5. An Adolescent Girl— Một thiếu nữ
At adolescence, the shape of the aura is approaching the oval form of an adult, but still remains more rounded at the top and bottom. This is the picture of a normal, healthy girl about fifteen years of age who was experiencing all the doubts and uncertainties which are common to this stage of life.
Ở tuổi thanh thiếu niên, hình dạng của hào quang đang đến gần hình bầu dục của một người trưởng thành, nhưng vẫn còn khá tròn ở đỉnh và đáy. Đây là hình ảnh của một cô gái bình thường, khỏe mạnh, khoảng mười lăm tuổi, người đang trải qua tất cả những nghi ngờ và sự không chắc chắn vốn phổ biến trong giai đoạn này của cuộc đời.
You will see that the green band which represents one’s ability to put ideas and feelings into practice has now fully developed and extends to the edges of the aura. In her case, the band is fairly wide and somewhat dark in color, of a shade which indicates that she might have some artistic sensitivity. The blurred effect at the edges, as well as the wavy lines of pink, are due to the fact that she was as yet unable to distinguish between the things she did and the things she felt. At this time of life, dreams and yearnings are powerful, but still nebulous.
Bạn sẽ thấy rằng dải xanh tiêu biểu cho khả năng của một người đưa ý tưởng và cảm xúc vào thực tế đã được phát triển đầy đủ và kéo dài đến các rìa của hào quang. Trong trường hợp của cô, dải khá rộng và có màu tối, có sắc độ cho thấy cô có thể có một chút nhạy cảm về nghệ thuật. Hiệu ứng mờ ở các cạnh, cũng như các đường nét lượn sóng màu hồng, là do thực tế rằng cô vẫn chưa thể phân biệt giữa những gì cô đã làm và những gì cô cảm nhận. Vào thời điểm này của cuộc sống, ước mơ và khao khát là mạnh mẽ, nhưng vẫn còn mơ hồ.
At the very bottom of her aura, the dark blue overcast with gray indicates her form of selfishness or self-centeredness, which made her dislike interference and want her own way—again, not an unusual characteristic of teenagers. It is really a manifestation of a developing will, a drive to assert oneself. In the case of this girl, the emotion is mixed with strain, since she felt that she was not succeeding in being herself, and this made her ill at ease. She did not mean to be selfish, but the strain often made her so. The brown and green just above this dark blue band represent the more ordinary kind of selfishness which wants things, pleasures and so on. The lines of blue extending into the pink just above show that the strained, uneasy feelings she experienced extended even into the things she liked to do.
Ở dưới cùng của hào quang của cô, màu xanh lam sậm phủ màu xám cho thấy hình thức ích kỷ hoặc quan t6am bản thân, khiến cô không thích sự can thiệp và muốn theo cách riêng của mình—lần nữa, đây không phải là một đặc điểm bất thường của tuổi thiếu niên. Nó thực sự là biểu hiện của một ý chí đang phát triển, một động lực để tự khẳng định mình. Trong trường hợp của cô gái này, cảm xúc trộn lẫn với căng thẳng, vì cô cảm thấy rằng cô không thành công trong việc là chính mình, và điều này làm cô không thoải mái. Cô không có ý ích kỷ, nhưng sự căng thẳng thường khiến cô như vậy. Màu nâu và xanh lá ngay bên trên dải màu xanh lam đậm thể hiện sự ích kỷ thông thường hơn, vốn ham muốn sự vật, những thú vui, v.v… Các đường màu xanh mở rộng thành màu hồng ngay trên cho thấy những cảm giác căng thẳng, khó chịu mà cô trải qua mở rộng đến cả những điều cô thích làm.
The symbol of a horse’s head covering her feet is very interesting. It reflects her tremendous love of horses, but its violet color shows that this feeling went much deeper than a young girl’s usual fondness for riding, for it is a lower expression of the loftiest color in her aura. All her highest, even spiritual longings were in a sense precipitated into her feeling for horses, which symbolized her passion for freedom and for release from the difficulties and uncertainties of her life — difficulties, you understand, which were mostly in her own mind. However, at the time this picture was painted she was experiencing some friction at home, especially with her father, who tended to be quite domineering and set in his ways. The spirals on the left near the knees show a fairly long-lasting irritation with her parents.
Biểu tượng đầu con ngựa bao bàn chân cô rất đáng chú ý. Nó phản ánh tình yêu to lớn của cô với ngựa, nhưng màu tím của nó cho thấy cảm giác này sâu sắc hơn nhiều so với niềm đam mê thường thấy của một cô gái trẻ, vì nó là một biểu hiện thấp hơn của màu sắc cao quí trong hào quang của cô. Tất cả những khát khao cao cả nhất, thậm chí thiêng liêng nhất, của cô đều thể hiện trong tình cảm của cô với ngựa, vốn tượng trưng cho niềm đam mê của cô về tự do và để thoát khỏi những khó khăn và những điều không chắc chắn trong cuộc đời cô—những khó khăn, bạn có thể hiểu, chủ yếu nằm trong tâm trí của cô. Tuy nhiên, vào thời điểm bức tranh này được vẽ cô đã trải qua một số va chạm ở gia đình, đặc biệt là với cha cô, những người có xu hướng khá độc đoán và áp đặt theo cách của mình. Các xoắn ốc bên trái gần đầu gối cho thấy một sự bực bội kéo dài với bố mẹ cô.
The little scene which appears in her green band bears this out, for it might be described as a dream of action and of freedom. Whenever she was upset or unhappy, she would visualize herself on horseback, unfettered and free, galloping on and on through wild and open country with nothing and no one to hinder her. It is a symbol of revolt against her present circumstances — a symbol which is complemented by a sort of blue whirl, also in the green band, caused by her desire to do things and her frustration because she did not know how or where to begin.
Một cảnh nhỏ xuất hiện trong dải màu xanh của cô xác nhận điều này, vì nó có thể được mô tả như một giấc mơ của hành động và tự do. Bất cứ khi nào cô buồn hoặc không hài lòng, cô sẽ tưởng tượng mình trên lưng ngựa, thoải mái tự do, phi ngựa khắp vùng quê hoang dã và rộng mở mà không có ai hoặc điều gì ngăn trở cô được. Đó là một biểu tượng của cuộc nổi dậy chống lại hoàn cảnh hiện tại của cô—một biểu tượng được bổ sung bởi một loại xoáy màu xanh lam, cũng trong dải màu xanh lá, gây ra bởi mong muốn của cô được làm việc và sự thất vọng của cô bởi vì cô không biết làm thế nào và bắt đầu từ đâu.
She was really an affectionate girl, as you can see from the large area of pink in her aura, but even while going out to others she was apt to hold herself in check. Just now her emotions were all mixed up with the things she was thinking about, and this tended to confuse her. She was not completely alive to reality, for she still lived partly in a dream world. There is a good deal of yellow-green in her aura, which shows she had considerable capacity for both artistic and in-tellectual achievement if she could bring her faculties into balance, which was certainly not the case at the time. Just then her mind, which was essentially excellent, was to some extent blocked by her chaotic emotions.
Cô thực sự là một cô gái tình cảm, như bạn có thể nhìn thấy từ một mảng màu hồng lớn trong hào quang của cô, nhưng ngay cả khi đi ra ngoài với những người khác, cô cũng có khuynh hướng tự kiểm soát mình. Ngay bây giờ, tất cả cảm xúc cô được trộn lẫn với những gì cô đang nghĩ, và điều này có xu hướng làm cô nhầm lẫn. Cô không hoàn toàn sống động với thực tại, vì cô vẫn sống phần nào trong thế giới mơ mộng. Có rất nhiều màu vàng-xanh lá trong hào quang của cô, cho thấy cô có khả năng đáng kể về thành tựu nghệ thuật và trong trí tuệ nếu cô có thể đưa các năng lực mình vào sự cân bằng, và điều này chắc chắn không phải như thế vào thời điểm đó. Lúc đó, tâm trí của cô trong bản chất là tuyệt vời, nhưng đã bị ngăn trở bởi những cảm xúc hỗn độn của cô.
All this is borne out by the yellow above the green band. The blue- green on the opposite side, whose color is reflected in her green band, shows her feeling for beauty, and again suggests she might have some potential artistic ability. The pale lavender-pink above is a mixture of affection and an aspiration for freedom and self-identity.The combination, in her, would probably take the form of a deep feeling for nature and for living things when she was older, and a generous de-sire to help people as much as she could.
Tất cả điều này được xác nhận bởi màu vàng trên dải màu xanh lá. Màu xanh lam-xanh lá ở phía đối diện, mà màu sắc được phản chiếu trong dải màu xanh lá của cô, cho thấy cảm giác của cô về vẻ đẹp, và một lần nữa cho thấy cô có thể có một số khả năng nghệ thuật tiềm tàng. Màu hồng-màu hoa oải hương nhạt phía trên là sự kết hợp của tình cảm và sự khao khát được tự do và tự nhận thức. Sự kết hợp này trong cô có lẽ sẽ mang hình thức một tình cảm sâu sắc đối với thiên nhiên và những sinh vật khi cô lớn lên, và lòng ham muốn to lớn giúp mọi người càng nhiều càng tốt.
You will note that her karmic indicators are smaller than those in the younger children, and that they have moved to the edges of her aura. Moreover, the shape has changed; the whirls are less compact, more unfolded, and their nuclei are open and almost triangular in shape. This is because much of their energy has already been absorbed into the aura. However, I could still perceive that although her affections would always be strong, her innate reticence would make it difficult for her to express them. There are also indications that she might be inhibited in some ways from fully realizing her innate capacities.
Bạn sẽ lưu ý rằng các chỉ báo nghiệp quả của cô nhỏ hơn so với những chỉ báo ở những đứa trẻ nhỏ hơn, và rằng chúng đã chuyển đến cạnh của hào quang. Hơn nữa, hình dạng đã thay đổi; các xoáy kém nhỏ gọn, mở rộng hơn, và tâm của chúng mở rà có hình dạng gần như tam giác. Điều này là bởi vì phần lớn năng lượng của chúng đã được hấp thu vào hào quang. Tuy nhiên, tôi vẫn có thể nhận ra rằng mặc dù tình cảm của cô luôn mạnh mẽ, sự kín đáo bẩm sinh của cô sẽ khiến cô khó thể hiện chúng. Cũng có những dấu hiệu cho thấy cô có thể bị ức chế theo một vài đường lối trong việc thực hiện đầy đủ năng lực bẩm sinh của cô.
At this age, young people are very often a mixture of uncertainty and assertiveness, in revolt against their parents, wanting their own way, and not at all sure what that way might be. This aura, therefore, is of interest because it is fairly typical of the state of mental and emotional flux which characterizes adolescence.
Ở lứa tuổi này, người trẻ tuổi thường là một trộn lẫn giữa sự không chắc chắn và quyết đoán, trong sự nổi dậy chống lại cha mẹ của họ, họ muốn theo cách riêng của mình, nhưng không chắc chắn về cách đó sẽ thế nào. Do đó, hào quang này đáng quan tâm bởi vì nó khá điển hình của trạng thái trí tuệ và tình cảm đặc trưng cho thanh thiếu niên.
I have not kept in touch with this girl through the years, but I have learned from her friends that although she broke with her parents upon her marriage, they became reconciled later in life, and she cared for her mother in old age. However, she and her parents were never really close, and she refused to accept their ideas or ideals as her own. Nor did she ever realize her dream of a life in which horses would play an important part. Nevertheless, her life was successful in that she did achieve her desire for independence. As a result, she became a well-adjusted and much happier person, with a good marriage and a pleasant family life.
Tôi đã không giữ liên lạc với cô gái này qua nhiều năm, nhưng tôi biết được từ bạn bè của cô rằng mặc dù cô đã rời bỏ cha mẹ khi kết hôn, họ đã hòa giải sau này trong cuộc đời, và cô chăm sóc cho mẹ cô khi tuổi già. Tuy nhiên, cô và bố mẹ cô đã không bao giờ thực sự gần gũi, và cô từ chối chấp nhận những ý tưởng hay lý tưởng của họ như là của riêng cô. Cô cũng không bao giờ nhận ra ước mơ của mình về một cuộc sống mà trong đó ngựa đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, cuộc đời của cô đã thành công vì cô đã đạt được ước muốn độc lập của cô. Kết quả là, cô trở thành một người cân bằng và hạnh phúc hơn, với một cuộc hôn nhân tốt đẹp và một cuộc sống gia đình dễ chịu.
Maturity
Trưởng thành
To illustrate the changes that take place in the aura when an individual reaches maturity, I have chosen two examples, a man and a woman, each of whom was at the time a well-balanced, active individual in the prime of life. You will see at once that the auras of adults are on the whole quite complex, since by the time one has become adult a variety of past experiences have left their mark, and often influenced the tenor of one’s life.
Để minh họa cho những thay đổi xảy ra trong hào quang khi cá nhân trưởng thành, tôi đã chọn hai ví dụ, một người đàn ông và một người phụ nữ, mỗi người đều là một cá nhân cân bằng, năng động trong giai đoạn đầu của cuộc đời. Bạn sẽ thấy ngay rằng hào quang của người trưởng thành là khá phức tạp, bởi vì khi đã trưởng thành một loạt các kinh nghiệm trong quá khứ đã để lại dấu ấn của chúng và thường ảnh hưởng đến phương hướng của cuộc đời.
Both of these individuals had certain talents and interests; both were busy pursuing their careers, as is normal at that time of life. Their experiences were very different, yet they had in common a characteristic which probably sets them apart from what we might call the ordinary man or woman in the street. While neither was religious in the strict sense of the word, in their different ways they were both idealists who aspired to put ethical principles to work in their lives. The results of these interests, however, show up differently in their auras, since their lives, their characters and their karma were entirely different.
Cả hai người đều có những tài năng và sở thích nhất định; cả hai đều bận rộn theo đuổi sự nghiệp của mình, điều bình thường ở giai đoạn đó của đời sống. Những trải nghiệm của họ rất khác nhau, tuy nhiên họ có một đặc điểm chung có thể khiến họ khác những gì mà chúng ta có thể gọi là người đàn ông hay đàn bà bình thường trên đường phố. Mặc dù không phải là tín đồ tôn giáo theo nghĩa nghiêm ngặt của từ này, theo những cách thức khác nhau của họ, cả hai đều là những người lý tưởng khao khát đưa các nguyên tắc đạo đức thể hiện trong cuộc sống của họ. Tuy nhiên, kết quả của những mối quan tâm này xuất hiện khác biệt trong hào quang của họ, vì cuộc sống, tính cách và nghiệp quả của họ hoàn toàn khác nhau.
6. An Artist in Her Thirties—Một Nữ Nghệ Sĩ ở Tuổi Ba Mươi
The first thing we note is that this is a fully developed aura in which all the characteristics described in Chapter IV are visible. Since this is a person who was actively engaged in pursuing her career, the potentialities represented in the upper part of her aura are reflected in the lower part, which expresses what she was doing and feeling at the time. This symmetry is indicative of a well-balanced individual who was using her abilities quite freely.
Điều đầu tiên chúng ta lưu ý là đây là một hào quang phát triển đầy đủ, trong đó có thể nhìn thấy tất cả các đặc điểm được mô tả trong Chương IV. Vì đây là một người tích cực theo đuổi sự nghiệp của mình, những tiềm năng được thể hiện ở phần trên của hào quang của cô được phản ánh ở phần dưới, thể hiện những gì cô đang làm và cảm nhận vào thời điểm đó. Sự đối xứng này cho thấy một cá thể cân bằng, những người đã sử dụng khả năng của mình một cách tự do.
This is the aura of a practicing artist who had earned her living for some years through the exercise of her talent. If I had not known this to be the case, I should have perceived it at once because of the width, shade and luminosity of her green band — all of which indicate that she was a skilled artist, with a good degree of coordination between eye and hand, or perception and performance. She was, in fact, earning her living in the field of applied arts, and had been doing so for some years, having worked successfully in a number of different media: she painted, but she also made stained glass, and she was even a good carpenter. Thus she was both practical and versatile. All this shows up in her green band, and in the fact that it extends lower down in the aura than is usually the case.
Đây là hào quang của một nghệ sĩ thực hành, người đã kiếm sống bằng tài năng của mình trong nhiều năm. Nếu tôi không biết điều này, tôi có thể nhận ra ngay vì bề rộng, sắc độ và độ sáng của dải màu xanh lá cây—tất cả đều cho thấy cô là một nghệ sĩ có năng khiếu, với sự mức độ phối hợp giữa mắt và tay, hoặc giữa nhận thức và trình diễn. Thực ra, cô kiếm sống bằng nghề nghệ thuật ứng dụng, và đã làm như vậy trong nhiều năm, đã làm việc thành công trong một số phương tiện truyền thông khác nhau: cô vẽ, nhưng cô cũng làm kính màu, và cô thậm chí còn là thợ mộc giỏi. Vì vậy cô vừa thực tế vừa đa năng. Tất cả điều này xuất hiện trong dải màu xanh lá cây của cô, và thực tế là nó kéo dài xuống thấp hơn trong hào quang so với thông thường.
The bottom of the aura is tinged with the brown of selfishness, or self-centeredness. This is almost instinctual in human beings, since it seems to be present in everybody in one form or another. Appearing at the extreme bottom, as it does here, the selfishness is more a kind of inherent or latent desire to be oneself, or to have the things that make it possible to be oneself, rather than an egotistical desire to be the center of one’s world.
Phần dưới của hào quang được pha trộn với màu nâu của sự ích kỷ, hoặc sự quan tâm bản thân. Điều này gần như là bản năng của con người, vì nó dường như có mặt ở mọi người dưới hình thức này hoặc hình thức khác. Xuất hiện ở tận cùng của phần đáy như ở đây, tính ích kỷ thuộc loại ham muốn cố hữu hoặc tiềm ẩn để là chính mình, hoặc có những điều khiến mình có thể trở thành chính mình, chứ không phải là ham muốn là trung tâm của thế giới xung quanh mình.
The lowest part of the aura contains the residue of our experience in early life; that which lies below the feet has mostly passed out of our consciousness but may affect us in unconscious ways. Even as a child, this woman experimented with different ways of doing things, as shown by the large area of green around her feet. When green is mixed with the brown, as it is here, this indicates confusion, born of the desire to express oneself in some way without knowing how to do it. (Something similar was seen in the adolescent girl.) The whirls at the bottom result from her childish yearnings, as she was apt to mull things over and over within herself. The blue cross is caused by her dreams as a child, which were often frightening, but also by her vague aspirations to realize and express the highest part of her nature.
Phần thấp nhất của hào quang chứa đựng những gì sót lại của kinh nghiệm của chúng ta trong phần đầu của cuộc đời; những gì nằm dưới bàn chân phần lớn đã thoát ra khỏi ý thức của chúng ta nhưng có thể ảnh hưởng đến chúng ta một cách vô thức. Ngay cả khi còn nhỏ, người phụ nữ này đã thử nghiệm những cách khác nhau để làm việc, như thể hiện qua vùng màu xanh lá cây xung quanh chân. Khi màu xanh lá cây được pha trộn với màu nâu, như ở đây, điều này cho thấy sự nhầm lẫn, sinh ra từ mong muốn thể hiện mình bằng một cách nào đó mà không biết làm thế nào để làm điều đó. (Một điều gì đó tương tự đã xảy ra ở cô gái thanh thiếu niên). Những xoáy ốc ở phần đáy là hậu quả của những khao khát trẻ con của cô, vì cô có khuynh hướng suy nghĩ tới lui trong bản thân mình. Chữ thập màu xanh là do những giấc mơ của cô khi còn nhỏ, thường rất ghê sợ, nhưng cũng bởi những khát vọng mơ hồ của cô để nhận ra và thể hiện phần cao nhất của bản chất cô.
The other yellow and green whirls, which are somewhat higher up in her aura, are reflections of experiences which she had during adolescence and early youth. Their colors indicate that she had undergone some worry and frustration in connection with what she wanted to do with her life. The red corkscrew shape must have been caused by an episode in which her affections were engaged, but it was painful to her and made her feel trapped. The drop-like formation on the left results from a more idealized affair of the heart which was pleasant rather than painful, and may not even have been a conscious involvement. When configurations like these appear somewhat higher in the aura, this shows that they were more recent, for as I have said, the lower part of the aura reflects time past as well as growth and present activity.
Các xoáy ốc màu vàng và xanh lá cây, hơi cao hơn trong hào quang của cô, là phản ánh của những kinh nghiệm mà cô đã có trong thời thanh thiếu niên. Màu sắc của chúng cho thấy cô đã trải qua một số lo lắng và thất vọng liên quan đến những gì cô muốn làm với cuộc sống của mình. Hình cái mở nút chai màu đỏ được gây ra bởi câu chuyện mà trong đó cô gắn bó tình cảm, nhưng nó đã làm cô đau đớn và khiến cô cảm thấy bị gài bẫy. Hình thể dạng giọt nước ở bên trái được tạo ra một quan hệ lý tưởng hơn trong trái tim, dễ chịu hơn là đau đớn, và có thể thậm chí không phải là một sự quan hệ có ý thức. Khi các cấu hình giống như chúng xuất hiện ở phần cao hơn, điều này cho thấy chúng gần đây hơn, như tôi đã nói, phần dưới của hào quang phản ánh thời gian đã qua, cũng như tăng trưởng và hoạt động hiện tại.
At the time the picture was painted, this young woman was concentrated on her art and on earning her living by this means. But she was also interested in metaphysical ideas, and in the relationship between art and ideal forms, such as those described by Plato. Thus she had a strong feeling for order and was also developing what might be called a symbolic turn of mind, which she was seeking to express. The yellow which appears in two places at the top of her aura indicates this intellectual search, as well as an aspiration to understand something of the laws of nature.
Vào thời điểm vẽ bức tranh, người phụ nữ trẻ này tập trung vào nghệ thuật của cô và kiếm sống bằng phương tiện này. Nhưng cô cũng quan tâm đến các ý tưởng siêu hình, và đến mối quan hệ giữa nghệ thuật và các hình thức lý tưởng, như những gì được Plato mô tả. Vì vậy cô đã có một cảm giác mạnh mẽ về trật tự và cũng đang phát triển những gì có thể được gọi là sự xoay chuyển tượng trưng của tâm trí mà cô muốn thể hiện. Màu vàng xuất hiện ở hai nơi trên đỉnh của hào quang cho thấy sự tìm kiếm trí tuệ này, cũng như khát vọng hiểu phần nào đó các luật của tự nhiên.
