← The Personal Aura-Song Ngữ

7.The Effects of Illness

7.The Effects of Illness

The effects of illness are readily visible in the aura, especially when the condition is chronic or has been of long duration. Every disease has its own pattern, but there is always a diminution of energy, which results in a general graying or muting of the brilliancy of the colors, and a tendency of the whole aura to droop. There are frequently signs of stress, which come from the effort to carry on in spite of pain and weakness.

Tác động của bệnh tật có thể dễ dàng nhìn thấy trong hào quang, đặc biệt là khi tình trạng bệnh là mãn tính hoặc đã kéo dài một thời gian. Mỗi bệnh đều có một mô thức riêng, nhưng luôn có sự giảm sút năng lượng, kết quả là hào quang phủ một màu xám chung hoặc sự mất đi sắc tươi sáng, và xu hướng toàn bộ hào quang trễ xuống. Thường có những dấu hiệu căng thẳng, bắt nguồn từ nỗ lực tiếp tục sống và hoạt động cho dù đau đớn và bệnh tật.

In a healthy person, there is a natural outflow of emotional energy, which not only permits a free interaction with others but also prevents the internal blockages which can lead to emotional inhibition and depression. Illness, however, tends to turn one inward, since it always makes claims on a person’s attention. It takes conscious effort to endure pain, and a lack of energy drains the ability to function normally. The result is a condition of strain.

Ở một người khỏe mạnh, có một dòng chảy tự nhiên hướng ra ngoài của năng lượng cảm xúc, không chỉ cho phép tương tác tự do với người khác mà còn ngăn ngừa sự tắc nghẽn bên trong có thể dẫn đến sự ức chế cảm xúc và trầm cảm. Tuy nhiên, bệnh tật có xu hướng đẩy năng lượng vào bên trong, vì nó luôn luôn thu hút sự chú ý của người bệnh. Cần phải có nỗ lực đầy ý chí để chịu đựng nỗi đau, và sự thiếu hụt năng lượng sẽ làm giảm khả năng hoạt động bình thường. Kết quả dẫn tới một tình trạng căng thẳng.

In diagnosing and treating illness, I work primarily at the etheric level, which as I have said is both the counterpart of the physical body and the precursor of illness. But emotional factors are very important in healing. This will be discussed in more detail in Chapter IX, but the pictures that follow here show clearly the degree to which illness is an emotional as well as a physical condition. Since this is so, a negative attitude can aggravate sickness; I would not say that a positive attitude can cure, but it certainly helps the patient to cooperate in the healing process, and thus makes treatment more effective.

Trong chẩn đoán và điều trị bệnh, tôi làm việc chủ yếu ở mức độ dĩ thái, như tôi đã nói, nó vừa là đối phần của cơ thể vật lý, vừa là tiền đề của bệnh tật. Nhưng các yếu tố cảm xúc là rất quan trọng trong việc chữa bệnh. Điều này sẽ được thảo luận chi tiết hơn trong Chương IX, nhưng những hình ảnh dưới đây cho thấy mức độ bệnh tật ở thể tình cảm cũng như tình trạng thể chất. Vì lý do đó, một thái độ tiêu cực có thể làm bệnh tật thêm trầm trọng; Tôi không nói rằng một thái độ tích cực có thể chữa lành, nhưng chắc chắn nó sẽ giúp bệnh nhân hợp tác trong quá trình chữa bệnh, và do đó điều trị sẽ hiệu quả hơn.

15. The Results of Polio—Kết Quả của Bệnh Bại Liệt

Our first picture is of one of Dr. Bengtsson’s clinic patients, and since it was her habit never to tell me anything about their condition beforehand, I knew nothing of this girl’s history. When I came into the room, she was already sitting down and her disability was not obvious. Yet one glance was enough to show me how sick and weak she was, and what effort it took for her just to keep going.

Bức hình đầu tiên của chúng tôi là của một trong những bệnh nhân tại phòng khám của Bác sĩ Bengtsson. Đã thành thói quen, bác sĩ không bao giờ nói trước với tôi về tình trạng bệnh nhân của mình, vì vậy tôi không biết gì về bệnh sử của cô gái này. Khi tôi vào phòng, cô đã ngồi ở ghế và không có biểu hiện gì rõ ràng là cô bị khuyết tật. Tuy nhiên, chỉ thoáng nhìn đã đủ để tôi thấy cô rất ốm, yếu đuối, và cô chỉ nỗ lực để tồn tại.

This poor girl had had an attack of polio when she was two years old, which left her physically crippled and neurologically damaged. She was now twenty-two and quite plump and heavy, so that walking was very difficult for her. She might have been able to adjust to the effects of the polio, but her condition was further complicated by severe chronic asthma, which was a serious illness.

Cô gái tội nghiệp này đã mắc bệnh sốt bại liệt khi cô hai tuổi, và từ đó cô trở thành tàn tật về thể chất và thần kinh cũng bị tổn thương. Giờ đây cô đã hai mươi hai tuổi, khá béo và nặng nề, vì vậy việc đi lại rất khó khăn đối với cô. Cô có thể được trị liệu giải quyết phần nào hậu quả của bệnh bại liệt, nhưng tình trạng của cô trở nên phức tạp hơn do bệnh hen mãn tính, đó là căn bệnh rất nghiêm trọng.

Looking at her picture, you will see that the edges of her aura are wavy and uneven, and that they have lost their definition except at the extreme top and bottom. The whole aura is draped in a tenuous cloud of gray which covers the energy valves, and these themselves are open, shallow, flaccid, and much paler than they should be. Their rhythmic pulsations were also irregular, although of course this cannot be shown in the picture. All of these aberrations indicated that the mechanism which controlled her intake and rejection of emotional energy was not functioning normally. Because the valves were so open she was inadequately protected from outside pressures, and was not able to throw off emotions easily. Thus she had little resistance, and tired so easily that she was in a state of chronic exhaustion.

Nhìn vào bức hình của cô, bạn sẽ thấy rằng các rìa của hào quang lượn sóng, không đồng đều, và không hề rõ nét, ngoại trừ phần đỉnh và đáy của hào quang. Toàn bộ hào quang được bao phủ trong một đám mây màu xám mờ mịt trùm lên cả các van năng lượng, và bản thân các van này cũng mở rộng, nông, yếu ớt, và nhạt màu hơn mức bình thường. Nhịp điệu rung động của chúng cũng không đều, mặc dù tất nhiên điều này không được hiển thị trong hình vẽ. Tất cả những điểm sai khác này chỉ ra rằng cơ chế kiểm soát năng lượng cảm dục vào và ra không hoạt động bình thường. Bởi vì các van bị mở rộng cô bị mất đi sự bảo vệ cần có trước những áp lực bên ngoài, và không thể biểu đạt cảm xúc được dễ dàng. Vì vậy cô có sức đề kháng kém, và thường xuyên mệt mỏi đến nỗi cô ở trong trạng thái kiệt quệ mãn tính.

When I first looked at her, I was struck by the gray cloud shot with red which covers the whole upper part of her body, including the solar plexus region. (You will see something similar in cases #9 and #16.) I realized that this was a temporary condition and of recent origin, so I asked her whether she had had an injection lately. She replied that she had been feeling weak and nervous on the way to our appointment, and had therefore given herself a shot of adrenaline. This was very interesting to me, because the color gray in the aura indicates fear and depression, while red is caused by anger, and adrenaline is secreted by the body under the stress of fear and anger. Thus the effect of the injection on her aura was to simulate these emotions.

Khi tôi lần đầu tiên quan sát cô, tôi đã bị ấn tượng mạnh về đám mây màu xám với những tia màu đỏ bao phủ toàn bộ phần trên của cơ thể, bao gồm cả vùng luân xa tùng thái dương. (Bạn sẽ thấy điểm tương tự trong trường hợp # 9 và #16). Tôi nhận ra đây là một tình trạng tạm thời và có nguyên nhân mới gần đây, vì vậy tôi đã hỏi có phải gần đây cô đã tiêm thuốc hay không. Cô trả lời rằng cô cảm thấy mệt mỏi và hồi hộp trên đường đến cuộc hẹn của chúng tôi, do đó đã tự tiêm cho mình một mũi adrenaline. Điều này rất thú vị đối với tôi, bởi vì màu xám trong hào quang cho thấy sự sợ hãi và trầm cảm, trong khi màu đỏ là do bị giận dữ, và chất adrenalin được tiết ra trong cơ thể dưới áp lực của sự sợ hãi và giận dữ. Do đó tác động của mũi tiêm thể hiện trên hào quang của cô biểu thị những cảm xúc này.

The qualities which always show themselves in the upper part of the aura are in her case very nebulous. Since she had had practically no opportunity to develop her potentials, they were weak and ineffectual. On the other hand, by far the most dominant color in her aura is the strong blue of will, which is the expression of her higher self. This blue pours from the top of her aura right down the spine through her chakras and into her green band. The shade of this color in the picture is not quite accurate, for it should be lighter and more luminous than the blue colors which appear lower down. The higher blue represents her tremendous determination to live as normally as possible—the will to overcome her handicaps and accomplish something in the physical world.

Những phẩm chất biểu hiện ở phần trên của hào quang trong trường hợp của cô rất mơ hồ. Vì cô đã không có cơ hội để phát triển tiềm năng của mình, chúng yếu ớt và không phát triển. Mặt khác, cho tới thời điểm đó, màu trội nhất trong hào quang của cô là màu xanh biển mạnh mẽ của ý chí, đó là biểu hiện của chân ngã của cô. Màu xanh này tràn ngập từ đỉnh của hào quang xuống tới xương sống qua các luân xa và vào tới dải màu xanh lá. Bóng của màu này trong hình không hề hợp lý, vì lẽ ra nó phải sáng hơn và óng hơn dải xanh dương xuất hiện bên dưới. Dải xanh dương ở trên thể hiện sự quyết tâm to lớn của cô để sống như một người bình thường—ý chí vượt qua tật nguyền và đạt được điều gì đó trong thế giới này.

You will see that her green band is both pale and narrow, a natural result of her inability to do any kind of work. But the blue of her will is reflected in the broad band of darker blue just below the green band, which shows the force of the struggle she continually waged to keep going. When you are so weak and low in energy, even the effort to put one foot in front of the other requires real stamina. It took strength of will for her to move, to walk, to lift things and even to breathe, and in addition she had to endure almost constant pain. This wide strip of blue shows the strength of her effort.

Bạn sẽ thấy dải màu xanh lá vừa nhợt nhạt vừa hẹp, một kết quả tự nhiên của thực tế là cô không có khả năng làm bất kỳ việc gì. Nhưng màu xanh lam của ý chí được phản ánh trong dải rộng của màu xanh lam sẫm hơn ngay dưới dải xanh lá, cho thấy sức mạnh của cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ của cô để sống tiếp mỗi ngày. Khi bạn quá yếu và ít năng lượng, ngay cả những nỗ lực để bước mỗi bước đi cũng đòi hỏi sự gắng sức to lớn. Cô cần có ý chí mạnh mẽ để di chuyển, đi lại, nâng đồ vật và thậm chí hít thở, và cô gần như luôn phải chịu đựng các cơn đau. Dải rộng màu xanh biển này cho thấy sức mạnh của nỗ lực đó từ cô.

The three blue bands which curve around low down in the aura on the left side also reflect this effort, but they show the results of stress even more plainly. Her struggle to resist the effects of almost continuous pain and to follow the doctors’ orders had resulted in a more or less permanent condition of strain. She was trying hard to use her will power to compensate at least in part for her physical disabilities, but since she so often failed in what she was trying to do, these bands alternate with the dark gray of depression.

Ba dải màu xanh lam cong nằm thấp bên trái hào quang cũng phản ánh nỗ lực này, nhưng chúng biểu thị rõ hơn hậu quả của sự căng thẳng. Cuộc đấu tranh chống lại những tác động của các cơn đau gần như liên tục và việc phải tuân thủ theo yêu cầu của bác sĩ đã dẫn đến một tình trạng căng thẳng trường kỳ trong cô. Cô phải cố gắng vận hết sức lực để bù đắp phần nào cho những khuyết tật về thể chất, nhưng vì cô thường thất bại trong các nỗ lực của mình, những dải màu này bị biến thành màu xám đen của sự trầm cảm.

There is a large area of pink across the upper part of her aura, and this is reflected in a darker shade below, indicating that she was a really affectionate girl. But here again the color is blocked at the edges of her aura, because she had no outlet for her emotions. Outside the members of her immediate family—who were good and kind to her — she had little contact with anyone besides her doctors. Since her energy was so low she could only interact with people for short periods, and she had difficulty in expressing her feelings at any time. She would try tentatively to reach out and do things with others, but she soon became exhausted and had to give up.

Có một vùng rộng lớn màu hồng ở phần trên hào quang của cô, và điều này được phản chiếu trong phần bóng mờ sậm hơn ở dưới, cho thấy cô là một cô gái rất giàu tình cảm. Nhưng ở đây một lần nữa màu sắc bị chặn ở các rìa hào quang, bởi vì cô không có lối thoát cho cảm xúc của mình. Ngoại trừ những người gần gũi trong gia đình—những người yêu thương và chăm sóc cô—cô không có mấy liên hệ với ai bên ngoài ngoại trừ các bác sĩ của mình. Vì có quá ít năng lượng, cô chỉ có thể giao tiếp với mọi người trong một khoảng thời gian ngắn, và cô luôn gặp khó khăn để bày tỏ cảm xúc của mình. Cô rất cố gắng để tiếp cận và làm việc cùng mọi người, nhưng cô nhanh chóng bị kiệt sức và phải từ bỏ giữa chừng.

Because of her inability to go to school, she had had only the rudiments of an education and little incentive to develop her mind. The fact that the yellow above her head does not extend to the edges of the aura shows that she had very little ability to focus her mind upon a subject. Her attention span was poor, and she became restless when she tried to concentrate for any length of time. Because of her family’s limited resources, she had a very narrow environment and little mental stimulus. She had vague yearnings but did not know how to focus them, and since she was completely untrained, she had very little confidence that she could ever really accomplish anything.

Do không thể đi học, cô chỉ được giáo dục ở mức rất cơ bản và không có mấy động lực để phát triển trí tuệ. Thực tế là màu vàng trên đầu của cô không mở rộng đến các cạnh của hào quang cho thấy cô có rất ít khả năng tập trung tâm trí vào một chủ đề. Cô chỉ có thể tập trung trong một khoảng thời gian ngắn, rồi nhanh chóng trở nên bồn chồn khi cô cố gắng tập trung một lúc. Vì điều kiện gia đình hạn chế, môi trường sống của cô rất nhỏ hẹp và ít hoạt động kích thích tinh thần. Cô có những mong ước mơ hồ nhưng không biết làm thế nào để tập trung vào chúng, và bởi cô hoàn toàn không được dạy dỗ, cô rất ít tự tin rằng mình thực sự có thể thực hiện được bất cứ điều gì.

There is a great deal of gray in the lower part of her aura, mixed with green: green, because her past was full of things she had tried to do, and gray because her attempts usually ended in failure. The marks in the gray beneath her feet are related to memories of these past frustrations; they represent discouragement and depression. The patch of blue-green on the lower right side of her aura near the feet is the result of an early period in her life when she was somewhat better physically and was inspired to try to do more. The rosy red symbol within that color is a latent memory of a person who encouraged her at that time, and who made a great impression on her. The blue-green plume on the lower left echoes this early effort, which unfortunately again resulted in failure. The whole sad record of her life is one of trying and failing again and again, so that it was remarkable she still had the will to go on.

Có rất nhiều màu xám ở phần dưới hào quang của cô, pha với màu xanh lá: màu xanh, bởi vì quá khứ đầy ắp những nỗ lực cô đã cố gắng làm và màu xám vì những nỗ lực của cô thường kết thúc bằng thất bại. Các hình trong phần màu xám dưới chân cô có liên quan đến kỷ niệm về những nỗi thất vọng trong quá khứ; chúng đại diện cho sự chán nản và trầm cảm. Mảng màu xanh lục phía dưới bên phải hào quang gần bàn chân là kết quả của một giai đoạn đầu trong cuộc đời khi cô chưa quá yếu và được khuyến khích hoạt động nhiều hơn. Biểu tượng màu đỏ tươi trong mảng màu này là một ký ức còn lưu giữ về một người đã khích lệ cô rất nhiều vào thời điểm đó, và đã để lại ấn tượng tốt đẹp trong cô. Hình lông chim màu xanh lục ở phía dưới bên trái phản ánh nỗ lực trong thời gian đầu này, tuy nhiên rất không may những nỗ lực đó đã thất bại. Toàn bộ những dấu ấn buồn bã của cuộc đời cô là những lần cố gắng rồi thất bại, vì thế điều đáng ghi nhận là cô vẫn có ý chí tiếp tục nỗ lực bước đi trong cuộc đời.

The mixture of colors in the lower part of her aura indicates that she had had a desire to be somebody (the orange patch), but was also frequently overcome by feelings of inferiority (the gray-green). Somewhat higher on the right, the green shot with gray and pink shows her efforts to make herself do as many things as possible, but the colors are vague and indeterminate because her capacity was so low.

Sự pha trộn của màu sắc ở phần dưới của hào quang của cô chỉ ra rằng cô cũng đã từng có mong ước được là ai đó khác (mảng màu cam), nhưng ước mong đó cũng thường bị chôn vùi bởi cảm nhận sự thấp kém của bản thân (màu xanh xám). Cao hơn chút về phía bên phải, phần màu xanh lá pha xám và hồng cho thấy những nỗ lực của cô tự mình lo cho bản thân càng nhiều càng tốt, nhưng màu sắc khá mờ mịt và không rõ nét vì năng lực của cô quá thấp.

This was a very sick girl, whose ability to function at all was seriously handicapped by her chronic asthma. Because of this, she was continually in and out of hospital, but when she did go in her low level of resistance made her vulnerable to infection, and she was apt to pick up some other illness. Thus her condition was complicated by all sorts of secondary ailments.

Đây là một cô gái cực kỳ ốm yếu, một người mất khả năng hoạt động thông thường vì căn bệnh hen suyễn mãn tính nghiêm trọng. Vì thế, cô liên tục vào ra bệnh viện, nhưng khi cô ra ngoài trong tình trạng sức đề kháng thấp, cô rất dễ bị nhiễm bệnh, và cô luôn có khuynh hướng mắc nhiều bệnh khác. Vì vậy tình trạng của cô càng trở nên phức tạp bởi các loại bệnh thứ phát mắc phải.

But she had a great deal of determination. I do not believe that she was born with so much will power; she had developed it as a result of her tremendous efforts to overcome her handicaps — even if these efforts met with only slight success. Drawing upon the strength of her spiritual will — which is always responsive to one’s efforts — she had persisted in her determination to get better and to use her faculties as much as she possibly could. This was a real achievement.

Nhưng cô đầy lòng quyết tâm. Tôi không tin rằng cô được sinh ra với sức mạnh ý chí phi thường như vậy; mà cô đã phát triển sức mạnh đó qua những nỗ lực to lớn để vượt qua những khiếm khuyết của mình—ngay cả khi những nỗ lực này chỉ gặt hái được chút ít thành công. Dựa vào sức mạnh của ý chí tinh thần—luôn là sự ứng đáp cho những nỗ lực của một người—cô đã kiên trì quyết tâm có được những điều tốt đẹp hơn và sử dụng các năng lực của mình hết mức có thể. Đây thực sự là một thành tựu lớn lao.

Trying to help and encourage her, I suggested that her stamina and resistance to disease might be improved if she would study more. The effort to use her mind would draw upon her higher energies, and it could improve her self-esteem and reduce her depression. I also thought it would be helpful if she were to visualize some of the things she might be able to do, rather than dwell upon those she could not. In this way, she might be able to draw upon the higher level energies of the mind to enhance her physical strength.

Nhằm cố gắng giúp đỡ và khuyến khích cô, tôi đã gợi ý rằng khả năng chịu đựng và sức đề kháng của cô có thể được cải thiện nếu cô ấy học thêm. Nỗ lực sử dụng tâm trí của cô sẽ thu hút được năng lượng cao hơn, và nó có thể làm tăng sự tự tin và giảm sự trầm cảm của cô. Tôi cũng nghĩ rằng sẽ rất hữu ích nếu cô tập hình dung một số điều cô có thể làm, hơn là cứ chăm chú vào những điều không thể. Bằng cách này, cô có thể dựa vào những năng lực cấp cao hơn của thể trí để tăng cường sức mạnh cho cơ thể vật lý của mình.

I also suggested that if she were to leave New York for a drier climate her breathing might improve, and this in turn would make it easier for her to focus her thoughts. She followed my advice and moved to Arizona, where I believe her asthma was somewhat better, but I subsequently lost touch with her. Thus I do not know whether she was able to follow my suggestions for developing the potentialities of her mind.

Tôi cũng gợi ý rằng nếu cô ấy rời khỏi New York tới nơi có khí hậu khô hơn, thì tình trạng hô hấp của cô có thể được cải thiện, và điều này sẽ giúp cô tập trung suy nghĩ dễ dàng hơn. Cô đã theo lời khuyên của tôi và chuyển đến Arizona, nơi tôi tin rằng bệnh hen suyễn của cô ấy đã tiến triển tốt hơn, nhưng sau đó tôi đã mất liên lạc với cô. Vì vậy tôi không biết liệu cô có thể làm theo những gợi ý của tôi để phát triển tiềm năng tâm trí của mình hay không.

16. A Child Born with Down’s Syndrome—Một Đứa Trẻ Sinh Ra với Hội Chứng Down

This is the aura of a little boy about seven years of age who suffered from Down’s syndrome, a genetic defect caused by an abnormality of the chromosomes. It is characterized by mental deficiency and a generally oriental appearance; for this reason it has been called mongolism. Strictly speaking, this child is handicapped, not diseased, but he belongs in this group because the abnormalities in his aura parallel his physical abnormalities quite closely.

Đây là hào quang của một cậu bé khoảng bảy tuổi bị hội chứng Down, một khiếm khuyết di truyền gây ra bởi sự bất thường của nhiễm sắc thể. Nó được đặc trưng bởi sự kém phát triển tinh thần và hình thể bất thường; vì lý do này, nó được gọi là chứng Mông Cổ. Nghiêm túc mà nói, đứa trẻ này bị tật nguyền, không phải mang bệnh, nhưng cậu thuộc về nhóm này vì những bất thường trong hào quang đi kèm theo những bất thường về thể chất của bé.

First of all you will see that the shape of the aura is much rounder than that of §4, who is a normal boy of seven; it is more like that of the three-year-old girl. This shows that he was not maturing at the normal rate. All the middle and lower part of his aura is draped in a grayish cloud somewhat similar to that in the previous picture, although the effect is not quite so severe. But the energy intake valves are affected; their action is sluggish and dull, and thus both the child’s level of energy and his resistance are impaired. There is an unusual amount of gray in the aura, but in this case it comes from weakness, poor health and lack of energy, rather than from fear or depression.

Trước hết, bạn thấy hình dạng của hào quang tròn nhiều hơn so với trường hợp #4, vốn là một cậu bé bình thường ở tuổi lên bảy; hào quang này khá giống trường hợp cô bé ba tuổi. Điều này cho thấy cậu không trưởng thành ở mức trung bình. Tất cả phần giữa và phần dưới của hào quang phủ một đám mây xám nhạt tương tự như bức hình hào quang ở trên, mặc dù hậu quả không nghiêm trọng lắm. Nhưng các van nạp năng lượng bị tác động; chúng hoạt động chậm chạp và lờ đờ, và do đó mức năng lượng và sức đề kháng của cậu bé đều bị khiếm khuyết. Trong hào quang có một lượng màu xám cao bất thường, nhưng trong trường hợp này, nó xuất phát từ sự yếu ớt, sức khoẻ kém và thiếu năng lượng hơn là vì sợ hãi hay trầm cảm.

If you compare this boy’s aura with those of the other children, you will see that the unfolding bands of color which represent his potentialities all droop downward quite sharply and are edged with gray. This is another sign of his general inability to function normally, or to express himself. At the top of the aura the colors which should reveal his higher faculties are so vague as to be almost imperceptible, and the gray which overshadows the yellow indicates that at birth there was an almost complete blankness of mind.

Nếu bạn so sánh hào quang của cậu bé này với những đứa trẻ khác, bạn sẽ thấy rằng các dải màu đang mở ra đại diện cho tiềm năng của cậu đều rủ xuống khá mạnh và có màu xám. Đây là một dấu hiệu khác của sự mất khả năng thể hiện bản thân và hoạt động bình thường của cậu. Trên đỉnh của hào quang, màu sắc tiết lộ các năng lực cao hơn của cậu bé quá mờ nhạt đến mức gần như không thể nhận ra, và màu xám phủ bóng lên màu vàng cho thấy khi sinh ra cậu bé đã gần như không có trí tuệ.

Interestingly enough, the absence of the usual brown of selfishness at the bottom of the aura reflects this blankness. As I have said, all normal children are busy asserting themselves, since they begin quite early to develop an ego. But this poor boy was lacking the mental capacity to have a sense of self, and thus be selfish. In him, the bottom of the aura is filled with the dark blue-gray of stress, whose effects extend upward into the active part of the aura.

Thật thú vị, sự vắng mặt của màu nâu thông thường của sự ích kỷ ở đáy hào quang phản ánh sự vô tri này. Như tôi đã nói, tất cả trẻ em bình thường đều bận rộn khẳng định mình, vì chúng bắt đầu khá sớm phát triển một bản ngã. Nhưng cậu bé tội nghiệp này thiếu khả năng tinh thần để có được cảm nhận về bản thân, và qua đó đó phát triển tính ích kỷ. Trong cậu bé, phần đáy của hào quang đầy những màu xám xanh của căng thẳng, những tác động này mở rộng lên phần hoạt động của hào quang.

The large areas of yellow in the upper aura might mislead you into attributing it to the presence of mental ability, but the color is extremely vague and its position is much too low, almost below his head. He was quite seriously deficient mentally, but he was not entirely without intelligence, and he showed some signs of trying to reach out and communicate with those around him. The cloud surrounding his head is the result of some injections he was being given daily in an effort to improve his thinking processes, and the sparks of yellow within the cloud indicate that the medication was producing some mental stimulus, although this might have been of short duration. The injections were part of an experimental program that was being tried out at that time, and I am not sure how successful it was.

