THE PERSIONAL AURA
Dora van Gelder Kunz
This publication made possible with the assistance of the Kern Foundation
HÀO QUANG CON NGƯỜI
Dora van Gelder KunzẤn phẩm này được thực hiện với sự hỗ trợ của Quỹ Kern.
To Emily Sellon
in appreciation of our long friendship
and of her arduous work editing this book
Gửi Emily Sellon
với lòng trân trọng tình bạn lâu dài của chúng ta
và sự nỗ lực miệt mài của bà trong việc biên tập cuốn sách này.
MỤC LỤC
MỤC LỤC
Foreword—Lời Mở đầu
1 The Background of the Book— Bối cảnh của cuốn sách
I. The Structure and Dynamics of the Human Energy Fields
Cấu trúc và Động lực của các Trường Năng Lượng của Con người
2. Dimensions of Consciousness—Các Chiều kích của Tâm thức
3. The Emotional Field—Trường Cảm xúc
4. The Anatomy of the Aura— Giải phẫu Hào quang
II. The Cycle Of Life
Chu Kỳ của Đời Sống
5. The Development of the Individual—Sự Phát triển của Cá nhân
1. A Mother and Unborn Child— Một bà mẹ và đứa trẻ chưa sinh
2. A Seven-Months-Old Baby—Một đứa trẻ bảy tháng tuổi
3. A Four-Year-Old Girl—Một bé gái bốn tuổi
4. A Seven-Year-Old Boy— Một cậu bé bảy tuổi
5. An Adolescent Girl— Một thiếu nữ
6. An Artist in Her Thirties
7. A Man in His Forties
8. Old Age: A Woman in Her Nineties
6. The Dedicated Life—Một Cuộc đời cống hiến
9. A Pianist/Composer
10. A Concert Pianist
11. A Social/Environmental Activist
12. A Painter
13. A Designer/Architect— Nhà thiết kế/ Kiến trúc sư
14. A Youthful Idealist
15. Fifty-six years later
7. The Effects of Illness
15. The Results of Polio
16. A Child Born with Down’s Syndrome
17. An Acute Anxiety State
18. The Effects of Meditation upon a Chronic Heart Patient
III. Possibilities for Change and Growth
Các Khả Năng để Thay đổi và Tăng Trưởng
8. Healing and the Practice of Visualization
9. Changing Emotional Patterns
10. Meditation and the Growth of Intuition
Foreword—Lời Mở đầu
Renée Weber, Ph.D. Professor of Philosophy, Rutgers University
This book is a strangely ethereal and at the same time a completely practical, down-to-earth work, with vast philosophical implications. The ideas it presents can change our view of ourselves; they can enhance our understanding of our make-up, powers and influence, and hence of our responsibilities. Dora Kunz shows us to be linked in previously largely ignored ways to the universe and especially to other human beings, with whom we share influences that we do not suspect but that are spellbinding in their potential.
Cuốn sách này là một tác phẩm kỳ lạ, vừa mang tính chất huyền ảo vừa hoàn toàn thực tiễn và gắn liền với thực tế, với những hàm ý triết học sâu rộng. Những ý tưởng mà nó trình bày có thể thay đổi cách chúng ta nhìn nhận bản thân; chúng có thể nâng cao sự hiểu biết của chúng ta về cấu trúc, năng lực, và ảnh hưởng của chính mình, và do đó, về trách nhiệm của chúng ta. Dora Kunz chỉ ra rằng chúng ta được liên kết với vũ trụ và đặc biệt là với những con người khác theo những cách trước đây phần lớn bị bỏ qua, với những ảnh hưởng mà chúng ta không hề ngờ tới nhưng mang tiềm năng cuốn hút đáng kinh ngạc.
Dora Kunz’s book describes human beings as immersed in energy- fields, akin to those described by physics but in many ways different: subtler, qualitatively charged, and knowable in terms of characteristics which — though not quantifiable by current scientific methods — are specific enough to be described. To a philosopher, the viewpoint of this book is of immense interest. It bears on many of the questions on which we have been speculating since the time of Pythagoras and Plato in ancient Greece, questions which basically are still unsettled. To me this work is of particular interest because, in addition, it agrees remarkably with a number of claims of Indian philosophy, my area of specialization. Many of the ideas which Dora Kunz presents in modern and often clinical form can be mapped directly on to Hindu and Buddhist accounts of metaphysics, physiology, psychology, and ethics.
Cuốn sách của Dora Kunz mô tả con người như được hòa mình vào các trường năng lượng, tương tự như những gì được mô tả trong vật lý học nhưng khác biệt theo nhiều cách: tinh tế hơn, mang đặc tính định tính, và có thể được nhận biết thông qua các đặc điểm mặc dù không thể định lượng bằng các phương pháp khoa học hiện tại nhưng đủ cụ thể để được mô tả. Đối với một triết gia, quan điểm của cuốn sách này vô cùng thú vị. Nó liên quan đến nhiều câu hỏi mà chúng ta đã suy ngẫm từ thời Pythagoras và Plato ở Hy Lạp cổ đại, những câu hỏi về cơ bản vẫn chưa được giải quyết. Đối với tôi, công trình này đặc biệt hấp dẫn vì nó tương đồng đáng kể với nhiều luận điểm của triết học Ấn Độ, lĩnh vực chuyên môn của tôi. Nhiều ý tưởng mà Dora Kunz trình bày dưới hình thức hiện đại và thường mang tính lâm sàng có thể được liên kết trực tiếp với các quan điểm của Ấn Độ giáo và Phật giáo về siêu hình học, sinh lý học, tâm lý học, và đạo đức học.
Dora’s book raises many challenging questions. The most crucial of these is the problem of how we — who cannot directly confirm or disconfirm her material — should regard her work. Although this is a difficult issue, certain basic remarks suggest themselves in weighing the status of her claims.
Cuốn sách của Dora đặt ra nhiều câu hỏi thách thức. Quan trọng nhất trong số này là vấn đề về cách chúng ta — những người không thể trực tiếp xác nhận hay phủ nhận tài liệu của bà — nên nhìn nhận công trình của bà. Mặc dù đây là một vấn đề khó khăn, một số nhận định cơ bản có thể gợi ý cách đánh giá tính xác thực của những tuyên bố của bà.
First, anyone familiar with Indian philosophy will recognize that the fields Dora describes are consistent with the teachings of both Hindu and Buddhist thought. What we call field theory is central to Indian cosmology, metaphysics, ethics, and psychology — especially in yoga and meditation. Despite the important role which fields play in its theories, Indian philosophy fails to document these ideas adequately by Western criteria. Their existence is asserted and assumed, but without arguments to prove them. It is therefore philosophically important to find someone who approaches the subject empirically rather than theoretically.
Trước tiên, bất kỳ ai quen thuộc với triết học Ấn Độ sẽ nhận ra rằng các trường năng lượng mà Dora mô tả phù hợp với giáo lý của cả tư tưởng Ấn Độ giáo và Phật giáo. Điều mà chúng ta gọi là lý thuyết trường là trọng tâm của vũ trụ học, siêu hình học, đạo đức học, và tâm lý học Ấn Độ — đặc biệt trong yoga và tham thiền. Mặc dù các trường năng lượng đóng vai trò quan trọng trong các lý thuyết này, triết học Ấn Độ lại không ghi chép đầy đủ các ý tưởng này theo tiêu chuẩn của phương Tây. Sự tồn tại của chúng được khẳng định và mặc định, nhưng không có lập luận chứng minh. Do đó, việc tìm ra một người tiếp cận chủ đề này theo cách thực nghiệm thay vì lý thuyết mang ý nghĩa triết học quan trọng.
The Indian thinkers to whom these subtle fields were self-evident discovered them through meditative and yogic practices. Patanjali, for example, describes them in medical and psychological as well as spiritual terms. But their modern clinical applications by Dora open new vistas of their practical value for human life in our time. This is true even if they are treated as no more than fruitful hypotheses whose effects can be tested in our lives.
Những nhà tư tưởng Ấn Độ, đối với họ các trường năng lượng tinh tế này là điều hiển nhiên, đã khám phá chúng thông qua thực hành thiền định và yoga. Ví dụ, Patanjali mô tả chúng bằng các thuật ngữ y học và tâm lý học cũng như tâm linh. Nhưng các ứng dụng lâm sàng hiện đại của Dora mở ra những chân trời mới về giá trị thực tiễn của chúng đối với đời sống con người trong thời đại chúng ta. Điều này vẫn đúng ngay cả khi chúng chỉ được coi như những giả thuyết hữu ích, mà hiệu quả có thể được kiểm chứng trong cuộc sống của chúng ta.
In this brief Foreword, I can cite only a few concepts from Indian thought with which this book has similarities: the chakras; prana; subtle matter/energy systems; consciousness as the transformer of matter; the unity of all being; the idea of a universal field in which we are immersed (the Dharmakaya in Buddhism, Brahman in Hinduism); a spiritual universe without the need for a personal god; the validity of action-at-a-distance; the power of meditation; the role of space (or multidimensional space, akasha) in “registering” whatever happens in all dimensions, subtle or dense-material; a psychosomatic account of human functioning in both health and disease; the existence of clairvoyance and intuitive states of consciousness; karma (the law of universal causation); life after death and reincarnation.
Trong phần Lời nói đầu ngắn gọn này, tôi chỉ có thể trích dẫn một vài khái niệm từ tư tưởng Ấn Độ mà cuốn sách này có sự tương đồng: các luân xa; prana; hệ thống vật chất/năng lượng tinh tế; tâm thức như một yếu tố biến đổi vật chất; sự thống nhất của tất cả các tồn tại; ý tưởng về một trường phổ quát mà chúng ta đang hòa mình (Dharmakaya trong Phật giáo, Brahman trong Ấn Độ giáo); một vũ trụ tâm linh không cần đến một vị thần cá nhân; tính hợp lý của hành động từ xa; sức mạnh của tham thiền; vai trò của không gian (hoặc không gian đa chiều, akasha) trong việc "ghi nhận" bất cứ điều gì xảy ra trên mọi chiều, dù tinh tế hay đậm đặc-vật chất; cách tiếp cận tâm-thân về chức năng của con người trong cả sức khỏe và bệnh tật; sự tồn tại của thông nhãn và các trạng thái tâm thức trực giác; nghiệp quả (luật nhân quả phổ quát); đời sống sau cái chết và sự tái sinh.
Some of these concepts come up in specific ways in Dora’s descriptions of the energy fields (or auras) and in their illustrated form in the paintings. Of the many questions they give rise to, probably the most troublesome one is the free-will/determinism question that has plagued philosophers and theologians for millennia. Are the potentialities and “karmic indicators” that Dora perceives in the infant and young child evidence of determinism, however loosely construed? How does our freedom to work out these “tendencies,” (a freedom on which Dora insists) fit in with these “indicators”? Their presence entails our coming into the world with a certain character (or essence) and certainly not as the “blank tablets” that Locke, Skinner and contemporary behaviorists claim we are. These and other questions are philosophically crucial, and hence one looks with special interest at Dora’s case histories, where some follow-up work of an individual’s development over time is recorded.
Một số khái niệm này được đề cập theo những cách cụ thể trong các mô tả của Dora về các trường năng lượng (hoặc hào quang) và dưới hình thức minh họa trong các bức tranh. Trong số nhiều câu hỏi mà chúng khơi dậy, có lẽ câu hỏi gây rắc rối nhất là vấn đề tự do ý chí và thuyết định mệnh, một vấn đề đã làm khó các triết gia và thần học gia trong hàng thiên niên kỷ. Liệu những tiềm năng và "chỉ báo nghiệp quả" mà Dora nhận thấy ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có phải là bằng chứng của thuyết định mệnh, dù được hiểu theo cách lỏng lẻo nhất? Làm thế nào sự tự do để phát triển những "xu hướng" này (một sự tự do mà Dora nhấn mạnh) lại phù hợp với những "chỉ báo" đó? Sự hiện diện của chúng hàm ý rằng chúng ta đến với thế giới với một bản chất nhất định (hoặc cốt lõi), và chắc chắn không phải như những "tấm bảng trống" mà Locke, Skinner và các nhà hành vi học đương đại cho rằng chúng ta là. Những câu hỏi này và các vấn đề khác đều có ý nghĩa triết học quan trọng, và vì thế người ta đặc biệt quan tâm đến các hồ sơ trường hợp của Dora, nơi ghi lại một số công trình theo dõi sự phát triển của một cá nhân qua thời gian.
Second, the energy fields Dora works with have an equally striking coherence with those described by science. Dora’s observations fit the physicist David Bohm’s theory of an Implicate Order, with its assertion that matter ranges from the dense, visible and physical through various states of decreasing density (in the Implicate Order) to states of such subtlety that they can no longer be thought of as “matter” at all but rather as mind or consciousness. Like Dora, Bohm asserts that subtle matter powerfully influences dense matter, and — although there is always some reciprocity — that the subtle has more power, because more wholeness, than the dense. It is in that sense an asymmetrical relationship, giving consciousness or thought a primary role in our health and well-being. Bohm and Dora both believe in a universal energy in which everything partakes; and, independently, they describe it in similar terms: for Bohm its qualities are intelligence and compassion, for Dora, order and compassion.
Thứ hai, các trường năng lượng mà Dora làm việc cũng có sự tương đồng đáng chú ý với những gì khoa học mô tả. Các quan sát của Dora phù hợp với lý thuyết về Trật tự Ẩn của nhà vật lý David Bohm, với khẳng định rằng vật chất trải dài từ dạng đậm đặc, hữu hình và vật lý qua các trạng thái giảm dần về mật độ (trong Trật tự Ẩn) đến các trạng thái tinh tế đến mức không còn được coi là "vật chất" nữa, mà là tâm trí hoặc tâm thức. Giống như Dora, Bohm khẳng định rằng vật chất tinh tế có ảnh hưởng mạnh mẽ đến vật chất đậm đặc, và — mặc dù luôn có sự tương hỗ nhất định — rằng cái tinh tế có sức mạnh hơn vì mang tính toàn thể hơn cái đậm đặc. Theo nghĩa đó, đây là một mối quan hệ bất đối xứng, trao cho tâm thức hoặc tư tưởng một vai trò chủ đạo trong sức khỏe và sự an lành của chúng ta. Bohm và Dora đều tin vào một năng lượng phổ quát mà mọi thứ đều tham gia vào; và, một cách độc lập, họ mô tả nó bằng những thuật ngữ tương tự: đối với Bohm, các phẩm tính của nó là trí tuệ và lòng từ bi; đối với Dora, là trật tự và lòng từ bi.
Dora’s work and many of her assertions in this book also connect with physicist John Stewart Bell’s theory of non-locality. This work is highly technical, but here is its essence: quantum mechanics reveals that every particle of matter in the universe is somehow in touch with and influences every other particle, even if they are separated by vast distances. David Bohm goes even further, for he claims that just as each particle is a record of all that happens in the universe, so do we at some level of our being possess that information. How close this picture comes to what Dora describes in her book I leave to the reader to decide.
Công trình của Dora và nhiều luận điểm của bà trong cuốn sách này cũng có liên hệ với lý thuyết về tính phi địa phương của nhà vật lý John Stewart Bell. Lý thuyết này mang tính kỹ thuật cao, nhưng cốt lõi của nó như sau: cơ học lượng tử tiết lộ rằng mọi hạt vật chất trong vũ trụ bằng cách nào đó đều liên hệ và ảnh hưởng đến mọi hạt khác, ngay cả khi chúng cách nhau khoảng cách rất lớn. David Bohm thậm chí còn đi xa hơn, vì ông cho rằng cũng như mỗi hạt ghi lại tất cả những gì xảy ra trong vũ trụ, thì ở một cấp độ nào đó của bản thể, chúng ta cũng sở hữu thông tin đó. Mức độ tương đồng của bức tranh này với những gì Dora mô tả trong cuốn sách của bà, tôi để độc giả tự quyết định.
Third, even though we know the physical fields of science only through their effects, as lay people we accept their existence because we trust the experts, namely the physicists. I emphasize this because I know of no way — except by analogy — to establish the reality or even the plausibility of these immensely subtle energy fields which are said powerfully to influence our lives.
Thứ ba, mặc dù chúng ta chỉ biết về các trường vật lý của khoa học thông qua hiệu ứng của chúng, là những người bình thường, chúng ta chấp nhận sự tồn tại của chúng bởi vì chúng ta tin tưởng vào các chuyên gia, cụ thể là các nhà vật lý. Tôi nhấn mạnh điều này vì tôi không biết cách nào — ngoại trừ bằng phép tương tự — để thiết lập tính thực tế hoặc thậm chí là tính khả thi của những trường năng lượng vô cùng tinh tế này, được cho là có ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống của chúng ta.
For me, the idea of the human energy field must remain a hypothesis, however strong. For Dora it is a reality. She herself therefore becomes to a large extent the crucial factor in our assessment of her ideas. If one is interested in her work, one must —at least provisionally — trust her and her claim that these fields exist and that she is able to see and correctly interpret them.
Đối với tôi, ý tưởng về trường năng lượng con người phải vẫn là một giả thuyết, dù có mạnh mẽ đến đâu. Đối với Dora, đó là một thực tại. Chính vì thế, bản thân bà trở thành yếu tố then chốt trong việc đánh giá ý tưởng của bà. Nếu ai đó quan tâm đến công trình của bà, họ phải — ít nhất là tạm thời — tin tưởng bà và tuyên bố của bà rằng những trường năng lượng này tồn tại và rằng bà có thể nhìn thấy và diễn giải chúng một cách chính xác.
Several analogies come to mind: skilled radiologists can read and correctly interpret what they see, hence explain what is happening within the body; the particle physicist and astrophysicist both work in an inferential way on data that also require interpretation. There are of course differences, for radiology and physics are in the public domain, where peers can evaluate one another’s interpretations.
Nhiều phép so sánh xuất hiện trong tâm trí: các bác sĩ X-quang lành nghề có thể đọc và diễn giải chính xác những gì họ thấy, từ đó giải thích điều gì đang xảy ra bên trong cơ thể; các nhà vật lý hạt và vật lý thiên văn đều làm việc theo cách suy luận từ dữ liệu cần được diễn giải. Tất nhiên, có những khác biệt, vì X-quang và vật lý học nằm trong phạm vi công khai, nơi các đồng nghiệp có thể đánh giá các cách diễn giải của nhau.
Public observation of auras is more difficult. The number of people said to perceive the human energy fields is minute; those able to interpret them medically and psychologically probably minuscule. In this domain, therefore, attention shifts unavoidably to the ability and reliability of the observer and interpreter. Who is this Dora Kunz, who has begun to map the territory of the human psyche in a new way? Since so much depends on her skill, clarity and integrity, it is essential to say something about her. I have known Dora for many decades, but despite our long and close friendship, she remains in many ways a mystery. I can provide a glimpse of her, but it is merely one perspective, filtered through my own experience.
Quan sát hào quang trong công chúng khó khăn hơn nhiều. Số người được cho là có khả năng nhìn thấy các trường năng lượng của con người rất ít ỏi; số người có khả năng diễn giải chúng về mặt y học và tâm lý học có lẽ còn hiếm hoi hơn. Do đó, trong lĩnh vực này, sự chú ý không thể tránh khỏi chuyển sang khả năng và độ tin cậy của người quan sát và diễn giải. Vậy Dora Kunz là ai, người đã bắt đầu lập bản đồ lãnh thổ của tâm lý con người theo một cách mới? Vì rất nhiều điều phụ thuộc vào kỹ năng, sự minh bạch và chính trực của bà, điều cần thiết là nói đôi chút về bà. Tôi đã biết Dora nhiều thập kỷ, nhưng mặc dù tình bạn lâu dài và gần gũi, bà vẫn là một bí ẩn theo nhiều cách. Tôi chỉ có thể cung cấp một cái nhìn thoáng qua về bà, nhưng đó chỉ là một góc độ, được lọc qua kinh nghiệm của riêng tôi.
Equally at ease with scientists, medical practioners and lay people, Dora is an unusual combination of traits. Her reputation as a clairvoyant often makes people conjure up an otherworldly being who practices her arcane art in a rarified atmosphere, but Dora does not fit these clichés. For one thing, she has a family life. Dora’s forty-five year marriage to Fritz Kunz — a brilliant and intellectual man involved with mathematics, science, and philosophy — was exceptionally happy and lasted until his death in 1972. Her son, a Harvard graduate, is a computer consultant; her grandson, a Harvard mathematics graduate; her granddaughter, a recent graduate of Whitman College. Dora and her husband were devoted, sympathetic to one another’s (very different) work, and completely supportive of each other’s goals and activities. They were, each in a different way, powerful personalities.
Dora dễ dàng giao tiếp với các nhà khoa học, bác sĩ y khoa và cả những người bình thường, bà là sự kết hợp hiếm có của nhiều đặc điểm. Danh tiếng của bà như một người có khả năng thông nhãn thường khiến người khác hình dung về một nhân vật thần bí, thực hành nghệ thuật huyền bí của mình trong một không khí hiếm hoi, nhưng Dora không phù hợp với những định kiến đó. Một trong những điều nổi bật là bà có một cuộc sống gia đình. Cuộc hôn nhân kéo dài bốn mươi lăm năm của Dora với Fritz Kunz — một người xuất sắc và trí thức, hoạt động trong lĩnh vực toán học, khoa học và triết học — là một cuộc hôn nhân hạnh phúc phi thường và kéo dài cho đến khi ông qua đời năm 1972. Con trai của bà, tốt nghiệp Harvard, là một chuyên gia tư vấn máy tính; cháu trai của bà, tốt nghiệp toán học tại Harvard; cháu gái của bà, vừa tốt nghiệp Đại học Whitman. Dora và chồng rất tận tụy, thấu hiểu công việc (rất khác nhau) của nhau, và hoàn toàn ủng hộ mục tiêu cũng như hoạt động của nhau. Cả hai đều là những nhân cách mạnh mẽ theo những cách khác nhau.
Beyond these facts of Dora’s normal (as opposed to her paranormal) life, she has had and continues to have a wide circle of friends from all walks of life. She is no prima donna, and does not hesitate to perform ordinary, practical tasks such as cooking for a crowd, organizing conferences and schedules, buying supplies, working in the garden, and so on. It would not occur to her to think of these as beneath her.