The figures within her green band reflect her interest in dynamic symmetry, which was somewhat in vogue at that period. She was trying to understand the geometric principles basic to form and structure, in both nature and art. These would not be a permanent feature of her aura, for as her attention and interest shifted to other things they would gradually fade away. At the moment she was completely focused on bringing her artistic training to bear on her work, and also on realizing in her artwork the principles of form which she found of so much interest.
Những hình trong dải màu xanh của cô phản ánh sự quan tâm của cô đối với sự đối xứng năng động, điều đó đã phần nào nổi bật trong giai đoạn đó. Cô đã cố gắng để hiểu các nguyên tắc hình học cơ bản của hình thể và cấu trúc, trong cả tự nhiên và nghệ thuật. Đây không phải là một đặc điểm thường trực của hào quang của cô, bởi khi sự chú ý và quan tâm của cô chuyển sang những thứ khác chúng dần mất đi. Vào thời điểm đó, cô đã hoàn toàn tập trung vào việc đào tạo nghệ thuật để thực hiện công việc của cô, đồng thời thực hiện trong các tác phẩm nghệ thuật của cô các nguyên tắc của hình thể mà cô đã quan tâm rất nhiều.
The purple splash just below the green band is an unusual color to find in that part of the aura. It shows her efforts to bring her intuitive faculty into expression in physical life. The corresponding patch of yellow on the opposite side represents a similar effort to bring her mind to bear upon her physical experience, but the color is not quite so clear as the purple, showing that she had been less successful in this effort.
Vết màu tím bên dưới dải màu xanh lá cây là một màu không bình thường thấy trong phần hào quang đó. Nó cho thấy những nỗ lực của cô để đưa khả năng trực quan của cô vào biểu hiện trong đời sống thể xác. Mảng tương tự màu vàng ở phía đối diện cho thấy một nỗ lực tương tự để đưa tâm trí đến kinh nghiệm thể chất của cô, nhưng màu sắc không rõ ràng như màu tím, cho thấy cô đã không thành công trong nỗ lực này.
Another interesting configuration in this aura is the pink flame within the yellow which denotes her faculty of mind. It is caused by a feeling of admiration and respect for someone who had stimulated her intellectual interests, particularly in the study of archetypal forms. This, plus the juxtaposition of the pink and yellow with the blue-violet on the opposite side, shows that she liked to think, and also that she had a tremendous desire to be able to use her intuitional mind. The paleness of the color, however, shows that while she had the innate capacity, she was not exercising it very much at the time. The streaks of blue-green on one side, and blue on the other, relate to her perception of beauty as a high ideal, in the Platonic sense, and to her feelings of devotion to this ideal.
Một cấu hình thú vị khác trong hào quang này là ngọn lửa màu hồng bên trong màu vàng biểu thị trí tuệ của cô. Nó là do cảm xúc ngưỡng mộ và tôn trọng ai đó đã kích thích sự quan tâm trí tuệ của cô, đặc biệt là trong việc nghiên cứu các hình thể nguyên mẫu. Điều này, cộng với sự gần gũi của màu hồng và màu vàng với màu xanh lam- tím ở phía đối diện, cho thấy rằng cô thích suy nghĩ, và cũng cho thấy rằng cô có một ước muốn to lớn để có thể sử dụng trí trực giác của mình. Tuy nhiên, sự mờ nhạt của màu sắc cho thấy rằng trong khi cô có năng lực bẩm sinh, cô đã không sử dụng nó nhiều lắm vào thời điểm đó. Các vệt xanh lục ở một bên, và màu xanh dương ở bên kia, liên quan đến nhận thức của cô về vẻ đẹp như là một lý tưởng cao siêu, theo ý nghĩa Platonic, và cảm xúc tận tụy của cô với lí tưởng này.
Although there is a good deal of pink in the upper part of the aura, which shows that she had an affectionate nature, this is not reflected so considerably below the green band. It seems that at that time she had no close personal relationships except with her brother and her mother.
Mặc dù có nhiều màu hồng ở phần trên của hào quang, điều đó cho thấy rằng cô có bản chất tình cảm, điều này không được phản ánh một cách đáng kể so với dải màu xanh lá cây. Có vẻ như rằng vào thời điểm đó cô không có mối quan hệ cá nhân gần gũi, ngoại trừ với anh trai và mẹ cô.
Summing up my impressions, I felt that this was a person who should always enjoy good health, so well-balanced was her aura, and so free her expression on the physical plane.
Tổng kết những ấn tượng của tôi, tôi cảm thấy rằng đây là một người luôn có sức khỏe tốt, hào quang thật cân bằng, và sự thể hiện của cô thật tự do trên cõi trần.
Later in life this young woman moved to the West Coast, where she continued to earn her living in various artistic fields. Subsequently she had to give up her painting, for her mother became ill and entirely dependent upon her. Thus her personal karma prevented her from realizing all her hopes with respect to her art. She accepted this situation very courageously, and became increasingly close to her mother, so that her potential for warm and affectionate relationships did develop further. She never married, but lived quietly until she was in her eighties, enjoying good health, and retaining her balanced outlook and serene disposition.
Sau này trong cuộc đời cô gái trẻ chuyển đến bờ biển phía Tây, nơi cô tiếp tục kiếm sống bằng nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Sau đó, cô đã phải từ bỏ nghề vẽ tranh của cô, vì mẹ cô đã bị bệnh và hoàn toàn phụ thuộc vào cô. Do đó nghiệp quả của cô ngăn cản cô thực hiện tất cả những hy vọng của cô đối với nghệ thuật. Cô chấp nhận tình huống này một cách rất can đảm, và trở nên gần gũi hơn với mẹ, để tiềm năng của cô về những mối quan hệ ấm áp và tình cảm phát triển thêm. Cô chưa bao giờ lập gia đình, nhưng sống lặng lẽ cho đến khoảng tuổi tám mươi, có sức khoẻ và giữ được quan điểm cân bằng và thái độ thanh thản.
7. A Man in His Forties—Một Thanh Niên Ở Tuổi Bốn Mươi
This is the portrait of a vigorous man in his prime, who was about forty-five years of age. His potentials were well-developed, and he was in the midst of an active life, with all its attendant difficulties and problems. This is indicated by the strong coloration of the aura, especially in the lower part. The darkness of the colors also signifies that he was a self-contained, reticent person who did not share his feelings with others easily. This was a man of strong character, and of powerful emotions which sometimes pulled him in different directions, for he had high ideals which he was determined to live by, and they created conflicts in him.
Đây là bức chân dung của một người đàn ông mạnh mẽ trong độ tuổi đẹp nhất của mình, khoảng bốn mươi lăm tuổi. Tiềm năng của ông đã phát triển tốt, và ông đã có một cuộc sống năng động, với tất cả các khó khăn và các vấn đề đi cùng nó. Điều này được biểu thị bằng màu sắc mạnh của hào quang, đặc biệt là ở phần dưới. Sắc tối của màu sắc cũng cho thấy ông là một người khép kín, kín đáo, người không chia sẻ cảm xúc với người khác một cách dễ dàng. Đây là một người đàn ông có tính cách mạnh mẽ, và những cảm xúc mạnh mẽ đôi khi kéo ông theo những hướng khác nhau, vì ông có những lý tưởng cao cả mà ông quyết tâm sống cùng, và chúng tạo ra những mâu thuẫn trong ông.
At the top of his aura, the large areas of blue indicate the potentiality of a deeply religious, devotional nature. Within this, the different shades of blue, particularly the one with a purple hue, show that he would always seek an ordered or ritualistic approach to spirituality; his ideal would be the kind of moral order which could create a world of perfect justice, reflecting spiritual principles and values.
Ở đỉnh hào quang của ông, những vùng rộng lớn màu xanh lam cho thấy tiềm năng của một bản chất về tôn giáo, sùng tín sâu sắc. Bên trong đó, các sắc độ xanh lam khác nhau, đặc biệt với sắc lam pha chút màu tím, cho thấy ông luôn tìm cách tiếp cận theo trật tự hoặc nghi thức đối với tâm linh; lý tưởng của ông sẽ thuộc loại trật tự đạo đức có thể tạo ra một thế giới công lý hoàn hảo, phản ánh các nguyên lý và giá trị tinh thần.
The yellow above the green band shows that he was thoughtful and had a good mind, but he was not an intellectual. In his case, the yellow is merging into a yellow-green just below it, which in turn impinges upon his green band. All these juxtapositions show that he was consciously trying to develop more open, sympathetic relationships with people. The pink whirls in this yellow-green color result from his efforts to understand how he could apply what he was studying to his own life, as altruistic goals. These efforts were often tinged with annoyance. They are representative of the kind of mixed feelings so many of us experience, for it is quite possible to feel two diametrically different emotions at the same time. In his case, there was a combination of irritation with a genuine desire to do the best he could, and to be helpful to others.
Màu vàng bên trên dải màu xanh lá cho thấy ông hay suy nghĩ và có một tâm trí tốt, nhưng ông không phải là người trí thức. Trong trường hợp của ông, màu vàng hòa với màu vàng-xanh lá ngay dưới nó, và màu này đến lượt nó lại chạm đến dải xanh của ông. Tất cả những màu đặt cạnh nhau này cho thấy ông đã có ý thức cố gắng để phát triển mối quan hệ cảm thông cởi mở hơn với mọi người. Những xoáy ốc màu hồng trong mảng màu xanh lá-vàng là kết quả từ những nỗ lực của ông để hiểu làm thế nào ông có thể áp dụng những gì ông đã học tập vào cuộc sống của mình, như những mục đích vị tha. Những nỗ lực này thường nhuộm với chút bực dọc. Chúng đại diện cho loại cảm xúc hỗn hợp mà rất nhiều người trong chúng ta rất có thể trải nghiệm hai cảm xúc trái ngược nhau cùng một lúc. Trong trường hợp của ông, có một sự kết hợp của sự cáu kỉnh với một mong muốn thật sự để làm điều tốt nhất có thể, và để có ích cho người khác.
His green band is not particularly wide, and its yellowish tinge indicates that physical work was not his metier. He was, in fact, not very clever with his hands, although he would have liked to have been. He occasionally tried to perform some task that required physical skill, such as a bit of carpentry, but without too much success. The patterns of yellow and pink which stretch throughout his green band are another reflection of his fundamental orientation toward order. They represent his work, which was methodical and regulatory, utilizing his natural tendency to think in a systematic way and to establish order and system in whatever he was doing. The fact that half these patterns are pink, rather than yellow, shows that he was trying to express affection and friendliness towards others. He was always eager to help the causes he supported, especially in organizational ways, which was where his talents lay.
Dải màu xanh lá của ông không phải rộng lắm, và chút ửng vàng của nó chỉ ra rằng công việc tay chân không phải sở trường của ông. Thực ra, ông không khéo léo với đôi bàn tay của mình, mặc dù ông từng thích điều này. Ông thỉnh thoảng cố gắng thực hiện một công việc đòi hỏi kỹ năng thể chất, chẳng hạn như nghề mộc, nhưng không thành công lắm. Các mẫu màu vàng và màu hồng trải dài khắp dải màu xanh lá của ông là một sự phản chiếu khác về định hướng cơ bản của ông về trật tự. Chúng đại diện cho công việc của ông, có phương pháp và quy định, sử dụng khuynh hướng tự nhiên của ông để suy nghĩ một cách có hệ thống và để thiết lập trật tự và hệ thống trong bất cứ điều gì ông đã làm. Thực tế là một nửa các mẫu này có màu hồng, chứ không phải màu vàng, cho thấy rằng ông đã cố gắng thể hiện tình cảm và thân thiện với người khác. Ông luôn sốt sắng muốn giúp đỡ những nguyên nhân mà ông ủng hộ, đặc biệt là về mặt tổ chức, nơi mà tài năng của ông nằm ở đó.
Looking at the reflections of the past in the lower part of his aura, it is apparent that this man must have had a very difficult childhood, surrounded by people of strong, even violent, emotions. The sediment of reddish brown at the very bottom of his aura, which has an overlay of gray, shows the repercussions on him of strong feelings which boiled up around and even within him as a child, although he tried to resist them. Though the violence was not directed at him, he suffered from it, as children do. The small, tight whirls within this color are remnants of his early painful experiences, for the scenes that he witnessed were a shock to his nervous system and affected him deeply. The reddish brown color also indicates that in his youth he loved pleasure and luxury, and put a high value upon having the good things of life —an attitude which he had largely outgrown.
Nhìn vào những phản chiếu của quá khứ ở phần dưới của hào quang, rõ ràng là người đàn ông này phải có một tuổi thơ rất khó khăn, bao quanh bởi những người có cảm xúc mãnh liệt, thậm chí bạo lực. Những trầm tích màu nâu đỏ ở dưới cùng của hào quang, có lớp phủ xám, cho thấy ảnh hưởng của những cảm xúc mạnh mẽ đã sôi sục xung quanh, và thậm chí là bên trong ông, khi ông còn nhỏ, mặc dù ông cố chống lại chúng. Mặc dù bạo lực không nhắm vào ông, ông đã chịu đựng nó như những đứa trẻ phải chịu. Những lốc xoáy nhỏ, hẹp, trong màu này là những tàn tích của những trải nghiệm đau đớn tuổi thơ của ông, vì những cảnh ông chứng kiến là một cú sốc cho hệ thống thần kinh và ảnh hưởng sâu sắc đến ông. Màu nâu đỏ cũng chỉ ra rằng trong thời thơ ấu của ông, ông thích sự vui chơi và sang trọng, coi trọng việc có những của cải tốt đẹp của đời sống—một thái độ mà ông đã phần lớn vượt qua.
The snake-like form below his feet is not only a symbol of recurrent nightmares, but also an indication that some of the people close to him as a child were filled with hostility, and quarreled bitterly in his presence. The cross also indicates fear and conflict, but in this case such feelings were connected with his religious upbringing. These symbolic forms are low in the aura, below the feet, which means that they were related to his early life, but even so, they are marks which he continued to bear as an adult.
Hình thể giống con rắn ở dưới bàn chân không chỉ là biểu tượng của những cơn ác mộng tái diễn, mà còn là dấu hiệu cho thấy một số người gần gũi với ông khi còn nhỏ đã đầy sự thù hằn, cãi vả cay độc trước sự hiện diện của ông. Hình chữ thập cũng chỉ ra sự sợ hãi và mâu thuẫn, nhưng trong trường hợp này, những cảm giác đó liên quan đến việc giáo dục tôn giáo của ông. Những hình biểu tượng này nằm ở phần thấp của hào quang, dưới bàn chân, có nghĩa là chúng liên quan đến cuộc sống tuổi thơ của ông, nhưng thậm chí dù như vậy, đó là dấu hiệu mà ông tiếp tục chịu đựng khi trưởng thành.
The bands of green and purplish red on the lower right side of the picture result from activities which aroused very strong feelings in him. In his youth he was quite rebellious, and he aligned himself with the revolutionary movement in Russia, which in those early days was filled with idealists who were charged with zeal for human betterment. The red bands show that he must have been associated with violent acts, but the fact that they alternate with bands of green indicates that his motivation was sympathy for human suffering, and that he believed he was helping people. As these bands reach quite high up in his aura, the emotions connected with them had not entirely disappeared; he still could be aroused to anger by what he perceived as social injustice.
Các dải màu xanh lá cây và màu đỏ tía ở phía dưới bên phải của bức tranh là kết quả của những hoạt động gây ra những cảm xúc rất mạnh mẽ trong ông. Vào thời thơ ấu, ông khá nổi loạn, và ông đã tự mình đi theo phong trào cách mạng ở Nga, trong những ngày đầu đó đã tràn ngập những người theo chủ nghĩa duy tâm bị cáo buộc vì nhiệt tình nhằm cải thiện nhân sinh. Các dải màu đỏ cho thấy ông phải có liên quan đến hành động bạo lực, nhưng sự kiện chúng xen kẻ với các dải xanh cho thấy động lực của ông là sự thông cảm cho sự đau khổ của con người, và ông tin rằng ông đang giúp đỡ mọi người. Vì các dải này vươn đến mức khá cao trong hào quang, những cảm xúc liên quan đến chúng đã không hoàn toàn biến mất; ông vẫn còn có thể bị kích động giận dữ trước những gì ông coi là bất công xã hội.
The dark blue next to these bands is a religious feeling, which partly reflects the blue high up in his aura. It shows that in his youth he was searching for some kind of spiritual movement which he could feel was authentic, but that his search was half-hearted and without real conviction. It was only much later in his life that he found what he was looking for.
Màu xanh lam đậm bên cạnh những dải này là một cảm giác tôn giáo, phản ánh phần nào màu xanh dương nằm bên cao trong hào quang của ông. Nó cho thấy rằng trong tuổi thanh niên ông đã tìm kiếm một số phong trào tinh thần mà ông có thể cảm thấy là chân thực, nhưng rằng tìm kiếm của ông đã thiếu thực tâm và không có sự xác tín thực sự. Chỉ sau này trong cuộc đời ông mới tìm thấy những gì ông đang tìm kiếm.
There is also blue on the opposite side of his aura, but of an entirely different color. The fact that it lies outside the pink of affection, at the edge of the aura, shows that he was inhibited in the expression of his feelings. He was really an affectionate man, and wanted to be kind and generous to those he loved, but he found it very difficult to be spontaneous and express his feelings openly.
Ngoài ra còn có màu xanh lam ở phía đối diện của hào quang, nhưng một màu hoàn toàn khác. Sự kiện là nó nằm ngoài màu hồng của lòng lân cảm, ở rìa của hào quang, cho thấy rằng ông đã bị ức chế trong biểu hiện của cảm xúc của mình. Ông thực sự là một người đàn ông tình cảm, muốn từ ái và rộng rãi với những người ông thương mến, nhưng ông thấy rất khó khăn để tự nhiên và thể hiện tình cảm của mình một cách công khai.
The large orange plume seems to grow out of this color. You will see such formations in other auras, and they are always related to pride, self-confidence and self-esteem. This particular plume is somewhat loose and fluffy, which shows that he was not fixed in his conviction of being right, but that he had confidence in the ideas he had espoused and was determined to follow them. The position of this plume next to the blue and the pink indicates his perseverance in spite of the opposition of someone who was dear to him — in this case, his wife. The orange tint which impinges on the pink shows that although he was always fond of his wife, her criticism often sapped his self-esteem.
Một vệt màu cam lớn hình lông chim dường như mọc ra từ màu này. Bạn sẽ thấy sự hình thành này trong các hào quang khác, và chúng luôn liên quan đến sự tự hào, tự tin và tự trọng. Bệt màu đặc biệt này hơi lỏng lẻo và mảnh mai, cho thấy ông không phải là người cố định với niềm tin rằng mình đúng, nhưng ông tin tưởng vào những ý tưởng mà ông đã tán thành và quyết tâm theo chúng. Vị trí của vệt màu này bên cạnh màu xanh và màu hồng cho thấy sự kiên trì của ông bất chấp sự phản đối của một người thân yêu với ông—trong trường hợp này là vợ của ông. Màu cam nhuộm lên màu hồng cho thấy dù ông luôn yêu mến vợ, nhưng sự chỉ trích của bà thường đánh mất lòng kính trọng của ông.
He had had a turbulent life with many traumatic experiences, and even now his life was not an easy one. The dashes within the patch of green just below the green band show his problems and difficulties in his business, and the fact that the dashes are pink connects these problems with his wife. Sadly, although she supported him in many ways, especially financially, she was never in sympathy with the things that mattered most to him.
Ông đã có một cuộc sống hỗn loạn với nhiều kinh nghiệm đau thương, và thậm chí bây giờ cuộc đời của ông không phải dễ dàng. Các dấu gạch ngang trong mảng màu xanh lá ngay dưới dải màu xanh lá cho thấy những vấn đề và khó khăn trong kinh doanh của ông, và sự kiện các dấu gạch ngang này màu hồng cho thấy những vấn đề này là với vợ ông. Điều đáng buồn, mặc dù bà ủng hộ ông bằng nhiều cách, đặc biệt về mặt tài chính, bà không bao giờ tỏ ra thông cảm với những điều quan trọng nhất đối với ông ấy.
The spiritual search which had been frustrated in his youth had brought him fairly recently into touch with an organization founded upon the ideal of the brotherhood of humanity. To him, this group seemed to embody all the high ideals which had impelled the revolutionary activities of his youth, and he joined it enthusiastically. For the rest of his life he remained a devoted member of this organization, and tried to model his life and conduct upon its ethical principles. Again, his wife did not share his interests or sympathize with his aspirations, although she did not directly interfere with his activities. Because he had a strong sense of loyalty to her, he had to believe all the more strongly in what he was doing. He imposed his code of conduct upon himself quite strictly, and he was somewhat rigid and set in his ways, but he was never intolerant of others. All of this is reflected in the orange plume in his aura, but the fact that it is loose in texture and not well-defined indicated to me that in later life, as he became more at ease with his new-found ideals, it would tend to dissipate and fade away.
Cuộc tìm kiếm tinh thần không mãn nguyện trong thời thơ ấu gần đây đã đưa ông liên lạc với một tổ chức được thành lập trên lý tưởng của tình huynh đệ của nhân loại. Đối với ông, nhóm này dường như thể hiện tất cả những lý tưởng cao cả vốn đã kích hoạt các hoạt động cách mạng thời trẻ của ông, và ông đã nhiệt tâm gia nhập. Trong suốt cuộc đời còn lại của ông, ông vẫn là một thành viên tận tụy của tổ chức này, và cố gắng xây dựng cuộc sống của mình và thực hiện theo các nguyên tắc đạo đức của nó. Một lần nữa, vợ ông đã không chia sẻ sở thích của ông hoặc thông cảm với những khát vọng của ông, mặc dù bà không trực tiếp can thiệp vào các hoạt động của ông. Bởi vì ông có cảm giác trung thành với bà, ông phải tin tưởng vào tất cả những gì ông đang làm. Ông đã áp đặt các quy tắc ứng xử của ông một cách nghiêm túc, và ông hơi cứng nhắc và áp đặt theo cách của ông, nhưng ông không bao giờ không khoan dung với người khác. Tất cả những điều này được phản ánh trong bệt lông chim màu cam trong hào quang của ông, nhưng thực tế là nó lỏng lẻo và không rõ ràng cho tôi biết rằng trong cuộc sống sau này, khi ông trở nên thoải mái hơn với những lý tưởng mới tìm ra của mình, nó có khuynh hướng tan rã và biến mất.
This man was fundamentally a caring person, perhaps not so much loving as sympathetic. He liked people and was very kind and approachable, and as a result he had many friends who were fond of him. He loved children and delighted in being with them and sharing their interests, for unfortunately he never had any of his own. Perhaps because of this he was very fond of animals, and had a dog to which he was devoted.
