Chapter 1-Chương 1The Inner Reality—Thực Tại Nội Tại
In every age, there have stood out like giants, those leaders of humanity who have discovered or have been taught about regions of the human mind and consciousness which remain hidden or veiled to the masses. These great ones have discovered truths about the real nature of man and in their progress towards initiation into even higher understanding and spirituality, they have left behind them records of their efforts and discoveries.
Trong mọi thời đại, nổi bật như những người khổng lồ là các vị lãnh đạo nhân loại, những người đã khám phá, hoặc đã được truyền dạy, về những miền của thể trí và tâm thức con người vốn vẫn ẩn kín hay bị che màn đối với đám đông. Các vị vĩ đại ấy đã khám phá những chân lý về bản tính chân thực của con người, và trong hành trình tiến đến điểm đạo—vào sự thấu hiểu và tinh thần cao hơn—Các Ngài đã để lại sau lưng những ghi chép về nỗ lực và phát hiện của mình.
In them, the great silent areas of the brain, the frontal cortex, are fully functioning. They have developed awareness of regions of inner space which are undreamed of in our own limited consciousness.
Ở nơi Các Ngài, những vùng im lặng vĩ đại của bộ não, vùng vỏ trán, vận hành trọn vẹn. Các Ngài đã phát triển được sự nhận biết về những vùng không gian nội tại mà trong tâm thức giới hạn của chúng ta, ta chưa từng dám mơ tưởng.
The evidence of their own faculties, purified and prepared through long years of effort and discipline have provided for us, their younger brothers a secret teaching in symbol and analogy which is to be found underlying or esoteric in every great religion from the dawn of time.
Bằng chính các năng lực của mình—được thanh lọc và chuẩn bị qua nhiều năm nỗ lực và kỷ luật—Các Ngài đã cung cấp cho chúng ta, những người huynh đệ trẻ hơn của Các Ngài, một giáo huấn bí ẩn qua biểu tượng và tương đồng, vốn nằm ở tầng cơ sở, hay nội môn, trong mọi tôn giáo vĩ đại từ buổi bình minh của thời gian.
The Invisible Universe—Vũ Trụ Vô Hình
For thousands of years, one initiate after another, one great hierophant succeeded by other great hierophants, has explored and re-explored the invisible universe, the worlds of the inter-planetary regions, during long periods when his conscious soul, united to the spiritual soul and to the ALL, free and almost omnipotent, left his body. Not only initiates of the Great Brotherhood of the Himalayas have given and still give out these teachings, but there are buddhist arhats who teach them, and they are to be found in the secret writings of Samkara, of Gautauma Buddha, of Zoroaster. Together they form the Secret Doctrine, or wisdom of the ages. Traces of it are found in the Veda of the Brahmins, the Zend Avesta of the Zoroastrians, the Kabbalah of the Jews and the Sufism of Islam.
Trong hàng ngàn năm, hết một vị điểm đạo đồ này đến vị khác, hết một vị đại tế sư này đến vị đại tế sư khác, đã khảo sát rồi tái khảo sát vũ trụ vô hình—các thế giới của các miền liên-hành tinh—trong những giai đoạn dài khi linh hồn có ý thức của vị ấy, hợp nhất với linh hồn tinh thần và với TOÀN THỂ, tự do và gần như toàn năng, rời khỏi thể xác. Không chỉ những điểm đạo đồ của Huynh đệ Đoàn Chánh đạo ở dãy Himalaya đã truyền trao và vẫn đang truyền trao các giáo huấn này, mà còn có các A-la-hán Phật giáo giảng dạy chúng; và người ta cũng tìm thấy chúng trong các trước tác bí mật của Samkara, của Đức Phật Gautama, của Zoroaster. Tất cả hợp thành Giáo Lý Bí Nhiệm, hay minh triết của muôn đời. Dấu vết của nó được tìm thấy trong Veda của người Bà-la-môn, Zend Avesta của người thờ Zoroaster, Kabbalah của người Do Thái và Huyền học Sufi của Hồi giáo.
The mysteries of life as well as of death, of the visible and invisible worlds, have been fathomed and observed by these initiate adepts in all epochs and in all nations. Initiates have studied these during the solemn moments of union of their divine monad with the universal Spirit, and they have recorded their experiences. Thus, by comparing and checking the observations of one with those of another, they have been able to ascertain that the vision of adepts who lived 10,000 years ago are invariably corroborated and verified by those of modern adepts, to whom the writings of the former never do become known until later. A definite science based on these personal observations and experiences has thus been established.
Những bí nhiệm của sự sống cũng như của cái chết, của các thế giới hữu hình và vô hình, đã được thăm dò và quán sát bởi các bậc điểm đạo tinh thông qua mọi thời và ở mọi dân tộc. Các điểm đạo đồ đã khảo cứu chúng trong những khoảnh khắc trang nghiêm của sự hợp nhất giữa chân thần thiêng liêng của họ với Thần Linh phổ quát, và đã ghi chép những kinh nghiệm của mình. Như thế, bằng cách so sánh và đối chiếu quan sát của người này với người khác, họ đã có thể xác quyết rằng những khai thị của các điểm đạo đồ sống cách đây 10.000 năm luôn được những vị hiện đại chứng thực và kiểm chứng—những vị mà trước đó chưa hề biết đến các trước tác của người xưa. Nhờ vậy đã hình thành nên một khoa học xác định, đặt nền trên chính những quan sát và kinh nghiệm cá nhân ấy.
Spiritual Unity—Hợp Nhất Tinh Thần
It is this science of the Inner Reality which is going to inspire continuously those who are to bring about the spiritual unity of the nations and the brotherhood of man. It is this science which separates no man from another because of his religion, his colour, his class or his sex, that will provide the spiritual regeneration of the planet, as it has done in many other difficult epochs. It acts as a conscience to the intelligentsia of this planet, to the few who recognize materialism for what it is, materialism with all its sickening paraphernalia, its wars, its hydrogen bombs, its prisons and its ghettos, its profit for the few at the expense of the many, its stimulation of the emotions with advertising and pornography, its worship of the pragmatic, its love of results irrespective of effort.
Chính khoa học về Thực Tại Nội Tại này sẽ liên tục truyền cảm hứng cho những ai sẽ kiến tạo nên sự hợp nhất tinh thần của các quốc gia và tình huynh đệ của nhân loại. Chính khoa học này—vốn không tách biệt người này khỏi người kia vì tôn giáo, màu da, giai cấp hay giới tính—sẽ mang lại sự tái sinh tinh thần của hành tinh, như nó đã từng làm trong nhiều thời kỳ khó khăn khác. Nó hành xử như lương tâm đối với giới trí thức của hành tinh, đối với số ít người nhận ra chủ nghĩa duy vật đúng như bản chất của nó—chủ nghĩa duy vật với tất cả bộ đồ phụ tùng gây lợm giọng: chiến tranh, bom khinh khí, nhà tù và các khu ổ chuột, lợi nhuận cho số ít trên lưng số đông, sự kích thích cảm xúc bằng quảng cáo và văn hóa phẩm đồi trụy, sự sùng bái cái thực dụng, sự yêu chuộng kết quả bất chấp nỗ lực.
It is like the Hound of Heaven, ever at the heels of those who desire to know or those who awaken from the deep sleep of materialism in which the masses of mankind are now indulging.
Nó giống như Con Chó Săn của Trời, luôn bám sát gót chân những ai khát khao biết, hay những ai bừng tỉnh khỏi cơn ngủ mê của chủ nghĩa duy vật—trong đó hiện nay đám đông nhân loại đang đắm chìm.
With all our so-called advancement, our age of science, our high standard of living that would have made old Henry VIII green with envy, our gadgets, our fashions, our psychedelic drugs ... for all this we still cannot answer three fundamental questions which obsess mankind:
Với tất cả cái gọi là tiến bộ của chúng ta—thời đại khoa học, mức sống cao đủ làm cho ông vua Henry VIII thời xưa phải xanh mặt vì ghen tị, các tiện nghi, thời trang, thuốc hướng thần ảo giác...—mặc cho tất cả những thứ ấy, chúng ta vẫn không thể trả lời ba câu hỏi căn bản ám ảnh nhân loại:
• Where do we come from?
• Chúng ta từ đâu đến?
• Why are we here on earth?
• Vì sao chúng ta hiện hữu trên trần thế?
• Where do we go to from here?
• Từ đây, chúng ta sẽ đi về đâu?
With the help of the tenets of the Ancient Wisdom I have drawn up the occult proposition as to the true nature of man, a being with latent powers quite capable of resolving his own problems were he to give due consideration to his inner being. From that wide being there is no escape:
Với sự trợ giúp của những tín điều của Minh Triết Ngàn Đời, tôi đã phác thảo luận đề huyền môn về bản tính chân thực của con người—một hữu thể với các quyền năng tiềm ẩn, hoàn toàn có khả năng tự giải quyết các vấn đề của mình nếu y chịu lưu tâm đúng mức đến hữu thể nội tại. Khỏi Hữu thể bao la ấy, không thể chạy trốn:
I fled Him, down the nights and down the days;
Ta trốn Ngài qua những đêm và qua những ngày;
I fled Him, down the arches of the years;
Ta trốn Ngài suốt vòm cung của những năm tháng;
I fled Him, down the labyrinthine ways
Ta trốn Ngài trong những lối mê cung
Of mine own mind, and in the midst of tears
Của chính tâm trí ta, và giữa lệ tuôn rơi
I hid from Him, and under running laughter,
Ta ẩn mình khỏi Ngài, dưới những tràng cười rộn rã,
Up vistaed hopes, I sped;
Theo đuổi những hy vọng mở lối thênh thang, ta lao đi;
And, shot, shot precipitated
Và, bị bắn, bị bắn, rồi rơi nhào
Adown Titanic glooms of chasmed fears,
Xuống những u minh khổng lồ của vực thẳm sợ hãi,
From those strong Feet that followed, followed after.
Xa đôi Chân mạnh mẽ cứ đuổi, đuổi theo sau.
But with unhurrying chase,
Nhưng bằng một cuộc đuổi theo không vội vã,
And unperturbed pace,
Và một nhịp bước không xao động,
Deliberate speed, majestic instancy,
Tốc độ đĩnh đạc, cấp bách uy nghi,
They beat—and a voice beat
Chúng đập—và một giọng nói vang lên
More instant than the Feet –
Khẩn cấp hơn cả những Bước Chân—
'All things betray three, who betrayest Me'.
“Mọi sự đều phản bội ngươi, kẻ đã phản bội Ta.”
—From The Hound of Heaven by Francis Thompson.
—Trích từ Con Chó Săn của Trời của Francis Thompson.
Mankind, in the mass escapes the Hound but to man on the Path of Return, to man who is short-circuiting his evolutionary arc, the Hound is ever present, goading him on to greater spirituality, through service to his fellowmen, through meditation and through focus of the mind.
Nhân loại, trong toàn khối, thoát khỏi Con Chó Săn; nhưng với con người trên Con Đường Trở Về—người đang rút ngắn cung tiến hóa của mình—Con Chó Săn luôn hiện diện, giục giã y hướng tới tinh thần cao hơn, qua phụng sự đồng loại, qua tham thiền, và qua sự tập trung của thể trí.
The occult proposition is that for the mass of mankind, with its limited vision, the true nature of man is not seen but remains ever veiled. The ruffled surface of the lake is not the whole story of the lake. Man, as we have seen is a sevenfold being—yet even the intelligentsia of the world regard him as possessing but one outer, physical or material body.
Luận đề huyền môn cho rằng, đối với đại đa số nhân loại với tầm nhìn hạn hẹp, bản tính chân thực của con người không được nhìn thấy mà luôn bị che màn. Mặt hồ gợn sóng không phải là toàn bộ câu chuyện về hồ nước. Con người—như chúng ta đã thấy—là một hữu thể thất phân; ấy thế mà ngay cả giới trí thức trên thế giới cũng chỉ xem y có một thể bên ngoài—thể hồng trần hay vật chất.
Karma—Nghiệp Quả
The occult law states that each man is responsible for the body he has and he, as a soul, is the cause of it. Structurally it is, as it were, a condensation of actions arising out of the past. Man reaps today what he has down in the past. More than this, man is the maker of his own future through causes initiated in the past. Or as St Paul so aptly says:
Định luật huyền môn khẳng định rằng mỗi người chịu trách nhiệm về thân xác mình có, và y—với tư cách linh hồn—là nguyên nhân của nó. Về cấu trúc, nó, như thể, là sự cô đặc của các hành vi phát sinh từ quá khứ. Con người gặt hôm nay những gì y đã gieo trong quá khứ. Hơn thế nữa, con người là kẻ tự tạo tương lai của chính mình qua các nhân do y khởi lập trong quá khứ. Như Thánh Phao-lô đã nói thật đích đáng:
Be not deceived; God is not mocked; for whatever a man soweth, that shall he also reap. (Gal. 6:7)
Chớ tự lừa dối; Thượng đế không để cho bị nhạo báng; vì người gieo giống nào, sẽ gặt giống ấy. (Ga-la-ti 6:7)
And by past actions, we don't just mean the immediate past of last week's gluttony—or this week's abstinence—but of causes arising from the past which may go back into many previous lives. Our bodies, both outer and inner, are receptacles of good or bad energies arising from past actions. They are the product of the laws of cause and effect which the occultist calls karma.
Và nói về những hành động quá khứ, chúng ta không chỉ muốn nói đến quá khứ gần—như việc ăn uống vô độ của tuần trước, hay kiêng khem của tuần này—mà là những nhân khởi sinh từ quá khứ có thể kéo dài qua nhiều kiếp trước. Các thể của chúng ta—cả ngoài lẫn trong—là những bình chứa các năng lượng tốt hoặc xấu phát sinh từ các hành động trong quá khứ. Chúng là sản phẩm của định luật nhân quả mà nhà huyền bí học gọi là nghiệp quả.
The esoteric wisdom of all great religions teach its existence. In Islam, the concept of fate is indicative' of the principle of karma. In both Hinduism and Buddhist teachings it figures prominently as the Law of Karma to which even a solar or galactic Logos are subject. In the Bible it is represented in the powerful Hebrew philosophy of 'an eye for an eye'. It is referred to in the Upanishads as the 'mighty secret'.
Minh triết nội môn của mọi tôn giáo vĩ đại đều dạy về sự hiện hữu của nó. Trong Hồi giáo, khái niệm định mệnh biểu trưng cho nguyên lý của nghiệp quả. Trong cả Ấn giáo và Phật giáo, nó nổi bật như Định luật Nghiệp Quả mà ngay cả một Thái dương Thượng đế hay một Thượng đế Ngân Hà cũng lệ thuộc. Trong Kinh Thánh, nó được biểu đạt bằng triết học Do Thái đầy uy lực về “mắt đền mắt”. Trong Áo Nghĩa Thư (Upanishad), nó được gọi là “bí mật hùng vĩ”.
Edgar Cayce—Edgar Cayce
There is a whole branch of fringe medicine based on this occult law—that psychological and physiological imbalance can be traced in many instances to ancient causes. The case files of Edgar Cayce, the famous American healer bear testimony to the Law of Karma and show how knowledge of the real and underlying cause of a disease or condition in terms of karma can lead to the dissolution of the most stubborn or chronic conditions. This explains why some people fall victims in an epidemic whilst others escape, and why on many occasions the strongest physical specimens go down in condition of stress when their 'weaker' brethren survive. Cayce says of karma:
Có hẳn một nhánh y học cận biên đặt nền trên định luật huyền môn này—rằng mất quân bình tâm lý và sinh lý học, trong nhiều trường hợp, có thể truy nguyên về những nguyên nhân xa xưa. Hồ sơ các ca bệnh của Edgar Cayce, vị lương y Hoa Kỳ nổi tiếng, là minh chứng cho Định luật Nghiệp Quả, và cho thấy cách hiểu biết về nguyên nhân thật sự và căn để của một bệnh chứng—xét theo nghiệp quả—có thể dẫn đến sự tan rã của những tình trạng ngoan cố hay mạn tính nhất. Điều này giải thích vì sao có người mắc nạn trong một trận dịch trong khi người khác lại thoát, và vì sao nhiều khi những thân thể cường tráng nhất lại gục ngã trong điều kiện căng thẳng, còn những người “yếu” hơn lại sống sót. Cayce nói về nghiệp quả:
In all cases we find, whether they be of beauty or of deformity, whether they be retributive, persistive or rewarding, a single factor in common. In all of them the attitudes and actions of the soul in the past have led to the characteristics manifested by the body to which the soul has now been magnetically attracted ... the body is far more than a mere vaguely appropriate vehicle of consciousness. It is a vehicle to be sure ... an instrument of locomotion in a very real sense. But it is not a separate thing, distinct from and essentially unrelated to its indwelling person in the way that a taxicab, say, is distinct from and unrelated to the passenger that takes it for hire on a journey through town. It is a vehicle rather, that is itself the direct product and creation of the worm that spun it. At the same time the body is also an infinitely subtle, intimate and accurate mirror. It mirrors both the present and the past, in its movements and ever-changing expressions, are reflected contemporary attitudes, ethics and conduct of the ever present soul and of the soul's long-ago past.
Trong mọi trường hợp, dù là đẹp đẽ hay dị dạng, dù là báo ứng, kéo dài hay thưởng báo, chúng ta đều thấy một yếu tố chung duy nhất. Trong tất cả, những thái độ và hành vi của linh hồn trong quá khứ đã dẫn đến các đặc điểm được phô lộ bởi thân thể mà linh hồn hiện nay đã bị hút đến một cách từ tính... thân thể còn hơn xa một vận cụ mơ hồ tương xứng của tâm thức. Quả là một vận cụ... một khí cụ vận động theo nghĩa rất thực. Nhưng nó không phải là một vật thể tách rời, biệt lập và về bản chất không liên hệ gì với chủ thể cư ngụ bên trong—theo cách mà, thí dụ, một chiếc taxi tách biệt và chẳng liên quan gì đến hành khách thuê nó cho một chuyến đi trong thành phố. Đúng hơn, nó là một vận cụ tự thân là sản phẩm trực tiếp và là sáng tạo của chính “con tằm đã se nên nó”. Đồng thời, thân thể cũng là một tấm gương vô cùng tinh vi, mật thiết và chính xác. Nó phản chiếu cả hiện tại lẫn quá khứ; trong những chuyển động và biểu hiện không ngừng biến dịch của nó, được phản chiếu những thái độ, đạo lý và hạnh kiểm đương thời của linh hồn luôn hiện diện—cũng như quá khứ xa xưa của linh hồn.
This forms the true basis for psychosomatic medicine.
Đây là nền tảng chân thực cho y học tâm–thể.
Chapter 2-Chương 2
Heart Transplantation—Cấy Ghép Tim
It is small wonder then that orthodox medical science cannot cope with a long list of diseases still afflicting man today, such as:
Không có gì đáng ngạc nhiên khi y học chính thống không thể đối phó với một danh sách dài các bệnh vẫn còn đang dày vò con người ngày nay, như:
• Psychological depression of the endogenous type;
• Trầm cảm tâm lý loại nội sinh;
• Schizophrenia, notwithstanding shock treatment;
• Tâm phân liệt, bất kể liệu pháp sốc;
• Rheumatoid Arthritis, 3 million sufferers in England alone;
• Viêm khớp dạng thấp—riêng ở Anh đã có 3 triệu người mắc;
• Cancer, despite hundreds of millions spent on research year after year;
• Ung thư—dù năm này qua năm khác tiêu tốn hàng trăm triệu cho nghiên cứu;
• Hypertension;
• Tăng huyết áp;
• Arterio-sclerosis;
• Xơ cứng động mạch;
• Coronary-artery disease; etc.
• Bệnh động mạch vành; v.v.