Ngoài những sự thật về cuộc sống bình thường (trái ngược với cuộc sống phi thường) của Dora, bà có và tiếp tục duy trì một vòng bạn bè rộng lớn từ mọi tầng lớp xã hội. Bà không phải là một người kiêu kỳ, và không ngần ngại thực hiện các nhiệm vụ thường nhật và thực tế như nấu ăn cho một nhóm lớn, tổ chức hội nghị và lịch trình, mua sắm vật dụng, làm vườn, v.v. Bà không bao giờ nghĩ rằng những việc này là thấp kém.
It is sometimes assumed that those gifted with paranormal powers lack normal ones. This, of course, is not true. Dora is intelligent, quick and incisive in her judgment, practical, and well-read. Everyone who knows her comments on her seemingly boundless energy. Her interests range from medicine and psychology to world affairs and national politics, and she communicates easily with a wide variety of people. I have seen strangers warm to her within minutes. This empathy doubtless is due to her ability to “tune in on” people and reach them at a level of consciousness different from the one at which they habitually function. This must account for the fact that an “interview” with Dora leaves one with a sense that deep aspects of oneself have been understood, both by her and by oneself. An acquaintance of mine — a successful and experienced psychiatrist who had already been through an analysis — once consulted Dora when he was at a crossroad in his life. “In all my life I have never felt so profoundly understood by anyone,” he later told me. “I felt as if she could see right to the bottom of me. The nuances of her perception are without equal in my experience.” A complex, skeptical and critical man, he offered the opinion that, although he did not believe in clairvoyance, he believed that Dora was indeed clairvoyant.
Người ta đôi khi cho rằng những người có năng lực phi thường thiếu đi những năng lực bình thường. Điều này, tất nhiên, không đúng. Dora thông minh, nhanh nhẹn và sắc bén trong nhận định, thực tế và uyên bác. Ai từng biết bà đều nhận xét về nguồn năng lượng dường như vô tận của bà. Sở thích của bà trải dài từ y học và tâm lý học đến các vấn đề thế giới và chính trị quốc gia, và bà dễ dàng giao tiếp với nhiều người thuộc các tầng lớp khác nhau. Tôi đã thấy những người lạ nhanh chóng cảm mến bà chỉ trong vài phút. Sự đồng cảm này chắc chắn xuất phát từ khả năng “kết nối” với mọi người của bà và tiếp cận họ ở một mức độ tâm thức khác với mức độ mà họ thường xuyên hoạt động. Điều này giải thích tại sao một "cuộc phỏng vấn" với Dora thường khiến người ta có cảm giác rằng những khía cạnh sâu sắc trong bản thân đã được bà thấu hiểu, và bản thân người đó cũng nhận ra được chính mình. Một người quen của tôi — một bác sĩ tâm thần thành công và giàu kinh nghiệm, từng trải qua phân tích tâm lý — đã từng tham khảo ý kiến của Dora khi ông đứng trước ngã rẽ cuộc đời. “Trong suốt cuộc đời tôi, tôi chưa bao giờ cảm thấy được thấu hiểu sâu sắc đến vậy bởi bất kỳ ai,” ông nói với tôi sau đó. “Tôi cảm giác như bà ấy có thể nhìn thấu tận đáy con người tôi. Sự tinh tế trong nhận thức của bà ấy không ai sánh kịp trong kinh nghiệm của tôi.” Một người phức tạp, hoài nghi và phê phán, ông cho rằng, mặc dù ông không tin vào khả năng thông nhãn, nhưng ông tin rằng Dora thực sự sở hữu năng lực đó.
A second, even more important quality is Dora’s unshakable integrity, which makes people trust and open up to her. Her life has been shaped by compassion for suffering, and she has placed her gifts for both “seeing” and counseling freely at the disposal of anyone who calls upon her, without accepting any rewards. She is, in short, an altruist.
Một phẩm chất thứ hai, thậm chí quan trọng hơn, là sự chính trực không lay chuyển của Dora, điều khiến mọi người tin tưởng và cởi mở với bà. Cuộc đời bà được định hình bởi lòng từ bi đối với những nỗi đau khổ, và bà đã sử dụng năng khiếu “nhìn thấy” và tư vấn của mình một cách tự do để hỗ trợ bất kỳ ai tìm đến, mà không nhận bất kỳ phần thưởng nào. Nói ngắn gọn, bà là một người vị tha.
To understand her at all and hence to understand this book, one must keep in mind that since childhood, Dora seems to have regarded her abilities as a trust. These of course are my words, not hers, for Dora’s own attitude towards her gift is matter-of-fact and unsentimental. Nevertheless, one is struck by the fact that she never uses her clairvoyance in pursuit of the trivial, the frivolous, the sensational, for the sake of the curious, for personal gain, for power or control, or for any unethical reason. I dwell on this because her work entails such responsibility that the question of her motivation and integrity is critical.
Để hiểu bà, và từ đó hiểu được cuốn sách này, cần ghi nhớ rằng từ khi còn nhỏ, Dora dường như đã coi những khả năng của mình như một sự ủy thác. Dĩ nhiên, đây là những lời của tôi, không phải của bà, vì thái độ của Dora đối với năng khiếu của mình rất thực tế và không màu mè. Tuy nhiên, điều nổi bật là bà không bao giờ sử dụng khả năng thông nhãn của mình vào những việc tầm thường, phù phiếm, giật gân, để thỏa mãn sự tò mò, để trục lợi, để tìm kiếm quyền lực hay kiểm soát, hoặc vì bất kỳ lý do phi đạo đức nào. Tôi nhấn mạnh điều này vì công việc của bà đòi hỏi trách nhiệm lớn đến mức câu hỏi về động lực và sự chính trực của bà trở nên quan trọng.
Indispensable to a description of Dora’s personality is mention of her independence of mind, strong will, and self-confidence, as well as her bluntness, impatience with details (except in her work), and keen sense of humor. These were probably encouraged and honed by her father, who early in her life seems to have schooled her in the Socratic method — the best proving ground I know of for developing a tough-minded attitude toward ideas.
Không thể thiếu trong việc mô tả tính cách của Dora là đề cập đến sự độc lập trong tư duy, ý chí mạnh mẽ và sự tự tin của bà, cũng như sự thẳng thắn, thiếu kiên nhẫn với các chi tiết (trừ trong công việc của mình), và óc hài hước sắc bén. Những phẩm chất này có lẽ được khuyến khích và mài giũa bởi cha của bà, người dường như đã dạy bà phương pháp Socrates từ rất sớm — một nền tảng tốt nhất mà tôi biết để phát triển thái độ tư duy cứng rắn đối với các ý tưởng.
For example, Dora is not a proselytizer or missionary for her ideas. If anything, she bends backwards. Her detached and casual attitude regarding people’s view of her clairvoyance often results in a reticence that is irritating — if not maddening —to those who are genuinely interested in the kind of careful detail of which she is capable. I have seen a number of such encounters with individuals frustrated by Dora’s (to me) unaccountable decision to hold back. Although she has become more open in the last two decades, she still seems less at ease in describing her work to lay people than to nurses, doctors, and other health professionals, i.e., those capable of testing or applying her findings in their work. This reticence may account for the long interval between her research and the publication of this book. Her decision to publish it is therefore all the more welcome. Since the data of the book were gathered through Dora’s “interviews” with people, it may be appropriate here to state that these therapeutic sessions are one of her major altruistic contributions.
Ví dụ, Dora không phải là một người truyền giáo hay tuyên truyền cho các ý tưởng của mình. Nếu có, bà thường dè dặt đến mức cực đoan. Thái độ bình thản và không bận tâm của bà về cách mọi người nhìn nhận khả năng thông nhãn của mình thường dẫn đến một sự kín đáo mà những người thực sự quan tâm đến các chi tiết cẩn thận mà bà có thể cung cấp cảm thấy khó chịu — nếu không muốn nói là bực bội. Tôi đã chứng kiến một số cuộc gặp gỡ với những cá nhân thất vọng vì quyết định khó hiểu của Dora khi giữ kín thông tin. Mặc dù trong hai thập kỷ qua bà đã trở nên cởi mở hơn, nhưng bà dường như vẫn không thoải mái khi mô tả công việc của mình cho những người không chuyên bằng so với các y tá, bác sĩ và các chuyên gia y tế khác, tức là những người có khả năng kiểm chứng hoặc áp dụng các phát hiện của bà trong công việc của họ. Sự kín đáo này có thể giải thích cho khoảng thời gian dài giữa nghiên cứu của bà và việc xuất bản cuốn sách này. Vì vậy, quyết định xuất bản sách của bà càng đáng được chào đón. Vì dữ liệu trong cuốn sách được thu thập thông qua các "cuộc phỏng vấn" của Dora với mọi người, nên có lẽ phù hợp khi nói rằng những buổi trị liệu này là một trong những đóng góp vị tha lớn nhất của bà.
I know from my own experience as well as from the accounts of others that people come away from those interviews convinced that they can change. The anticipation of putting her various suggestions into practice, however at odds with one’s past behavior these may be, fills one with optimism, a sense that “I can do this, I can change.”
Từ kinh nghiệm bản thân cũng như qua lời kể của người khác, tôi biết rằng mọi người rời khỏi những buổi phỏng vấn đó với niềm tin rằng họ có thể thay đổi. Sự mong đợi được thực hiện các đề xuất khác nhau của bà — dù có khác biệt thế nào với hành vi trong quá khứ — đều mang lại sự lạc quan, cảm giác rằng “Tôi có thể làm được, tôi có thể thay đổi.”
The anticipation of personal renewal mirrors Dora’s deeply held belief that change is the law of life and that what we were last year matters less than what we make of ourselves today. This optimism may be one of her greatest gifts in working with people. During these interviews, one convincingly perceives the truth of what she says in her blunt and casual way, and one feels mobilized to act.
Sự mong đợi sự đổi mới cá nhân này phản ánh niềm tin sâu sắc của Dora rằng thay đổi là quy luật của cuộc sống và rằng những gì chúng ta là năm ngoái ít quan trọng hơn những gì chúng ta tự xây dựng cho chính mình hôm nay. Sự lạc quan này có thể là một trong những món quà lớn nhất của bà khi làm việc với con người. Trong những buổi phỏng vấn này, người ta nhận ra sự thật trong những gì bà nói theo cách thẳng thắn và giản dị, và cảm thấy được thúc đẩy để hành động.
This book makes clear that within everyone lie the potential insight, strength, and will for real change. Dora devotes considerable time and energy to convincing others of the fact that hanging on to the past is harmful and to helping them find a way to let it go. This attitude is consistent with the great spiritual traditions, which teach that living in the present is the key to the spiritual life and even — notably in Buddhism —to a sane and fully awake life.
Cuốn sách này làm rõ rằng bên trong mỗi người đều tồn tại tiềm năng về sự thấu hiểu, sức mạnh và ý chí để thực hiện những thay đổi thực sự. Dora dành nhiều thời gian và năng lượng để thuyết phục người khác rằng việc bám víu vào quá khứ là có hại và giúp họ tìm cách buông bỏ nó. Thái độ này phù hợp với các truyền thống tâm linh lớn, vốn dạy rằng sống trong hiện tại là chìa khóa cho đời sống tâm linh và thậm chí — đặc biệt trong Phật giáo — cho một cuộc sống tỉnh thức và lành mạnh.
Lastly, the reader is challenged to test the reality of these energy fields in practice. Field theory has direct application to our personal and societal lives. The mere effort to test it in daily life makes one more sensitive to subtle realities, convincing one that indeed we are powerfully affected by the emotions and moods of others. This understanding can bring greater clarity and insight into our emotional lives.
Cuối cùng, độc giả được khuyến khích kiểm chứng thực tế của các trường năng lượng này thông qua thực hành. Lý thuyết trường có ứng dụng trực tiếp vào đời sống cá nhân và xã hội của chúng ta. Chỉ riêng nỗ lực kiểm chứng nó trong đời sống hàng ngày cũng khiến con người trở nên nhạy cảm hơn với những thực tại tinh tế, giúp họ nhận ra rằng chúng ta thực sự bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi cảm xúc và tâm trạng của người khác. Sự hiểu biết này có thể mang lại sự rõ ràng và thấu hiểu hơn trong đời sống cảm xúc của chúng ta.
As we enter the twenty-first century, we are living with two distinct models of man and nature, both relevant to this book. One is the materialistic, reductionistic model, which tries to account for nature and ourselves on the analogy of a machine. Humans, in this account, are like sophisticated supercomputers interacting with other supercomputers. This view continues to be dominant —particularly in philosophy but also in psychology. Side by side with it — and gaining increasing adherence — is the holistic and integrative model. This amounts to a philosophical revolution, a paradigm shift that forges a new picture of ourselves and our universe in its account of matter, energy, life, consciousness, and the human spirit. It envisions the interconnectedness of all beings and postulates the existence of as yet uncharted, powerful forces in nature and humanity which we can learn to draw on for changing our lives. The many strands in the holistic model are unified by a common assumption which provides them with a coherent and plausible philosophical framework.
Khi bước vào thế kỷ XXI, chúng ta đang sống với hai mô hình riêng biệt về con người và thiên nhiên, cả hai đều có liên quan đến cuốn sách này. Một là mô hình duy vật và giản lược, cố gắng giải thích thiên nhiên và con người theo sự tương đồng với một cỗ máy. Theo quan điểm này, con người giống như những siêu máy tính tinh vi tương tác với các siêu máy tính khác. Quan điểm này tiếp tục chiếm ưu thế — đặc biệt trong triết học nhưng cũng trong tâm lý học. Song song với nó — và ngày càng nhận được sự ủng hộ — là mô hình toàn diện và tích hợp. Điều này tương đương với một cuộc cách mạng triết học, một sự thay đổi mô hình hình thành nên một bức tranh mới về chính chúng ta và vũ trụ của chúng ta, khi giải thích về vật chất, năng lượng, sự sống, tâm thức và tinh thần con người. Nó hình dung sự kết nối của tất cả các tồn tại và giả định sự tồn tại của các lực mạnh mẽ trong tự nhiên và con người, vốn chưa được khám phá, mà chúng ta có thể học cách khai thác để thay đổi cuộc sống của mình. Nhiều yếu tố trong mô hình toàn diện được thống nhất bởi một giả định chung, cung cấp cho chúng một khuôn khổ triết học mạch lạc và đáng tin cậy.
In the holistic view, the universe is a living, dynamic, and orderly realm suffused with consciousness. It postulates the subtle states of matter already referred to, which are more properly the domain of psychology and consciousness. They deal with inward states that lie in dimensions not accessible to the ordinary mind. These — analogous to the multidimensional space of mathematicians and cosmologists— share a basic feature. All assert that certain aspects of reality cannot be understood within our old assumptions and classical frameworks.
Theo quan điểm toàn diện, vũ trụ là một cõi sống động, năng động và trật tự, được thấm nhuần bởi tâm thức. Nó giả định các trạng thái tinh tế của vật chất đã được đề cập trước đó, vốn thuộc lĩnh vực tâm lý học và tâm thức. Chúng xử lý các trạng thái nội tại nằm trong các chiều kích không thể tiếp cận bằng tâm trí thông thường. Những trạng thái này — tương tự như không gian đa chiều của các nhà toán học và vũ trụ học — chia sẻ một đặc điểm cơ bản. Tất cả đều khẳng định rằng một số khía cạnh của thực tại không thể được hiểu trong các giả định và khuôn khổ cổ điển cũ của chúng ta.
Since the subtler dimensions of consciousness are inaccessible to the senses, they cannot be proven by physical means. However, the reality of multidimensional space is a postulate that underlies most of the concepts presented here, including meditation, healing, and the very real effect of our thoughts and feelings upon others. Even a conservative assessment must conclude that this new view of reality ranges from a fruitful working principle to a promissory note for the future. It is, in fact, an already-in-progress paradigm that encourages serious research. (A case in point is the status of therapeutic touch, an offspring of this worldview that is widely used by the nursing profession.)
Vì các chiều kích tinh tế hơn của tâm thức không thể tiếp cận bằng giác quan, chúng không thể được chứng minh bằng các phương tiện vật lý. Tuy nhiên, thực tại của không gian đa chiều là một giả định làm nền tảng cho hầu hết các khái niệm được trình bày ở đây, bao gồm tham thiền, trị liệu, và tác động rất thực tế của suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta đối với người khác. Ngay cả một đánh giá bảo thủ cũng phải kết luận rằng quan điểm mới này về thực tại dao động từ một nguyên tắc làm việc hữu ích đến một cam kết hứa hẹn cho tương lai. Trên thực tế, nó là một mô hình đã và đang phát triển, khuyến khích nghiên cứu nghiêm túc. (Một ví dụ là tình trạng của liệu pháp chạm, một nhánh của thế giới quan này, được sử dụng rộng rãi trong ngành y tá.)
The most novel feature of this hypothesis is the power it ascribes to human intentions. Nothing quite as diaphanous (“slippery!” its critics would proclaim) exists in contemporary science except the ambiguities and bewildering paradoxes of quantum mechanics. But if the new physics places the human observer at the center of the experimental situation, such subjectivity gains respectability and can surely be tolerated in “the new psychology.” And if the observer can affect the observed, by extension human consciousness can affect matter.
Đặc điểm mới mẻ nhất của giả thuyết này là quyền năng mà nó gán cho ý định của con người. Không có gì mơ hồ đến thế (hoặc "khó nắm bắt!" như các nhà phê bình tuyên bố) tồn tại trong khoa học hiện đại ngoại trừ những mâu thuẫn và nghịch lý khó hiểu của cơ học lượng tử. Nhưng nếu vật lý học mới đặt người quan sát vào trung tâm của tình huống thí nghiệm, thì tính chủ quan đó sẽ có được sự tôn trọng và chắc chắn có thể được chấp nhận trong "tâm lý học mới." Và nếu người quan sát có thể ảnh hưởng đến đối tượng được quan sát, thì mở rộng ra, tâm thức con người có thể ảnh hưởng đến vật chất.
We are living in the midst of a scientific revolution whose philosophical and spiritual meaning is far from clear. What is clear is that sweeping changes for our lives are in the making. Even at this early state, two inferences seem warranted: 1) twentieth century science and the faintly discernible outline of its future developments (in Bohm and Penrose, for example) are far more compatible with these ideas than was the science of earlier centuries; and 2) just as gravity, electromagnetism, and the strong and weak nuclear forces are the building blocks of physics, so are human intentionality and the power of the mind the building blocks for the work presented here. The assumption that our thoughts and feelings affect others forms the fundamental hypothesis of Dora’s book.
Chúng ta đang sống trong một cuộc cách mạng khoa học mà ý nghĩa triết học và tâm linh của nó vẫn còn rất mơ hồ. Điều rõ ràng là những thay đổi lớn lao đối với cuộc sống của chúng ta đang được định hình. Ngay cả ở giai đoạn sơ khai này, hai suy luận dường như là hợp lý: 1) khoa học thế kỷ XX và những đường nét mờ nhạt của các phát triển trong tương lai của nó (như trong công trình của Bohm và Penrose) tương thích với những ý tưởng này hơn nhiều so với khoa học của các thế kỷ trước; và 2) cũng như lực hấp dẫn, lực điện từ và các lực hạt nhân mạnh và yếu là nền tảng của vật lý học, thì ý định của con người và sức mạnh của tâm trí là nền tảng cho công trình được trình bày ở đây. Giả định rằng suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta ảnh hưởng đến người khác tạo thành giả thuyết cơ bản của cuốn sách của Dora.
These assumptions find no room within the mechanistic, Cartesian worldview in which we have been brought up and which we rarely question. The holistic view supplies the all-important missing element —the human factor. Applied, for example, to healing, caring, empathy, and compassion are subjective in that they originate with the practitioner, but objective in two ways: 1) they have consequences for both the self and the other; and 2) their power originates beyond the practitioner in the orderly processes of an infinite universe.
Những giả định này không có chỗ đứng trong thế giới quan cơ giới, mang tính Cartesian mà chúng ta đã được nuôi dưỡng và hiếm khi đặt câu hỏi. Quan điểm toàn diện bổ sung yếu tố quan trọng bị thiếu — yếu tố con người. Khi được áp dụng, ví dụ, vào việc chữa lành, sự quan tâm, sự đồng cảm và lòng từ bi mang tính chủ quan bởi vì chúng bắt nguồn từ người thực hành, nhưng lại mang tính khách quan theo hai cách: 1) chúng có những hệ quả đối với cả bản thân và người khác; và 2) sức mạnh của chúng bắt nguồn từ các quy trình trật tự trong một vũ trụ vô hạn.
The sweeping assumptions I have been presenting imply a spiritual (though not necessarily a religious) dimension of reality. It is tempting to conjecture that the fields Dora perceives may well constitute the elusive, long-sought bridge between physics and consciousness that turn up in the speculations of thinkers like Planck, Wheeler, Wigner, Wald, Bohm, Penrose, Bell, and others who seek to understand the philosophical and human meaning of their own work.
Những giả định rộng lớn mà tôi đã trình bày ngụ ý một chiều kích tâm linh (dù không nhất thiết phải là tôn giáo) của thực tại. Thật hấp dẫn khi giả thuyết rằng các trường năng lượng mà Dora cảm nhận có thể tạo thành cầu nối khó nắm bắt và lâu nay tìm kiếm giữa vật lý học và tâm thức, điều thường xuất hiện trong các suy đoán của các nhà tư tưởng như Planck, Wheeler, Wigner, Wald, Bohm, Penrose, Bell, và những người khác đang cố gắng hiểu ý nghĩa triết học và nhân văn của công trình của họ.
If we apply the connotations of “healing” and “healer” in their broad (rather than their restricted medical) context, we are all potential healers. This book shows us that sending peaceful energies to others is possible only if we ourselves are already in a peaceful state. We grow spiritually even as we try to help others. A corollary is that a negative attitude interferes with our ability to radiate harmonious energies. Emotions like anxiety, fear, jealousy, envy, resentment, anger, hatred, self-pity and the “victim-syndrome” that Dora refers to — in short, a down-beat outlook on ourselves, others, and the universe —will hinder our abilities to interact positively with others. Negativity, unfortunately, is widespread in our contemporary fragmented culture. It makes us feel helpless to affect events, small-scale or large. Dora’s book counteracts this helplessness, for her point is that this need not be so.