Người đàn ông này về cơ bản là một người quan tâm, có lẽ không quá yêu thương như là thông cảm. Ông thích mọi người, rất tử tế và dễ tiếp cận, và kết quả là ông có nhiều bạn bè yêu thích ông. Ông yêu trẻ con và rất vui khi được ở bên chúng, chia sẻ sở thích của chúng, vì không may, ông chưa bao giờ có sở thích của riêng mình. Có lẽ vì điều này, ông rất thích thú vật, ông có một con chó mà ông rất quí.
This picture is especially interesting in that it shows an aura in transition, and reflects an individual’s struggle for self-mastery. There is a lot of conflict, because this man was trying to reconcile his natural impulses and resolve his personal dilemmas in accordance with the spiritual ideals to which he had committed himself. When meditation was recommended to him he embraced the practice wholeheartedly, and because his temperament was methodical, he followed it regularly every day. The effect of this was beginning to create more balance and order in his aura; you can see reflections of his higher nature in the colors which represent his daily life, in spite of the temporary turbulence. This indicates not only that he was drawing upon his inherent potentialities, but also that his higher qualities were being reinforced and strengthened by his action and behavior.
Bức ảnh này đặc biệt thú vị ở chỗ nó thể hiện hào quang trong quá trình chuyển đổi, và phản ánh cuộc đấu tranh của một cá nhân để tự chủ. Có rất nhiều xung đột, bởi vì người đàn ông này đã cố gắng hóa giải những xung lực tự nhiên của mình và giải quyết những tình huống khó xử của mình theo những lý tưởng tinh thần mà bản thân ông đã chấp nhận. Khi được đề nghị thực hành tham thiền, ông đã chấp nhận tuân theo một cách hết lòng, và vì tính chất của ông là có hê thống, ông đã thực hành thường xuyên mỗi ngày. Tác động của việc này bắt đầu tạo ra sự cân bằng và trật tự trong hào quang của ông; bạn có thể nhìn thấy sự phản chiếu của bản chất cao hơn của ông trong màu sắc đại diện cho cuộc sống hàng ngày của ông, bất chấp sự nhiễu loạn tạm thời. Điều này cho thấy không chỉ ông đang dựa vào tiềm năng vốn có của mình, mà còn vào những phẩm chất cao hơn của ông đã được tăng cường và củng cố bởi hành động và hành vi của ông.
Such was this man’s dedication that at the time of his death, about twenty years later, I am sure his inner conflicts were largely resolved. I base this supposition upon the degree of brightness that was emerging in both the upper and lower portions of his aura.
Đó là sự dâng hiến của người đàn ông này vào lúc ông chết, khoảng hai mươi năm sau, tôi chắc chắn những xung đột nội tâm của ông ta đã được giải quyết. Tôi dựa giả thuyết này vào mức độ chói sáng đang nổi lên ở cả phần trên và lẫn phần dưới của hào quang của ông.
8. Old Age: A Woman in Her Nineties—Một Phụ Nữ ở Tuổi Chín Mươi
This is the aura of a woman who was ninety-two years old at the time I saw her, and the evidences of her advanced age are clearly visible.
Đây là hào quang của một phụ nữ chín mươi hai tuổi vào lúc tôi nhìn thấy bà, và những bằng chứng về tuổi tác cao có thể nhìn thấy rõ ràng.
First of all, the whole aura is covered with a filmy gray veil which is especially heavy over the lower part. It results from the clouding of her faculties, for she was no longer alert and did not remember things very well. Her activity in the world was much diminished, and lay mainly in the past. At the same time, her energy level (which is impossible to show in the picture) had slowed down measurably. Thus it is the past rather than the present which is revealed in her aura.
Trước hết, toàn bộ hào quang được bao phủ bởi một lớp màn che màu xám, đặc biệt nặng nề ở phần dưới. Nó xuất phát từ sự sụt giảm các khả năng của bà, vì bà đã không còn tỉnh táo và không nhớ mọi thứ tốt lắm. Hoạt động của bà trên thế gian đã giảm đi rất nhiều, và chủ yếu tập trung vào quá khứ. Đồng thời, mức năng lượng của bà (không thể hiển thị trong bức hình) đã suy giảm đáng kể. Như thế, chính quá khứ chứ không phải hiện tại được tiết lộ trong hào quang của bà.
In marked contrast to the children, whose auras were dominated by their potentialities, the auras of the aged are often mainly a record of their past experiences and accomplishments.
Trái ngược với trẻ em vốn có hào quang bị thống trị bởi tiềm năng của chúng, hào quang của người cao tuổi thường là sự ghi nhận của những kinh nghiệm trong quá khứ và những thành tựu của họ.
Because of this, one might think that the colors of the upper part of the aura would be even more dimmed than the lower, but this is not the case. Her memories of the past had somewhat faded from her mind, and her emotions were no longer felt so strongly as before, but her higher principles were still active in her. Therefore the colors at the top of the aura remain bright and vivid. However, the yellow does not go to the edges of her aura, because she was not drawing upon her mental powers very much at the time.
Do đó, người ta có thể nghĩ rằng màu sắc của phần trên của hào quang sẽ càng mờ hơn so với phần dưới, nhưng điều này không phải thế. Những kí ức của bà về quá khứ đã phần nào mờ nhạt đi trong tâm trí bà, và những cảm xúc của bà không còn mạnh mẽ như trước nữa, nhưng những nguyên lý cao siêu hơn của bà vẫn còn tích cực trong bà. Do đó các màu sắc ở trên cùng của hào quang vẫn sáng và sống động. Tuy nhiên, màu vàng không đi đến các cạnh của hào quang bởi vì bà đã không được tận dụng sức mạnh trí tuệ của bà vào lúc đó.
Another condition which is caused by age can be seen at the edges of her aura. The boundary is blurred, for there is no sharp distinction between her own feelings and the general emotional field. This probably resulted from her lack of response to, and exchange with, her emotional environment at that time.
Một điều kiện khác do tuổi tác có thể được nhìn thấy ở các cạnh của hào quang. Vùng biên bị mờ, bởi vì không có sự phân biệt rõ nét giữa cảm xúc của chính bà và trường tình cảm nói chung. Điều này có thể là kết quả của sự thiếu đáp ứng và trao đổi của bà với môi trường cảm xúc của bà vào thời điểm đó.
Looking at her aura, I had the impression that a strong will had always been the outstanding characteristic of this woman’s personality. The gray-green which appears at the bottom of the aura indicates the form her selfishness must have taken — a determination to go ahead and do things her own way, come what may. She probably had enforced her will on other people to quite a considerable extent. In her early life she must have suffered a good deal of strain and depression, for there is a lot of gray low down in the aura. This was probably due to the strict upbringing which was customary in Victorian times, and which a young person of her temperament would have found very repressive.
Nhìn vào hào quang của bà, tôi đã có ấn tượng rằng một ý chí mạnh mẽ luôn luôn là đặc điểm nổi bật của tính cách của người phụ nữ này. Màu xanh lá-xám xuất hiện ở dưới cùng của hào quang cho thấy một hình thức ích kỷ mà bà đã mang—một quyết tâm tiến tới và làm mọi việc theo cách riêng của mình, dù cho như thế nào đi nữa. Có lẽ bà đã áp đặt ý chí của mình đối với người khác ở một mức độ khá lớn. Lúc ban đầu của cuộc sống, bà đã phải chịu đựng nhiều căng thẳng và phiền muộn, vì có rất nhiều màu xám thấp xuống trong hào quang. Điều này có lẽ là do sự giáo dục nghiêm ngặt vốn thường được sử dụng trong thời đại Victoria, và một người trẻ tuổi có tính khí như bà sẽ thấy rất áp bức.
The colors just above are also tinged with gray, which shows that somewhat later in life she went through a difficult period when she was thrown upon her own resources. She was born in 1847, when women were far from emancipated and had to struggle very hard to achieve anything for themselves. The gray whirls are the residue of worries which concerned her very much at the time, but they have faded and grown small, since it was all so long ago.
Những màu sắc ở phía trên cũng nhuộm màu xám, cho thấy phần nào trong cuộc đời sau này bà đã trải qua giai đoạn khó khăn khi bị ném vào tài nguyên của chính mình. Bà sinh năm 1847, khi phụ nữ không chưa được giải phóng và phải vật lộn vất vả để đạt được điều gì đó cho mình. Những xoáy màu xám là những tàn dư của sự lo lắng liên quan đến bà rất nhiều vào thời đó, nhưng chúng đã phai mờ và nhỏ đi, vì nó đã xảy ra quá lâu rồi.
The pink in the upper part of her aura is very clear, and reveals her genuine feelings of kindness and affection, as well as her altruism. This pink is reflected below, but it is dimmed with age. She was married to the captain of a clipper ship in the China trade, and had three daughters and one son. Her husband died young, and perhaps it was because of this that she focused all her deepest affections upon her son. She adored him and he was very good to her, but he also died young, while his children were still small. His death was a blow from which she never entirely recovered, for the purple-blue with a gray whirl in it, which appears on the left side of the aura, is the remains of a period of deep sorrow in her middle life. There are other signs of past tragedies, such as the greens which lie low in the aura. These were now half-for gotten, but she was still not entirely free of them.
Màu hồng ở phần trên của hào quang của bà rất rõ ràng, cho thấy những cảm xúc từ ái và tình cảm chân thành, cũng như lòng vị tha của bà. Màu hồng này được phản ánh vào bên dưới, nhưng nó mờ theo tuổi tác. Bà đã kết hôn với thuyền trưởng của một con tàu tốc hành trong thương mại Trung Quốc, và có ba con gái và một con trai. Chồng bà qua đời khi còn trẻ, và có lẽ đó là lí do khiến bà tập trung tất cả những tình cảm sâu đậm nhất cho con trai mình. Bà rất ngưỡng mộ con trai và nó cũng rất tốt với bà, nhưng nó cũng chết trẻ, trong khi những đứa con của của nó vẫn còn bé. Cái chết của nó là một cú đấm mà bà không bao giờ hồi phục hoàn toàn, vì màu xanh lam-tím với một xoáy màu xám trong đó, xuất hiện ở bên trái của hào quang, là phần còn lại của một giai đoạn đau khổ sâu thẳm trong giai đoạn giữa của cuộc đời bà. Có những dấu hiệu khác của những bi kịch trong quá khứ, chẳng hạn như những màu xanh nằm thấp trong hào quang. Bây giờ, đã có phân nửa biến mất, nhưng bà vẫn không hoàn toàn thoát khỏi chúng.
An interesting picture appears low down on the right side of her aura, for it is a composite portrait of her son both as a baby and as a grown man. The reason for this double image is that his memory became for her the symbol of childhood, and embodied for her the needs and rights of children everywhere. It was her deep love for her son that first aroused her interest in child welfare — an interest which grew into a lifelong concern, and led her into the fight for women’s suffrage.
Một hình ảnh thú vị xuất hiện thấp ở bên phải của hào quang của bà, vì đó là một bức chân dung tổng hợp của đứa con trai cả khi còn là một đứa bé và là một người đàn ông trưởng thành. Lý do của hình ảnh đôi này là ký ức về nó đã trở thành biểu tượng của thời thơ ấu và thể hiện cho bà nhu cầu và quyền của trẻ em ở khắp mọi nơi. Đó là tình yêu sâu đậm của bà đối với con trai, điều đó đã làm bà quan tâm đến phúc lợi của trẻ em—một mối quan tâm đã trở thành mối quan tâm suốt đời và dẫn bà đến cuộc đấu tranh cho quyền bầu cử của phụ nữ.
Her whole life was devoted to the cause of women and children, and she worked steadfastly for the reform of child labor laws and the abolition of slum conditions. This was not to her an academic interest; she was passionately and personally involved in the causes she espoused. Her work was always concerned with real individuals, not abstract issues. But since this work had ended more than twenty years before, and the people involved were long dead, all that had been most real to her had grown dim.
Toàn bộ cuộc đời của bà là dành cho quyền lợi phụ nữ và trẻ em, và bà đã làm việc kiên định để cải cách luật lao động trẻ em và xóa bỏ các tình trạng ổ chuột. Đây không phải là một mối quan tâm lý thuyết của bà; bà đã nhiệt tình và về mặt cá nhân tham gia vào các mục tiêu mà bà đã tán thành. Công việc của bà luôn quan hệ đến các cá nhân thực sự chứ không phải các vấn đề trừu tượng. Nhưng vì công việc này đã kết thúc hơn hai mươi năm trước, và những người liên quan đã chết từ lâu, tất cả những gì đã thật nhất với bà đã trở nên mờ đi.
What remains is the impression of a strong character, grown even stronger by her life experiences. She was an idealist who spent her life’s effort in translating her principles into social action. She had to fight for her values in a man’s world, and achieve her independence at a time when few women succeeded in striking out for themselves. She was something of a pioneer in the field of social welfare, and was active in many movements dedicated to raising the standards of living for poor women, who had at the time few legal rights.
Những gì còn lại là ấn tượng của một cá tính mạnh mẽ, phát triển mạnh mẽ hơn bởi kinh nghiệm sống của bà. Bà là một người lý tưởng đã dành cả cuộc đời mình để chuyển những nguyên tắc của mình thành hành động xã hội. Bà đã phải chiến đấu cho những giá trị của bà trong thế giới của người đàn ông và đạt được sự độc lập của mình vào một thời điểm có rất ít phụ nữ thành công trong việc tranh đấu cho họ. Bà là người tiên phong trong lĩnh vực phúc lợi xã hội và đã tích cực tham gia nhiều phong trào nhằm nâng cao mức sống cho phụ nữ nghèo, những người mà vào lúc đó có rất ít quyền pháp lý.
She was born into a wealthy family of good social position, but instead of making her complacent this caused her to feel she had to do something to help others less fortunate. As I said, her involvement was always with individuals, on whose behalf she was willing and eager to fight any opposition. Thus the faces which appear in her green band are at once reminiscent of those she fought for and a symbol of the personal concern she brought to her work.
Bà sinh ra trong một gia đình giàu có, có vị trí xã hội tốt, nhưng thay vì làm cho bà mãn nguyện, điều này khiến bà cảm thấy bà phải làm gì đó để giúp đỡ những người khác kém may mắn. Như tôi đã nói, sự tham gia của bà luôn ở với các cá nhân, nhân danh họ bà đã sẵn sàng và mong muốn chiến đấu chống lại bất kỳ sự chống đối nào. Như vậy khuôn mặt xuất hiện trong dải màu xanh lá cây của bà cùng lúc gợi nhớ lại những người mà bà đã chiến đấu và biểu tượng cho mối quan tâm cá nhân mà bà mang đến cho công việc của bà.
During her long life she was very active and achieved many things. At the time I saw her she was a very old lady — a mere shadow of what she had once been. But all her past deeds, as well as the motivations and feelings which prompted them, were symbolized in her aura. It was therefore a record of her life.
Trong suốt quãng đời dài của mình, bà đã rất tích cực và đạt được nhiều điều. Vào thời gian tôi nhìn thấy bà, bà là một phụ nữ rất già—chỉ là một hình bóng của những gì bà từng là. Nhưng tất cả những hành động trong quá khứ của bà, cũng như những động lực và cảm xúc đã thúc đẩy chúng, được tượng trưng trong hào quang của bà. Đó là một ghi chép của cuộc đời bà.
6.The Dedicated Life—Một Cuộc đời cống hiến
The next group of portraits (four men and two women) is made up of very dissimilar people, whose lives and temperaments were so different that they might seem to have had little in common. There are two musicians, a painter, an architect, a social reformer and a young mother. But they share one very important characteristic: all of them were devoted to an art, an ideal, a cause which was basically the most important thing in their lives. Their orientation was therefore in the direction of something which transcended mere personal interest, no matter to what degree their personal lives might have been involved in its pursuit.
Nhóm chân dung tiếp theo (bốn người đàn ông và hai phụ nữ) là nhóm của những người rất khác biệt, cuộc sống và tính khí của họ khác nhau đến mức dường như họ gần như không có điểm chung. Có hai nhạc sĩ, một họa sĩ, một kiến trúc sư, một nhà cải cách xã hội và một người mẹ trẻ. Nhưng họ đều có một đặc điểm chung rất quan trọng: tất cả họ đều cống hiến cho một môn nghệ thuật, một lý tưởng, một điều gì đó mà về cơ bản là quan trọng nhất trong cuộc sống của họ. Do đó, họ có xu hướng vượt qua mối quan tâm cá nhân, bất kể mức độ liên quan giữa cuộc sống cá nhân của họ với việc theo đuổi mục đích ra sao.
This does not mean that these people did not have the same kinds of problems which fall to the lot of most of us — problems involving human relationships, frustrations, losses and disappointments. They did, for often their purpose conflicted with their personal lives. This almost always produces signs of stress, which we will see in some of these auras. But their deep commitment to what they had chosen as their path gave their lives a direction which had its own authenticity. They could always find solace in their art or their ideas when events were troublesome, or when people became too intrusive. This abiding interest offered them a perspective into a larger world, an ideal realm which always maintained its integrity in spite of personal troubles, whose higher energies were able to refresh and renew their sense of purpose.
Điều này không có nghĩa là những người này không có những vấn đề như rất nhiều người trong chúng ta gặp phải—những vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa con người với con người, phiền não, mất mát và thất vọng. Họ đã đều trải qua các vấn đề này, vì thông thường mục đích của họ mâu thuẫn với cuộc sống cá nhân. Điều này hầu như luôn tạo ra các dấu hiệu của sự căng thẳng, mà chúng ta sẽ thấy trong một số hào quang. Nhưng sự cam kết sâu sắc của họ đối với con đường đã chọn làm cho cuộc sống có định hướng mang tính xác thực cao. Họ luôn có thể tìm được sự an ủi trong nghệ thuật hoặc ý tưởng của họ khi có vấn đề xảy ra, hoặc khi mọi người can thiệp quá sâu. Sự quan tâm bền vững này đã đưa họ vào một thế giới rộng lớn hơn, một lĩnh vực lý tưởng luôn duy trì tính toàn vẹn bất chấp những rắc rối cá nhân có năng lượng cao hơn có thể đổi mới và làm thay đổi quan điểm mục đích của họ.
This kind of inner connection with what is perceived as our life purpose is present to some degree in many of us. We may think of it as associated with the arts, but scientists, teachers, priests, social workers, government servants, judges, environmentalists and many, many others are similarly motivated. In all such people, love of their work, or of the cause it furthers, transcends worldly gain, the need for security, or the desire for personal power and success.
Kiểu kết nối bên trong này với những gì được coi là mục đích cuộc sống của mỗi người hiện diện ở một mức độ nào đó ở nhiều người trong chúng ta. Chúng ta thường nghĩ điều đó có liên quan đến nghệ thuật, nhưng các nhà khoa học, giáo viên, linh mục, nhân viên xã hội, công chức chính phủ, thẩm phán, các nhà môi trường học và nhiều, rất nhiều người khác cũng có động cơ tương tự. Ở tất cả những người như vậy, tình yêu dành cho công việc của họ, hoặc cho một mục đích nào đó, vượt qua lợi ích thông thường trên thế giới này, nhu cầu về an toàn, hay mong muốn quyền lực cá nhân và thành đạt.
Perhaps this kind of dedication is rarer today than it was when people had strong feelings of obligation to their family and to their country. Whatever the reason, lack of purpose can be a demoralizing influence, as I shall try to show in later chapters.
Có lẽ ngày nay loại hình cống hiến này hiếm hoi hơn so với khi người ta cảm nhận sâu sắc về nghĩa vụ đối với gia đình và đất nước. Cho dù vì lý do gì, sự thiếu vắng mục đích có thể tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực, như tôi sẽ cố gắng thể hiện trong các chương sau.
These six people all had a clear sense of direction in their lives, because they were committed to an ideal. They were also all strong characters in their different ways. Whether that inner strength caused or was caused by their commitment, I cannot say.
Sáu người này đều có một định hướng rõ ràng trong cuộc sống của họ, bởi vì họ đã cam kết với một lý tưởng. Họ cũng là những nhân vật mạnh mẽ theo những cách khác nhau của riêng mình. Tôi không thể đoan chắc sức mạnh nội tại đó được tạo ra từ những cam kết hay chính nó tạo nên cam kết của họ.
9. A Pianist/Compose—Một Nhà Soạn Nhạc và Nghệ Sĩ Dương Cầm
Our first subject is an elderly man who had been a world-famous pianist as well as a composer, although his compositions were never widely performed. At the time when this portrait was painted, he was slowly recovering from a stroke which had paralyzed his hands and arms, and severely curtailed his ability to play the piano. In spite of this, I have not included this man in the group of those affected by illness, because his mind and speech were not impaired, and he was making extraordinary efforts to overcome his disability. He had always been a fundamentally strong and healthy man who had succeeded in everything he attempted to achieve, and he was determined not to give in to his illness.
Đối tượng đầu tiên của chúng ta là một người đàn ông lớn tuổi đã từng là một nghệ sĩ piano nổi tiếng thế giới, đồng thời là một nhà soạn nhạc, mặc dù các sáng tác của ông chưa bao giờ được trình diễn rộng rãi. Vào thời điểm bức chân dung này được vẽ, ông đang trong quá trình dần phục hồi sau một cơn đột quỵ làm liệt hai tay, và làm giảm sút nghiêm trọng khả năng chơi piano. Dù vậy, tôi vẫn không đưa người đàn ông này vào nhóm những người bị ảnh hưởng bởi bệnh tật, bởi vì tâm trí và khả năng nói của ông không bị suy giảm, và ông đã có những nỗ lực phi thường để vượt qua tình trạng bệnh tật của mình. Ông vốn là một người cường tráng và khỏe mạnh, người luôn thành công trong mọi việc mà ông nỗ lực đạt được, và ông quyết tâm không chịu khuất phục bệnh tật.
He was, however, suffering a great deal of stress. This is very evident in his aura, where the areas of blue and gray clearly show the signs of strain and painful effort. At the time I saw him, he would work every day with the therapist and then force himself to play the piano with his left hand, for the right was totally incapacitated. He made such an effort when I was with him because he thought it would give me pleasure, but it was really torture to watch.
