thấu đến thế giới của các nguyên nhân. Từ đó, y biết rằng cần phải thực hiện những hành động nào để giải tỏa một vài hậu quả còn sót lại. Nhờ thận trọng chú ý đến cái động cơ ẩn tàng của mọi hành động trong kiếp sống này, y loại trừ tính tất yếu khiến hậu quả của chúng ràng buộc y bằng bất cứ cách nào đó vào bánh xe luân hồi. Cứ thế, y tiến đến gần mục tiêu của mình một cách hữu thức và thông minh. Đồng thời, mọi hành vi, tác động và tư tưởng đều chịu chi phối bởi cái biết trực tiếp, và không hề xiềng xích y.
The signs or portents referred to, relate primarily to the mental world, where the real man dwells. Through an understanding of three things:
Những dấu hiệu hay điềm báo nêu trong câu kinh này, chính yếu liên quan đến cõi trí, là trú sở của chân nhân. Khi hiểu được ba điều sau đây:
a. Numbers,
a. Con số,
b. Colours,
b. màu sắc,
c. Vibrations,
c. Rung động,
the seer becomes aware of the freedom of his [286] aura from "death producing" effects. He knows there is nothing more written, symbolically, in the records which can bring him back to the three worlds, and therefore "by signs" his path is seen to be clear.
người tri kiến biết được thời điểm nào hào quang của y được giải thoát khỏi những hậu quả “dẫn đến sự tử vong.” [286] Nói theo lối biểu tượng, y biết rằng không điều gì được ghi thêm vào các ký ảnh có thể buộc y phải trở lại tam giới. Vì thế, “theo các dấu hiệu” y thấy con đường mình đi trở nên hanh thông.
This has been expressed for us in the ancient writings found in the Masters' archives as follows:
Điều này được phát biểu qua các tài liệu cổ xưa trong văn khố của các Chân sư, như sau:
"When the star with five points shines with clarity and no forms are seen within its points, the way is clear.
“Khi ngôi sao năm cánh chói rạng, và không còn hình thể nào thấy trong các cánh của nó, thì con đường trở nên hanh thông.
When the triangle encloses naught but light, the path is freed for the passing of the pilgrim.
Khi tam giác không còn gì khác hơn là ánh sáng, thì con đường rộng mở cho người tìm đạo đi qua.
When within the aura of the pilgrim the many forms die out and colours three are seen, then the road is freed from that which might obstruct.
Khi bên trong hào quang của người khách hành hương mọi hình thể đều lịm tắt, và chỉ thấy có ba màu, thì con đường của y không còn chướng ngại.
When thoughts call not to forms and when no shadows are reflected, the thread provides a way direct from the circle to the center.
Khi tư tưởng không còn tập chú vào hình thể, và không còn phản ánh bóng đen nào, thì sinh mệnh tuyến trở thành đường nối trực tiếp từ vòng tròn đến trung tâm.”
From that point of rest, no return is possible. The term of necessary experience in the three worlds is at an end. No karma then can draw the freed spirit back to earth for further lessons, or the working out of prior causes. He may, however, continue or resume his work of service in the three worlds, without ever really leaving his true home in the subtler realms and higher spheres of consciousness.
Từ điểm an nghỉ này, hành giả không quay lại. Thời gian thu thập kinh nghiệm cần thiết trong tam giới nay đã hết. Bấy giờ không còn nghiệp quả nào có thể lôi kéo tinh thần đã giải thoát trở lại trần gian để học hỏi thêm, hoặc để giải tỏa các nguyên nhân đã có. Tuy nhiên, y vẫn có thể tiếp tục hay tái tục công tác phụng sự của mình trong tam giới, mà không hề rời quê hương thực của mình trong các cảnh giới tinh anh, và những lĩnh vực tâm thức cao siêu.
23. Union with others is to be gained through one-pointed meditation upon the three states of feeling—compassion, tenderness and dispassion.
23. Hành giả hợp nhất với người khác khi nhất tâm tham thiền về ba trạng thái của tình cảm − lòng từ bi, nhân hậu và vô dục.
Some understanding of this will come if the student will compare this sutra with one in the [287] first book (Sutra 33). The union here dealt with marks a step further than the previous attainment. In that, the nature of the aspirant is being trained to harmonious peaceful association with all around him. In this, he is taught to identify himself with all other selves through concentration upon what are sometimes called the "three states of feeling." These are:
Người môn sinh sẽ hiểu được phần nào câu kinh này, khi so sánh nó với một câu [287] trong quyển đầu (Câu kinh 33). Sự hợp nhất được bàn ở đây đánh dấu một bước tiến xa hơn những gì mà trước kia đã đạt. Trong đó, người chí nguyện rèn luyện tâm tính để kết hợp hài hòa và an bình với mọi người và mọi vật ở chung quanh mình. Trong sự hợp nhất này, y học cách tự đồng nhất với mọi chúng sinh khác, qua việc tập trung vào những gì mà đôi khi được gọi là “ba trạng thái của tình cảm.” Đó là:
a. Compassion, the antithesis of passion which is selfish and grasping,
a. Lòng từ bi, tương phản với sự si mê, vốn vị kỷ và tham lam,
b. Tenderness, the antithesis of self-centredness, which is always hard and self-absorbed,
b. Lòng nhân hậu, tương phản với thái độ xem mình là trung tâm, vốn luôn luôn chai rắn và chỉ nghĩ đến mình.
c. Dispassion, the antithesis of lust or desire.
c. Hạnh vô dục, tương phản với sự tham dục hay dục vọng.
These three states of feeling when understood and entered into, put a man en rapport with the soul of all men.
Khi thấu hiểu và thâm nhập vào ba trạng thái nói trên của tình cảm, hành giả hòa hợp với linh hồn của mọi người.
Through compassion, he is no longer occupied with his own selfish interests but enters into and suffers with his brother; he can adapt his vibration so that it responds to his brother's need; he is enabled to share in all that is taking place in his brother's heart. This he does through the keying up of his own vibration to respond to the love nature of his own ego, and through that unifying principle all hearts everywhere are open to him.
Với lòng từ bi, y không còn bận bịu đến những mối quan tâm vị kỷ của riêng mình. Y thấu hiểu và cảm thông với người huynh đệ của mình. Y có thể điều chỉnh rung động của mình để nó đáp ứng với nhu cầu của người huynh đệ. Y có thể chia sẻ tất cả những gì đang xảy ra trong tâm của người huynh đệ. Điều này được thực hiện bằng cách nâng cao sự rung động của mình để ứng đáp với bản tính yêu thương của chân ngã nơi mình. Qua nguyên khí thống nhất này, tâm hồn của mọi người ở khắp nơi mở ra với y.
Through tenderness, that compassionate understanding works out into practical expression. His activities are no longer in-going and self-centred but are out-going and inspired by an unselfish heartfelt desire to serve and aid. This state of feeling is sometimes called mercy, and characterizes all the servers of the race. It involves active [288] help, unselfish intent, wise judgment and loving activity. It is free from any wish for reward or recognition. This has been beautifully covered by H. P. Blavatsky in The Voice of the Silence in the following words:
Với lòng nhân hậu, sự thông cảm yêu thương nói trên thể hiện thành những biểu lộ thực tiễn. Hoạt động của y không còn hướng nội và xem mình là trung tâm. Nay y hướng ra ngoài với lòng thiết tha bất vị kỷ muốn phụng sự và giúp đỡ. Trạng thái tình cảm này đôi khi được gọi là lòng nhân từ, là đặc trưng của tất cả những người phụng sự nhân loại. Nó bao gồm sự trợ giúp tích cực, [288] ý định vô kỷ, phán đoán khôn ngoan, và hoạt động với tình thương. Nó không còn dấu vết nào của mong muốn được phần thưởng hay công nhận. Điều này đã được H. P. Blavatsky diễn tả rất hay trong quyển Tiếng nói của Im lặng, qua những lời lẽ sau đây:
"Let thy Soul lend its ear to every cry of pain like as the lotus bares its heart to drink the morning sun.
“Hãy để Linh hồn bạn lắng nghe mọi tiếng kêu đau khổ như đóa hoa sen mở lòng đón nhận ánh nắng ban mai.
Let not the fierce sun dry one tear of pain before thyself hast wiped it from the sufferer's eye.
Đừng để nắng gắt làm khô đi dù chỉ một giọt nước mắt bi thương trước khi chính bạn lau sạch nó khỏi mắt của người khốn khổ.
But let each burning human tear drop on thy heart and there remain; nor ever brush it off until the pain that caused it is removed.
Nhưng hãy để mỗi giọt nước mắt cháy bỏng của con người rơi vào tim bạn và vẫn còn ở đó. Đừng bao giờ gạt bỏ nó nếu nguyên nhân gây đau khổ chưa bị loại trừ.
These tears, O thou of heart most merciful, these are the streams that irrigate the fields of charity immortal."
Hỡi kẻ có tâm từ ái, những giọt nước mắt này là dòng nước tưới mát cánh đồng từ thiện bất diệt.”
Through dispassion, the aspirant and server stands free from the karmic results of his activity on behalf of others. It is, as we know, our own desire which binds us to the three worlds and to others. "Binding to" is of a different nature to "union with." One is full of desire and causes obligation and effects; the other is free from desire, produces "identification with" and has no binding effects in the three worlds. Dispassion has more of a mental quality than the other two. It might be noted that dispassion brings in the quality of lower mind, tenderness is the emotional result of dispassionate compassion and involves the kamic or astral principle, whilst compassion concerns also the physical plane for it is the working out into physical manifestation of the two other states. It is the practical ability to identify oneself with another in all the three world conditions.
Với hạnh vô dục, người chí nguyện phụng sự không hề bị ràng buộc bởi nghiệp quả của những điều y làm cho người khác. Như chúng ta biết, chính sự ham muốn của mỗi người ràng buộc họ vào tam giới, và vào người khác. Tất nhiên, “bị ràng buộc vào” thì khác hẳn “sự hợp nhất với.” một đàng thì đầy dục vọng, gây nên sự trói buộc và hậu quả. Đàng kia thì không còn ham muốn, mang lại sự “đồng nhất với” và không có hậu quả ràng buộc trong tam giới. Hạnh vô dục có đặc tính trí tuệ hơn hai trạng thái kia. Có thể thấy rằng hạnh vô dục mang đặc tính của hạ trí. Lòng nhân hậu là kết quả về mặt tình cảm của lòng thương xót vô tư, và bao gồm nguyên khí kama hay cảm dục. Trong khi lòng từ bi cũng liên quan đến cõi trần, bởi vì nó là sự biểu hiện của hai trạng thái kia ở cõi hồng trần. Đó là khả năng thực sự tự đồng nhất với người khác trong mọi tình huống trong tam giới.
This union is the result of the egoic oneness [289] brought down into full activity in the three worlds through meditation.
Sự hợp nhất này là do tính duy nhất của chân ngã [289]được đưa vào tác động trọn vẹn trong tam giới qua tham thiền.
24. Meditation, one-pointedly centred upon the power of the elephant, will awaken that force or light.
24. Tham thiền tập trung chuyên nhất vào năng lực của con voi, sẽ khơi dậy mãnh lực hay ánh sáng ấy.
This sutra has given rise to much discussion and its usual interpretation has given the idea that meditation upon the elephant will give the strength of the elephant. Many commentators infer from these words, that meditation upon other animals will give their characteristics.
Câu kinh này đã gây nhiều bàn cãi, và thường được giải thích khiến người ta hiểu lầm rằng tham thiền về con voi sẽ có sức mạnh của con voi. Từ lời lẽ nói trên, nhiều nhà luận giải còn suy diễn rằng tham thiền về những loài vật khác sẽ có được đặc tính của chúng.
It should be remembered that this is a scientific text-book, having for its objective the following:
Cần lưu ý rằng đây là một giáo trình có tính khoa học, với những mục tiêu như sau:
1. Training the aspirant so that he can enter into subtler realms.
1. Rèn luyện người chí nguyện để y có thể đi vào các lĩnh vực tế vi hơn.
2. Giving him power over the mind, so that it is his instrument to use as he will as an organ of vision into the higher worlds and as a transmitter or intermediary between the soul and the brain.
2. Giúp y có năng lực chế ngự cái trí. Từ đó, y có thể tùy ý sử dụng nó như một khí cụ, một cơ quan thị giác nhìn vào các cảnh giới cao siêu, và như một phương tiện truyền đạt hay trung gian giữa linh hồn và não bộ.
3. Awakening the light in the head so that the aspirant can become a radiant centre of light and illumine all problems, and through its light see light everywhere.
3. Khơi dậy ánh sáng bên trong đầu, nhờ đó y có thể trở thành một trung tâm ánh sáng chói rạng và soi tỏ mọi vấn đề, và qua ánh sáng đó y thấy ánh sáng ở khắp nơi.
4. Arousing the fires of the body so that the centres become active, luminous, connected and coordinated.
4. Khơi hoạt các loại lửa trong cơ thể, do đó các luân xa trở nên linh hoạt, phát quang, được liên kết và phối hợp.
5. Producing a coordination between:
5. Tạo sự phối hợp giữa:
a. The ego or soul on its own plane,
a. Chân ngã hay linh hồn trên cảnh giới của mình,
b. The brain via the mind,
b. Não bộ, qua thể trí,
c. The centres. By an act of the will they can then all be thrown into uniform activity.
c. Các luân xa. Với tác động của ý chí, bấy giờ tất cả có thể thống nhất hoạt động.
6. This effected, the fire at the base of the spine, dormant hitherto, will be aroused and can proceed upward with security, blending ultimately with the fire or light in the head, and so pass out, having "burned out all dross, and left all channels clear" for the use of the ego.
6. Khi đã thực hiện điều này, luồng hỏa ở chót xương sống, từ trước đến giờ vẫn ngủ yên, sẽ được khơi hoạt và có thể đi lên một cách an toàn. Cuối cùng nó hòa hợp với lửa hay ánh sáng bên trong đầu, rồi ra ngoài, sau khi đã “đốt tan mọi cặn bã, và để lại tất cả các đường dẫn truyền thông thoáng” cho chân ngã sử dụng.
7. Developing thus the powers of the soul; the siddhis, higher and lower, so that an efficient server of the race is produced.