Nếu chúng ta áp dụng ý nghĩa của từ “chữa lành” và “người chữa lành” trong bối cảnh rộng hơn (thay vì chỉ giới hạn trong y học), thì tất cả chúng ta đều là những người chữa lành tiềm năng. Cuốn sách này cho chúng ta thấy rằng việc gửi những năng lượng bình an đến người khác chỉ có thể thực hiện được nếu chính chúng ta đã ở trạng thái bình an. Chúng ta trưởng thành về mặt tâm linh ngay cả khi cố gắng giúp đỡ người khác. Một hệ quả là thái độ tiêu cực sẽ cản trở khả năng lan tỏa những năng lượng hài hòa của chúng ta. Những cảm xúc như lo lắng, sợ hãi, ghen tuông, đố kỵ, oán giận, tức giận, hận thù, tự thương hại, và “hội chứng nạn nhân” mà Dora nhắc đến — nói ngắn gọn, một cách nhìn nhận tiêu cực về bản thân, người khác, và vũ trụ — sẽ cản trở khả năng tương tác tích cực với người khác của chúng ta. Đáng tiếc là sự tiêu cực đang lan rộng trong nền văn hóa phân mảnh đương đại của chúng ta. Nó khiến chúng ta cảm thấy bất lực trong việc ảnh hưởng đến các sự kiện, dù nhỏ hay lớn. Cuốn sách của Dora chống lại sự bất lực này, vì quan điểm của bà là điều đó không nhất thiết phải như vậy.
She points the way to our becoming centers of caring, empathy, compassion, and harmony even amidst the chaos and suffering of our times. Dora encourages us to have confidence in our ability to change in positive ways which benefit us and others as well. To use meditation and project compassion for the good of others is neither narcissism nor escapism, criticisms sometimes leveled against spiritual practices. Marx’s famous dismissal of religion as the “opiate of the people” does not fit the model of the healer, i.e., one who uses energies and intentions to help alleviate the pain and suffering in the world. Working to enhance the autonomy and self-confidence of others is not restricted to the medical model of healing. It is something constructive that all of us can do.
Bà chỉ ra con đường để chúng ta trở thành những trung tâm của sự quan tâm, đồng cảm, từ bi và hài hòa, ngay cả giữa sự hỗn loạn và đau khổ của thời đại này. Dora khuyến khích chúng ta tin tưởng vào khả năng thay đổi theo hướng tích cực, mang lại lợi ích cho cả bản thân và người khác. Việc sử dụng tham thiền và lan tỏa lòng từ bi vì lợi ích của người khác không phải là hành vi tự yêu bản thân hay trốn tránh thực tại, như đôi khi những lời chỉ trích nhắm vào các thực hành tâm linh. Sự bác bỏ nổi tiếng của Marx về tôn giáo như "thuốc phiện của quần chúng" không phù hợp với mô hình của người chữa lành, tức là người sử dụng năng lượng và ý định để giúp giảm bớt đau khổ và nỗi đau trên thế giới. Làm việc để nâng cao tính tự chủ và sự tự tin của người khác không bị giới hạn trong mô hình chữa lành của y học. Đó là điều mang tính xây dựng mà tất cả chúng ta đều có thể làm.
We can be a counter-force to the indifference, isolation, and abandonment of others that have become all too common in industrialized as well as underdeveloped societies. To radiate the power of compassion to a world torn by conflict and long-standing hatreds strikes me as an unassailable ideal. Thus, the ethical implications of this remarkable book can scarcely be overstated.
Chúng ta có thể trở thành một lực lượng đối kháng với sự thờ ơ, cô lập và bỏ rơi người khác, những điều đã trở nên quá phổ biến trong các xã hội công nghiệp hóa cũng như các xã hội kém phát triển. Việc lan tỏa sức mạnh của lòng từ bi đến một thế giới bị xé nát bởi xung đột và hận thù lâu dài dường như là một lý tưởng không thể bị bác bỏ. Vì vậy, các hàm ý đạo đức của cuốn sách đáng chú ý này hầu như không thể bị đánh giá thấp.
1The Background of the Book— Bối cảnh của cuốn sách
The series of aura portraits which are a central feature of this book came into being in a spontaneous, unpremeditated way, the result of circumstances rather than any intention or plan on my part.
Loạt các bức hình hào quang—đặc tính chủ chốt của cuốn sách này—đã xuất hiện một cách tự phát, không định trước, là do hoàn cảnh mang lại chứ không phải là chủ đích hoặc có kế hoạch từ phía tôi.
I had for some time been working with my friend, Dr. Otelia Bengtsson, a medical doctor who was in private practice in New York City in the field of allergy and immunology. Since problems of this kind frequently have psychosomatic aspects, she had thought that my clairvoyance might be helpful in some of her cases which were difficult to diagnose or resistant to treatment. Since she is one of the most selfless and courageous doctors I have ever known, she had no qualms about bringing patients to see me, although at that time (the early 1930’s) such unorthodox behavior in a physician was much more unusual than it would be today.
Tôi đã có thời gian làm việc với bạn tôi, tiến sĩ Otelia Bengtsson, một bác sĩ y khoa làm việc tại thành phố New York chuyên khoa dị ứng và miễn dịch học. Vì các bệnh loại này thường có những khía cạnh tâm linh, cô nghĩ rằng khả năng thông nhãn của tôi có thể hữu ích trong một số trường hợp do cô điều trị rất khó để chẩn đoán hoặc kháng thuốc. Là một trong những bác sỹ giàu tình thương và can đảm nhất mà tôi từng biết, cô không hề ngần ngại đưa bệnh nhân đến gặp tôi, mặc dù lúc đó (vào đầu những năm 1930) hoạt động không chính thống như vậy của một bác sĩ là vô cùng bất bình thường so với quan điểm về vấn đề này hiện nay.
As a rule I knew nothing about the cases, although I was of course aware of Dr. Bengtsson’s specialty and always saw the patients in her presence. I would tell her what I thought the physical problems were, but I also explained the role that the patients’ emotions played in the disease process, and gave advice about the ways in which they could help themselves.
Theo quy định, tôi không được cung cấp thông tin gì về các ca bệnh, mặc dù tất nhiên tôi có biết về loại bệnh mà bác sĩ Bengtsson điều trị và luôn được gặp các bệnh nhân với sự có mặt của cô. Tôi cho cô biết những vấn đề thể chất mà tôi nghĩ bệnh nhân đang mang trong mình, đồng thời tôi cũng giải thích vai trò cảm xúc của bệnh nhân đối với quá trình phát triển bệnh, và đưa ra lời khuyên về những cách mà họ có thể tự giúp mình.
Even during adolescence I had been asked to help people who were in pain or disturbed, and in that way I had learned to observe emotional patterns and to interpret what I saw. But my work with Dr. Bengtsson taught me to be a careful observer, and gave me the opportunity to study in depth the relationships between emotional patterns and physical disease — a work that I have continued to practice over the years. Her confidence in me was tremendously helpful, since without her cooperation I would not have had the possibility of longterm study of the disease process and its psychological correlates. Since the time that the pictures in this book were made, I have seen hundreds, even thousands, of people who have come to me for help, and I find these contacts a continuing learning experience.
Ngay từ thời thanh niên tôi đã được yêu cầu giúp đỡ những người bị đau đớn hoặc bị rối loạn, và nhờ đó tôi đã học cách quan sát các mô hình cảm xúc và giải thích những gì tôi thấy. Nhưng công việc của tôi với bác sĩ Bengtsson đòi hỏi tôi phải quan sát vô cùng kỹ lưỡng và cho tôi cơ hội để nghiên cứu sâu sắc các mối quan hệ giữa các hình thái cảm xúc và bệnh tật về thể chất—một công việc mà tôi đã tiếp tục thực hiện trong nhiều năm. Sự tin tưởng của cô đối với tôi rất hữu ích, bởi vì nếu không có sự hợp tác của cô, tôi sẽ không có khả năng nghiên cứu lâu dài về quá trình bệnh và các tương quan tâm lý của chúng. Kể từ khi những bức hình trong cuốn sách này được phát hành, đã có hàng trăm, thậm chí hàng ngàn người đến với tôi nhờ giúp đỡ, và với tôi đây là những kinh nghiệm học tập không ngừng nghỉ.
The paintings came about because many years ago I had made friends with a gifted artist, Juanita Donahoo, who was very much interested in my descriptions of auras and wanted to try her hand at illustrating them. She had begun to experiment with the air brush, and thought that it might be a good medium to use in trying to convey some idea of the misty, blended and ever-changing hues of the aura. She was interested and eager, and very willing to experiment in various ways in order to adapt her medium to what I saw.
Những bức hình này xuất hiện bởi vì nhiều năm trước, tôi đã kết bạn với một họa sĩ tài năng, Juanita Donahoo, người rất quan tâm đến những mô tả của tôi về hào quang và muốn thử minh họa chúng. Cô đã bắt đầu thử nghiệm với cọ air brush và nghĩ rằng đây có thể là một phương tiện tốt cho việc cố gắng truyền đạt một số ý tưởng về tính mờ ảo, màu sắc pha trộn và luôn thay đổi của hào quang. Cô rất thích thú và háo hức, và sẵn sàng thử nghiệm theo những cách khác nhau để phản ánh và truyền tải hình ảnh về những gì tôi nhìn thấy.
I must say that it was a very tedious process. Juanita had an elaborate color chart, and as I described the person who was sitting before us she would make a rough drawing of the aura, putting in the special features, plotting the areas of color and matching these as closely as possible to what I said I saw. I am afraid I was not always easy to satisfy, because the colors of pigment, no matter how subtle, are infinitely coarser and duller than those of the astral world. She was patience itself. But even so, I have to say that these pictures are only a faint approximation of the reality, although Juanita’s efforts would be difficult to better, for she was very sensitive and receptive to the impressions I was trying to convey.
Tôi phải nói rằng đó là một quá trình rất mệt mỏi. Juanita có một bảng màu rất phức tạp, và khi tôi mô tả người ngồi trước chúng tôi, cô sẽ vẽ một bản thô về hào quang, đưa vào những đặc điểm đặc biệt, vẽ ra các vùng màu sắc và cố gắng thể hiện chúng càng gần càng tốt với những gì tôi thấy và trình bày. Không phải lúc nào tôi cũng dễ dàng thỏa mãn, bởi vì màu sắc của bột màu cho dù tinh xảo đến mấy là vô cùng thô và kém tinh tế so với sắc màu của thể dĩ thái. Cô Juanita vô cùng kiên nhẫn. Nhưng dù vậy, tôi phải nói rằng những hình ảnh này chỉ phản ánh ít nhiều thực tế, mặc dù những nỗ lực của Juanita sẽ khó có thể có kết quả tốt hơn, bởi vì cô đã rất nhạy cảm và tiếp nhận rất tốt những ấn tượng tôi cố gắng truyền tải.
These aura paintings represent a series of portraits of people with whom I had some contact, or who were brought to me by others, and show them as they were (or as I perceived them to be) at that point in time. This is a fact I want to emphasize. These are portraits of individuals —some famous, some obscure, some older, some younger —not, of course, of their faces or figures, but of their personalities and character as they were at that moment in their lives. It is a record of their interests, work, feelings, aspirations, talents and potentialities, as well as their problems, difficulties and emotional habits.
Những bức tranh hào quang này thể hiện một loạt chân dung của những người mà tôi đã có liên lạc, hoặc những người được giới thiệu đến với tôi. Chúng mô tả hình ảnh chân thực (như tôi thấy) vào thời điểm đó. Đó là thực tế mà tôi muốn nhấn mạnh. Đây là những chân dung của các cá nhân—một số nổi tiếng, một số không tên tuổi, một số người lớn tuổi, một số còn trẻ—tất nhiên không phải là khuôn mặt hoặc hình ảnh của họ, mà của phàm ngã và đặc điểm của họ vào thời điểm đó trong cuộc đời họ. Đó là một hồ sơ về sở thích, công việc, cảm xúc, khát vọng, tài năng và tiềm năng của họ, cũng như các vấn đề, khó khăn và thói quen cảm xúc của họ.
Each person would come prepared to sit for us for two to three hours, and some of them found it rather boring. I especially remember one well-known musician who became very restless before we were even half-way through the session. Fortunately his daughter had brought a musical score with her, and after she handed this to him he became so engrossed in it that he was unconscious of the passage of time.
Mỗi người cần chuẩn bị đến ngồi chỗ chúng tôi hai tới ba giờ đồng hồ, nhiều người cảm thấy việc này khá tẻ nhạt. Tôi đặc biệt nhớ một nhạc sĩ nổi tiếng đã mất kiên nhẫn ngay khi chúng tôi mới xong được khoảng nửa phần việc. May mắn thay, lúc đó con gái của anh cho anh xem một bản hòa âm mà cháu mang theo, và anh say sưa xem bản nhạc của con mà quên đi thời gian.
Other subjects were intrigued by having their auras sketched, and wanted to know what the different colors meant. One man especially responded to this information in a characteristic way. When told that the orange plume in his aura was a sign of pride and self-assurance, he said, “I don’t like that and Fm determined to change it.” As for the children, they ran about or played with toys or even took short naps. These activities did not disturb us in the least, since it was quite normal behavior and showed that they were relaxed.
Một số người khác khá thích thú vì họ được vẽ chân dung hào quang, và muốn biết những màu sắc khác nhau có ý nghĩa gì. Một người đàn ông có những phản ứng đặc biệt với những thông tin này theo cách rất đặc trưng. Khi được cho hay màu da cam trong hào quang của ông là một dấu hiệu của lòng tự hào và sự tự tin, ông nói, “Tôi không thích điều đó và Fm quyết định thay đổi cho bức vẽ.” Đối với trẻ em, chúng chạy hoặc chơi đồ chơi, hay thậm chí ngủ thiếp đi. Những hoạt động này không làm phiền chúng tôi mấy, vì đó là hành vi khá bình thường và cho thấy chúng đang thư giãn.
Thus the paintings are portraits of individuals, not generalizations or composite pictures such as those that illustrate other books on the aura, like C. W. Leadbeater’s Man Visible and Invisible. These are real people, with great personality differences. I shall talk about the nature of the aura in subsequent chapters, but I want to emphasize at the outset that these portraits are like a still frame in a moving picture — a glimpse caught in the midst of the on-going process of living. We all have changing moods, and these are reflected in the aura, overlaying the more permanent features. Therefore the aura pictures capture the essence of these individuals in terms of what they were feeling at that point in time.
Do đó các bức tranh là chân dung của các cá nhân, chứ không phải hình ảnh khái quát hoặc tổng hợp như những bức tranh minh họa các cuốn sách khác về hào quang, như trong tác phẩm Man Visible and Invisible (Người hữu hình và vô hình) của ông C. W. Leadbeater. Đây là những con người thực, với sự khác biệt lớn về phàm ngã. Tôi sẽ nói về bản chất của hào quang trong các chương tiếp theo, nhưng tôi muốn nhấn mạnh ngay từ đầu những bức chân dung này giống như một khung hình tĩnh trong một hình ảnh chuyển động—cái nhìn thoáng qua trong tiến trình cuộc sống. Tất cả chúng ta đều có tâm trạng thay đổi, và chúng được phản ánh trong hào quang, phủ lên các đặc tính lâu dài hơn. Do vậy các bức hình hào quang nắm bắt được bản chất của những cá nhân này về những gì họ cảm thấy vào thời điểm được vẽ mà thôi.
Subjects of the Study
Đối tượng nghiên cứu
There is something else I must emphasize. These portraits do not represent a cross-section of society — perhaps not even a fairly typical group of people, although we have a range of ages. There is an even balance between females and males, but this is a matter of chance, not design. There are no murderers, no criminals, no psychotics. Most of these people are from the middle class; none are examples of greed, lust, anger, cruelty, violence or other compulsive behavior. Some are quite ordinary, but a few are unusually gifted, and a considerable proportion has philosophical, humanitarian and spiritual interests. Thus we lack the contrast which would have been afforded by the inclusion of some anti-social personalities.
Có một điều khác nữa mà tôi phải nhấn mạnh. Những chân dung này không đại diện cho một mặt cắt của xã hội—có lẽ không phải là một nhóm người điển hình, mặc dù chúng tôi có nhiều lứa tuổi. Có sự cân bằng giữa nam và nữ, nhưng điều đó cũng do tình cờ mà có chứ không được định trước. Không có kẻ giết người, không có tội phạm, không có người bị chứng tâm thần. Hầu hết những người được vẽ thuộc tầng lớp trung lưu; không có những điển hình về lòng tham, ham muốn, tức giận, tàn ác, bạo lực hoặc các hành vi cưỡng ép khác. Một số khá bình thường, nhưng một số ít có năng khiếu đặc biệt, và một tỷ lệ đáng kể có quan tâm tới triết học, nhân văn và tinh thần. Vì vậy, chúng tôi thiếu sự tương phản có được nếu bao gồm trong nhóm một số đối tượng phản diện trong xã hội.
The reason for this lack of variety is that we never thought of the enterprise as a clinical psychological inquiry. It was a study of the aura, pure and simple. At that time, a number of people had expressed interest in my clairvoyant observations, which seemed more detailed than others then available. They wanted to see what an aura looked like, and how personality differences showed themselves. So we began and ended with the people who were immediately accessible and willing to sit for us. We did not try to get a mix of people with different ethnic, cultural, religious or educational backgrounds.
Lý do thiếu sự đa dạng này là vì chúng tôi không bao giờ nghĩ đến công việc này như một cuộc điều tra tâm lý y khoa. Đó là một nghiên cứu về hào quang, đơn giản và thuần nhất. Vào thời điểm đó, một số người đã bày tỏ sự quan tâm đến các quan sát thông nhãn của tôi, có vẻ sâu sắc hơn những người khác. Họ muốn xem hào quang trông như thế nào, và chúng thể hiện sự khác biệt trong phàm ngã ra sao. Vì vậy, chúng tôi bắt đầu và hoàn thành công việc với những người ngay lập tức có thể gặp gỡ và sẵn sàng ngồi cùng chúng tôi. Chúng tôi đã không cố gắng tập hợp một nhóm người có nguồn gốc sắc tộc, văn hoá, tôn giáo hoặc giáo dục đa dạng.
If I were to undertake such a project today I should do it very differently. These studies were made about fifty-five years ago, when I was still quite young, and although my clairvoyant faculties have not changed, I have since learned a great deal more about human interactions. In this book, the aura pictures and descriptions are the product of my early observations, but I have tried to give them additional substance in the other chapters, which are more representative of what I have learned in the intervening years.
Nếu đến giờ mới thực hiện dự án này hẳn là tôi đã làm theo cách hoàn toàn khác. Những nghiên cứu này đã được thực hiện khoảng năm mươi lăm năm trước, khi tôi vẫn còn khá trẻ, và mặc dù năng lực thông nhãn của tôi không thay đổi, qua thời gian tôi đã học được rất nhiều về sự tương tác của con người. Trong cuốn sách này, các hình ảnh và mô tả về hào quang là sản phẩm của những quan sát trong thời gian đầu sự nghiệp của tôi, nhưng trong các chương tiếp theo tôi cố gắng cung cấp thêm nhiều thông tin khác, thể hiện những kiến thức tôi đã trau dồi được trong những năm sau này.
Some readers may also wonder why we have waited such a long time before publication. One of the reasons is contained in what I have just said: I did not feel ready to undertake a general study of the personal aura based on these few examples. The second, more important reason is that the intellectual climate in those days would not have been conducive to any serious consideration of the concepts which are essential to the subject.
Một số độc giả cũng có thể thắc mắc tại sao chúng ta phải đợi lâu như vậy để cuốn sách được xuất bản. Một trong những lý do nằm ở điều tôi vừa nói: Tôi không cảm thấy sẵn sàng thực hiện một nghiên cứu tổng quát về hào quang cá nhân dựa trên một số ít hình mẫu này. Thứ hai, lý do quan trọng hơn là bầu không khí tinh thần tôi trong những ngày đó không có lợi cho bất kỳ nghiên cứu nghiêm túc nào về các khái niệm quan trọng thuộc chủ đề này.
It is only during the past few decades that advances in science, in medicine and in psychology have brought about a changing perception of the role of consciousness in human life. Now there is much more acceptance of the mind-body relationship and the psychosomatic origins of disease, as well as a recognition of the importance of attitudes in human interactions. As a result, there is today a context within which what I have to say may not seem so strange.
Chỉ trong vài thập kỷ qua, những tiến bộ khoa học, y học và tâm lý đã mang lại nhiều thay đổi trong quan niệm về vai trò của tâm thức đối với cuộc sống con người. Hiện nay nhiều người chấp nhận hơn về mối quan hệ giữa thân và tâm và nguồn gốc tâm linh của bệnh tật, cũng như thừa nhận tầm quan trọng của thái độ trong các tương tác giữa con người với nhau. Kết quả là bối cảnh hiện nay giúp cho những gì tôi trình bày không còn xa lạ.
Recently, in working through the paintings, we began to see that they fall into certain patterns or groupings, and that these reveal characteristics which have little to do with the fame or obscurity of the person. Most individuals have certain basic emotional characteristics in common: love and sympathy, intellectual capacity —the ability to learn, to express themselves and to accomplish some meaningful work. Beaders will, I hope, find it interesting to trace these innate human abilities in terms of the quite different kinds of people represented in the pictures, and perhaps recognize themselves therein to some degree.
Gần đây, khi nghiên cứu thông qua các bức vẽ, chúng tôi bắt đầu thấy rằng chúng thuộc các dạng thức hoặc nhóm nhất định và điều này cho thấy những đặc điểm ít liên quan đến sự nổi tiếng hay bình dị của người đó. Hầu hết mọi người có một số đặc điểm cảm xúc cơ bản chung: tình yêu và sự thông cảm, khả năng trí tuệ—khả năng học hỏi, thể hiện bản thân và thực hiện một số công việc có ý nghĩa. Tôi hy vọng, người đọc sẽ thấy thú vị khi theo dõi những năng lực bẩm sinh của con người biểu hiện ở nhiều người khác nhau trong các bức hình, và có lẽ tự nhận ra chính bản thân mình ở mức độ nào đó.
Finally, the reader may wish to know something of my background, which makes it possible for me to perceive the aura or (as I like to call it) the emotional field of a person.
Cuối cùng, người đọc có thể muốn biết một vài điều về cá nhân tôi, điều gì khiến tôi có năng lực thấy được hào quang (như tôi vẫn gọi) hay là trường tình cảm của mỗi người.
Personal History
Lịch sử cá nhân
I was born into a Dutch family living on a large plantation in Java, where my father was the manager of a sugar factory. Both my mother and my grandmother had psychic abilities, but in no way could these be called inherited. If genetic factors are involved, they probably relate to an innate sensitivity, and to the ability to respond intuitively to unforeseen situations and events. At birth I was completely enveloped in a caul (the foetal membrane), which is supposed to signify second sight, and I am told that I broke this with my fist, and so liberated myself.