Tuy nhiên, ông đã phải chịu rất nhiều căng thẳng. Điều này thể hiện rất rõ trong hào quang của ông, nơi mà các vùng màu xanh và màu xám rõ ràng cho thấy những dấu hiệu của sự căng thẳng và nỗ lực đau đớn. Vào thời điểm tôi gặp ông, như mọi ngày, ông tập luyện với chuyên gia trị liệu và sau đó tự ép mình chơi piano bằng tay trái, vì tay phải đã hoàn toàn mất khả năng vận động. Ông đã nỗ lực như vậy khi gặp tôi bởi vì ông nghĩ rằng điều đó sẽ mang lại niềm vui cho tôi, nhưng thật sự rất đau lòng khi chứng kiến cảnh đó.
The gray cloud in the middle of his aura, over the solar plexus, is caused by the reduction in his energy level, while the orange streaks within it are the result of injections which were being given him on a regular basis. A stroke of course affects the brain, but in his case his mind was clear, and therefore the effects of the illness do not show in the upper part of his aura. This is at least partly because he did not think of himself as ill or other than temporarily disabled.
Các đám mây màu xám ở giữa hào quang của ông, trên luân xa tùng thái dương, là do sự giảm mức năng lượng của ông, trong khi các vệt cam trong hào quang là kết quả của các mũi tiêm thường xuyên vào cơ thể. Một cú đột quỵ tất nhiên ảnh hưởng đến não bộ, nhưng trong trường hợp của ông tâm trí của ông rất sáng suốt, và do đó ảnh hưởng của bệnh tật không hiển thị ở phần trên của hào quang. Điều này ít nhất một phần bởi vì ông không cho rằng mình bị ốm hay chỉ coi mình là bị hạn chế vận động tạm thời.
But it was obvious to me that his severely strained condition had been long-standing and persistent. At the bottom of his aura, around the feet, there is a large area of mottled brown and green, which shows that from early childhood he had been made to work very hard indeed. He had been a child prodigy, and from his earliest years had been under great pressure from his family to perform well. As a matter of fact, his nervous system had never been free from tension.
Nhưng tôi có thể thấy rõ rằng tình trạng căng thẳng trầm trọng của ông đã lâu và bền bỉ. Ở dưới cùng của hào quang, xung quanh bàn chân, có một vùng rộng lớn lốm đốm nâu và xanh lá, điều đó cho thấy từ thời thơ ấu, ông đã luyện tập thật chăm chỉ. Ông đã từng là một đứa trẻ thần đồng, và từ những năm đầu đời, ông đã chịu áp lực rất lớn từ gia đình là phải biểu diễn thành công. Kết quả là, hệ thần kinh của ông chưa bao giờ thoát khỏi căng thẳng.
Somewhat higher on the left side, around his feet, there is a lighter shade of green tinged with yellow, which not only testifies to the extraordinary amount of hard work he put in, but also to his efforts to think about and understand what he was working on. Everywhere in his aura you will see combinations of yellow and green, all of which show the degree to which he always applied his mind to the perfection of his art. But the colors and shapes below his feet show that when quite young he had experiences which both worried and frightened him. He must have been surrounded by people whose demands upon him arose out of their selfish interests, and the blue whirl and gray plume are the result of his somewhat oppressive sense of obligation, and his anxiety that he would not be able to please and satisfy them.
Một phần ở phía bên trái, xung quanh bàn chân, có màu lục nhạt sáng pha lẫn màu vàng, không chỉ biểu lộ cho khối lượng đồ sộ công việc nặng nhọc mà ông phải gánh vác, mà còn là những nỗ lực tư duy và để hiểu rõ công việc của mình. Trên toàn bộ hào quang, bạn sẽ thấy sự kết hợp của màu vàng và xanh lá, tất cả đều cho thấy mức độ cao trong việc sử dụng tâm trí để hoàn thiện nghệ thuật của ông. Nhưng màu sắc và hình dạng hào quang nơi bàn chân của ông cho thấy rằng khi còn trẻ, ông đã chịu những trải nghiệm gây lo lắng và sợ hãi. Hẳn là quanh ông toàn những người đòi hỏi ông phải phấn đấu vì sự ích kỷ của bản thân họ, và xoáy màu xanh lơ và những đám màu xám là kết quả của cảm giác về nghĩa vụ bị buộc phải hoàn thành và sự lo lắng rằng mình sẽ không thể làm hài lòng và thỏa mãn mọi người.
On the right side, the mixture of brown-green extends upward into the pink, a color which is reflected on the left above an area of blue shading into green/yellow. All this indicates that his affectionate nature had always been troubled by family relationships that caused him anxiety and worry.
Phía bên phải, hổn hợp màu xanh lá và nâu trải dài đi lên vùng màu hồng, được phản chiếu sang bên trái bên trên vùng màu xanh lam, ngã sang màu xanh lá pha vàng. Tất cả điều này chỉ ra rằng bản tính trìu mến của ông luôn gặp rắc rối bởi những mối quan hệ gia đình khiến ông lo lắng và bất an.
The continuous tension which he was under produced a sense of strain which began early in life and never abated. You will see blue lines at the edges of his aura, which reach down below the feet and extend into his green band. These lines are meant to suggest a condition which would be impossible to reproduce accurately, for in fact the whole lower part of his aura was overlaid with a film of blue. Such a condition (and you will see it repeated in other auras) always indicates persistent strain which has begun to affect the free flow of the energies of those emotions which are so constrained.
Những căng thẳng không ngừng mà ông phải trải qua đã tạo ra cảm giác căng thẳng từ khi còn rất trẻ và chưa bao giờ giảm bớt trong cuộc đời. Bạn sẽ thấy các đường màu xanh lam ở bên rìa hào quang, kéo dài xuống dưới chân và mở rộng thành một dải màu xanh lá. Những vệt màu này cho thấy tình trạng không thể vẽ lại chính xác, vì thực tế toàn bộ phần dưới của hào quang của ông đã được phủ một lớp màu xanh lơ. Tình trạng như vậy (và bạn sẽ thấy nó được lặp lại trong các hào quang khác) luôn chỉ ra sự căng thẳng liên tục đã bắt đầu ảnh hưởng đến dòng chảy năng lượng thông suốt của những cảm xúc bị ức chế.
In this man’s case, the stress was so severe that it had partially damaged the operation of the energy valves at the edges of his aura. The four lowest ones were leaking and sluggish, their movement being directly affected by the blue of strain which, as you will see, penetrates their centers. All this made him extremely nervous and kept his energy constantly below par, a condition which was of course aggravated by his illness. As I said, this was a very long-standing condition. I think that his family must have caused him endless trouble.
Trong trường hợp của người đàn ông này, căng thẳng trầm trọng đến mức nó đã làm hư hỏng phần nào các van năng lượng ở các rìa hào quang. Bốn cái ở dưới cùng bị rò rỉ và chậm chạp, sự chuyển động của chúng bị ảnh hưởng trực tiếp bởi màu xanh lam của sự căng thẳng, như các bạn sẽ thấy, thâm nhập vào lõi van. Tất cả điều này gây ra cho ông tình trạng hết sức lo lắng và làm cho mức năng lượng của ông thường xuyên dưới ngưỡng cho phép, tình trạng này tất nhiên càng trầm trọng hơn sau tai biến. Như tôi đã nói, đây là một trạng thái đã có từ rất lâu. Tôi nghĩ rằng gia đình ông đã gây ra cho ông vô vàn rắc rối.
In contrast to the worry and strain revealed in the lower part of his aura, the upper part is clear, luminous and free. You will see a lot of pink in the lower aura, which shows that he was a kind man and affectionate in his relationships with family and friends. But there is no pink in the upper part of his aura, and this indicates that love was not one of his primary or most important characteristics.
Ngược lại với sự lo lắng và căng thẳng biểu lộ ở phần dưới của hào quang, phần trên rõ ràng, sáng và thông suốt. Bạn sẽ thấy rất nhiều màu hồng trong phần dưới của hào quang, cho thấy rằng ông là một người đàn ông tốt bụng và giàu tình cảm trong mối quan hệ với gia đình và bạn bè. Nhưng không có màu hồng ở phần trên của hào quang, và điều này cho thấy tình thương yêu không phải là một trong những đặc điểm chính hoặc quan trọng nhất của ông.
In its place, there is on the left an area of green, which represents the quality of empathy or sympathy. It is from this aspect of his nature that his fundamental gentleness and kindness flowed. He did not feel passionately attached to people. He was altruistic, but not to the extent that he would have been led to sacrifice himself for others. Instead he exuded a general feeling of benevolence and good-will. He wanted to be helpful to people in whatever way he could. It is interesting that in a person who had been so much in the public eye there is no trace of the orange of pride and self-esteem. For such a famous man he had very little ego, and never thought of himself as too important to be of service to others.
Ở bên trái có một khu vực màu xanh lá, đại diện cho sự đồng cảm hoặc giàu lòng cảm thông. Chính nhờ đặc điểm này, bản tính ông giàu lòng tốt và và sự hảo tâm. Ông không cảm thấy gắn bó mật thiết với mọi người. Ông là người vị tha, nhưng không đến mức có thể hy sinh bản thân cho người khác. Thay vào đó, ông có tình cảm và thiện chí chung với tất cả. Ông muốn giúp đỡ mọi người bằng mọi cách có thể. Điều thú vị là trong một người của công chúng không có dấu vết của màu cam, biểu hiện của niềm tự hào và lòng tự tôn. Dù là một người nổi tiếng, ông không hề có bản ngã quá cao, và không bao giờ nghĩ mình là quá quan trọng để có thể phục vụ người khác.
At the top of his aura, above the head, there is a very large, vivid area of blue-green, which shows that his highest potential lay in his aesthetic perception — an intuitive feeling which enabled him to link his highest ideals (represented by the purple-lavender above) with his own aesthetic expression. The purple is touched with lemon yellow, which in actuality was so clear a color that it looked more like light shining through the blue-green. This fills the whole space above the head and reaches down to the green band in the middle of his aura — although this was temporarily obscured by the grayish cloud caused by his illness. Thus at the height of his powers his music was directly influenced by his deepest and purest insights.
Trên đỉnh hào quang, trên phần đầu, có một vùng rất lớn màu xanh chói lọi pha lẫn giữa xanh lá và xanh biển, cho thấy tiềm năng cao nhất của ông nằm trong nhận thức thẩm mỹ—một cảm giác trực quan cho phép ông liên kết các lý tưởng cao nhất của mình với biểu lộ thẩm mỹ của chính mình (đại diện bởi màu tím oải hương). Màu tím được bao bọc bởi một viền vàng chanh, làm cho màu sắc trở nên sắc nét hơn và trông như ánh sáng chiếu qua phần xanh lá pha xanh biển. Sắc màu này lấp đầy toàn bộ không gian phía trên đầu và kéo xuống đến dải màu xanh lá cây ở giữa hào quang của ông—mặc dù điều này tạm thời bị che khuất bởi đám mây màu xám do bệnh tật của ông gây ra. Do đó, ở đỉnh cao sức mạnh, âm nhạc của ông chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi những nhận thức sâu sắc và thanh khiết nhất của ông.
The width of the green band, which extends from just below the heart to below the knees, also testifies to his ability to bring his musical ideas and sensibilities into physical reality through his playing. The color is a clear green-blue, which indicates his taste and discrimination, but it is also tinted with yellow, because he concentrated his mind so forcibly in his work. The yellow patterns and configurations in the green band are all symbolic, not only of his musical ideas but also of the meaning and significance he attached to them. The color of this band is brilliantly alive and shining at both sides, but dull and lifeless in the middle; this is the result of his illness, which was at that time inhibiting his ability to work almost completely.
Chiều rộng của dải màu xanh, trải dài từ tim đến dưới đầu gối, cũng chứng tỏ khả năng đưa những ý tưởng âm nhạc và cảm xúc của ông vào thực tế vật chất thông qua việc chơi đàn. Màu xanh lá pha xanh biển trong suốt, cho thấy khiếu thẩm mỹ và sự sáng suốt của ông, nhưng nó cũng có ánh vàng, bởi vì ông tập trung tâm trí để tự ép mình trong công việc. Các hình màu vàng trong dải màu xanh lá đều là các biểu tượng, không chỉ trong ý tưởng âm nhạc mà còn về ý nghĩa và hàm ý mà ông muốn truyền tải qua qua âm nhạc. Màu sắc của dải màu này sống động và lấp lánh ở cả hai bên, nhưng mờ tối và vô hồn ở phần giữa; đây là kết quả của bệnh tật, mà tại thời điểm đó đã gần như hoàn toàn ức chế khả năng làm việc của ông.
There is a great deal of yellow in his aura, and indeed he was a highly intelligent man who brought his mind to bear upon everything he did. The green which appears in different parts of his aura, often mixed with yellow, comes from this propensity, and shows that his mind and his sensibility were freely expressed in his daily life. He had a thorough grasp of musical theory as well as of all the technical aspects of the piano, and the compositions he wrote, I am told, were very complex and difficult to play. His inquiring mind made him interested and curious about many things besides his own profession, which is somewhat unusual since musicians tend to be very engrossed in their art.
Có rất nhiều màu vàng trong hào quang của ông, và thực sự ông là một người thông minh luôn để hết tâm trí vào mọi việc ông làm. Màu xanh lá xuất hiện ở nhiều phần khác nhau trên hào quang của ông, thường pha trộn với màu vàng, xuất phát từ khuynh hướng này, và cho thấy trí tuệ và cảm xúc của ông được bộc lộ một cách tự do trong cuộc sống hàng ngày. Ông có kiến thức sâu sắc về lý thuyết âm nhạc cũng như về tất cả các khía cạnh kỹ thuật cho đàn piano, và các sáng tác ông viết, tôi được cho biết, là rất phức tạp và khó chơi. Đầu óc luôn học hỏi làm ông quan tâm và muốn hiểu biết về nhiều lĩnh vực bên cạnh nghề nghiệp của mình, điều này có gì đó hơi bất thường vì các nhạc sĩ thường có xu hướng say mê duy nhất nghệ thuật của họ.
This is an interesting aura because it is so full of contradictions.
Đây là một hào quang thú vị vì nó đầy mâu thuẫn.
He had a great deal of artistic perception, as well as the ability to focus his mind and concentrate upon the solution of difficult problems, yet his emotions were strong and his personal relationships had long been in conflict with his ideals. Because he was very intelligent, he was fully aware of this conflict, and it caused him great concern. He had worried about his work and his family and his financial responsibilities for so long that it had finally become an emotional habit — a habit which marred his natural joy in his music, and undoubtedly contributed not only to his stroke but also to some recent symptoms of heart disease.
Ông có nhận thức sâu sắc về nghệ thuật, cũng như khả năng hướng tâm trí và tập trung vào giải pháp cho những vấn đề khó khăn, nhưng cảm xúc của ông vô cùng mạnh mẽ và mối quan hệ cá nhân của ông từ lâu đã xung đột với lý tưởng mà ông theo đuổi. Là người thông minh, ông nhận thức rõ về những xung đột này, và điều đó khiến ông lo lắng rất nhiều. Ông lo lắng về công việc của mình, gia đình và trách nhiệm tài chính của mình trong một thời gian dài đến nỗi cuối cùng điều đó đã trở thành thói quen cảm xúc—một thói quen làm hỏng niềm vui tự nhiên của ông trong âm nhạc, và chắc chắn không chỉ gây ra cơn đột quỵ mà còn là nguyên nhân của một số triệu chứng gần đây về bệnh tim.
Although his temperament was naturally cheerful and outgoing, the friction within his family inevitably had its effect on him. I think some members of his family caused him endless trouble through their selfishness. They expected him to provide them with financial support, and made demands upon him which he gave in to out of a desire to escape their bickering and constant complaints. In addition, he was a man who had been accustomed to a full, active life and a successful career, so the restrictions imposed on him by his illness were galling, and made him very impatient. This aggravated his strain. But in spite of all these problems, he retained his natural sweetness and his sympathetic disposition.
Mặc dù tính tình của ông là tự nhiên vui vẻ và chan hòa, những mâu thuẫn trong gia đình chắc chắn đã ảnh hưởng đến ông. Tôi cho rằng một số người trong gia đình ông đã gây ra cho ông vô số rắc rối vì sự ích kỷ của họ. Họ hy vọng và yêu cầu ông hỗ trợ về tài chính, và ông đã thực hiện điều đó để tránh những lời phàn nàn không ngừng và những cuộc tranh cãi trong gia đình. Thêm vào đó, ông là người đã quen với cuộc sống đầy đủ, năng động và sự nghiệp thành công, vì vậy những hạn chế vận động do căn bệnh gây ra và khiến ông mất kiên nhẫn. Điều này càng làm ông thêm căng thẳng. Tuy nhiên, bất chấp tất cả những vấn đề này, ông luôn giữ vững bản chất ngọt ngào và giàu sự cảm thông.
This man’s life was full of accomplishment, yet far from easy. His aura is a record of his past and present struggles, but above all it reveals a man who had been able to fulfill his early promise, and realize his highest talents and abilities to a remarkable degree.
Cuộc sống của người đàn ông này đã đủ đầy, nhưng không hề dễ dàng. Hào quang của ông là một bản ghi về những cuộc đấu tranh trong quá khứ và hiện tại, nhưng trên hết, nó cho thấy một người có thể hoàn thành những cam kết từ ngày còn trẻ của mình, và nhìn nhận khá rõ tài năng và năng lực cao nhất của mình.
10. A Concert Pianist
In marked contrast to the previous case, this man, although also a pianist, was of an entirely different temperament. In both cases, music was an absorbing passion, but while #9 had a curious, inquiring mind and was interested in many different things, this man lived and breathed only for his music. Moreover, #9 had had a stormy personal life, whereas the home environment of this man was sheltered and supportive. Although he was in his seventies at the time, and his intake of energy was somewhat slowed down, he was quite healthy. For all these reasons, his aura is remarkably clear and free of stress.
Trái ngược với trường hợp trước, người đàn ông này, mặc dù cũng là một nghệ sĩ dương cầm, có tính khí hoàn toàn khác. Trong cả hai trường hợp, âm nhạc là một niềm đam mê bất tận, nhưng trong khi trường hợp # 9 có một tâm trí thích tìm hiểu, đầy thắc mắc và quan tâm đến nhiều lĩnh vực khác nhau, người đàn ông này dành toàn bộ đời sống của mình cho âm nhạc. Hơn nữa, trường hợp # 9 có một cuộc sống cá nhân đầy bão táp, trong khi môi trường gia đình của người nghệ sĩ dương cầm này luôn được che chở và hỗ trợ. Mặc dù lúc tôi gặp, ông đang ở độ tuổi bảy mươi, và việc tiếp thu năng lượng của ông phần nào đã bị chậm lại, ông vẫn hoàn toàn khỏe mạnh. Vì tất cả những lý do này, hào quang của ông rõ ràng và không bị căng thẳng.
The outstanding feature of this aura is the enormous amount of green, in varying shades. His green band, again, is extremely wide and high, and a most beautiful shade of sea-green — the lightest and most luminous of any of our cases. Within it are several wavy lines and a number of yellow dots, all ranged symmetrically. These forms relate to his music, which dominated his life; the yellow shows his absorption, and the blue the concentration of his will on his performance.
Đặc điểm nổi bật của hào quang này là màu xanh lá chiếm ưu thế vượt trội, với các sắc thái khác nhau. Dải màu xanh của ông, một lần nữa, rất rộng và cao, và là một màu xanh lá đẹp nhất, thanh nhẹ và sáng nhất trong số các trường hợp mà chúng tôi nghiên cứu. Bên trong đó có một số đường lượn sóng và một số chấm vàng, tất cả đều nằm đối xứng. Những biểu tượng hình học này liên quan đến âm nhạc, lĩnh vực bao trùm toàn bộ cuộc sống của ông; màu vàng cho thấy sự đam mê của ông, và màu xanh biển biểu hiện sự tập trung ý chí vào các lần biểu diễn.
At the bottom of his aura, the mottled gray-blue does not extend very far upward, showing that these emotions lay far in the past, and no longer affected him. The gray indicates that when he was a very young child he found his surroundings somewhat intimidating, and was often uneasy and fearful. The blue results from his feeling at that time that he had to gather himself together and concentrate on his studies. All this related to a period of his life when he was around nine years old and was sent away from home all by himself to study music.
Ở dưới cùng của hào quang, màu xám nâu lốm đốm không mở rộng quá xa, cho thấy những cảm xúc này nằm rất xa trong quá khứ, và không còn ảnh hưởng đến ông. Màu xám chỉ ra rằng khi còn rất bé, ông thấy môi trường xung quanh mình khá đáng sợ, thường không thoải mái và sợ hãi. Màu xanh biển là kết quả từ cảm xúc vào thời điểm ông phải dồn tâm sức tập trung vào việc học. Tất cả những điều này liên quan đến giai đoạn khi ông mới khoảng 9 tuổi và được gửi đi xa nhà một mình để theo học nhạc.
Just above, on the right, there is an area of dark blue-green, with four small plumes in it, as well as a number of small red whirls. The plumes result from the fact that when he was quite young he was pleased with himself and felt he was doing well, while the whirls are remnants of an emotion of almost righteous indignation which he had had at about the same time, and which he had not entirely forgotten.
Ngay phía trên, phía bên phải, có một khu vực có màu xanh đậm, với bốn hình lông chim nhỏ, cũng như một số xoáy nhỏ màu đỏ. Những hình lông chim là kết quả của thực tế là khi còn trẻ, ông thấy hài lòng với bản thân và cho rằng mình đã hoàn thành tốt công việc của mình, trong khi những xoáy đỏ là tàn dư của cảm xúc phẫn nộ chính đáng mà ông đã trải qua cùng khoảng thời gian, và cảm xúc này không hoàn toàn bị lãng quên.
Just below the green band, you will see on the left a cloud of rosy purple, which is balanced on the right by green, with some pink shapes within it. All of this relates to his music. The green shows the amount of work he still put into his playing, while the rose and purple reflect his feelings about his music, which were really a deep love and even reverence. This reverence was associated with the awe he felt for his teacher when he was a young man. He studied with Liszt, who was an overpowering personality as well as a consummate artist with an enormous technique, and the experience of this association always remained very vivid in his memory.
Ngay dưới dải màu xanh lá, bạn sẽ nhìn thấy ở bên trái có một đám mây tím hồng, đối xứng sang bên phải là màu xanh lá, với một số hình màu hồng bên trong. Tất cả điều này liên quan đến âm nhạc của ông. Màu xanh lá cho thấy mức độ cống hiến cho âm nhạc, trong khi màu hồng và tím phản ánh cảm xúc của ông với âm nhạc, đó thực sự là một tình yêu sâu sắc, thậm chí tới mức tôn thờ. Sự tôn kính này gắn liền với nỗi sợ hãi mà ông đã có với giáo viên của mình khi ông còn trẻ. Ông đã học với (nghệ sĩ dương cầm, nhà soạn nhạc) Liszt, một người có tính cách mạnh mẽ, đồng thời cũng là một nghệ sĩ hoàn hảo với kỹ thuật cao siêu, và trải nghiệm về quãng thời gian này luôn sống động trong ký ức của ông.
