← THE LIGHT OF THE SOUL

a. The five hindrances and their removal.

a. The five hindrances and their removal.

a. Năm chướng ngại và cách giải trừ.

b. The eight means defined.

b. Định nghĩa tám phương tiện.

Topic: The means of attainment. [115]

Chủ đề: Phương tiện thành đạt.

1. The Yoga of action, leading to union with the soul is fiery aspiration, spiritual reading and devotion to Ishvara.

1. Yoga hành động, đưa đến sự hợp nhất với linh hồn là nhiệt vọng bừng cháy, thấu hiểu tinh thần và sùng kính Ishvara.

2. The aim of these three is to bring about soul vision and to eliminate obstructions.

2. mục tiêu của ba điều nói trên là mang lại tầm nhìn của linh hồn và giải trừ chướng ngại.

3. These are the difficulty producing hindrances: avidya (ignorance) the sense of personality, desire, hate and the sense of attachment.

3. Sở dĩ có chướng ngại là do những nỗi khó khăn sau đây: vô minh (thiếu minh triết), ý thức phàm ngã, ham muốn, thù ghét và mê chấp.

4. Avidya (ignorance) is the cause of all the other obstructions whether they be latent, in process of elimination, overcome, or in full operation.

4. Vô minh (thiếu minh triết) là nguyên nhân của tất cả các chướng ngại khác, dù chúng tiềm ẩn, đang được giải trừ, khắc phục, hay hoàn toàn chi phối.

5. Avidya is the condition of confusing the permanent, pure, blissful and the Self with that which is impermanent, impure, painful and the not-self.

5. Vô minh là nhầm lẫn cái thường tồn, thanh tịnh, chân phúc và Chân ngã, với những gì vô thường, bất tịnh, đau khổ và phi-ngã.

6. The sense of personality is due to the identification of the knower with the instruments of knowledge.

6. Sở dĩ có ý thức của phàm nhân là do người tri thức tự đồng hóa với cái khí cụ dùng để hiểu biết.

7. Desire is attachment to objects of pleasure.

7. Ham muốn là bám chấp vào các đối tượng của lạc thú.

8. Hate is aversion for any object of the senses.

8. Thù ghét là đố kỵ bất cứ đối tượng nào của giác quan.

9. Intense desire for sentient existence is attachment. This is inherent in every form, is self-perpetuating, and known even to the very wise.

9. Mạnh mẽ ham muốn đời sống hữu tình là bám chấp. Điều này cố hữu trong mọi hình thể, có tính tự tồn, và ngay cả người rất khôn ngoan vẫn còn cảm biết nó.

10. These five hindrances, when subtly known, can be overcome by an opposing mental attitude.

10. Đây là năm chướng ngại mà, khi hiểu biết thấu đáo, hành giả có thể thắng phục với thái độ ngược lại trong trí tuệ. [116]

11. Their activities are to be done away with, through the meditation process.

11. Hoạt động của chúng được loại trừ qua tiến trình tham thiền.

12. Karma itself has its root in these five hindrances and must come to fruition in this life or in some later life. [116]

12. Chính nghiệp quả bắt rễ trong năm chướng ngại nói trên, và phải đơm hoa kết trái trong kiếp sống này hay một kiếp sau.

13. So long as the roots (or samskaras) exist, their fruition will be birth, life, and experiences resulting in pleasure or pain.

13. Ngày nào các căn (hay là samskara) vẫn còn tồn tại, thì quả của chúng sẽ là sự sinh ra, đời sống và các kinh nghiệm mang lại vui sướng hay đau khổ.

14. These seeds (or samskaras) produce pleasure or pain according as their originating cause was good or evil.

14. Các chủng tử (hoặc samskara) này tạo ra sự vui sướng hay đau khổ tùy theo nguyên nhân phát khởi của chúng là thiện hay ác.

15. To the illuminated man all existence (in the three worlds) is considered pain owing to the activities of the gunas. These activities are threefold, producing consequences, anxieties and subliminal impressions.

15. Đối với người đã khai ngộ, toàn bộ cuộc sống (trong tam giới) bị xem là đau khổ do tác động của các guna. Những tác động này có ba loại, tạo nên hậu quả, sự âu lo và những ấn tượng trong tiềm thức.

16. Pain which is yet to come may be warded off.

16. Có thể tránh được sự đau khổ chưa đến.

17. The illusion that the Perceiver and that which is perceived are one and the same is the cause (of the pain- producing effects) which must be warded off.

17. Phải phòng tránh ảo tưởng cho rằng Người nhận thức và điều được nhận thức là một và như nhau. Đó vốn là nguyên nhân (của những hậu quả gây đau khổ).

18. That which is perceived has three qualities, sattva, rajas and tamas (rhythm, mobility and inertia); it consists of the elements and the sense organs. The use of these produces experience and eventual liberation.

18. Cái được nhận thức có ba đặc tính, sattva, rajas và tamas (tiết điệu, năng động và trì trệ). Nó bao gồm các nguyên tố và các giác quan. Việc sử dụng những thứ này mang lại kinh nghiệm và sự giải thoát chung cuộc.

19. The divisions of the gunas (or qualities of matter) are fourfold; the specific, the non-specific, the indicated and the untouchable.

19. Các guna (hay các đặc tính của vật chất) được chia làm bốn loại: cái cụ thể, cái không cụ thể, cái được chỉ thị và cái không thể tiếp xúc.

20. The seer is pure knowledge (gnosis). Though pure, he looks upon the presented idea through the medium of the mind.

20. Người tri kiến là cái biết thuần khiết (tri thức tinh thần). Dù thuần khiết, y vẫn dùng thể trí để quán xét các ý tưởng xuất lộ.

21. All that is exists for the sake of the soul.

21. Cả vạn hữu là để dành cho linh hồn.

22. In the case of the man who has achieved yoga (or union) the objective universe has ceased to be. Yet it existeth still for those who are not yet free.

22. Đối với người đã thành đạt khoa yoga (hay hợp nhất) vũ trụ khách quan không còn nữa. Thế nhưng nó vẫn còn hiện hữu đối với những người chưa được tự do.

23. The association of the soul with the mind and thus with that which the mind perceives, produces an understanding of the nature of that which is perceived and likewise of the Perceiver.

23. Kết hợp linh hồn với thể trí và từ đó kết hợp với những gì mà [117] thể trí nhận thức được, giúp hành giả thấu hiểu thực chất của điều được nhận thức cũng như bản tính của Người nhận thức.

24. The cause of this association is ignorance or avidya. This has to be overcome.

24. Nguyên nhân của sự kết hợp nói trên là vô minh hay thiếu minh triết. Tình trạng này cần được khắc phục.

25. When ignorance is brought to an end through non- association with the things perceived, this is the great liberation.

25. Khi hành giả xóa tan vô minh vì không còn gắn bó với những điều mà y nhận thức, thì đó là đại giải thoát.

26. The state of bondage is overcome through perfectly maintained discrimination. [117]

26. Hành giả thoát khỏi tình trạng bị giam cầm, ràng buộc nhờ phân biện một cách thường xuyên và sáng suốt.

27. The knowledge (or illumination) achieved is seven-fold and is attained progressively.

27. Sự hiểu biết (hay giác ngộ) đạt được gồm bảy phần, và tăng tiến dần.

28. When the means to yoga have been steadily practised, and when impurity has been overcome, enlightenment takes place, leading up to full illumination.

28. Khi hành giả chuyên cần thực tập các phương tiện của Yoga, và đã xóa sạch những gì bất tịnh, y được khai ngộ và tiến đến trình độ hoàn toàn giác ngộ.

29. The eight means of yoga are, the Commandments or Yama, the Rules or Nijama, posture or Asana, right control of life-force or Pranayama, abstraction or Pratyahara, attention or Dharana, Meditation or Dhyana, Contemplation or Samadhi.

29. Tám phương tiện của yoga là: các Điều răn hay Yama, các Qui luật hay Nijama, tư thế hay Asana, kiểm soát sinh lực đúng cách hay Pranayama, trừu tượng hóa hay Pratyahara, chú tâm hay Dharana, tham thiền hay Dhyana, và chiêm ngưỡng hay Samadhi.

30. Harmlessness, truth to all beings, abstention from theft, from incontinence and from avarice, constitute yama or the five commandments.

30. Không gây tổn hại, chân thật với cả chúng sinh, không trộm cắp, không buông lung tình dục và không tham vọng, là yama hay năm giới răn.

81. Yama (or the five commandments) constitutes the universal duty and is irrespective of race, place, time or emergency.

31. Yama (hay năm giới răn) là bổn phận chung của mọi người, dù họ thuộc giống dân nào, đang ở đâu, vào thời gian hay tình trạng khẩn trương thế nào.

32. Internal and external purification, contentment, fiery aspiration, spiritual reading and devotion to Ishvara constitutes nijama (or the five rules).

32. Tinh luyện bên trong và bên ngoài, an vui, nguyện vọng bừng cháy, thấu hiểu tinh thần và sùng kính Ishvara là nijama (hay là năm qui luật).

33. When thoughts which are contrary to yoga are present there should be the cultivation of their opposite.

33. Khi có những tư tưởng trái với việc thực hành yoga, thì cần vun bồi những tư tưởng ngược lại.

34. Thoughts contrary to yoga are harmfulness, falsehood, theft, incontinence, and avarice, whether committed personally, caused to be committed or approved of, whether arising from avarice, anger or delusion (ignorance); whether slight in the doing, middling or great. These result always in excessive pain and ignorance. For this reason, the contrary thoughts must be cultivated.

34. Những tư tưởng trái với yoga là ý muốn gây tổn hại, sự giả dối, trộm cắp, buông lung tình dục, và tham vọng. Dù là đích thân [118] vi phạm, sai khiến hay thuận cho người khác vi phạm. Dù là phát sinh từ tính tham lam, giận dữ hay ảo tưởng (vô minh). Dù vi phạm nhẹ, vừa phải hay nặng. Các vi phạm này bao giờ cũng gây nên vô vàn đau khổ và sự vô minh. Vì thế, cần phải vun bồi những tư tưởng ngược lại.

35. In the presence of him who has perfected harmlessness, all enmity ceases.

35. Với sự hiện diện của người đã thực hiện vẹn toàn hạnh vô tổn hại, mọi sự thù ghét đều ngưng dứt.

36. When truth to all beings is perfected, the effectiveness of his words and acts is immediately to be seen.

36. Khi hành giả hoàn toàn chân thật với cả chúng sinh, thì hiệu quả lời nói và hành động của y lập tức được thấy rõ.

37. When abstention from theft is perfected, the yogi can have whatever he desires.

37. Khi đã hoàn toàn không trộm cắp, nhà yogi có thể có bất cứ điều gì y muốn.

38. By abstention from incontinence, energy is acquired.

38. Không buông lung tình dục, hành giả sẽ có được năng lượng.

39. When abstention from avarice is perfected, there comes an understanding of the law of rebirth. [118]

39. Khi hoàn toàn không tham vọng, hành giả thấu hiểu luật tái sinh.

40. Internal and external purification produces aversion for form, both one's own and all forms.

40. Tinh luyện bên trong và bên ngoài khiến hành giả chán ghét hình hài, sắc tướng, cả hình thể của mình và mọi hình thể khác.

41. Through purification comes also a quiet spirit, concentration, conquest of the organs, and ability to see the Self.

41. Nhờ tinh luyện mà tinh thần an tịnh, tập trung, chế ngự các cơ quan, và có khả năng thấy được Chân ngã.

42. As a result of contentment bliss is achieved.

42. Tâm an vui, hài mãn tựu thành chân phúc.

43. Through fiery aspiration and through the removal of all impurity, comes the perfecting of the bodily powers and of the senses.

43. Với nhiệt vọng bừng cháy và qua việc loại trừ mọi điều bất tịnh, năng lực của cơ thể và các giác quan trở nên hoàn hảo.

44. Spiritual reading results in a contact with the soul (or divine One).

44. Khả năng thấu hiểu tinh thần mang lại sự giao tiếp với linh hồn (hay là Chân ngã thiêng liêng).

45. Through devotion to Ishvara the goal of meditation (or samadhi) is reached.

45. Với lòng sùng kính Ishvara, hành giả đạt được mục tiêu của tham thiền (hay samadhi).

46. The posture assumed must be steady and easy.

46. Tư thế phải vững vàng và thoải mái.

47. Steadiness and ease of posture is to be achieved through persistent slight effort and through the concentration of the mind upon the infinite.

47. Có tư thế vững vàng và thoải mái nhờ cố gắng nhẹ nhàng nhưng kiên trì, và qua việc tập trung tâm trí vào cái vô cùng.

48. When this is attained, the pairs of opposites no longer limit.

48. Khi hành giả đạt được điều này, các cặp đối cực không còn hạn chế.

49. When right posture (asana) has been attained there follows right control of prana and proper inspiration and expiration of the breath.

49. Khi đã có tư thế đúng (asana), thì tiếp theo là kiểm soát prana đúng cách và hơi thở vào và ra được điều hòa.

50. Right control of prana (or the life currents) is external, internal or motionless; it is subject to place, time and number and is also protracted or brief.

50. Việc kiểm soát đúng prana (hay các dòng sinh lực) được thực hiện bên ngoài, bên trong hay bất động. Cố gắng này tùy theo địa điểm, thời gian và con số, cũng như kéo dài hay ngắn ngủi.

51. There is a fourth stage which transcends those dealing with the internal and external phases.

51. Có giai đoạn thứ tư vượt cao hơn các giai đoạn kiểm soát bên trong và bên ngoài.

52. Through this, that which obscures the light is gradually removed.

52. Qua cố gắng này, những gì che án ánh sáng dần dần bị loại bỏ.

53. And the mind is prepared for concentrated meditation.

53. Và cái trí nay sẵn sàng cho cố gắng tham thiền chuyên chú.

54. Abstraction (or Pratyahara) is the subjugation of the senses by the thinking principle and their withdrawal from that which has hitherto been their object.

54. Trừu tượng hóa (hay Pratyahara) là việc sử dụng nguyên khí tư duy để chế ngự các giác quan, và rút các giác quan ra khỏi những gì mà từ trước đến nay đã là đối tượng của chúng.