If we ignore the delphic Oracle of Man, Know Thy SELF, if we take no heed of man's inner nature and subtle vehicles, we are merely dealing with effects and not with causes. To ignore that inner unit of motivating energy the soul, is to make us like the early rural inhabitants who viewed with awe the advent of the steam engine, many of them often believing that the locomotive contained a horse inside its iron walls, little knowing the secret of its motivation by means of energy derived from a change of state in water into its more ethereal or 'inner' nature, steam.
Nếu chúng ta phớt lờ lời sấm truyền ở Đền Delphi về Con Người: “Hỡi Người, Hãy Biết CHÍNH MÌNH ”, nếu chúng ta chẳng đoái hoài đến bản tính nội tại và các vận cụ vi tế của con người, thì ta chỉ đang xử lý các quả chứ không phải các nhân. Phớt lờ đơn vị nội tại của năng lượng thúc đẩy—linh hồn—là khiến chúng ta giống như cư dân nông thôn thuở trước, những người khi kinh ngạc nhìn thấy đầu máy hơi nước, đã tin rằng có một con ngựa ở bên trong khối sắt ấy, mà chẳng hề biết bí mật vận động của nó là nhờ năng lượng phát sinh từ sự chuyển trạng thái của nước sang bản chất “nội” hơn của nó—hơi nước.
Gigantic Life-forces—Những Mãnh Lực Sự Sống Khổng Lồ
Today we accept that a quantity of uranium no bigger than a fist will light up and drive a large city for many years, or take astronauts to the planets and back, but we do not accept that there can be an inner force directing the flow of inspiration, consciousness and character that emanate from the human brain. Instead science attempts to explain human consciousness in terms of blood sugar and neuro-hormonal control heredity and learning. It thinks that a heart will work a body, any old heart will do, given some understanding of tissue tyring and immunology, little knowing that each human heart and its heart chakra are the bridgehead for gigantic 'life-forces that stream into the body from the sun through the sinu-atrial node. And for this and many other very good occult reasons the heart must be regarded as it always has been by the esoteric wisdom of all ages, as a very special organ which cannot be trifled with lightly.
Ngày nay chúng ta chấp nhận rằng một lượng uranium không lớn hơn nắm tay có thể thắp sáng và vận hành một thành phố lớn trong nhiều năm, hoặc đưa các phi hành gia đến các hành tinh rồi trở về; nhưng chúng ta lại không chấp nhận rằng có thể có một nội lực đang điều phối dòng chảy của cảm hứng, tâm thức và tính cách tỏa xuất từ bộ não con người. Thay vào đó, khoa học cố giải thích tâm thức con người bằng đường huyết, sự điều hòa nội tiết–thần kinh, di truyền và học tập. Người ta cho rằng một trái tim sẽ vận hành một cơ thể—tim nào cũng được—miễn có chút hiểu biết về cấy ghép mô và miễn dịch học; họ chẳng hề biết rằng mỗi quả tim con người, cùng luân xa tim của nó, là đầu cầu cho những “mãnh lực sự sống” khổng lồ tuôn vào thể xác từ mặt trời qua nút xoang–nhĩ. Và vì thế, cùng nhiều lý do huyền môn rất xác đáng khác, tim phải được xem—như minh triết nội môn muôn đời vẫn xem—là một cơ quan rất đặc biệt, không thể tùy tiện đùa bỡn.
The problem of heart transplantation is essentially one of energy the energy from within. Energy from within is constant, but most marked during the natural and refreshing act of sleep. Any attempt to draw on the energy consciously, by undergoing tremendous disciplines involving such feats as meditation, one-pointed concentration and selfless—acts of service, produce a shortening of the path of evolution for the person concerned. Any other interference with the natural processes of drawing on this energy is hazardous and bound to produce the most appalling toll.
Vấn đề của cấy ghép tim, về thực chất, là vấn đề của năng lượng—năng lượng từ bên trong. Năng lượng từ bên trong là hằng hữu, nhưng biểu lộ rõ nhất trong hành động tự nhiên giúp phục hồi là giấc ngủ. Mọi nỗ lực cố ý rút năng lượng ấy ra—bằng cách chịu đựng các kỷ luật khắc nghiệt như tham thiền, tập trung nhất tâm, và các hành động phụng sự vô ngã—đều đưa đến việc rút ngắn con đường tiến hóa cho đương sự. Mọi can thiệp khác vào các tiến trình tự nhiên của việc tiếp dẫn năng lượng này đều nguy hiểm và ắt gây nên một tổn thất khủng khiếp.
Anatomically speaking, the heart is an ordinary enough organ, a mere pump made out of unusual muscle, capable of contracting at sufficient strength to pump the blood under pressure through the arteries to every tissue in the body. In theory, it should have been even easier to transplant the heart than a liver or kidney, wherein toxic substances abound and compatibility between donor and recipient might be a very difficult problem to overcome. The surgery is more difficult in the case of the heart, but this has not been the obstacle.
Nói về giải phẫu, tim là một cơ quan đủ bình thường—chỉ là một cái bơm làm bằng loại cơ đặc biệt—có khả năng co bóp đủ mạnh để bơm máu dưới áp lực qua các động mạch đến mọi mô trong cơ thể. Về lý thuyết, lẽ ra việc cấy ghép tim còn dễ hơn gan hay thận—nơi tràn đầy các chất độc và tính tương hợp giữa người cho và người nhận có thể là một vấn nạn rất khó vượt qua. Phẫu thuật tim tuy khó hơn, nhưng đó không phải là chướng ngại chủ yếu.
The real truth of the matter lies deeper. It lies in the little known esoteric anatomy of the heart as the basic organ of the body's vital force. It is the primary energiser of the body and no mere pump! It is the advanced power station through which the planetary Lord expresses His life. It is the meeting point for forces of mind, emotions and body (vagus nerve, sympathetic nerves and sinus node or Air, Water and Land). It is the point through which the soul begins to grasp its vehicle whilst the latter is in its embryonic stage of development. It is the point of attachment and detachment of a thread of etheric and subtler material withdrawn at death. It is strongly linked to the action of the thymus gland as an outward expression of the heart chakra. The etheric energies that pour into it express the ray qualities of the subtler bodies and of high planetary beings.
Sự thật nằm sâu hơn. Nó nằm trong giải phẫu nội môn ít được biết đến của trái tim—với tư cách là cơ quan căn bản của sinh lực cơ thể. Nó là trạm năng lượng chủ đạo của thân thể—chứ không phải chỉ là một cái bơm! Nó là nhà máy điện tiên tiến, qua đó Đức Chúa Tể Hành tinh biểu lộ Sự Sống của Ngài. Nó là điểm hội tụ cho các mãnh lực của trí, cảm xúc và thân (dây thần kinh phế vị, hệ giao cảm và nút xoang—hay Khí, Nước và Đất). Nó là điểm mà qua đó linh hồn bắt đầu nắm lấy vận cụ của mình khi vận cụ ấy còn ở giai đoạn phôi thai. Nó là điểm bám và tháo của một sợi dây bằng chất liệu dĩ thái và vi tế hơn—được thu hồi lúc chết. Nó gắn bó chặt chẽ với hoạt động của tuyến ức như một biểu lộ ngoại hiện của luân xa tim. Các năng lượng dĩ thái đổ vào tim biểu lộ các phẩm tính cung của những thể vi tế và của các Đấng Hành tinh cao cả.
Self and Not-self—Tự-ngã và Phi-ngã
The problem of rejection and acceptance of body organs is basically one of Self and Not-self. The body contains, mainly in the blood system elements which reject any sort of foreign material introduced into the body, that which, at a physical level is recognised as the not-self. By choosing tissues which are alike, transplants can be made in most organs. But this success is purely at a physical level. Sometimes rejection of the not-self begins higher up at an emotional or mental level, and then after some period of apparent surgical success, the physical tissues obey the dictates of mental or emotional impulses which are rejecting at an inward level, and the grafted organ is finally rejected, usually at a time when the body is at a low level of vitality anyway ... during a cold, a bout of infection etc.
Vấn đề đào thải và tiếp nhận cơ quan cấy ghép, căn bản là vấn đề giữa Tự-ngã và Phi-ngã. Cơ thể—chủ yếu là trong hệ máu—chứa đựng các thành phần loại bỏ bất cứ chất lạ nào được đưa vào—tức cái mà ở bình diện vật chất được nhận ra là phi-ngã. Bằng cách chọn các mô tương đồng, có thể ghép hầu hết các cơ quan. Nhưng thành công này thuần túy ở bình diện vật chất. Đôi khi sự đào thải cái phi-ngã khởi sự ở tầng cao hơn—tầng cảm xúc hay trí tuệ—và khi ấy, sau một thời gian tưởng như phẫu thuật đã thành công, các mô vật chất vâng theo mệnh lệnh của các xung lực trí hay cảm xúc đang đào thải ở nội tại; cuối cùng, cơ quan ghép sẽ bị loại bỏ—thường là vào lúc cơ thể đang ở mức sinh lực thấp... như trong một cơn cảm, một đợt nhiễm trùng, v.v.
When we talk of the Self, we mean ultimately the sou}, the eternal and undying I within, the possessor of the body, the point of consciousness which directs the bodily kingdom, that migrates in sleep and departs in death. In forming the antakarana with the soul, in strengthening the soul's grip on our outward sheaths, we learn to discriminate between the real, which is the eternal, and the unreal which is the unenduring part of us, the material and false.
Khi chúng ta nói về Tự-ngã, rốt ráo là chúng ta nói về linh hồn—cái Ta vĩnh cửu bất diệt bên trong—đấng sở hữu thân xác, điểm tâm thức điều khiển vương quốc thân thể, kẻ du hành trong giấc ngủ và lìa đi trong cái chết. Trong việc hình thành antahkarana với linh hồn, trong việc tăng cường sự nắm giữ của linh hồn đối với các lớp vỏ bên ngoài của chúng ta, chúng ta học cách phân biện giữa cái thực—tức vĩnh hằng—và cái không thực—tức phần không bền vững nơi ta, phần vật chất và giả tạm.
This discrimination, which leads to rejection of the unreal, lies at the root of rejection of organ implants, for discrimination exists within us at all levels. We learn to reject first at the emotional level but already, since long before actual birth, we have been rejecting at a physical level in embryo and subsequently. Rejection of Not-self starts early in the cells and molecules, far below our awareness, and is almost reflex in action. For centuries the surgeons have been dealing with these problems of rejection ... assisting the patient in his fight between Self and Not-self. Not-self, in this respect, is the germ and virus and their products.
Sự phân biện này—dẫn đến sự loại bỏ cái không thực—nằm ở cội nguồn của sự đào thải các cơ quan cấy ghép; bởi phân biện hiện hữu trong ta ở mọi tầng. Ta học cách loại bỏ trước hết ở tầng cảm xúc; nhưng đã từ rất lâu trước lúc chào đời, ta đã loại bỏ ở tầng vật chất—trong bào thai và về sau. Sự đào thải Phi-ngã khởi sớm trong các tế bào và phân tử—xa dưới ngưỡng nhận biết của ta—và gần như là phản xạ. Suốt bao thế kỷ, các phẫu thuật gia đã đối diện các vấn đề đào thải này... hỗ trợ bệnh nhân trong cuộc chiến giữa Tự-ngã và Phi-ngã. Ở nghĩa này, Phi-ngã là vi trùng, siêu vi và các sản phẩm của chúng.
But now attention has shifted to the battle going on at a higher level, and this time the surgeons are fighting to get the self to accept a piece, a whole organ of Not-self ... A far more difficult task.
Nhưng nay sự chú ý đã chuyển lên cuộc chiến đang diễn ra ở bình diện cao hơn, và lần này, các phẫu thuật gia lại đang chiến đấu để buộc Tự-ngã chấp nhận một phần—một cơ quan trọn vẹn—của Phi-ngã... Một nhiệm vụ khó gấp bội.
We are experiencing more and more auto-immune diseases in which the body fights off or rejects even parts which it is elaborating itself (Hashimoto's disease) ... we are becoming more and more sensitive to invasion of our bodily kingdoms.
Chúng ta ngày càng gặp nhiều bệnh tự miễn, trong đó cơ thể chống lại hoặc đào thải ngay cả những phần mà chính nó đang tạo tác (bệnh Hashimoto)... chúng ta đang trở nên nhạy cảm hơn bao giờ hết trước sự xâm nhập vào vương quốc thân thể của mình.
This is going on at all levels. Eventually, our surgeons and doctors will be giving much attention to the fight against schizophrenia ... where there is rejection of personality at a mental and emotional level.
Điều này diễn ra ở mọi tầng. Rồi ra, các phẫu thuật gia và bác sĩ sẽ phải dành nhiều quan tâm cho trận chiến chống tâm phân liệt... nơi có sự đào thải của phàm ngã ở tầng trí và cảm xúc.
White Cells—Bạch Cầu
Heart transplants have made the public more aware of this action rejection of tissue or invasion by the body. The body fights off transplants as if they were foreign bodies or groups of germs. The white cells of the blood are mainly concerned with this task. Drugs are therefore given to reduce the activity of these cells. If insufficient of the particular drug is given, the white cells produce massive rejection of the transplanted organ. If too much of the drug is given the white cells may be depressed too far and the body becomes the target of any invading organism and without enough white cells to defend itself, the body succumbs to massive, overwhelming infection. This is the outward story.
Các ca ghép tim đã khiến công chúng ý thức rõ hơn về hành động đào thải mô, hay sự xâm nhập bị cơ thể chống lại. Cơ thể xua đuổi cơ quan cấy ghép như thể đó là vật lạ hoặc một nhóm vi trùng. Bạch cầu trong máu chủ yếu đảm nhận nhiệm vụ này. Vì vậy, người ta dùng thuốc để giảm hoạt tính của những tế bào ấy. Nếu dùng không đủ liều thuốc chuyên biệt, bạch cầu sẽ tạo ra sự đào thải ồ ạt với cơ quan ghép. Nếu dùng quá liều, bạch cầu có thể bị ức chế quá mức, và cơ thể trở thành mục tiêu của bất kỳ tác nhân xâm nhập nào; thiếu bạch cầu để tự vệ, cơ thể sẽ gục ngã trước một tình trạng nhiễm trùng tràn lan, áp đảo. Đó là câu chuyện ở mặt ngoài.
But there are inner factors at play which escape the attention of the surgeons and these are linked to the heart's esoteric functions. Before considering them let us first look at the white cells of the blood on which so much depends. More than half of them are what we call 'poly-rnorphs'. They have strange nuclei which change their shape almost as fast as the cells change their outline. By changing their shapes they engulf foreign particles, including germs. They have traditionally been correlated with the astral nature of man and the astral plane of the emotions, partly because of their amoeboid characteristics, their ever-changing shape, their elusive nature and ghost-like forms.
Nhưng có các yếu tố nội tại đang vận hành—thoát khỏi sự chú ý của các phẫu thuật gia—và chúng gắn liền với các chức năng nội môn của trái tim. Trước khi xét đến chúng, hãy trước hết quan sát bạch cầu—yếu tố mà quá nhiều điều tùy thuộc. Hơn một nửa là cái mà ta gọi là “đa nhân”. Chúng có nhân kỳ lạ—thay đổi hình dạng gần như nhanh ngang với sự đổi hình của chính tế bào. Bằng cách biến đổi hình dạng, chúng nuốt chửng các hạt lạ—kể cả vi trùng. Từ lâu, người ta tương quan chúng với bản tính cảm dục của con người và với cõi cảm dục—một phần vì đặc tính kiểu a-míp, hình dạng luôn biến dịch, bản chất khó nắm bắt và dáng hình như bóng ma của chúng.
The other white cell is the lymphocyte. Lymphocytes do not change shape; their work is to produce minute antibodies which counteract foreign, Not-self particles, including the organ transplants of donors! These cells are produced by the thymus gland, a strange organ lying beneath the breastbone close to the heart, with which it has very strong esoteric links. Lymphocytes go to populate the lymph nodes of the body and the spleen. The thymus gland is an endocrine organ and therefore, of especial esoteric significance because each endocrine organ in the body is closely related to an etheric chakra. The thymus normally atrophies around about adolescence. In some people it persists ... to produce 'thymic types' which very frequently are either criminal psychopaths or highly developed 'soul' types.
Loại bạch cầu khác là lympho. Lympho không đổi hình; công việc của chúng là sản xuất các kháng thể cực nhỏ để trung hòa các hạt lạ—Phi-ngã—kể cả các cơ quan ghép của người hiến! Những tế bào này do tuyến ức sinh sản—một cơ quan kỳ lạ nằm dưới xương ức, gần tim, có liên hệ nội môn rất mạnh với tim. Lympho đi đến cư trú các hạch bạch huyết trong cơ thể và lách. Tuyến ức là một tuyến nội tiết, vì thế có ý nghĩa nội môn đặc biệt—bởi mỗi tuyến nội tiết đều liên hệ mật thiết với một luân xa dĩ thái. Tuyến ức thường thoái hóa vào khoảng tuổi dậy thì. Ở vài người, nó tồn lưu... tạo nên “dạng tuyến ức”—rất thường hoặc là những kẻ loạn thần phạm pháp, hoặc là những “dạng linh hồn” phát triển cao.
Atom's and Molecules—Nguyên tử và Phân tử
Now it is a very well-known scientific fact that we are constantly replacing the tissues of our bodies right down to the very atoms and molecules which make up our cells. What is not generally known is that even atoms and molecules are alive and possess a consciousness of their own, highly or lowly developed according to the consciousness of the one of which they are a part, the one in whom they live and move and have their being. Therefore, according to the esoteric development of the soul, the I, or possessor of the body, atoms of carbon, oxygen, hydrogen and trace elements, will be attracted into the body tissues. According to our consciousness we accept or reject the more enlightened atoms or less enlightened and tend to reject all else. The highest atoms in esoteric development are found in the plant kingdom, less so in animals and even less so in minerals.
Nay có một sự kiện khoa học rất quen thuộc: chúng ta liên tục thay mới các mô cơ thể—xuống tận mức các nguyên tử và phân tử cấu thành tế bào của mình. Điều chưa được biết rộng rãi là ngay cả nguyên tử và phân tử cũng có sự sống và có tâm thức riêng—cao hay thấp tùy theo tâm thức của Đấng mà chúng là một phần—Đấng trong đó chúng sống, chuyển động và hiện hữu. Vì thế, tùy theo sự phát triển nội môn của linh hồn—cái Ta, hay chủ thể sở hữu thân xác—các nguyên tử carbon, oxy, hydro và các nguyên tố vi lượng sẽ được hấp dẫn vào mô thân thể. Tùy theo tâm thức, chúng ta chấp nhận hay đào thải những nguyên tử “giác ngộ” hơn hay kém, và có khuynh hướng loại trừ mọi thứ khác. Những nguyên tử có phát triển nội môn cao nhất được tìm trong giới thực vật; thấp hơn ở động vật; và thấp hơn nữa ở khoáng vật.
We can therefore supply our bodies with atoms (food) of the highest order or of lesser orders and these living beings are incorporated into us, thus permitting the organism as a whole a larger or lesser awareness and esoteric development. All this takes place under the guidance of the heart chakra. The heart chakra energises, amongst other organs, the thymus gland, which, as we have seen, is able to produce lymphocytes which initiate the main reaction to transplanted organs.
Do đó, chúng ta có thể cung cấp cho thân thể mình những nguyên tử (thực phẩm) bậc cao nhất, hoặc của các bậc thấp hơn; và những sinh linh sống ấy được dung nạp vào ta, cho phép toàn thể cơ thể có một tầm nhận biết và phát triển nội môn lớn hơn hoặc nhỏ hơn. Tất cả diễn ra dưới sự hướng dẫn của luân xa tim. Luân xa tim tiếp sinh lực—trong số các cơ quan khác—cho tuyến ức; như ta đã thấy, nó có thể sản sinh các lympho, vốn khởi phát phản ứng chủ yếu đối với cơ quan cấy ghép.
Although figures as yet do not show it, I venture to prophesy that those most likely to accept a heart-transplant will be the least developed on the sale of esoteric evolution, other immunological problems aside, for these, the younger souls in incarnation, have the lowest powers, on all levels, of discriminating between Self and Not-self. They are most likely to accept transplants of Not-self.