Lower down, on the left side, there are three blue bands as well as two fair-sized gray whirls and a number of reddish dashes. These all relate to a period in his life during which he was under a lot of stress, and which depressed him and at the same time made him very angry. He was born in Russia and had made his whole career in his own country, where he was very well known, but he was forced to leave at the time of the Revolution. He was separated from some of the members of his family and worried because he had no news of them. They were safely reunited in the United States, but these memories left their scars, and he could always be roused to indignation when reminded of the changes wrought in the Soviet Union.
Phía dưới bên trái, có ba dải màu xanh biển cũng như hai vòng xoáy màu xám khá lớn và một số vạch ngang màu đỏ. Tất cả đều liên quan đến một khoảng thời gian trong cuộc đời ông, thời điểm ông chịu nhiều căng thẳng, khiến ông trở nên chán nản và tức giận. Ông sinh ra ở Nga và đã cống hiến cả sự nghiệp trên đất nước mình, nơi ông đã trở nên nổi tiếng, nhưng ông đã bị buộc phải rời khỏi đất nước trong thời kỳ Cách mạng. Ông bị phân ly khỏi gia đình và vô cùng lo lắng vì không có tin tức gì về họ. Gia đình ông đã được đoàn tụ an toàn tại Hoa Kỳ, nhưng những kỷ niệm này để lại những vết sẹo không phai mờ, và ông luôn luôn dễ dàng bị kích động và phẫn nộ khi ai đó nhắc tới những thay đổi của Liên bang Xô viết.
Above the green band, the position on the right side, opposite the pink of affection, is where one usually sees the yellow related to the mind. In this case, however, that color is replaced by a pale green tinged with yellow — a clear shade, but cloudy in formation. This color expresses the feelings of sympathy and empathy which were his natural response to other people. Above this, the whole top of the aura is filled with shades of blue-green, signifying that his highest powers and sensitivities were related to art and its expression.
Trên dải màu xanh lá, phía bên phải, đối diện với dải màu hồng biểu lộ tình cảm, là nơi thường có màu vàng liên quan đến tâm trí. Tuy nhiên, trong trường hợp này, màu vàng được thay thế bởi một màu xanh lá nhạt pha chút vàng—một bóng mờ trong suốt, nhưng phủ lên dải màu. Sắc màu này thể hiện sự cảm thông và đồng cảm, đó là phản ứng rất tự nhiên của ông đối với mọi người. Trên cao, toàn bộ đỉnh của hào quang được lấp đầy với những gam màu xanh biển-xanh lá, cho thấy sức mạnh và độ nhạy cao nhất của ông, liên quan đến nghệ thuật, và biểu hiện của điều đó trong cuộc sống.
The most interesting features of this aura are the two bright golden stars placed high in this blue-green. The absence of a large amount of yellow shows that he had little interest in abstract ideas, and also that his work did not require him to use his concrete mind in practical ways. All this was replaced in him by a kind of intuitive insight (represented by the golden stars) which gave him the ability to understand musical ideas and solve musical problems almost without thinking. He had the unique ability to translate his artistic insights directly into his playing; his intuition and his hands worked together in harmony without any need for the mediation of the mind. This phenomenon was unique in my experience.
Đặc điểm thú vị nhất của hào quang này là hai ngôi sao sáng màu vàng nằm cao trên vùng màu xanh lá pha xanh biển này. Sự thiếu vắng rất nhiều màu vàng cho thấy ông ít có hứng thú với những ý tưởng trừu tượng, và rằng công việc không đòi hỏi ông phải sử dụng tư duy cụ thể của mình theo cách thực tế. Trong ông, tất cả điều này đã được thay thế bằng một cái nhìn sâu sắc trực quan (đại diện bởi các ngôi sao vàng) cho ông khả năng thấu hiểu các ý tưởng âm nhạc và giải quyết các vấn đề âm nhạc hầu như không cần suy nghĩ. Ông có khả năng độc đáo để diễn đạt những hiểu biết nghệ thuật qua ngón đàn của mình; trực giác và đôi bàn tay của ông phối hợp cùng nhau hết sức hài hòa mà không cần tập trung tâm trí. Hiện tượng này là duy nhất trong suốt quá trình nghiên cứu của tôi.
This man is an example of the dedicated life par excellence; for him, music was his whole life, his love, his abiding interest. As the clarity of his aura shows, his personality was simple and childlike, and he was so one-pointed that the colors are few and well-integrated. He had a very rigorous and intensive musical education in St. Petersburg before the Revolution, where he became friends with many of the famous composers active in Russia at that time. He himself had had a successful career, both as a pianist and as a conductor, but all this ended with the Revolution. After coming to the United States he gave a few concerts, but devoted himself mainly to teaching and editing piano scores.
Người đàn ông này là một ví dụ tuyệt vời về cuộc sống cống hiến hết mình; Đối với ông, âm nhạc là cả cuộc sống, là tình yêu, là tất cả sự quan tâm. Như đã rõ ràng biểu lộ qua hào quang, tính cách của ông rất đơn giản, như trẻ con, và sự nhất tâm của ông biểu hiện ở số lượng màu sắc ít và gắn kết rất chặt chẽ. Ông đã được đào tạo âm nhạc rất bài bản và chuyên sâu ở St Petersburg trước Cách mạng, nơi ông đã kết bạn với nhiều nhà soạn nhạc nổi tiếng ở Nga vào thời điểm đó. Chính bản thân ông đã có một sự nghiệp thành công, cả về biểu diễn dương cầm lẫn vai trò nhạc trưởng, nhưng tất cả những điều này đều đã kết thúc khi cuộc Cách mạng nổ ra. Sau khi đến Hoa Kỳ, ông có tổ chức một vài buổi hòa nhạc, còn lại chủ yếu tập trung vào việc giảng dạy và chỉnh sửa các bản nhạc dương cầm.
Interestingly enough, the curtailment of his public performances did not make him at all bitter. He still had his music, he did not want financially and he had the full support of his family, all of whom adored him. His daughters were almost too caring, for they vied for his attention and were inclined to quarrel with each other over small indulgences. This affected him very little, however, for the whole family was united in the effort to give him the peace and quiet his music demanded. In contrast to #9, his home environment was completely protective.
Thật thú vị, việc giảm bớt các buổi công diễn không khiến ông cảm thấy cay đắng. Ông vẫn có âm nhạc, ông không cần tài chính vì ông đã được gia đình hỗ trợ, mọi người trong gia đình đều yêu mến ông. Các con gái của ông chăm sóc ông quá tận tình, họ để ý tới từng mối quan tâm nhỏ của ông, thậm chí có thể tranh cãi nhau vì nhưng ham mê nho nhỏ của ông. Tuy nhiên, điều này rất ít ảnh hưởng đến ông, vì cả gia đình ông luôn đoàn kết nỗ lực tạo cho ông sự yên tĩnh và bình an để ông cống hiến cho âm nhạc. Ngược lại với trường hợp # 9, môi trường gia đình của người nghệ sĩ này bao bọc ông hoàn toàn.
This was a greatly gifted man. He had worked all his life in the service of his art, and as a result his personality had refined itself to such a degree that it became a clear instrument for the expression of his artistic insight. Because his personal life never interfered with his dedication to music, the troublesome events and difficulties he had encountered in the past had no power to destroy his basic serenity. One might say that here was a man whose karma allowed him to ful-fill his highest aspirations.
Đây là một người đàn ông tài năng. Ông đã làm việc suốt cuộc đời mình để phục vụ cho nghệ thuật, và kết quả là tính cách của ông đã tự tinh luyện đến mức nó trở thành một công cụ rõ ràng để thể hiện sự am hiểu nghệ thuật của ông. Vì cuộc sống cá nhân của ông không bao giờ gây ảnh hưởng đến sự cống hiến của ông cho âm nhạc, những sự kiện phiền muộn và những khó khăn ông gặp phải trong quá khứ không làm mất đi sự thanh thản là nền tảng trong ông. Có thể nói đây là một người có nghiệp lực cho phép ông hoàn thành tâm nguyện cao nhất của mình.
11. A Social/Environmental Activist—NHà Hoạt Động Xã Hội, Môi Trường
Here, again, is the aura of a person who was devoted to an abstract ideal, but in this case, the ideal was one of social justice. Because of this man’s temperament, the ideal became translated into a cause to which he was so totally committed that he was willing to sacrifice his whole career and even his personal security.
Ở đây, lại là hào quang của một người đã cống hiến cho một lý tưởng trừu tượng, nhưng trong trường hợp này, lý tưởng có liên quan tới những vấn đề công bằng xã hội. Vì tính cách của người đàn ông này, lý tưởng đã trở thành cội nguồn mọi hoạt động của ông đến nỗi ông sẵn sàng hy sinh toàn bộ sự nghiệp và thậm chí cả sự an toàn cá nhân cho điều đó.
First of all, we can see from both the clarity and depth of the colors in his aura that this man —who was then in his fifties —was a person of very strong character. On the whole this is a well-balanced aura. Most of the colors at the top are brightened and amplified by their reflection in the lower part, for by his active use of his abilities he was increasing their strength and their energies. The broad band of golden yellow on the right shows by its width and brilliance not only that he had a fine intellect but also that he was constantly applying it to his work and to the implementation of his ideals.
Trước hết, chúng ta có thể nhìn thấy sự rõ ràng và chiều sâu của những màu sắc trong hào quang của người đàn ông này—người đã ở độ tuổi năm mươi—một người có tính cách mạnh mẽ. Một cách tổng thể, đây là một hào quang cân bằng. Hầu hết các màu sắc ở phía trên trở nên sáng rỡ hơn và đậm nét lên bởi sự phản chiếu của chúng ở phần dưới, vì bằng cách tích cực sử dụng năng lực của mình, ông đã tăng cường sức mạnh và năng lượng. Bề rộng và sự sáng chói của dải rộng màu vàng kim bên phải cho thấy ông không chỉ có một trí tuệ minh mẫn mà còn biết thường xuyên sử dụng trí tuệ đó cho công việc của mình để thực hiện các lý tưởng mà ông theo đuổi.
This last is indicated by the proximity of the broad streak of green just above the yellow; the empathy and compassionate concern for others which the green represents touches and influences his thought. The shade of the large band of pink on the opposite side, which always indicates affection, reflects a genuine altruism — a strong feeling of concern for people, for humanity as a whole. The fact that this color is reflected in the lower aura indicates that in daily life he was a kind man, and friendly in his relationships. But at the same time, his affections were not very outgoing; the blue bars across the pink show that he kept them to himself and was even apt to repress them.
Điều này được chỉ ra bởi sự gần gũi của các vệt rộng màu xanh lá ngay phía trên màu vàng; sự quan tâm cảm thông và từ bi đối với người khác mà màu xanh lá biểu đạt có tác động và ảnh hưởng đến suy nghĩ của ông. Bóng mờ của dải lớn màu hồng ở phía đối diện, luôn thể hiện tình cảm, phản ánh lòng vị tha chân thành—một cảm xúc mạnh mẽ quan tâm tới mọi người, cho toàn thể nhân loại. Thực tế là màu sắc này được phản ánh trong phần dưới hào quang cho thấy trong cuộc sống hàng ngày, ông là một người đàn ông nhân hậu, và thân thiện trong các mối quan hệ. Nhưng đồng thời, tình cảm ấy của ông không phải là quá hướng ra ngoài; các đường màu xanh biển trên nền hồng cho thấy ông giữ lại cảm xúc của mình và thậm chí kiềm chế chúng.
Purple or lavender above the head always stands for spirituality or for spiritual aspiration, as distinct from religious devotion, which is a different shade of blue. In this man’s case, he was not religious and had little or no interest in theological or ontological concepts. To hear him talk, one would have thought him a thorough materialist, because he was so passionately dedicated to changing the world through social reform. But he was in fact an idealist whose essential spirituality took the form of commitment to the good of humanity.
Màu tím hay màu oải hương phía trên đầu luôn tượng trưng cho khát vọng tinh thần hay tâm linh, không giống với sự tôn sùng tôn giáo, mang một màu xanh khác. Trong trường hợp của người đàn ông này, ông không theo tôn giáo và không mấy quan tâm đến các khái niệm thần học hay bản thể học. Nghe ông nói chuyện, người ta nghĩ ông là một nhà duy vật thuần túy, bởi vì ông tràn đầy say mê thay đổi thế giới thông qua cải cách xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế, ông là một người theo chủ nghĩa lý tưởng có tinh thần tha thiết cam kết gắn liền mọi hoạt động với lợi ích của nhân loại.
The green band is wide and shows his practicality. He was not just a theorist, but spent his energies on trying to work out ways to put his ideas into action. He was a fine organizer, as well as a concise, fluent speaker and writer. He was also not afraid of using his hands, and loved such things as building houses and chopping wood and working in the garden. The symbols in the band indicate that he was very much preoccupied with the global economy and with social justice, but also that he had a long-term interest in environmental issues. These ideas were basic not only to his work but to his over-arching world view. As I have said, the forms within the green band reflect a person’s fundamental concerns; his are related to concepts, and are therefore yellow. Such symbolic forms are usually quite long-lasting.
Dải xanh lá rộng thể hiện tính thực tế của ông. Ông không chỉ là một nhà lý luận, mà còn dùng sức lực của mình để cố gắng tìm cách đưa những ý tưởng của mình vào hành động. Ông là một nhà tổ chức tốt, đồng thời là một người viết và diễn thuyết rất hay và súc tích. Ông cũng không ngại phải làm công việc chân tay, yêu thích những việc như xây nhà, chặt gỗ và làm vườn. Các biểu tượng trong dải màu chỉ ra rằng ông rất bận tâm với nền kinh tế toàn cầu và các vấn đề công lý xã hội, nhưng ông cũng có mối quan tâm lâu dài tới các vấn đề môi trường. Những ý tưởng này không chỉ căn cứ vào công việc mà còn trên quan điểm toàn thế giới của ông. Như tôi đã nói, các hình hình học trong dải màu xanh phản ánh mối quan tâm cơ bản của một người; Mối quan tâm đó của ông có liên quan đến các khái niệm, do đó có màu vàng. Những hình thức biểu tượng như vậy thường tồn tại khá lâu dài.
A more unusual pattern in the green band is the group of dark green trees. When I saw these, I asked if trees were a symbol of peace and harmony to him. He told me then that for many years before going to sleep at night he would visualize a certain group of trees in a spot he knew and loved, and that this seemed to put his day’s work into a larger perspective; it gave him a sense of the peace within nature — a peace that endures in spite of turbulence and conflict. Later in life, when he turned his energies more in the direction of ecological issues, I am sure this symbol was an even greater source of inspiration to him.
Một mẫu bất thường hơn trong dải màu xanh là nhóm các hình cây màu xanh đậm. Khi tôi nhìn thấy những hình này, tôi hỏi ông cây có phải là biểu tượng của hòa bình và hòa hợp đối ông không. Ông kể với tôi rằng trong nhiều năm trước khi đi ngủ vào ban đêm, ông luôn hình dung trong đầu hình ảnh những cây cối yêu thích ở một nơi mà ông biết, và điều này có vẻ làm công việc hàng ngày của ông mang ý nghĩa lớn hơn; nó cho ông một cảm giác về sự bình an trong tự nhiên—một sự bình an kéo dài bất chấp hỗn loạn và xung đột. Sau này trong cuộc đời, khi ông chuyển hướng hoạt động sang vấn đề sinh thái, tôi chắc chắn biểu tượng này là nguồn cảm hứng lớn hơn cho ông.
One of the distinctive features of this aura is the amount of blue both above and below the green band. This indicates that he had a highly developed will, which he exercised freely in his daily life, especially on himself; he was often quite hard on himself. The plumes dashed with red which appear in the blue just below the band show that his reformist zeal was to a considerable extent fueled by anger; he took an adversarial stance because he expected people to oppose him. He not only spoke up for social changes; he got out into the arena and battled for them.
Một trong những đặc điểm nổi bật của hào quang này là lượng màu xanh biển rất lớn, cả trên và dưới dải màu xanh lá. Điều này chỉ ra rằng ông có một ý chí phát triển cao, và ông tập luyện mỗi ngày trong cuộc sống, đặc biệt áp dụng với chính mình; ông thường khá khó khăn với bản thân. Những vệt hình lông chim màu đỏ trong các mảng màu xanh biển ngay dưới dải xanh lá cho thấy sự nhiệt tình cải cách của ông đã được tăng thêm sức mạnh bởi một mức độ đáng kể bởi những cơn nóng giận; ông mang trong mình lập trường phản kháng vì ông cho rằng nhiều người chống đối mình. Ông không chỉ kêu gọi những thay đổi xã hội; ông bước lên diễn đàn và chiến đấu vì điều đó.
He had a great deal of self-control, but the pressures upon him resulted in considerable strain, which shows in the blue bands encasing the lower part of the aura. Remember that these bands are not just at the edges of the aura but surround it, covering but not obscuring the other colors. (You have seen a similar shell in #9.) They always indicate both nervous and emotional stress, and when they rise higher in the aura they can signal severe disturbance and even lead to physical disabilities, as in #17, because they block the free flow of emotional energy. But in this case I felt that the condition would be temporary, for this was an extremely strong and robust man, with a great deal of physical resilience.
Ông là người rất tự chủ, nhưng áp lực mà ông phải chịu đã dẫn đến một sự căng thẳng đáng kể, biểu hiện qua các dải màu xanh biển bao quanh phần dưới của hào quang. Hãy nhớ rằng những dải màu này không chỉ có ở bên rìa hào quang mà bao quanh nó, viền kín nhưng không che mờ những màu sắc khác. (Bạn đã thấy một lớp viền tương tự ở trường hợp # 9). Chúng luôn cho thấy những căng thẳng cả về thần kinh và tình cảm, và khi viền màu này mở rộng cao hơn trong hào quang, chúng có thể báo hiệu sự xáo trộn nghiêm trọng, thậm chí dẫn đến khuyết tật về thể chất, như ở trường hợp #17, bởi vì chúng ngăn chặn dòng chảy tự do của năng lượng cảm xúc. Nhưng trong trường hợp này, tôi cảm thấy đó chỉ là tình trạng này tạm thời, vì đây là một người đàn ông mạnh mẽ và khỏe manh, với khả năng hồi phục rất cao về thể lực.
This strain is related to the bottom of the aura, where the dark colors indicate that in childhood he probably lived in a somewhat repressed environment, and that he was strong-willed and defiant. Here, as always, there is a residue from the past, from emotions that one has largely outgrown but which still linger to some extent within the unconscious mind. In this man’s case, it shows that as a child he was affectionate but shy and undemonstrative, as well as rather withdrawn into himself. The brown tinged with green shows the usual selfishness, and also that he was determined to have his own way. The greenish color relates to the fact that he did a good deal of hard manual work in his youth. The pink and blue vortices on the left are a sign that he had a good many difficulties in his relations with his family. Since they rise up fairly high in the aura, they must have lasted through his early adult life; on the opposite side, the dashes in the blue similarly represent surges of strong feeling. All these formations were temporary, and would eventually pass away.
Sự căng thẳng này có liên quan đến phần đáy của hào quang, nơi mà những màu tối cho thấy rằng trong thời thơ ấu, có thể ông đã phải sống trong một môi trường bị kiềm chế, và rằng ông mang trong mình ý chí mạnh mẽ không chịu khuất phục. Ở đây, như thường lệ, có những dấu ấn từ quá khứ, từ những cảm xúc mà phần lớn đã biến đổi nhưng mà vẫn còn lưu lại ở một mức độ nhất đinh trong vô thức. Trong trường hợp của người này, nó cho thấy ông vẫn giống như một đứa trẻ, đầy tình cảm nhưng nhút nhát và không biết biểu hiện, cũng như khá thu vào chính mình. Màu nâu pha xanh lá cho thấy tính ích kỷ thông thường, và rằng ông đã quyết đi theo con đường riêng của mình. Màu xanh lá liên quan đến thực tế là ông đã làm rất nhiều việc chân tay vất vả trong thời tuổi trẻ. Các xoáy màu hồng và màu xanh biển ở bên trái là dấu hiệu cho thấy ông có nhiều khó khăn trong mối quan hệ của mình với gia đình. Vì các xoáy này nằm ở vị trí khá cao trong hào quang, những khó khăn này hẳn là đã kéo dài tới những năm trưởng thành đầu đời của ông; tương tự như vậy, ở phía đối diện, các dấu gạch ngang trong dải xanh biển đại diện cho sự dâng trào của cảm xúc mạnh mẽ. Tất cả những hình thái này là tạm thời, và cuối cùng sẽ biến mất.
Another interesting feature of this aura is the bright orange plume on the left side, close in to the body below the knees. You have seen a similar formation in #7, and there is another in #13. Their position, close to the body or farther out into the aura, indicate their degree of activity. As I mentioned in the earlier case, they are usually created by a strong conviction that one is right, and a determination to stand by that conviction no matter what the consequences may be. In a certain sense, therefore, such a plume represents intellectual pride. This man had it so strongly that he was sometimes contemptuous of those who disagreed with him. There is always the danger that those who hold powerful convictions may develop a form of self-righteousness and intolerance of those who oppose them. But as I mentioned in Chapter I, when this man saw a picture of the plume he recognized it for what it was, and made up his mind to change it. Such was his strength of will that he probably succeeded in doing so.
Một đặc điểm thú vị khác của hào quang này là hình lông chim màu cam sáng ở phía bên trái, ngay sát cơ thể, dưới đầu gối. Bạn đã thấy hình tương tự trong trường hợp # 7, hay trong ví dụ khác ở hình # 13. Vị trí của chúng, gần cơ thể hay xa hơn về phía rìa hào quang, cho thấy mức độ hoạt động của chúng. Như tôi đã đề cập trong trường hợp trước, chúng thường được tạo ra bởi một niềm xác tín mạnh mẽ rằng người đó là đúng, và quyết tâm đứng vững cùng niềm tin đó bất kể hậu quả gì có thể xảy ra. Do đó, theo một nghĩa nào đó, vệt màu hình lông chim như vậy tượng trưng cho niềm tự hào về trí tuệ. Người đàn ông này biểu lộ mạnh mẽ đến mức đôi khi ông coi thường những người bất đồng quan điểm với mình. Luôn luôn có nguy cơ là những người có niềm tin mạnh mẽ có thể phát triển quan điểm cho rằng mình luôn đúng và không khoan dung với những người phản đối mình. Nhưng như tôi đã đề cập trong Chương I, khi người này nhìn thấy bức vẽ với những hình lông chim, và khi biết điều đó có ý nghĩa gì, ông đã nhất định là sẽ thay đổi nó. Chỉ có sức mạnh ý chí mà ông áp đặt mới có thể thành công trong việc làm như vậy.
