The "conquest of the organs" has reference specially to the senses and is the result of magnetic purity or the refinement of the etheric body. In this connection students should bear in mind that the physical body is not a principle, but is built in exact conformity with the etheric body. This etheric body is the magnetic vehicle on the physical plane and attracts (according to its own nature and constituents) those atoms and particles of substance out of which the dense physical is constructed. When the sense perceptions are refined and when the vibratory condition of the vital body is justly attuned, the organs of the senses are entirely dominated and controlled by the real man and put him in contact eventually with the two highest subplanes of the physical plane and not with the lower astral as is now the case. The correct order of this control of the organs of physical perception or of the five senses is as follows:
Sự “chế ngự các cơ quan” đặc biệt chỉ về các giác quan và là kết quả của sự thanh khiết về từ điện, hay là sự tinh luyện thể dĩ thái. Về phương diện này, các môn sinh cần lưu ý rằng thể xác không phải là một nguyên khí. Nhưng nó được kiến tạo một cách chính xác đúng theo thể dĩ thái. Thể dĩ thái là thể từ lực ở cõi trần. Tùy theo tính chất và thành phần của nó, mà thể này thu hút các loại nguyên tử và những hạt vật chất nào dùng để kiến tạo thể xác thô đặc. Khi các nhận thức giác quan được thanh lọc, và khi điều kiện rung động của thể sinh lực được điều hợp đúng đắn, thì các giác quan được chân nhân hoàn toàn chế ngự và kiểm soát. Rốt cuộc, chúng giúp chân nhân tiếp xúc với hai cõi phụ cao nhất của cõi trần, chứ không tiếp xúc với cấp thấp của cõi cảm dục như trường hợp hiện nay. Sau đây là trình tự đúng trong việc kiểm soát các cơ quan nhận thức hay là năm giác quan của thể xác:
1. Correct intellectual perception of the ideal on the mental plane.
1. Nhận thức đúng của trí tuệ về điều lý tưởng trên cõi trí,
2. Pure desire, freed from love of form on the emotional or astral plane,
2. Ý muốn thuần khiết, không còn ưa thích hình thể trên cõi tình cảm hay cảm dục,
3. Correct use and development of the five centres [206] up the spine (base of spine, sacral centre, solar plexus, heart and throat centres), each of which is found in the etheric body and is allied with one or other of the five senses,
3. Sử dụng và phát triển đúng năm luân xa dọc theo cột sống [206] (luân xa chót xương sống, luân xa sinh dục, luân xa tim và luân xa cổ họng). mỗi luân xa vừa kể đều có trong thể dĩ thái, và liên kết với một trong năm giác quan,
4. Consequent correct reaction of the sense organs to the requirements of the true or spiritual man.
4. Hậu quả là các giác quan đáp ứng đúng với yêu cầu của chân nhân hay con người tinh thần.
In connection with the astral body, the result of purification is a quiet spirit, or the "gentle stillness" of the vehicle so that it can adequately reflect the Christ principle, or the buddhic nature. The relation of the astral or kamic principle (using the middle vehicle of the threefold lower man) to the buddhic principle using the middle vehicle of the spiritual triad (or atma-buddhi-manas), should be carefully considered. Quieted emotions, and the control of the desire nature ever precede the re-orientation of the lower. Before the desire of a man can be towards things spiritual he has to cease to desire the things of the world, and of the flesh. This produces an interlude of great difficulty in the life of neophyte, and the process is symbolized for us in the use of the word "conversion" in orthodox Christian circles; it involves "a turning round" with its consequent temporary turmoil, but eventual quietness.
Với thể cảm dục, sự tinh luyện có kết quả làm cho tinh thần an tịnh, hay là “sự lắng dịu nhẹ nhàng” của thể này. Nhờ đó, nó có thể phản ánh nguyên khí Christ, hay bồ-đề tâm một cách đầy đủ. Ở đây cần xem xét kỹ mối liên hệ giữa nguyên khí kama hay cảm dục (sử dụng thể thứ hai của phàm nhân tam phân) với nguyên khí bồ-đề vốn sử dụng thể thứ hai của tam nguyên tinh thần (hay là atma-buddhi-manas). Ổn định tình cảm và chế ngự dục vọng bao giờ cũng cần có trước khi phàm ngã tái định hướng. Hành giả cần phải thôi ham muốn những sự vật ở thế gian và của thân xác trước khi y có thể hướng ý muốn của mình đến những điều tinh thần. Đây là một giai đoạn chuyển tiếp hết sức khó khăn trong cuộc đời của người sơ cơ. Tiến trình này được người Thiên Chúa giáo chính thống gọi theo lối biểu tượng là “cải tâm.” Tức là “sự hoàn toàn chuyển hướng” với hậu quả tạm thời bị xáo trộn, nhưng rốt cuộc có sự yên tĩnh.
In the mental body, the effect of purification is the development of the capacity to concentrate or to be one-pointed. The mind no longer flits hither and thither but becomes controlled and quiescent and receptive to the higher impress. [207] As this is discussed fully in book three we need not deal further with it here.
Trong thể trí, hiệu quả của việc tinh luyện là khả năng tập trung hay chuyên nhất. Cái trí không còn bay nhảy đó đây, mà được chế ngự, yên lặng, và đón nhận các ấn tượng cao siêu. [207] Vấn đề này sẽ được bàn đầy đủ trong quyển ba, nên không cần nói thêm ở đây.
When these three results of purification are making themselves felt in the life of the aspirant, he nears a certain climax which is a sudden perception of the nature of the soul. He gets a vision of the reality which is himself, and finds out the truth of the words of the Christ that "the pure in heart shall see God." He beholds the soul and henceforth his desire is for ever towards reality and away from the unreal and the world of illusion.
Khi ba kết quả nói trên của việc tinh luyện biểu lộ rõ rệt trong cuộc sống của người chí nguyện, thì bấy giờ y đến trình độ có thể bỗng nhiên nhận thức được bản tính của linh hồn. Y thấy được thực tế về chính mình. Y hiểu thực nghĩa của những lời mà Đức Christ đã nói “Người có tâm hồn thanh khiết sẽ thấy Thượng Đế.” Y nhìn thấy linh hồn và từ nay trở đi y chỉ muốn thấy sự thực, tránh xa điều giả dối và thế giới ảo tưởng.
42. As a result of contentment bliss is achieved.
42. Tâm an vui, hài mãn tựu thành chân phúc.
There is little to say in connection with this sutra except to point out that all pain, displeasure and unhappiness are based upon rebellion, and that, from the point of view of the occultist, rebellion but stirs up increased trouble, and resistance only serves to feed the evil, whatever it may be. The man who has learnt to accept his lot, wastes no time in vain regrets, and his entire energy can then be given to the perfect fulfillment of his dharma, or obligatory work. Instead of repining, and clouding the issues of life with worry, doubt and despair, he clarifies his path by the quiet realization of life as it is and a direct appreciation of what he may make of it. Thus no strength, time or opportunity is lost, and steady progress towards the goal is made. [208]
Câu này không cần phải giải thích nhiều hơn. Tuy nhiên, nên nói rõ rằng mọi sự đau khổ, ưu phiền và bất hạnh đều do nổi loạn. Theo quan điểm của nhà huyền bí học, sự nổi loạn chỉ làm gia tăng những nỗi khó khăn, rắc rối, và sự chống đối chỉ làm tăng những điểu tà vạy, dù đó là điều gì. Người nào học biết cách chấp nhận số phận, không phí thời gian để uổng công than tiếc, thì bấy giờ có thể dùng trọn cả năng lực của mình để làm tròn thiên chức, hay nghĩa vụ của mình. Thay vì bực tức, và làm cho những vấn đề trong đời thêm phức tạp với những nỗi âu lo, nghi ngờ và tuyệt vọng, y soi sáng đường đi của mình qua nhận thức trầm tĩnh về thực tế của cuộc sống, và trực tiếp đánh giá những gì mà y có thể khai thác được. Bằng cách này, y không bị hao phí sức lực, thời gian hay cơ hội, và liên tục tiến đến mục tiêu. [208]
43. Through fiery aspiration and through the removal of all impurity, comes the perfecting of the bodily powers and of the senses.
43. Với nhiệt vọng bừng cháy và qua việc loại trừ mọi điều bất tịnh, năng lực của cơ thể và các giác quan trở nên hoàn hảo.
Though the two causes of the perfecting process are aspiration and purification, yet these two form really only one and are the two aspects of the discipline of the Probationary Path. The old commentary which forms the esoteric basis of the inner teaching on Raja Yoga has some sentences which will be found of value here in conveying the correct concept:
Hai yếu tố của tiến trình hoàn thiện là nguyện vọng tinh thần và tinh luyện. Dù vậy, cả hai thực sự là một, và là hai phương diện của giới luật trên Con Đường Dự bị. Thiên cổ luận vốn là cơ sở của giáo huấn nội môn về Raja Yoga, có một số câu cần được trình bày ở đây để chuyển đạt đúng khái niệm nói trên:
"As the breath of fire streams upward through the system, as the fiery element makes its presence felt, that which is hindering is seen to disappear, and that which was obscure becomes illuminated.
“Khi hơi thở của lửa lưu chuyển đi lên qua hệ thống, khi nguyên tố bừng cháy hiển lộ thì các chướng ngại tan biến, và những gì trong tối tăm được soi sáng.
The fire ascends and barriers are burned; the breath expands, and limitations disappear. The seven, hitherto quiescent, stir to life. The ten portals, sealed and closed or partially ajar, swing wide.
Luồng lửa tiến lên và đốt tan các rào cản. Hơi thở tỏa rộng, làm tiêu tan các giới hạn. Bảy cái từ trước đến giờ vẫn yên lặng thì nay sống động. mười cánh cửa, vốn bị niêm kín và đóng kín hay hé mở, thì nay trở nên rộng mở.
The five great means of contact rush into activity. Obstacles are overcome, and barriers no longer hinder. The purified one becomes the great receiver and the One is known."
Năm phương tiện giao tiếp chính đại bắt đầu hoạt động. Các chướng ngại được khắc phục, và rào cản bị vẹt tan. Người đã tinh luyện nay nhận được món quà trọng đại và biết Đấng Duy nhất.”
