a. Meditation, and its stages
a. Tham thiền, và các giai đoạn.
b. Twenty-three results of meditation
b. Hai mươi ba kết quả của tham thiền.
Topic: The powers of the soul [237]
Chủ đề: Quyền năng của linh hồn.
1. Concentration is the fixing of the chitta (mind stuff) upon a particular object. This is dharana.
1. Tập trung là chú định chitta (trí tuệ chất) vào một đối tượng riêng biệt. Đây là dharana.
2. Sustained concentration (dharana) is meditation (dhyana).
2. Tập trung (dharana) kéo dài là tham thiền (dhyana).
3. When the chitta becomes absorbed in that which is the reality (or idea embodied in the form), and is unaware of separateness or the personal self, this is contemplation or samadhi.
3. Khi chitta đắm chìm trong thực tại (hay là cái ý tưởng ẩn trong hình thể), và không còn ý thức về tính chia rẽ hay về tư ngã, thì đó là chiêm ngưỡng hay samadhi.
4. When concentration, meditation and contemplation form one sequential act, then is sanyama achieved.
4. Khi tập trung, tham thiền và chiêm ngưỡng trở nên một hành động có trình tự và duy nhất, thì đó là sự thành tựu sanyama.
5. As a result of sanyama comes the shining forth of the light.
5. Sanyama có kết quả làm cho ánh sáng chói rạng.
6. This illumination is gradual; it is developed stage by stage.
6. Sự giác ngộ vốn tuần tự, và được phát triển qua từng giai đoạn.
7. These last three means of yoga have a more intimate subjective effect than the previous means.
7. Ba phương tiện sau này của yoga có hiệu quả mật thiết về mặt nội tâm hơn các phương tiện trước.
8. Even these three, however, are external to the true seedless meditation (or samadhi) which is not based on an object. It is free from the effects of the discriminative nature of the chitta (or mind stuff).
8. Tuy nhiên, ngay cả ba phương tiện nói trên vẫn còn là bên ngoài so với tham thiền vô chủng đích thực (hay là samadhi) vốn không dựa vào đối tượng. Samadhi không còn chịu ảnh hưởng bởi tính phân biện của chitta (hay trí tuệ chất).
9. The sequence of mental states is as follows: the mind reacts to that which is seen; then follows the moment of mind control. Then ensues a moment wherein the chitta (mind stuff) responds to both these factors. Finally these pass away, and the perceiving consciousness has full sway.
9. Trình tự của các trạng thái trí tuệ như sau: Cái trí phản ứng với điều thấy được. Kế đến là sự chế ngự cái trí. Sau đó, chitta (trí tuệ chất) ứng đáp với cả hai yếu tố vừa kể. Cuối cùng chúng qua đi, chỉ còn tâm thức trực nhận hoàn toàn sáng tỏ.
10. Through the cultivation of this habit of mind there will eventuate a steadiness of spiritual perception. [238]
10. Khi thói quen này của thể trí được thường xuyên vun bồi, rốt cuộc nhận thức tinh thần sẽ vững vàng, liên tục. [238]
11. The establishing of this habit, and the restraining of the mind from its thought-form-making tendency, results eventually in the constant power to contemplate.
11. Khi đã có thói quen này, và kềm chế được khuynh hướng tạo hình tư tưởng của thể trí, rốt cuộc hành giả có năng lực chiêm ngưỡng liên tục.
12. When mind control and the controlling factor are equally balanced, then comes the condition of one-pointedness.
12. Khi việc chế ngự cái trí và yếu tố chế ngự đều cùng cân bằng, bấy giờ mới có sự nhất tâm.
13. Through this process the aspects of every object are known, their characteristics (or form), their symbolic nature, and their specific use in time-conditions (stage of development) are known and realised.
13. Qua tiến trình này, hành giả biết được các phương diện của mọi đối tượng. Y biết và nhận thức được các đặc điểm (hay hình thể) của chúng, tính biểu tượng của chúng, và công dụng đặc biệt của chúng theo điều kiện thời gian (giai đoạn phát triển).
14. The characteristics of every object are acquired, manifesting or latent.
14. Đặc tính của mọi vật thể hay đối tượng đều do tập nhiễm, đang biểu lộ hay tiềm ẩn.
15. The stage of development is responsible for the various modifications of the versatile psychic nature and of the thinking principle.
15. Giai đoạn phát triển bao gồm những biến thái khác nhau của bản chất cái tâm thường thay đổi và nguyên khí tư duy.
16. Through concentrated meditation upon the triple nature of every form, comes the revelation of that which has been and of that which will be.
16. Qua tham thiền tập trung về bản chất tam phân của mọi hình thể, hành giả hiểu được những gì đã có và những gì sẽ có.
17. The Sound (or word), that which it denotes (the object) and the embodied spiritual essence (or idea) are usually confused in the mind of the perceiver. By concentrated meditation on these three aspects comes an (intuitive) comprehension of the sound uttered by all forms of life.
17. Âm thanh (hay linh từ), điều nó biểu thị (là đối tượng), và tinh túy tinh thần (hay ý tưởng) ở trong hình thể, vốn thường bị lẫn lộn trong trí của người nhận thức. Qua tham thiền tập trung về ba phương diện này, hành giả có thể thấu hiểu (trực giác) được âm thanh mà mọi hình thể của sự sống phát ra.
18. Knowledge of previous incarnations becomes available when the power to see thought-images is acquired.
18. Khi hoạch đắc năng lực thấy các hình tư tưởng, hành giả có thể biết được các tiền kiếp.
19. Through concentrated meditation, the thought images in the minds of other people become apparent.
19. Qua tham thiền tập trung, hành giả có thể thấy rõ các hình tư tưởng trong trí của người khác.
20. As, however, the object of those thoughts is not apparent to the perceiver, he sees only the thought and not the object. His meditation excludes the tangible.
20. Tuy nhiên, vì đối tượng của các tư tưởng này không tỏ rõ đối với người nhận thức, nên y chỉ thấy tư tưởng chứ không thấy đối tượng đó. Việc tham thiền của y không bao gồm cái hữu hình.
21. By concentrated meditation upon the distinction between form and body, those properties of the body which make it visible to the human eye are negated (or withdrawn) and the yogi can render himself invisible.
21. Bằng cách tham thiền tập trung vào sự khác biệt giữa hình thể và cơ thể, những đặc tính của thân xác khiến nó hữu hình đối với mắt người, bị vô hiệu hóa (hay rút lại), và nhà yogi có thể trở nên vô hình.
22. Karma (or effects) are of two kinds: immediate karma or future karma. By perfectly concentrated [239] meditation on these, the yogi knows the term of his experience in the three worlds. This knowledge comes also from signs.
22. Nghiệp quả (hay hậu quả) có hai loại: nghiệp quả hiện tại hay nghiệp quả tương lai. [239]Qua tham thiền hoàn toàn tập trung về các loại nghiệp quả này, nhà yogi biết được phạm vi kinh nghiệm của mình trong tam giới. Sự hiểu biết này cũng nhờ xem các dấu hiệu.
23. Union with others is to be gained through one-pointed meditation upon the three states of feeling—compassion, tenderness and dispassion.
23. Hành giả hợp nhất với người khác khi nhất tâm tham thiền về ba trạng thái của tình cảm − lòng từ bi, nhân hậu và vô dục.
24. Meditation, one-pointedly centered upon the power of the elephant, will awaken that force or light.
24. Tham thiền tập trung chuyên nhất vào năng lực của con voi, sẽ khơi dậy mãnh lực hay ánh sáng ấy.
25. Perfectly concentrated meditation upon the awakened light will produce the consciousness of that which is subtle, hidden or remote.
25. Tham thiền hoàn toàn tập trung vào ánh sáng đã khơi hoạt, hành giả sẽ ý thức được những gì tinh tế, ẩn tàng, hoặc ở xa.
26. Through meditation, one-pointedly fixed upon the sun, will come a consciousness (or knowledge) of the seven worlds.
26. Qua tham thiền nhất tâm về mặt trời, hành giả sẽ ý thức (hay biết) được bảy cảnh giới.
27. A knowledge of all lunar forms arises through one-pointed meditation upon the moon.
27. Tham thiền chuyên chú về mặt trăng giúp hành giả hiểu biết tất cả các thể mặt trăng.
28. Concentration upon the Pole-Star will give knowledge of the orbits of the planets and the stars.
28. Tập trung suy ngẫm về Sao Bắc đẩu, hành giả sẽ hiểu biết quỹ đạo của các hành tinh và các ngôi sao.
29. By concentrated attention upon the centre called the solar plexus, comes perfected knowledge as to the condition of the body.
29. Khi tập trung chú ý vào luân xa gọi là nhật tùng (tùng thái dương), hành giả sẽ biết rõ tình trạng của cơ thể.
30. By fixing the attention upon the throat centre, the cessation of hunger and thirst will ensue.
30. Bằng cách chú định vào luân xa cổ họng, hành giả không còn thấy đói và khát.
31. By fixing the attention upon the tube or nerve below the throat centre, equilibrium is achieved.
31. Khi chú định vào ống hay dây thần kinh bên dưới luân xa cổ họng, hành giả đạt được sự quân bình.
32. Those who have attained self-mastery can be seen and contacted through focussing the light in the head. This power is developed in one-pointed meditation.
32. Khi tập trung ánh sáng bên trong đầu, hành giả có thể thấy và giao tiếp với những bậc đã đạt sự tự chủ. Quyền năng này được phát triển trong tham thiền chuyên nhất.
33. All things can be known in the vivid light of the intuition.
33. Trong ánh sáng chói rạng của trực giác, hành giả có thể hiểu biết mọi sự.
34. Understanding of the mind-consciousness comes from one-pointed meditation upon the heart centre.
34. Hành giả thấu hiểu tâm thức trí tuệ khi chuyên chú tham thiền vào luân xa tim.
35. Experience (of the pairs of opposites) comes from the inability of the soul to distinguish between the personal self and the purusa (or spirit). The objective forms exist for the use (and experience) of the spiritual man. By meditation upon this, arises the intuitive perception of the spiritual nature (the purusa). [240]
35. Linh hồn trải qua các cặp đối cực vì không thể phân biệt được [240] giữa phàm ngã và Purusa (hay tinh thần). Các ngoại thể sở dĩ có là để cho con người tinh thần sử dụng (hay thu thập kinh nghiệm). Khi tham thiền về điều này, hành giả sẽ có nhận thức trực giác về bản tính tinh thần.
36. As the result of this experience and meditation, the higher hearing, touch, sight, taste and smell are developed, producing intuitional knowledge.
36. Kết quả của kinh nghiệm và cố gắng tham thiền này là các cơ quan thính giác, xúc giác, thị giác, vị giác và khứu giác cấp cao được phát triển, mang lại sự hiểu biết trực giác.
37. These powers are obstacles to the highest spiritual realisation, but serve as magical powers in the objective worlds.
37. Các quyền năng này là chướng ngại đối với nhận thức tinh thần cao tột, nhưng được dùng như quyền năng huyền thuật trong những thế giới khách quan.
38. By liberation from the causes of bondage through their weakening and by an understanding of the mode of transference (withdrawal or entrance), the mind stuff (or chitta) can enter another body.
38. Nhờ thoát khỏi các nguyên nhân gây giam hãm bằng cách làm cho chúng suy yếu, và nhờ hiểu được phương thức chuyển di (nhập hoặc xuất), trí tuệ chất (hay chitta) có thể nhập vào một cơ thể khác.
39. By subjugation of the upward life (the udana) there is liberation from water, the thorny path, and mire, and the power of ascension is gained.
39. Bằng cách chế ngự sự sống hướng thượng (udana), hành giả được tự do thoát khỏi ảnh hưởng của nước, đường đi chông gai, và bùn lầy, và có quyền năng khinh thân.
40. Through subjugation of the samana, the spark becomes the flame.
40. Nhờ chế ngự samana, tia lửa trở thành ngọn lửa.
41. By the means of one-pointed meditation upon the relationship between the akasha and sound, an organ for spiritual hearing will be developed.
41. Bằng cách tham thiền chuyên nhất về mối liên hệ giữa akasha và âm thanh, cơ quan của thính giác tinh thần sẽ được phát triển.
42. By one-pointed meditation upon the relationship existing between the body and the akasha, ascension out of matter (the three worlds) and power to travel in space is gained.
42. Khi tham thiền chuyên nhất về mối liên hệ giữa cơ thể và tiên thiên khí, hành giả vượt ra khỏi vật chất (tam giới) và có quyền năng du hành trong không gian.
43. When that which veils the light is done away with, then comes the state of being called discarnate (or disembodied), freed from the modification of the thinking principle. This is the state of illumination.
43. Khi màn che ánh sáng bị loại bỏ, hành giả hiện tồn trong trạng thái thoát trần (hay giải thể), không còn bị chi phối bởi biến thái của nguyên khí tư duy. Đây là trạng thái giác ngộ.
44. One-pointed meditation upon the five forms which every element takes, produces mastery over every element. These five forms are the gross nature, the elemental form, the quality, the pervasiveness and the basic purpose.
44. Tham thiền nhất tâm về năm dạng của mọi nguyên tố, hành giả sẽ có khả năng chế ngự mọi nguyên tố. Năm dạng vừa kể là tính chất thô, dạng tinh hoa, phẩm tính, sự đều khắp và mục đích cơ bản.
45. Through this mastery, minuteness and the other siddhis (or powers) are attained, likewise bodily perfection and freedom from all hindrances.
45. Qua cố gắng chế ngự này, hành giả đạt được sự cực vi và các siddhi (hay quyền năng) khác, cũng như sự hoàn hảo của thân xác và thoát khỏi mọi chướng ngại.
46. Symmetry of form, beauty of colour, strength and the compactness of the diamond, constitute bodily perfection.
46. Sự hoàn thiện của cơ thể là hình thể cân đối, màu sắc tốt đẹp, sức mạnh và sự rắn chắc của kim cương.
47. Mastery over the senses is brought about through concentrated meditation upon their nature, peculiar attributes, egoism, pervasiveness and useful purpose. [241]
47. Hành giả làm chủ các giác quan nhờ tham thiền tập trung vào tính chất, thuộc tính đặc thù, ngã thức, tính đều khắp, và mục đích hữu ích của chúng. [241]
48. As a result of this perfection, there comes rapidity of action like that of mind, perception independent of the organs, and mastery over root substance.
48. Kết quả của sự hoàn thiện này là khả năng hành động mau lẹ như cái trí, có nhận thức độc lập với các cơ quan, và vận dụng được chất liệu căn bản.
49. The man who can discriminate between the soul and the spirit achieves supremacy over all conditions and becomes omniscient.
49. Khi có thể phân biệt giữa linh hồn và tinh thần, hành giả thấu đáo được mọi điều kiện và trở nên toàn tri.
50. By a passionless attitude towards this attainment and towards all soul-powers, the one who is free from the seeds of bondage, attains the condition of isolated unity.
50. Với thái độ không ham muốn sự thành đạt này và tất cả các quyền năng của linh hồn, người đã giải thoát khỏi các chủng tử của nô lệ, nay đi vào trạng thái nhất như tự tại.
51. There should be entire rejection of all allurements from all forms of being, even the celestial, for the recurrence of evil contacts remains possible.
51. Cần hoàn toàn thản nhiên đối với mọi sự cám dỗ của mọi hình thái sống, cho dù là sống ở cõi trời, vì vẫn khả dĩ có sự tái diễn ảnh hưởng của điều ác.
52. Intuitive knowledge is developed through the use of the discriminative faculty when there is one-pointed concentration upon moments and their continuous succession.
52. Hiểu biết trực giác phát triển nhờ dùng khả năng phân biện, khi hành giả chuyên chú vào những khoảnh khắc và sự tiếp diễn liên tục của chúng.
53. From this intuitive knowledge is born the capacity to distinguish (between all beings) and to cognize their genus, qualities and position in space.
53. Từ sự hiểu biết trực giác này phát sinh khả năng phân biệt (giữa tất cả các chúng sinh) và biết được chủng loại, đặc tính và vị trí của họ trong không gian.
54. This intuitive knowledge, which is the great Deliverer, is omnipresent and omniscient and includes the past, the present and the future in the Eternal Now.
54. Sự hiểu biết trực giác này là Tác nhân hiển lộ quan trọng. Nó có ở khắp nơi, toàn tri và gồm cả quá khứ, hiện tại và tương lai trong Hiện tại Vĩnh cửu.