I have frequently been asked whether such intellectual pride stems from egotism. The conviction that one is right requires self-confidence, and usually there is some degree of egotism involved. But it is possible to have a strong ego and still be an altruist. This man was convinced that he knew how to achieve the goal of social justice (in which he was probably over-optimistic), but he was not self-seeking. He did not work for his own glory. Quite the contrary, he made a number of personal sacrifices in pursuit of his goals.
Tôi thường được hỏi liệu niềm tự hào trí tuệ đó có xuất phát từ tính tự cao hay không. Niềm tin chắc rằng mình đúng đòi hỏi sự tự tin, và thông thường có một mức độ tự cao nhất định. Nhưng cũng có thể người đó chỉ là có bản ngã mạnh mẽ và vẫn là người vị tha. Người đàn ông này luôn tin rằng ông biết cách làm sao để đạt được mục tiêu công bằng xã hội (về việc này ông có lẽ quá lạc quan), nhưng ông không làm điều đó để tự khẳng định mình. Ông không cống hiến cho vinh quang cá nhân. Ngược lại, ông đã hy sinh bản thân để theo đuổi các mục tiêu của mình.
Early in life he became concerned about the social evils which he perceived in the United States in the days just after World War I, for at that time there were no child labor laws, and working conditions were deplorable. He determined to take a firm public stand on these issues, and began to spend most of his time in an effort to win legislation that would correct this evil. He was a well-known university professor, but his strongly voiced criticism of public policy met with a great deal of opposition both from colleagues and from the establishment, and as a result he lost his teaching appointment amidst a blaze of publicity. His radicalism brought him all kinds of accusations of disloyalty, and his views were considered by many conservatives to be subversive. He suffered personally from all this, but he never stopped speaking out for what he considered to be the truth, whenever and wherever he could find a forum.
Ngay từ khi còn rất trẻ, ông đã bắt đầu quan tâm đến những tệ nạn xã hội mà ông nhận thấy tồn tại khắp nơi ở Hoa Kỳ trong những năm đầu sau Thế chiến thứ nhất, vì lúc đó không có luật lao động trẻ em và điều kiện làm việc vô cùng tồi tệ. Ông quyết tâm giữ vững quan điểm công khai về những vấn đề này, và bắt đầu dành phần lớn thời gian của mình cho nỗ lực để điều chỉnh luật pháp giúp khắc phục những điểm hạn chế này. Ông là một giáo sư đại học nổi tiếng, nhưng lời chỉ trích mạnh mẽ của ông về chính sách công đã gặp rất nhiều sự phản đối từ phía các đồng nghiệp và từ các cơ quan chính quyền, và kết quả là ông đã mất vị trí làm giảng viên giữa sự sôi sục trong công luận. Chủ nghĩa cực đoan của ông mang lại cho ông vô vàn cáo buộc về sự bất trung, và quan điểm của ông đã bị nhiều đảng viên bảo thủ soi xét để phá bỏ. Ông đã phải tự gánh chịu tất cả những điều này, nhưng ông chưa bao giờ ngừng nói ra những gì ông coi là chân lý, bất cứ khi nào và bất cứ nơi đâu ông có thể lập diễn đàn tranh đấu.
In his later life (for he lived to be almost 100 years old), he turned his attention from political to ecological issues. He had always had a great love of nature, and as he grew older and the world picture changed so significantly, he began to turn his attention to practical ways of living simply and harmoniously with the environment. He developed many theories about growing and preparing food organically, and wrote several books with his wife on how to live harmlessly, using the Earth’s resources without exploitation. He became as famous for his advocacy of this cause as he had been notorious for his early radicalism, and many people made pilgrimages to sit at his feet and imbibe the simple wisdom and goodness he displayed in his personal life.
Khi nhiều tuổi hơn (ông thọ gần 100 tuổi), ông đã chuyển mối quan tâm của mình từ chính trị sang các vấn đề sinh thái. Ông luôn dành tình yêu lớn lao cho thiên nhiên, và khi đã lớn tuổi, khi tình hình thế giới đã có nhiều thay đổi lớn, ông bắt đầu chú tâm hơn tới cách sống thực tế đơn giản và hài hòa với môi trường. Ông đã phát triển nhiều lý thuyết về trồng và chế biến thực phẩm hữu cơ, và đã cùng vợ viết một số sách về cách sống không gây hại, sử dụng các nguồn lực của Trái Đất mà không khai thác quá mức thiên nhiên. Ông trở nên nổi tiếng vì sự ủng hộ tích cực trong lĩnh vực này giống như ông đã từng nổi tiếng về chủ nghĩa cực đoan thời gian trước đó, và nhiều người đã thành kính tìm đến ông để học hỏi từ trí tuệ xuất chúng và lòng tốt mà ông thể hiện trong cuộc đời cá nhân của mình.
This man was an idealist, and strong ideals stand the test of time. I said earlier that some of the colors in an aura embody the qualities of higher states of consciousness, and that these can come through to energize and enhance a person’s ability to be effective in the world. Reflections of these levels may be seen in this man; in his case they are colored by sympathy and a deep concern for human suffering.
Người đàn ông này là một người theo chủ nghĩa lý tưởng, và những lý tưởng mạnh mẽ đứng vững qua thử thách thời gian. Ở phần trước tôi đã nói rằng một số màu sắc trong hào quang thể hiện những phẩm chất của các trạng thái tâm thức cao hơn, và những phẩm chất này có thể kích thích và nâng cao năng lực của một người để người đó hoạt động hiệu quả hơn trên thế giới. Những phản ánh về tầm mức này có thể được nhìn thấy trong người đàn ông này; trong trường hợp của ông, chúng mang màu sắc của sự cảm thông và mối quan tâm sâu sắc với những đau khổ của con người.
Fifty years after this picture was painted, I can say that this man succeeded in fulfilling his inner promise. Although I did not see him in the years before his death, I am sure that most of the complexities in this aura would have disappeared, because the irritations and frustrations of his early life would have long since been worked out. Moreover, there would be no strain, and a much more relaxed attitude toward life. Thus in later years his aura would have been much clearer and less complicated.
Năm mươi năm sau khi bức hình này được vẽ, tôi có thể nói rằng người đàn ông này đã thành công trong việc hoàn thành lời hứa nội tâm trong mình. Mặc dù tôi đã không gặp ông trong những năm trước khi ông qua đời, tôi chắc chắn rằng hầu hết những sự phức tạp trong hào quang của ông đã biến mất, bởi vì những kích thích và buồn phiền trong giai đoạn đầu cuộc đời ông đã được giải tỏa. Hơn nữa, sẽ không còn căng thẳng, và ông có thái độ thoải mái hơn nhiều đối với cuộc sống. Vì thế trong những năm sau, hào quang của ông sẽ rõ ràng hơn và ít phức tạp hơn.
When the orange plume disappeared from his aura, the strong convictions it represented were replaced by a flowering of his innate love of nature. His efforts to find practical ways to nurture the earth, during his later life, were thus a fulfillment of tendencies glimpsed in his earlier years.
Khi những vệt lông chim màu cam biến mất khỏi hào quang của ông, sự xác tín mạnh mẽ mà nó đại diện đã được thay thế bởi sự bừng nở của tình yêu vốn luôn nằm trong ông đối với thiên nhiên. Những nỗ lực trong việc tìm ra cách thực hành để nuôi dưỡng trái đất, trong suốt những năm sau của cuộc đời ông, là sự hoàn tất của những khuynh hướng thoáng qua khi ông còn trẻ.
12. A Painter—Một Họa Sĩ
When I first looked at this aura, even if I had known nothing about the person’s history I should have been struck by the width of the green band, and by the preponderance of green elsewhere in the aura. Green and pink are the dominant colors. It is obvious that this was a person with warm, affectionate feelings, whose hands and mind worked very well together.
Khi tôi lần đầu tiên nhìn hào quang này, ngay cả nếu tôi không biết gì về quá khứ của người này, tôi đã vô cùng ấn tượng bởi bề rộng của dải màu xanh lá, và bởi sự vượt trội của màu xanh ở mọi vị trí khác trong hào quang. Màu xanh lá và màu hồng là màu chủ đạo. Rõ ràng đây là một người ấm áp, giàu tình cảm, có đôi bàn tay và trí tuệ phối hợp hết sức nhịp nhàng.
The unusual color as well as the width of the green band show that this woman’s work was at once creative, skillful, and uniquely expressive of her artistic ideas. She was in fact a well-known painter. But she also had a high degree of manual dexterity, for she was a good carpenter and had been able to teach herself many practical skills.
Màu sắc bất thường cũng như chiều rộng của dải màu xanh lá cho thấy công việc của người phụ nữ này mang tính sáng tạo cao, đầy khéo léo, và có cách biểu đạt độc đáo những ý tưởng nghệ thuật của mình. Cô thực sự là một hoạ sĩ nổi tiếng. Đồng thời cô cũng có trình độ tay nghề cao, vì cô là một thợ mộc giỏi và đã tự luyện cho mình nhiều kỹ năng thực tiễn.
Her aura is very interesting in a number of other ways, especially in what it reveals of her past life and the ways her experiences have continued to influence her.
Hào quang của cô rất thú vị ở nhiều điểm khác nhau, đặc biệt là trong những gì nó cho thấy về cuộc sống trong quá khứ và cách thức những trải nghiệm của bản thân vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến cô.
The mixture of dark blues and greens at the bottom of her aura show that in childhood and adolescence she was severely repressed by her parents. Far from accepting this, she was fiercely rebellious, and often at odds with her family. The fact that these dark colors rise up to her ankles shows that in her early twenties she tried to break away from this environment without much success. As a result she was oppressed by a feeling of hopelessness and futility. Her spirit of revolt in the face of continual opposition put her in a state of chronic irritation, shown by the red dashes low on the left side. She showed artistic talent early in childhood, and made continued efforts to express herself through her painting, but her family situation was such that the future seemed hopeless to her, so that she was often very depressed.
Sự kết hợp giữa màu xanh biển đậm và màu xanh lá ở phần đáy hào quang cho thấy trong thời thơ ấu và thanh thiếu niên, cô đã bị bố mẹ áp đặt nghiêm trọng. Không chấp nhận điều này, cô đã nổi loạn dữ dội, và thường xuyên mâu thuẫn với gia đình. Thực tế là những màu tối này mở rộng lên tới mắt cá chân của cô cho thấy trong những năm 20 tuổi cô đã cố gắng thoát khỏi môi trường này mà không có mấy thành công. Kết quả là cô luôn bị đè nén với một cảm giác vô vọng. Tinh thần nổi dậy của cô khi đối mặt với sự áp đặt liên tục đã khiến cô rơi vào tình trạng bực bội thường xuyên, được thể hiện bằng các vệt màu đỏ ở phía bên trái. Cô đã thể hiện tài năng nghệ thuật từ khi còn nhỏ, và đã cố gắng biểu đạt mình qua các bức tranh, nhưng tình hình gia đình khiến cho tương lai dường như vô vọng đối với cô, vì vậy cô thường vô cùng buồn chán.
The radiating lines of blue around her feet are indications of her youthful revolt, and her passionate desire to be herself. They are reflected in a similar pattern around her knees, which relates to a later period in her life. She was always fiercely independent, and when she felt circumscribed by others she reacted strongly. The break between these two patterns is due to the fact that there was a period in her youth when she was more accepting of the world she found herself in, and was therefore less strained and rebellious.
Những đường màu xanh dương xung quanh bàn chân là dấu hiệu của cuộc nổi dậy thời trẻ của cô, và ước muốn mãnh liệt được là chính mình. Chúng được phản ánh trong những biểu tượng tương tự quanh đầu gối, liên quan đến giai đoạn sau của cuộc đời. Cô luôn là người độc lập tuyệt đối, và khi cảm thấy bị người khác kìm hãm, cô phản ứng mạnh mẽ. Việc có một khoảng trống giữa hai nhóm biểu tượng này là do thực tế là đã có một khoảng thời gian tuổi trẻ cô chấp nhận thế giới mà cô tự mình đắm mình vào, và do đó ít căng thẳng và nổi loạn hơn.
She grew up in England around the time of World War I, when social lines were firmly drawn and one did not move easily out of one’s class. Her aristocratic family was extremely conservative, and had strict ideas about what a young girl should and should not do. She displayed artistic talent at an early age, and since it was both traditional and socially acceptable for young girls of good family to paint, she was given careful training. But she did not want merely to dabble at art; she made up her mind while she was still very young that she was going to be a painter and that art would be her life’s work. This was not compatible with her conventional surroundings at a time when young girls were supposed to be both decorative and decorous. Thus she was constantly in a state of war with her family, who did everything they could to suppress what they considered her bohemian impulses. As a consequence, her feelings of rebellion and frustration grew day by day.
Cô lớn lên ở Anh vào khoảng thời Thế chiến thứ nhất, khi những phân biệt xã hội được định ra cứng nhắc và một người không dễ gì vượt qua giai cấp của mình. Gia đình quý tộc của cô cực kỳ bảo thủ và có những quy định nghiêm ngặt về những gì cô gái trẻ nên và không nên làm. Cô đã thể hiện tài năng nghệ thuật từ khi còn rất nhỏ và bởi cả truyền thống lẫn xã hội đều chấp nhận cho những cô gái trẻ trong gia đình danh giá được phép vẽ, nên cô đã được đào tạo bài bản. Nhưng cô không muốn chỉ đơn giản là đi lướt qua nghệ thuật; từ khi còn rất trẻ cô đã quyết tâm trở thành họa sĩ và nghệ thuật sẽ là công việc của cuộc đời cô. Điều này không thích hợp với môi trường gia đình và xã hội mà cô đang sống, thời điểm các cô gái trẻ được cho là phải thật cảnh vẻ và đoan trang. Vì vậy, cô thường xuyên phải đấu tranh với gia đình, nơi mọi người đã làm mọi cách ngăn chặn những gì họ coi là phóng túng của cô. Hậu quả là cảm giác nổi loạn và thất vọng của cô ngày càng gia tăng.
Her unhappiness was intensified by the fact that she suffered from a serious physical affliction. She had been born with impaired hearing, and while she was still young she became almost entirely deaf. In consequence, communication with others required a continuous effort, and created a great deal of the strain that can be seen at the bottom of her aura. This handicap affected her whole life, for it was always very difficult for her to carry on a normal conversation. When she came to sit for her portrait she carried a huge ear trumpet, which she would thrust out for me to shout into. I must say it made communication somewhat heavy going.
Nỗi bất hạnh của cô càng tăng thêm bởi thực tế là cô bị ảnh hưởng nặng nề về thể chất. Cô sinh ra đã bị khiếm thính, và từ khi còn trẻ, cô đã gần như hoàn toàn điếc. Kết quả là giao tiếp với mọi người đòi hỏi một nỗ lực không ngừng, và tạo ra một lượng lớn các căng thẳng có thể quan sát thấy ở đáy của hào quang. Hạn chế này ảnh hưởng đến cả cuộc đời cô, vì cô luôn gặp rất nhiều khó khăn để có một cuộc trò chuyện bình thường. Khi cô đến để ngồi cho chúng tôi vẽ chân dung hào quang, cô mang theo một chiếc kèn lớn để áp vào tai trong khi tôi nói thật to vào đó. Phải nói rằng việc này làm cho giao tiếp có phần nặng nề.
The misty gray in the lower aura resulted from her efforts during her late adolescence to break away from the repressive influence of her home environment. She longed to lead a creative life, but she was very unsure of her own ability and often felt gloomy about the future. Her self-doubt made her insecure and depressed. All in all, it was a very painful period in her life.
Màu xám mù trong phần dưới hào quang là kết quả từ những nỗ lực của cô trong những năm cuối thời thanh niên để thoát khỏi ảnh hưởng áp đặt trong gia đình. Cô mong muốn có một cuộc sống sáng tạo, nhưng cô không chắc về khả năng của mình và thường cảm thấy mù mịt về tương lai. Sự tự nghi ngờ khiến cô không an tâm và buồn chán. Tất cả những điều đó làm cho giai đoạn này trong cuộc đời cô đầy đau thương.
But just above the dark colors at the bottom of her aura, and in strong contrast, you will see a patch of rosy pink on the left, balanced by a violet-pink on the other side. These both rise up to her green band, and although the lines of strain at the edges of her aura persist, the upper parts of these two colors are free of any constraint. The reason for this marked change is that long ago she had had the good fortune to become close friends with a person who had great creative gifts, and who was also a forceful and vivid personality. This man took an interest in her and encouraged her to strike out for herself, both artistically and personally. He became her guide and mentor, and his influence literally transformed her life, for he encouraged her to break her connection with her family, leave home and move to the far West of the United States. She felt he took her out of prison into a new life of freedom, and her gratitude to him knew no bounds.
Nhưng ngay phía trên mảng màu tối ở đáy hào quang, đối ngược lại hoàn toàn, bạn sẽ thấy một mảng màu hồng đỏ bên trái, nằm cân xứng mảng tím hồng ở phía bên kia. Cả hai mảng màu đều mở rộng lên tới dải màu xanh lá, và mặc dù các dòng căng thẳng ở các cạnh hào quang của cô vẫn tồn tại, phần trên của hai mảng màu tươi sáng này hoàn toàn hết bị đè nén. Lý do cho sự thay đổi này là từ lâu cô đã may mắn có cơ hội thân thiết với một người có năng khiếu sáng tạo tuyệt vời, một nhân cách mạnh mẽ và sinh động. Người đàn ông này rất quan tâm đến cô và khuyến khích cô tự giải phóng mình, cả về nghệ thuật lẫn cá nhân. Ông trở thành người định hướng và dẫn dắt cô, và ảnh hưởng của ông đã thực sự biến đổi cuộc đời cô, vì ông khuyến khích cô phá vỡ mối quan hệ của cô với gia đình, rời khỏi nhà và đi sang bờ Tây nước Mỹ. Cô cảm thấy như ông đã giúp cô phá ngục tù, mang tới cho cô một cuộc sống mới đầy tự do, và cô mang lòng biết ơn vô hạn đối với ông.
She idealized this man to such an extent that he continued to exert a tremendous influence over her even at the time the picture was painted, although he had been dead for a number of years. You will see two symbols in her aura which are mirror images of each other — one in the upper aura just at the juncture of the green and yellow, the other below, in the pink. These symbolic forms reveal her deep feelings about this person, whose memory still continued to inspire her. The upper symbol exerted a powerful spiritual influence over her artistic work, while the lower one energized her interactions with people. These show that the memory of this man still engendered an almost religious awe in her. She idealized him. Their relationship was entirely Platonic, for he was happily married, but perhaps because of the strength of her feeling for him she never married or had a love affair.
Cô đã lý tưởng hóa người đàn ông này tới mức ông vẫn tiếp tục gây ảnh hưởng mạnh mẽ cho cô ngay cả khi cô tới gặp cho chúng tôi vẽ hào quang, mặc dù ông đã qua đời nhiều năm trước đó. Bạn sẽ nhìn thấy hai biểu tượng trong hào quang của cô là những hình ảnh phản chiếu của nhau—một biểu tượng nằm phía trên ngay tại phần kết nối của mảng màu xanh lá cây và màu vàng, còn bên kia là màu hồng. Những biểu tượng này cho thấy những cảm xúc sâu sắc của cô về người đàn ông, và những ký ức về ông vẫn tiếp tục truyền cảm hứng cho cô. Biểu tượng trên có ảnh hưởng tinh thần mạnh mẽ đối với công việc nghệ thuật của cô, trong khi biểu tượng thấp hơn kích thích sự tương tác của cô với mọi người. Điều này cho thấy ký ức về người đàn ông này vẫn mang lại sự tôn sùng gần như đối với tôn giáo trong cô. Cô lý tưởng hóa ông. Mối quan hệ của họ hoàn toàn thuần khiết, vì ông đã có một gia đình riêng hạnh phúc, nhưng có lẽ vì sức mạnh của cảm xúc đối với ông, cô chưa bao giờ lập gia đình hoặc có tình yêu với bất cứ chàng trai nào khác.
Although she had many warm friends and was very sympathetic, there was always some strain in the expression of her feelings, probably due to her deafness. This is shown by the blue bar at the edge of the green of sympathy in her upper aura. But there is a great deal of rose-pink, which is a sign that her affections were both warm and unselfish. The blue is her will, while the blue-green indicates the highest reaches of her artistic sensibility—her intuitive response to the aesthetic component of nature and of the world. The fact that this color touches her green band shows that she was trying to express this ideal in her own painting.
Mặc dù cô có nhiều người bạn yêu quý và rất cảm thông, luôn luôn có sự hiện diện một số căng thẳng trong cảm xúc của cô, có lẽ là do cô bị điếc. Điều này được thể hiện qua những đường màu xanh biển bên rìa mảng màu xanh lá của sự thông cảm trong phần trên của hào quang. Nhưng có rất nhiều màu hồng-đỏ, đó là dấu hiệu cho thấy tình cảm của cô vừa ấm áp vừa vô vị kỷ. Màu xanh biển là ý chí của cô, trong khi màu xanh biển pha xanh lá thể hiện mức độ cao nhất của cảm xúc nghệ thuật—phản ứng trực quan của cô với cấu phần thẩm mỹ của tự nhiên và của thế giới. Thực tế là màu sắc này trùm tới dải màu xanh lá cho thấy cô đã cố gắng để thể hiện lý tưởng này trong các bức vẽ của mình.
The symbols in her green band are much larger and more well- defined than usual, perhaps because, being an artist, she visualized clearly. The flame-like form within the circle is interesting because it symbolized to her the spiritual influence in art. When I described the symbol to her, she said that it accurately portrayed a vision that she had had in the desert — a vision that continued to be a source of inspiration to her. Although this experience had been totally subjective, she had made a painting of it which she later showed me, and which was indeed the symbol I had perceived, though much more beautiful and elaborate. Thus it remained very clear in her aura.