55. As a result of these means there follows the complete subjugation of the sense organs. [119]

55. Kết quả của sự thực hành các phương tiện nói trên là các giác quan được hoàn toàn chế ngự. [119] [120]

1. The yoga of action, leading to union with the soul is fiery aspiration, spiritual reading and devotion to Ishvara.

1. Yoga hành động, đưa đến sự hợp nhất với linh hồn là nhiệt vọng bừng cháy, thấu hiểu tinh thần và sùng kính Ishvara.

We must here bear in mind that we are beginning the book which outlines the practical part of the work, which gives the rules which must be followed if the aspirant hopes to achieve, and which indicates those methods which will bring about the realization of spiritual consciousness. The objective has been dealt with in Book I. The aspirant naturally says on concluding Book I, "how desirable and how right, but how shall this be? What must I do? Where shall I begin?"

Đến đây, chúng ta đang bắt đầu quyển kinh có phần phác thảo thực hành của Yoga Điển tắc. Phần này đưa ra những qui tắc cần được theo đúng nếu người chí nguyện muốn thành tựu, và chỉ ra một số phương pháp sẽ mang lại sự nhận biết tâm thức tinh thần. Quyển I đã bàn đến mục tiêu. Khi kết thúc Quyển I, đương nhiên người chí nguyện sẽ hỏi “thật là tốt đẹp và đúng đắn, nhưng làm thế nào thực hiện điều này? Tôi phải làm gì? Tôi sẽ bắt đầu từ đâu?”

Patanjali starts at the very beginning and in this second book he indicates:

Ngay từ đầu và trong quyển hai này, Patanjali nêu rõ:

1. The basic personality requirements,

1. Những yêu cầu cơ bản đối với phàm nhân,

2. The hindrances which can then be noted by the earnest disciple,

2. Những trở ngại mà sau đó người đệ tử nhiệt thành cần lưu ý,

3. The eight "means of yoga" or the eight kinds of activity which will bring about the needed results. [120]

3. Tám “phương tiện của yoga” hay là tám loại hoạt động sẽ mang lại các kết quả cần thiết.

The very simplicity of this outline makes its value exceedingly great; there is no confusion, no complex dissertations, but just a clear simple statement of the requirements.

Chính tính cách đơn giản của phần phác thảo này khiến nó trở nên hết sức giá trị. Không hề có sự nhầm lẫn, hay lý luận phức tạp, mà chỉ nói lên một cách minh bạch và giản dị những điều cần phải thực hành.

It might be of value here if we dealt with the various "yogas" so as to give to the student a clear concept as to their distinctions and thus cultivate his discrimination. The principal yogas are three in number, the various other so-called "yogas" finding their place in one of these three groups:

Ở đây, tưởng cũng nên bàn về các loại “yoga” khác nhau để cho người môn sinh cái khái niệm rõ ràng về những khác biệt và tăng thêm khả năng phân biện. Có ba loại yoga chính yếu, còn những loại khác được gọi là “yoga” thì thực ra là thuộc vào một trong ba nhóm đó:

1. Raja Yoga the yoga of the mind or will,

1. Raja Yoga... yoga của trí tuệ hay ý chí,

2. Bhakti Yoga the yoga of the heart or the devotee,

2. Bhakti Yoga... yoga của cái tâm hay của người sùng tín,

3. Karma Yoga the yoga of action.

3. Karma Yoga... yoga hành động.

Raja Yoga stands by itself and is the king science of them all; it is the summation of all the others, it is the climax and that which completes the work of development in the human kingdom. It is the science of the mind and of the purposeful will, and brings the higher of man's sheaths in the three worlds under the subjection of the Inner Ruler. This science coordinates the entire lower threefold man, forcing him into a position where he is nothing but the vehicle for the soul, or God within. It includes the other yogas and profits by their achievements. It synthesises the work of evolution and crowns man as king.

Raja Yoga có tính cách tự viên mãn và là khoa yoga ưu việt nhất trong ba nhóm vừa kể. Nó là tổng kết của tất cả các yoga kia, và là tột đỉnh hoàn tất công cuộc phát triển trong giới nhân loại. Nó là khoa học của trí tuệ và ý chí có chủ đích. Nó giúp Chân ngã Ngự trị ở Nội tâm chế phục được cái trí, là thể cao nhất trong ba hạ thể của con người. Khoa yoga này điều hợp trọn cả phàm nhân với ba hạ thể, khiến phàm nhân chỉ còn là vận cụ của linh hồn, hay Thượng Đế nội tâm. Nó bao gồm các yoga khác và thu thập những thành tựu của các yoga khác. Nó tổng hợp cuộc tiến hóa và giúp con người lên ngôi chúa tể.

Bhakti Yoga is the yoga of the heart; it is the bringing into submission of all the feelings, desires [121] and emotions, to the one beloved, seen and known in the heart. It is the sublimation of all the lower loves and the bringing captive of all longings and desire, to the one longing to know the God of love and the love of God.

Bhakti Yoga là yoga của cái tâm. Nó giúp cho toàn bộ xúc cảm, ham muốn [121] và tình cảm phục tùng đấng mà hành giả yêu thương, thấy và biết ở trong tâm. Đó là sự thăng hoa của tất cả các loại tình thương thấp kém, và gom toàn bộ các thèm khát và ham muốn vào niềm khao khát duy nhất là muốn biết được Đấng Thượng Đế bác ái và nguồn bác ái của Thượng Đế.

It was the "kingly" or crowning science of the last rootrace, the Atlantean, just as the science of Raja Yoga is the great science of our Aryan civilization. Bhakti Yoga made its exponent an arhat or led him to the fourth initiation. Raja Yoga makes him an adept and leads him to the portal of the fifth initiation. Both lead to liberation, for the arhat is released from the cycle of rebirth but Raja Yoga liberates him to complete service and freedom to work as a White Magician. Bhakti Yoga is the yoga of the heart, of the astral body.

Đó là khoa yoga “thù thắng” hay cao cả nhất của căn chủng trước, giống dân Atlantis. Cũng như Raja Yoga là khoa yoga ưu việt cho nền văn minh của giống dân Aryan hiện nay. Người thực hành Bhakti Yoga có thể đạt đến quả vị la- hán hay cuộc điểm đạo thứ tư. Trong khi đó, hành giả Raja Yoga có thể trở thành một bậc trọn lành và được điểm đạo lần thứ năm. Cả hai khoa yoga này đều đưa đến giải thoát. Vị la-hán thoát khỏi vòng luân hồi, sinh tử. Hành giả Raja Yoga được giải thoát để phụng sự trọn vẹn và hoạt động với tư cách Nhà huyền thuật Chánh đạo. Bhakti Yoga là yoga của cái tâm, hay thể cảm dục.

Karma Yoga has a specific relation to physical plane activity, and to the working out into objective manifestation of all the inner impulses. In its ancient and simplest form it was the yoga of the third or Lemurian root race and its two best known expressions are:

Karma Yoga trực tiếp liên quan đến hoạt động ở cõi trần, và sự biểu hiện của tất cả những thôi thúc ở bên trong. Dưới hình thức cổ xưa và đơn giản nhất, đó là yoga của căn chủng thứ ba, giống dân Lemuria, với hai dạng được biết đến nhiều nhất là:

a. Hatha Yoga,

a. Hatha Yoga, và

b. Laya Yoga.

b. Laya Yoga.

The former has specifically to do with the physical body, its conscious (not subconscious and automatic) functioning and all the various practices which give man control over the different organs and the entire mechanical apparatus of the physical body. The latter has to do with the etheric body, with the force centers or chakras [122] found in that body and with the distribution of force currents and the awakening of the serpent fire.

Hatha Yoga đặc biệt áp dụng cho thân xác, và hoạt động có ý thức (không thuộc tiềm thức và tự động) của thân xác. Những lối tập khác nhau của khoa này giúp hành giả kiểm soát được các cơ quan khác nhau và toàn cơ cấu của thân xác. Laya Yoga liên quan đến thể dĩ thái, đến các trung tâm lực hay luân xa [122] trong thể dĩ thái, sự phân bố các dòng sinh lực, và việc khơi dậy luồng hỏa xà.

It might be pointed out that if we divide the human torso into three departments it might be stated that:

Nếu chia thân người làm ba phần, thì có thể nói rằng:

1. Karma Yoga resulted in the awakening of the four centres below the diaphragm,

1. Karma Yoga giúp khơi hoạt bốn luân xa bên dưới cơ hoành,

2. Bhakti Yoga resulted in their transmutation and transference into the two centres above the diaphragm, yet in the torso, the heart and the throat.

2. Bhakti Yoga giúp siêu hóa và chuyển chúng vào luân xa tim và luân xa cổ họng, bên trên cơ hoành nhưng vẫn còn ở trong thân mình.

3. Raja Yoga synthesises all the forces of the body in the head and from there distributes and controls them.

3. Raja Yoga tổng hợp tất cả các mãnh lực của cơ thể bên trong luân xa đầu, và từ đó phân phối và kiểm soát chúng.

Raja Yoga, which Patanjali primarily deals with, includes the effects of all the others. It is only possible when the others have been worked with, but not in the sense of working with them in this life. Evolution has brought all the sons of men (who are ready to be chelas or disciples), through the various races, and whilst in the Lemurian race (or else on the preceding chain or greater cycle) they were all hatha and laya yogins. This resulted in the development and control of the dual physical body, dense and etheric.

Raja Yoga, chính yếu đã được Patanjali san định, vốn bao gồm hiệu quả của tất cả các loại yoga kia. Chỉ có thể thực hành Raja Yoga khi hành giả đã rèn luyện qua các loại yoga kia. Thế nhưng, không nhất thiết là phải thực tập chúng trong kiếp sống này. Dòng tiến hóa đã đưa tất cả những người con của nhân loại (những người sẵn sàng trở thành môn đồ hay đệ tử) đi qua những giống dân khác nhau. Và khi còn ở trong giống dân Lemuria (hay trong một giống dân khác trên dãy hành tinh trước hoặc một chu kỳ tiến hóa xa xưa) tất cả họ đều đã là hatha yogi và laya yogi. Kết quả là đã có sự phát triển và kiểm soát được thể hồng trần nhị phân, bao gồm thể xác và thể dĩ thái.

Whilst in the Atlantean race the desire or astral body was developed, and the flower of that race were true sons of bhakti yoga and true devotees. Now the highest of the three bodies must be brought to its fullest development and this Raja Yoga is intended to do and this is the object of Patanjali's work. The Aryan race will [123] contribute this fuller development to the general economy, and the entire human family (with the exception of a percentage which entered the race too late to permit of the full flowering of the soul) will manifest as Sons of God with all the powers of the God unfolded and consciously used on the physical plane and in the physical body. Patanjali says that three things will bring this about, coupled with the following of certain methods and rules, and these three are:

Trong thời kỳ giống dân Atlantis, thể dục vọng hay cảm dục đã phát triển và tinh hoa của giống dân đó là các bhakti yogi thuần thành và những người sùng tín đích thực. Hiện nay, thể cao nhất trong ba hạ thể phải được phát triển đến mức viên mãn. [123] Đây là điều mà Raja Yoga nhằm thực hiện, và đây là mục tiêu được đề ra trong tác phẩm của Patanjali. Giống dân Aryan sẽ đóng góp sự phát triển viên mãn này cho cuộc tiến hóa chung. Bấy giờ, toàn gia đình nhân loại (trừ một số phần trăm những người gia nhập giới nhân loại quá trễ nên linh hồn không thể bừng nở trọn vẹn) sẽ trở thành những người Con của Thượng Đế. Các quyền năng của Thượng Đế trong họ được khai mở và sử dụng hữu thức ở cõi trần và trong thể xác. Patanjali cho biết hành giả sẽ đạt đến trình độ này khi theo đúng một số phương pháp, qui tắc và ba điều sau đây:

1. Fiery aspiration, the domination of the physical man so that every atom of his body is afire with zeal and endeavor,

1. Nhiệt vọng bừng cháy, tức là sự chế ngự con người ở cõi trần đến mức mọi nguyên tử trong cơ thể của y đều bừng cháy với lòng nhiệt thành và nỗ lực,

2. Spiritual reading, which has reference to the capacity of the mental body to see back of a symbol or to touch the subject lying back of the object,

2. Thấu hiểu tinh thần, là khả năng của thể trí có thể nhìn xuyên qua một biểu tượng, hay thấu đến cái chủ thể ẩn trong đối tượng,

3. Devotion to Ishvara, which relates to the astral or emotional body, the whole heart poured out in love to God—God in his own heart, God in the heart of his brother, and God as seen in every form.

3. Sùng kính Ishvara, liên quan đến thể cảm dục hay thể tình cảm, có nghĩa là trọn cả tâm hồn trào dâng tình thương hướng về Thượng Đế − Thượng Đế trong tâm của hành giả, Thượng Đế trong tâm người huynh đệ của y, và Thượng Đế mà y thấy trong mọi hình hài, sắc tướng.

Fiery aspiration is the sublimation of karma yoga. Devotion to Ishvara is the sublimation of bhakti yoga, whilst spiritual reading is the first step to Raja Yoga.

Nhiệt vọng bừng cháy là sự thăng hoa của karma yoga. Sùng kính Ishvara là sự thăng hoa của bhakti yoga. Trong khi đó, thấu hiểu tinh thần là bước đầu trên con đường Raja Yoga.

"Devotion to Ishvara" is a large and general term covering the relation of the personal self to the higher self, the Ishvara or Christ principle in the heart. It covers also the relation of the individual Ishvara to the universal or cosmic Ishvara; it deals with the realization of the soul in man that it is an integral part of the Oversoul. This [124] results in group consciousness which is the objective of the kingly science.

“Sùng kính Ishvara” là thuật ngữ bao quát chỉ về mối liên hệ của phàm ngã với chân ngã, Ishvara hay nguyên khí Christ trong tâm. Thuật ngữ này cũng bao gồm mối liên hệ của Ishvara cá nhân với Ishvara đại đồng hay vũ trụ. [124] Đây là nhận thức của linh hồn trong mỗi người rằng mình là một thành phần của Đại hồn. Kết quả là tâm thức tập thể, vốn là mục tiêu của khoa yoga ưu việt này.

Devotion involves certain factors which it is valuable for the devotee to realize.

Lòng tôn sùng gồm có một số yếu tố mà người sùng tín cần nhận thức.

1. A capacity to decentralize oneself, to change one's attitude from self-centredness and selfishness to one of outgoing to the loved one. All things are counted as loss provided the object of one's devotion is attained.

1. Khả năng không còn tập trung vào chính mình, đổi thái độ xem mình là trung tâm và vị kỷ thành thái độ hướng đến Đấng mà hành giả yêu thương. Y không màng đến bất cứ điều gì khác ngoài đối tượng mà y sùng kính.