Dù số liệu còn chưa cho thấy, tôi mạo muội tiên đoán rằng những người có khả năng chấp nhận cấy ghép tim nhiều nhất sẽ là những người kém phát triển hơn trên thang bậc tiến hóa huyền môn—bỏ qua các vấn đề miễn dịch học khác—bởi những linh hồn trẻ đang lâm phàm này có năng lực phân biện giữa Tự-ngã và Phi-ngã thấp nhất ở mọi tầng. Họ có nhiều khả năng chấp nhận sự cấy ghép của Phi-ngã.
The factors producing rejection of a transplant, just when it seems that the body is accepting the graft, stem basically from the astral body acting as it does preponderantly through the blood stream and the white cells. And I would say that heart transplants at this stage should be regarded as palliative measures rather than as permanent cures.
Các yếu tố tạo ra sự đào thải một mảnh ghép—đúng vào lúc tưởng như cơ thể đang tiếp nhận nó—cơ bản phát nguyên từ thể cảm dục (thể vía), vốn hành xử chủ đạo qua dòng máu và bạch cầu. Và tôi muốn nói rằng việc ghép tim ở giai đoạn này nên được xem là biện pháp xoa dịu hơn là chữa trị vĩnh viễn.
I would also say that the measure of success so far gained has, in the main part, been the result of the surgical technique of retaining a large amount of the recipient's right atrium, which holds the all-important sinus node. Esoterically speaking, the sinus node is the most important anatomical portion of the heart, and for very good reasons (see diagram). Heart muscle has extraordinary powers not shared by ordinary muscle. It is possible to remove cardiac muscle and place it in a special solution of ions and salts, whereupon it will continue its contractions for a long time.
Tôi cũng muốn nói rằng phần lớn mức độ thành công đạt được đến nay là nhờ kỹ thuật phẫu thuật giữ lại một phần lớn tâm nhĩ phải của người nhận—nơi chứa nút xoang hệ trọng. Nói theo nội môn, nút xoang là phần giải phẫu quan trọng nhất của quả tim, và vì những lý do rất xác đáng (xem sơ đồ). Cơ tim có những năng lực phi thường mà cơ vân thông thường không có. Có thể lấy cơ tim ra và đặt vào một dung dịch đặc biệt gồm các ion và muối; khi đó, nó sẽ tiếp tục co bóp trong một thời gian dài.
‘The cardiac fibre has the power of originating within itself the impulse that makes it contract. This is one of the first properties to appear in the course of (embryonic) development. As soon as the heart is formed in the embryo ... it contracts rhythmically and this rhythmic beat persists even after it has been separated from the organism.’
“Các sợi cơ tim có khả năng khởi phát ngay trong chính chúng xung động làm chúng co lại. Đây là một trong những đặc tính đầu tiên xuất hiện trong (phôi) quá trình phát triển. Ngay khi tim được hình thành trong phôi... nó co bóp theo nhịp, và nhịp đập có tính chu kỳ này còn tiếp tục ngay cả sau khi tim đã được tách khỏi cơ thể.”
—Human Physiology by Houssay.
—Sinh lý học Con người, Houssay.
The part of the heart which beats the fastest and initiates the contraction of all other fibres is called the sinus node (see diagram). From this strange tissue, waves of electrical excitation pass to all parts of the heart and it imposes its rhythm on all, so that it is known as the 'pacemaker'. It is through this very 'sacred' piece of tissue that waves of etheric impulses descend into the purely physical atoms. The sinus node of the heart of every organism is linked by an etheric 'umbilicus' to the etheric body of mother earth.
Bộ phận của tim đập nhanh nhất và khởi phát co bóp cho tất cả các sợi cơ khác được gọi là nút xoang (xem sơ đồ). Từ khối mô kỳ lạ này, các làn sóng hưng phấn điện học truyền đến mọi phần của tim, và nó áp đặt nhịp của nó lên tất cả; vì thế, nó được gọi là “máy tạo nhịp”. Chính qua mảnh mô “thiêng liêng” này mà các làn sóng xung lực dĩ thái giáng vào tận các nguyên tử vật chất thuần túy. Nút xoang của tim mọi sinh thể được nối bằng một “cuống rốn” dĩ thái với thể dĩ thái của Mẹ Đất.
Thus, the life force wells up within. the heart from the earliest stages of development in the embryo, right through life until withdrawn at death. At death, life is said to be withdrawn in two stages, according to ancient teachings. Consciousness leaves the head first and the diminished life forces pause for awhile in the region of the heart and its chakra. From here, life is finally withdrawn. If there is a rallying, the life-force retakes possession of the body and consciousness is re-asserted. This is one reason for the occult insistence on cremation.
Như vậy, sinh lực dâng trào từ trong tim ngay từ giai đoạn sớm nhất của sự phát triển trong bào thai, xuyên suốt đời sống cho đến khi được thu hồi lúc chết. Theo các giáo huấn cổ, lúc chết, Sự Sống được thu hồi theo hai giai đoạn. Tâm thức rời phần đầu trước; sinh lực suy giảm dừng lại một lúc ở vùng tim và luân xa tim. Từ đây, Sự Sống được thu hồi sau cùng. Nếu có lúc hồi tỉnh, sinh lực tái chiếm hữu thân thể và tâm thức được tái khẳng định. Đây là một lý do cho sự khuyến cáo huyền môn về hỏa táng.
Special Hazards—Hiểm Họa Đặc Thù
And so, whilst other organs which are transplanted carry the normal hazards, the heart transplant has special ones, esoterically speaking. The heart rate is decided by the sensitive tissue of the sinus node or any other cardiac muscle cells that will accept the task as receiving and transmitting station for planetary etheric energy. This station is related to forces welling from the centre of the earth and thence to the centre of the sun.
Và như thế, trong khi các cơ quan khác được cấy ghép mang những nguy cơ thông thường, thì ghép tim—xét theo nội môn—có những nguy cơ đặc thù. Nhịp tim được quyết định bởi mô nhạy cảm của nút xoang, hay bởi bất kỳ tế bào cơ tim nào khác sẽ đảm nhận nhiệm vụ như một trạm tiếp nhận và truyền phát năng lượng dĩ thái hành tinh. Trạm này liên hệ với các mãnh lực dâng lên từ tâm Đất và từ đó hướng đến tâm Mặt Trời.
If you are very still you can sometimes feel the sun impulses modifying the action of the heart. They are slower than the heart and cannot be confused with pulse beats which are shorter and more abrupt. (Swedenborg describes them and I have felt them often). One day, they will be 'discovered' and measured accurately and about this time a new type of electrical force will be discovered, a third type, not negative, not positive, but without which negative and positive cannot exist.
Nếu quý vị thật tĩnh, đôi khi có thể cảm được các xung lực mặt trời đang điều hợp hoạt động của tim. Chúng chậm hơn nhịp tim và không thể nhầm với mạch đập—vốn ngắn và gắt hơn. (Swedenborg đã mô tả chúng và tôi thường cảm nhận được). Một ngày nào đó, chúng sẽ được “phát hiện” và đo lường chính xác; và vào khoảng thời gian ấy, một loại lực điện mới sẽ được phát hiện—loại thứ ba—không âm, không dương, nhưng thiếu nó thì âm và dương không thể tồn tại.
Whilst the heart of the donor functions in the recipient there will be effects felt on the astral plane where the remainder of the donor's living self is temporarily in residence, and whilst this situation exists, it will be more difficult for the donor to free himself from the earthly terrain and to this extent, there may be some slight effect of overshadowing of the recipient by the donor's astral consciousness but it would be very mild and confused, spasmodic, and ever-weakening. The recipient, on the other hand, has a great gap in his etheric body to which he takes time to adjust. This weakness brings to his chest and lungs, in particular, the hazards of insufficient etheric vitalisation.
Chừng nào trái tim của người hiến còn hoạt động trong người nhận, sẽ có những ảnh hưởng được cảm nhận trên cõi cảm dục—nơi phần còn lại của tự-ngã sống động nơi người hiến đang tạm lưu trú; và chừng nào tình huống này còn tồn tại, người hiến sẽ khó tách mình khỏi cõi trần hơn; ở mức độ nào đó, có thể xảy ra một chút hiệu ứng “phủ bóng” lên người nhận bởi tâm thức cảm dục của người hiến— nhưng nó sẽ rất nhẹ và rối mờ, lúc có lúc không và ngày càng yếu. Người nhận, ở phía khác, có một lỗ hổng lớn trong thể dĩ thái, mà y cần thời gian để thích nghi. Sự suy yếu này mang đến lồng ngực và phổi của y, đặc biệt, các hiểm họa do thiếu tiếp sinh lực dĩ thái đầy đủ.
I venture a forecast that only when the atoms and molecules of the donated heart are all replaced by normal processes with atoms and molecules of an order and quality in harmony with the receiver and his bodies, will this threat of devitalisation and infection be overcome so that the rent in the etheric is thus repaired, the link with the donor finally broken (and the influences reaching the recipient via his blood from that astral quarter terminated), Until then doctors would have to maintain a strict vigil, applying constantly all their genius for immunological therapy. I have seen the fight put up by one of these dying heart recipients on the astral plane, and I don't ever want to see such a hopeless struggle again.
Tôi mạo muội dự báo rằng chỉ khi nào các nguyên tử và phân tử của trái tim hiến tặng được thay thế toàn bộ—bằng các tiến trình bình thường—bằng những nguyên tử và phân tử có trật tự và phẩm tính hòa điệu với người nhận và các thể của y, thì mối đe dọa suy sinh lực và nhiễm trùng mới được vượt qua—để nhờ đó vết rách trong thể dĩ thái được hàn gắn, mối liên kết với người hiến được đoạn tuyệt sau cùng (và các ảnh hưởng đi theo đường máu đến người nhận từ phía cảm dục nơi người hiến cũng chấm dứt). Cho đến lúc ấy, các bác sĩ sẽ phải duy trì sự cảnh giới nghiêm ngặt, không ngừng vận dụng mọi tài năng của mình cho liệu pháp miễn dịch học. Tôi đã thấy cuộc chiến mà một người nhận tim hấp hối tiến hành trên cõi cảm dục, và tôi không bao giờ muốn chứng kiến một cuộc vật lộn vô vọng như thế nữa.
Chapter 3-Chương 3
Etheric Matter—Chất Liệu Dĩ Thái
The material world which we see about us and which we have come to love so much, which we hear, which we feel, which we taste ad nauseam, is not just the gas, liquid and solid substance which we know so well.
Thế giới vật chất mà chúng ta thấy quanh mình—thế giới mà ta đã hết mực yêu chuộng, mà ta nghe, ta chạm, ta nếm đến phát ngán —không chỉ là chất khí, lỏng và rắn như ta vẫn quá quen.
Just as water penetrates sand in a handful of mud, and just as we know that the water, in its turn, is inter-penetrated with gaseous air, so that fish are able to breathe oxygen from it, so too are these gases, liquid and solid states of matter interpenetrated by much subtler states of matter, of an ethereal nature but very tangible. This very fine aether or etheric matter permeates all space and it is truly said that nature abhors a vacuum. The occult truth is that there is no such thing as a vacuum. Even the space between the planets and the sun, or even that between the galaxies, contains etheric matter.
Cũng như nước thấm vào cát trong một nắm bùn, và cũng như chúng ta biết rằng bản thân nước lại bị không khí thâm nhập—đến mức loài cá có thể hô hấp oxy trong đó—thì cũng vậy, các trạng thái vật chất khí, lỏng và rắn ấy bị thâm nhập bởi những trạng thái chất liệu tinh tế hơn nhiều—mang bản chất dĩ thái nhưng lại rất khả cảm. Loại ê-te vi tế này—tức chất liệu dĩ thái—thấm khắp không gian; và người ta quả có lý khi nói rằng tự nhiên ghét khoảng trống tuyệt đối. Chân lý huyền môn là: không có cái gọi là chân không. Ngay cả khoảng không giữa các hành tinh và Mặt Trời, hay giữa các thiên hà, cũng chứa chất liệu dĩ thái.
This fine material flows about in life-giving streams releasing its energy to plants, animals and man alike. It is more concentrated in the region of the planets and even more so in the bodies of living things, where it forms a coherent, underlying or inter-penetrating vehicle which is constantly transferring its energy to the grosser, visible structures or organs.
Chất liệu tinh vi này lưu chuyển trong những dòng suối tràn sinh khí, giải phóng năng lượng cho thực vật, động vật và con người như nhau. Nó tập trung nhiều hơn quanh các hành tinh, và còn hơn nữa trong các cơ thể sống—nơi nó tạo thành một vận cụ kết cấu, cơ bản và liên thấm—liên tục chuyển giao năng lượng của mình cho các cấu trúc thô trược, hữu hình hay các cơ quan.
The densest part of this coherent etheric body is composed of charged particles which are known as ions, and these are easily measured in terms of their concentration with scientific instruments. But the subtler orders of etheric matter are electrons, positrons and the host of sub-atomic particles now being uncovered by chemists.
Phần đậm đặc nhất của thể dĩ thái có kết cấu mạch lạc này được cấu thành bởi các hạt mang điện—gọi là ion—và có thể đo được dễ dàng về nồng độ bằng các dụng cụ khoa học. Nhưng những cấp độ tinh tế hơn của chất liệu dĩ thái là electron, positron và cả một đoàn các hạt hạ nguyên tử mà hiện nay các nhà hóa học đang dần phát hiện.
These are less easily detected because they are mainly neutral in charge and are constantly forming and decomposing. They are naturally more concentrated in regions of the body where metabolic changes are in progress. This etheric body underlying all living things does not survive death but slowly disintegrates and returns into the etheric body of the planet itself.
Chúng khó bị phát hiện hơn vì phần lớn trung hòa điện tích và không ngừng tạo thành rồi phân rã. Chúng tự nhiên tập trung nhiều hơn ở những vùng cơ thể nơi đang diễn ra các biến đổi chuyển hóa. Thể dĩ thái—nền tảng của mọi sinh thể—không còn tồn tại sau khi chết mà dần tan rã, trở về nhập vào thể dĩ thái của chính hành tinh.
This subtle body and the even subtler ones associated with it are described later. But first what evidence is there, outside the esoteric teachings of all great religions, for its existence?
Thể tinh tế này và những thể còn tinh tế hơn liên hệ với nó sẽ được mô tả về sau. Nhưng trước hết, ngoài giáo huấn nội môn của mọi tôn giáo vĩ đại, có bằng chứng nào chứng tỏ sự hiện hữu của nó?
The evidence is meagre but it is accumulating as scientific expertise and instrumentation progresses and within the next generation its existence will be accepted, even if merely as an unproven hypothesis in scientific circles.
Bằng chứng còn mỏng, nhưng đang gia tăng cùng với sự tiến bộ của chuyên môn và khí cụ khoa học; và trong một thế hệ tới, sự hiện hữu của nó sẽ được thừa nhận—dẫu chỉ như một giả thuyết chưa chứng minh trong các giới khoa học.
Dr Kilner
Bác sĩ Kilner
Let us consider now scientific corroboration of the existence of etheric matter. About 1920, Dr Walter Kilner, B.A.,M.B. (Cantab) M. R. C. P., and Chief Electrician at St. Thomas's Hospital, London, published a book on research work which he had conducted into a subtle state of matter which he found cloaking and seemingly interpenetrating the human body.
Giờ hãy xét đến sự chứng thực khoa học về sự hiện hữu của chất liệu dĩ thái. Khoảng năm 1920, Bác sĩ Walter Kilner, B.A., M.B. (Cantab), M.R.C.P., Trưởng bộ phận Điện học tại Bệnh viện St. Thomas, London, đã xuất bản một cuốn sách về công trình nghiên cứu mà ông thực hiện đối với một trạng thái chất liệu tinh tế—mà ông thấy bao phủ và dường như liên thấm với thân thể con người.
He was one day studying the effects of certain physical forces on the human body when he found that by peering through certain types of blue screens, tinted with a dye, dicyanin, he could make out an outline of a sort of human atmosphere surrounding the body. Conducting tests on this atmosphere with heat, draughts of air, magnetism and electricity he found that this cloud of subtle substance was in no way dispersed by these physical forces. He discovered that the dye affected the rod cells of the eyes in such a way that they became sensitive to light emanating from the ultra-violet part of the electro-magnetic spectrum (see diagram).
Một ngày nọ, khi đang khảo sát các tác động của những lực vật lý nhất định lên cơ thể người, ông phát hiện rằng bằng cách nhìn qua một số loại kính màu lam—được nhuộm bằng một phẩm nhuộm gọi là dicyanin—ông có thể thấy phác một đường viền của một dạng “khí quyển” con người bao quanh thân thể. Tiến hành các thử nghiệm trên “khí quyển” này với nhiệt, luồng gió, từ tính và điện, ông nhận thấy đám mây chất liệu tinh tế này không hề bị phân tán bởi các lực vật lý đó. Ông khám phá rằng phẩm nhuộm ấy tác động lên các tế bào que của mắt khiến chúng trở nên nhạy với ánh sáng phát xuất từ phần tử ngoại của phổ điện từ (xem sơ đồ).
Only one person in four hundred could not see the outline of the subtle atmosphere thus brought into view by the action of dicyanin on the eye.
Chỉ một trong bốn trăm người là không thể thấy đường viền của “khí quyển” tinh tế vốn được đưa vào tầm nhìn nhờ tác dụng của dicyanin lên mắt.
The diagram shows the spectrum of colours lying on the light sensitive cells of the human retina. The middle part of the spectrum, i.e. the yellow, is seen clearest of all. Through the use of dicyanin screens, Dr Walter Kilner was able to sensitise the retina so that the violet and the ULTRA VIOLET part of the spectrum was then seen clearly. This enabled direct observation of the etheric body which vibrates to wavelengths in the ultra-violet part of the spectrum. Thus, with this device, one sees more of reality than without it. The use of certain coloured gels supplied by most large photographic companies, produces the same effect.
Sơ đồ cho thấy quang phổ màu nằm trên các tế bào nhạy sáng của võng mạc người. Phần giữa của quang phổ—tức màu vàng—được thấy rõ nhất. Nhờ sử dụng các màn lọc dicyanin, Bác sĩ Walter Kilner có thể làm nhạy võng mạc để phần màu tím và phần TỬ NGOẠI của quang phổ được thấy rõ. Điều này cho phép quan sát trực tiếp thể dĩ thái—vốn rung động theo các bước sóng ở phần tử ngoại của quang phổ. Như vậy, với dụng cụ này, người ta thấy được nhiều thực tại hơn là khi không dùng nó. Việc dùng một số gel màu do hầu hết các hãng nhiếp ảnh lớn cung cấp cũng tạo hiệu ứng tương tự.
There were three distinct outlines or layers of this subtle matter. One extended some three inches beyond the surface of the body; another reached to some twelve inches from the skin; and a third radiated out to some two feet or more from the body.
Có ba đường viền hay lớp chất liệu tinh tế phân biệt. Một lớp trải ra chừng ba inch vượt quá bề mặt thân thể; lớp thứ hai vươn đến chừng mười hai inch từ da; và lớp thứ ba tỏa ra chừng hai feet hoặc hơn từ thân thể.
Now Dr Kilner was no occultist. He knew nothing of etheric matter as taught by eastern mystieisrn and he conducted his investigation and research work on scientific lines taking no heed of any factors which could not be investigated directly through scientific means.
Bác sĩ Kilner không hề là một nhà huyền môn. Ông chẳng biết gì về chất liệu dĩ thái theo giáo huấn của thần bí học phương Đông; ông tiến hành khảo sát và nghiên cứu theo đường lối khoa học, không để tâm đến bất kỳ yếu tố nào không thể khảo cứu trực tiếp bằng phương tiện khoa học.
Several factors became patent to him during his research work on hundreds of patients.