Các biểu tượng trong dải màu xanh lá lớn hơn nhiều và sắc nét hơn bình thường, có lẽ bởi vì, là một nghệ sĩ, cô luôn có sự hình dung rõ ràng. Biểu tượng hình ngọn lửa trong vòng tròn rất thú vị vì nó tượng trưng cho ảnh hưởng tinh thần của cô trong nghệ thuật. Khi tôi miêu tả biểu tượng này cho cô nghe, cô nói rằng nó đã miêu tả chính xác một hình ảnh mà cô đã có ở sa mạc—một hình ảnh tiếp tục là nguồn cảm hứng cho cô. Mặc dù trải nghiệm này hoàn toàn mang tính chủ quan, cô đã vẽ một bức tranh và sau đó cho tôi xem, đó thực sự là biểu tượng mà tôi đã nhận ra, mặc dù nó đẹp và tinh tế hơn nhiều. Dù gì, hình ảnh đó vẫn rất rõ ràng trong hào quang của cô.
The other, larger symbol is connected with a painting she was working on at the time. She had been attending a series of concerts and drawing sketches of the conductor’s hands in motion; this symbol represented her present interest in this study, and would have probably disappeared as she turned to other subjects. It is also interesting that the form this study took vaguely resembled the designs which Native Americans use in their arts. She herself had grown to feel very close to the Indian peoples, and was trying to understand the spirit of their culture in order to be able to represent them sympathetically as well as authentically in her painting. This interest unconsciously influenced what she was working on.
Một biểu tượng khác, lớn hơn được kết nối với bức tranh mà cô đang sáng tác vào thời điểm đó. Cô đã tham dự một loạt các buổi hòa nhạc và vẽ phác thảo bàn tay chuyển động của người nhạc trưởng; biểu tượng này đại diện cho mối quan tâm hiện tại đối với nghiên cứu này của cô, và có thể sẽ biến mất khi cô quay sang các đối tượng khác. Cũng thú vị rằng hình thức nghiên cứu này gần giống với cách sắp đặt mà người thổ dân Mỹ sử dụng trong nghệ thuật của họ. Bản thân cô cảm thấy rất gần gũi với người da đỏ, và đã cố gắng hiểu được tinh thần văn hoá của họ để có thể biểu đạt chính xác và đồng điệu trong tranh của cô. Sự quan tâm này vô tình ảnh hưởng đến những gì cô đang thực hiện.
This aura is fascinating because there is such contrast between the past and the present. It is hard to imagine a life in which there could have been more radical change, for she exchanged a narrow, conventional environment for one of unrestricted freedom, and a life of wealth and luxury for one that was extremely simple, even Spartan. In later life she never thought about the conventions and was careless of her personal appearance, although always fastidious in her habits. She lived very plainly, with few possessions, and succeeded in immersing herself completely in a culture that was totally alien to her upbringing.
Hào quang này rất hấp dẫn bởi vì có sự tương phản lớn giữa quá khứ và hiện tại. Thật khó để tưởng tượng ra một cuộc sống có thể thay đổi triệt để hơn, vì cô đã chuyển đổi từ một môi trường bó hẹp theo quy tắc sang một môi trường tự do, hoàn toàn không hạn chế, và từ một cuộc sống sung túc và xa xỉ sang một đời sống vô cùng đơn giản, thậm chí là khổ hạnh. Trong cuộc sống sau này, cô không bao giờ nghĩ về các quy tắc và không mấy quan tâm về ngoại hình của mình, mặc dù luôn kín đáo trong những thói quen. Cô sống rất đơn giản, với ít đồ sở hữu, và đã thành công trong việc đắm mình trong một nền văn hóa hoàn toàn xa lạ với nơi cô đã lớn lên.
She had a deep love for the mountains and the Indian pueblos and the colors of the bare rocks and the sight of horses running on the open plains. In this environment she became herself at last; it was as though she had been reborn. When she was free to live the kind of life she deeply needed, she became more unified, less complex, and her own inner integrity began to shine through her work. This transformed her art, for when she was free to represent her own self, as well as her artistic insights, her painting came into its own.
Cô có một tình yêu sâu sắc với núi đồi và Người dân da đỏ, màu sắc của những tảng đá phơi mình và cảnh những chú ngựa chạy trên đồng bằng rộng mở. Trong môi trường này, cuối cùng cô đã được là chính mình; điều đó như thể cô đã được tái sinh. Khi cô được tự do sống một cuộc sống mà cô cần, cô trở nên đồng nhất hơn, ít phức tạp hơn, và tính toàn vẹn nội tại của cô bắt đầu tỏa sáng trong công việc. Điều này đã biến đổi nghệ thuật của cô, vì khi cô được tự do để đại diện cho bản thân, cũng như những hiểu biết sâu sắc về nghệ thuật của mình, các bức vẽ của cô mang đầy cá tính.
13. A Designer/Architect— Nhà thiết kế/ Kiến trúc sư
This is the aura of a man in his middle sixties who had trained as an architect but spent most of his professional life as a theatrical designer. He had a great love of drama and the stage, and many of his friends and associates were in the theatre. At the time this picture was painted, however, he had recently retired from his active work, and his greatest achievements were behind him. Although he still devoted a good deal of his time to writing, his major works had been published earlier. In other words, his peaks of achievement lay behind him, and he was in what one might call the reflective or contemplative period of his life.
Đây là hào quang của một người đàn ông khoảng sáu nhăm tuổi, người đã từng được đào tạo như một kiến trúc sư nhưng đã dành phần lớn sự nghiệp làm nhà thiết kế sân khấu. Ông có một tình cảm sâu đậm với phim truyền hình và sân khấu, và nhiều người bạn và cộng sự của ông là những người làm việc trong nhà hát. Tuy nhiên, vào thời điểm bức hình này được vẽ, ông mới nghỉ hưu sau quãng thời gian hoạt động tích cực trong lĩnh vực này, và những thành tựu lớn nhất của ông đều đã lùi về quá khứ. Mặc dù ông vẫn dành rất nhiều thời gian cho viết lách, các tác phẩm chính của ông đều được xuất bản trước khi nghỉ hưu. Nói cách khác, những đỉnh cao thành tích của ông đã ở lại phía sau, và ông đang ở trong giai đoạn mà người ta có thể gọi là khoảng thời gian nhìn lại hoặc chiêm nghiệm về cuộc đời mình.
This aura is remarkably clear and free from scars or stress, unlike those of #7 and #11, whose signs of early conflicts are still visible. When he was younger and more active this characteristic might not have been quite so evident, but his nature was such that I believe he would usually have been able to remain calm and serene. For this man had a remarkable degree of integration between his mind and his emotions. He had known from early youth what he wanted to be and to do; he had accepted certain philosophical, mathematical and spiritual ideas as guiding principles in his life and work, and he never found any reason to change them. This interest influenced his thought and shaped his life work. Since he had adopted a profession which lent itself to the expression of these ideas, he was never frustrated or inhibited, and this always makes for emotional health. His early life was, in fact, a total contrast to that of #12.
Hào quang này đặc biệt rõ ràng, không có tì vết hoặc căng thẳng, không giống trường hợp # 7 và # 11 với những dấu hiệu xung đột từ thời trẻ vẫn còn có thể nhìn thấy qua hào quang. Khi còn trẻ và năng động hơn, đặc điểm này có thể không phải là điều quá rõ, nhưng bản tính của ông làm tôi tin rằng ông vẫn luôn bình an và thanh thản. Ở người đàn ông này, tâm trí và cảm xúc đạt một mức độ hòa nhập đáng kể. Ngay từ khi còn nhỏ, ông đã biết mình muốn trở thành người như thế nào và sẽ làm gì; ông đã coi một số tư tưởng triết học, toán học và tinh thần như những nguyên tắc chỉ đạo trong cuộc đời và công việc của mình, và ông không bao giờ thấy có lý do để thay đổi chúng. Những mối quan tâm này ảnh hưởng đến suy nghĩ và định hình sự nghiệp trong cuộc sống của ông. Kể từ khi ông nhận ra có một nghề cho phép ông tự do biểu hiện những ý tưởng của mình, ông đã không bao giờ phải thất vọng hoặc ức chế, và điều này giúp ông luôn có sự lành mạnh trong cảm xúc. Thực tế, cuộc đời lúc còn trẻ của ông là một sự tương phản hoàn toàn so với trường hợp #12.
The cloudy gray-blue at the bottom of his aura indicates his form of selfishness, which was more a desire for self-expression and the opportunity to have his own way than an attachment to possessions. The dark green just above shows that he was very active when he was young, and ambitious as well. The color grows lighter on his left side, and it merges with a dark blue ring formation. The shape of this ring indicates that it is related to a memory which lies in the past but still influences him, while its proximity to an area of lighter, more brilliant blue, shows that the experience was a beautiful one, and painful only because it ended. In point of fact, this memory was inspired by a wonderful marriage to a woman who exerted a long-lasting influence upon him — an influence which he himself felt was of spiritual importance. Although she had died many years before, her memory was still a presence in his life, and he had never felt any inclination to remarry.
Màu xanh lam xám đục ở đáy của hào quang cho thấy hình thái ích kỷ của ông, điều này biểu đạt mong muốn tự biểu hiện và cơ hội để có được con đường riêng của mình hơn là mang tính sở hữu. Màu xanh lá đậm ở trên chỉ ra rằng ông đã rất năng động khi còn trẻ và cũng đầy tham vọng. Màu xanh này mở rộng và nhạt hơn về bên trái, và nó hòa với một vòng xuyến màu xanh biển đậm. Hình xuyến này có liên quan đến một ký ức trong quá khứ nhưng vẫn ảnh hưởng đến ông, trong khi vùng lân cận màu xanh lam sáng hơn, rực rỡ hơn cho thấy rằng trải nghiệm này rất đẹp và sự đau buồn xảy ra vì trải nghiệm không còn nữa. Trên thực tế, ký ức này có cảm hứng từ cuộc hôn nhân đẹp đẽ với một người phụ nữ có ảnh hưởng lâu dài đối với ông—mà ông cảm thấy có ý nghĩa tinh thần lớn lao. Mặc dù bà đã qua đời nhiều năm trước, nhưng ký ức về bà vẫn còn hiện diện trong cuộc đời ông, và ông chưa bao giờ có ý định tái hôn.
Out of this patch of blue, which is a reflection of his higher will and sense of self, there rises an orange plume, much like those we have seen in the two auras referred to above. As always, this formation signifies a sense of pride and self-esteem; in this case, he was somewhat complacent about the fact that he knew so well what he was about. He was confident in the rightness of his ideas, as well as in his ability to embody them in his design work and expound them in his writing.
Trong mảng xanh lam này, vốn phản ánh ý chí cao cả và ý thức về bản ngã, có một hình lông chim màu cam, giống như những gì chúng ta thấy trong hai hào quang được đề cập ở trên. Như thường lệ, hình thái này biểu hiện một cảm giác tự hào và lòng tự trọng; trong trường hợp này, ông khá bằng lòng về thực tế ông biết rất rõ mình là ai. Ông tự tin về tính đúng đắn của các ý tưởng của mình, cũng như khả năng thể hiện nó trong công việc thiết kế của mình và biểu đạt chúng qua các tác phẩm viết.
The blue-green on the lower right side is a sign that his artistic sensibility was very active in his daily life, an intrinsic part of whatever he was doing. On the opposite side there is an area of pink, which always expresses affection. As you can see, it touches the blue related to his early marriage, for his feeling for his wife had not disappeared. He was affectionate with his children and one or two intimate friends, but he had few personal attachments. On the whole there is not a great deal of pink in this man’s aura. He was, as a matter of fact, a fairly aloof, very self-sufficient person, kindly, but not close to many people.
Màu xanh lá pha biển ở phía dưới bên phải là một dấu hiệu cho thấy sự nhạy cảm về nghệ thuật của ông biểu lộ rất mạnh mẽ trong cuộc sống hàng ngày, một phần nội tại của bất cứ công việc gì ông thực hiện. Phía đối diện có một khu vực màu hồng, luôn thể hiện tình cảm. Như bạn thấy, nó tiến sát tới vùng màu xanh biển liên quan đến cuộc hôn nhân trước đây của ông, vì cảm xúc của ông về người vợ chưa bao giờ biến mất. Ông có tình cảm yêu thương sâu đậm với các con mình và một vài người bạn thân, nhưng có ít sự ràng buộc cá nhân với họ. Một cách tổng thể, không có nhiều màu hồng trong hào quang của người đàn ông này. Ông thực ra là một người khá xa cách, rất tự lập, tốt bụng, nhưng không gần gũi với mọi người.
Looking at the upper part of his aura, one sees the presence of a fine intellect. The brilliance of the yellow shows that his mind was very active, and the fact that the color is reflected below the green band indicates that he used his mind to control his actions. The blue- green on the opposite side relates to his perception of beauty, and the lighter green plumes within it result from his feelings of sympathy with others who are similarly influenced. The bands of violet above the head show his deep, almost ritualistic feeling for what he thinks of as the spiritual principles underlying nature.
Nhìn vào phần trên của hào quang, người ta thấy sự hiện diện của trí tuệ minh mẫn. Sự lấp lánh của màu vàng cho thấy tâm trí của ông rất năng động, và thực tế, màu sắc được phản chiếu dưới dải màu xanh lá cho thấy ông thường dùng tâm trí kiểm soát hành động của mình. Màu xanh lá pha biển ở phía đối diện liên quan đến nhận thức của ông về vẻ đẹp, và những hình lông chim xanh lá trong mảng màu này xuất phát từ sự đồng cảm với những người khác có cùng những ảnh hưởng tương tự. Những dải màu tím phía trên đầu cho thấy cảm xúc sâu sắc, gần như mang tính nghi thức đối với những gì mà ông cho là nguyên tắc thiêng liêng của tự nhiên.
Within the wide green band you will see a whole array of intricate geometric forms. These figures are expressions of his constant preoccupation with the principles of form, which he felt reveal the underlying archetypal order in the universe. These symbols played an active role in his imagination and were woven into everything he did. They were so ever-present in his mind that no matter what he might have been doing, whenever he happened to have a piece of paper in front of him he would begin to sketch some of these intricate shapes. All his life he had pursued the study of the hidden mathematical principles which confer their harmony, symmetry and proportion upon the profusion of natural forms, and he had written several books on what was at that time known as dynamic symmetry, a study of the way in which forms derive from one another.
Trong dải rộng màu xanh lá, bạn sẽ thấy một dãy các biểu tượng hình học phức tạp. Những biểu tượng này là biểu hiện của sự bận tâm thường xuyên mà ông có với các nguyên tắc về hình thể, mà ông cảm thấy nó cho biết những trật tự nguyên bản ẩn giấu trong vũ trụ. Những biểu tượng này đóng một vai trò tích cực trong trí tưởng tượng của ông và kết thành mọi thứ ông thực hiện. Chúng luôn có mặt trong tâm trí của ông dù ông có làm gì đi chăng nữa, bất cứ khi nào ông có một tờ giấy trước mặt, ông sẽ phác họa một vài trong số các biểu tượng phức tạp này. Trong suốt cuộc đời của mình, ông đã theo đuổi nghiên cứu các nguyên tắc toán học bí ẩn, đưa ra sự hòa hợp, đối xứng và tỷ lệ dựa trên sự đa dạng của các hình dạng tự nhiên, và ông đã viết nhiều cuốn sách về cái mà lúc đó được gọi là đối xứng năng động, trong đó các hình thể được tạo nên từ nhau.
This was a man, I felt, who was born under a lucky star. His life had been singularly free of dissension, and if he had had worries, he had left them far behind. Although he had lost his wife, his memories of her were a source of happiness and comfort to him. He had been fortunate in pursuing a profession which he enjoyed, and in which he was very successful. While still young he had found a philosophy which was entirely satisfying and endlessly fascinating to him, and which he was able to put into practice in his life. His books were well received, if not widely popular. It is true that he lived a solitary life, but with this he was well content. He had in fact reached the state of serenity and detachment which, according to Hinduism, is supposed to mark the last period of life.
Tôi cảm thấy đây là một người đàn ông được sinh ra dưới một ngôi sao may mắn. Cuộc sống của ông không có bất đồng chính kiến, và nếu ông có nỗi niềm lo lắng, hẳn là ông đã để lại rất xa phía sau. Mặc dù ông đã mất vợ, những kí ức của ông về bà luôn là nguồn hạnh phúc và an ủi với bản thân. Ông may mắn được theo đuổi nghề mà ông thích, và ông đã rất thành công. Từ khi còn trẻ, ông đã tìm ra một triết lý hoàn toàn giúp ông thấy thỏa đáng và hấp dẫn vô tận đối với ông, và ông đã có cơ hội áp dụng triết lý đó trong cuộc đời mình. Những quyển sách của ông được đón nhận nồng nhiệt, nếu chưa phải là nổi tiếng. Đúng là ông sống một mình, nhưng ông hoàn toàn hài lòng với điều này. Thực ra, ông đã đạt được trạng thái thanh thản và vô chấp mà, theo Hindu giáo, có nghĩa là đánh dấu giai đoạn cuối cùng của cuộc đời.
What makes this aura unique is that his mind was working in full harmony with his feelings. There never seems to have been a block between the two. His spiritual aspirations were tied to his love of beauty and to what he thought of as the divine order within the universe; both were to him expressions of an underlying spiritual reality. These ideas were the subject of his meditations as well as the constant preoccupation of his thought, and they brought his intuitive level of consciousness into harmony with his mind and emotions. Thus the three levels were working synchronously in him, which is a rarity.
Điều làm cho hào quang này trở nên độc đáo là tâm trí của ông luôn hài hòa với cảm xúc. Có vẻ như không có bất cứ rào cản nào giữa hai khía cạnh này. Khát vọng thiêng liêng gắn liền với tình yêu của ông về vẻ đẹp và những gì ông cho là là trật tự thần thánh trong vũ trụ; cả hai đều là những biểu hiện của một thực tại tinh thần tiềm ẩn. Những ý tưởng này là chủ đề của sự suy tưởng sâu xa, đồng thời là mối bận tâm thường trực trong tư tưởng của ông, và chúng mang lại sự hài hòa trong tâm thức trực quan giữa tâm trí và cảm xúc của ông. Như vậy, ba thể đã trở nên thống nhất trong ông, đó là một điều vô cùng hiếm có.
14. A Youthful Idealist—MỘt Nhà Lý Tưởng Trẻ Tuổi
I complete this group of portraits with a person who was quite different from the achievers who have gone before. In the first place, she was young (only twenty-five), with her life before her and no record of accomplishment behind. Thus her past experience had not shaped her character to any great extent. Nor did she have the talents which led most of the others to devote their lives to their artistic work. What she had in common with them was an overriding sense of purpose. In her case it became an almost passionate commitment to what she thought of as the goal of human life: the achievement of spiritual insight and values.
Tôi kết thúc nhóm chân dung này với một người hoàn toàn khác với những người thành công đã nghiên cứu ở trên. Trước tiên, cô ấy còn trẻ (mới chỉ 25 tuổi), với cuộc sống trải dài trước mắt và không có những dấu ấn quá khứ phía sau. Do đó kinh nghiệm quá khứ đã không tác động mạnh để tạo nên tính cách của cô. Cô cũng không có tài năng gì đặc biệt như hầu hết những người khác đã cống hiến cuộc đời mình cho công việc nghệ thuật của họ. Điểm chung mà cô có với nhóm người này là ý nghĩa lớn lao về mục đích. Trong trường hợp của cô, nó đã trở thành một cam kết gần như đam mê với những gì mà cô nghĩ là mục tiêu của cuộc sống con người: có được về cái nhìn sâu sắc và giá trị tinh thần.
The whole thrust of this book has been towards the idea that individuals can take their lives into their own hands, put their intentions into practice, and make their aspirations a force for personal change. As I will try to show in Chapter VIII, I believe that motivation is the first requisite for change, and that one must have a clear sense of the direction in which one wants to go — of the path one wishes to follow, even if the end of that path is unknown or even unknowable. This girl found the direction she wanted to take when she was quite young, and she remained faithful in her determination to follow it all the rest of her life.
Toàn bộ nỗ lực của cuốn sách này nhắm hướng tới ý tưởng rằng mỗi người có thể tự nắm trong tay mình cuộc sống của bản thân, đưa ý định của mình vào thực tiễn, và biến nguyện vọng của mình trở thành động lực thay đổi cá nhân. Như tôi sẽ cố gắng trình bày trong Chương VIII, tôi tin rằng động lực là điều cần thiết đầu tiên cho sự thay đổi, và người đó phải có một ý thức rõ ràng về đường hướng muốn đi—về con đường muốn theo, ngay cả khi điểm đến ở cuối con đường đó là chưa biết hoặc thậm chí không thể biết. Cô gái này đã tìm ra hướng mà cô ấy muốn đi từ khi còn rất trẻ và cô trung thành trong quyết tâm của mình để theo đuổi trong suốt cuộc đời.
This commitment shows itself most strikingly in the wing-like bands of strong blue which rise from the region of her heart to the upper reaches of her aura. She had been practicing meditation for about four or five years, and these bands of blue are the result. They have to do with the unfolding of the will, and with her conscious effort to regulate her life in accordance with her spiritual ideals and to suppress her selfish impulses. Of all our cases, only this girl and #13 had this kind of dedication.
Cam kết này thể hiện nổi bật nhất qua các dải màu xanh dương như đôi cánh đi từ trái tim đến khoảng trên hào quang của cô. Cô đã thực hành tham thiền trong khoảng bốn hay năm năm, và những dải màu xanh này là kết quả của quá trình đó. Cô phải luyện tập để phát triển ý chí, với nỗ lực hữu thức để điều chỉnh cuộc sống phù hợp với lý tưởng tinh thần của mình và để hạn chế những động lực ích kỷ của bản thân. Trong tất cả các trường hợp của chúng tôi, chỉ có cô gái này và trường hợp #13 có sự cống hiến này.
Interestingly enough, she was not a person one would ordinarily think of as strong-willed. She did not have the type of determination that forges a career in spite of handicaps, or develops a talent through sheer persistence. Like many teenagers, she had vacillated about what she wanted to do in life, and even at twenty-five she was rather indifferent about the kind of work she did, and tended to accept what was offered her. Thus she was not ambitious in the ordinary sense of the word. Nor did she desire to have control over anyone else’s life. It was herself that she desired to control.
Thật thú vị, cô không phải là người mà người ta thường cho rằng sẽ có ý chí mạnh mẽ. Cô không có kiểu quyết tâm vượt lên số phận vì bị khuyết tật, hay phát triển một tài năng thông qua sự kiên trì. Giống như nhiều thanh thiếu niên, cô đã bối rối không biết phải làm gì trong cuộc sống, và thậm chí ở tuổi 25, cô khá thờ ơ với công việc cô đang làm, và có khuynh hướng chấp nhận những gì cuộc sống mang lại cho mình. Vì vậy cô không tham vọng theo nghĩa thông thường của từ này. Cô cũng không muốn kiểm soát cuộc sống của người khác. Cô chỉ muốn kiểm soát bản thân mình.
