and many others equally well known.
và nhiều bộ ba khác cũng thường được nói đến.
The great objective of Raja Yoga is to free the thinker from the modifications of the thinking principle so that he no longer merges himself in the great world of thought illusions nor identifies himself with that which is purely phenomenal. He stands free and detached and uses the world of the senses as the field of his intelligent activities and no longer as the field of his experiments and experience-gaining endeavours. [153]
Mục tiêu chính đại của Raja Yoga là giúp người suy tưởng thoát khỏi các biến thái của nguyên khí tư duy. Do đó, y không còn hòa nhập vào thế giới rộng lớn của ảo tưởng do tư tưởng, hay tự đồng hóa với những gì hoàn toàn thuộc về hiện tượng. Y ung dung tự tại, buông xả, và sử dụng thế giới của các giác quan làm môi trường cho hoạt động thông minh của mình. Và nó không còn là trường thực nghiệm, cho những cố gắng thu thập kinh nghiệm của y. [153]
It must be remembered that the means of perception are the six senses; i.e. hearing, touch, sight, taste, smell and the mind, and that these six must be transcended and known for what they are. The means of perception reveal the great maya or world of illusion which is composed of forms of every kind, built of substance which must be studied as to its atomic and molecular construction and as to the basic elements which give to that substance its specific differentiations and qualities. For purposes of study the student will do well to remember that he must investigate the nature of the following factors in the polar opposite to spirit which we call matter:
Cần nhớ rằng phương tiện nhận thức gồm có sáu giác quan: thính giác, xúc giác, thị giác, vị giác, khứu giác và cái trí. Hành giả phải vượt cao hơn và biết thực chất của sáu giác quan này. Các phương tiện nhận thức làm hiển lộ thế giới rộng lớn của maya hay là ảo ảnh, ảo hóa. Thế giới này bao gồm mọi loại hình hài, sắc tướng có cấu tạo vật chất. Cần phải nghiên cứu vật chất về cấu trúc nguyên tử và phân tử, cũng như về các nguyên tố cơ bản khiến nó có những biệt hóa và tính chất đặc thù. Khi nghiên cứu, người môn sinh cần khảo sát tính chất của các yếu tố sau đây trong cái đối cực của tinh thần mà chúng ta gọi là vật chất:
1. Atoms,
1. Các nguyên tử,
2. Molecular matter,
2. Vật chất dưới dạng phân tử,
3. The elements,
3. Các nguyên tố,
4. The three gunas or qualities,
4. Ba guna hay đặc tính,
5. The tattvas or force differentiations in their seven forms.
5. Các tattva hay là bảy dạng biệt hóa của lực.
Through an understanding of the nature and distinctions of matter he will come to a comprehension of the world of form which has held his spirit a prisoner for so long. This Patanjali points out in the next sutra.
Khi biết được tính chất và các đặc điểm của vật chất, y sẽ thấu hiểu thế giới của hình thể mà vốn đã giam giữ tinh thần của mình trong thời gian quá lâu. Patanjali nói lên điều này trong câu sau.
18. That which is perceived has three qualities, sattva, rajas and tamas (rhythm, mobility and inertia); it consists of the elements and the sense organs. The use of these produces experience and eventual liberation.
18. Cái được nhận thức có ba đặc tính, sattva, rajas và tamas (tiết điệu, năng động và trì trệ). nó bao gồm các nguyên tố và các giác quan. Việc sử dụng những thứ này mang lại kinh nghiệm và sự giải thoát chung cuộc.
This is one of the most important sutras in the book for in a few concise words we have summed [154] up for us the nature of substance, its constitution, its purpose and reason. Much time might be given to a consideration of each sentence, and the words, "the qualities," "the elements," "the senses," "evolution" and "liberation" express the sum total of the factors concerned in the growth of man. These five are that with which the human unit is the most concerned and cover his career from the moment when he first took incarnation and throughout the long cycle of lives until he passes through the various gates of initiation out into the larger life of the cosmos.
Đây là một trong những câu kinh quan trọng nhất trong sách. Chỉ một số từ vắn gọn mà có thể tóm lược các đặc tính của vật chất, sự cấu tạo, mục đích và lý do của nó. [154] Có thể cần nhiều thời gian để cứu xét mỗi phần trong câu. Các từ “đặc tính,” “nguyên tố,” “giác quan,” “tiến hóa,” và “giải thoát” bao gồm toàn bộ các yếu tố liên quan đến cuộc phát triển của con người. Năm từ vừa kể là những gì được con người quan tâm nhiều nhất. Chúng bao gồm sự thăng tiến của con người kể từ khi y đầu thai lần đầu, xuyên suốt những chu kỳ sống lâu dài, cho đến khi y đi qua những cánh cửa điểm đạo khác nhau để bước vào cuộc sống rộng lớn hơn của vũ trụ.
First inertia distinguishes him, and his forms are of so heavy and gross a nature that many and violent contacts are needed before he becomes aware of his surroundings and later intelligently appreciates them. The great elements of earth, water, fire and air play their part in the building of his forms and are incorporated into his very being. His various sense organs slowly become active; first, the five senses and then when the second quality of rajas or activity is firmly established, the sixth sense or the mind begins to develop also. Later he begins to perceive in all around him in the phenomenal world, the same qualities and elements as in himself, and his knowledge rapidly grows. From that he passes to a distinction between himself as the Perceiver and that which he perceives as his forms and their world of being. The sixth sense becomes increasingly dominant and is eventually controlled by the true man who passes then into the sattvic state where he is harmonised in himself and consequently [155] with all around him. His manifestation is rhythmic and in tune with the great whole. He looks on at the spectacle and sees to it that those forms through which he is active in the world of phenomena are duly controlled and that all his activities are in harmony with the great plan.
Trước hết, y mang đặc tính trì trệ. Các thể của y quá nặng nề và thô kệch đến mức cần có nhiều lần tiếp xúc và va chạm dữ dội để y có thể ý thức được hoàn cảnh chung quanh, và về sau đánh giá được chúng một cách thông minh. Các đại nguyên tố gồm đất, nước, lửa và gió có vai trò kiến tạo các thể của y và được kết hợp vào đời sống của y. Các giác quan khác nhau của y trở nên năng động dần. Trước hết là năm giác quan. Về sau, khi đặc tính thứ hai là rajas hay cơ động đã vững vàng, ổn định, thì giác quan thứ sáu hay thể trí cũng bắt đầu phát triển. Sau đó, y bắt đầu nhận thức được trong tất cả những gì ở chung quanh y trong thế giới hiện tượng, cũng cùng những đặc tính và nguyên tố có nơi chính mình. Nhờ đó sự hiểu biết của y gia tăng nhanh chóng. Từ đây, y dần dần phân biệt được được giữa chính y là Người nhận thức và những gì y nhận thức là các thể của mình và thế giới sinh hoạt của chúng. Giác quan thứ sáu ngày càng nổi bật và rốt cuộc được chân nhân kiểm soát. Bấy giờ y chuyển sang trạng thái sattva, có sự hài hòa nơi chính mình, và nhờ đó mà hài hòa với cả cuộc sống chung quanh. Cuộc sống biểu hiện của y có tiết điệu và hòa hợp với cái toàn thể vĩ đại. Y [155] nhìn ngắm mọi sự và làm thế nào để các thể mà qua đó y tác động trong thế giới hiện tượng đều được kiểm soát thích hợp. Y cũng làm thế nào để tất cả các hoạt động của mình đều hài hòa với thiên cơ vĩ đại.
When this is so, he is part of the whole yet freed and liberated from the control of the world of form, of the elements and of the senses. He uses them; they no longer use him.
Bấy giờ, y là một thành phần của cái toàn thể, nhưng vẫn được tự do và giải thoát ra khỏi sự thúc phược của thế giới hình thể, của các nguyên tố và của các giác quan. Y sử dụng chúng, và chúng không còn sử dụng y.
19. The divisions of the gunas (or qualities of matter) are fourfold; the specific, the non-specific, the indicated and the untouchable.
19. Các guna (hay các đặc tính của vật chất) được chia làm bốn loại: cái cụ thể, cái không cụ thể, cái được chỉ thị và cái không thể tiếp xúc.
It is interesting to note here that the gunas or qualities (the sum total of the attributes or aspects of the substance of our solar system) are fourfold. In this septenary division we have an analogy to the septenates found throughout our manifested universe. First we have the major three aspects of thought-substance:
Ở đây cần lưu ý rằng các guna hay đặc tính (tất cả các thuộc tính hay khía cạnh của vật chất thái dương hệ chúng ta) có bốn loại. Cách phân chia này tương đồng với các thất phân có trong toàn cả vũ trụ biểu hiện. Trước hết, ta có ba khía cạnh chính của chất liệu tư tưởng:
1. Sattvic substance rhythm, equilibrium, harmony,
1. Chất liệu sattva...........tiết điệu, thăng bằng, điều hòa,
2. Rajasic substance mobility, activity,
2. Chất liệu rajas...............cơ động, hoạt động,
3. Tamasic substance inertia, stability.
3. Chất liệu tamas.............trì trệ, ổn định. Ba đặc tính vừa kể được chia thành:
These three are divided into:
1. Cái cụ thể.........................các nguyên tố biểu hiện, hình thể,
1. The specific manifested elements, form,
2. Cái không cụ thể..........các giác quan, phản ứng với lực, các tanmatra,
2. The unspecific the senses, force reactions, the tanmatras,
3. Cái được chỉ thị.............chất liệu nguyên thủy... các tattva, vật chất nguyên tử,
3. The indicated primary substance...the tattvas, atomic matter,
4. Cái không thể tiếp xúc..Đấng cao cả là toàn thể của tất cả những gì vừa kể.
4. The untouchable the great Existence who is the sum total of all these. [156]
[156]
This sutra is intended to cover the technicalities of the form aspect of manifestation whether referring to the manifestation of a human atom or of a solar deity, and simply indicates the natural triplicity of substance, its septenary nature, and its various mutations. It expresses the nature of that aspect of divine life which is called Brahma by the Hindu, and the Holy Spirit by the Christian. This is the third aspect of the Trimurti or Trinity, the aspect of active intelligent matter, out of which the body of Vishnu or of the cosmic Christ is to be built in order that Shiva, the Father or the spirit may have a medium of revelation. It might therefore be of use if the nature of the four divisions of the three gunas were indicated, after giving the synonyms for these gunas.
Câu kinh này bao gồm những thuật ngữ về phương diện hình thể của cuộc biểu hiện. Dù là chỉ về sự biểu hiện của một nguyên tử người, hay là của một vị thượng đế thái dương. Nó chỉ cho thấy tính tam phân, tính thất phân, và sự biến phân thiên hình vạn trạng tự nhiên của vật chất. Nó phát biểu tính chất, trạng thái của sự sống thiêng liêng được người Ấn giáo gọi là Brahma, và được người Thiên Chúa giáo gọi là Chúa Thánh Thần. Đây là trạng thái thứ ba của Trimurti hay Tam vị nhất thể. Đây là trạng thái của vật chất thông tuệ linh hoạt. Từ đó cơ thể của Vishnu hay của Đấng Christ vũ trụ sẽ được kiến tạo, để Shiva, Đấng Cha lành hay tinh thần khả dĩ có phương tiện để hiển lộ. Vì thế, sau khi nêu các từ đồng nghĩa của các guna nói trên, tưởng cũng nên kể ra tính chất bốn phân loại của ba guna.
The three gunas:
Ba guna:
1. The qualities of matter,
1. Các đặc tính của vật chất,
2. The aspects of thinking substance, or of the universal mind,
2. Những khía cạnh của chất liệu tư duy, hay của trí tuệ vũ trụ,
3. The attributes of force-matter,
3. Các thuộc tính của vật chất-lực,
4. The three potencies.
4. Ba mãnh lực.
These triplicities should be carefully studied as it is through them that consciousness in its various degrees becomes possible. We are here dealing with the great illusion of forms with which the Real Man identifies himself to his sorrow and pain throughout the long cycle of manifestation and from which he must eventually be liberated. [157] A still vaster thought is also involved: the imprisoning of the life of a solar Logos in the form of a solar system, its evolutionary development through the medium of that form and the eventual perfection and release of that life from the form at the conclusion of a great solar cycle. The lesser cycle of man is involved in the greater and his attainment and the nature of his liberation is only relative to the greater whole.
Cần nghiên cứu kỹ các bộ ba vừa kể, vì qua đó khả dĩ có những mức độ khác nhau của tâm thức. Ở đây chúng ta đang bàn đến cái ảo tưởng lớn về các thể mà Chân nhân tự đồng hóa với chúng khiến phải chịu đau thương, thống khổ trong suốt chu kỳ biểu hiện lâu dài, và rốt cuộc Chân nhân phải được giải thoát ra khỏi chúng. [157] Còn có một tư tưởng rộng lớn hơn nữa: sự sống của một Thượng Đế thái dương bị giam hãm trong hình thể của một thái dương hệ. Rồi sự sống của Ngài phát triển tiến hóa qua phương tiện của hình thể đó. Rốt cuộc, sự sống trở nên hoàn thiện và được giải thoát ra khỏi hình thể đó, vào lúc kết thúc một đại chu kỳ thái dương. Chu kỳ nhỏ hơn của con người được bao gồm trong chu kỳ lớn vừa kể. Vì thế sự thành đạt và tính cách giải thoát của y cũng chỉ tương đối so với chu kỳ rộng lớn nói trên.
1. The specific division of the gunas.
1. Phân loại cụ thể của các guna.
This specific or particularised division of the gunas is divided into sixteen parts which deal primarily with man's reaction to the tangible objective world.
Phân loại cụ thể hay riêng biệt này của các guna được chia thành mười sáu phần. Chúng chủ yếu liên quan đến phản ứng của con người đối với ngoại cảnh hữu hình.
a. The five elements: ether, air, fire, water and earth. These are the directly involved effects of the unspecific or subjective sound or word.
a. Năm nguyên tố: dĩ thái, không khí, lửa, nước và đất. Những phần này bao gồm trực tiếp các hiệu quả của âm thanh hay linh từ nội tại hoặc không cụ thể.
b. The five sense organs: the ear, the skin, the eye, the tongue and the nostrils, those physical organs or channels through which identification with the tangible world becomes possible.
b. Năm giác quan: tai, da, mắt, lưỡi và mũi. Đây là những cơ quan hay đường dẫn truyền trong thể xác mà qua đó mỗi người có thể tự đồng hoá với thế giới hữu hình.
c. The five organs of action: voice, hands, feet, the excretory organs and the organs of generation.
c. Năm cơ quan hành động: tiếng nói, bàn tay, bàn chân, cơ quan bài tiết và cơ quan sinh sản.
d. The mind. This is the sixth sense, the organ which synthesises all the other sense organs and eventually will make their use a thing of the past.
d. Cái trí. Tức là giác quan thứ sáu. Giác quan này tổng hợp tất cả các giác quan hay cơ quan kia, và rốt cuộc sẽ khiến chúng trở nên không còn cần thiết.
These sixteen means of perception and activity in the phenomenal world are channels for the real thinking man; they demonstrate his active reality and are the sum total of the physical facts relating to every incarnated son of God. Similarly [158] in their cosmic connotation, they are the sum total of the facts demonstrating the reality of a cosmic incarnation. "The Word is made flesh" both individually and in a cosmic sense.
Mười sáu phương tiện nói trên cho sự nhận thức và hoạt động trong thế giới hiện tượng là những đường dẫn truyền cho chân nhân đang tư duy. Chúng biểu lộ thực tính linh hoạt của chân nhân. [158] Chúng là toàn bộ các yếu tố thực tế trong thể chất liên quan đến mọi người con của Thượng Đế đang ở cõi trần. Tương tự, với hàm ý vũ trụ chúng là toàn bộ các yếu tố thực tế biểu lộ thực tính của một đấng lâm phàm ở cấp vũ trụ. Đây là “Ngôi Lời hiện thể” cả về phương diện cá nhân và theo ý nghĩa vũ trụ.
2. The unspecific division of the gunas.
2. Phân loại không cụ thể của các guna.
These are six in number and concern that which lies back of the specific; they deal with that which is subjective and intangible, and with the force display which produces the specific forms.
Loại này có sáu phần liên quan đến những gì ẩn trong cái cụ thể. Chúng liên quan đến những gì nội tại và vô hình, và liên quan đến sự tác động của lực để tạo nên những hình thể đặc thù.
Technically these are called in the Hindu books the tanmatras. They have to do with consciousness more than form and are the "special modifications of buddhi or consciousness" (Ganganatha Jha). They are:
Những phần vừa kể được gọi với thuật ngữ tanmatra trong kinh sách Ấn giáo. Chúng liên quan đến tâm thức hơn là hình thể và là “các biến thái đặc biệt của bồ-đề hay tâm thức” (Ganganatha Jha). Đó là:
I. The element of hearing, or that which produces the ear,—the rudiment of hearing,
1. Yếu tố của thính giác, hay là những gì tạo thành tai nghe,− phần thô sơ của thính giác,
2. The element of touch or that which produces the mechanism of touch, the skin, etc.,—the rudiment of touch,
2. Yếu tố của xúc giác, hay là những gì tạo thành cơ chế của xúc giác, như da, v.v.,− phần thô sơ của xúc giác,
3. The element of sight, or that which produces the eye,
3. Yếu tố của thị giác, hay là những gì tạo thành đôi mắt,
4. The element of taste, or that which produces the mechanism of taste.
4. Yếu tố của vị giác, hay là những gì tạo thành cơ chế của vị giác.
5. The element of smell, or that which produces the mechanism of smell.
5. Yếu tố của khứu giác, hay là những gì tạo thành cơ chế của khứu giác.
Back of these five lies the sixth tanmatra or modification of the consciousness principle, the "feeling of personality" as it has been called, the "I am I" consciousnes, the ahamkara principle. It is this which produces the sense of personal reality and of one's being a separated unit of consciousness. It is the basis of the great "heresy of [159] separateness" and the cause of the real or spiritual man being lured into the great illusion. It is this which forces man for long aeons to identify himself with the things of the senses and it is this too which eventually brings him to the position where he seeks liberation.
Ẩn trong năm phần kể trên là tanmatra thứ sáu hoặc biến thái của nguyên khí tâm thức. Nó thường được gọi là “cảm nhận của phàm nhân,” ý thức “Tôi là Tôi,” hay nguyên khí ahamkara. [159] Chính nguyên khí này mang lại cảm nhận thực tế về cá nhân, và cảm thấy mình là một đơn vị tâm thức riêng biệt. Nó là cơ sở của “đại tà thuyết chia rẽ” và là nguyên nhân khiến chân ngã hay con người tinh thần bị cám dỗ đi vào đại ảo tưởng. Chính nguyên khí này khiến con người qua những thời kỳ lâu dài tự đồng hóa với những sự vật của các giác quan. Và cũng chính nguyên khí này rốt cuộc đưa y đến vị thế tìm kiếm sự giải thoát.
3. The indicated.
3. Cái được chỉ thị.
Back of the sixteen specialized divisions and back of the six unspecialized, lies that which is the cause of them all, which is called in the Hindu books Buddhi, or pure reason, the intellect apart from the lower mind, sometimes called the intuition, whose nature is love-wisdom. This is the Christ-life or principle, which in the process of taking incarnation or form, as we know it, manifests forth as the specific and the unspecific. It is as yet for the majority only "indicated." We surmise it is there. The work of Raja Yoga is to bring forth into full knowledge this vague surmise so that theory becomes fact and that which is latent and believed to exist may be recognized and known for what it is.
