← The Powers Latent In Man

The New Age—Kỷ Nguyên Mới

The New Age—Kỷ Nguyên Mới

Since the year 1920, there has been a steady increase in the numbers of highly developed souls taking physical bodies. These super-gifted children are to help with the special work of reorganising, rebuilding and re-shaping the New Age. A very special effort, led by five adepts, will be made in the last quarter of this century to restore the Mysteries, or at least part of them. This is the basic aim behind the concept of the Coming Christ, and the externalisation of the Hierarchy of the Planet. In this respect, the super-gifted are the precious stones in the crown of the Coming Avatar.

Từ năm 1920, số lượng các linh hồn phát triển cao nhập thể ngày càng tăng đều. Những đứa trẻ siêu thiên phú này đến để giúp công việc đặc biệt là tổ chức lại, xây dựng lại và tái định hình Kỷ Nguyên Mới. Một nỗ lực rất đặc biệt, do năm vị chân sư dẫn dắt, sẽ được thực hiện vào phần tư sau của thế kỷ này để phục hồi các Huyền Môn, hoặc ít nhất là một phần của chúng. Đây là mục tiêu căn bản đằng sau ý niệm về Đức Christ Đang Đến, và sự ngoại hiện của Thánh Đoàn của Hành tinh. Trong ý nghĩa này, những người siêu thiên phú là các viên ngọc quý trong vương miện của Đấng Hoá Thân Đang Đến.

The responsibilities implicit in this statement are wide and profound. It is the duty of every person who is aware of these underlying factors to locate these incarnating arhats and initiates and to see that they are given the opportunities which will enable them ultimately to perform the special work they have to do and for which their gifts have been prepared through many lives. No stone should be left unturned to discover them, and, when discovered, to sustain them with the best education, and environment which will allow them the utmost self-expression.

Những trách nhiệm hàm ẩn trong phát biểu này vừa rộng vừa thâm sâu. Bổn phận của mọi người hiểu rõ các yếu tố nền tảng này là tìm ra những vị A-la-hán và các điểm đạo đồ đang lâm phàm, và bảo đảm rằng họ được trao những cơ hội cho phép họ rốt cuộc thi hành công việc đặc biệt mà họ phải làm và vì đó thiên phú của họ đã được chuẩn bị xuyên qua nhiều đời. Không nên bỏ sót một phương sách nào để phát hiện họ, và khi đã phát hiện, hãy hỗ trợ họ bằng nền giáo dục tốt nhất, và môi trường cho phép họ biểu đạt bản thân ở mức cao nhất.

What is more, these children must be located early in life. In the last six years the University of Minnesota has conducted a research on more than 15,000 boys and girls from the ages of four to eleven. Their findings show that most children start life with a valuable creative spark and that most of them have it knocked out of them by the time they are nine. They also find that this is not because parents and teachers deliberately crush creativity but that they fail to recognise it. In the super-gifted this is highly accentuated.

Hơn nữa, những đứa trẻ này phải được phát hiện từ sớm trong đời. Sáu năm qua, Đại học Minnesota đã tiến hành một nghiên cứu trên hơn 15.000 bé trai và bé gái từ bốn đến mười một tuổi. Kết quả cho thấy phần lớn trẻ khởi đời với một tia lửa sáng tạo quý giá, và phần lớn bị dập tắt tia lửa ấy vào lúc lên chín. Họ cũng nhận thấy không phải vì cha mẹ và thầy cô cố ý “nghiền nát” sáng tạo mà vì họ không nhận ra nó. Ở nơi trẻ siêu thiên phú, điều này càng bị nhấn mạnh hơn nữa.

The duties and responsibilities thus imposed upon the parents of the super-gifted are therefore enormous and for those who are aware of such children without necessarily being related.

Vì vậy, nghĩa vụ và trách nhiệm đặt lên cha mẹ của trẻ siêu thiên phú là vô cùng lớn, và cũng dành cho những ai biết đến các em như vậy dù không có quan hệ ruột thịt.

Humble Homes—Những Mái Nhà Khiêm Nhường

The importance of recognising the super-gifted at an early age is not only difficult, and made more so because of general ignorance on the question but is heightened by the fact that only in very special circumstances does a highly developed soul choose a home which is benign, affluent and influential. Many an outside observer to esotericism has noted that our most prominent esotericists, at least amongst the men, come from the humblest homes. Perhaps this is emphasised in the biblical narrative of Jesus's birth in a stable.