2. Obedience to the beloved object once that beloved is known. This has been called in some translations "complete obedience to the Master" and this is the true and accurate translation but in view of the fact that the word Master connotes (to the occult student) one of the adepts, we have chosen to translate the word as "Ishvara," the one God in the heart of man, the divine Jiva or "point of divine life" at the centre of man's being. This is the same in all men, whether savage or adept; the difference only lies in degree of manifestation and of control. Complete obedience to any guru or mahatma in the sense of complete subjugation of the will is never taught in the true science of yoga. Subjugation of the lower man to the will of the inner God is taught and all the methods and rules of yoga are to this specific end. This should be carefully borne in mind. "Spiritual reading" is the most significant and occult preliminary thereto.

2. Tuân phục Đấng yêu thương khi biết được Đấng ấy. một số bản dịch gọi điều này là “hoàn toàn tuân phục vị Chủ nhân (master).” Dịch như vậy là đúng và chính xác. Tuy nhiên, vì (đối với môn sinh huyền bí) từ master có hàm nghĩa là một trong những bậc trọn lành, nên chúng tôi chọn dịch từ này là “Ishvara,” Đấng Thượng Đế duy nhất trong tâm con người, vị Jiva thiêng liêng hay là “tâm điểm sự sống thiêng liêng” trong mỗi người. Sự sống thiêng liêng này như nhau dù ở trong người dã man hay một bậc trọn lành. Chỉ khác về mức độ biểu hiện và chế ngự. Khoa yoga đích thực không bao giờ dạy rằng chúng ta phải hoàn toàn phục tùng bất cứ vị tôn sư hay thánh sư nào, theo ý nghĩa tuân phục ý chí của vị đó. Nhưng khoa này lại giảng dạy rằng phàm nhân cần phải tuân phục ý chí của vị Thượng Đế nội tâm, và toàn bộ các phương pháp và qui tắc của yoga đều nhằm đạt mục đích đó. Đây là điều cần lưu ý. “Thấu hiểu tinh thần” là điều kiện sơ khởi và quan trọng nhất về mặt huyền môn để đạt mục đích kể trên.

Every form is the result of thought and of sound. Every form veils or conceals an idea or concept. Every form, therefore, is but the symbol or attempted representation of an idea and [125] this is true without exception on all the planes of our solar system, wherein forms are found whether created by God, man or deva.

Mọi hình thể đều là kết quả của tư tưởng và âm thanh. mọi hình thể đều chứa đựng hay che giấu một ý tưởng hay ý niệm. Vì thế, mọi hình thể đều chỉ là biểu tượng hay cố gắng trình bày một ý tưởng. [125] Điều này luôn luôn đúng trên mọi cảnh giới của thái dương hệ chúng ta, ở bất cứ nơi nào có hình tướng dù được tạo nên bởi Thượng Đế, con người hay một vị thần.

One object of a disciple's training is to enable him to ascertain that which lies back of any form in any kingdom of nature and thus ascertain the nature of the spiritual energy which brought it into being. The vastness of this cosmic symbolism will be apparent to even the most superficial thinker and the beginner upon the path of chelaship has to learn to separate the many forms into certain specific groups standing for certain basic ideas. He has to interpret the ideas lying back of specific symbols, and he has to look for the specific impulse latent in every form. He can begin practically to do this in the environment and in the place where he is. He can look for the idea which his brother's form veils; he can search for God behind the body of any and every man.

Một trong những mục tiêu của người đệ tử đang thụ huấn là nhằm có khả năng xác định được những gì ẩn trong bất cứ hình hài, sắc tướng nào thuộc bất cứ trường tiến hóa nào trong thiên nhiên. Nhờ đó, y xác định được năng lượng tinh thần đã sản sinh ra hình thể vừa kể. Tính biểu tượng vũ trụ này hiển nhiên là rộng lớn đến đỗi ngay cả một người có khả năng suy tư hời hợt nhất cho đến người bắt đầu đi trên đường đệ tử đều phải học cách phân chia những hình thể khác nhau thành những nhóm riêng biệt tiêu biểu cho những ý tưởng cơ bản nhất định. Y phải diễn giải các ý tưởng ẩn trong các biểu tượng đặc thù, và phải tìm kiếm cái xung lực cá biệt ẩn trong mọi hình thể. Y có thể bắt đầu thực hành điều này trong môi trường sống và ở nơi y đang sống. Y có thể tìm hiểu cái ý tưởng đang ẩn chứa trong hình thể của người huynh đệ. Y có thể tìm kiếm Thượng Đế ẩn trong hình thể của mọi người và bất cứ người nào.

Thus the sutra under consideration takes the aspirant into the most practical part of life; it brings him face to face with three basic enquiries and as he seeks to answer them aright, he will inevitably equip himself to tread the path. These three enquiries are:

Thế nên, câu kinh này giúp người chí nguyện đi vào phần thực tiễn nhất trong đời sống. Nó giúp y đối diện với ba câu hỏi cơ bản sau đây, và khi cố gắng tìm kiếm câu đáp đúng tất nhiên y tự trang bị để có thêm điều kiện tiến bước trên đường Đạo:

1. Towards what objective do all the longings and aspirations of my soul trend, towards God, or to things material?

1. Tất cả các khao khát và ước vọng trong tâm hồn tôi đang hướng đến mục tiêu nào, hướng đến Thượng Đế, hay những điều vật chất?

2. Am I bringing my entire lower nature under the control of Ishvara or the true spiritual man?

2. Có phải tôi đang đặt trọn cả phàm tính của mình dưới sự kiểm soát của Ishvara hay con người tinh thần đích thực?

3. Do I see God back of every form and circumstance in my daily contacts? [126]

3. Tôi có thấy Thượng Đế ẩn trong mọi hình thể và mọi trường hợp mà tôi tiếp xúc hằng ngày hay không? [126]

2. The aim of these three is to bring about soul vision and to eliminate obstructions.

2. Mục tiêu của ba điều nói trên là mang lại tầm nhìn của linh hồn và giải trừ chướng ngại.

It is interesting to note here that the words "soul vision" precede the thought of the eliminated hindrances or obstructions, showing that the vision is possible even to those who have not yet perfected themselves. The vision comes in those moments of exaltation and high aspiration to which most of the sons of men are susceptible and provides the incentive needed to produce that determination and perseverance which the elimination of the obstruction necessitates. The words "elimination of the obstructions" or the "alteration of the hindrances" (as it is sometimes translated), is a large and generic expression and Hindu commentators point out that it involves even the eradication of the seeds of those hindrances, and their total destruction as by fire; that just as a burnt, dried up seed is no longer capable of propagation and becomes unfertile, producing no growth, so the seeds of the obstructions to the life of the Spirit are similarly rendered unfertile. These seeds are found in three groups, each producing a large crop of hindrances or obstructions on the three planes of man's evolution—the seeds latent in the physical body, those producing the obstructions of the astral body, and the seeds latent in the mental body. They are of three kinds in each case, making literally nine types or kinds of seeds:

Ở đây cần lưu ý là các từ “tầm nhìn của linh hồn” được nói đến trước việc giải trừ các trở ngại hay chướng ngại. Điều đó cho thấy rằng những người chưa tự hoàn thiện vẫn khả dĩ có được tầm nhìn tinh thần. Hầu hết mọi người đều dễ có được tầm nhìn này trong những phút giây tâm hồn họ trào dâng nguyện vọng cao thượng. Tầm nhìn này cho họ sự khích lệ cần thiết khiến họ quyết tâm và kiên trì trong cố gắng giải trừ chướng ngại. Nhóm từ “giải trừ chướng ngại” hoặc đôi khi được dịch là “loại trừ trở ngại” là một lối nói bao quát. Các nhà luận giải Ấn giáo nêu rõ rằng nhóm từ này thậm chí còn có nghĩa là loại bỏ những mầm mống của các trở ngại nói trên và tận diệt chúng bằng lửa. Họ nói rằng cũng như hạt giống bị khô, cháy thì không thể nẩy mầm, sinh sản hay tăng trưởng, những mầm mống gây chướng ngại cho sự sống Tinh thần cũng bị vô hiệu hóa theo cách tương tự. Những mầm mống này gồm ba nhóm, mỗi nhóm gây nhiều trở ngại hay chướng ngại trên ba cảnh giới tiến hóa của nhân loại − những mầm mống tiềm ẩn trong thể xác; những mầm mống gây chướng ngại trong thể cảm dục; và những mầm mống ẩn tàng trong thể trí. Mỗi nhóm có ba loại, tức là tất cả có chín loại chủng tử:

1. Seeds brought over from previous lives,

1. Những chủng tử từ các tiền kiếp chuyển sang kiếp này,

2. Seeds sown in this life, [127]

2. Những chủng tử được gieo trồng trong kiếp này, [127]

3. Seeds brought into the field of one's life from the family or race with which one is allied.

3. Những chủng tử được đưa vào cuộc sống của một người từ gia đình hay chủng tộc mà y sinh ra trong đó.

It is these seeds which produce the obstructions or hindrances to soul vision and the free play of spiritual energy and Patanjali says they are of five kinds and proceeds to deal with them specifically. By some commentators the word is translated distractions, and all three terms are equally correct and any of them can be used. It may perhaps be pointed out that:

Chính các chủng tử nói trên gây chướng ngại hay trở ngại cho tầm nhìn của linh hồn và sự tác động tự do của năng lượng tinh thần. Patanjali còn nói thêm rằng có năm loại chủng tử như thế và bàn cụ thể về chúng ở phần sau. Một số nhà luận giải dịch từ này là nhiễu loạn và cả ba thuật ngữ này đều đúng và đều có thể dùng. Có lẽ nên nêu rõ rằng:

1. The word "obstruction" is more technically correct when applied to the physical plane,

1. Từ “trở ngại” đúng hơn về mặt kỹ thuật khi áp dụng cho cuộc sống ở cõi trần,

2. The word "hindrance" is more illuminating when applied to those things which, through the medium of the astral body, prevent soul vision,

2. Từ “chướng ngại” tỏ rõ hơn khi áp dụng cho những điều, qua trung gian của thể cảm dục, ngăn trở tầm nhìn của linh hồn,

3. The word "distraction" has more specific reference to the difficulties which assail the man who seeks to quiet the mind and so achieve soul vision.

3. Từ “nhiễu loạn” đề cập cụ thể hơn về những khó khăn đối với người cố gắng làm cho cái trí yên lặng để có được tầm nhìn của linh hồn.

3. These are the difficulty producing hindrances: + avidya (ignorance), and the sense of personality, desire, hate and the sense of attachment.

3. Sở dĩ có chướng ngại là do những nỗi khó khăn sau đây: vô minh (thiếu minh triết), ý thức phàm ngã, ham muốn, thù ghét và mê chấp.

These are the five wrong ideas or concepts which for aeons of time and throughout many lives, prevent the sons of men from realizing that they are sons of God. It is these concepts which lead men to identify themselves with that which is lower and material, and to forget the divine realities. It is these misconceptions which make a prodigal son of the divine Monad, and which send [128] him forth into the far country to eat of the husks of mortal existence. It is these which must be overcome and eliminated before a man can "lift up his eyes" and see again the vision of the Father and the Father's Home and so be enabled to tread consciously the Path of return.

Đây là năm ý tưởng hay ý niệm sai lầm, qua biết bao thời đại và xuyên suốt nhiều kiếp sống, đã khiến mọi người không nhận thức được rằng họ là con của Thượng Đế. Chính những ý niệm này đã khiến họ tự đồng hóa với những gì thấp kém và vật chất, mà quên mất những điều thực tế thiêng liêng. Chính những nhận thức sai lầm này khiến Chân thần thiêng liêng [128] trở thành người cùng tử, khiến y phải tha phương cầu thực với những thứ cặn bã trong vòng sinh tử, luân hồi. Cần phải giải trừ các nhận thức sai lầm này trước khi hành giả có thể “nâng cao tầm mắt”, phục hồi tri kiến về Đấng Cha lành và Nhà của Đấng Cha lành. Nhờ thế, y có thể tiến bước trên Con Đường phản bổn hoàn nguyên.

It might be pointed out that two of the hindrances, avidya and sense of personality, relate to man, the synthesis upon the physical plane, that desire has relation to his astral body or vehicle of feeling, and that hate and a sense of attachment are products of the sense of egoism (the ahamkara principle) which animate the mental body. Thus the threefold personality is the field for the seeds and in the soil of the personal life in the three worlds do these seeds propagate and flourish and grow up to obstruct and hinder the real man. These seeds must be destroyed, and in their destruction three things eventuate:

Có thể nói hai chướng ngại đầu, vô minh và ý thức phàm ngã, liên quan đến toàn cuộc sống của con người ở cõi trần; ham muốn liên quan đến thể cảm dục hay thể cảm xúc; và thù ghét và mê chấp là sản phẩm của ý thức vị kỷ (nguyên khí ahamkara) làm linh hoạt thể trí. Vì thế, ba hạ thể phàm nhân là nơi tác động của các chủng tử này. Trên mảnh đất của cuộc sống phàm nhân trong tam giới, chúng sinh sôi, nẩy nở và tăng trưởng đến mức gây chướng ngại và trở ngại cho chân nhân. Do đó, cần phải loại trừ các chủng tử kể trên, và khi loại trừ được sẽ mang lại ba điều sau đây:

1. Karma is worked off,

1. Nghiệp quả được trả sạch,

2. Liberation is achieved,

2. Hành giả được giải thoát,

3. The vision of the soul is perfected.

3. Tri kiến của linh hồn trở nên hoàn hảo.

4. Avidya (ignorance) is the cause of all the other obstructions, whether they be latent, in process of elimination, overcome, or in full operation.

4. Vô minh (thiếu minh triết) là nguyên nhân của tất cả các chướng ngại khác, dù chúng tiềm ẩn, đang được giải trừ, khắc phục, hay hoàn toàn chi phối.

The comprehensiveness of this sutra is the first thing which attracts one's attention. It carries one in thought to the root cause of all evil and in its reference to the obstructions covers all possible conditions of their being. This verse sums [129] up the condition of every man from the savage stage up through all intervening conditions to the state of arhatship, in which the final fetters of ignorance are cast off. It states that the reason evil exists, the reason selfishness and personal desires of any kind are evident, is found in the great basic condition which is the limitation of form itself, avidya or ignorance.