Ẩn trong mười sáu phần cụ thể hóa, và ẩn trong sáu cái không cụ thể hóa, có nguyên nhân của chúng. Nguyên nhân này được kinh sách Ấn giáo gọi là Buddhi (bồ-đề), hay lý trí thuần khiết, phần trí tuệ khác với hạ trí. Đôi khi, nguyên nhân này còn được gọi là trực giác, với phẩm tính bác ái-minh triết. Đây là sự sống hay nguyên khí Christ, đang trong tiến trình giáng trần hay khoác lấy hình thể, như chúng ta biết. Nguyên khí này biểu hiện với tính cụ thể và không cụ thể. Cho đến nay, với đa số mọi người, nguyên khí này chỉ mới “được nói cho biết.” Chúng ta chỉ phỏng đoán rằng có nguyên khí này. Thế nên, khoa Raja Yoga nhằm giúp hành giả hiểu biết đầy đủ về điều phỏng đoán mơ hồ vừa kể. Nhờ đó, lý thuyết trở thành hiện thực, và điều vốn ẩn tàng và đã được tin là hiện hữu thì nay hành giả có thể nhận biết và thấu hiểu thực tính của nó.
4. The untouchable.
4. Cái không thể tiếp xúc.
Finally we come to the fourth division of the gunas or aspects, that "in which we live and move and have our being," the untouchable or unknown God. This is the great form of existence in which our little forms are found. This is the sum total of the thinking substance of which our little minds are part; this is the whole manifestation of God through the medium of the cosmic Christ of which each little Son of God is a [160] part. Of this untouchable and unknown the mind of man cannot as yet conceive.
Cuối cùng, chúng ta đến phân loại thứ tư của các guna hay các trạng thái. Đó là Đấng mà “chúng ta sống, di chuyển và hiện tồn trong Ngài,” vị Thượng Đế vô danh hay là không thể tiếp xúc. Đây là dạng hiện tồn vĩ đại mà các thể nhỏ bé của chúng ta đang ở trong đó. Đây là toàn bộ chất liệu tư duy mà cái trí bé nhỏ của chúng ta là thành phần của nó. Đây là toàn cuộc biểu hiện của Thượng Đế qua trung gian của Đấng Christ vũ trụ, [160] mà mỗi Người Con bé nhỏ của Thượng Đế đều là thành phần trong đó. Cái trí của con người chưa thể nhận thức được cái vô danh và không thể tiếp xúc này.
20. The seer is pure knowledge (gnosis). Though pure, he looks upon the presented idea through the medium of the mind.
20. Người tri kiến là cái biết thuần khiết (tri thức tinh thần). Dù thuần khiết, y vẫn dùng thể trí để quán xét các ý tưởng xuất lộ.
Reference has already been made to the excellent translation of this sutra as given by Johnston which runs as follows: "The seer is pure vision. Though pure, he looks out through the vesture of the mind." Ganganatha Jha throws still further light upon it in the words "The spectator is absolute sentience, and though pure, still beholds intellected ideas." The thought conveyed is that the true man, the spectator, perceiver or thinker is the sum total of all perception, be it through the avenues of the senses or of the lower mind; he is in himself knowledge, clear vision or true perception. All that exists in the three worlds exists because of and for him; he is the cause of its being and when he no longer seeks it or endeavours to vision it, for him it exists not. This sutra is one of the key verses in the book, and gives the clue to the entire science of yoga. Certain thoughts lie hid in its formulation which cover the whole ground of this science and students would do well to give much attention to this. It has a mantric effect and if stated as an affirmation and used constantly by the aspirant will eventually demonstrate to him the truth of the statement that "as a man thinketh, so is he."
Trước đây, đã có tham khảo cách dịch rất hay của Johnston cho câu kinh này như sau: “Người tri kiến là cái thấy thuần khiết. Dù thuần khiết, y vẫn nhìn ra ngoài qua lớp áo của thể trí.” Ganganatha Jha làm sáng tỏ thêm với câu “Người quán xét là sự nhận thức tuyệt đối, và dù thuần khiết, vẫn nhìn ngắm các ý tưởng qua trí tuệ.” Cái ý tưởng mà câu này truyền đạt là chân nhân, người quán xét, người nhận thức hay người suy tưởng là toàn bộ sự nhận thức, dù là nhận thức qua con đường của các giác quan hay hạ trí. Y chính là sự hiểu biết, cái thấy sáng tỏ hay nhận thức chân thực. Tất cả những gì trong tam giới sở dĩ có là vì y và để cho y. Y là nguyên nhân sự hiện tồn của chúng. Khi y không còn tìm kiếm chúng, hay cố gắng quán xét chúng, thì đối với y chúng không còn hiện hữu. Câu kinh này là một trong những câu then chốt trong sách. Nó là manh mối cho trọn cả khoa yoga. một số ý tưởng ẩn giấu trong cách diễn đạt câu này bao gồm toàn bộ nền tảng của yoga. Vì thế, người môn sinh cần suy ngẫm kỹ ý nghĩa sâu xa đó. Nó có tác dụng của một câu chân ngôn. Nếu người chí nguyện thường xuyên sử dụng và đọc lên một cách khẳng định, thì rốt cuộc y sẽ thấy được thực tính của câu nói “người nào suy nghĩ điều gì, thì trở thành điều đó.”
"I am pure knowledge. Though pure, I look [161] upon presented ideas through the medium of the mind."
“Tôi là sự hiểu biết thuần khiết. [161] Dù thuần khiết, tôi vẫn dùng thể trí để quán xét các ý tưởng được hiển lộ.”
We have here:
Ở đây chúng ta có:
1. The seer or the one who looks on and considers (from his divine standpoint) this world of effects, this great maya of illusion,
1. Người tri kiến hay là người (từ quan điểm thiêng liêng của mình) nhìn ngắm và quán xét thế giới này, là thế giới của các hậu quả, của ảo hóa và ảo tưởng rộng lớn.
2. The presented idea. The thought conveyed here is that every form which passes before the spectator in the great panorama of life in the three worlds is a "presented-idea," and that these presented ideas are therefore embodied thoughts of some kind and must be regarded as such. The task of the occultist is to work with the force which lies back of every form and not so much with the form which is but the effect of some cause. This method of endeavour can only be developed gradually. The spectator passes gradually from the forms and their true significance in his own immediate environment and in his own tiny world, through the various forms of the world process until the world of causes stands revealed to him, and the world of effects assumes a secondary position.
2. Ý tưởng được hiển lộ. Có nghĩa là mọi hình thể mà người quan sát thoáng thấy trong toàn cảnh rộng lớn của đời sống trong tam giới, đều vốn là “ý tưởng được hiển lộ.” Do đó, phải thấy rằng những ý tưởng được hiển lộ vừa kể có thực chất là những tư tưởng hiện thể. Nhà huyền bí học cần làm việc với cái mãnh lực ẩn trong mọi hình thể. Y không quá bận tâm đến cái hình thể vì nó chỉ là hậu quả của một nguyên nhân nào đó. Phương pháp làm việc này chỉ có thể được phát triển dần. Người quan sát từ từ đi qua các hình thể trong môi trường sống chung quanh cũng như trong thế giới nhỏ bé của mình, và hiểu thực nghĩa của chúng. Y đi qua những hình thể khác nhau khi du hành trong đời, cho đến khi thấy được thế giới của các nguyên nhân. Bấy giờ y hiểu rằng thế giới của các hậu quả chỉ là thứ yếu.
He perceives first the forms in the three worlds. Gradually then he becomes aware of that which caused them and of the type of force which brought them into being. Later he discovers the idea which they embody and, tracing them progressively onward or back to their originating source, he comes into touch with the great lives which are the cause of manifestation. He thus passes out of the realm of objectivity, out of the mental, emotional and physical worlds into the [162] realm of the soul or of the subjective cause of this triple manifestation. This is the world of ideas and therefore of pure knowledge, pure reason and divine mind. Later, at a very advanced stage he touches the one Life which synthesises the many lives, the one Purpose which blends the many ideas into one homogeneous plan.
Trước hết, y nhận thức được các hình thể trong tam giới. Rồi y dần dần ý thức được những gì tạo nên chúng, và loại mãnh lực nào sản sinh ra chúng. Sau đó, y khám phá ra cái ý tưởng ẩn trong hình thể ấy. Cứ thế, y tiếp tục tìm về nguồn cội của chúng, giao tiếp với những sinh linh vĩ đại vốn là nguyên nhân giúp chúng biểu hiện. Bằng cách này, y vượt khỏi lĩnh vực khách quan, ra khỏi tam giới, tức là cõi trí, cõi tình cảm và cõi trần. Bấy giờ y đi vào lĩnh vực của linh hồn hay là cái nguyên nhân nội tại của ba phương diện biểu hiện vừa kể. Đây là thế giới của các ý tưởng, của hiểu biết thuần khiết, của lý trí thuần túy và trí tuệ thiêng liêng. [162] Về sau, đến một trình độ tiến hóa rất cao, y giao tiếp với Sự Sống duy nhất tổng hợp cả chúng sinh. Đó là mục đích duy nhất hòa hợp các ý tưởng vào thiên cơ đồng nhất.
3. The mind. This is the instrument which the seer employs in order to perceive presented ideas or thought forms. For purposes of clarification it might be noted that the presented ideas fall into five groups of thought forms:
3. Cái trí. Đây là khí cụ mà người tri kiến dùng để nhận thức các ý tưởng được hiển lộ hay những hình tư tưởng. Có thể nói rõ hơn, các ý tưởng được hiển lộ gồm năm nhóm hình tư tưởng:
a. The tangible objective forms in the physical world of every day. With these the seer has for long identified himself in the earlier and more savage stages of human existence.
a. Những hình thể hữu hình ở ngoại cảnh trong cuộc sống hằng ngày ở cõi trần. Y đã tự đồng hóa với những hình thể này trong thời gian lâu dài vào các giai đoạn đầu, còn dã man, của đời sống nhân loại.
b. The moods, feelings and desires, which all have form in the astral world, the world of the emotions.
b. Các tâm trạng, xúc cảm và ham muốn, tất cả đều có hình dạng trong cõi cảm dục hay cõi tình cảm.
c. The thought forms in their myriad distinctions which crowd the mental world.
c. Vô số các hình tư tưởng khác nhau trên cõi trí.
Through these "presented ideas," the seer achieves knowledge of the not-self.
Qua “các ý tưởng được hiện lộ” này, y hiểu biết về cái phi-ngã.
d. The thought forms which he can create himself after he has learned to control his instrument the mind and can discriminate between the illusory world of present ideas and those realities which constitute the world of spirit.
d. Những hình tư tưởng mà y có thể tự tạo sau khi học cách kiểm soát khí cụ của mình là thể trí. Bấy giờ y có thể phân biệt giữa thế giới ảo tưởng gồm các ý tưởng hiện hữu và những thực tế trong thế giới của tinh thần.
Through this process he arrives at a knowledge of himself. Throughout the great experience of knowing the not-self and knowing himself, he uses the mind as his medium of search, of explanation and of interpretation, for the senses and [163] all his channels of contact, telegraph constant information and reactions to the mind via the lower instrument of the brain. Having reached this stage the seer is then able to use the mind in a reverse manner. Instead of turning his attention to the not-self or the illusory world of effects and instead of studying his own lower nature, he can now, owing to the mental control achieved, arrive at the fifth stage:
Qua quá trình này, y tự biết mình. Xuyên suốt kinh nghiệm rộng lớn hiểu biết cái phi-ngã và tự biết mình, y sử dụng thể trí làm phương tiện tìm kiếm, giải thích và diễn giải. Bởi vì các giác quan và toàn bộ những lối giao tiếp [163] đều gửi các thông tin và phản ứng liên tục đến cái trí qua khí cụ ở cấp thấp là bộ não. Khi đã đến trình độ này, y có thể sử dụng thể trí theo cách ngược lại. Thay vì hướng sự chú ý của mình đến cái phi-ngã hay là thế giới ảo tưởng của các hậu quả, và thay vì nghiên cứu phàm tính của mình, nay nhờ đã đạt được sự kiểm soát trí tuệ, y có thể tiến đến trình độ thứ năm:
e. The ideas presented by the world of spiritual life, the realm of spiritual knowledge, and the kingdom of God in the truest sense.
e. Các ý tưởng được hiển lộ trong thế giới của sự sống tinh thần, lĩnh vực hiểu biết tinh thần và Thiên giới, theo ý nghĩa chân thực nhất.
Through this, the seer arrives at a knowledge of God as He is and comes to an understanding of the nature of spirit. The mind then serves a triple purpose:
Qua đó, y hiểu được chân tính của Thượng Đế và thực tính của tinh thần. Bấy giờ thể trí phục vụ ba mục đích:
a. Through it, the seer looks out upon the realm of causes, the spiritual realm.
a. Qua thể trí, y quán xét lĩnh vực của các nguyên nhân, tức là lĩnh vực tinh thần.
b. By its means, the world of causes can be interpreted in terms of the intellect.
b. Y sử dụng thể trí để diễn giải thế giới các nguyên nhân trong phạm vi trí tuệ.
c. By using it correctly, the seer can transmit to the physical brain of the lower personal self (the reflection in the world of effects of the true man) that which the soul sees and knows. This triangle is then formed and comes into working activity: The seer or spiritual man, the mind, his medium of investigation, or the window through which he looks out (whether upon the world of effects, upon himself, or upon the world of cause) and the brain, which is the receiving plate upon which the seer can impress his "pure knowledge" using the mind as an interpreter and transmitting agency. [164]
c. Khi sử dụng thể trí đúng cách, y có thể truyền đến não bộ trong thể xác của phàm ngã (phản ánh của chân nhân, trong thế giới các hậu quả) những gì mà linh hồn thấy và biết. Bấy giờ, một tam giác được hình thành và bắt đầu tác động: Người tri kiến hay là con người tinh thần, thể trí, phương tiện y dùng để khảo cứu, hay là cửa sổ để y quán xét (về thế giới các các hậu quả, về chính mình, hay về thế giới các nguyên nhân), và não bộ. Não bộ là phương tiện tiếp nhận những ấn tượng về “sự hiểu biết thuần khiết” của người tri kiến, được y truyền đến qua thể trí với tính cách trung gian diễn giải và truyền đạt. [164]
21. All that is exists for the sake of the soul.
21. Cả vạn hữu là để dành cho linh hồn.
Man in his arrogance should not take this sutra to mean that all that is created exists for him. The sense is much wider than this. The soul referred to is that of the Supreme Being of which the soul of man is but an infinitesimal part. Man's tiny world, his small environment and contacts, exist for the sake of the experience they bring him and the final liberation they bring about; he is the cause of their manifestation and they are the result of his own thought power. But around him and through him is to be found that greater whole of which he is a part, and the entire vast universe, planetary and solar, exists for the sake of the vaster Life in whose body he is but an atom. The whole world of forms is the result of the thought activity of some life; the whole universe of matter is the field for the experience of some existence.
Người có tính kiêu căng, ngã mạn không nên nắm lấy câu kinh này để giải thích rằng tất cả các tạo vật sở dĩ có là để cho y. Thực ra ý nghĩa của câu này sâu rộng hơn nhiều. Linh hồn được đề cập ở đây là linh hồn của Đấng Tối cao mà linh hồn của con người chỉ là một phần vô cùng nhỏ của Ngài. Thế giới nhỏ bé của con người, môi trường sống và phạm vi giao tiếp nhỏ hẹp của y, sở dĩ có là nhằm mang lại cho y kinh nghiệm để y đi đến sự giải thoát cuối cùng. Y là nguyên nhân cuộc biểu hiện của chúng, và chúng là kết quả của quyền năng tư tưởng của y. Thế nhưng, ở chung quanh y và xuyên qua y là cái toàn thể rộng lớn hơn mà y chỉ là thành phần trong đó. Toàn thể vũ trụ bao la, ở cấp hành tinh và thái dương, sở dĩ hiện hữu là cho Sự Sống rộng lớn mà trong cơ thể của Ngài y chỉ là một hạt nguyên tử. Toàn cả thế giới hình tướng là kết quả của hoạt động tư tưởng của một Đấng cao cả. Toàn bộ thế giới vật chất là trường kinh nghiệm của một Đấng thiêng liêng.
22. In the case of the man who has achieved yoga (or union) the objective universe has ceased to be. Yet it existeth still for those who are not yet free.
22. Đối với người đã thành đạt khoa yoga (hay hợp nhất) vũ trụ khách quan không còn nữa. Thế nhưng nó vẫn còn hiện hữu đối với những người chưa được tự do.
This sutra holds the germ of the entire science of thought. Its premise is based upon the realisation that all that we behold are modifications of thought substance, that the thinker creates his own world, whether he be God or man. When a man through the science of yoga (that science which deals with the "suppression of the activities [165] of the thinking principle" or with mind control), has achieved full power over the mind and over mental substance or thought matter, he is freed from the control of those forms which hold the majority of men captive in the three worlds.
Câu kinh này có mầm mống của trọn cả khoa học về tư tưởng. Tiền đề của nó dựa vào nhận thức rằng tất cả những gì mà chúng ta thấy đều là các biến thái của chất liệu tư tưởng. Đó cũng là nhận thức rằng người suy tưởng tự tạo nên thế giới của riêng mình, dù đó là Thượng Đế hay con người. Chúng ta biết rằng yoga là khoa bàn về “sự chế ngự các hoạt động của nguyên khí tư duy” [165] hay là sự kiểm soát thể trí. Khi qua khoa này hành giả đã hoàn toàn làm chủ thể trí và chất liệu trí tuệ hay vật chất tư tưởng, thì bấy giờ y thoát khỏi sự kiềm tỏa của các hình thể vốn đang giam giữ đa số mọi người trong tam giới.
He stands then apart from the great illusion; the bodies which have hitherto held him no longer do so; the great currents of ideas and thoughts and desires which have their origin through the "modifications of the thinking principle" of men imprisoned in the three worlds no longer sway or affect him; and the myriad thought forms which are the result of these currents in the mental, astral and physical worlds no longer shut him away from the realities or from the true subjective world of causes, and of force emanations. He is no longer deceived and can discriminate between the real and the unreal, between the true and the false, and between the life of the spirit and the world of phenomena. He becomes subject then to the currents of thought, and the world of ideas emanating from great spiritual entities, from spiritual lives, and the great plan of the Architect of the Universe can unroll itself before him. He is liberated and free and subject only to the new conditions of the life of the man who has made the great at-one-ment. The laws of the three worlds are not superseded but are transcended, for the greater always includes the lesser and though—for purposes of service—he may choose to limit himself to a seemingly three dimensional life, yet he goes forth into the world of higher dimensions at his pleasure, and [166] when needed for the extension of the kingdom of God.