55. When the objective forms and the soul have reached a condition of equal purity, then is At-one-ment achieved and liberation results. [243]
55. Khi các ngoại thể và linh hồn đã đạt độ tinh khiết như nhau, bấy giờ có sự Nhất quán đưa đến giải thoát.
THE YOGA SUTRAS OF PATANJALI
1. Concentration is the fixing of the chitta (mind stuff) upon a particular object. This is dharana.
1. Tập trung là chú định chitta (trí tuệ chất) vào một đối tượng riêng biệt. Đây là dharana.
We have now reached the part of the Yoga Sutras which deals specifically with mind control and with the effect of that control. The first fifteen sutras are given to the control of the mind and how it is to be attained and the remaining forty sutras concern the results which take place after this control has been gained. Twenty-four results are enumerated, and these are all along the line of expansions of consciousness and the demonstration of psychic faculties, both lower and higher.
Nay đến phần của Yoga Điển tắc cụ thể bàn về việc kiểm soát cái trí và hiệu quả của việc kiểm soát đó. mười lăm câu đầu nói về kiểm soát cái trí và cách thực hiện. Bốn mươi câu còn lại nói đến các kết quả xảy ra sau khi đã kiểm soát được cái trí. Có hai mươi bốn kết quả. Tất cả đều theo đường hướng mở mang tâm thức, và phát triển các quan năng thần thông cả cấp thấp và cấp cao.
The first step towards this unfoldment is concentration, or the ability to hold the mind steadily and unwaveringly upon that which the aspirant chooses. This first step is one of the most difficult [244] stages in the meditation process and involves constant unremitting ability to keep bringing the mind back to that "object" upon which the aspirant has chosen to concentrate. The stages in concentration are themselves well marked and can be stated as follows:
Bước đầu của việc khai mở này là tập trung, hay là khả năng định trí trên điều được hành giả chọn, một cách vững vàng và không xao xuyến. Bước đầu này là một trong những giai đoạn khó khăn nhất của tiến trình tham thiền [244]. Đây là khả năng liên tục nhẫn nại đưa cái trí trở về đối tượng mà hành giả đã chọn để tập trung. Chính việc tập trung cũng có các giai đoạn rõ rệt sau đây:
1. The choice of some "object" upon which to concentrate,
1. Chọn một “đối tượng” để tập trung,
2. The withdrawing of the mind-consciousness from the periphery of the body, so that the avenues of outer perception and contact (the five senses) are stilled, and the consciousness is no longer outgoing,
2. Rút ý thức của cái trí khỏi phần ngoại vi của cơ thể. Nhờ đó, mà các đường lối cảm nhận và giao tiếp với bên ngoài (năm giác quan) trở nên yên lặng, và tâm thức không còn phóng ngoại,
3. The centering of the consciousness and its steadying within the head at a point midway between the eyebrows,
3. Tập trung tâm thức vững vàng, liên tục bên trong đầu, ở điểm giữa hai chân mày,
4. The application of the mind, or the paying of close attention to the object chosen for concentration,
4. Cái trí chuyên chú vào đối tượng được chọn để tập trung,
5. The visualization of that object, imaginative perception of it and logical reasoning about it,
5. Hình dung đối tượng đó, nhận thức nó qua trí tưởng tượng, và suy lý về nó,
6. The extension of the mental concepts which have been formed from the specific and particular to the general and the universal or cosmic,
6. Mở rộng các khái niệm trí tuệ đã được hình thành, từ mức cụ thể và đặc thù đến cấp tổng quát, đại đồng hay vũ trụ,
7. An attempt to arrive at that which lies back of the form considered, or to reach the idea which is responsible for the form.
7. Cố gắng thấu hiểu những gì ẩn trong hình thể đang được xem xét. Tức là thấy cái ý tưởng cốt yếu của hình thể đó.
This process gradually steps up the consciousness and enables the aspirant to arrive at the life side of manifestation instead of the form side. He begins however with the form or "object." Objects upon which to concentrate are of four kinds: [245]
Tiến trình này từ từ nâng cao tâm thức, giúp hành giả có thể thấu đến phương diện sự sống của cuộc biểu hiện thay vì phương diện hình thể. Tuy nhiên, y vẫn bắt đầu với hình thể hay “đối tượng.” Có bốn loại đối tượng để tập trung: [245]
1. External objects, such as images of the deity, pictures or forms in nature,
1. Các đối tượng bên ngoài, như các hình tượng thần, thánh, những tranh ảnh hay hình thể trong thiên nhiên,
2. Internal objects, such as the centres in the etheric body,
2. Những đối tượng bên trong, như các luân xa trong thể dĩ thái,
3. Qualities, such as the various virtues, with the intent to awaken desire for these virtues and thus to build them into the content of the personal life,
3. Các phẩm tính, như những đức hạnh khác nhau, với ý muốn phát triển các thiện hạnh này để làm phong phú đời sống cá nhân,
4. Mental concepts or those ideas which embody the ideals lying back of all animated forms. These may take the form of symbols or of words.
4. Khái niệm trí tuệ hay là những ý tưởng thể hiện các lý tưởng ẩn trong mọi hình thể được chúng phát động. Những khái niệm này có thể dưới dạng biểu tượng hay ngôn từ.
In one of the Puranas the idea embodied in concentration is expressed most beautifully. The aspirant is told, after he has made use of the first five means of yoga (dealt with in Book II), that he "should make a localization of the mind stuff upon some auspicious support" and this localization is illustrated by a description of the fixing of the attention upon a form of God.
Một quyển kinh Purana đã bàn rất hay về vấn đề tập trung này: Trước hết, người chí nguyện cần thực hành năm phương tiện đầu của yoga (đã bàn trong Quyển II). Sau đó, y “cần an trụ trí tuệ chất trên một điểm tựa tốt đẹp.” Sự an trụ này được minh họa là chú tâm vào một hình thể của Thượng Đế.
"The incarnated form of the Exalted One leaves one without desire for any other support. This should be understood to be fixed attention, when the mind stuff is fixed upon this form. And what is this incarnate form of Hari on which one should ponder, let that be heard by thee, O Ruler of Men. Fixed attention is not possible without something on which to fix it." (Vishnu Purana VI. 7. 75-85.)
“Hình thể lâm phàm của Đấng Cao cả khiến hành giả không còn muốn nương tựa vào bất cứ điều gì khác. Đây là sự tập trung chuyên chú, khi trí tuệ chất an định vào hình thể này. Hỡi Nhà Cai trị Thế nhân, hãy lắng nghe những điều suy ngẫm về hình thể lâm phàm này của Hari. Không thể tập trung chuyên chú nếu không có điều gì để trụ vào đó.” (Vishnu Purana VI. 7. 75-85.)
Then follows a description of the incarnated form of the Exalted One, concluding with these words:
Kế đến là phần mô tả hình thể lâm phàm của Đấng Cao cả, với những lời sau đây:
"... upon Him let the yogin ponder; and lost in Him, concentrate his own mind until, O, King, the fixed attention becomes firmly fixed upon Him only. While [246] performing this or while doing, as he wills, some other action wherein his mind does not wander, he should then deem this fixed attention to be perfected." (Naradiya Purana LXVII. 54-62.)
“... nhà yogi hãy suy ngẫm về Ngài. Trí y tập trung và chìm đắm trong Ngài cho đến khi, Hỡi Đức Vua, y chỉ chuyên tâm định trí nơi Ngài. Khi [246] thực hành cố gắng này hoặc trong khi thực hiện điều này tùy ý muốn, thể trí của y không còn vẩn vơ trong bất cứ hành động nào khác. Bấy giờ xem như sự chú tâm, định trí này là hoàn hảo.” (Naradiya Purana LXVII. 54-62.)
It is the realization of the necessity for "objects" in concentration that originated the demand for images, sacred sculptures and pictures. All these objects entail the use of the lower concrete mind and this is the necessary preliminary stage. Their use brings the mind into a controlled condition so that the aspirant can make it do just what he chooses. The four types of objects mentioned above carry the aspirant gradually inwards and enable him to transfer his consciousness from the physical plane into the etheric realm, from thence into the world of desire or of the emotions, and so into the world of mental ideas and concepts. This process, which is carried on within the brain, brings the entire lower man into a state of one-pointed coherent attention, all parts of his nature being directed to the attainment of fixed attention or a concentration of all the mental faculties. The mind then is no longer scattering, unsteady and outgoing, but is fully "fixed in attention." Vivekananda translates "dharana" as "holding the mind to one thought for twelve seconds."
Chính vì nhận thấy sự thiết yếu của “đối tượng” trong tập trung, mới nảy sinh nhu cầu về các hình ảnh, những tác phẩm điêu khắc, và tranh tượng thánh tích. Tất cả các đối tượng này đều cần để sử dụng hạ trí cụ thể, và đây là bước đầu cần thiết. Việc sử dụng chúng giúp cho thể trí ở trong tình trạng được kiểm soát. Do đó, hành giả có thể khiến nó thực hiện đúng điều gì y chọn. Bốn loại đối tượng kể trên giúp hành giả dần dần hướng nội. Chúng giúp y có thể chuyển tâm thức từ cấp hồng trần vào cấp dĩ thái. Rồi từ đó đi vào thế giới của dục vọng hay tình cảm. Sau đó là đi vào cõi trí với các ý tưởng và khái niệm. Tiến trình này tiếp diễn bên trong não bộ, đưa trọn cả phàm nhân vào trạng thái chú tâm hoàn toàn chuyên nhất. Y dồn hết tâm lực vào việc định trí, hay là tập trung toàn bộ trí năng. Bấy giờ thể trí không còn phân tán, xao động hay hướng ngoại, mà hoàn toàn “chú định, tập trung.” Vivekananda gọi “dharana” là “giữ cái trí tập trung vào chỉ một tư tưởng trong mười hai giây.”
This clear, one-pointed, still perception of an object, without any other object or thought entering into one's consciousness is most difficult of achievement, and when it can be done for the space of twelve seconds, true concentration is being achieved. [247]
Sự nhận thức yên lặng, chuyên nhất, sáng tỏ về một đối tượng, mà không để cho bất cứ đối tượng hay tư tưởng nào khác xâm nhập vào tâm thức của hành giả, là điều rất khó đạt. Khi có thể thực hiện điều này trong mười hai giây, thì đó là tập trung đích thực. [247]
2. Sustained Concentration (dharana) is meditation (dhyana).
2. Tập trung (dharana) kéo dài là tham thiền (dhyana).
Meditation is but the extension of concentration and grows out of the facility a man achieves in "fixing the mind" at will on any particular object. It falls under the same rules and conditions as concentration and the only distinction between the two is in the time element.
Tham thiền thực ra chỉ là việc tập trung được kéo dài. Tham thiền dựa vào khả năng của hành giả có thể tùy ý “định trí” dễ dàng vào bất cứ đối tượng nào. Tham thiền cũng theo cùng các qui luật và điều kiện như tập trung. Hai cố gắng này chỉ khác nhau về yếu tố thời gian.
Having achieved the capacity to focus the mind steadily upon an object, the next step is developing the power to hold the mind stuff or chitta unwaveringly occupied with that object or thought for a prolonged period. The Purana quoted above continues:
Khi đã đạt được khả năng định trí liên tục trên một đối tượng, thì bước kế tiếp là phát triển năng lực giữ trí tuệ chất hay chitta tập trung không xao động vào đối tượng hay tư tưởng đó trong thời gian kéo dài. Quyển kinh Purana được trích dẫn ở trên có đoạn tiếp theo:
"An uninterrupted succession of presented ideas single in intent upon His form, without desire for anything else, that, O King, is contemplation. It is brought about by the first six aids of yoga."
“Một chuỗi các ý tưởng được trình bày không gián đoạn chỉ với ý định tập trung vào hình thể của Ngài, mà không muốn bất cứ điều gì khác, Hỡi Đức Vua, đó chính là chiêm ngưỡng. Chiêm ngưỡng được thực hiện nhờ sáu phương tiện trợ giúp đầu tiên của yoga.”
The word contemplation here is synonymous with meditation. This meditation is still with seed or with an object.
Từ chiêm ngưỡng nói trên được dùng đồng nghĩa với tham thiền. Đây vẫn còn là tham thiền hữu chủng, hay là có đối tượng.
Dvivedi says in his comment on this sutra:
Trong phần bình giải của ông về câu này, Dvivedi nói:
"... Dhyana is the entire fixing of the mind on the object thought of (to the extent of making it one with it). In fact, the mind should, at the time, be conscious only of itself and the object." The man's attitude becomes pure fixed attention; his physical body, his emotions, surroundings, and all sounds and sights are lost sight of and the brain is conscious only of the object which is the topic or seed of meditation, and the thoughts which the mind is formulating in connection with that object. [248]
“... Dhyana là hoàn toàn chú định cái trí trên đối tượng được suy tưởng (đến mức làm cho cái trí hợp nhất với đối tượng đó). Thực sự bấy giờ cái trí chỉ cần nên ý thức về nó và đối tượng.” Thái độ của hành giả trở thành hoàn toàn chú tâm. Thể xác, tình cảm của y, môi trường chung quanh, toàn bộ các âm thanh và quang cảnh đều mờ đi. Não bộ chỉ ý thức về đối tượng là đề tài hay chủng tử của tham thiền, và những tư tưởng mà cái trí tạo ra về đối tượng đó. [248]
3. When the chitta becomes absorbed in that which is the reality (or idea embodied in the form), and is unaware of separateness or of the personal self, this is contemplation or samadhi.
3. Khi chitta đắm chìm trong thực tại (hay là cái ý tưởng ẩn trong hình thể), và không còn ý thức về tính chia rẽ hay về tư ngã, thì đó là chiêm ngưỡng hay samadhi.
The simplest way in which to comprehend this sutra is to realize that every form or object is a manifested life of some kind or another. In the early stages of the meditation process, the student becomes aware of the nature of the form and of his relation to it. The two states in which he is conscious of himself and of the object of his meditation are entirely mental conditions; they exist within his mind.
Cách đơn giản nhất để hiểu câu kinh này là nhận thức rằng mọi hình thể hay đối tượng đều là biểu hiện của sự sống thuộc loại nào đó. Trong những giai đoạn đầu của tiến trình tham thiền, người môn sinh biết đến bản chất của hình thể, và sự liên hệ của y với hình thể đó. Hai trạng thái mà trong đó y ý thức về mình và về đối tượng y đang tham thiền thì hoàn toàn là những điều kiện của thể trí. Chúng xảy ra bên trong thể trí của y.
This condition is followed by one in which his realization travels inward on to the subjective plane and he becomes aware of the nature of the life which is expressing itself through the form. Quality and subjective relationships engross his attention and the form aspect is lost sight of, but still the sense of separateness or of duality persists. He is still aware of himself and of that which is the not-self. Similarity of quality and response to analogous vibration are his, however.
Sau đó, nhận thức của y hướng nội nhiều hơn để biết được bản tính của sự sống đang tự phát biểu qua hình thể. Y hoàn toàn chú ý đến phẩm tính và các quan hệ nội tại, và không còn bận tâm đến phương diện hình thể. Thế nhưng, ý thức chia rẽ hay là tính nhị nguyên vẫn còn. Y vẫn còn ý thức về mình và về cái phi-ngã. Tuy nhiên, y có sự tương đồng về phẩm tính và có khả năng ứng đáp với rung động tương tự.
In the two stages of dharana and dhyana, of concentration and of meditation, the mind is the important factor and is the producer in the brain. A great Hindu teacher, Kecidhvaja, expresses this idea in the following words:
Trong hai giai đoạn dharana và dhyana, hay là định trí và tham thiền, cái trí là yếu tố quan trọng và sản sinh ấn tượng trong não bộ. Kecidhvaja, một đại huấn sư Ấn giáo, phát biểu ý tưởng này như sau:
"The soul has the means. Thinking is the means. It is inanimate. When thinking has completed its task of release, it has done what it had to do and ceases." (From the Vishnu Parana. VI. 7:90.) [249]
“Linh hồn có phương tiện để sử dụng. Tư duy, suy tưởng, là phương tiện đó. Nó không tự sinh động. Khi tư duy đã hoàn thành nhiệm vụ khai phóng, nó đã làm những gì phải làm, và dừng lại.” (Theo Vishnu Purana. VI. 7:90.) [249]
The truth of this makes any description or explanation of the high state of samadhi or contemplation exceedingly difficult, for words and phrases are but the effort of the mind to submit to the brain of the personal self that which will enable it to appreciate and comprehend the process.