Các khoảng lớn màu vàng trong phần trên của hào quang có thể làm bạn hiểu nhầm là nó biểu thị cho khả năng tinh thần, thực tế màu sắc rất mờ nhạt và vị trí của nó quá thấp, gần như dưới phần đầu. Cậu bé rất thiếu hụt năng lực trí tuệ, nhưng không phải là cậu bé hoàn toàn không có trí thông minh, cậu có những biểu hiện diễn tả sự cố gắng liên lạc và giao tiếp với mọi người xung quanh. Đám mây mù quanh đầu cậu bé là kết quả của các mũi tiêm hàng ngày nhằm nỗ lực cải thiện khả năng tư duy của cậu, và các tia vàng trong đám mây cho thấy rằng thuốc đã tạo ra một số kích thích tinh thần, mặc dù điều này có lẽ chỉ diễn ra trong chốc lát. Việc tiêm thuốc là một phần của một chương trình thử nghiệm đã được tiến hành vào thời điểm đó, và tôi không rõ chương trình này đã thành công ra sao.

The pink in this little boy’s aura is the most normal of his colors. As is typical of Down’s syndrome children, he had an affectionate nature and was quite responsive to those who were caring for him. His green band is very pale and slants down sharply, showing that his physical coordination was poor. He found it difficult to do the simplest physical tasks, such as dressing himself, because there was no coordination between mind and hand.

Màu hồng trong hào quang của cậu bé này là màu bình thường nhất. Như một điển hình của trẻ em mắc hội chứng Down, cậu bé có bản tính tình cảm và đã đáp ứng khá tốt với những người đang chăm sóc cậu. Dải màu xanh lá của cậu rất nhợt nhạt và dốc xuống nhiều, cho thấy sự phối hợp thể chất của cậu bé rất kém. Cậu bé khó thực hiện các nhiệm vụ thể chất đơn giản nhất, chẳng hạn như mặc quần áo cho mình, bởi vì không có sự phối hợp giữa đầu óc và đôi tay.

In the middle of the green band, centered over the solar plexus chakra, there is a circular blue disk. This is one of his karmic indicators. It is in an active or unfolded state, rather than latent like the others we have seen, because his physical handicap, which was the result of karma, began at birth and was dominating his life. Its position at the top of the green band shows, on the one hand, that his karma was related to his inability to function in the world; on the other, that the solar plexus chakra, which is central to the distribution of emotional energy, was very disorganized. This suggested to me that his glandular system was out of order. The other two karmic indicators were also related to his disabilities, but they were not as yet active.

Ở giữa dải màu xanh lá, tập trung quanh luân xa tùng thái dương, có một đĩa tròn màu xanh lam. Đây là một trong những biểu hiện về nghiệp quả của cậu bé. Biểu tượng này đang ở trạng thái tích cực hoặc mở ra, chứ không phải là tiềm ẩn như ở những người khác chúng ta đã thấy, bởi vì khuyết tật về thể chất của cậu là do nghiệp quả, bắt đầu từ khi mới sinh và đang chi phối cuộc đời của cậu. Vị trí của nó ở trên cùng của dải màu xanh một mặt cho thấy nghiệp quả của cậu bé có liên quan đến việc mất khả năng hoạt động trên thế giới; mặt khác, luân xa tùng thái dương, là trung tâm của sự phân bố năng lượng cảm dục, rất mất tổ chức. Điều này gợi ý cho tôi rằng hệ thống tuyến của cậu bé bị rối loạn. Có hai chỉ thị nghiệp quả khác cũng liên quan đến khuyết tật của cậu bé, nhưng chúng vẫn chưa hoạt động.

The bands of blue that seem to issue from his solar plexus center and sweep downwards to his feet indicate that his strain and lack of energy were related to this center. They seem to enclose a separate

Các dải màu xanh biển dường như xuất phát từ luân xa tùng thái dương và trượt xuống dưới chân cho thấy sự căng thẳng và thiếu năng lượng của cậu bé có liên quan đến luân xa này. Chúng dường như bao quanh một khu vực riêng màu xanh lợt, nhưng thực ra đó là một sự tiếp nối của dải màu xanh lá của cậu, bị ngắt quãng bởi những đường biểu thị sự căng thẳng. Đám mây mù màu cam-nâu quanh bàn chân nằm trọn trong những dải màu xanh biển này, cho thấy cảm giác tự tin mới chớm nở của cậu bé bị hạn chế bởi khuyết tật thể xác của mình.

area of pale green, but this is actually a continuation of his green band, which was fractured by these lines of strain. The pale cloud of orange- brown around his feet lies within these blue lines, indicating that his incipient sense of self-confidence was constrained by his physical handicap.

Mặc dù bị khiếm khuyết, cậu bé đã may mắn được chăm sóc trong một gia đình với bố mẹ nuôi chân thành yêu mến cậu. Mối quan hệ này đã không chỉ kích thích tình cảm tự nhiên của cậu, mà còn thúc đẩy ở một mức độ nhất định sự phát triển trí tuệ của cậu bé qua nhiều năm.

Though badly impaired, this little boy did have the good fortune of having been placed in the care of a foster parent who was sincerely fond of him. This relationship had not only stimulated his natural affection, but also had over the years fostered in him a certain degree of mental integration.

Tôi khuyên là cậu bé nên được khuyến khích làm các công việc chân tay đơn giản mà cậu có thể thích thú, chẳng hạn như chăm sóc cây cối. Điều này có thể giúp phát triển sự phối hợp tinh thần và thể chất. Trong khi cậu bé sẽ không bao giờ có thể bình thường, cậu vẫn có thể được đào tạo để làm một số công việc đơn giản, chẳng hạn như làm vườn, một công việc không đòi hỏi quá nhiều suy nghĩ.

My recommendations were that the boy should be encouraged to do simple physical tasks that he might enjoy, such as taking care of plants. This might help to develop his mental and physical coordination. While he would never be normal, he might be trained to do some simple work, like gardening, which would not require much thought.

Vì tôi không nhận được thông tin gì thêm về cậu bé này, tôi không biết liệu cậu có tiến bộ gì không, hay cậu có bị mất sớm không, như rất nhiều trường hợp bị hội chứng Down. Nghiệp quả của cậu bé dường như liên quan đến một cuộc sống đầy thất vọng từ quan điểm của sự phát triển bên trong.

As I never received any further reports about this child, I do not know whether he improved, or whether he died young, as is so often the case with those suffering from Down’s syndrome. His karma seemed to be related to a life of frustration from the point of view of inner development.

17. An Acute Anxiety State—Tình Trạng Lo Lắng Quá Độ

This is the picture of a man in his fifties who was in the midst of what is commonly called a nervous breakdown. It would not have taken a clairvoyant to perceive this, for when he came to see me he was in a state of intense nervous agitation. He was a forceful personality, and had achieved a good deal in his life, as the strong colors in his aura indicate. But at the time this picture was painted he was not able to accomplish anything, for he was trapped in his own anxiety to the point where he even doubted his ability to think.

Đây là hình ảnh của một người đàn ngoài năm mươi tuổi đang ở trong tình trạng thường được gọi là suy sụp thần kinh. Không cần phải có thông nhãn để nhìn ra điều này, bởi vì khi ông đến gặp tôi ông đang trong tình trạng căng thẳng thần kinh rất nặng nề. Ông là người có tính cách mạnh mẽ, và đã làm được nhiều việc lớn trong cuộc đời, như những màu sắc mạnh mẽ trong hào quang của ông cho thấy. Nhưng vào thời điểm bức hình này được vẽ ông không thể hoàn thành bất cứ điều gì, vì ông đang mắc kẹt trong nỗi lo lắng đến mức ông thậm chí còn nghi ngờ khả năng suy nghĩ của mình.

This man had been interested in Eastern thought for many years and had accepted its fundamental precepts, but at this moment he was full of doubt and uncertainty, and these ideas retained very little meaning for him. He was fundamentally a good man who had lost his way, and with it, his sense of self-identity. He had had a very successful business which was going steadily downhill, and this situation naturally aggravated his anxiety and accelerated the breakdown of his self-confidence.

Người đàn ông này đã quan tâm đến tư tưởng phương Đông trong nhiều năm và đã chấp nhận các giáo huấn căn bản của nó, nhưng tại thời điểm này ông đầy nghi ngờ và không chắc chắn về mọi điều, và những tư tưởng này không còn mấy ý nghĩa đối với ông. Về cơ bản ông đang là một người tốt, lạc lối, và cùng với điều đó, mất đi cả ý thức cá nhân. Ông có một công việc kinh doanh đã rất thành công nhưng đang trên đà xuống dốc, và điều này càng làm tăng thêm sự lo lắng và càng phá vỡ mọi sự tự tin trong ông.

All this fear and stress can be seen quite plainly in his aura, most dramatically in the two blue shells which enclose him. The nervous strain he was suffering from caused the outer band at the edges of his aura, which is similar to those we have seen elsewhere but rises much higher in the aura than any of the others. The second, inner shell is even more serious, for it had created a barrier which inhibited the normal outward flow of his emotions and turned their energies inward upon himself. When people suffer from such a condition they cannot express their emotions; they may start to feel something, but then their uncertainty will make them hesitate and pull back.

Tất cả sự sợ hãi và căng thẳng này có thể được nhìn thấy khá rõ trong hào quang của ông, nổi bật nhất trong hai lớp vỏ màu xanh biển bao kín hào quang. Cơn căng thẳng thần kinh mà ông phải chịu đựng tạo nên các dải ở các rìa hào quang, tương tự như những gì chúng ta đã thấy ở một số trường hợp đã nghiên cứu nhưng nó trải dài lên cao trong hào quang hơn bất kỳ của ai khác. Thứ hai, lớp vỏ bên trong thậm chí còn nghiêm trọng hơn, vì nó đã tạo ra một hàng rào cản trở dòng chảy ra bên ngoài bính thường của cảm xúc và chuyển ngược năng lượng của chúng vào trong chính bản thân ông. Khi ai đó rơi vào tình trạng này, họ không thể diễn tả cảm xúc của mình; họ có thể bắt đầu cảm thấy điều gì đó, nhưng rồi sự nghi ngờ của họ sẽ làm cho họ do dự và rút lui.

In his case, the blockage was increasing his stress day by day. Like a spinning skater or a squirrel in a cage, his anxiety kept gaining momentum because of this tight, repetitive, circular action. The fact that the blockage extends so high in his aura shows that his higher faculties were also constrained. Sadly, he was shut off in two directions — from the outer world and from his inner self. This affected his mental balance, and the resulting loss of perspective led him into false interpretations of the events in his daily life. This further increased his emotional and mental agitation. He was, in fact, caught in a trap built of his own pressures, his loss of contact with reality, and his distorted imagination.

Trong trường hợp này, sự tắc nghẽn ngày càng gia tăng căng thẳng của ông. Giống như một người trượt băng xoay tròn hay một con sóc trong lồng, nỗi lo lắng của ông vẫn trên đà tăng tốc vì hành động lặp đi lặp lại, xoay tròn và bó hẹp. Thực tế là sự tắc nghẽn kéo dài quá cao trong hào quang của ông cho thấy các năng lực cao hơn của ông cũng bị hạn chế. Đáng buồn thay, ông bị khép chặt từ hai hướng—từ thế giới bên ngoài và từ nội tâm của mình. Điều đó ảnh hưởng đến sự cân bằng tinh thần trong ông, làm ông mất đi quan điểm, và dẫn đến việc ông diễn giải sai mọi sự kiện trong cuộc sống hàng ngày. Điều này làm gia tăng tình trạng bối rối về tinh thần và cảm xúc của ông. Trên thực tế, ông bị mắc kẹt trong một cái bẫy tạo ra do áp lực từ chính mình, sự mất kết nối với thực tế và trí tưởng tượng méo mó của ông.

The areas of pink in his aura indicate that this man was by nature affectionate, but the pale shade of the color shows his inability to share his feelings. You can see how enclosed the pink is, both above and below the green band. He still loved his wife and children, but he told me with tears in his eyes that he absolutely could not express his feeling, or go out to them in any way. He had been preoccupied with his business for such a long time, and working so hard, that he had grown away from his family. Yet the fundamental cause of his overwork and the pressure he put on himself arose out of his desire to care for his family and provide for them well. He had not been in the habit of sharing his troubles with his wife, and now he could no longer feel that there was any relationship between them. In fact, his family only irritated him. This troubled him deeply, because he felt guilty; he worried about his family’s future, and felt frustrated by his inability to care for them. All the pink and yellow whirls which you can see in many parts of his aura relate to these worries.

Những khu vực màu hồng trong hào quang cho thấy người đàn ông này bản chất là người giàu tình cảm, nhưng sắc nhạt của màu hồng cho thấy ông không có khả năng chia sẻ cảm xúc của mình. Bạn có thể thấy màu hồng bao quanh, cả trên và dưới dải màu xanh lá. Ông vẫn yêu vợ con mình, nhưng ông nói với tôi trong nước mắt rằng ông hoàn toàn không thể bộc lộ cảm xúc của mình, hoặc cách biệt họ theo nhiều nghĩa. Ông đã quá bận rộn với công việc của mình trong một thời gian dài, và làm việc vất vả đến nỗi ông đã xa cách với gia đình mình. Tuy nhiên, nguyên nhân cơ bản của việc làm việc quá sức và áp lực ông đặt lên mình nảy sinh từ chính mong muốn chăm sóc cho gia đình và chu cấp đầy đủ cho vợ con. Ông không có thói quen chia sẻ những rắc rối của mình với vợ, và giờ đây ông không còn cảm thấy giữa họ còn mối ràng buộc nào. Trên thực tế, gia đình chỉ làm ông bực mình. Điều này làm ông đau đớn vì ông cảm thấy tội lỗi; ông lo lắng về tương lai của gia đình mình, và cảm thấy nản lòng vì không có khả năng chăm sóc cho họ. Tất cả các xoáy hồng và vàng mà bạn có thể nhìn thấy trong nhiều phần của hào quang của ông đều liên quan đến những lo lắng.

Frustration was not new to him, for there are signs at the bottom of his aura that he had had such periods when quite young. He had not had an easy life financially, and had had to earn his living by doing a number of different things. The red bands low down in the aura show that he had often been angry and annoyed, and although these experiences belonged to the past, he had not forgotten all the opposition he had met with. In a sense, these marks reflect the earlier struggles and difficulties which had constrained him in the past, just as the lines of blue reflect the strain he was presently experiencing.

Sự thất vọng không còn là điều mới đối với ông, vì có những dấu hiệu ở phần đáy hào quang chỉ ra rằng ông đã có những khoảng thời gian bị như vậy khi còn trẻ. Ông không có một cuộc sống dư giả về tài chính, và đã phải kiếm sống bằng cách làm nhiều việc khác nhau. Các dải màu đỏ ở dưới thấp trong hào quang cho thấy ông đã thường tức giận và bực bội, và mặc dù những trải nghiệm này thuộc về quá khứ, ông không hề quên tất cả những trắc trở mà ông gặp phải khi còn trẻ. Theo một nghĩa nào đó, những dấu hiệu này phản ánh những cuộc đấu tranh trước đây và những khó khăn đã cản trở ông trong quá khứ, giống như những đường xanh biển phản ánh sự căng thẳng mà ông đang phải chịu đựng.

His green band is of a good width, and its yellow hue shows that his work had always been of an intellectual kind, but again, it is filled with the yellow vortices which indicate worry. All the yellow above shows that in the past he had been both intelligent and innovative, able to concentrate and think things through carefully. Within the green band there is a large graph-like form, a symbol of order. It is the enduring impression of his life’s work, and epitomizes his greatest achievement. He had been one of the first people in the United States to create the standards and develop the method of taking public opinion polls — an enterprise which was later taken over by Gallup and other organizations. He did in fact write several books on the subject. As the symbol in his green band implies, his tendency was to categorize everything, for not only was this the way he earned his living, it was the way his mind functioned normally. He was happiest when he could reduce everything around him into an orderly pattern. The same might have been said about #13, yet there was a vast difference between the two men, for this one’s type of order was mechanical and statistical, whereas the other’s was archetypal and universal.

Dải màu xanh lá có một chiều rộng lớn, và màu vàng trên đó cho thấy công việc của ông luôn luôn liên quan tới lĩnh vực trí tuệ, nhưng một lần nữa, dải màu này lại chứa đầy các xoáy màu vàng biểu đạt sự lo lắng. Toàn bộ màu vàng ở trên cho thấy trong quá khứ ông là người vừa thông minh vừa sáng tạo, có khả năng tập trung cao và suy nghĩ cẩn thận về mọi vấn đề. Trong dải màu xanh lá, có một hình dạng đồ thị lớn, một biểu tượng của trật tự. Đó là ấn tượng sâu đậm về công việc trong cuộc đời ông, và là hình ảnh của thành tựu lớn nhất trong đời. Ông là một trong những người đầu tiên ở Hoa Kỳ tạo ra các tiêu chuẩn và phát triển phương pháp lấy ý kiến ​​công chúng—một sáng kiến mà Gallup và các tổ chức khác sau đó đã mua lại. Ông còn viết một số cuốn sách về chủ đề này. Như biểu tượng trong dải màu xanh ngụ ý, khuynh hướng của ông là phân loại tất cả mọi thứ, vì đó không chỉ là cách ông kiếm sống, mà nó còn là cách thức hoạt động thông thường của tâm trí ông. Ông hạnh phúc nhất khi ông có thể làm giản lược mọi thứ xung quanh ông thành một mẫu hình có trật tự. Điều này cũng tương tự như ở trường hợp #13, tuy nhiên có sự khác biệt rất lớn giữa hai người, vì loại trật tự này mang tính máy móc và thống kê, trong khi loại #13 là nguyên mẫu và phổ quát.

At the time that I saw this man, he had recently had to give up his business, and the cessation of its pressures left him completely bereft. He had lost the sense of direction which his work had afforded him, and he was beset by worry and uncertainty. His anxiety had been developing for several years, and by the time I saw him he was in such a bad state that he was overwhelmed by his dilemmas and unable to make any decisions. Sadly, he was really beyond help, and in fact he died within a short time. It was a tragic case.

Vào thời điểm tôi gặp người đàn ông này, ông mới gần đây đã phải từ bỏ công việc kinh doanh, và sự chấm dứt áp lực đột ngột đã khiến ông cảm thấy mất mát. Ông mất đi định hướng mà công việc vẫn cho ông, và ông bị bao phủ bởi cảm giác lo lắng và hoài nghi. Sự lo lắng của ông đã phát triển trong nhiều năm, và khi tôi gặp ông, ông đang ở trong tình trạng tồi tệ đến mức ông đầy khó xử và không thể đưa ra bất kỳ quyết định gì. Đáng buồn thay, không thể giúp gì được ông, và thực tế là ông đã mất sau đó một thời gian ngắn. Đây là một trường hợp rất bi thảm.

I wish I could say that this man’s case was rare, but unfortunately this is not so. In fact, it is more typical of today’s world than of the time when the painting was made. There are many men and women who are fundamentally caring and well-motivated, but in whom the pressures of their careers and their desire for success have forced their families into the background. This always makes for strained and difficult relations.

Tôi ước gì mình có thể nói rằng trường hợp của người đàn ông này là rất hiếm, nhưng đáng tiếc là không phải là như vậy. Trên thực tế, đây là tình trạng điển hình của thế giới ngày nay, nó phổ biến hơn nhiều so với thời điểm bức hình được vẽ. Có rất nhiều người, cả đàn ông và phụ nữ, vốn rất giàu sự quan tâm và có động cơ tốt, nhưng dưới áp lực từ công việc và sự mong muốn thành công, họ đã buộc phải làm việc không ngừng nghỉ. Điều này luôn làm cho các mối quan hệ căng thẳng và khó khăn.

In all too many people, the habit of living and working under extreme pressure creates patterns of stress which eventually end in burnout, and this can have a very damaging effect upon their families and all their personal relationships. This is why it is so important to learn to watch for signs of stress within oneself, and take steps to change negative emotional patterns before they take their toll.

Ở quá nhiều người, thói quen sống và làm việc dưới áp lực cực đoan tạo ra những hình thái căng thẳng mà cuối cùng kết thúc trong tình trạng kiệt quệ, và điều này có thể gây ảnh hưởng rất xấu đến gia đình và các mối quan hệ cá nhân của họ. Đây là lý do tại sao việc học quan sát những dấu hiệu căng thẳng bên trong chính bản thân mình và thực hiện từng bước để thay đổi các mô hình cảm xúc tiêu cực trước khi chúng gây ra những tổn thất cho ta là điều vô cùng quan trọng.

18. The Effects of Meditation upon a Chronic Heart Patient—Hiệu Quả của Tham thiền lên Bệnh Nhân Tim Mãn Tính

This is the aura of a remarkable Russian lady in her forties, who had been born with a heart so enlarged that the doctors who examined her from time to time were surprised to find her still alive. Yet she had survived a period of great danger and anguish, and although always an invalid, she was happily married and lived another thirty years after this picture was made. She was, in fact, a medical miracle.

Đây là hào quang của một phụ nữ người Nga đặc biệt đang ở độ tuổi 40, người được sinh ra với một trái tim phình to đến nỗi các bác sĩ kiểm tra định kỳ cho cô luôn ngạc nhiên khi thấy cô vẫn còn sống. Tuy nhiên, cô đã trải qua một giai đoạn đầy nguy hiểm và đau đớn, và mặc dù về nguyên tắc là không được phép, cô đã kết hôn và sống hạnh phúc thêm ba mươi năm sau khi bức hình này được thực hiện. Thực tế, cô là một phép màu trong y học.

At first glance, one might not believe that this was the aura of a sick person, because although muted, the colors are remarkably clear. The whole aura displays a general symmetry and balance, for the colors of the upper part are to a large extent reflected below, a sign of personal integration. The gray of fear and depression so common in the chronically ill is visible in the lower aura, but the upper part remains unclouded. Yet this is the aura of a woman who had for years lived with a severe heart condition that caused her continual pain.

Thoạt nhìn, người ta không thể tin rằng đây là hào quang của một người bệnh, bởi vì mặc dù chỉ thể hiện qua hình ảnh, màu sắc của hào quang này đặc biệt rõ ràng. Toàn bộ hào quang thể hiện sự đối xứng và sự cân bằng chung, vì màu sắc của phần trên được phản ánh ở phần dưới với một mức độ lớn hơn, một dấu hiệu của phàm ngã tích hợp. Màu xám của sự sợ hãi và trầm cảm rất phổ biến ở người bệnh đau ốm kinh niên có thể nhìn thấy được trong phần dưới của hào quang, nhưng phần trên không hề bị phủ bóng. Dù sao, đây cũng là hào quang của một người phụ nữ đã trải qua nhiều năm sống trong tình trạng bệnh tim nghiêm trọng gây ra những cơn đau liên tục.

You will see that the green band droops down sharply at the edges, a clear sign that her energies are not flowing normally. Moreover, the blue of strain not only clouds the lower part of her aura but extends upward through the green band itself, thus directly affecting all her activities. I have said before that this condition is present when a person is being forced beyond the ordinary limits of nervous or physical endurance. This woman was not of a nervous temperament, however, and her stress was entirely related to a lack of energy resulting from her illness. All her emotional expression was tinged with strain. Since she had no reserves of strength to meet any sudden calls upon her, she had to husband her energies very carefully. Everything she did required an effort of will.

Bạn sẽ thấy dải màu xanh lá trễ xuống sâu ở bên rìa hào quang, một dấu hiệu rõ ràng cho thấy năng lượng của cô không vận hành bình thường. Hơn nữa, màu xanh biển của sự căng thẳng không chỉ che phủ phần dưới của hào quang mà còn lan rộng lên qua dải xanh lá, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các hoạt động của cô. Trước đây tôi đã từng nói rằng hiện tượng này xuất hiện khi một người đang bị buộc phải vượt quá giới hạn chịu đựng thông thường về thần kinh hay thể chất. Tuy nhiên, ở người phụ nữ này không có dấu hiệu của thần kinh, và những căng thẳng của cô hoàn toàn liên quan đến việc thiếu năng lượng do bệnh tật gây ra. Tất cả những biểu hiện cảm xúc của cô đều bị căng thẳng. Vì cô không có nhiều sức lực để chống đỡ những cơn bệnh tật ập đến, cô đã phải dành dụm năng lượng của mình. Mọi thứ cô làm đều đòi hỏi nỗ lực cao trong ý chí.

The fact that this aura is free from many of the signs of illness is due in large part to the fact that for years she had been regularly practicing meditation. Every day she made a conscious effort to free herself from the emotional restrictions which illness so often imposes, and to reach out to others in love and affection. The most prominent color in her aura is pink, showing that she not only had a great deal of affection in her nature but also that she projected it intentionally in her meditation, and sought to carry it through into expression in her personal relationships.

Thực tế, hào quang này không có nhiều dấu hiệu của bệnh tật phần lớn là do trong nhiều năm cô đã thường xuyên thực hành tham thiền. Mỗi ngày cô đều nỗ lực có ý thức để tự giải phóng mình khỏi những hạn chế cảm xúc mà bệnh tật thường xuyên đè nặng lên cô, và để tiếp cận với mọi người trong tình yêu và thương mến. Màu sắc nổi bật nhất trong hào quang của cô ấy là màu hồng, cho thấy cô không chỉ có tình cảm sâu sắc trong bản chất con người mà cô còn chú ý tạo nên nó thông qua tham thiền và tìm cách biểu đạt điều đó trong các mối quan hệ cá nhân của mình.

The clear blue and violet at the top of her aura indicate her devotion to spiritual ideals, and their expanse shows that she tried to practice these ideals in her daily life. The large area of green which balances the pink in the upper part of her aura testifies to her sympathetic attitude towards others, as well as her response to what she perceived as the innate beauty and harmony of the world.

Màu xanh biển và tím rõ nét ở đỉnh hào quang cho thấy sự hết lòng của cô với lý tưởng tinh thần, và những mảng màu này mở rộng cho thấy cô đã cố gắng thực hành áp dụng những lý tưởng này trong cuộc sống hàng ngày. Vùng xanh lá rộng lớn cân đối với màu hồng ở phần trên của hào quang của cô là minh chứng cho thái độ cảm thông của cô đối với người khác, cũng như ứng đáp của cô đối với những gì cô cảm nhận được như vẻ đẹp thuần khiết và sự hòa hợp của thế giới.

The position of the yellow in the upper aura, as well as its shade, shows that she liked to think and was by no means unintelligent, but it also indicates that the action of her mind was engaged with abstract ideas rather than with the solution of practical problems. This was her natural inclination and it was fortified by her illness, for she led a sheltered life in which all her ordinary needs were well cared for and did not need to be thought about.

Vị trí của màu vàng trong hào quang phía trên, cũng như bóng mờ của nó, cho thấy cô ấy thích nghĩ và thông minh, nhưng nó cũng chỉ ra rằng hành động của tâm trí của cô ấy được kết hợp với các ý tưởng trừu tượng chứ không phải với giải pháp vấn đề thực tiễn. Đó là khuynh hướng tự nhiên của nó và nó đã được tăng cường bởi bệnh tật của cô, vì cô đã sống một cuộc đời được che chở, trong đó tất cả nhu cầu bình thường của cô đã được chăm lo tốt và không cần phải suy nghĩ về chúng.