7. Bằng cách này, phát triển các quyền năng của linh hồn, các siddhi, cao và thấp. Hành giả trở thành một người phụng sự hiệu quả cho nhân loại.
When these seven points are borne in mind, it is interesting to note that the symbol of the centre at the base of the spine, the muladhara centre, is the elephant. It is the symbol of strength, of concentrated power, of the great moving force, which once aroused, carries all before it. It is for our fifth root race, the symbol of the most powerful and mighty of the animal kingdom. It is a picture of the transmutation or sublimation of the animal nature, for at the base of the spine is the elephant and in the head is the thousand petalled lotus hiding Vishnu, seated in the centre. Thus is the animal nature carried upward into heaven.
Khi đã hiểu bảy điểm nói trên, chúng ta sẽ thú vị thấy rằng biểu tượng của luân xa ở chót xương sống, luân xa muladhara, chính là con voi. Nó là biểu tượng của sức mạnh, của năng lực tập trung, động lực cường mãnh, khi được khơi hoạt, sẽ tác động vào tất cả những gì trên đường đi của nó. Biểu tượng của con vật mạnh mẽ và hùng dũng nhất này trong loài vật là dành cho căn chủng thứ năm hiện nay. Đó là hình ảnh siêu hóa hay thăng hoa của thú tính. Bởi vì con voi ở trong [265] luân xa chót xương sống, trong khi ở đầu có hoa sen ngàn cánh, với Đấng Vishnu ngự ở trung tâm. Thế là thú tính được thăng hóa lên cõi thiêng liêng.
By meditation upon this "elephant force," the power of the third aspect, the energy of matter itself and therefore of God the Holy Ghost or of Brahma, is aroused and conjoined to that of the second or consciousness aspect, to soul energy, that of Vishnu, the second aspect, the Christ force. This produces the perfect at-one-ment, or union between soul and body, which is the true goal of Raja Yoga.
Bằng cách tham thiền về “mãnh lực của chú voi” này, quyền năng của trạng thái thứ ba, năng lượng của chính vật chất và vì thế của Chúa Thánh Thần hay của Brahma, được khơi hoạt và hợp nhất với quyền năng của trạng thái thứ hai hay trạng thái tâm thức, với năng lượng của linh hồn, của Vishnu, trạng thái thứ hai, mãnh lực Christ. Đây là sự nhất quán, hay hợp nhất hoàn hảo giữa linh hồn và cơ thể, vốn là mục tiêu đích thực của Raja Yoga.
Will the students of this science remember here, [291] however, that these forms of one-pointed meditation are only permitted after the eight means of yoga (dealt with in Book II) have been followed.
Tuy nhiên, ở đây các môn sinh của khoa yoga này cần nhớ rằng chỉ được phép thực hành [291] những hình thức thiền chuyên nhất nói trên sau khi hành giả đã theo đúng tám phương tiện của yoga (bàn trong Quyển II).
25. Perfectly concentrated meditation upon the awakened light will produce the consciousness of that which is subtle, hidden or remote.
25. Tham thiền hoàn toàn tập trung vào ánh sáng đã khơi hoạt, hành giả sẽ ý thức được những gì tinh tế, ẩn tàng, hoặc ở xa.
Throughout all teachings of an occult or mystical nature reference is found frequently to what is called the "Light." The Bible has many such passages as have all the Scriptures of the world. Many terms are applied to this but space only permits us to consider those to be found in the various translations of the Yoga Sutras of Patanjali. They might be enumerated as follows:
Xuyên suốt tất cả các giáo huấn có tính cách huyền môn hay thần bí, thường có đề cập đến điều gọi là “Ánh sáng.” Cùng với tất cả các Kinh điển khác trên thế giới, Kinh thánh cũng có nhiều đoạn như thế. Nhiều thuật ngữ được dùng cho vấn đề này. Thế nhưng ở đây chỉ đủ chỗ để xem xét những thuật ngữ đã dùng trong các bản dịch khác nhau từ Yoga Điển tắc của Patanjali. Có thể kể ra như sau:
a. The awakened inner Light (Johnston),
a. Ánh sáng nội tại linh hoạt (Johnston),
b. The Light in the head (Johnston),
b. Ánh sáng bên trong đầu (Johnston),
c. The Light of immediate cognition (intuitive knowledge) (Tatya),
c. Ánh sáng nhận thức trực tiếp (hiểu biết trực giác) (Tatya),
d. That effulgent Light (Vivekananda),
d. Ánh sáng rực rỡ, huy hoàng (Vivekananda),
e. The Light from the top of the head (Vivekananda),
e. Ánh sáng trên đỉnh đầu (Vivekananda),
f. The coronal Light (Ganganatha Jha),
f. Ánh sáng hào quang (Ganganatha Jha),
g. The Light of the luminous disposition (Ganganatha Jha),
g. Ánh sáng chói rạng (Ganganatha Jha),
h. The inner Light (Dvivedi),
h. Ánh sáng nội tại (Dvivedi),
i. The mind, full of Light (Dvivedi),
i. Cái trí, đầy Ánh sáng (Dvivedi),
j. The radiance in the head (Woods),
j. Sự phát quang bên trong đầu (Woods),
k. The luminosity of the central organ (Rama Prasad),
k. Sự tỏa sáng của cơ quan trung ương (Rama Prasad),
1. The Light of the higher sense-activity (Rama Prasad).
l. Ánh sáng của hoạt động-quan năng cao (Rama Prasad).
From a study of these terms it will be apparent [292] that within the physical vehicle there is to be found a point of luminosity which (when contacted) will pour the light of the spirit upon the path of the disciple, thus illuminating the way, revealing the solution of all problems, and enabling him to stand as a light bearer to others.
Qua nghiên cứu các thuật ngữ nói trên, chúng ta sẽ thấy rõ rằng [292] bên trong thể xác có một điểm phát quang. Khi được tiếp xúc, nó sẽ chiếu rọi ánh sáng tinh thần trên lối đi của người đệ tử. Bằng cách đó, nó soi sáng con đường đạo, hé lộ giải pháp cho tất cả các vấn đề, và giúp y đứng vững như một người mang ánh sáng đến cho kẻ khác.
This light is in the nature of an internal radiance, its position is in the head, in the neighborhood of the pineal gland, and it is produced by the activity of the soul.
Ánh sáng này có tính cách là một sự phóng chiếu nội tại, có vị trí bên trong đầu, ở vùng gần tuyến tùng, và do kết quả sự hoạt động của linh hồn.
A good deal of discussion has been aroused, by the term "central organ" associated with this light. Some commentators refer this to the heart, others to the head. Technically neither of them are entirely right, for to the trained adept the "central organ" is the causal vehicle, the karana sarira, the body of the ego, the sheath of the soul. This is the middle of the "three periodical vehicles" which the divine Son of God discovers and utilizes in the course of his long pilgrimage. These find their analogies in the three temples found in the Christian Bible:
Đã có rất nhiều bàn cãi về từ “cơ quan trung ương” kết hợp với ánh sáng này. một số nhà luận giải nói rằng đó là tim; những người khác thì nói là đầu. Về mặt kỹ thuật, không ai trong họ là hoàn toàn đúng. Vì đối với bậc thành thạo, lão luyện thì “cơ quan trung ương” là thể nguyên nhân, là karana sarira, thể của chân ngã, lớp áo của linh hồn. Đây là thể trung gian trong “ba vận cụ định kỳ” mà người Con thiêng liêng của Thượng Đế tìm ra và sử dụng trong cuộc hành hương lâu dài của mình. Ba thể này tương đồng với ba ngôi đền đã nêu trong Kinh thánh Thiên Chúa giáo.
1. The transitory ephemeral tabernacle in the wilderness, typical of the soul in physical incarnation, persisting for one life.
1. Ngôi thánh đường xây dựng tạm thời trong hoang mạc, tiêu biểu cho linh hồn đang giáng trần, chỉ tồn tại trong một kiếp sống.
2. The more permanent and beautiful temple of Solomon, typical of the soul body or causal vehicle, of longer duration and persisting for aeons, and increasingly revealed in its beauty upon the Path up to the third initiation.
2. Ngôi đền Solomon, trường tồn và xinh đẹp hơn, tiêu biểu cho thể của linh hồn hay thể nguyên nhân. Thể này tồn tại lâu hơn qua nhiều thời đại. Nó ngày càng biểu lộ vẻ đẹp của nó trên Đường Đạo, mãi đến lần điểm đạo thứ ba.
3. The, as yet, unrevealed and inconceivably beautiful, temple of Ezekiel, the symbol of the sheath of the spirit, the home of the Father, one [293] of the "many mansions," the "auric egg" of the occultist.
3. Ngôi đền của Ezekiel, chưa hiển lộ và xinh đẹp không thể tả. Nó tiêu biểu cho lớp áo của tinh thần, ngôi nhà của Đấng Cha lành, một trong “nhiều tòa lâu đài,” [293] hay là “noãn hào quang” của nhà huyền bí học.
In the science of yoga, which has to be wrought out and mastered in the physical body the term "central organ" is applied to the head or the heart, and the distinction is one of time primarily. The heart in the earlier stages of unfoldment upon the Path is the central organ; later it is the organ in the head where the true light has its abiding place.
Với khoa yoga cần luyện tập và thấu triệt trong thể xác, thì thuật ngữ “cơ quan trung ương” được áp dụng cho luân xa đầu hay luân xa tim, và sự phân biệt chính yếu là theo thời gian. Trong các giai đoạn đầu khai mở trên Đường Đạo, luân xa tim là cơ quan trung ương. Về sau, cơ quan này ở bên trong đầu, là trú sở của ánh sáng thực sự.
In the process of unfoldment, heart development precedes head development. The emotional nature and the senses unfold prior to the mind, as can be seen if we study humanity as a whole. The heart centre opens before the head centre. Love must ever be developed before power can be safely used. Therefore the light of love must be functioning before the light of life can be consciously employed.
Trong tiến trình khai mở, luân xa tim phát triển trước luân xa đầu. Trong toàn nhân loại, chúng ta có thể thấy bản chất tình cảm và các giác quan khai mở trước cái trí. Luân xa tim khai mở trước luân xa đầu. Bao giờ cũng phải phát triển tình thương trước khi có thể sử dụng quyền năng an toàn. Thế nên, ánh sáng của tình thương phải khởi hoạt, trước khi ánh sáng của sự sống có thể được sử dụng một cách hữu thức.
As the lotus centre of the heart opens and reveals the love of God, through meditation a synchronous unfoldment takes place within the head. The twelve petalled lotus in the head (which is the higher correspondence of the heart centre, and the intermediary between the twelve petalled egoic lotus on its own plane and the head centre) awakens. The pineal gland is gradually brought from a state of atrophy to full functioning activity and the centre of consciousness is transferred out of the emotional nature into the illuminated mind consciousness. This marks the transition which the mystic has to make onto the path of the occultist, keeping, as he always does, his mystical [294] knowledge and awareness but adding to it the intellectual knowledge and conscious power of the trained occultist and yogi.
Khi hoa sen của luân xa tim mở ra và hiển lộ tình thương của Thượng Đế, thì qua tham thiền một sự khai mở đồng bộ xảy ra bên trong đầu. Hoa sen mười hai cánh bên trong luân xa đầu cũng bừng nở. Nó là tương ứng ở cấp cao của luân xa tim, và là trung gian giữa hoa sen mười hai cánh của chân ngã trên cảnh giới của mình với luân xa tim. Tuyến tùng từ trạng thái yếu ớt dần dần trở nên hoàn toàn linh hoạt. Trung tâm của ý thức được chuyển ra khỏi cấp tình cảm vào ý thức khai ngộ của cái trí. Đây là giai đoạn chuyển tiếp mà nhà thần bí phải thực hiện để tiến lên con đường của nhà huyền bí học. Y vẫn giữ kiến thức và ý thức thần bí của mình, nhưng [294] thêm vào đó là sự hiểu biết trí tuệ và năng lực hữu thức của nhà huyền bí học và nhà yogi thành thạo.
From the point of power in the head the yogi directs all his affairs and undertakings, throwing upon all events, circumstances and problems the "awakened inner light." In this he is guided by the love, insight and wisdom which is his through the transmutation of his love nature, the awakening of his heart centre and the transference of the fires of the solar plexus to the heart.
Từ điểm quyền lực bên trong đầu, nhà yogi điều hành tất cả các công việc và kế hoạch của mình. Y dùng “ánh sáng nội tại đã bừng chiếu” để soi tỏ mọi sự kiện, các tình huống và những vấn đề khó khăn. Trong cố gắng này, y được sự hướng dẫn của tình thương, sự thấu hiểu và minh triết. Đó là những gì y gặt hái được nhờ siêu hóa tình thương riêng tư, sự khơi hoạt luân xa tim, và chuyển lửa của tùng thái dương lên luân xa tim.
It might be asked very pertinently here how this junction between head and heart, producing the luminosity of the central organ and the emission of the inner radiance can be brought about. Briefly stated, it is produced as follows:
Ở đây, có thể rất thích hợp để đặt vấn đề làm thế nào tạo sự kết hợp giữa đầu và tim, khiến cho cơ quan trung ương tỏa sáng và mang lại sự phóng quang nội tại. Về cách thực hành, có thể nêu vắn tắt như sau:
1. Through the subjugation of the lower nature which transfers the activity of all the life below the solar plexus and including the solar plexus, into the three centres above the diaphragm, the head, heart and throat. This is done through life, love and service, not through breathing exercise and sitting for development.
1. Qua sự chế ngự phàm tính để chuyển toàn bộ sinh hoạt bên dưới tùng thái dương gồm cả tùng thái dương, vào ba luân xa bên trên cơ hoành. Đó là luân xa đầu, luân xa tim, và luân xa cổ họng. Điều này được thực hiện trong đời sống, qua tình thương và phụng sự, chứ không qua việc luyện tập hơi thở, và ngồi chờ phát triển.
2. Through the practice of love, the focussing of the attention upon the heart life and service, and the realization that the heart centre is the reflection in man of the soul, and that this soul should guide the heart issues from the throne or the seat between the eyebrows.
2. Qua thực hành yêu thương, tập trung chú ý vào cuộc sống và phụng sự thành tâm. Hành giả cũng nhận thức rằng luân xa tim là phản ánh của linh hồn trong phàm nhân, và hiểu rằng linh hồn sẽ hướng dẫn những vấn đề nội tâm từ điểm trụ ở luân xa giữa hai chân mày.