Trong quá trình nghiên cứu trên hàng trăm bệnh nhân, nhiều điều trở nên hiển nhiên với ông.
• The haze or aura varied from person to person.
• Lớp sương mờ—hay hào quang—thay đổi từ người này sang người khác.
• It varied in intensity, in colour and in size.
• Nó khác nhau về cường độ, màu sắc và kích thước.
• The aura of women differed from that of men.
• Hào quang của phụ nữ khác với nam giới.
• Children's differed from adults.
• Trẻ em khác với người trưởng thành.
• Pregnant's women's differed from others.
• Phụ nữ mang thai khác với người không mang thai.
• Sick people varied in aura from the healthy. In sickness it was possible to discern a discoloration, and patching in the afflicted part.
• Người bệnh khác với người khỏe mạnh. Trong bệnh tật, có thể nhận ra sự đổi màu và loang lổ ở phần bị tổn thương.
He found that when the hands were placed opposite to each other with the fingers extended there would be a bridging of the gap between the auras of the hands, even up to a distance of eighteen inches. The aura he found, seemed to depend on the health and the mental capacities of the individual rather than on his righteousness.
Ông nhận ra rằng khi đặt hai bàn tay đối diện nhau với các ngón duỗi ra, sẽ có hiện tượng bắc cầu giữa hai hào quang của các bàn tay, thậm chí ở khoảng cách đến mười tám inch. Ông thấy rằng hào quang dường như lệ thuộc vào sức khỏe và năng lực tâm trí của cá nhân hơn là vào đức hạnh.
Bomb Blast—Sóng Nổ
During the second world war, the phenomenon of bomb blast puzzled the scientists. Long before sound waves from the exploding shell or bomb were heard, the shock waves of blast, quite soundless, would rip windows out and shear off limbs. Even in atomic explosions, this preliminary phenomenon can be seen.
Trong Thế chiến thứ hai, hiện tượng sóng nổ gây bối rối cho các nhà khoa học. Lâu trước khi nghe thấy sóng âm từ quả đạn hay trái bom nổ, các sóng chấn động—hoàn toàn không có âm thanh—đã giật tung cửa kính và xé lìa chi thể. Ngay trong các vụ nổ nguyên tử, hiện tượng mở màn này cũng có thể thấy.
The explanation for it is quite simple. The blast results from movement of the ether, or etheric particles which respond first to the explosion and then atomic and molecular. particles follow. In natural phenomena there is always a pre-physical or etheric, movement before gas, liquids and solids respond.
Lời giải thích đơn giản: sóng nổ là kết quả của sự chuyển động của ê-te—hay các hạt dĩ thái—vốn đáp ứng trước hết với vụ nổ; rồi sau đó, các hạt nguyên tử và phân tử mới theo sau. Trong các hiện tượng tự nhiên, luôn có một chuyển động tiền–vật lý, hay dĩ thái, trước khi các chất khí, lỏng và rắn đáp ứng.
Ted Serios—Ted Serios
Very recently, in America well-qualified observers have been baffled by the case of Ted Serios who 'thinks' pictures into cameras. Preparatory to producing a picture. Serios builds up a considerable tension as he stares into the camera lens, his eyes become bloodshot, veins stand out on his forehead and his limbs may even jerk.
Rất gần đây ở Hoa Kỳ, những quan sát viên đủ tư cách đã bị làm cho bối rối bởi trường hợp Ted Serios—người “nghĩ” ra ảnh trong máy ảnh. Trước khi tạo ảnh, Serios tích lũy một căng thẳng đáng kể khi anh nhìn chằm chằm vào ống kính; mắt đỏ ngầu, gân cổ trán nổi lên, và tay chân có thể giật cục.
When he feels himself 'hot' as he calls' it (likely to record a picture), his heart races violently. On these occasions a polaroid camera has produced images of buildings and famous people. He has been subjected to various tests during these sessions but nothing measurable has emerged. The electroencephalographs were normal, radiation counters showed nothing. No heat increase is 'detected. X-rays, ultraviolet rays, and even light meters show nothing. Whatever it is appears to be a very natural phenomenon in terms of energy production.
Khi cảm thấy mình đang “nóng” như cách anh gọi (có khả năng ghi ảnh), tim anh đập dữ dội. Vào những dịp như vậy, một máy ảnh Polaroid đã cho ra các hình ảnh công trình kiến trúc và những nhân vật nổi tiếng. Anh đã trải qua nhiều thử nghiệm trong các phiên này, nhưng không có gì đo đếm được xuất hiện. Điện não đồ bình thường, máy đếm bức xạ không báo hiệu, nhiệt lượng không tăng. Tia X, tia tử ngoại, thậm chí máy đo ánh sáng đều không cho thấy gì. Dù là gì đi nữa, hiện tượng này có vẻ là rất tự nhiên nếu xét theo phương diện sinh năng.
The truth is, that Serios is able to project mental matter which becomes clothed with etheric outline and this is able to fog a plate. Time will prove that this is the explanation. The same explanation would apply to hypnotism where mental images are projected into the aura of the hypnotized. Telepathy results from movement in mental matter.
Sự thật là Serios có thể phóng chiếu chất liệu trí—chất liệu này được khoác lấy hình viền dĩ thái—và điều đó đủ để làm “bạc” bản phim. Thời gian sẽ chứng minh đây là lời giải. Giải thích tương tự áp dụng cho thôi miên—nơi các hình ảnh trí tuệ được phóng chiếu vào hào quang của người bị thôi miên. Giao cảm viễn cảm là kết quả của chuyển động trong chất liệu trí.
In the dissecting rooms, where animal subjects are finally sacrificed, it has been noted that at the time of death a flow of electrons has been recorded leaving the dead body. What other particles are involved are not known. Probably there are many neutral particles escaping at the same time but which cannot be measured. This cloud of escaping electrons may well be substantiation of the occult proposition of disintegration of the etheric body after death.
Trong các phòng mổ xẻ—nơi súc vật thí nghiệm cuối cùng bị hy sinh—người ta ghi nhận rằng vào thời điểm chết, có một dòng electron thoát ra khỏi thân xác. Những hạt nào khác dính dự phần thì chưa biết. Có lẽ có nhiều hạt trung hòa thoát ra đồng thời—nhưng chưa đo lường được. Đám mây electron thoát ra này có lẽ là sự củng cố cho luận đề huyền môn về sự phân rã của thể dĩ thái sau khi chết.
George de la Warr—George de la Warr
The work of George de la Warr in his laboratories at Oxford is probably well known to many of you. Using a camera with plates specially prepared for him by a reputable photographic company, he has been able to photograph some aspects of the subtle bodies of living things.
Công trình của George de la Warr tại các phòng thí nghiệm của ông ở Oxford hẳn đã quen thuộc với nhiều người trong các bạn. Sử dụng một chiếc máy ảnh với các bản phim được chuẩn bị đặc biệt bởi một hãng nhiếp ảnh danh tiếng, ông có thể chụp được vài phương diện của các thể tinh tế nơi sinh vật sống.
His photographs were produced by some energy which was not light ... the photographic company established this quite clearly. Thoughts held in the subject's mind sometimes found outline on these plates. A germinating seed was once shown to have an etheric outline of the plant into which it would eventually grow, hovering above the seed. Many of these 10,000 photographs have been reproduced in the journal Mind and Matter. De la Warr had to stop his work because of lack of funds.
Các tấm ảnh của ông được tạo bởi một loại năng lượng không phải ánh sáng... hãng nhiếp ảnh đã xác định điều này rất rõ. Những tư tưởng mà chủ thể giữ trong tâm đôi khi hiện hình viền trên các bản phim ấy. Một hạt giống đang nảy mầm đã từng cho thấy một hình viền dĩ thái của cây sẽ mọc lên từ nó—lơ lửng phía trên hạt. Nhiều trong số khoảng 10.000 tấm ảnh này đã được đăng trong tạp chí Tâm trí và Vật chất. De la Warr buộc phải ngừng công việc vì thiếu kinh phí.
Esoteric journals of various types teem with instances of psychical phenomena, often bearing reports of some of the body experiences when the consciousness has resided in the subtle vehicles at some distance from the physical body, which would be then seen lying in repose.
Các tạp chí nội môn thuộc nhiều loại tràn ngập các dẫn chứng về hiện tượng tâm linh—thường kèm theo các tường trình về những kinh nghiệm ra ngoài thân xác—khi tâm thức cư ngụ trong các vận cụ tinh tế ở một khoảng cách nào đó với thân thể vật chất—khi ấy sẽ được thấy nằm yên.
The phenomena of hypnotism, fire-walking, materializations, etc., which many of you must have experienced bear no explanation except in terms of etheric matter and subtle vehicles.
Các hiện tượng thôi miên, đi trên lửa, hiện hình, v.v. mà nhiều bạn hẳn đã từng chứng kiến—không thể cắt nghĩa ngoài những thuật ngữ về chất liệu dĩ thái và các vận cụ tinh tế.
Knowledge of man's inner bodies has always resided with the initiates of the human race. As the centuries unfold, the vast body of collected teachings on the subject which constitute the Ageless Wisdom provide us with more and more of the intimate details of our inner natures.
Tri thức về các thể nội tại của con người luôn được lưu giữ nơi các bậc điểm đạo của nhân loại. Qua các thế kỷ, khối giáo huấn đồ sộ được tích lũy về chủ đề này—hợp thành Minh Triết Ngàn Đời—đã cung cấp cho chúng ta ngày càng nhiều chi tiết thân mật hơn về bản tính nội tại của mình.
Man is apparently a sevenfold being with his innermost nature linked to spirit and his outermost anchored to matter. As H.P. Bavatsky says:
Con người, hiển nhiên, là một hữu thể thất phân—với bản thể thâm sâu nhất nối kết với tinh thần, và lớp ngoài cùng buộc neo nơi vật chất. Như H. P. Blavatsky nói:
‘Father-Mother spin a web, whose upper end is fastened to Spirit ... and the lower one to its shadowy end Matter: and this web is the Universe; spun out of the two substances and made into one.’
“Cha-Mẹ giăng một tấm lưới, đầu trên buộc vào Tinh thần... và đầu dưới buộc vào phần bóng mờ—Vật chất: và tấm lưới ấy là Vũ trụ; se ra từ hai bản thể và làm thành một.”
It is as if the positive pole of spirit and the negative pole of matter lie at the extremes of the spectrum of life and form is produced when they are brought into proximity. The forms or vehicles closest to the positive are the most spiritual and those at the negative end are most material. But the flash of life and the forms it uses are all one, part of a unity, but for most of humanity the inner bodies remain hidden or unknown.
Cứ như thể cực dương của tinh thần và cực âm của vật chất nằm ở hai đầu của quang phổ sự sống; và hình tướng được tạo thành khi chúng được đưa lại gần nhau. Những hình tướng hay vận cụ gần với cực dương hơn thì càng tinh thần; những cái ở phía cực âm thì càng vật chất. Nhưng tia chớp của Sự Sống và các vận cụ mà nó sử dụng đều là một—thuộc về một hợp nhất; dẫu vậy, với đại đa số nhân loại, các thể nội tại vẫn ẩn kín hay không được biết.
Pull Towards Spirit—Sức Hút Hướng về Tinh Thần
With modifications this is true for all kingdoms of nature but in man there exists the strongest pull towards spirit which exists in any form. Man is the highest expression of spirit in material form. There are higher expressions of spirit but these are formless. Because the spiritual end persists and is ever immutable, immortal and eternal, we call it the real self or inner reality. Whereas the material or lower bodies of man are mutable, ever-changing, differentiated countlessly, mortal and non-enduring, and we call this part of man's nature the Not-self.
Với những điều chỉnh thích đáng, điều này đúng cho mọi giới trong thiên nhiên; nhưng nơi con người, tồn tại sức hút hướng về tinh thần mạnh nhất trong mọi hình tướng. Con người là biểu lộ cao nhất của tinh thần trong hình tướng vật chất. Có những biểu lộ cao hơn của tinh thần, nhưng chúng vô tướng. Bởi đầu mút tinh thần tồn tại và bất biến, bất tử, vĩnh cửu, chúng ta gọi đó là cái Ta chân thực—hay thực tại nội tại. Trong khi đó, các thể vật chất hay thấp của con người thì khả biến, luôn đổi thay, phân hóa vô kể, hữu tử và không bền; và chúng ta gọi phần ấy trong bản tính con người là Phi-ngã.
Life and death, waking and sleeping dreaming and focusing, are all but oscillations of consciousness in this united field of form.
Sống và chết, thức và ngủ, mơ và tập trung, tất cả chỉ là những dao động của tâm thức trong trường hợp nhất của hình tướng này.
‘Man is thus living between two worlds, both of them created by, and consisting of, energy. But these energies are in different modes. At the spiritual, or atmic end of the field, it is free, it is “hot” with the heat of cosmic fire, it can be called '’old heat”; it is Light, invisible because casting no shadows, and hence called “Dark Light”. Sound, for the same reason, inaudible, hence called the ‘Voice of the Silence'.” Laurence J. Bendit.
“Con người như thế sống giữa hai thế giới, cả hai đều được tạo bởi, và gồm bởi, năng lượng. Nhưng các năng lượng này ở trong những trạng thái khác nhau. Ở đầu mút tinh thần, hay atma, nó tự do, nó “nóng” với nhiệt của Lửa vũ trụ, có thể gọi là ‘nhiệt xưa’; nó là Ánh sáng, vô hình vì không tạo bóng, bởi vậy được gọi là ‘Ánh sáng Tối’. Âm thanh, vì cùng lý do, là không thể nghe, nên được gọi là ‘Tiếng Nói của Im Lặng’.” Laurence J. Bendit.
The relationship of spirit to matter is often described well by analogy to a wheel. The hub of a wheel is stationary or inert. It holds the power to drive all. This is spirit. The rim of the wheel is active, ever-changing its point of stress, cyclic and far-flung. This is material form. The spokes are channels which convey the power of the hub, conveying changes in tempo and in power, imposing rhythm and periodicity, a sort of quality to everything.
Mối tương quan của chân thần với vật chất thường được mô tả rất hay qua phép so sánh với một bánh xe. Trục bánh xe bất động hay trơ. Nó giữ quyền năng để vận hành tất cả. Đó là chân thần. Vành bánh xe thì hoạt động, luôn thay đổi điểm chịu lực, chu kỳ và tỏa rộng. Đó là hình tướng vật chất. Các nan hoa là những kênh dẫn truyền quyền năng của trục, truyền các biến thiên về nhịp độ và cường lực, áp đặt tiết điệu và định kỳ, một loại phẩm tính cho mọi sự.
From this very ancient concept arises the teachings of a trinity behind form. The hindu trinity is Siva, Vishnu and Brahma or Tamas, Sattvas and Rajas ... Inertia, Rhythm and Activity. The more western trinities are well known to us ... Father, Son and Holy Ghost: Spirit, Soul and Form: Will and Power, Love-Wisdom, Active Intelligence.
Từ quan niệm rất cổ xưa này nảy sinh giáo huấn về một bộ ba ở hậu cảnh của hình tướng. Bộ ba Ấn giáo là Shiva, Vishnu và Brahma hay Tamas, Sattva và Rajas... Trì trệ, Nhịp điệu và Hoạt động. Những bộ ba thiên về Tây phương thì chúng ta đều biết... Cha, Con và Chúa Thánh Thần; Chân thần, Linh hồn và Hình tướng; Ý chí và Quyền lực, Bác Ái – Minh Triết, Trí tuệ Hoạt động.
We all dabble so freely in the obvious, the tangible and the measurable and with equal facility we ignore our inner natures, that which is hidden, subtle and immeasurable. It was only the necessity of war that forced the nuclear scientists to test the hypothesis of the power lying within the nucleus of the atom. It may well be that only some extreme human crisis of unmanageable proportions will force a scientific examination into the hypothesis of that energy unit which we call the soul in man.
Chúng ta đều mải miết đùa chơi với cái hiển nhiên, cái sờ nắm được và cái đo lường được, và cũng với sự dễ dàng tương tự, chúng ta phớt lờ bản tánh bên trong của mình, cái vốn ẩn vi, vi tế và không thể đo lường. Chỉ có sự cấp bách của chiến tranh mới buộc các nhà khoa học hạt nhân kiểm nghiệm giả thuyết về quyền năng nằm trong hạt nhân nguyên tử. Rất có thể chỉ một khủng hoảng nhân loại cực độ vượt tầm kiểm soát mới buộc khoa học khảo sát giả thuyết về đơn vị năng lượng mà chúng ta gọi là linh hồn nơi con người.
Newton and Einstein—Newton và Einstein
Isaac Newton, who dominated his century of science, just as Einstein has dominated our century of science, never hesitated to investigate the hidden latent or less obvious. Like Kepler, he was an astrologer and believed till his dying day that the heavens influence our lives in subtle ways Newton was ever aware of Man's limitations and of what still needed to be investigated. He once said:
Isaac Newton, người đã chi phối thế kỷ của khoa học thời mình, cũng như Einstein đã chi phối thế kỷ khoa học của chúng ta, chưa từng do dự khi khảo sát cái ẩn tàng, tiềm phục hay ít hiển nhiên. Như Kepler, Ông là một nhà chiêm tinh và tin cho đến phút lâm chung rằng cõi trời ảnh hưởng đời sống chúng ta bằng những cách vi tế. Newton luôn ý thức về những giới hạn của Con người và về những gì còn cần được khảo cứu. Ông từng nói:
‘I seem to have been only like a boy playing on the seashore and diverting myself in now-and-then finding a smooth pebble or prettier shell than ordinary whilst all the time, the ocean of Truth lay all undiscovered before me.’
“Tôi dường như chỉ là một cậu bé chơi đùa trên bờ biển, tự tiêu khiển bằng việc thỉnh thoảng tìm được một hòn sỏi nhẵn hay một vỏ sò đẹp hơn thường lệ, còn trong suốt thời gian ấy, đại dương của Chân lý vẫn nằm hoàn toàn chưa được khám phá trước mặt tôi.”
No better analogy would describe the immense power and true nature of the soul. Mystical nonsense? This is what Einstein had to say:
Không có phép so sánh nào tả đúng hơn quyền năng bao la và bản tánh chân thật của linh hồn. Vớ vẩn huyền bí ư? Đây là điều Einstein nói:
‘The most beautiful and most profound emotion we can experience is the sensation of the mystical. He to whom this emotion is a stranger, who can no longer wonder and stand wrapped in awe, is as good as dead.’
“Cảm xúc đẹp đẽ nhất và sâu xa nhất mà chúng ta có thể trải nghiệm là cảm quan về cái huyền nhiệm. Ai xa lạ với cảm xúc này, không còn biết ngạc nhiên và đứng lặng trong kính sợ, thì cũng như đã chết.”
Or, as the great mystics say ... is but asleep!
Hay, như các nhà thần bí vĩ đại nói... chỉ là đang ngủ!
Most of mankind sleeps—most of them heavily, some fitfully. Only sixty, a precious sixty are wide awake. To them, the hierarchy of the planet, the soul is an absolute reality which they demonstrate in their consciousness and in their actions. For the masses, the awakening from that sleep is by the slow process of evolution through many weary lives. For the few it can come rapidly by the severest disciplines, suffering and sacrifice. To them it will come in progressively rapid stages called initiations, the initiations into the mysteries of the soul under the guidance of the sixty adepts from whom the techniques are learnt.
Đa số nhân loại ngủ—đa số ngủ say, vài người chập chờn. Chỉ sáu mươi, một con số quý giá sáu mươi là hoàn toàn tỉnh thức. Với các vị ấy, Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh, linh hồn là một thực tại tuyệt đối được Các Ngài biểu hiện trong tâm thức và hành động. Với quần chúng, sự tỉnh thức khỏi giấc ngủ ấy đến bằng tiến trình chậm rãi của tiến hóa qua nhiều kiếp mỏi mòn. Với số ít, nó có thể đến nhanh chóng bằng những kỷ luật nghiêm khắc nhất, bằng đau khổ và hy sinh. Với họ, nó sẽ đến theo những giai đoạn ngày càng mau lẹ, gọi là các lần điểm đạo—điểm đạo vào các huyền nhiệm của linh hồn dưới sự hướng dẫn của sáu mươi vị chân sư, từ Các Ngài mà các kỹ thuật được học hỏi.