As I have said, her green band shows her lack of physical strength, and her inability to do any active work. The pink flame in the band results from her efforts to bring her affection through into her daily life, and her unconscious perception that her real work in the world was concerned with people, and with her ability to help them through kindness and sympathy. The yellow stars are related to her interest in symbolic thought, which engaged her mind regularly.

Như tôi đã nói, dải màu xanh lá cây của cô cho thấy cô thiếu sức mạnh thể chất, và cô không có khả năng làm bất kỳ hoạt động tích cực nào. Ngọn lửa màu hồng trong dải màu xanh là kết quả từ những nỗ lực của cô để mang tình yêu của cô vào cuộc sống hàng ngày của cô, và nhận thức vô thức của cô rằng công việc thực sự của cô trên thế giới là quan tâm đến mọi người, và với khả năng giúp đỡ họ thông qua sự tử tế và thông cảm. Các ngôi sao màu vàng có liên quan đến sự quan tâm của cô với tư duy biểu tượng, thường xuyên cuốn hút tâm trí cô.

The lower part of her aura testifies to the fact that her inner tranquillity had been won through conscious effort, and was certainly not the result of the physical circumstances she was born into. The blue- gray at the bottom of her aura, just above the usual brown of selfishness, shows that her childhood must have been filled with uncertainty and fear. There are two large, painful scars within this blue-gray background, indicating that when she was around twenty-five or thirty she must have gone through a period of great distress, during which she had to bear some tremendous burden. These scars have a kind of double action. They show that on the one hand she was trying to keep steady, since she felt that everything depended on her, and at the same time she was desperate because she didn’t know what she ought to do.

Phần dưới của hào quang của cô chứng minh rằng sự thanh thản nội tâm của cô đã đạt được qua nỗ lực có ý thức, và chắc chắn không phải là kết quả của những hoàn cảnh thể chất mà cô sinh ra trong đó. Màu xanh lam-xám ở dưới cùng của hào quang, ngay phía trên màu nâu bình thường của sự ích kỷ, cho thấy rằng tuổi thơ của cô ấy đầy sự không chắc chắn và sợ hãi. Có hai vết sẹo lớn, đau đớn bên trong nền xanh xám này, cho thấy rằng khi cô khoảng hai mươi lăm hay ba mươi tuổi, cô phải trải qua một giai đoạn cực khổ, trong đó cô đã phải chịu một gánh nặng to lớn. Những vết sẹo này có một hành động kép. Chúng chỉ ra rằng một mặt cô cố giữ bình tĩnh, vì cô cảm thấy rằng mọi thứ phụ thuộc vào cô, và cùng lúc cô thấy tuyệt vọng vì cô không biết nên làm gì.

The gray which overlays the green shows that although she did take action, it was colored by fear and strain. These experiences were so traumatic that they might well have continued to influence her the rest of her life. The interesting thing is that although they still lingered in her unconscious mind, the practice of meditation had enabled her to push them down into the past, so that they were no longer active in her.

Màu xám phủ vùng màu xanh lá chỉ rằng mặc dù cô đã hành động, nó đã được tô màu bởi sự sợ hãi và căng thẳng. Những trải nghiệm này gây chấn thương đến nỗi chúng có thể vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến thời gian còn lại của cuộc đời cô. Điều thú vị là mặc dù chúng vẫn còn lãng vãng trong tâm trí vô thức của cô, việc thực hành tham thiền đã cho phép cô đẩy chúng vào quá khứ, để chúng không còn hoạt động trong cô.

The patch of orange with a whirl in it shows that the events of her life had to some degree given her a sense of inadequacy and inferiority. This occasionally caused her to react somewhat aggressively, especially in defense of those she was most fond of. A response of this kind was really not compatible with her temperament, however, and the continued effects of her meditation probably dissipated it in time. She was a person who understood life more through a kind of sympathetic perception than by means of conscious thought, so that in a way she did not so much solve problems as dissolve them.

Mảnh màu da cam với một vòng xoáy trong đó chỉ ra rằng những sự kiện trong cuộc sống của cô ấy ở một mức độ nào đó cho cô ấy cảm giác không thích hợp và thấp kém. Điều này đôi khi khiến cô phản ứng có phần mạnh mẽ, đặc biệt là trong việc bảo vệ những người cô thích nhất. Tuy nhiên, phản ứng loại này thực sự không phù hợp với tính khí của cô, và những ảnh hưởng liên tục của việc tham thiền có thể làm tiêu tan nó theo thời gian. Cô là một người hiểu rõ cuộc sống thông qua một hình thức cảm thông hơn là bằng tư duy có ý thức, sao cho theo cách cô không giải quyết vấn đề nhiều như như giải thể chúng.

To a remarkable degree, this woman’s aura is a record both of her past trauma and of her present state of peace and harmony. Having grown up in Czarist Russia, she went through the terrors of the Revolution, when as a young student she suffered the loss of friends and family. She barely managed to escape to Turkey, where she was imprisoned and underwent many hardships. She finally succeeded in reaching the United States, but her troubles were not over, for she was without resources and had to earn her own living in addition to adjusting to a very different way of life.

Trong một mức độ đáng chú ý, hào quang của người phụ nữ này là một sự ghi nhận của cả chấn thương trong quá khứ của cô và tình trạng hiện tại của cô ấy về hòa bình và hòa hợp. Lớn lên ở Nga, cô đã trải qua những nỗi kinh hoàng của Cuộc Cách mạng, khi còn nhỏ, cô đã phải chịu đựng sự mất mát bạn bè và gia đình. Cô hầu như không thể chạy trốn đến Thổ Nhĩ Kỳ, nơi cô bị giam giữ và trải qua rất nhiều khó khăn. Cuối cùng, cô đã thành công trong việc đến Hoa Kỳ, nhưng những rắc rối của cô vẫn chưa kết thúc, vì cô không có tiền bạc và phải kiếm sống ngoài việc thích nghi với một lối sống khác.

All these difficulties were complicated by her illness, and yet she managed not only to survive but to remain in control of her circumstances. Part of her secret was her natural serenity. She was not overwhelmed by the problems of her life because she always felt the strength of a spiritual presence that could carry her through her difficulties. Her sense of this presence grew and deepened through her meditation.

Tất cả những khó khăn đó bị làm phức tạp do căn bệnh của cô, và cô không chỉ sống sót mà còn phải kiểm soát hoàn cảnh của mình. Một phần bí mật của cô là sự thanh thản tự nhiên của cô. Cô đã không bị áp đảo bởi những vấn đề của cuộc đời cô bởi vì cô luôn cảm thấy sức mạnh của một sự hiện diện tinh thần có thể đưa cô qua những khó khăn. Sự cảm nhận của cô về sự hiện diện này đã tăng lên và sâu sắc hơn qua việc tham thiền của cô.

She had the great good fortune, later in life, to marry a kind and capable man whom she adored. They were everything to one another. Not only did he share all her interests, but he was very practical and self-reliant, and delighted in relieving her of the burdens of living. So although she was in constant pain, she otherwise lived in ideal circumstances. Although she had to be alone a good deal during the day, she was never lonely, because she had many friends in the Russian community who visited her when she was confined to bed. They told her all their troubles and actively sought her advice, so that her affectionate sympathy found a constant outlet and avenue of expression. Thus she lived a remarkably full life in spite of being an invalid.

Cô đã có rất nhiều may mắn, sau này trong cuộc đời, để kết hôn với một người đàn ông tốt bụng và có khả năng mà cô ngưỡng mộ. Họ là tất cả với nhau. Không những ông đã chia sẻ tất cả các sở thích của mình, mà ông còn rất thiết thực và tự lực, vui mừng giải toả cho cô những gánh nặng của cuộc sống. Vì vậy, mặc dù cô vẫn còn đau đớn, cô sống trong hoàn cảnh lý tưởng. Mặc dù cô phải một mình gần suốt ngày, cô không bao giờ cô đơn, bởi vì cô có nhiều bạn bè trong cộng đồng người Nga đến thăm cô khi cô đang ở trong giường. Họ nói với cô tất cả những rắc rối của họ và tích cực tìm kiếm lời khuyên của cô, để sự thông cảm của cô tìm được lối ra và con đường thể hiện. Vì vậy cô đã sống một cuộc sống đầy đủ đáng kể mặc dù là không hợp lệ.

She was thoroughly aware of her physical limitations, and learned to husband her resources and manage her expenditures of energy remarkably well. When she felt ill, she went to bed, sometimes for weeks on end. Through her meditation she learned how to relax and remain calm when she was in pain. In the same way, she opened herself to higher energies which helped her to regulate her body, and these sustained her to the end of her life.

Cô đã nhận thức rõ về những hạn chế về thể chất của mình, và học cách sử dụng các nguồn lực của mình và quản lý việc tiêu phí năng lượng một cách tốt đáng kể. Khi cô cảm thấy bệnh, cô đi ngủ, đôi khi liên tục nhiều tuần. Qua tham thiền, cô học cách thư giãn và bình tĩnh khi bị đau. Cũng giống như vậy, cô mở ra những năng lực cao hơn, giúp cô điều chỉnh cơ thể, và những thứ này đã duy trì cô đến cuối cuộc đời cô.

She herself was convinced that her meditation had kept her alive and functioning far beyond expectations. I have always felt that her life was an example of the ways in which it is possible to work with one’s karma and achieve one’s goal in life in spite of what might appear to be insuperable difficulties.

Bản thân cô luôn tin rằng thiền định đã giúp cô sống và hoạt động vượt xa mong đợi. Tôi luôn cảm thấy cuộc đời của cô là một ví dụ về cách thức có thể chuyển hóa nghiệp quả và đạt được mục tiêu của mình trong cuộc sống, cho dù có những khó khăn tưởng như không thể vượt qua.

6 Foundations of Tibetan Buddhism, p.llf

7 Ibid., p. 242f

8 Ibid., p. 242f

9 Ibid. , p. 73

10 Ibid. , p. 73

11 Please note the final quotation from Lama Govinda on the facing page descrip­tion of the skatidhas.

12 Please note the final quotation from Lama Govinda on the facing page descrip­tion of the skandhas.

13 Ý tác giả nói đến linh hồn hay Chân ngã

III.Possibilities for Change and Growth

Các Khả Năng để Thay đổi và Tăng Trưởng

8.Healing and the Practice of VisualizationChữa Lành và Thực Hành Hình Dung

For most of my life I have been interested in the phenomenon of healing, and it is now the main focus of my work. Over the years, I have fortunately been able to watch a number of well-known practitioners at work, and thus observe different aspects of the healing process as it is taking place. As a result of this experience, about eighteen years ago Dr. Dolores Krieger, Professor of Nursing at New York University, and I developed a technique called Therapeutic Touch. This method is now used by thousands of nurses and health professionals in hospitals both in the United States and abroad, and it has been written about extensively. 14

Gần suốt cuộc đời, tôi luôn quan tâm đến hiện tượng chữa lành bệnh tật, và bây giờ nó là trọng tâm chính trong công việc của tôi. Qua nhiều năm, tôi đã may mắn được chứng kiến nhiều người chữa bệnh nổi tiếng thực hiện công việc của họ, và do đó có thể quan sát các khía cạnh khác nhau của việc chữa bệnh trong quá trình diễn ra. Nhờ những kinh nghiệm này, khoảng 18 năm trước, tôi cùng với tiến sĩ Dolores Krieger, giáo sư điều dưỡng tại Đại học New York, đã phát triển một kỹ thuật gọi là Liệu pháp Đặt tay chữa bệnh (Therapeutic Touch). Phương pháp này ngày nay được hàng ngàn y tá và chuyên gia y tế trong các bệnh viện ở Hoa Kỳ và các nước khác áp dụng, và đã có rất nhiều người viết về liệu pháp này.

Techniques of healing are not the subject of this book. But since the word “healing” means to make whole, it applies to problems of emotional dysfunction as well as to physical disease. These all affect the aura in different ways. When we speak of healing in the general sense as the restoration of wholeness, we have to include the possibility of self-healing in addition to intervention by non-medical as well as medical procedures.

Kỹ thuật chữa bệnh không phải là chủ đề của cuốn sách này. Nhưng vì từ “chữa bệnh” có nghĩa làm khỏe mạnh, nó được áp dụng cho các vấn đề do rối loạn cảm xúc cũng như các bệnh lý thể chất. Tất cả các vấn đề này đều ảnh hưởng đến hào quang theo những cách khác nhau. Khi chúng ta nói về chữa bệnh theo nghĩa chung là phục hồi tính toàn vẹn, chúng ta phải bao gồm cả khả năng tự phục hồi bên cạnh việc can thiệp bằng các thủ thuật y khoa cũng như phi y khoa.

As I have tried to show, mind and emotions play a constant, determining role in health and disease. It therefore seems appropriate to focus briefly upon the interaction which takes place when one human being is trying to help another who is sick or otherwise in trouble. When a person is sick, the interplay between the physical body and the etheric energetic system is affected. At the same time there is a reflection of the physical pain in the emotions, because the memory of pain and the fear of its recurrence come at this level. Those who have been practicing healing methods such as Therapeutic Touch for a long time may get an impression of where the patient feels the pain, and this also indicates whatever disturbance there may be at the emotional level. Therefore, to understand something about the healing process it is necessary to appreciate the relationship between the emotions and the etheric energy field.

Như tôi đã cố gắng chỉ ra, thể trí và cảm xúc đóng một vai trò quan trọng liên tục đối với sức khỏe và bệnh tật. Do đó, sẽ hoàn toàn hợp lý khi chúng ta tập trung ngay vào sự tương tác xảy ra khi một người nỗ lực giúp đỡ người khác bị bệnh hoặc đang gặp rắc rối. Khi một người bị bệnh, sự tác động giữa cơ thể vật lý và hệ năng lượng dĩ thái bị ảnh hưởng. Đồng thời, những đau đớn thể chất được phản ánh trong thể cảm xúc, bởi vì những kí ức về sự đau đớn và nỗi sợ hãi sự tái xuất hiện của nó xảy ra ở cấp độ này. Những người đã thực hành liệu pháp Therapeutic Touch trong một thời gian dài có thể có được ấn tượng về nơi mà bệnh nhân cảm thấy đau, và điều này cũng giúp chỉ ra những rối loạn ở thể cảm xúc. Do đó, để hiểu được ít nhiều về quá trình chữa bệnh, cần phải nhận thức được mối quan hệ giữa thể cảm xúc và trường năng lượng dĩ thái.

Etheric Energy

Năng lượng dĩ thái

In Chapter III briefly mentioned that the etheric is the energetic prototype of the physical body. This being so, there are etheric counterparts of the various organs. The etheric energy flows normally through these organs in a stable pattern, and any disruption in this flow pattern is an indication of disease. If a person is in good health, the flow among all the organs (and between the etheric chakras) is rhythmic, but when the disease process has taken hold there is a break in the pattern in the area where the problem lies.

Chương III đã đề cập sơ lược rằng thể dĩ thái là bản sao năng lượng của cơ thể vật lý. Sở dĩ có được điều đó là do có nhiều đối phần dĩ thái của các cơ quan khác nhau. Bình thường dòng năng lượng dĩ thái chảy qua các bộ phận này theo một hình thái ổn định, và bất kỳ sự gián đoạn nào trong hình thái dòng chảy này đều là dấu hiệu của bệnh. Ở một người khoẻ mạnh, dòng chảy qua tất cả các bộ phận (và giữa các luân xa dĩ thái) luôn theo nhịp điệu, nhưng khi bệnh xuất hiện, dòng chảy bị tắc nghẽn ở khu vực có vấn đề.

From my experience, another indication of illness is a general diminution or narrowing of the stream of energy; an analogy would be a stream where debris has partially dammed the riverbed and prevented the water from flowing normally. Thus one can often perceive where the disease is occurring by noting the reduction in the flow of energy through the various organs of the body. But because of the constant emotional/etheric interaction, emotional response also has a similar effect.

Theo kinh nghiệm của tôi, một dấu hiệu khác của bệnh tật là sự suy giảm chung hoặc thu hẹp dòng năng lượng; điều này tượng tương tự như một dòng suối bị rác chặn lại một số nơi làm thu hẹp dòng chảy và ngăn không cho nước chảy thông suốt. Vì vậy, người ta thường có thể nhận ra nơi đang có bệnh bằng cách lưu ý tới sự suy giảm của dòng chảy năng lượng qua các bộ phận khác nhau của cơ thể. Nhưng do tương tác giữa thể cảm xúc và thể dĩ thái là liên tục, sự đáp ứng ở thể cảm xúc cũng có hiệu quả toàn tương tự.

To take an example, anxiety can be an overpowering emotion which for the time being obscures all our other feelings. Even when we realize that the anxiety is out of proportion to its cause, we are often unable to rid ourselves of the irrational fear. Anxiety is always an inhibiting factor, for the concentration of feelings and thoughts upon just one subject creates an emotional vortex, and this in turn reduces the free flow of energy within the aura. (Such vortices can be seen in several of the aura pictures.) An emotional pattern of this kind has a draining effect upon the energies of the whole body. In addition, the stress caused by anxiety affects the solar plexus chakra directly, and acts through it upon the adrenals and the pancreas. Thus an important aspect of healing is the reduction of the inhibiting effects of a patient’s fear.

Lấy một ví dụ, lo âu có thể là một cảm xúc áp đảo, tạm thời che lấp tất cả những cảm giác khác của chúng ta. Ngay cả khi nhận ra rằng sự lo âu không tỷ lệ với nguyên nhân của nó, chúng ta thường không thể loại bỏ nỗi sợ hãi phi lý này. Lo âu luôn là một yếu tố gây ức chế, vì sự tập trung cảm xúc và suy nghĩ chỉ vào một vấn đề tạo ra một cơn xoáy cảm xúc, và điều này làm giảm dòng chảy tự do của năng lượng trong hào quang. (Những xoáy như vậy có thể được nhìn thấy trong một số hình ảnh về hào quang.) Một kiểu mẫu cảm xúc như vậy gây ra tác động làm hao tổn năng lượng của toàn bộ cơ thể. Ngoài ra, căng thẳng do lo âu gây ra ảnh hưởng trực tiếp đến luân xa tùng thái dương và thông qua đó tác động lên tuyến thượng thận và tuyến tụy. Vì vậy, một khía cạnh quan trọng của việc chữa lành là giảm thiểu các tác động ức chế từ nỗi sợ hãi của bệnh nhân.

The Healing Attitude

Thái độ chữa trị

In all the interactions of healing, the development of empathy, or sensitivity, is most important, for the primary contact with the person we are trying to help is at the emotional level. Therefore the first requirement for a healer is a genuine feeling of compassion and a desire to help the person who is sick or in pain, for without this it would be very difficult to engender a feeling of empathy with the patient. What I have said elsewhere about interpersonal relationships applies here with special force, for in the practice of healing the rapport between healer and patient is a significant factor.

Trong các mối tương tác của việc chữa bệnh, sự phát triển năng lực đồng cảm, hay sự nhạy cảm, là quan trọng nhất, vì sự tiếp xúc đầu tiên với người mà chúng ta đang cố gắng giúp đỡ là ở mức độ cảm xúc. Do đó yêu cầu đầu tiên của người chữa bệnh là cảm giác từ bi và mong muốn giúp đỡ người bị đau ốm, vì nếu không có điều này sẽ rất khó có thể tạo được sự đồng cảm với bệnh nhân. Những gì tôi đã nói ở nhiều nơi về mối quan hệ giữa các cá nhân được áp dụng ở đây với ý nghĩa đặc biệt lớn lao, vì trong thực tế chữa bệnh, mối quan hệ giữa người chữa và bệnh nhân là một yếu tố vô cùng quan trọng.

As it is practiced today among nurses and other health professionals, healing is an art which is not undertaken casually. It requires a moment or two of self-preparation which is based upon what we call centering, that is, a conscious effort to free oneself from one’s anxieties and inner disturbances, and to be at peace within oneself.

Ngày nay liệu pháp này đã được nhiều y tá và chuyên gia y tế thực hành. Chữa bệnh trở thành một nghệ thuật chứ không đơn thuần là một công việc thông thường. Nó đòi hỏi phải có một sự chuẩn bị nhất định, dựa trên cái mà chúng ta gọi là tập trung, tức là một nỗ lực có ý thức để giải phóng bản thân khỏi những lo lắng và những rối loạn bên trong của mình, và để được an bình trong chính mình.

I always teach this practice of centering as a preparation for healing as well as in meditation, in which connection I shall speak of it again. If we are upset and in a state of inner turmoil, we may try to reach out and send feelings of compassion to the patient, but the effort may be distorted by an undercurrent of turbulent emotion.

Tôi luôn dạy kỹ thuật tập trung này như một sự chuẩn bị cho việc chữa bệnh cũng như cho thiền định, trong mối liên hệ mà tôi sẽ đề cập tới lần nữa. Nếu chúng ta đang buồn chán và đang ở tình trạng hỗn loạn nội tâm, chúng ta vẫn có thể cố gắng tiếp cận và gửi lòng từ bi cho bệnh nhân, nhưng nỗ lực này có thể bị biến dạng bởi cảm xúc bất an.

Through centering, we become aware of our own disturbed emotions and consciously disassociate ourselves from them by focusing all our energies in the heart center, which is the seat of compassion and of wholeness. This fosters two qualities which are important in the healing process: rootedness and detachment.

Thông qua kỹ thuật tập trung, chúng ta nhận thức được những cảm xúc bị xáo trộn của mình và tự tách mình một cách có ý thức khỏi chúng bằng cách tập trung tất cả năng lực của chúng ta vào luân xa tim, là nơi neo đậu của lòng từ bi và tính toàn vẹn. Điều này thúc đẩy hai phẩm chất rất quan trọng trong quá trình chữa bệnh: sự bắt rễ và sự tách rời.

Centering not only makes us feel at peace; it also connects us with the inner order within ourselves. This I call rootedness. By concentrating on being peaceful within, we align ourselves with the fundamental order and compassion which are expressions of the spiritual component of the world. Healing is the reestablishment of order within the body’s systems. I perceive its accomplishment as due to a universal energy which springs from the tendency towards order that is at the heart of all living processes. Therefore, if it is possible for individuals who are ill to achieve the emotional balance produced by positive feelings, so that the flow of emotional energy is not constricted, as in #17, but flows outward, as in #18, this will not in itself effect a cure, but it will help to produce a state conducive to healing.

Tập trung không chỉ làm cho chúng ta cảm thấy bình an; nó còn kết nối chúng ta với trật tự nội tại trong chính mình. Điều này tôi gọi là bắt rễ. Bằng cách tập trung vào sự an lành nội tại, chúng ta liên kết với trật tự cơ bản và từ bi là những biểu hiện của yếu tố tinh thần thế giới. Chữa lành là sự tái thiết lập trật tự trong các hệ thống của cơ thể. Đối với tôi, thành quả của nó có được là nhờ năng lượng vũ trụ xuất phát từ khuynh hướng đạt được trật tự, vốn là trọng tâm của tất cả các quá trình sống. Vì vậy, nếu có thể, cần giúp người bệnh có được sự cân bằng cảm dục được tạo ra bởi những cảm xúc tích cực, để dòng chảy năng lượng cảm xúc không bị thu hẹp, như ở hình #17, mà chảy ra ngoài, như ở hình #18, bản thân điều này không có tác dụng chữa bệnh, nhưng nó sẽ giúp tạo ra một trạng thái có lợi cho quá trình chữa lành.

When we are trying to help someone (and this interaction can take place within the family as well as between a health professional and a patient), it is always important to realize that the results are not in our hands. Healing involves forces and agencies which we do not fully understand, and certainly cannot command. Rather, we seek to be instruments of the power of healing which exists everywhere in nature. Even in the orthodox sense, medical procedures do not cure the patient; they merely remove the impediments to healing, which the body itself must accomplish. Therefore, the healer must scrupulously avoid any trace of vested interest in the outcome of his or her efforts in behalf of another. The end cannot be predicted, and success is not the goal. Whatever the results of our efforts may be, we must accept them without blame or credit. This realization promotes detachment, that is, freedom from attachment to the results of our own actions.

Khi chúng ta cố gắng giúp đỡ một ai đó (và sự tương tác này có thể giữa những người trong gia đình hay giữa một chuyên gia y tế và bệnh nhân), điều quan trọng là phải nhận ra rằng các kết quả không nằm trong tay chúng ta. Chữa bệnh liên quan đến các mãnh lực và các tác nhân mà chúng ta không hiểu đầy đủ, và chắc chắn không thể điều khiển. Thay vào đó, chúng ta tìm cách trở thành những công cụ của sức mạnh chữa lành tồn tại ở khắp nơi trong tự nhiên. Ngay cả theo cách hiểu chính thống, các phương pháp y tế hiện đại cũng không chữa được bệnh; chúng chỉ đơn thuần loại bỏ các trở ngại để lành bệnh, và cơ thể phải tự nó hoàn tất quá trình. Do đó, người chữa bệnh phải cẩn thận tránh bất kỳ biểu hiện nào của sự quan tâm đặc biệt tới kết quả của những nỗ lực của mình trong quá trình chữa lành. Kết quả không thể tiên đoán, và thành công không phải là mục tiêu. Bất kể kết quả nỗ lực của chúng ta có thể là gì, chúng ta phải chấp nhận chúng mà không thể đổ lỗi hoặc mất lòng tin. Sự chứng ngộ này thúc đẩy sự tách rời, nghĩa là, thoát khỏi mọi gắn kết với kết quả của những hành động của chúng ta.

Since the healing energy is a beneficent power available to all living beings, the ability to draw upon it does not depend upon religious belief. Every person who practices healing may conceptualize it differently. Most of the well-known healers have credited their powers to God, and tied them to a specific faith. This is important for the individual, since it makes the practice of healing part of one’s belief system and cultural background. I personally feel that since this healing power or energy is available to everyone, it is essentially the same, no matter how it may be described. Therefore there should be a basic unity and cooperation between practitioners of all the healing techniques — a situation that becomes more possible as the validity of the art is more widely recognized among health professionals.

Vì năng lượng chữa lành là một sức mạnh tốt lành cho tất cả chúng sinh, khả năng tận dụng nguồn lực này không phụ thuộc vào niềm tin tôn giáo. Mỗi người thực hành chữa bệnh có thể khái niệm hóa nó theo một cách khác nhau. Hầu hết những người chữa bệnh nổi tiếng coi năng lực có được là nhờ Thượng Đế, và gắn liền năng lực với một đức tin cụ thể. Điều này rất quan trọng đối với cá nhân, vì nó làm cho việc thực hành chữa lành trở thành một phần của hệ thống niềm tin và nền tảng văn hoá của người đó. Cá nhân tôi thấy rằng vì sức mạnh và năng lượng chữa bệnh này luôn hiển hiện cho tất cả mọi người, về cơ bản nó giống nhau, bất kể nó được mô tả ra sao. Vì vậy phải có sự thống nhất cơ bản và sự hợp tác giữa các học viên về tất cả các kỹ thuật chữa bệnh—một điều kiện trở nên khả thi hơn vì tính hiệu quả của nghệ thuật chữa lành ngày càng được công nhận rộng rãi hơn trong cộng đồng các chuyên gia y tế.