3. Through a knowledge of meditation. Through meditation, which is the exemplification of the basic yoga aphorism "energy follows thought," all the unfoldments and developments [295] which the aspirant desires are brought about. Through meditation, the heart centre, which in undeveloped man is pictured as a closed lotus turned downwards, is reversed, turned upwards and unfolded. At its heart is the light of love. The radiance of this light, being turned upwards, illumines the path to God, but is not the Path, except in the sense that as we tread upon that which the heart desires (in a lower sense) that path leads us on to the Path itself.
3. Qua sự hiểu biết kỹ thuật tham thiền. Vốn tiêu biểu cho câu châm ngôn cơ bản của yoga “năng lượng đi theo tư tưởng,” tham thiền giúp mang lại tất cả [295] những khai mở và phát triển cần thiết. Ở người kém phát triển, luân xa tim giống như một búp sen hướng xuống. Qua tham thiền, nó chuyển hướng, quay lên trên và bừng nở. Ở tâm hoa sen này có ánh sáng yêu thương. Với phóng quang hướng thượng, nó soi sáng đường về với Thượng Đế. Thế nhưng đó chưa phải là Đường Đạo. Nó chỉ có nghĩa là khi chúng ta tiến theo con đường mà cái tâm mong muốn (theo ý nghĩa cấp thấp), thì con đường đó sẽ dắt chúng ta đến chính Con Đường Đạo.
Perhaps clarity will come if we realize that part of the path is within ourselves and this the heart reveals. It leads us to the head, where we find the first portal of the Path proper and enter upon that part of the path of life which conducts us away from the body-life, to the fullest liberation from experience in the flesh and in the three worlds.
Có lẽ vấn đề sẽ sáng tỏ hơn khi chúng ta hiểu rằng một phần của con đường vốn ở bên trong chúng ta, và được cái tâm hé lộ. Nó đưa chúng ta lên luân xa đầu, nơi có cánh cửa đầu tiên của Đường Đạo đích thực. Ở đó, chúng ta đi vào giai đoạn của con đường sống vượt khỏi cuộc sống trong thân xác. Từ đó, chúng ta hoàn toàn giải thoát khỏi các kinh nghiệm trong thân xác và trong tam giới.
It is all one path, but the Path of Initiation has to be trodden consciously by the thinker functioning through the central organ in the head, and from there intelligently traversing the Path which leads through the three worlds to the realm or kingdom of the soul. It might be stated here that the awakening of the heart centre leads a man to consciousness of the source of the heart centre within the head. This in turn leads a man to the twelve-petalled lotus, the egoic centre on the higher levels of the mental plane. The path from the heart centre to the head, when followed, is the reflection in the body of the building of the antaskarana on the mental plane. "As above, SO below." [296]
Tất cả chỉ là một con đường. Thế nhưng, người suy tưởng đang hoạt động qua cơ quan trung ương bên trong đầu phải dấn bước lên Con đường Điểm đạo. Từ đó, với sự thông tuệ, y tiến lên trên Đường Đạo ngang qua tam giới để đến trường tiến hóa của linh hồn. Ở đây, có thể nói rằng, việc đánh thức luân xa tim giúp hành giả ý thức được nguồn của luân xa tim bên trong đầu. Với ý thức đó, y tiến đến hoa sen mười hai cánh, trung tâm của chân ngã trên các cấp cao của cõi trí. Đi theo con đường từ luân xa tim đến luân xa đầu, là phản ánh trong cơ thể của việc kiến tạo cầu antahkarana trên cõi trí. “Trên sao, dưới vậy.” [296]
4. Through perfectly concentrated meditation in the head. This carries on automatically the increased stimulation and awakening of the centres up the spine, five in number, arouses the sixth centre, the one between the eyebrows, and in time reveals to the aspirant, the exit at the top of the head, which can be seen as a radiant circle of pure white light. This begins as a mere pin point and passes through various stages of increasing glory and radiant light until the Portal itself stands revealed. More along this line is not permissible.
4. Qua tham thiền tập trung bên trong đầu. Cố gắng này tự động tăng tiến sức kích thích và thức động năm luân xa dọc theo cột sống. Nó cũng khơi đậy luân xa thứ sáu, ở giữa hai chân mày, và đúng lúc sẽ hé lộ cho hành giả thấy lối thoát ở đỉnh đầu, có hình ảnh giống như một vòng ánh sáng trắng chói rạng và thanh khiết. Lúc đầu nó chỉ nhỏ như mũi kim. Qua các giai đoạn phát triển khác nhau, nó trở nên ánh sáng ngày càng chói rạng cho đến khi hiển lộ chính Cửa đạo. Không được phép nói thêm về vấn đề này.
This light in the head is the great revealer, the great purifier, and the medium whereby the disciple fulfills the command of the Christ, "Let your light shine." It is the "path of the just which shineth ever more and more until the perfect day." It is that which produces the halo or circle of light seen around the heads of all the sons of God who have come or are coming into their heritage.
Ánh sáng bên trong đầu nói trên là tác nhân làm hiển lộ, và tinh luyện rất quan trọng. Nhờ đó mà người đệ tử hoàn thành lời dạy của Đức Christ, “Hãy làm cho ánh sáng của ngươi chói rạng.” Đó là “con đường của người công chính cứ mãi chói rạng cho đến ngày hoàn mãn.” Đó là yếu tố tạo nên hào quang hay vòng ánh sáng chung quanh đầu của những người con Thượng Đế đã và đang thừa hưởng di sản của mình.
Through this light, as Patanjali here points out, we become conscious of that which is subtle, or of those things which can only be known through a conscious use of our subtle bodies. These subtle bodies are the means whereby we function upon the inner planes, such as the emotional or astral plane and the mental. At present the majority of us function on these planes unconsciously. Through this light we also become conscious of that which is hidden or as yet unrevealed. The Mysteries are revealed to the man whose light is shining and he becomes a knower. [297] That which is remote or the future is likewise unfolded to him.
Như Patanjali nêu ở đây, qua ánh sáng này chúng ta có thể ý thức được những điều tinh tế. Đó là những gì chúng ta chỉ biết được khi hữu thức sử dụng các thể thanh của mình. Những thể thanh này là các phương tiện để chúng ta hoạt động trên các nội giới, như cõi tình cảm hay cõi cảm dục và cõi trí. Hiện nay, hầu hết chúng ta đều đang hoạt động trên các cảnh giới này một cách vô thức. Qua ánh sáng kể trên, chúng ta cũng có thể biết được những gì còn ẩn tàng hay chưa được hiển lộ. Các Bí nhiệm được khai thị cho người nào có ánh sáng chói rạng và là một thức giả. [297]Những gì ở xa hoặc trong tương lai cũng được hé lộ cho y thấy.
26. Through meditation, one-pointedly fixed upon the sun, will come a consciousness (or knowledge) of the seven worlds.
26. Qua tham thiền nhất tâm về mặt trời, hành giả sẽ ý thức (hay biết) được bảy cảnh giới.
This passage has been commented upon at length by many writers for many centuries. Simply for the sake of clarity let us modernize the statement and reduce its terms to those of modern occultism.
Câu kinh này đã được nhiều tác giả bình luận rất nhiều qua nhiều thế kỷ. Để sáng tỏ hơn, chúng ta hãy phát biểu nó theo lối mới, và chuyển dịch nó theo thuật ngữ của khoa huyền bí học hiện nay.
"By constant steady meditation upon the emanating cause of our solar system will come a realization of the seven states of being." The various terms used here serve frequently to confuse the student and it might be wise if we used only two sets of terms, one conveying the orthodox oriental terminology as found in the best commentaries, and the other the one most easily recognizable by the western investigator. Using Wood's translation we find the following:
“Bằng cách tham thiền chuyên chú về nguyên nhân phát khởi của thái dương hệ này, hành giả sẽ nhận thức được bảy trạng thái hiện tồn.” Các thuật ngữ khác nhau được dùng ở đây thường khiến cho người môn sinh bối rối. Có lẽ chúng ta chỉ nên dùng hai nhóm thuật ngữ. một nhóm tiêu biểu cho các thuật ngữ chính thống của phương Đông, được dùng trong các bản luận giải hay nhất. Nhóm kia gồm những từ dễ hiểu nhất cho các nhà khảo cứu phương Tây. Với bản dịch của Woods, ta có các thuật ngữ sau đây:
|
| 7. Satya....the world of those Gods who are unmanifest.
|
|
| Brahma
< 6. Tapas...the world of the self-luminous Gods
|
|
Svar
<
| 5. Jana.....the lowest of the Brahma world
|
4. Mahar Prajapatya.........the great world
| |
3. Mahendra.....................the home of the Agnishvattas(the Egos).
2. Antariksa......................the intermediate space.
1. Bhu..............................the earth world.
This differentiation of the world into seven [298] great divisions is also interesting in so far as it demonstrates the equal accuracy of the fivefold division which some of the commentators hold.
Sự phân hóa này của thế giới thành bảy phần chính đại [298] cũng rất thú vị. Nó cho thấy sự chính xác tương tự khi một số nhà luận giải lại phân chia thế giới thành năm phần.
These seven worlds correspond to the modern occult division of our solar system into seven planes embodying seven states of consciousness and enfolding seven great types of living beings. The analogy will be seen as follows:
Bảy cảnh giới nói trên tương ứng với việc huyền bí học hiện nay phân chia thái dương hệ của chúng ta thành bảy cảnh giới. Bảy cảnh giới này thể hiện bảy trạng thái tâm thức và bao gồm bảy đẳng cấp chính của các sinh linh. Chúng ta có thể thấy sự tương đồng như sau:
1. Physical Plane Bhu Earth world.
Physical consciousness.
2. Astral Plane Antariksa World of the emotions.
Kamic or desire consciousness.
3. Mental Plane Mahendra World of the mind and of the soul.
Mind consciousness.
4. Buddhic Plane Mahar Prajapatya Christ world.
Intuitional or Christ consciousness.
Group consciousness.
5. Atmic Plane Jana Spiritual world.
Planetary consciousness.
World of the third aspect.
6. Monadic Plane Tapas Divine world.
God-consciousness.
World of the second aspect.
7. Logoic Plane Tatya World of the emanating cause.
Absolute consciousness.
World of the first aspect. [299]
It is interesting to note certain comments of Vyasa on this differentiation, for they blend in with modern Theosophical thought.
[299] Điều thú vị là lưu ý một số nhận xét của Vyasa về sự phân hóa này. Vì nhận xét của ông cũng phù hợp với tư tưởng của giới Thần triết hiện nay.
The earth plane is described by him as "supported respectively by solid matter, by water, by fire, by wind, by air and by darkness... wherein living creatures, having been allotted a long and grievous length-of-life, feeling the misery incurred as the result of their own karma, are born." Comment here is needless.
Ông mô tả cõi trần là “bao gồm vật chất rắn, nước, lửa, gió, không khí, và bóng tối... theo thứ tự. Đó là nơi chào đời của những sinh vật, qua một thời gian lâu dài sống đau buồn, cảm thấy khốn khổ do nghiệp quả của mình.” Không cần bình luận thêm.
In connection with the second plane, the astral, reference is made to the fact that the stars (the lives), on that plane are "driven by the wind as cows are driven by the ploughman in a circle around the threshing floor" and that they are "regulated by the steady impulsion of the wind." We have here a wonderful picture of how all lives are driven by the force of their desires on the wheel of rebirth.
Về cảnh giới thứ hai, cõi cảm dục, ông đề cập đến việc các ngôi sao (các sinh linh) trên đó được “gió cuốn đi như những con bò được người lực điền dắt đi quanh sân đập lúa” và chúng “được vận hành theo sức gió thổi liên tục.” Đây là hình ảnh linh động về tình trạng cả chúng sinh đều bị thôi thúc như thế nào bởi sức mạnh ham muốn của họ, trong vòng luân hồi, sinh tử.
Vyasa notes that the mind world is peopled by six groups of Gods (the six groups of egos and their six rays, the six subrays of the one synthetic ray, which is apparently inferred). These are the sons of mind, the Agnishvattas (referred to at length in the Secret Doctrine and in A Treatise on Cosmic Fire) and they are portrayed as:
Vyasa nói rằng cõi trí gồm có sáu nhóm Thần (sáu nhóm chân ngã và sáu cung của họ, tức là sáu cung phụ của cung tổng hợp duy nhất, được suy diễn rõ). Đây là những người con của trí tuệ, hay là các Agnishvatta (được đề cập nhiều trong bộ Giáo lý Bí nhiệm và trong Luận về Lửa Vũ trụ), và được mô tả là:
1. Fulfilling their desires, therefore driven by desire to incarnate,
1. Đang tìm kiếm những điều họ muốn. Thế nên, ý muốn ấy thôi thúc họ giáng trần,
2. Endowed with atomisation and other powers, therefore able to create their vehicles of manifestation,
2. Được phú cho quyền năng phân thân và những quyền năng khác. Nhờ đó họ có thể tạo ra các thể biểu hiện của mình,
3. Living for a mundane period, therefore in incarnation during a world period, [300]
3. Sống qua một thời kỳ lâm phàm, và vì thế mà đầu thai trong một giai đoạn của thế giới, [300]
4. Goodly to behold, for the sons of God are luminous, radiant and full of beauty,
4. Có hình dạng xinh xắn, vì những người con của Thượng Đế đều tỏa sáng, rạng ngời, và đầy sự mỹ lệ,
5. Delighting in love, for love is the characteristic of the soul, and all sons of God, or sons of Mind reveal the love of the Father,
5. Hoan hỉ trong tình thương, vì tình thương là đặc trưng của linh hồn, và tất cả những người con của Thượng Đế, hay là con của Trí tuệ đều hiển lộ tình thương của Đấng Cha lành,
6. Possessing bodies of their own "not caused by parents," that body "not made by hands, eternal in the heavens" mentioned by St. Paul.
6. Có những thể riêng của mình “không do cha mẹ sinh ra.” Thể ấy “không do người tạo ra, mà vĩnh cửu trong cõi thiêng liêng” như Thánh Paul đã nói.
In connection with the fourth world, Vyasa notes that it is the world of mastery, therefore the home of the Masters, and all liberated souls whose "food is contemplation" and whose lives are "for a thousand mundane periods," therefore who have immortality.