Sự thực này khiến cho bất cứ cố gắng nào để mô tả hay diễn giải trạng thái cao siêu của samadhi hay chiêm ngưỡng đều trở nên hết sức khó khăn. Lý do là vì ngôn từ và ngữ nghĩa chẳng qua chỉ là cố gắng của cái trí nhằm truyền đến não bộ của phàm ngã những gì giúp nó có thể đánh giá và lãnh hội được tiến trình này.
In contemplation, the yogi loses sight of:
Trong khi chiêm ngưỡng, nhà yogi không còn cảm thấy:
1. His brain consciousness or the physical plane apprehensions as to time and space.
1. Ý thức của não bộ, hay là sự cảm nhận ở cõi trần về thời gian và không gian.
2. His emotional reactions to the subject of his meditation process.
2. Phản ứng tình cảm của y đối với chủ đề mà y đang tham thiền.
3. His mental activities, so that all the "modifications" of the thinking process, all the emotional reactions of the desire-mind (kama-manas) vehicle are subdued and the yogi is unaware of them. He is, however, intensely alive and alert, positive and awake, for the brain and the mind are held by him in a steady grip, and are used by him without any interference on their part.
3. Hoạt động thể trí của y, và chế ngự tất cả “các biến thái” của tiến trình tư duy, và toàn bộ phản ứng tình cảm của thể trí-cảm (kama-manas). Nhà yogi không còn biết đến chúng. Tuy nhiên, y lại hết sức sống động, mẫn tiệp, tích cực và tỉnh thức. Vì y vẫn liên tục nắm giữ não bộ và thể trí, và sử dụng chúng, mà chúng không hề gây phiền nhiễu.
This literally means that the independent life of these forms through which the real self is functioning is still, quieted and subdued, and the real or spiritual man, awake on his own plane, is able to function with full use of the brain, sheaths and mind of the lower self, his vehicle or instrument. He is, therefore, centred in himself or in the soul aspect. All sense of separateness or of the lower personal self are lost sight of, and he becomes identified with the soul of that form which has been the object of his meditation.
Điều này thực sự có nghĩa là sự sống độc lập của các thể mà chân ngã hoạt động xuyên qua đó, vẫn an tĩnh, yên lặng và tuân phục. Bấy giờ chân nhân hay con người tinh thần, đang tỉnh thức trên cảnh giới của mình, có thể hoạt động và sử dụng tất cả não bộ, các thể và cái trí của phàm ngã, là vận cụ hay khí cụ của mình. Vì thế, chân nhân tập trung vào chính mình hay phương diện linh hồn. Hoàn toàn không còn ý thức chia rẽ hay ý thức về phàm ngã, hành giả trở nên đồng nhất với linh hồn của cái hình thể vốn là đối tượng tham thiền của mình.
Unhindered by the mind stuff, or by the desire [250] nature he "enters into" that condition which has four outstanding characteristics:
Không còn bị trở ngại bởi trí tuệ chất hay bởi bản chất dục vọng, y “đi vào” trạng thái có bốn đặc trưng nổi bật:. [250]
1. Absorption in the soul consciousness and therefore awareness of the soul of all things. Form is no longer seen, and the vision of the reality, veiled by all forms, is revealed.
1. Sự hấp thu vào tâm thức của linh hồn, nhờ đó mà ý thức được linh hồn của vạn vật. Y không còn để ý đến hình thể, mà thấy được thực tại, vốn bị mọi hình thể che án, và nay được hiển lộ.
2. Liberation from the three worlds of sense perception, so that only is known and contacted which is free from form, from desire and from lower concrete mental substance.
2. Giải thoát khỏi tam giới của cảm nhận giác quan. Hành giả chỉ còn biết đến và giao tiếp với thực tại nói trên. Nó vốn tự do đối với hình thể, dục vọng và chất liệu hạ trí cụ thể.
3. Realization of oneness with all souls, subhuman, human, and superhuman. Group consciousness somewhat expresses the idea, just as separated consciousness, or realization of one's own individual identity, characterizes consciousness in the three worlds.
3. Nhận thức được tính duy nhất với mọi linh hồn, trong các giới hạ đẳng, trong nhân loại và các siêu nhân. Tâm thức tập thể bao hàm ý tưởng này. Tương phản với trước đây, khi tâm thức còn ở trong tam giới, y có ý thức riêng rẽ, chỉ nhận thức về cá nhân mình.
4. Illumination or perception of the light aspect of manifestation. Through meditation the yogi knows himself to be light, a point of fiery essence. Through facility in the meditation process he can focus that light on any object he chooses and come "en rapport" with the light which that object is hiding. That light is then known to be one in essence with his own light-centre, and comprehension, communication and identification then become possible.
4. Giác ngộ hay nhận thức được phương diện ánh sáng của cuộc biểu hiện. Qua tham thiền, nhà yogi biết mình là ánh sáng, là một điểm tinh hoa của lửa. Với khả năng hành thiền dễ dàng, y có thể tập trung ánh sáng ấy trên bất cứ đối tượng nào y chọn và “hòa hợp” với ánh sáng ẩn tàng trong đó. Bấy giờ, y hiểu rằng ánh sáng đó trong tinh túy là một với trung tâm ánh sáng nơi y. Kết quả là sự thông hiểu, thông đạt, và đồng nhất.
4. When concentration, meditation and contemplation form one sequential act, then is sanyama achieved.
4. Khi tập trung, tham thiền và chiêm ngưỡng trở nên một hành động có trình tự và duy nhất, thì đó là sự thành tựu sanyama.
This is a most difficult idea to express for we have not in the English language the equivalent [251] of the Sanskrit term "sanyama." It is the synthesis of the three stages of the meditation process and is only possible to that student who has learnt and mastered the three states of mind control. Through that mastery he has produced certain results, which are as follows:
Đây là ý tưởng rất khó phát biểu, vì trong tiếng Anh không có từ tương đương với thuật ngữ “sanyama” của tiếng Bắc Phạn [251]. Từ này chỉ về sự tổng hợp ba giai đoạn của tiến trình tham thiền. Người môn sinh chỉ có thể thực hiện được sự tổng hợp này khi đã học biết và thông thạo việc kiểm soát ba trạng thái của trí tuệ. Với sự thành thạo đó, y mang lại những kết quả sau đây:
1. He has freed himself from the three worlds of mind, emotion and physical plane existence. They no longer attract his attention. He is not concentrated upon, or engrossed by them.
1. Y đã tự giải thoát ra khỏi tam giới, tức là cuộc hiện tồn trên cõi trí, cõi tình cảm và cõi trần. Chúng không còn hấp dẫn được sự quan tâm của y, và y cũng không còn tập trung, hoặc chìm đắm vào trong các cảnh giới đó.
2. He can focus his attention at will and can hold his mind steady indefinitely, whilst working intensively in the mental world, should he so choose.
2. Y có thể tùy ý tập trung và giữ thể trí của mình vững vàng liên tục bao lâu cũng được, trong khi hoạt động tích cực trên cõi trí, nếu y muốn làm điều đó.
3. He can polarize or centre himself in the consciousness of the ego, soul or spiritual man, and knows himself as separate from the mind, the emotions, desires, feelings and form which constitute the lower man.
3. Y có thể phân cực hay tập trung vào tâm thức của chân ngã, linh hồn hay con người tinh thần. Đồng thời y biết mình riêng biệt với cái trí, các tình cảm, ước muốn, xúc cảm và hình thể; chúng hợp thành phàm nhân.
4. He has learnt to recognize that lower man (the sum total of mental states, of emotions and physical atoms) as simply his instrument for communicating at will with the three lower planes.
4. Y đã học biết, và nhận thấy rằng phàm nhân (bao gồm các biến thái của thể trí, các loại tình cảm và những nguyên tử thể chất) chỉ là khí cụ để y tùy ý dùng giao tiếp với ba cõi thấp.
5. He has acquired the faculty of contemplation or the attitude of the real Identity towards the realm of the soul and can look out on the soul-realm in a sense corresponding to the way a man can use his eyes to see on the physical plane.
5. Y đã hoạch đắc năng lực chiêm ngưỡng, hay là thái độ của Chân ngã đối với lĩnh vực của linh hồn. Nay y có thể nhìn xem lĩnh vực của linh hồn tương tự như cách một người có thể dùng đôi mắt của mình để quan sát các sự vật ở cõi trần.
6. He can transmit to the brain, via the controlled mind, that which he sees, and can thus impart knowledge of the self and of its kingdom to the man on the physical plane.
6. Y có thể truyền những điều y thấy đến não bộ, qua cái trí đã được kiểm soát. Bằng cách đó, y truyền đạt sự hiểu biết về chân ngã và cõi giới của chân ngã cho phàm nhân ở cõi trần.
This is perfectly concentrated meditation and [252] the power so to meditate is called sanyama in this sutra. It is the attainment of the power of meditation which is the objective of the Raja Yoga system. Through this achievement, the yogi has learnt to differentiate between the object and that which the object veils or hides. He has learnt to pierce through all veils and contact the reality behind. He has achieved a working knowledge of duality.
Đây là tham thiền tập trung hoàn hảo. [252] Trong câu kinh này, năng lực tham thiền như thế được gọi là sanyama. Chính việc đạt được năng lực tham thiền này là mục tiêu của Raja Yoga. Với năng lực này, nhà yogi biết cách phân biệt giữa đối tượng và những gì mà đối tượng ấy che án hay ẩn giấu. Y đã học cách nhìn xuyên qua tất cả những bức màn che, và tiếp xúc với thực tại bên trong. Y đã có sự hiểu biết thực hành về tính nhị nguyên.
There is yet a higher consciousness than this, that realization which is covered by the term unity, but as yet it is not his. This is, however, a very high stage and produces in the physical man astounding effects and introduces him to various forms of phenomena.
Còn có một cấp tâm thức cao siêu hơn nữa. Nhận thức đó được gọi là nhất nguyên, thế nhưng y vẫn chưa thấu ngộ được. Tuy nhiên, đây là một giai đoạn rất cao siêu. Nó mang lại những hiệu quả gây kinh ngạc trong phàm nhân, và cho y thấy những loại hiện tượng khác nhau.
5. As a result of sanyama comes the shining forth of the light.
5. Sanyama có kết quả làm cho ánh sáng chói rạng.
There are several terms used here by various commentators and translators and it might be of interest to consider some of them, for in the various interpretations will come a full understanding of the Sanskrit terms.
Các nhà luận giải và dịch giả đã dùng những thuật ngữ khác nhau ở đây, rất đáng nên xem xét. Vì những cách lý giải khác nhau sẽ giúp độc giả hiểu đầy đủ ý nghĩa của các thuật ngữ Bắc Phạn.
Briefly, the idea involves the conception that the nature of the soul is light, and that light is the great revealer. The yogi, through steady practise in meditation, has reached the point where he can at will, turn the light which radiates from his very being, in any direction, and can illumine any subject. Nothing can therefore be hid from him and all knowledge is at his disposal. This power is therefore described as: [253]
Nói ngắn gọn, ý tưởng này cho biết rằng bản tính của linh hồn là ánh sáng. Ánh sáng ấy làm hiển lộ những điều trọng đại. Nhờ chuyên tâm hành thiền, nhà yogi có thể tùy ý phóng chiếu ánh sáng từ trong bản thể của mình theo bất cứ chiều hướng nào, và soi tỏ bất cứ điều gì. Vì thế, không điều gì là bí ẩn đối với y, và mọi sự hiểu biết đều dành cho y tùy nghi sử dụng. Năng lực này được mô tả như sau: [253]
1. Illumination of perception. The light of the soul pours forth and the man on the physical plane, in his brain consciousness, is thereby enabled to perceive that which before was dark and hidden from him. The process may technically be described in the following concise terms:
1. Khai sáng nhận thức. Ánh sáng của linh hồn chói rạng. Nhờ đó phàm nhân ở cõi trần, trong ý thức não bộ của mình, có thể nhận thức được những gì mà trước đây y thấy tối tăm và bí ẩn. Về mặt kỹ thuật, có thể mô tả tiến trình này với các thuật ngữ vắn tắt sau đây:
a. Meditation,
a. Tham thiền,
b. Polarization in the soul or egoic consciousness,
b. Phân cực hay tập trung trong linh hồn hoặc tâm thức chân ngã,
c. Contemplation, or the turning of the soul-light upon that which is to be known or investigated,
c. Chiêm ngưỡng, hay là chiếu rọi ánh sáng của linh hồn vào điều gì cần biết hay cần khảo cứu,
d. The subsequent pouring down of the knowledge ascertained, in a "stream of illumination" into the brain, via the sutratma, the thread-soul, silver cord, or magnetic link. This thread passes through the mind and illumines it. The thoughts engendered in the automatic response of the chitta (or mind stuff) to the knowledge conveyed, are then impressed upon the brain and the man, in his physical consciousness, becomes cognizant of what the soul knows. He becomes illumined.
d. Sau đó, sự hiểu biết đã xác định được truyền xuống não bộ, như một “dòng ánh sáng khai ngộ,” xuyên qua sutratma, hay là hồn dây, sợi dây bạc, hoặc đường nối từ lực. Đường nối này đi ngang qua thể trí và soi sáng nó. Bấy giờ tư tưởng phát sinh do sự ứng đáp tự động của chitta (hay là trí tuệ chất) đối với sự hiểu biết được truyền đạt. Sau đó nó tạo ấn tượng trên não bộ và phàm nhân ở cõi trần ý thức được những điều linh hồn hiểu biết. Y được khai ngộ.
As this process becomes more frequent and steady, a change takes place in the physical man. He becomes more and more synchronized with the soul. The time element in transmission recedes into the background and the illumination of the field of knowledge by the light of the soul and the illumining of the physical brain, becomes an instantaneous happening.
Khi tiến trình này ngày càng thường xuyên, liên tục thì trong phàm nhân có sự thay đổi. Y trở nên ngày càng được đồng bộ hóa với linh hồn. Yếu tố thời gian trong việc truyền đạt chìm vào hậu trường, và sự soi sáng lĩnh vực hiểu biết nhờ ánh sáng của linh hồn cũng như sự chói rạng của não bộ trong thể xác, bắt đầu xảy ra tức thì.
The light in the head increases in a corresponding degree and the third eye develops and functions. On the astral and mental plane a corresponding [254] "eye" develops, and thus the ego or soul can illumine all the three planes in the three worlds as well as the soul realm.
Ánh sáng bên trong đầu bừng chiếu tương ứng. Con mắt thứ ba phát triển và hoạt động. Trên cõi cảm dục và cõi trí, [254] các “nhãn quan” tương ứng cũng phát triển. Thế là chân ngã hay linh hồn có thể soi sáng cả tam giới cũng như lĩnh vực của linh hồn.
2. Lucidity of consciousness. A man becomes lucid and clear sighted. He is conscious of a growing power in himself which will enable him to explain and solve all problems, and not only this, but "lucidly to speak" and thus become one of the teaching forces of the world. All knowledge, consciously acquired by self illumination must be shared, and clearly imparted to others. It is the corollary of illumination.
2. Sự sáng suốt của tâm thức. Hành giả trở nên sáng suốt với tầm nhìn tỏ rõ. Y cảm thấy nơi mình có năng lực ngày càng gia tăng, có thể lý giải và giải quyết mọi vấn đề khó khăn. Không những thế, y còn có khả năng “ngôn ngữ lưu loát” và có thể trợ giúp công tác giảng huấn ở thế gian. mọi sự hiểu biết, được hoạch đắc hữu thức do tự giác ngộ đều phải được chia sẻ, và truyền đạt minh bạch cho người khác. Đó là hệ quả của sự giác ngộ.
3. The shining forth of insight. This gives a new angle on the subject and a most important one. It is the definition of the capacity to "see into" a form, to arrive at that subjective reality which has made the objective sheath what it is. This insight is more than understanding, sympathy or comprehension. They are but the effects of it. It is the capacity to pierce through all forms and arrive at that which they veil, because that reality is identical with the reality in oneself.