Tôi sinh ra trong một gia đình Hà Lan sống trong một đồn điền lớn ở đảo Java, nơi cha tôi là giám đốc của một nhà máy đường. Cả mẹ và bà tôi đều có khả năng tâm linh, nhưng không ai có thể gọi đây là năng lực di truyền được. Nếu có liên quan đến các yếu tố di truyền, chúng có thể liên quan đến sự nhạy cảm bẩm sinh và khả năng phản ứng trực quan với các tình huống và sự kiện không lường trước được. Khi sinh ra, tôi vẫn được bao bọc trong một cái màng (màng bào thai), nó được coi là nhãn quang thứ hai, và tôi được kể lại rằng chính tôi đã phá vỡ bức màn bằng nắm tay mình, và tự giải phóng bản thân.
My mother was a strong believer in meditation, and always set aside a room which was never used for any other purpose. She started me in the practice when I was about five years of age. At first she suggested very simple themes to me, but later she asked me to meditate upon abstract questions, and she and my father would expect me to give them an account of the ideas which had come to me as a result.
Mẹ tôi là người tin tưởng sâu sắc vào thiền, và luôn dành một căn phòng cho việc tham thiền không bao giờ sử dụng cho bất cứ mục đích nào khác. Bà bắt đầu dạy tôi tập thiền khi tôi mới được khoảng năm tuổi. Lúc đầu, bà đưa ra những chủ đề rất đơn giản cho tôi, nhưng sau đó bà đặt ra cho tôi nhiều vấn đề trừu tượng hơn để suy ngẫm. Cha mẹ tôi luôn trông chờ tôi có những giải thích cho các ý tưởng đến với tôi trong quá trình tham thiền.
As for my clairvoyance, I suppose I began to become aware of it and to develop it when I was around six or seven years of age. At about that time, C. W. Leadbeater (who was a famous clairvoyant and theosophical writer) came to visit us, and he was very much interested in me and what I saw. Later on, when I was about twelve years old, we went to live in Australia and I was in contact with him daily for a number of years. I cannot say that he ever trained me in the use of my clairvoyance, but he did put specific tasks to me — some of which were very difficult for a shy young girl — and through trying to accomplish these tasks I learned to have more confidence in myself.
Về khả năng thông nhãn của tôi, tôi cho rằng tôi bắt đầu nhận thức được năng lực này và phát triển nó khi tôi được khoảng sáu hoặc bảy tuổi. Vào khoảng thời gian đó, ông C. W. Leadbeater (một người có năng lực thông nhãn nổi tiếng và là một người viết rất nhiều tác phẩm Thông Thiên Học) đến thăm chúng tôi, và ông rất quan tâm đến tôi và những gì tôi thấy. Sau đó, khi tôi khoảng mười hai tuổi, chúng tôi đã đến sống ở Úc và từ đó tôi đã liên hệ với ông hàng ngày trong nhiều năm. Tôi không thể nói rằng ông đã từng huấn luyện tôi trong việc sử dụng năng lực thông nhãn của mình, nhưng ông đã đặt ra các nhiệm vụ cụ thể cho tôi—trong đó có một số rất khó cho một cô gái trẻ nhút nhát—và thông qua việc nỗ lực hoàn thành những nhiệm vụ này tôi đã dần có được sự tự tin về bản thân.
But perhaps the early training which has been most useful to me came from my father’s insistence that I think for myself and learn to uphold my ideas in spite of opposition. My father loved argument, and he made me defend the positions I took, so that I learned I could not take anything for granted.
Nhưng có lẽ việc đào tạo ban đầu hữu ích nhất cho tôi là từ tính cương định của cha tôi, qua đó tôi áp dụng cho chính mình và học cách duy trì ý tưởng của mình bất chấp sự phản đối. Cha tôi yêu thích lập luận, và ông đã tập cho tôi bảo vệ quan điểm của mình, vì vậy mà tôi đã học được rằng tôi không thể tự nhiên mà có được điều gì.
Thus at an early age I was taught not to expect that people would necessarily agree with me. This has stood me in good stead in my work with the medical profession, for if I happen to be associated with doctors who are skeptical about my clairvoyance, this attitude does not seem unreasonable to me and never interferes with my willingness to collaborate with them. In other words, I am not bothered by the fact that people may think clairvoyance is nonsense, for I believe that every person has the right to accept the claims of others only if they make sense to him or her.
Vì vậy, ngay từ khi còn rất trẻ tôi đã được dạy không nên mong đợi rằng mọi người sẽ nhất thiết đồng ý với mình. Điều này đã giúp tôi luôn vững vàng trong công việc của mình với các chuyên gia y tế, vì nếu tôi làm việc với các bác sĩ hoài nghi về khả năng thông nhãn của tôi, thái độ này đối với tôi không có gì là khó hiểu và không bao giờ ngăn trở tôi sẵn lòng hợp tác với họ. Nói cách khác, tôi không lấy làm phiền bởi thực tế là nhiều người có thể nghĩ rằng thông nhãn là một điều vô lý, vì tôi tin rằng mọi người đều có quyền chỉ chấp nhận những lý lẽ của người khác khi điều đó có ý nghĩa với mình.
I offer the following descriptions and discussions of the emotional field from this point of view. To me, emotional patterns result from many factors and different life experiences, some good, some painful, some negative, some constructive. If we are not aware of these patterns they can inhibit us in many ways and even lead to the beginnings of the disease process. However, emotions are not only volatile but also charged with energy, and therefore they can and do change.
Tôi đưa ra những mô tả và thảo luận sau đây về trường cảm dục từ quan điểm này. Đối với tôi, các hình thái cảm xúc là kết quả của nhiều yếu tố và kinh nghiệm cuộc sống khác nhau, một số tốt đẹp, một số đau đớn, một số tiêu cực, một số có tính xây dựng. Nếu chúng ta không nhận thức được những hình thái này, chúng có thể gây ức chế cho chúng ta theo nhiều cách và thậm chí dẫn đến việc gây ra bệnh tật. Tuy nhiên, cảm xúc không chỉ dễ biến động mà còn mang đầy năng lượng, và do đó chúng có thể và thực sự hay thay đổi.
What is more, the direction which that change takes is subject to our own intention, once that becomes clear to us.
Hơn nữa, chiều hướng thay đổi phụ thuộc vào ý định của chúng ta, một khi điều đó trở nên rõ ràng đối với chúng ta.
My hope in writing this book is that it may help readers see their own emotional patterns more clearly, and thus understand the possibilities for change and growth that lie within all of us.
Tôi hy vọng cuốn sách này có thể giúp người đọc thấy rõ hơn hình thái cảm xúc của mình, và do đó hiểu được những khả năng biến đổi và tăng trưởng luôn tiềm ẩn trong mỗi người.
I.The Structure and Dynamics of the Human Energy Fields
Cấu trúc và Động lực của các Trường Năng Lượng của Con người
2.Dimensions of Consciousness—Các Chiều kích của Tâm thức
The life of even the most ordinary person, which may seem very uneventful, is actually full of experiences on many levels. While we are focused on the daily business of living, we are at the same time involved in a whole complex of interactions between physical processes, feelings and thoughts. Though we may not pay much attention to these interactions, they constantly influence our behavior, as well as our sense of well-being.
Cuộc sống của một người bình thường, dường như không có nhiều điều diễn ra, thực ra tràn ngập những trải nghiệm ở nhiều cấp độ. Trong khi chúng ta đang tập trung vào công việc hàng ngày của cuộc sống, chúng ta đồng thời tham gia vào một tổng thể phức tạp của các mối tương tác giữa các tiến trình vật lý, cảm xúc và tư duy. Mặc dù chúng ta có thể không quan tâm nhiều đến những tương tác này, nhưng chúng vẫn ảnh hưởng đến hành vi của chúng ta cũng như cảm giác hạnh phúc hài lòng của mỗi người.
What I try to do in this book is share with you something of my perception and appreciation of the hidden dimensions of consciousness within us, and in so doing, make you more aware of these aspects of your own life, and of your ability to effect conscious changes in yourself.
Điều tôi cố gắng truyền tải thông qua cuốn sách này là chia sẻ với độc giả một số nhận thức và đánh giá của tôi về các quy mô tiềm ẩn của tâm thức bên trong chúng ta và thông qua đó giúp các bạn nhận thức rõ hơn về những khía cạnh này trong cuộc sống của mình và khả năng tác động của bản thân tới việc thay đổi tâm thức trong chính mình.
My focus is principally upon our feelings, for the aura — the luminous cloud of color surrounding each of us — is the personal emotional field. But our feelings are part of the larger whole we call a human being, and therefore they are inseparable from everything else that goes on within us. The interactions between mind, emotions and physical energies are so rapid and so constant that they blur these differentiations, and so we usually only notice them when they break down. Therefore, in order to understand the nature of the emotions and the role they play, we have to see them from the perspective of the whole person — and this includes not only the body, mind and feelings, but also still higher dimensions of consciousness.
Trọng tâm của tôi chủ yếu dựa vào cảm xúc của chúng ta, vì hào quang—đám mây sáng rỡ xung quanh mỗi người—là trường cảm xúc cá nhân. Nhưng cảm xúc của chúng ta là một phần của tổng thể lớn hơn mà chúng ta gọi là con người, và do đó chúng không thể tách rời với mọi thứ đang diễn ra bên trong chúng ta. Sự tương tác giữa năng lượng thể trí, cảm xúc và cơ thể vật lý diễn ra quá nhanh và liên tục đến mức chúng làm mờ đi sự tách biệt này, và do vậy chúng ta thường chỉ chú ý đến chúng khi sự hòa hợp bị phá vỡ. Do đó, để hiểu được bản chất của cảm xúc và vai trò của chúng, chúng ta phải quan sát chúng từ quan điểm của toàn thể con người—và điều này bao gồm không chỉ thể xác, tâm trí và cảm xúc, mà còn cả chiều cao hơn của tâm thức.
Higher Dimensions of Consciousness
Các chiều cao hơn của Tâm thức
Theosophical, Indian and other literature has identified the nature of these higher states, and given them various names. While I always recommend that people study this literature for themselves and make their own judgments, for present purposes I will simply offer my own descriptions and use my own terms, which I hope to make as simple and clear as possible.
Các tài liệu Thông Thiên Học, Ấn Độ và nhiều tài liệu khác đã xác định bản chất của các thể cao hơn, và gọi chúng bằng nhiều tên gọi khác nhau. Trong khi tôi luôn khuyên mọi người tự nghiên cứu các tài liệu này và tự mình đánh giá, nhưng với các mục đích hiện tại tôi sẽ chỉ đơn giản đưa ra các mô tả của riêng mình và sử dụng các thuật ngữ theo cách của tôi với hy vọng sẽ làm cho các vấn đề trở nên đơn giản và rõ ràng nhất có thể.
For many reasons, I prefer to think of the different states of consciousness not as “planes,” as they have been called in earlier descriptions, but as dimensions, or fields. Both these words suggest the possibility of movement within an open, dynamic space, and also of an almost infinite expansion into higher reaches of consciousness. Both imply the existence of a greater whole of which the various dimensions or fields are aspects, and within which they constantly interact. In speaking about the human energy fields, I always try to emphasize that everything—including ourselves — exists in terms of this greater whole, which is the universe itself. All the dimensions of consciousness are present everywhere, in everything, even if only in a rudimentary state.
Vì nhiều lý do, tôi thường coi các trạng thái tâm thức khác nhau không phải là “các cõi”, như chúng được gọi trong các mô tả trước đây, mà là các chiều, hay các trường. Cả hai thuật ngữ này cho thấy khả năng di chuyển trong một không gian mở, năng động, và cũng khả năng mở rộng gần như vô hạn tới những tầm tâm thức cao hơn. Cả hai đều hàm ý sự tồn tại của một tổng thể lớn hơn mà các chiều hay các trường khác nhau là là những thành phần trong đó, liên tục tương tác lẫn nhau. Khi nói về các trường năng lượng của con người, tôi luôn luôn cố gắng nhấn mạnh rằng tất cả mọi thực thể—kể cả bản thân chúng ta—đều tồn tại trong một tổng thể vĩ đại, đó chính là vũ trụ. Các chiều tâm thức đều có mặt ở khắp nơi, trong mọi sự vật, ngay cả khi nó mới chỉ ở dạng thức thô sơ nhất.
Consciousness
Tâm Thức
Consciousness takes many forms, and its ranges extend far beyond what we ordinarily think of as the conscious mind. The various states go all the way from primitive body awareness at one extreme to the highest reaches of spiritual insight at the other. Thus they form a hierarchical system, in that the energies associated with the various states of consciousness become increasingly refined as they move into the higher dimensions. But this does not mean that any one of these states is negligible, or less important than the rest. If we try to see all of the dimensions in terms of the whole of which they are a part, we see that each one has a unique part to play within the total spectrum of consciousness.
Tâm thức có nhiều hình thái, và các phạm vi của nó vượt xa những gì mà chúng ta thường nghĩ tới như là cái trí hữu thức. Các trạng thái tâm thức có thể từ mức độ nhận thức cơ thể sơ khai lên tới cấp độ hiểu biết tâm linh cao nhất. Do đó, chúng tạo thành một hệ thống có thứ bậc, trong đó năng lượng liên quan đến các trạng thái tâm thức ngày càng trở nên tinh tế hơn khi chúng ở các tầm mức cao hơn. Nhưng điều này không có nghĩa là một trạng thái tâm thức cụ thể không mang nhiều ý nghĩa, hoặc ít quan trọng hơn phần còn lại. Nếu chúng ta cố gắng nhìn nhận tất cả các chiều theo một tổng thể mà chúng là một phần, chúng ta sẽ thấy rằng mỗi điểm đóng một vai trò nhất định trong tổng hòa tâm thức.
Lama Govinda has explained this very well: “The consciousness of a higher dimension consists in the coordinated and simultaneous perception of several systems of relationship or directions of movement in a wider, more comprehensive unity, without destroying the individual characteristics of the integrated lower dimensions. The reality of a lower dimension is therefore not annihilated by a higher one, but only... put into another perspective of values.”1
Lạt ma Govinda đã giải thích rất rõ điều này: “Tâm thức của một chiều đo cao hơn bao gồm sự nhận thức đồng thời và được phối hợp của một số hệ thống các mối quan hệ hay các chiều hướng chuyển động trong sự thống nhất rộng lớn hơn, toàn diện hơn mà không phá hủy các đặc tính riêng của các chiều thấp hơn được tích hợp. Do đó, thực tính của chiều đo thấp không bị tiêu diệt bởi một chiều đo cao hơn, mà chỉ mang lại các giá trị ở những khía cạnh khác”
In the same sense, when I speak of “higher dimensions” or “higher levels” I am not trying to make value judgments, but merely describing the “systems of relationship” which Lama mentions above. Indeed, value judgments are inappropriate when we are trying to understand the nature of the different dimensions of consciousness. It is more to the point to study their functions and characteristics, and become aware of their special contributions — as well as their limitations — in terms of that far greater reality which is the whole of human nature.
Cũng giống như vậy, khi tôi nói đến “chiều đo cao hơn” hoặc “cấp cao hơn” tôi không cố gắng đưa ra các đánh giá về giá trị, mà chỉ mô tả “hệ thống mối quan hệ” mà Lạt ma đã đề cập ở trên. Thật vậy, các đánh giá về mặt giá trị hoàn toàn không phù hợp khi chúng ta cố gắng hiểu được bản chất của các chiều khác nhau của tâm thức. Điều quan trọng hơn là cần nghiên cứu thêm về các chức năng và đặc điểm của tâm thức, và nhận thức được những đóng góp đặc biệt—cũng như những hạn chế của chúng—về thực tính vĩ đại hơn, đó là toàn thể bản chất con người.
Looked at in this way, states of consciousness are actual conditions which are different from one another but not separate — either from each other or from the body itself. The subtle fields co-exist within the same space, and influence each other. Their distinctiveness lies in the fact that each has its own unique type of energy and rate of vibration. This makes it possible for the various fields to exert their special effects and at the same time interpenetrate and interact with the other fields without interference.
Theo cách nhìn nhận này, các trạng thái tâm thức là những điều kiện thực tế khác nhau nhưng không tách biệt nhau hoặc tách biệt chính thân xác. Các trường vi tế cùng tồn tại trong một không gian, và ảnh hưởng lẫn nhau. Sự khác biệt của chúng nằm ở thực tế là mỗi trạng thái có loại năng lượng và mức độ rung động riêng. Điều này làm cho các trường khác nhau tạo ra các hiệu ứng đặc biệt của chúng, đồng thời thâm nhập và tương tác với các trường khác mà không bị hòa tan.
It is difficult to find an exact analogy to this phenomenon in terms of ordinary experience. Perhaps the whole effect is achieved in somewhat the same way that the unique sound of a musical chord is created by combining different tones, each of which can be distinguished by a trained ear. The experience of listening to music is the best analogy I can think of, because the differences between the subtle fields are essentially harmonic in nature. Each dimension of consciousness has its range of frequencies, and plays a particular part in the total orchestration of a human being.
Thật khó để tìm ra một sự tương đồng chính xác với hiện tượng này theo những kinh nghiệm thông thường. Có thể ví toàn bộ hiệu ứng này diễn ra tương tự như cách một âm thanh duy nhất của một hợp âm được tạo ra bằng cách kết hợp các âm khác nhau, mỗi âm chỉ có thể được phân biệt bởi người thẩm âm lão luyện. Kinh nghiệm thẩm âm là sự so sánh gần nhất mà tôi có thể nghĩ ra, bởi vì sự khác biệt giữa các trường vi tế về bản chất là hòa hợp. Mỗi chiều tâm thức có phạm vi tần số riêng, và đóng một vai trò nhất định trong hòa âm tổng thể của một con người.
Radiant Energies
Năng lượng Sáng chói
Not being a scientist, I can only suggest how it may be possible to perceive the subtle fields. We know that sound and light are forms of radiant energy which have different wavelengths, and that many phenomena beyond our sense perception, such as ultraviolet light, become accessible to us only when we have the instruments to detect them. To me, the higher dimensions are forms of radiant energy related to light. Just as sunlight can be broken up into the spectrum we see as a rainbow, so these higher energies reveal themselves through their characteristic colors. It is these that I perceive. Therefore, clairvoyance may be an instrument which makes some otherwise invisible wavelengths and frequencies come within the range of perception.
Không phải là một nhà khoa học, tôi chỉ có thể gợi ý làm sao để nhận thức được các trường vi tế. Chúng ta biết rằng âm thanh và ánh sáng là những dạng năng lượng bức xạ có bước sóng khác nhau, và nhiều hiện tượng vượt quá khả năng nhận thức của các giác quan thông thường, chẳng hạn như ánh sáng tia cực tím, chúng ta chỉ có thể nhận ra khi có công cụ để phát hiện ra chúng. Với tôi, các chiều cao hơn là các dạng năng lượng bức xạ liên quan đến ánh sáng. Cũng giống như ánh sáng mặt trời có thể được phân chia thành dải quang phổ mà chúng ta có thể nhìn thấy là cầu vồng, vì vậy những năng lượng cao này tiết lộ qua màu sắc đặc trưng của chúng. Đó là những điều tôi nhận ra. Do đó, thông nhãn có thể là một công cụ giúp quan sát rõ một số bước sóng và tần số không nhìn thấy được bằng mắt thường.
When questions about clairvoyance arise, one of the greatest stumbling blocks for most people lies in the fact that the ability to see subtler dimensions seems to be limited to a few people. While I am unable to account for this, I want to point out that until modern times it was impossible to see viruses, or distinguish ultrasonic waves, or examine genetic material. All these things existed before there were instruments which made it possible to observe them, and it may well be that in the future the mechanism of clairvoyance will be investigated and understood. As of now, I can only say that I achieve my clairvoyance by a shift of visual focus. It is under my control, and I use it only when I choose to do so. I use the word “visual” to describe the process because it is a kind of seeing, but the actual eyes are not involved. It is more a focusing of attention. I use my clairvoyance primarily in my work, and my ordinary vision is just like that of anybody else.
Khi phát sinh các câu hỏi về vấn đề thông nhãn, một trong những trở ngại lớn nhất đối với hầu hết mọi người, đó là khả năng quan sát được các chiều vi tế dường như chỉ giới hạn ở một vài người. Trong khi tôi không thể giải thích được điều này, tôi muốn chỉ ra một thực tế rằng cho đến thời đại hiện nay, chúng ta vẫn không thể nhìn thấy virus, hoặc phân biệt sóng siêu âm, hay xác nhận các yếu tố di truyền. Tất cả những điều này vốn dĩ vẫn tồn tại từ trước khi có những dụng cụ giúp chúng ta có thể quan sát chúng. Tương tự, có thể trong tương lai cơ chế của thông nhãn sẽ được khám phá và hiểu rõ. Đến bây giờ, tôi chỉ có thể nói rằng tôi có khả năng thông nhãn nhờ sự thay đổi tập trung thị giác. Tôi có thể kiểm soát cơ chế này, và tôi chỉ sử dụng nó khi cần. Tôi sử dụng từ “thị giác” để mô tả quá trình này bởi vì nó là một loại nhìn thấy, nhưng mắt vật lý của cơ thể không đóng vai trò gì trong đó. Thay vào đó, cần sự tập trung chú ý. Tôi sử dụng khả năng thông nhãn của mình chủ yếu trong công việc, và nhãn quan thông thường cũng được sử dụng như mọi người bình thường khác.
To me, vitality, feeling and thinking are forms of energy. Although most of us do not think of them in this way, a number of scientists whom I have consulted say it is legitimate to use the word “energy” in connection with the emotions, since energy means “the capacity of acting or producing an effect. ” We accept physical fields like gravitation as “real,” because although we never see them we experience their effects directly. At the moment, due to our lack of more infor-mation, the nature of the subtle fields can only be assumed from the ways in which they affect us. I always try to emphasize that feelings are not just subjective psychological states; they have real physical consequences, and influence our health in many ways. I speak from personal experience, for this is an area in which I have been observing and working all my life.