Nói về cảnh giới thứ tư, Vyasa cho biết rằng đó là thế giới của sự tự chủ. Vì thế, nó là gia hương của các Chân sư và tất cả những linh hồn đã giải thoát. Họ dùng “thực phẩm là sự chiêm ngưỡng.” Họ sống “qua muôn ngàn thời kỳ lâm phàm,” vì họ vốn bất tử.
Then he describes the three highest planes, with the great existences who are the lives of those planes and in whom we "live and move and have our being." These correspond to the three planes of the Trinity and of these existences in their various groups, the following comments by Vyasa are illuminating. He states:
Rồi ông mô tả ba cảnh giới cao nhất. Ở đó có những đấng cao cả mà chúng ta “sống, di chuyển, và hiện tồn” trong các ngài. Các cảnh giới này tương ứng cảnh giới của Ba Ngôi. Và nói về các đấng này trong những nhóm khác nhau, ông có những lời nhận xét sáng tỏ sau đây:
1. "Their lives are chaste," i. e., free from impurity, or the limitations of the lower forms.
1. “Cuộc đời của các ngài rất thánh khiết,” tức là không còn những gì bất tịnh, hay sự hạn chế của các hạ thể.
2. "Upwards there is no impediment to their thinking and in regions below there is no object obscure to their thought." They know all things within the solar system.
2. “Hướng lên trên, tư duy của các ngài không thấy có điều gì khó khăn, và ở các cõi dưới chẳng có vấn đề gì các ngài khó hiểu.” Các ngài biết hết mọi sự trong thái dương hệ này.
3. "By them no laying down of foundations for a dwelling is made," therefore they have no dense bodies.
3. “Các ngài vốn vô trụ,” thế nên không dùng những thể thô thiển.
4. "They are grounded in themselves and live as long as there are creations." They are the great lives back of all sentient existence. [301]
4. “Các ngài vốn tự tại... và cùng sống với những thời kỳ sáng tạo.” Các ngài là những đấng cao cả ẩn trong toàn bộ cuộc sống hữu tình. [301]
5. They delight in contemplation of varying kinds. Our worlds are but the reflection of God's thought; and they are the sum total of the mind of God.
5. Các ngài an vui trong mọi loại chiêm ngưỡng khác nhau. Các bầu thế giới của chúng ta chỉ là phản ánh tư tưởng của Thượng Đế. Và các ngài hợp thành toàn thể Thiên trí.
The ancient commentator sums up by making two basic statements which should be noted by the student. He says:
Nhà luận giải cổ xưa này tóm lược bằng hai câu phát biểu cơ bản sau đây mà người môn sinh cần lưu ý:
"This whole well-founded configuration stretches out in the midmost part of the (World) Egg. And the Egg is a minute fragment of the primary cause, like a firefly in the sky."
“Toàn thể cấu hình này được thành lập tốt đẹp và vươn ra từ phần trung tâm của Quả trứng (Thế giới). Và Quả trứng này là một mảnh li ti của nguyên nhân đầu tiên, như con đom đóm trong bầu trời.”
This means that our solar system is but a cosmic atom and is itself only a part of a still greater spheroidal whole. Then he states:
Lời phát biểu nói trên có nghĩa là thái dương hệ của chúng ta chỉ là một nguyên tử trong vũ trụ. Nó chỉ là thành phần của một toàn thể khối cầu vĩ đại hơn nữa. Ông nói thêm:
"By performing constraint upon the door of the sun, the yogin should directly perceive all this." Constraint is a term frequently used in translating phrases which mean "the harnessing or restraining of the modifications of the thinking principle;" in other words, perfect one-pointed meditation. By meditation upon the door of the sun full knowledge can be achieved. This means very briefly that through a knowledge of the sun within one's own heart and, through the light emanating from that sun, having found the portal of the path, one enters into relationship with the sun which is at the heart of our solar system and eventually finds that portal which admits a man to the sevenfold cosmic path. Of this no more need be said, as the object of Raja Yoga is to enable a man to find the light within himself and in that light see light. It enables him also [302] to find the door to life and subsequently to tread the path.
“Bằng cách kềm chế cánh cửa của mặt trời, nhà yogi sẽ trực tiếp nhận thức được trọn cả vấn đề này.” Kềm chế là một thuật ngữ thường được dùng trong các câu chuyển dịch với ý nghĩa “chế ngự hay khống chế các biến thái của nguyên khí tư duy.” Nói cách khác, đây là tham thiền chuyên nhất. Khi tham thiền về cánh cửa của mặt trời, hành giả sẽ có đầy đủ hiểu biết. Nói vắn gọn là khi biết được ngôi mặt trời trong tâm của mình, qua ánh sáng phát ra từ đó, hành giả tìm thấy cửa đạo. Bấy giờ y liên giao với ngôi mặt trời ở tâm của thái dương hệ chúng ta và rốt cuộc tìm thấy cánh cửa để đi vào bảy con đường vũ trụ. Không cần nói thêm về bảy con đường này, vì mục tiêu của Raja Yoga là giúp hành giả tìm thấy ánh sáng nội tâm, và trong ánh sáng ấy y thấy nguồn ánh sáng cao siêu hơn. [302] Nó cũng giúp y tìm thấy cánh cửa đi vào sự sống, và tiến bước trên đường đạo.
Only one more point need be touched upon. Esoterically the sun is regarded as triple:
Chỉ còn một điểm cần bàn thêm. Về mặt nội môn, mặt trời được xem như gồm ba phần:
1. The physical sun body intelligent form.
1. Mặt trời vật chất.......................cơ thể........hình thể thông minh.
2. The heart of the sun soul love.
2. Tâm của mặt trời......................linh hồn....tình thương.
3. The central spiritual sun spirit life or power.
3. mặt trời tinh thần trung ương.. tinh thần.. sự sống hay quyền lực.
In man, the microcosm, the correspondences are:
Trong con người, là tiểu vũ trụ, có các tương ứng sau đây:
1. The personal physical man body intelligent form.
1. Phàm nhân ở cõi trần...............cơ thể........hình thể thông minh.
2. The ego or Christ soul love.
2. Chân ngã hay Christ................linh hồn....tình thương.
3. The monad spirit life or power.
3. Chân thần.................................tinh thần..sự sống hay quyền lực.
27. A knowledge of all lunar forms arises through one-pointed meditation upon the moon.
27. Tham thiền chuyên chú về mặt trăng giúp hành giả hiểu biết tất cả các thể mặt trăng.
There are two translations permissible here, the above and the following:
Ở đây có hai cách dịch được chấp nhận, câu ở trên và câu sau đây:
"A knowledge of the astral world comes to him who can meditate upon the moon." Either is correct and probably a true understanding of the Sanskrit is only arrived at through combining the two. It might suffice here to give a simple English paraphrase which will give the essence of the significance of this sutra:
“Người tham thiền về mặt trăng có thể hiểu biết cõi cảm dục.” Câu nào cũng đúng, và có lẽ độc giả chỉ thực sự hiểu được câu kinh tiếng Bắc Phạn khi kết hợp cả hai lối dịch. Thiết tưởng cũng nên đưa ra một lối chuyển dịch sang tiếng Anh đơn giản, để nói lên yếu nghĩa của câu kinh này:
"One-pointed concentration upon the mother of forms (the moon) will reveal to the aspirant the nature and purpose of form."
“Hoàn toàn tập trung vào mẹ của các hình thể (là mặt trăng), hành giả sẽ thấu hiểu tính chất và mục đích của hình thể.”
If the student will remember that the moon is the symbol of matter, whereas the sun in its aspect of light is the symbol of the soul, he will have no difficulty in ascertaining the meaning of the two sutras we have just considered. One deals with the soul and the various states of consciousness; the other deals with the body, the [303] vehicle of consciousness. One concerns the body incorruptible, not made with hands, eternal in the heavens. The other deals with the "lunar mansions" (as one translator calls it) and with the home of the soul in the three worlds of human endeavour.
Người môn sinh nên nhớ rằng mặt trăng là biểu tượng của vật chất, trong khi ánh sáng của mặt trời là biểu tượng của linh hồn. Bấy giờ y sẽ không thấy khó hiểu ý nghĩa của hai câu kinh mà chúng ta vừa xem xét. một câu bàn về linh hồn và các trạng thái khác nhau của tâm thức. Câu kia nói về cơ thể, là phương tiện của tâm thức. Một câu nói về thể bất hoại, không do tay phàm tạo ra, vĩnh cửu trong cõi thiêng liêng. [303] Câu kia nói về “ngôi nhà của mặt trăng (theo cách gọi của một dịch giả), tức là ngôi nhà của linh hồn trong ba cảnh giới tiến hóa của nhân loại.
We must be careful however to remember that the moon aspect is the governing one in all the kingdoms below the human, whilst the sun aspect should dominate in the human.
Tuy nhiên, chúng ta cần thận trọng lưu ý rằng phương diện mặt trăng chi phối tất cả các giới đẳng cấp dưới nhân loại. Trong khi đó phương diện mặt trời là yếu tố chi phối trong nhân loại.
A knowledge of the lunar mansions or of forms would give an understanding of the physical body, of the astral or desire vehicle and of the mental sheath.
Hiểu biết về ngôi nhà của mặt trăng hay về các hình thể, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về thể xác, thể cảm dục hay thể dục vọng, và thể trí.
28. Concentration upon the Pole-Star will give knowledge of the orbits of the planets and the stars.
28. Tập trung suy ngẫm về Sao Bắc đẩu, hành giả sẽ hiểu biết quỹ đạo của các hành tinh và các ngôi sao.
This sutra is of small significance to the ordinary student, but is of profound use to the initiate or pledged disciple. Suffice it here to say that this sutra forms the background for all astrological investigation and from an appreciation of its meaning will eventuate an understanding of:
Câu này không mấy ý nghĩa đối với người môn sinh bình thường, nhưng lại có công dụng thâm sâu đối với điểm đạo đồ hay người đệ tử hữu thệ. Có thể nói rằng câu kinh này là cơ sở cho mọi sự khảo cứu về chiêm tinh. Thấu đáo ý nghĩa của nó, rốt cuộc hành giả sẽ hiểu được:
1. The relation of our solar system to the other six constellations which (with ours) form the seven force centres of which the seven great spiritual influences of our system are the reflections and agents.
1. Sự liên giao của thái dương hệ chúng ta với sáu chòm sao khác. Tất cả cùng hình thành bảy trung tâm lực mà bảy ảnh hưởng tinh thần vĩ đại của hệ thống chúng ta là phản ánh và đại diện.
2. The path of our sun in the Heavens and the twelve signs of the Zodiac through which our sun apparently passes. Therefore it will be apparent that this sutra is the key to the purpose of the [304] seven and the twelve upon which all our creative processes are built.
2. Đường đi của mặt trời chúng ta trên bầu trời và mười hai thiên tượng Hoàng đạo mà mặt trời có vẻ đi ngang qua. Vì thế, dường như câu kinh này là chìa khóa để hiểu mục đích [304] của số bảy và số mười hai mà tất cả các tiến trình sáng tạo của chúng ta đều được xây dựng trên đó.
3. The meaning of the twelve labours of Hercules in their relation to man, the microcosm.
3. Ý nghĩa của mười hai lao tác của Hercules, liên quan đến con người, là tiểu vũ trụ.
4. The purpose of our planet, gained by the adept through an understanding of the triplicity formed by:
4. Mục đích của hành tinh chúng ta, mà bậc toàn thông đạt được nhờ thấu hiểu bộ ba sau đây:
a. The Pole Star,
a. Sao Bắc đẩu,
b. Our Earth Planet,
b. Hành tinh của chúng ta là Địa cầu,
c. The Great Bear.
c. Chòm sao Đại hùng.
Other meanings are available to those who hold the key, but the above will suffice to show the deep, though esoteric significance attached to these brief words.
Những ai nắm giữ chìa khóa có thể hiểu thêm các ý nghĩa khác. Thế nhưng, những điều nói trên cũng đủ cho thấy cái ý nghĩa nội môn, sâu xa của câu kinh vắn tắt này.
29. By concentrated attention upon the centre called the solar plexus, comes perfected knowledge as to the condition of the body.
29. Khi tập trung chú ý vào luân xa gọi là nhật tùng (tùng thái dương), hành giả sẽ biết rõ tình trạng của cơ thể.
In the commentary upon Book I Sutra 36, the various centres were enumerated and their qualities given. In this section of the book, five of these centres are mentioned and they are the five which most closely concern the aspirant, and which are the most dominant in the fifth or Aryan race, being awakened but not unfolded in the fourth race. These are:
Trong phần luận giải Quyển I, Câu kinh 36, có kể ra những luân xa khác nhau và đặc tính của chúng. Phần này của sách kể ra năm luân xa có liên hệ mật thiết nhất với người chí nguyện tìm đạo. Chúng là các luân xa nổi trội nhất trong giống dân thứ năm hay là dân Aryan. Trong giống dân thứ tư, chúng chỉ được đánh thức chứ chưa khai mở. Đây là:
1. The centre at the base of the spine 4 petals,
1. Luân xa ở chót xương sống....4 cánh,
2. The solar plexus centre 10 petals,
2. Luân xa nhật tùng..10 cánh,
3. The heart centre 12 petals,
3. Luân xa tim..............12 cánh,
4. The throat centre 16 petals,
4. Luân xa cổ họng..........16 cánh,
5. The head centre 1000 petals.
5. Luân xa đầu........1000 cánh.
With these five, the aspirant is primarily concerned. The centre called the spleen was dominant [305] in Lemurian days but is now relegated to the domain of the fully functioning and therefore automatic centres, and has sunk below the threshold of consciousness. The centre between the eyebrows is the one through which the light in the head is cast upon things "subtle, obscure, hidden or remote" and is a result of the unfolding of the head and heart.
Người chí nguyện chính yếu liên quan đến năm luân xa này. Luân xa lá lách có vai trò nổi bật vào thời kỳ Lemuria. [305] Nhưng nay nó được liệt vào loại các luân xa đã hoạt động trọn vẹn, vì thế mà có tính tự động, và đã ở dưới ngưỡng của tâm thức. Luân xa giữa hai chân mày là luân xa mà qua đó ánh sáng bên trong đầu được chiếu rọi lên những sự vật “tinh tế, ẩn vi, tiềm tàng hay xa xăm.” Ánh sáng này là kết quả của sự khai mở luân xa đầu và luân xa tim.