Nay y đã hóa giải đại ảo tưởng. Các thể mà từ trước đến giờ đã ràng buộc y thì nay không còn thế nữa. Những dòng ý tưởng, tư tưởng và dục vọng mạnh mẽ vốn bắt nguồn từ “các biến thái của nguyên khí tư duy” nơi những người đang bị lao tù trong tam giới, thì nay không còn chi phối hay ảnh hưởng được y. Hậu quả của chúng là vô số hình tư tưởng được tạo nên ở cõi trí, cõi cảm dục và cõi trần. Các hình tư tưởng ấy nay không còn che án tầm mắt của y trước những điều thực tế, thế giới chân thực của các nguyên nhân, và những phóng phát mãnh lực. Y không còn bị lừa gạt, và có thể phân biệt được điều thật và không thật, điều đúng và điều sai, giữa sự sống tinh thần và thế giới hiện tượng. Y bắt đầu chịu ảnh hưởng của những dòng tư tưởng, và thế giới các ý tưởng phát xuất từ các đấng tinh thần cao cả, và nguồn sống tinh thần. Thiên cơ vĩ đại của vị Kiến trúc sư Vũ trụ có thể phơi bày trước mắt y. Y được giải thoát, tự do, và chỉ còn theo các điều kiện sống mới trong đời của người đã thực hiện được sự hợp nhất trọng đại. Các luật trong tam giới không được thay thế mà y chỉ vượt cao hơn chúng. Lý do là vì cái lớn luôn luôn bao gồm cái nhỏ. Vì mục đích phụng sự, y có thể chọn việc tự giới hạn mình trong đời sống chừng như thuộc ba chiều không gian. Thế nhưng, bất cứ khi nào cần cho việc mở rộng Thiên giới, y vẫn thoải mái đi vào thế giới của các chiều cao siêu hơn. [166]
The object of this science of yoga is to reveal to man the mode of this liberation and how he can free himself. Hence the trend of Patanjali's teaching up to this point has been to indicate man's place in the scheme, to put his finger upon the basic cause of man's restlessness and urge towards activity of one kind or another; to show the reason for the existence of the great world of effects and to tempt the aspirant to an investigation of the world of causes; and so to demonstrate the need for further unfoldment and the nature of the hindrances to that unfoldment that the man will be ready to say: If this is all so, what are the means whereby this union with the real and this dispersal of the great illusion may be brought about? This second book presents the eight great means of yoga, giving thus a clear and concise outline of the exact steps to be followed for the needed regulation of the physical, psychic and mental life.
Mục tiêu của khoa yoga này là cho hành giả thấy phương cách để tự giải thoát và trở nên tự do. Vì thế, cho đến nay, khuynh hướng trong giáo huấn của Patanjali đã nhằm chỉ rõ vị trí của con người trong đại cuộc. Ông cho thấy nguyên nhân căn bản nào khiến con người cứ mãi băn khoăn, đau khổ, với sức thôi thúc hướng đến một loại hoạt động này hay hoạt động khác. Ông nêu rõ lý do vì sao mà có thế giới bao la của các hậu quả, và khuyến khích người môn sinh khảo cứu thế giới của các nguyên nhân. Bằng cách này, y thấy rằng cần phải khai mở nhiều hơn, và đâu là những chướng ngại đối với cố gắng khai mở đó. Bấy giờ, tất nhiên y sẽ hỏi: Nếu sự thể là như thế, thì có những phương tiện nào để có thể hợp nhất với thực tại, và giải tán cái ảo tưởng nặng nề kia? Quyển hai này trình bày tám phương tiện của yoga. Đây là bản phác thảo rõ ràng và vắn gọn về những bước chính xác cần theo đúng, để thực hiện điều thiết yếu là điều hòa cuộc sống thể chất, tâm lý và trí tuệ.
23. The association of the soul with the mind and thus with that which the mind perceives, produces an understanding of the nature of that which is perceived and likewise of the Perceiver.
23. Kết hợp linh hồn với thể trí và từ đó kết hợp với những gì mà thể trí nhận thức được, giúp hành giả thấu hiểu thực chất của điều được nhận thức cũng như bản tính của người nhận thức.
In this sutra the attention of the student is drawn to the primary quality which he must develop, that of discrimination. Its meaning is therefore very clear. The pairs of opposites, spirit and matter, purusha and prakriti. are [167] brought into close association and that union must come to be recognised by the soul, the perceiving consciousness. Through the process of this blending of the dualities, the soul, the thinker, comes to a comprehension of the nature which is his very own, the spiritual nature, and the nature of the phenomenal world which he perceives, contacts and uses. The organ of perception is the mind and the five senses, and from the standpoint of the soul, they form one instrument. For a long period and through many incarnations the soul or thinker identifies himself with this organ of perception and in the earlier stages with that also which he perceives through its use. He regards the phenomenal body he uses, the physical body, as himself, as witness the expression: "I am tired" or "I am hungry." He identifies himself with his body of feeling or desire, and says "I am cross," or "I want money." He identifies himself with the mental vehicle and regards himself as thinking thus and so. It is this identification which results in the theological differences, and the doctrinal and sectarian diversities everywhere to be found, and in this fifth root race and particularly in this fifth subrace this identification reaches its apotheosis. It is the era of the personal self, not of the spiritual Self. This realisation of the lower nature is part of the great evolutionary process but must be followed by a realization of the other polar opposite, the spiritual Self. This is brought about by the soul beginning to practise discrimination, at first theoretically and intellectually (hence the great value [168] of the present era of criticism and polemical discussion, as it forms part of the planetary discriminative process) and later experimentally. This discrimination leads eventually to three things:
Câu này hướng sự chú ý của người môn sinh đến đức tính chủ yếu mà y phải phát triển, là tính phân biện. Vì thế, ý nghĩa của nó thật rõ ràng. [167] Các cặp đối cực, tinh thần và vật chất, purusha và prakriti, được kết hợp chặt chẽ với nhau. Linh hồn, tức là cái tâm thức hiểu biết, phải thấu đáo sự phối hợp này. Qua tiến trình hòa hợp các lưỡng nguyên nói trên, linh hồn là người suy tưởng hiểu rõ thực tính của chính mình là bản tính tinh thần, và bản chất của thế giới hiện tượng mà y nhận thức, tiếp xúc và sử dụng. Cơ quan nhận thức là thể trí và năm giác quan. Theo quan điểm của linh hồn, chúng họp thành một khí cụ duy nhất. Trong kỳ gian lâu dài và qua nhiều kiếp luân hồi, linh hồn hay là người suy tưởng tự đồng hóa với cơ quan nhận thức này. Trong những giai đoạn đầu, thậm chí y còn tự đồng hóa với những gì y nhận thức được khi sử dụng cơ quan đó. Y cho rằng thể xác, cái thể tạm mà y sử dụng, là chính mình. Vì thế, y thường nói: “Tôi mệt,” hoặc “Tôi đói.” Y cũng tự đồng hóa với thể xúc cảm hay dục vọng của mình và nói “Tôi bực bội,” hay “Tôi muốn có tiền bạc.” Rồi y còn tự đồng hóa với thể trí và cho rằng mình chính là sự suy nghĩ, v.v. Chính việc tự đồng hóa này gây nên hậu quả là những khác biệt về thần học, và các đa dạng về giáo lý và tính bè phái ở khắp nơi. Và chính trong căn chủng thứ năm này, và đặc biệt là trong phân chủng thứ năm hiện nay, sự tự đồng hóa này đạt đến cực điểm. Đó là thời đại của phàm ngã, chứ không phải của Chân ngã tinh thần. Sự nhận thức này của phàm tính là một phần trong diễn trình tiến hóa vĩ đại. Thế nhưng, tiếp theo phải là nhận thức về đối cực của nó, là Chân ngã tinh thần. Điều này được linh hồn thực hiện khi bắt đầu thực hành khả năng phân biện. Lúc đầu chỉ có tính cách lý thuyết và tri thức. Đó là giá trị lớn của thời đại hiện nay [168] với những chỉ trích, bút chiến và tranh luận, vì nó là một phần trong tiến trình phân biện của hành tinh. Về sau sẽ đi vào thực nghiệm. Sự phân biện vừa kể rốt cuộc đưa đến ba điều:
1. An understanding of the distinction between spirit and matter,
1. Thấu đáo sự khác biệt giữa tinh thần và vật chất,
2. A comprehension of the nature therefore of the soul which is the product of this union, and is the son, produced by the union of the father-spirit and of the mother-matter,
2. Nhờ đó mà hiểu bản tính của linh hồn vốn là sản phẩm của sự hợp nhất này. Linh hồn là đứa con sinh ra do sự phối hợp của cha-tinh thần và mẹ-vật chất,
3. A development whereby the soul begins to identify itself with the spiritual aspect and not with the phenomenal world of forms. This later stage is greatly aided and hastened through the practice of Raja Yoga and hence the determination of the Hierarchy to give this science to the critical discriminating West. It should be borne in mind that the soul passes through great stages in the unifying process and that the word yoga covers the evolutionary development of the human Monad.
3. Giai đoạn phát triển khi linh hồn bắt đầu tự đồng nhất với phương diện tinh thần, chứ không với thế giới hiện tượng gồm các hình thể. Giai đoạn này được trợ giúp rất nhiều và đẩy nhanh qua việc thực hành Raja Yoga. Vì thế mà Đại đoàn Chưởng giáo quyết định đưa khoa yoga này vào thế giới Tây phương là nơi có tính phân biệt và chỉ trích. Cần lưu ý rằng linh hồn trải qua những giai đoạn quan trọng trong tiến trình thống nhất, và từ yoga bao gồm cuộc phát triển tiến hóa của Chân thần trong con người.
1. The union of the soul with the form and its identification with the matter aspect,
1. Linh hồn hợp nhất với hình thể và tự đồng hóa với phương diện vật chất,
2. The union of thinking man or the self-conscious reflection in the three worlds with the spiritual man on its own plane,
2. Sự hợp nhất của người suy tưởng hay sự quán tưởng tự thức trong tam giới với con người tinh thần trên cảnh giới của mình,
3. The union of the spiritual man or divine thinker with its Father in Heaven, the Monad or spirit aspect. Stage I covers the period from the first incarnation up to the treading of the Probationary Path. Stage II covers the period of the Probationary Path up to the third initiation [169] upon the Path of Discipleship. Stage III covers the final stages of the Path of Initiation.
3. Sự hợp nhất của con người tinh thần hay là người suy tưởng thiêng liêng với Cha của mình ở trên Trời, tức là Chân thần hay phương diện tinh thần. Giai đoạn I bao gồm thời kỳ từ khi nhập thế lần đầu đến khi tiến bước trên Con Đường Dự bị. [169] Giai đoạn II bao gồm thời gian từ Con Đường Dự bị đến cuộc điểm đạo thứ ba trên Con Đường Đệ tử. Giai đoạn III bao gồm những chặng cuối trên Con Đường Điểm đạo.
24. The cause of this association is ignorance or avidya. This has to be overcome.
24. Nguyên nhân của sự kết hợp nói trên là vô minh hay thiếu minh triết. Tình trạng này cần được khắc phục.
Ignorance of the real nature of the soul and an urge to find out its own nature and its powers is the cause of the soul's identifying itself with the organs of perception, and with that which they perceive or bring within the consciousness of the soul. When through this ignorance and its consequences, the soul fails to find what it is seeking, there comes the stage when the search takes on a different form and the soul itself searches for reality. It might be expressed thus.
Vì không hiểu thực tính của mình, vì khao khát muốn biết chân tính và các quyền năng của mình, linh hồn bèn tự đồng hóa với các cơ quan nhận thức, cũng như với những gì mà các cơ quan ấy nhận thức được hay là đưa vào tâm thức của linh hồn. Thế nhưng, qua sự vô minh và các hậu quả của nó, linh hồn không tìm thấy điều mình muốn tìm. Bấy giờ cố gắng tìm kiếm diễn tiến theo lối khác, và linh hồn tự tìm kiếm sự thực. Có thể mô tả cố gắng này như sau:
Identification with the phenomenal world and the use of the outgoing organs of perception covers the period which the real man spends in what is called the Hall of Ignorance. Satiety, restlessness and a search for the knowledge of the self or soul characterises the period spent in the Hall of Learning. Realization, expansion of consciousness and identification with the spiritual man cover the period spent in the Hall of Wisdom. The terms human life, mystic life and occult life apply to these three stages.
Đồng hóa với thế giới hiện tượng và sử dụng các cơ quan nhận thức hướng ngoại là tình trạng của chân nhân đang ở trong giai đoạn gọi là Phòng Vô minh. Nhàm chán, băn khoăn tìm hiểu về chân ngã hay linh hồn là giai đoạn ở trong Phòng Học tập. Nhận thức, mở mang tâm thức, và đồng nhất với con người tinh thần là giai đoạn ở trong Phòng minh triết. Ba giai đoạn nói trên được gọi là cuộc sống nhân loại, cuộc sống thần bí, và cuộc sống huyền môn.
25. When ignorance is brought to an end through non-association with the things perceived, this is the great liberation.
25. Khi hành giả xóa tan vô minh vì không còn gắn bó với những điều mà y nhận thức, thì đó là đại giải thoát.
During the process of incarnation, the seer, the soul, is submerged in the great maya or illusion. He is imprisoned by his own thought forms and [170] thought creations and in those of the three worlds also. He regards himself as part of the phenomenal world. When, through experience and discrimination, he can distinguish between himself and those forms, then the process of liberation can proceed and eventually culminate in the great renunciation which once and for all sets a man free from the three worlds.
Trong tiến trình nhập thế, người tri kiến, tức là linh hồn, đắm chìm trong bức màn ảo ảnh hay ảo tưởng rộng lớn. [170] Y bị giam hãm bởi những hình tư tưởng của chính mình, các tạo tác của tư tưởng, cũng như những loại tư tưởng khác trong tam giới. Y cho rằng mình là một thành phần của thế giới hiện tượng. Về sau, qua kinh nghiệm và phân biện, y có thể thấy sự khác biệt giữa chính mình và những hình thể đó. Bấy giờ y có thể khởi đầu tiến trình giải thoát. Rốt cuộc tiến trình này đưa đến sự từ bỏ trọn vẹn, và hành giả hoàn toàn tự do thoát khỏi tam giới.
This process is a progressive one and cannot be effected all at once. It covers two stages:
Tiến trình này có tính cách tiếp diễn, không thể thực hiện tất cả chỉ một lần, mà gồm hai giai đoạn:
1. The stage of probation, or, as the Christian expresses it, the Path of Purification,
1) Giai đoạn dự bị, hay là Con Đường Tinh luyện, theo lối nói của người Thiên Chúa giáo,
2. The stage of discipleship in two parts:
2) Con Đường Đệ tử gồm hai phần:
a. Discipleship itself or the steadfast training and discipline administered to the personal lower self by the soul, directed by his guru or master,
a. Con Đường Đệ tử chính thức hay là cuộc huấn luyện nghiêm nhặt và giới luật của linh hồn áp dụng cho phàm ngã, có sự chỉ dẫn của vị tôn sư hay chân sư,
b. Initiation, or the progressive expansions of consciousness through which the disciple passes under the guidance of the master.
b. Điểm đạo, hay là những đợt mở mang tâm thức ngày càng rộng lớn mà người đệ tử trải qua với sự hướng dẫn của chân sư.
Certain words describe this dual process:
Tiến trình kép này được mô tả bằng những từ sau đây:
a. Aspiration,
a. Lập nguyện,
b. Discipline,
b. Giới luật,
c. Purification,
c. Tinh luyện,
d. The practice of the means of yoga or union,
d. Thực hành các phương tiện của yoga hay hợp nhất,
e. Initiation,
e. Điểm đạo,
f. Realisation,
f. Nhận thức,
g. Union.
g. Hợp nhất.
26. The state of bondage is overcome through perfectly maintained discrimination.
26. Hành giả thoát khỏi tình trạng bị giam cầm, ràng buộc nhờ phân biện một cách thường xuyên và sáng suốt.
A word here on discrimination will be of value as it is the first great method of attaining liberation [171] or freedom from the three worlds. Based as it is on a realisation of the essential duality of nature, and regarding nature as a result of the union of the two polarities of the Absolute All, spirit and matter, discrimination is at first an attitude of mind and must be sedulously cultivated. The premise of the duality is admitted as a logical basis for further work and the theory is tested out in an effort to prove the truth. The aspirant then definitely assumes the attitude of higher polarity (that of spirit, manifesting as the soul or inner ruler) and seeks in the affairs of every day to discriminate between the form and the life, between the soul and the body, between the sum total of the lower manifestation (physical, astral and mental man) and the real self, the cause of the lower manifestation.
Đề cập đến khả năng phân biện ở đây thật hữu ích, vì đó là bước đầu tiên và quan trọng nhất để được tự do hay giải thoát khỏi tam giới. [171] Trước hết, phân biện là một thái độ của trí tuệ và cần được vun bồi thận trọng. Phân biện vốn dựa vào sự nhận thức về tính nhị nguyên cốt yếu của thiên nhiên. Phân biện cho thấy rằng thiên nhiên là sự phối hợp của hai đối cực của Cái Toàn thể Tuyệt đối, tức là tinh thần và vật chất. Tiền đề về tính nhị nguyên được thừa nhận là cơ sở hợp lý để nghiên cứu sâu xa hơn. Lý thuyết này được trắc nghiệm trong cố gắng chứng minh sự thật. Bấy giờ, người chí nguyện bèn dứt khoát giữ thái độ của đối cực cao siêu (thái độ của tinh thần, biểu hiện với tính cách là linh hồn hay đấng ngự trị ở nội tâm). Trong các công việc thường ngày, y tìm cách phân biệt giữa hình thể và sự sống, giữa linh hồn và cơ thể. Y cũng phân biệt giữa toàn bộ các biểu hiện phàm tính (là phàm nhân với thể xác, thể tình cảm và thể trí) và chân ngã, vốn là nguyên nhân khiến cho phàm tính biểu hiện.
He seeks in the affairs of every day to cultivate a consciousness of the real and a negation of the unreal and this he carries into all his relationships and into all his affairs. He accustoms himself, through persistent unbroken practise, to distinguish between the self and the not-self, and to occupy himself with the affairs of spirit and not with those of the great maya or world of forms. This distinction is at first theoretical, then intellectual but later assumes more reality and enters into the happenings of the emotional and physical world. Finally the following of this method eventuates in the entrance of the aspirant into an entirely new dimension and his identification with a life and a world of being dissociated from the three worlds of human endeavour. [172]
Trong đời sống hằng ngày, y cố gắng phát triển ý thức về sự thật và phủ nhận những gì giả trá. Y để cho ý thức này thấm nhuần tất cả các mối quan hệ và mọi công việc của mình. Nhờ thực hành kiên trì và liên tục, y quen phân biệt giữa chân ngã và cái phi-ngã. Y chú tâm vào những vấn đề tinh thần mà không vướng bận với những gì của thế giới ảo hóa rộng lớn gồm các hình hài, sắc tướng. Sự phân biệt này lúc đầu chỉ là lý thuyết, rồi trở thành sự phân biện của trí năng. Thế nhưng, về sau nó trở nên ngày càng đúng thực và hòa nhập vào các diễn biến ở cấp tình cảm và hồng trần. Cuối cùng, việc theo đúng phương pháp này giúp hành giả đi vào một lĩnh vực hoàn toàn mới. Nay y đồng nhất với sự sống trong một thế giới vượt cao hơn ba cõi sinh hoạt của con người. [172]
When this is so the new environment becomes familiar to him so that he knows not only the form but the subjective Reality which produces or causes the existence of the forms.
Ở trình độ này, y quen thuộc với môi trường sống mới đến mức không những y biết đến hình thể mà còn thấu hiểu được Thực tại ở nội tâm, vốn là nguyên nhân khiến cho các hình thể này hiện hữu.