3. Sự bừng chiếu của thị kiến. Đây là một phương diện mới của vấn đề, và là phương diện quan trọng nhất. Đây là năng lực “nhìn xuyên qua” hình thể, để thấu hiểu chân tính nội tại đã mang lại sức sống và đặc trưng của lớp áo ở bên ngoài. Thị kiến này còn sâu xa hơn sự thông hiểu, cảm thông hay lãnh hội. Chúng chỉ là hiệu quả của nó. Đây là năng lực xuyên thấu mọi hình thể, để biết được thực tính mà chúng che giấu, vì thực tính ấy vốn đồng nhất với chân tính của hành giả.
4. The illumining of the intellect. Unless the mind or intellect can grasp and transmit that which the soul knows, the mysteries remain unexplained to the physical brain and the knowledge possessed by the soul must remain nothing more than a beautiful and unattainable vision. But once the intellect is illumined, it can transmit to and impress upon the brain those hidden things which only the sons of God on their own plane know. Hence the need for Raja Yoga or the [255] science of union through mind control and development.
4. Soi sáng trí tuệ. Nếu thể trí hay trí tuệ không thể thấu hiểu và truyền sự hiểu biết của linh hồn, thì các bí nhiệm vẫn chưa được giải rõ cho não bộ hồng trần. Bấy giờ sự hiểu biết của linh hồn chẳng còn gì khác hơn là một viễn ảnh đẹp đẽ và không thể đạt. Khi trí tuệ được soi sáng, nó có thể truyền đến và tạo ấn tượng trên não bộ về những điều bí ẩn mà chỉ những người con của Thượng Đế trên cảnh giới của chính mình mới biết được. [255] Vì thế mà cần phải thực hành Raja Yoga hay là khoa học hợp nhất qua việc chế ngự và phát triển trí tuệ.
6. This illumination is gradual; it is developed stage by stage.
6. Sự giác ngộ vốn tuần tự, và được phát triển qua từng giai đoạn.
The evolutionary nature of all growth and unfoldment is dealt with here and the aspirant is reminded that nothing is accomplished at once but only as the result of long and steady effort.
Câu này nói lên phương cách tiến hóa của mọi sự tăng trưởng và khai mở. Người chí nguyện được nhắc nhở rằng không điều gì có thể thành tựu ngay tức khắc, mà chỉ là kết quả của cố gắng lâu dài và liên tục.
One thing that every aspirant to the mysteries should remember is that growth that is gradual, and relatively slow, is the method of every natural process and this soul unfoldment is, after all, but one of the great processes of nature. All that the aspirant has to do is to provide the right conditions. The growth then will take care of itself normally. Steady perseverance, patient endurance, the achievement of a little every day, are of more value to the aspirant than the violent rushing forward and the enthusiastic endeavour of the emotional and temperamental person. The undue forcing of one's development carries with it certain most definite and specific dangers. These are avoided when the student realizes that the path is long and that an intelligent understanding of each stage of the path is of more value to him than the results achieved through the premature awakening of the psychic nature. The injunction to grow as the flower grows, carries with it a tremendous occult truth. There is an injunction in Ecc. VII. 16, which carries this thought, "Be not righteous over much,... why shouldest thou die?" [256]
Một điều mà mọi người chí nguyện đi tìm các bí nhiệm cần ghi nhớ là sự tăng trưởng vốn xảy ra từ từ, và tương đối chậm chạp. Đó là phương pháp của mọi diễn trình trong thiên nhiên. Và nói cho cùng, sự khai mở linh hồn được bàn ở đây cũng chẳng qua là một trong những tiến trình vĩ đại của thiên nhiên. Tất cả những gì mà người chí nguyện phải làm là tạo các điều kiện đúng. Bấy giờ sự tăng trưởng sẽ tự xảy ra một cách bình thường. Người chí nguyện cần bền lòng liên tục, kiên trì nhẫn nại, và thành tựu mỗi ngày một ít. Cố gắng như thế thì có giá trị nhiều hơn là sự cố cưỡng vội vàng, hấp tấp và bồng bột của người đầy xúc cảm và tính khí thất thường. Việc hối thúc sự phát triển của cá nhân mình một cách không thích đáng sẽ kèm theo một số nguy cơ cụ thể và rất rõ rệt. Người môn sinh có thể tránh được những mối nguy này khi nhận thức rằng con đường đạo thì lâu dài. Y cũng cần nhận thức rằng thấu đáo mỗi giai đoạn trên đường đạo một cách thông minh thì tốt cho y hơn là những kết quả đạt được qua việc khơi dậy các quan năng thần thông quá sớm. Lời khuyên hãy tăng trưởng như đóa hoa tăng trưởng, vốn là một chân lý tuyệt vời của huyền môn. Trong Ecc. VII. 16, cũng có lời huấn thị hàm chứa tư tưởng này, “Đừng tỏ ra đạo đức thái quá,... tại sao bạn phải chết vì điều đó?” [256]
7. These last three means of yoga have a more intimate subjective effect than the previous means.
7. Ba phương tiện sau này của yoga có hiệu quả mật thiết về mặt nội tâm hơn các phương tiện trước.
The first five means of yoga have for their primary objective the preparation of the would-be yogi. Through keeping the Commandments and the Rules, through the achievements of poise and rhythmic control of the energies of the body, and through the power to withdraw his consciousness and centre it in the head, the aspirant is enabled to take full advantage of, and safely to cultivate the powers of concentration, meditation and contemplation.
Năm phương tiện đầu của yoga có mục tiêu chính là chuẩn bị cho nhà yogi tương lai. Y đã tuân thủ các Giới răn và các Qui luật. Y đã đạt sự thăng bằng và kiểm soát tiết điệu các năng lượng của cơ thể. Y đã có khả năng rút ý thức và tập trung ý thức bên trong đầu. Nay người chí nguyện có thể hưởng đầy đủ lợi ích của, và an toàn vun bồi, năng lực định trí, tham thiền và chiêm ngưỡng.
Having contacted the subjective in himself and become aware of that which is interior, he can begin to work with the interior, internal and intimate means.
Đã giao tiếp với thực tại nội tâm nơi chính mình và đã ý thức được thực tại nội tâm ấy, nay y có thể làm việc với nó, và với các phương tiện mật thiết ở nội tâm.
The entire eight means of yoga themselves only prepare a man for that state of spiritual consciousness which transcends thought, which is apart from any of the seeds of thought, which is formless, and which can only be described (and then inadequately) by such terms as unification, realization, identification, nirvanic consciousness, etc.
Chính toàn bộ tám phương tiện của yoga cũng chỉ chuẩn bị cho hành giả đến trạng thái tâm thức tinh thần vượt cao hơn tư tưởng. Trạng thái này vốn tách rời khỏi mọi chủng tử của tư tưởng. Nó không hề có sắc tướng, và chỉ có thể được mô tả (tất nhiên là một cách thiếu sót) với những từ như thống nhất, nhận thức, đồng nhất, tâm thức niết-bàn, v.v.
It is useless for the neophyte to attempt to comprehend until he has developed the internal instrument for comprehension; it is fruitless for the man of the world to question and seek to be shown unless at the same time he is willing (as in the acquirement of any science) to learn the A.B.C. and graduate in the technique. [257]
Không ích gì mà người tân môn sinh cố gắng tìm hiểu những điều nói trên, nếu y chưa phát triển được cái khí cụ nội tại để thấu hiểu. Thật là vô hiệu khi người bình thường đặt câu hỏi và tìm cách chứng minh, nếu đồng thời họ không sẵn lòng học những điều cơ bản và thấu đáo kỹ thuật (như khi học hỏi một ngành khoa học). [257]
Johnston in his commentary says:
Trong phần luận giải của ông, Johnston nói:
"... The means of growth previously described were concerned with the extrication of the spiritual man from psychic bondages and veils; while this threefold power is to be exercised by the spiritual man thus extricated and standing on his feet, viewing life with his open eyes."
“... Các phương tiện tăng trưởng được mô tả trên đây liên quan đến việc con người tinh thần thoát khỏi các ràng buộc và những lớp màn che của cái tâm. Con người nội tâm cần thực hiện ba năng lực này để tự giải thoát và trở nên tự tại, nhìn đời với tầm nhìn rộng mở.”
8. Even these three, however, are external to the true seedless meditation (or samadhi) which is not based on an object. It is free from the effects of the discriminative nature of the chitta (or mind stuff).
8. Tuy nhiên, ngay cả ba phương tiện nói trên vẫn còn là bên ngoài so với tham thiền vô chủng đích thực (hay là samadhi) vốn không dựa vào đối tượng. Samadhi không còn chịu ảnh hưởng bởi tính phân biện của chitta (hay trí tuệ chất).
In all the previous stages the thinker has been aware of both himself, the knower, and of the field of knowledge. In the earliest stages he was aware of triplicity, for the instrument of knowledge was likewise recognised, later to be transcended and forgotten. Now comes the final stage, the object of all yoga practices, where unity is known and even duality is seen to be a limitation. Naught remains but awareness of the self, of that omniscient, omnipotent knower who is one with the All, and whose very nature is awareness and energy. As has been well said:
Trong tất cả các giai đoạn trước, người suy tưởng đã ý thức cả về chính mình, là người tri thức, và về lĩnh vực hiểu biết. Trong các giai đoạn đầu, y biết đến ba phương diện của tiến trình, vì cái khí cụ để hiểu biết cũng được nhận thức, để rồi sau đó hành giả vượt lên khỏi và quên nó đi. Nay là giai đoạn cuối, là mục tiêu của tất cả cố gắng thực hành yoga. Trong giai đoạn này, y biết đến nhất nguyên, và ngay cả nhị nguyên vẫn bị xem là giới hạn. Không điều gì còn lại ngoài sự trực thức về chân ngã. Đó là người hiểu biết toàn tri và toàn năng, là một với Tất cả, có bản tính là trực thức và năng lượng. Như trước đây đã nói:
"There are therefore these two types of perception: That of living things and that of the Life; that of the soul's works and that of the soul itself."
“Vì thế, có hai loại nhận thức: Nhận thức về chúng sinh và nhận thức về Sự Sống. Hay là nhận thức về hoạt động của linh hồn và về chính linh hồn.”
The expounder of yoga is now desirous of describing the results of meditation (some along the line of the higher psychism and some along the line of the lower); the next seven sutras, therefore, [258] deal with the nature of the objects seen and the control of the mind as the real man seeks to focus the illuminating ray of his mind upon them.
Nhà yogi giờ đây cần phải mô tả những kết quả của tham thiền (một số liên quan đến thần thông cấp cao, và một số thuộc về thần thông cấp thấp). Thế nên, [258] bảy câu kinh kế tiếp sẽ bàn về tính chất của các đối tượng thấy được, và việc kiểm soát thể trí khi chân nhân cố gắng hội tụ những tia sáng khai ngộ của cái trí vào các đối tượng đó.
In studying these results of meditation in the psychic realm, it should be borne in mind that the eight means of yoga do produce definite effects in the lower nature and that this causes certain unfoldments and experiences to take place; these put the aspirant more consciously en rapport with the interior planes in the three worlds. This is a safe and necessary process provided it is the outcome of the awakening of the man on his own plane, and the turning of the eye of the soul, via the mind and the third eye, upon these planes. The presence of the lower psychic power may, however, mean that the soul is (from the physical plane standpoint) asleep and unable to use its instrument, and that these experiences are therefore only the result of the activity of the solar plexus producing awareness of the astral plane. This type of psychism is a reversion to the animal state and to the child stage of the human race. It is undesirable and dangerous.
Khi nghiên cứu các kết quả nói trên của tham thiền trong lĩnh vực thần thông, cần lưu ý rằng tám phương tiện của yoga thực sự tạo ra những hiệu quả rõ rệt trong phàm tính. Kèm theo đó là một số khai mở và kinh nghiệm. Những thành quả này giúp hành giả hữu thức hòa hợp với những cấp độ nội tại trong tam giới. Đây là một tiến trình an toàn và cần thiết. Với điều kiện nó là thành quả của việc hành giả tỉnh thức trên cảnh giới của mình. Và với điều kiện hướng tầm nhìn của linh hồn qua thể trí và con mắt thứ ba, vào các cảnh giới ấy. Tuy nhiên, sự biểu lộ của thần thông thấp có nghĩa là linh hồn (theo quan điểm hồng trần) vẫn còn yên ngủ và chưa có thể sử dụng được cái khí cụ của mình. Nó cũng cho thấy rằng những kinh nghiệm thần thông nói trên chẳng qua chỉ là kết quả hoạt động của luân xa tùng thái dương mang lại ý thức của cõi cảm dục. Loại thần thông vừa kể là sự trở về với tình trạng của loài thú, và với giai đoạn ấu trĩ của nhân loại. Vì thế, nó không nên có và nguy hiểm.
9. The sequence of mental states is as follows: the mind reacts to that which is seen; then follows the moment of mind control. Then ensues a moment wherein the chitta (mind stuff) responds to both these factors. Finally these pass away, and the perceiving consciousness has full sway.
9. Trình tự của các trạng thái trí tuệ như sau: cái trí phản ứng với điều thấy được. Kế đến là sự chế ngự cái trí. Sau đó, chitta (trí tuệ chất) ứng đáp với cả hai yếu tố vừa kể. cuối cùng chúng qua đi, chỉ còn tâm thức trực nhận hoàn toàn sáng tỏ.
If the student will look at any of the translations of the sutras he will find that this one is [259] variously translated and most of the translations are exceedingly ambiguous. This can be illustrated by giving the translation of Tatya:
Qua các bản dịch khác nhau của các câu kinh văn, [259] người môn sinh sẽ thấy câu này được chuyển dịch theo những lối khác nhau, và hầu hết các câu dịch đều hết sức mơ hồ. Ta hãy xem phần chuyển dịch của Tatya:
"Out of the two trains of self-reproductive thought resulting from the Vyutthana and the Nirodha (respectively), when the former is subdued and the latter is manifested, and, at the moment of manifestation the internal organ (Chitta) is concerned in both of the trains, then such modifications of the internal organ is the modification in the shape of Nirodha."
“Trong hai dòng tư tưởng tự sản sinh từ Vyutthana và Nirodha (theo thứ tự), khi cái trước được chế ngự và cái sau được biểu hiện, và, vào lúc biểu hiện cơ quan bên trong (là Chitta) có liên quan trong cả hai dòng. Bấy giờ, sự biến thái đó của cơ quan bên trong là biến thái dưới dạng Nirodha.”
The others are still more vague, with the exception of Johnston's translation. He gives us the following which throws much light upon the thought involved:
Những câu dịch khác thậm chí còn mơ hồ hơn nữa, chỉ trừ bản dịch của Johnston. Ông dịch như sau và khiến cho hàm ý của câu kinh trở nên sáng tỏ rất nhiều:
"Out of the ascending degrees is the development of control. First there is the overcoming of the mind-impress of excitation. Then comes the manifestation of the mind-impress of control. Then the perceiving consciousness follows after the moment of control. This is the development of control."
“Sự chế ngự phát triển tùy theo mức độ nâng cao. Trước hết là ấn tượng trong cái trí do sự kích động. Rồi đến sự chế ngự ấn tượng của cái trí. Kế đó là tâm thức trực nhận sau phút giây chế ngự. Đây là việc phát triển khả năng chế ngự.”
Perhaps the simplest way to understand this thought is to realize that the man in his physical brain is aware of three factors as he attempts to meditate:
Có lẽ cách đơn giản nhất để hiểu tư tưởng này là nhận thức rằng khi hành giả cố gắng tham thiền y biết đến ba yếu tố trong não bộ thân xác của mình:
1. He is aware of the object of his meditation. This excites or impresses his mind, and throws into activity the "modifications of the thinking principle," or stimulates the tendency of the mind to create thought-forms, and throws the chitta or mind stuff into shapes corresponding to the object seen. [260]
1. Y biết đến đối tượng của tham thiền. Đối tượng này kích thích hay gây ấn tượng nơi thể trí của y. Nó khiến “nguyên khí tư duy biến thái” hay kích thích khuynh hướng tạo hình tư tưởng của cái trí. Và nó định hình chitta hay trí tuệ chất tương ứng với đối tượng thấy được. [260]
2. He then becomes aware of the necessity to subdue this tendency and so brings in the action of the will and steadies and controls the mind stuff so that it ceases to modify itself and take on shape.
2. Sau đó, y thấy cần phải chế ngự khuynh hướng này và dùng ý chí để kiểm soát và làm cho trí tuệ chất ổn định, khiến nó không còn biến thái và giữ nguyên dạng.