Thus, St Paul on the way to Damascus was initiated, blinded by the light supernal of the next Kingdom, the Kingdom of Soul. Thereafter he besought all men (who slept):
Thế nên, Thánh Phaolô trên đường đến Đa-mát đã được điểm đạo, bị lòa bởi ánh sáng siêu thượng của Giới tiếp theo, Giới Linh hồn. Sau đó, Ngài khẩn khoản kêu gọi mọi người (đang ngủ):
‘Awake thou that sleepest and arise from the dead, and Christ shall give thee light.’
“Hãy tỉnh dậy, hỡi kẻ ngủ mê, và chỗi dậy từ cõi chết, Đức Christ sẽ ban cho ngươi ánh sáng.”
This is the real meaning of the resurrection of the dead. Not that the tombs of the dead will open and corpses will come to life, but that we, the sleeping or dead (to the soul), or living dead shall awaken to the true nature of our inner being, to the existence of our inner vehicles and thence to an understanding of how to control them and so to evolve in consciousness which is, by definition, spirituality. The sum total of all these vehicles is the Temple of the Lord and it is to be found incomplete, within everyone of us.
Đây là ý nghĩa đích thực của sự phục sinh của kẻ chết. Không phải mồ mả của người chết sẽ mở ra và xác chết sống lại, mà là chúng ta—những kẻ đang ngủ hay chết (đối với linh hồn), hay những kẻ sống mà như đã chết—sẽ thức tỉnh với bản tánh chân thật của hữu thể nội tại của mình, với sự hiện hữu của các hiện thể bên trong, rồi từ đó đi đến sự thấu hiểu cách điều khiển chúng, hầu tiến hoá trong tâm thức—mà theo định nghĩa—là tinh thần. Tổng số của tất cả các hiện thể này là Đền Thờ của Chúa, và nó hiện còn chưa hoàn chỉnh, ở trong mỗi người chúng ta.
Awareness of this inner nature to Reality is what is known as spiritual consciousness and symbols of it are found in the esoteric teachings of all great religions. In Christianity, Christ, the Christ within, was its symbol. As Paul says of that inner nature, veiled or esoteric, occult or mystical:
Nhận biết về bản tánh nội tại này của Thực Tại là điều được gọi là tâm thức tinh thần và các biểu tượng của nó được tìm thấy trong giáo huấn huyền môn của mọi tôn giáo lớn. Trong Ki-tô giáo, Đức Christ, tức Christ nội tại, là biểu tượng của nó. Như Phaolô nói về bản tánh bên trong ấy—được che phủ hay huyền môn, huyền bí hay thần bí:
‘Which is Christ within You, the hope of glory.’
“Ấy là Christ ở trong anh em, niềm hy vọng về vinh quang.”
The path to that inner glory is difficult, and the purpose of all religion should be to assist the neophyte on his way. Too often religion does anything but this. That it is a difficult way and that it is a path of free choice is made clear in the Sermon on the Mount:
Con đường đi đến vinh quang nội tại ấy thì khó khăn, và mục đích của mọi tôn giáo lẽ ra là trợ giúp người sơ cơ trên lộ trình. Nhưng quá thường, tôn giáo làm mọi điều trừ điều đó. Rằng đó là một lối đi khó và là một con đường của tự do chọn lựa đã được nói rõ trong Bài Giảng Trên Núi:
Enter ye at the strait gate: for wide is the gate, and broad is the way, that leadeth to destruction, and many there be that go in thereat: because strait is the gate, and narrow is the way, which leadeth unto life, and few there be that find it.
“Hãy vào cửa hẹp; vì cửa rộng và đường khoảng khoát thì đưa đến sự hư mất, kẻ vào đó thì nhiều. Song cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít.”
In one of my war diaries, written when I was but eighteen, are the famous words:
Trong một cuốn nhật ký thời chiến của tôi, viết khi tôi mới mười tám tuổi, có những câu nổi tiếng:
It matters now how strait the gate
Chẳng kể cửa hẹp dường bao,
How charged with punishment the scroll
Văn thư trừng phạt dày cao thế nào,
I am the master of my fate
Ta làm chủ vận mạng ta,
I am the captain of my soul.
Ta làm thuyền trưởng linh hồn ta.
It took five long years of hard and bitter suffering in which my physical as well as my mental and emotional bodies were ripped to shreds, to discover that I was not the master of my fate and still less the captain of my soul! And it was only when I realised that my soul was the real captain of my personality that I had my first spiritual or mystical experience of any significance.
Phải mất năm năm dài đằng đẵng của khổ cực đắng cay, trong đó cả thân xác lẫn thể trí và thể cảm của tôi bị xé nát, để khám phá rằng tôi không phải là chủ vận mệnh của mình và càng không phải là thuyền trưởng của linh hồn mình! Và chỉ khi tôi nhận ra rằng linh hồn tôi mới là vị thuyền trưởng đích thực của phàm ngã tôi, tôi mới có kinh nghiệm tinh thần hay thần bí đầu tiên nào có ý nghĩa.
Chapter 4-Chương 4
The Etheric Body—Thể Dĩ Thái
The etheric or vital body interpenetrates the family of physical shapes and extends as an aura for some distance beyond its periphery. An inner aura terminates an inch or so around the physical vehicle, varying a little in different parts. This body is the power supply of the system. It absorbs energy from the sun and spreads it over the nerves. It provides the 'electric current' which will give life to the telephone system of the body, which is useless without it. Food is primarily for the purpose of maintaining the chemical balance of the body and to provide heat.
Thể dĩ thái hay thể sinh lực thâm nhập xuyên qua “gia đình” các hình dạng hồng trần và trải ra như một hào quang một khoảng nào đó vượt ra ngoài chu vi của nó. Một hào quang bên trong kết thúc cách thân hồng trần chừng một inch hay hơn, thay đổi đôi chút ở các phần khác nhau. Thể này là nguồn cung năng lực của toàn hệ. Nó hấp thu năng lượng từ mặt trời và phân phối khắp hệ thần kinh. Nó cung ứng “dòng điện” sẽ trao sự sống cho “hệ thống điện thoại” của thân thể, vốn vô dụng nếu thiếu nó. Thức ăn chủ yếu nhằm duy trì thăng bằng hoá học của thân thể và cung cấp nhiệt.
Our main supply of vitality comes direct from the sun and is absorbed into the etheric body through a specialised etheric organ within it. Vitality or prana is taken into it and, after it has completed its vitalising activities, it is projected outward in straight lines from the pores of the skin. Mr. Leadbeater describes it as 'bluish-white' and as 'having the appearance of being striated'.
Nguồn sinh lực chính của chúng ta đến trực tiếp từ mặt trời và được hấp thu vào thể dĩ thái qua một cơ quan dĩ thái chuyên biệt bên trong nó. Sinh lực hay prana được thu nhận vào đó và, sau khi hoàn tất các hoạt động tiếp sinh lực, nó được phóng chiếu ra ngoài theo những đường thẳng từ các lỗ chân lông của da. Ông Leadbeater mô tả nó là “trắng xanh” và “có vẻ như có sọc”.
This phrase is interesting in view of the fact that, about ten years later, Dr Walter B. Kilner, of St Mary's Hospital, London, published a book entitled The Human Aura in which he described observations he had made of the aura—obviously the etheric body—for diagnostic purposes. Ability to see this body was induced by the use of slides made from dicyanin dyes in a solution of alcohol. Such a result is possible because, it will be realised, etheric substances are still of the physical world and, therefore, amenable to physical laws. In his book, it is interesting to note, Dr Kilner refers to what he calls the 'Inner Aura' (C. W. Leadbeater calls it 'the Health Aura ') and says that it is 'striated '.
Cụm từ này thú vị nếu xét đến thực tế là khoảng mười năm sau đó, Bác sĩ Walter B. Kilner của Bệnh viện St. Mary, Luân Đôn, xuất bản một cuốn sách tựa đề Hào Quang Con Người, trong đó Ông mô tả các quan sát về hào quang—hiển nhiên là thể dĩ thái—nhằm mục đích chẩn đoán. Khả năng nhìn thấy thể này được gợi lên bằng cách sử dụng các kính lọc làm từ thuốc nhuộm dicyanin trong dung dịch cồn. Kết quả như vậy là khả dĩ vì—cần nhận ra—các chất liệu dĩ thái vẫn thuộc thế giới hồng trần và do đó, tuân phục các định luật vật lý. Thật đáng chú ý, trong sách của mình, Bác sĩ Kilner gọi cái mà Ông gọi là “Hào Quang Bên Trong” (C. W. Leadbeater gọi nó là “Hào Quang Sức Khỏe”) và nói rằng nó “có sọc”.
The Chakras—Các Luân Xa
Within the Etheric body itself, there are several force centres or etheric organs known as chakras. The existence of these chakras has been known for centuries and they are described in many occult books throughout the east, particularly in Hindu sacred writings. Six of them are indicated in the diagram. They arise in the etheric portion of nerve centres within the spine but terminate in circular depressions, somewhat like the flower of the convolvulus or morning-glory vine.
Bên trong chính Thể dĩ thái có nhiều trung tâm lực hay các cơ quan dĩ thái được gọi là luân xa. Sự hiện hữu của các luân xa này đã được biết đến từ nhiều thế kỷ và chúng được mô tả trong nhiều sách huyền môn khắp phương Đông, đặc biệt trong các kinh điển Ấn Độ giáo. Sáu trong số chúng được chỉ ra trong sơ đồ. Chúng sinh khởi ở phần dĩ thái của các trung khu thần kinh trong cột sống nhưng kết ở những lõm tròn, phần nào giống bông hoa bìm bìm.
Each one is a centre of intense activity. Two of them deal particularly with the physical body. The others are primarily links with subtler bodies, bringing their forces to manifest in the dense material, as we shall shortly see. One centre, not indicated, is at the back of the body over the extreme lower end of the spine. It is specialised to absorb a force, known as 'kundalini', that emanates from the earth and gives life to the organs of the body. This force is at present unknown to science.
Mỗi luân xa là một trung tâm hoạt động mãnh liệt. Hai trong số chúng liên hệ đặc biệt với thể hồng trần. Những luân xa khác chủ yếu là các mối nối với các thể vi tế hơn, đưa các lực của chúng biểu hiện trong vật chất đậm đặc, như chúng ta sẽ sớm thấy. Một trung tâm, không được chỉ thị, ở phía lưng, trên điểm tận cùng thấp nhất của cột sống. Nó chuyên hấp thu một lực gọi là “kundalini” xuất phát từ đất và ban sự sống cho các cơ quan của thân thể. Lực này hiện chưa được khoa học biết đến.
The second centre, situated over the spleen, is specialised to receive vitality or prana from the sun. In this centre prana is split up and distributed to various parts of the body, vitalising the many nerve centres and causing a flow of ethers over the physical nerves. The other centres, as we shall see, are links by means of which forces from the subtler bodies are expressed through the physical body.
Trung tâm thứ hai, nằm trên lá lách, chuyên tiếp nhận sinh lực hay prana từ mặt trời. Tại trung tâm này, prana được phân giải và phân phối đến các phần khác nhau của thân thể, tiếp sinh lực cho nhiều trung khu thần kinh và gây ra dòng chảy dĩ thái qua các thần kinh hồng trần. Các trung tâm khác, như ta sẽ thấy, là những mối nối nhờ đó các lực từ những thể vi tế hơn được biểu lộ qua thể hồng trần.
Kundalini—Kundalini
In addition to the food we eat, and the water we drink, the physical body absorbs forces from the etheric atmosphere which surrounds us. One of these forces comes from the earth and has been called 'kundalini', the other comes from the sun and is Prana or vitality. Neither of these has yet been recognised by science, though the latter seems to be suspected. Kundalini has a number of different levels of expressions, but the one we are considering now is the lowest and densest of them all. It affects the physical construction of the dense body, giving it health and functional vigour.
Ngoài thực phẩm ta ăn và nước ta uống, thể hồng trần còn hấp thu các lực từ bầu khí quyển dĩ thái bao quanh chúng ta. Một trong những lực này đến từ đất và được gọi là “kundalini”, lực kia đến từ mặt trời và là Prana hay sinh lực. Cả hai hiện chưa được khoa học thừa nhận, dù lực sau dường như đã bị hoài nghi. Kundalini có nhiều cấp độ biểu hiện khác nhau, nhưng cái mà chúng ta đang xét bây giờ là cấp thấp nhất và đậm đặc nhất. Nó ảnh hưởng đến cấu trúc hồng trần của thể đậm đặc, trao cho nó sức khỏe và sinh lực chức năng.
Those who dig in the earth, the farmers and gardeners, know the feeling of well-being that such an intimate contact with the soil can bring. This force is absorbed by the root chakra which is situated near to the lower end of the spine and opens out at the surface of the etheric body. After absorption and internal. action, the kundalini rises up the spine and is distributed throughout the nerves of the body. It acts upon the blood stream and sex organs.
Những ai đào xới đất—nông dân và người làm vườn—biết cảm giác an khang mà sự tiếp xúc mật thiết với đất có thể đem lại. Lực này được hấp thu bởi luân xa gốc, vốn nằm gần phần thấp nhất của cột sống và mở ra ở bề mặt của thể dĩ thái. Sau khi hấp thu và tác động bên trong, kundalini dâng lên theo cột sống và được phân phối khắp các thần kinh của thân thể. Nó tác động lên dòng máu và các cơ quan sinh dục.
Prana—Prana
Prana comes to us direct from the sun. It is the active power in producing all vital phenomena. In physical world manifestation it clothes itself in a particularly bright little particle consisting of seven ultimate atoms. This has been called the 'vitality globule.' It is seen by many who do not realise what it is, for these little bridge particles are present in the atmosphere on any sunny day, darting hither and thither with great speed. They are most easily seen when facing away from the sun and looking into a blue sky, or above the clouds during aeroplane flight.
Prana đến với chúng ta trực tiếp từ mặt trời. Nó là quyền năng hoạt động tạo nên mọi hiện tượng sinh lực. Trong biểu hiện nơi thế giới hồng trần, nó khoác lấy một hạt nhỏ đặc biệt sáng gồm bảy nguyên tử cùng tột. Cái này được gọi là “Sinh khí cầu”. Nhiều người nhìn thấy nó mà không biết mình đang thấy gì, vì các hạt cầu nối nhỏ này có mặt trong bầu khí quyển vào bất cứ ngày nắng nào, lao đi lao lại rất nhanh. Chúng dễ thấy nhất khi quay lưng lại mặt trời và nhìn vào bầu trời xanh, hay ở trên mây trong các chuyến bay.
Prana in the form of the vitality globule, is absorbed by the spleen centre. Here, prana is specialised into seven different streams, each with one of the ray qualities of the Seven Rays. The streams comprise ultimate atoms which form the vitality globule. They lend colour to the etheric body and its chakras.
Prana dưới hình thức Sinh khí cầu được hấp thu bởi trung tâm lá lách. Tại đây, prana được chuyên biệt hoá thành bảy dòng khác nhau, mỗi dòng mang một phẩm tính cung của Bảy Cung. Các dòng này gồm những nguyên tử cùng tột cấu tạo nên Sinh khí cầu. Chúng đem màu sắc cho thể dĩ thái và các luân xa của nó.
Lower and more primitive astral feelings are reflected through the navel or solar plexus chakra, while higher emotions such as love, devotion and sympathy or compassion find their expression through the heart centre. Each chakra has a different number of spokes, increasing in number from the root chakra with its basic four spokes and on to the crown chakra with 960 spokes.
Những cảm xúc cảm dục thấp và nguyên sơ hơn được phản chiếu qua luân xa rốn hay tùng thái dương, trong khi các cảm xúc cao như tình thương, sùng mộ và cảm thông hay từ bi biểu hiện qua trung tâm tim. Mỗi luân xa có một số nan hoa khác nhau, tăng dần từ luân xa gốc với bốn nan căn bản cho đến luân xa đảnh với 960 nan.
• Root: 4 spokes
• Gốc: 4 nan
• Navel: 10 spokes
• Rốn: 10 nan
• Heart: 12 spokes
• Tim: 12 nan
• Throat: 16 spokes
• Họng: 16 nan
• Brow: 96 spokes
• Trán: 96 nan
• Crown: 960 spokes
• Đảnh: 960 nan
The throat centre is enlivened through activity in service to man and is the main site of evolutionary endeavour for most of the West at this time. The brow centre of Ajna is aroused through one-pointed concentration and brings opening of the Third Eye:
Trung tâm họng được sinh động nhờ hoạt động phụng sự nhân loại và là nơi nỗ lực tiến hóa chính yếu của đa số người phương Tây lúc này. Trung tâm trán (ajna) được khơi dậy qua sự tập trung nhất tâm và đem đến sự mở của Con Mắt Thứ Ba:
If thine eye be single, thy whole body shall be full of light.
“Nếu mắt ngươi chỉ là một, toàn thân ngươi sẽ đầy dẫy ánh sáng.”
The Crown centre brings direct link with the monad and our spiritual centre. It is aroused and radiating in the highly developed of our mankind and is radiant in the adept of the fifth inititation. It was to be seen around the heads of the saints and the Christian Holy Family. this halo is known in the East as the Thousand Petalled Lotus.
Trung tâm Đảnh đem đến mối nối trực tiếp với chân thần và trung tâm tinh thần của chúng ta. Nó được khơi dậy và tỏa chiếu nơi những người rất phát triển của nhân loại chúng ta và rực rỡ nơi một chân sư của lần điểm đạo thứ năm. Nó từng được thấy quanh đầu các vị thánh và Thánh Gia Ki-tô. Vầng hào quang này ở phương Đông được gọi là Hoa Sen Ngàn Cánh.
The evolutionary process takes the energies from chakras lying below the diaphragm to corresponding higher centres above the diaphragm. Thus:
Tiến trình tiến hóa chuyển các năng lượng từ những luân xa nằm dưới cơ hoành lên các trung tâm tương ứng cao hơn ở phía trên cơ hoành. Như vậy:
• Root chakra to the Crown chakra
• Luân xa Gốc đến luân xa Đảnh
• Navel chakra to the Heart chakra
• Luân xa Rốn đến luân xa Tim
• Sacral chakra to the Throat chakra
• Luân xa Xương cùng đến luân xa Họng
• Heart chakra to the Brow chakra
• Luân xa Tim đến luân xa Trán
With the movement of these energies slowly upwards there comes development of the powers latent in man, the psychic faculties. The energy transfer is achieved in a shorter period through the disciplines of Yoga, the outward expression of the wisdom of the ages, modifications of which form the basis for all religions.
Khi các năng lượng này chầm chậm chuyển dần lên trên, các năng lực tiềm ẩn nơi con người—các khả năng thông linh—được phát triển. Sự chuyển dịch năng lượng có thể đạt được trong một khoảng thời gian ngắn hơn thông qua các kỷ luật của Yoga (Du-già), sự biểu hiện đối ngoại của minh triết ngàn đời, những biến thể của nó là nền tảng cho mọi tôn giáo.
The perennial wisdom or wisdom of all ages stems from man the universal principle. In some ages it remains veiled or goes into hiding; in others it comes out into the open, and expresses itself in the current language of the day. Hence its perennial nature. It supplies a common factor to men of all races, creeds, sex and caste and constantly reminds us of our true origin and of the powers latent within us because of that origin.