In these words the purification by fire and by air is dealt with and this is the purification undergone on the path of yoga. Purification by water has been submitted to in the later stages of the life of the highly evolved man, prior to treading the Path of Discipleship, and is hinted at in the words "waters of sorrow" so often used. Now the fiery ordeal is undergone and the entire lower nature is passed through the fire. This is the first meaning and the one with which the aspirant [209] is most concerned. It is called forth when he can, from his heart, send forth the call for fire, embodied in the words:
Các đoạn này bàn về sự tinh luyện bằng lửa và bằng không khí. Đây là sự tinh luyện xảy ra trên đường thực hành yoga. Việc tinh luyện bằng nước đã xảy ra ở các giai đoạn sau trong cuộc đời của người tiến hóa cao, trước khi y dấn bước lên Con Đường Đệ tử. Việc này rất thường được đề cập với các từ “những dòng nước đau khổ.” Nay hành giả chịu thử thách qua thiêu đốt, và trọn cả phàm tính được tinh luyện trong lửa. Đây là ý nghĩa thứ nhất được người chí nguyện quan tâm nhiều nhất [209]. Khi có thể, từ trong thâm tâm y phát ra lời kêu gọi lửa, như những lời dưới đây:
"I seek the Way; I yearn to know. Visions I see, and fleeting deep impressions. Behind the Portal, on the other side, lies that which I call home, for the circle hath been well-nigh trod, and the end approacheth the beginning.
“Tôi tìm kiếm Đường Đạo; tôi khao khát hiểu biết. Tôi thấy linh ảnh, và những ấn tượng sâu sắc thoáng qua. Ở bên kia, phía sau Cánh cửa, có những gì mà tôi gọi là gia hương, vì đã đi gần hết vòng tiến hóa, và điểm cuối gặp lại điểm khởi đầu.
I seek the Way. All ways my feet have trod. The Way of Fire calls me with fierce appeal. Naught in me seeks the way of peace; naught in me yearns for earth.
Tôi tìm kiếm Đường Đạo. Chân tôi đã dấn bước trên mọi nẻo đường. Con Đường của Lửa kêu gọi tôi với sức hấp dẫn bừng cháy. Không điều gì trong tôi tìm kiếm lối bình an; không điều gì trong tôi khát khao trần thế.
Let the fire rage, the flames devour; let all the dross be burnt; and let me enter through that Gate, and tread the Way of Fire."
Lửa hãy bừng lên, và ngọn lửa thiêu đốt; cháy tan mọi cặn bã; để tôi đi qua Cửa Đạo, và dấn bước trên Con Đường của Lửa.”
The breath of God is felt as the cleansing breeze also and is the response of the soul to the aspiration of the disciple. The soul then "inspires" the lower man.
Hơi thở của Thượng Đế giống như cơn gió tẩy sạch. Đáp ứng của linh hồn đối với nguyện vọng của người đệ tử cũng thế. Bấy giờ linh hồn “truyền cảm hứng” cho phàm nhân.
The secondary meaning has of course direct reference to the work of the kundalini or serpent fire at the base of the spine as it responds to the soul vibration (felt in the head, in the region of the pineal gland, and called "the light in the head"). Mounting upward, it burns out all obstructions in the spinal etheric channel and vitalizes or electrifies the five centres up the spine and the two in the head. The vital airs within the ventricles of the head are also swept into activity and produce a cleansing, or rather eliminating effect therein. With this the student has as yet nothing to do, beyond seeing to it that as far as in him lies, the aspiration of his heart is of the needed "fiery" character, and that the steady purification of his physical, emotional and mental [210] nature, proceeds as desired. When this is the case, the response of the soul will be effective and the consequent reactions within the etheric centres will take place safely, under law, and normally.
Dĩ nhiên, ý nghĩa thứ hai trực tiếp liên quan đến hoạt động của kundalini hay luồng hỏa xà ở chót xương sống khi nó ứng đáp với rung động của linh hồn. (Rung động này được cảm nhận bên trong đầu, ở vùng của tuyến tùng, và được gọi là “ánh sáng bên trong đầu”). Khi tiến lên trên, nó đốt tan mọi sự tắc nghẽn trong đường truyền dĩ thái của cột sống, và làm sinh động hay tích điện năm luân xa dọc theo cột sống và hai luân xa bên trong đầu. Những luồng sinh khí bên trong các não thất cũng được đưa vào hoạt động. Chúng mang lại hiệu quả tẩy sạch, hay nói đúng ra là thải trừ trong đó. Cho đến nay, người môn sinh chưa nên thực hiện cố gắng vừa kể. Y chỉ nên làm hết sức mình để tâm y có nguyện vọng “bừng cháy,” và liên tục tinh luyện tính chất của thể xác, thể tình cảm và thể trí đúng theo yêu cầu. Khi thực hiện được điều này, sự đáp ứng của linh hồn sẽ có hiệu quả. [210] Nhờ đó, phản ứng trong các luân xa dĩ thái sẽ xảy ra một cách an toàn, bình thường, và theo đúng luật.
The three verses quoted above deal with,
Ba trích đoạn nêu trên nói về
a. The seven centres, hitherto quiescent,
a. Bảy luân xa, từ trước đến nay vẫn còn yên lặng,
b. The ten closed portals, the ten orifices of the physical body,
b. Mười cánh cửa đóng kín, mười khiếu của thể xác,
c. The five senses, through which contact with the physical plane takes place, and in these terms the entire outgoing and ingoing activities of the physical plane man are comprehended.
c. Năm giác quan, qua đó mỗi người tiếp xúc với cõi trần, và trong những phạm vi này có tất cả các hoạt động hướng ngoại và hướng nội của phàm nhân ở cõi trần.
When these have all been brought under the direction of the soul, or inner ruler, then unity with the soul is effected, and consequently identification with that one in whom we live and move and have our being.
Khi các hoạt động vừa kể có sự điều khiển của linh hồn, hay đấng ngự trị ở nội tâm, thì sự hợp nhất với linh hồn được thực hiện. Do đó mà có sự đồng nhất với đấng mà chúng ta sống, di chuyển và hiện tồn trong ngài.
44. Spiritual reading results in a contact with the Soul (or divine One).
44. Khả năng thấu hiểu tinh thần mang lại sự giao tiếp với linh hồn (hay là chân ngã thiêng liêng).
This might perhaps more literally be translated as "the reading of symbols produces contact with the soul." A symbol is a form of some kind which veils or hides a thought, an idea or a truth and it might be laid down therefore as a general axiom that every form of every kind is a symbol, or the objective veil of a thought. This when applied, will be found to refer equally to a human form, which is intended to be the symbol (or made in the image) of God; it is an objective [211] form veiling a divine thought, idea or truth, the tangible manifestation of a divine concept. The goal of evolution is to bring to perfection, this objective symbolic form. When a man knows that, he ceases to identify himself with the symbol which is his lower nature. He begins to function consciously as the divine inner subjective self, using the lower man to veil and hide his form, and daily dealing with that form so that it is moulded and wrought into an adequate instrument of expression. The idea is also carried forward into the daily life, in the attitude of the man to every form (in the three kingdoms of nature) he contacts. He seeks to see below the surface and to touch the divine idea.
Có thể dịch câu này theo nghĩa đen là “việc đọc hiểu các biểu tượng giúp hành giả giao tiếp với linh hồn.” Biểu tượng là một loại hình thể nào đó có che giấu hay ẩn giấu một tư tưởng, ý tưởng hay chân lý. Vì thế, có thể nói chung rằng mọi loại hình thể đều là một biểu tượng, hay lớp màn che bên ngoài của một tư tưởng. Điều hiển nhiên này, khi được áp dụng, cũng chỉ về hình hài của con người, vốn là biểu tượng (hay được tạo nên theo hình ảnh) của Thượng Đế. [211] Đó là hình thể bên ngoài che giấu một tư tưởng, ý tưởng hay chân lý thiêng liêng, sự biểu hiện hữu hình của một khái niệm thiêng liêng. Mục tiêu của cuộc tiến hóa là đưa cái hình thể biểu tượng này ở ngoại giới đến mức hoàn thiện. Khi biết được điều đó, hành giả không còn tự đồng hóa với cái biểu tượng vốn là phàm tính của mình. Y bắt đầu hoạt động hữu thức với tư cách chân ngã thiêng liêng ở nội tâm. Chân ngã dùng phàm nhân để che giấu và ẩn giấu hình thể của mình, và hằng ngày làm việc với hình thể đó, nắn đúc nó thành một khí cụ thích hợp để biểu lộ. Ý tưởng này cũng được triển khai trong cuộc sống thường ngày, trong thái độ của hành giả đối với mọi hình thể khác mà y tiếp xúc (trong tam giới của thiên nhiên). Y cố gắng nhìn xuyên qua cái bề ngoài để chạm đến ý tưởng thiêng liêng.
This is the fourth of the Rules and concerns the man's inner attitude to the objective universe. It might be said therefore that the rules concern a man's attitude towards:
Đây là qui tắc thứ tư trong các Qui luật liên quan đến thái độ nội tâm của mỗi người đối với vũ trụ bên ngoài. Vì thế, có thể nói rằng các qui luật này áp dụng cho thái độ của y đối với:
1. His own lower nature
internal and external purification,
2. His karma or lot in life
contentment,
3. His soul or ego
fiery aspiration,
4. Environment and physical plane contacts
spiritual reading.
5. The one Existence, God
devotion to Ishvara.
1.
Phàm tính của chính mình
tinh luyện bên trong và bên ngoài
2.
Nghiệp quả hay vận mệnh của y trong đời
an vui, hài mãn,
3.
Linh hồn hay chân ngã của y
nhiệt vọng bừng cháy,
4.
Tiếp xúc với môi trường sống và cõi trần
thấu hiểu tinh thần,
5.
Đấng duy nhất, Thượng Đế
sùng kính Ishvara.
Thus a "right attitude" to all things covers this set of rules.
Thế là các qui luật này giúp hành giả có “thái độ đúng đắn” đối với mọi sự vật.