By dint of steady persevering endeavour the sequential nature of these two states of consciousness are gradually offset, and in time they become simultaneous. Recognition of an object and the immediate control of the responsive chitta occur like a flash of lightning. This is the state technically called "nirodha." It must be remembered that (as Vivekananda says):
Nhờ cố gắng bền bỉ và liên tục, hai trạng thái tâm thức nói trên được dần dần ổn cố theo trình tự, và đến mức xảy ra đồng thời. Nhận biết một đối tượng và ngay lập tức kiểm soát được sự ứng đáp của chitta xảy ra nhanh như tia chớp. Trạng thái này được gọi với thuật ngữ “nirodha.” Cần lưu ý (như Vivekananda nói) rằng:
"If there is a modification which impels the mind to rush out through the senses and the yogi tries to control it, that very control itself will be a modification."
“Nếu có một biến thái nào thúc đẩy cái trí vọng ngoại qua các giác quan và nhà yogi cố gắng kiểm soát điều đó, thì chính sự kiểm soát vừa kể cũng sẽ là một biến thái.”
The impress of the will upon the mind will naturally lead to the mind assuming the shape that controls it and it will be thrown into a modification, dependent largely upon the point in evolution the aspirant has reached, the trend of his daily thought, and the extent of his egoic contact. This is not the true and highest form of contemplation. It is but one of the earlier stages, but it is much higher than concentration and meditation with seed as usually understood, for it is inevitably succeeded by the third stage which is one of great interest.
Ấn tượng của ý chí trên cái trí sẽ đương nhiên khiến nó khoác hình dạng của những gì kiểm soát nó. Điều này tùy thuộc phần lớn vào trình độ tiến hóa của hành giả, xu thế tư tưởng hàng ngày của y, và mức độ mà y giao tiếp với chân ngã. Đây không phải là chiêm ngưỡng thực sự hay là dạng cao nhất của chiêm ngưỡng. Đây chỉ là một trong những giai đoạn đầu. Thế nhưng, nó vượt cao hơn trình độ định trí và tham thiền hữu chủng như chúng ta thường biết. Bởi vì tiếp theo đó là giai đoạn thứ ba, rất đáng quan tâm.
3. He then slips suddenly out of the lower state of consciousness and realizes his identity with the perceiver, with the thinker on his own plane, and because the mind is controlled and the [261] object seen excites no response, the true identity is able to perceive that which has hitherto been veiled.
3. Sau đó hành giả bỗng nhiên vượt ra khỏi trạng thái ý thức cấp thấp, và nhận thấy mình đồng nhất với người nhận thức, với người suy tưởng trên cảnh giới của mình. Vì cái trí được chế ngự và đối tượng [261] thấy được thì không mang lại một ứng đáp nào, nên chân ngã có thể nhận thức được những gì mà từ trước đến giờ bị che án.
It should be made clear, however, that the perceiver on his own plane has always been aware of that which is now recognized. The difference lies in the fact that the instrument, the mind, is now in a state of control, it is therefore possible for the thinker to impress the brain, via the controlled mind, with that which is perceived. Man on the physical plane simultaneously also perceives, and true meditation and contemplation for the first time become possible. At first this will only be for a brief second. A flash of intuitive perception, a moment of vision and of illumination and all has gone. The mind begins again to modify itself and is thrown into activity, the vision is lost sight of, the high moment has passed, and the door into the soul-realm seems suddenly to shut. But assurance has been gained; a glimpse of reality has been registered on the brain and the guarantee of future achievement is recognized.
Tuy nhiên, cần nói rõ rằng người nhận thức trên cảnh giới của mình đã luôn luôn biết được điều mà nay hành giả mới nhận thấy. Sự khác biệt ở chỗ cái khí cụ, là thể trí, nay đang trong tình trạng được chế ngự. Vì thế, người suy tưởng có thể tạo ấn tượng lên não bộ về những gì mình nhận thức, qua cái trí đã được kiểm soát. Phàm nhân ở cõi trần cũng có thể đồng thời nhận thức được vấn đề. Thế là, lần đầu tiên hành giả có thể thực sự tham thiền và chiêm ngưỡng. Lúc đầu, điều này chỉ xảy ra trong phút giây ngắn ngủi. một ánh chớp của nhận thức trực giác, một linh ảnh và tia sáng khai ngộ thoáng qua, rồi tất cả đều tan biến. Cái trí lại tiếp tục biến thái và lao vào hoạt động. Linh ảnh đã phai mờ. Giây phút nâng cao đã trôi qua. Và cánh cửa đi vào lĩnh vực của linh hồn dường như bỗng nhiên đóng kín. Thế nhưng đã có sự bảo đảm. Cái nhìn thoáng qua về thực tại đã được ghi nhận trên não bộ. Hành giả biết rằng thế nào y cũng sẽ thành đạt.
10. Through the cultivation of this habit of mind there will eventuate a steadiness of spiritual perception.
10. Khi thói quen này của thể trí được thường xuyên vun bồi, rốt cuộc nhận thức tinh thần sẽ vững vàng, liên tục.
The point of balance between excitation of the mind and control can be achieved with greater frequency by constant repetition, until the habit of stabilizing the mind is acquired. When this is accomplished two things occur: [262]
Bằng cách kiên trì cố gắng hết lần này đến lần khác, hành giả có thể đạt mức thăng bằng giữa sự phấn khích cái trí và việc chế ngự nó, một cách thường xuyên hơn, cho đến khi việc ổn định thể trí đã trở thành thói quen. Bấy giờ có hai điều xảy ra: [262]
1. An instantaneous control of mind at will, producing
1. Y có thể tùy ý chế ngự thể trí ngay lập tức, với kết quả:
a. A still mind, free from thought forms,
a. Cái trí an tịnh, không còn hình tư tưởng,
b. A quiescent responsive brain.
b. Não bộ yên lặng và có khả năng ứng đáp.
2. A downflow into the physical brain of the consciousness of the perceiver, the soul.
2. Dòng tâm thức của người nhận thức, hay là linh hồn, phóng hạ và lưu nhập vào não bộ.
This becomes increasingly clearer, more informative and less interrupted as time elapses, until a rhythmic response is set up between the soul and the physical plane man. The mind and brain are completely subdued by the soul.
Theo thời gian, hiệu quả này ngày càng rõ rệt, truyền đạt nhiều hiểu biết hơn, và ít bị gián đoạn hơn. Cứ thế cho đến khi một sự ứng đáp nhịp nhàng được thiết lập giữa linh hồn và phàm nhân ở cõi trần. Bấy giờ, cái trí và não bộ được linh hồn hoàn toàn chế ngự.
It should be remembered here that this condition of the mind and brain is a positive one, not a negative state.
Ở đây cần lưu ý rằng tình trạng vừa kể là một trạng thái tích cực, chứ không tiêu cực.
11. The establishing of this habit, and the restraining of the mind from its thought-form-making tendency, results eventually in the constant power to contemplate.
11. Khi đã có thói quen này, và kềm chế được khuynh hướng tạo hình tư tưởng của thể trí, rốt cuộc hành giả có năng lực chiêm ngưỡng liên tục.
Little need be said in explanation of this sutra owing to its clarity. It is in the nature of a summation of the previous sutras.
Ý nghĩa của câu kinh này đã rõ ràng, nên hầu như không cần giải thích. Nó có tính chất là sự hoàn thành của các câu trước.
The idea conveyed is that of the achievement of a constant state of meditation. Though periods in which definite work is done at certain specific and stated hours are of exceeding value, particularly in the early stages of soul unfoldment, yet the ideal condition is that of being in a state of realization all day every day. The ability at will to draw upon the resources of the ego, the constant recognition that one is a Son of God incarnate [263] upon the physical plane, and the ability to draw down, when needed, the power and the force of the soul, is one which will be eventually achieved by every aspirant! But first, however, the habit of recollection has to be instituted and the instantaneous ability to restrain the modifications of the thinking principle has to precede this desirable state of being.
Ý tưởng được truyền đạt là sự thành tựu một trạng thái thiền liên tục. Đặc biệt là trong những giai đoạn đầu của sự khai mở linh hồn, điều hết sức có giá trị là hành giả cần có những thời khoảng thực hành các công việc nhất định theo những giờ giấc cụ thể và được ấn định. Tuy nhiên, điều kiện lý tưởng là ở trong trạng thái trực thức trọn ngày và trong mọi ngày. Rốt cuộc, mọi người chí nguyện đều có khả năng tùy ý sử dụng các nguồn lực của chân ngã. Họ sẽ có khả năng liên tục nhận biết rằng mình là một Người con của Thượng Đế [263] trong xác phàm ở cõi trần. Và khi cần, họ cũng có khả năng kêu gọi đến quyền năng và mãnh lực của linh hồn! Thế nhưng, trước hết phải tạo thói quen hồi tưởng. Đồng thời khả năng có thể lập tức kềm chế các biến thái của nguyên khí tư duy phải ổn cố trước khi xảy ra tâm thái tốt đẹp này.
12. When mind control and the controlling factor are equally balanced, then comes the condition of one-pointedness.
12. Khi việc chế ngự cái trí và yếu tố chế ngự đều cùng cân bằng, bấy giờ mới có sự nhất tâm.
The Sanskrit term used is difficult to explain clearly. Such terms as one-pointed, single in intent, fixed, synthesized, perfected concentration, all give some idea of the mind condition under consideration.
Thật khó mà giải thích rõ thuật ngữ Bắc Phạn được sử dụng. Tất cả những thuật ngữ như nhất tâm, chủ đích duy nhất, tập trung chuyên chú, tổng hợp, hoàn toàn, đều cho ta một vài ý niệm về tình trạng nói trên của cái trí.
The aspirant is now deliberately unconscious of all states of mind relating to the three worlds. His attention is focussed upon a specific object, and primarily upon the reality or subjective life, veiled by the form of the object. He is likewise unconscious of himself, the thinker or knower, and only that which is contemplated is realized in the true sense of the term. This is the negative aspect.
Giờ đây, hành giả thận trọng làm thế nào để không còn bận tâm đến tất cả các trạng thái của cái trí liên quan đến tam giới. Y chú tâm, tập trung vào một đối tượng đã chọn. Chính yếu là chú tâm vào thực tính hay là sự sống nội tại, bị che khuất bởi hình thể của đối tượng đó. Y cũng không bận tâm về chính mình, là người suy tưởng hay người tri thức. Chỉ còn điều đang được chiêm ngưỡng, được y nhận thức trong thực nghĩa của nó. Đây là phương diện phủ định.
It should be remembered, however, that this is a very active mental state, for the perceiving consciousness is aware of the object in a most comprehensive manner. The sum of its qualities, aspects and vibration is revealed to him, as well as the essential central energy which has called that [264] particular object into manifestation. This is revealed by the illuminating light of the mind being steadily directed upon that object. The perceiving consciousness is also aware of its identification with the reality behind the form. This is the true occult realization, but it is not the realization of the object so much as a realization of unity with, or identification with the life it veils.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng đây là một trạng thái trí tuệ rất tích cực. Vì tâm thức đang nhận biết và trực thức đối tượng một cách toàn diện nhất. Tất cả những đặc tính, khía cạnh và rung động của nó đều được hiển lộ cho y thấy. Y cũng thấy được năng lượng cốt yếu ở trung tâm đã khiến cho đối tượng đó biểu hiện. [264] Sở dĩ có sự hiển lộ này là nhờ ánh sáng khai ngộ của cái trí được liên tục chiếu vào đối tượng. Tâm thức tỉnh giác này cũng thấy mình đồng nhất với thực tính ẩn trong hình thể đó. Đây là nhận thức huyền môn đích thực. Thế nhưng không chỉ là nhận thức về đối tượng mà đúng ra là thấy mình là một hay đồng nhất với sự sống bên trong nó.
This is in itself a dual condition but not in the ordinarily accepted sense. There is, however, a still higher state of consciousness when the unity of the life in all forms is realized, and not simply unity with the life in one specific object.
Nhận thức này cũng còn là một tình trạng nhị nguyên, nhưng không có ý nghĩa như chúng ta thường hiểu. Tuy nhiên, có một trạng thái tâm thức còn cao siêu hơn nữa. Bấy giờ hành giả nhận biết được sự sống duy nhất trong mọi hình thể, chứ không chỉ thấy mình là một với sự sống trong một đối tượng riêng biệt.
13. Through this process the aspects of every object are known, their characteristics (or form) their symbolic nature, and their specific use in time-conditions (stage of development) are known and realised.
13. Qua tiến trình này, hành giả biết được các phương diện của mọi đối tượng. Y biết và nhận thức được các đặc điểm (hay hình thể) của chúng, tính biểu tượng của chúng, và công dụng đặc biệt của chúng theo điều kiện thời gian (giai đoạn phát triển).
It should here be borne in mind that every form of divine manifestation has three aspects and hence is made truly in the image of God with all divine potentialities. In the human kingdom this is recognised. It is equally true of all forms. This triple nature is grasped by the truly concentrated yogi and the three are seen as they exist and yet are recognised as constituting one whole. In his commentary, Johnston gives us a picture of the ideas involved, in the following words:
Cần lưu ý rằng mọi hình thể biểu hiện thiêng liêng đều có ba phương diện. Vì thế, chúng thực sự là hình ảnh của Thượng Đế với tất cả các tiềm năng thiêng liêng. Điều này rất rõ trong giới nhân loại. Điều này cũng đúng với mọi hình hài, sắc tướng. Với sự chú tâm hoàn toàn, nhà yogi thấy được tính chất tam phân này. Y thấy cả ba phương diện nhưng hiểu rằng chúng là một toàn thể. Trong phần luận giải của ông, Johnston minh họa các ý tưởng vừa kể như sau:
"... we get a twofold view of this object, seeing at once all its individual characteristics, [265] its essential character, species and genus; we see it in relation to itself and in relation to the Eternal."
“... chúng ta thấy hai phương diện của đối tượng này, lập tức thấy tất cả các đặc tính của nó, đặc trưng cốt yếu, dòng loài và đoàn nhóm của nó. Chúng ta thấy thực tính của nó, đồng thời thấy nó trong tương quan với cái Vĩnh cửu.”
In a curious way these three aspects cover the three aspects of the time equation or of the relationship of the object to its environment.
Điều lạ là ba phương diện nói trên bao gồm ba khía cạnh của sự sai biệt về thời gian, hay là mối liên hệ của đối tượng đó với môi trường chung quanh nó.
1. Characteristics of the form. In this phrase the tangible outward aspects of the form are seen. The matter-side of the manifesting idea is dealt with, and that which can be contacted through the medium of the senses is first considered and dismissed. This form is the result of the past, and the limitations due to the point in evolution are recognised. Every form carries in itself the evidence of the previous cycles and this can be seen in:
1. Đặc điểm của hình thể. Tức là các khía cạnh hữu hình bên ngoài của hình thể. [265] Đây là phương diện vật chất của ý tưởng đang biểu hiện. Những gì có thể tiếp xúc qua các giác quan trước hết được xem xét và bỏ qua. Hình thể này là kết quả của quá khứ, là những hạn chế do trình độ tiến hóa mà hành giả nhận biết. mọi hình thể đều có mang bằng chứng của những chu kỳ trước đó, biểu lộ trong:
a. Its rate of vibration,
a. Tốc độ rung động,
b. The nature of its rhythm,
b. Tính chất nhịp điệu của nó,
c. The amount of light which it permits to manifest,
c. Lượng ánh sáng mà nó cho phát lộ,
d. Its occult colour.
d. màu huyền bí của nó.