Then he passes on to the cultivation of the next great quality which is dispassion or desirelessness. A man may be able to distinguish between the real and the true, between the substance and the Life which animates it and yet desire or "go out" towards the form existence. This too must be overcome before perfect liberation, emancipation or freedom is attained. In one of the old commentaries in the archives of the Lodge of Masters, the following words are found:
Sau đó, y tiếp tục phát triển phẩm tính quan trọng kế tiếp là hạnh vô dục hay là không ham muốn. một người khả dĩ có thể phân biệt được điều thật và lẽ giả, giữa vật chất và Sự Sống làm linh hoạt nó, vậy mà vẫn còn muốn “đi ra ngoài” hướng về cuộc sống hình thể. Vì thế, cũng phải khắc phục ý muốn này trước khi y có thể được hoàn toàn giải thoát, khai phóng hay tự do. một thiên cổ luận trong văn khố của Đại đoàn các Chân sư, có ghi những dòng sau đây:
"It suffices not to know the way nor to feel the force which serveth to extract the life from out of the forms of maya. A moment of great portent must take place wherein the chela breaketh by one act and through a word of Power the illusory sutratma which bindeth him to form. Like the spider which gathereth up the thread again within himself whereby he ventured forth into unknown realms, so the chela withdraweth himself from all the forms in the three realms of being which have hitherto enticed."
“Chỉ biết phương cách hay cảm thấy mãnh lực giúp sự sống thoát ra khỏi các hình thể ảo hóa, thì vẫn chưa đủ. Phải có phút giây trọng đại khi người đệ tử dùng Quyền lực từ để dứt khoát đoạn lìa sợi sutratma ảo tưởng đã buộc chặt y vào hình thể. Giống như con nhện thu hồi sợi tơ mà nó đã dùng để phiêu lưu vào những vùng xa lạ, người đệ tử cũng tách mình ra khỏi tất cả các hình thức sống trong tam giới, mà từ trước đến giờ đã quyến rũ y.”
The above merits close consideration and can be linked to the thought embodied in the occult phrase: "Before a man can tread the Path, he must become that Path himself."
Đoạn văn trên đây đáng cho chúng ta xem xét kỹ và có thể được liên kết với ý tưởng bao hàm trong câu phát biểu huyền môn: “Trước khi hành giả có thể dấn bước trên Đường Đạo, y phải tự trở thành con Đường Đạo.”
27. The knowledge (or illumination) achieved is sevenfold, and is attained progressively.
27. Sự hiểu biết (hay giác ngộ) đạt được gồm bảy phần, và tăng tiến dần.
The Hindu teaching holds that the states of mind-consciousness are seven in number. The [173] sixth sense and its use bring about seven modes of thought, or—to put it more technically—there are seven major modifications of the thinking principle. These are:
Kinh sách Ấn giáo cho biết rằng ý thức của thể trí gồm bảy trạng thái. [173] Khi được sử dụng, giác quan thứ sáu này có bảy phương thức suy tưởng. Hoặc nói theo thuật ngữ thì nguyên khí tư duy có bảy biến thái chính sau đây:
1. Desire for knowledge. It is this which drives forth the Prodigal Son, the soul into the three worlds of illusion, or (to carry the metaphor further back still) it is this which sends forth the Monad or Spirit into incarnation. This basic desire is what causes all experience.
1. Ý muốn hiểu biết. Chính ý muốn này thôi thúc người Cùng tử, tức là linh hồn, đi vào ba cõi giới của ảo tưởng. Khi đưa ẩn dụ này về nguồn xa xưa hơn nữa, có thể nói chính ý muốn này khiến Chân thần hay Tinh thần lâm phàm. Chính ý muốn căn bản này mang lại toàn bộ các kinh nghiệm.
2. Desire for freedom. The result of experience and of the investigations which the soul carries on in its manifold life-cycles is to cause a great longing for a different condition and a great desire for liberation and for freedom from the wheel of rebirth.
2. Ý muốn tự do. Vì thế, linh hồn tiến hành những trải nghiệm và khảo sát qua các chu kỳ sống biểu hiện của mình. Kết quả của cố gắng này là sự khao khát mạnh mẽ muốn có một điều kiện khác, và thiết tha muốn được tự do và giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử.
3. Desire for happiness. This is a basic quality of all human beings, though it shows itself in many different ways. It is based upon an inherent faculty of discrimination and upon a deep seated capacity to contrast the "Father's" home and the Prodigal's present condition. It is this inherent capacity for "bliss" or happiness which produces that restlessness and urge to change which lies back of the evolutionary urge itself. It is the cause of activity and progress. Dissatisfaction with the present condition is based upon a dim memory of a time of satisfaction and of bliss. This has to be regained before peace can be known.
3. Ý muốn hạnh phúc. Đây là một đặc tính căn bản của toàn nhân loại, dù nó biểu lộ theo nhiều lối khác nhau. Nó vốn dựa vào khả năng phân biện sẵn có. Nó cũng dựa vào năng lực sâu xa có thể so sánh nhà của “Đấng Cha lành” với tình trạng hiện tại của người Cùng tử. Chính năng lực cố hữu muốn tìm kiếm “chân phúc” hay hạnh phúc này khiến người ta cảm thấy băn khoăn và muốn thay đổi. Đó cũng chính là sức thôi thúc tiềm ẩn của cuộc tiến hóa. Đó là nguyên nhân của sự hoạt động và tiến bộ. Người ta bất mãn với tình trạng hiện tại do ký ức mơ hồ về một thời hài mãn và phúc lạc. Họ phải tìm lại được điều đó mới cảm thấy bình an.
4. Desire to do one's duty. The first three modifications of the thinking principle eventually bring evolving humanity to the state where the [174] motive for life comes to be simply the fulfillment of one's dharma. The longing for knowledge, for freedom, and for happiness has brought the man to a state of utter dissatisfaction. Nothing brings him any true joy or peace. He has exhausted himself in the search for joy for himself. Now he begins to widen his horizon and to search where (in the group and in his environment), what he seeks may lie. He awakens to a sense of responsibility to others and begins to seek for happiness in the fulfillment of his obligations to his dependents, his family, friends and all whom he contacts. This new tendency is the beginning of the life of service which leads eventually to a full realization of the significance of group consciousness. H.P.B. has said that a sense of responsibility is the first indication of the awakening of the ego or the Christ principle.
4. Ý muốn làm tròn bổn phận. Ba biến thái đầu tiên của nguyên khí tư duy rốt cuộc đưa nhân loại đang tiến hóa đến trình độ mà động cơ cuộc sống của họ chỉ còn là nhằm hoàn thành thiên chức của mình [174]. Sự khao khát được hiểu biết, được tự do và hạnh phúc đã đưa con người đến tình trạng hoàn toàn bất mãn. Không điều gì khiến y cảm thấy hân hoan hoặc bình an thực sự. Y đã làm đủ mọi cách để tìm kiếm niềm vui cho mình. Nhưng nay y bắt đầu mở rộng tầm nhìn và tìm nơi nào (trong cuộc sống tập thể và trong môi trường chung quanh) khả dĩ có điều mà y tìm kiếm. Trong y bừng lên ý thức trách nhiệm đối với người khác. Y bắt đầu tìm hạnh phúc trong việc hoàn thành nghĩa vụ của mình đối với những người phụ thuộc, gia đình, bè bạn và tất cả những người mà y gặp gỡ. Khuynh hướng mới này là khởi đầu của cuộc sống phụng sự. Rốt cuộc nó giúp y nhận biết trọn vẹn ý nghĩa của tâm thức tập thể. H.P.B. nói rằng ý thức trách nhiệm là dấu hiệu đầu tiên cho thấy sự bừng tỉnh của chân nhân hay nguyên khí Christ.
5. Sorrow. The greater the refinement of the human vehicle, the greater the response of the nervous system to the pairs of opposites, pain and pleasure. As a man progresses and rises on the ladder of evolution in the human family it becomes apparent that his capacity to appreciate sorrow or joy is greatly increased. This becomes terribly true in the case of an aspirant and of a disciple. His sense of values becomes so acute and his physical vehicle so sensitized that he suffers more than the average man. This serves to drive him forward with increasing activity in his search. His response to outer contacts is ever more rapid and his capacity for pain, physical and emotional, becomes greatly increased. [175] This is apparent in the fifth race and particularly in the fifth subrace in the increasing frequency of suicide. The capacity of the race to suffer is due to the development and refinement of the physical vehicle and to the evolution of the body of feeling, the astral.
5. Đau khổ. Người có các thể càng thanh khiết thì hệ thần kinh của họ càng nhạy cảm với những cặp đối cực, vui sướng và đau khổ. Khi một người càng thăng tiến trên thang tiến hóa trong gia đình nhân loại, thì y ngày càng có khả năng cảm nhận mạnh mẽ niềm vui hay nỗi khổ một cách rõ rệt. Điều này hết sức đúng trong trường hợp của người chí nguyện và người đệ tử. Ý thức về giá trị của y trở nên rất sắc bén và thể xác của y trở nên nhạy cảm đến đỗi y đau khổ nhiều hơn người thường. Sự nhạy cảm này giúp y tiến tới và hoạt động nhiều hơn trong cuộc tìm kiếm của mình. Y đáp ứng với các giao tiếp bên ngoài ngày càng mau lẹ, và ngày càng rất dễ bị đau đớn về thể chất và tình cảm [175]. Điều này thấy rõ trong giống dân thứ năm, và đặc biệt là trong phân chủng thứ năm với tần suất tự sát ngày càng tăng. Sở dĩ giống dân này dễ bị đau khổ là do thể xác của họ trở nên ngày càng thanh bai, tế nhị, và thể tình cảm hay xúc cảm của họ phát triển, tiến hóa nhiều hơn.
6. Fear. As the mental body develops and the modifications of the thinking principle become more rapid, fear and that which it produces begin to demonstrate. This is not the instinctual fear of animals and of the savage races, which is based upon the response of the physical body to physical plane conditions, but the fears of the mind, based upon memory, imagination and anticipation, and the power to visualize. These are difficult to overcome and can only be dominated by the ego or soul itself.
6. Sợ hãi. Khi thể trí phát triển và nguyên khí tư duy biến thái mau lẹ hơn, nỗi sợ hãi do nó sản sinh sẽ lộ rõ. Đây không phải là sự sợ hãi trong bản năng của loài vật và của các giống dân dã man. Vì nỗi sợ đó là do thân xác ứng đáp với những điều kiện của cõi trần. Trong trường hợp này, nỗi sợ hãi của thể trí vốn do ký ức, do sự tưởng tượng, dự kiến, và năng lực hình dung. Đây là tình trạng khó khắc phục, và chỉ có thể được chính chân nhân hay linh hồn chế ngự.
7. Doubt. This is one of the most interesting of the modifications for it concerns causes more than effects. The man who doubts can be described perhaps as doubting himself as an arbiter of his fate, his fellowmen as to their nature and reactions, God, or the first cause as witnessed by the controversies built up around religion and its exponents, nature itself, which doubt urges him on to constant scientific investigation and finally, the mind itself. When he begins to question the capacity of the mind to explain, interpret and comprehend, he has practically exhausted the sum total of his resources in the three worlds.
7. Nghi ngờ. Đây là một trong những biến thái kỳ lạ nhất, vì nó liên quan đến nguyên nhân hơn là hậu quả. Có thể nói người nghi ngờ không hề nghĩ rằng chính y là người quyết định vận mệnh của mình. Y ngờ vực lòng chân thành và phản ứng của người khác. Y nghi ngờ Thượng Đế, hay là nguyên nhân khởi thủy. Tình trạng này nhan nhãn trong các cuộc tranh cãi xoay quanh vấn đề tôn giáo và những người đại diện cho tôn giáo. Y cũng nghi vấn về chính thiên nhiên, khiến y miệt mài khảo cứu khoa học. Cuối cùng, y nghi ngờ đến chính cái trí. Khi y bắt đầu nghi vấn về khả năng diễn giải, lý giải và thấu hiểu của thể trí, thì bấy giờ y đã thực sự vắt cạn toàn bộ các nguồn lực của mình trong tam giới.
The tendency of these seven states of mind, produced through the experience of the man upon the Wheel of Life is to bring him to the point [176] where he feels that physical plane living, sentiency and mental processes have nothing to give and utterly fail to satisfy him. He reaches the stage which Paul refers to when he says "I count all things but loss that I may win Christ."
Bảy biến thái nói trên của cái trí sản sinh qua kinh nghiệm của con người trên Bánh xe Luân hồi. Chúng có [176] khuynh hướng đưa y đến mức cảm thấy rằng cuộc sống ở cõi trần, các quá trình xúc cảm và sinh hoạt trí não chẳng có mấy ý nghĩa, và hoàn toàn không làm cho y hài mãn. Y đến giai đoạn được Thánh Paul đề cập qua câu nói “Tôi thà mất tất cả để được Đấng Christ.”
The seven stages of illumination have been described by a Hindu teacher as follows:
Một huấn sư Ấn giáo đã mô tả bảy giai đoạn giác ngộ như sau:
1. The stage wherein the chela realizes that he has run the whole gamut of life experience in the three worlds and can say "I have known all that was to be known. Nothing further remains to know." His place on the ladder is revealed to him. He knows what he has to do. This relates to the first modification of the thinking principle, desire for knowledge.
1. Giai đoạn mà người đệ tử nhận thấy rằng y đã trải qua mọi loại kinh nghiệm sống trong tam giới. Nay y có thể nói “Tôi đã biết tất cả những gì cần biết, và không còn phải tìm hiểu gì thêm.” Y tự thấy được vị trí của mình trên thang tiến hóa. Y biết những điều gì mình cần phải làm. Giai đoạn này liên quan đến biến thái thứ nhất của nguyên khí tư duy, tức là ý muốn hiểu biết.
2. The stage wherein he frees himself from every known limitation, and can say "I have freed myself from my fetters." This stage is long but results in the attainment of freedom and relates to the second of the modifications dealt with above.
2. Giai đoạn y tự thoát ra khỏi mọi sự hạn chế mà y đã biết. Y có thể nói “Tôi đã tự tháo gỡ những xiềng xích của mình.” Giai đoạn này mất nhiều thời gian, nhưng rốt cuộc y cũng được tự do. Nó liên quan đến biến thái thư hai đã bàn ở trên.
3. The stage wherein the consciousness shifts completely out of the lower personality and becomes the true spiritual consciousness, centered in the real man, the ego or soul. This brings in the consciousness of the Christ nature which is love, peace and truth. He can say now "I have reached my goal. Nothing remains to attract me in the three worlds." Desire for happiness is satisfied. The third modification is transcended.
3. Giai đoạn tâm thức hoàn toàn thoát ra khỏi phàm tính, và trở thành tâm thức tinh thần đích thực, tập trung vào chân nhân, chân ngã hay linh hồn. Đây là tâm thức với chân tính Christ bao gồm bác ái, bình an và chân lý. Y có thể nói “Tôi đã đến đích. Trong tam giới không còn điều gì hấp dẫn tôi cả.” Ý muốn hạnh phúc đã thỏa mãn. Y vượt cao hơn biến thái thứ ba.
4. The stage wherein he can say with truth "I have fulfilled my dharma, and accomplished my whole duty." He has worked off karma, and [177] fulfilled the law. Thus he becomes a Master and a wielder of the law. This stage has relation to the fourth modification.
4. Giai đoạn y có thể thực sự nói “Tôi đã hoàn thành thiên chức của mình, và làm tròn nhiệm vụ.” Y đã trả sạch nghiệp quả, và theo đúng định luật. [177] Vì thế, y trở thành vị Chủ nhân và có thể vận dụng định luật. Giai đoạn này liên quan đến biến thái thứ tư.
5. The stage wherein complete control of the mind is achieved and the peer can say "My mind is at rest." Then and only then, when complete rest is known can the true contemplation and samadhi of the highest kind be known. Sorrow, the fifth modification, is dispelled by the glory of the illumination received. The pairs of opposites are no longer at war.
5. Giai đoạn hành giả hoàn toàn kiểm soát được thể trí. Y có thể nói “Thể trí của tôi yên lặng.” Bấy giờ và chỉ bấy giờ, khi thể trí hoàn toàn yên lặng, y mới có thể biết trạng thái chiêm ngưỡng và samadhi thực sự ở trình độ cao nhất. Đau khổ, là biến thái thứ năm, bị giải tán bởi sự vinh quang của giác ngộ. Các cặp đối cực không còn xung đột.
6. The stage wherein the chela realises that matter or form have no longer any power over him. He can then say "The gunas or qualities of matter in the three worlds no longer attract me; they call forth no response from me." Fear therefore is eliminated for there is nothing in the disciple which can attract to him evil, death or pain. Thus equally the sixth modification is overcome and realisation of the true nature of divinity and utter bliss takes its place.
6. Giai đoạn người đệ tử thấy mình không còn bị chi phối bởi vật chất hay hình thể. Bấy giờ y có thể nói “Các guna hay đặc tính của vật chất trong tam giới không còn hấp dẫn tôi. Chúng không gợi được sự ứng đáp nào nơi tôi cả.” Thế nên, nỗi sợ hãi tan biến vì không điều gì nơi người đệ tử có thể hấp dẫn sự ác, sự chết hay đau khổ đến với y. Thế là biến thái thứ sáu cũng được khắc phục. Y nhận thức được thiên tính thực sự và ở trong niềm chí phúc trọn vẹn.
7. Full self-realisation is the next and final stage. The initiate can now say, with full conscious knowledge, "I am that I am" and he knows himself as one with the All-Self. Doubt no longer controls. The full light of day or completed illumination takes place and floods the whole being of the seer.
7. Tự thức viên mãn là giai đoạn kế tiếp và cuối cùng. Giờ đây, người điểm đạo đồ có thể nói với sự hiểu biết đầy đủ và hữu thức “Tôi là Chân thần.” Y biết mình là một với Toàn Ngã. Sự nghi ngờ đã tiêu tan. Toàn cuộc sống của người tri kiến thấm nhuần ánh sáng giác ngộ thành tựu viên mãn.
These are the seven stages upon the Path, the seven stations of the cross as the Christian puts it, the seven great initiations and the seven ways to bliss. Now the "Path of the just shineth ever more and more until the perfect day." [178]
Trên đây là bảy giai đoạn trên Đường Đạo, hay là bảy chặng trên con đường thánh giá, theo lối nói của người Thiên Chúa giáo. Đó là bảy cuộc điểm đạo lớn và là bảy lối tiến đến chân phúc. Nay “Con Đường của người công chính cứ mãi chói rạng cho đến ngày hoàn mãn.” [178]
THE EIGHT MEANS
TÁM PHƯƠNG TIỆN
28. When the means to Yoga have been steadily practised and when impurity has been overcome, enlightenment takes place leading up to full illumination.
28. Khi hành giả chuyên cần thực tập các phương tiện của Yoga, và đã xóa sạch những gì bất tịnh, y được khai ngộ và tiến đến trình độ hoàn toàn giác ngộ.
We now come to the practical part of the book, wherein instruction is given as to the method to pursue if full yoga, union, or at-one-ment is to be achieved. The work might be described as twofold:
Giờ đây chúng ta đến phần thực hành của sách này. Hành giả được trao phương pháp để áp dụng, nếu y muốn thực hành khoa yoga, sự hợp nhất hay thống nhất đến mức thành tựu viên mãn. Có thể chia cố gắng này làm hai phần:
1. The practice of the right means whereby union is brought about,
1. Thực hành các phương tiện đúng đắn để mang lại sự hợp nhất,
2. The discipline of the lower threefold man so that impurity in any of the three bodies is eradicated.
2. Nghiêm trì giới luật đối với phàm nhân và ba hạ thể, sao cho sự bất tịnh trong mỗi thể đều được xóa sạch.
This steadfast application to the twofold work produces two corresponding results, each dependent upon its cause:
Sự chuyên cần áp dụng hai phương diện cố gắng nói trên mang lại hai kết quả tương ứng. mỗi kết quả phụ thuộc vào nguyên nhân của nó:
1. Discrimination becomes possible. The practice of the means, leads the aspirant to a scientific understanding of the distinction existing between the self and the not-self, between spirit and matter. This knowledge is no longer theoretical and that to which the man aspires, but is a fact in the experience of the disciple and one upon which he bases all his subsequent activities.