Đối với tôi, sinh lực, cảm giác và suy nghĩ là những hình thức năng lượng. Mặc dù hầu hết chúng ta không nghĩ đến chúng theo cách này, nhưng một số nhà khoa học mà tôi đã cùng làm việc cho biết hoàn toàn hợp lý khi sử dụng từ “năng lượng” khi nói tới cảm xúc, vì năng lượng có nghĩa là “năng lực hành động hoặc tạo ra những tác động.” Chúng ta chấp nhận các trường vật lý như lực hấp dẫn là có “thật” bởi vì chúng ta trực tiếp chịu tác động của chúng, cho dù chúng ta không bao giờ nhìn thấy chúng. Hiện tại, do thiếu thông tin đầy đủ, bản chất của các trường vi tế chỉ có thể được giả định theo những cách mà chúng ảnh hưởng đến chúng ta. Tôi luôn luôn cố gắng nhấn mạnh rằng cảm xúc không chỉ là các trạng thái tâm lý chủ quan; chúng có những hệ quả vật chất thực sự và tác động đến sức khoẻ của chúng ta bằng nhiều cách. Tôi nói từ kinh nghiệm cá nhân, vì đây là một lĩnh vực mà tôi đã quan sát và nghiên cứu suốt cuộc đời.
The Spectrum of Consciousness
Phổ Tâm Thức
Regarded as energies, feelings and thoughts are related to one another in a way that is analogous to the relationship between sound and light. At one end of the spectrum of consciousness lies the field most closely related to the physical body. It is known as the etheric, and its characteristic form of energy is what is called prana in Indian thought — that is, life energy or vitality. All living things are nourished and sustained by this energy. In diagnosing illness, the color and radiance of an individual’s pranic flow are important indicators to me of the state of health. The reason why the emotions have such an impact upon our health is because the etheric is very closely linked with the emotional field; there is a constant interplay between the two types of energy.
Được coi là năng lượng, cảm xúc và suy nghĩ có liên quan với nhau tương tự như mối quan hệ giữa âm thanh và ánh sáng. Ở một đầu của dải phổ tâm thức là trường liên quan mật thiết với cơ thể vật lý. Nó được gọi là dĩ thái, và dạng năng lượng đặc trưng của nó là cái được gọi là prana trong giáo lý Ấn Độ—đó là năng lượng sự sống hay sinh lực. Mọi sinh vật được nuôi dưỡng và duy trì bởi năng lượng này. Trong chẩn đoán bệnh tật, màu sắc và độ sáng rỡ của dòng chảy prana của mỗi người là các chỉ số quan trọng cho tôi biết tình trạng sức khoẻ. Lý do tại sao những cảm xúc có ảnh hưởng như vậy đến sức khoẻ của chúng ta là vì thể dĩ thái có mối liên hệ mật thiết với trường tình cảm; có một sự tương tác liên tục giữa hai loại năng lượng này.
Incidentally, this is the most difficult field to study clairvoyantly, because it is the most complex. The etheric is really the prototype of the physical body, and it replicates the complexities of our bodily processes. In looking for traces of disease, therefore, one must take note of variations in color, texture, degree and type of motion, and many other factors within the etheric. In the practice of healing techniques such as Therapeutic Touch, we work primarily to discover and remove impediments in the flow of etheric energy, while always thinking of the person as a whole. A discussion of the etheric and its functions is not appropriate here, but those readers who would like a fuller description might be interested in a book which I wrote with Dr. Shafica Karagulla, called The Chakras and the Human Energy Fields. 2
Một cách tình cờ, đây là lĩnh vực khó nhất để nghiên cứu bằng thông nhãn, bởi vì nó phức tạp nhất. Thể dĩ thái thực sự là một bản sao của cơ thể vật lý, và nó lặp lại sự phức tạp của các quá trình trong cơ thể của chúng ta. Khi tìm kiếm dấu vết bệnh tật, người ta phải lưu ý đến sự khác biệt về màu sắc, kết cấu, mức độ và hình thức chuyển động, và nhiều yếu tố khác trong thể dĩ thái. Trong thực tiễn của các kỹ thuật chữa bệnh như Đặt tay chữa bệnh (Therapeutic Touch), chúng tôi nghiên cứu chủ yếu để khám phá và loại bỏ những tắc nghẽn trong dòng năng lượng dĩ thái, trong khi luôn luôn tâm niệm con người là một tổng thể. Việc bàn luận về thể dĩ thái và các chức năng của nó là không thích hợp ở đây, nhưng những độc giả muốn có được mô tả đầy đủ hơn có thể quan tâm đến một cuốn sách mà tôi đã viết với Bác sĩ Shafica Karagulla, cuốn sách có nhan đề Luân xa và các Trường Năng lượng của Con người.
Next in order of subtlety of material and speed of motion comes the astral or emotional field, whose characteristic form of energy is feeling, followed by the mental, whose energy is thought or thinking. Beyond lie the intuitional field and still subtler levels. These dimensions are increasingly finer in texture, lighter, faster moving, and have higher rates of vibration. They are more powerful, because they are able to transform coarser energies into finer. They are more open to spiritual influences, and they are also more enduring, since they are less affected by the storms and stresses of physical life.
Tiếp đến, theo mức độ tinh tế của vật chất và tốc độ chuyển động, là trường astral hay cảm dục, năng lượng đặc trưng của nó là những xúc cảm, theo sau là trường trí tuệ, đó là năng lượng của ý nghĩ hay tư duy. Ngoài trường trí tuệ là trường trực quan và có mức độ vi tế cao hơn. Những chiều đo này có kết cấu mịn hơn, nhẹ hơn, chuyển động nhanh hơn và có mức độ rung động cao hơn. Chúng mạnh mẽ hơn, bởi vì chúng có thể biến đổi năng lượng thô thành mịn hơn. Chúng nhạy bén hơn đối với những tác động tinh thần, và chúng cũng bền vững hơn, vì ít bị ảnh hưởng bởi những căng thẳng và bão tố trong đời sống vật lý.
As I mentioned, our tendency is to think of things that are “higher” as being “better,” but this is not necessarily the case with the relationship between mind and feeling. On the level of daily activity, these two faculties ordinarily work closely together. As soon as we feel something we rationalize that feeling, and place it in the context of our experience, so that our emotions and thoughts are constantly interacting.
Như tôi đã đề cập, chúng ta thường có khuynh hướng nghĩ rằng “cao hơn” là “tốt hơn”, nhưng điều này không hẳn là đúng đối với mối quan hệ giữa thể trí và cảm xúc. Trong các hoạt động hàng ngày, hai thể này thường gắn kết chặt chẽ với nhau. Ngay khi chúng ta cảm nhận một điều gì đó chúng ta đánh giá cảm nhận đó, và đặt nó trong bối cảnh kinh nghiệm của mình, để cảm xúc và suy nghĩ của chúng ta tương tác không ngừng nghỉ.
The Mind
Thể trí
The mind can influence the emotions very powerfully, because it is that part of us which can distance itself from our feelings and observe their effects: “I feel happy; I feel angry.” Thus the mind can give more objectivity to our emotions by pointing out the direction in which they are leading us, and by so doing, produce order and coherence in our lives. But the mind can also become warped and exert an egotistic, negative and harmful effect upon the emotional life. It can justify our prejudices and pervert the truth, thus becoming, as H. P. Blavatsky put it, “the slayer of the real.”
Thể trí có ảnh hưởng tới cảm xúc rất mạnh mẽ, bởi vì đó là một phần có thể tự tách ra khỏi cảm xúc của con người và quan sát các tác động của chúng: “Tôi cảm thấy hạnh phúc; Tôi cảm thấy tức giận.” Như vậy thể trí có thể mang lại tính khách quan cao hơn cho cảm xúc của con người bằng cách chỉ ra phương hướng dẫn dắt chúng ta, và thông qua đó, tạo ra trật tự và sự gắn kết trong cuộc sống của chúng ta. Nhưng thể trí cũng có thể trở nên méo mó và tạo ra những tác động tiêu cực, ích kỷ và có hại đối với cuộc sống tình cảm. Nó có thể biện minh cho những định kiến của con người và xuyên tạc sự thật, và khi đó, như bà H. P. Blavatsky đã nói, nó là “kẻ giết chết sự thật.”
Yet the mind’s influence is essential for personal integration and balance, as well as for guidance. It is the mind that sets goals, plans strategies, formulates problems and works them out step by step. Reason offers guidance, gives shape and coherence to our wandering thoughts, permits self-criticism. All these are the positive uses of the mind in daily life.
Tuy nhiên, ảnh hưởng của thể trí là điều vô cùng cần thiết cho sự hợp nhất và cân bằng phàm ngã, cũng như có tác dụng hướng dẫn. Thể trí đặt ra các mục tiêu, lập kế hoạch chiến lược, tạo dựng các vấn đề và thực hiện từng bước. Lý trí đưa ra hướng dẫn, định hình và gắn kết với những suy nghĩ lan man của chúng ta, cho phép tự phản biện. Tất cả đều là những hoạt động tích cực của thể trí trong cuộc sống hàng ngày.
There is also a level of the mind which is engaged with abstract thinking, such as mathematics, philosophy or science, and this does not affect the emotions directly to the same extent. However, mathematicians and scientists would not pursue their profession unless it aroused their interest, which is needed to engage emotional drive, focus attention and kindle enthusiasm for an abstract enterprise. Some people have a real passion for ideas and can become totally absorbed in them; such interest is far from being merely academic. In this case, emotional and mental energies are working fully together, which is one of the signs of personal integration.
Còn có một mức độ thể trí gắn liền với tư duy trừu tượng, như toán học, triết học hay khoa học, và điều này không ảnh hưởng trực tiếp đến cảm xúc. Tuy nhiên, các nhà toán học và các nhà khoa học sẽ không theo đuổi nghề nghiệp của mình trừ khi họ có mối quan tâm tới các lĩnh vực này, nhờ đó cảm xúc được thúc đẩy, sự chú tâm và nhiệt tình sẽ được dành cho các vấn đề trừu tượng. Một số người có một niềm đam mê sâu sắc với các ý tưởng và có thể hoàn toàn đắm chìm vào chúng; sự quan tâm đó không chỉ đơn thuần mang tính học thuật. Trong trường hợp này, năng lượng tinh thần và cảm xúc kết hợp với nhau, đó là một trong những dấu hiệu của sự hợp nhất phàm ngã.
But there is all too often a gap, a lack of synchronism, between the reason which tries to understand a situation and the feelings which make us act. Often people do not heed the information so offered, but directly act out what their feelings dictate at the moment. Then our emotional drives can lead us into behavior which does not accord with our intention, or even with our experience. In such a case we say that a person is impulsive —even, perhaps, to the extent of being out of control. Such splits in the psyche show up visibly in the personal aura of an individual. The mental field can be open to the intuition as well as being clear and well focused, but the individual may not be well-balanced at the emotional level. When this happens, there may be a fertility of ideas without the ability to follow through and put them into practice.
Nhưng giữa lý trí cố để hiểu được một tình huống và cảm xúc thúc đẩy hành động thường có một khoảng cách và thiếu tính đồng bộ. Thường thì mọi người không lưu ý đến thông tin được cung cấp, mà phản ứng trước một tình huống theo cảm xúc tức thời. Khi đó, các cung bậc cảm xúc có thể dẫn chúng ta tới những hành động không phù hợp với ý định của mình, hay theo kinh nghiệm của bản thân. Trong trường hợp như vậy, chúng ta nói rằng người đó là bốc đồng—thậm chí có thể tới mức vượt ngoài tầm kiểm soát. Sự chia tách như vậy trong tinh thần hiển thị rõ ràng trong hào quang của một cá nhân. Trường thể trí có thể đón nhận trực giác cũng như có độ tập trung rõ nét, trong khi trường cảm xúc của người đó bị mất cân bằng. Khi điều này xảy ra, có thể có rất nhiều ý tưởng nảy sinh mà cá nhân đó không có khả năng làm theo và đưa chúng vào thực tế.
There are many such kinds of dysfunction between the fields. However, except in the very ill or disabled, the emotional and mental fields always work together quite closely, for thinking is as a matter of course accompanied by some degree of feeling. It may be interest or boredom, like, dislike or indifference, but even when repressed, there is always an emotional component in our thought.
Có rất nhiều loại rối loạn chức năng như vậy giữa các trường. Tuy nhiên, ngoại trừ những người ốm yếu hoặc tàn tật, trường cảm xúc và thể trí luôn phối hợp với nhau khá chặt chẽ, bởi vì tư duy luôn đi cùng một mức độ cảm xúc nào đó. Nó có thể là sự quan tâm hay chán nản, thích hay không thích hoặc thờ ơ, và ngay cả khi bị kiềm chế, luôn có một phần cảm xúc trong suy nghĩ của chúng ta.
The Intuition
Trực giác
Our feelings for nature or for beauty or for world peace are also emotions, but of a different kind. They go beyond the purely personal, and are linked with that aspect of ourselves which we call the intuition. This is a level of consciousness which is beyond the mind, or lies deeper within us, and it gives us insights which reach beyond our knowledge. Many people have had a sudden experience of unity with nature — or with the spiritual component of the world — so strongly that for the moment it dissolved all the barriers that separate us from one another. Such a unitive experience transcends both mind and emotion, suffusing them with higher-level energies so powerful that the result can be an entirely new perspective on life.
Tình cảm của chúng ta dành cho thiên nhiên hay cái đẹp, hoặc cho hòa bình trên thế giới cũng là cảm xúc, nhưng là một dạng thức khác. Chúng vượt ra khỏi mức độ phàm ngã đơn thuần, và liên quan đến một khía cạnh của con người mà chúng ta gọi là trực giác. Đây là mức độ tâm thức vượt trên thể trí, hoặc ẩn sâu bên trong mỗi người, và nó mang lại cho chúng ta những hiểu biết sâu xa hơn kiến thức của mình. Nhiều người trải qua những thời khắc bỗng chốc thấy mình hòa nhập với thiên nhiên—hoặc với tinh thần của thế giới—mạnh đến nỗi vào thời điểm đó nó giải phóng tất cả những rào cản vốn vẫn phân cách chúng ta với nhau. Trải nghiệm hợp nhất đó vượt qua cả tâm trí và cảm xúc, làm cho họ thấm đẫm năng lượng cấp cao mạnh mẽ tới mức có thể mang lại một quan điểm hoàn toàn mới về cuộc sống.
In a different case, insight — seeing the whole of a relationship or the truth of an idea — is also an aspect of the intuitive field, for it is both more sudden and more direct than our usual cause-and-effect thinking. It is this that makes it possible for us to see new truths in old situations, to find creative solutions to intractable problems and to make sudden, quantum jumps in understanding.
Trong một trường hợp khác, tri kiến tinh thần—nhìn thấy toàn bộ mối quan hệ hoặc chân lý của một ý tưởng—cũng là một khía cạnh của trường trực quan, bởi vì nó ào tới trực diện và tức thì, khác hơn lối suy nghĩ nguyên nhân và kết quả thông thường của chúng ta. Chính điều này giúp chúng ta có thể nhìn thấy những thực tính mới cho những tình huống cũ, tìm ra các giải pháp sáng tạo cho các vấn đề khó giải quyết và thực hiện các bước nhảy vọt đột phá đầy hiểu biết.
The Experience of Time
Trải nghiệm về Thời gian
There is another point to note about the subtle fields that seems to indicate that they really are dimensions of space. The experience of time is different in these higher dimensions. I do not understand how or why this should be so, except that we all know that time is relative to motion. Since the dynamics of the subtler fields are different from those of the physical world, time values on these levels are much more flexible. Past and present, as we know them, lose much of their distinctiveness and become part of one time continuum. Both are represented to some extent in the here and now of the emotional and mental fields. This is why it is possible to discover traces of the distant past in a person’s aura, and to forecast tendencies which may develop in the future. The way this time factor becomes part of the individual human psyche will be touched upon in describing the auras of babies and children.
Có một điểm cần lưu ý nữa về các trường vi tế là có những dấu hiệu chỉ ra rằng chúng thực sự là các chiều của không gian. Trải nghiệm về thời gian là khác nhau ở những chiều cao hơn. Tôi không hiểu nguyên nhân và cách thức diễn ra điều đó, ngoại trừ một điều chúng ta đều biết rằng thời gian liên quan đến chuyển động. Vì sự biến động của các trường vi tế khác với các trường của thế giới vật lý, các giá trị thời gian ở các cõi cao linh hoạt hơn nhiều. Như chúng ta biết, quá khứ và hiện tại không còn phân biệt và trở thành một phần của sự liên tục của thời gian. Cả quá khứ và hiện tại đều mang ý nghĩa biểu đạt cho “ở đây” và “bây giờ” của trường thể trí và cảm dục. Đó là lý do tại sao bạn có thể khám phá ra những dấu vết của quá khứ xa xôi trong hào quang của một người, và dự đoán được các khuynh hướng có thể phát triển trong tương lai. Cách mà yếu tố thời gian này trở thành một phần của tâm lý con người sẽ được nhắc tới trong việc miêu tả hào quang của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
Although we may be unaware of the different states of consciousness and energy within us, we make use of them as easily as the air we breathe, for they are part of the natural world. But what makes it possible for us to draw upon all these energies without being conscious of them? What is the principle of integration which coordinates and unifies all the physical, vital, emotional and mental dimensions within us?
Mặc dù chúng ta không biết được các trạng thái tâm thức và năng lượng khác nhau trong mình, chúng ta sử dụng chúng dễ dàng như không khí chúng ta hít thở, vì chúng là một phần của thế giới tự nhiên. Nhưng điều gì giúp chúng ta có thể sử dụng những năng lượng này mà không cần ý thức về chúng? Đâu là nguyên tắc của sự tích hợp tạo ra thống nhất và điều hòa tất cả các chiều vật lý, sinh lực, cảm xúc và thể trí trong chúng ta?
The Timeless Self
Bản Thể phi thời gian
I believe that this integrating factor is what I like to call the “timeless self” — a principle of being which provides continuity during life, and persists after death. This is a concept which occurs mainly in Hinduism (where it is linked to reincarnation), although it is kin to the soul as described in Christianity. However it be defined, from my point of view that self is a reflection of the ultimate aspect of being. It is rooted in a timeless spiritual reality which transcends and embraces all the dimensions of consciousness.
Tôi tin rằng yếu tố hợp nhất này là cái mà tôi muốn gọi là “bản thể phi thời gian”—một nguyên tắc của sự hiện hữu tạo nên sự liên tục trong suốt cuộc đời, và tồn tại sau khi chết. Đây là một khái niệm phổ biến trong Ấn Độ giáo (nơi nó được gắn liền với thuyết luân hồi), mặc dù nó gần với khái niệm linh hồn như được mô tả trong Kitô giáo. Tuy nhiên theo quan điểm của tôi, nên định nghĩa, rằng bản thể là một sự phản ánh khía cạnh tận cùng của hiện hữu. Nó bắt nguồn từ một thực tính tâm linh phi thời gian, vượt qua và bao trùm tất cả các chiều của tâm thức.
As will be shown in the aura pictures, especially those of children, everyone is born with a link to this spiritual reality, whether or not this link is ever consciously realized during life. The self (which should not be confused with the ego or egotism) is the thread which not only connects us to reality, but also gives ultimate shape, meaning and value to our experience. It is the power of the timeless self within us that makes it possible for human beings to overcome the greatest obstacles. Even severely handicapped people can draw upon this inner strength. By so doing, they can develop their own creativity and find it possible to make a contribution — not physically, perhaps, but on the level of human relations.
Như được thể hiện trong các bức hình hào quang, đặc biệt là của trẻ em, mọi người đều được sinh ra với một liên kết với thực tính tinh thần, dù liên kết này có được nhận thức một cách có ý thức trong cuộc sống hay không. Bản thể (không nên nhầm lẫn với cái tôi hoặc tự ngã) là một dòng mạch không chỉ kết nối chúng ta với thực tính, mà còn mang lại hình dạng, ý nghĩa và giá trị cuối cùng cho kinh nghiệm của chúng ta. Nhờ có sức mạnh của bản thể phi thời gian trong mỗi người, chúng ta có thể vượt qua những trở ngại lớn nhất. Ngay cả những người tàn tật nặng nề cũng có thể có được sức mạnh nội tại này. Bằng cách đó, họ có thể phát triển khả năng sáng tạo của riêng mình và giúp đóng góp—có thể không phải về thể chất, mà ở các tầm mức quan hệ của con người.
I have a dear friend who illustrates this point in a remarkable way. As an infant she contracted polio, which left her extremely disabled. She is confined to a wheelchair, has lost the use of her left arm, and is neurologically impaired in a variety of ways. In spite of all this, she has never been without the confidence that she would be able to function in the world.
Tôi có một người bạn thân, một trường hợp có thể lấy làm dẫn chứng sinh động cho điểm này. Khi còn nhỏ, cô bị bệnh bại liệt, khiến cô trở thành người tàn tật hoàn toàn. Cô phải ngồi xe lăn, không thể sử dụng cánh tay trái, và bị tổn thương thần kinh nghiêm trọng. Mặc dù vậy, cô chưa bao giờ mất lòng tin rằng mình sẽ có khả năng hoạt động trên thế giới.
Although her health is always precarious, her courage and her creative potential have made it possible for her to overcome many of the obstacles to a full life. She was able to study painting and develop her artistic gifts to the extent that she has been capable of earning her own living, at least partially. Although she is in constant pain, she never complains and is always interested in the lives of other people. As a consequence, she has dozens of friends. The realization that she is able to make a contribution to others in spite of all her difficulties has sustained her spirit throughout her life.
Mặc dù sức khoẻ của cô luôn luôn bấp bênh, lòng dũng cảm và khả năng sáng tạo của cô đã giúp cô vượt qua vô vàn trở ngại để sống một cuộc đời bình thường. Cô đã học vẽ và tạo ra những món quà nghệ thuật tuyệt vời đến mức cô có khả năng tự mình kiếm sống, ít nhất là để trang trải một phần. Mặc dù thường xuyên sống trong đau đớn, cô không bao giờ phàn nàn và luôn quan tâm đến cuộc sống của người khác. Kết quả là, cô có vô số bạn bè. Việc nhận ra rằng mình có thể đóng góp cho người khác cho dù phải đối mặt với tất cả những khó khăn đã duy trì được tinh thần của cô trong suốt cuộc đời.
This story illustrates a point I shall be emphasizing in different ways throughout this book. With determination, and the self-confidence it inspires, we can draw upon an almost limitless potential of higher energies within us, giving us the ability to achieve goals which might seem far beyond our capacities.
Câu chuyện này minh hoạ một điểm tôi sẽ nhấn mạnh theo nhiều cách khác nhau trong suốt cuốn sách này. Với quyết tâm và sự tự tin giúp tạo ra cảm hứng, chúng ta có thể thu hút được một tiềm năng gần như vô hạn về nguồn năng lượng cao trong nội tại, cho chúng ta khả năng đạt được các mục tiêu dường như vượt quá khả năng của mỗi người.