Minh triết thường hằng, hay minh triết của muôn đời, phát xuất từ nguyên khí phổ quát nơi con người. Có những thời đại nó còn che phủ hay ẩn mình; có những thời đại nó lộ diện và biểu đạt bằng ngôn ngữ đương thời. Do đó, bản chất thường hằng của nó. Nó cung ứng một mẫu số chung cho người mọi chủng tộc, tín ngưỡng, giới tính và giai cấp, và liên tục nhắc chúng ta về cội nguồn chân thật của mình và về các năng lực tiềm ẩn trong ta vì cội nguồn ấy.
The powers latent in man imply not only that they should be brought out for the use of humanity as a whole, but the manifestation of the powers places a tremendous responsibility on those who begin to show them outwardly.
Những năng lực tiềm ẩn nơi con người không chỉ hàm ý rằng chúng phải được khai mở để sử dụng cho toàn thể nhân loại, mà việc biểu lộ các năng lực ấy còn đặt một trách nhiệm ghê gớm lên những ai bắt đầu bộc lộ chúng ra bên ngoài.
A Lesson in Detachment—Một Bài Học về Sự Tách Rời
Shakespeare's sonnet No. 94 provides the exact guidance for this problem for it was written by the master or adept who used the bard as an amanuensis. It was to him that the sonnets were all addressed. This particular sonnet supplies a lesson in detachment and a warning to those who develop the latent powers and misuse them.
Bài sonnet số 94 của Shakespeare cung cấp chỉ dẫn chính xác cho vấn đề này, vì nó được viết bởi vị thầy hay chân sư đã dùng thi hào làm người biên chép. Các sonnet đều được ông gửi dâng vị ấy. Bài sonnet đặc biệt này đem lại một bài học về sự tách rời và một lời cảnh báo cho những ai phát triển các năng lực tiềm ẩn rồi lạm dụng chúng.
It is obvious, often painfully obvious, that those with these powers manifesting frequently become our leaders in all fields of human endeavour or the creators of great works, like the artists, creative scientists, and philosophers. And it is among such men that impure motive can wreak such havoc, as the writer of Mein Kampf so dearly and devastatingly demonstrated for us. The last line of the sonnet tells us that: Lilies that fester smell far worse than weeds.
Hiển nhiên—thường là hiển nhiên đến đau đớn—rằng những người có các năng lực này biểu hiện thường xuyên thường trở thành các nhà lãnh đạo của chúng ta trong mọi lĩnh vực nỗ lực của con người, hay là người sáng tạo các tác phẩm vĩ đại, như nghệ sĩ, nhà khoa học sáng tạo và triết gia. Và chính giữa những hạng người như vậy, động cơ không trong sạch có thể gây tàn hại đến mức nào, như tác giả của Mein Kampf đã phơi bày cho chúng ta một cách đắt giá và tàn khốc. Dòng cuối của bài sonnet cho biết: Những đóa huệ mục thối bốc mùi còn tệ hơn cỏ dại.
They that have power to hurt and will do none,
Kẻ có quyền năng làm hại mà chẳng hại ai,
That do not do the thing they most do show,
Chẳng làm điều họ phô bày nhiều nhất,
Who, moving others, are themselves as stone,
Làm rung động người khác, mà mình như đá,
Unmov'd, cold, and to temptation slow;
Bất lay chuyển, lạnh lùng, chậm trước cám dỗ;
They rightly do inherit heaven's graces,
Họ xứng đáng thừa hưởng ân đức trời,
And husband nature's riches from expense;
Và giữ gìn của báu thiên nhiên khỏi hao phí;
They are the lords and owners of their faces,
Họ là chúa tể và chủ nhân gương mặt mình,
Others but stewards of their excellence.
Kẻ khác chỉ là người quản lý cho phẩm hảo của họ.
The summer's flower is to the summer sweet
Hoa mùa hạ là vị ngọt cho mùa hạ,
I Though to itself it only live and die;
Dẫu chỉ sống và chết cho chính nó;
But if that flower with base infection meet,
Nhưng nếu bông hoa gặp phải ô uế hèn hạ,
The basest weed outbraves his dignity:
Thì cỏ dại hèn nhất cũng lấn át phẩm giá nó:
For sweetest things turn sourest by their deeds;
Vì vật ngọt ngào hóa chua cay bởi hành vi của chúng;
Lilies that fester smell far worse than weeds.
Hoa huệ khi thối rữa bốc mùi còn tệ hơn cỏ dại.
Chapter 5-Chương 5
The Nature of the Soul—Bản Chất của Linh Hồn
The soul is a unit of energy. It has no shape peculiar to itself but uses one or many forms in or through which to express itself. This energy (the soul) is extremely subtle and is capable of interpenetrating all other forms of energy and material substance known to man. It possesses, also, a cohesive property capable of holding all substances in association, animate or inanimate ... it will draw:
Linh hồn là một đơn vị năng lượng. Nó không có hình dạng riêng biệt mà sử dụng một hay nhiều hình tướng để biểu đạt chính mình. Năng lượng này (linh hồn) cực kỳ vi tế và có khả năng thâm nhập xuyên qua mọi dạng năng lượng khác và mọi chất liệu vật chất mà con người biết. Nó cũng sở hữu một tính liên kết có khả năng giữ mọi chất liệu trong tương quan, hữu cơ hay vô tri... nó sẽ kết nối:
• positive to positive
• dương với dương
• negative to negative
• âm với âm
• positive to negative
• dương với âm
• atom to element
• nguyên tử với nguyên tố
• element to molecule
• nguyên tố với phân tử
• protein molecule to cell
• phân tử protein với tế bào
• cell to multi-cellular organism
• tế bào với sinh thể đa bào
• organism to species right up to the unit known as man.
• sinh thể với loài, tiến thẳng lên đến đơn vị gọi là con người.
In man, soul-energy holds all his bodies, subtle and gross in a loose union. Soul (energy) therefore interpenetrates and coheres all form as surely as water may interpenetrate and cohere sand particles or a handful of mud. The soul is not spirit but is an intermediate energy lying between spirit and matter and through which the one interacts with the other.
Nơi con người, năng lượng linh hồn kết nối tất cả các thể của y, vi tế và thô trược, trong một liên hợp lỏng. Linh hồn (năng lượng), do đó, thâm nhập và liên kết mọi hình tướng chắc chắn như nước có thể thấm vào và kết dính các hạt cát hay một nắm bùn. Linh hồn không phải là chân thần, mà là một năng lượng trung gian nằm giữa chân thần và vật chất, qua đó cái này tương tác với cái kia.
As soul-energy infuses the body, we recognize its presence not only by its ability to hold our cells together but in subtler ways as intuition, as the energy of will and that energy motivating abstract thought, three properties known in Eastern teachings as Buddhi, Atma and Manas, The soul is therefore a threefold energy unit which is depicted in the Temple of Mysteries as an upright triangle.
Khi năng lượng linh hồn thấm nhuần thể, chúng ta nhận ra sự hiện diện của nó không chỉ bởi khả năng kết dính các tế bào của chúng ta mà còn theo những cách vi tế hơn như trực giác, như năng lượng của ý chí và năng lượng thúc đẩy tư duy trừu tượng—ba thuộc tính được biết trong giáo lý phương Đông là Bồ đề, Atma và Manas. Linh hồn vì thế là một đơn vị năng lượng tam phân, được mô tả trong Đền Thờ Huyền Môn như một tam giác hướng lên.
The highest form which a soul can infuse that has a gas/liquid/solid (physical) body, is a human personality. But the human personality is also a triple-energy-unit. It possesses a physical body, an emotional body, and a mental body. The sum total of these three energy units is the personality, a synthesis of all three. In the Temple of the Mysteries, this lower, triple-energy unit is symbolized by an inverted triangle.
Hình tướng cao nhất mà một linh hồn có thể thấm nhuần—có một thể khí/lỏng/rắn (hồng trần)—là một phàm ngã con người. Nhưng phàm ngã con người cũng là một đơn vị năng lượng tam phân. Nó sở hữu một thể hồng trần, một thể cảm dục và một thể trí. Tổng hòa của ba đơn vị năng lượng này là phàm ngã, một tổng hợp của cả ba. Trong Đền Thờ Huyền Môn, đơn vị năng lượng tam phân thấp này được biểu tượng bằng một tam giác hướng xuống.
Soul infuses the average man only very sparsely. In most, the soul is only one-twentieth manifest, with only sufficient of its energy to hold his cells together and to drive their totality continuously towards investigating (and identifying themselves with) all manifestations of the Earth Scheme. In this respect, the soul is the storehouse of all memories of such investigations, even after the deaths of the numerous lower triads in their many incarnations.
Linh hồn thấm nhuần người trung bình rất ít ỏi. Ở đa số, linh hồn chỉ biểu lộ một phần hai mươi, chỉ đủ năng lượng để kết dính các tế bào của y và thúc đẩy toàn thể chúng liên tục hướng đến khảo sát (và đồng hóa với) mọi biểu hiện của Hệ hành tinh Địa Cầu. Về mặt này, linh hồn là kho lưu trữ mọi ký ức của những cuộc khảo sát như vậy, ngay cả sau những cái chết của vô số phàm ngã tam phân trong nhiều lần lâm phàm của chúng.
The soul survives all catastrophes and is man's haven in which he rests between lives. The soul is his temple; the personality his prison. As the lives go by, the soul learns increasingly to flood its lower triads. It reaches them by means of the Rainbow Bridge, a bridgehead of higher mental (manasic) substance. At first this is a tenuous thread but later, as the lower triad consciously builds its own bridgehead of higher manasic substance, the thread or antakarana becomes a gateway to a mighty flood from within.
Linh hồn vượt qua mọi tai ương và là bến náu của con người nơi y nghỉ ngơi giữa các kiếp. Linh hồn là đền thờ của y; phàm ngã là nhà ngục của y. Khi các kiếp trôi qua, linh hồn học ngày càng nhiều cách tuôn tràn xuống các phàm ngã tam phân của mình. Nó vươn tới chúng nhờ Cây cầu vồng, một đầu cầu của chất liệu thượng trí (manasic). Ban đầu đây chỉ là một sợi chỉ mong manh, nhưng về sau, khi phàm ngã tam phân tự ý thức xây chính đầu cầu bằng chất liệu thượng trí, sợi chỉ hay antahkarana trở thành một cổng vào cho một dòng lũ hùng hậu từ nội tại.
The gateways opening the antakarana are progressively passed through in a process of what is known as initiations. In this way, the soul grasps the personality closely. This is symbolized in the Mysteries by the impositioning of the upright triangle over the inverted triangle. This process brings man to the limit of his own kingdom and it has happened many times on the planet. The completely soul-infused personality is then depicted as two interlaced triangles.
Các cánh cổng mở ra antahkarana được lần lượt vượt qua trong một tiến trình gọi là các lần điểm đạo. Bằng cách này, linh hồn nắm bắt phàm ngã một cách gần gũi. Điều này được biểu tượng trong Huyền Môn bằng việc chồng áp tam giác hướng lên lên trên tam giác hướng xuống. Tiến trình này đưa con người đến biên giới của chính giới mình, và điều ấy đã xảy ra nhiều lần trên hành tinh. Phàm ngã được linh hồn thấm nhuần hoàn toàn khi ấy được mô tả bằng hai tam giác đan xen.
This is the symbol of the Master or adept, of a Christ overshadowing a man, Jesus. There are about sixty living examples of adept-ship on the planet, at this time. By very special techniques and under certain circumstances, a man may forgo many lives of learning by trial and error and instead strengthen his antakarana under the guidance of one who had already become completely soul-infused or adept.
Đó là biểu tượng của một Chân sư hay chân sư, của một Đức Christ phủ bóng một con người, Đức Jesus. Hiện thời có khoảng sáu mươi tấm gương sống động về địa vị chân sư trên hành tinh. Bằng những kỹ thuật rất đặc biệt và trong những hoàn cảnh nhất định, một người có thể từ bỏ nhiều kiếp học hỏi bằng thử và sai, thay vào đó gia cố antahkarana dưới sự hướng dẫn của một vị đã trở nên hoàn toàn được linh hồn thấm nhuần—tức một chân sư.
This path is available to all who are prepared to crowd into a few lives the pain and suffering of many. The neophyte, thus under instruction, first registers the sudden inpouring of soul-energy in three ways:
Con đường này sẵn có cho tất cả những ai sẵn lòng dồn nén vào vài kiếp nỗi đau và khổ của nhiều kiếp. Người sơ cơ, được chỉ dạy như thế, trước hết ghi nhận dòng tuôn tràn đột ngột của năng lượng linh hồn theo ba cách:
• As light, a light vibrating at a greater frequency than the one known to the average personality, and travelling at speeds far greater than 186,000 miles per second. His lower triad has to develop special organs of perception for this feat. Physical eyes are not needed.
• Như ánh sáng, một ánh sáng rung động ở tần số lớn hơn cái mà phàm ngã trung bình biết đến, và di chuyển với tốc độ vượt xa 186.000 dặm mỗi giây. Phàm ngã tam phân của y phải phát triển các cơ quan tri giác chuyên biệt cho kỳ công này. Mắt hồng trần không cần thiết.
• As an expansion of consciousness which approaches omniscience.
• Như một sự mở rộng tâm thức tiến gần đến toàn tri.
• As a feeling of oneness with all life approaching omnipotence. The experiencing of these three is called illumination of cosmic consciousness.
• Như một cảm thức hợp nhất với mọi sự sống tiến gần đến toàn năng. Kinh nghiệm ba điều này được gọi là sự khai sáng của tâm thức vũ trụ.
Trample on the past
Dẫm đạp quá khứ
The icy hand of thought and deed long past
Bàn tay băng giá của tư tưởng và hành vi đã qua
Constricts my heart at every step and slows
Siết chặt tim tôi từng bước và làm
My feet to a hesitant halt. The shadows cast
Chân tôi chùn lại. Bóng của những điều đã chết
By dead events blight many a budding rose.
Làm héo nhiều nụ hồng đang hé.
For acts I left undone, what wasted sighs
Vì những việc tôi không làm, ôi bao tiếng thở dài
For spite indulged, what gnaw of sad remorse;
Vì thù hằn nuông chiều, là nỗi gặm nhấm ăn năn;
My doubts spawn anxious fears as I analyse
Nghi hoặc đẻ sợ hãi khi tôi phân tích
And trace the stream of evil to its sources.
Và lần theo dòng ác đến tận nguồn.
To break the iron gripe of yesterday
Để bẻ gãy gọng kìm sắt của ngày hôm qua
I trample on the past and turn my eyes
Tôi dẫm đạp quá khứ và hướng mắt
To morning sun whose glory will not stay,
Về mặt trời mai—vinh quang chẳng ở lại,
But like a bird forever onward flies.
Nhưng như cánh chim bay mãi về đằng trước.
By stepping on the countless selves I've slain,
Bước trên vô số cái tôi đã giết,
I reach the heights and touch the stars again.
Tôi tới đỉnh cao và lại chạm đến sao trời.
Chapter 6-Chương 6
Super Gifted Children-Trẻ Em Siêu-năng Khiếu
The Meaning of Sper-gifted—Ý Nghĩa của “Siêu-năng khiếu”In this age, wherein no democratic government may today lift a finger, except under the closest scrutiny of its free press and its paid opposition at home and the watchful eyes of a hundred nations abroad, democracy, as an institution becomes highly unstable and therefore weak unless there is inspired leadership at the very top. France's shaky governments since World War II up until De Gaulle, are an example of this, reaching the greatest heights under the inspired leadership of a man gifted in courage to a remarkable degree whilst plumbing the greatest depths of instability and corruption when gifted leadership is not present.
Trong thời đại này, nơi không một chính quyền dân chủ nào hôm nay có thể nhấc ngón tay nếu không bị soi xét chặt chẽ bởi nền báo chí tự do của mình và phe đối lập được trả lương trong nước, cùng ánh mắt canh chừng của hàng trăm quốc gia ngoài nước, dân chủ như một định chế trở nên rất bất ổn và vì vậy yếu ớt, trừ khi có lãnh đạo được cảm hứng ở thượng tầng. Những chính phủ chao đảo của Pháp từ sau Thế chiến II cho đến thời De Gaulle là một ví dụ, đạt đến tột đỉnh dưới sự lãnh đạo đầy cảm hứng của một người được phú cho lòng can đảm ở mức khác thường, trong khi rơi xuống tận đáy của bất ổn và tham nhũng khi thiếu vắng lãnh đạo tài năng.
The survival of democracy depends in great measure therefore, upon our ability to bring forward into flower, those among us who are super-gifted. The urgency of this is emphasised at present by the incoming energies of the Sign of Aquarius which ever favours revolutionary change and the establishment of dictatorship in the place of enlightened and democratic leadership.
Sự sinh tồn của dân chủ vì thế tùy thuộc rất nhiều vào khả năng của chúng ta đưa vào trổ bông những người ở giữa chúng ta là bậc siêu-năng khiếu. Sự cấp bách của điều này hiện được nhấn mạnh bởi các năng lượng đang nhập của Dấu hiệu Bảo Bình—vốn luôn ưu ái biến đổi cách mạng và thiết lập chuyên chế thay cho lãnh đạo sáng suốt và dân chủ.
The necessity for recognising and assisting super-gifted children is so obvious that it is astonishing what little has been done in both our own age and in previous ones towards this end.
Sự cần thiết nhận ra và trợ giúp trẻ siêu-năng khiếu là điều hiển nhiên đến nỗi thật đáng kinh ngạc là rất ít điều đã được làm—cả trong thời đại chúng ta lẫn những thời trước—cho mục đích này.
Historic examples
Các thí dụ lịch sử
History has not always shown disregard for the super-gifted child. Twenty-four centuries ago Plato pleaded for identification of the specially gifted and for their training which would prepare them as 'guardians' of his famous 'Republic'. Ultimately he envisaged a world ruled by initiates, by highly integrated beings, who in their youth, had undergone the most careful preparation, education and rigorous tests to bring out their peculiar and particular gifts. He too realised the dangers implicit in democracy and the democratic processes.
Lịch sử không phải lúc nào cũng tỏ ra thờ ơ với trẻ siêu-năng khiếu. Hai mươi bốn thế kỷ trước, Plato đã kêu gọi nhận diện những người có năng khiếu đặc biệt và việc đào luyện họ để chuẩn bị họ làm “người canh giữ” cho “Cộng hòa” nổi tiếng của ông. Sau cùng, ông hình dung một thế giới do các điểm đạo đồ, bởi những hữu thể tích hợp cao, cai trị—những người lúc niên thiếu đã trải qua sự chuẩn bị thận trọng nhất, giáo dục và các thử thách nghiêm ngặt để đánh thức các năng khiếu đặc thù và riêng biệt của họ. Ông cũng nhận ra những nguy cơ hàm ẩn trong dân chủ và các tiến trình dân chủ.
In the days of earlier Greece when the Delphic religion had flourished, there had been some attempt at selecting and isolating certain children, gifted in a specialised way. Astrology was employed, amongst other techniques, to help in their selection. In the instance of Delphi, it was for the selection of children who had die inherent super-normal capacity for intuitive insight. Children born in Cancer, especially those with Cancer rising, and more especially girls, were set aside at the outset and brought up apart from other children. All their utterances from earliest childhood were noted, and they were never ridiculed or inhibited in this respect. It was from these children, super-gifted with intuition, that a selection was made to assist with the Delphic Oracle. Fumes from natural gases, mainly carbon dioxide, welled up from the earth near the temple, and these were used to help induce the necessary underlying physiological conditions for the intuitive outpourings of the young neophytes.