45. Through devotion to Ishvara the goal of meditation (or samadhi) is reached.
45. Với lòng sùng kính Ishvara, hành giả đạt được mục tiêu của tham thiền (hay samadhi).
The goal of meditation is ability to contact the divine inner self, and through the contact, to come [212] to a realization of the unity of that self with all selves and the All-Self, and this, not just theoretically, but as a fact in nature. This comes about when a state called "samadhi" is achieved wherein the consciousness of the thinker is transferred out of the lower brain consciousness into that of the spiritual man or soul on its own plane. The stages of this transfer might be stated to be as follows:
Mục tiêu của tham thiền là khả năng giao tiếp với chân ngã thiêng liêng ở nội tâm. Qua sự giao tiếp đó, [212] hành giả nhận thức được tính duy nhất của chân ngã với mọi cái ngã khác và với Đại Ngã. Y hiểu điều này không chỉ về mặt lý thuyết, mà còn là một sự kiện thực tế. Điều này xảy ra khi hành giả đạt trạng thái “samadhi.” Trong đó, tâm thức của người suy tưởng chuyển ra khỏi ý thức cấp thấp của não bộ, nhập vào tâm thức của con người tinh thần hay linh hồn trên cảnh giới của mình. Có thể kể ra các giai đoạn chuyển nhập vừa kể như sau:
1. Transfer of the consciousness of the body, the outgoing instinctual consciousness of the physical man, into the head. This necessitates a conscious withdrawal of the consciousness to a point within the brain in the neighborhood of the pineal gland, and its conscious definite centering there.
1. Chuyển ý thức của thân xác, cái ý thức theo bản năng hướng ngoại của phàm nhân, vào trong đầu. Đây là sự hữu ý rút tâm thức đến một điểm bên trong não bộ ở gần tuyến tùng, và hữu thức tập trung rõ rệt ở đó.
2. Transfer of the consciousness out of the head or brain into the mind or mental body. In this transfer, the brain remains keenly alert and the withdrawal is consciously undertaken via the etheric body, using the brahmarandra or opening at the top of the head. At no point is the man in trance, unconscious or asleep. He actively undertakes and carries forward this abstracting or withdrawing process.
2. Chuyển tâm thức ra khỏi đầu hay não bộ vào thể trí hay hạ trí. Trong khi tâm thức chuyển di, não bộ vẫn hoàn toàn tỉnh thức. Việc rút tâm thức được hữu ý thực hiện qua thể dĩ thái, dùng brahmaranda, hay lỗ thoát ở đỉnh đầu. Không phút giây nào hành giả ở trong trạng thái ngây ngất xuất thần, hôn trầm hay ngủ say. Y chủ động thực hiện việc rút tâm thức này.
3. Transfer of the consciousness from out of the mental body into that of the ego, the soul, lodged in the causal body or egoic lotus. There is then brought about a condition in which the brain, the mental body and the egoic body form a coherent quiescent unit, alive, alert, positive and steady.
3. Chuyển tâm thức ra khỏi thể trí vào tâm thức của chân ngã hay linh hồn, ở trong thể nguyên nhân hay hoa sen chân ngã. Kế đến là một trạng thái mà não bộ, thể trí và thể của chân ngã hợp thành một đơn vị tĩnh lặng và phối kết, sinh động, linh mẫn, tích cực và vững vàng.
4. The state of samadhi or spiritual contemplation [213] can then be entered, when the soul looks out upon its own world, sees the vision of things as they are, contacts reality and "knows God."
4. Rồi hành giả đi vào trạng thái samadhi hay chiêm ngưỡng tinh thần. [213] Bấy giờ linh hồn nhìn ra thế giới của mình, thấy thực tính của các sự vật, giao tiếp với thực tại và “biết Thượng Đế.”
Following upon this comes the stage in which the spiritual man transmits to the brain via the mind that which is visioned, seen, contacted and known; and in this way, the knowledge becomes part of the brain contents and is available for use upon the physical plane.
Sau đó, con người tinh thần truyền qua thể trí đến não bộ những gì được thị kiến, tiếp xúc và biết. Bằng cách này, sự hiểu biết nói trên trở nên một phần nội dung của não bộ, sẵn sàng được sử dụng ở cõi trần.
This is the goal of the meditation process, and the results in their many distinctions are the subject of Book III. and are produced by conformity to the eight means of yoga dealt with in Book II. Only devotion to Ishvara or true love of God, with its accompanying qualities of service, love of man, and patient endurance in well-doing, will carry a man along this arduous path of discipline, purification and hard work.
Đây là mục tiêu của tiến trình tham thiền, với nhiều kết quả khác nhau được bàn trong Quyển III. Các kết quả đó sở dĩ có được là nhờ tuân thủ tám phương tiện của yoga được bàn trong Quyển II. Chỉ sự sùng kính Ishvara hay thực lòng yêu thương Thượng Đế, với các phẩm tính kèm theo gồm phụng sự, yêu mến mọi người, và bền lòng hành thiện, mới giúp hành giả tiến lên trên con đường gian khổ của giới luật, tinh luyện và cố gắng nhọc nhằn.
MEANS III. POSTURE
PHƯƠNG TIỆN III. TƯ THẾ
46. The posture assumed must be steady and easy.
46. Tư thế phải vững vàng và thoải mái.
This sutra is one that has led our occidental students into a great deal of trouble for they have interpreted it in an entirely physical sense. That it has a physical meaning is true but taken in reference to the lower threefold nature it might be said that it refers to a steady immovable position of the physical body when in meditation, a firm steadfast unwavering condition of the astral or emotional body in the passage through worldly existence, and an unfluctuating steady mind, one [214] that is absolutely under control. Of these three, it might be said that the physical posture is of the least importance, and that the position in which the aspirant can the soonest forget that he possesses a physical body is the best. It might be generally laid down that an upright position in a comfortable chair, with the spine erect, the feet crossed naturally, the hands folded in the lap, the eye closed, and the chin a little dropped is the best posture for the occidental aspirant. In the East there is a science of postures and about eighty-four different positions, some of them most intricate and painful, are listed. This science is a branch of hatha yoga and is not to be followed by the fifth root-race; it is a remnant of that yoga which was necessary and sufficient for the Lemurian root-race man, who needed to learn physical control. Bhakti yoga, or the yoga of the devotee was the yoga of the Atlantean or fourth root-race man, plus a little hatha yoga. In this fifth rootrace, the Aryan, hatha yoga should fall into desuetude altogether where the disciple is concerned, and he should occupy himself with Raja Yoga plus bhakti yoga—he should be a mental devotee.
Đây là một câu kinh khiến các môn sinh Tây phương gặp nhiều khó khăn. Vì họ giải thích nó theo ý nghĩa hoàn toàn thể chất. Đúng là câu kinh này có một phần ý nghĩa về thể xác. Thế nhưng, xét theo ba phương diện của phàm tính, có thể nói rằng câu kinh này chỉ về ba điều. Một là vị thế vững vàng, bất động của thể xác trong tham thiền. [214] Hai là tình trạng vững mạnh, ổn định, không lay chuyển của thể cảm dục hay tình cảm trong đời sống ở cõi trần. Và ba là thể trí ổn cố, không xao động, hoàn toàn được chế ngự. Trong ba điều vừa kể, có thể nói tư thế của thân xác là ít quan trọng nhất. Cũng có thể nói thêm rằng tốt nhất nên ở vị thế mà trong đó hành giả khả dĩ nhanh chóng quên rằng mình có một thân xác. Nói chung, có thể tư thế tốt nhất cho người chí nguyện Tây phương là ngồi ngay ngắn trong chiếc ghế dựa thoải mái, với cột sống thẳng đứng, hai bàn chân tréo tự nhiên, và hai bàn tay chắp lại trong lòng, mắt nhắm, và cằm hơi hạ xuống một tí. Ở phương Đông có một khoa dạy về các tư thế, gồm khoảng tám mươi bốn tư thế khác nhau, trong đó có những tư thế rất rắc rối và gây đau đớn. Khoa này là một chi nhánh của hatha yoga, và người thuộc phân chủng thứ năm không nên theo. Đó là tàn tích của một khoa yoga mà ngày xưa vốn cần thiết và đầy đủ cho người thuộc căn chủng Lemuria, vì họ cần học cách kiểm soát thân xác. Kế đến là bhakti yoga, hay yoga của người sùng tín. Đó là yoga của người Atlantis hay thuộc căn chủng thứ tư, có thêm một ít hatha yoga. Trong căn chủng thứ năm hiện nay, là giống dân Aryan, đối với người đệ tử huyền môn thì hatha yoga đã hoàn toàn lỗi thời. Y nên chú tâm thực hành Raja Yoga cùng với bhakti yoga − y cần phải là người sùng tín ở cấp trí tuệ.
The Lemurian disciple learned to control the physical body and to devote it to the service of Ishvara through hatha yoga, with aspiration towards emotional control.
Người đệ tử vào thời kỳ Lemuria học cách kiểm soát thể xác và hiến dâng nó để phụng sự Ishvara qua hatha yoga, với nguyện vọng chế ngự tình cảm.
The Atlantean disciple learned to control the emotional body and to devote it to the service of Ishvara through bhakti yoga, with aspiration towards mental control. [215]
Người đệ tử trong thời kỳ Atlantis học cách kiểm soát thể tình cảm và hiến dâng nó để phụng sự Ishvara qua bhakti yoga, với nguyện vọng chế ngự thể trí. [215]
The Aryan disciple has to learn to control the mental body and devote it to the service of Ishvara through Raja Yoga, with aspiration towards knowledge of the indweller, the soul. Thus in this root-race, the entire lower man, the personality is subjugated and the "Transfiguration" of humanity takes place.
Người đệ tử của thời kỳ Aryan phải học cách kiểm soát thể trí và hiến dâng nó để phụng sự Ishvara qua Raja Yoga, với nguyện vọng hiểu biết được linh hồn, là đấng ngự trị ở nội tâm. Nhờ đó mà trong căn chủng này trọn cả phàm nhân và phàm tính được chế ngự, mang lại sự “Biến dung” cho nhân loại.
47. Steadiness and ease of posture is to be achieved through persistent slight effort and through the concentration of the mind upon the infinite.
47. Có tư thế vững vàng và thoải mái nhờ cố gắng nhẹ nhàng nhưng kiên trì, và qua việc tập trung tâm trí vào cái vô cùng.
This covers the two aspects which in meditation produce difficulty, the comfort of the body and the control of the mind. It is noteworthy that the effort to attain forgetfulness of the physical body through correct posture is brought about through steady gentle persistent practise, rather than through the violent forcing of the body into postures and attitudes unaccustomed and uncomfortable. When this can be done and when the mind can be so engrossed upon a consideration of the things of the soul, then steadiness and ease characterize the man on the physical plane. He is forgetful of the physical vehicle and hence can concentrate the mind, and his concentration of the mind is then so one-pointed that thought of the body becomes impossible.