Qualifications for the Healer

Các yêu cầu đối với Người Chữa bệnh

I have been asked whether special qualifications are needed in order to become a healer, or whether anyone can learn. In reply I always emphasize that healing is a learning process. Certainly a large number of nurses who seemed to be without any special qualifications have learned to practice Therapeutic Touch very skillfully. Although the great healers may have been endowed with an unusual degree of sensitivity, the ability to heal can be acquired to some degree by anyone who tries sincerely and faithfully to develop the faculty. Thus to the requirements of compassion and sensitivity, which I have already mentioned, I should add another: consistent effort.

Tôi đã được hỏi liệu có cần những bằng phẩm chất biệt để trở thành một người chữa bệnh hay ai cũng có thể học được hay không. Để trả lời, tôi luôn nhấn mạnh rằng chữa bệnh là một quá trình học tập. Chắc chắn rất nhiều y tá không có bất kỳ phẩm chất đặc biệt nào nhưng đã học và thực hành thuần thục liệu pháp Đặt tay Chữa Bệnh. Mặc dù những người chữa bệnh tài năng có thể có độ nhạy cảm đặc biệt, nhưng thực tế bất kỳ ai thành tâm nỗ lực và kiên trì phát triển kỹ thuật này cũng có thể có khả năng chữa bệnh thành công ở một mức độ nào đó. Vì vậy, bên cạnh yêu cầu về lòng từ bi và sự nhạy cảm mà tôi đã đề cập, tôi nên thêm một tiêu chí: nỗ lực không ngừng nghỉ.

No matter what technique is used, a healer usually tries to send energy wherever there is a destructive pattern. This helps to strengthen that particular part of the patient’s body to heal itself. But even while working on a disturbed area at the physical/etheric level, the healer should be constantly aware of the emotions as well, for the patient must be thought of as entirely whole. It should always be remembered that although the healing is intended to re-establish a harmonious rela-tionship between body, mind and emotions, this accomplishment stems from our access to a level deeper than either the mind or the emotions—the spiritual dimension from which the healing energy springs.

Bất kể kỹ thuật nào được sử dụng, một người chữa bệnh thường cố gắng gửi năng lượng tới nơi có rối loạn trong hình thái. Điều này giúp bộ phận đó của cơ thể bệnh nhân có thêm sức mạnh để tự lành bệnh. Nhưng ngay cả khi việc chữa bệnh được thực hiện ở những rối loạn xảy ra ở cơ thể vật lý hay thể dĩ thái, người chữa cũng phải luôn nhận thức cả thể cảm xúc, bởi vì bệnh nhân cần được nhìn nhận là một tổng thể. Cần nhớ rằng mặc dù việc chữa lành nhằm khôi phục mối quan hệ hài hoà giữa thân, tâm và cảm xúc, điều này đạt được từ sự tiếp cận của chúng ta đến một mức độ sâu hơn thể dĩ thái hay cảm xúc—đó là chiều sâu tinh thần, cội nguồn năng lượng phục hồi.

The Role of the Chakras

Vai trò của các Luân xa

While the effects of disease show up plainly in the aura, as the pictures have shown, the chakras are also affected, and therefore they too play an important role in healing. As I mentioned in Chapter IV, stressful emotions can affect the whole digestive system — including the spleen, the liver and the pancreas—through the solar plexus chakra. When healing energy is sent to this chakra the whole region is energized, and at the same time the patient’s anxiety and fear are reduced. Therefore work on this area is usually a routine practice in healing.

Trong khi các ảnh hưởng của bệnh biểu hiện rõ trong hào quang, như những bức hình đã cho thấy, các luân xa cũng bị ảnh hưởng, và do đó chúng cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc chữa lành. Như tôi đã đề cập ở Chương IV, cảm xúc căng thẳng có thể ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống tiêu hóa—bao gồm lá lách, gan và tuyến tụy—thông qua luân xa tùng thái dương. Khi năng lượng chữa lành được gửi đến luân xa này toàn bộ khu vực được kích hoạt, đồng thời sự lo lắng và sợ hãi của bệnh nhân được giảm xuống. Vì vậy, thực hiện tác động vào khu vực này là một bước thường quy trong chữa bệnh.

Interaction at the emotional level may be initiated through the solar plexus, but of course it comes through the aura and the etheric field as well for it is impossible to separate the two functions. Actually, the energy pours through the healer’s hands into the etheric field as well as through the chakras of the patient, for the field and the chakras are always tied together.

Tương tác ở thể cảm xúc có thể được bắt đầu thông qua luân xa tùng thái dương, nhưng tất nhiên nó đi qua cả hào quang thể dĩ thái, bởi vì hai chức năng này không tách rời. Trên thực tế, năng lượng qua bàn tay của người chữa bệnh đổ vào trường dĩ thái cũng như vào các luân xa của bệnh nhân, vì trường dĩ thái và các luân xa luôn gắn liền với nhau.

Almost all healing techniques use the hands to some degree. Whether or not one consciously visualizes the relationship between the heart chakra and the small centers in the palms of the hand, there is a degree of reciprocity between the two. So when the centers in the hands are activated in healing, thereby becoming more sensitized and open, the heart chakra is also stimulated. As for the other chakras, they can be involved in specific cases. But in contrast with some other healers, I do not advocate working directly on the chakras, except that it is always helpful to send energy to the solar plexus, and since the heart chakra is the center of higher energies and of integration, it too is a focus for healing.

Hầu như tất cả các kỹ thuật chữa bệnh đều ít nhiều sử dụng đôi bàn tay. Cho dù một người có hình dung một cách có ý thức về mối quan hệ giữa luân xa tim và các luân xa phụ trong lòng bàn tay hay không, luôn có sự tương tác giữa hai luân xa này. Vì vậy, khi các luân xa lòng bàn tay được kích hoạt để chữa bệnh, chúng trở nên nhạy cảm hơn và rộng mở, luân xa tim cũng được kích thích. Các luân xa khác có thể tham gia vào quá trình chữa bệnh tùy trường hợp cụ thể. Nhưng khác với một số người, tôi không ủng hộ việc tác động trực tiếp trên các luân xa, ngoại trừ việc gửi năng lượng tới luân xa tùng thái dương, và vì luân xa tim là trung tâm năng lượng bậc cao và và mang tính gắn kết, nó cũng là một trung tâm cho việc chữa bệnh.

The Practice of Visualization

Thực hành kỹ thuật Hình Dung

When people have been chronically ill for a long time, they often form a clear and definite mental image of their condition, especially when the diagnosis has made them apprehensive. They picture themselves as sick and deteriorating. Therefore if, after some treatments, patients experience a reduction in their anxiety and also feel more energetic, a next step would be to help them work towards a different mental picture or image of themselves.

Khi người bệnh ốm kinh niên trong một thời gian dài, họ thường hình thành một hình ảnh tinh thần rõ ràng và chắc chắn về tình trạng của mình, đặc biệt sau khi có nhiều chẩn đoán đã khiến họ có nhiều lo lắng. Họ tự nhận mình mang đầy bệnh tật và ốm yếu. Vì vậy, sau một số lần điều trị, nếu bệnh nhân cảm thấy bớt lo lắng và tràn đầy năng lượng hơn, bước tiếp theo là giúp họ tạo ra một hình ảnh tinh thần khác về chính bản thân họ.

At this point it is often useful to ask patients to visualize themselves as getting stronger and more energetic every day. By so doing, their minds can slowly develop and strengthen the idea that they can bring about change in themselves. Such a new self-image obviously cannot be created overnight; it takes time and a consistent effort, for a negative self-image is one of the most difficult attitudes for a patient to change.

Lúc này, sẽ rất hữu ích khi yêu cầu bệnh nhân tự hình dung mình ngày càng trở nên khỏe mạnh và tràn đầy năng lượng hơn. Bằng cách đó, tâm trí của họ có thể từ từ phát triển và tăng cường tư tưởng rằng họ có thể mang lại thay đổi cho chính mình. Một hình ảnh mới về bản thân rõ ràng không thể nhanh chóng được tạo ra trong chốc lát; cần có nhiều thời gian và nỗ lực không ngừng, vì một hình ảnh tiêu cực về bản thân là một trong những thứ khó khăn nhất để bệnh nhân thay đổi.

Nevertheless, visualization techniques have been used very successfully with patients suffering from cancer, for by this means they are able to mobilize their own energies to combat the disease. When a major disease strikes, it can have a very damaging effect, because when there seems to be little improvement, the patient may begin to despair that anything can be done. This creates a feeling of helplessness and hopelessness which saps normal self-confidence.

Tuy nhiên, kỹ thuật hình dung đã được sử dụng rất thành công với các bệnh nhân ung thư, bởi vì nhờ điều này họ có thể huy động năng lượng của mình để chống lại bệnh tật. Khi một căn bệnh nghiêm trọng xảy ra với ai đó, nó có thể gây ra một hiệu ứng rất nguy hiểm, bởi vì khi những tiến triển diễn ra rất chậm, bệnh nhân có thể bắt đầu chán nản và không hy vọng có thể làm được điều gì. Điều này tạo ra cảm giác bất lực và thất vọng làm giảm sự tự tin thường có.

The same reaction can result from an emotionally traumatic event, for the anxiety and depression which follow can also lead to a loss of self-confidence. This situation is difficult to work with, because the individual is often unaware of the degree to which a negative self- image has become entrenched. To be of assistance in such a case, it is important not only to perceive the presence of such a negative self- image, but also to be able to communicate this knowledge to the sufferer. One must try to instill a new sense of self-confidence in patients by always thinking of them as being able to function. They must learn to visualize themselves in a way that is directly opposite to the negative self-image they have been developing for so many years. If they have been thinking of themselves as weak, they must see themselves as strong; if sick, as perfectly well.

Phản ứng tương tự có thể là kết quả của một sự kiện gây chấn thương tâm lý, vì lo lắng và trầm cảm diễn ra cũng có thể dẫn đến sự mất tự tin. Trường hợp này rất khó để chữa trị, bởi vì bản thân người bệnh thường không biết mức độ cố hữu mà hình ảnh tiêu cực đã bám rễ trong đầu. Để hỗ trợ được người bệnh trong trường hợp đó, điều quan trọng không chỉ là nhận ra sự hiện diện của hình ảnh tiêu cực về bản thân mà người bệnh tạo ra, mà còn cần có khả năng truyền đạt kiến thức này cho người bệnh. Người bệnh phải thấm nhuần ý nghĩa của sự tự tin bằng cách luôn nghĩ rằng mình có thể sống khỏe và hoạt động bình thường. Họ phải học cách hình dung mình hoàn toàn trái ngược với hình ảnh tiêu cực mà họ đã phát triển trong nhiều năm. Nếu họ từng nghĩ mình yếu đuối, giờ họ phải hình dung mình mạnh mẽ; nếu bị bệnh, phải thấy mình hoàn toàn khỏe mạnh.

This exercise, regularly practiced, helps the healing process a great deal. The most important contribution that patients can make toward their own healing is to think of themselves — to visualize themselves — as able to achieve something every day. Even when one feels sick and weak, such positive visualization gives one mental energy, and breaks the negative pattern of saying, “I am too sick; I can’t make the effort.” A positive self-image helps to overcome the pattern of accepting illness as inevitable.

Bài tập này, nếu thường xuyên được thực hiện, sẽ giúp cho quá trình chữa bệnh rất nhiều. Sự đóng góp quan trọng nhất mà bệnh nhân có thể thực hiện đối với việc chữa lành cho chính họ là nghĩ đến bản thân—để hình dung bản thân—như có thể đạt được điều gì đó mỗi ngày. Ngay cả khi người ta cảm thấy đau ốm và yếu ớt, hình ảnh tích cực như vậy sẽ tạo ra một năng lượng tinh thần và phá vỡ mô hình tiêu cực được hình thành qua câu nói “Tôi quá ốm; Tôi không thể nỗ lực.” Một hình ảnh tự tin tích cực giúp vượt qua được hình thái tiêu cực chấp nhận bệnh tật như là một điều không thể tránh.

Visualization actually takes place at the mental level, but since mind and emotions always work together, the practice stimulates and energizes the brow chakra. This in turn helps to coordinate the chakra system, thereby integrating the various levels within the patient which may have been fragmented by the disease process. It puts the person in alignment, because the mind focuses the emotions and does not allow them to get out of control.

Quá trình hình dung thực sự diễn ra ở thể trí, nhưng vì tâm trí và cảm xúc luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau, bài tập này sẽ kích thích và tăng cường năng lượng cho luân xa trán. Nhờ đó nó sẽ giúp điều hòa toàn bộ hệ thống luân xa, qua đó hợp nhất các thể của người bệnh vốn đã bị phân mảnh vì bệnh tật. Nó giúp toàn thể người bệnh đạt được sự hòa hợp, bởi vì tâm trí tập trung cảm xúc và không cho phép chúng vượt qua tầm kiểm soát.

But perhaps one of the most positive consequences of visualization is that it gives patients a sense of hope that they can make progress, and a strengthened confidence that they are in charge of their own lives once again. In my healing work, I have found that negative mental images are an even greater block to healing than emotional patterns. Therefore, by encouraging the use of a visualization exercise which pictures action of a new and different kind, the patient’s own resources can be mobilized to aid the healing process.

Nhưng có lẽ một trong những hiệu quả tích cực nhất của kỹ thuật hình dung là nó mang lại cho bệnh nhân cảm giác hy vọng rằng họ có thể đạt được tiến bộ và tăng cường niềm tin rằng họ đang một lần nữa điều khiển được cuộc sống của chính mình. Trong sự nghiệp chữa bệnh của mình, tôi đã thấy rằng những hình ảnh tiêu cực là một thứ khó khăn để thay đổi và chữa trị hơn cả các mô thức cảm xúc. Vì vậy, bằng cách khuyến khích sử dụng một bài tập hình dung về một hình ảnh và hoạt động khác đi, nguồn lực nội tại của bệnh nhân có thể được phát huy để hỗ trợ quá trình chữa bệnh.

Effects of Healing on the Aura

Tác động Chữa bệnh trên hào quang

The effects of healing upon the patient’s aura can be quite dramatic. First, the influx of emotional energy causes the aura to expand. When this happens, it starts up the process of eliminating some of the disturbances and blockages in the aura, and thus reduces anxiety. This is one of the most powerful effects of the healing. Anxiety produces frightening mental images. But if imagery is used together with the healing, there will be a simultaneous effect: the immune system will be strengthened through the influx of etheric energy, and as the frightening images dissipate, the aura will slowly regain its integration and recover its health.

Tác động của việc chữa bệnh trên hào quang của bệnh nhân là khá kì diệu. Trước tiên, dòng chảy của năng lượng cảm xúc làm cho hào quang mở rộng. Khi điều này xảy ra, nó bắt đầu quá trình loại bỏ một số các rối loạn và tắc nghẽn trong hào quang, và do đó làm giảm lo lắng. Đây là một trong những hiệu ứng mạnh mẽ nhất của việc chữa bệnh. Lo lắng tạo ra những hình ảnh tinh thần đáng sợ. Nhưng nếu hình ảnh được sử dụng cùng với phương pháp chữa bệnh sẽ có hiệu quả đồng thời: hệ thống miễn dịch sẽ được tăng cường thông qua dòng năng lượng dĩ thái, và khi những hình ảnh xấu tiêu tan, hào quang sẽ từ từ được gắn kết trở lại và sức mạnh của hào quang được phục hồi.

In the work I have been doing with nurse-healers these past years, I have found that the practice of healing can affect the healer as well as the patient. The practice of centering, and of consciously opening oneself to higher energies, expands and clarifies the aura. I shall have more to say about this in the chapter on meditation and self transformation, but I cannot leave the subject of healing without commenting that the nurse practitioners who have been opening themselves to these energies, in an effort to help those who are ill, have found that the practice has begun to change them as well, in subtle but meaningful ways.

Trong những năm qua, thông qua công việc tôi đã làm với các y tá thực hành liệu pháp chữa bệnh, tôi đã thấy rằng liệu pháp này có thể tác động tới cả bệnh nhân cũng như người chữa bệnh. Việc thực hành tập trung, và tự mở bản thân ra một cách hữu thức đến các nguồn năng lượng bậc cao làm mở rộng và sáng rõ hào quang. Tôi sẽ bàn luận nhiều hơn về các vấn đề này trong chương về thiền định và chuyển hóa bản thân, nhưng trước khi kết thúc chủ đề chữa lành, tôi muốn lưu ý thêm rằng rằng các chính các bác sĩ và y tá, những người tự khai thác những nguồn năng lượng này với nỗ lực nhằm giúp đỡ người bệnh, đã nhận thấy rằng việc thực hành theo kỹ thuật này đã bắt đầu làm thay đổi chính họ, vô cùng tinh tế nhưng đầy ý nghĩa.

9.Changing Emotional PatternsThay Đổi Các Mô Thức Cảm xúc

One of the greatest mysteries about human beings is their ability to make changes in their lives, to take a wholly new direction. Dramatic transformations of this kind usually take place when life calls forth the utmost effort, and their success depends upon a real confidence in one’s ability to succeed. In such cases, the motivation for change usually stems from a condition — whether caused by illness or some other factor — which can no longer be ignored or accepted. It is when we become aware of the necessity for a new direction in our lives, and determine to find it, that change becomes possible.

Một trong những bí ẩn lớn nhất về con người là khả năng thay đổi cuộc sống của họ, để theo một hướng hoàn toàn mới. Những biến đổi lớn lao như vậy thường xảy ra khi cuộc sống đòi hỏi phải nỗ lực hết mình, và sự thành công của mỗi người phụ thuộc vào sự tự tin thực sự vào khả năng thành công của người đó. Trong những trường hợp như vậy, động lực thay đổi thường xuất phát từ một điều kiện—dù là do bệnh tật hay do yếu tố nào đó khác—những điều không thể bỏ qua hay có thể mặc nhiên chấp nhận. Đó là khi chúng ta nhận thức được sự cần thiết cho một hướng đi mới trong cuộc đời mình, và quyết tâm tìm ra nó, khi đó sự thay đổi có thể xảy ra.

For many of us, the principal obstacle to change lies in the fact that our emotional habits are so much a part of our nature that we are not aware of them. We may feel their unhappy effects for many years before we realize that we can do something about them.

Đối với nhiều người trong chúng ta, trở ngại lớn nhất để thay đổi là thói quen cảm xúc của chính mình, là một phần thiết yếu của bản chất mà chúng ta không biết đến. Chúng ta có thể cảm thấy những ảnh hưởng không vui của chúng trong nhiều năm, trước khi ta nhận ra rằng ta có thể tác động gì tới chúng.

When we have come to recognize that there are problems within ourselves, the first step is to be willing to admit that these problems are at least partly of our own making, and that if we want to resolve them we ourselves must be willing to change. There are a lot of people who say, “I am what I am and I cannot change.” Such people become so set in a habitual emotional pattern that there seems to be very little possibility for a real alteration in their lives. They would rather cling to their illnesses — which give them a kind of security — than let them go.

Khi chúng ta nhận ra rằng có những vấn đề trong mình, bước đầu tiên là sẵn sàng thừa nhận những vấn đề này ít nhất có một phần là do chúng ta tạo ra, và nếu muốn giải quyết các vấn đề đó, chúng ta phải sẵn sàng thay đổi. Có rất nhiều người nói “Tôi là tôi và tôi không thể thay đổi được.” Những người như vậy quá gắn chặt với hình thái cảm xúc đã thành thói quen và họ dường như rất ít khả năng có những thay đổi thực sự trong cuộc sống của mình. Họ thích bám lấy những bệnh tật của họ—điều này mang lại cho họ một hình thức an toàn—hơn là để chúng biến mất khỏi cuộc đời mình.

On the other hand, many people are dissatisfied with themselves and really want to be different, yet they feel unable to help themselves. When our emotional patterns have become established because circumstances have driven us, we may feel that we have no control over our emotional responses even though they make us very unhappy. The results of such a negative attitude can be plainly seen in case #17, which is an example of what can happen when emotional patterns become so ingrained that they dominate us.

Trái lại, nhiều người không hài lòng với bản thân và thực sự muốn khác đi, nhưng họ cảm thấy không thể tự giúp mình. Khi hình thái cảm xúc của chúng ta đã được thiết lập do hoàn cảnh đưa đẩy, chúng ta có thể cảm thấy không thể kiểm soát phản ứng cảm xúc của mình mặc dù những cảm xúc đó làm chúng ta rất không hạnh phúc. Kết quả của thái độ tiêu cực như vậy có thể được nhìn thấy rõ ràng trong trường hợp số #17, đây là một ví dụ về những gì có thể xảy ra khi các hình thái cảm xúc trở nên lớn mạnh đến nỗi chúng thống trị chúng ta.

But we do not need to be the victims of our own feelings. When we grow more aware of our emotional habits, we begin to understand that these habits are largely self-created. Circumstances may be beyond our control, but our response to them need never be. We do not have to give in to them. There is a strength within us which is still more powerful, and we can release it within us when we are determined to change our future.

Nhưng chúng ta không nhất thiết phải là nạn nhân của cảm xúc của chính mình. Khi chúng ta nhận thức được rõ hơn về về các thói quen cảm xúc của mình, chúng ta bắt đầu hiểu rằng những thói quen này phần lớn do mình tự tạo ra. Các tình huống có thể vượt ngoài sự tính toán của ta, nhưng phản ứng của chúng ta đối với chúng không bao giờ được phép ngoài tầm kiểm soát. Chúng ta không phải phó mặc cho chúng. Có một sức mạnh trong ta vẫn mạnh mẽ hơn, và chúng ta có thể giải phóng sức mạnh này khi chúng ta quyết tâm thay đổi tương lai của mình.

Motivation is the first requirement. The very ill often succeed, because those who are desperate are willing to do anything to achieve relief. Thus for some people motivation arises out of the need to overcome illness, but for others the spur for action may arise out of affectionate concern for someone else, or the aspiration to be more peaceful and harmonious within themselves. In any case, recognition of the need to break negative emotional patterns is a basic requirement.

Động lực là yêu cầu đầu tiên. Những người mang bệnh nặng thường thành công, bởi vì những người đang tuyệt vọng sẵn sàng làm bất cứ điều gì để cứu được mình. Vì vậy, đối với một số người, động lực của họ phát sinh từ nhu cầu vượt qua bệnh tật, nhưng đối với một số người khác, động cơ hành động có thể phát sinh từ tình thương và mối quan tâm dành cho người khác, hoặc khát vọng được an lành và hài hòa hơn trong chính họ. Trong bất kỳ trường hợp nào, việc thừa nhận sự cần thiết phải phá vỡ các hình thái cảm xúc tiêu cực là một yêu cầu cơ bản.

In an effort to bring about personal change, religious groups such as Christian and Zen monastic orders exercise strict discipline upon their members. I once had a strong and healthy young man come to me. He had been brought up a Catholic in a conventional American household and had gone to an ordinary public school, where he had become a good football player and all-around athlete. He was not particularly religious, and seemed a typical American boy. Although he had not had any previous contact with the East, it happened that circumstances took him to India, and while there he visited Dharmasala, the seat of the Dalai Lama and the center of Tibetan Buddhism. He was tremendously impressed both with the Buddhist teaching and the way of life it engendered, and then and there he decided he wanted to become a monk.

Với nỗ lực mang lại sự thay đổi cá nhân, các nhóm tôn giáo như Kitô giáo và Thiền tông thực hiện kỷ luật chặt chẽ với những thành viên của họ. Đã từng có một thanh niên cường tráng và khỏe mạnh tới gặp tôi. Anh lớn lên như một người Công giáo trong một gia đình Mỹ truyền thống và vào học một trường công lập bình thường, nơi anh trở thành một cầu thủ bóng đá và vận động viên điền kinh tài năng. Anh không theo tôn giáo nào đặc biệt, và dường như là một chàng trai Mỹ điển hình. Mặc dù trước kia chưa từng tiếp xúc với phương Đông, nhưng tình cờ một lần anh được tới Ấn Độ và ở đó, anh đã tới thăm Dharmasala, trung tâm Phật giáo Tây Tạng và là nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma trú ngự. Chàng trai đã vô cùng ấn tượng với giáo lý Phật giáo và lối sống mà nó mang lại, và rồi từ đó anh quyết định sẽ trở thành tu sĩ.

For two years this young American underwent the most rigorous training of a kind totally foreign to his cultural or religious background. Tibetan monastic practice, which is aimed at ridding oneself of the ego, includes the chanting of mantrams, as well as sitting motionless in meditation for long periods of time. After two years of this stringent practice, he was initiated and became a monk. Such an achievement required real determination, self-management, and the ability to accept discipline. He has since fulfilled a number of assignments in Europe and the West; setting aside his own ego, he has put himself at the service of Tibetan Buddhism. This is a remarkable achievement for an independent and individualistic young American.

Trong hai năm, chàng trai trẻ người Mỹ này đã trải qua một chương trình đào tạo nghiêm ngặt nhất, hoàn toàn xa lạ với nền tảng văn hoá và tôn giáo của mình. Thực hành tu tập theo Tạng giáo, nhằm để thoát khỏi bản ngã, bao gồm việc tụng niệm các mantram, cũng như ngồi thiền tĩnh lặng trong thời gian dài. Sau hai năm thực hành nghiêm cẩn, chàng đã được điểm đạo và trở thành một tu sĩ thực thụ. Một thành tựu như vậy đòi hỏi sự quyết tâm lớn lao, tự kiểm soát bản thân và khả năng tuân theo kỷ luật. Sau đó anh đã hoàn thành một số sứ mệnh ở Châu Âu và phương Tây; gạt bỏ bản ngã của mình, anh ta đã hiến mình cho việc phụng sự Phật giáo Tây Tạng. Đây là một thành tựu đáng ghi nhận cho một thanh niên Mỹ độc lập theo chủ nghĩa cá nhân.

I cite this man as an example of one who obviously determined to change his life, and was willing to submit himself to the most rigorous discipline in order to achieve his goal. He also changed his emotional nature as a result of training himself to let go of the ego. His may be an extreme case, but it illustrates the point I am trying to make: in order to change, one must be completely whole-hearted in the effort, and be willing to give up all one’s former habits of thought and behavior. Though it may not be necessary for most people to alter their way of life as dramatically as this young man did, there must be a willingness to do so.