2. Symbolic nature. Every object is but the symbol of a reality. The difference in the development of the forms which symbolize or embody that reality is the guarantee that at some future date all the symbols will achieve the fruition of their mission. A symbol is an embodied idea, the working out in objective existence of some life. This is the consciousness aspect and two great revelations are latent in every symbol or form. [266]
2. Tính biểu tượng. mọi vật thể đều chỉ là biểu tượng của một thực tại. Sự khác biệt trong phát triển của các hình thể tượng trưng cho, hay chứa đựng, thực tại vừa kể là bảo đảm rằng một ngày nào đó sau này tất cả các hình thể đều sẽ hoàn thành nhiệm vụ của chúng. một biểu tượng là một ý tưởng hiện thể, là sự biểu lộ tồn tại khách quan của một sự sống. Sự sống này là phương diện tâm thức, và trong mọi biểu tượng hay hình thể đều hàm chứa hai sự hiển lộ quan trọng. [266]
a. The revelation of full consciousness, or the streaming forth of that response to contact which is potential or differing as yet in all forms but which can and will be carried forward to the full flood-tide of awareness.
a. Sự hiển lộ của tâm thức đầy đủ hay là ứng đáp mau lẹ với các giao tiếp. Ý thức này hãy còn tiềm tàng và khác biệt nhau trong mọi hình thể. Thế nhưng nó có thể và sẽ trở thành trực thức viên mãn.
b. The revelation of that which the consciousness aspect (the second aspect) is in its turn veiling. The unveiling of the soul leads to the manifestation of the one life. The manifestation of the Son of God leads to a knowledge of the Father. The shining forth of the higher self, through the medium of the lower self, produces the revelation of the divine or spiritual self. The matrix holds the diamond and when the matrix reveals its hidden gem, and the work of cutting and polishing is accomplished, the glory of the jewel will be seen. When the lotus plant has grown to maturity, the flower comes to fruition and in the centre of its petals the "Jewel in the Lotus" (Om mani padme hum) can be seen.
b. Sự hiển lộ của điều mà chính tâm thức (là trạng thái thứ hai) đang che giấu. Khi loại bỏ bức màn che án linh hồn, hành giả thấy được sự sống duy nhất. Khi Người Con của Thượng Đế xuất lộ, dần dần sẽ có sự hiểu biết về Đấng Cha lành. Sự bừng chiếu của chân ngã, qua trung gian của phàm ngã, sẽ hiển lộ chân ngã tinh thần hay siêu ngã. Khối đá bao bọc viên kim cương. Khi khối đá để lộ viên ngọc ẩn tàng này, và khi hoàn tất việc cắt gọt, hoàn thiện, viên ngọc quí sẽ tỏa sáng. Khi cây sen phát triển đến độ trưởng thành, hoa sen bừng nở, đóa hoa tạo quả, phô bày “Viên ngọc quí trong tâm Hoa sen” (Om mani padme hum).
This symbolic aspect of forms is true of all, and whether the symbol is the atom of substance, the mineral, or a tree, an animal or the "form of the Son of God" the jewel of the first aspect will be found hidden. It will make its presence known through the quality of consciousness in one or other of its many states.
Ý nghĩa biểu tượng nói trên của hình thể là đúng với tất cả, dù biểu tượng đó là một nguyên tử vật chất, khoáng chất, hoặc một cội cây, một con vật, hay “hình thể của Người Con Thượng Đế.” Trong tất cả đều có ẩn tàng viên ngọc quí của trạng thái thứ nhất. Nó sẽ hiển lộ qua phẩm tính của tâm thức trong nhiều trạng thái khác nhau.
3. Specific use in time conditions. As the yogi one-pointedly concentrates on the form, or object, meditates on its quality (the subjective aspect or symbolic nature), and contemplates the life veiled by the form but testified to by the factor of consciousness, he becomes aware of the present stage [267] of development, and thus the future, past and present, stand revealed to his intuition.
3. Công dụng đặc biệt theo điều kiện thời gian. Khi nhà yogi hoàn toàn chú tâm vào hình thể, hay đối tượng; khi y tham thiền về đặc tính (phương diện nội tại hay tính biểu tượng của nó); và khi y chiêm ngưỡng sự sống ẩn tàng trong hình thể đó, nhưng có biểu hiệu là yếu tố tâm thức, thì bấy giờ y trực nhận được giai đoạn phát triển hiện tại của nó. [267] Bằng cách này, trực giác của y thấu ngộ cả quá khứ, hiện tại và tương lai.
It will be apparent therefore to even the casual reader, that if meditation in its three above mentioned stages is carried forward correctly, all knowledge becomes possible to the yogi, the Eternal Now is a realized fact in nature and intelligent cooperation with the evolutionary plan becomes possible. Service is then based on complete understanding.
Vì thế, chỉ cần đọc qua mấy dòng nói trên, chúng ta cũng thấy rằng nếu tham thiền, với cả ba giai đoạn vừa kể, được thực hiện đúng đắn, thì nhà yogi có thể hoạch đắc mọi sự hiểu biết. Y nhận thức rằng Hiện tại Vĩnh cữu là một sự kiện thực tế, và có thể hợp tác một cách thông minh với cơ tiến hóa. Bấy giờ, y có thể phụng sự trong điều kiện hoàn toàn thông hiểu.
14. The characteristics of every object are acquired, manifesting or latent.
14. Đặc tính của mọi vật thể hay đối tượng đều do tập nhiễm, đang biểu lộ hay tiềm ẩn.
Much the same idea is covered in this sutra as in the previous one. In time and space all characteristics have relative values. The goal is one; the origin is one, but owing to the differing rates of vibration of the seven great breaths or streams of divine energy, every life borne forth upon them differs and is distinctive. The stage of development of the seven Lords of the Rays is not equal. The unfoldment of the life of the various planetary Logoi, or of the seven Spirits before the Throne of God, is not uniform and the atoms in Their bodies, or the monads who constitute Their vehicles are therefore not uniform in unfoldment.
Hầu như chính ý tưởng trong câu kinh này cũng có trong câu trước. Trong không gian và thời gian, mọi đặc tính đều chỉ có giá trị tương đối. Tuy nhiên, tất cả chỉ có mục tiêu duy nhất, và phát xuất từ nguồn cội duy nhất. Chỉ vì những nhịp độ rung động khác nhau của bảy hơi thở vĩ đại hay bảy dòng năng lượng thiêng liêng, mà mọi sự sống sinh ra từ đó mới trở nên phân biệt và khác biệt. Giai đoạn phát triển của bảy vị Chúa tể các Cung vốn không đồng đều. mức độ khai mở của các vị hành tinh Thượng Đế, hay bảy vị Tinh quân trước Ngôi Thượng Đế, cũng không giống nhau. Do đó, những hạt nguyên tử trong cơ thể của các Ngài, hay là các chân thần hợp thành những vận cụ của các Ngài, cũng được khai mở không thống nhất.
This is a vast subject and cannot be more than touched upon here. Students will find it of interest to search for information given in the different presentations of the one truth anent the great Lives in whom we "live, and move and have [268] our being." They can be studied under the following names:
Chủ đề này quá rộng lớn, nên ở đây chỉ có thể đề cập khái quát. Người môn sinh sẽ thấy bổ ích khi quan tâm tìm hiểu những điều trình bày khác nhau của chân lý duy nhất về các Chân linh vĩ đại mà “chúng ta sống, di chuyển và hiện tồn [268]” trong các Ngài, với những danh hiệu sau đây:
1. The seven Rays,
1. Bảy Cung,
2. The seven Spirits before the Throne,
2. Bảy vị Tinh quân trước Ngôi Thượng Đế,
3. The seven planetary Logoi,
3. Bảy vị hành tinh Thượng Đế,
4. The seven great Lords,
4. Bảy vị Chúa Cao cả,
5. The seven Aeons,
5. Bảy Giai kỳ,
6. The seven Emanations,
6. Bảy Phóng phát Năng lượng,
7. The seven Prajapatis,
7. Bảy Prajapati,
and other less known terms, and much light will be forthcoming.
và những thuật ngữ khác ít thông dụng hơn. Nhờ đó, vấn đề sẽ sáng tỏ hơn.
In the characteristic form (taking into consideration its specific point in development, and its lack of development) is revealed to the knower:
Một hình thể đặc thù (xét theo mức phát triển, và còn thiếu phát triển của nó) sẽ cho người tri thức thấy:
a. The sum total of acquirement. That which the past has given. This is the total chord which the soul of that object is as yet capable of sounding.
a. Tất cả những gì đã hoạch đắc. Tức là thành quả của quá khứ. Đây là toàn thể hòa âm mà linh hồn của vật thể đó có thể phát ra cho đến nay.
b. The particular range of qualities out of that total acquisition which the life is manifesting through any specific form. This is the present note in the acquired chord which the soul of the object has chosen to sound.
b. một loạt các đặc tính nhờ tất cả hoạch đắc kể trên mà sự sống bên trong biểu lộ ra qua một hình dạng cụ thể. Đây là nốt hiện tại trong hòa âm đã đạt mà linh hồn của vật thể đó đã chọn để phát ra.
c. That which is latent and possible. This knowledge will be dual, revealing first, the latent possibilities to be unfolded through the medium of the form contemplated, and secondly, the latent possibilities capable of unfoldment in the present world cycle through various forms. This covers future developments. This will give the yogi the completed chord when the great evolutionary cycle has run its course. [269]
c. Những gì còn ẩn tàng và khả dĩ phát triển. Sự hiểu biết này có hai phần. Trước hết, nó cho thấy những khả năng tiềm tàng có thể khai mở qua trung gian của hình thể được chiêm ngưỡng. Các khả năng tiềm ẩn này có thể khai mở trong chu kỳ thế giới hiện tại qua những hình thể khác nhau. Đây là các phát triển tương lai. Cái ẩn tàng này sẽ mang lại hòa âm hoàn mãn cho đến khi kết thúc đại chu kỳ tiến hóa này. [269]
15. The stage of development is responsible for the various modifications of the versatile psychic nature and of the thinking principle.
15. Giai đoạn phát triển bao gồm những biến thái khác nhau của bản chất cái tâm thường thay đổi và nguyên khí tư duy.
This is a very general paraphrase of the idea involved and is in the nature of a summing up of the rather abstruse ideas of the text. The sutras following upon this one deal (for the remainder of Book III) with the results of meditation. The preceding sutras have considered the hindrances and difficulties that have to be overcome before true meditation becomes possible. The key to that overcoming and the difference between aspirants to the path is made apparent in this sutra. The ascertaining of one's approximate place upon the ladder of evolution, the summing up of one's assets and debits is one of the most useful activities the would-be aspirant can undertake. An understanding of the stage reached and of the next step to be taken is essential for all true progress.
Câu này nói rất tổng quát về ý tưởng trong câu, và tóm lược những ý tưởng khác sâu xa, khó hiểu hơn trong bản văn. Các câu kinh tiếp theo câu này bàn về những kết quả của tham thiền (trong phần còn lại của Quyển III). Những câu kinh ở phần trước đã xem xét các khó khăn và chướng ngại cần khắc phục trước khi có thể hành thiền thực sự. Câu này nêu rõ điều then chốt của phương pháp khắc phục, và sự khác biệt giữa những người chí nguyện tìm đạo. Một trong những điều rất hữu ích mà người chí nguyện tương lai có thể thực hiện là xác định vị thế gần đúng của mình trên thang tiến hóa. Y cũng cần tổng kết các sở trường và sở đoản mà y hiện có. Điều cần yếu là hiểu giai đoạn hiện tại của mình và bước kế tiếp cần thực hiện.
Johnson translates this sutra in the words: "Difference in stage is the cause of difference in development," and goes on to say: "The first stage is the sapling, the caterpillar, the animal. The second stage is the growing tree, the chrysalis, the man. The third is the splendid pine, the butterfly, the angel..."
Johnston dịch câu này như sau: “Khác biệt về giai đoạn tiến hóa khiến có khác biệt trong phát triển.” Rồi ông nói tiếp: “Giai đoạn đầu là cây non, sâu bọ, loài vật. Giai đoạn thứ hai là cây lớn, sâu trưởng thành, loài người. Giai đoạn thứ ba là cây thông xinh đẹp, loài bướm, thiên thần...”
16. Through concentrated meditation upon the triple nature of every form, comes the revelation of that which has been and of that which will be.
16. Qua tham thiền tập trung về bản chất tam phân của mọi hình thể, hành giả hiểu được những gì đã có và những gì sẽ có.
The sutra which we are considering sums the [270] preceding ideas and it is interesting to note how this first great result of meditation takes one right back to the true facts anent divine manifestation and emphasizes the three aspects through which every life (from an atom of substance to a solar Logos) expresses itself. The great Law of Cause and Effect and the entire process of evolutionary unfoldment are recognized and that which is, is seen to be the result of that which has been. Similarly that which will later eventuate is recognized to be the working out of causes set in motion in the present, and thus the cycle of development is seen to be one process existing in three stages.
Câu kinh này tổng kết các ý tưởng ở phần trước. [270] Điều thú vị là lưu ý xem cách nào mà kết quả quan trọng đầu tiên này của tham thiền giúp hành giả trực tiếp quay về với những sự kiện thực tế về cuộc biểu hiện thiêng liêng. Nó cũng nhấn mạnh ba trạng thái mà qua đó mọi sự sống (từ một nguyên tử vật chất đến vị thái dương Thượng Đế) tự phát triển. Hành giả nhận thức đại Luật Nhân Quả, và trọn cả diễn trình khai mở tiến hóa. Y hiểu rằng cái hiện có vốn là kết quả của những gì đã có. Tương tự, y biết rằng điều sẽ xảy ra sau này vốn là biểu hiện của những nguyên nhân đang phát động trong hiện tại. Thế nên, chu kỳ phát triển là một tiến trình có ba giai đoạn.
These three stages in the three worlds of human unfoldment correspond to the three dimensions, and students will find it interesting to work out these analogies of the various triplicities, remembering that the third aspect (intelligent substance), the Holy Ghost or Brahma aspects, corresponds to the past (hence a hint as to the nature of evil). The second aspect (consciousness) or the Christ or Vishnu aspect relates to the present, whilst only the future will reveal the nature of spirit, the highest or Father aspect. This line of thought, through concentrated meditation will become clear, and a sense of proportion and a sense of just values as to the present point in time will grow. A recognition also of the relation of all lives to each other will be developed and the life of the aspirant will be stabilized and adjusted so that past karma will be adjusted and possible future karma negated and the process of liberation will proceed with rapidity. [271]
Ba giai đoạn vừa kể trong ba cảnh giới tiến hóa của nhân loại tương ứng với ba chiều không gian. Người môn sinh sẽ thấy thú vị khi tìm các tương đồng này trong những bộ ba khác nhau. Nên nhớ rằng phương diện thứ ba (chất liệu thông minh), là Chúa Thánh Thần hay trạng thái Brahma vốn tương ứng với quá khứ (vì thế có ngụ ý về tính chất của điều ác). Phương diện thứ hai (tâm thức) là trạng thái Christ hay Vishnu có liên quan đến hiện tại. Trong khi đó, chỉ tương lai mới hiển lộ tinh thần, trạng thái cao nhất hay Đức Chúa Cha. Qua tham thiền tập trung, dòng tư tưởng này sẽ trở nên sáng tỏ. Từ đó sẽ phát triển ý thức cân đối tỉ lệ, và ý thức giá trị đúng về trình độ hiện nay trong thời gian. Hành giả cũng nhận thức được mối liên hệ của tất cả các kiếp sống với nhau. Cuộc sống của y sẽ được ổn định và điều chỉnh để thanh toán nghiệp quả của quá khứ. Y cũng có thể tránh tạo nghiệp tương lai, và đẩy nhanh tiến trình giải thoát. [271]
17. The Sound (or word), that which it denotes (the object) and the embodied spiritual essence (or idea) are usually confused in the mind of the perceiver. By concentrated meditation on these three aspects comes an (intuitive) comprehension of the sound uttered by all forms of life.
17. Âm thanh (hay linh từ), điều nó biểu thị (là đối tượng), và tinh túy tinh thần (hay ý tưởng) ở trong hình thể, vốn thường bị lẫn lộn trong trí của người nhận thức. Qua tham thiền tập trung về ba phương diện này, hành giả có thể thấu hiểu (trực giác) được âm thanh mà mọi hình thể của sự sống phát ra.
This is one of the most important sutras in the book, and holds the key to the object of the entire meditation process. This is to reveal or to unveil to the perceiver or spiritual man, the true nature of the self, the second aspect, and the correspondence to the second aspect in all forms of subhuman life, as well as to put him en rapport with the second aspect in all superhuman forms. Thus it concerns the subjective side of all manifestation and deals with those forces which in every form constitute the consciousness aspect, which concern the Christ or buddhic principle and which are the direct cause of objective manifestation and the revelation of spirit through the medium of form.
Đây là một trong những câu kinh quan trọng nhất trong sách. Nó cho ta bí quyết để hiểu đối tượng của trọn cả tiến trình tham thiền. Nó hiển lộ hay bày tỏ cho người nhận thức, hay con người tinh thần, thấy được thực tính của chân ngã, trạng thái thứ hai. Nó cho thấy sự tương ứng với trạng thái thứ hai trong mọi hình hài của các loài thấp kém hơn nhân loại. Nó cũng giúp hành giả hòa hợp với trạng thái thứ hai trong các đẳng cấp siêu nhân. Vì thế nó liên quan đến phương diện nội tại của toàn cuộc biểu hiện. Nó đề cập đến những mãnh lực là phương diện ý thức trong mọi hình thể, có liên quan đến nguyên khí Christ hay nguyên khí bồ- đề. Đây là nguyên nhân trực tiếp của cuộc biểu hiện khách quan, nhằm hiển lộ tinh thần qua trung gian của hình hài, sắc tướng.