The three major centres are so powerful in the most unevolved person even in their unopened state that they have produced physical correspondences or glands. Their vibration is such that already in all men they sound, and through sounding attract and consequently produce a form. In the disciple or initiate these three centres not only sound but form words; they therefore command the building of vital forces and take the entire man under control.
Ba luân xa chủ yếu này vẫn hoạt động mạnh mẽ dù là trong những người kém tiến hóa nhất. Vì thế, thậm chí trong trạng thái chưa khai mở, chúng vẫn đã tạo nên các phần tương ứng hay các hạch tuyến trong thể xác. Rung động của chúng mạnh đến đỗi trong mọi người chúng đều phát ra âm thanh. Và qua âm thanh, chúng thu hút vật chất với hậu quả tạo nên hình thể. Trong người đệ tử hay điểm đạo đồ, ba luân xa này không những phát ra âm thanh mà còn tạo thành các linh từ. Do đó, chúng giúp sự kiến tạo của các loại sinh lực, và chế ngự trọn cả phàm nhân.
The glands corresponding to the three centres are:
Các hạch tuyến tương ứng với ba luân xa này là:
1. The pineal gland and pituitary body Head centre,
1. Tuyến tùng và tuyến yên.....................Luân xa đầu,
2. The thyroid gland Throat centre,
2. Tuyến giáp.............................................Luân xa cổ họng,
3. The spleen Heart centre.
3. Lá lách...................................................Luân xa tim.
"Out of the heart are the issues of life"; from it the current of the life blood circulates; from its development in the Atlantean race and the consequent coordination and growth of the astral or emotional body, the heart centre has become the most important in the body. Its activity and development has been paralleled by the spleen, which is the organ of vitality, of prana or physical sun force, in the body. [306]
“Trái tim phân phát sự sống.” Từ nó mà có sự tuần hoàn của dòng máu mang sự sống. Luân xa tim đã được phát triển trong giống dân Atlantis, với hậu quả điều phối và giúp tăng trưởng thể cảm dục hay thể tình cảm. Kể từ đó, nó đã trở nên hết sức quan trọng trong cơ thể. Hoạt động và sự phát triển của nó đã có sự song hành của luân xa lá lách, vốn là cơ quan của sinh lực, của prana hay là mãnh lực của ngôi mặt trời thể chất, trong thân xác. [306]
There are other glands having a close relation to the various centres but the subject is too vast to be more than hinted at here. There is not, however, the same close relation existing between the glands associated with the centres below the diaphragm as with those connected with the major centres, situated above the diaphragm.
Còn có những hạch tuyến khác liên quan mật thiết với các luân xa khác nhau. Thế nhưng, vì vấn đề quá rộng nên chỉ có thể nêu vắn tắt ở đây. Tuy nhiên, không có sự liên quan mật thiết giữa các hạch tuyến kết hợp với các luân xa bên dưới cơ hoành như trường hợp những hạch tuyến liên kết với các luân xa chính bên trên cơ hoành.
In the sutra under consideration we are dealing with one of the five most important centres, and this for the reason that:
Trong câu kinh này, chúng ta đang bàn đến một trong năm luân xa quan trọng nhất, vì lý do:
1. It is situated in the centre of the trunk. It is therefore a correspondence of the middle principle. In man in Atlantean days the three major centres for that race were:
1. Nó có vị trí ở giữa thân mình. Vì thế, nó tương ứng với nguyên khí trung gian. Vào thời kỳ Atlantis, người của giống dân đó có ba luân xa chính sau đây:
a. The Head Father or spiritual aspect,
a. Đầu.......................Đức Chúa Cha hay phương diện tinh thần,
b. The Solar Plexus The Son or soul aspect,
b. Nhật tùng.............Đức Chúa Con hay phương diện linh hồn,
c. The Base of the Spine The Holy Ghost or matter aspect.
c. Chót xương sống.... Chúa Thánh Thần hay phương diện vật chất.
The soul was not then so individualized as it is now. The animal soul controlled, and consequently full contact with the anima mundi was the dominant factor. As time elapsed, the soul became more individualized in each human being, and more and more separative, as the mind aspect (the great dividing factor) dominated. At the close of this race, the three main centres will be the head, the heart, and the base of the spine. In the sixth race we shall have, the head, the heart, and the throat.
Linh hồn bấy giờ chưa được biệt lập ngã tính như hiện nay. Hồn thú còn chế ngự; do đó mà yếu tố nổi bật là sự giao tiếp hoàn toàn với linh hồn thế giới. Theo thời gian, linh hồn trở nên cá nhân hóa nhiều hơn trong mỗi người. Họ trở nên ngày càng tách biệt, khi phương diện trí năng (yếu tố phân chia quan trọng) chi phối. Vào cuối giống dân này, ba luân xa chính sẽ là đầu, tim, và chót xương sống. Trong giống dân thứ sáu, chúng ta sẽ có các luân xa đầu, tim, và cổ họng là chính yếu.
In the final race of the illuminated sons of God, the seventh, we shall have as the centres through which they work: [307]
Trong giống dân cuối gồm những người con Thượng Đế đã khai ngộ, là giống dân thứ bảy, họ sẽ làm việc qua các luân xa: [307]
a. The thousand petalled head center life or spiritual aspect,
a. Luân xa ngàn cánh ở đầu..... phương diện sự sống hay tinh thần,
b. The centre between the eyebrows Son or consciousness aspect,
b. Luân xa giữa hai chân mày... phương diện Chúa Con hay tâm thức,
c. The throat The Holy Ghost or creative aspect.
c. Luân xa cổ họng..................... phương diện Chúa Thánh Thần hay sáng tạo.
Through the first, spiritual life will pour in from the monad; through the second, the Christ principle, the light of the world, the soul will work, pouring light and life on all things, and using it as the great organ of awareness. Through the last, the work of creation will be carried on, and the creative word sent forth.
Qua luân xa thứ nhất, sự sống tinh thần sẽ lưu nhập từ chân thần. Qua luân xa thứ hai, nguyên khí Christ, ánh sáng của thế giới, tức là linh hồn sẽ hoạt động, tuôn rải ánh sáng và sự sống trên mọi sự vật, và dùng luân xa này như một cơ quan ý thức quan trọng. Qua luân xa thứ ba, công tác sáng tạo sẽ được tiến hành, và linh từ sáng tạo sẽ phát ra.
This general view is given so as to present to the student the vision of what lies ahead. It is, however, of no present value; most aspirants are concerned with the solar plexus and hence the necessity of our present consideration.
Cái nhìn chung vừa kể nhằm giúp người môn sinh dự kiến về những bước sẽ đến. Tuy nhiên, hiện nay chưa có thể áp dụng. Hầu hết các môn sinh đều có liên quan đến luân xa nhật tùng, nên nay vấn đề này cần xem xét.
2. It is the organ of the astral nature, of the emotions, moods, desires and feelings and hence is most active in all. It is through it that the lower bodily functions are aroused—desire to eat, to drink, and to procreate, and through it the lower centres are contacted and work with them is carried forward. In the disciple, the heart supersedes the solar plexus; in the Master, the head. All the centres, however, are the expression of the life and love of God, and in their totality and perfection express the Christ life.
2. Nó là cơ quan của cảm dục tính, tình cảm, tính khí, ham muốn và xúc cảm. Vì thế, nó linh hoạt hơn các luân xa kia. Chính qua luân xa này mà các chức năng cấp thấp của thân xác được khơi gợi − ý muốn ăn, uống, và sinh sản. Các luân xa thấp hơn được tiếp xúc và làm việc qua nhật tùng. Ở người đệ tử, luân xa tim thay thế cho nhật tùng. Trong khi đó, ở vị Chân sư là luân xa đầu. Tuy nhiên, tất cả các luân xa đều phát biểu sự sống và tình thương của Thượng Đế. Trong sự tổng hợp và hoàn hảo, chúng biểu lộ sự sống Christ.
3. It is the centre wherein is carried forward the great work of transmuting all the lower and animal desires into the higher. Through it literally [308] must be passed the forces of the lower nature. It gathers up the forces of the body below the diaphragm and directs them upward.
3. Nó là luân xa mà trong đó tiến hành công tác quan trọng là siêu hóa tất cả các ham muốn thấp hèn và thú tính thành nguyện vọng cao siêu. [308] Thực sự là các mãnh lực của phàm tính đều phải đi ngang qua nó. Nó thu góp các lực của cơ thể bên dưới cơ hoành và chuyển chúng lên cao.
4. In the solar plexus, the animal soul becomes merged in the soul of man, and the Christ consciousness is seen in germ. Taking the analogy of the antenatal state and the germinating of the Christ in each human being, students who have their intuition developed will see the correspondence between the activity of the solar plexus and its function, and the first three and one-half months of the antenatal period. Then comes what is called the "quickening" and life makes itself felt. A rising up takes place, and the correspondence can then be seen between the natural physiological process and the birth of the Christ in the cave of the heart. Herein lies the deep mystery of initiation, and it is only revealed to those who tread the Path of Discipleship to the end.
4. Trong luân xa nhật tùng, hồn thú hòa hợp với hồn người, và tâm thức Christ còn trong giai đoạn phôi thai. Có sự tương đồng giữa trạng thái trước khi sinh và sự nảy nở của tâm thức Christ trong mỗi người. Những môn sinh đã phát triển trực giác sẽ thấy sự tương ứng giữa hoạt động của luân xa nhật tùng cùng với chức năng của nó, và giai đoạn ba tháng rưỡi đầu trong thai kỳ trước khi đứa bé chào đời. Kế đó là giai đoạn “tăng tốc”, và sự sống ngày càng biểu lộ. Có sự thăng tiến. Có thể thấy sự tương ứng giữa tiến trình sinh lý tự nhiên và sự sinh ra của Đấng Christ ở nơi sâu thẳm của luân xa tim. Đây là bí nhiệm sâu xa của điểm đạo. Bí nhiệm này chỉ được khải thị cho người trên giai đoạn cuối của Con đường Đệ tử.
We are told in this sutra that knowledge as to the condition of the body comes through meditation upon this centre. The reason is this: when man arrives at an understanding of his emotional body and of the force centre through which it functions upon the physical plane, he finds that all that he is (physically and etherically) is the result of desire, of kama, and that it is his desires which chain him upon the wheel of rebirth. Hence the emphasis laid by the yogi upon that basic discrimination through which a man develops the capacity to choose between the real and the unreal and which cultivates in him a just [309] sense of values. Then follows dispassion which, when developed, gives him a distaste for the life of sensuous perception.
Câu kinh này nói rằng khi tham thiền về luân xa nhật tùng, hành giả sẽ biết được tình trạng của cơ thể. Lý do là vì khi thấu đáo thể tình cảm của mình và trung tâm lực mà qua đó thể này tác động ở cõi trần, y thấy rằng tất cả những gì y hiện có (trong thể xác và thể dĩ thái) là kết quả của dục vọng, tức là của kama. Y cũng thấy rằng chính các ham muốn xiềng xích y vào bánh xe luân hồi. Vì thế, nhà yogi chú trọng vào trí phân biện căn bản. Nhờ đó, y phát triển khả năng chọn lựa giữa điều chân thật và điều giả trá, để tự vun bồi một ý thức đúng về giá trị. [309] Kế đến là hạnh vô dục, khi đã phát triển, sẽ khiến y không còn bận tâm đến đời sống với các cảm nhận giác quan.
When the aspirant can grasp the place that desire plays in his life, when he realizes that it is his emotional or astral body which produces the greater part of the trouble in his lower nature, and when he can grasp the technical side of the process which desire-energy follows, then the work of the solar plexus is understood and he can begin the great dual work of transference and transmutation. He has to transfer the energy of the centres below the diaphragm into those above, and in the process transmute and change the energy. The centres are to be found up the spine, but it aids the student considerably if he can grasp the idea of the relative localities in the body which are energized and affected by these centres. All these centres have physical plane organs which are the result of the response of dense substance to their vibration.
Khi người chí nguyện có thể thấu hiểu vai trò của sự ham muốn trong cuộc sống của mình; khi y nhận thức rằng chính thể tình cảm hay thể cảm dục gây nên phần lớn những nỗi khó khăn, phiền phức trong phàm tính của mình; và khi y có thể hiểu rõ khía cạnh kỹ thuật của tiến trình mà năng lượng ham muốn tác động, bấy giờ y mới hiểu được hoạt động của luân xa nhật tùng. Bấy giờ y mới bắt đầu hai cố gắng quan trọng là chuyển di và siêu hóa. Y phải chuyển di năng lượng của các luân xa bên dưới cơ hoành vào các luân xa ở trên. Và trong tiến trình đó, y cũng siêu hóa và chuyển hóa năng lượng. Các luân xa này nằm dọc theo cột sống. Thế nhưng, sẽ rất hữu ích cho người môn sinh nếu y hiểu được các vùng trong cơ thể nhận năng lượng và chịu ảnh hưởng của các luân xa này. Tất cả chúng đều có những cơ quan trong thể xác, vốn được tạo thành do vật chất trọng trược ứng đáp với rung động của chúng.
The Three Major Centres.
Ba Luân xa Chính.
1. Head centre brain. pineal gland and pituitary body,
1. Luân xa đầu....................... não bộ, tuyến tùng và tuyến yên,
2. Throat larynx. vocal cords and palate, thyroid gland,
2. Luân xa cổ họng................. thanh quản, dây thanh âm và vòm miệng, tuyến giáp,
3. Heart pericardium, ventricles, auricles with spleen affected.
3. Luân xa tim....................... ảnh hưởng đến màng ngoài tim, tâm thất, tâm nhĩ và lá lách
The Four Minor Centres.
Bốn Luân xa Phụ.
4. Solar plexus stomach.
4. Luân xa nhật tùng............ dạ dày,
5. Spleen spleen.
5. Luân xa lá lách.................. lá lách,
6. Sacral generative organs.
6. Luân xa sinh dục............... cơ quan sinh dục,
7. Base of spine eliminative organs, kidneys, bladder. [310]
7. Luân xa chót xương sống.. cơ quan bài tiết, thận, bàng quang.
These physical organs are results or effects; the centres are their physical cause and they are produced through the activity of the etheric centres.