Tôi nhắc tới chàng trai này như một tấm gương điển hình cho một người có quyết tâm mạnh mẽ thay đổi cuộc đời mình và sẵn sàng chấp nhận kỷ luật nghiêm ngặt nhất để đạt được mục đích đặt ra. Chàng trai cũng đã thay đổi bản chất xúc cảm của mình, là kết quả của quá trình tự đào tạo để từ bỏ bản ngã. Đây có thể là một trường hợp đặc biệt, nhưng nó minh hoạ cho điều mà tôi đang cố gắng truyền đạt: để thay đổi, người ta phải hết lòng và toàn tâm nỗ lực, sẵn sàng từ bỏ những thói quen suy nghĩ và hành vi cũ. Mặc dù có thể đối với hầu hết mọi người, không cần thiết phải thay đổi cách sống của họ quá nhanh chóng như chàng trai trẻ này, nhưng phải có tâm nguyện sẵn lòng làm điều đó.

The effort to break emotional patterns cannot be hesitant or sporadic; it must be constant. When you believe that the need for change is important, this need will come first. It is not too different from the kind of training to which athletes are willing and eager to subject themselves in order to achieve excellence in sports, or the self- discipline which is required to rid yourself of a bad habit such as smoking. If you skip several days, or fall back into old habits, the effort will be wasted. The determination for self-change must override other interests and desires.

Nỗ lực phá vỡ hình thái cảm xúc không thể do dự hay rời rạc; nó phải là quá trình liên tục. Khi bạn tin rằng nhu cầu thay đổi là quan trọng, nhu cầu này sẽ đến trước. Điều đó không quá khác biệt so với cách thức đào tạo mà các vận động viên sẵn sàng và mong muốn đặt ra cho mình để đạt được những thành tựu xuất sắc trong thể thao, hoặc tính tự kỷ luật cần thiết để vượt lên bản thân, từ bỏ một thói quen xấu như hút thuốc. Nếu bạn bỏ qua vài ngày không luyện tập, hoặc bị cuốn theo những thói quen cũ, mọi nỗ lực sẽ là hoài phí. Quyết tâm thay đổi bản thân phải được đặt lên trên mọi lợi ích và mong muốn khác.

For these reasons, the most important factors in the process of change are motivation, self-confidence and consistency. When these are all strong, the practice of a disciplined effort can be not only acceptable but even pleasurable, for it becomes integrated into daily life as an ordering or stabilizing principle.

Vì những lý do này, những yếu tố quan trọng nhất trong quá trình thay đổi là động cơ, sự tự tin và tính nhất quán. Khi tất cả các yếu tố đều vững mạnh, việc thực hiện một nỗ lực kỷ luật khi đó không chỉ là có thể chấp nhận được mà còn trở thành niềm vui, vì nó hòa vào cuộc sống hàng ngày như một nguyên tắc trật tự và ổn định.

The Need for Discipline

Sự Cần thiết của Tính kỷ luật

The acceptance of discipline follows naturally when you have made up your mind that it is essential to your purpose. In some ways, the discipline imposed by an accepted practice such as Zen training is the easiest to follow, because the rules have already been set for you. But this kind of training is not for everyone, and many people find it too restrictive. Self-imposed discipline has the advantage that it can be tailored to your needs, but it demands the same degree of structure in daily life; moreover, you have to create this structure yourself, which can be difficult to do. But here again, the discipline is not too different from that required by the personal fitness programs which are so popular today, for these also demand constant attention to one’s daily schedule.

Việc chấp nhận kỷ luật sẽ tới một cách tự nhiên khi bạn đã tâm nguyện rằng đó là điều thiết yếu để đạt được mục đích của mình. Trong nhiều cách thức luyện tập, đơn giản nhất để thực hành là kỷ luật được đặt ra bởi phép tu đã được chấp nhận rộng rãi là Thiền (Zen), bởi vì theo đó các quy tắc đã được thiết lập rõ ràng. Nhưng hình thức tập luyện này không dành cho tất cả mọi người, và nhiều người thấy nó quá gò bó. Kỷ luật tự áp đặt có lợi thế là nó có thể được điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu của mỗi người, nhưng nó đòi hỏi phải có mô hình được thiết lập chặt chẽ trong cuộc sống hàng ngày; hơn nữa, bạn phải tự tạo ra mô hình, điều đó có thể rất khó thực hiện. Nhưng ở đây, kỷ luật không quá khác với yêu cầu của các chương trình thể dục thể hình hiện nay đang rất phổ biến, vì chúng cũng đòi hỏi phải chú ý đến lịch trình hàng ngày của mỗi người.

Perhaps one of the reasons why athletes are so admired is because they are totally dedicated to their art. I believe that many of the difficulties which young people experience today are due to the absence of purpose in their lives; they drift, not knowing what they want to do or be. For them, the lack of guidance is disorienting. It is not total freedom that they need, in spite of what is often proclaimed, but rather the opposite movement toward the development of some structure and purpose around which to organize their lives.

Có lẽ một trong những lý do tại sao các vận động viên được ngưỡng mộ đến vậy là bởi họ đã hoàn toàn hiến mình cho môn thể thao mà họ theo đuổi. Tôi tin rằng nhiều khó khăn mà những người trẻ tuổi trải nghiệm ngày hôm nay là do thiếu mục đích trong cuộc sống; họ trôi dạt, không biết mình muốn gì hoặc làm được gì. Đối với họ, việc thiếu hướng dẫn làm mất phương hướng. Không phải tự do là tất cả những gì họ cần, cho dù người ta thường tuyên bố vậy, mà đúng hơn là một cách thức ngược lại hướng tới sự phát triển một mô hình và mục đích nào đó giúp sắp đặt định hướng cuộc đời họ.

Older people often deplore the loss of values and ethics in modern society. I do myself. But every age has it own values, and today the cry is for freedom — freedom from the restrictions of conventional morality, freedom of choice, freedom of action, and above all, freedom to be oneself. Older values, like honesty and authenticity, become all mixed up with the impulse of the moment, which has become the criterion of freedom. So this behavior has an element of idealism, even if the results are far from ideal.

Người cao tuổi thường than thở rằng giá trị và đạo đức trong xã hội hiện đại đang ngày càng bị xói mòn. Bản thân tôi cũng nghĩ vậy. Nhưng mọi thời đại đều có những giá trị riêng của nó, và ngày nay người ta kêu đòi tự do—tự do khỏi những giới hạn của đạo đức thông thường, tự do lựa chọn, tự do hành động, và trên hết là tự do là chính mình. Các giá trị trước đây, như sự trung thực và đáng tin cậy, đã bị trộn lẫn với sự thôi thúc của tính thời điểm, điều này đã trở thành tiêu chuẩn của tự do. Vì vậy, kiểu hành vi này mang tính chất của chủ nghĩa lý tưởng, ngay cả khi kết quả của nó còn xa mới là lý tưởng.

The feeling that one has an absolute right to freedom and its expression is often so powerful that it seems life is not worth living without it. This conviction is behind the former flight of young people in Eastern Europe to the West, for which they were willing to put themselves and their families at risk. We applaud this. But among a large number of young people the passion for freedom becomes tied to their sexuality, which in turn becomes their overriding concern, more im-portant than anything else. They then develop an emotional pattern of dependency upon such stimulus. They do not realize that in their search for freedom they have merely exchanged one form of bondage for another. If I were able to show you the aura of such a person you would see a total disjuncture between the top, which would be full of idealism, and the bottom, which would be marred by compulsive behavior.

Cảm giác rằng người ta có quyền tự do tuyệt đối và những biểu lộ của chúng thường có sức mạnh đến nỗi dường như cuộc sống không đáng sống khi không có nó. Sự xác tín này kéo theo sự chuyển dịch ồ ạt của những người trẻ tuổi Đông Âu sang phương Tây, nơi họ sẵn sàng để bản thân và gia đình gặp hiểm nguy. Chúng ta tán thưởng điều này. Nhưng trong số rất nhiều thanh niên, niềm đam mê tự do trở nên gắn liền với tình dục, điều này trở thành mối quan tâm hàng đầu của họ, quan trọng hơn bất cứ điều gì khác. Sau đó họ phát triển một hình thái cảm xúc phụ thuộc vào các kích thích như vậy. Họ không nhận ra rằng trong công cuộc tìm kiếm tự do của mình, họ chỉ trao đổi một hình thức lệ thuộc vào thứ khác. Nếu tôi có thể cho bạn thấy hào quang của một người như vậy, bạn sẽ thấy một sự khác biệt hoàn toàn giữa phần trên đầu, nơi tràn ngập chủ nghĩa lý tưởng, và phần dưới, nơi bị tổn thương bởi hành vi cưỡng bách.

A Sense of Purpose

Ý thức về Mục đích

Everyone needs freedom to develop his or her potentials, but a sense of purpose is also needed, for this alone provides the grounding which can establish a feeling of self-worth. All the examples in Chapter VI had such a sense of purpose, even if it led them in very different directions. When the confidence that one can make something worthwhile of life is lacking, many people take to alcohol or drugs, and that habit is probably the very worst pattern they could fall into.

Mọi người đều cần có quyền tự do phát triển tiềm năng của mình, nhưng cũng cần có ý thức về mục đích, vì chỉ riêng điều này cũng đủ cung cấp nền tảng giúp tạo ra cảm giác tự tin. Tất cả các ví dụ trong Chương VI mang ý thức về mục đích như vậy, thậm chí ngay cả khi nó dẫn họ đi theo những đường hướng khác. Khi thiếu lòng tin rằng mình có thể làm điều gì đó có ý nghĩa cho cuộc sống, nhiều người sa vào nghiện rượu hay ma túy, và thói quen đó có lẽ là mô hình tồi tệ nhất họ bị rơi vào.

It is common knowledge today that drug addiction is very difficult to cure, because the addict himself must have a strong motivation to change. But when the desire to achieve some purpose in life provides such motivation, anything is possible. I once knew a man who had been a drug addict for many years, during the course of which he had even spent some years in prison. In spite of all his physical and psychological problems, he was an intelligent man who retained his interest in new ideas, and because of this he happened to attend one of my husband’s lectures on integrative education. He was so struck by the possibilities which seemed to open up before him that he immediately decided he was going to enlist himself in this work.

Ngày nay, hầu hết mọi người coi rằng nghiện ma túy rất khó chữa, bởi vì người nghiện phải có động lực mạnh mẽ mới có thể thoát ra. Nhưng khi ước vọng đạt được một mục đích nào đó trong cuộc sống mang lại đủ động lực, người ta có thể làm được bất cứ điều gì. Tôi đã từng biết một người đàn ông nghiện ma túy trong nhiều năm, trong suốt thời gian đó ông ta thậm chí đã phải ngồi tù vài năm. Bất chấp tất cả các vấn đề về thể chất và tâm lý, ông là một người thông minh, luôn quan tâm tới các ý tưởng mới, và do đó ông đã tham dự một trong các bài giảng của chồng tôi về giáo dục hòa nhập. Ông đã bị tác động mạnh bởi những khả năng như mở ra trước mắt đến nỗi ngay lập tức ông quyết định sẽ tham gia vào công cuộc thay đổi này.

I suppose one might call this sudden development of purpose a kind of conversion — in some ways similar to that of the young Tibetan monk. All at once, this addicted man realized that there was a whole world of ideas which he wanted to enter, and that he would never be able to do so if he remained on drugs. Despite his excellent mind, this was more than a purely rational decision. He had a sudden insight into a richer domain of experience, and all at once life had new meaning for him.

Tôi cho rằng người ta có thể gọi sự phát triển mục đích đột ngột như vậy là một loại chuyển đổi—tương tự như trường hợp của nhà sư trẻ Tây Tạng đã nói ở trên. Bỗng nhiên, người đàn ông nghiện ngập này nhận ra rằng có một thế giới của những ý tưởng mà ông muốn thâm nhập, và rằng ông sẽ không bao giờ có thể làm như vậy nếu ông vẫn dùng ma túy. Không kể tới trí tuệ sáng suốt, đây quả là một quyết định hơn cả hợp lý. Ông đã có một cái nhìn sâu sắc đột ngột vào một miền phong phú hơn nhiều những kinh nghiệm sẵn có, và tất cả tạo nên một ý nghĩa mới cho cuộc đời của ông.

This man’s desire to work with my husband in the Center for Integrative Education was so powerful that he did something which medical practitioners regard as almost impossible: he locked himself up for three days and nights and detoxified himself without help — an extremely difficult and painful thing to do. He emerged cured in the sense that he never took drugs again, but of course his nervous system had been so damaged that his health was never really normal. Nevertheless he achieved his object, and worked for the Center for several years. This is an example of what a human being can accomplish when the power of the will is mobilized by commitment to a goal.

Mong muốn của người đàn ông này được làm việc với chồng tôi tại Trung tâm Giáo dục hòa nhập mạnh đến mức ông đã làm những việc mà các bác sĩ y khoa cho là gần như không thể: ông khóa mình ba ngày ba đêm và tự giải độc cho mình mà không cần trợ giúp—đây là một điều cực kỳ khó khăn và đau đớn. Việc chữa trị thành công đặc biệt theo nghĩa là ông không bao giờ dùng ma túy trở lại, nhưng dĩ nhiên hệ thống thần kinh của ông đã bị tổn hại đến nỗi sức khoẻ của ông không bao giờ trở lại thực sự bình thường. Tuy nhiên, ông đã đạt được mục tiêu của mình, và làm việc cho Trung tâm trong nhiều năm. Đây là một ví dụ về những gì con người có thể đạt được khi sức mạnh của ý chí được huy động bằng cách cam kết đạt được mục tiêu.

The transformative power of such self-commitment comes from a level within us which lies beyond thought and feeling. One cannot reason a person into the need for change; the conviction has to be selfgenerated. But when this inner conviction is born in us, it is a never- ending source of strength. This means that there is something in all of us, some center of power and purpose which we can draw on in time of need. I have called this center the timeless self because it is always there for us, if only we will make the effort to reach it.

Sức mạnh biến đổi của việc tự cam kết đến từ bên trong chúng ta, nằm ngoài ý nghĩ và cảm xúc. Người ta không thể giảng giải để một người thấy cần thay đổi; sự xác tín phải được tự phát sinh. Nhưng một khi niềm tin nội tại này được sinh ra trong chúng ta, đó sẽ là một nguồn sức mạnh không bao giờ cạn. Điều này có nghĩa là có một cái gì đó trong tất cả chúng ta, một số trung tâm quyền lực và mục đích mà chúng ta có thể sử dụng vào lúc cần thiết. Tôi đã gọi trung tâm này là bản ngã phi thời gian vì nó luôn ở đó cho chúng ta, chỉ cần chúng ta nỗ lực với tới.

Self-Awareness

Nhận thức về Bản thân

In order to effect change, the first necessity is to watch ourselves, most of all at the moment when we feel strongly about something—and these surges of emotion can often be triggered by a relatively unimportant event. It is only by such watchfulness that we can become aware of the strength of our feelings and recognize their object, which often does not warrant so great a response as we have been making. This recognition makes it possible for us to see the situation in per-spective, to laugh at ourselves and say, “Now I am going to let go, to disassociate myself from my feeling and see what its consequences are.

Để có thể thay đổi, điều cần thiết đầu tiên là tự xem xét bản thân, nhất là vào thời điểm mà chúng ta có cảm xúc mạnh mẽ về điều gì đó—những căng thẳng trong cảm xúc thường được kích hoạt bởi một sự kiện không quá quan trọng. Chỉ nhờ có sự tỉnh thức như vậy mà chúng ta có thể nhận thức được sức mạnh của cảm xúc và đối tượng của chúng, điều này thường không đảm bảo sự đáp ứng mạnh mẽ như chúng ta vừa trải qua. Sự công nhận này giúp chúng ta có thể nhìn thấy tình hình trong tổng thể, cười với chính mình và nói, “Bây giờ tôi sẽ buông bỏ, tách rời bản thân khỏi cảm xúc của của tôi và xem hiệu quả sẽ ra sao.”

The first thing to perceive is that we can only become aware of an emotion right at the moment that we are feeling it. The reason is that when feelings are habitual they become embedded in us — tied to everything we feel and do — and therefore go unnoticed. They are as much a part of ourselves as a hand or a foot — about which we never think. Like #ll’s orange plume, we become so habituated to the emotional patterns we have built up that we are unaware of their presence until something calls them to our attention.

Điều đầu tiên cần hiểu là chúng ta chỉ có thể nhận thức được một cảm xúc ngay tại thời điểm mà chúng ta đang cảm nhận nó. Lý do là khi những cảm xúc đã thành thói quen, chúng trở nên gắn bó với chúng ta—gắn liền với tất cả những gì chúng ta cảm nhận và hành động—và do đó không được chú ý. Chúng là một phần của bản thân chúng ta như tay với chân—và chúng ta không bao giờ nghĩ tới chúng. Giống như màu da cam trong bức hình # 11, chúng ta quá quen thuộc với những hình thái cảm xúc mà chúng ta đã xây dựng tới mức chúng ta không còn nhận thấy sự hiện diện của chúng cho đến khi có điều gì đó nhắc ta nhớ tới chúng.

However, once we have become aware of a feeling such as anger or resentment, and recognized its presence in us, we can take the next step, which is to be still within ourselves. We should not feel guilt for the anger, or blame ourselves, because judgments of this kind only set up another reaction and lead to all sorts of negative complications. The important thing is just to be aware of the feeling, and then to be still for a moment. Within this stillness the automatic action of our patterned emotional response temporarily ceases. Stillness is a state which is free from past associations, and therefore it offers the possibility of something new and different.

Tuy nhiên, một khi chúng ta đã nhận thức được một cảm xúc như bực tức hay oán giận, và nhận ra sự hiện diện của nó trong ta, chúng ta có thể thực hiện bước tiếp theo, vẫn trong chính bản thân mình. Chúng ta không nên cảm thấy tội lỗi vì cảm xúc giận dữ, hoặc đổ lỗi cho bản thân, bởi vì những phán xét kiểu này chỉ tạo ra một phản ứng khác và dẫn đến đủ loại hậu quả tiêu cực. Điều quan trọng chỉ là ý thức được cảm xúc, và sau đó giữ cho mình tĩnh lặng trong chốc lát. Trong sự tĩnh lặng này, những phản ứng tự nhiên của hình thái cảm xúc của chúng ta tạm thời chấm dứt. Tĩnh lặng là một trạng thái giải phóng khỏi các mối liên hệ trong quá khứ, do đó nó có khả năng mang lại điều mới mẻ và khác biệt.

There are many people today who really long for the ability to transform themselves. Even if they are not able to define the nature of their aspiration, it is really a kind of spiritual quest. They are stirred by self-discontent; they aspire to be better without knowing just how to embark on their search for spiritual values.

Ngày nay có rất nhiều người thực sự mong muốn có thể thay đổi bản thân. Thậm chí nếu họ không thể xác định bản chất khát vọng của mình, đó thực sự là một kiểu truy vấn tinh thần. Họ bị xáo động bởi sự bất mãn; họ mong mỏi được tốt đẹp hơn mà không biết cần làm gì để bắt đầu công cuộc tìm kiếm các giá trị tinh thần.

To such people, I suggest that all of us have our own talents, and if we can become aware of what they are we should try to foster them. Such talents are not necessarily creative gifts; they may lie in the field of human relations. Many people today are overwhelmed by the magnitude of the world’s problems, and frustrated because they believe there is nothing they can contribute. They feel isolated — locked up in their own lives.

Với những người như vậy, các bạn nên nghĩ rằng tất cả chúng ta đều có tài năng của riêng mình, và nếu chúng ta có thể nhận ra chúng, ta nên cố gắng nuôi dưỡng những tài năng đó. Tài năng không nhất thiết phải là những món quà sáng tạo; chúng có thể thuộc mối quan hệ giữa con người với con người. Nhiều người ngày nay bị choáng ngợp bởi mức độ sâu rộng của các vấn đề trên thế giới, và thất vọng vì họ tin rằng mình không thể làm gì để đóng góp cho thế giới. Họ cảm thấy bị cô lập—bị khóa kín trong chính cuộc sống của mình.

The positive way to deal with this frustration is to find something to do for someone else. It need not be anything earth-shaking —just a simple offer of friendship and good will. There is all too little of this today. But if even this seems too difficult, then extend your care to an animal, like a cat or dog. The important thing is to become confident that you can feel concern and affection, and then express your feeling through some specific action. This makes a break in the pattern of emotional isolation.

Cách tích cực để đối phó với sự thất vọng này là tìm một điều gì đó để làm cho người khác. Không cần phải là điều gì làm rung chuyển thế giới—chỉ cần một đề nghị đơn giản của tình bạn và thiện chí. Hiện nay có quá thiếu những điều như thế. Nhưng nếu ngay cả khi điều này dường như cũng quá khó khăn, bạn có thể nghĩ tới việc quan tâm chăm sóc cho động vật, như một con mèo hay con chó. Điều quan trọng là cần tin rằng bạn có thể cảm nhận được sự quan tâm và tình thương, và sau đó thể hiện cảm xúc của mình qua một số hành động cụ thể. Điều này sẽ giúp phá vỡ mô hình cô lập về cảm xúc.

Habit Patterns

Hình thái thói quen

In some of the aura pictures you will have seen evidence that certain memories or ideas or associations have such a strong emotional component that they become a part of a person’s inner life, and appear in the aura as semi-permanent symbols. I usually call these emotional structures, to distinguish them from the more temporary patterns like the small whirls and vortices which result from irritation, worry, disappointment, and so on. These deep-seated structures may result from an experience which was painful, but they can also come from an association which was so inspiring that it remains fresh and vivid for a long time. The trees in the aura of case #11 came to symbolize peace as well as deep protective feelings for nature, while the symbolic forms in case #12 represent a past association whose memory continued to sustain and uplift that woman all her life. In contrast, the faces that appear in #8 and #14 symbolize an abiding concern for people and their well-being.

Trong một số bức hình hào quang, bạn sẽ thấy bằng chứng cho thấy những kỷ niệm, ý tưởng hay sự liên kết nhất định có cấu phần cảm xúc mạnh mẽ đến mức chúng trở thành một phần cuộc sống nội tâm của một người và xuất hiện trong hào quang như các biểu tượng bán vĩnh cửu. Tôi thường gọi chúng là những cấu trúc cảm xúc, để phân biệt với các hình thái tạm thời hơn như các vòng xoắn hay các xoáy nhỏ được tạo ra do những kích thích, lo lắng, thất vọng, vân vân. Những cấu trúc sâu này có thể là kết quả của những trải nghiệm đau đớn, nhưng chúng cũng có thể đến từ những kinh nghiệm đầy cảm hứng đến nỗi nó vẫn tươi mới và sống động trong một thời gian dài. Hình cây xuất hiện trong hào quang của trường hợp số 11 tượng trưng cho an bình cũng như những cảm xúc sâu đậm mang tính bảo vệ dành cho thiên nhiên, trong khi các hình thức biểu tượng trong trường hợp số 12 tượng trưng cho một liên kết trong quá khứ vẫn được lưu giữ, tiếp tục duy trì và thúc đẩy người phụ nữ đó suốt cuộc đời. Ngược lại, biểu hiện ở hình # 8 và # 14 tượng trưng cho mối quan tâm bền lâu tới mọi người và hạnh phúc của họ.

I have been asked why some experiences become incorporated in the aura in such symbolic forms, while others are not. Our experience is of course also embodied in the colors of the aura, which change quite slowly. I think the symbols are related to a person’s fundamental way of thinking and seeing the world. For example, #7 is a man who felt uncomfortable in a disorganized environment, and who always tried to bring order into his surroundings. Case #13 was also tremendously concerned with order, but in him it was a much more abstract, intellectual interest.

Tôi được hỏi lý do tại sao một số kinh nghiệm thể hiện trong hào quang dưới dạng các biểu tượng như vậy, trong khi một số khác thì không. Kinh nghiệm của chúng ta tất nhiên cũng thể hiện trong màu sắc của hào quang, nó thay đổi khá chậm. Tôi cho rằng các biểu tượng có liên quan đến cách suy nghĩ và nhìn nhận căn bản của một người với thế giới. Ví dụ, hình # 7 là một người đàn ông cảm thấy không thoải mái trong một môi trường rối loạn, và là người luôn cố gắng thiết lập những trật tự quanh mình. Trường hợp thứ 13 cũng có mối quan tâm đặc biệt đến trật tự, nhưng đối với anh ta, đó lại là sự quan tâm mang tính trừu tượng và trí tuệ.

Habit patterns begin very early in life. From my observation of people of different ages, I have come to the conclusion that their difficulties often stem from a lack of self-confidence. This tendency develops early in childhood. It may come from constant parental criticism or from a child’s feeling of being somehow different from other children. However engendered, it can all too easily develop into a sense of uncertainty. A basic lack of self-confidence should not be confused with shyness, which is common in young children because they are as yet unable to relate to people outside of their family. A lack of self- confidence, in contrast, shows up in relationships within the family as well as with strangers.

Các hình thái thói quen bắt đầu từ rất sớm trong cuộc đời. Theo quan sát của tôi về những người ở các độ tuổi khác nhau, tôi đi đến kết luận rằng những khó khăn của họ thường xuất phát từ sự thiếu tự tin. Xu hướng này phát triển sớm trong thời thơ ấu. Nó có thể xuất phát từ sự phê bình liên tục của cha mẹ hoặc từ cảm giác của một đứa trẻ là mình khác với những đứa trẻ khác theo cách nào đó. Tuy nhiên một khi đã được tạo ra, xu hướng này có thể dễ dàng phát triển thành một cảm xúc bất an. Sự thiếu tự tin cơ bản không nên bị nhầm lẫn với sự nhút nhát, điều này phổ biến ở trẻ nhỏ bởi vì chúng vẫn chưa thể thiết lập mối liên hệ với những người bên ngoài gia đình của chúng. Trái lại, thiếu tự tin thể hiện trong các mối quan hệ trong gia đình cũng như với người lạ.

Roots of Self-Confidence

Cội nguồn của sự thiếu tự tin

It is sometimes hard for us to realize how important early childhood relationships are. A sense of insecurity often grows out of a child’s inability to understand the reasons behind his parents’ actions. It is naturally important to correct children’s behavior, but on the other hand, one should not expect perfection. Parents should never expose a child to constant criticism without an equal or greater amount of encouragement. Unfortunately, many children have a basic lack of self- confidence because their parents never helped them to realize that they were able to do some things very well.

Đôi khi chúng ta không nhận ra tầm quan trọng của những mối quan hệ trong thời thơ bé của trẻ. Một cảm giác bất an thường xuất phát từ việc trẻ không thể hiểu được lý do nằm sau hành động của cha mẹ. Điều quan trọng là phải sửa đổi hành vi của trẻ, nhưng mặt khác, không nên mong đợi sự hoàn hảo. Cha mẹ không bao giờ liên tục chỉ trích một đứa trẻ ra mà không có những khuyến khích động viên tương ứng hoặc nhiều hơn. Thật không may, nhiều trẻ em cơ bản thiếu sự tự tin vì bố mẹ không bao giờ giúp trẻ nhận ra rằng chúng có thể làm được nhiều điều tốt.