Câu này bàn về hai khía cạnh khó khăn trong tham thiền, sự thoải mái của xác thân và việc chế ngự thể trí. Cần lưu ý rằng có thể thực hiện cố gắng hoàn toàn quên đi thân xác qua tư thế đúng bằng cách kiên trì thực hành nhẹ nhàng, liên tục. Đó không phải là việc thô bạo ép buộc thân xác vào những tư thế và thái độ mà nó không quen và không thấy thoải mái. Khi có thể thực hành như trên, và khi cái trí chuyên chú xem xét những sự việc của linh hồn, thì bấy giờ thân xác sẽ vững vàng, thoải mái. Hành giả hoàn toàn quên đi thân xác và có thể tập trung vào thể trí. Việc định trí của y bấy giờ sẽ nhất tâm đến mức không còn nghĩ gì đến thân xác.
48. When this is attained, the pairs of opposites no longer limit.
48. Khi hành giả đạt được điều này, các cặp đối cực không còn hạn chế.
The pairs of opposites concern the desire body and it is significant that in the preceding sutra [216] only the mind and the physical body were dealt with. In this sutra the emotional nature, expressing itself through desire fails to be influenced by the pull of any attractive force. The astral body becomes quiescent and non-assertive, unresponsive to any lure from the world of illusion.
Các cặp đối cực chỉ về thể dục vọng. Điều có ý nghĩa là câu kinh trước chỉ bàn đến thể trí và thể xác [216]. Câu này nói về bản chất tình cảm, tự biểu lộ qua sự ham muốn, nay không còn bị ảnh hưởng bởi sức lôi kéo của bất cứ lực nào thu hút nó. Thể cảm dục trở nên yên lặng, không biểu lộ điều gì, và không ứng đáp với mọi cám dỗ từ thế giới ảo tưởng.
There is a great mystery concerned with the astral body of man and with the astral light, and the nature of the mystery is still only known to advanced initiates. The astral light is thrown into objectivity by two producing factors, and the astral body of a man is responsive to two types of energy. They seem essentially in themselves to lack character or form but to be dependent for manifestation upon "that which is above and that which is below." The desire nature of man, for instance, seems to respond to the lure of the great world of illusion, the maya of the senses, or to the voice of the ego, using the mental body. Vibrations reach the astral body from the physical plane and from the mental world, and according to the nature of the man and to the point in evolution which he has reached, so will be the response to the higher or the lower call.
Có sự bí ẩn sâu xa liên quan đến thể cảm dục của con người và ánh sáng cõi cảm dục. Chỉ các điểm đạo đồ cấp cao mới hiểu được điều bí ẩn này. Ánh sáng cảm dục được chiếu rọi ra ngoại giới bởi hai yếu tố phát khởi, và thể cảm dục của con người ứng đáp với hai loại năng lượng. Dường như cốt yếu là chính chúng không có đặc tính hay hình thể riêng mà, để biểu hiện, chúng tùy thuộc vào “cái ở bên trên và cái ở bên dưới.” Ví dụ như, tính ham muốn của con người dường như ứng đáp với sự cám dỗ của thế giới ảo tưởng rộng lớn, và ảo ảnh của các giác quan. Nó cũng ứng đáp với tiếng nói của chân ngã, khi chân ngã sử dụng thể trí. Các rung động đến với thể cảm dục từ cõi trần và từ cõi trí. Tùy theo tính chất của mỗi người và tùy trình độ tiến hóa y đã đạt, mà nó sẽ ứng đáp với tiếng gọi từ cấp cao hay cấp thấp.
The astral body is either attentive to the egoic impression or swayed by the million voices of earth. It apparently has no voice of its own, no character of its own. This has been pictured for us in the Gita where Arjuna stands midway between the two opposing forces of good and evil and searches for the right attitude to both. The astral plane is the battleground of the soul, the place of victory or the place of defeat; it is the [217] kurukshetra, upon which the great choice is made.
Thể cảm dục có thể chú ý đến ấn tượng của chân ngã, hoặc bị lung lạc bởi vô vàn tiếng gọi của trần gian. Chừng như nó không có tiếng nói riêng, hay đặc tính riêng. Điều này đã được minh họa trong Chí Tôn Ca, khi Arjuna bâng khuâng đứng giữa hai mãnh lực thiện và ác đối chọi nhau, và tìm cách nào để có thái độ đúng đối với cả hai. Cõi cảm dục là chiến trường của linh hồn, là nơi linh hồn chiến thắng hay thất bại. Đó chính là cánh đồng Kurukshetra [217], nơi có sự chọn lựa quan trọng.
In these sutras concerning posture, the same idea lies latent. The physical plane and the mental plane are emphasized and it is brought out that when they are adjusted rightly, when poise on the physical plane and one pointedness on the mental plane are attained, then the pairs of opposites no longer limit. The point of balance is reached and the man is liberated. The scales of a man's life are absolutely adjusted and he stands free.
Trong các câu kinh nói về tư thế trên đây, có hàm chứa cùng một ý tưởng. Cõi trần và cõi trí đều được nhấn mạnh. Kế đến là nêu rõ rằng khi chúng được điều chỉnh đúng, khi hành giả đạt được sự thăng bằng ở cõi trần và sự chuyên nhất trên cõi trí, thì y không còn bị giới hạn bởi các cặp đối cực. Y đạt sự quân bình và được giải thoát. Cán cân được điều chỉnh hoàn toàn thăng bằng trong cuộc sống của hành giả và y được tự do.
MEANS IV. PRANAYAMA
PHƯƠNG TIỆN IV. PRANAYAMA
49. When right posture (asana) has been attained there follows right control of prana and proper inspiration and expiration of the breath.
49. Khi đã có tư thế đúng (asana), thì tiếp theo là kiểm soát prana đúng cách và hơi thở vào và ra được điều hòa.
Here again we come to a sutra that has led to much misunderstanding and much mischief. Teaching on the control of prana is prevalent and has led to the following of breathing exercises and to the practices dependent for their success upon the suspension of the breathing process. Most of this has been caused by a belief in the occidental mind that prana and breath are synonymous terms. This is by no means the case. Vivekananda points this out in his commentary on the sutra in the following words:
Ở đây chúng ta lại có một câu kinh đã đưa đến nhiều sự hiểu lầm, và nhiều phiền lụy. Giáo huấn về việc kiểm soát prana rất phổ biến. Vì thế mà khiến người ta làm theo những cách tập thở và những lối thực hành mà để thành công cần phải ngưng hơi thở. Hầu hết những lối này là do niềm tin của người phương Tây cho rằng prana và hơi thở là hai từ đồng nghĩa. Tuy nhiên, sự thực không phải là như vậy. Vivekananda nêu rõ điều vừa kể trong phần luận giải của ông về câu kinh này như sau:
"When the posture has been conquered, then this motion is to be broken and controlled, and thus we come to pranayama; the controlling of the vital forces of the body. Prana is not breath, [218] though it is usually so translated. It is the sum total of the cosmic energy. It is the energy that is in each body, and its most apparent manifestation is the motion of the lungs. This motion is caused by prana drawing in the breath, and is what we seek to control in pranayama. We begin by controlling the breath, as the easiest way of getting control of the prana."
“Khi đã có tư thế đúng, thì chuyển động này được ngưng dứt và chế ngự. Bấy giờ chúng ta đến pranayama, sự kiểm soát sinh lực trong cơ thể. Prana không phải là hơi thở [218], dù vẫn thường được dịch như thế. Nó là toàn bộ năng lượng vũ trụ. Nó là năng lượng trong mỗi cơ thể. Biểu hiện rõ nhất của nó là chuyển động của phổi. Chuyển động này do prana gây nên, khiến chúng ta hít vào. Đây chính là những gì mà chúng ta tìm cách kiểm soát trong pranayama. Chúng ta bắt đầu bằng cách điều khiển hơi thở, là cách dễ nhất để điều khiển prana.”
Prana is the sum total of the energy in the body (and this applies equally to the planetary and the solar body). It therefore concerns the inflow of energy into the etheric body and its outflow through the medium of the physical body. In the physical body this is symbolized for us in the necessary inspiration and exhalation of the breath. By stressing the physical act of breathing, much of the true sense of this sutra has been lost.
Prana là toàn bộ năng lượng trong cơ thể (và điều này cũng áp dụng cho một cơ thể hành tinh hay cơ thể thái dương). Vì thế, nó liên quan đến sự lưu nhập của năng lượng vào thể dĩ thái, và sự lưu xuất năng lượng qua trung gian của thể xác. Trong thể xác, tiêu biểu của nó là sự hít vào và thở ra cần thiết của hơi thở. Khi chú trọng tác động thở của thân xác, người ta đã bỏ qua phần lớn thực nghĩa của câu kinh này.
Certain things should be remembered as one studies pranayama. First, that one of the main purposes of the etheric body is that it acts as a stimulator and the energizer of the dense physical body. It is almost as if the dense physical body had no independent existence but simply acted as it was swayed and motivated by the etheric body. The etheric body is the force or vital body and it permeates every part of the dense vehicle. It is the background, the true substance of the physical body. According to the nature of the force animating the etheric body, according to the activity of that force in the etheric body, according to the aliveness or the sluggishness of the most important parts of the etheric body (the centres up the [219] spine) so will be the corresponding activity of the physical body. Similarly and symbolically, according to the wholeness of the breathing apparatus, and according to the ability of that apparatus to oxygenate and render pure the blood, so will be the health or wholeness of the dense physical body.
Một số điều cần ghi nhớ khi nghiên cứu pranayama. Trước hết, một trong những mục đích chính của thể dĩ thái là nó có vai trò kích thích và cấp năng lượng cho thể xác. Hầu như thể xác không thể tồn tại độc lập, mà chỉ hoạt động khi được thể dĩ thái ảnh hưởng và thúc đẩy. Thể dĩ thái là thể động lực hay sinh lực, và nó thấm nhuần mọi cơ phận của thân xác. Nó là nền tảng, là thực chất của thể xác. Tùy theo tính chất của lực làm sinh động thể dĩ thái; tùy theo hoạt động của lực ấy trong thể dĩ thái; tùy theo sức sống động hay trì trệ của hầu hết những phần quan trọng nhất trong thể dĩ thái [219] (các luân xa dọc theo cột sống) mà thể xác sẽ có hoạt động tương ứng. Tương tự và nói theo biểu tượng, tùy theo sự toàn vẹn của bộ máy hô hấp, và tùy theo khả năng của bộ máy đó có thể cung cấp oxy và thanh lọc máu nhiều đến đâu, mà thể xác sẽ được mạnh khỏe và toàn vẹn đến mức đó.