Điều đầu tiên cần lưu ý là tính cách toàn diện của câu kinh này. Nó cho thấy nguyên nhân cội rễ của mọi điều tà vạy, dẫn đến những chướng ngại bao gồm mọi tình trạng khả [129] dĩ xảy ra khi những chướng ngại đó còn tồn tại. Câu này tóm lược tình trạng của mọi người, từ giai đoạn dã man qua các điều kiện trung gian cho đến trình độ của vị la-hán, là khi những xiềng xích cuối cùng của vô minh được trút bỏ. Câu này nêu rõ rằng sở dĩ những điều tà vạy vẫn còn tồn tại, sở dĩ tính ích kỷ và dục vọng cá nhân vẫn còn nhan nhãn, vì chúng phát sinh từ điều kiện chung và cơ bản là sự hạn chế của chính hình thể, sự vô minh hay thiếu minh triết.

The aspirant is reminded right at the beginning of his investigations into the laws of spiritual unfoldment, that two factors must be taken into account which are based on the fact of manifestation itself:

Ngay từ bước đầu nghiên cứu các định luật khai mở tinh thần, người chí nguyện được nhắc nhở rằng y cần phải xem xét hai yếu tố vốn dựa vào chính cuộc biểu hiện:

1. The fact of the not-self towards which the divine points of spiritual life are attracted, and which in the period of evolution absorbs them,

1. Sự kiện thực tế về cái phi-ngã mà các điểm linh quang của sự sống tinh thần thiêng liêng được hấp dẫn đến, và thu hút các điểm linh quang ấy trong diễn trình tiến hóa,

2. The fact of the limitations which form-taking necessitates.

2. Sự kiện thực tế về những hạn chế tất phải có khi sự sống khoác lấy hình thể.

The above two factors must be recognized as true of the solar Logos, the planetary Logos, a man or an atom. Every form of divine life (the infinitesimally small and the infinitely great) veils or hides a fraction of spiritual energy. The result to the point of spiritual existence is necessarily a shutting in, a cutting off, and a circumscribing of itself, and only the contacts of existence itself and the struggle of the spiritual unit within the form can bring about, eventual release.

Cần nhận thức rằng hai yếu tố nói trên là đúng với vị thái dương Thượng Đế, hành tinh Thượng Đế, một con người hay một hạt nguyên tử. mọi hình thể của sự sống thiêng liêng (từ cái vô cùng nhỏ đến cái vô cùng lớn) đều hàm chứa hay có ẩn tàng một phần năng lượng tinh thần. Hậu quả tất yếu là điểm sống tinh thần ấy bị bưng bít, cô lập, và vây bọc. Vì thế, chỉ có những giao tiếp với chính đời sống và nỗ lực phấn đấu của đơn vị sống tinh thần bên trong hình thể mới mang lại sự giải thoát cuối cùng.

For the time being and during the process of incarnation, the veiled point of life remains in ignorance of that which lies outside of itself and progressively has to fight its way out to ever increasing freedom and liberty. [130]

Trong thời gian hiện nay và trong tiến trình nhập thế, điểm sống tinh thần vẫn chưa biết được những gì bên ngoài nó, và cứ mãi chiến đấu để ngày càng được khai phóng, tự do. [130]

First the sphere of its own form is the sole thing it is aware of and it remains in ignorance of all outside of itself. The contacts, brought about by desire, are the factors whereby ignorance works out into knowledge, and the man (for we will only consider the human unit in this connection, though the basic laws hold good for all forms of divine life) gradually becomes aware of himself as he is and conscious of his environment. As this environment is triple (physical, astral and mental) and as he has three vehicles whereby he can contact the three worlds, the period covered in this awakening is immense. The old commentary says in this connection:

Trước hết, nó chỉ biết có phạm vi hình thể của mình, và vẫn chưa biết đến tất cả những gì bên ngoài nó. Do ham muốn mà có sự tiếp xúc, nhờ đó mà vô minh biến thành hiểu biết. (Dù các định luật cơ bản vẫn đúng cho mọi hình thể, ở đây chúng ta sẽ chỉ xem xét về con người). Bấy giờ, con người dần dần hiểu được chính mình, và ý thức về môi trường chung quanh. Vì môi trường này có ba phần (cõi trần, cõi cảm dục và cõi trí) và vì y có ba hạ thể để nhờ đó mà tiếp xúc với tam giới vừa kể, nên giai đoạn khai mở ý thức này rất lâu dài. Cổ luận nói về giai đoạn này như sau:

"In the Hall of Ignorance the triple sheaths are known. The solar life at its densest point is contacted and man emerges fully human."

“Trong Phòng Vô minh, con người biết đến ba hạ thể của mình. Sự sống thái dương tiếp xúc với mức độ thô trược nhất, và con người phát triển đủ đầy nhân tính.”

Then the man becomes aware of something else, the group to which he belongs, and he does this through a finding of his own inner reality as latent in his personality. He learns that he, the human atom is a part of a group or centre in the body of a heavenly Man, a planetary Logos and that he must develop awareness of:

Sau đó y trở nên ý thức được một điều khác, là tập thể mà y thuộc vào đó. Y ý thức được nhờ tìm thấy thực tại tinh thần nội tâm ẩn tàng trong phàm nhân của mình. Y biết mình, nguyên tử con người, là thành phần của một tập thể hay trung tâm trong cơ thể của một vị Thiên nhân, một vị hành tinh Thượng Đế, và y phải phát triển ý thức về:

a. His group vibration,

a. Sự rung động của tập thể của mình,

b. His group purpose,

b. mục đích của tập thể của mình,

c. His group centre.

c. Trung tâm tập thể của mình.

This is the stage of the probationary path or the Path of Discipleship up to the third initiation, and the old commentary proceeds:

Đây là giai đoạn của con đường dự bị hay Con đường Đệ tử cho đến cuộc điểm đạo thứ ba. Cổ luận nói tiếp:

"Within the Hall of Learning, the central mystery is contacted. The method of release is seen, the law is well fulfilled, and man emerges well-nigh adept." [131]

“Trong Phòng Học tập, hành giả tiếp xúc với bí nhiệm trung tâm. Y thấy phương pháp giải thoát, hoàn toàn tuân thủ định luật, và đến gần trình độ toàn thông.” [131]

Finally, the man enters the Hall of Wisdom to which he was admitted occasionally (and with increasing frequency) after the first great initiation, and learns of the place his group holds in the planetary plan, catching a glimpse also of the cosmic scheme. Ignorance (as we understand the term) is, of course, negated, but it cannot be too frequently emphasized that there remains much unknown even to the adept, and that the Christ Himself, the great World Teacher, knows not all that is the content of the awareness of the King of the World. The Yoga Sutras of Patanjali only deal, however, with the overcoming of the ignorance which holds a man upon the wheel of rebirth and which prevents him unfolding the true powers of the soul. The old commentary says in connection with this final stage:

Cuối cùng, hành giả đi vào Phòng minh triết. Thỉnh thoảng y được phép vào đó (và ngày càng thường xuyên hơn) sau khi nhận cuộc điểm đạo lớn thứ nhất. Y biết vị trí của tập thể của mình trong kế hoạch hành tinh, và thoáng nhìn thấy một phần thiên cơ của vũ trụ. Vô minh (hiểu theo thuật ngữ thông thường) nay được giải tán. Thế nhưng, cần lưu ý rằng ngay đến một bậc gọi là toàn thông vẫn còn nhiều điều chưa biết. Chính Đức Christ, vị Huấn sư vĩ đại của Thế giới, vẫn chưa biết hết được những gì có trong ý thức của Đức Chúa tể Hoàn cầu. Tuy nhiên, bộ Yoga Điển tắc của Patanjali chỉ bàn đến việc giải tán chướng ngại vô minh vốn đang giam nhốt con người trong vòng luân hồi, khiến họ không thể khai mở được những quyền năng đích thực của linh hồn. Cổ luận nói về giai đoạn cuối này như sau:

"Within the Hall of Wisdom, light fully shines upon the adept's ways. He knows and sees the seventh part and visions all the rest. He is himself a septenate and from this Hall emerges God."

“Bên trong Phòng minh triết, ánh sáng chói rạng trên đường của vị toàn thông. Người biết và thấy phần thứ bảy và tri kiến tất cả những gì còn lại. Người chính là sự sống thất phân, và từ Phòng này trở thành Thượng Đế.”

5. Avidya is the condition of confusing the permanent, pure, blissful and the Self, with that which is impermanent, impure, painful and the not-self.

5. Vô minh là nhầm lẫn cái thường tồn, thanh tịnh, chân phúc và chân ngã, với những gì vô thường, bất tịnh, đau khổ và phi-ngã.

This condition of ignorance, or the "state of avidya" is characteristic of all those who as yet do not discriminate between the real and unreal, between death and immortality, and between light and darkness. It governs, therefore, life in the three worlds, for the correspondence between [132] avidya on the physical plane as experienced by man in incarnation is to be found on all planes. It is a limitation of Spirit itself and a necessary corollary of form-taking. The spiritual unit is born blind and senseless. It comes into form at the beginning of the ages and cycles of rebirth in a state of total unawareness. It has to become aware of that which is around it; to do this it has first to develop the senses whereby contact and awareness become possible. The method and process through which the human being has evolved five senses or avenues of approach to the not-self are well known and any standard physiological text book can supply the needed information. Three factors must be borne in mind in connection with the spiritual unit:

Sự vô minh, hay “tình trạng thiếu minh triết này” là đặc trưng của tất cả những người chưa phân biệt được giữa sự thực và điều giả trá, giữa sự chết và tính bất tử, giữa ánh sáng và bóng tối. [132] Vì thế, nó chi phối đời sống trong tam giới, do tình trạng thiếu minh triết của con người đang đầu thai ở cõi trần cũng có phần tương ứng trên các cảnh giới kia. Đó là sự hạn chế đối với chính Tinh thần, và là hệ quả tất yếu khi Tinh thần khoác lấy hình thể. Đơn vị sống tinh thần khi sinh ra vốn mù lòa và không cảm nhận được gì. Trong những thời kỳ đầu nhập vào hình thể và trong các chu kỳ đầu tái sinh, nó hoàn toàn không ý thức được điều gì. Nhưng nó phải làm thế nào để biết được những gì ở chung quanh mình. Để thực hiện điều này, trước hết nó phải phát triển các giác quan để có thể tiếp xúc và hiểu biết. Người ta đã biết rõ về phương pháp và quá trình mà con người phát triển ngũ quan tức là năm con đường tiếp cận cái phi-ngã. Bất cứ giáo trình chuẩn nào về tâm lý học cũng đều có thể cung cấp kiến thức cần thiết này. Ở đây, cần lưu ý ba yếu tố liên quan đến đơn vị sống tinh thần:

1. The senses have to be evolved,

1. Các giác quan cần được phát triển,

2. Their recognition and use must follow,

2. Sau đó phải nhận biết và sử dụng chúng,

3. A period succeeds wherein the spiritual man utilizes the senses in the fulfillment of his desire, and in so doing identifies himself with his apparatus of manifestation.

3. Kế đến là một thời kỳ mà con người tinh thần sử dụng các giác quan để đạt được những điều mình muốn. Và khi làm thế, y tự đồng hóa với cái khí cụ biểu hiện của mình.

He is doubly blind, for he is not only born blind and senseless but he is mentally blinded also, and does not see himself or things as they are but makes the mistake of regarding himself as the material form, and this he does for many cycles. He has no sense of values or of proportion but looks upon the transient, suffering, unclean, material, lower man (his three sheaths in their totality) as himself, the reality, He cannot dissociate himself from his forms. The senses are part of the forms; they are not the spiritual man, the [133] dweller in the form. They are part of the not-self and the medium of its contact with the planetary not-self.

Y bị mù lòa về hai phương diện, vì không những bị mù lòa và vô cảm khi sinh ra y cũng bị mù lòa về mặt trí năng. Y không thấy được thực tính của chính mình, hoặc thấy được thực chất của các sự vật. Y nhầm lẫn khi cho rằng mình là hình hài vật chất này, và cứ mãi nghĩ như thế qua nhiều kiếp sống. Y không hề có ý thức về giá trị hay tỉ lệ đúng. Dù vốn là thực tại tinh thần, y chỉ xem mình là phàm nhân (cả ba hạ thể của y) thuộc về vật chất, bất tịnh, có cuộc sống phù du và đang đau khổ. Y không thể tự tách khỏi các thể của mình. Các giác quan là một phần của các thể. [133] Chúng không phải là con người tinh thần, đang ẩn ngự trong các thể. Chúng là thành phần của cái phi-ngã, và là phương tiện để y tiếp xúc với cái phi-ngã của hành tinh.

Through discrimination and dispassion the self, who is permanent, pure, and blissful, can eventually dissociate itself from the not-self which is impermanent, impure, and full of pain. When this is not realized, the man is in a condition of avidya. When it is in process of accomplishment, the man is a follower of vidya or knowledge, a fourfold path. When the soul is known as it is and the not-self is relegated to its rightful place as a sheath, vehicle or implement, then knowledge itself is transcended and the knower stands alone. This is liberation and the goal.

Qua trí phân biện và hạnh vô dục, chân ngã − vốn thường tồn, thanh tịnh, và phúc lạc − rốt cuộc có thể tách mình ra khỏi cái phi-ngã, vốn vô thường, bất tịnh, và đầy đau khổ. Những ai chưa nhận thức được điều này thì vẫn còn trong tình trạng vô minh. Khi nhận thức này ngày càng viên mãn, hành giả càng đạt đến minh triết hay sự hiểu biết, trên bốn tầng cửa Đạo. Khi biết được chân tính của linh hồn, và thấy cái phi-ngã đúng ra chỉ là một lớp áo, một thể hay khí cụ, hành giả vượt cao hơn sự hiểu biết đó và trở nên tự tại. Đây là mục tiêu và chính là sự giải thoát.

6. The sense of personality is due to the identification of the knower with the instruments of knowledge.

6. Sở dĩ có ý thức của phàm nhân là do người tri thức tự đồng hóa với cái khí cụ dùng để hiểu biết.

This verse is the commentary upon the previous one. The student should remember that the knower, the spiritual man, has various instruments for contacting his environment and thus becoming increasingly aware:

Câu kinh này bổ sung cho câu trước. Người môn sinh cần lưu ý rằng người tri thức, là con người tinh thần, có những khí cụ khác nhau để giao tiếp với môi trường sống và nhờ đó mà ngày càng ý thức được:

1. His three sheaths or bodies which are his medium of contact on three planes:

1. Ba lớp áo hay ba hạ thể được dùng làm phương tiện cho y giao tiếp trong tam giới:

a. The physical body,

a. Thể xác,

b. The emotional or astral body,

b. Thể tình cảm hay cảm dục,

c. The mental body.

c. Thể trí.