If children have physical disabilities which they must learn to live with, it is particularly important for them to realize that emotional and mental capacities are just as important as a good physical body. They must learn to rely on the strengths they have. The development of self-confidence takes root early and can sustain a person throughout life. Unlike egotism, which constantly needs to be fed, self- confidence gives people the conviction that they have the strength and capacity to accomplish certain things and to achieve their goals in life.

Nếu trẻ có khuyết tật về thể chất và các em phải học cách sống với những khiếm khuyết đó, điều đặc biệt quan trọng đối với trẻ là nhận ra rằng năng lực cảm xúc và tinh thần cũng quan trọng như một cơ thể khỏe mạnh. Trẻ phải học cách dựa vào những thế mạnh mà chúng có. Sự phát triển của sự tự tin được hình thành từ rất sớm và có thể duy trì trong suốt cuộc đời. Không giống như tự ngã liên tục đòi hỏi phải được nuôi dưỡng, sự tự tin đem lại cho con người niềm tin rằng họ có sức mạnh và khả năng làm được những điều nhất định và đạt được mục tiêu của họ trong cuộc sống.

Lack of self-confidence is, I think, a basic human problem. It is a major cause of chronic depression, which is very damaging and difficult to live with, as well as all too common in our present-day culture. It can also develop into a pattern of anxiety, for when we are insecure in our relationships with others we tend to worry constantly about how they will respond to us. Without self-confidence, we never believe that what we have accomplished is really any good, no matter what people may say. Anxiety is a very corrosive emotion, for it eats away our ambition, and makes us doubt our own judgment.

Theo tôi, thiếu tự tin là một vấn đề cơ bản của con người. Đây là một nguyên nhân chính gây trầm cảm mãn tính, rất tàn phá và khó khăn trong cuộc đời mỗi người, và nó cũng quá phổ biến trong văn hoá ngày nay của chúng ta. Nó có thể phát triển thành một dạng lo lắng, vì khi chúng ta không an tâm trong mối quan hệ với người khác, chúng ta thường lo lắng về cách họ sẽ đáp lại mình. Nếu không có sự tự tin, chúng ta không bao giờ tin rằng những gì chúng ta đã hoàn thành thực sự tốt, cho dù mọi người có thể nói gì. Lo lắng là một cảm xúc rất xói mòn, vì nó làm mất đi tham vọng của con người, và làm cho chúng ta nghi ngờ sự đánh giá về chính bản thân.

Handling Anger

Xử lý các cơn Giận dữ

There was a time when some therapists advocated that feelings should always be openly expressed: if you felt anger you should let it out. I would handle anger quite differently. When you feel the anger rising, I agree that you should say, “I am angry,” for it is extremely important to recognize the feeling which is welling up in you, and not repress it. All too often, people rationalize their anger, or deny it, or give it another name, or say it is the fault of someone else or of some-thing that happened. In other words, they will not take the responsibility for their anger. If you say, “I have a right to be angry because you have hurt me,” then there is nothing to stop your anger’s flow of energy. You are reinforcing it by giving it the seal of your approval.

Có một thời gian, một số nhà trị liệu tán thành quan điểm cho rằng cảm giác giận dữ nên luôn luôn được công khai bày tỏ: nếu bạn cảm thấy tức giận, bạn nên thể hiện điều đó. Tôi sẽ xử lý sự tức giận theo cách khác. Khi bạn cảm thấy cơn giận đang tăng lên, tôi đồng ý rằng bạn nên nói, “Tôi tức giận”, vì điều cực kỳ quan trọng là nhận ra cảm giác đang trỗi dậy trong bạn và không kiềm chế nó. Thông thường, người ta hợp lý hóa sự tức giận của mình, hoặc chối bỏ nó, hoặc đặt cho nó một cái tên khác, hoặc nói đó là lỗi của người khác hoặc do điều gì đó đã xảy ra. Nói cách khác, họ sẽ không chịu trách nhiệm về sự tức giận của họ. Nếu bạn nói, “Tôi có quyền tức giận vì bạn đã làm tôi tổn thương”, thì không có gì để ngăn chặn sự tức giận của bạn. Bạn đang củng cố nó bằng cách cho nó con dấu chấp thuận từ bạn.

So, if you are angry, you should never deny it, but it is important to say to yourself, “I admit that at this moment I am angry.” There are times when we can’t help being angry, and then it is important to be honest about it. But if you add the words, “at this moment,” you are also saying that you are going to work it out, get rid of it. In other words, “I’m angry, but I’m not going to give in to it or let it dominate me.” Such a statement is a kind of signal to ourselves that we refuse anger as a permanent condition. It helps to prevent the development of a sense of suppressed resentment which can persist weeks and even months and years, growing into an implacable dislike. If you admit to yourself that you flared up and became angry, you will not unconsciously incorporate it as part of yourself. On the other hand, you should not pay too much attention to it, brood over it or feel guilty, because then you only reenact your anger and thereby reinforce it.

Vì vậy, nếu bạn tức giận, bạn không bao giờ nên chối bỏ điều đó, mà điều quan trọng là phải tự nói với chính mình, “Tôi thừa nhận rằng vào lúc này, tôi tức giận.” Có những lúc chúng ta không thể kiềm chế cơn giận, mà khi đó, điều quan trọng là thành thực về nó. Nhưng nếu bạn thêm các từ, “vào lúc này,” điều đó cũng có nghĩa là bạn sẽ xử lý sự tức giận, để nó tan biến khỏi mình. Nói cách khác, “Tôi tức giận, nhưng tôi sẽ không để yên hoặc để cho nó thống trị tôi.” Một tuyên bố như vậy là một loại tín hiệu cho chính chúng ta rằng chúng tôi từ chối cơn giận như là một tình trạng lâu dài. Nó giúp ngăn chặn sự phát triển của một cảm giác oán giận bị kiềm chế có thể kéo dài hàng tuần lễ và thậm chí hàng tháng hay nhiều năm, phát triển thành một sự khó chịu không nguôi. Nếu bạn thừa nhận với chính mình rằng bạn đã nổi xung và tức giận, bạn sẽ không gắn liền nó một cách vô thức thành một phần của chính mình. Mặt khác, bạn không nên chú ý quá nhiều đến nó, ấp ủ nó hoặc cảm thấy tội lỗi, bởi vì làm vậy bạn chỉ kìm nén sự tức giận của mình và do đó củng cố thêm nó mà thôi.

When a pattern of suppressed anger has built up over the years it turns into resentment, which is one of the most difficult of emotional states to overcome. Anger flares up suddenly, and unless it becomes habitual one can get rid of it fairly quickly. Resentment, on the other hand, is the result of anger which has been suppressed, usually because a person was not in a position to let it out. It is therefore often combined with a feeling of helplessness and frustration, and as a result it can go on smoldering for years, eating away at one’s self-esteem and poisoning personal relationships. It is much more subtle than anger and much harder to get rid of, because it can lie hidden within us for such a long time.

Khi một hình thái của sự giận dữ bị kiềm chế đã được xây dựng qua nhiều năm, nó trở thành nỗi oán giận, đó là một trong những tình trạng cảm xúc khó khăn nhất để vượt qua. Tức giận bùng phát đột ngột, và trừ khi nó trở thành thói quen, mỗi người có thể thoát khỏi cảm xúc này khá nhanh chóng. Ngược lại, sự oán giận, là kết quả của sự tức giận đã bị kìm nén, thường là vì người ta không có khả năng để bộc lộ nó ra. Do đó nó thường kết hợp với cảm giác bất lực và bực bội, và kết quả là nó có thể tiếp tục âm ỉ trong nhiều năm, ăn mòn lòng tự trọng và phá hỏng các mối quan hệ cá nhân. Nó tinh tế hơn sự tức giận và khó hơn nhiều để thoát khỏi, bởi vì nó có thể ẩn sâu trong chúng ta suốt một thời gian dài lâu.

Habits of anxiety and resentment may start early in life. If we feel that we have been unfairly treated, either by our parents or by some friend, it is natural to feel angry and resentful at the moment. It is when such resentment builds over months and even years that it becomes so damaging. We begin to perceive other people as exhibiting some of the same characteristics we have resented, and then it can poison all our relationships.

Thói quen lo lắng và oán giận có thể bắt đầu rất sớm trong cuộc đời. Nếu chúng ta cảm thấy mình bị cha mẹ hay bạn bè đối xử bất công, khi đó chúng ta cảm thấy tức giận và phẫn uất. Đó là khi sự oán giận đã được hình thành qua nhiều năm tháng và nó trở nên vô cùng nguy hiểm. Chúng ta bắt đầu nhìn nhận những người khác cũng mang những đặc điểm giống như những điều mà chúng ta đã từng phẫn nộ, và điều đó có thể gây tổn hại cho tất cả các mối quan hệ của một người.

Breaking Negative Patterns

Phá vỡ Các Hình thái Tiêu cực

I once knew a successful business woman who came to me so unhappy in her work that she thought she ought to resign. Although her position in the company was important and responsible, she so detested the man she had to work with that her satisfaction in her career was completely spoiled. She felt that his brusqueness and discourtesy were the result of an implacable dislike which he was directing at her, thereby destroying her self-confidence.

Tôi từng biết một nữ doanh nhân thành đạt đến gặp tôi, cô rất không vui trong công việc của mình tới mức nghĩ rằng cô nên từ chức. Mặc dù vị trí của cô trong công ty rất quan trọng và đầy trách nhiệm, nhưng cô vô cùng ghét người đồng nghiệp mà cô phải làm việc cùng đến mức tất cả sự hài lòng của cô về công việc cũng không còn. Cô cảm thấy rằng sự cộc cằn và khiếm nhã của anh là xuất phát từ sự căm ghét vô hạn của anh đối với cô, qua đó phá hủy sự tự tin của cô.

My advice to her was that she should reverse roles with this man. Instead of seeing herself as the victim of his negative emotions, she should make a positive effort to send him thoughts of sympathy and compassion — which he must surely need if he was so disagreeable. The resulting change in her own feelings made her reach out to him much more easily, and as a consequence the barriers between them fell, and he confided to her all the troubles which had made him so difficult. Since these problems had nothing to do with her personally, she understood their relationship quite differently, and this put it on a wholly new footing.

Lời khuyên của tôi cho cô ấy là cô nên đảo ngược vai trò với người đồng nghiệp này. Thay vì tự nhìn nhận mình là nạn nhân của những cảm xúc tiêu cực của anh ấy, cô nên nỗ lực tích cực gửi cho anh ta những suy nghĩ của sự thông cảm và từ bi—điều mà anh ta chắc chắn cần nếu anh ấy không hài lòng. Sự thay đổi trong cảm xúc của cô làm cho cô dễ dàng tiếp cận với anh hơn, và kết quả là những rào cản giữa họ được phá bỏ, và anh đã tâm sự với cô tất cả những rắc rối đã làm anh ấy trở nên một người khó tính như vậy. Vì những vấn đề này không liên quan gì đến tính cách cá nhân, cô đã hiểu mối quan hệ của họ theo một cách hoàn toàn khác, và điều này đã đặt một nền tảng hoàn toàn mới mẻ cho mối quan hệ của họ.

Incidents of this kind show to what degree resentment can cloud our perception of others, and hamper our ability to make clear, impersonal judgments about our relationships. In order to break out of such a destructive pattern, we have to become aware of what the feeling of resentment or lack of self-confidence is based on. When we realize that we are succumbing to the same kind of strong negative reaction we have felt repeatedly, we should stop, take a deep breath, and say lightly to ourselves, “Hey, here I am doing the same old thing over again.” Then we should deliberately change the pattern of our thinking by visualizing some pleasant scene or memory. This will shift the focus of our attention and break the cycle of automatic reaction.

Ví dụ trên cho thấy sự oán giận ở mức độ nào đó có thể làm mờ đi nhận thức của chúng ta về người khác và cản trở khả năng đưa ra các phán đoán rõ ràng, không mang nặng tính cá nhân về các mối quan hệ trong cuộc sống. Để thoát khỏi những hình thái gây tổn hại như vậy, chúng ta phải nhận thức được cơ sở của cảm giác oán giận hoặc sự thiếu tự tin. Khi chúng ta nhận ra rằng mình đang không tránh nổi một phản ứng tiêu cực nặng nề như ta đã từng cảm thấy, chúng ta nên dừng lại, hít một hơi thật sâu, và nhẹ nhàng nói với chính mình: “Này, ngay lúc này tôi đang lặp lại những điều cũ như trước kia.” Sau đó, chúng ta nên nỗ lực thay đổi hình thái suy nghĩ của mình bằng cách hình dung ra một kỷ niệm hoặc cảnh trí dễ chịu. Điều này sẽ chuyển sự tập trung chú ý của chúng ta và phá vỡ chu kỳ phản ứng tự động.

Depression is another chronic emotional pattern. Akin to anxiety, it is difficult to handle because it not only drains the body’s energy but also slows energy intake to such a degree that effort is almost impossible, and one becomes very lethargic. This is why physical movement is such an important part of therapy. Walking is good exercise, and it can energize a person enough to change his or her mood. I often recommend folk dancing, because rhythmic movement done to music is in itself harmonizing, and because the companionship of the other dancers stimulates a helpful human interaction. While dancing a person is performing an ordered movement in a group of people who are all intent on the same thing, and who are therefore friendly and accepting. The dancing itself is invigorating, and the fact that one is able to do it successfully conveys a sense of accomplishment.

Trầm cảm là một kiểu cảm xúc mãn tính khác. Nó gần giống như lo lắng, rất khó để xử lý vì nó không chỉ làm cạn kiệt năng lượng của cơ thể mà còn làm chậm tiến trình tiếp thu năng lượng đến mức gần như không thể gắng gượng và người trở nên rất lờ đờ. Đó là lý do tại sao vận động thể chất là một phần quan trọng của liệu pháp chữa lành. Đi bộ là cách tập thể dục tốt, và nó có thể kích hoạt một người đủ để thay đổi tâm trạng của mình. Tôi thường khuyên mọi người tập múa dân gian, vì những chuyển động trên nền nhạc mang lại sự hài hoà, và bởi nhảy múa cùng mọi người kích thích sự tương tác hữu ích giữa người với người. Khi khiêu vũ, một người thực hiện một chuyển động có trật tự trong một nhóm người có cùng mục đích tương tự, và do đó mọi người đều thân thiện và chấp nhận nhau. Bản thân vũ điệu đã có tác dụng tiếp thêm sinh lực, và thực tế là người nhảy sau khi hoàn thành tốt một bài vũ đều có cảm giác trọn vẹn.

The Place of Idealism

Chỗ đứng của Chủ nghĩa lý tưởng

If we had something in our culture that reinforced the spiritual dimension which I have defined as the source of the true self in each of us, we would be encouraged to try to find and experience that self for ourselves. We could accept its reality as part of the human potential — an ideal which is possible to actualize in our own lives. Idealism has unfortunately become downgraded in our culture. The implication is that it is not realistic, that it has no rational basis, that it is impractical, that it is at variance with life experience, and so on. But idealism and practicality are far from being incompatible. Over history, the people who have changed the world were idealists who had their feet on the ground and knew how to accomplish their goals.

Nếu có điều gì đó trong văn hoá của chúng ta củng cố chiều đo tinh thần mà tôi đã định nghĩa là nguồn gốc của bản ngã thật sự trong mỗi người, chúng ta nên cố gắng tìm và tự trải nghiệm bản ngã đó cho mình. Chúng ta có thể chấp nhận thực tính của nó như là một phần của tiềm năng con người—một lý tưởng có thể hiện thực hóa trong cuộc sống của chúng ta. Chủ nghĩa lý tưởng đã không may trở nên bị xuống cấp trong nền văn hoá của chúng ta. Ý nghĩa của điều này là nó không thực tế, nó không có cơ sở hợp lý, và nó không mang tính thực tiễn, nó trái với kinh nghiệm cuộc sống, vân vân. Tuy nhiên, chủ nghĩa lý tưởng và tính thực tế không hề phi tương hợp. Trong lịch sử, những người đã thay đổi thế giới đều là những người theo chủ nghĩa lý tưởng, nhưng họ đều rất thực tế và biết làm thế nào để hoàn thành mục tiêu của mình.

I have said that human beings need goals to create motivation, and goals are usually based on an ideal of excellence. Motivation, in turn, arises out of confidence in oneself — a feeling of self-worth. Many people do not seem to perceive the great difference between self-confidence and egotism. Self-worth generates the confidence that you can overcome your difficulties and limitations, and this makes your energies flow outward freely. In fact, a strong sense of self is an essential element in all creative action.

Tôi đã nói rằng con người cần những mục tiêu để tạo động lực, và mục tiêu thường dựa trên một lý tưởng xuất sắc. Khi đó, động cơ sẽ nảy sinh từ sự tự tin vào bản thân—một cảm giác tự thấy được giá trị của mình. Nhiều người dường như không nhận ra sự khác biệt lớn giữa sự tự tin và tự cao. Giá trị bản thân tạo ra sự tự tin giúp bạn vượt qua những khó khăn và hạn chế của mình, và điều này làm cho năng lượng của bạn tuôn chảy ra một cách tự do. Trên thực tế, ý thức mạnh mẽ về bản thân là một yếu tố thiết yếu trong mọi hành động sáng tạo.

Those who are self-centered turn their energies toward their bodies. This blocks their normal ability to be sensitive to others. They become overly interested in how they feel, and this becomes a dominant factor in their lives and may lead to sickness and depression.

Những người tự lấy mình làm trung tâm hướng năng lượng của họ về chính cơ thể mình. Điều này ngăn chặn sự nhạy cảm thường có với người khác. Họ trở nên quá quan tâm đến cảm giác của bản thân, và điều đó trở thành yếu tố chi phối trong cuộc sống của họ và có thể dẫn đến bệnh tật và trầm cảm.

In contrast, reformers like our case #11 have a strong sense of self, but at the same time they are idealists. These are the world’s shakers and movers. Reformers may be mistaken or even bigoted, but their motivation is fundamentally the good of others. They feel very strongly that they know what should be done, and how to do it, and the power of their conviction mobilizes many around them. It is only when their self-confidence swells into self-righteousness and their zeal turns to fanaticism that they become dangerous, for then they cannot tolerate dissent. (This is the condition #11 recognized as incipient in his own orange plume, which he then determined to get rid of.)

Ngược lại, các nhà cải cách như trường hợp số 11 có một ý thức mạnh mẽ về bản thân, nhưng đồng thời họ là những nhà lý tưởng. Đây là những người vận động và làm thay đổi thế giới. Những người cải cách có thể mắc sai lầm hoặc thậm chí có những niềm tin mù quáng, nhưng động cơ của họ đối với người khác về cơ bản là tốt. Họ cảm thấy rất rõ ràng rằng họ biết những gì nên làm, thực hiện điều đó ra sao, và sức mạnh niềm tin của họ động viên nhiều người xung quanh. Chỉ khi nào sự tự tin của họ bùng phát thành sự tự tôn và lòng nhiệt thành của họ trở thành cuồng tín, họ sẽ trở nên nguy hiểm, vì họ không thể chấp nhận sự bất đồng quan điểm. (Đây là biểu hiện ở trường hợp # 11với những mầm mống màu cam trong hào quang, mà sau đó ông quyết tâm để thoát khỏi.)

Altruism

Lòng vị tha

There is a point of view that everything you do stems basically from self-interest, and that if you try to be helpful to someone else it is only because you get satisfaction from the effort. Of course you get satisfaction, but that is not the reason you do it. Others suggest that you do good works in life in order to be rewarded for them in an afterlife, instead of simply because they are needed. Chogyam Trungpa, a Tibetan lama, had a good expression for this attitude. He called it spiritual materialism, which means giving so that you can get some reward — a kind of spiritual quid pro quo. But all the religions teach that simply offering your help because someone needs it is the basis of right action. Unfortunately, in our educational system today, the acceptance of altruism as a ruling principle in life has all but disappeared.

Có một quan điểm cho rằng tất cả mọi thứ bạn làm chủ yếu xuất phát từ lợi ích cá nhân, và rằng nếu bạn cố gắng giúp ích cho người khác chỉ vì bạn cảm thấy hài lòng vì nỗ lực của mình. Tất nhiên bạn sẽ hài lòng, nhưng đó không phải là lý do bạn làm điều đó. Một số người khác cho rằng bạn làm việc tốt trong cuộc sống để được tưởng thưởng trong thế giới bên kia, thay vì đơn giản bởi họ thấy đó là điều cần thiết. Chogyam Trungpa, một vị lạt ma Tây Tạng, có cách diễn đạt rất hay về thái độ này. Ông gọi đó là vật chất thiêng liêng, có nghĩa là bạn làm điều đó để nhận được một phần thưởng—một loại bù đắp mang tính tinh thần. Nhưng tất cả các tôn giáo đều dạy rằng chỉ đơn giản giúp đỡ ai đó khi cần thiết là cơ sở của hành động đúng. Thật không may, trong hệ thống giáo dục của chúng ta ngày nay, việc chấp nhận chủ nghĩa vị tha như một nguyên tắc chi phối trong cuộc sống đã không còn nữa.

Many people, however, are very troubled about our world’s problems. They wish with all their hearts that they could do something positive to help, but mistrust their own capabilities. The important thing to realize is that we can all make some contribution according to our own abilities. In these times of stress we can help by trying not to react to the stress around us. Two or three times a day center yourself and be a center of peace, sending out thoughts of peace. This action has definite positive effects. It supports our altruistic aspiration to serve humanity, and at the same time develops our closer relationship with the upper reaches of our consciousness and with what I have called the timeless self.

Tuy nhiên, nhiều người rất lo lắng về các vấn đề của thế giới. Với tất cả trái tim, họ mong muốn mình có thể làm điều gì đó tích cực để giúp đỡ, nhưng không tin vào khả năng của họ. Điều quan trọng cần nhận ra là tất cả chúng ta, theo khả năng của mình, đều có thể đóng góp một phần cho thế giới. Trong giai đoạn căng thẳng hiện nay, chúng ta có thể đóng góp bằng cách cố gắng không phản ứng lại với những căng thẳng quanh mình. Mỗi ngày hãy dành đôi ba lần tập trung và lấy chính mình làm trung tâm bình an, phóng giải những tư tưởng hòa bình. Hành động này sẽ có tác động rõ ràng. Nó hỗ trợ khát vọng vị tha để phục vụ nhân loại, và đồng thời phát triển mối quan hệ gần gũi của chúng ta với các chiều tâm thức cao hơn của mỗi người và với cái mà tôi đã gọi là bản ngã phi thời gian.

I never suggest that people should not have a satisfying personal life. The personal gains added importance, however, when we become aware of its universal background. It is in terms of the whole of human life that our own experience takes on meaning and proves its value. When the bonds of narrow self-interest are broken by the force of altruism, our affection and good will are released to discharge their energy freely into the larger world of human relationships. This benefits everyone.

Tôi không bao giờ khuyên mọi người không nên có một cuộc sống cá nhân mãn nguyện. Thực tế, khi chúng ta nhận thức được nền tảng phổ quát, các lợi ích cá nhân làm tăng thêm tầm quan trọng. Về mặt toàn thể cuộc sống con người, kinh nghiệm cá nhân mang nhiều ý nghĩa và chứng minh giá trị của nó. Khi cơ sở của sự ích kỷ hẹp hỏi bị phá vỡ bởi năng lực của lòng vị tha, tình thương và thiện chí của chúng ta được giải phóng để tự do tuôn trào năng lượng vào thế giới các quan hệ giữa con người với con người rộng lớn hơn. Điều này mang lại lợi ích cho tất cả mọi người.

10.Meditation and the Growth of IntuitionTham thiền và Sự Tăng Trưởng Trực Giác

In previous chapters I have indicated some of the basic attitudes and efforts that are needed in order to effect changes in emotional patterns. Now I want to carry this a step further, and talk about self transformation in a deeper sense.

Trong các chương trước, tôi đã chỉ ra một số thái độ và nỗ lực cơ bản cần thiết để có thể thay đổi hình thái cảm xúc. Bây giờ tôi muốn tiến xa thêm một bước, và bàn về sự biến đổi bản thân theo một ý nghĩa sâu sắc hơn.

The desire to learn, to grow, to transcend our limitations, is basic in all of us. We study, take degrees, train ourselves in different skills in order to improve our minds; we exercise, watch our diets, play games in order to improve our physical health. I have tried to show that we can also cultivate and improve our emotions when we find it is important for us to do so. Beyond this, many of us aspire to become more caring and more altruistic — to rid ourselves of narrow attitudes and selfish motives. Having become convinced that there is a spiritual reality that is deeper, more enduring, more joyful, more compassionate, more unitive than anything else we can experience in life, we want to align ourselves with that reality. To do so, we know instinctively that we must try to escape the bondage of the personal ego.

Mong muốn học hỏi, phát triển, vượt qua những giới hạn của chính mình, là những điều cơ bản tồn tại trong mỗi người. Chúng ta học tập, lấy bằng cấp, luyện những kỹ năng khác nhau để cải thiện trí óc; chúng ta tập thể dục, theo dõi chế độ ăn uống của mình, chơi trò chơi để cải thiện sức khoẻ thể chất của ta. Tôi đã cố gắng cho các độc giả thấy rằng chúng ta cũng có thể tu luyện và cải thiện cảm xúc của mình khi chúng ta thấy đó là điều quan trọng cần làm. Ngoài ra, nhiều người trong chúng ta mong muốn trở thành người biết quan tâm và giàu lòng vị tha hơn—để thoát khỏi thái độ hẹp hòi và động cơ ích kỷ. Một điều khá phổ biến đã nhiều người công nhận là có một thực tại tinh thần sâu sắc hơn, bền vững hơn, vui vẻ hơn, từ bi hơn, đồng nhất hơn bất cứ điều gì khác mà chúng ta có thể trải nghiệm trong cuộc sống, chúng ta muốn hòa mình với thực tại đó. Để làm như vậy, một cách bản năng chúng ta biết rằng cần phải cố gắng thoát khỏi sự lệ thuộc vào bản ngã.

These are some of the reasons why people undertake Zen training, practice yoga or Sufi dancing or study Tibetan Buddhism. All of these methods can help us towards the goal of self-transformation; all incorporate some form of meditation or mental discipline in order to open the student to the possibilities of a different kind of awareness. Meditation is often advocated as a relaxation technique or a method of reducing stress, and it can be very helpful in these ways. But it has much deeper aspects. Its greatest potential benefit lies in the fact that it offers the possibility of access to dimensions of consciousness which lie beyond the personal self.