The Effects of Karma
Tác động của Nghiệp quả
Lastly, there is the question of personal idiosyncrasy. We are all born with a basic emotional pattern, or with the possibility of developing certain emotional qualities, as I shall try to show in discussing the auras of children. In this connection, it is impossible to ignore the question of karma (the effects of past action), which sets the boundary conditions of human life. These conditions are not cast in concrete, because karma can work itself out in many ways and on many different levels. Nevertheless, it establishes certain predispositions which a person will have to cope with during life, and these are clearly represented at the level of the emotions.
Cuối cùng, có một câu hỏi về đặc tính cá nhân. Tất cả chúng ta đều sinh ra với một hình thái cảm xúc cơ bản, hoặc với khả năng phát triển những phẩm chất cảm xúc nhất định, như tôi sẽ cố gắng thể hiện trong việc thảo luận về hào quang của trẻ em. Theo quan điểm này, không thể bỏ qua vấn đề nghiệp quả (ảnh hưởng của hành động trong quá khứ), một yếu tố tạo ra các điều kiện giới hạn của cuộc sống con người. Những điều kiện này không được sắp đặt một cách cố định, bởi vì nghiệp có thể hoạt động theo nhiều cách và ở nhiều mức độ khác nhau. Tuy nhiên, nó thiết lập một số khuynh hướng nhất định mà một người sẽ phải đối diện trong suốt cuộc đời, và chúng được biểu lộ rõ ràng ở trường cảm xúc.
Today we have become used to the idea that we are born with certain genetic patterns that determine our physical make-up and also govern our mental processes and emotional responses. This is true to a certain extent, but our knowledge of the genes does not yet encompass the ways in which mental and emotional characteristics are formed, or how they will develop. Medicine is finding ways to change genetic patterns and perhaps eliminate hereditary defects, but will such changes make people more humane, kinder, more compassionate? Most of us accept the fact that illness affects our mental and emotional states, but not that the reverse is also true.
Ngày nay, chúng ta đã quen với quan điểm rằng chúng ta được sinh ra với những mô thức di truyền nhất định quyết định thể vật lý của mình, đồng thời điều khiển trí tuệ và các phản ứng cảm xúc của chúng ta. Điều này đúng ở một mức độ nào đó, nhưng sự hiểu biết của chúng ta về gen di truyền vẫn chưa bao gồm những cách thức mà các đặc điểm trí tuệ và cảm xúc được hình thành, hay cách thức phát triển của chúng. Y học đang tìm cách thay đổi mô hình di truyền và có thể loại bỏ các khuyết tật di truyền, nhưng liệu những thay đổi như vậy có làm cho con người nhân văn hơn, tử tế hơn và từ bi hơn? Hầu hết chúng ta chấp nhận thực tế là bệnh tật ảnh hưởng đến trạng thái tinh thần và tình cảm của chúng ta, nhưng chưa chấp nhận một thực tế ngược lại.
Human beings have far greater depths within them than one might suppose. As I remarked at the beginning of this chapter, the subtle dimensions of consciousness are in many ways more powerful than our physical attributes.
Con người có những chiều sâu thật lớn hơn là người ta vẫn nghĩ. Như tôi đã nhận xét ở đầu chương này, các chiều vi tế của tâm thức có sức mạnh lớn hơn nhiều các thuộc tính vật lý của chúng ta.
We all have access to these inner resources. They are not reserved for the few, the privileged or the especially gifted, for they are part of our human heritage. Even when they remain an untapped resource, they are there, always available if we have the will and the motivation to use them.
Tất cả chúng ta đều có thể tiếp cận với các nguồn lực nội tại này. Chúng không phải chỉ dành cho một số ít những người được đặc ân hay có năng khiếu đặc biệt, vì chúng là một phần của di sản con người của chúng ta. Ngay cả khi vẫn là một nguồn tài nguyên chưa được khai thác, chúng đang ở đó, luôn luôn hiển hiện nếu chúng ta có ý chí và động lực sử dụng chúng.
3.The Emotional Field—Trường Cảm xúc
No human being is without feelings. From a baby’s first cry to a dying person’s last look at friends and family, our primary response to the world around us is colored by emotion. Whether that world seems to us friendly or frightening, beautiful or ugly, pleasant or disagreeable affects the way we approach others, and indeed influences everything we do. I do not believe that such feelings arise in us solely due to environmental conditions, or to genetic factors, however impor-tant these both may be. Members of the same family, placed in the same kinds of situations, react in very different ways. Our emotions are a conscious response to our experience, but they are self-generated and reveal something important about our character.
Không có một người nào mà không có cảm xúc. Từ tiếng khóc đầu đời của một đứa trẻ cho đến ánh nhìn lần cuối vào bạn bè và người thân của một người đang từ giã cõi trần, phản ứng đầu tiên của chúng ta với thế giới xung quanh được nhuộm màu cảm xúc. Thế giới đó hiện ra với chúng ta thân thiện hay đáng sợ, đẹp đẽ hay xấu xí, dễ chịu hay khó chịu sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta tiếp cận người khác, và thực sự tác động đến mọi việc chúng ta làm. Tôi không tin những cảm xúc đó nổi lên trong chúng ta chỉ do hoàn cảnh môi trường xung quanh, hay chỉ do yếu tố gen, nhưng có lẽ cả hai đều quan trọng. Thành viên trong cùng một gia đình, ở cùng những hoàn cảnh giống nhau, phản ứng theo các cách khác nhau. Cảm xúc của chúng ta là một đáp ứng có ý thức với kinh nghiệm của chúng ta, nhưng chúng có tính phát sinh tự thân và tiết lộ một số điểm quan trọng trong tính cách của chúng ta.
To me, the emotions are “real” in the sense that I can perceive them objectively as a luminous atmosphere surrounding every living being. Because of its luminosity, this material has traditionally been called “astral” —i.e., “shining” —in theosophical literature.
Với tôi, các xúc cảm là “thật” theo nghĩa tôi có thể nhận biết chúng một cách khách quan như một bầu sáng chói bao quanh mỗi thực thể sống. Do sự phát sáng của nó nên chất liệu của nó thường được gọi là “astral”—nghĩa là “chiếu sáng”—trong văn chương Thông thiên học.
Every time we feel an emotion there is a discharge of energy in the emotional field, whether slight or strong, and this produces a characteristic vibration and a color —the “footprint” of that particular emotion.
Mỗi khi chúng ta cảm nhận được một cảm xúc thì có một phóng thích năng lượng trong trường cảm xúc, có thể là yếu ớt hoặc mạnh mẽ, và hiện tượng này tạo nên một loại rung động và màu sắc riêng biệt—”dấu ấn” của cảm xúc riêng biệt đó.
From experience I have learned to identify the principal shades and tones of color which the emotions produce, although the subtle variations are almost infinite. Since we are continually feeling a succession of different emotions during daily life, these colors are sometimes fleeting, passing like tinted clouds through the aura — our personal field or atmosphere — or suffusing it with a sudden tide of strong color. Other emotions are much more enduring, and these become a more or less permanent feature of the aura.
Bằng kinh nghiệm tôi đã học cách nhận biết các sắc thái và tông màu cơ bản mà các cảm xúc tạo ra, tuy những rung động vi tế là gần như không có giới hạn. Vì chúng ta liên tục cảm nhận một chuỗi các cảm xúc khác nhau trong cuộc sống thường nhật, những màu sắc này đôi khi thoáng qua, lướt nhanh như những đám mây điểm màu xuyên qua hào quang—trường hay bầu năng lượng cá nhân— hoặc làm tràn ngập bầu này với một đợt màu sắc mạnh dâng lên bất ngờ. Những loại xúc cảm khác thì tồn tại lâu hơn, và những cảm xúc này ít nhiều trở thành một đặc điểm cố định của hào quang đó.
In the previous chapter, I spoke of the fact that it is often difficult for people to accept feelings as a form of energy which can be observed and even measured. To restate the claim, if emotions do have definite effects in terms of our physical and psychological health, they must possess some kind of force, or energy. And since in our universe energy is always associated with matter, the emotions must be in some sense material or related to material phenomena. Even if the matter of the emotional field is finer and more tenuous than any that has so far been studied by science, this does not mean it is “supernatural” (which is a word I dislike intensely). The emotional field —like the physical world with all its subtleties — is part of the structure of the universe itself, both visible and invisible, and is, I believe, subject to the same natural laws.
Ở chương trước, tôi co nói đến sự thật rằng mọi người thường khó chấp nhận cảm xúc như một hình thức năng lượng mà có thể được quan sát và thậm chí là đo lường. Để nhắc lại quan điểm này, nếu các cảm xúc có ảnh hưởng xác định lên sức khoẻ thể chất và tâm thần của chúng ta, chúng chắc chắn mang trong mình một loại lực hay năng lượng nào đó. Và vì trong vũ trụ của chúng ta, năng lượng luôn liên quan đến vật chất, các cảm xúc về mặt nào đó cũng phải là một loại vật chất hoặc là hiện tượng có liên hệ đến vật chất. Ngay cả khi vật chất của trường cảm xúc có mịn và tinh tế hơn bất cứ loại vật chất nào đã được khoa học nghiên cứu thì điều này không có nghĩa nó có tính “siêu nhiên” (một từ mà tôi thực sự không thích). Trường cảm xúc—giống như thế giới vật lý với tất cả những thể vi tế của nó—là một phần của cấu trúc của chính vũ trụ này, cả hữu hình và vô hình, và tôi tin rằng, đều là đối tượng của cùng các quy luật tự nhiên.
Thus although the emotional field is not yet accessible to physical observation, it is in some sense “material.” Lama Govinda spoke about the “individual characteristics” of the lower dimensions of consciousness. It is the special characteristics of the emotional field that I shall be talking about, because in considering the personal aura we must never forget that it is part of the much larger field which is the aura of the Earth itself. We are never separated from this larger whole.
Do vậy, dù trường cảm xúc chưa thể được tiếp cận bằng các quan sát vật lý thì theo một nghĩa nào đó, nó vẫn là một dạng “vật chất”. Lama Govinda nói về các “đặc điểm cá nhân” của các chiều đo thấp của tâm thức. Chính tính đặc biệt của trường cảm xúc đó là điều mà tôi sẽ nói sau đây, vì khi xem xét hào quang của một người, chúng ta không bao giờ được phép quên rằng đây là một phần của trường năng lượng lớn hơn, đó chính là hào quang của hành tinh Trái Đất. Chúng ta không bao giờ có thể tách rời khỏi tổng thể lớn hơn này.
The emotional field appears to consist of a translucent, semitransparent medium. It is unique in that the light which shines through it is broken up into a thousand different hues, but the source of that light does not come from without; it is generated by the medium itself. The emotional field is self-luminous.
Trường cảm xúc dường như bao gồm một trường trung gian mờ, nửa trong suốt. Điều đặc biệt là ánh sáng khi chiếu qua trường này sẽ bị phân chia thành hàng nghìn sắc thái màu sắc khác nhau, nhưng nguồn gốc của ánh sáng đó không đến từ bên ngoài; nó phát sinh từ chính môi trường trung gian này. Trường cảm xúc có khả năng tự phát sáng.
The fabric of the emotional field is also permeable, in that it is interpenetrated by physical as well as subtler fields. However, as I have said, because of their different rates of vibration the fields do not blend or merge, but maintain their own integrity. Surrounding every person there is an etheric “body “which interpenetrates the physical body and extends outwards some three to five inches. The aura, or emotional field, interpenetrates the etheric, but extends much farther into space. The mental and intuitional fields similarly interpenetrate and extend beyond the emotional. Thus the personal fields assume the appearance of concentric spheres. Yet at the same time each of these personal fields is part of a universal field that contains everything and is associated with the Earth itself.
Chất liệu của trường cảm xúc có thể thấm qua được, qua đó, nó được xuyên thấu bởi trường vật lý cũng như các trường năng lượng vi tế hơn. Tuy nhiên, như tôi đã nói, vì tốc độ rung động khác nhau mà các trường này không thể bị trộn lẫn hay sát nhập vào nhau, nhưng chúng vẫn duy trì tính tổng thể riêng của mình. Xung quanh mỗi cá nhân có một thể dĩ thái trong đó nó thấm nhập vào thể vật lý và vươn ra ngoài khoảng ba đến năm inches. Bầu hào quang, hay trường cảm xúc, thấm nhập vào thể dĩ thái, nhưng vươn rộng hơn ra ngoài không gian. Trường năng lượng của thể trí và trực giác cũng thâm nhập tương tự và vươn ra ngoài trường cảm xúc. Do vậy, các trường năng lượng của mỗi cá nhân có hình dáng của các bầu đồng tâm. Thế nhưng đồng thời mỗi trường năng lượng cá nhân này lại là một phần của trường vũ trụ, trường này bao gồm mọi thứ và liên hệ đến chính Trái Đất.
Emotions and mental images, therefore, can be thought of as refined states of matter with their corresponding types of energy. I happen to be able to perceive these. But at the non-physical levels it is not just a question of being able to see colors and patterns; perception is very closely related to another faculty, which could be called empathy. It is this that permits observers to understand what they are looking at. Observation simultaneously involves the act of seeing and rapport with what is seen. Without this faculty of empathy, the shapes and colors would have very little meaning. As a matter of fact, the ability to perceive astral colors is not uncommon, but unfortunately the ability to interpret their meanings has not been widely developed.
Do đó, cảm xúc và các hình ảnh trong trí, có thể được xem như các trạng thái tinh luyện của vật chất với các hình thái năng lượng tương ứng của chúng. Tôi vô tình nhận ra điều này. Nhưng ở những cấp độ phi vật lý thì không chỉ là câu hỏi về khả năng nhìn thấy mầu sắc và các mẫu hình; sự nhận biết có liên hệ rất gần gũi với một loại năng lực khác, có thể được gọi là sự đồng cảm. Chính khả năng thấu cảm này cho phép người quan sát hiểu về thứ họ đang nhìn thấy. Đồng thời, sự quan sát liên quan đến việc thấy và hòa hợp với cái đang được nhìn thấy. Nếu không có năng lực thấu cảm này thì các sắc thái và màu sắc sẽ không có nhiều ý nghĩa. Trên thực tế, khả năng tri nhận màu sắc thể cảm dục không phải là hiếm, nhưng thật không may, khả năng hiểu được các ý nghĩa đằng sau của chúng lại chưa được phát triển một cách rộng rãi.
The emotions are closely linked with the physical body during life, but the astral field is not restricted to the living. A discussion of after death states is not the subject of this book, but if one is to understand the nature of the emotions and of the astral field in general, it is necessary to think of them as a particular state of consciousness — not just an attribute of physical life or of brain function. They are an essential expression of the self. In the previous chapter I mentioned that I think of the self as the point or principle of integration within a human being. It is around such a point that mental and emotional configurations center, and thereby become meaningful to us and useful in our experience.
Các cảm xúc liên kết chặt chẽ với thể vật lý trong suốt cuộc đời, nhưng trường cảm xúc thì không bị giới hạn trong sự sống đó. Bàn về trạng thái sau khi chết không phải là chủ đề của cuốn sách này, nhưng nếu ai muốn tìm hiểu về bản chất của cảm xúc và của trường cảm xúc nói chung, thì cần nghĩ về chúng như một trạng thái riêng biệt của tâm thức—đó không chỉ là một đóng góp vào sự sống vật lý hay vào hoạt động não bộ. Chúng là một thể hiện căn bản của bản ngã. Ở chương trước tôi đã nói rằng tôi xem bản ngã (self) như một điểm hay một nguyên tắc hợp nhất trong một con người. Chính tại xung quanh điểm đó mà các hình trạng của thể cảm xúc và thể trí tụ lại, và do đó trở nên có ý nghĩa với chúng ta và hữu ích cho trải nghiệm của ta.
The Self as a Principle of Integration
Bản Ngã (Self) như nguồn gốc của sự tích hợp
Looked at in this way, it is possible to think of the self as transcending the physical body and as more enduring than our emotional and mental states, which we all know change from time to time. This concept of the self, or selfhood, as an integrating principle has been used by some scientists to identify the point of departure in every learning process —that is, where, not when, learning begins. Erich Jantsch even suggests that self-organization is a property of the universe itself, and that “Evolution, at least in the domain of the living, is essentially a learning process.”3 We could ask, who or what is it that learns —in the sense of absorbing and then applying the fruits of experience? I certainly cannot accept that it is merely a mechanical function of the brain, for to me every mountain, river, tree, plant and animal has a degree of consciousness and of personality, or “selfhood.” This is why we feel an affinity for certain places; they have their own unique character that draws us to them.
Nếu xem xét theo đường lối này thì có thể xem bản ngã như nằm ngoài thể vật lý, và bền bỉ hơn các trạng thái trí tuệ và cảm xúc của ta, những trạng thái mà chúng ta đều biết rằng thay đổi qua từng thời điểm. Khái niệm về bản ngã hay cái tôi như một nguyên lý kết hợp đã được sử dụng bởi một số nhà khoa học nhằm tìm ra xuất phát điểm của mỗi quá trình học hỏi—nghĩa là nơi, chứ không phải là khi nào, sự học tập bắt đầu. Erich Jantsch thậm chí còn gợi ý rằng khả năng tự tổ chức là một năng lực của bản thân vũ trụ này, và rằng “Sự tiến hoá, ít nhất là trong lĩnh vực của sự sống, về cơ bản là một tiến trình học hỏi”1. Chúng ta có thể đặt câu hỏi, ai hay cái gì đang học hỏi—theo nghĩa hấp thu và sau đó áp dụng các kết quả có được từ kinh nghiệm? Tôi chắc chắn không thể chấp nhận rằng đó chỉ đơn giản là một chức năng máy móc của bộ não, bởi với tôi, mỗi ngọn núi, mỗi dòng sông, mỗi cái cây, thực vật và động vật đều có một mức độ tâm thức và mức độ cá tính, hay “bản ngã”. Đây là lý do tại sao chúng ta cảm nhận sự hấp dẫn ở một số địa điểm nhất định; chúng có đặc tính riêng của chúng làm lôi cuốn chúng ta lại gần.
Our usual linear sense of time, which is so important in daily life, does not dominate this learning process. On the one hand the assimilation of experience is on-going—it never stops —and on the other, learning is an experience in depth, related to the nature of the self. Memories, associations, insights, ideals, aspirations, creative ideas, unselfish love — all persist long after the fact, gradually distilling their essence into the depths of our consciousness. Thus they become an in-eradicable element of our nature, and contribute to our personal growth and evolution.
Cảm giác tuyến tính của chúng ta về thời gian, vốn rất quan trọng trong cuộc sống, lại không làm chủ tiến trình học tập này. Một mặt, sự đồng hoá các kinh nghiệm luôn luôn diễn ra—không bao giờ ngừng nghỉ—và mặt khác, học hỏi là một trải nghiệm thâm sâu, liên quan đến bản chất của bản ngã. Những kí ức, những sự liên hệ, những hiểu biết thấu đáo, những lí tưởng, nguyện vọng, ý tưởng sáng tạo, tình yêu vô kỷ—tất cả đều duy trì lâu dài sau khi thực tại dần dần đang chắt lọc tinh tuý của nó chuyển vào các tầng sâu thẳm trong tâm thức của chúng ta. Do vậy, chúng trở thành một thành tố không thể xoá bỏ trong bản chất của chúng ta, và đóng góp vào sự tiến hoá và phát triển của mỗi cá nhân.
The Astral World
Thế giới cảm dục (cõi cảm dục, trung giới)
Like the earth’s atmosphere, the emotional field is ever-present, and it plays an essential role during life. It can quite legitimately be called the astral “world,” because it replicates, in its own way, the features of the physical world. So far as I know, there is an emotional counterpart of everything in the physical world (people, animals, plants, rocks, even molecules). There is an astral landscape, as it were. Since feelings are not so stable as physical things, this landscape has some of the characteristics of a dream world. But there are degrees of stability in the physical world, are there not? Stability, in other words, is relative and often depends upon our perspective. To the one whose focus of attention is located in the astral world, the features of that world appear as ordinary and matter-of-fact as physical nature does to us.
Giống như bầu khí quyển của trái đất, trường cảm xúc luôn luôn hiện diện và đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống. Nó có thể được gọi một cách hợp thức là “thế giới” cảm dục, bởi vì nó sao chép, theo cách riêng của mình, những đặc tính của thế giới vật lý. Theo những gì tôi biết được cho đến nay thì có một đối phần cảm xúc của mọi thứ trong thế giới vật lý (con người, động vật, cây cỏ, đá, thậm chí cả các phân tử). Có một quang cảnh thể cảm dục như nó là. Vì cảm xúc không ổn định như vật thể vật lý, cảnh tượng loại này có một số đặc điểm của thế giới trong giấc mơ. Nhưng thế giới vật lý cũng có sự ổn định ở một mức độ nhất định, đúng không? Tính ổn định, nói cách khác, là tương đối và thường phụ thuộc vào nhận thức của chúng ta. Với người mà điểm tập trung sự chú ý nằm ở thế giới cảm xúc thì các đặc điểm của thế giới đó hiện ra như bình thường và hiện thực như giới tự nhiên vật lý đối với chúng ta.
I know that nature is usually divided into the living and the nonliving, but I do not perceive these distinctions. Since feeling is a characteristic of life, everything that can be perceived in the emotional field must have a degree of life —or an association with the living. All organisms interact with their environment through an interchange of prana or life energy in the etheric field, but they also interact to a powerful degree through feeling. This is certainly the principal way we interact with animals. In simpler forms of life, feeling may take the character of craving, attraction, fear and so on, but even here there is the presence of a vague sense of liking, which in higher animals flowers into concern and affection. The point I am trying to make is that since all living creatures have a degree of consciousness, all participate to some degree in the emotional field.
Tôi biết rằng giới tự nhiên thường được chia thành phần có sự sống và phần không có sự sống, nhưng tôi không nhận thấy những khác biệt này. Vì cảm giác là một đặc tính của sự sống, mọi thứ có thể nhận biết trong trường cảm xúc thì đều có sự sống ở cấp độ nào đó—hoặc là một mối liên hệ với sự sống. Toàn bộ sinh vật tương tác với môi trường xung quanh chúng thông qua việc trao đổi sinh khí prana hay năng lượng sự sống trong trường dĩ thái nhưng chúng cũng tương tác ở một mức độ mạnh mẽ thông qua cảm giác. Đây chắc chắn là đường lối cơ bản mà chúng ta tương tác với động vật. Trong một hình thái sự sống đơn giản hơn, cảm giác có thể hiện ra với đặc tính là thèm khát, hấp dẫn, sợ hãi, vân vân. Nhưng ngay cả ở đây vẫn có sự hiện diện của một cảm giác ưa thích mơ hồ, cảm giác mà ở động vật tiến hoá hơn sẽ khai mở thành mối quan tâm và tình cảm. Vấn đề tôi đang cố gắng làm rõ ở đây là vì tất cả các sinh vật sống đều có tâm thức ở mức độ nào đó, nên chúng đều tham dự ở cấp độ nào đó vào trường cảm xúc.