1. Hành giả có khả năng phân biện. Việc thực hành các phương tiện khiến hành giả có thể thấu hiểu một cách khoa học sự khác biệt giữa chân ngã và phi-ngã, giữa tinh thần và vật chất. Sự hiểu biết này không còn là lý thuyết và là điều mà y ước vọng. Đó là sự kiện thực tế trong kinh nghiệm của người đệ tử, mà dựa vào đó y tiến hành các hoạt động về sau.
2. Discernment takes place. As the purificatory process is carried on, the sheaths or bodies which veil the reality become attenuated and no longer act as thick veils, hiding the soul, and the world wherein the soul normally moves. The aspirant becomes aware of a part of himself, [179] hitherto hidden and unknown. He approaches the heart of the mystery of himself and draws closer to the "Angel of the Presence" which can only be truly seen at initiation. He discerns a new factor and a new world and seeks to make them his own in conscious experience upon the physical plane.
2. Hành giả có khả năng trực thức. Khi việc tinh luyện được tiến hành liên tục, các lớp áo hay các thể vốn che án thực tại nay trở nên trong trẻo dần. Chúng không còn là những lớp màn dày đặc, che giấu linh hồn, và thế giới mà trong đó linh hồn thường xuyên hoạt động. Người chí nguyện ngày càng ý thức được phần ẩn giấu nơi chính mình mà từ trước đến nay y chưa hề biết. [179] Y tiến đến gần trung tâm bí nhiệm nơi chính mình, và tiếp cận với “Đại diện của Chân như.” Điều này chỉ có thể thực sự xảy ra vào lúc điểm đạo. Y trực nhận được một yếu tố mới và một thế giới mới. Rồi bèn tìm cách hoạch đắc chúng trong kinh nghiệm hữu thức của mình ở cõi trần.
It should be noted here that the two causes of revelation, the practice of the eight means to yoga and the purification of the life in the three worlds, deal with the man from the standpoint of the three worlds and bring about (in the man's physical brain) the power to discriminate between the real and the unreal and to discern the things of the spirit. They cause also certain changes of conditions within the head, reorganize the vital airs and act directly upon the pineal gland and the pituitary body. When these four:
Ở đây cần lưu ý rằng hai nguyên nhân của sự khải thị, việc thực hành tám phương tiện của yoga và sự tinh luyện cuộc sống trong tam giới, vốn liên quan đến phàm nhân đang ở trong đó. Chúng mang lại (trong não bộ của hành giả) năng lực phân biện giữa điều chân, lẽ giả, và trực nhận được những gì về tinh thần. Chúng cũng tạo một số thay đổi điều kiện trong luân xa đầu. Chúng tái tổ chức các luồng sinh khí, và tác động trực tiếp đến tuyến tùng và tuyến yên. Khi bốn điều dưới đây:
1. Practise,
1. Thực hành,
2. Purification,
2. Tinh luyện,
3. Discrimination,
3. Phân biện,
4. Discernment,
4. Trực thức,
are part of the life of the physical plane man, then the spiritual man, the ego or thinker on his own plane attends to his part of the liberating process and the final two stages are brought about from above downwards. This sixfold process is the correspondence upon the Path of Discipleship, of the individualizing process, wherein animal man, the lower quaternary (physical, etheric, astral and lower mental) received that twofold expression of spirit, atma-buddhi, spiritual will and spiritual love, which completed him and made him [180] truly man. The two stages of development which are brought about by the ego within the purified and earnest aspirant, are:
xảy ra trong cuộc sống của phàm nhân ở cõi trần, thì con người tinh thần, tức là chân nhân hay người suy tưởng ở trên cảnh giới của mình cũng tham gia vào tiến trình giải thoát. Bấy giờ, hai giai đoạn cuối được thực hiện từ trên xuống. Tiến trình gồm sáu giai đoạn này là sự tương ứng trên Con Đường Đệ tử của quá trình biệt lập ngã tính. Thuở ấy, con người thú gồm có bốn hạ thể (thể xác, thể dĩ thái, thể cảm dục và hạ trí) nhận hai sự biểu lộ của tinh thần, tức là atma- buddhi, hay ý chí tinh thần và bác ái tinh thần. Cả hai giúp y đủ điều kiện để thành người thực sự. [180] Nay, hai giai đoạn phát triển mà chân nhân mang lại bên trong người chí nguyện thuần thành đã tinh luyện, là:
1. Enlightenment. The light in the head, which is at first but a spark, is fanned to a flame which illumines all things and is fed constantly from above. This is progressive (see previous sutra), and is dependent upon steadfast practise, meditation and earnest service.
1. Khai ngộ. Ánh sáng bên trong đầu, khởi thủy chỉ là một tia sáng, thì nay được thổi bừng lên thành ngọn lửa. Nó soi sáng mọi sự và được liên tục nuôi dưỡng từ bên trên. Điều này tăng tiến liên tục (xem câu trước), và tùy theo mức thực hành, tham thiền chuyên cần, và phụng sự nhiệt thành đến đâu.
2. Illumination The gradually increasing downpour of fiery energy increases steadily the "light in the head," or the effulgence found in the brain in the neighborhood of the pineal gland. This is to the little system of the threefold man in physical manifestation what the physical sun is to the solar system. This light becomes eventually a blaze of glory and the man becomes a "son of light" or a "sun of righteousness." Such were the Buddha, the Christ, and all the great Ones who have attained.
2. Giác ngộ. Năng lượng bừng cháy ngày càng tuôn đổ nhiều hơn, liên tục tăng cường “ánh sáng bên trong đầu”. Đó là sự chói rạng trong não bộ, ở gần tuyến tùng. Đối với phàm nhân tam phân trong cuộc biểu hiện ở cõi trần, ánh sáng này có vai trò giống như ngôi mặt trời vật chất đối với thái dương hệ. Rốt cuộc ánh sáng này bừng chiếu huy hoàng và hành giả trở thành một “người con của ánh sáng” hay là một “ngôi mặt trời công chính.” Đó là điều mà Đức Phật, Đức Christ và các Đấng Cao cả đã thành đạt.
29. The eight means of yoga are: the Commandments or Yama, the Rules or Nijama, posture or Asana, right control of life-force or Pranayama, abstraction or Pratyahara, attention or Dharana, meditation or Dhyana, and contemplation or Samadhi.
29. Tám phương tiện của yoga là: các Điều răn hay Yama, các Qui luật hay Nijama, tư thế hay asana, kiểm soát sinh lực đúng cách hay Pranayama, trừu tượng hóa hay Pratyahara, chú tâm hay Dharana, tham thiền hay Dhyana, và chiêm ngưỡng hay Samadhi.
It will be noted that these means or practices are apparently simple, but it must be carefully remembered that they do not refer to anything accomplished on one or other plane in some one body, but to the simultaneous activity and practice of these methods in all three bodies at once, [181] so that the entire threefold lower man practices the means as they refer to the physical, the astral, and the mental vehicles. This is often forgotten. Therefore, in the study of these various means to yoga or union, we must consider them as they apply to the physical man, then to the emotional man and then to the mental man. The yogi, for instance, has to understand the significance of right breathing or of posture as they relate to the triple aligned and coordinated lower man, remembering that it is only as the lower man forms a coherent rhythmic instrument that it becomes possible for the ego to enlighten and illuminate him. The practise of breathing exercises, for instance, has led the aspirant frequently to concentrate upon the physical apparatus of breath to the exclusion of the analogous practice of rhythmic control of the emotional life.
Cần lưu ý rằng các phương tiện hay những cách thực hành nói trên đều có vẻ đơn giản. Thế nhưng điều nên nhớ là chúng không chỉ về bất cứ điều gì được hoàn tất trên một cảnh giới trong một thể nào đó, mà chỉ về sự hoạt động đồng thời và thực hành các phương pháp này trong cả ba thể cùng một lúc. Vì thế, trọn cả phàm nhân tam phân đều thực hành các phương tiện vì chúng áp dụng cả cho thể xác, thể cảm dục và thể trí. [181] Đây là điều người ta thường hay quên. Thế nên, khi nghiên cứu các phương tiện khác nhau nói trên để thành tựu khoa yoga hay sự hợp nhất, chúng ta phải xem như chúng áp dụng cho hành giả ở cõi trần, ở cấp tình cảm, và ở cấp trí tuệ. Ví dụ như, nhà yogi phải hiểu ý nghĩa của việc thở đúng hoặc tư thế đúng với tính cách chúng liên quan đến cả phàm nhân gồm ba thể đã phối hợp và chỉnh hợp. Y phải nhớ rằng chỉ khi nào phàm nhân trở thành một khí cụ có tiết điệu phối kết chặt chẽ thì bấy giờ chân nhân mới có thể soi sáng và giúp phàm nhân khai ngộ. Ví dụ như khi thực hành những bài tập hơi thở, hành giả thường tập trung vào cơ quan hô hấp của thân xác, mà không hề thực hành theo cách tương tự để kiểm soát tiết điệu sinh hoạt tình cảm.
It may be of use here if (before we take up the consideration of the means, one by one) we tabulated them carefully, giving their synonyms where possible:
Trước khi lần lượt xem xét từng phương tiện, thiết tưởng nên liệt kê chi tiết về các phương tiện, và đưa ra những từ đồng nghĩa, khi có thể:
Means I.
Phương tiện I.
The Commandments. Yama. Self-control or forbearance. Restraint. Abstention from wrong acts. These are five in number and relate to the relation of the disciple (or chela) to others and to the outside world.
Các Giới răn. Yama. Sự tự chủ hay tự kiềm chế. Tự chế ngự. Chư ác mạc tác, đừng làm những điều dữ. Có năm giới răn, liên quan đến mối quan hệ của người đệ tử (hay là môn sinh) với tha nhân và ngoại giới.
Means II
Phương tiện II.
The Rules. Nijama. Right observances. These are likewise five in number and are frequently [182] called the "religious observances" because they relate to the interior life of the disciple and to that tie, the sutratma or link which relates him to God, or to his Father in Heaven. These two, the five Commandments and the five Rules are the Hindu correspondence to the ten Commandments of the Bible and cover the daily life of the aspirant, as it affects those around him, and his own internal reactions.
Các Qui luật. Nijama. Chúng thiện phụng hành, hãy làm những điều lành. Phương tiện này cũng gồm năm qui luật, và chúng thường được gọi là “nghiêm trì giới luật tôn giáo.” [182] Lý do là vì chúng liên quan đến đời sống nội tâm của người đệ tử, cũng như liên quan đến tuyến sutratma hay là đường liên kết y với Thượng Đế, tức là Cha của y ở trên Trời. Hai phương tiện nói trên, năm Giới và năm Qui luật là các giới luật trong Ấn giáo tương ứng với mười Điều răn trong Kinh Thánh. Chúng bao gồm cuộc sống thường ngày của người chí nguyện, khi cuộc sống ấy ảnh hưởng đến những người chung quanh y, và các phản ứng nội tâm của chính y.
Means III.
Phương tiện III.
Posture. Asana. Right Poise. Correct attitude. Position. This third means concerns the physical attitude of the disciple when in meditation, his emotional attitude towards his environment or his group, and his mental attitude towards ideas, thought currents and abstract concepts. Finally, the practice of this means coordinates and perfects the lower threefold man so that the three sheaths can form a perfect channel for the expression or manifestation of the life of the spirit.
Tư thế. Asana. Sự thăng bằng đúng đắn. Thái độ đúng. Vị thế. Phương tiện thứ ba này liên quan đến thái độ thân xác của người đệ tử khi tham thiền. Nó chỉ về thái độ tình cảm của y đối với môi trường sống chung quanh hay là nhóm của mình. Nó cũng áp dụng cho thái độ trong trí của y đối
Means IV.
Phương tiện IV.
Right control of the life-force. Pranayama. Suppression of the breath. Regulation of the breath. This refers to the control, regulation and suppression of the vital airs, the breath and the forces or shaktis of the body. It leads in reality to the organization of the vital body or the etheric body so that the life current or forces, emanating from the ego or spiritual man on his own plane, [183] can be correctly transmitted to the physical man in objective manifestation.
Kiểm soát sinh lực đúng cách. Pranayama. Chế ngự hơi thở. Điều hòa hơi thở. Phương tiện này nhằm kiểm soát, điều hòa và chế ngự các dòng sinh khí, hơi thở và các mãnh lực hay shakti trong cơ thể. Phương tiện này thực sự giúp tổ chức thể sinh lực hay thể dĩ thái. [183] Nhờ đó mà các dòng sinh lực hay mãnh lực, phóng phát từ chân ngã hay con người tinh thần trên cảnh giới của mình, có thể được truyền chuyển đúng đến phàm nhân đang biểu hiện ở ngoại giới.
Means V.
Phương tiện V.
Abstraction. Pratyahara. Right withdrawal. Restraint. Withdrawal of the senses. Here we get back of the physical and the etheric bodies, to the emotional body, the seat of the desires, of sensory perception and of feeling. Here can be noted the orderly method which is followed in the pursuit of yoga or union. The physical plane life, external and internal is attended to; the correct attitude to life in its triple manifestation is cultivated. The etheric body is organized and controlled and the astral body is re-oriented, for the desire nature is subdued and the real man withdraws himself gradually from all sense contacts. The next two means relate to the mental body and the final one to the real man or thinker.
Trừu tượng hóa. Pratyahara. Rút ý thức đúng cách. Kiềm chế. Rút ý thức khỏi các giác quan. Với phương tiện này, chúng ta rút tâm thức ra khỏi thể xác và thể dĩ thái, vào thể tình cảm. Nó là cơ sở của các ham muốn, cảm nhận giác quan và những cảm xúc. Ở đây cần lưu ý phương pháp có trình tự trong khi thực hành khoa yoga hay hợp nhất. Cuộc sống ở cõi trần, gồm cấp ngoại tại và nội tại, được trông nom thận trọng. Hành giả có thái độ đúng về ba phương diện của cuộc sống này. Thể dĩ thái được tổ chức, kiểm soát, và thể cảm dục được tái định hướng. Khi bản chất dục vọng được chế ngự, chân nhân từ từ rút ý thức ra khỏi toàn bộ các giao tiếp giác quan. Hai phương tiện tiếp theo liên quan đến thể trí; và phương tiện cuối cùng liên quan đến chân nhân hay là người suy tưởng.
Means VI.
Phương tiện VI.
Attention. Dharana. Concentration. Fixation of the mind. Here the instrument of the Thinker, the Real Man, is brought under this control. The sixth sense is coordinated, understood, focussed and used.
Chú tâm. Dharana. Tập trung. Định trí. Phương tiện này giúp Chân nhân, Người suy tưởng kiểm soát khí cụ của mình. Giác quan thứ sáu được điều hợp, hiểu rõ, tập trung và sử dụng.
Means VII.
Phương tiện VII.
Meditation. Dhyana. The capacity of the thinker to use the mind as desired and to transmit to the brain, higher thoughts, abstract ideas, and idealistic concepts. This means concerns higher and lower mind. [184]
Tham thiền. Dhyana. Năng lực của người suy tưởng sử dụng thể trí theo ý muốn và truyền đến não bộ những tư tưởng thanh cao, các ý tưởng trừu tượng, và những khái niệm lý tưởng. Phương tiện này liên quan đến thượng trí và hạ trí. [184]
Means VIII.
Phương tiện VIII.
Contemplation. Samadhi. This relates to the ego or real man and concerns the realm of the soul. The spiritual man contemplates, studies or meditates upon the world of causes, upon the "things of God." He then, utilizing his controlled instrument, the mind (controlled through the practise of concentration and meditation) transmits to the physical brain, via the sutratma or thread which passes down through the three sheaths to the brain, that which the soul knows, sees and understands. This produces full illumination.
Chiêm ngưỡng. Samadhi hay nhập định. Phương tiện này liên quan đến chân ngã hay con người thật, và lĩnh vực của linh hồn. Con người tinh thần chiêm ngưỡng, nghiên cứu hay tham thiền về thế giới của các nguyên nhân, và “những điều của Thượng Đế.” Sau đó, y sử dụng cái khí cụ của mình là thể trí (đã được chế ngự qua thực hành tập trung và tham thiền). Nó được dùng để truyền đến não bộ, qua sutratma là tuyến sinh mệnh xuyên qua ba thể đến não bộ, những gì mà linh hồn thấy, biết và hiểu. Phương tiện này giúp hành giả được giác ngộ viên mãn.
MEANS I. THE COMMANDMENTS
PHƯƠNG TIỆN I. CÁC GIỚI RĂN
30. Harmlessness, truth to all beings, abstention from theft, from incontinence and from avarice, constitute yama or the five commandments.
30. Không gây tổn hại, chân thật với cả chúng sinh, không trộm cắp, không buông lung tình dục và không tham lam, là Yama hay năm giới răn.
These five commandments are simple and clear and yet, if practised, would make a man perfect in his relationships to other men, to supermen and to the subhuman realms. The very first command to be harmless is in reality a summation of the others. These commandments are curiously complete and cover the triple nature; in studying all these means we shall note their relation to one or other part of the lower threefold manifestation of the ego.
Năm giới răn này có vẻ rõ ràng và đơn giản. Thế nhưng, nếu được thực hiện đúng, chúng sẽ giúp hành giả có những liên giao tốt đẹp với tha nhân, với các bậc siêu nhân và với các giới tiến hóa thấp kém hơn nhân loại. Chính giới răn thứ nhất là không gây tổn hại vốn thực tế bao gồm các giới răn kia. Các giới răn này thật là đầy đủ và gồm cả ba khía cạnh của phàm tính. Khi nghiên cứu tất cả các phương tiện này, chúng ta sẽ thấy chúng lần lượt liên quan đến một trong các thể biểu hiện ở hạ giới của chân nhân.
I. Physical Nature.
I. Đặc tính Thân xác.
1. Harmlessness. This covers a man's physical acts as they relate to all forms of divine manifestation [185] and concerns specifically his force nature or the energy which he expresses through his physical plane activities. He hurts no one, and injures nobody.
1. Không gây tổn hại. Giới răn này bao gồm các hành động của con người ở cõi trần khi chúng liên quan đến tất cả những hình thể biểu hiện thiêng liêng. [185] Chúng đặc biệt liên quan đến bản chất mãnh lực hay năng lượng được y phát biểu qua những hoạt động của mình ở cõi trần. Y không hại ai, và không làm tổn thương bất cứ người nào hay vật nào.
2. Truth. This concerns primarily his use of speech and of the organs of sound, and relates to "truth in the inmost part" so that truth in externality becomes possible. This is a large subject, and deals with the formulation of a man's belief regarding God, people, things and forms through the medium of the tongue and voice. This is covered in the aphorism in Light on the Path. "Before the voice can speak in the presence of the Master it must have lost the power to wound."