Trong thời kỳ Hy Lạp xưa, khi tôn giáo Đền Delphi thịnh đạt, đã có nỗ lực chọn lựa và tách riêng một số trẻ có năng khiếu theo một cách chuyên biệt. Chiêm tinh được dùng, bên cạnh các kỹ thuật khác, để giúp tuyển chọn. Trường hợp Delphi là để chọn lựa những đứa trẻ có năng lực siêu thường bẩm sinh về trực giác thấu triệt. Trẻ sinh vào Cự Giải, nhất là những ai có Cự Giải mọc, và đặc biệt là các bé gái, được tách riêng ngay từ đầu và nuôi dưỡng biệt lập với các trẻ khác. Mọi lời phát ra của chúng từ thuở ấu thơ đều được ghi nhận, và chúng không bao giờ bị chế giễu hay ức chế về mặt này. Chính từ những trẻ này—được phú trực giác siêu việt—một sự chọn lọc được thực hiện để phụ trợ cho sấm truyền Delphi. Hơi khí từ các khí tự nhiên—chủ yếu là carbon dioxide—trào lên từ lòng đất gần đền, và chúng được dùng để giúp tạo nên các điều kiện sinh lý nền tảng cần cho những tuôn trào trực giác của các neophyte trẻ.
In the sixteenth century, in the Middle East, one Mohammedan ruler at least, selected the 'fairest, strongest and most intelligent youths' to train as leaders and his efforts were well-rewarded.
Vào thế kỷ XVI ở Trung Đông, ít nhất có một vị quân vương Hồi giáo đã tuyển chọn “những thanh niên đẹp đẽ nhất, mạnh mẽ nhất và thông minh nhất” để đào luyện làm lãnh đạo và nỗ lực của ông đã được đền đáp xứng đáng.
Though perhaps not entirely relevant here, it might be worthwhile mentioning the age-old process of selecting warriors born in Aries with Scorpio rising for special and hazardous enterprises, the two Signs representing the supergifts of 'unbridled energy' and 'unrelenting courage' respectively. The subtler and more-meritorious qualities of the super-gifted may also be indicated in the natal chart, especially if the techniques of esoteric astrology are used as well as those of mundane astrology.
Dù có lẽ không hoàn toàn liên quan ở đây, cũng đáng nhắc đến quy trình cổ xưa tuyển chọn những chiến binh sinh vào Bạch Dương với Hổ Cáp mọc cho các sứ mệnh đặc biệt và hiểm nguy—hai Dấu hiệu này biểu trưng cho siêu năng khiếu “năng lượng không cương tỏa” và “dũng khí không lùi bước”. Những phẩm chất vi tế và đáng giá hơn của bậc siêu-năng khiếu cũng có thể được chỉ ra trong lá số khai sinh, nhất là nếu các kỹ thuật của chiêm tinh học nội môn cũng như của chiêm tinh học thế tục được dùng.
The Renaissance and the Reformation saw esteem placed upon superior intellect but although this continued down to the Industrial Revolution, very little was done about special consideration for the super-gifted because of the absurd belief in 'the equality of man' ... a belief that has no support in its foundations apart from ethics, in any kingdom of nature. No one today denies the famous principles of 'Equality, Fraternity and Liberty', except the ignorant. These must guide all right human relationship but at the same time it is ridiculous to aver that 'All men are born equal ... ' Men are not born equal ... they differ enormously in intellect and in that other esoteric factor which we call soul-development (which is our concern here). They differ enormously in physical prowess and in social status.
Thời Phục Hưng và Cải chánh đặt giá trị nơi trí tuệ siêu việt, nhưng dù điều này kéo dài cho đến Cách mạng Công nghiệp, rất ít điều được làm về sự ưu ái dành cho bậc siêu-năng khiếu vì niềm tin phi lý vào “sự bình đẳng của con người”... một niềm tin không có nền tảng nào ngoài đạo lý trong bất kỳ giới nào của thiên nhiên. Ngày nay không ai phủ nhận những nguyên tắc nổi tiếng “Bình đẳng, Huynh đệ và Tự do”, trừ kẻ ngu dốt. Những nguyên tắc ấy phải định hướng mọi mối quan hệ đúng đắn giữa người với người; nhưng đồng thời thật khôi hài khi khẳng định rằng “Mọi người sinh ra đều bình đẳng...” Con người không sinh ra bình đẳng... họ khác nhau vô cùng về trí tuệ và về yếu tố nội môn khác được chúng ta gọi là mức phát triển của linh hồn (điều là mối quan tâm của chúng ta ở đây). Họ khác nhau vô cùng về sức vóc thể chất và địa vị xã hội.
All super-gifted children have a high degree of soul development and contact but for these qualities they have, until lately more often been looked upon as pathological rather than the most precious flowers of our race. Very little has been written about them. Sometimes they and their problems have been described in books along with the treatment of handicapped children! In one book Special Education: The Handicapped and the Gifted, of 513 pages only 13 referred to the gifted.
Mọi trẻ siêu-năng khiếu đều có mức phát triển linh hồn và tiếp xúc cao, nhưng vì những phẩm chất này, cho đến gần đây, chúng thường bị nhìn như bệnh lý hơn là những bông hoa quý giá nhất của chủng tộc chúng ta. Rất ít điều đã được viết về các em. Đôi khi các em và các vấn đề của mình được mô tả trong sách cùng với việc điều trị trẻ khuyết tật! Trong một cuốn sách Giáo dục Đặc biệt: Người Khuyết tật và Người Năng khiếu, dài 513 trang, chỉ có 13 trang đề cập đến người năng khiếu.
At the outset we should distinguish between the gifted and the super-gifted. The former represent about ten per cent. of the population. In general, their qualities, their problems and their recognition are understood and catered for. Some research work has been done into their peculiar characteristics. In education there exists for them, scholarships, some special schools and special instruction. In a country like England, such children are given every opportunity to reach and surmount university level.
Ngay từ đầu, chúng ta nên phân biệt giữa năng khiếu và siêu-năng khiếu. Loại thứ nhất chiếm khoảng mười phần trăm dân số. Nói chung, phẩm chất, vấn đề và sự ghi nhận của họ được hiểu và được đáp ứng. Đã có một số nghiên cứu về những đặc trưng riêng của họ. Trong giáo dục, có học bổng, một số trường đặc biệt và giảng dạy đặc biệt cho họ. Ở một quốc gia như Anh quốc, những trẻ như vậy được tạo mọi cơ hội để vươn tới và vượt qua bậc đại học.
Creativity—Sáng Tạo
But there is a second, much smaller group, and these are the super-gifted, who can include the gifted but not necessarily so. This may appear to be a contradiction in terms. The gifted however, are selected mainly in their I.Q. rating, whereas the super-gifted need not necessarily have outstanding rating in I.Q. This apparent anomaly arises through the fact that I.Q. tests do not take into account creativity in their assessment, whereas creativity is the quality par excellence in the super-gifted.
Nhưng có một nhóm thứ hai nhỏ hơn nhiều—đó là những người siêu -năng khiếu—có thể bao gồm cả người năng khiếu nhưng không nhất thiết như vậy. Điều này có vẻ mâu thuẫn thuật ngữ. Tuy nhiên, người năng khiếu thường được chọn dựa chủ yếu trên chỉ số I.Q., trong khi người siêu -năng khiếu không nhất thiết có chỉ số I.Q. nổi bật. Sự bất thường bề ngoài này phát sinh do các bài trắc nghiệm I.Q. không tính đến sáng tạo trong đánh giá của chúng, trong khi sáng tạo lại là phẩm chất tối thượng nơi người siêu -năng khiếu.
It is the opinion of Dr Paul Torrance, one of America's foremost authorities on creativity and intelligence, that:
Đó là quan điểm của Bác sĩ Paul Torrance, một trong những nhà thẩm quyền hàng đầu của Hoa Kỳ về sáng tạo và trí tuệ:
‘I.Q. tests do not measure creativity ... By depending on them we miss a high proportion of our most creative youngsters ... It is true that outstanding creativity is seldom found among children of below-average IQ. But our research shows above 115 or 120, IQ. scores have little or no bearing in creativity. Creative giftedness may be found anywhere along the scale except, possibly at the bottom. The child with the so-called genius of I.Q. of 180 is in reality no more likely to make outstanding creative achievements than the child with a slightly above average l.Q. around 120.’
“Các bài trắc nghiệm I.Q. không đo lường sự sáng tạo... Nếu phụ thuộc vào chúng, chúng ta bỏ lỡ một tỉ lệ cao những em nhỏ sáng tạo nhất... Đúng là sáng tạo xuất chúng hiếm khi thấy ở những em có I.Q. dưới trung bình. Nhưng nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trên mức 115 hay 120, điểm số I.Q. hầu như không liên quan gì đến sáng tạo. Năng khiếu sáng tạo có thể được tìm thấy ở bất cứ đâu trên thang đo, trừ có lẽ là ở đáy. Đứa trẻ với cái gọi là thiên tài I.Q. 180 thực ra không có khả năng tạo nên thành tựu sáng tạo xuất sắc hơn đứa trẻ có I.Q. hơi trên trung bình, khoảng 120.”
The super-gifted represent one tenth of one per cent of the population or about one in a thousand. They are far more difficult to recognise than the merely gifted, who, in general, can be assessed by I.Q. and other simple tests. The I.Q. of the gifted is above 135. The I.Q. of the super-gifted is not a pointer to their capacities except in rare instances when the mental body is highly developed and synchronised with the soul. I.Q. does not measure emotional development. It doesn't measure drive and initiative. It doesn't measure temperament or talent. It doesn't point to leadership. In fact the best leaders often score more than 135.
Những người siêu -năng khiếu chiếm khoảng một phần mười của một phần trăm dân số, tức khoảng một trên một ngàn. Họ khó nhận ra hơn nhiều so với người chỉ năng khiếu, những người nói chung có thể được đánh giá bằng I.Q. và các trắc nghiệm đơn giản khác. I.Q. của người năng khiếu là trên 135. I.Q. của người siêu -năng khiếu không chỉ điểm năng lực của họ, trừ những trường hợp hiếm hoi khi thể trí phát triển cao và được đồng bộ với linh hồn. I.Q. không đo được sự phát triển cảm xúc. Nó không đo được động lực và sáng kiến. Nó không đo được khí chất hay tài năng. Nó không chỉ ra khả năng lãnh đạo. Thực tế, những nhà lãnh đạo giỏi nhất thường có điểm trên 135.
In education we have not yet learnt to measure the degree of a child's capacity for emotional discipline (as being distinct from emotional capacity). We have not yet learnt to measure the degree of a child's love nature. Both of these are often powerful in the super-gifted. At this stage it becomes necessary to attempt a definition of super-gifted.
Trong giáo dục, chúng ta vẫn chưa học cách đo mức độ năng lực kỷ luật cảm xúc của một đứa trẻ (phân biệt với năng lực cảm xúc). Chúng ta vẫn chưa học cách đo lường mức độ bản chất yêu thương của một đứa trẻ. Cả hai điều này thường mạnh mẽ nơi người siêu -năng khiếu. Ở đây đến lúc cần thử đưa ra một định nghĩa về siêu-năng khiếu.
The super-gifted are those rare individuals who manifest powerfully, one or more specific qualities which have not arisen solely through the interplay of the individual's environment and hereditary equipment but from a third, little-understood factor which is spiritual in essence and inward in nature.
Người siêu -năng khiếu là những cá nhân hiếm hoi biểu lộ mạnh mẽ một hay nhiều phẩm chất đặc thù mà không chỉ nảy sinh do tương tác giữa môi trường sống và thiết bị di truyền của cá nhân, mà còn từ một yếu tố thứ ba ít được hiểu, vốn có bản chất tinh thần và hướng nội.
The Third Factor
Yếu Tố Thứ Ba
We are all well aware that current psychological attitudes assess two main factors in the building of the human personality. These are the Hereditary Equipment (H) and Environment (E) into which the child is thrust at birth. Thus, as the child grows his PERSONALITY = H x E
Chúng ta đều biết rõ rằng các quan điểm tâm lý học hiện hành đánh giá hai yếu tố chính trong việc kiến tạo phàm ngã con người. Đó là Thiết bị Di truyền (H) và Môi trường (E) mà đứa trẻ được ném vào lúc sinh ra. Như thế, khi đứa trẻ lớn lên, PHÀM NGÃ = H x E
But Freud and Jung and more recently Assageoli, Frankl and Maslow, have stressed a third Factors. Some call it spiritual development (S); others call it soul rapport ... or spiritual influence. The esoteric sciences regard this third factor as paramount in reaching even the vaguest understanding of man's true nature and what makes him 'tick'. No personality can be stable without all three factors present. They form a triangle of energy which makes up the true personality: PERSONALITY = H x E x S
Nhưng Freud và Jung, và gần đây hơn là Assageoli, Frankl và Maslow, đã nhấn mạnh một Yếu tố thứ ba. Có người gọi nó là phát triển tinh thần (S); có người gọi là giao cảm linh hồn... hay ảnh hưởng tinh thần. Các khoa học huyền môn coi yếu tố thứ ba này là tối hệ trọng để đạt tới ngay cả sự hiểu lờ mờ về bản tánh chân thật của con người và điều khiến y “vận hành”. Không một phàm ngã nào có thể ổn định nếu thiếu cả ba yếu tố cùng hiện diện. Chúng tạo thành một tam giác năng lượng cấu thành phàm ngã đích thực: PHÀM NGÃ = H x E x S
It is because of the existence of this third influencing factor, highly accentuated in some one or more aspect in the super-gifted, that we stress in the in-equality of man on the scale of evolution without in any way denying the brotherhood of man or renéguing on our duties towards those less evolved. But this acts both ways and we have an equally important duty to succour the super-gifted who have high accentuation of soul influence as compared to his less evolved brothers. In average man S is only one-twentieth manifest. In the super-gifted, S, may be 50 per cent. manifest. In the classical concept of the perfected adept or master nearing the end of the evolutionary path, the third factor, S, is fully manifest in the personality.
Chính vì sự hiện hữu của yếu tố ảnh hưởng thứ ba này—được nhấn mạnh rất cao ở một hay nhiều phương diện nơi người siêu -năng khiếu—mà chúng ta nhấn mạnh sự bất bình đẳng của con người trên thang tiến hóa, mà không hề phủ nhận tình huynh đệ của nhân loại hay chối bỏ bổn phận của mình đối với những người kém tiến hóa hơn. Nhưng điều này tác động hai chiều và chúng ta có một bổn phận cũng quan trọng không kém là nâng đỡ người siêu -năng khiếu—người có mức nhấn mạnh ảnh hưởng linh hồn cao—so với những huynh đệ kém tiến hóa hơn. Nơi người trung bình, S chỉ biểu lộ một phần hai mươi. Nơi người siêu -năng khiếu, S có thể biểu lộ đến 50 phần trăm. Theo quan niệm cổ điển về vị chân sư hoàn thiện gần cuối Con Đường Tiến Hóa, yếu tố thứ ba, S, biểu lộ hoàn toàn trong phàm ngã.
It is not our task here to consider the detailed nature of the inner energies of the third factor but we are concerned with ways to seek out the super-gifted and how to help them. It is sufficient to say that the soul is the repository of all previous experience gained from many lives. It is in the overshadowing soul that we find the explanation for the fantastic gifts of the super-gifted.
Không phải nhiệm vụ của chúng ta ở đây là xét đến bản chất chi tiết của các năng lượng nội tại thuộc yếu tố thứ ba, mà là quan tâm đến phương cách tìm ra người siêu -năng khiếu và cách trợ giúp họ. Chỉ cần nói rằng linh hồn là kho tàng của mọi kinh nghiệm trước kia thu hoạch từ nhiều kiếp. Chính trong linh hồn phủ bóng mà chúng ta tìm thấy lời giải thích cho những năng khiếu kỳ diệu của người siêu -năng khiếu.
The Two Specific Types of Super-gifted Children
Hai Loại Cụ Thể của Trẻ Siêu-năng khiếu
Robertoo Assageoli in The Education of the Gifted and Super-gifted Children has enumerated two types of super-gifted:
Robertoo Assageoli trong Giáo dục Trẻ Năng khiếu và Siêu-năng khiếu đã liệt kê hai loại siêu -năng khiếu:
1. Those who are gifted in a general or multiple way, that is, who demonstrate a marked superiority over the average in all or in several fields. They are usually healthy, strong and sure of themselves ... The choice of which of their various talents should receive special training, so that they may avoid indecision, delays and wasteful scattering of energies is one direction in which they do need help and guidance.
1. Những người năng khiếu theo lối tổng quát hay đa diện, nghĩa là biểu lộ sự vượt trội rõ rệt so với trung bình trong tất cả hay trong vài lĩnh vực. Họ thường khỏe mạnh, cường tráng và tự tin... Việc lựa chọn tài năng nào trong số các tài năng của họ nên được huấn luyện đặc biệt—hầu tránh do dự, chậm trễ và tản mạn hoang phí năng lượng—là một phương diện mà họ cần sự trợ giúp và hướng dẫn.
2. The second group is different and presents difficult education problems. It comprises those possessing a specific gift so exceptional as to border upon or enter the field of genius, but having side by side with its serious deficiencies or lack of balance in other aspects of their personalities.
2. Nhóm thứ hai thì khác và nêu ra các vấn đề giáo dục khó. Nó gồm những người sở hữu một năng khiếu đặc thù đến mức đặc biệt—giáp ranh hay bước vào lĩnh vực thiên tài—nhưng bên cạnh đó lại có những thiếu hụt nghiêm trọng hay mất quân bình ở các phương diện khác của phàm ngã.
In this group we find young people who have artistic, literary, musical and in some cases mathematical abilities, but are hyper-sensitive, over-emotional and over-imaginative. They are often physically weak or clumsy, impractical and absent-minded. They are thus generally neither understood nor appreciated by parents and teachers, and are apt to be the target of the ridicule or antagonism of their fellow students.
Trong nhóm này, chúng ta thấy những người trẻ có năng lực nghệ thuật, văn chương, âm nhạc và trong vài trường hợp là toán học, nhưng lại siêu mẫn, thiên cảm, và quá giàu tưởng tượng. Họ thường yếu ớt hoặc vụng về về thể chất, thiếu thực tế và hay đãng trí. Vì vậy, họ thường không được cha mẹ và thầy cô thấu hiểu hay đánh giá đúng, và dễ trở thành mục tiêu bị chế giễu hay đối kháng của bạn học.
Such lack of understanding and appreciation, and the consequent ineptitude in dealing with these young people, are the cause of much suffering, despondency and despair; or of revolt in many cases, and in others even of deviations or perversions. Among the many well-known instances of this kind we may mention Baudelaire, Verlaine, Strindberg and Kafka.
Sự thiếu hiểu biết và đánh giá đúng như vậy, và do đó là sự vụng về trong việc đối xử với những người trẻ này, là nguyên nhân của rất nhiều khổ đau, chán nản và tuyệt vọng; hay nổi loạn trong nhiều trường hợp, và ở trường hợp khác còn dẫn tới lệch lạc hay băng hoại. Giữa nhiều trường hợp nổi tiếng kiểu này, chúng ta có thể kể Baudelaire, Verlaine, Strindberg và Kafka.
When we think of the super-gifted, our minds automatically leap to the most perfect example we know of, the child genius Wolfgang Amadeus Mozart. A notice in a German newspaper of 1763 describes the most universal genius of music the world has ever known as follows:
Khi nghĩ về người siêu-năng khiếu, tâm trí chúng ta tự động nhảy đến ví dụ hoàn hảo nhất mà ta biết: thần đồng Wolfgang Amadeus Mozart. Một mẩu tin trong tờ báo Đức năm 1763 mô tả thiên tài âm nhạc phổ quát nhất mà thế giới từng biết như sau:
‘Positively the last concert! ... The boy, not yet seven, will perform on the harpsichord, playa concerto for violin, and accompany symphonies on the clavier, the keyboard being covered with a cloth, as easily as if he could see the keys. He will name all the notes sounded at a distance, singly or in chords, and improvise on harpsichord and organ as long as desired, Tickets 1/2 Taler.’
“Chắc chắn là buổi hòa nhạc cuối cùng!... Cậu bé, chưa tròn bảy tuổi, sẽ trình tấu clavecin, chơi một concerto cho vĩ cầm, và đệm cho các giao hưởng trên bàn phím, với các phím được phủ bằng một tấm vải, dễ dàng như thể cậu thấy được các phím. Cậu sẽ gọi tên mọi nốt vang lên từ xa, riêng lẻ hay theo hợp âm, và ứng tấu trên clavecin và đàn organ bao lâu tùy ý. Vé: nửa Taler.”