This is the AUM. First the breath, then the word and all that is, appeared.
Đây là AUM. Trước hết là hơi thở, kế đó là linh từ, và vạn hữu xuất hiện.
Just as long as the great Existence who is the sum total of all forms and of all states of consciousness continues to sound the cosmic AUM, just so long will the objective tangible solar system persist.
Ngày nào mà Đấng cao cả, vốn bao gồm toàn bộ các hình hài sắc tướng và tất cả các trạng thái tâm thức, còn tiếp tục xướng lên thánh ngữ AUM vũ trụ, thì ngày ấy thái dương hệ khách quan hữu hình vẫn còn tồn tại.
The following synonyms in connection with this sutra must be borne in mind if clarity of thought is to be achieved: [272]
Cần lưu ý các từ đồng nghĩa sau đây liên quan đến câu kinh này, để hiểu rõ ý tưởng của nó hơn: [272]
I. Spiritual Essence.
II. The Sound or Word.
III. The Object.
1. Spirit.
1. The Soul.
1. Body
2. Pneuma.
2. The Psyche.
2. Form
3. The Father. Shiva
3. The Son. Vishnu.
3. The Holy Spirit.Brahma
4. The Monad. The One.
4. The cosmic Christ.
4. The vehicle of life and of incarnation.
5. The eternal Will or Purpose.
5. Eternal Love-Wisdom.
5. Eternal activity and intelligence.
6. One great Breath.
6. The AUM.
6. The Worlds.
7. Life.
7. Consciousness Aspect.
7. Activity Aspect.
8. Synthesising Energy.
8. Attractive Force.
8. Matter.
9. First Aspect.
9. Second Aspect.
9. Third Aspect.
I.
Tinh túy Tinh thần.
II.
Âm thanh hay Linh từ.
III.
Đối tượng.
1.
Tinh thần.
1.
Linh hồn.
1.
Cơ thể.
2.
Hơi thở Sự Sống.
2.
Tâm.
2.
Hình thể.
3.
Đức Chúa Cha. Shiva.
3.
Đức Chúa Con. Vishnu.
3.
Chúa Thánh Thần. Brahma.
4.
Chân thần.
Đấng Duy nhất.
4.
Đấng Christ vũ trụ.
4.
Phương tiện của sự sống và nhập thế.
5.
Ý chí hay Thiên ý vĩnh cửu.
5.
Bác ái-Minh triết vĩnh cửu.
5.
Hoạt động và thông tuệ vĩnh cửu.
6.
Hơi thơ vĩ đại duy nhất.
6.
Thánh ngữ AUM.
6.
Các Cảnh giới.
7.
Sự Sông.
7.
Phương diện Tâm thức.
7.
Phương diện Hoạt động.
8.
Năng lượng Tổng hợp.
8.
Lực Hấp dẫn.
8.
Vật chất.
9.
Trạng thái Thứ nhất.
9.
Trạng thái Thứ hai.
9.
Trạng thái Thứ ba.
In the mind of man these three aspects are confused and that which is outward and objective is usually recognized as reality. This is the great maya or illusion and can only be dissipated when the perceiver can distinguish the three great aspects in every form, his own included. When the second aspect, the soul, the middle or mediating principle is known, the nature of the form is also known, and the essential nature of spirit can be inferred. The immediate field of knowledge, however, which the yogi has to master is that of the second aspect. He must arrive at the Sound or Word which brought every form into manifestation, and which is the result of the breath, the essence or spirit.
Trong trí mọi người, ba trạng thái nói trên thường bị lẫn lộn. Họ thường xem những gì ở bên ngoài, thuộc thế giới khách quan, là thực tại. Đó là đại ảo ảnh hay ảo tưởng. Chúng chỉ bị xóa tan khi người nhận thức có thể phân biệt ba phương diện chính trong mọi hình thể, gồm cả hình thể của y. Khi hiểu biết linh hồn, là trạng thái thứ hai hay nguyên khí trung gian, thì y cũng biết được tính chất của hình thể. Bấy giờ y có thể suy ra bản tính cốt yếu của tinh thần. Tuy nhiên, lĩnh vực hiểu biết hiện nay nhà yogi cần phải thấu đáo là trạng thái thứ hai. Y phải hiểu biết về Âm thanh hay Linh từ đã giúp mọi hình thể biểu hiện. Chúng vốn là kết quả của hơi thở sự sống, là tinh hoa hay tinh thần.
"In the beginning was the Word and the Word [273] was with God and the Word was God. All things were made by Him... " (John I. 1:2.)
“Ban đầu có Ngôi Lời, và Ngôi Lời [273] ở cùng với Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. muôn loài vạn vật đều do Ngài tạo ra....” (John I. 1: 2.)
Here, in the Christian Bible, is the substance of the entire teaching, and in the significance of the three letters of the Sacred Word, AUM, lies the clue to the entire cosmic process. The meditation process when duly and correctly carried out reveals therefore the second or soul aspect, and the Sound, or Word (the Voice of the Silence) can then be heard.
Câu này, trong Kinh Thánh Thiên Chúa giáo, là thực chất của trọn cả giáo huấn. Diệu nghĩa của ba mẫu tự trong Thánh ngữ AUM, cho ta manh mối của toàn thể tiến trình vũ trụ. Vì thế, khi thực hiện tiến trình tham thiền một cách thích hợp và đúng đắn, hành giả sẽ hiểu được phương diện thứ hai hay là linh hồn. Bấy giờ y có thể nghe được Diệu âm, hay Linh từ (Tiếng nói của Im lặng).
Once heard and the work carried steadily forward, the realm of consciousness is revealed and the yogi is en rapport with the second aspect of his own nature and with the second aspect in every form. This is the basis of the whole science of the soul and leads a man to know his own soul or psyche and the psyche in every form of divine life. It is the foundation for the entire science of psychism, both in its higher and lower aspects.
Khi đã nghe được Âm thanh này và tiếp tục chuyên cần thực hành, y đi vào lĩnh vực tâm thức. Nhà yogi hòa hợp với trạng thái thứ hai nơi chính mình, và với trạng thái thứ hai trong mọi hình thể. Đây là cơ bản của trọn cả khoa học về linh hồn. Nhờ đó, y biết được linh hồn hay tâm của mình, và linh hồn trong mọi hình thể của sự sống thiêng liêng. Đây cũng là cơ sở của khoa học về tâm thông, cả cấp cao và cấp thấp.
When a man is a lower psychic he is aware of, and responds to the soul aspect of the material forms and the third or Brahma aspect (the body), dominates, for every atom of matter has a soul. This concerns all that is subhuman.
Khi một người là nhà tâm thông cấp thấp, y ý thức được, và ứng đáp với trạng thái nội tâm của các hình thể vật chất. Trong trường hợp này, phương diện thứ ba hay trạng thái Brahma thống ngự, vì mọi nguyên tử vật chất đều có một linh hồn. Tình trạng này liên quan đến các giới tiến hóa dưới nhân loại.
When he responds to the higher correspondence of this, to the reality of which the lower is but the shadow, he is in touch with the Christ consciousness, with the soul of his being which is one with the soul in all the superhuman kingdoms.
Khi y ứng đáp với phần tương ứng cấp cao của cái tâm, là thực tại mà cấp thấp chỉ là hình bóng của nó, thì y giao tiếp với tâm thức Christ. Y giao tiếp với linh hồn của mình, vốn là một với linh hồn trong tất cả các trường tiến hóa siêu nhân.
In connection with this, two things must be remembered. If he is a lower psychic he is in touch with the second aspect of the lower man, the astral body, the middle principle in the lower [274] man, linking the mental body and the etheric. He is, therefore, en rapport with all that can be contacted on that plane.
Có hai điều cần lưu ý trong vấn đề này. Nếu y là nhà tâm thông cấp thấp, thì y tiếp xúc với trạng thái thứ hai trong phàm nhân, tức là thể cảm dục. Đó là nguyên khí trung gian trong phàm ngã, [274] liên kết thể trí và thể dĩ thái. Vì thế, y hòa hợp với tất cả những gì có thể tiếp xúc được trên cảnh giới đó.
If, however, he is a higher psychic he is en rapport with the second aspect of divine manifestation, the ego or soul on its own plane, mediating between and linking the monad with the personality, spirit with the body.
Tuy nhiên, nếu y là nhà tâm thông cấp cao, thì y hòa hợp với trạng thái thứ hai của cuộc biểu hiện thiêng liêng. Đó là chân ngã hay linh hồn trên cảnh giới của mình, làm trung gian và liên kết chân thần với phàm ngã, tinh thần với thể chất.
It is interesting here to note that a clue to the truth of this can be found in the manifestations of lower psychism such as are seen in the average mediumistic seance and the ordinary type of spiritualism. Contact with the astral plane is made through that great centre, the solar plexus which links the higher three centres and the lower. It accounts also for the fact that flowers are such a feature in materializations at seances, for the vegetable kingdom is the middle kingdom of the three subhuman kingdoms, mineral, vegetable, and animal. The explanation as to the prevalence of Indian guides is also found here, for they are the shells and powerful thought-forms left by the second of the three strictly human races, Lemurian, Atlantean and Aryan. No Lemurian shells or thought-forms are left now, but many Atlantean shells are still to be found preserved through the use of certain forms of Atlantean magic.
Người ta có thể tìm thấy manh mối thú vị về sự thực nói trên trong các biểu hiện thần thông cấp thấp, như trong những buổi lên đồng tầm mức trung bình, và việc thực hành khoa thông thần loại thường. Việc giao tiếp với cõi cảm dục được thực hiện qua luân xa chính là tùng thái dương. Nó liên kết ba luân xa cao và các luân xa thấp. Nó cho thấy tại sao người ta dùng hoa cho việc hiện hình tại các buổi cầu hồn. Lý do là vì giới thảo mộc đóng vai trò trung gian trong ba trường tiến hóa thấp kém hơn nhân loại, giới khoáng vật, thực vật, và động vật. Ở đây cũng cho thấy tại sao có rất nhiều vong linh hướng dẫn người Ấn Độ. Vì chúng là những lớp vỏ và các hình tư tưởng mạnh mẽ bị bỏ lại của giống dân thứ hai trong ba giống dân thực sự là nhân loại, tức là dân Lemuria, dân Atlantis và dân Aryan. Hiện nay thì những lớp vỏ có liên quan đến người Lemuria không còn nữa. Thế nhưng, nhiều lớp vỏ của dân Atlantis vẫn còn được bảo tồn, do người ta sử dụng một số dạng pháp thuật của thời Atlantis.
By concentrated meditation upon the distinction between these aspects there will eventually come a hearing of the Voice of the Silence and contact with a man's own second aspect. He will know himself as the "Word made flesh" and will recognize himself as the AUM. [275]
Khi tham thiền tập trung về sự khác biệt giữa ba trạng thái nói trên, rốt cuộc hành giả sẽ nghe được Tiếng nói của Im lặng và giao tiếp với trạng thái thứ hai nơi chính mình. Y sẽ biết mình là “Ngôi Lời hiện thể” và sẽ nhận biết chính mình là AUM. [275]
When this is the case he will then hear the word in other units of the human family, and will awaken to a recognition of the sound, as it is emanated by all forms in all the kingdoms of nature. The realm of the soul will stand open to him and this, when it includes recognition of the sound in all the four kingdoms, will lead him to know himself as Master. Soul knowledge and the power to work with the soul of all things in the three worlds is the distinctive mark of the Adept.
Bấy giờ, y sẽ nghe được linh từ trong những người khác của gia đình nhân loại. Y cũng sẽ nhận thức được âm thanh phát ra từ tất cả các hình thể trong mọi giới tiến hóa của thiên nhiên. Lĩnh vực của linh hồn sẽ rộng mở cho y. Khi có thêm nhận thức về âm thanh trong cả bốn trường tiến hóa, y sẽ tự biết mình là một vị Chủ nhân. Đặc điểm của bậc Toàn thông là hiểu biết về linh hồn và có năng lực làm việc với linh hồn của vạn vật trong tam giới.
18. Knowledge of previous incarnations becomes available when the power to see thought images is acquired.
18. Khi hoạch đắc năng lực thấy các hình tư tưởng, hành giả có thể biết được các tiền kiếp.
The significance of this sutra is very great, for it gives the basis for the regaining of a knowledge of past experience. This basis is strictly mental, and only those mentally polarised and with the mind under control can regain this knowledge if they so wish. The power to see thought-images only comes through mind control, and the mind can only be controlled by the real or spiritual man. Therefore only egoically centred people can truly acquire this knowledge. It might be asked here what therefore do those people see who are emotional and not mental, when they claim to know who they are, and to relate the past lives of their friends? They are reading the akashic records and because their mental control and equipment are not adequate, they cannot discriminate nor ascertain accurately what they see.
Câu kinh này có ý nghĩa rất quan trọng, vì đó là cơ sở để gợi lại sự hiểu biết về các kinh nghiệm quá khứ. Cơ sở này hoàn toàn thuộc về trí tuệ. Vì thế, chỉ những ai đã có trí tuệ phân cực, và chế ngự thể trí, mới có thể gợi lại được sự hiểu biết này, nếu họ muốn. Chỉ khi chế ngự được thể trí, hành giả mới có năng lực thấy các hình tư tưởng. Và chỉ có chân nhân hay con người tinh thần mới chế ngự được thể trí. Do đó, chỉ những người đã tập trung tâm thức vào chân ngã mới có thể thực sự hoạch đắc kiến thức này. Thế nên, ở đây có thể nghi vấn về cái thấy của những người còn nhiều xúc cảm và chưa phát triển trí năng. Họ tuyên bố rằng họ biết mình là ai, và nói về tiền kiếp của bạn bè mình. Thực ra, họ chỉ đọc được các tiên thiên ký ảnh. Cũng vì họ chưa hoàn toàn chế ngự thể trí và các thể kia, nên họ không thể phân biện và xác định đúng đắn những gì họ thấy.
The akashic record is like an immense photographic [276] film, registering all the desires and earth experiences of our planet. Those who perceive it will see pictured thereon:
Tiên thiên ký ảnh giống như một cuộn phim rộng lớn [276], ghi lại tất cả các ham muốn và những kinh nghiệm trần gian của hành tinh chúng ta. Những ai nhận thức được nó sẽ thấy có ghi hình ảnh trên đó về:
1. The life experiences of every human being since time began,
1. Kinh nghiệm sống của mọi người kể từ thời khởi thủy,
2. The reactions to experience of the entire animal kingdom,
2. Những phản ứng với kinh nghiệm của trọn cả giới thú vật,
3. The aggregation of the thought-forms of a kamic nature (based on desire) of every human unit throughout time. Herein lies the great deception of the records. Only a trained occultist can distinguish between actual experience and those astral pictures created by imagination and keen desire.
3. Tất cả các hình tư tưởng có tính chất kama (dựa vào dục vọng) của mọi người theo thời gian. Đây chính là khả năng rất dễ gây nhầm lẫn của các ký ảnh này. Chỉ huyền bí gia đã qua thụ huấn mới có thể phân biệt được giữa kinh nghiệm thực tế với những hình ảnh trên cõi cảm dục được tạo bởi sự tưởng tượng và lòng ham muốn mãnh liệt.
4. The planetary "Dweller on the Threshold" with all that appertains to that term and all the aggregations of forms which are to be found in its environment.
4. “Người giữ Cửa” của hành tinh cùng với tất cả những gì liên quan đến thuật ngữ này, và toàn bộ các hình thể có trong môi trường của nó.