2. Chân thật. Giới răn này chính yếu liên quan đến việc y dùng lời nói của mình và cơ quan phát ra âm thanh. Nó liên quan đến sự “chân thật trong tận thâm tâm” để y có thể sống chân thật ở bên ngoài. Đây là một chủ đề rộng lớn, trình bày niềm tin của mỗi người về Thượng Đế, con người, các sự vật và hình thể, qua trung gian của cái lưỡi và tiếng nói. Đây là hàm nghĩa của một câu châm ngôn trong Ánh sáng trên Đường Đạo. “Trước khi được nói trước Chân sư, lưỡi phải mất năng lực làm tổn thương kẻ khác.”
3. Abstention from theft. The disciple is precise and accurate in all his affairs and appropriates nothing which is not rightly his. This is a large concept covering more than the fact of actual physical appropriation of others' possessions.
3. Không trộm cắp. Người đệ tử ứng xử minh bạch và chính xác trong tất cả các công việc của mình, và không chiếm dụng bất cứ sự vật gì không đúng là của mình. Đây là một khái niệm rộng lớn bao gồm nhiều hơn là việc thực tế chiếm dụng các sở hữu vật chất của người khác.
II. Astral Nature.
II. Đặc tính Cảm dục.
4. Abstention from incontinence. This is literally desirelessness and governs the out-going tendencies to that which is not the self, which finds physical plane expression in the relation between the sexes. It must be remembered here, however, that this expression is regarded by the occult student as only one form which the out-going impulses take, and a form which allies a man closely with the animal kingdom. Any impulse which concerns the forms and the real man [186] and which tends to link him to a form and to the physical plane is regarded as a, form of incontinence. There is physical plane incontinence and this should have been left behind by the disciple long ago. But there are also many tendencies towards pleasure seeking with consequent satisfaction of the desire nature and this, to the true aspirant, is likewise regarded as incontinence.
4. Không buông lung tình dục. Đây thực sự là hạnh vô dục và chi phối các khuynh hướng quay ra ngoài, đến với những gì không phải là chân ngã. Nó biểu lộ ở cõi trần thành mối liên hệ giữa các giới tính. Tuy nhiên, ở đây cần lưu ý rằng người môn sinh huyền bí xem sự biểu lộ này chỉ là một dạng của các thôi thúc hướng ngoại. [186] Đó là một dạng liên kết chặt chẽ con người với giới loài vật. Bất cứ sự thôi thúc nào liên quan đến các hình thể và chân nhân, và có khuynh hướng nối kết chân nhân với một hình thể và với cõi trần, đều được xem là một dạng buông lung tình dục. Có sự buông lung tình dục ở cõi trần mà lẽ ra người đệ tử đã từ bỏ điều này từ lâu. Thế nhưng cũng có nhiều khuynh hướng tìm kiếm lạc thú với hậu quả thỏa mãn bản chất dục vọng, mà người chí nguyện chân chính vẫn xem là buông lung tình dục.
III. Mental Nature.
III. Đặc tính Thể trí
5. Abstention from avarice. This deals with the sin of covetousness which is literally theft upon the mental plane. The sin of avarice may lead to any number of physical plane sins and is very powerful. It concerns mental force and is a generic term covering those potent longings which have their seat not only in the emotional or kamic (desire) body, but in the mental body also. This commandment to abstain from avarice is covered by St. Paul when he says "I have learned in whatsoever state I am, therewith to be content." That state has to be attained before the mind can be so quieted that the things of the soul can find entrance.
5. Không tham lam. Đây là sự ham muốn mà thực chất là tội trộm cắp trên cõi trí. Sự tham lam vốn rất mạnh mẽ và có thể dẫn đến bất cứ tội lỗi nào ở cõi trần. Nó liên quan đến sức mạnh của trí năng, và là thuật ngữ gồm chung các khao khát mãnh liệt không chỉ bắt nguồn từ thể tình cảm hay dục vọng, mà còn có trong thể trí. Giới răn không tham lam này được Thánh Paul đề cập đến khi ông nói “Tôi đã học được cách hài mãn dù ở trong bất cứ tình trạng nào.” Phải đạt đến trạng thái vừa kể trước khi thể trí có thể yên lặng đến mức đón nhận được ảnh hưởng từ linh hồn.
31. Yama (or the five commandments) constitutes the universal duty and is irrespective of race, place, time or emergency.
31. Yama (hay năm giới răn) là bổn phận chung của mọi người, dù họ thuộc giống dân nào, đang ở đâu, vào thời gian hay tình trạng khẩn trương thế nào.
This sutra makes clear the universality of certain requirements, and by a study of these five commandments which form the basis of what the Buddhist calls "right conduct," it will be seen [187] that they form the basis of all true law and that their infringement constitutes lawlessness. The word translated duty or obligation, could well be expressed by that comprehensive term dharma in respect to others. Dharma means literally the proper working out of one's obligations (or karma) in the place, surroundings and environment where fate has put one. Certain governing factors in conduct must be observed and no latitude is permitted in these respects no matter what one's nationality, no matter what the locality in which one finds oneself, and no matter what age one may be or what emergency may arise. These are the five immutable laws governing human conduct and when they are followed by all the sons of men, the full significance of the term "peace to all beings" will be comprehended.
Câu kinh này nêu rõ tính phổ biến của một số yêu cầu. Năm giới răn này là cơ sở của điều mà người Phật tử gọi là “chánh hạnh.” [187] Người ta sẽ thấy chúng là cơ sở của tất cả các luật đúng thực, và vi phạm các giới răn này là phi pháp. Những từ như là bổn phận hay nghĩa vụ có thể được phát biểu thích hợp khi dùng thuật ngữ dharma đối với những người khác. Dharma có nghĩa đen là hoàn thành các nghĩa vụ (hay là nghiệp quả) của mình ở nơi chốn, trong hoàn cảnh và môi trường sống mà vận mệnh đã đặt để cho mình. Cần tuân thủ một số yếu tố chi phối cách hành xử và không được phóng túng trong các phương diện vừa kể. Điều này vẫn áp dụng dù một người có quốc tịch nào, đang ở địa phương nào, già hay trẻ, và ở trong tình trạng khẩn trương đến đâu. Đây là năm luật bất di bất dịch chi phối cách hành xử của con người. Khi chúng được mọi người theo đúng, thì chúng ta sẽ hiểu được trọn vẹn ý nghĩa của câu “vạn vật thái bình.”
MEANS II. THE RULES
PHƯƠNG TIỆN II. CÁC QUI LUẬT
32. Internal and external purification, contentment, fiery aspiration, spiritual reading and devotion to Ishvara constitutes nijama (or the five rules).
32. Tinh luyện bên trong và bên ngoài, an vui, nguyện vọng bừng cháy, thấu hiểu tinh thần và sùng kính Ishvara là Nijama (hay là năm qui luật).
As said above, these five rules govern the life of the lower personal self and form the basis of character. The yoga practices which so much interest the western thinker and aspirant, and which lure him on with their apparent ease of accomplishment and richness of reward (such as psychic unfoldment) are not permitted by the true guru or teacher until yama or nijama have [188] been established as controlling factors in the daily life of the disciple. The commandments and the rules must first be kept, and when his outer conduct to his fellowmen and his inner discipline of life is brought into line with these requirements, then he can safely proceed with the forms and rituals of practical yoga, but not till then.
Như đã nêu trên, năm qui luật này chi phối cuộc sống của phàm ngã và là cơ sở cho đức hạnh. Có những lối thực hành yoga được nhà tư tưởng và người tìm đạo Tây phương quan tâm. Chúng cám dỗ y vì có vẻ dễ thành công cùng với phần thưởng dồi dào (như sự khai mở thần thông). Tuy nhiên, vị tôn sư hay huấn sư chân chính không hề cho phép áp dụng những lối tập nói trên nếu người đệ tử chưa thực hành Yama hoặc Nijama đến mức chúng thành những yếu tố chi phối cuộc sống thường ngày của y. Trước hết, cần tuân hành các [188] giới răn và các qui luật. Chỉ khi, và chỉ đến khi cách hành xử của y ở bên ngoài đối với những người chung quanh, và giới luật đời sống nội tâm của y theo đúng các yêu cầu nói trên, thì bấy giờ y mới có thể an toàn tiến hành các thể thức và nghi thức thực hành yoga.
It is the failure to recognize this that leads to so much of the trouble among students of yoga in the west. There is no better basis for the work of Eastern occultism than strict adherence to the requirements laid down by the Master of all the Masters in the Sermon on the Mount, and the self-disciplined Christian, pledged to purity of life and unselfish service, can take up the practise of yoga much more safely than his more worldly and selfish yet intellectual brother. He will not run the risks that his unprepared brother takes.
Chính vì không nhận thức được điều này, mà các môn sinh yoga ở phương Tây đã gặp phải quá nhiều nỗi khó khăn. Không cơ sở nào tốt cho việc thực hành huyền bí học Đông phương hơn là hoàn toàn theo đúng các yêu cầu được vị Sư phụ của các Chân sư đề ra trong Bài giảng trên Núi. Vì thế, người Thiên Chúa giáo tự nghiêm trì giới luật, nguyện sống cuộc đời thanh khiết và phụng sự vô kỷ, có thể bắt đầu thực hành yoga một cách an toàn rất nhiều hơn là một người anh em khác tuy có tri thức nhưng còn vị kỷ và sống trần tục hơn. Y sẽ không lâm vào các nguy cơ mà người anh em kia gặp phải, do thiếu chuẩn bị.
The words "internal and external purity" relate to the three sheaths in which the self is veiled and must be interpreted in a dual sense. Every sheath has its densest and most tangible form and this must be kept clean, for there is a sense in which the astral and mental bodies can be kept cleansed from impurities coming to them from their environment, just as the physical body must be kept cleansed from similar impurities. The subtler matters of those bodies must be kept equally cleansed and this is the basis of that study of magnetic purity which is the cause of so many observances in the East which seem inexplicable to the Westerner. A shadow cast upon food by [189] a foreigner produces impure conditions; this is based upon the belief that certain types of force emanations produce impure conditions and though the method of counteracting these conditions may savour of dead letter ritual yet the thought back of the observance remains still the truth. So little is as yet known about force emanations from the human being, or acting upon the human mechanism, that what may be called "scientific purification" is as yet in its infancy.
Nhóm từ “thanh khiết bên trong và bên ngoài” chỉ về ba hạ thể đang che án chân ngã, và phải được diễn giải theo hai ý nghĩa. Mỗi thể đều có dạng hữu hình và thô đặc nhất, và dạng này phải được giữ cho sạch sẽ. Vì có một ý nghĩa là các thể cảm dục và thể trí có thể được giữ cho sạch sẽ, tránh khỏi những gì không thanh khiết đến với chúng từ môi trường chung quanh. Điều này cũng giống như phải giữ cho thân xác khỏi bị vấy bẩn theo cách tương tự. Ngoài ra, cũng phải giữ cho những chất liệu tinh vi trong các thể nói trên được hoàn toàn trong sạch. Đây là cơ sở của việc nghiên cứu sự thanh khiết về từ điện, vốn là nguyên nhân khiến phải tuân thủ quá nhiều điều ở phương Đông mà chừng như người Tây phương không thể hiểu. Cái bóng của một người nước ngoài phủ lên trên thức ăn [189] cũng khiến thực phẩm đó trở nên bất tịnh. Đây là niềm tin cho rằng một số loại lực phát ra vốn gây nên tình trạng bất tịnh. Dù phương pháp hóa giải những tình trạng vừa kể có vẻ là loại nghi thức lỗi thời, thế nhưng cái ý tưởng khiến người ta thực hành phương pháp đó thì vẫn đúng thực. Hiện nay hãy còn quá ít kiến thức về các phóng phát mãnh lực từ con người, hoặc tác động lên cơ thể con người. Do đó, phương pháp được gọi là “thanh luyện một cách khoa học” vẫn còn trong giai đoạn phôi thai.
Contentment is productive of conditions wherein the mind is at rest; it is based upon the recognition of the laws governing life and primarily the law of karma. It produces a state of mind wherein all conditions are regarded as correct and just, and as those in which the aspirant can best work out his problem and achieve the goal for any specific life. This does not entail a settling down and an acquiescence producing inertia, but a recognition of present assets, an availing oneself of one's opportunities and letting them form a background and a basis for all future progress. When this is done rightly the three remaining rules can be more easily kept.
Sự an vui tạo điều kiện cho thể trí nghỉ ngơi, ổn định. Chúng ta thấy an vui khi nhận thức được các định luật chi phối cuộc sống, chính yếu là luật nghiệp quả. Đây là trạng thái của thể trí khi nó thấy rằng mọi điều kiện đều đúng đắn, mà trong đó người chí nguyện có thể giải quyết vấn đề của mình và đạt mục tiêu cho một kiếp sống. Điều này không hẳn là một sự trầm lắng và nhu thuận tạo nên tình trạng trì trệ. Đó là nhận thức được những lợi thế trong hiện tại và tận dụng các cơ hội sẵn có, dùng chúng làm nền tảng và cơ sở cho các bước tiến tương lai. Khi thực hiện đúng điều này, thì có thể dễ dàng áp dụng ba qui tắc còn lại.
Fiery aspiration will be dealt with more fully in the next book, but it is well to point out here that this quality of "going forth" towards the ideal or of straining towards the objective must be so profound in the aspirant to yoga that no difficulties can turn him back. Only when this quality has been developed and proved and when it is found that no problem, no darkness and no [190] time element can hinder, is a man permitted to become the disciple of some Master. Fiery effort, steady persistent longing and enduring faithfulness to the ideal visioned are the sine qua non of discipleship. These characteristics must be found in all three bodies, leading to the constant disciplining of the physical vehicle, the steady orientation of the emotional nature and the mental attitude which enables a man to "count all things but loss" if he can only arrive at his goal.
Nguyện vọng bừng cháy sẽ được bàn đầy đủ hơn trong quyển sau. Thế nhưng, ở đây cũng nên nói rằng sự “tinh tấn” hướng đến lý tưởng, hoặc tự rèn luyện nhằm đạt mục tiêu phải thật sâu xa trong tâm người chí nguyện thực hành yoga đến mức không khó khăn, trở ngại nào có thể khiến y lùi bước. Chỉ khi phẩm tính này đã phát triển đến mức tốt đẹp, và khi hành giả đã tỏ ra rằng không vấn đề khó khăn nào, không sự tối tăm [190] hay thời gian lâu dài nào ngăn trở được y, thì bấy giờ y mới được phép trở thành đệ tử của một vị Chân sư. Sự cố gắng mãnh liệt, lòng thiết tha kiên định và liên tục, và sự trung thành không dời đổi đối với lý tưởng thấy được qua thị kiến tinh thần, là điều kiện thiết yếu của con đường đệ tử. Các đặc tính này phải có trong cả ba hạ thể, để thể xác luôn luôn nghiêm trì giới luật, thể tình cảm và thể trí thường xuyên có định hướng tinh thần. Vì thế, hành giả nhất tâm tiến đến mục tiêu “bằng mọi giá.”
Spiritual reading will be found to concern the development of the sense of subjective realities. It is fostered by study as understood in the physical sense, and by the endeavour to arrive at the thoughts which words convey. It is developed by a close scrutiny of the causes which lie back of all desires, aspirations and feelings, and thus is related to the desire or astral plane. It deals with the reading of symbols or geometrical forms ensouling an idea or thought and this concerns the mental plane. This will be dealt with later in Book III.
Sự thấu hiểu tinh thần liên quan đến việc phát triển ý thức về các thực tại nội tâm. Nó được bồi dưỡng bằng cách học hỏi những vấn đề thông thường, và bằng cách thấu đáo các ý tưởng ẩn trong ngôn từ. Nó được phát triển bằng cách thận trọng xem xét các nguyên nhân ẩn trong mọi sự ham muốn, khát vọng, và xúc cảm. Vì thế, nó liên quan đến dục vọng hay cõi cảm dục. Nó cũng tìm cách thấu hiểu các biểu tượng hay dạng hình học có hàm chứa một ý tưởng hay tư tưởng. Vì thế, nó liên quan đến cõi trí. Điều này sẽ được bàn sau, trong Quyển III.
Devotion to Ishvara may be briefly stated to constitute the attitude of the lower threefold self to the service of the ego, the inner ruler, the God or Christ within. This will be triple in its manifestation, bringing that lower personal self into a life of obedience to the Master within the heart; eventually bringing the aspirant into the group of some adept or spiritual teacher, and leading him also into devoted service to Ishvara or the divine Self as found in the hearts of all men and back of all forms of divine manifestation. [191]
Có thể nói vắn gọn sự Sùng kính Ishvara là thái độ của phàm ngã và ba hạ thể nhằm phục vụ chân nhân, vị chủ nhân, là vị Thượng Đế hay Đấng Christ ở nội tâm. Sự sùng kính này gồm ba phương diện, khiến cuộc sống phàm nhân luôn tuân phục vị Thầy ở nội tâm. Rốt cuộc, nó đưa người chí nguyện đến với các bậc trọn lành hay các huấn sư tinh thần. Nó cũng giúp y hiến mình phụng sự Ishvara hay Chân ngã thiêng liêng ẩn trong tâm của mọi người, và mọi hình thể biểu hiện thiêng liêng. [191]
33. When thoughts which are contrary to yoga are present there should be the cultivation of their opposite.
33. Khi có những tư tưởng trái với việc thực hành yoga, thì cần vun bồi những tư tưởng ngược lại.
The translation by Johnston gives the same idea in very beautiful words and the method is adequately brought out. He says:
Bản dịch của Johnston đưa ra cùng ý tưởng này với lời lẽ rất hay, trình bày đầy đủ phương pháp. Ông nói:
"When transgressions hinder, the weight of the imagination should be thrown upon the opposite side."
“Khi có những vi phạm gây trở ngại, thì trí tưởng tượng của hành giả cần theo chiều hướng ngược lại.”
The entire science of the balancing of the pairs of opposites is given in these two translations, neither one being fully complete without the other. It is often difficult to translate the ancient Sanskrit terms by one word or phrase, for in that language a term will stand for an entire idea and will require several phrases in order to convey the true meaning in the more limited English tongue.
Toàn bộ phương cách cân bằng các cặp đối cực được trình bày trong hai bản dịch này. Cả hai đều cần bổ sung lẫn nhau. Thường thì khó chuyển dịch các thuật ngữ Bắc Phạn cổ xưa chỉ bằng một từ hay một cụm từ. Lý do là vì trong cổ ngữ này một thuật ngữ hàm chứa trọn cả một ý tưởng. Vì thế, cần vài ba cụm từ mới chuyển đạt được thực nghĩa của nó bằng tiếng Anh vốn có tính hạn chế hơn.
Certain basic concepts are embodied in this sutra and for the sake of clarity might be tabulated as follows:
Câu kinh này bao gồm một số khái niệm cơ bản, có thể nêu rõ như sau:
1. As a man thinketh so is he. That which works out into physical objectivity is always a thought, and according to that thought or idea so will be the form and life-purpose.
1. Người nào suy nghĩ điều gì thì trở thành điều đó. Những gì biểu hiện ra ngoại cảnh ở cõi trần bao giờ cũng bắt nguồn từ một tư tưởng. Tùy theo tư tưởng hay ý tưởng đó mà hình thể được tạo thành cùng với mục đích sống của nó sẽ thế nào.
2. Thoughts are of two kinds; those tending to form-building, to limitation, to physical plane expression; those tending away from the lower three planes and therefore from the form aspect as we know it in the three worlds, and leading to union (yoga or at-one-ment) with the soul, the Christ aspect. [192]
2. Tư tưởng có hai loại. Những tư tưởng có khuynh hướng kiến tạo nên hình thể, có tính hạn chế và biểu lộ ở cõi trần. Những tư tưởng khác có khuynh hướng rời khỏi ba cõi thấp và vì thế mà rời khỏi phương diện hình thể như chúng ta biết trong tam giới. Chúng đưa đến sự hợp nhất (tức là yoga hay thống nhất) với linh hồn, hay trạng thái Christ. [192]
3. When it is found that the thoughts habitually cultivated are productive of astral and physical reactions and results it must be realized that they are inimical to yoga; they hinder the at-one-ing process.