2. On the physical plane he has his five senses, hearing, touch, sight, taste and smell. [134]

2. Ở cõi trần y có năm giác quan, nghe, xúc chạm, thấy, nếm và ngửi. [134]

3. The mind, the great sixth sense which has a triple use. As yet for the majority of men it has but one use:

3. Thể trí, giác quan thứ sáu, rất quan trọng và có ba công dụng. Cho đến nay, đa số mọi người chỉ biết đến một công dụng của nó:

Its first and commonest use is a gathering of the realized contacts together and their transmission as information to the ego or knower, much in the same way as the nervous system telegraphs to the brain the external contacts it makes. It is this use of the mind which produces primarily the sense of personality which begins to fade out as the other uses become possible.

Công dụng đầu tiên và thông thường nhất của thể trí là gom chung các giao tiếp đã nhận thức được và chuyển các thông tin này đến chân nhân hay người tri kiến. Cách này tương tự như việc hệ thần kinh truyền đến não bộ những tiếp xúc của nó với bên ngoài. Chính công dụng này của cái trí chủ yếu mang lại ý thức của phàm nhân, sẽ bắt đầu phai mờ khi con người có thể sử dụng các công năng kia.

A second use of the mind is the one which the first five means of yoga bring about—the power to transmit to the brain the thoughts, wishes and will of the ego or soul. This brings into the personal self on the physical plane a recognition of the reality and the sense of identification with the not-self becomes steadily less.

Công dụng thứ hai của thể trí là công năng mà năm phương tiện đầu của yoga mang lại − năng lực truyền đến não bộ các ý tưởng, ý muốn và ý chí của chân nhân hay linh hồn. Năng lực này giúp phàm ngã ở cõi trần nhận thức được thực tại, và ý hướng đồng hóa với cái phi-ngã ngày một giảm dần.

The third use of the mind is its use by the soul as an organ of vision whereby the realm of the soul itself is contacted and known. The final three means of yoga bring this about.

Công dụng thứ ba của thể trí là nó được linh hồn dùng làm cơ quan tri kiến để giao tiếp và biết được lĩnh vực của chính linh hồn. Ba phương tiện cuối của yoga mang lại điều này.

It should be emphasized that this is a most important fact to note. If the aspirant will regard the development and full use of the sixth sense as his immediate objective, and will bear in mind the three purposes for which it is intended, he will make rapid progress, the sense of personality will fade away and identification with the soul will ensue. This is one of the greatest of the fetters which hold the sons of men captive. It is here that the axe must be laid to the root of the tree. [135]

Đây là sự kiện quan trọng nhất cần lưu ý. Nếu người chí nguyện xem việc phát triển và sử dụng trọn vẹn giác quan thứ sáu là mục tiêu ngay trước mắt của mình, và ghi nhớ ba mục đích dành cho nó, thì y sẽ tiến bộ nhanh chóng. Bấy giờ, ý thức của phàm nhân sẽ mờ nhạt dần để nhường chỗ cho sự đồng nhất với linh hồn. Đây là một trong những xiềng xích nặng nề nhất giam nhốt những người con nhân loại. Đây chính là điểm phải giáng chiếc rìu vào để đánh bật cả gốc rễ của ý thức phàm nhân. [135]

7. Desire is attachment to objects of pleasure.

7. Ham muốn là bám chấp vào các đối tượng của lạc thú.

This is not a literal translation by any means but gives the basic idea so clearly that it is best to translate the sutra as above.

Ở đây hoàn toàn không dịch theo nghĩa đen, mà lại nêu cái ý tưởng cơ bản một cách hết sức rõ rệt. Vì thế, tốt nhất là nên dịch câu kinh này như trên.

These objects of pleasure cover all the attachments which a man forms from the savage state of infant humanity up to advanced degrees of discipleship; they cover desire for gross objects on the physical plane as well as attachment to those things, occupations and reactions which the emotions or intellectual pursuits will offer; they cover the whole gamut or range of sensuous experience from the response of the savage to warmth and a good meal to the rapture of the mystic. Desire is a generic term covering the outgoing tendency of spirit towards form life. It may mean the delight of a cannibal for that which he eats, the love of a man for his family, the appreciation of the artist for a beautiful painting, or the adoration of the devotee for Christ or his guru. It is all attachment in some degree or another, and the progress of the soul seems to be in this dispensation from one object of sense to another until that time comes when he is thrown back alone upon himself. He has exhausted all objects of attachment, and even his guru seems to have left him alone. Only one reality is left, that spiritual reality which is himself, and his desire then turns inward. It is no longer outgoing but he finds the kingdom of God within. All desire then leaves him. He makes contacts, and continues to manifest [136] and work upon the planes of illusion but he works from the centre where dwells his divine self, the sum total of all desire, and there is nothing to lure him forth into the byways of pleasure or of pain.

Các đối tượng của lạc thú nói trên bao gồm tất cả những bám chấp của con người từ tình trạng dã man của nhân loại còn ấu trĩ cho đến những trình độ cao trên đường đạo. Chúng bao gồm sự ham muốn các đối tượng thô kệch nhất ở cõi trần, cũng như sự bám chấp vào những điều, những mối bận tâm và phản ứng mà các tình cảm hay những hoạt động trí tuệ mang lại. Chúng bao gồm toàn bộ các cung bậc hay phạm vi khác nhau của kinh nghiệm giác quan, từ sự đáp ứng của người dã man với hơi ấm và bữa ăn ngon đến trạng thái xuất thần ngây ngất của nhà thần bí. Ham muốn là thuật ngữ chung bao gồm khuynh hướng của tinh thần hướng ngoại đến với cuộc sống hình thể. Nó cũng có thể là niềm vui thích của dân bộ lạc ăn thịt người đối với những gì mà họ ăn, tình thương của một người đối với gia đình mình, sự thán phục của họa sĩ đối với bức tranh đẹp, hoặc lòng sùng kính của người tôn thờ Đức Christ hoặc tôn sư của y. Tất cả đều là bám chấp với mức độ nào đó. Và sự tiến bộ của linh hồn dường như tùy theo việc rời bỏ hết đối tượng này của giác quan đến đối tượng khác, cho đến thời điểm y bị buộc phải tự nương tựa vào chính mình. Y đã kinh qua mọi đối tượng của bám chấp, và ngay cả sư phụ của y chừng như cũng đã rời bỏ y. Chỉ còn lại một điều thực tế cho thấy rằng y chính là sự sống tinh thần, và sự ước muốn của y bấy giờ mới quay vào bên trong. Nó không còn hướng ngoại vì y tìm thấy Thiên giới ở nội tâm. Nay y đã gột sạch mọi điều ham muốn. Y vẫn có những giao tiếp, tiếp tục biểu hiện và hoạt động trên những cảnh giới của ảo tưởng. [136] Thế nhưng, y làm việc từ trung tâm nơi mà chân ngã thiêng liêng của y an trú. Chân ngã này là tất cả những gì mà y ước vọng. Thế nên, không điều gì có thể cám dỗ y đi vào những đường quanh, ngõ tắt của lạc thú hay đau khổ.

8. Hate is aversion for any object of the senses.

8. Thù ghét là đố kỵ bất cứ đối tượng nào của giác quan.

This sutra is the reverse of the preceding one. The true yogi neither feels aversion or desire. He is balanced between these pairs of opposites. Hate causes separation, whereas love reveals the unity underlying all forms. Hate is the result of concentration upon form and of a forgetfulness of that which every form (in more or less degree) reveals; hate is the feeling of repulsion and leads to a withdrawal of the man from the object hated; hate is the reverse of brotherhood and therefore is the breaking of one of the basic laws of the solar system. Hate negates unity, causes barriers to be built and produces those causes which lead to crystallization, destruction and death. It is energy used to repudiate instead of to synthesize and therefore runs counter to the law of evolution.

Câu kinh này ngược lại với câu trước. Nhà yogi thực sự thì không hề cảm thấy thù ghét hay ham muốn. Y thăng bằng giữa các cặp đối cực. Thù ghét gây chia rẽ, trong khi tình thương làm hiển lộ tính duy nhất ẩn trong mọi hình thể. Thù ghét là kết quả của việc tập trung vào hình thể, và hoàn toàn quên mất cái mà mọi hình thể làm hiển lộ (ở mức độ nhiều hay ít). Thù ghét là xúc cảm ghê tởm khiến người đó rút lui khỏi đối tượng bị thù ghét. Thù ghét là điều trái ngược với tình huynh đệ, và vì thế mà vi phạm một trong những định luật cơ bản của thái dương hệ. Thù ghét phủ nhận tính duy nhất, khiến dựng nên những rào cản và tạo ra các nguyên nhân dẫn đến sự đông cứng, hủy diệt và tử vong. Đó là năng lượng được dùng để bác bỏ thay vì tổng hợp, và vì thế chống lại luật tiến hóa.

Hate is really the result of the sense of personality and of ignorance plus misapplied desire. It is almost the culmination of the other three. It was the sense of personality and of extreme ignorance coupled with desire for personal gain which produced hatred of Abel in the heart of Cain and caused the first murder, or the destruction of a brother's form. This should be carefully considered, [137] for hate in some degree, aversion to some extent, is present in every human heart. Only, however, when it is entirely overcome by love or the sense of unity will death, danger and fear pass out of the ken of the human family.

Thù ghét thực sự là kết quả của ý thức phàm nhân, của vô minh và ý muốn bị áp dụng sai. Nó hầu như là kết thúc của ba cái kia. Chính ý thức phàm nhân này và sự vô minh cực độ cùng với ý muốn thu đạt cá nhân đã tạo nên nỗi thù ghét Abel trong lòng Cain và gây ra vụ sát nhân đầu tiên, hay là sự hủy diệt hình hài của một người anh em. Cần xem xét kỹ điều này, vì một mức độ thù ghét nào đó, một mức độ đố kỵ nào đó, hiện đang có trong tâm mỗi người. [137] Tuy nhiên, khi nó được tình thương và ý thức hợp nhất hoàn toàn thắng phục thì bấy giờ gia đình nhân loại sẽ không còn biết đến sự chết, nguy hiểm và sợ hãi.

9. Intense desire for sentient existence is attachment. This is inherent in every form, is self-perpetuating, and known even to the very wise.

9. Mạnh mẽ ham muốn đời sống hữu tình là bám chấp. Điều này cố hữu trong mọi hình thể, có tính tự tồn, và ngay cả người rất khôn ngoan vẫn còn cảm biết nó.

This form of attachment is the basic cause of all manifestation. It is inherent in the relationship of the two great opposites, spirit and matter; it is the governing factor in logoic manifestation and this is the reason why even "the very wise" are subject to it. This form of attachment is an automatic self-reproducing, self-perpetuating faculty, and it should be remembered that the overcoming of this tendency, even when carried to its highest stage by the adept, is but a relative overcoming. As long as the Logos of our solar system, or the Absolute Spirit, incarnates through the medium of a solar system, this tendency will be present in the highest planetary Spirit and the most elevated spiritual existence. All that is possible in overcoming attachment, or killing out desire, is to develop the power to balance the pairs of opposites on any particular plane so that one is no longer held by the forms of that plane and withdrawal becomes possible. Very secondary meanings are given by the ordinary student to the words attachment, desire, and their killing out. They are interpreted in terms of the student's [138] small advancement. They are but English words which most inadequately and only symbolically seek to express an occult work. They can only be truly understood in terms of the law of Attraction and Repulsion and through an understanding of the system of occult vibrations.

Dạng bám chấp này là nguyên nhân cơ bản của toàn cuộc biểu hiện. Nó vốn có trong mối quan hệ của hai đối cực chính đại, là tinh thần và vật chất. Nó là yếu tố chi phối trong cuộc biểu hiện của Thượng Đế. Và đây là lý do tại sao mà ngay cả “người rất khôn ngoan” vẫn còn bị nó ảnh hưởng. Dạng bám chấp này là một loại năng lực tự động, tự sinh, tự tồn. Vì thế, cần nên nhớ rằng việc thắng phục khuynh hướng này, dù khi được đưa đến giai đoạn cao nhất của bậc toàn thiện, vẫn chỉ là sự thắng phục tương đối mà thôi. Ngày nào Đức Thượng Đế của thái dương hệ chúng ta, hay là Tinh thần Tuyệt đối, còn lâm phàm qua trung gian của một thái dương hệ, thì khuynh hướng này vẫn có trong vị hành tinh Thượng Đế cao cả nhất và trạng thái hiện tồn tinh thần cao siêu nhất. Tất cả những gì có thể làm trong cố gắng thắng phục sự bám chấp, hay tiêu diệt sự ham muốn, là phát triển năng lực làm cân bằng các cặp đối cực trên bất cứ cảnh giới nào. Nhờ đó hành giả không còn bị các hình thể của cảnh giới ấy cầm giữ và có thể thoát ra khỏi chúng. Người môn sinh bình thường đưa ra những ý nghĩa rất thứ yếu cho các từ bám chấp, ham muốn, và việc trừ diệt chúng. Họ giải thích các thuật ngữ này theo mức tiến bộ nhỏ hẹp của mình. [138] Đây chỉ là những từ tiếng Anh còn rất thiếu sót, và chỉ tìm cách phát biểu một tác phẩm huyền môn theo lối biểu tượng. Người ta chỉ có thể thực sự hiểu được các thuật ngữ này theo Luật Hấp dẫn và Đối kháng, cũng như nhờ thấu đáo hệ thống các rung động huyền linh.

The will to live or to manifest is part of the divine Life impulse, and therefore is right. The will to be or to manifest upon any specific plane or through any specific group of forms is not right when that sphere of manifestation is out-grown, and when any peculiar set of forms have served their purpose of providing media for experience-contacts and can teach no further lessons, evil enters in, for a tendency to evil is but a tendency to revert to the use of forms and practices which the Indweller has outgrown. For this reason, the gross animal sins are universally regarded as evil because it is generally recognized that the dweller in the form of man has outgrown the third or animal kingdom.

Ý chí sinh tồn hay ý muốn biểu hiện là thành phần trong sức thôi thúc của Sự Sống thiêng liêng. Thế nên, nó có tính đúng đắn. Ý chí sinh tồn hay biểu hiện trên một cảnh giới hoặc qua một nhóm hình thể nào đó không còn đúng nữa, khi Sự Sống thiêng liêng đã phát triển nhiều hơn phạm vi biểu hiện ấy, khi một số hình thể đặc thù đã phục vụ xong mục đích của chúng là làm phương tiện để giao tiếp-trải nghiệm, và không thể mang lại thêm bài học nào nữa. Bấy giờ điều tà vạy phát sinh. Bởi vì khuynh hướng tà vạy chẳng qua chỉ là cái khuynh hướng trở lại sử dụng những thể thức và cách thực hành mà Con người nội tâm đã vượt cao hơn trình độ đó. Vì lý do này, mà những tội lỗi mang thú tính thô bạo thường bị xem là điều ác vì mọi người đều thừa nhận chung rằng sự sống ngự trong hình hài con người đã tiến hóa cao hơn trình độ của giới thứ ba hay loài thú cầm.