It should also be remembered that the key to the just response of the lower to the higher, lies in rhythm, and in the ability of the physical body to respond or vibrate in rhythmic unison with the etheric body. Students have found out that this is much facilitated by steady even breathing, and the majority of the breathing exercises when emphasized to the exclusion of the previous three means to yoga (the Commandments, Rules and Posture) have a definite effect upon the etheric centres and may lead to disastrous results. It is most necessary that students should follow the means of yoga in the order in which they are given by Patanjali, and so see to it that the purificatory process, the discipline of the outer and inner life and one-pointedness of the mind should be aimed at, prior to attempting the regulation of the etheric vehicle through breathing, and the awakening of the centres.
Cũng cần nên ghi nhớ rằng điều then chốt cho sự ứng đáp đúng của cái thấp đối với cái cao, là ở tiết điệu, và tùy theo khả năng của thể xác ứng đáp hay rung động hòa hợp nhịp nhàng đến đâu với thể dĩ thái. Các môn sinh nhận thấy rằng sự ứng đáp này trở nên dễ dàng hơn nhiều bằng cách thở đều đặn, liên tục. Vì thế, hầu hết những lối tập thở khi được chú trọng mà không kèm theo ba phương tiện trước của yoga (là các Giới răn, các Qui luật và Tư thế) sẽ mang lại tác dụng rõ rệt trên các luân xa dĩ thái và có thể dẫn đến những kết quả tai hại. Điều hết sức cần thiết là các môn sinh cần thực hành đúng các phương tiện của yoga theo thứ tự của chúng đã được Patanjali đưa ra. Họ phải thận trọng làm thế nào để trước hết thực hiện được tiến trình tinh luyện, áp dụng giới luật vào cuộc sống bên ngoài và đời sống nội tâm, và thể trí chuyên nhất. Sau đó họ mới nên cố gắng điều hòa thể dĩ thái qua tập thở, và đánh thức các luân xa.
The work done through pranayama might briefly be stated to be the following:
Công việc được thực hiện qua pranayama có thể nói vắn tắt như sau:
1. The oxygenation of the blood and hence the cleansing of the blood currents and consequent physical health.
1. Cung cấp oxy cho hệ tuần hoàn và do đó làm sạch dòng máu, mang lại sức khỏe cho thân xác.
2. The bringing of the physical body into a vibration synchronous with that of the etheric [220] body. This results in the complete subjugation of the dense physical body and its bringing into line with the etheric body. The two parts of the physical vehicle form a unit.
2. Làm cho thể xác rung động đồng bộ với thể dĩ thái. [220] Điều này giúp hoàn toàn chế ngự thể xác, khiến nó hòa hợp với thể dĩ thái. Hai phần này của thể hồng trần trở thành một đơn vị duy nhất.
3. The transmission of energy via the etheric body to all parts of the dense physical body. This energy may come from various sources:
3. Việc truyền năng lượng qua thể dĩ thái đến mọi cơ phận trong thể xác. Năng lượng này có thể đến từ những nguồn khác nhau:
a. From the planetary aura. In this case it is planetary prana, and so concerns primarily the spleen and the health of the physical body.
a. Từ hào quang của hành tinh. Trong trường hợp này, đó là prana của hành tinh. Vì thế nó liên quan chính yếu đến luân xa lá lách và sức khỏe của thân xác.
b. From the astral world via the astral body. This will be purely kamic or desire force and will affect primarily the centres below the diaphragm.
b. Từ cõi cảm dục, qua thể cảm dục. Loại prana này thuần là sức mạnh của dục vọng hay kama, và chủ yếu ảnh hưởng đến các luân xa ở dưới cơ hoành.
c. From the universal mind or manasic force. This will be largely thought force and will go to the throat centre.
c. Từ trí tuệ đại đồng hay là mãnh lực manas. Đây phần lớn là sức mạnh tư tưởng và sẽ đến luân xa cổ họng.
d. From the ego itself, stimulating primarily the head and heart centres.
d. Từ chính chân ngã, chủ yếu kích thích luân xa đầu và luân xa tim.
Most people receive force only from the physical and astral planes, but disciples receive force also from the mental and egoic levels.
Hầu hết mọi người chỉ nhận các lực từ cõi trần và cõi cảm dục. Nhưng các đệ tử thì còn nhận thêm các lực từ những cấp độ trí tuệ và chân ngã.
50. Right control of prana (or the life currents) is external, internal or motionless; it is subject to place, time and number and is also protracted [prolong] or brief.
50. Việc kiểm soát đúng prana (hay các dòng sinh lực) được thực hiện bên ngoài, bên trong hay bất động; cố gắng này tùy theo địa điểm, thời gian và con số, cũng như kéo dài hay ngắn ngủi.
This is a most difficult sutra to understand and its meaning has been made purposely abstruse, owing to the dangers incident to the control of the bodily forces. The ideas and teaching conveyed fall into three parts:
Đây là một câu kinh rất khó hiểu. Tác giả đã cố ý làm cho ý nghĩa của nó trở nên khó hiểu, vì những mối nguy kèm theo việc vận dụng các mãnh lực của cơ thể. Các ý tưởng và giáo huấn được truyền đạt gồm ba phần:
I. The external, internal or motionless control [221] of the life currents of the body (dense and etheric). This concerns:
I. Việc kiểm soát các dòng sinh lực của cơ thể (thể xác và thể dĩ thái) [221] ở bên ngoài, bên trong hoặc bất động. Cố gắng này liên quan đến:
1. The breathing apparatus and the use of the breath.
1. Bộ máy hô hấp và việc vận dụng hơi thở.
2. The vital airs and their radiation.
2. Các dòng sinh khí và sự phát quang của chúng.
3. The centres, and their awakening.
3. Các luân xa, và việc đánh thức chúng.
4. The kundalini fire and its right progression up the spine.
4. Luồng hỏa kundalini và việc đi lên đúng cách của nó dọc theo cột sống.
II. The astrological significance and the relation of the man to his group, planetary or otherwise. This is dealt with in the words "place, time and number."
II. Ý nghĩa chiêm tinh và mối liên hệ của mỗi người với nhóm của mình, với hành tinh hoặc liên hệ khác. Điều này được mô tả bằng các từ “địa điểm, thời gian và con số.”
III. The process of illumination and the production of response in the physical man via the brain to the higher impressions. This ability to respond to the voice of the ego and to become quiescent and receptive must precede the last four means of yoga which do not so immediately concern the dense physical plane or the etheric levels of consciousness.
III. Tiến trình khai ngộ và phàm nhân ứng đáp với các ấn tượng cao siêu qua não bộ. Khả năng ứng đáp vừa kể với tiếng nói của chân ngã, cũng như trở nên yên lặng và thụ cảm phải có trước khi thực hành bốn phương tiện sau của yoga. Bốn phương tiện sau này không mấy trực tiếp liên quan đến các cấp ý thức trong thể xác hay thể dĩ thái.
It will be obvious that much of the teaching conveyed in this sutra can only safely be given directly by the teacher to the pupil, after a proper study of the bodily conditions of that pupil. It is not possible nor right to give in a book intended for the general public those rules, practices and methods which enable the trained disciple to bring his dense physical vehicle into instantaneous synchronization with his etheric body, to densify and irradiate his aura so as to produce certain magnetic results in his environment, and to awaken his centres so that certain psychic powers are displayed. The methods for arousing the kundalini [222] fire and blending it with the downpouring egoic force must also be left for direct teaching by a master in this science to his pupil. There is extreme danger attendant upon the premature awakening of the fire, and the consequent destruction of certain protective structures in the etheric body and the breaking down of the barriers between this world and the astral world, before the pupil is properly "balanced between the pairs of opposites. There is a menace in the premature growth of the lower psychic powers before the higher nature is awakened, and the effect upon the brain can be seen as insanity in some form or other, mild or the reverse. A few explanatory words can, however, be given which will enable the true occult student to gain that information which, if correctly used, acts as a key to the possession of more. This is ever the occult method. Let us, therefore, deal briefly with our three points.
Hiển nhiên là phần lớn giáo huấn truyền đạt trong câu kinh này chỉ có thể được vị huấn sư trực tiếp chỉ dẫn cho người môn sinh một cách an toàn, sau khi xem xét kỹ điều kiện các thể của y. Không thể và cũng không đúng nếu đưa ra trong một quyển sách dành cho công chúng các qui tắc, những lối thực hành và các phương pháp đặc biệt nhờ đó mà người đệ tử thụ huấn có thể làm cho thể xác của y ngay tức khắc rung động đồng bộ với thể dĩ thái; có thể làm cho hào quang của y đặc lại và bức xạ để tạo ra một số kết quả từ lực trong môi trường chung quanh; và có thể đánh thức các luân xa của mình để khai mở một số quan năng thần thông. Phương pháp khơi dậy luồng lửa kundalini [222] và hòa lẫn nó với mãnh lực phóng hạ của chân ngã, cũng phải để cho vị thầy thông thạo khoa này chỉ dạy trực tiếp cho người môn đệ. Sẽ hết sức hiểm nguy nếu đánh thức luồng lửa này quá sớm bởi vì hậu quả là sự hủy diệt một số cơ cấu bảo vệ trong thể dĩ thái, và phá vỡ các rào cản giữa thế giới này và cõi cảm dục, trước khi người môn sinh có thể hoàn toàn “thăng bằng giữa các cặp đối cực.” Có mối đe dọa khi phát triển sớm các loại thần thông thấp trước khi khai mở bản tính cao siêu. Bấy giờ có thể thấy hiệu ứng trong não bộ là một loại điên cuồng nào đó, nặng hay nhẹ. Tuy nhiên, có thể đưa ra vài lời giải thích để cung cấp cho người môn sinh huyền bí đích thực một số thông tin. Nếu được dùng đúng, các thông tin này sẽ là chìa khóa giúp y hiểu biết nhiều hơn. Phương pháp huyền môn bao giờ cũng là như thế. Do đó, chúng ta hãy bàn vắn tắt về ba điểm nói trên.