3. Khi thấy những tư tưởng mà mình thường nuôi dưỡng có khuynh hướng tạo nên các phản ứng và kết quả ở cõi cảm dục và cõi hồng trần, thì hành giả biết rằng chúng trái với khoa yoga và gây trở ngại cho tiến trình hợp nhất.
4. Contrary thoughts to these must then be cultivated; these can be easily ascertained for they will be the direct opposite of the inhibiting thoughts.
4. Bấy giờ, cần bồi dưỡng những tư tưởng ngược lại với các tư tưởng nói trên. Cũng dễ xác định, vì chúng hoàn toàn ngược chiều với các các tư tưởng ức chế kể trên.
5. The cultivation of the thoughts which will tend to yoga and lead a man to a knowledge of his real self and consequent union with that self involves a triple process:
5. Việc bồi dưỡng các tư tưởng đúng hướng yoga và giúp hành giả biết được chân ngã của mình, rồi nhờ đó mà hợp nhất với chân ngã, là một tiến trình gồm ba phần:
a. The new thought concept, definitely formulated and found to be contrary to the old thought current, must be ascertained and considered.
a. Cần xác định và xem xét kỹ khái niệm về tư tưởng mới, được xác định rõ rệt, ngược lại với tư tưởng cũ.
b. The use of the imagination comes next in order to bring the thought into manifestation. This brings in the realm of desire and consequently the astral or emotional body is affected.
b. Kế đến là dùng trí tưởng tượng để làm cho tư tưởng mới biểu hiện. Cố gắng này đưa nó vào lĩnh vực của ý muốn để ảnh hưởng đến thể cảm dục hay thể tình cảm.
c. Then follows definite visualization of the effect of that which has been thought and imagined, as it will manifest in the physical plane life.
c. Rồi hình dung rõ rệt hiệu quả của những gì đã được suy nghĩ và tưởng tượng, khi nó biểu lộ trong cuộc sống ở cõi trần.
This will be found to generate energy. This means consequently that the etheric body becomes vitalized or energized by the new thought current and certain transformations and re-organizations take place which eventually cause a complete change in the activities of the physical plane man. The constant cultivation of this effects an entire transformation in the threefold lower man, and eventually the truth of the Christian phraseology [193] becomes apparent, "only Christ is seen and heard," only the real or spiritual man can be seen expressing himself through a physical medium, as Christ did through His instrument and disciple, Jesus.
Chúng ta sẽ thấy rằng tiến trình nói trên làm phát sinh năng lượng. Do đó, thể dĩ thái sẽ được sinh động và tăng cường do dòng tư tưởng mới. Cũng xảy ra một số biến đổi và tái tổ chức. Rốt cuộc chúng làm hoàn toàn thay đổi các hoạt động của phàm nhân ở cõi trần. Việc thường xuyên bồi dưỡng tư tưởng mới nói trên sẽ hoàn toàn chuyển hóa phàm nhân và ba hạ thể. Rốt cuộc, hành giả hiểu rõ thực nghĩa của câu nói trong Thiên Chúa giáo [193] “Chỉ còn nghe và thấy Đấng Christ.” Chỉ còn chân nhân hay là con người tinh thần tự biểu lộ qua trung gian của mình ở cõi trần, như Đức Christ đã làm qua Chúa Jesus, là phương tiện và là đệ tử của Ngài.
34. Thoughts contrary to yoga are harmfulness, falsehood, theft, incontinence, and avarice, whether committed personally, caused to be committed or approved of, whether arising from avarice, anger or delusion (ignorance); whether slight in the doing, middling or great. These result always in excessive pain and ignorance. For this reason, the contrary thoughts must be cultivated.
34. Những tư tưởng trái với yoga là ý muốn gây tổn hại, sự giả dối, trộm cắp, buông lung tình dục, và tham vọng. Dù là đích thân vi phạm, sai khiến hay thuận cho người khác vi phạm. Dù là phát sinh từ tính tham lam, giận dữ hay ảo tưởng (vô minh). Dù vi phạm nhẹ, vừa phải hay nặng. Các vi phạm này bao giờ cũng gây nên vô vàn đau khổ và sự vô minh. Vì thế, cần phải vun bồi những tư tưởng ngược lại.
It will be noted that the five Commandments deal specifically with those "thoughts contrary to yoga" or union, and that the keeping of the Commandments will bring about:
Cần lưu ý rằng năm Giới răn nói trên cụ thể nhắm đến “những tư tưởng trái với yoga” hay sự hợp nhất. Vì thế, việc tuân hành các Giới răn này sẽ mang lại:
a. Harmlessness instead of harmfulness,
a. Tính không gây tổn hại thay vì gây hại,
b. Truth instead of falsehood,
b. Sự chân thật thay vì giả dối,
c. Abstention from theft instead of stealing,
c. Cuộc sống lương thiện thay vì trộm cắp,
d. Self-control instead of incontinence,
d. Sự tự chủ thay vì buông lung tình dục,
e. Contentment instead of avarice or covetousness.
e. Sự an vui, hài mãn thay vì tham lam hay thèm muốn. Người chí nguyện không còn tìm cách bào chữa cho mình.
No excuse is left to the aspirant, and the truth is borne in on him that transgression of the Commandments is equally productive of results whether the violation is trifling or very great. A "contrary thought" must produce its effect and the effect is dual; pain, and ignorance or delusion. There are three words which the occult student associates ever with the three worlds: [194]
Y ghi nhớ sự thật là mọi sai phạm các Giới răn đều mang lại hậu quả, dù vi phạm nhiều hay ít. một “tư tưởng sai trái” tất sẽ mang lại hậu quả, và hậu quả này có hai mặt: sự đau khổ, và vô minh hay ảo tưởng. Có ba từ mà người môn sinh huyền bí dùng để chỉ về tam giới: [194]
1. Maya or illusion, having reference to the world of forms in which the true self finds itself when in incarnation, and with which it ignorantly identifies itself for long aeons;
1. Maya hay ảo ảnh, chỉ về thế giới của hình tướng mà chân ngã đầu thai vào đó, và vì vô minh mà tự đồng hóa với thế giới này qua biết bao thời đại;
2. Delusion, the process of wrong identification, in which the self deludes itself, and says "I am the form;"
2. Ảo tưởng, tiến trình đồng hóa một cách sai lầm, trong đó cái ngã bị lừa gạt và nói “Tôi là hình thể;”
3. Ignorance or avidya, the result of this wrong identification and at the same time the cause of it.
3. Vô minh hay thiếu minh triết, kết quả của sự đồng hóa sai lầm này và đồng thời cũng là nguyên nhân của nó.
The self is clothed in form; it is deluded in the world of illusion. Every time, however, that "thoughts contrary to yoga" are knowingly entertained, the self submerges itself still more in the illusory world and adds to the veil of ignorance. Every time that the "weight of the imagination" is thrown on the side of the real nature of the self and turned away from the world of the not-self, the illusion is lessened, the delusion becomes weakened, and ignorance is gradually superseded by knowledge.
Cái ngã bị bao bọc trong hình thể. Nó bị lừa gạt trong thế giới ảo tưởng. Tuy nhiên, mỗi lần “các tư tưởng trái với yoga” được vuốt ve, thỏa mãn, thì cái ngã chìm sâu hơn vào thế giới ảo tưởng, làm cho bức màn vô minh dày thêm. mỗi lần “sức mạnh của trí tưởng tượng” hướng về thực tính của chân ngã và không còn bận tâm đến thế giới của phi-ngã, thì ảo tưởng giảm dần. Hành giả ít khi bị lừa gạt, và sự vô minh dần dần được thay thế bằng hiểu biết.
35. In the presence of him who has perfected harmlessness, all enmity ceases.
35. Với sự hiện diện của người đã thực hiện vẹn toàn hạnh vô tổn hại, mọi sự thù ghét đều ngưng dứt.
This sutra demonstrates to us the working out of a great law. In Book IV. Sutra 17, Patanjali tells us that the perception of a characteristic, of a quality and of an objective form is dependent upon the fact that in the perceiver similar characteristics, qualities and objective capacity are to be found. This similarity is the basis of perception. The same truth is hinted at in the first [195] Epistle of St. John where the words are found "We shall be like Him for we shall see Him as He is." Only that can be contacted which is already present or partially present in the perceiver's consciousness. If enmity and hatred are therefore to be found by the perceiver, it is because in him the seeds of enmity and hatred are present. When they are absent naught but unity and harmony exists. This is the first stage of universal love, the practical endeavour on the part of the aspirant to be at one with all beings. He begins with himself and sees to it that the seeds of harmfulness in his own nature are eradicated. He deals, therefore, with the cause which produces enmity towards him and others. The natural result is that he is at peace and others are at peace with him. In his presence even wild beasts are rendered impotent and this by the condition of the mind-state of the aspirant or yogin.
Câu này nói lên sự tác động của một đại luật. Trong Quyển IV, Câu 17, Patanjali cho chúng ta biết rằng việc nhận thức được một đặc tính, một phẩm tính và một hình thể ở ngoại cảnh, là do trong người nhận thức có các đặc tính, phẩm tính và năng lực phóng ngoại tương tự. Sự tương đồng này là cơ sở của nhận thức. Cũng chính chân lý này có hàm ý trong [195] Bức thư thứ nhất của Thánh John với câu “Chúng ta sẽ giống như Ngài vì chúng ta sẽ thấy được thực tính của Ngài.” Chỉ có thể tiếp xúc được với những gì đã hiện hữu hoặc đang hiện hữu một phần trong tâm thức của người nhận thức. Nếu người nhận thức thấy có thù ghét và oán hận, thì đó là vì trong y hiện có những hạt giống của thù ghét và oán hận. Khi các chủng tử đó không còn, y chỉ thấy có tính duy nhất và sự hòa hợp. Đây là giai đoạn đầu của tình bác ái đại đồng. Đây là cố gắng thực hành về phần người chí nguyện nhằm hợp nhất với cả chúng sinh. Y bắt đầu nơi chính mình, và thận trọng làm thế nào để xóa sạch các chủng tử gây tổn hại trong tâm tính của mình. Vì thế, y giải quyết cái nguyên nhân tạo nên sự thù ghét đối với y và người khác. Kết quả đương nhiên là lòng y vui tươi, thoải mái, và người khác cũng bày tỏ sự vui tươi, thoải mái đối với y. Khi y có mặt ở đâu, thậm chí các loài dã thú cũng trở nên hiền dịu. Đó là do trạng thái này trong tâm trí của người chí nguyện hay nhà yogi.
36. When truth to all beings is perfected, the effectiveness of his words and acts is immediately to be seen.
36. Khi hành giả hoàn toàn chân thật với cả chúng sinh, thì hiệu quả lời nói và hành động của y lập tức được thấy rõ.
This question of truth is one of the great problems which the aspirant has to solve, and he who attempts to speak only that which is entirely accurate will find himself confronted by very definite difficulties. Truth is entirely relative whilst evolution proceeds, and is progressive in its manifestation. It might be defined as the demonstration on the physical plane of as much of the divine reality as the stage in evolution and the medium [196] employed permit. Truth, therefore, involves the ability of the perceiver or aspirant to see correctly the amount of the divine which a form (tangible, objective, or of words) clothes. It involves, therefore, the capacity to penetrate to the subject and to contact that which every form veils. It involves also the ability of the aspirant to construct a form (tangible, objective, or of words) which will convey the truth as it is. This is in reality the first two stages of the great creative process:
Sự chân thật ở đây là một trong những vấn đề lớn mà người chí nguyện phải giải quyết. Và người nào cố gắng chỉ nói điều gì hoàn toàn chính xác, thì sẽ thấy mình gặp phải những sự khó khăn rõ rệt. Chân lý hoàn toàn có tính tương đối khi cuộc tiến hóa tiếp diễn, và ngày càng biểu hiện nhiều hơn. Có thể định nghĩa chân lý là sự biểu lộ của thực tại thiêng liêng ở cõi trần với mức độ tùy theo giai đoạn tiến hóa và phương tiện được dùng để biểu lộ. [196] Thế nên, chân lý cũng bao gồm khả năng của người nhận thức hay người tìm đạo, có thể thấy đúng được mức độ nào của thực tại thiêng liêng được bao hàm trong một hình thể (hữu hình, khách quan, hay hình thức ngôn từ). Do đó, nó bao gồm năng lực xuyên thấu đến chủ thể và tiếp xúc với cái mà mọi hình thể đang ẩn giấu. Nó cũng bao gồm khả năng của người chí nguyện có thể kiến tạo một thể thức (hữu hình, khách quan, hay của ngôn từ) để chuyển đạt thực tính của chân lý. Đây thực ra là hai giai đoạn đầu của một tiến trình sáng tạo vĩ đại:
1. Correct perception,
1. Nhận thức đúng,
2. Accurate construction, and it leads on to the consummation dealt with in the sutra under consideration—the effectiveness of all words and acts to convey reality or truth as it is. This sutra gives the clue to the work of the magician and is the basis for the great science of mantras or of words of power which are the equipment of every adept.
2. Kiến tạo chính xác, và nó dẫn đến sự hoàn thành được đề cập trong câu kinh đang bàn ở đây − sự hiệu quả của tất cả các lời nói và hành động nhằm chuyển đạt thực tính của chân lý. Câu kinh này có nêu manh mối về công việc của nhà huyền thuật. Đó là cơ sở cho khoa học quan trọng về chân ngôn hay các quyền lực từ, vốn là lợi khí của các vị cao đồ.
Through an understanding of,
Khi thấu hiểu được,
a. The law of vibration,
a. Luật rung động,
b. The science of sound,
b. Khoa học về âm thanh,
c. The purpose of evolution,
c. Mục đích của cuộc tiến hóa,
d. The present cyclic stage,
d. Giai đoạn của chu kỳ hiện tại,
e. The nature of form,
e. Tính chất của hình thể,
f. The manipulation of atomic substance, the adept not only sees truth in all things but comprehends how to make truth visible, thus aiding the evolutionary process and "casting images upon the screen of time." This he does through certain words and acts. For the aspirant, the development of this capacity comes through a constant [197] effort to fulfill the following requirements:
f. Cách vận dụng chất liệu nguyên tử, vị cao đồ không những thấy được sự thật trong tất cả các sự vật, mà còn hiểu cách làm cho sự thật ấy hiển lộ. Nhờ đó, người trợ giúp diễn trình tiến hóa và “phóng chiếu các hình ảnh lên bức màn thời gian.” Điều này được thực hiện qua một số linh từ và hành động. Với người chí nguyện, [197] y phát triển năng lực nói trên nhờ thường xuyên cố gắng theo đúng các yêu cầu sau đây:
1. Strict attention to every formulation of words used,
1. Hết sức chú ý đến cách phát biểu những ngôn từ được sử dụng,
2. The wise use of silence as a factor of service,
2. Khôn ngoan dùng sự im lặng như một yếu tố phụng sự,
3. The constant study of the causes lying back of every act so that the reason for the effectiveness or non-effectiveness of action is understood.
3. Thường xuyên nghiên cứu các nguyên nhân ẩn trong mọi hành động. Nhờ đó mà hiểu được lý do tại sao hành động có hiệu quả hoặc vô hiệu.
4. A steady endeavour to see the reality in every form. This literally involves a study of the law of cause and effect, or karma, the object of the karmic law being to bring the opposite pole of Spirit, matter, into strict conformity with the requirements of spirit so that matter and form can perfectly express the nature of spirit.
4. Liên tục cố gắng để thấy thực tính trong mọi hình thể. Cố gắng này thực sự bao gồm việc nghiên cứu luật nhân quả, hay nghiệp quả. Luật nghiệp quả có mục tiêu đưa đối cực của Tinh thần, là vật chất, đến mức hoàn toàn theo đúng các yêu cầu của tinh thần. Kết quả là vật chất và hình thể biểu lộ chân tính của tinh thần một cách hoàn hảo.
37. When abstention from theft is perfected, the yogi can have whatever he desires.
37. Khi đã hoàn toàn không trộm cắp, nhà yogi có thể có bất cứ điều gì y muốn.
In this is to be found the clue to the great law of supply and demand. When the aspirant has learned to "desire nothing for the separated self" he can then be trusted with the riches of the universe; when he makes no demand for the lower nature and claims nothing for the threefold physical man, then all that he desires comes to him unasked and unclaimed. In some translations the words are found "all jewels are his."
Đây là manh mối của đại luật về cung và cầu. Khi người chí nguyện học cách “không ham muốn điều gì cho cái ngã riêng rẽ” thì bấy giờ y được giao phó những kho tàng phong phú của vũ trụ. Khi y không yêu cầu điều gì cho phàm tính, và không đòi hỏi điều gì cho phàm nhân tam phân, thì bấy giờ tất cả những điều gì y muốn đều đến với y mà không cần phải yêu cầu hay đòi hỏi. Trong một số bản dịch còn có ghi “tất cả ngọc ngà, châu báu đều là của y.”
It must be remembered with care that the theft referred to has reference not only to the taking of things tangible and physical, but has reference also to abstention from theft on the emotional or mental planes. The aspirant takes nothing; [198] emotional benefits, such as love and favor, dislike or hatred are not claimed by him and absorbed when they do not belong to him; intellectual benefits, the claiming of a reputation not warranted, the assumption of some one else's duty, favour or popularity are all equally repudiated by him and he adheres with strictness to that which is his own. "Let every man attend to his own dharma" and fulfill his own role, is the Eastern injunction. "Mind your own business" is the Western attempt to teach the same truth and convey the injunction that we each of us must not steal from another the opportunity to do right, to measure up to responsibility and to do his duty. This is the true abstention from theft. It will lead a man perfectly to meet his own obligations, to shoulder his own responsibility and to fulfill his own duty. It will lead him to refrain from appropriating anything that belongs to his brother in the three worlds of human endeavour.
Cần thận trọng lưu ý rằng sự trộm cắp bàn ở đây không chỉ nói về việc lấy cắp những thứ hữu hình và vật chất. Cũng cần tránh trộm cắp trên cõi tình cảm hay cõi trí. Người chí nguyện không lấy cắp bất cứ điều gì. [198] Y không yêu cầu và thu nhận bất cứ những lợi ích nào về tình cảm, như được yêu thương và ân huệ, những đố kỵ hay thù ghét, nếu chúng không thuộc về mình. Y cũng từ khước những lợi ích về trí tuệ, như đòi hỏi danh tiếng mà mình không xứng đáng, hoặc mạo nhận nhiệm vụ, ân huệ và sự được mến chuộng thuộc về người khác. Y chỉ hoàn toàn gắn bó với những gì của riêng mình. Lời huấn thị của Đông phương là “mỗi người hãy chú tâm vào thiên chức của chính mình” và làm tròn vai trò của mình. Câu ngạn ngữ Tây phương “Hãy lo công việc của chính bạn” cũng nhằm nói lên chân lý vừa kể. Nó truyền đạt huấn thị rằng mỗi người trong chúng ta không được ăn cắp của người khác khiến họ mất cơ hội làm điều phải, tự đảm đương trách nhiệm và thi hành nhiệm vụ của mình. Đây là thực sự không trộm cắp. Nó sẽ giúp hành giả hoàn thành nghĩa vụ, gánh vác trách nhiệm và làm tròn nhiệm vụ của mình. Nó sẽ khiến y không chiếm dụng bất cứ điều gì thuộc về người huynh đệ của mình trong ba cảnh giới hoạt động của nhân loại.