Đây là một trong các lý do tại sao mọi người tham gia tập luyện thiền, thực hành yoga, nhảy Sufi hoặc nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng. Tất cả những phương pháp này đều có thể giúp chúng ta hướng tới mục tiêu tự chuyển hóa; tất cả đều kết hợp hình thức tham thiền hay kỷ luật tinh thần nào đó để khai mở khả năng nhận thức khác cho học viên. Thiền thường được coi là một kỹ thuật thư giãn hoặc một phương pháp giảm căng thẳng, và nó thực sự rất hữu ích cho những mục đích này. Nhưng nó còn có nhiều khía cạnh sâu sắc hơn. Lợi ích tiềm tàng lớn nhất của nó nằm ở chỗ nó cung cấp khả năng tiếp cận với các chiều tâm thức nằm ngoài bản ngã cá nhân.

Meditation may be said to have a twofold purpose. It is a way of relating to the deeper aspects of one’s own nature, but it is not only that. It is also a way of relating oneself to a much greater reality which we can think of under different guises: as the unity underlying nature, or the spiritual dimension, or God, or the Divine Milieu. Thus meditation is far from being merely a withdrawal into an inward passive state (as some have asserted). It is a dynamic experience of the identity of the inner self with the whole of things —whose compass is so great as to be, in fact, limitless.

Có thể nói Thiền có hai mục đích. Thiền là cách gắn kết với những khía cạnh sâu sắc hơn trong bản chất của mỗi người, nhưng nó không chỉ dừng lại ở đó. Nó còn là cách liên kết với một thực tính vĩ đại hơn mà chúng ta vẫn nghĩ tới dưới những hình thức khác nhau: như sự Hợp nhất trong tự nhiên, chiều đo tinh thần, hay Thượng đế, hoặc Chúa Thánh thần. Vì vậy, thiền còn khác hơn chỉ là sự rút lui vào một trạng thái thụ động bên trong (như một số đã khẳng định). Đó là một trải nghiệm năng động về đặc tính của cái tôi nội tại với toàn thể cự vật—mà giới hạn thật vô cùng to lớn, và thực tế là vô hạn.

Such an experience can have reciprocal effects. Our need for direction leads us to meditate, and the practice in turn helps to clarify our sense of purpose. This is so because inner quiet gives that purpose a chance to emerge — an achievement which is impossible when we are caught up in the turmoil and conflict which are so much a part of daily life.

Một trải nghiệm như vậy có thể có tác động đối ứng. Nhu cầu xác định hướng đi cuộc đời của chúng ta dẫn chúng ta đến thiền, và đến lượt nó, thực hành tham thiền lại giúp làm sáng tỏ ý nghĩa của chúng ta về mục đích. Điều này là bởi nội tâm yên tĩnh cho phép mục đích có cơ hội xuất hiện—một điều không thể xảy ra khi chúng ta bị cuốn vào sự rối loạn và xung đột, vốn là một phần của cuộc sống hàng ngày.

Shift of Focus

Chuyển hướng Tập trung

I have said before that the emergence of purpose arises from that point of consciousness within each of us which is the true or spiritual self— our source of peace and wholeness. Identifying with this timeless self gives us the power of control over our feelings and our actions. It is the source of intuition, of creativity, and of the strength to take the direction of our lives into our own hands. When this power is released within us, it can give us guidance no matter how difficult the circumstances.

Như tôi vừa trình bày, mục đích phát sinh từ điểm tâm thức trong mỗi người, đó là Bản ngã tinh thần hay Chân Ngã—cội nguồn an lạc và sự trọn vẹn của chúng ta. Xác định được bản ngã phi thời gian này cho chúng ta sức mạnh kiểm soát cảm xúc và hành động của mình. Đó là nguồn trực giác, sự sáng tạo và sức mạnh để chúng ta nắm trong tay mình đường hướng cuộc đời. Khi sức mạnh này được giải phóng bên trong mỗi người, nó có thể điều dẫn chúng ta trong bất kể hoàn cảnh khó khăn nào.

Once we become aware of this deeper, more timeless aspect of ourselves we can shift our focus whenever we have a problem, and see it from a larger perspective. The sense of “I” can change with such shifts in focus — away from identification with the circumstances we feel caught in to the freedom of a more universal, less time-bound order. A more open perspective always offers us the possibility of movement and change, because it transcends the purely personal element in our feelings — and it is this which often distorts our relationships with others.

Một khi chúng ta nhận ra khía cạnh phi thời gian sâu xa hơn của chính mình, chúng ta có thể chuyển trọng tâm bất cứ khi nào gặp rắc rối, và nhìn vấn đề từ một quan điểm rộng lớn hơn. Ý nghĩa của “cái tôi” (bản thể) có thể thay đổi với sự chuyển hướng tập trung—từ sự đồng nhất với hoàn cảnh mà ta cảm thấy bị cuốn vào sang sự tự do của một trật tự phổ quát hơn, ít bị giới hạn về thời gian hơn. Một quan điểm cởi mở hơn luôn luôn cho chúng ta khả năng vận động và thay đổi, bởi nó vượt qua các yếu tố thuần túy cá nhân trong cảm xúc—yếu tố thường bóp méo mối quan hệ của chúng ta với mọi người.

Such a shift of focus also makes us take notice of what is going on in our minds and emotions. We become aware of the level of consciousness at which we are operating at any particular moment, and are able to reestablish our focus where we wish it to be. In this process of developing self-awareness, meditation is useful because it is one of the ways by which we can find the point at which the “I” is focused.

Sự chuyển hướng tập trung như vậy cũng làm chúng ta chú ý đến những gì đang diễn ra trong tâm trí và cảm xúc của mình. Chúng ta nhận thức được tầm mức tâm thức đang vận hành tại bất kỳ thời điểm cụ thể nào và có thể tái thiết lập trọng tâm về điểm chúng ta mong muốn. Trong quá trình tự thức phát triển, tham thiền là rất hữu ích bởi đó là một trong những cách chúng ta có thể tìm ra điểm mà “cái tôi” tập trung vào.

In discussing emotional patterns, I stressed the fact that anxiety is destructive because it makes us feel incapable of coping with the situations that confront us. The reason is that it temporarily blocks the inflow of the higher energies whose source lies within the dimension of wholeness. When our inner connection with the self is blocked, we begin to doubt our self-worth, our confidence is undermined, and we are vulnerable to depression. Even when some degree of inner peace has been achieved, the problem for many people is how to establish such a durable relationship with their fundamental wholeness that it persists in the face of the stresses of daily life. I believe that meditation is one of the most successful means to this achievement.

Khi thảo luận về các hình thái cảm xúc, tôi đã nhấn mạnh rằng sự lo lắng tàn phá bởi nó làm cho chúng ta cảm thấy không có khả năng đương đầu với những tình huống chúng ta phải đối mặt. Nguyên nhân là do nó tạm thời ngăn chặn dòng chảy của năng lượng cao hơn bắt nguồn từ chiều đo của tính toàn vẹn. Khi mối liên hệ nội tại của chúng ta với bản ngã bị ngăn chặn, chúng ta bắt đầu nghi ngờ giá trị bản thân mình, sự tự tin của chúng ta bị suy yếu, và chúng ta dễ rơi vào trầm cảm. Ngay cả khi đã đạt được một mức độ an lành nội tại, vấn đề đối với nhiều người là làm thế nào thiết lập một mối liên kết bền vững với sự toàn vẹn cơ bản vẫn luôn tồn tại trước những căng thẳng trong cuộc sống hàng ngày. Tôi tin rằng tham thiền là một trong những phương tiện hữu ích nhất để đạt được điều này.

Fear of Self-Delusion

Mối lo về tự ảo tưởng

Unfortunately, many people hesitate to undertake the practice of meditation because they are afraid of being self-deluded. So many of our traditional values have been discarded as irrelevant to the contemporary world that we have the habit of questioning every claim. But there is a big difference between being skeptical in the sense that the Buddha advocated — taking nothing on hearsay, thinking things through for oneself—and the canker of self-doubt, which undermines every value, including the value of our own achievements.

Thật không may, nhiều người ngần ngại thực hành tham thiền vì họ sợ bị tự ảo tưởng. Vì vậy, có quá nhiều giá trị truyền thống của chúng ta đã bị loại bỏ vì chúng không liên quan đến thế giới đương đại đến nỗi chúng ta có thói quen kiểm chứng mọi lời tuyên bố. Nhưng có một sự khác biệt lớn giữa thái độ hoài nghi theo ý nghĩa mà Đức Phật dạy—không tin những gì được nghe, mà cần tự mình tư duy về mọi việc—và căn bệnh luôn tự nghi ngờ, làm suy yếu mọi giá trị, kể cả giá trị những thành tựu của chúng ta.

Since it is impossible to prove that anything is absolutely right and true, the fear of being deluded destroys the ability to commit oneself to anything which cannot be measured or demonstrated. But we all know that none of the really important things can be measured, or their value “proved,” since they have to do with intangibles.

Vì không thể chứng minh rằng mọi điều là hoàn toàn đúng đắn và xác thực, nỗi sợ bị ảo tưởng sẽ hủy hoại khả năng cam kết với bất cứ điều gì mà không thể đo đếm hoặc chứng minh được. Nhưng tất cả chúng ta đều biết rằng những thứ thực sự quan trọng không thể được đo lường, hay được”chứng minh” giá trị, vì chúng liên quan tới những thứ vô hình.

It is certainly possible to be self-deluded in meditation, just as in anything else. But should this fact prevent us from meditating? If we were afraid that all knowledge might be false we would be doubtful about the usefulness of studying anything. In any event, there is no great danger of self-deception in meditation, because it is not a method of introspection or self-observation, in which one can easily substitute wish for reality. We meditate without expectations of success or failure, concentrating on reaching our own center of peace without trying to define or describe its qualities. This can lead to an experience that is real.

Chắc chắn là có những ảo tưởng trong tham thiền, cũng như ở bất cứ việc nào khác. Nhưng liệu thực tế này có đáng để ngăn cản chúng ta hành thiền hay không? Nếu chúng ta sợ rằng tất cả kiến thức là không đúng đắn thì chúng ta chắc hẳn cũng sẽ nghi ngờ về ích lợi của việc nghiên cứu bất cứ điều gì. Cho dù thế nào, không có nguy hiểm cao về sự tự ảo tưởng trong tham thiền, bởi vì đó không phải là một phương pháp tự truy vấn hay tự quan sát, trong đó người ta có thể dễ dàng lấy ước muốn thay cho thực tính. Chúng ta tham thiền mà không mong đợi thành công hay thất bại, tập trung vào việc đạt tới được trung tâm bình an của riêng mình mà không cần định nghĩa hay mô tả đặc tính của nó. Điều này có thể dẫn đến những trải nghiệm rất thật.

My recommendation, therefore, is that we take the possibility of our access to spiritual reality as a hypothesis which may or may not be true, but which is worth trying out. Then we can experiment and see for ourselves whether this hypothesis stands up in experience. Many people begin to meditate without really believing in it. They are willing to take a chance, even though they are not sure what the results will be. I find this attitude very natural. I also accept the fact that medi-tation is not for everyone; some preparation is needed, if only acceptance of the fact that the time has come to achieve some inner space and peace. Under such circumstances, one could say to a doubter: Try it, and see for yourself.

Do đó, lời khuyên của tôi là chúng ta hãy coi thực tính tinh thần như một giả thuyết có thể đúng hoặc sai, nhưng đáng để thử. Sau đó, chúng ta có thể trải nghiệm và tự xem xét bản thân cho dù giả thuyết này được xây dựng dựa trên kinh nghiệm. Nhiều người bắt đầu thực hành tham thiền mà không thực sự tin vào phương pháp. Họ sẵn sàng nắm lấy cơ hội, mặc dù họ không chắc chắn về kết quả có thể sẽ tới. Tôi thấy thái độ này rất tự nhiên. Tôi cũng công nhận thực tế rằng tham thiền không phải dành cho tất cả mọi người; cần phải chuẩn bị một số điều, nếu ai đó chỉ chấp nhận thực tế là đã đến lúc cần gắn kết với nội tại và sự bình an. Trong những trường hợp như vậy, ta có thể nói với người hoài nghi: Hãy thử đi và cho chính mình trải nghiệm.

I always hope that people will approach meditation as something that can be really enjoyable, even fun, rather than as a solemn task we undertake as a kind of duty to ourselves. It can truly refresh us — give us new energy when we are tired, calm and balance us when we are upset, help us let go of our problems, restore our perspective and sense of proportion. In daily life, our auras are constantly exchanging energies with others, and our attention is usually engaged with what is going on around us. The result is that our focus is outside ourselves. In meditation we intentionally shift that focus within the heart center, thereby creating a concentric flow of energy which is just the opposite of the scattering or diffusing tendency that so much of our daily activity demands.

Tôi luôn hy vọng rằng mọi người sẽ tiếp cận với thiền như là một điều thực sự thú vị, thậm chí đầy niềm vui, chứ không phải là một nhiệm vụ nặng nề mà chúng ta cần đảm nhiệm như một nghĩa vụ đối với bản thân mình. Nó có thể làm chúng ta tươi mới mỗi ngày—cho chúng ta thêm năng lượng khi mệt mỏi, bình tĩnh và cân bằng khi thất vọng, giúp giải quyết các vấn đề của chúng ta, khôi phục quan điểm và sự cân bằng. Trong cuộc sống hàng ngày, hào quang của chúng ta liên tục trao đổi năng lượng với người khác, và sự chú ý của chúng ta thường gắn liền với những gì đang diễn ra xung quanh mình. Kết quả là trọng tâm của chúng ta nằm ngoài chính bản thân. Trong tham thiền, chúng ta hữu ý chuyển sự tập trung đó vào luân xa tim, do đó tạo ra một luồng năng lượng tập trung ngược lại với khuynh hướng phân tán hoặc khuếch tán theo nhu cầu hoạt động hàng ngày của chúng ta.

Stimulating Higher Energies

Kích thích Các Năng lượng Cao hơn

This is why the practice of meditation not only gives us a feeling of peace, but also energizes us. The experience speeds up the activity of the heart chakra, and this slowly begins to affect the connection with the other higher centers. When this occurs, it opens us to influences from a higher dimension and establishes an emotional pattern which is integrative, in contrast to the conflicting patterns which pull us in different directions during the day. Thus it produces a state of wholeness and inner serenity which can stand us well in times of stress.

Đó là lý do tại sao thực hành tham thiền không chỉ mang lại cho chúng ta cảm giác bình an, mà còn kích thích chúng ta. Kinh nghiệm có được qua tham thiền giúp tăng cường hoạt động của luân xa tim, và điều này dần dần ảnh hưởng đến kết nối với các trung tâm cao khác. Khi điều này xảy ra, nó mở ra cho chúng ta cơ hội có được những tác động từ một chiều cao hơn và thiết lập một mô hình cảm xúc tích hợp, trái ngược với các mô hình mâu thuẫn kéo chúng ta theo các hướng khác nhau trong ngày. Vì vậy, nó tạo ra một trạng thái toàn vẹn và thanh thản bên trong giúp ta có thể vững vàng trước những căng thẳng.

In the aura, there are usually many momentary emotional conditions that block the expansion of consciousness. When meditation includes not only a withdrawal into one’s center but also a deliberate effort to send peace and love outward into the world, the expansion of the aura which results works directly to break up the scars of traumatic events. The results show in the aura as a lightening of the colors, greater clarity, and a general feeling of harmony, balance and integration. These are subtle differences, but they can perhaps be traced in auras #13, #14 and #18, all of whom were long-term meditators, and also in #7, where meditation had been practiced for a somewhat shorter period.

Trong hào quang, thường có nhiều trạng thái tình cảm tạm thời ngăn cản sự mở rộng của tâm thức. Khi tham thiền bao gồm không chỉ là sự rút lui vào trung tâm của một người mà còn là một nỗ lực có chủ đích gửi an lành và tình thương ra bên toàn thế giới, sự mở rộng của hào quang dẫn đến những kết quả trực tiếp giúp hàn gắn những vết thương của những biến cố đau buồn. Các kết quả thể hiện trong hào quang như làm màu sắc sáng lên, rõ nét hơn, và có cảm giác chung của sự hài hòa, cân bằng và hội nhập. Đây là những khác biệt tinh tế, nhưng có thể thấy chúng trong hào quang số # 13, # 14 và # 18, tất cả đều là hào quang của những người đã thực hành tham thiền lâu dài, hay ở hình # 7, của một người thực hành tham thiền một thời gian ngắn hơn.

Meditation stimulates the higher energies, and their release within us changes our perspective radically. The awareness it engenders helps us to see people in a new light, so that we begin to ask ourselves how we affect them, instead of the other way around. We often raise barriers between ourselves and others, but when we try regularly to feel love we lower our defenses and become much more open. In this way we begin to gain a new consciousness of the significance of our interpersonal relations. As we become more sensitive to others, we grow in the ability to interact with them in positive ways.

Tham thiền kích thích năng lượng cao hơn, và năng lượng được giải phóng trong chúng ta làm thay đổi quan điểm của ta một cách triệt để. Nhận thức được tạo ra giúp chúng ta nhìn thấy mọi người trong một ánh sáng mới, để chúng ta bắt đầu tự hỏi làm sao chúng ta có thể tác động đến họ, thay vì ngược lại. Chúng ta thường tạo ra những rào cản giữa bản thân và người khác, nhưng khi cố gắng thường xuyên cảm thấy yêu thương, chúng ta sẽ rút bớt các biện pháp phòng vệ và trở nên cởi mở hơn nhiều. Bằng cách này, chúng ta bắt đầu có được một ý thức mới về tầm quan trọng của mối quan hệ giữa các cá nhân. Khi chúng ta trở nên nhạy cảm hơn với người khác, chúng ta phát triển khả năng tương tác với họ theo những cách tích cực.

Meditation Techniques

Các Kỹ thuật Tham thiền

When we have committed ourselves to finding peace within ourselves, and decided that meditation is a gateway to this peace, then the specific technique we use is not really so important. Some methods suggest reading a passage from the scriptures or chanting mantrams, all of which quiet the mind. Zen and other Buddhist forms of meditation such as Satipatthana stress walking while concentrating on the breath. Rhythmic breathing is certainly important.

Khi chúng ta cam kết tìm kiếm bình an trong chính mình, và quyết định rằng tham thiền là một cánh cửa mở ra sự bình an này, thì kỹ thuật cụ thể mà chúng ta sử dụng thực sự không quá quan trọng. Một số phương pháp yêu cầu đọc một đoạn kinh hoặc niệm mantrams, tất cả đều có tác dụng làm tĩnh tâm. Thiền và một số truyền thống Phật giáo khác như Satipatthana thực hành vừa đi bộ vừa tập trung vào hơi thở. Nhịp thở đều đặn hẳn nhiên vô cùng quan trọng.

Whatever the method, there are certain basic requirements. The first is to relax and become aware that you can experience a sense of stillness within yourself. Therefore it is helpful to breathe in and out deeply several times and relax your shoulders, and then focus in the region of the heart chakra. I always recommend that beginners practice only for a very short time —three to five minutes. The length of time one meditates is not important, so long as the experience is real. People often try to do too much too soon, and therefore become discouraged. Finding that they are unable to still the mind for more than a few minutes at a time, they go on because they think they are obliged to, and so become bored and restless.

Bất kể phương pháp nào, có một số yêu cầu cơ bản. Trước tiên là thư giãn và nhận thức được rằng bạn có thể trải nghiệm cảm giác tĩnh lặng trong mình. Vì vậy, rất hữu ích nếu hít vào thở ra thật sâu vài lần và thả lỏng bả vai, và sau đó tập trung vào khu vực luân xa tim. Tôi luôn khuyên những người mới bắt đầu chỉ nên luyện tập trong một thời gian ngắn—từ ba đến năm phút. Khoảng thời gian một người tham thiền không quan trọng, miễn là có những trải nghiệm thật. Mọi người thường cố gắng luyện tập quá nhiều khi còn quá mới, và nhanh chóng nản lòng. Nhận thấy mình không thể tĩnh lặng trong vài phút, họ tiếp tục tập vì nghĩ rằng cần phải làm vậy, và do đó trở nên buồn chán và bồn chồn.

For the first three or four months of practice, the main effort should be to find a point of stillness within yourself. Once that has been established, you will slowly get used to meditating, and learn to like it. When I say that, I am also saying that there is an emotional component in meditation. This is true, but the effort to reach a state of stillness transcends ordinary feelings of pleasure and pain, or like and dislike.

Trong ba hay bốn tháng đầu tiên thực hành tham thiền, nỗ lực chính là tìm ra một điểm tĩnh tại trong chính mình. Một khi đã thiết lập được điều đó, bạn sẽ dần dần quen với tham thiền, và học cách yêu thích nó. Nói vậy, tôi có ý rằng có một phần cảm xúc trong tham thiền. Điều này hoàn toàn đúng, nhưng nỗ lực để đạt được trạng thái tĩnh lặng vượt xa cảm giác thông thường của niềm vui và đau đớn, hoặc thích và không thích.

At the beginning there may be some ambivalence: you may think you are quiet and at the same time be conscious of a background which is full of distraction. So you will be aware of two things at the same time: your inner peace, and your chattering mind. You can accept this situation without having it distract you from the recognition that at some level you have experienced a real sense of quietude. As you persist, you will reach a deeper level of this stillness, and then you will begin to experience a sense of expansion, a feeling of unity with the universe.

Ban đầu có thể có một số mâu thuẫn: bạn có thể nghĩ rằng mình đang tĩnh lặng, nhưng đồng thời cũng ý thức rõ được trải nghiệm đầy sự phân tâm. Vì vậy, bạn sẽ nhận thức được hai điều cùng một lúc: sự bình an nội tâm, và tâm trí vơ vẩn của mình. Bạn có thể chấp nhận tình huống này mà không bị nó làm phân tâm khỏi sự chấp nhận rằng ở một mức độ nào đó bạn đã có cảm giác yên tĩnh thực sự. Sau một thời gian kiên trì, bạn sẽ đạt đến một tầm mức sâu hơn của sự tĩnh lặng, và sau đó sẽ bắt đầu trải nghiệm cảm giác mở rộng, một cảm giác thống nhất với vũ trụ.

Little by little, as you continue the practice, the stillness will deepen and the mind’s chatter will be quieted. Even though your thoughts may intervene and you may be aware of the distraction, you will be able to remain focused within the stillness. The best analogy to this experience I can think of is flying in a plane and breaking through the clouds to the clear blue of the sky beyond.

Từng chút một, khi bạn tiếp tục thực hành, sự tĩnh lặng sẽ sâu hơn và tâm trí vẩn vơ sẽ trở nên yên tĩnh. Ngay cả khi suy nghĩ có thể can dự vào quá trình tham thiền và bạn có thể nhận thức được sự phân tâm, bạn vẫn có thể tập trung trong tĩnh lặng. Cách so sánh gần nhất với kinh nghiệm này tôi có thể nghĩ tới là việc trải nghiệm cùng máy bay vượt lên những đám mây tới bầu trời xanh trên cao.

Meditation in the Heart

Tham thiền trong Trái Tim

I have stressed the importance of focusing in the region of the heart, which I call centering, because the heart is the seat of spiritual as well as physical life. We may ordinarily think that focusing implies a narrowing of attention or awareness, but the opposite is true when we center. The heart chakra is capable of almost unlimited expansion; an analogy might be the circle whose center is everywhere and whose circumference is nowhere. So focused, we experience a sense of unity with nature and with the universe as a whole. This stretches the aura and breaks down restrictive patterns, and the feeling of unity can sharpen, giving a new dimension to all our relationships.

Tôi đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tập trung vào vùng luân xa tim, mà tôi gọi là trung tâm, bởi vì tim là tâm điểm của đời sống tinh thần cũng như thể chất. Chúng ta thường có thể nghĩ rằng tập trung ngụ ý thu hẹp sự chú ý hoặc nhận thức, nhưng thực tế lại là ngược lại khi chúng ta tập trung. Luân xa tim có khả năng mở rộng gần như không giới hạn; tương tự như một vòng tròn có tâm bất cứ đâu và chu vi của nó là không hạn định. Vì vậy, khi tập trung, chúng ta trải nghiệm một cảm giác thống nhất với tự nhiên và vũ trụ như một toàn thể. Điều này làm mở rộng hào quang, phá vỡ mọi hình thái hạn chế, và cảm giác thống nhất có thể trở nên rõ nét, tạo ra một chiều hướng mới cho tất cả các mối quan hệ của chúng ta.

When people are uncertain about their ability to meditate, I usually give them a visualization exercise to help them get started. For example, I suggest that you first withdraw your energies into the heart, and associate this with a feeling of unity with the timeless self. This inner self should be visualized as a light within your heart, within which you consciously withdraw. Feel a sense of peace, and think of yourself as one with the light. Then, if you have a painful memory that bothers you, recall it and deliberately visualize it as being slightly detached from and in front of you. You should try to see it as being outside yourself. Then visualize rays of light shining out from the center of light within your heart, pouring right through that painful memory until it is dissolved.

Khi mọi người không chắc chắn về khả năng tham thiền của mình, tôi thường cho họ một bài tập trực quan để giúp họ bắt đầu. Ví dụ, tôi đề nghị bạn trước tiên rút năng lượng của bạn vào luân xa tim, và gắn kết nó với một cảm giác hòa làm một với bản thể phi thời gian. Bản ngã nội tại nên được hình dung như một nguồn ánh sáng trong trái tim bạn, nơi bạn rút ý thức vào. Cảm nhận một cảm giác bình an, và nghĩ về mình như một với nguồn sáng. Sau đó, nếu bạn có một ký ức đau thương làm bạn buồn khổ, hãy nhớ lại nó và cố tình hình dung nó như tách rời khỏi bạn và hiển hiện ra trước mặt bạn. Bạn nên cố gắng xem nó như là ở bên ngoài chính mình. Sau đó, hãy hình dung tia sáng phát ra từ trung tâm của ánh sáng trong trái tim bạn, chảy vào ký ức đau thương đó cho đến khi nó hoàn toàn tan rã.

Many people have found this exercise has given them a wonderful sense of freedom from their anxieties. Moreover, if you want to help someone who is ill or in distress, it is effective to visualize the person surrounded by this light within the heart, and then reach out to him or her on that level.

Nhiều người đã thấy bài tập này cho họ một cảm giác tuyệt vời nhờ việc thoát khỏi những lo lắng của mình. Hơn nữa, nếu bạn muốn giúp đỡ một người bệnh hoặc ai đó đang gặp khó khăn, sẽ rất hiệu quả khi hình dung người đó được bao phủ bởi thứ ánh sáng trong tim này, và sau đó liên lạc với người cần giúp đỡ ở cấp độ đó.