At this particular time, she had all the intensity of youth, and because her natural temperament was high-strung, she was very tense. She was a bit of a perfectionist, and was very impatient and critical, especially of herself. If she did not perform up to her standards she felt very badly about it. She put a great deal of pressure upon herself without knowing it, and as a result she was overstrained.
Vào thời điểm này, cô có tất cả các sức mạnh của tuổi trẻ, và bởi vì bản tính tự nhiên của cô là dễ bị kích động, cô rất căng thẳng. Cô là một người cầu toàn, rất thiếu kiên nhẫn và hay chỉ trích, đặc biệt là về bản thân mình. Nếu không đạt được tiêu chuẩn tự mình đặt ra, cô cảm thấy rất tệ. Cô gây rất nhiều áp lực cho bản thân mà không hay biết, và kết quả là cô đã quá căng thẳng.
Because of her youth, the colors of her aura are clear, and there are few signs of trauma in her past. At the bottom of the aura, the dull gray-green shows that her basic selfishness took the form of a desire to express herself, rather than a craving for material things. The fact that it is tinged with gray indicates that as a very young child she was often frightened. There was nothing in her home life or in her experience to cause her fears; they were not of anything specific, but rather a kind of intangible haunting dread of the dark unknown that many children seem to suffer from. Instinctual and semi-conscious, such fears are often the carry-over from a forgotten past. The dark blue anchor-like symbol below her feet shows that these intangible fears became tangible in her dream-life. When I asked if she had had recurrent nightmares, she remembered them clearly even though she no longer suffered from them. Over the years, her fears had crystallized into this symbol, but the fact that its position lies so low shows that they had almost entirely left her, and remained only as a shadow in her unconscious mind.
Vì còn trẻ, màu sắc hào quang của cô rất rõ ràng, và ít có dấu hiệu tổn thương trong quá khứ. Ở dưới cùng của hào quang, màu xanh xám đục cho thấy tính ích kỷ cơ bản của cô mang ý nghĩa mong muốn thể hiện bản thân, chứ không phải là sự thèm muốn vật chất. Thực tế là nó có những đốm xám chỉ ra rằng như một đứa trẻ con, cô thường sợ hãi. Cuộc sống gia đình hay những kinh nghiệm trong quá khứ không có gì gây ra những nỗi sợ hãi trong cô; chúng không phải là những gì cụ thể, mà là nỗi sợ ám ảnh vô hình về bóng tối mờ mịt mà rất nhiều trẻ em đã trải qua. Một cách bản năng và bán ý thức, nỗi sợ hãi như vậy thường là kết quả của một sự việc trong quá khứ còn tác động. Biểu tượng hình mỏ neo màu xanh biển đậm dưới chân cô cho thấy những nỗi sợ hãi vô hình này đã trở nên hữu hình trong cuộc sống ước mơ của cô. Khi tôi hỏi cô có những cơn ác mộng thường tái diễn hay không, cô đã nhớ ngay ra chúng, cho dù lúc này cô không còn phải trải qua những cơn ác mộng đó nữa. Qua nhiều năm, nỗi sợ hãi của cô đã hình thành nên biểu tượng này, nhưng thực tế là vị trí của nó nằm rất thấp trong hào quang, cho thấy rằng chúng đã gần rời bỏ, và chỉ còn như một cái bóng trong tâm trí vô thức của cô.
At the edges of her aura you will see the blue bands that always indicate strain, similar to those in #9 and #12. As in those cases, the strain seems to have been long-standing and probably originated in her early fears. She was apt to force herself beyond her limits of nervous and physical endurance, because she had no notion what these limits were. The stress had now become quite deep-seated, to the point where her nervous tension was causing her to have periodic bouts of severe headache, accompanied by nausea. Otherwise her health was very good.
Ở rìa hào quang, bạn sẽ thấy các dải màu xanh biển luôn chỉ ra sự căng thẳng, tương tự như ở hình # 9 và # 12. Giống như các trường hợp này, sự căng thẳng dường như đã tồn tại từ lâu và có thể bắt nguồn từ những nỗi sợ hãi từ khi còn nhỏ của cô. Cô đã cố gắng buộc mình vượt qua giới hạn của bản thân về sức chịu đựng thần kinh và thể xác, bởi vì cô không có khái niệm về những giới hạn này. Sự căng thẳng đã trở nên khá sâu, đến nỗi căng thẳng thần kinh của cô đã khiến cô bị đau đầu nghiêm trọng, kèm theo buồn nôn. Nếu không thì sức khoẻ của cô đã rất tốt.
A bit higher, on the left, the color becomes slightly bluer. This indicates that she was willful as a child and probably succeeded in getting her own way, for her parents were kind and affectionate and often spoiled her, although she was unaware of the fact. She was an only child who spent much of her time with adults, and she was therefore quite precocious. Indeed, save for the fact that she was sometimes lonely for the companionship of other children, her early surroundings were ideal.
Cao hơn một chút, ở bên trái, màu sắc trở nên xanh hơn. Điều này chỉ ra rằng cô khá ngang ngạnh khi còn nhỏ và có lẽ đã thành công trong việc được làm theo cách riêng của mình, vì bố mẹ cô rất chiều chuộng và thương yêu cô, và thường làm hư cô, mặc dù cô không biết gì về điều đó. Cô là con một trong gia đình và dành phần lớn thời gian với người lớn, và vì vậy cô sớm tinh khôn. Thật vậy, ngoại trừ một điều là cô đôi khi cảm thấy cô đơn vì sự có mặt của những đứa trẻ khác, môi trường xung quanh thời nhỏ của cô là lý tưởng.
Farther above, the green lightens and becomes tinged with yellow. This shows that even when quite young she thought about the things around her, and used her mind in her daily life as well as in her studies. As the color becomes more yellow, it indicates a conscious effort to control her selfishness, as well as to understand whatever she was working on. The patch of orange is an incipient form of the plumes you have already seen in #7, #11 and #13. As I said before, this color always indicates strong convictions and a degree of intellectual pride in having arrived at what one considers to be the truth. From early adolescence this girl had been searching for some teaching that would satisfy her unanswered questions, and when she was introduced to Buddhism, theosophy and Eastern philosophy she was convinced she had found those answers. This orange patch had not yet solidified into a plume; whether it would become more rigid as life went on, or gradually relax and disappear, was as yet problematical.
Cao hơn, màu xanh trở nên sáng hơn và dần pha màu vàng. Điều này cho thấy ngay cả khi còn khá trẻ, cô đã nghĩ về những điều xung quanh cô, và sử dụng trí óc nhiều trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong việc học tập của mình. Khi màu sắc trở nên vàng hơn, nó cho thấy một nỗ lực có ý thức để kiểm soát tính ích kỷ của bản thân, cũng như để hiểu rõ bất cứ điều gì mình làm. Mảng màu cam là một hình thức nguyên sơ của hình lông chim mà bạn đã thấy ở hình # 7, # 11 và # 13. Như tôi đã nói, màu này luôn cho thấy sự tự hào trí tuệ và niềm tin mạnh mẽ vào cái mà người đó coi là chân lý. Từ thời thơ ấu, cô gái này đã tìm kiếm một số giáo lý có thể làm thỏa mãn những câu hỏi chưa được giải đáp của mình, và khi được giới thiệu về Phật giáo, thần giáo và triết học phương Đông, cô đã bị thuyết phục rằng đây là câu trả lời mà mình vẫn kiếm tìm. Mảng màu cam này vẫn chưa hoàn chỉnh thành hình lông chim; nó sẽ định hình ổn định hơn ngày qua ngày, hay dần dần mờ đi và biến mất, vẫn còn là điều chưa rõ.
This young woman had recently given birth to a baby, and the event quite naturally occupied a great deal of her attention. You will see this child’s face in her green band, because she not only spent time caring for him physically but also thought a good deal about his progress. She was determined to be a good mother —a determination which made her somewhat overanxious. The green band itself is of a clear color, which denotes sympathy, and is fairly wide, showing that she was deft with her hands. She had no special artistic talent, but she did not find it difficult to teach herself to do various things, such as sewing, gardening, playing a musical instrument or using tools of various kinds. Also within the green band you will see various yellow geometrical forms, all of which relate to her intellectual interests, while the blue rounds and spirals again reflect the use of her will to control her thoughts and feelings.
Người phụ nữ trẻ này gần đây đã sinh con, và hoàn toàn tự nhiên, sự kiện này chiếm phần lớn sự quan tâm của cô. Bạn sẽ nhìn thấy khuôn mặt của đứa trẻ trong dải màu xanh lá, bởi cô không chỉ dành thời gian chăm sóc cho đứa trẻ về thể chất mà còn nghĩ rất nhiều đến sự tiến bộ của bé. Cô quyết tâm làm một người mẹ tốt—một quyết tâm làm cô khá lo lắng. Dải xanh lá có màu sắc rõ ràng và khá rộng, biểu thị sự cảm thông, thể hiện rằng cô có đôi bàn tay khéo léo. Cô không có tài năng nghệ thuật đặc biệt, nhưng cô không thấy khó khăn khi tự mình làm nhiều việc như may vá, làm vườn, chơi nhạc hoặc sử dụng các loại dụng cụ khác nhau. Cũng trong dải màu xanh lá, bạn sẽ thấy các biểu tượng hình học màu vàng, tất cả đều liên quan đến mối quan tâm trí tuệ, trong khi vòng tròn xanh biển và các vòng xoắn ốc phản ánh việc sử dụng ý chí để kiểm soát suy nghĩ và cảm xúc của cô.
Pink is a color prominent in her aura, both above and below, showing that she had a great deal of affection, not only for her family but also for all sorts of other people. The pink above the green band, which is purer in color, is a kind of generalized feeling which reflects the ideals she had with regard to her emotional life, while the patch below shows the affection she expressed day by day. The small cones and spirals in this color again reveal her anxiety that she might not succeed in living up to her ideals, but these were temporary and would pass away.
Hồng là một màu sắc nổi bật trong hào quang của cô, cả phần trên và dưới, cho thấy cô rất giàu tình cảm, không chỉ dành cho gia đình mà còn cho tất cả mọi người. Màu hồng trên dải xanh lá, trong đó màu sắc thanh nhã hơn, là cảm giác tổng quát phản ánh lý tưởng của cô về cuộc sống tình cảm của mình, trong khi khoảng màu ở dưới cho thấy tình cảm cô thể hiện từng ngày. Các hình nón nhỏ và xoắn ốc trong khoảng màu này một lần nữa cho thấy nỗi lo lắng của cô là sẽ không thành công trong việc sống theo lý tưởng của mình, nhưng những điều này chỉ là tạm thời và sẽ qua đi.
Yellow appears in two places in her upper aura, and shows her innate intelligence and her capacity for real thought, even with respect to difficult and intricate subjects. The yellow just above the pink represents the power of mind she drew on regularly, while the streak of yellow higher up on the left is the more abstract or theoretical aspect that was not so much in use. The area of blue-green on the right side is related, as always, to aesthetics; in her case it does not represent artistic ability so much as sensibility — an appreciation of beauty and harmony as universal ideals. As always, the lavender at the top of the aura indicates a person’s innate spirituality. In her case, it is connected to the golden yellow on the left and to the blue-green on the right, showing that both her search for meaning and her appreciation of beauty were related to her spiritual quest. The darker violet is a composite emotion — an intuitional approach to understanding the inner order, meaning and purpose behind the phenomena of nature.
Màu vàng xuất hiện ở hai nơi trong phần trên hào quang của cô, cho thấy trí thông minh bẩm sinh của cô và năng lực tư duy thực sự của cô, ngay cả về các chủ đề khó và phức tạp. Màu vàng nằm ngay trên mảng hồng tượng trưng cho sức mạnh của tâm trí mà cô thường xuyên sử dụng, trong khi vệt vàng màu vàng ở phía trên bên trái biểu thị khía cạnh trừu tượng hay lý thuyết, ít được dùng đến hơn. Như thường lệ, vùng xanh biển pha xanh lá ở bên phải có liên quan tới thẩm mỹ; trong trường hợp của cô, nó không biểu đạt khả năng cao về nghệ thuật như cảm thụ—sự đề cao vẻ đẹp và sự hòa hợp như những lý tưởng phổ quát. Màu tím oải hương ở trên cùng của hào quang luôn cho thấy một năng lực tâm linh bẩm sinh của một người. Trong trường hợp của cô, nó liên quan đến màu vàng kim bên trái và mảng xanh lá pha xanh biển bên phải, cho thấy rằng cả sự tìm kiếm ý nghĩa và sự đề cao vẻ đẹp đều có liên quan đến tư duy tinh thần của cô. Màu tím sẫm là một cảm xúc phức hợp—một cách tiếp cận trực quan để hiểu được trật tự bên trong, ý nghĩa và mục đích đằng sau những hiện tượng của tự nhiên.
14a. Fifty-six years later—Năm Mươi Sáu Năm Sau
These aura pictures were made so long ago that almost all of the adults are now dead. This woman, however, is still very much alive, and it might be interesting to trace her development. When the picture was made she was still on the threshold of life, and her potentials were just beginning to unfold. Now that she is a woman over eighty, she is still vigorous and alert, and has lost little of her energy. Although retired, she remains active; in addition to her intellectual interests she is on the Boards of a number of charitable organizations. She has been happily married for almost sixty years, and has a large family of children and grandchildren with whom she is on excellent terms.
Những bức hình hào quang này đã được vẽ cách đây rất lâu và hầu hết những người lớn tuổi hồi ấy giờ đã mất. Tuy nhiên, người phụ nữ này vẫn còn sống, và khá thú vị để theo dõi sự phát triển của cô. Khi bức hình được vẽ cô mới ở ngưỡng cửa cuộc đời, và tiềm năng của cô mới chỉ bắt đầu hé mở. Bây giờ là một phụ nữ trên tám mươi, bà vẫn khỏe mạnh và tỉnh táo, dù năng lượng đã giảm sút chút ít. Mặc dù nghỉ hưu, bà vẫn năng động; ngoài các mối quan tâm về tri thức, bà còn tham gia vào Ban quản lý của một số tổ chức từ thiện. Bà đã có một cuộc hôn nhân hạnh phúc suốt gần sáu mươi năm, và có một gia đình lớn với rất đông con cháu và đóng vị trí quan trọng trong gia đình.
Her sense of purpose has not diminished, and she has always continued her practice of meditation. Blessed with good health and good karma (for her life has been singularly free of problems and difficulties), she has been able to pursue her goals without any friction in her family relationships. She no longer feels the need to exercise her will so strongly upon herself, and because of this, she is much more relaxed. The anxiety caused by her childhood fears has vanished, and she has outgrown most of her strain and tension. Consequently, her nervous headaches have long since disappeared, and her health is excellent.
Ý thức của bà về mục đích trong cuộc sống không giảm đi, và bà vẫn luôn tiếp tục thực hành thiền định. Với sức khoẻ và nghiệp quả tốt (cuộc sống của bà không gặp rắc rối và khó khăn gì), bà có thể theo đuổi mục đích của mình mà không hề gặp bất kỳ trở ngại gì trong các mối quan hệ gia đình. Bà không còn cảm thấy cần phải áp đặt ý chí mạnh mẽ lên bản thân, và vì lý do này, bà đã được thoải mái hơn nhiều. Sự lo lắng do những nỗi sợ hãi thời thơ ấu của bà đã hoàn toàn tan biến, và bà đã thoát khỏi phần lớn những căng thẳng và áp lực thời trẻ. Do đó, bệnh đau đầu do căng thẳng thần kinh của bà cũng đã từ lâu biến mất, và sức khoẻ của bà rất tuyệt vời.
The colors of her aura have become softer, lighter and more balanced. (The aura in #14A was recently painted by another artist, not Juanita Donahoo.) The orange patch has diminished in size, since she no longer feels the need to defend her ideas so vigorously. The pink below is balanced by a paler pink above, showing that her affection is still strong, but more detached. The yellow in the upper aura is wider and now lies adjacent to the green band, indicating that her intellectual abilities and interests have deepened and become more active. The lavender above the head has widened a great deal through study and meditation, showing that her spiritual insight has increased. As a result of her years of meditation, the wings of dark blue which were so prominent a feature of her aura have spread out to form a half-circle of purple which links her higher energies with her mind and emotions.
Màu sắc hào quang của bà trở nên nhẹ nhàng, thanh thoát và cân bằng hơn. (Hào quang ở hình #14A về sau này được vẽ bởi một nghệ sĩ khác chứ không phải Juanita Donahoo). Mảng màu cam đã mờ đi, vì bà không còn cảm thấy cần phải bảo vệ ý tưởng của mình một cách mạnh mẽ. Màu hồng ở dưới được cân bằng bởi một màu hồng nhạt hơn phía trên, cho thấy tình cảm của bà vẫn mạnh mẽ, nhưng không còn bám chấp. Màu vàng trong phần trên hào quang rộng hơn và giờ đây nằm sát với dải xanh lá, cho thấy khả năng trí tuệ và các mối quan tâm của bà đã trở nên sâu sắc và năng động hơn. Màu tím oải hương trên đầu đã mở rộng rất nhiều nhờ có nghiên cứu và thiền định, cho thấy cái nhìn tinh thần thiêng liêng của bà đã tăng lên. Nhờ những năm tháng thiền định, đôi cánh màu xanh đậm nổi bật như một nét đặc trưng của hào quang của bà trước đây đã lan ra để tạo thành một nửa vòng màu tím nối các năng lực cao hơn với tâm trí và cảm xúc của bà.
All in all, the colors of her aura have become much more diffuse, and as a result her aura is more harmonious.
Một cách tổng thể, màu sắc của hào quang của bà đã lan rộng hơn nhiều, và kết quả là hào quang của bà trở nên hài hòa hơn.
Thinking about this woman’s aura, and comparing it with that of the other old lady, #8, has led me to consider the aging process as it affects one’s emotional health and vigor. If you refer back to #8, you will remember that the lower part of that old lady’s aura was filmed with gray, due to her diminished energies and the fact that she lived so much in the past. Yet she had been a very vital and active person all her life. Her flagging energies may have been due to a loss of physical vitality, but also in part, I believe, to the loss of her mental and emotional stimulus. Hers was the same problem that faces many people who are forced to retire: her work was taken away from her. Whether this occurs because of age, ill health or other circumstances, it is an event which sometimes can have traumatic consequences. Some people lose their sense of purpose, and with it the confidence that they can still make a contribution — and this confidence is vital to ones self-esteem. I shall be talking about this question in detail in Chapter IX, but the comment has bearing on the aging process.
Nghĩ về hào quang của người phụ nữ này, và so sánh nó với hào quang của người phụ nữ lớn tuổi khác, ở hình # 8, đã dẫn tôi đến việc xem xét quá trình lão hóa vì nó ảnh hưởng đến tình trạng và sức mạnh tinh thần của một người. Nếu quay trở lại hình #8, bạn sẽ nhớ rằng phần dưới hào quang của người phụ nữ đó đã được phủ một màu xám, do mức năng lượng suy giảm và thực tế là bà đã sống quá bám chấp vào quá khứ. Tuy nhiên, bà đã từng là một người rất quan trọng và năng động suốt cuộc đời. Các nguồn năng lượng mất đi có thể là do sự giảm sút về sinh lực vật lý, nhưng cũng phần nào, theo tôi, là do việc giảm kích thích tinh thần và tình cảm của bà. Vấn đề của bà cũng là vấn đề mà nhiều người gặp phải khi buộc phải nghỉ hưu: bà không còn việc gì để làm. Cho dù điều này xảy ra do tuổi tác, sức khoẻ yếu hay do những hoàn cảnh khác, đó là một sự kiện mà đôi khi có thể gây ra hậu quả đáng tiếc. Một số người thấy ý nghĩa mục đích, và cùng với điều đó, mất đi niềm tin rằng họ còn có thể đóng góp cho xã hội—và sự tự tin này là tối quan trọng giống như lòng tự trọng vậy. Tôi sẽ bàn về vấn đề này chi tiết hơn trong Chương IX, còn giờ chúng ta đang nói về quá trình lão hóa.
In contrast, #14 is still leading a full and active life, with many intellectual interests. Thus her mental and emotional energies supplement whatever diminution might naturally occur in her physical strength and vitality due to her age. Doctors routinely urge their elderly patients to keep active, both physically and mentally, and my observations fully support this advice. In Chapter III stressed the fact that the higher energies can modify and transform the lower. Because the mind and emotions work closely with the etheric, mental energy can and does vitalize the physical body.
Ngược lại với #8, trường hợp #14 vẫn đang có một cuộc sống đủ đầy và năng động, với nhiều mối quan tâm về tri thức. Do đó năng lượng tinh thần và cảm xúc của bà bổ sung bất cứ sự giảm sút nào có thể xảy ra một cách tự nhiên đối với thể xác và sinh lực do tuổi tác của bà. Các bác sĩ thường khuyên bệnh nhân lớn tuổi hoạt động tích cực, cả về thể chất và tinh thần, và các quan sát của tôi chứng minh đầy đủ cho lời khuyên này. Chương III đã nhấn mạnh thực tế là các năng lượng cao hơn có thể thay đổi và biến đổi năng lượng cấp dưới. Vì tâm trí và cảm xúc liên kết chặt chẽ với năng lượng dĩ thái, năng lượng tinh thần có thể và thực sự giúp cho cơ thể vật lý trở nên tràn đầy sức sống.
In our culture, unfortunately, old age is usually dreaded. In contrast, in the East it is regarded as a period when the lessening of responsibilities gives leisure for contemplation and for the enjoyment of nature. Free of the necessity always to be doing, one can let go and be oneself. When old age is accepted as a stage of life which brings its own benefits, the gifts of equanimity, of quietness and of detachment can enrich the end of an active life.
Thật không may, trong nền văn hoá của chúng ta, tuổi già thường là điều đáng sợ. Ngược lại, ở phương Đông, nó được coi là khoảng thời gian khi trách nhiệm giảm bớt được dành cho việc chiêm nghiệm và để hưởng thụ thiên nhiên. Yêu cầu trách nhiệm được giải phóng giúp người ta có thể buông xả và là chính mình. Khi tuổi già được coi là một giai đoạn của cuộc sống mang lại những lợi ích riêng của nó, những món quà của sự bình an, tĩnh lặng và vô chấp có thể làm phong phú thêm cho sự kết thúc của một cuộc sống đầy năng động.