The trained seer has learnt to dissociate that which pertains to his own aura and the aura of the planet (which is in actuality the akashic record). He can distinguish between those records which are:
Nhà nhãn thông lão luyện đã học cách tách rời những gì liên quan đến hào quang của riêng mình và hào quang của hành tinh (vốn thực tế là các tiên thiên ký ảnh). Y có thể phân biệt giữa những ký ảnh:
a. Planetary,
a. Thuộc về hành tinh,
b. Hierarchical or pertaining to the work of the twelve Creative Hierarchies as they bring to concretion the plan of the Logos.
b. Thuộc về Đại đoàn Chưởng giáo hay liên quan đến công tác của mười hai Huyền giai Sáng tạo, khi họ thực thi thiên cơ của Thượng Đế.
c. Imaginative forms, the result of the desire-thought activity of the myriads of men, animated by desire for some form of experience or other.
c. Những hình dạng tưởng tượng, là kết quả của hoạt động tư tưởng tham dục của vô số người. Họ bị thôi thúc bởi lòng ham muốn có loại kinh nghiệm này hay loại khác.
d. The historical record pertaining to races, nations, groups and families in their two great divisions on the physical plane and on the astral. [277] It should be borne in mind that every human being belongs to a physical family which constitutes his link with the animal kingdom, and also belongs to an astral family. Through that affiliation on the upward are he is linked with his egoic group and on the downward arc with the vegetable kingdom.
d. Ghi nhận về lịch sử liên quan đến các chủng tộc, quốc gia, đoàn nhóm và gia đình, chia làm hai phần ở cõi trần và trên cõi cảm dục. [277] Cần lưu ý rằng mọi người đều có một gia đình ở cõi trần, liên kết y với giới thú vật. Ngoài ra, y cũng thuộc về một gia đình ở cõi cảm dục. Qua sự liên kết đó trên cung tiến hóa thăng thượng, y kết hợp với nhóm chân ngã của mình. Mặt khác, trên cung tiến hóa giáng hạ y lại liên kết với giới thực vật.
e. The astrological record, or the forms taken on the astral plane under the influence of the planetary forces. These are in two great groups.
e. Ký ảnh chiêm tinh, hay các hình thể được tạo ra trên cảnh giới cảm dục dưới ảnh hưởng của các mãnh lực hành tinh. Những hình thể này được phân thành hai nhóm lớn.
1. Those forms or pictures in the akasha produced by the inflow of solar force via the planets.
1. Những hình thể hay hình ảnh trong tiên thiên khí được tạo ra do sự lưu nhập của mãnh lực thái dương qua các hành tinh.
2. Those forms or pictures which are produced by the inflow of cosmic force from one or other of the signs of the zodiac, that is, from their corresponding constellations.
2. Những hình thể hay hình ảnh được tạo ra do sự lưu nhập của mãnh lực vũ trụ từ một trong các thiên tượng của hoàng đạo, tức là từ một trong các chòm sao tương ứng của chúng.
These points are enumerated to show how impossible it is that the majority of the claims regarding past incarnations can be true. They are the result of a vivid imagination and the assumption that the flashes of astral sight which reveal glimpses of the akashic film give that which pertains to the one who sees. This is not the case any more than the people and activities seen out of any window in a big city reveal to the onlooker his own relatives, friends and pursuits.
Những điểm nói trên được kể ra để cho thấy rằng đa số những lời khẳng định về tiền kiếp thì ít có khả năng đúng thực đến đâu. Chúng là kết quả của sự tưởng tượng sống động, và do người ta giả định rằng những ánh chớp của quang cảnh trên cõi cảm dục cho họ thoáng nhìn cuộn phim tiên thiên khí thì có mang những chi tiết liên quan đến người thấy. Sự thực không phải là như thế. Nó tương tự như khi người ta nhìn qua một cửa sổ ở thành phố lớn, quan sát người qua kẻ lại và các hoạt động bên ngoài để mong tìm thấy người thân, bạn bè và những gì mình cần.
The knowledge referred to in the sutra comes in three ways:
Có thể tìm kiếm sự hiểu biết nêu trong câu kinh này bằng ba cách:
1. Direct ability to see the records if so desired. This form of acquiring knowledge is seldom employed except by initiates and adepts in connection with their pledged disciples. [278]
1. Khả năng thấy trực tiếp các ký ảnh, nếu muốn. Lối thu thập sự hiểu biết này ít khi được dùng, trừ trường hợp các điểm đạo đồ và các bậc toàn thông thực hiện liên quan đến các đệ tử hữu thệ của mình. [278]
2. Through direct knowledge of the group activities and relations of a man's own ego. This, however, only covers that cycle of time which began when a man stepped upon the probationary path. Experiences prior to that are relatively of no more vital importance than is a second in the life of an old man as he passes in retrospect his long life. All that stands out are events and happenings and not the individual hours and seconds.
2. Qua sự hiểu biết trực tiếp về hoạt động của nhóm, và những liên giao của hành giả với chân ngã của mình. Tuy nhiên, sự hiểu biết này chỉ bao gồm khoảng thời gian bắt đầu từ khi hành giả bước lên con đường dự bị. Những kinh nghiệm trước thời khoảng đó thì không mấy quan trọng. Nó chẳng khác gì một giây lát trong đời của một người cao tuổi khi người ấy nhìn lại cuộc sống lâu dài của mình. Tất cả những gì biểu lộ đều là những sự kiện và sự việc xảy ra, chứ không là những giờ phút riêng rẽ.
3. Through the instinctual life. This is based on memory, on acquired faculty and capacity and on the possession of those qualities which go to the equipment of the ego. The ego knows that the possession of the power to do thus and so in the three worlds, is the direct result of past experience, and knows too that certain effects are only to be achieved through certain causes. These he arrives at through concentrated meditation.
3. Qua sự sống bản năng. Cách này dựa vào ký ức, dựa vào quan năng và năng lực đã hoạch đắc, và nhờ sở hữu những phẩm tính có trong chân ngã. Chân ngã biết rằng việc sở hữu quyền năng thực hiện những điều nói trên trong tam giới, là kết quả trực tiếp của kinh nghiệm quá khứ. Chân ngã cũng biết rằng chỉ có thể đạt được một số hiệu quả qua một số nguyên nhân. Vì thế, hành giả đạt đến các hiệu quả đó qua tham thiền tập trung.
The thought images he becomes aware of are:
Những hình tư tưởng mà y biết được là:
1. Those in his aura at the time of his meditation,
1. Các hình ảnh trong hào quang của y vào thời gian y hành thiền,
2. Those in his immediate environment,
2. Những hình ảnh trong môi trường chung quanh y,
3. Those of his present family, group and race,
3. Những hình ảnh về gia đình, đoàn nhóm và chủng tộc hiện tại của y,
4. Those of his present life cycle,
4. Những hình ảnh về chu kỳ sống hiện nay của y,
5. These of his egoic group.
5. Những hình ảnh về nhóm chân ngã của y.
Thus through the process of elimination he gradually works his way through grade after grade of thought images until he arrives at the particular layer of thought impression which deals with the cycle about which he is concerning himself. This is not therefore simply a perception of certain aspects of the records, but a definitely [279] scientific process, known only to the trained occultist.
Bằng cách đó, qua tiến trình loại bỏ, y dần dần tìm kiếm qua từng cấp hình tư tưởng cho đến khi y chạm đến lớp ấn tượng tư tưởng đặc biệt về chu kỳ sống mà y quan tâm đến. Thế nên, đây không phải đơn thuần là nhận thức được một vài phương diện của các ký ảnh. [279] Nó thực sự là một tiến trình khoa học, mà chỉ có huyền bí gia lão luyện mới thấu đáo được.
19. Through concentrated meditation, the thought images in the minds of other people become apparent.
19. Qua tham thiền tập trung, hành giả có thể thấy rõ các hình tư tưởng trong trí của người khác.
It should be remembered that the result of the eight means of yoga is to produce a yogi or trained knower. He is, therefore, one who concerns himself with causes and not with effects. He perceives that which causes the tangible to appear, that is the thoughts which start into motion the forces of substance and eventually produce the concretion of that substance.
Nên lưu ý rằng kết quả của tám phương tiện của yoga là nhằm đào tạo một nhà yogi hay một người hiểu biết thành thạo. Vì thế, y chú ý đến các nguyên nhân chứ không bận tâm đến các hậu quả. Y nhận thức được điều gì khiến cho cái hữu hình xuất lộ. Đó là những tư tưởng làm khởi động các lực vật chất, và rốt cuộc khiến cho chất liệu ấy trở nên cụ thể.
The use of this power to read the minds of others is only permitted to the yogi in those cases where it is necessary for him to understand the causes, lying back of certain events, and this only in order to work out intelligently the plans of the Hierarchy and of evolution. The power here is analogous to that of telepathy but it is not identical. Telepathy entails the tuning in of one mind with another, and necessitates their being en rapport. This faculty of the trained seer is more in the nature of an act of the will and the manipulation of certain forces whereby he can instantly see what he wants in any aura at any time.
Nhà yogi chỉ được phép sử dụng quyền năng này để đọc tư tưởng người khác trong những trường hợp y cần phải hiểu các nguyên nhân ẩn trong một số sự kiện. Và y làm điều này chỉ để thực thi các kế hoạch của Đại đoàn Chưởng giáo và thiên cơ tiến hóa một cách thông minh. Quyền năng này tương tự với quyền năng thần giao cách cảm nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Thần giao cách cảm cần điều chỉnh tần số rung động của cái trí người này với cái trí người kia, và nhất thiết chúng phải hòa hợp với nhau. Quan năng nói trên của nhà nhãn thông lão luyện thì có tính chất tác động của ý chí nhiều hơn, và việc vận dụng một số mãnh lực để bất cứ lúc nào y cũng có thể ngay lập tức thấy được điều y cần trong bất cứ hào quang nào.
The subject of his investigation may be attuned to him or not; through intense meditation and the use of the will faculty thought images stand revealed. This power is a dangerous one to use and is only permitted to trained disciples. [280]
Đối tượng mà y khảo sát có thể hòa hợp với y hay không. Thế nhưng, qua tham thiền chuyên chú và sử dụng năng lực ý chí, các hình tư tưởng sẽ tự hiển lộ. Quyền năng này rất nguy hiểm khi sử dụng, và chỉ những người đệ tử đã thành thạo mới được phép thực hành. [280]
20. As however the object of those thoughts is not apparent to the perceiver, he sees only the thought and not the object. His meditation excludes the tangible.
20. Tuy nhiên, vì đối tượng của các tư tưởng này không tỏ rõ đối với người nhận thức, nên y chỉ thấy tư tưởng chứ không thấy đối tượng đó. Việc tham thiền của y không bao gồm cái hữu hình.
All that he is "awake" to in his meditation is thought substance, his own chitta (or mind-stuff) and that of others.
Tất cả những gì mà y “ý thức” được trong tham thiền là chất liệu tư tưởng, là chitta (hay trí tuệ chất) của mình và của người khác.
It is the inherent activity of this chitta which is the cause of the eventual appearing of forms, tangible and objective, on the physical plane.
Chính hoạt động cố hữu này của chitta là nguyên nhân khiến cho rốt cuộc các hình thể xuất hiện ở cấp khách quan, hữu hình, trên cõi trần.
Everything that appears is the result of a subjective happening. All that is exists in the mind of the thinker, not in the sense that is usually understood but in the sense that thought sets in motion certain currents of force. These currents of force gradually sweep into shape forms which correspond to the thinker's idea and those forms persist as long as the mind of the thinker is on them and disappear when he "takes his mind off" them.
Mọi sự vật xuất lộ đều là kết quả của một diễn biến nội tại. Vạn vật đều hiện hữu trong cái trí của người suy tưởng. Sự hiện hữu này không như chúng ta thường hiểu, mà có nghĩa là tư tưởng làm phát động một số dòng mãnh lực. Các dòng mãnh lực này từ từ tạo thành các hình dạng tương ứng với ý tưởng của người suy tưởng. Các hình dạng vừa kể còn tồn tại ngày nào cái trí của người suy tưởng còn tập chú vào chúng, và tan biến khi y “cất cái trí ra khỏi chúng.”
It is the nature of the thought force or current which is perceived through concentrated meditation. The form which will be ultimately produced does not interest the seer. He knows from the cause what the inevitable effect will be.
Chính bản chất của mãnh lực hay dòng tư tưởng được hành giả nhận thức qua tham thiền tập trung. Người tri kiến không bận tâm đến cái hình thể mà cuối cùng sẽ được sản sinh. Từ cái nguyên nhân, y biết rằng cái hậu quả tất sẽ như thế nào.
21. By concentrated meditation upon the distinction between form and body, those properties of the body which make it visible to the human eye are negated (or withdrawn) and the yogi can render himself invisible.
21. Bằng cách tham thiền tập trung vào sự khác biệt giữa hình thể và cơ thể, những đặc tính của thân xác khiến nó hữu hình đối với mắt người, bị vô hiệu hóa (hay rút lại), và nhà yogi có thể trở nên vô hình.
This is one of the most difficult of the sutras to the western thinker for it involves certain recognitions [281] which are foreign to the occident. It involves primarily the recognition of the etheric or vital body and its functions as the attractive force holding the dense physical vehicle in shape. Through this etheric substratum the physical body is realized as a coherent whole and its objectivity is observable. This vital body is the true form from the standpoint of the occultist and not the dense tangible sheath.
Đây là một trong những câu kinh mà nhà tư tưởng Tây phương thấy rất khó hiểu, vì nó có một số nhận thức vốn xa lạ đối với người ở phương Tây[281]. Chính yếu, câu này bao gồm sự nhận thức về thể dĩ thái hay thể sinh lực, và chức năng của nó là lực hấp dẫn, giữ cho thể xác có vóc dáng bình thường. Qua lớp nền dĩ thái này, thể xác được nhận biết như một toàn thể cố kết, và người quan sát có thể thấy được sự biểu lộ ngoại tại của nó. Theo quan điểm của huyền bí gia thì thể dĩ thái này mới thực sự là hình thể, chứ không phải là lớp vỏ thô đặc hữu hình bên ngoài.
The yogi, through concentration and meditation, has acquired the power to center his consciousness in the true or spiritual man and to control the thinking principle. It is an occult law that "as a man thinketh, so is he" and it is equally true occultly that "where a man thinketh there is he." At will the trained seer can withdraw his consciousness from the physical plane and center it on the mental. At will he can "shut off the light" and when that is the case visibility is negated and (from the standpoint of the human eye) he disappears. He also becomes intangible from the point of view of touch, and inaudible from the standpoint of hearing. It is this fact that demonstrates the reality of the hypothesis that there is nothing but energy of some form or other, and that that energy is triple; in the East they call the nature of energy sattvic, rajasic, or tamasic. That is translated as follows:
Qua định trí và tham thiền, nhà yogi đã có năng lực tập trung tâm thức vào chân nhân hay con người tinh thần, và chế ngự nguyên khí tư duy. Có một định luật huyền môn cho biết rằng “người nào suy nghĩ điều gì thì trở thành điều đó.” Cũng đúng về mặt huyền môn khi nói rằng “ai nghĩ đến nơi nào thì sẽ ở đó.” Nhà nhãn thông thành thạo có thể tùy ý rút tâm thức của mình ra khỏi cõi trần và tập trung tâm thức trên cõi trí. Y có thể tùy ý “ngắt ánh sáng.” Bấy giờ, tính cách hữu hình bị vô hiệu hóa và (dưới cái nhìn của người khác) y biến mất. Y cũng có thể trở nên vô hình đối với xúc giác, và người khác không thể nghe thấy y qua thính giác. Chính sự việc này chứng tỏ thực tính của giả thuyết: không có gì ngoài năng lượng dưới dạng này hay dạng khác, và năng lượng đó vốn tam phân. Ở Đông phương, tính chất đó của năng lượng được gọi là sattva, rajas, hoặc tamas, và được chuyển dịch như sau:
Sattva
rhythm
spirit
life
Rajas
mobility
soul
light
Tamas
inertia
body
substance
Sattva.................. tiết điệu.................tinh thần...............sự sống
Rajas.................. cơ động..................linh hồn.................ánh sáng
Tamas.................. trì trệ.....................cơ thể.....................chất liệu
All are differentiations in time and space of the one eternal primordial spirit-essence. It may [282] be suggested that the modern western correspondences are to be found in the terms:
Tất cả đều là những biến phân trong thời gian và không gian của cái tinh thần-tinh túy nguyên thủy vĩnh cửu duy nhất. [282] Có thể đề nghị những thuật ngữ tương ứng của phương Tây sau đây:
Energy
spirit
life
Force
soul
light
Matter
form
substance
Năng lượng.........................tinh thần...................... sự sống
mãnh lực.............................linh hồn........................ ánh sáng
Vật chất..............................hình thể........................ chất liệu