An adept, therefore, has transcended attachment to forms on three planes (physical, astral and mental) and has killed out all longing for the forms of those planes. When the life or Spirit withdraws itself, the form dies, occultly. When the thought of the ego or higher self is occupied with its own plane, there is no energy outgoing towards the matter of the three worlds and so no form-building and form-attachment is there possible. This is in line with the occult truism that "energy follows thought," and in line too with the teaching that the body of the Christ principle, [139] (the buddhic vehicle) only begins to coordinate as the lower impulses fade out. It is consistent also with the fact that the causal vehicle, the body of the higher self on the abstract levels of the mental plane gains in beauty, size and activity with greater rapidity during the stages of discipleship than was previously possible in the entire cycle of previous incarnations. Egoic energy is not strictly outgoing, but is directed more literally to its own self-development. Attachment to form or the attraction of form for Spirit is the great involutionary impulse. Repulsion of form and consequent form disintegration is the great evolutionary urge.

Thế nên, bậc toàn thiện đã vượt khỏi sự bám chấp các hình hài, sắc tướng trong tam giới (cõi trần, cõi cảm dục và hạ trí) và đã hoàn toàn giải tán mọi sự khao khát các hình thể trên những cảnh giới đó. Hiểu theo nghĩa huyền môn, hình thể chết đi khi bị sự sống Tinh thần từ bỏ. Khi tư tưởng của chân nhân hay chân ngã tập trung vào cảnh giới của chính mình, thì không còn năng lượng phóng ngoại hướng đến vật chất của tam giới. Vì thế mà không khả dĩ có việc tạo nên hình thể hay bám chấp vào hình thể ở đó. Điều này phù hợp với chân lý hiển nhiên của huyền môn: “năng lượng đi theo tư tưởng.” Điều này cũng phù hợp với giáo huấn nói rằng thể của nguyên khí Christ (thể bồ-đề), [139] chỉ bắt đầu phối kết khi các xung lực thấp kém đã phai tàn. Điều này cũng nhất quán với sự kiện thực tế về thể nguyên nhân, thể của chân ngã trên các cấp trừu tượng của cõi trí. Thể này trở nên đẹp đẽ, nở lớn và linh hoạt một cách nhanh chóng trong các giai đoạn của con đường đệ tử, hơn là khả dĩ có được trong toàn cả chu kỳ của những kiếp sống trước đó. Năng lượng của chân nhân không hoàn toàn hướng ngoại, mà đúng ra là nhằm tự phát triển cho chính mình. Bám chấp vào hình thể hay là sự hấp dẫn của hình thể đối với Tinh thần là sức thôi thúc tiến hóa giáng hạ rất mạnh. Trong khi đó, sự từ bỏ hình thể khiến nó tan rã là lực tiến hóa thăng thượng vĩ đại.

10. These five hindrances, when subtly known, can be overcome by an opposing mental attitude.

10. Đây là năm chướng ngại mà, khi hiểu biết thấu đáo, hành giả có thể thắng phục với thái độ ngược lại trong trí tuệ.

The words "subtly known" could be paraphrased as "when realized by the inner man," and the thought back of the words has been well explained by Dvivedi in his Comment as follows:

Từ “hiểu biết thấu đáo” có thể nói cách khác là “được con người nội tâm nhận thức.” Ý tưởng ẩn trong các từ này đã được Dvivedi lý giải trong phần Bình luận của ông như sau:

"Having described the nature of 'distractions,' the author points out the way to suppress them. They are divided into two kinds, subtle and gross. The first are those which exist in a dormant condition in the form of impressions, whereas the second are those that are concretely affecting the mind. The first can be completely suppressed only by gaining mastery over the whole of their support, viz. the thinking principle." [140]

“Sau khi mô tả tính chất của ‘các nhiễu loạn’, tác giả chỉ cách chế phục chúng. Chúng được chia thành hai loại, tế vi và thô thiển. Loại thứ nhất hiện hữu trong tình trạng còn ngủ yên dưới dạng các ấn tượng. Trong khi loại thứ hai đang ảnh hưởng rõ rệt đến cái trí. Loại thứ nhất chỉ có thể được hoàn toàn chế ngự bằng cách chủ trị được trọn cả sức mạnh hỗ trợ cho chúng, tức là nguyên khí tư duy.” [140]

This is the first work of the aspirant to yoga. He must realize the nature of the obstacles and then set in to overcome them, doing the work from the mental plane. He has to gain control of the apparatus of thought; then he has to learn how to use that apparatus, and when this has been accomplished, he begins to offset the hindrances by counter currents. The hindrances themselves are the result of wrong habits of thought and the misuse of the thinking principle. When they are subtly known as the seeds which produce the "obstacle-producing forms," then they can be exterminated in the latent stages by right habits of thought resulting in the setting up of the liberty-producing means.

Đây là việc đầu tiên mà người chí nguyện thực hành yoga cần phải làm. Y phải nhận thức được tính chất của các trở ngại, rồi bắt đầu khắc phục chúng, làm điều này từ trên cõi trí. Y phải kiểm soát được cái khí cụ của tư tưởng. Rồi y phải học cách sử dụng nó. Khi đã biết cách sử dụng nó, y mới bắt đầu hóa giải các chướng ngại bằng những dòng tư tưởng ngược lại. Các chướng ngại này vốn là kết quả của những thói quen tư tưởng sai lầm và việc dùng sai cái nguyên khí tư duy. Khi chúng được thấu hiểu như những chủng tử tạo nên “các hình thể gây trở ngại”, thì có thể được loại bỏ trong các giai đoạn tiềm ẩn bằng thói quen suy nghĩ đúng. Kết quả là tạo phương tiện mang lại sự tự do.

Ignorance (avidya) must be supplanted by the true vidya or knowledge, and as is well-known, in this fourth race on this fourth globe and in the fourth round, the four vidyas and the four noble truths and the four basic elements form the sum total of this knowledge.

Phải tẩy sạch vô minh (avidya) bằng minh triết hay sự hiểu biết đúng thực. Sự hiểu biết vừa kể được biết rõ trong giống dân thứ tư hiện nay trên bầu hành tinh thứ tư này, trong cuộc tuần hoàn thứ tư. Toàn bộ sự biểu biết nói trên gồm bốn điều minh triết, bốn chân lý vi diệu và bốn nguyên tố cơ bản.

The four vidyas of the Hindu philosophy might be enumerated as follows:

Triết lý Ấn giáo có bốn điều minh triết sau đây:

1. Yajna Vidya.—The performance of religious rites in order to produce certain results. Ceremonial magic. Is concerned with sound, therefore with the Akasa or the ether of space. The "Yajna" is the invisible deity who pervades space.

1. Yajna vidya.− Cử hành các nghi thức tôn giáo để tạo ra một số kết quả. Huyền thuật nghi lễ. Có liên quan đến âm thanh, vì thế mà liên quan đến Akasa hay là chất dĩ thái của không gian. “Yajna” là vị thần vô hình thống ngự cả không gian.

2. Mahavidya.—The great magic knowledge. It has degenerated into Tantrika worship. Deals with the feminine aspect, or the matter (mother) aspect. The basis of black magic. True maha-yoga [141] has to do with the form (2nd aspect) and its adaptation to Spirit and its needs.

2. Mahavidya.− Sự hiểu biết khoa huyền thuật chánh đại. Khoa này đã bị thoái hóa thành sự thờ phụng theo Vạn pháp kỳ môn. Làm việc với trạng thái nữ, hay là phương diện vật chất (mẹ). Vì thế mà trở thành cơ sở của hắc thuật. maha-yoga chân chính [141] làm việc với hình thể (phương diện thứ 2) và làm cho hình thể thích ứng với Tinh thần và các nhu cầu của Tinh thần.

3. Guhya vidya.—The science of mantrams. The secret knowledge of mystic mantrams. The occult potency of sound, of the Word.

3. Guhya vidya.− Khoa học về các chân ngôn. Kiến thức bí ẩn về những câu chú thần bí. mãnh lực huyền bí của âm thanh, của Linh từ.

4. Atman vidya.—True spiritual wisdom.

4. Atman vidya.− minh triết tinh thần đích thực.

The four noble truths have been stated for us in the words of the Buddha in the following terms:

Bốn chân lý vi diệu đã được Đức Phật giảng dạy như sau:

"Now the Exalted One thus addressed the brethren:

“Bấy giờ Đức Thế tôn mới thuyết giảng với các đạo hữu:

'Through not understanding, through not penetrating the Four Aryan Truths, brethren, we have run on and wandered round this long, long journey (or rebirth), both you and I. What are those four?

‘Hỡi chư đạo hữu, vì không hiểu, vì không thấu đáo Bốn Chân lý của giống dân Aryan nên chúng ta, các ngươi và ta, đã giong ruổi và lang thang trong vòng luân hồi (tái sinh) dài dằng dặc này. Vậy bốn chân lý đó là gì?

The Aryan Truth of Ill: the Aryan Truth of the Arising of Ill: the Aryan Truth of the Ceasing of Ill: the Aryan Truth of the Way leading to the Ceasing of Ill.

Chân lý Aryan về Sự khổ: Chân lý Aryan về Phát sinh Sự khổ: Chân lý Aryan về Chấm dứt Sự khổ: Chân lý Aryan về Con Đường dẫn đến việc Chấm dứt Sự khổ.

But, brethren, when these Four Aryan Truths are understood and penetrated, then is uprooted the craving for existence, cut off is the thread that leadeth to rebirth, then is there no more coming to be.'

Thế nhưng, hỡi chư đạo hữu, khi hiểu và thấu đáo Bốn Chân lý Aryan này, các ngươi bèn nhổ sạch gốc rễ của nỗi khao khát hiện tồn, cắt đứt manh mối dẫn đến tái sinh, và không còn trở lại cõi đời này.’

Thus spake the Exalted One. When the Happy One had thus spoken, the Master added this further:

Đó là những điều Đức Thế tôn đã nói. Sau khi đã nói như thế, Đấng Phúc lạc, Đức Tôn sư lại nói thêm:

Blind to the Fourfold Aryan Truths of things,

Không thấy được Bốn Chân lý Aryan về sự vật,

And blind to see things as they really are,

Và không thấy được thực chất của chúng,

Long was our journeying thro' divers births.

Người ấy tất phải qua bao kiếp luân hồi.

Gone is the cord of life when these are seen.

Thấy chân lý, manh mối sự sinh không còn nữa,

No more becoming when Ill's root is cut."

Thôi sinh thành khi nhổ sạch cội rễ Khổ đau.”

The four elements have been stated for us in the following extract from the Secret Doctrine (I. 95):

Bốn nguyên tố được kể ra trong trích đoạn sau đây từ Giáo lý Bí nhiệm (I. 95):

"The Golden Egg was surrounded by seven natural Elements, four ready (ether, fire, air, water), three secret." [142]

“Quả trứng Vàng được bao bọc bởi bảy Nguyên tố thiên nhiên, bốn cái hiện hữu (dĩ thái, lửa, không khí, nước), ba cái kia còn bí mật.” [142]

11. Their activities are to be done away with through the meditation process.

11. Hoạt động của chúng được loại trừ qua tiến trình tham thiền.

The "opposing mental attitude" referred to in the previous sutra has distinct reference to the seeds or the latent tendencies as they subsist in the mental body and in the body of desire. This mental attitude has to become one of active mental meditation and one-pointed thought if the activities of the physical body are to be subjected to a like control. Much that we do is automatic and the result of long continued emotional and mental habits. Instinctively, from ancient practice and through subjection to a world of tangible forms, our physical plane activities are governed by the five hindrances. These have to be suppressed and the work of dealing with the latent seeds and with suppressing the external activities must proceed simultaneously. The steady opposition of the mental attitude deals with one; meditation which brings in the three factors of the thinker, the mind and the physical brain will take care of the other, and this must not be forgotten, otherwise theory will not become intelligent practice. This meditation process is dealt with in Book III and need not be enlarged upon here.

“Thái độ ngược lại của trí tuệ” đã nêu trong câu trước đặc biệt nói về các chủng tử hay những khuynh hướng tiềm ẩn, tồn tại trong thể trí và thể cảm dục. Thái độ này của trí tuệ phải trở thành một tâm thái thiền tích cực và tư tưởng chuyên chú. Nhờ đó mà các hoạt động của thể xác cũng được chế ngự tương tự. Hầu hết những gì chúng ta làm đều có tính tự động và là kết quả của những thói quen tiếp diễn lâu dài của tình cảm và thể trí. Về phương diện bản năng, từ những tập quán xa xưa và chịu ảnh hưởng trong thế giới của các thể hữu hình, hoạt động của chúng ta ở cõi trần bị chi phối bởi năm chướng ngại nói trên. Cần khắc phục chúng đồng thời với việc giải trừ các chủng tử tiềm ẩn và điều hòa các hoạt động bên ngoài. một mặt, cần thường xuyên có thái độ ngược lại trong trí tuệ. mặt khác, cần tham thiền để tạo sự phối hợp giữa ba yếu tố: người suy tưởng, thể trí và não bộ. Cần lưu ý điều này, nếu không thì lý thuyết sẽ không thể được thực hành một cách thông minh. Tiến trình tham thiền vừa kể sẽ được đề cập trong Quyển III, nên không cần bàn rộng ở đây.

12. Karma itself has its root in these five hindrances and must come to fruition in this life or in some later life.

12. Chính nghiệp quả bắt rễ trong năm chướng ngại nói trên, và phải đơm hoa kết trái trong kiếp sống này hay một kiếp sau.

Just as long as man on the physical plane is subject to, or governed by these hindrances, just [143] so long will he initiate those activities which will produce inevitable effects, and just so long will he be tied to the wheel of rebirth and be condemned to form-taking. The student should carefully note that these five hindrances are the cause of all the activities of the lower personality or the lower man. Everything he does is based on one or other of them and there is no action of the average man in the three worlds which is not the outcome of ignorance and its accompanying erroneous identifications and reactions.