Các cơ quan trong thể xác nói trên chỉ là kết quả hay hậu quả. Các luân xa là nguyên nhân vật lý của chúng, và chúng được tạo ra do hoạt động của các luân xa dĩ thái. [310]
These details have been given and the above information collated, owing to the importance of the solar plexus in this fourth round of the fourth creative Hierarchy (the Hierarchy of human monads or spirits), the fourth centre in man whether considered upward or downward. One more technical point might here be given. In the process of transmutation the student should remember that:
Các chi tiết này được đưa ra và các thông tin nói trên được tập hợp lại, là do tầm quan trọng của luân xa nhật tùng trong cuộc tuần hoàn thứ tư này của Huyền giai sáng tạo thứ tư (tức là Huyền giai gồm các chân thần hay tinh thần của con người). Nó là luân xa thứ tư trong con người, dù tính từ dưới lên hay từ trên xuống. Thêm một điểm kỹ thuật nữa có thể nêu ở đây. Trong tiến trình siêu hóa, người môn sinh cần ghi nhớ rằng:
a. The energy at the base of the spine must go to the head,
a. Năng lượng ở luân xa chót xương sống phải thăng hoa lên luân xa đầu,
b. The energy of the sacral centre must go to the throat,
b. Năng lượng ở luân xa sinh dục phải thăng hoa lên luân xa cổ họng,
c. The energy of the solar plexus must go to the heart. Splenic energy concerns solely the physical body. It goes to all the centres.
c. Năng lượng ở luân xa nhật tùng phải thăng hoa lên luân xa tim. Năng lượng của luân xa lá lách chỉ liên quan đến thể xác. Nó đi đến tất cả các luân xa kia.
30-31. By fixing the attention upon the throat centre, the cessation of hunger and thirst will ensue. By fixing the attention upon the tube or nerve below the throat centre, equilibrium is achieved.
30-31. Bằng cách chú định vào luân xa cổ họng, hành giả không còn thấy đói và khát. Khi chú định vào ống hay dây thần kinh bên dưới luân xa cổ họng, hành giả đạt được sự quân bình.
It should be remembered that all the sutras which deal with psychic powers are capable of a lower and a higher interpretation. This is nowhere more apparent than in this sutra. Through an understanding of the nature of the throat centre and a steady meditation upon it, the yogi can arrest the pangs of hunger and of thirst and thus [311] do without food indefinitely, whilst through directing energy to that portion of the great nerve in the throat which lies just below the throat centre (found in the well or pit of the throat) he can achieve absolute immobility and rigidity of the human form. Similarly through concentration upon the solar plexus he can become aware in full consciousness of every part of his physical body. But these concern the lower siddhis or powers and with these the student of Raja Yoga is not concerned, regarding them as the secondary effects of soul development. He knows them to be the result of the correct following of the eight means of yoga, and therefore automatic and inevitable results. He knows too the danger to the physical organism when their lower or physical aspect is emphasized.
Cần lưu ý rằng tất cả các câu kinh bàn về những quan năng thần thông đều có thể được giải thích theo nghĩa thấp và cao. Điều này không rõ nét ở đâu hơn trong câu kinh này. [311] Khi thấu đáo ý nghĩa của luân xa cổ họng và tham thiền liên tục về nó, nhà yogi có thể ngăn được cơn đói và khát, và nhờ đó mà có thể nhịn ăn vô thời hạn. Trong khi đó, nếu hướng năng lượng đến phần của dây thần kinh lớn trong cổ họng, ở ngay dưới luân xa cổ họng (ở trong hõm hay hố cổ họng), hành giả có thể khiến cho thân xác hoàn toàn bất động và cứng rắn. Tương tự, khi tập trung vào nhật tùng, hành giả có thể hoàn toàn ý thức được mọi cơ phận trong thân xác mình. Thế nhưng, những điều vừa kể liên quan đến các siddhi hay thần thông loại thấp mà người môn sinh Raja Yoga không hề quan tâm. Y chỉ xem chúng là hiệu quả thứ yếu trong việc phát triển của linh hồn. Y biết rằng chúng là kết quả của việc theo đúng tám phương tiện của yoga. Vì thế, chúng là các kết quả tự động và tất nhiên xảy ra. Y cũng biết mối nguy đối với các thể hồng trần khi chú trọng đến phương tiện thấp hay khía cạnh vật lý của chúng.
The true significance of the above sutras which are here bracketed together, grows out of an understanding of the transmutative process and the transference which is effected in the solar plexus.
Thực nghĩa của các câu kinh nói trên, được gom chung ở đây, phát sinh từ sự thấu hiểu về tiến trình siêu hóa và chuyển di năng lượng được thực hiện trong luân xa nhật tùng.
The energy of the sacral centre which feeds the generative organs is in due course of time transferred into the throat centre. The creative process is then carried on by thought, sound and the spoken Word. Hunger and thirst are the two aspects of desire, the one, hunger, being positive, masculine and grasping; the other, thirst, being negative, feminine and receptive. Those two words are but symbols of the two great impulses underlying the sex impulse. When these impulses are dominated and controlled, then the energy of the centre lying behind the organs concerned, can [312] be carried upward to the throat, and hunger and thirst are arrested in the esoteric sense. It should be borne in mind here that these two words are the physical plane analogies to the great pairs of opposites which the yogi has to balance and which he does balance when the solar plexus is performing its highest function.
Năng lượng của luân xa sinh dục (ở vùng xương cùng) nuôi dưỡng các cơ quan sinh dục. Đúng lúc, nó sẽ chuyển vào luân xa cổ họng. Sau đó, tiến trình sáng tạo được tiếp tục nhờ tư tưởng, âm thanh, và xướng lên Linh từ. Đói và khát là hai khía cạnh của dục vọng. một mặt, sự đói, thuộc dương, giống đực, có tính nắm bắt. mặt kia, sự khát, thuộc âm, giống cái, có tính thụ nhận. Hai từ này chỉ là biểu tượng của hai xung lực mạnh mẽ tiềm ẩn trong sức thôi thúc tính dục. Khi các xung lực này được chế ngự và kiểm soát, thì năng lượng của luân xa chi phối các cơ quan sinh dục, có thể được thăng hoa lên luân xa cổ họng. [312] Bấy giờ, hành giả không còn đói và khát, hiểu theo nghĩa nội môn. Ở đây cần lưu ý rằng hai từ nói trên là những gì tương đồng ở cõi trần với các cặp đối cực chính yếu mà nhà yogi phải cân bằng. Và y chỉ cân bằng được chúng khi luân xa nhật tùng thể hiện chức năng cao nhất của nó.
On the astral or desire plane, within the astral body of the aspirant, must this balancing process be wrought out to completion. This is the great battleground, symbolized so beautifully for us in the human body, with its three higher centres, its lower energy focal points and that great middle centre, the solar plexus, typifying the astral plane and its work. It will now be apparent why the two sutras are read as one, for they cover one completed work.
Trong thể cảm dục của mình trên cảnh giới cảm dục hay dục vọng, hành giả phải thực hiện tiến trình cân bằng này đến mức hoàn tất. Đây là chiến trường rộng lớn. Nó tượng trưng rất hay trong cơ thể con người, với ba luân xa cấp cao, các tụ điểm năng lượng cấp thấp, và luân xa đóng vai trò trung gian quan trọng là nhật tùng, tiêu biểu cho cõi cảm dục và tác động của nó. Vì thế, đến đây chúng ta thấy rõ tại sao hai câu kinh lại được đọc chung như một câu, vì chúng bao gồm một công việc duy nhất được hoàn tất.
After achieving some measure of equilibrium, the aspirant learns to perfect that balancing process and gains the power to stand firm and immovable, preserving an unshakable equilibrium between the pairs of opposites. The nerve, called "kurma-nadi" or the "tortoise tube" is the physical correspondence to the point the aspirant has reached. He stands erect and unshaken before the entrance to the path; he is at the point in his evolution where he can "escape upward" and function in the head.
Sau khi đạt một mức độ quân bình, hành giả học cách hoàn thiện tiến trình làm cân bằng này. Y có năng lực đứng vững vàng, kiên định, giữ được sự quân bình không hề lay chuyển giữa các cặp đối cực. Dây thần kinh có tên “kurma- nadi” hay “ống rùa” là phần trong thể xác tương ứng với trình độ mà hành giả đã đạt. Y đứng thẳng, vững vàng trước lối vào đường đạo. Y nay đến trình độ tiến hóa với khả năng “vượt lên trên” và hoạt động trong luân xa đầu.
The tortoise has from the earliest ages been the symbol of the slow creative process, and of the long evolutionary road travelled by the spirit. Hence the appropriateness of this term, as applied to what is considered the lowest of the three major [313] centres, and the one which represents the Creator or Brahma aspect of divinity, of God, the Holy Ghost, with His function as the energizer of matter or body.
Từ thời xa xưa, con rùa đã là biểu tượng của tiến trình sáng tạo chậm chạp. Nó cũng là biểu tượng của con đường tiến hóa lâu dài mà tinh thần phải đi qua. Vì thế, thuật ngữ này rất thích hợp, khi áp dụng cho những gì được xem là thấp nhất trong ba luân xa chính yếu. [313] Nó tượng trưng cho Đấng sáng tạo hay trạng thái Brahma trong thiên tính, của Thượng Đế, Chúa Thánh Thần. Chức năng của Ngài là cung cấp năng lượng cho vật chất hay cơ thể.
32. Those who have attained self-mastery can be seen and contacted through focussing the light in the head. This power is developed in one-pointed meditation.
32. Khi tập trung ánh sáng bên trong đầu, hành giả có thể thấy và giao tiếp với những bậc đã đạt sự tự chủ. Quyền năng này được phát triển trong tham thiền chuyên nhất.
This is a paraphrase of a very general nature, but gives the exact sense of the terms employed. In the twenty-fifth sutra we considered the nature of the light in the head. Here it might briefly be stated that when the aspirant is aware of the light in the head, and can utilize it at will, turning its radiance upon all that he seeks to know, the time comes when he can not only turn it outward on to the field of knowledge wherein he functions in the three worlds, but can turn it inward and direct it upward into those realms wherein the saints of God, the great "Cloud of Witnesses" walk. He can, therefore, through its medium, become aware of the world of the Masters, Adepts and Initiates and thus contact them in full waking consciousness, registering those contacts with his physical brain apparatus.
Đây là câu chuyển dịch một cách rất tổng quát, nhưng cho ý nghĩa chính xác của các thuật ngữ được dùng. Trong câu kinh thứ hai mươi lăm, chúng ta đã xét đến ánh sáng bên trong đầu. Ở đây có thể nói vắn tắt rằng khi người chí nguyện biết được ánh sáng bên trong đầu, thì dần dần y có thể sử dụng nó tùy ý muốn, chiếu rọi ánh sáng chói rạng của nó lên bất cứ điều gì y muốn biết. Rồi đến lúc y có thể quay nó ra ngoài, soi sáng phạm vi hiểu biết trong tam giới mà y đang hoạt động trong đó. Không chỉ có khả năng vừa kể, y còn có thể quay nó vào trong, và hướng lên lĩnh vực của những vị thánh, “Đám mây vĩ đại các Chứng nhân” của Thượng Đế. Qua đó, y có thể biết được thế giới của các Chân sư, các Bậc toàn thông và Điểm đạo đồ. Bằng cách đó, y giao tiếp với các Ngài trong ý thức hoàn toàn tỉnh táo, và ghi nhận các giao tiếp đó trong não bộ hồng trần.
Hence the necessity of becoming aware of one's own light, of trimming one's lamp and of using the light that is in one, to the full. By use and care, the power of the spiritual light grows and waxes and develops a dual function.
Vì thế, cần phải ý thức được ánh sáng nơi chính mình, khơi tỏ ngọn đèn của mình, và sử dụng ánh sáng ấy nơi mình đến mức viên mãn. Khi được sử dụng và nuôi dưỡng, năng lực của ánh sáng tinh thần tăng trưởng, bừng chiếu, và phát triển hai chức năng.
The aspirant becomes a light or lamp set in a [314] dark place and illumines the way for others. Only thus can the light within be fanned to a flame. This process of lighting others and being a lamp must always precede that wonderful experience wherein the mystic turns his lamp and light into other realms and finds the "way of escape" into those worlds where the Masters work and walk.
Người chí nguyện trở thành ngọn đèn ở nơi tăm tối, soi sáng đường đi cho kẻ khác. [314] Chỉ bằng cách đó, ánh sáng nội tâm mới bừng lên thành ngọn lửa. Tiến trình soi sáng kẻ khác và trở thành ngọn lửa luôn luôn phải có trước. Từ đó mới xảy ra kinh nghiệm tuyệt vời, trong đó nhà thần bí quay ngọn đèn và ánh sáng của mình vào những lĩnh vực khác và tìm thấy “con đường giải thoát” đi vào những cảnh giới nơi các Chân sư đang hiện hữu và hoạt động.
This point needs emphasis for there is too strong an inclination among students to search for the Masters or some Guru or Teacher who will "give" them light. They can only be found by the one who has lit his own light, trimmed his own lamp and thus provided himself with the means of penetrating into Their world. The more technical side of this matter has been well covered in the words of W. Q. Judge:
Cần nhấn mạnh điểm này vì các môn sinh thường có khuynh hướng quá nồng nhiệt muốn tìm kiếm các Chân sư hoặc một vị Tôn sư hay Huấn sư sẽ “cho” họ ánh sáng. Chỉ có thể tìm thấy các Ngài khi hành giả đã tăng cường ánh sáng nơi chính mình, khơi tỏ ngọn đèn tâm, dùng đó làm phương tiện để thâm nhập vào thế giới của các Ngài. Ông W. Q. Judge đã bàn rõ hơn về phương diện kỹ thuật của vấn đề này như sau:
"There are two inferences here which have nothing to correspond to them in modern thought. One is, that there is a light in the head; and the other, that there are divine beings who may be seen by those who thus concentrate upon the 'light in the head.' It is held that a certain nerve, or psychic current, called Brahmarandhra-nadi, passes out through the brain near the top of the head. In this there collects more of the luminous principle in nature than elsewhere in the body and it is called jyotis—the light in the head. And, as every result is to be brought about by the use of appropriate means, the seeing of divine beings can be accomplished by concentration upon that part of the body more nearly connected with them. This point—the end of Brahmarandhra-nadi—is [315] also the place where the connection is made between man and the solar forces."