Detachment

Buông Xả

I have said that when we experience the sense of peace within ourselves our perspective on the world and on our relationships begins to change. One of the differences is a growth of detachment. There seems to be a great deal of misunderstanding about the meaning of this word, which people mistakenly confuse with the kind of cold impersonality that stands aloof from the pains and troubles of others. Detachment does not mean that we cease to feel for others or to sympathize with their suffering. It does mean that we do not personally involve ourselves in their problems on an emotional level — which actually can prevent us from being of much service to them. Nurses know from experience that they cannot help a patient who is in pain unless they are able to maintain their own inner strength and serenity.

Tôi đã nói rằng khi chúng ta trải nghiệm cảm giác bình an bên trong, quan điểm của chúng ta về thế giới và mối quan hệ của chúng ta bắt đầu thay đổi. Một trong những khác biệt là sự gia tăng buông xả. Có lẽ có rất nhiều hiểu lầm về ý nghĩa của từ này, mọi người lẫn lộn nó với sự lạnh lùng vô cảm, dửng dưng trước những đau đớn và phiền toái của người khác. Sự buông xả không có nghĩa là chúng ta không còn thấy có cảm xúc với người khác hay đồng cảm với nỗi đau của họ. Điều đó có nghĩa là chúng ta không liên quan trực tiếp đến những vấn đề của họ ở mức độ cảm xúc—sự liên quan này thực sự có thể ngăn cản chúng ta phụng sự. Các y tá qua kinh nghiệm của mình biết rằng họ không thể giúp đỡ một bệnh nhân đang đau đớn trừ khi họ có thể duy trì sức mạnh nội tâm và sự thanh thản của mình.

When you center yourself in meditation you are consciously experiencing wholeness, your undivided unity with everything that exists. You see yourself, as well as the people with whom you have relationships, as part of that immense wholeness. It is in this sense that we interact with one another most authentically. On the personal level we are always separated from each other by the barriers of the ego, but these barriers do not exist at that deeper level. When we are able to detach ourselves from personal interest, we can reach out to people in a much more enduring way.

Khi tập trung vào tham thiền, bạn đang trải nghiệm sự trọn vẹn, sự thống nhất không chia sẻ với vạn hữu. Bạn thấy mình, cũng như những người mà bạn có mối quan hệ xung quanh, như một phần của sự toàn vẹn bao la đó. Theo nghĩa này chúng ta tương tác với nhau một cách chính xác nhất. Ở cấp độ phàm nhân chúng ta luôn tách biệt nhau bởi những rào cản của bản ngã, nhưng những rào cản này không tồn tại ở tầm mức sâu hơn. Khi chúng ta có thể tách mình khỏi sự quan tâm cá nhân, chúng ta có thể tiếp cận với mọi người một cách bền vững hơn.

Projecting Love

Phóng chiếu Tình thương

Meditation assists in this process because it brings down energy from a more universal dimension. If we want to develop this potential and use it fully we should try to feel love every day, and project it to anyone who we feel might need it. This is important for many reasons. Too often we think that love is only fulfilling if it is reciprocated, and when this synchronism between people does not take place the result is a lot of pain. If our love is personal it can be unconsciously demanding, and this aggravates our emotional problems.

Tham thiền hỗ trợ cho quá trình này vì nó mang năng lượng từ một chiều đo phổ quát hơn xuống. Nếu chúng ta muốn phát triển tiềm năng này và sử dụng nó một cách trọn vẹn, chúng ta nên cố gắng để cảm nhận tình yêu thương mỗi ngày, và lên kế hoạch hướng nó tới bất cứ ai mà chúng ta cảm thấy cần tình yêu thương đó. Điều này rất quan trọng vì nhiều lý do. Chúng ta thường nghĩ rằng tình yêu chỉ đủ đầy nếu nó được đáp lại, và khi sự lạc nhịp giữa con người xảy ra, kết quả là có rất nhiều đau đớn. Nếu tình yêu của chúng ta ở mức độ phàm ngã thì nó sẽ đòi hỏi một cách vô thức, và điều này làm những vấn đề tình cảm của chúng ta trở nên trầm trọng hơn.

In meditation, however, we experience a different kind of love, an outflow or giving of the self that is undemanding and requires no return. When we are able to send out love unreservedly, without doubt or fear of loss or thought of self, then that energy will reach others at a higher level, where they can use it to mobilize their own inner powers, and help them to resolve their problems. This is what I mean by detachment.

Tuy nhiên, trong tham thiền, chúng ta trải nghiệm một loại tình yêu khác, một dòng chảy ra hay trao gửi cái bản ngã không hề đòi hỏi và mong đợi sự đáp lại. Khi chúng ta có thể trao gửi trọn vẹn tình yêu, không có nghi ngờ hoặc nỗi sợ mất mát hay suy nghĩ về bản thân, thì năng lượng đó sẽ tiếp cận người khác ở mức cao hơn, nơi họ có thể sử dụng nó để huy động sức mạnh nội tại của họ và giúp họ giải quyết các vấn đề. Đây là những gì tôi muốn nói qua từ Vô chấp hay Buông Xả.

When you center yourself in meditation you are consciously experiencing a sense of unity on this deeper level. You feel yourself, as well as the people with whom you have relationships, as part of a greater whole. You thus begin to realize, as a matter of experience, that the same potential for wholeness and peace exists in everyone, and in sending thoughts of love to others, you are trying to reach them at that deeper level. In so doing, you open yourself to the much greater and more potent energies of a higher dimension. Therefore, if you want to develop this potential and use it to the fullest, you should try regularly to project as much love as possible. As the Dalai Lama has said, if we would all feel peace and compassion, there would be an end to war and violence. In times like these, when the world is shaken by doubt and anxiety, we can help to lighten the atmosphere of the whole Earth by sending out the energies of peace and love.

Khi bạn tập trung vào tham thiền bạn đang trải nghiệm hữu thức một cảm giác hợp nhất ở mức sâu xa hơn. Bạn cảm thấy bản thân, cũng như những người mà bạn có mối quan hệ, như một phần của một tổng thể lớn hơn. Vì vậy bạn bắt đầu nhận ra qua kinh nghiệm, rằng cùng một tiềm năng về sự trọn vẹn và bình an tồn tại trong mỗi người, và trong việc trao gửi những tư tưởng yêu thương đến người khác, bạn đang cố gắng gần họ ở tầm mức sâu hơn. Khi làm như vậy, bạn mở ra cho chính mình sức mạnh to lớn hơn và dồi dào tiềm năng hơn ở một chiều cao hơn. Vì vậy, nếu bạn muốn phát triển tiềm năng này và sử dụng nó một cách đầy đủ, bạn nên cố gắng thường xuyên lên kế hoạch trao gửi tình thương càng nhiều càng tốt. Như Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói, nếu tất cả chúng ta đều cảm thấy bình an và từ bi, sẽ không còn chiến tranh và bạo lực. Trong những thời điểm như hiện nay, khi thế giới bị lung lay bởi những nỗi nghi ngờ và lo lắng, chúng ta có thể giúp làm sáng bầu khí quyển của toàn trái đất bằng cách phát ra năng lượng của an lành và tình thương.

Intuition

Trực giác

In various contexts, I have indicated that there is an aspect of consciousness within us which is called the intuition — the kind of immediate understanding which reaches beyond the usual processes of the mind and gives direct insight. This power is not limited to a few geniuses, but resides as a potentiality within all of us. As a matter of fact, many of us do experience this level of consciousness at some moment in our lives. At times when everything seems to go wrong, if we become still for a moment, there can arise out of that stillness a conviction of the right course for us to take. In the moment of crisis we are suddenly filled with strength; we know we can keep calm. It is the intuition which tells us without words what we should do.

Trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, tôi đã chỉ ra rằng có một khía cạnh của tâm thức bên trong chúng ta, được gọi là trực giác—cho những hiểu biết tức thì, vượt qua các quá trình thông thường của tâm trí và đưa ra cái nhìn sâu sắc trực tiếp. Sức mạnh này không giới hạn ở một số ít thiên tài, mà nó là một tiềm năng trong tất cả chúng ta. Trên thực tế, nhiều người trong chúng ta đã có kinh nghiệm cấp độ tâm thức này tại một thời điểm nhất định nào đó trong cuộc sống. Vào những lúc mọi thứ dường như đều sai lầm, nếu chúng ta tĩnh lặng trong chốc lát, từ sự yên tĩnh đó có thể phát sinh một niềm tin vào hướng đi đúng đắn chúng ta cần thực hiện. Trong thời điểm khủng hoảng chúng ta đột nhiên đầy sức mạnh; chúng ta biết rằng mình có thể giữ bình tĩnh. Đó là trực giác không thông qua ngôn ngữ cho chúng ta biết những điều chúng ta nên làm.

The sense of unity which is realized in meditation opens us up this intuitive capacity, which is related to the timeless self. Intuition or insight means seeing into the heart of things. It gives us a momentary opening into a higher dimension of direct understanding, or clear seeing, which leaps over the limitations of our usual thinking processes in a flash of unitive perception.

Cảm nhận về sự hợp nhất có được qua tham thiền mở ra cho chúng ta khả năng trực giác này, liên quan đến bản ngã phi thời gian. Trực giác hay cái nhìn sâu sắc có nghĩa là nhìn vào tâm của vạn vật. Trong một thời khắc, nó mở ra cho chúng ta một cánh cửa vào một chiều đo cao hơn về sự thấu hiểu trực tiếp, hoặc cái nhìn minh triết, vượt qua những hạn chế của các quy trình tư duy thông thường của chúng ta theo nhịp điệu của nhận thức đồng nhất.

Thus if we are really searching for the right course to take — for the secret of right action, as the Buddhists say —and can be still within ourselves, the intuition may open. Then we can get an insight into the direction we should go, and into a plan of action — a plan which is not entirely dependent on the facts we have to work with, for these may be inadequate for our purpose.

Vì vậy, nếu chúng ta đang thực sự kiếm tìm một đường đi đúng—vì bí mật của chánh đạo, như Phật giáo đã dạy—có thể vẫn nằm trong chính chúng ta, và trực giác có thể mở ra. Khi đó, chúng ta có thể có được cái nhìn sâu sắc về hướng đi chúng ta nên theo và một kế hoạch hành động—một kế hoạch không hoàn toàn phụ thuộc vào các sự kiện mà chúng ta phải đối mặt, vì chúng có thể không phù hợp với mục đích của chúng ta.

Intuition comes from a far deeper dimension of consciousness than ordinary thinking. It can illuminate our search for understanding by bringing about a new synthesis. Numerous scientists have testified to their experience of such a flash of intuition, which suddenly brought bits of knowledge together in an unforeseen relationship. Thus intuition always raises us to a new level of meaning, an expanded vision of reality. It can operate on many levels, but since it is an insight into the unity underlying the phenomena of life, its results persist and deepen through time.

Trực giác đến từ một chiều sâu xa hơn của tâm thức hơn là tư duy thông thường. Nó có thể làm sáng tỏ sự tìm kiếm hiểu biết của chúng ta bằng cách đưa ra một xu hướng mới. Nhiều nhà khoa học đã có những trải nghiệm về ánh sáng trực giác, đột nhiên gắn kết những hiểu biết lại với nhau trong một mối quan hệ không hề biết trước. Do đó, trực giác luôn nâng chúng ta lên một tầm ý nghĩa mới, một tầm nhìn mở rộng về thực tính. Nó có thể hoạt động ở nhiều cấp độ, nhưng vì nó là một cái nhìn sâu sắc về sự thống nhất ẩn dưới các hiện tượng của đời sống, kết quả của nó vẫn luôn tồn tại và ngày càng sâu sắc hơn qua thời gian.

There are different degrees of intuition, and these are not necessarily all connected with large impersonal issues. Intuitions can come to quite simple people, for they do not throw up the barriers of the critical mind to insights from within. Intuition always confers an unshakable sense of certainty and authenticity; we do not hesitate to accept it and act upon it. When we have a flash of intuition, there is for that moment an integration of the different dimensions of consciousness within us, and the result is a conviction that we have found the truth of the problem that confronts us.

Có nhiều mức độ trực giác khác nhau, và chúng không nhất thiết chỉ liên quan đến những vấn đề phi cá nhân lớn. Những hiểu biết trực giác có thể đến với những người đơn giản, bởi vì họ không đặt những rào cản của tâm trí phê phán lên những hiểu biết sâu sắc từ bên trong. Trực giác luôn luôn ban cho một cảm giác không lay chuyển được về sự chắc chắn và tính xác thực; chúng ta không ngần ngại chấp nhận nó và hành động theo nó. Khi chúng ta nhận được một tia trực giác, giây lát đó là sự tích hợp của các chiều đo tâm thức khác nhau trong chúng ta, và điều đó dẫn tới niềm tin rằng chúng ta đã tìm ra sự thật về vấn đề mà chúng ta phải đối mặt.

The reason such intuitions do not occur more frequently is that our thoughts are usually disordered. When our minds are distracted in many different directions, we run into the danger that threatens our age: knowing everything and understanding nothing. Intuition does not work unless the mind offers it a clear avenue of access, for the mind is the instrument for translating insights into action. When the mind is transparent to spiritual insight, the result is prajna, as the Buddhists call it, or wisdom. The implication is that every human being has a point of contact with a dimension of consciousness of which truth is an aspect. What meditation can do, therefore, is clear the mind so that the intuition can come through.

Lý do trực giác không đến với ta thường xuyên hơn là vì những suy nghĩ của chúng ta thường bị rối loạn. Khi trí chúng ta bị phân tâm theo nhiều hướng khác nhau, chúng ta đối diện với một mối nguy hiểm đầy đe dọa: chúng ta biết mọi thứ và không hiểu điều gì. Trực giác không xuất hiện trừ phi tâm trí cho nó một con đường rõ ràng để hiển lộ, vì trí là công cụ để chuyển tải cái nhìn sâu sắc thành hành động. Khi trí trong suốt cho những thấu hiểu tinh thần, kết quả là bát nhã (prajna), như Phật giáo gọi nó, hay trí huệ. Hàm ý là mỗi con người có một điểm tiếp xúc với một chiều đo của tâm thức mà chân lý là một phần trong đó. Do đó, điều tham thiền có thể mang lại là một cái trí sáng rõ để trực giác có thể rọi qua.

Many people would like to be able to develop a technique for unfolding the intuition, so that the experience might occur more frequently. I do not think it possible to plan ahead for an intuitional experience, but certainly the ground can be prepared, and for this one must learn to still the mind and not let noisy thoughts intrude without permission.

Nhiều người muốn phát triển một kỹ thuật để khai mở trực giác, để trải nghiệm về trực giác có thể xảy ra thường xuyên hơn. Tôi không nghĩ rằng có thể định trước cho một kinh nghiệm trực giác, nhưng chắc chắn nền tảng để có được điều đó có thể được chuẩn bị, và để có được chúng ta phải học để an tĩnh thể trí và không để cho những suy nghĩ lộn xộn xâm nhập thiếu kiểm soát.

The Unitive Experience

Kinh nghiệm Hợp nhất

The transformation that comes through religious conversion begins at the same level, but it is much more encompassing. As in the case of St. Francis (and many others, such as Mother Teresa in our own times), it may come suddenly, but the whole life has been a preparation for this moment, when all of the energies — not only of body and mind, but of the spirit as well — are fused into a whole. In a flash the clouds dissolve, the barriers fall, and there comes an awakening to spiritual reality which penetrates and transforms every level, right through to the physical body.

Sự chuyển hóa thông qua những biến đổi tôn giáo bắt đầu ở cùng một mức độ, nhưng nó bao hàm ý nghĩa rộng lớn hơn nhiều. Như trong trường hợp của Thánh Francis (và nhiều người khác, như Mẹ Teresa trong thời đại chúng ta), nó có thể đến bất ngờ, nhưng toàn bộ cuộc đời đã là một sự chuẩn bị cho thời điểm này, khi tất cả năng lượng—không chỉ của cơ thể và tâm trí, mà của cả tinh thần—được hoà hợp thành một thể thống nhất. Trong chớp mắt, những đám mây che phủ tan biến, những rào cản được phá bỏ và có một sự thức tỉnh về thực tại tinh thần thâm nhập và biến đổi mọi cấp độ, ngay qua cơ thể vật lý.

But there are smaller openings of insight which fall short of such total conversion, yet give us glimpses into the nature of spiritual reality. When we see a beautiful landscape and feel ourselves to be a part of it, we have a sense of participating in a far greater whole than we have knowledge of. Many of us have the same sense when listening to music. The experience of beauty touches the heart, expanding the boundaries of the self to such a degree that it can truthfully be called a unitive experience — for one loses the feeling of being locked within oneself, or limited to the consciousness of the I.

Nhưng cũng có những thời điểm mở ra cái nhìn sâu sắc mà không có sự chuyển đổi hoàn toàn như vậy, cho chúng ta cái nhìn thoáng qua về bản chất của thực tính tinh thần. Khi ngắm nhìn một cảnh quan đẹp và thấy mình là một phần trong đó, chúng ta có cảm nhận mình tham dự vào một tổng thể lớn hơn nhiều so với những gì chúng ta vẫn biết. Nhiều người trong chúng ta có cùng cảm nhận như vậy khi nghe nhạc. Kinh nghiệm về vẻ đẹp chạm tới trái tim, mở rộng ranh giới của bản thể đến một mức độ có thể được gọi một cách thực sự là một kinh nghiệm hợp nhất—vì người ta mất đi cảm giác bị giam hãm trong chính mình, hay giới hạn trong tâm thức của cái tôi.

Meditation is not for all, but it is one of the gateways to this unitive experience. The interesting thing is that our feeling of expansion, which seems to include the whole world, is attained by withdrawing into the stillness within ourselves. Without and within are no longer opposed to one another. This happens because we quiet the turbulence of our emotional and mental life, which usually makes it impossible for us to “listen” to the stillness within. Thus we regain our sense of being part of a universal whole within which nothing is forgotten, no one left out.

Tham Thiền không dành cho tất cả mọi người, nhưng nó là một trong những cánh cổng mở ra trải nghiệm hợp nhất này. Điều thú vị là cảm giác mở rộng của chúng ta, dường như bao gồm cả thế giới, đạt được bằng cách thu hồi vào sự tĩnh lặng trong chính chúng ta. Bên ngoài và bên trong không còn đối nghịch. Điều này xảy ra vì chúng ta làm yên tĩnh sự hỗn loạn của cuộc sống tình cảm và tâm trí của mình, vốn vẫn làm cho chúng ta không thể “lắng nghe” sự tĩnh tại bên trong. Nhờ đó, chúng ta lấy lại cảm nhận là một phần của toàn thể vũ trụ, trong đó không có gì bị lãng quên, không loại trừ một thực thể nào.

When we experience this level of wholeness, we are drawing upon a different kind of energy, and this energy will slowly penetrate the other levels of consciousness. If meditation is habitual, the feeling of unity with the world is never entirely lost; it becomes the background of life. When we become conscious of this level, we are filled with new energies, and this can have a transforming effect. We experience this in different ways through meditation — sometimes as a rush of love and sympathy, sometimes as a clarity of mind, sometimes in visual images or symbols, sometimes as a release of creative imagination, sometimes as the ability to act out our deepest beliefs and convictions.

Khi trải nghiệm mức độ toàn vẹn này, chúng ta đang sử dụng một loại năng lượng khác, và năng lượng này sẽ dần thâm nhập vào các mức độ khác của tâm thức. Nếu tham thiền trở thành thói quen, cảm nhận hợp nhất với thế giới không bao giờ hoàn toàn biến mất; nó trở thành nền tảng cho cuộc sống. Khi nhận thức được mức độ này, chúng ta tràn đầy năng lượng mới, và điều này có thể có một hiệu ứng chuyển hóa. Chúng ta trải nghiệm điều này theo những cách khác nhau thông qua tham thiền—đôi khi nó giống như tình thương và sự cảm thông ào tới, đôi khi là sự rõ ràng của tâm trí, đôi khi nó đến như những hình ảnh hoặc biểu tượng, đôi khi là sự đột phá của trí tưởng tượng sáng tạo, hay là khả năng biểu đạt sự xác tín và niềm tin sâu sắc nhất của chúng ta.

Integration of All the Levels

Sự tích hợp của Tất cả các Cấp độ

The practice of meditation can therefore strengthen the potentialities innate within us. It can give us the ability to remain calm and stable throughout our difficulties. It can become so integrated into our lives that its presence influences everything we say and do. When we reach this stage, meditation is not only a formal practice for which we sit. It becomes a link that we can reestablish through a moment’s attention. Thus the higher energies which are awakened can become an active ingredient of daily life.

Thực hành tham thiền có thể tăng cường tiềm năng bẩm sinh trong chúng ta. Nó có thể cho chúng ta khả năng giữ bình tĩnh và ổn định qua những khó khăn của cuộc sống. Nó có thể hòa nhập vào cuộc sống của ta đến nỗi sự hiện diện của nó ảnh hưởng đến mọi điều chúng ta nói ra và hành động. Khi đến giai đoạn này, tham thiền không chỉ là một thực hành mang tính nghi lễ mà ta ngồi đó. Nó trở thành một liên kết mà chúng ta có thể tái thiết lập thông qua sự chú tâm vào từng thời điểm. Do đó các năng lượng cao hơn được đánh thức có thể trở thành một thành phần năng động trong cuộc sống hàng ngày.

Thus, slowly, energies of which we have been unaware are released, and become more active in us. When the mind and emotions have learned to be sensitive to the higher dimensions, these energies can be drawn upon as they are needed. As we become more attentive to them they become more real to us — a resource which has many practical uses. Through achieving a sense of unity with the inner, timeless self, we develop the will and the motivation to break old, restrictive patterns and rebuild ourselves — and it is we, ourselves, who have produced this transformation.

Do đó, một cách chậm rãi, năng lượng mà chúng ta không biết tới được giải phóng, và trở nên tích cực hơn trong ta. Khi tâm trí và cảm xúc học được cách nhạy cảm với các chiều cao hơn, những năng lượng này có thể được sử dụng khi cần thiết. Khi chúng ta chú ý đến chúng, chúng trở nên thật hơn đối với chúng ta—một nguồn lực với nhiều ứng dụng thực tế. Thông qua việc đạt được một sự thống nhất với nội tâm, bản ngã phi thời gian, chúng ta phát triển ý chí và động lực để phá vỡ những hình thái cũ hạn hẹp và tự xây dựng lại bản thân—và chính chúng ta, những người đã tạo ra sự chuyển đổi này.

If it is our firm intention to live in harmony with the whole of things, this intent cannot be confined to the few minutes a day we spend in meditation. It has to be brought through into every dimension of our consciousness, including the physical. Even when meditation is practiced regularly over a considerable period of time, it does not change us until it begins to permeate our action. But when this happens, our intention becomes a tool to help us handle our difficulties, a weapon to help us defeat our selfish impulses — most especially in the arena of interpersonal relations. When the sense of unity experienced in meditation persists throughout the day, our lives begin to reflect our spiritual aspirations. Our focus, then, is no longer limited to the narrow constraints of the personal self —the ego —for it has expanded into the universal dimension of the self which knows no boundaries.

Nếu có ý định vững chắc là sẽ sống hòa hợp với toàn bộ vạn vật, ý định này không thể bị giới hạn trong vài phút mỗi ngày khi chúng ta tham thiền. Nó phải được đưa vào trong mọi chiều đo của tâm thức của chúng ta, bao gồm cả thể vật lý. Ngay cả khi tham thiền được thực hành thường xuyên trong một thời gian dài, nó sẽ không làm thay đổi chúng ta cho đến khi nó bắt đầu thấm vào hành động của ta. Nhưng khi điều này xảy ra, ý định ban đầu sẽ trở thành công cụ giúp chúng ta giải quyết những khó khăn của mình, một vũ khí để giúp chúng ta đánh bại các xung động ích kỷ của ta—nhất là trong lĩnh vực quan hệ giữa các cá nhân. Khi cảm nhận về hợp nhất có được qua tham thiền tồn tại suốt cả ngày, cuộc sống của chúng ta bắt đầu phản ảnh những nguyện vọng tinh thần. Do đó, trọng tâm của chúng ta không còn giới hạn trong những ràng buộc hạn hẹp của bản ngã—vì nó đã mở rộng thành cái ngã mang chiều phổ quát, không ranh giới.

In this world, everything is connected with everything else. When, in our meditation, we begin to realize that the physical world is essentially one with —an expression of—spiritual reality, we have a deeper appreciation of the significance of human life. This can change us in the most profound sense, because our thoughts, our actions, everything we feel and do, will flow naturally from that understanding.

Trong thế giới này, vạn vật đều liên quan lẫn nhau. Khi thông qua tham thiền, chúng ta bắt đầu nhận ra rằng thế giới vật chất về cơ bản là một với thực tính tinh thần—và là một biểu hiện của nó, chúng ta có một cái nhìn sâu sắc hơn về tầm quan trọng của cuộc sống con người. Điều này có thể thay đổi chúng ta theo nghĩa sâu xa nhất, bởi vì mọi suy nghĩ, hành động của chúng ta, mọi thứ chúng ta cảm nhận và thực hiện, sẽ tự nhiên phản ánh sự hiểu biết đó.

We do not need to become saints or ascetics in order to begin this process of integration. It requires only a real intent, a serious commitment. Then, no matter how many mistakes we make, the stream of our daily life will be a continuation of our meditation, and our highest ideals will become an integral part of our action and our experience.

Chúng ta không cần phải trở thành những vị thánh hay bậc chân tu khổ hạnh để bắt đầu tiến trình hòa nhập này. Nó chỉ đòi hỏi một ước vọng thực sự, một cam kết nghiêm túc. Sau đó, bất kể chúng ta mắc phải bao nhiêu lỗi lầm, dòng chảy cuộc sống hàng ngày của chúng ta sẽ là sự tiếp nối những nỗ lực tham thiền của mình, và lý tưởng cao nhất của chúng ta sẽ trở thành một phần không thể tách rời của hành động và kinh nghiệm mà ta có.

This, the integration of the timeless with the personal self, is the goal—not only of the one who meditates but of everyone who searches for the true meaning of human life.

Sự tích hợp giữa cái vượt thời gian và bản ngã cá nhân chính là mục tiêu — không chỉ của người tham thiền mà còn của bất kỳ ai tìm kiếm ý nghĩa thực sự của cuộc sống con người.

14 Dr. Krieger's account of the development of this healing method was first pub­lished in her groundbreaking book, Therapeutic Touch, and has been followed by many other accounts. A simple, straightforward description of the procedures can be found in Therapeutic Touch, A Practical Guide, by Janet Macrae (Alfred A. Knopf, New York, 1988). Another book which might be of interest Is Spiritual Aspects of the Healing Arts, of which I am the Editor (Theosophical Publishing House. Wheaton, 111., 1985).