Ngày nào con người ở cõi trần còn bị ảnh hưởng, hoặc chịu chi phối bởi các chướng ngại nói trên, ngày ấy y sẽ còn những hoạt động mang lại các hậu quả không thể tránh khỏi [143]. Và ngày ấy y vẫn bị trói buộc vào vòng tái sinh, và phải khoác lấy hình thể. Người môn sinh cần thận trọng lưu ý rằng năm chướng ngại nói trên là nguyên nhân của tất cả các hoạt động của phàm ngã hay phàm nhân. mọi điều người ấy làm đều dựa vào một trong các chướng ngại đó. Không hành động nào của một người bình thường trong tam giới này không là hậu quả của sự vô minh cùng với các đồng hóa và phản ứng sai lầm kèm theo.

As the hindrances are overcome and ignorance, the field of them all, is superseded by divine wisdom, there are fewer and fewer effects to work out on the physical plane, and the chains which link a man to the great wheel of physical manifestation are severed one by one. These chains are triple just as the field of ignorance is triple, being the three great planes of consciousness which are the field of human evolution. When the field of ignorance becomes the field of conscious experience and when the chains are felt to be fetters and limitations, the would be chela has made a tremendous step forward in the liberating process. When he can carry the struggle inward into what Ganganatha Jha calls "the unmanifested life" and which we frequently call "the subtler planes" he is entering the Hall of Learning and is severing those fetters which kama (or desire) and the wrong use of the mind have so subtly forged. Later he will enter the Hall of Wisdom and be taught certain esoteric and occult methods of hastening the liberating process. [144]

Khi các chướng ngại được thắng phục, và sự vô minh, là mảnh đất sản sinh tất cả các chướng ngại ấy, được thay thế bởi minh triết thiêng liêng, thì ngày càng ít hậu quả biểu lộ ở cõi trần. Bấy giờ, các xiềng xích trói buộc hành giả vào bánh xe luân hồi trở lại thế gian dần dần bị cắt đứt. Các xiềng xích này có ba loại, giống như vô minh cũng gồm ba phương diện, trên ba cảnh giới của tâm thức, nơi con người đang tiến hóa. Khi trường vô minh trở thành trường kinh nghiệm hữu thức, và khi cảm thấy các xiềng xích này gây trở ngại và hạn chế, thì bấy giờ người đệ tử tương lai đã tiến một bước dài hướng về tiến trình giải thoát. Khi y có thể tiến hành phấn đấu hướng nội, vào những gì mà Ganganatha Jha gọi là “sự sống không biểu hiện”, mà chúng ta thường gọi là “các cảnh giới tế vi”, tức là y đi vào Phòng Học tập. Bấy giờ y chặt đứt những xiềng xích mà kama (hay dục vọng) và việc sử dụng thể trí sai lạc đã tạo nên. Về sau, y sẽ đi vào Phòng minh triết và được truyền dạy một số phương pháp nội môn và huyền môn để đẩy nhanh tiến trình giải thoát. [144]

13. So long as the roots (or samkaras) exist, their fruition will be birth, life, and experiences resulting in pleasure or pain.

13. Ngày nào các căn (hay là samkara) vẫn còn tồn tại, thì quả của chúng sẽ là sự sinh ra, đời sống và các kinh nghiệm mang lại vui sướng hay đau khổ.

The predominant work of the occult student is the manipulation of force, and the entering of that world wherein forces are actively set in motion which result in phenomenal effects. He has to study and comprehend practically and intelligently the working of the law of Cause and Effect, and he leaves off dealing with effects and centres his attention on their producing causes. In relation to himself, he comes to realise that the primary cause of the phenomenon of his objective existence in the three worlds is the ego itself, and that the secondary causes are the aggregate of those fundamental egoic impulses which have led to the development of response to sense contacts on the three planes. These impulses have produced effects which (being under the law) must work out into objectivity on the physical plane. Therefore there is much importance attached to the necessity for establishing direct egoic contact, via the thread or sutratma, for only in this way can the aspirant ascertain the causes lying back of the present manifestations of his life, or begin to deal with the samkaras or seeds of his future activities. These seeds are kama-manasic (or partially emotional and partially mental) in nature, for desire is potent in its effects and produces the physical vehicle in its two aspects.

Công việc chính yếu của người môn sinh huyền bí là vận dụng các lực, và đi vào thế giới mà trong đó các lực được khơi động, tạo ra những hiệu ứng về mặt hiện tượng. Y phải nghiên cứu và thực tế thấu hiểu một cách thông minh sự vận hành của luật Nhân Quả. Y không còn lo xử lý các hậu quả mà tập trung chú ý vào những nguyên nhân đã tạo ra chúng. Về bản thân, y bắt đầu ý thức rằng nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng đời sống biểu hiện của y trong tam giới là chính chân ngã. Y cũng biết rằng nguyên nhân thứ yếu là toàn bộ các thôi thúc phát xuất từ chân ngã phát triển sự ứng đáp với các tiếp xúc của giác quan trong tam giới. Những sự thôi thúc vừa kể đã tạo ra các hiệu ứng (mà theo định luật) phải biểu hiện ở cõi trần. Vì thế, điều rất quan trọng là cần phải thiết lập sự liên giao trực tiếp với chân ngã, qua sinh mệnh tuyến hay sutratma. Vì chỉ bằng cách này, người chí nguyện mới có thể xác định được những nguyên nhân ẩn trong cuộc hiện tồn là kiếp sống của y hiện nay. Nhờ đó, y mới bắt đầu giải quyết các samkara hay những chủng tử mang lại các hoạt động của y trong tương lai. Những chủng tử này có tính chất kama-manas (hay là một phần thuộc về tình cảm và một phần của thể trí). Bởi dục vọng có những hiệu ứng rất mạnh mẽ và tạo ra thể hồng trần gồm hai phương diện.

a. Lower manas, or concrete mind is the basic factor in the production of the etheric body. [145]

a. Manas thấp, hạ trí, hay cái trí cụ thể là yếu tố căn bản tạo nên thể dĩ thái. [145]

b. Kama, or desire is the prime factor in calling the dense physical vehicle into being.

b. Kama, hay dục vọng là yếu tố chính khiến thể xác chào đời.

The two together are responsible for manifested existence.

Hai phương diện này mang lại cuộc sống biểu hiện.

It is well known that the tree of life is depicted with the roots above and the flowering leaves downwards. In the tiny tree of life of the ego the same symbolic presentation holds true. The roots are found on the mental plane. The flowering forth into objectivity and fruition is to be seen on the physical plane. Therefore it is necessary for the aspirant to lay the axe to the root of the tree, or to deal with the thoughts and desires which produce the physical body. He must enter the subjective realm if he wants to deal with that which will continue to keep him on the wheel of rebirth. When the seeds are eradicated, fruition is not possible. When the root is separated from its externalities on any of the three planes, then the life-energy no longer flows downwards. The three words birth, life and experience sum up human existence, its object, method and goal and with them we need not deal. The whole subject of karma (or the law of Cause and Effect) is dealt with in this sutra, and is of too vast a subject to be enlarged upon here. Suffice it to say that, from the standpoint of the Yoga Sutras, karma is of three kinds:

Người ta thường mô tả cội cây của đời sống có gốc rễ ở bên trên và lá cành hoa trái hướng xuống dưới. Cách trình bày biểu tượng này đúng với cội cây bé nhỏ của đời sống chân ngã. Gốc rễ của nó ở trên cõi trí. Nó đơm hoa, kết trái ra ngoại giới như được thấy ở cõi trần. Vì thế, người chí nguyện cần giáng lưỡi rìu vào gốc rễ của cây này. Nói cách khác, y cần giải quyết các tư tưởng và dục vọng vốn tạo ra thể hồng trần. Y phải đi vào lĩnh vực nội tại, nếu muốn giải quyết những gì sẽ tiếp tục giam nhốt mình trong vòng luân hồi. Khi chủng tử bị loại bỏ, thì quả không thể sinh. Khi gốc rễ bị tách rời khỏi các nhánh nhóc của nó ở bên ngoài trong tam giới, thì năng lượng sống không còn tuôn xuống dưới. Ba từ ‘sự sinh ra, đời sống và kinh nghiệm’ tóm lược về cuộc sống của con người, mục tiêu, phương pháp và chủ đích của nó, tất cả đều không cần phải bàn. Câu kinh này đề cập đến toàn bộ vấn đề nghiệp quả (hay luật Nhân Quả). Vấn đề này quá rộng lớn nên không thể bàn rộng ở đây. Nói chung, theo quan điểm của Yoga Điển tắc, có ba loại nghiệp quả:

1. Latent Karma. Those seeds and causes which are yet undeveloped and inactive and must work out to fruition in some part of the present or subsequent lives.

1. Nghiệp quả Tiềm ẩn. Các chủng tử và nguyên nhân còn chưa phát triển hay khởi hoạt và phải trở thành quả trong một giai đoạn của kiếp này hay kiếp sau.

2. Active Karma. Those seeds or causes [146] which are in process of fruition and for which the present life is intended to provide the needed soil for the flowering forth.

2. Nghiệp quả đang Tác động. Những chủng tử hoặc nguyên nhân đang trong tiến trình tạo quả. [146] Kiếp sống hiện tại là mảnh đất cần thiết cho chúng đơm hoa kết trái.

3. New Karma. Those seeds or causes which are being produced in this life, and which must inevitably govern the circumstances of some future life.

3. Nghiệp quả Mới. Những chủng tử hoặc nguyên nhân được tạo ra trong kiếp sống này. Chúng tất sẽ chi phối các hoàn cảnh trong một kiếp tương lai.

The beginner in this science of yoga can begin dealing with his active karma, interpreting each life-event and every circumstance as providing conditions wherein he can work off a certain specified series of effects. He can endeavor so to watch his thoughts that new seeds are not sown so that no future karma can be brought to fruition in some later life.

Người mới nhập môn khoa yoga này có thể bắt đầu giải quyết nghiệp quả đang tác động của mình. Y hiểu rằng mỗi tình huống trong đời và mọi hoàn cảnh đều có những điều kiện mà y có thể dùng để giải tỏa một số hậu quả nhất định. Y có thể cố gắng trông chừng tư tưởng của mình để không gieo thêm những chủng tử mới. Vì thế sẽ không có nghiệp quả tương lai hình thành trong một kiếp về sau.

The seeds of latent karma are more difficult for the neophyte to work with and it is here that his Master can help him—manipulating his circumstances and dealing with his surroundings in the three worlds in order that this type of karma may more quickly work out and be done with.

Các chủng tử của nghiệp quả tiềm ẩn thì khó giải quyết hơn đối với người tân môn sinh. Trong trường hợp này Chân sư có thể giúp y − vận dụng các hoàn cảnh của y và thu xếp cuộc sống chung quanh y trong tam giới. Nhờ thế mà loại nghiệp quả này có thể mau phát lộ và được giải trừ.

14. These seeds (or samskaras) produce pleasure or pain according as their originating cause was good or evil.

14. Các chủng tử (hoặc samskara) này tạo ra sự vui sướng hay đau khổ tùy theo nguyên nhân phát khởi của chúng là thiện hay ác.

It might be noted that good is that which relates to the one principle, to the reality indwelling all forms, to the Spirit of man as it reveals itself through the soul, and to the Father as He manifests through the Son. Evil relates to the form, to the vehicle, and to matter and really concerns the relation of the Son to his body of manifestation. If the Son of God (cosmic or human) is [147] limited, and imprisoned and blinded by his form, that is the power of evil over him. If he is aware of his own self, unfettered by forms, and free from the thralldom of matter that is the power of good. Complete freedom from matter causes bliss or pleasure—the joy of realisation. Evil causes pain, for just in so far as the Inner Ruler is limited by his body of manifestation just so far does he suffer.

Cần lưu ý rằng điều thiện liên quan đến cái nguyên khí duy nhất, là thực tại ẩn trong mọi hình thể. Nó liên quan đến Tinh thần của con người khi tinh thần ấy tự hiển lộ qua linh hồn. Tức là nó liên quan đến Đấng Cha lành khi Ngài biểu hiện qua Con của Ngài. [147] Trong khi đó điều ác liên quan đến hình thể, đến vận cụ và vật chất. Nó thực sự thuộc về mối liên hệ của Người Con với thể biểu hiện của mình. Nếu Người Con của Thượng Đế (ở cấp vũ trụ hay của con người) bị hình thể của mình giới hạn, giam nhốt và làm cho mù quáng, thì đó là quyền lực của điều ác đang chi phối y. Nếu y biết được chân ngã của chính mình, không hề bị các thể xiềng xích, và thoát khỏi ách nô lệ của vật chất, thì đó là quyền lực của điều thiện, hoàn toàn tự do đối với vật chất và mang lại chân phúc hay an lạc − niềm vui trong nhận thức. Điều ác gây đau khổ, vì chừng nào Đấng ngự trị ở Nội tâm còn bị hạn chế bởi thể biểu hiện của mình, thì chừng ấy y còn đau khổ.

15. To the illuminated man all existence (in the three worlds) is considered pain owing to the activities of the gunas. These activities are threefold, producing consequences, anxieties and subliminal impressions.

15. Đối với người đã khai ngộ, toàn bộ cuộc sống (trong tam giới) bị xem là đau khổ do tác động của các guna. Những tác động này có ba loại, tạo nên hậu quả, sự âu lo và những ấn tượng trong tiềm thức.

The three "gunas" are the three qualities of matter itself, sattva, raja and tamas, or rhythm, activity and inertia, and are inherent in all forms. The student needs to remember that every form on every plane is thus characterised, and this is true of the highest form as of the lowest, the manifestation of these qualities only differing in degree.

Ba “guna” chính là ba đặc tính của vật chất, sattva, rajas và tamas, hay là điều hòa, năng động và trì trệ. Chúng vốn có trong mọi hình hài sắc tướng. Cần lưu ý rằng mọi hình thể trên mọi cảnh giới đều có đặc trưng như thế. Điều này đúng với những hình thể cao cấp nhất cho đến loại thấp kém nhất. Sự biểu hiện của ba đặc tính nói trên chỉ khác biệt về mức độ.