Mozart was born with absolute pitch, infallible rhythm, and natural comprehension of harmony. At the age of four, the child began to learn to play the clavier (a forerunner of the modern piano), and at five picked up a violin, and, reading at sight, staggered through six trios with his father and a friend. As a child he read and wrote music before he could do the same as well with his ABC. At fifteen he was the composer of 14 symphonies and six short operas.
Mozart sinh ra đã có thính giác tuyệt đối, tiết tấu vô ngộ và khả năng thấu hiểu tự nhiên về hòa âm. Bốn tuổi, cậu bé bắt đầu học chơi clavecin (tiền thân của đàn piano hiện đại), và năm tuổi nhặt lấy một cây vĩ cầm và—đọc tại chỗ—chơi liền sáu bản trio cùng cha và một người bạn, dù xiêu vẹo. Khi còn nhỏ, cậu đọc và viết nhạc trước khi có thể làm tốt tương tự với bảng chữ cái. Mười lăm tuổi, cậu đã là tác giả của 14 giao hưởng và sáu opera ngắn.
Chapter 7-Chương 7
Super Gifted Children: Some Esoteric Factors-Trẻ Em Siêu-năng Khiếu: Một Số Yếu Tố Nội Môn
Preccious Development—Phát Triển SớmPrecocious development in one or several traits, is an early sign of the super-gifts. There is on record a boy who wrote an ABC of electricity at eight. The I.Q. in this instance was over 200. A girl of two was heard to compose alternative tunes to her nursery rhymes. Dickens wrote tragedy at seven. At six, Goethe, the famous student of the esoteric and exoteric sciences, commenting on the death of so many in the Lisbon earthquake, was heard to say ... 'It was not so bad after all ... God knows the immortal soul can suffer no harm through fate.' It was the same Goethe who, at fourteen, had sat enthralled at the glittering notes of the six-year-old Mozart. Another super-gifted child known to me personally, and whom I shall hereafter refer to as M.B., used to sit, at the age of four and a half and copy a map of the world. Within a few months he could reproduce any part of it from memory.
Phát triển sớm ở một hay vài đặc trưng là dấu hiệu ban đầu của siêu năng khiếu. Có ghi chép về một cậu bé viết một cuốn vỡ lòng về điện học lúc tám tuổi. I.Q. trong trường hợp này trên 200. Một bé gái hai tuổi được nghe tự đặt giai điệu thay thế cho các bài đồng dao. Dickens viết bi kịch năm bảy tuổi. Sáu tuổi, Goethe—nhà nghiên cứu trứ danh về các khoa học nội môn và ngoại môn—khi bình luận về cái chết của nhiều người trong trận động đất Lisbon, đã được nghe nói... “Cũng không tệ lắm... Thượng đế biết linh hồn bất tử chẳng thể chịu tổn hại bởi định mệnh.” Cũng chính Goethe ấy, mười bốn tuổi, đã ngồi say mê trước những nốt đàn lấp lánh của thần đồng sáu tuổi Mozart. Một trẻ siêu-năng khiếu khác mà tôi quen biết, và từ đây tôi sẽ gọi là M.B., lúc bốn tuổi rưỡi thường ngồi chép lại bản đồ thế giới. Chỉ trong vài tháng, em có thể tái hiện bất kỳ phần nào của nó từ trí nhớ.
The precocity of the super-gifted is often centred around matters of origin and destiny ... Where do we come from ... Why are we here ... Where do we go to after death? The problems of good and evil often concern them. They are very easily affected by moral problems ... a little boy of six in America wept after reading how the North taxed the South after the civil war.
Sự phát triển sớm của trẻ siêu-năng khiếu thường tập trung quanh các câu hỏi về nguồn gốc và định mệnh... Chúng ta đến từ đâu... Vì sao chúng ta ở đây... Sau chết ta đi về đâu? Vấn đề thiện và ác thường làm các em bận tâm. Các em rất dễ bị lay động bởi những vấn đề đạo lý... một cậu bé sáu tuổi ở Mỹ đã khóc sau khi đọc chuyện miền Bắc đánh thuế miền Nam sau nội chiến.
They hate the mundane and will do anything to avoid it, sidetracking with questions whenever they can. They also see gaps in information and take note of exceptions to rules or contractions. A father tells of reciting nursery rhymes to his inquisitive four-year-old ... 'You try something simple and straightforward like Tom, Tom, the Piper's Son. Right away he starts interrupting' "Was Tom about my age? If Tom was my age, how did he carry a pig?"'. The teacher of the super-gifted must realise that the child suffers untold agonies if his questions go unanswered or if he is discouraged from questioning. Another aspect of their precocity is their inability to hold their tongues. It is hard for them to sit quietly when their ideals are at stake. What is more, they. resent any suggestion that they are insincere in their ideals, no matter how high they fly.
Họ ghét những điều trần tục và sẽ làm mọi cách để né tránh, lách sang những câu hỏi bất cứ khi nào có thể. Họ cũng nhìn thấy các khoảng trống trong thông tin và ghi nhận những ngoại lệ đối với các quy luật hoặc những chỗ rút gọn. Một người cha kể chuyện đọc đồng dao cho đứa con bốn tuổi hay tò mò của mình... “Chúng ta hãy thử một cái gì đó đơn giản, thẳng băng như Tom, Tom, the Piper's Son. Lập tức nó ngắt lời: ‘Tom có bằng tuổi con không? Nếu Tom bằng tuổi con, làm sao Tom khiêng nổi một con heo?’”. Người dạy trẻ siêu thiên phú phải nhận ra rằng đứa trẻ sẽ chịu đựng những nỗi giày vò khôn tả nếu câu hỏi của nó không được trả lời, hoặc nếu nó bị làm nản lòng khỏi việc đặt câu hỏi. Một khía cạnh khác của sự phát triển sớm là không tài nào “ngậm miệng” được. Khó lòng bắt chúng ngồi yên khi lý tưởng của chúng bị đe doạ. Hơn nữa, chúng khó chịu với bất kỳ gợi ý nào rằng chúng thiếu thành thực với lý tưởng của mình, dù những lý tưởng ấy có bay cao đến đâu.
Not all precocity in the super-gifted is so well-marked. The closest observation and uses of one's own intuitive and soul derived qualities must be called upon to recognise the same in the super-gifted child.
Không phải mọi biểu hiện phát triển sớm nơi trẻ siêu thiên phú đều rõ rệt như thế. Cần đến sự quan sát kỹ lưỡng nhất và sự vận dụng những phẩm tính trực giác và bắt nguồn từ linh hồn nơi chính mình để nhận ra điều đó ở đứa trẻ siêu thiên phú.
One Notable Characteristic—Một Đặc Tính Đáng Chú Ý
One very notable characteristic of theirs is the ability to play with a single toy for hours on end, deriving endless enjoyment from the weaving of their own imaginations about the toy, providing it with background and altering situations. The opposite of this holds good for the backward child or for the young soul in a body too advanced for its spiritual development. It may then become the object of possession.
Một đặc tính rất đáng chú ý của các em là khả năng chơi với một món đồ chơi duy nhất suốt hàng giờ liền, rút ra niềm vui bất tận bằng cách dệt nên sự tưởng tượng riêng quanh món đồ chơi ấy, cung cấp bối cảnh và thay đổi các tình huống. Điều ngược lại đúng với đứa trẻ chậm phát triển, hoặc với một linh hồn non trẻ trong một thân xác quá vượt trước mức phát triển tinh thần của nó. Khi ấy món đồ có thể trở thành đối tượng của sự ám nhập.
When playing with other children, they tend to act as running commentators supplying background and situations for the game as they do with their toys. H.P. Blavatsky often had her playmates in tears and hysterics through her vivid playtime creations and flights of imagination. M.B., sent to boarding school at an early age, would regale boys twice his age with long fairy stories after lights out, often earning thereby their protection and sympathy.
Khi chơi với những trẻ khác, các em có xu hướng đóng vai người bình luận “chạy kèm”, cung cấp bối cảnh và tình huống cho trò chơi như chúng vẫn làm với đồ chơi của mình. Bà H.P. Blavatsky thường làm cho bạn chơi rơi nước mắt và la hét bởi những sáng tạo rực rỡ trong giờ chơi và những cất cánh của tưởng tượng. M.B., được gửi đến trường nội trú từ sớm, thường kể những truyện cổ tích dài lê thê sau giờ tắt đèn cho các cậu bé lớn gấp đôi tuổi mình nghe, nhờ đó thường giành được sự bảo vệ và cảm thông của họ.
In supplying background to an otherwise dull playtime they tend to organise the play into some complex pattern, often with a high climax in view. This may well be the result of a soul-rapport presenting memories of previous lives built around the climaxes which accompany initiation, remembering that all super-gifted children are most certainly on the Path of initiation, repeating steps taken in earlier lives, in the present life.
Khi cung cấp bối cảnh cho một giờ chơi vốn tẻ nhạt, các em có xu hướng tổ chức cuộc chơi thành một mô hình phức tạp, thường nhắm tới một cao trào lớn. Điều này rất có thể là kết quả của một sự giao cảm với linh hồn, trình hiện ký ức về các đời sống trước được xây quanh những cao trào đi kèm với các cuộc điểm đạo, nhớ rằng tất cả trẻ siêu thiên phú hẳn đang ở trên Con Đường Điểm Đạo, lặp lại những bước đã đi trong các đời trước, ngay trong đời này.
It is easy to see how they are often misunderstood and dislike for their 'fads and fancies'. They especially love competitive games and very complicated ones at that. These give them opportunity to express their unusual gifts. It is no wonder that they make excellent actors quite often, for acting and children occupy the same house in astrology, i.e., the fifth.
Dễ thấy làm sao chúng thường bị hiểu lầm và bị ghét bởi những “thị hiếu kỳ cục” của mình. Chúng đặc biệt ưa các trò chơi thi đua, và càng phức tạp càng thích. Những trò đó cho các em cơ hội biểu lộ các thiên phú dị thường. Chẳng lạ gì chúng thường trở thành diễn viên xuất sắc, vì diễn xuất và trẻ em ở cùng một nhà trong chiêm tinh học, tức là nhà thứ năm.
There are of course always the exceptions to precocity. Under the first of Assageoli's groupings, Winston Churchill is a good example. As a boy he showed very few qualities that are ordinarily valued at school. In fact he appeared to have been a little backward by ordinary ratings.
Dĩ nhiên, luôn có những ngoại lệ đối với sự phát triển sớm. Theo phân nhóm đầu của Assageoli, Winston Churchill là một ví dụ hay. Thời nhỏ, Ông ít thể hiện những phẩm chất thường được trọng ở trường. Thực tế, theo các chuẩn thường tình, Ông có vẻ hơi chậm.
Albert Einstein falls into the second group of the super-gifted and yet he did not speak properly until he was nine. In general though, the ability to read and write comes early, most super-gifted children being able to read before four years of age.
Albert Einstein rơi vào nhóm thứ hai của những người siêu thiên phú, vậy mà Ông không nói năng cho đúng cho đến năm chín tuổi. Tuy nhiên nói chung, khả năng đọc và viết đến sớm; phần lớn trẻ siêu thiên phú có thể đọc trước bốn tuổi.
Responsibility—Trách Nhiệm
Perhaps the most outstanding quality by which we may recognise most super-gifted children is in their preparedness to shoulder responsibility. This is, in fact the criterion of recognition of spiritual development in the adult as well. No other quality points so assuredly to the age of the soul than this one both in child and adult. M.B. often received a sound thrashing for his efforts to arouse and organise opposition against bullies at his school. It is not because they want necessarily to lead, but rather that they cannot sit still in the face of inefficiency, injustice or ignorance, depending on which arouses them.
Có lẽ phẩm chất nổi bật nhất qua đó chúng ta có thể nhận ra phần lớn trẻ siêu thiên phú là sự sẵn sàng gánh vác trách nhiệm. Thực ra, đây cũng là tiêu chí nhận biết mức phát triển tinh thần nơi người trưởng thành. Không có phẩm chất nào chỉ ra chắc chắn tuổi của linh hồn hơn điều này, cả nơi trẻ lẫn người lớn. M.B. thường bị đòn nên thân vì nỗ lực khơi dậy và tổ chức sự phản kháng chống lại những kẻ bắt nạt ở trường. Không phải vì các em nhất thiết muốn lãnh đạo, mà bởi lẽ chúng không thể ngồi yên trước sự kém hiệu quả, bất công hoặc vô minh, tuỳ theo điều gì khơi dậy chúng.
This responsibility which the super-gifted assumes becomes, in adulthood, an overwhelming desire to serve mankind, though this may be the last thought in his mind at the conscious level. It is very often taken to the point of martyrdom. They, the super-gifted, often cannot see the logic, or the emotional advantages in the responsible stand they make for some cause which is often a lost one or very obscure or 'pre-evolutional' ... in fact precocious. And yet, they make their stand against the most overwhelming odds, deriving their strength and persistence from their third factor, the soul, and they denude their 'space within' to fertilize the space without. With the help of this inner compulsive element they are able to work alone and for long periods despite their ofttimes frail physiques.
Trách nhiệm mà trẻ siêu thiên phú đảm đương đó, đến tuổi trưởng thành, trở thành một ước muốn mãnh liệt phụng sự nhân loại, dù ở tầng ý thức đây có thể là ý nghĩ sau cùng trong đầu. Nó thường được đưa đến mức gần như tử đạo. Những người siêu thiên phú thường không thấy lô-gic hay lợi ích cảm xúc nào trong lập trường có trách nhiệm mà họ đứng ra vì một lý tưởng thường là thua cuộc, rất mơ hồ hoặc “tiền-tiến hoá”... thực ra là phát triển sớm. Vậy mà họ vẫn trụ lại trước những tương quan lực lượng áp đảo nhất, rút sức mạnh và kiên trì từ yếu tố thứ ba, tức linh hồn, và họ “lột trần” không gian bên trong để bồi dưỡng cho không gian bên ngoài. Với sự hỗ trợ của động lực cưỡng bách nội tâm này, họ có thể làm việc một mình trong những khoảng thời gian dài, mặc cho thân xác thường mong manh.
Curiosity is often overwhelming in the super-gifted. They are forever searching for new meanings in the apparently mundane, or the not obvious obsesses them to the distraction of their parents, who invariably want them to be normal happy, well-adjusted kids. But as the same Dr Torrance points out, happiness and good mental health consist primarily of using one's capacities to the full. The super-gifted are no exception though their single or multiple capacities may be enormous. And so, as babies, they are forever investigating, shaking, twisting and turning inside out, various objects coming into their possession. This inevitably produces many great poets for poetry (and pigment) is the use of a word (symbol or painted sign) to express (or suppress) many words. This endows them with the gift of improvisation such as described in the young Mozart. One young super-gifted described eternity as 'a clocz without hands'.
Sự tò mò thường lấn lướt nơi người siêu thiên phú. Họ mãi mãi lục tìm ý nghĩa mới trong điều tưởng như tầm thường, hoặc những điều không hiển nhiên ám ảnh họ đến độ khiến cha mẹ phải rối bời, những người vốn chỉ mong con cái mình bình thường, hạnh phúc, thích nghi tốt. Nhưng như Tiến sĩ Torrance chỉ rõ, hạnh phúc và sức khỏe tinh thần tốt chủ yếu là ở chỗ dùng trọn vẹn các năng lực của mình. Người siêu thiên phú không là ngoại lệ, dù năng lực đơn lẻ hoặc đa dạng của họ có thể to lớn. Thế nên, ngay khi còn là trẻ sơ sinh, họ luôn khám phá, lắc, vặn xoay, lộn trái các đồ vật vào tay mình. Điều này tất yếu sản sinh nhiều nhà thơ lớn, vì thi ca (và sắc tố hội hoạ) là dùng một từ (biểu tượng hoặc dấu hiệu được vẽ) để diễn đạt (hoặc nén lại) nhiều lời. Điều đó ban cho họ năng khiếu ứng tác như đã mô tả ở Mozart thuở nhỏ. Một em siêu thiên phú đã mô tả vĩnh cửu như “một chiếc đồng hồ không có kim”.
Malleability and flexibility are the indispensable equipment of the super-gifted, though they recognise it not and these have been won from previous lives on the path of initiation. Presented with a problem which challenges their individual gift, they will alter themselves in mind, emotion and (if needs be) sometimes in body to overcome obstacles. Without this capacity to be constantly receptive to change they would never be able. to react to the ins tress of the third factor. It. may show outwardly as super-sensitivity, often as mediumship, and the havoc that the inward changing can wreak on the physical sheath may be extensive, especially if it is unprepared by what is known as meditation and the other esoteric disciplines which purify the body.
Tính mềm dẻo và linh hoạt là khí cụ bất khả thiếu của người siêu thiên phú, dù chính họ không tự nhận ra, và những phẩm tính ấy đã được gặt trong các đời trước trên con đường điểm đạo. Khi gặp một vấn đề thách thức thiên phú cá nhân của mình, họ sẽ tự thay đổi ở mức trí, mức cảm xúc và (nếu cần) đôi khi cả thân xác để vượt chướng ngại. Không có khả năng liên tục mở lòng đón nhận thay đổi, họ chẳng bao giờ có thể ứng đáp được với sức ép của yếu tố thứ ba. Ra ngoài, điều này có thể hiện như siêu mẫn cảm, thường như đồng tử/trung gian, và những tàn phá mà sự đổi thay bên trong có thể gây lên thể xác có thể rất lớn, nhất là khi thân thể chưa được chuẩn bị bởi cái gọi là tham thiền và các kỷ luật huyền môn khác vốn thanh luyện thân xác.
There are few indications that the super-gifted are necessarily suicide-prone or that they lean towards insanity or that they even marry less often. These deviations may arise as the result of an unsuitable environment that frustrates their attempts at self-expression.
Ít có chỉ dấu cho thấy người siêu thiên phú tất yếu có xu hướng tự tử, hay nghiêng về điên loạn, hoặc thậm chí kết hôn ít hơn. Những lệch lạc ấy có thể nảy sinh do môi trường bất tương hợp làm nản lòng các nỗ lực tự biểu đạt của họ.
In contrast to their strangely complex gifts, they are often relaxed by the simplest pleasures. M.B., as a child of five, followed the growth of his tomato plants and beans with such delight that he was often up long before dawn to watch their astonishing progress. It was fortunate that his understanding mother passed over lightly his successful sowing of her flowers beds in the front garden with several dozen pumpkin seeds!
Trái với những thiên phú kỳ dị phức tạp, họ thường thư thái nhờ những thú vui đơn giản nhất. M.B., khi lên năm, theo dõi sự lớn lên của cây cà chua và đậu của mình với niềm hân hoan đến mức thường dậy từ lâu trước bình minh để ngắm sự tiến triển đáng kinh ngạc của chúng. May thay, người mẹ thấu hiểu của cậu đã cho qua nhẹ nhàng việc cậu gieo thành công vài chục hạt bí ngô trên các luống hoa trước vườn nhà bà!
It is not surprising that in outlook they are frequently Left politically or for at least some short period in their lives. They are often crusading from the earliest age. M.B., at the age of eight, was surreptitiously diverting food from his mother's pantry to feed class mates less fortunate than himself and at one stage maintained a vagrant coloured waif in food and clothes in his home-made tree-house!
Không lạ gì trong quan điểm, họ thường thiên tả về chính trị, ít nhất trong một giai đoạn ngắn nào đó của đời. Họ thường bắt đầu “thập tự chinh” từ tuổi sớm nhất. M.B., lúc tám tuổi, đã len lén chuyển thức ăn từ phòng đựng đồ của mẹ để nuôi các bạn cùng lớp kém may mắn hơn mình, và có thời gian còn chu cấp đồ ăn, quần áo cho một đứa bé da màu lang thang trong căn nhà cây do chính cậu dựng!