Dynamism
Sự sinh động (Dynamism)
As I have said, the fields should be thought of as interrelated states of consciousness and energy which have their own distinctive characteristics. In the case of the emotional field, the word which describes its character most accurately is dynamism. Emotions are very powerful, and at the same time very volatile. They come and go like clouds passing through the sky, and yet, like clouds, they are a permanent feature of our world. They are, in fact, dynamic patterns or configu-rations within which change is continually taking place.
Như tôi đã nói, các trường năng lượng cần được nhìn nhận như là các trạng thái liên hệ lẫn nhau của tâm thức và năng lượng, trong đó chúng có những đặc điểm riêng. Ở trường hợp của trường cảm xúc, từ ngữ miêu tả tính chất một cách chính xác nhất của trường này là tính sinh động. Cảm xúc thường có sức mạnh rất lớn, đồng thời rất hay thay đổi. Chúng đến và đi như các đám mây ngang qua bầu trời, nhưng tuy vậy, cũng như các đám mây, chúng là một đặc điểm trường cửu của thế giới này. Thực tế chúng là những mẫu hình hay hình trạng mà trong đó sự thay đổi liên tục diễn ra.
Unless the essential dynamism of the emotional field is understood, the aura pictures which follow may be misleading. It is difficult for many people to accept the fundamental uncertainty of life, and to realize that change is both constant and inevitable. Nothing is static; everything is in the process of turning into something different. All of nature is permeated by this on-going change, which we recognize as the evolutionary process at work on all levels. This does not mean that life is necessarily dangerous and insecure, or that we live in a state of uncontrollable chaos. Quite the contrary. When we perceive that the principle of ordered change is the law of the universe itself, we can accept and work with it, as the Taoists suggest.
Trừ phi tính sống động cơ bản của trường cảm xúc được thấu hiểu, những bức tranh về hào quang sau đây sẽ bị hiểu sai. Nhiều người rất khó chấp nhận được tính vô thường cơ bản của sự sống, và khó có thể nhận ra rằng sự thay đổi là liên tục và không thể tránh khỏi. Không có gì là đứng yên; mọi thứ đều đang trong tiến trình trở thành một thứ khác. Tất cả giới tự nhiên đều được thấm nhuần bởi sự thay đổi luôn luôn diễn ra này, điều mà chúng ta nhận ra như một quá trình tiến hoá đang xảy ra ở mọi cấp độ. Điều này không có nghĩa là sự sống là luôn nguy hiểm và bấp bênh, hay là chúng ta đang sống trong một tình trạng hỗn loạn không thể kiểm soát. Thực ra là điều ngược lại. Khi chúng ta nhận biết rằng nguyên tắc của thay đổi có trật tự chính là quy luật của vũ trụ này, chúng ta có thể chấp nhận và sống với nó, như những nhà Đạo Giáo đã chỉ ra.
Within the on-going processes of nature, we see the enormous differences between the slow pace of geological change, through ever- quickening biological cycles, up to the speed of light. Gases are more volatile than water, water than rocks. It should come as no surprise, then, that the higher dimensions are much more volatile then any physical state. In the field of the emotions, feelings often spontaneously wash over us, suffusing everything else with a quick tide of joy or sorrow or anger or love. The most dominant features of emotional interaction are changeability and fluidity. Yet through all this, the thread of our self-awareness persists. To put it differently, you are yourself, whether child, adolescent or adult, whether sick or well, whether happy or sad. Self-identity is the one constant in a world of change.
Bên trong các tiến trình tự nhiên đang diễn ra, chúng ta thấy những khác biệt lớn giữa nhịp độ chậm của những thay đổi về địa chất, đến những chu trình sinh học nhanh chóng, cho tới tốc độ của ánh sáng. Khí ga dễ thay đổi hơn nước, nước dễ thay đổi hơn sỏi đá. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi những chiều đo cao hơn lại dễ thay đổi hơn rất nhiều so với trạng thái vật lý. Trong trường cảm xúc, các cảm giác thường cùng lúc cuốn qua chúng ta, làm tràn ngập mọi thứ với đợt dâng nhanh của niềm vui hay nỗi buồn hay sự giận giữ hay tình yêu. Đặc tính nổi bật nhất của tương tác thể cảm dục là khả năng dễ thay đổi và tính linh động. Tuy vậy, sợi dây ngã thức của chúng ta luôn tồn tại qua tất cả những thay đổi này. Nói cách khác, bạn vẫn chính là bạn, dù là đứa trẻ, thanh niên hay người trưởng thành, dù ốm yếu hay khi khoẻ mạnh, dù hạnh phúc hay buồn rầu. Bản Ngã (Self-identity) là thứ duy nhất liên tục trong một thế giới luôn luôn thay đổi này.
Participating in the Emotional Field
Tham gia vào trường cảm xúc
The aura, which will be described in the next chapter, is a person’s individual emotional field. But it is important to realize that our emotions, which are so intensely personal to us, are shared by all living beings. They are a natural component or quality of life. We are never isolated unless we become so deliberately; we can always reach out to another person through our feelings, even when words are useless for communication. This kind of sharing is possible because our personal field resonates sympathetically with those of others. Everything, everyone, participates in the universal emotional field.
Hào quang, sẽ được mô tả ở chương sau, là một trường cảm xúc cá nhân của một người. Nhưng điều quan trọng là việc nhận ra rằng cảm xúc của chúng ta, những cảm xúc cá nhân mãnh liệt đối với ta, được chia sẻ bởi mọi thực thể sống. Chúng là một cấu phần tự nhiên hay là tính chất của sự sống. Chúng ta không bao giờ đơn độc trừ khi chúng ta làm vậy một cách có chủ ý; chúng ta có thể chạm tới một người khác thông qua các cảm giác của mình, ngay cả khi từ ngữ không thể diễn tả nổi cách giao tiếp này. Loại chia sẻ này có thể xảy ra vì trường năng lượng cá nhân của mỗi chúng ta cộng hưởng một cách đồng điệu với trường năng lượng cá nhân của những người khác. Mọi thứ, mọi người đều tham gia vào trường cảm xúc vũ trụ.
How do our own feelings, which we experience as extremely personal to us, interact with this larger field of the emotions? Our feelings are so much a part of our nature that it is hard for us to realize that they not only affect the lives of those close to us, but also imperceptibly change the emotional field as a whole. Yet if we reflect on our own interpersonal relations — not only in the family, but in social and professional life as well —we see how this influence can grow. Our response to people we instinctively like, as well as those we don’t, often results from our interaction at the emotional level. The aura of every person is a composite of emotional characteristics to which our own feelings resonate. Of course we are often mistaken in such quick judgments, because emotional responses are based more upon compatibility than on character, but the strength of the interaction is real.
Bằng cách nào mà những cảm xúc chúng ta trải nghiệm cực kỳ riêng tư với mỗi người lại tương tác với trường năng lượng lớn hơn của các cảm xúc? Các cảm xúc của chúng ta thực sự là một phần của bản chất chúng ta tới mức chúng ta khó có thể nhận ra rằng chúng không chỉ ảnh hưởng đến những gì gần gũi với chúng ta mà còn làm thay đổi toàn thể trường năng lượng theo cách không nhận ra được. Tuy nhiên, nếu chúng ta liên hệ điều này với các mối quan hệ cá nhân—không chỉ trong gia đình, mà còn trong đời sống xã hội và nghề nghiệp—chúng ta sẽ thấy cách ảnh hưởng này có thể tiển triển. Phản ứng của chúng ta với những người mà chúng ta đặc biệt yêu thích, cũng như những người mà chúng ta không thích, thường là kết quả bắt nguồn từ mối tương tác của chúng ta từ cấp độ cảm xúc. Hào quang của mỗi người là một tổ hợp của các đặc tính cảm xúc mà các cảm xúc của chúng ta cộng hưởng. Tất nhiên, chúng ta thường nhầm lẫn trong các đánh giá nhanh ban đầu như vậy, bởi vì những đáp ứng về mặt cảm xúc thường dựa trên sự tương hợp nhiều hơn là trên đặc tính, nhưng sức mạnh của loại hình tương tác này là có thật.
Since the emotional field is an open system, it is always capable, in varying degrees, of interacting with the fields of those around us. I say in varying degrees, because some of us are more sensitive than others. Such sensitives take in some of the emotional energy which another person is feeling, so there can be an emotional exchange without a word having been spoken. However, some people feel another’s emotion without being able to interpret it clearly, and therefore may misunderstand its cause. For example, we may be in contact with a person who is disturbed for some reason which has nothing to do with us, and yet we may feel the effects of the disturbance. People are frequently hurt or angered by this sort of misinterpretation. If this becomes a persistent condition it may result in a fear of interacting with others.
Vì trường cảm xúc là một hệ thống mở, nó luôn có khả năng tương tác với các trường khác xung quanh chúng ta ở nhiều cấp độ. Tôi nói ở nhiều cấp độ bởi vì một số người trong chúng ta nhạy cảm hơn những người khác. Những người nhạy cảm như vậy tiếp nhận một số năng lượng cảm xúc mà người khác đang cảm nhận, do vậy, có thể có sự trao đổi cảm xúc mà không cần nói ra dù chỉ một từ. Tuy nhiên, một vài người cảm nhận được cảm xúc của người khác mà không thể hiểu cảm xúc đó một cách chính xác, vì vây có thể hiểu nhầm các nguyên nhân gây ra nó. Ví dụ, chúng ta có thể đang tiếp xúc với một người đang khó chịu vì vài nguyên do nào đó không liên quan đến chúng ta, tuy nhiên, chúng ta có thể cảm nhận được những hiệu ứng của sự khó chịu này. Nhiều người thường bị tổn thương hay tức giận vì những kiểu hiểu biết nhầm lẫn này. Nếu hiện tượng này kéo dài, nó có thể dẫn đến cảm giác sợ hãi khi tương tác với người khác.
Interpersonal Relationships
Quan hệ ứng xử giữa các cá nhân
This observation applies as well to family and other close relationships, and in fact to all human interactions. In many ways, human relationships can be the most painful experiences in our lives, or the most helpful and rewarding. But we are on the whole not aware of the degree to which our emotional reactions affect those close to us. All interpersonal relationships are vulnerable to violent emotional interchanges, a fact which people do not seem to realize until the damage is done. None of us can completely escape the effects of our mental and emotional environments, even though we do not consciously recognize what is happening. We can be stimulated or saddened, made peaceful or uneasy, by the places and situations we find ourselves in. This is particularly true for children, who are often more sensitive than adults to the emotional atmosphere.
Quan sát này áp dụng cả vào các mối quan hệ trong gia đình và các mối quan hệ gần gũi khác, và thật ra với mọi tương tác của nhân loại. Trên nhiều phương diện, các mối quan hệ giữa người với người có thể là những trải nghiệm đau đớn nhất trong cuộc sống của chúng ta, hoặc có thể là kinh nghiệm hữu ích và bổ ích nhất. Nhưng về mặt toàn thể, chúng ta không nhận thức được mức độ mà những phản ứng cảm xúc của mình tác động đến những người gần gũi với chúng ta. Tất cả các mối quan hệ cá nhân đều dễ bị tổn thương bởi sự trao đổi qua lại các cảm xúc mãnh liệt, một sự thật mà chúng ta dường như không nhận ra cho đến khi sự huỷ hoại đã hoàn tất. Không ai trong chúng ta có thể thoát khỏi hoàn toàn ảnh hưởng của môi trường cảm xúc và trí tuệ xung quanh mình, mặc dù chúng ta không nhận biết một cách hữu ý điều gì đang diễn ra. Chúng ta có thể bị kích thích hay buồn rầu, làm cho bình an hay khó chịu, bởi những nơi chốn và hoàn cảnh mà chúng ta đang ở trong đó. Điều này đặc biệt đúng với trẻ con, những thực thể thường nhạy cảm hơn người lớn đối với bầu không khí cảm xúc.
Today, in a world characterized by so many broken homes, children very often feel that they are alone except for their relationships with other children, because there is no basis for emotional trust between the parents. When children are left alone to go their own way, they can easily take to drugs. Children need consistent relationships and an atmosphere of security, and if they do not find these at home they will seek them among other children in the street.
Ngày nay, trong một thế giới có đặc điểm tiêu biểu là nhiều gia đình tan vỡ, trẻ em thường cảm thấy cô đơn ngoại trừ trong mối quan hệ của chúng với những trẻ khác, bởi vì không có một nền tảng cơ bản nào cho sự tin tưởng cảm xúc giữa cha và mẹ. Khi trẻ em bị bỏ rơi để tự đi theo con đường riêng của chúng, chúng dễ dàng sử dụng ma tuý. Trẻ em cần có các mối quan hệ kiên định và một môi trường an toàn, và nếu chúng không tìm thấy những điều kiện này ở gia đình, chúng sẽ tìm kiếm nó ở những đứa trẻ khác trên đường phố.
The state of our emotional environment can be quite unrelated to the degree of comfort and beauty — or the lack of these — within our physical circumstances. Beyond this, there is the larger environment created by the attitudes and feelings of our culture, both national and international. It is fairly easy for people to imagine the personal aura, and the pictures which illustrate this book may help in this regard. But it is more difficult to think of space itself as charged with emo-tional energies. Nevertheless this idea is important, because it helps us to understand how the energies of the whole field constantly impact us. And this is not just a one-way process. The field affects us, and we affect the field, even if in different degree. All of us contribute our thoughts and feelings to what can be called the emotional component of the world, and this contribution is not negligible. It is, in fact, a force for evolutionary change in terms of human growth and development.
Trạng thái môi trường cảm xúc của chúng ta có thể hoàn toàn không liên quan đến mức độ thoải mái và vẻ đẹp—hay thiếu vắng những điều này—bên trong hoàn cảnh vật lý của chúng ta. Trên cả điều này, có một một trường rộng lớn hơn tạo bởi thái độ và cảm xúc của nền văn hoá của chúng ta, cả cấp quốc gia và quốc tế. Nhiều người hình dung được hào quang cá nhân khá dễ dàng và những hình ảnh minh hoạ cho cuốn sách này có thể giúp ích cho việc này. Nhưng điều khó hơn cả là nghĩ về bản thân không gian như là chỗ chứa đầy các loại năng lượng xúc cảm. Tuy nhiên, ý tưởng này là quan trọng vì nó giúp chúng ta hiểu được cách năng lượng toàn thể liên tục ảnh hưởng đến chúng ta. Và đây cũng không phải là một quy trình một chiều. Trường năng lượng ảnh hưởng lên chúng ta và chúng ta ảnh hưởng đến trường năng lượng, ngay cả khi ở các cấp độ khác nhau. Tất cả chúng ta đều đóng góp suy nghĩ và cảm xúc vào cái có thể được gọi là cấu phần cảm dục của thế giới, và đóng góp này là không hề nhỏ. Sự thật đây là một mãnh lực cho sự thay đổi tiến hoá về mặt phát triển và tăng trưởng của loài người.
Resonance
Sự cộng hưởng
I have said that the interactions between fields are based on a principle of resonance which I do not understand, even though I observe its results. In the case of the emotions, anyone who has a tendency towards a particular kind of emotional energy will resonate to its presence. For example, when a person is aroused to a powerful emotion such as rage, this energy is discharged into the emotional field, where it amplifies the anger that is already there. As a result, anyone else who is easily aroused to anger could have the tendency aggravated; the feeling would be amplified like a standing wave.
Tôi đã nói rằng những tương tác giữa các trường năng lượng dựa trên nguyên tắc cộng hưởng mà tôi không hiểu, mặc dù tôi thấy được những kết quả biểu hiện của nó. Trong trường hợp cảm xúc, bất cứ ai có xu hướng nghiêng về một loại năng lượng cảm xúc nhất định sẽ cộng hưởng với sự hiện tồn của nó. Ví dụ, khi một người bị kích động với một cảm xúc mạnh mẽ như là cơn thịnh nộ, năng lượng này sẽ được phóng vào trường cảm xúc, nơi nó sẽ khuếch đại cơn giận đã có sẵn ở đó. Kết quả là, bất cứ người nào khác dễ bị kích động giận dữ đều có xu hướng bị trầm trọng thêm; cảm xúc sẽ bị khuếch đại lên như một cơn sóng đứng.
Wars, natural disasters and even events like a stock market crash produce widespread anxiety, and this runs like wildfire around the world, infecting more and more people, who in turn amplify the contagion. When people are swept by sudden fear or anger they become more vulnerable to such intensifications of the emotional field, and then emotional storms can cause panics or waves of violence. We have all seen pictures of crowds gone wild under the influence of such mass emotion.
Chiến tranh, thảm hoạ thiên nhiên và cả những sự kiện như sập thị trường chứng khoán tạo nên mối lo lắng ở khắp nơi, và điều này lan đi nhanh như ngọn lửa trong gió khắp thế giới, ngày càng lan truyền tới nhiều người hơn, và những ngườinày đến lượt họ sẽ khuếch đại ảnh hưởng xấu này. Khi mọi người bị càn quét bởi nỗi sợ hãi hay giận dữ bất ngờ, họ trở nên dễ bị tổn thương với những cảm xúc mãnh liệt trong trường cảm xúc, và rồi những cơn bão cảm xúc có thể gây nên sự hoảng loạn hay những làn sóng bạo lực. Chúng ta đều đã thấy hình ảnh của những đám đông trở nên cuồng loạn dưới ảnh hưởng của loại cảm xúc tập thể như vậy.
But we do not need to let ourselves be engulfed by the contagion of negative emotions. It is possible to remain calm even when we are surrounded by violence, and this steadiness can attenuate the anger and dissipate it. Even when we are in the presence of anger, we do not need to let it resonate within us. The antidote lies in positive feelings such as peace, compassion and sympathy, for these are more powerful than the negative emotions and strengthen us to reject them.
Nhưng chứng ta không cần để bản thân bị nhấn chìm bởi ảnh hưởng xấu của những cảm xúc tiêu cực. Chúng ta có thể giữ bình tĩnh ngay cả khi chúng ta bị bao quanh bởi bạo lực, và sự ổn định này có thể làm giảm bớt cơn giận dữ và xua tan nó. Ngay cả khi có sự hiện diện của giận giữ trước ta, ta không cần thiết để nó cộng hưởng trong ta. Liều thuốc giải độc nằm ở những cảm xúc tích cực như bình an, thấu hiểu và đồng cảm, vì những cảm xúc này mạnh mẽ hơn những cảm xúc tiêu cực và làm chúng ta mạnh mẽ hơn để từ chối những cảm xúc tiêu cực.
Nature’s Healing Energies
Năng lượng Chữa lành của tự nhiên
This is why people feel refreshed when they leave the city — stimulating though it may be — for the peace of the country. Nature has a powerful influence upon us because it is charged with energies which can affect us directly. In this period of history, when the pressures of life are exacerbated more each day, and people are densely crowded together, there is all the more need to achieve some quiet within ourselves. Nature can and does provide a sense of harmony and peace, because even though it may be subjected to the turbulence of wind and storm, it is totally without emotional conflict.
Đây là lý do tại sao mọi người cảm thấy khoẻ khoắn hẳn khi họ rời thành phố—tuy có thể bị thôi thúc —để đến miền quê bình yên. Thiên nhiên có một ảnh hưởng mạnh mẽ lên chúng ta bởi nó được tích hợp với những năng lượng có thể ảnh hưởng lên chúng ta một cách trực tiếp. Trong giai đoạn lịch sử này, khi những áp lực của đời sống bị thổi phồng lên thêm mỗi ngày, và mọi người tụ tập với mật độ dày đặc, có một nhu cầu cấp thiếp hơn để đạt được sự tĩnh lặng nội tại. Thiên nhiên có thể và chắc chắn cung cấp cảm giác hài hoà và bình yên, vì mặc dù nó có thể là đối tượng của những biến động của gió và bão, nó hoàn toàn không có xung đột về mặt cảm xúc.
In nature the spiritual elements which sustain life are always present. Thus, being in touch with the land or the mountains or the sea can enhance our ability to meet our personal storms — and even the hostility and violence of others —with strength and steadiness. When we are able to do this, we refuse to succumb to negative feelings, even when they are thrown at us. What is more, we are making a contribution to world peace, because we are influencing and modifying the emotional field as a whole, instead of merely reacting to it.
Trong tự nhiên, những thực thể tinh thần duy trì sự sống luôn hiện diện. Vì vậy, tiếp xúc với đất hay núi hay biển có thể làm tăng khả năng đối phó với những cơn bão lòng của chúng ta—và thậm chí cả thái độ thù địch và bạo lực của người khác—với sức mạnh và sự vững vàng kiên định. Khi chúng ta làm được việc này, chúng ta từ chối chịu thua những cảm xúc tiêu cực, ngay cả khi chúng ta bị ném vào chúng. Hơn cả là chúng ta đang đóng góp vào hoà bình thế giới, vì chúng ta đang ảnh hưởng và làm thay đổi trường cảm xúc toàn thể, thay vào việc chỉ đơn giản là phản ứng với nó.
Today more and more people are becoming environmental activists, trying to help heal the wounds which human ignorance and greed have inflicted upon our Earth. Such attitudes can have a dramatic effect in reversing the exploitation which nature has suffered at our hands. The next step in the process of rehabilitation is for human beings to realize that their own attitudes, thoughts and feelings can have an equal effect upon the level of tension and violence in the world. We can influence the emotional atmosphere we all share in positive ways, and thus make a contribution to the well-being of everyone.
Ngày nay ngày càng có nhiều người trở thành những nhà hoạt động vì môi trường, cố gắng giúp chữa lành vết thương mà sự vô minh và tham lam của con người đã gây nên cho trái đất. Những thái độ như vậy có thể có ảnh hưởng sâu sắc trong việc xoay chuyển tình trạng bóc lột mà thiên nhiên đã phải chịu đựng dưới bàn tay của chúng ta. Bước tiếp theo trong quá trình khôi phục là để con người có thể nhận ra thái độ, suy nghĩ và cảm xúc của chính mình có thể có ảnh hưởng tương tự lên cấp độ căng thẳng và bạo lực trên thế giới. Chúng ta có thể ảnh hưởng bầu không khí cảm dục mà chúng ta đều chia sẻ theo cách tích cực, và do vậy tạo nên đóng góp cho chất lượng cuộc sống của mỗi người.