“Ở đây có hai sự suy diễn mà các tư tưởng hiện nay không hề có điều gì tương ứng. một là, có ánh sáng bên trong đầu. Hai là, có những đấng thiêng liêng mà hành giả có thể thấy được khi tập trung vào ‘ánh sáng bên trong đầu.’ Người ta cho rằng có một dây thần kinh hay một dòng tâm thức, gọi là Brahmarandhra-nadi, đi ngang qua não ở nơi gần đỉnh đầu. Trong vùng này có thu góp nguyên khí phát quang của thiên nhiên, nhiều hơn bất cứ nơi nào trong cơ thể. Nó được gọi là jyotis − ánh sáng bên trong đầu. mọi kết quả có được là nhờ sử dụng phương tiện thích hợp. Vì thế, hành giả có thể thấy được các đấng thiêng liêng bằng cách tập trung vào phần nào trong cơ thể được nối kết nhiều hơn với các ngài. Điểm này—ở cuối Brahmarandhra-nadi— [315] cũng là nơi có sự liên kết giữa con người và các mãnh lực thái dương.”
It is this light which causes the "face to shine" and is responsible for the halo depicted around the head of all saints and Masters and which is seen by those with clairvoyant vision around the head of all advanced aspirants and disciples.
Chính ánh sáng này mang lại “gương mặt rạng ngời” và vòng hào quang được mô tả là ở chung quanh đầu của các vị thánh và các Chân sư. Nó cũng là những gì mà các nhà nhãn thông thấy được chung quanh những người chí nguyện và người đệ tử tiến hóa cao.
Dvivedi also gives the same teaching in the following words:
Dvivedi cũng có những lời bình giải sau đây:
"The light in the head is explained to be that collective flow of the light of sattva which is seen at the Brahmarandhra which is variously supposed to be somewhere near the coronal artery, the pineal gland, or over the medulla oblongata. Just as the light of a lamp burning within the four walls of a house presents a luminous appearance at the keyhole, so even does the light of sattva show itself at the crown of the head. This light is very familiar to all acquainted even slightly with Yoga practices and is seen even by concentration on the space between the eyebrows. By Samyama (meditation) on this light the class of beings called siddhas—popularly known in theosophic circles as Mahatmas or high adepts—able to walk through space unseen, are immediately brought to view, notwithstanding obstacles of space and time."
“Có thể nói ánh sáng bên trong đầu là dòng ánh sáng chung của sattva thấy ở Brahmarandhra. Nhiều ý kiến khác nhau cho rằng nó ở gần động mạch đỉnh đầu, tuyến tùng, hoặc phía trên hành não. Ánh sáng của sattva phát ra ở đỉnh đầu cũng giống như một ngọn đèn cháy sáng bên trong bốn vách của ngôi nhà có tia sáng chiếu ra ngoài xuyên qua lỗ khóa vậy. Ánh sáng này rất quen thuộc đối với những ai đã từng thực hành Yoga dù là chưa nhiều. Thậm chí có thể thấy nó bằng cách tập trung vào khoảng giữa hai chân mày. Khi thực hành Samyama (tham thiền) về ánh sáng này, hành giả có thể lập tức thấy được các vị siddha, bất kể sự ngăn cách của không gian và thời gian. Đây là những vị thường được giới Thần triết gọi là các Thánh sư hay cao đồ, có khả năng đi xuyên qua không gian một cách vô hình, vô ảnh.”
33. All things can be known in the vivid light of the intuition.
33. Trong ánh sáng chói rạng của trực giác, hành giả có thể hiểu biết mọi sự.
There are three aspects of knowledge associated with the light in the head.
Có ba phương diện hiểu biết kết hợp với ánh sáng bên trong đầu.
First, there is that knowledge which the ordinary [316] man can possess, which perhaps is best expressed in the word theoretical. It makes a man aware of certain hypotheses, possibilities and explanations. It gives to him an understanding of ways, means and methods, and enables him to take the first step towards correct ascertainment and achievement. This is true of that knowledge which Patanjali deals with. By acting upon this knowledge and by conforming to the requirements of the intended investigation or development, the aspirant becomes aware of the light in the head.
Thứ nhất, loại hiểu biết mà người bình thường [316] có thể sở hữu. Có lẽ tốt nhất nên gọi đây là hiểu biết về lý thuyết. Phương diện này giúp người ấy biết được một số giả thuyết, những điều khả hữu, và những cách lý giải. Nó giúp họ hiểu được những phương cách, phương tiện và phương pháp. Nó giúp họ có thể thực hiện bước đầu để tiến đến việc xác định đúng và thành tựu. Phương diện này đúng với các kiến thức mà Patanjali truyền đạt. Khi thực hành kiến thức này, và theo đúng yêu cầu về khảo cứu hay phát triển như đã định, hành giả sẽ dần dần biết được ánh sáng bên trong đầu.
Secondly, discriminative knowledge is the next type utilized by the aspirant. The light having been contacted, is used, and the result is that the pairs of opposites become apparent, duality is known, and the question of choice comes in. The light of God is cast upon either side of the razor edged path the aspirant is endeavouring to tread, and at first this "noble middle" path is not so apparent as that which lies on either side. By the addition of dispassion or non-attachment to discriminative knowledge, hindrances are worn away, the veil which hides the light becomes increasingly thin until eventually the third or highest light is touched.
Thứ hai, hiểu biết do phân biệt là loại kế tiếp được hành giả sử dụng. Đã tiếp xúc với ánh sáng, nay y sử dụng nó, và kết quả là y thấy rõ các cặp đối cực. Y hiểu được tính nhị nguyên, và phải chọn lựa. Ánh sáng của Thượng Đế chiếu rọi một bên của con đường mảnh mai như sợi tóc mà hành giả đang cố gắng bước lên. Lúc đầu, y không thấy rõ con đường “trung đạo, cao cả” này, như thấy những gì ở một bên của nó. Khi phát triển thêm hạnh vô dục, hay không bám chấp vào sự hiểu biết do phân biệt, thì các chướng ngại từ từ tan biến. Bức màn che ánh sáng ngày càng thưa mỏng dần, cho đến khi y thấy loại ánh sáng thứ ba, cao siêu nhất.
Thirdly, the "light of the intuition" is one of the terms which can be applied to this type of illuminative knowledge. It results from the treading of the path and the overcoming of the pairs of opposites, and is the forerunner of complete illumination and the full light of day. Ganganatha Jha in his brief commentary touches on all these three. He says: [317]
Thứ ba, “ánh sáng trực giác” là một trong những thuật ngữ có thể được áp dụng cho loại ánh sáng khai ngộ này. Nó là kết quả của việc tiến bước trên đường đạo và thắng phục các cặp đối cực. Nó mở đầu cho giai đoạn giác ngộ và ánh sáng tỏ rõ, thành tựu viên mãn. Ganganatha Jha có bàn vắn tắt về cả ba phương diện hiểu biết nói trên, như sau: [317]
"Intelligence is the emancipator—the forerunner of discriminative knowledge, as the dawn is of sunrise. On the production of intuitional insight, the yogi comes to know everything."
“Sự thông minh là yếu tố khai phóng − nó đưa đến sự hiểu biết có phân biện, giống như ánh bình minh đưa đến mặt trời mọc. Khi phát sinh thấu hiểu trực giác, nhà yogi trở nên hiểu biết mọi sự.”
These flashes of intuition are at first simply vivid flashes of illumination, breaking forth into the mind consciousness and disappearing almost instantaneously. But they come with increasing frequency as the habit of meditation is cultivated and persist for increasingly long periods as stability of the mind is achieved. Gradually the light shines forth in a continuous stream until the aspirant walks in the full light of day. When the intuition begins to function, the aspirant has to learn to utilize it by turning the light which is in him upon all matters "obscure, subtle and remote," and thus enlarging his horizon, solving his problems, and increasing his efficiency. What he sees and contacts through the use of this spiritual light has then to be registered, understood and adapted for use by the man upon the physical plane, through the medium of the brain. Here is where the rational mind plays its part, interpreting, formulating and transmitting to the brain that which the true spiritual man on his own plane knows, sees, and understands. Thus this knowledge becomes available in full waking consciousness to the incarnated son of God, the man on the physical plane.
Lúc đầu, những tia chớp này của trực giác chỉ là những tia chớp khai ngộ, lóe lên, chiếu rọi vào ý thức của cái trí, rồi hầu như lập tức biến đi. Nhưng chúng đến thường xuyên hơn, khi thói quen tham thiền được bồi đắp và duy trì trong khoảng thời gian ngày càng lâu hơn, và khi cái trí đã trở nên ổn định. Dần dần, ánh sáng chói rạng thành dòng liên tục, cho đến khi hành giả tiến bước trong thanh thiên bạch nhật. Khi trực giác bắt đầu hoạt động, hành giả phải học sử dụng nó bằng cách hướng ánh sáng nội tâm của mình đến những vấn đề “khó hiểu, tinh tế và thâm viễn.” Nhờ đó y mở rộng tầm mắt, giải quyết những vấn đề khó khăn, và gia tăng hiệu năng của mình. Những gì y thấy và giao tiếp khi sử dụng ánh sáng tinh thần này, bấy giờ phải được ghi nhận, thấu hiểu, và làm thích ứng cho phàm nhân ở cõi trần sử dụng, qua trung gian của não bộ. Đây là vai trò của cái trí sáng suốt. Nó lý giải, diễn đạt và truyền đến não bộ những gì mà chân ngã tinh thần biết, thấy, và hiểu trên cảnh giới của mình. Thế là sự hiểu biết trở nên khả dụng trong ý thức hoàn toàn tỉnh táo, cho người con của Thượng Đế đang nhập thế, là phàm nhân ở cõi hồng trần.
Another side of this, equally true and necessary, is pictured for us by Charles Johnston on page 123 of his edition. He says:
Một phương diện khác của vấn đề này, cũng đúng thực và cần thiết, được Charles Johnston minh họa ở trang 123 trong bản dịch của ông:
"This divining power of intuition is the power [318] which lies above and behind the so-called rational mind; the rational mind formulates a question and lays it before the intuition, which gives a real answer, often immediately distorted by the rational mind, yet always embodying a kernel of truth. It is by this process, through which the rational mind brings questions to the intuition for solution, that the truths of science are reached, the flashes of discovery and genius. But this higher power need not work in subordination to the so-called rational mind, it may act directly, as full illumination, 'the vision and the faculty divine.'"
“Năng lực trực thức này của trực giác vốn cao sâu hơn [318] cái gọi là lý trí. Lý trí diễn đạt một vấn đề, và đặt vấn đề ấy trước trực giác. Trực giác liền đưa ra giải đáp, mà thường lập tức bị lý trí làm cho méo mó. Dù vậy, nó vẫn luôn luôn hàm chứa một hạt nhân của chân lý. Trong giới khoa học cũng có tiến trình lý trí đặt vấn đề cho trực giác để tìm giải pháp, như vừa kể. Nhờ đó mà người ta tìm thấy sự thực, với những tia chớp mang lại sự phát minh và thiên tài. Thế nhưng, quyền năng cao siêu này không nhất thiết phải tác động phụ thuộc vào cái gọi là lý trí. Nó có thể tác động trực tiếp, như một sự giác ngộ trọn vẹn, ‘tầm nhìn tinh thần và năng lực thiêng liêng’.”
34. Understanding of the mind-conscious comes from one-pointed meditation upon the heart centre.
34. Hành giả thấu hiểu tâm thức trí tuệ khi chuyên chú tham thiền vào luân xa tim.
The sons of men are distinguished from the animal kingdom by the possession of intelligence, of the rational reasoning mind. Hence in the Ageless Wisdom, the Secret Doctrine of the world, human beings are frequently called "sons of mind." It is this which gives them their sense of individuality, of their separate identity; it is this which makes them egos.
Những người con của nhân loại khác với loài vật nhờ có được sự thông tuệ và lý trí suy luận. Vì thế, trong minh triết Ngàn đời, là Giáo lý Bí nhiệm của thế giới, con người thường được gọi là “những người con của trí tuệ.” Chính trí tuệ cho họ ý thức về cá tính, về lai lịch riêng biệt của mình, hiểu mình là chân ngã.
In the centre of the brain, seated in the pineal gland, we are told is the home of the soul, an outpost of the life of God, a spark of pure spiritual fire. This is the lowest point which pure spiritual life, direct from the Monad, our Father in Heaven, contacts or reaches. It is the termination of the sutratma, or thread which links and connects [319] the various sheaths and passes from the monad on its own high plane, via the soul body on the higher levels of the mental plane down into the physical vehicle. This life of God is triple and combines the energy of the Father, the Son and the Holy Ghost, and is therefore responsible for the full functioning of all the parts of man's nature on all planes, and for all states of consciousness. One strand of this triple thread or path, the first, is the giver of life, of spirit, of energy. Another, the second, is responsible for the consciousness or intelligence aspect, for the power of spirit to respond to contact and to evolve response. The third concerns the life of the matter or body aspect.
Chúng ta được biết rằng ở phần trung tâm của não bộ, bên trong tuyến tùng, có trú sở của linh hồn. Đó là tiền đồn của sự sống Thượng Đế, một tia lửa tinh thần thuần khiết. Đây là điểm thấp nhất mà sự sống tinh thần thuần khiết, trực tiếp từ Chân thần, Cha của chúng ta ở trên Trời, tiếp xúc và đạt đến. Đó là điểm cuối của sutratma, tuyến liên kết và nối kết các thể khác nhau. [319] Tuyến này đi từ Chân thần trên cảnh giới cao siêu của mình, qua thể của linh hồn ở các cấp cao của cõi trí, xuống đến thể xác. Sự sống này của Thượng Đế vốn tam phân, kết hợp năng lượng của Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Chúa Thánh Thần. Nhờ nó mà mọi cơ phận của con người hoạt động đầy đủ trên mọi cảnh giới, và mọi trạng thái tâm thức của y được thành tựu viên mãn. Phần thứ nhất của tuyến hay con đường tam phân này mang lại sự sống, tinhthần, năng lượng. Phần thứ hai dành cho phương diện tâm thức hay thông tuệ, năng lực của tinh thần có thể ứng đáp với các giao tiếp, ngày càng hiệu quả hơn. Phần thứ ba liên quan đến sự sống trong phương diện vật chất hay cơ thể.