38. By abstention from incontinence, energy is acquired.
38. Không buông lung tình dục, hành giả sẽ có được năng lượng.
Incontinence is usually regarded as the dissipation of the vitality or the virility of the animal nature. The power to create upon the physical plane and to perpetuate the race is the highest physical act of which man is capable. The dissipation of the vital powers through loose living and incontinence is the great sin against the physical body. It involves the failure to recognize the importance of the procreative act, the inability to [199] resist the lower desires and pleasures, and a loss of self control. The results of this failure are apparent throughout the human family at this time in the low health average, in the full hospitals, and the diseased, enfeebled and anemic men, women and children everywhere to be found. There is little conservation of energy, and the very words "dissipation" and dissipated men" carry a lesson.
Buông lung tình dục thường được xem là phung phí sinh lực hay khả năng sinh dục của thú tính. Năng lực sáng tạo ở cõi trần và duy trì nòi giống là hành động cao nhất ở cõi trần mà con người có thể thực hiện. Việc phung phí sinh lực qua cuộc sống buông thả và phóng túng tình dục là một trọng tội chống lại thân xác [199]. Đó là vì người ta không nhận thức được tầm quan trọng của hành động sinh sản, không thể chống lại dục vọng và lạc thú thấp hèn, và mất khả năng tự chủ. Kết quả của sự thất bại này thấy rõ trong cả gia đình nhân loại vào thời gian hiện nay. Ở đâu cũng có tình trạng sức khỏe trung bình suy kém, bệnh viện quá tải, những người đàn ông, phụ nữ và trẻ con bệnh tật, yếu đuối và thiếu máu. Người ta ít khi chịu giữ gìn năng lực, và những trường hợp “suy yếu sinh lực” cũng như “những người bị suy nhược” đều là bài học cho họ.
The first thing a disciple has to do is to learn the true nature of creation and to conserve his energy. Celibacy is not enjoined. Self-control is. In the relatively short cycle of lives, however, in which the aspirant fits himself to tread the path, he may have to pass a life or maybe several in a definite abstention from the act of procreation in order to learn complete control and to demonstrate the fact that he has completely subdued the lower sex nature. The right use of the sex principle along with entire conformity to the law of the land is characteristic of every true aspirant.
Điều đầu tiên mà người đệ tử cần phải làm là học hỏi để biết thực chất của cuộc sáng tạo, và bảo tồn năng lượng của mình. Không bắt buộc phải sống độc thân. Thế nhưng, sự tự chủ thì cần phải có. Tuy nhiên, trong chu kỳ tương đối ngắn ngủi gồm một số kiếp sống mà trong đó người chí nguyện tự chuẩn bị cho thích hợp để tiến bước trên đường đạo, y có thể phải trải qua một hoặc vài ba kiếp sống dứt khoát tránh hẳn hành động sinh sản. Nhờ đó y học cách hoàn toàn tự chủ, và chứng tỏ rằng thực tế y đã hoàn toàn chế ngự được bản chất tình dục thấp hèn. Đặc trưng của mọi người tìm đạo chân chính là sử dụng đúng nguyên khí tính dục, cũng như hoàn toàn tuân hành luật pháp của đất nước mình.
Apart from a consideration of this along the lines of the conservation of energy, there is another angle from which the aspirant approaches the problem and that is the transmutation of the vital principle (as manifested through the physical organism) into the dynamic demonstration of it as manifested through the organ of sound, or creation, through the word, the work of the true magician. There is as all students of occultism know, a close connection between the organs of generation and the [200] third major centre, the throat centre. This is apparent physiologically in the change of voice seen during the adolescent period. Through the true conservation of energy and abstention from incontinence, the yogi becomes a creator on the mental plane through the use of the word and of sounds, and the energy which can be dissipated through the activity of the lower centre is concentrated and transmuted into the great creative work of the magician. This is done through continence, pure living and clean thinking, and not through any perversions of occult truth such as sex magic and the enormities of the sex perversions of various so-called occult schools. The latter are on the black path and do not lead to the portal of initiation.
Ngoài việc xem xét vấn đề này theo lối bảo toàn năng lượng, người chí nguyện còn khảo cứu vấn đề từ một góc độ khác. Đó là siêu hóa nguyên khí sống (biểu hiện qua thể xác) thành sự phát biểu mạnh mẽ qua cơ quan của âm thanh, hoặc sáng tạo, qua linh từ, tức là công tác của nhà huyền thuật chân chính. Như tất cả các môn sinh huyền bí học đều biết, có sự liên kết chặt chẽ giữa cơ quan sinh sản và trung tâm lực chính yếu thứ ba, tức là luân xa cổ họng [200]. Điều này thấy rõ về mặt sinh lý khi các thiếu niên thay đổi tiếng nói ở tuổi dậy thì. Nhờ bảo tồn năng lượng và không buông lung tình dục, nhà yogi trở thành người sáng tạo trên cõi trí. Y sáng tạo bằng cách sử dụng linh từ và âm thanh. Và năng lượng có thể bị hao tán qua hoạt động của trung tâm lực ở cấp thấp thì nay được tập trung và siêu hóa thành công tác sáng tạo quan trọng của nhà huyền thuật. Công tác này được thực hiện qua sự chế ngự tình dục, đời sống trong sạch và tư tưởng thanh khiết. Nó không qua bất cứ sự xuyên tạc nào về chân lý huyền môn như ma thuật tình dục và những tội ác dâm loạn của những môn phái khác nhau tự gọi mình là trường huyền bí học. Những lối thực hành đó đi theo hắc đạo, chứ không đưa đến cánh cửa điểm đạo.
39. When abstention from avarice is perfected, there comes an understanding of the law of rebirth.
39. Khi hoàn toàn không tham lam, hành giả thấu hiểu luật tái sinh.
This sutra gives in unequivocal terms the great teaching that it is desire for form of some kind which brings the spirit into incarnation. When desirelessness is present, then the three worlds can no longer hold the yogi. We forge our own chains in the furnace of desire and of a various longing for things, for experience and for form life.
Với những thuật ngữ rõ ràng, minh bạch, câu kinh này nói lên giáo huấn trọng đại rằng chính sự ham muốn một loại hình hài, sắc tướng nào đó khiến cho tinh thần phải đầu thai. Khi nhà yogi thực hành vẹn toàn hạnh vô dục, thì tam giới không còn cầm giữ được y. Chúng ta tự tạo nên xiềng xích cho chính mình trong lò lửa dục vọng, và lòng khao khát những sự vật, các kinh nghiệm khác nhau cũng như đời sống hình thể.
When contentment is cultivated and present, gradually these chains drop off and no others are forged. As we disentangle ourselves from the world of illusion, our vision becomes cleared, and [201] the laws of being and of existence become apparent to us and are little by little understood. The how and the why of life are answered. The reason for and the method of physical plane existence is no longer a problem, and the yogi understands why the past has been and what its characteristics are; he understands the reason for the present life cycle and experience and can make practical application of the law each day, and he knows well what he has to do for the future. Thus he frees himself, desires nothing in the three worlds and re-orients himself to the conditions in the world of spiritual being.
Khi hành giả vun bồi sự an vui, hài mãn, thì các xiềng xích kể trên từ từ tiêu tan, và y không tạo thêm những ràng buộc nào khác. Khi chúng ta tự vượt thoát ra khỏi thế giới ảo tưởng, thì tầm nhìn tinh thần của mình trở nên sáng tỏ. Bấy giờ chúng ta thấy rõ và dần dần thấu đáo các định luật của đời sống [201] và cuộc hiện tồn. Những ưu tư, thắc mắc về cuộc đời được giải đáp. Lý do tại sao chúng ta sống và phương cách sống trong cõi đời này, không còn là vấn đề khó hiểu. Nhà yogi biết được vì sao quá khứ của mình đã là như thế, và nay nó có đặc tính gì. Y thấu hiểu nguyên do của kiếp sống và kinh nghiệm hiện tại, cũng như có thể áp dụng thực hành định luật trong đời sống thường ngày. Y cũng biết rõ mình cần phải làm điều gì cho tương lai. Bằng cách vừa kể, y tự giải thoát, không còn ham muốn điều gì trong tam giới, và hướng về những điều kiện của cuộc sống tinh thần.
In these qualities we have the carrying out of the five Commandments.
Việc thực hành năm Giới răn mang lại những phẩm tính nói trên.
40. Internal and external purification produces aversion for form, both one's own and all forms.
40. Tinh luyện bên trong và bên ngoài khiến hành giả chán ghét hình hài, sắc tướng, cả hình thể của mình và mọi hình thể khác.
This paraphrase of Sutra 40 does not adhere to the technical translation of the Sanskrit words on account of the misunderstanding of the words used. Literally the translation runs "internal and external purification produces hatred for one's own body and non-intercourse with all bodies." The tendency of students in the West to interpret literally necessitates a somewhat freer translation. The Eastern student, more versed in the symbolic presentation of truth is not so liable to make mistakes along this line. In considering this sutra it should be remembered that purity is a quality of spirit. [202]
Câu 40 này không được chuyển ngữ theo cách dịch các thuật ngữ Bắc Phạn, vì e độc giả có thể hiểu lầm các từ ngữ được dùng. Theo nghĩa đen, thì câu này được dịch là “việc tinh luyện bên trong và bên ngoài khiến hành giả chán ghét cơ thể của mình và không muốn liên giao với các cơ thể khác.” Vì các môn sinh Tây phương có khuynh hướng giải thích theo nghĩa đen, nên họ cần sự chuyển dịch phần nào thoáng hơn. Trong khi đó, người môn sinh phương Đông, vốn thông thạo hơn về cách trình bày chân lý qua biểu tượng, thì không dễ bị nhầm lẫn như thế. Khi xem xét câu kinh này, chúng ta cần ghi nhớ rằng sự thanh khiết là một phẩm tính của tinh thần. [202]
Purification is necessarily of various kinds and relates to the four vehicles (the physical body, the etheric body, the emotional body and the mental body) through which man contacts the three worlds of his endeavor. We might, therefore, distinguish between them as follows:
Tất nhiên, có những lối tinh luyện khác nhau liên quan đến bốn hạ thể (gồm thể xác, thể dĩ thái, thể tình cảm, và thể trí) mà mỗi người sử dụng để giao tiếp khi hoạt động trong tam giới. Chúng có thể được phân biệt như sau:
a. External purity physical vehicle dense body,
a. Thanh khiết bên ngoài… thể xác......... thể thô đặc,
b. Magnetic purity etheric vehicle internal purity,
b. Thanh khiết từ điện......thể dĩ thái.... thanh khiết bên trong,
c. Psychic purity astral vehicle emotional purity,
c. Thanh khiết của tâm..... thể cảm dục… thanh khiết tình cảm,
d. Mental purity mental vehicle purity of the concrete mind.
d. Thanh khiết của trí.......thể trí........... thanh khiết của trí cụ thể.
It should be most carefully borne in mind that this purity concerns the substance out of which each of these vehicles is composed. It is attained in three ways:
Cần lưu ý kỹ rằng sự thanh khiết này liên quan đến chất liệu được dùng để kiến tạo các thể nói trên. Chúng ta đạt được sự thanh khiết bằng ba cách:
1. Elimination of impure substance or of those atoms and molecules which limit the free expression of spirit, and which confine it to the form so that it can have neither free ingress nor egress;
1. Loại bỏ chất liệu không thanh khiết hay là các nguyên tử và phân tử vốn hạn chế sự phát biểu tự do của tinh thần. Chúng giam hãm tinh thần trong hình thể, khiến tinh thần không thể tự do ra, vào;
2. Assimilation of those atoms and molecules which will tend to provide a form through which spirit can adequately function;
2. Hấp thu những nguyên tử và phân tử có khuynh hướng tạo nên một thể mà qua đó tinh thần có thể hoạt động như ý muốn;
3. The protection of the purified form from contamination and deterioration.
3. Bảo vệ thể đã được tinh luyện khỏi bị ô nhiễm và suy biến.
On the Path of Purification or of Probation, this eliminative process is commenced; on the Path of Discipleship, the rules for the constructive or assimilative process are learnt and on the Path of Initiation (after the second initiation,) the protective work is begun.
Trên Con Đường Tinh luyện hay Dự bị, tiến trình loại trừ này khởi đầu. Trên Con Đường Đệ tử, hành giả học được các qui luật cho tiến trình kiến tạo hay hấp thu. Trên Con Đường Điểm đạo (sau cuộc điểm đạo thứ hai,) việc bảo vệ bắt đầu.
In the occident the rules of external purification, of sanitation and of hygiene are well known and largely practised. In the orient, the rules [203] of magnetic purification are better known and when the two systems are synthesized and mutually recognized, the physical sheath in its dual nature will eventually be brought to a high degree of refinement.
Ở Tây phương, các qui tắc về tinh luyện bên ngoài, về điều kiện sống lành mạnh và vệ sinh đều được biết rõ và thực hành rộng rãi. Trong khi đó, ở Đông phương [203] các qui luật tinh luyện từ điện được biết rõ hơn. Khi hai hệ thống này được tổng hợp và cùng được công nhận, thì hai phương diện của thể hồng trần rốt cuộc sẽ đạt mức tinh luyện cao hơn.
In this cycle, however, the interest of the Hierarchy is being largely centred on the question of psychic purity and this is the reason for the trend of the occult teaching at present developing. It is away from what is commonly understood by psychic development, lays no emphasis on the lower psychic powers and seeks to train the aspirant in the laws of the spiritual life. This produces a realization of the nature of the psyche or soul, and a control of the lower psychic nature. The great "push" of the hierarchical endeavour for this century, 1926-2026, will be along these lines, combined with a dissemination of the laws of thought. Hence the necessity for the promulgation of the teaching given in the Yoga Sutras. They give the rules for mind control but the nature of the psychic powers and the development of the psychic consciousness are also largely dealt with.
Tuy nhiên, trong chu kỳ hiện nay, sự quan tâm của Đại đoàn Chưởng giáo đang được tập trung phần lớn vào sự thanh khiết của cái tâm. Đây là lý do tại sao hiện có xu thế phát triển giáo huấn huyền môn. Giáo huấn này không liên quan đến điều thường được hiểu là phát triển thần thông. Giáo huấn này không chú trọng đến các loại thần thông thấp, mà tìm cách rèn luyện người chí nguyện theo các định luật của đời sống tinh thần. Cuộc rèn luyện này mang lại nhận thức về bản tính của cái tâm hay linh hồn, và khả năng chế ngự tính chất thấp hèn ở nội tâm. “Sức thúc đẩy” lớn lao trong cố gắng của Đại đoàn Chưởng giáo cho thế kỷ này, từ năm 1926 đến năm 2026, sẽ theo các đường hướng kể trên, kết hợp với việc phổ biến các định luật về tư tưởng. Vì thế mà cần phải trình bày giáo huấn trong Yoga Điển tắc. Giáo huấn này đưa ra các quy tắc để kiểm soát trí tuệ. Thế nhưng cũng bàn rộng về tính chất của các quan năng thần thông và sự phát triển tâm thức.
The entire third book deals with these powers and the theme of the sutras as a whole might be briefly stated to be the development of mind control with a view to soul-contact and the consequent control of the lower psychic powers, their unfoldment paralleling that of the higher powers. This should be emphasized. Aversion for form or "desirelessness," which is the generic term covering this condition of mind, is the great impulse [204] which eventually leads to complete liberation from form.
Trọn cả quyển ba bàn về các quyền năng vừa kể. Và chủ đề của tất cả các câu kinh có thể nói vắn gọn là phát triển khả năng chế ngự thể trí. Sự chế ngự này nhằm giao tiếp với linh hồn và nhờ đó mà kiểm soát các quan năng thần thông loại thấp. Những quan năng này khai mở song hành với những quyền năng bậc cao. Đây là điểm cần được nhấn mạnh. [204] Không còn ham thích hình thể hay là “hạnh vô dục,” là từ nói chung về điều kiện này của thể trí. Đây là sức thôi thúc mạnh mẽ để rốt cuộc hành giả hoàn toàn giải thoát khỏi hình thể.
It is not that form or form taking is in itself evil. Both forms and the process of incarnation are right and proper in their place but for the man who has no further use for experience in the three worlds, having learnt the needed lessons in the school of life, form and rebirth become evil and must be relegated to a position outside the life of the ego. That the liberated man may choose to limit himself by a form for specific purposes of service is true, but this he does through an act of the will and self-abnegation; he is not impelled thereto by desire but by love of humanity and a longing to stay with his brothers till the last of the sons of God has reached the portal of liberation.
Chính hình thể hay việc khoác lấy hình thể thì không có gì là tà vạy. Cả các hình hài, sắc tướng và tiến trình đầu thai đều đúng đắn và thích hợp trong vai trò của chúng. Ngày nào người ta không còn cần sử dụng chúng để thu thập thêm kinh nghiệm trong tam giới, vì đã học xong những bài học cần thiết trong trường đời, thì bấy giờ các hình thể và sự tái sinh mới trở thành điều không tốt, và phải được đặt vào vị trí ở bên ngoài cuộc sống của chân nhân. Thực tế là một người đã giải thoát có thể chọn tự giới hạn mình trong một hình hài vì những mục đích phụng sự cụ thể. Thế nhưng, y thực hiện điều này qua tác động của ý chí và sự tự quên mình. Y không bị thúc đẩy đến với hình hài đó do ham muốn, mà vì lòng yêu thương nhân loại. Điều này cũng vì y mong muốn ở lại với các huynh đệ của mình cho đến khi người con cuối cùng của Thượng Đế đã đến cánh cửa giải thoát.
41. Through purification comes also a quiet spirit, concentration, conquest of the organs, and ability to see the Self.
41. Nhờ tinh luyện mà tinh thần an tịnh, tập trung, chế ngự các cơ quan, và có khả năng thấy được chân ngã.
It should be remembered that both the Commandments and the Rules (Yama and Nyama) have to do with the lower fourfold self, functioning in the three worlds, and frequently called the lower quaternary. We have seen in the preceding sutra that the purification required is fourfold and concerns four vehicles. The results of this purity are also fourfold and have reference equally to the four sheaths. These results are, in the order of the vehicles: [205]
Nên lưu ý rằng cả các Giới răn và các Qui luật (Yama và Niyama) đều áp dụng cho phàm ngã với bốn hạ thể. Phàm ngã hoạt động trong tam giới và thường được gọi là bộ tứ thấp. Câu kinh trước đã nói rằng việc tinh luyện gồm có bốn phần và liên quan đến bốn thể. Kết quả của sự thanh khiết này cũng có bốn phương diện, và cũng liên quan đến bốn thể. Các kết quả này được kể ra theo thứ tự của các thể, như sau: [205]
1. Conquest of the organs
The physical body,
2. A quiet spirit
The emotional vehicle,
3. Concentration
The lower mind or the mental body,
4. Ability to see the self
The synthetic result of the triple condition
of the above sheaths.
1. Chế ngự các cơ quan..............Thể xác,
2. Tinh thần an tịnh..................Thể tình cảm,
3. Tập trung...............................Hạ trí hay là thể trí,
4. Khả năng thấy Chân ngã.....Kết quả tổng hợp của ba điều kiện trong các thể nói trên.