I. The external control of the prana or life currents concerns those breathing exercises and rhythmic practices which bring the physical organs, allied with the etheric centres, into proper condition. These physical organs are themselves never specifically dealt with by the white magician or occultist. They are dealt with in black magic, and consist of the brain, the lungs, the heart, the spleen and the generative organs.
I. Việc kiểm soát prana hay các dòng sinh lực từ bên ngoài liên quan đến những lối tập thở và thực hành có tiết điệu, tạo điều kiện thích hợp cho một số cơ quan trong thể xác, vốn liên kết với các luân xa dĩ thái. Chính các cơ quan thể chất này không bao giờ được các nhà chánh thuật hay huyền bí gia chánh đạo cụ thể sử dụng. Chúng chỉ được các nhà hắc thuật dùng, và gồm có não bộ, phổi, tim, lá lách và cơ quan sinh dục.
The black magician definitely utilizes these physical parts of the body to generate a type of force which is a mixture of etheric force and dense physical energy, to enable him to do certain [223] forms of magical work and also to produce effects on the physical bodies of animals and men. It is the knowledge of this which is the basis of voodooism and of all those practices which cause the depletion and death of men and women who obstruct the path of the black magician or are regarded by him as enemies. With these the aspirant to the mysteries of the Brotherhood of the great White Lodge has nothing to do. He brings about the merging of the two parts of the dense physical, and the synchronization of the rhythm of the two bodies and the consequent unity of the entire lower man through attention to the etheric breath and rhythm. This inevitably produces the "external control of the life currents."
Nhà hắc thuật dứt khoát sử dụng các bộ phận này trong thể xác để phát ra một loại mãnh lực là hỗn hợp của lực dĩ thái và năng lượng thân xác. Mãnh lực này giúp y thực hiện một số [223] dạng pháp thuật, cũng như gây những hiệu ứng trên thân xác của loài vật và con người. Chính kiến thức này là cơ sở của tà thuật và tất cả những lối thực hành gây suy kiệt và chết chóc cho những ai dám cản đường nhà hắc thuật, hoặc bị y xem là kẻ thù. Người chí nguyện tìm kiếm các bí nhiệm của Huyền môn Chánh đạo không hề quan tâm đến những việc làm này. Y mang lại sự phối hợp hai thành phần của thể hồng trần, và sự đồng bộ hóa tiết điệu của hai thể. Kết quả là sự thống nhất trọn cả phàm nhân qua sự chú tâm vào hơi thở vào tiết điệu dĩ thái. Cố gắng này tất nhiên giúp “kiểm soát các dòng sinh lực từ bên ngoài.”
The internal control of the life currents is brought about in three ways:
Việc kiểm soát các dòng sinh lực từ bên trong được thực hiện bằng ba cách:
1. By an intellectual understanding of the nature of the etheric body and the laws of its life.
1. Dùng trí tìm hiểu bản chất của thể dĩ thái và các luật sinh hoạt của nó.
2. Through a consideration of the types of energy and of their apparatus, the system of centres, to be found in the etheric body.
2. Xem xét kỹ các loại mãnh lực và bộ máy vận dụng chúng, tức là hệ thống các luân xa, có trong thể dĩ thái.
3. Through certain developments and knowledge which come to the aspirant when he is ready (having attended to the previous means of yoga) and which give him the ability to tap certain types of forces, energies, or shaktis, to utilize them correctly through the medium of his own centres and to produce effects which come under the descriptive terms, illuminative, purificatory, magnetic, dynamic, psychic, and magic.
3. Qua một số phát triển và hiểu biết mà người chí nguyện có được khi y đủ điều kiện sẵn sàng (sau khi đã tuân thủ các phương tiện đầu của yoga). Điều kiện này giúp y có thể tiếp xúc với một số loại mãnh lực, năng lượng, hay shakti, sử dụng chúng đúng cách qua các luân xa của mình, và tạo ra một số hiệu quả có tính soi sáng, tinh luyện, thuộc từ lực, động lực, thần thông và huyền thuật.
The motionless control of the life currents is the effect of the proper development of the other [224] two, external and internal control and must be present before the fifth means of yoga, withdrawal or abstraction becomes possible. It simply indicates perfectly balanced synchronization and the complete unification of the two parts of the physical body so that there is no impediment to the outgoing or incoming forces. When motionless control is reached, the yogi can withdraw from his physical body at will or can pull in that body and manipulate at will any of the seven great planetary forces.
Việc kiểm soát các dòng sinh lực một cách bất động là hiệu quả sự phát triển thích hợp của hai lối kiểm soát nói trên [224], tức là sự kiểm soát bên ngoài và bên trong. Hiệu quả này phải có trước khi có thể thực hiện phương tiện thứ năm của yoga là việc rút ý thức hay trừu tượng hóa. Hiệu quả này chỉ đơn thuần cho thấy sự đồng bộ hóa hoàn toàn thăng bằng và hoàn toàn thống nhất của hai thành phần của thể hồng trần. Nhờ thế mà các lực phóng xuất hay lưu nhập đều không trở ngại. Khi đạt khả năng kiểm soát bất động, nhà yogi có thể tùy ý rút tâm thức ra khỏi thân xác của mình. Hoặc y cũng có thể tùy ý đưa vào thể xác và tùy ý sử dụng một trong bảy mãnh lực quan trọng của hành tinh.
It should be borne in mind that the ideal condition is here dealt with and that no aspirant can achieve this means of yoga without working simultaneously at the other means also. The study of the parallelism in nature is of value here.
Cần lưu ý rằng ở đây chúng ta đang bàn đến điều kiện lý tưởng. Vì thế, người chí nguyện không thể đạt được phương tiện này của yoga nếu y không đồng thời thực hành các phương tiện khác. Việc nghiên cứu nguyên tắc hoạt động song hành trong thiên nhiên và áp dụng trong trường hợp này là điều rất tốt.
II. The astrological significance is also hinted at here in the three words, "place, time, and number." In these words the universal triplicities must be recognized, and right control of the life currents must be seen to be related to karma, opportunity and form; there are certain words which when rightly understood give the key to all practical occultism and make the yogi a master of life. They are:
II. Ở đây, cũng hàm chứa ý nghĩa chiêm tinh trong ba từ, “nơi chốn, thời gian, và con số.” Ba từ vừa kể nói về những bộ ba rất phổ quát. Việc điều khiển đúng các dòng sinh lực có liên quan đến nghiệp quả, cơ hội và hình thể. một số từ sau đây khi được hiểu đúng sẽ là chìa khóa của toàn bộ huyền bí học thực hành, giúp nhà yogi trở thành bậc thầy trong nghệ thuật sống:
Sound
Number
Colour
Form
Word
Life
Light
Body
and these are recognized as subject to the space-idea and the time-element. It should be borne in mind, in this connection, that "space is the first entity" (Secret Doctrine I. 583) and that cyclic manifestation is the law of life. [225]
và những điều này được công nhận là chịu chi phối bởi ý niệm về không gian và yếu tố thời gian. Cũng nên lưu ý rằng “Không gian là thực thể đầu tiên” (Giáo lý Bí nhiệm I. 583), và nhớ rằng sự biểu hiện theo chu kỳ là định luật của đời sống. [225]
When this is recognized, the entity, expressing itself cyclically, will make its presence felt through differentiation, through the colour or quality of the veiling form and through the form itself. These factors make up the sum total of the expression of any identity, God or man, and the appearance of any man in exoteric expression on the physical plane is dependent upon the rhythmic or cyclic outgoing or indrawing energy of the great Life in whom he lives and moves and has his being. This is the basis of the science of astrology or the relationship of the planet, or planets to the human being and of their relation to the stars and the various signs of the zodiac.
Khi điều này được nhận thức, thực thể tự phát biểu theo chu kỳ vừa kể sẽ biểu hiện qua sự biệt hóa, qua màu sắc hay phẩm tính của cái hình thể che giấu nó, và qua chính hình thể đó. Các yếu tố này hợp thành toàn bộ sự biểu lộ của một sinh linh, dù đó là Thượng Đế hay con người. Vì thế, sự xuất hiện của một người qua biểu lộ ngoại tại ở cõi trần vốn tùy thuộc vào năng lượng hướng ngoại hay hướng nội có tính tiết điệu hay theo chu kỳ của Sự Sống vĩ đại, mà y sống, di chuyển và hiện tồn trong Ngài. Đây là cơ sở của khoa chiêm tinh. Khoa này nghiên cứu mối quan hệ của một hay nhiều hành tinh với con người, và sự liên hệ của chúng với các ngôi sao và những thiên tượng khác nhau trong Hoàng đạo.
Some knowledge of this is essential to the right control of the life currents, so that the disciple can avail himself of the "times and seasons" wherein progress can be expedited.
Rất cần có một số kiến thức về khoa này để có thể kiểm soát đúng các dòng sinh lực. Nhờ đó mà người đệ tử có thể tự ích dụng được “những thời cơ và mùa tiết” để tiến bộ nhanh hơn.
III. The process of illuminating the lower man becomes possible through the right control of the pranas and this "illuminating process" is an exact science for which these four means of yoga have prepared the way. The fires of the body are justly arranged, the "motionless" condition can be somewhat reached, the vital airs in the head are "at peace" and the entire lower man awaits one of two processes:
III. Có thể thực hiện tiến trình soi sáng phàm nhân qua việc kiểm soát đúng các loại prana. “Tiến trình khai ngộ” này là một khoa học chuẩn xác mà bốn phương tiện đầu của yoga đã mở đường. Các loại lửa trong cơ thể nay được điều phối đúng. Hành giả có thể phần nào đạt được điều kiện “bất động.” Các luồng sinh khí bên trong đầu đang “ổn định” và trọn cả phàm nhân đang chờ một trong hai diễn tiến sau đây:
a. The withdrawal of the true or spiritual man in order to function on some higher plane,
a. Sự triệt thoái của chân nhân hay con người tinh thần để hoạt động trên một cảnh giới cao siêu hơn,
b. Or the bringing down into the lower brain consciousness, of light, illumination and knowledge from the planes of the ego. [226]
b. Hoặc sự phóng hạ vào ý thức cấp thấp của não bộ, các loại ánh sáng, sự khai ngộ và hiểu biết từ các cảnh giới của chân ngã. [226]
51. There is a fourth stage which transcends those dealing with the internal and external phases.
51. Có giai đoạn thứ tư vượt cao hơn các giai đoạn kiểm soát bên trong và bên ngoài.
We have seen how the control of the life currents can be either externally active, internally active or balanced. This triple process brings the entire lower personal man into a condition, first of rhythmic response to the inner motivating factor (in this case, the ego or spiritual man on his own plane) and then of complete quiescence or stillness. This latter condition of receptive waiting, if one might so call it, is succeeded by one of a form of higher activity. This is literally the imposition of a new rate of vibration on the lower, the sounding forth of a new note, emanating from the inner spiritual man which produces certain definite effects in the three sheaths which constitute the lower self and which veil the divinity which is man. These changes are dealt with in the next two sutras.