4.The Anatomy of the Aura— Giải phẫu Hào quang
A great deal has been written about the aura and the astral world in general. While it might be useful for the reader to have some acquaintance with this literature, I want to emphasize that the descriptions and information that appear in this book are the result of my own experience and investigations, and are not derived from other sources. Therefore they may disagree in some particulars with other accounts. This is not because those accounts are necessarily incorrect (or that my own are), but because in all observation so much of what is seen depends upon the interest as well as the skill of the observer.
Đã có rất nhiều bài viết về hào quang và cõi trung giới nói chung. Mặc dù có thể hữu ích cho người đọc để có một số hiểu biết về các tài liệu này, nhưng tôi muốn nhấn mạnh rằng những mô tả và thông tin xuất hiện trong cuốn sách này là kết quả của kinh nghiệm và khảo sát của chính tôi và không có nguồn gốc từ các nguồn khác. Vì vậy, có thể có một số chi tiết không giống với các tường thuật khác. Điều này không phải do các tường thuật đó nhất thiết thiếu chính xác (hay là của chính tôi thiếu chính xác), nhưng bởi vì trong mọi quan sát thì phần lớn những gì được nhìn thấy phụ thuộc vào sự chú ý cũng như khả năng của người quan sát.
There is no perfect observational instrument even in physical terms, and when there is a question of looking at anything as fluid and elusive as the emotions, it is obvious that certain features will stand out according to the degree of attention that one gives them. I myself have always been interested in the relationship between emotional and mental states and the well-being of the individual, and therefore I relate what I see to this general question.
Không có công cụ quan sát nào hoàn hảo, ngay cả về mặt vật lý, và khi có một câu hỏi nhìn vào bất cứ thứ gì hay thay đổi và khó nắm bắt như cảm xúc, rõ ràng là một số tính năng sẽ nổi bật tùy theo mức độ chú tâm mà người ta có. Bản thân tôi luôn quan tâm đến mối quan hệ giữa trạng thái cảm xúc và tâm trí với sức khỏe của cá nhân, và do đó tôi liên hệ những gì tôi thấy đến câu hỏi chung này.
The emotional aura has often been called the “astral body.” I do not particularly like the phrase, although there is some justification for using it. First of all, the aura has a degree of materiality, and it is localized around a person. Therefore it is a kind of “body.” It is “ours” in the sense that during our lifetime we are never without an aura, but its structure, colors and contents can change quite rapidly, so that from year to year our auras might be dramatically different. And finally, it is shining, or starry —thus “astral.”
Hào quang cảm xúc thường được gọi là “thể astral” hay thể tinh tú. Tôi đặc biệt không thích từ này, mặc dù có một số lý do để sử dụng nó. Trước hết, hào quang có một mức độ vật chất, và nó tập trung xung quanh một người. Do đó nó là một loại “thể”. Nó là “của chúng ta” theo nghĩa là trong suốt cuộc đời của chúng ta, chúng ta không bao giờ không có hào quang, nhưng cấu trúc, màu sắc và nội dung của nó có thể thay đổi khá nhanh, từ năm này sang năm khác hào quang của chúng ta khác biệt đáng kể. Và cuối cùng, nó sáng chói, như các vì sao—do đó gọi nó là “astral”.
Size
Kích thước
The aura is an ovoid of many-colored light interpenetrating and surrounding the physical body, and extending out from it to a distance of about twelve to eighteen inches. The material of which it is made is very elastic, and thus the aura can expand beyond its usual limits to a considerable degree, depending upon the discharge of emotional energy. Ordinarily, the aura extends about half the distance the arm can reach, although people vary enormously. The reason for this is that some individuals are more inward-turned and others are expansive and outgoing.
Hào quang là một hình bầu dục của ánh sáng nhiều màu sắc xuyên thấu nhau và bao quanh cơ thể vật lý, vươn rộng ra khỏi nó từ mười hai đến mười tám inch. Vật chất mà nó được tạo ra rất đàn hồi, và do đó, hào quang có thể nở rộng ra vượt quá giới hạn thông thường của nó đến một mức độ đáng kể, tùy thuộc vào việc xả năng lượng cảm xúc. Thông thường, hào quang kéo dài khoảng một nửa khoảng cách mà cánh tay có thể vói tới, mặc dù mọi người khác nhau rất nhiều. Lý do của việc này là một số cá nhân hướng nội nhiều hơn và một số khác đang mở rộng và hướng ngoại.
The effort to reach out and communicate with others always makes the aura expand. For example, in the case of nurses and doctors, their attention and efforts are directed at helping patients; teachers try to reach their students not only intellectually but with the kind of energy which can engage interest and attention; parents go out to their children with affection and concern.
Nỗ lực để tiếp cận và giao tiếp với người khác luôn làm cho hào quang mở rộng. Ví dụ, trong trường hợp của y tá và bác sĩ, sự chú ý và nỗ lực của họ là nhằm giúp đỡ bệnh nhân; giáo viên cố gắng tiếp cận học sinh của họ không chỉ về mặt trí tuệ mà còn với một loại năng lượng có thể thu hút sự quan tâm và chú ý; cha mẹ đi chơi với con cái với cảm xúc và mối quan tâm.
In the case of musicians, actors, lecturers, politicians, and so on, their auras expand during a performance, but would be at all times larger than average, since their professions make it necessary for them to relate to people in large groups. I suppose that performers unconsciously try to establish a rapport with all the members of their audiences, even those who are sitting in the very rear of the auditorium. This effort creates an expansion of the aura. In lesser degree, we all do the same thing whenever we try to communicate with another person, whether to make a point, to share a joke, or just go out in simple friendship and affection. Elasticity is therefore a basic characteristic of the aura.
Trong trường hợp nhạc sĩ, diễn viên, giảng viên, nhà chính trị…, hào quang của họ mở rộng trong suốt buổi biểu diễn, tuy nhiên mức độ này sẽ lớn hơn mức trung bình vì nghề nghiệp của họ khiến họ liên quan đến một nhóm lớn người. Tôi cho rằng người biểu diễn vô tình cố gắng thiết lập mối quan hệ với tất cả các thành viên của khán giả, ngay cả những người đang ngồi ở phía sau thính phòng. Nỗ lực này tạo ra sự mở rộng của hào quang. Ở mức độ thấp hơn, tất cả chúng ta đều làm giống vậy bất cứ khi nào chúng ta cố gắng liên lạc với một người khác, hoặc để nêu rõ vấn đề, chia sẻ một trò đùa, hoặc cùng đi với nhau trong cảm xúc và tình bạn đơn giản. Tính co dãn là một đặc tính cơ bản của hào quang.
Generally speaking, however, there are great differences among people with respect to the size of their auras, and one cannot say what the norm is. This should be kept in mind when looking at the portraits, for although they have been painted uniformly the same size, this was done as a matter of convenience, and is not at all the case in real life.
Tuy nhiên, nói chung có rất nhiều sự khác biệt giữa con người về kích thước hào quang của họ, và người ta không thể nói tiêu chuẩn như thế nào. Điều này nên được ghi nhớ khi nhìn vào chân dung, mặc dù chúng đã được vẽ đồng loạt với kích thước tương tự, điều này được thực hiện vì sự tiện lợi, chứ không phải là tất cả các trường hợp trong cuộc sống thực.
The aura is tenuous at the edges, merging gradually into the general field, so that the emotions flow outward freely. However, when people are sick their pain and anxiety tend to close them in upon themselves; such a condition can be seen in subjects #15 and #17. The plates might give the impression that in these cases the edges of the aura are inhibiting the outgoing action, but in actuality an artificial boundary is created because part of the emotional energy flow turns inward instead of being released outward in the normal way. This is caused by the fact that their illness so drains them of energy that they can no longer relate to others easily and spontaneously. I have been asked a question which is difficult to answer: what holds the human aura together, and keeps it from dissipating into the general astral field? I can only say that I believe it is held together in much the same way as the physical body is during life: by the presence of the self, which is the principle or center of integration both of the physical systems of the body and of the higher dimensions of consciousness.
Hào quang loãng ở các cạnh, hòa lẫn dần vào trường tổng quát, để cảm xúc chảy ra bên ngoài một cách tự do. Tuy nhiên, khi con người bệnh, sự đau đớn và lo lắng khiến họ có xu hướng tự khép kín bản thân lại; một điều kiện như vậy có thể thấy trong các hình số 15 và số 17. Các hình này có thể cho ấn tượng rằng trong những trường hợp này, các cạnh của hào quang đang ức chế hành động đi ra, nhưng trên thực tế, một ranh giới nhân tạo được tạo ra do một phần dòng chảy của năng lượng cảm xúc quay vào bên trong thay vì được phóng ra bên ngoài theo cách bình thường. Điều này do thực tế là bệnh tật của họ rút năng lượng từ họ khiến họ không còn có thể liên hệ với người khác một cách dễ dàng và tự phát. Người ta đã hỏi tôi một câu hỏi rất khó để trả lời: những gì giữ hào quang của con người lại với nhau, và không cho nó hòa tan vào trường cảm xúc chung? Tôi chỉ có thể nói rằng tôi tin nó được giữ lại theo cùng một cách giống như cơ thể vật lý trong suốt cuộc đời: bởi sự hiện diện của chân ngã, đó là nguyên lý hoặc trung tâm tích hợp của cả hai hệ thống vật lý của cơ thể và của chiều cao hơn của tâm thức.
Certainly when consciousness departs at death the physical body swiftly disintegrates — and the aura withdraws. Even if we do not admit the presence or absence of the self, we still have to acknowledge that some integrating factor disappears, and without it the body loses its coherence and breaks down. Although the time scale is very different, the situation with respect to the astral body or aura is similar, for it persists after death, gradually disintegrating only as the self or soul withdraws to higher states of consciousness.
Chắc chắn khi tâm thức rời đi khi chết, cơ thể vật chất nhanh chóng tan rã—và hào quang rút lui. Ngay cả khi chúng ta không thừa nhận sự hiện diện hay vắng mặt của Chân ngã, chúng ta vẫn phải thừa nhận rằng một số yếu tố tích hợp sẽ biến mất, và nếu không có nó cơ thể sẽ mất đi sự gắn kết và tan rả. Mặc dù quy mô thời gian rất khác nhau, tình huống với thể cảm xúc hay hào quang là tương tự nhau, vì nó vẫn còn tồn tại sau khi chết, tan rã dần chỉ khi chân ngã hay linh hồn rút vào trạng thái tâm thức cao hơn.
I have also been asked whether the aura is subject to the force of gravity or to the earth’s magnetic field. These are difficult questions, and I can only say that if there are such effects I believe it is because the aura is tied to the physical body, which is subject to these forces. Certainly the aura has directionality: it has a top and a bottom, and there is a difference between the inner and outer parts, and between the front and the back — but here, again, the physical body is the determining factor. Beyond this, I believe that the principle of resonance which I have already mentioned is important in the composition and coherence of the aura and its relation to the mental and intuitional levels. And resonance results from the fact that the vibrational frequency of the emotional field responds harmonically or sympathetically to the energy states of all the other fields.
Tôi cũng đã được hỏi liệu hào quang có chịu lực hấp dẫn hay từ trường của trái đất hay không. Đây là những câu hỏi khó, và tôi chỉ có thể nói rằng nếu có những hiệu ứng như vậy tôi tin rằng đó là vì hào quang được gắn liền với cơ thể vật lý, nó phụ thuộc vào các lực này. Chắc chắn hào quang có hướng: có đầu và đáy, và có sự khác biệt giữa các phần bên trong và bên ngoài, và giữa mặt trước và mặt sau— nhưng ở đây, cơ thể vật chất là yếu tố quyết định. Hơn thế nữa, tôi tin rằng nguyên lý cộng hưởng mà tôi đã đề cập rất quan trọng trong thành phần và sự kết hợp của hào quang và mối quan hệ của nó với các cấp độ trí tuệ và trực giác. Và cộng hưởng là kết quả từ thực tế là tần số rung động của trường cảm xúc đáp ứng hài hoà hoặc thông cảm với các trạng thái năng lượng của tất cả các trường khác.
In trying to describe the appearance of the personal emotional field, the only analogy I can think of is dense light. These two words are not usually combined, but taken together they can perhaps serve as a metaphor for the aura. As I said in Chapter III, the emotional field is a translucent and transparent medium, for light shines through it. However, its transparency is unlike any other, because the light comes from within, not from without —it is self-luminous. But what is the justification for calling it “dense”? I use this word to try to convey the idea that it is palpable.
Trong việc mô tả sự xuất hiện của trường cảm xúc cá nhân, sự so sánh duy nhất tôi có thể nghĩ đến là ánh sáng dày đặc. Hai từ này thường không được kết hợp, nhưng khi kết hợp với nhau có thể dùng làm phép ẩn dụ cho hào quang. Như tôi đã nói ở Chương III, trường cảm xúc là một môi trường trong suốt, vì ánh sáng xuyên qua nó. Tuy nhiên, độ trong suốt của nó không giống bất kỳ thứ nào khác, bởi vì ánh sáng đến từ bên trong chứ không phải từ bên ngoài—nó tự phát sáng. Nhưng ý nghĩa của việc gọi nó là “dày đặc” là gì? Tôi sử dụng từ này để cố gắng truyền đạt ý tưởng rằng nó chắc chắn, rõ ràng.
Perhaps this idea becomes less strange if we think of a sunbeam when dust motes have gathered the light into a ray, or when, after a shower, the evanescent colors of a rainbow transform everything they touch. So possibly a better analogy would be that the aura looks like a luminous water-vapor — a rainbow-tinted cloud of light.
Có lẽ ý tưởng này sẽ trở nên ít kỳ lạ hơn nếu chúng ta nghĩ đến chùm tia nắng mặt trời khi bụi đã thu thập ánh sáng thành một tia sáng, hoặc khi sau cơn mưa rào, những màu sắc thoáng qua của cầu vồng biến đổi mọi thứ chúng chạm vào. Vì vậy, có thể một sự so sánh tốt hơn sẽ là hào quang trông giống như một làn hơi nước chói sáng—một đám mây ánh sáng với màu sắc cầu vồng.
The other day I was awakened at dawn to find the whole sky flushed with color. I thought it was really very like an aura, which, like the sky at sunrise and sunset, is filled with many hues. It seems dense because it is opaque enough for us to see it, yet we can also sometimes see through it. This is the best description of the aura I can achieve.
Một ngày kia tôi thức dậy lúc bình minh, thấy cả bầu trời đỏ rực với đầy màu sắc. Tôi nghĩ nó thật sự giống như một hào quang, vốn giống bầu trời lúc mặt trời mọc và lặn, đầy những màu sắc. Nó có vẻ dày đặc vì nó mờ đục, đủ để chúng ta nhìn thấy nó, nhưng đôi khi chúng ta cũng có thể nhìn xuyên qua nó. Đây là mô tả tốt nhất về hào quang mà tôi có thể đạt được.
Texture and Patterns
Kết cấu và các hình thái
However, some emotions are certainly “denser” than others. What I mean by this is that their colors appear to be coarser and muddier. The astral energies which are closely related to the physical body — i.e., emotions which are linked to sense experience, such as cravings and appetites of various kinds — are “heavier” and more granular in texture, as well as slower in their rates of vibration. Whether for this reason or not, they are found in the lowest parts of the aura. These energies are unstable and subject to rapid change; they affect physical states like blood pressure, which can vary over short periods of time. Negative emotions such as resentment, selfishness and greed also tend to sink towards the bottom of the aura, though they may be reflected higher up.
Tuy nhiên, một số cảm xúc chắc chắn là “dày đặc” hơn những cảm xúc khác. Ở đây, ý của tôi là màu sắc của chúng có vẻ thô và xám xịt hơn. Năng lượng cảm xúc có liên quan chặt chẽ với thể vật lý—nghĩa là các cảm xúc liên quan đến kinh nghiệm cảm giác, chẳng hạn như các dạng dục vọng và ham muốn khác nhau—đều “nặng hơn” và thô ráp hơn, cũng như tốc độ rung động của chúng chậm hơn. Cho dù có phải vì lý do này hay không, chúng được tìm thấy ở phần thấp nhất của hào quang. Những năng lượng này không ổn định và có thể thay đổi nhanh chóng; chúng ảnh hưởng đến các trạng thái thể chất như huyết áp, vốn có thể thay đổi trong những khoảng thời gian ngắn. Những cảm xúc tiêu cực như oán giận, ích kỷ và tham lam cũng có khuynh hướng chìm xuống đáy hào quang, mặc dù chúng có thể được phản ánh lên cao hơn.
I have said that one of the most striking characteristics of the aura is its dynamism, which allows it to undergo rapid changes in accordance with a person’s moods. Nevertheless the aura is not without a durable structure. Just as all human beings share certain physical attributes in common, no matter how different they may appear, so the auras of all of us have certain features in common, even though there may be great variations from one to the other, and some elements may be obscured because of ill health.
Tôi đã nói rằng một trong những đặc điểm nổi bật nhất của hào quang là tính năng động của nó, cho phép nó trải qua những thay đổi nhanh chóng theo tâm trạng của một người. Tuy nhiên, không phải là hào quang không có một cấu trúc bền vững. Giống như mọi người đều có chung một số thuộc tính vật lý, bất kể họ có vẻ khác nhau như thế nào, do đó, hào quang của tất cả chúng ta có một số đặc điểm chung, mặc dù có thể có sự khác biệt rất lớn từ người này đến người khác, và một số yếu tố có thể bị che khuất vì sức khoẻ kém.
The really equable person is something of a rarity, and most of us go through periods of anger, anxiety, disappointment, sorrow or depression from time to time. Unless the condition is pathological, however, these emotional states are usually temporary and pass out of the aura. They are very real to us at the time, but they do not change our fundamental character unless they recur over and over again.
Người thực sự cân bằng là cái gì đó hiếm hoi, và hầu hết chúng ta trải qua những giai đoạn tức giận, lo lắng, thất vọng, buồn bã hoặc trầm cảm theo thời gian. Tuy nhiên, trừ khi tình trạng là bệnh lý, những trạng thái cảm xúc này thường là tạm thời và thoát ra ngoài khỏi hào quang. Chúng rất hiện thực với chúng ta vào thời điểm đó, nhưng chúng không thay đổi đặc tính cơ bản của chúng ta trừ khi chúng lặp lại nhiều lần.
Our stable patterns are more important, because whether we are aware of it or not, some feelings are habitual in us, repeated many times almost every day. The regular recurrence of these emotions makes it easy for us to slip into them unconsciously; thus they become habit patterns which can be perceived in the aura as the background of the more fleeting feelings which are constantly changing during the day. It is these patterns which give one an idea of the basic personality traits a person has developed during a lifetime.
Các mô hình ổn định của chúng ta quan trọng hơn, bởi vì dù chúng ta có nhận thức được hay không, một số cảm giác thường xuyên ở trong chúng ta, lặp đi lặp lại nhiều lần gần như mỗi ngày. Sự tái phát thường xuyên của những cảm xúc này làm cho chúng ta dễ dàng rơi vào chúng một cách vô thức; do đó chúng trở thành các mô hình thói quen có thể nhận thấy trong hào quang như là nền tảng của những cảm xúc thoáng qua hơn liên tục thay đổi trong suốt cả ngày. Chính những mô hình này cung cấp một ý tưởng về những đặc điểm cá nhân cơ bản mà một người đã phát triển trong suốt cuộc đời.
Colors of the Aura
Màu sắc của Hào quang
I have observed that everyone comes into this world with a few basic colors. Through the years, I have learned that these colors indicate fundamental personality characteristics incipient in that individual at birth, although they may or may not be allowed to develop later in life. Since no life is predetermined, events will alter this development; circumstances may be so difficult that it is impossible for a person to realize some of his or her potential. This is a matter of karma. But the basic colors in an aura tell me how individuals tend to deal with their emotional environment, and the ways in which it will affect them.
Tôi đã quan sát thấy rằng mọi người bước vào thế giới này với một vài màu cơ bản. Qua nhiều năm, tôi đã học được rằng những màu này cho thấy đặc điểm nhân cách cơ bản bắt đầu phát triển ở cá nhân khi sinh, mặc dù chúng có thể hoặc không thể phát triển sau này trong cuộc đời. Vì không có đời sống nào được xác định trước, các sự kiện sẽ làm thay đổi sự phát triển này; hoàn cảnh có thể khó khăn đến nỗi một người không thể nhận ra được tiềm năng của mình. Đây là vấn đề nghiệp quả. Nhưng màu sắc cơ bản trong hào quang cho tôi biết làm thế nào các cá nhân có xu hướng đối phó với môi trường cảm xúc của họ, và cách mà nó sẽ ảnh hưởng đến họ.
Colors of the Emotions
Màu sắc của Các Cảm xúc
In the emotional field, the spectrum of colors approximates that of the physical world, but with a range of hue, tone, brilliance and subtle blending far beyond what we experience in the physical world. Just as our emotions are “colored” with all kinds of personal responses, attitudes and idiosyncrasies, so the colors of our emotions reflect these admixtures. Thus the rose of affection can be modified to an almost infinite degree: by a tinge of possessiveness or jealousy on the one hand, or by sympathy, kindness and generosity on the other. The colors below, therefore, indicate the basic emotions, and are subject to endless variation.
Trong trường cảm xúc, quang phổ của các màu sắc gần giống với quang phổ của thế giới vật lý, nhưng với một dãy các màu sắc, sắc độ (tones), độ sáng chói và sự pha trộn tinh tế vượt xa những gì chúng ta kinh nghiệm trong thế giới vật lý. Cũng giống như cảm xúc của chúng ta bị “nhuộm màu” với tất cả các loại phản ứng, thái độ và tính cách cá nhân, cũng thế, màu sắc của cảm xúc phản ánh những pha trộn này. Do đó, màu hồng của lòng lân cảm có thể được biến đổi đến một mức độ gần như vô hạn: của sự sở hữu hay ghen tuông ở đầu này, hoặc sự cảm thông, lòng tốt và sự hào phóng ở đầu kia. Do đó, những màu dưới đây chỉ ra những cảm xúc cơ bản, và có thể biến đổi bất tận.