The first aspect via the monad reaches to the pineal gland—the point where spirit resides in man. The second or consciousness aspect, via the ego, makes a point of contact with the heart centre, whilst the third aspect or third part of the sutratma links up with the centre at the base of the spine, which is the main source of the personality or bodily activity.
Phương diện thứ nhất qua Chân thần xuống đến tuyến tùng − là điểm trụ của tinh thần trong con người. Phương diện thứ hai hay tâm thức, qua chân ngã, có điểm giao tiếp với luân xa tim. Trong khi đó, phương diện thứ ba hay phần thứ ba của sutratma thì liên kết với luân xa ở chót xương sống. Đây là nguồn chính yếu cho hoạt động của phàm ngã hay cơ thể.
Through concentration, therefore, on the light in the head, knowledge of the spiritual worlds and of those pure spirits who work and walk in them is achieved, for Atma or spirit shines there. Similarly through concentrated meditation upon the heart, knowledge of the second aspect, of the conscious intelligent principle which makes a man a son of God, is gained.
Vì thế, qua tập trung vào ánh sáng bên trong đầu, hành giả biết được các ảnh giới tinh thần và những chân linh thuần khiết đang sống và làm việc trong đó. Atma hay tinh thần vốn chói rạng trong các cảnh giới vừa kể. Tương tự, khi tham thiền tập trung vào luân xa tim, hành giả biết được phương diện thứ hai, là nguyên khí thông tuệ hữu thức giúp y trở thành một người con của Thượng Đế.
Through the development of the head and the use of the head centre, the will is brought into [320 functioning activity. It is the characteristic of spirit, and demonstrates purpose and control. Through the unfolding and use of the heart centre the love-wisdom aspect is similarly brought into use and the love of God is seen working out in a man's life and work. For the mind of God is love, and the love of God is intelligence, and these two aspects of one great quality are brought into play for the working out of His will and purpose. Of this the Christ was the outstanding example to the Occident, as Krishna was to India, and this has to be reflected and manifested also in every man.
Nhờ phát triển luân xa đầu và sử dụng luân xa tim, ý chí được khơi hoạt. Ý chí là đặc trưng của tinh thần, biểu lộ mục đích tiến hóa và sự chế ngự. Khi khai mở và sử dụng luân xa tim, phương diện bác ái-minh triết cũng được sử dụng tương tự. Bấy giờ tình thương của Thượng Đế biểu lộ rõ trong đời sống và công việc của mỗi người. Vì trí tuệ của Thượng Đế là bác ái, và bác ái của Thượng Đế là sự thông tuệ. Cả hai phương diện này của cùng một phẩm tính thiêng liêng duy nhất được đưa vào hoạt động để thực thi ý chí và chủ đích của Ngài. Điển hình xuất sắc của phẩm tính này cho người Đông phương là Đấng Christ, và cho người Ấn Độ là Đức Krishna. Phẩm tính này cũng phải được phản ánh và biểu hiện trong mọi người.
35. Experience (of the pairs of opposites) comes from the inability of the soul to distinguish between the personal self and the purusa (or spirit). The objective forms exist for the use (and experience) of the spiritual man. By meditation upon this, arises the intuitive perception of the spiritual nature.
35. Linh hồn trải qua các cặp đối cực vì không thể phân biệt được giữa phàm ngã và purusa (hay tinh thần). các ngoại thể sở dĩ có là để cho con người tinh thần sử dụng (hay thu thập kinh nghiệm). Khi tham thiền về điều này, hành giả sẽ có nhận thức trực giác về bản tính tinh thần.
Again we have quite a loose paraphrase of the original text, but one which nevertheless conveys the correct interpretation.
Một lần nữa, chúng ta lại có lối chuyển ngữ khá lỏng lẻo của câu kinh trong bản chính. Tuy nhiên, lối dịch này lại chuyển đạt đúng ý nghĩa.
We have seen in the preceding sutras that the narrow path to be trodden between the pairs of opposites (through the practice of discrimination and dispassion) is the path of equilibrium, of balance, the noble middle path. This sutra is in the nature of a comment upon this stage of the soul's experience and points out the following lessons: [321]
Trong các câu trước, chúng ta đã thấy con đường nhỏ hẹp mà hành giả phải tiến bước giữa các cặp đối cực (qua thực hành phân biện và vô dục). Đó là con đường quân bình, thăng bằng, con đường trung đạo cao cả. Câu này có tính cách nhận xét về giai đoạn vừa kể trong kinh nghiệm của linh hồn, và nêu lên các bài học sau đây: [321]
First, that the reason we are confronted by the pairs of opposites, and so frequently choose that line of activity or attitude of mind which produces in us pleasure or pain, is because we fail to distinguish between the lower nature and the higher, between the personal self (functioning as a physical, an emotional, and a mental unit) and the divine spirit to be found in each of us. We identify ourselves with the form aspect, and not with the spirit. We regard ourselves as the not-self, for aeons of time and forget our sonship, our unity with the father and the fact that we are, in reality, the indwelling self.
Thứ nhất, chúng ta đứng trước những cặp đối cực, và quá thường khi chọn đường lối hoạt động hoặc thái độ nào trong trí mang lại cho chúng ta niềm vui hay nỗi khổ. Lý do là vì chúng ta không phân biệt được giữa phàm tính và chân tính cao siêu, giữa phàm ngã (hoạt động qua thể xác, thể tình cảm, và thể trí) và tinh thần thiêng liêng trong mỗi chúng ta. Chúng ta tự đồng hóa với phương diện hình thể, chứ không đồng nhất với tinh thần. Chúng ta cho rằng mình là cái phi- ngã. Chúng ta quên đi tư cách chúa con của mình, sự hợp nhất của mình với Đấng Cha lành, và quên đi sự kiện rằng thực tế chúng ta là chân ngã ngự ở nội tâm.
Second, that the purpose of form is simply to enable the self to contact worlds otherwise closed to it, and to develop full awareness in all parts of the Father's kingdom, and thus demonstrate as a fully conscious son of God. Through the form, experience is gained, consciousness awakened, faculty is developed and powers are unfolded.
Thứ hai, mục đích của hình thể chỉ là giúp chân ngã tiếp xúc với những thế giới mà chân ngã chưa hề biết, và phát triển trực thức viên mãn trong toàn vương quốc của Đấng Cha lành, để biểu dương tư cách người con Thượng Đế hoàn toàn tỉnh thức. Qua hình thể, chân ngã thu thập kinh nghiệm, mở mang tâm thức, phát triển quan năng và khai mở quyền năng.
Third, that as this fact is grasped intellectually and meditated upon interiorly, awareness of one's identity with the spiritual nature and one's distinction from the form is developed. One knows oneself in truth to be, not the form but the indweller, not the material self but the spiritual, not the differentiated aspects but the One alone, and thus the great process of liberation is carried forward. One becomes what one is, and one accomplishes this through meditation on the intelligent soul, the middle aspect, the Christ principle which links the Father (spirit) and the Mother (matter). [322]
Thứ ba, khi hành giả thấu đáo sự kiện thực tế này qua trí tuệ và tham thiền về nó ở nội tâm, hành giả trực nhận ra rằng mình chính là bản tính tinh thần và khác với hình thể. Y thực sự biết được chân tính của mình. Y không là hình thể mà là chân ngã ngự ở nội tâm. Y không là cái ta vật chất mà là sự sống tinh thần. Y không phải là những phương diện biệt hóa, mà là Đấng Duy nhất. Cứ thế tiến trình giải thoát tiếp diễn. Qua tham thiền về linh hồn thông tuệ, về trạng thái trung gian, nguyên khí Christ liên kết Cha (tinh thần) và mẹ (vật chất), y thành tựu bản tính thiêng liêng của mình. [322]
Thus the great triplicity is again to be seen:
Một lần nữa, ba ngôi chánh đại lại được đề cập ở đây:
1. The Father, or spirit, the one who manifests, who creates, who indwells,
1. Đức Chúa Cha, hay tinh thần, đấng biểu hiện, sáng tạo, và ẩn ngự trong hình thể,
2. The Son who reveals, meditates and links the highest aspect with the lower,
2. Đức Chúa Con, làm hiển lộ, trung gian, và liên kết trạng thái cao nhất và trạng thái thấp,
3. The Holy Ghost, overshadowing the Mother, intelligent material substance providing the forms through which experience and development are gained.
3. Chúa Thánh Thần, ảnh hưởng đến mẹ vật chất thông minh, tạo nên các hình thể để qua đó sự sống thu kinh nghiệm và phát triển.
The one who experiences, who incarnates and who achieves divine expression through the medium of form is the soul, the self, the spiritual conscious man, the Christ within. When through this experience he has achieved maturity, he reveals the Father or spirit and so fulfills the words of Christ, when He said (in reply to Philip's question "Lord, show us the Father"), "He that hath seen me hath seen the Father" (John XIV.).
Chính linh hồn, chân ngã, con người tinh thần hữu thức, Đấng Christ ở nội tâm, đang trải nghiệm, nhập thế, và thực hiện sự biểu lộ thiêng liêng qua trung gian của hình thể. Khi qua kinh nghiệm này và đã đạt mức trưởng thành, chân ngã hiển lộ Đức Chúa Cha hay tinh thần. Điều này đúng với lời của Đức Christ “Những ai đã thấy ta tức là thấy Cha ta” (John XIV.), khi Ngài đáp lại yêu cầu của Philip “Thưa Chúa, xin cho chúng con thấy Đức Chúa Cha.”
36. As the result of this experience and meditation, the higher hearing, touch, sight, taste and smell are developed, producing intuitional knowledge.
36. Kết quả của kinh nghiệm và cố gắng tham thiền này là các cơ quan thính giác, xúc giác, thị giác, vị giác và khứu giác cấp cao được phát triển, mang lại sự hiểu biết trực giác.
Through meditation the aspirant becomes aware of the counterparts of the five senses as they are found in the subtler realms, and through their awakening and conscious use he becomes able to function as freely on the inner planes as he does on the physical. He can then serve intelligently in those realms and cooperate with the great evolutionary scheme.
Qua tham thiền, hành giả ngày càng ý thức được các đối ứng của năm giác quan trên những cảnh giới tế vi. Khi đánh thức và hữu ý sử dụng chúng, y có thể hoạt động tự do trong các lĩnh vực này như khi làm việc ở cõi trần. Bấy giờ, y có thể phụng sự trên các cảnh giới đó một cách thông minh, và hợp tác với hệ thống tiến hóa rộng lớn.
The senses may be defined as those organs [323] whereby man becomes aware of his surroundings. In the animal these five senses exist, but the thinking correlating faculty is lacking. They demonstrate as group faculty, analogous to a racial instinct in the human kingdom.
Có thể định nghĩa các giác quan là những cơ quan [323] mà nhờ đó con người ý thức được môi trường chung quanh mình. Trong loài vật, đã có năm giác quan này, nhưng chúng còn thiếu năng lực tương quan với tư duy. Các giác quan này biểu lộ như quan năng của bầy đàn, tương tự như bản năng chủng tộc trong giới nhân loại.
Each of these five senses has a definite connection with one or other of the seven planes of manifestation, and has also a correspondence on all the planes.
Mỗi một trong năm giác quan này đều liên kết rõ rệt với một trong bảy cảnh giới biểu hiện, và cũng có phần tương ứng trên tất cả các cảnh giới.
Plane Sense
Cảnh giới Giác quan
1. Physical Hearing
1. Hồng trần...Thính giác
2. Astral Touch or feeling
2. Cảm dục......Xúc giác hay cảm giác
3. Mental Sight
3. Trí tuệ...........Thị giác
4. Buddhic Taste
4. Bồ-đề............Vị giác
5. Atmic Smell
5. Atma............Khứu giác
A further tabulation taken from A Treatise on Cosmic Fire will serve to make clear the five different aspects of the five senses on the five planes, and for further information, the student is referred to that Treatise pages 186-202.
Một bảng biểu khác lấy từ quyển Luận về Lửa Vũ trụ sẽ giải rõ hơn về năm khía cạnh khác nhau của năm giác quan trên năm cảnh giới. Để biết thêm chi tiết, người môn sinh nên tham khảo bộ Luận này, các trang 186-202.
MICROCOSMIC SENSORY EVOLUTION
Plane Sense Subplane
Physical 1. Hearing 5th gaseous
2. Touch, feeling 4th first etheric
3. Sight 3rd super ethric
4. Taste 2nd sub-atomic
5. Smell 1st atomic
Astral 1. Clairaudience 5th
2. Psychometry 4th
3. Clairvoyance 3rd
4. Imagination 2nd
5. Emotional idealism 1st [324]
Mental 1. Higher clairaudience 7th |
2. Planetary psychometry 6th |
3. Higher clairvoyance 5th > Form
4. Discrimination 4th |
5. Spiritual discernment 3rd <
Response to group |
vibration 2nd > Formless
Spiritual telepathy 1st |
Buddhic 1. Comprehension 7th
2. Healing 6th
3. Divine vision 5th
4. Intuition 4th
5. Idealism 3rd
Atmic 1. Beatitude 7th
2. Active service 6th
3. Realisation 5th
4. Perfection 4th
5. All knowledge 3rd
In the following table the numbers one, two, three, four and five under each sense refer to the planes of manifestation as given in the first tabulation above.
a. The First Sense............Hearing.
1. Physical hearing.
2. Clairaudience.
3. Higher clairaudience.
4. Comprehension (of four sounds)
5. Beatitude.
b. The Second Sense............Touch or feeling.
1. Physical touch.
2. Psychometry.
3. Planetary psychometry.
4. Healing.
5. Active service. [325]
c. The Third Sense............Sight.
1. Physical sight.
2. Clairvoyance.
3. Higher clairvoyance.
4. Divine vision.
5. Realisation.
d. Fourth Sense............Taste.
1. Physical taste.
2. Imagination.
3. Discrimination.
4. Intuition.
5. Perfection.
e. The Fifth Sense.........Smell.
1. Physical smell.
2. Emotional idealism.
3. Spiritual discernment.
4. Idealism.
5. All knowledge.