Chúng ta đã thấy bằng cách nào mà việc kiểm soát các dòng sinh lực có thể được thực hiện qua tác động từ bên ngoài, tác động bên trong hoặc thăng bằng. Tiến trình gồm ba giai đoạn này đưa trọn cả phàm nhân vào một tình trạng: Trước hết là sự ứng đáp nhịp nhàng với yếu tố phát động nội tại (trong trường hợp này là chân ngã hay con người tinh thần trên cảnh giới của mình); sau đó là sự hoàn toàn yên lặng hay tĩnh lặng. Điều kiện sau vừa kể có thể gọi là sự chờ đợi thụ cảm, được kế tiếp bởi một dạng hoạt động cao siêu. Đây thực sự là áp dụng một nhịp độ rung động mới trên phàm tính. Đây là sự xướng lên một âm điệu mới, phát ra từ con người tinh thần. Âm điệu này tạo nên một số hiệu ứng rõ rệt trong ba hạ thể của phàm ngã, chúng che giấu thiên tính tức là chân nhân. Những thay đổi vừa kể sẽ được bàn đến trong hai câu kinh kế tiếp.
The work of the average aspirant is most frequently given to preparing the sheaths so that this fourth stage can become possible. His attention is concentrated upon the attainment of:
Việc làm của người tìm đạo trình độ trung bình hầu như nhằm chuẩn bị các hạ thể để thực hiện được bốn giai đoạn này. Y tập trung chú ý đến việc đạt được:
1. The conscious coordination of the three bodies or sheaths,
1. Sự hữu thức phối hợp ba lớp áo hay hạ thể,
2. Their due alignment,
2. Sự chỉnh hợp đúng cách của chúng,
3. The regulation of the rhythm of the sheaths so that they are synchronized with each other and with the rate of the egoic impression,
3. Sự điều hoà tiết điệu của các hạ thể. Nhờ đó, chúng được đồng bộ hóa với nhau và với nhịp độ ấn tượng của chân ngã,
4. Their unification into one coherent whole [227] so that the man is literally the three in one and the one in three,
4. Chúng trở thành một toàn thể cố kết và thống nhất. [227] Bấy giờ hành giả thực sự trở thành ba trong một và một trong ba,
5. Quiescence, or the attitude of positive receptivity to the higher inspiration and downflow of egoic life and energy.
5. Sự tĩnh lặng, hay là thái độ thụ cảm tích cực đối với nguồn hứng khởi cao siêu, và sự sống và năng lượng của chân ngã tuôn xuống.
It may help the student if he realizes that the right control of prana involves the recognition that energy is the sum total of existence and of manifestation, and that the three lower bodies are energy bodies, each forming a vehicle for the higher type of energy and being themselves transmitters of energy. The energies of the lower man are energies of the third aspect, the Holy Ghost or Brahma aspect. The energy of the spiritual man is that of the second aspect, the Christ force, or buddhi. The object of evolution in the human family is to bring this Christ force, the principle of buddhi, into full manifestation upon the physical plane and this through the utilization of the lower triple sheath. This triple sheath is the Holy Grail, the cup which is the receiver and container of the life of God. When the lower man is brought into proper response through attention to the four means of yoga already considered, two results begin to manifest in him and he is ready to use the remaining four means which will reorient him and bring him eventually to liberation.
Để kiểm soát đúng các loại prana, người môn sinh cần nhận thức rằng năng lượng là toàn bộ vạn hữu và bao gồm cả cuộc biểu hiện. Y cũng cần biết rằng ba hạ thể là các thể năng lượng; mỗi thể là phương tiện cho loại năng lượng cao hơn; và cả ba đều truyền chuyển năng lượng. Các năng lượng của phàm nhân là năng lượng của trạng thái thứ ba, Chúa Thánh Thần, hay là trạng thái Brahma. Năng lượng của con người tinh thần là năng lượng của trạng thái thứ hai, mãnh lực Christ, hay bồ-đề. mục tiêu của cuộc tiến hóa trong gia đình nhân loại là giúp mãnh lực Christ hay nguyên khí bồ-đề này biểu hiện đầy đủ ở cõi trần, qua việc sử dụng ba hạ thể. Ba thể này là Chén Thánh, để nhận và chứa đựng sự sống của Thượng Đế. Khi phàm nhân có thể ứng đáp thích hợp qua việc thực hành bốn phương tiện của yoga đã bàn ở trên, thì hai kết quả bắt đầu biểu lộ nơi y. Bấy giờ y sẵn sàng sử dụng bốn phương tiện còn lại. Chúng sẽ giúp y tái định hướng và rốt cuộc được giải thoát.
52. Through this, that which obscures the light is gradually removed.
52. Qua cố gắng này, những gì che án ánh sáng dần dần bị loại bỏ.
The first result is the gradual wearing away, or attenuation of the material forms which hide [228] the reality. This does not mean the wasting away of the forms but the steady refining and transmutation of the matter with which they are constructed so that they become so purified and clarified that the "Light of God" which they have hitherto hidden, can shine forth in all its beauty in the three worlds. This can be demonstrated as literally true upon the physical plane, for through the work of purification and the control of the life currents the light in the head becomes so apparent that it can be seen by those who have supernatural vision, as radiations extending all around the head, thus forming the halo so well known in pictures of the saints. The halo is a fact in nature and not just a symbol. It is the result of the work of Raja Yoga and is the physical demonstration of the life and light of the spiritual man. Vivekananda says, speaking technically (and it is good for Western occult students to master the technique and terminology of this science of the soul which the East has held in trust for so long):
Kết quả thứ nhất là sự dần dần tiêu mòn hay suy yếu của các thể vật chất che giấu [228] thực tại. Nói như thế không có nghĩa là các thể này bị hư hoại. Đúng ra, chúng được liên tục tinh luyện và siêu hóa các loại vật chất mà từ đó chúng được tạo thành. Kết quả là chúng trở nên thanh khiết và trong trẻo đến mức “Ánh sáng của Thượng Đế” vốn đã bị chúng che án từ trước thì nay có thể chói rạng với vẻ đẹp toàn vẹn trong tam giới. Có thể nói rằng điều này cũng thực tế xảy ra ở cõi trần. Bởi vì, qua cố gắng tinh luyện và kiểm soát các dòng sinh lực, ánh sáng bên trong đầu trở nên tỏ rõ đến đỗi người có nhãn quan siêu phàm có thể thấy nó như các phóng quang ra chung quanh đầu, hình thành vòng hào quang mà người ta rất thường thấy trong hình vẽ các vị thánh. Vòng hào quang là một sự kiện có tính cách thực tế chứ không chỉ là biểu tượng. Đó là kết quả của cố gắng thực hành Raja Yoga, là sự sống và ánh sáng của con người tinh thần biểu lộ ở cõi trần. Khoa học về linh hồn này đã được ủy thác cho phương Đông gìn giữ từ thời xa xưa, với những kỹ thuật và thuật ngữ mà các môn sinh huyền bí Tây phương cần thấu đáo. Bằng các thuật ngữ đó, Vivekananda đã nói như sau:
"The chitta has, by its own nature, all knowledge. It is made of sattva particles, but is covered by rajas and tamas particles, and by pranayama this covering is removed."
“Do tính chất của nó, chitta có đủ mọi hiểu biết. Nó gồm các vi tử sattva, nhưng bị che khuất bởi các vi tử rajas và tamas. Lớp màn che này bị loại bỏ khi thực hành pranayama.”
53. And the mind is prepared for concentrated meditation.
53. Và cái trí nay sẵn sàng cho cố gắng tham thiền chuyên chú.
Johnston's edition gives a beautiful rendering of this sutra in the words: "Thence comes the mind's power to hold itself in the light—," the idea being that once the condition of quiescence [229] has been reached, and the fourth stage of supernormal impression has been made possible, the remaining means of yoga, abstraction, attention, meditation and contemplation can be properly undertaken. The mind can be gripped and used and the process of transmitting the knowledge, light and wisdom from the ego or soul, to the brain via the mind can be safely undertaken.
Bản của Johnston chuyển dịch câu kinh này với những lời rất thi vị: “Bấy giờ thể trí có năng lực tự đứng vững trong ánh sáng −,” ý muốn nói rằng khi cái trí đã trở nên trầm lặng [229] và có thể tiếp nhận các ấn tượng cao siêu ở giai đoạn thứ tư, thì hành giả đủ điều kiện thích hợp để thực hành các phương tiện còn lại của yoga. Đó là trừu tượng hóa, chú tâm, tham thiền và chiêm ngưỡng. Y có thể chế ngự và vận dụng thể trí, và có thể an toàn thực hiện tiến trình truyền chuyển sự hiểu biết, ánh sáng và minh triết từ chân ngã hay linh hồn, đến não bộ thông qua thể trí.
MEANS V. ABSTRACTION
PHƯƠNG TIỆN V. TRỪU TƯỢNG HÓA
54. Abstraction (or Pratyahara) is the subjugation of the senses by the thinking principle and their withdrawal from that which has hitherto been their object.
54. Trừu tượng hóa (hay Pratyahara) là việc sử dụng nguyên khí tư duy để chế ngự các giác quan, và rút các giác quan ra khỏi những gì mà từ trước đến nay đã là đối tượng của chúng.
This sutra summarizes for us the work done in the control of the psychic nature, and gives us the result achieved when the thinker, through the medium of the mind, the thinking principle, so dominates the senses that they have no independent expression of their own.