To the man who is achieving perfection it becomes increasingly apparent how every form through which he, the divine spiritual man is manifesting, causes limitation and difficulty. The physical vehicle of the adept, though constructed of substance predominatingly sattvic in nature, equilibrised and rhythmic, yet serves to confine him to the world of physical endeavor and limits the powers of the true man. Speaking generally it might be said that: [148]

Đối với người đang tiến đến trình độ hoàn thiện, y ngày càng thấy rõ bằng cách nào mà mọi thể được y, với tư cách con người tinh thần, dùng để biểu hiện, lại gây hạn chế và khó khăn. Thể hồng trần của một bậc trọn lành vốn được cấu tạo bằng loại chất liệu chính yếu có tính điều hòa, thăng bằng và tiết điệu. Dù vậy, nó vẫn hạn chế vị này trong hoạt động ở cõi trần và giới hạn các quyền năng của chân nhân. Có thể nói chung là: [148]

1. The attribute of inertia (or tamas) characterises the lower personal self, the sheaths of the threefold lower man.

1. Thuộc tính trì trệ (hay tamas) là đặc trưng của phàm ngã thấp kém, và ba lớp áo của phàm nhân.

2. The attribute of activity is the prime characteristic of the soul, and it is this quality which causes the intense activity and constant labor of the man as he seeks experience and later, as he seeks to serve.

2. Thuộc tính năng động là đặc trưng chủ yếu của linh hồn. Chính đặc tính này giúp con người hoạt động tích cực và mãi mãi chịu khó nhọc trong khi tìm kiếm kinh nghiệm, và trong công cuộc phụng sự về sau.

3. The attribute of rhythm, or balance, is the quality of the spirit or monad and it is this tendency to perfection which is the cause of man's evolution in time and space and the factor which carries all life through all forms to the consummation. Let us bear in mind here, however, that these three qualities are the qualities of the substance through which the triple spirit is manifesting in this solar system. The nature of spirit itself we know not as yet, for we cannot think except in terms of form, however, transcendental those forms may be. Only those souls who have attained the highest initiation and can pass beyond our solar ring-pass-not know somewhat of the essential nature of that which we call spirit.

3. Thuộc tính tiết điệu, hay thăng bằng, là đặc tính của tinh thần hay chân thần. Đó là khuynh hướng đạt sự hoàn thiện, vốn là nguyên nhân cuộc tiến hóa của con người trong thời gian và không gian. Đó cũng là yếu tố đưa sự sống đi qua tất cả các hình hài sắc tướng đến mức thành tựu viên mãn. Tuy nhiên, ở đây cần lưu ý rằng ba đặc tính kể trên là những đặc tính của vật chất, qua đó tinh thần tam phân biểu hiện trong thái dương hệ này. Thực tính của chính tinh thần chúng ta vẫn còn chưa biết, vì chúng ta không thể suy nghĩ điều gì khác hơn ngoài phạm vi của hình tướng. Tuy nhiên, chúng ta có thể vượt cao hơn những hình tướng đó. Chỉ những linh hồn đã đạt cuộc điểm đạo cao nhất, và có thể vượt ra ngoài vòng hạn định của thái dương hệ chúng ta, mới biết được phần nào chân tính cốt yếu của sự sống mà chúng ta gọi là tinh thần.

Coming to the practical manifestation of the gunas in the three worlds (in relation to man) it can be noted that:

Nói về sự biểu hiện thực tế của các guna trong tam giới (liên quan đến con người), có thể lưu ý rằng:

1. The attribute of balance or rhythm distinguishes the mental vehicle. When the mental body is organized and man is being directed by his mind, his life becomes stabilised and organized also and the direction of his affairs proceeds in a balanced manner.

1. Thuộc tính thăng bằng hay tiết điệu là đặc điểm của thể trí. Khi thể trí được tổ chức và con người được trí tuệ của mình điều khiển, thì cuộc sống của người đó trở nên ổn định và có nề nếp. Các công việc của y cũng được điều hành một cách thăng bằng.

2. The quality of activity or mobility is the [149] characteristic of the emotional or astral nature and, when this is dominant the life is chaotic, violent, emotional and subjected to every mood and feeling. It is primarily the quality of the desire life.

2. Đặc tính năng động hay cơ động là đặc trưng của thể tình cảm hay cảm dục. [149] Khi đặc tính này chế ngự, đời sống bị xáo trộn, náo loạn, đầy cảm tính và bị chi phối bởi những cơn bốc đồng và xúc cảm. Đây chủ yếu là đặc tính của cuộc sống theo dục vọng.

3. Inertia is the quality dominating the physical body and the whole objective of the ego is to break down that inertia and drive its lowest vehicle into an activity which will bring about the desired ends. Hence the use and necessity for the guna of mobility and the full play of the emotional or desire nature in the earlier stages of endeavor.

3. Trì trệ là đặc tính chế ngự thể xác. mục tiêu của chân nhân là phá vỡ tình trạng trì trệ đó và thúc đẩy thể thấp nhất của mình hoạt động để mang lại những gì mong muốn. Vì thế, trong các giai đoạn cố gắng ban đầu, cần có guna cơ động và tác động đầy đủ của tính xúc cảm hay ham muốn.

Pain is the product of these form activities, for pain is the result of the inherent difference between the pairs of opposites, spirit and matter. Both the factors are "at peace" essentially until brought into conjunction and both resist each other and produce friction and suffering when united in time and space.

Đau khổ sản sinh từ những hoạt động nói trên của hình thể. Vì đau khổ là kết quả của sự khác biệt cố hữu giữa các cặp đối cực, tinh thần và vật chất. Cả hai yếu tố này đều cốt yếu là “bình ổn” cho đến khi được phối hợp lại với nhau. Bấy giờ, cả hai bèn đối kháng lẫn nhau, tạo nên sự ma sát và đau khổ khi được kết hợp trong thời gian và không gian.

Patanjali points out that this pain is comprehensive, covering past, present and future.

Patanjali nói rằng sự đau khổ này có tính toàn diện, bao gồm cả quá khứ, hiện tại và tương lai.

1. Consequences. Pain is brought about through the activity of the past and the working out of karma as it is expressed in the adjusting of mistakes, the paying of the price of error. The settling of past obligations and debts is ever a sorrowful process. Certain past eventualities necesitate present conditions both of heredity, environment and type of body, and the form, both of vehicle and group relations, is painful to the soul, who is confined thereby.

1. Các hậu quả. Đau khổ là do những hoạt động trong quá khứ, và là tác động của nghiệp quả khi nó được phát biểu để điều chỉnh điều lầm lỗi, và trả giá cho những gì sai quấy. Việc thanh toán những món nợ và trách vụ trong quá khứ bao giờ cũng là quá trình đau khổ. một số sự kiện trong quá khứ khiến có những tình trạng hiện nay cả về mặt di truyền, môi trường sống và trong thân xác. Vì thế, linh hồn bị giam hãm trong thân xác cảm thấy đau khổ do hình dạng của hiện thể này và các quan hệ với những người chung quanh.

2. Anxieties. This concerns the present and [150] is sometimes translated—apprehensions. If the student will study this term he will note that it covers not only the fear of evil in suffering, but also the fear of failure in the spiritual body in service. These equally cause pain and distress and parallel the awakening of the real man to a realisation of his heritage.

2. Âu lo. Âu lo liên quan đến thời gian hiện tại và đôi khi được gọi là ưu phiền. Khi nghiên cứu thuật ngữ này, người môn sinh sẽ thấy rằng nó không chỉ bao gồm nỗi sợ hãi điều ác trong khi đau khổ, mà còn bao gồm nỗi sợ thất bại ở nội tâm trong khi phụng sự. [150] Những nỗi lo sợ này gây khó khăn và đau khổ, đồng thời cũng giúp chân nhân ý thức được và nhận thức được di sản của mình.

3. Subliminal impressions, has relation to the future and concerns those forebodings as to death, suffering and need which dominate so many of the sons of men. It is the unknown and its possibilities that we fear both for ourselves and others, and this in its turn produces pain.

3. Những ấn tượng trong tiềm thức, có liên quan đến tương lai và những nỗi lo sợ về sự chết, đau khổ và nhu cầu, vốn chi phối quá nhiều người. Đây là những gì còn chưa biết và có khả năng xảy ra mà chúng ta lo sợ cả cho mình và những người khác, và chính điều này cũng lại gây đau khổ.

16. Pain which is yet to come may be warded off.

16. Có thể tránh được sự đau khổ chưa đến.

The Sanskrit words here give a twofold idea. They infer first of all that certain types of coming "misery" (as some translations give it) may be avoided by a right adjustment of a man's energies so that through his changed attitude of mind, painful reactions are no longer possible, and through the transmutation of his desires old "pains" are impossible. It infers secondly that life will be so lived in the present that no causes will be set in motion along the line of pain-producing effects. This dual inference will cause in the life of the yogi a dual discipline involving a set determination to practise non-attachment, and a steady discipline of the lower nature. This will bring about a mental activity of such a nature that old tendencies, longings and desires no longer [151] attract, and no activities are indulged in which can produce later karma, or results.

Những từ Bắc Phạn ở đây có hai ý nghĩa. Trước hết, chúng chỉ về một số loại “khốn khổ” sẽ đến (như một số bản đã dịch), có thể tránh được bằng cách điều chỉnh đúng các năng lượng của hành giả. Nhờ đó, khi y thay đổi thái độ trong trí, thì những phản ứng đau khổ không còn có thể xảy ra. Đồng thời, qua việc y siêu hóa dục vọng, “những nỗi đau khổ” xa xưa không thể tái diễn. Ý nghĩa thứ hai là trong kiếp sống hiện tại y sẽ sống thế nào để không phát động những nguyên nhân theo chiều hướng gây đau khổ. Hai ý nghĩa suy diễn nói trên sẽ khiến nhà yogi áp dụng hai loại giới luật, bao gồm quyết tâm thực hành hạnh buông xả, và liên tục chế ngự phàm tính. [151] Cố gắng này sẽ mang lại một hoạt động trong trí có tính cách sao cho những khuynh hướng, khao khát và ham muốn xưa cũ không còn hấp dẫn, và không hoạt động nào được dung dưỡng để tạo nghiệp, hay những kết quả về sau.

That which is past can only now be worked out, and that type of karma, bringing pain, sorrow and misery in its train must be allowed to follow out its course. Present karma, or that precipitation of effects which the ego plans to disperse in the present life-cycle must equally play its part in the emancipation of the soul. It is, however, possible for the spiritual man so to govern the lower man that the happenings of karma (or the effects as they work out into the physical objective world) may cause no pain or distress, as they will be seen and met by the non-attached yogi. Nor will further pain-producing causes be allowed to be set in motion.

Những gì thuộc về quá khứ chỉ có thể được biểu lộ trong hiện tại. Và loại nghiệp quả có mang những nỗi đau khổ, buồn rầu và khốn khổ phải được để cho đi theo đúng con đường của nó. Nghiệp quả hiện tại, hay sự tuôn đổ những hậu quả mà chân nhân dự định giải tán trong kiếp sống này cũng phải có vai trò khai phóng linh hồn. Tuy nhiên, con người tinh thần khả dĩ chế ngự phàm nhân đến mức sự xảy ra của nghiệp quả (hay là những hậu quả biểu hiện trong ngoại giới ở cõi trần) có thể không gây đau khổ hay ưu phiền. Lý do là vì nhà yogi nhìn ngắm và đón nhận chúng với thái độ không bám chấp. Và cũng không có những nguyên nhân nào khác gây đau khổ sẽ được phép phát động.

17. The illusion that the Perceiver and that which is perceived are one and the same, is the cause (of the pain-producing effects) which must be warded off.

17. Phải phòng tránh ảo tưởng cho rằng người nhận thức và điều được nhận thức là một và như nhau. Đó vốn là nguyên nhân (của những hậu quả gây đau khổ).

This sutra brings us right back to the great basic duality of manifestation, the union of spirit and matter. It is their interplay which produces all the form-producing modifications or activities on the various planes and which is the cause of the limitations which pure consciousness has imposed upon itself. In a small commentary such as this it is impossible to enter with any fullness into this subject. All that it is possible to do is to touch upon the subject as it affects man himself. It might be summed up as follows:—All pain and [152] sorrow is caused by the spiritual man identifying himself with his objective forms in the three worlds and with the realm of phenomena in which those forms have their activities. When he can detach himself from the kingdom of the senses and know himself as the "one who is not that which is seen and touched and heard" then he can free himself from all form-limitations and stand apart as the divine perceiver and actor. He will use forms as he desires in order to attain certain specific ends but is not deluded into regarding them as himself. Students would do well to learn to hold the consciousness that in the three worlds (which is all that concerns the aspirant at this stage) he is the highest factor in the well-known triplicities:

Câu này giúp chúng ta nhớ lại tính nhị nguyên cơ bản của cuộc biểu hiện, sự phối hợp của tinh thần và vật chất. Chính sự tương tác của hai yếu tố này mang lại toàn thể các biến thái hay hoạt động tạo nên hình thể trên những cảnh giới khác nhau. Và đó chính là nguyên nhân của những hạn chế mà tâm thức thuần khiết đã tự áp đặt cho chính mình. Trong một phần luận giải ngắn gọn như thế này, vấn đề vừa kể không thể được bàn đầy đủ hơn. Tất cả những gì có thể làm là nói về ảnh hưởng của vấn đề này đối với chính con người. Vì thế có thể tóm lược như sau: — Tất cả những nỗi đau thương và buồn khổ [152] là do con người tinh thần tự đồng hóa với các ngoại thể của mình trong tam giới, và đồng hóa với lĩnh vực hiện tượng mà các thể nói trên hoạt động trong đó. Khi y có thể tách mình ra khỏi lĩnh vực của các giác quan và tự biết mình là “người không phải là điều mình thấy, tiếp xúc và nghe thấy”, bấy giờ y có thể thoát khỏi tất cả các hạn chế của hình thể và đứng riêng biệt với tư cách người nhận thức và người hành động thiêng liêng. Y sẽ sử dụng các thể theo ý muốn để đạt những mục tiêu đã định, nhưng không hề bị lừa gạt để xem chúng là chính mình. Người môn sinh cần học biết cách giữ tâm thức thế nào để trong tam giới (là tất cả những gì liên quan đến y trong giai đoạn này) y là yếu tố cao nhất trong những bộ ba dưới đây:

The Perceiver

Perception

That which is perceived,

The Thinker

Thought

Thought forms,

The Knower

Knowledge

The field of knowledge,

The Seer

Sight

That which is seen,

The Observer

.Observation

That which is observed,

The Spectator

Vision

The Spectacle,

Người nhận thức......... Sự nhận thức............ Điều được nhận thức,

Người suy tưởng.......... Tư tưởng................... Hình tư tưởng,

Người tri thức.............. Sự hiểu biết.............. Phạm vi hiểu biết,

Người tri kiến.............. Sự thấy..................... Điều được thấy,

Người quan sát............ Sự quan sát.............. Điều được quan sát,

Người quán xét............ Tầm nhìn.................. Cảnh tượng,