Câu này tóm lược những điều đã thực hiện trong cố gắng chế ngự tính chất của cái tâm. Nó cũng nêu kết quả đạt được khi người suy tưởng, qua trung gian của cái trí tức là nguyên khí tư duy, thống ngự các giác quan đến mức chúng không còn tự biểu lộ một cách độc lập.
Before attention, meditation and contemplation, (the last three means of yoga) can be properly undertaken, not only must the outer conduct be corrected, not only must inner purity be arrived at, not only must the right attitude towards all things be cultivated and the life currents consequently controlled, but the capacity to subjugate the outgoing tendencies of the five senses must be worked at. So the aspirant is taught the right withdrawal or abstraction of the consciousness which is outgoing towards the world of phenomena, [230] and must learn to centre his consciousness in the great central station in the head from whence energy can be consciously distributed as he participates in the great work, from whence he can make a contact with the realm of the soul and in which he can receive the messages and impressions which emanate from that realm. This is a definite stage of achievement and is not simply a symbolic way of expressing one-pointed interest.
Trước khi có thể thích hợp để thực hành chú tâm, tham thiền, và chiêm ngưỡng (ba phương tiện cuối của yoga), hành giả phải hội đủ các điều kiện đã nêu trong các phương tiện trước. Y phải có ứng xử tốt đẹp trong cuộc sống ở ngoại giới. Y phải có sự thanh khiết ở nội tâm. Y phải có thái độ đúng trong mọi sự việc với hậu quả là chế ngự được các dòng sinh lực. Và phải có khả năng chế ngự khuynh hướng phóng ngoại của năm giác quan. Đến trình độ này, người chí nguyện được chỉ dạy phương pháp rút tâm thức hay triệt thoái đúng cách. Tâm thức này vốn phóng ngoại, hướng đến thế giới của các hiện tượng [230]. Y phải học cách tập chú tâm thức của mình vào trạm chính trung ương ở bên trong đầu. Từ đó, năng lượng có thể được hữu ý phân phối khi y tham gia công tác phụng sự rộng lớn. Từ đó, y có thể giao tiếp với lĩnh vực của linh hồn, nơi y có thể nhận các thông điệp và ấn tượng phát xuất từ lĩnh vực này. Đây là một giai đoạn thành tựu rõ rệt, chứ không chỉ là lối nói biểu tượng về sự quan tâm chuyên nhất.
The various avenues of sense perception are brought into a quiescent condition. The consciousness of the real man no longer surges outwards along its five avenues of contact. The five senses are dominated by the sixth sense, the mind and all the consciousness and the perceptive faculty of the aspirant is synthesized in the head, and turns inward and upward. The psychic nature is thereby subjugated and the mental plane becomes the field of man's activity. This withdrawal or abstracting process proceeds in stages:
Những lối nhận thức khác nhau của các giác quan được làm yên lặng. Tâm thức của chân nhân không còn phóng ngoại theo năm lối giao tiếp nói trên. Ngũ quan được giác quan thứ sáu, là thể trí, ngự trị. Trọn cả tâm thức và khả năng nhận thức của hành giả được tổng hợp bên trong đầu, rồi hướng nội và hướng thượng. Bằng cách này, tính chất của cái tâm được chế ngự và cõi trí trở thành trường hoạt động của hành giả. Việc rút tâm thức hay triệt thoái này diễn tiến qua các giai đoạn sau đây:
1. The withdrawal of the physical consciousness, or perception through hearing, touch, sight, taste and smell. These modes of perception become temporarily dormant, and man's perception becomes simply mental and the brain consciousness is all that is active on the physical plane.
1. Rút ý thức hay nhận thức của thân xác qua các cơ quan thính giác, xúc giác, thị giác, vị giác và khứu giác. Các phương thức cảm nhận này tạm thời ngủ yên. Ý thức của hành giả trở thành đơn thuần qua thể trí. Ý thức não bộ là tất cả những gì còn linh hoạt trong thể xác.
2. The withdrawal of the consciousness into the region of the pineal gland, so that man's point of realization is centralized in the region between the middle of the forehead and the pineal gland.
2. Rút ý thức vào vùng của tuyến tùng. Bấy giờ điểm nhận thức của hành giả được tập trung vào vùng giữa khoảng cách của điểm giữa trán và tuyến tùng.
3. The next stage is that of abstracting the [231] consciousness into the head centre, the thousand petalled lotus or sahasara, by knowingly withdrawing the consciousness out of the head. This can be done in full waking consciousness when certain rules are learned and certain work accomplished. These can obviously not be given in such a work as this. The majority of people have to master the first two stages and learn to control the avenues of perception, the five senses.
3. Giai đoạn kế tiếp là rút tâm thức vào luân xa đầu, [231] tức là sahasara hay hoa sen ngàn cánh, bằng cách hữu ý rút tâm thức ra khỏi đầu. Có thể thực hiện điều này với ý thức hoàn toàn tỉnh táo, khi hành giả học được một số qui luật và hoàn thành một số công việc. Hiển nhiên là các chi tiết vừa kể không thể được đưa ra trong một tác phẩm như thế này. Hầu hết mọi người đều còn phải thực hành thấu đáo hai giai đoạn đầu, và học cách kiểm soát những đường lối nhận thức của năm giác quan.
4. The abstracting of the consciousness into the astral body and thus freeing it from the physical plane.
4. Rút tâm thức vào thể cảm dục để tách rời nó khỏi cõi trần.
5. A still further withdrawal into the mental body or the mind so that neither the physical nor the astral any longer limit or confine the man.
5. Tiếp tục rút tâm thức vào thể trí, hay cái trí. Nhờ đó, hành giả không còn bị giới hạn ở cấp hồng trần hay cảm dục.
When this can be done, true meditation and contemplation becomes possible.
Khi thực hiện được điều này, hành giả có thể thực sự tiến đến giai đoạn tham thiền và chiêm ngưỡng.
Dvivedi says in his commentary on this sutra: "Abstraction consists in the senses becoming entirely assimilated to, or controlled by the mind. They must be drawn away from their objects and fixed upon the mind and assimilated to it, so that by preventing the transformation of the thinking principle, the sense also will follow it and be immediately controlled. Not only this but they will be ever ready to contribute collectively toward the absorbing meditation of any given thing at any moment."
Trong phần bình giải của ông về câu kinh này, Dvidevi nói: “Rút tâm thức là làm cho các giác quan hoàn toàn đồng hóa với, hoặc được thể trí chế ngự. Chúng phải được tách rời khỏi các đối tượng của chúng và chú định vào thể trí và đồng hóa với thể trí. Vì thế, khi hành giả ngăn sự biến thái của nguyên khí tư duy thì giác quan cũng theo nó, và lập tức được chế ngự. Không những được chế ngự, bất cứ lúc nào chúng cũng cùng góp phần vào tham thiền chuyên chú về bất cứ điều gì.”
The result, therefore, of correct abstraction or withdrawal is briefly:
Do đó, có thể kể vắn tắt các kết quả của việc triệt thoái hay rút tâm thức đúng cách, như sau:
1. The synthesis of the senses by the sixth sense, the mind. [232]
1. Thể trí, là giác quan thứ sáu, tổng hợp các giác quan kia. [232]
2. The alignment of the threefold lower man so that the three bodies function as a coordinated unit.
2. Sự chỉnh hợp của phàm nhân với ba hạ thể. Do đó, các thể này hoạt động như một đơn vị phối kết.
3. The freeing of the man from the limitations of the bodies.
3. Hành giả thoát khỏi sự hạn chế của các thể.
4. The consequent ability of the soul or ego to impress and illuminate the brain through the medium of the mind.
4. Hậu quả là linh hồn hoặc chân ngã có thể tạo ấn tượng trên não bộ và soi sáng não bộ thông qua thể trí.
55. As a result of these means there follows the complete subjugation of the sense organs.
55. Kết quả của sự thực hành các phương tiện nói trên là các giác quan được hoàn toàn chế ngự.
In Book I a general indication was given of the objective of Raja Yoga and of the hindrances to its practice coupled with an indication of the benefits. In Book II which we have just completed, the hindrances are specifically dealt with, the method of correcting them is indicated and then the means of yoga are taken up, five out of the eight being considered and explained. These five means, when duly followed, bring a man to the point where his lower psychic nature is being controlled, the senses are being mastered and he can begin to undertake the subjugation of the sixth sense, the mind.
Quyển I nói chung về mục tiêu của Raja Yoga, những chướng ngại khi thực hành Raja Yoga cùng với những lợi ích của nó. Trong Quyển II vừa hoàn tất, có bàn cụ thể về các chướng ngại, và nêu rõ phương pháp khắc phục chúng. Sau đó là bàn đến các phương tiện. Năm trong số tám phương tiện được cứu xét và giải thích. Khi thực hành đúng năm phương tiện vừa kể, hành giả sẽ chế ngự được tính chất của phàm tâm. Y đã làm chủ các giác quan, và bắt đầu chế ngự giác quan thứ sáu, là cái trí.
The methods whereby the mind is controlled and the aspirant becomes complete master of the entire lower man are taken up in the next book. The remaining three means of yoga are explained and then the results of yoga are given in detail. Students will find it useful to note the graded and accurate method outlined in this marvellous treatise. It is valuable to note its brevity and yet its [233] concise and complete nature. It is the text book of an exact science and within its few short pages are gathered all the rules, necessary in the Aryan rootrace, for the complete control of the mind, which should be the contribution of that race to the evolutionary process.
Quyển kế tiếp sẽ bàn về những phương pháp kiểm soát cái trí, và để người chí nguyện dần dần làm chủ trọn cả phàm nhân. Ba phương tiện còn lại của yoga sẽ được giải rõ, kèm theo các chi tiết về những kết quả của yoga. Các môn sinh cần lưu ý đến phương pháp tuần tự theo trình độ và chính xác, được phác họa trong thiên luận giải tuyệt diệu này. [233] Dù vắn gọn, nhưng sách này vẫn súc tích và đầy đủ. Đây là giáo trình về một khoa học chuẩn xác. Chỉ trong một số trang ngắn ngủi, sách đã trình bày được tất cả các qui luật, cần cho căn chủng Aryan, để hoàn toàn chế ngự cái trí. Điều đó chắc hẳn sẽ là sự góp phần của căn chủng này cho diễn trình tiến hóa.
BOOK III. - UNION ACHIEVED AND ITS RESULTS—SỰ HỢP NHẤT ĐẠT ĐƯỢC VÀ KẾT QUẢ