Tầm quan trọng của việc nhận ra trẻ siêu thiên phú từ sớm không chỉ khó, và càng khó hơn vì sự thiếu hiểu biết chung quanh vấn đề, mà còn tăng thêm bởi sự kiện rằng chỉ trong những hoàn cảnh rất đặc biệt, một linh hồn phát triển cao mới chọn một mái nhà hiền hoà, sung túc và có ảnh hưởng. Nhiều người quan sát bên ngoài đối với huyền bí học đã ghi nhận rằng các nhà bí truyền học nổi tiếng nhất của chúng ta, ít nhất trong giới nam, xuất thân từ những mái nhà khiêm nhường nhất. Có lẽ điều này được nhấn mạnh trong câu chuyện Kinh Thánh về việc Đức Jesus sinh ra nơi máng cỏ.

Whatever the home circumstances, the early life is desperately important. The Catholic Church does not say without good cause, 'Give me a child for the first five years and the world can have him after that.' The Maker D.K. once said that if he were given young men to train, when their minds were still open and not yet crystallized, he would bring them to the feet of adept-hood before their lives ended.

Dù hoàn cảnh gia đình ra sao, thời thơ ấu vẫn cực kỳ quan trọng. Giáo hội Công giáo không vô cớ nói rằng: “Hãy trao tôi một đứa trẻ trong năm năm đầu đời và sau đó thế gian có thể có nó.” Chân sư DK từng nói rằng nếu Ngài được giao những người trẻ để rèn luyện, khi tâm trí họ còn rộng mở và chưa kết tinh, Ngài sẽ đưa họ đến bậc chân sư trước khi đời họ khép lại.

This re-emphasises the fact that the early life of someone who is to become a Master should be a harmonious one and in the hands of those sensitive to the requirements of the super-gifted. Any early scarring of such a life through excess of tragedy, cruelty, etc., might jeopardise the success of surviving the final stages of initiation.

Điều này nhắc lại rằng thuở ban đầu của người nào sau này sẽ trở thành một chân sư nên hài hoà và được đặt dưới sự chăm sóc của những người nhạy cảm với các đòi hỏi của trẻ siêu thiên phú. Bất kỳ vết sẹo sớm nào của một đời như thế do bi kịch, tàn nhẫn quá mức, v.v., có thể làm nguy khốn việc vượt qua các giai đoạn cuối của điểm đạo.

Don't forget that for many long centuries the super-gifted or advanced souls have been occupying Eastern bodies and Eastern ways are more harmonious and conductive to the sensitive unfoldment of childhood than in the West, especially at this time as any English boy traditionally attending boarding school will hasten to assure you. Advanced souls have great difficulty in grasping and retaining the present physical bodies on our planet. This makes them prone to special diseases. Hence the general delicate physical vehicles occupied traditionally by the saints. It is said that Buddahs galore are waiting for suitable vehicles. H.P. Blavatsky was a sixth rounder in a fourth round body. So was Swedenborg.

Đừng quên rằng qua nhiều thế kỷ, các linh hồn siêu thiên phú hay tiến bộ vẫn nhập xác phương Đông, và lối sống phương Đông hài hoà hơn và thuận lợi hơn cho sự khai mở nhạy cảm của tuổi thơ so với phương Tây—đặc biệt là vào lúc này, như bất kỳ cậu bé người Anh nào theo truyền thống đi học nội trú sẽ mau mắn xác nhận với bạn. Các linh hồn tiến bộ rất khó nắm giữ và duy trì những thể xác hiện thời trên hành tinh chúng ta. Điều này khiến họ dễ mắc các chứng bệnh đặc thù. Bởi vậy, các vận cụ thể chất mảnh mai vốn truyền thống gắn với các vị thánh. Người ta nói rằng vô số vị Phật đang chờ những vận cụ thích hợp. Bà H.P. Blavatsky là một hữu thể thuộc cuộc tuần hoàn thứ sáu trong một thân xác của cuộc tuần hoàn thứ tư. Swedenborg cũng vậy.

Most of our advanced humanity do not come to an awareness of their mission in life until well-advanced in years, so that much precious time is wasted. Hence the aim of bringing the super-gifted to awareness of their missions before they are too scarred.

Đa số thành phần tiến bộ của nhân loại chúng ta không nhận thức được sứ mạng đời mình cho đến khi tuổi đã xế chiều, khiến lãng phí nhiều thời gian quý báu. Do đó mới có mục tiêu đưa những người siêu thiên phú đến chỗ nhận thức sứ mạng trước khi họ bị quá nhiều vết sẹo.

Chapter 8-Chương 8

Problems of the Supe-gifted—Những Vấn Đề của Người Siêu Thiên Phú

There are frequent examples of boys who develop a strong or super-physical body and who sometimes have to be held in check by the parents or other authorities through the tendency to bully or 'throw their weight around.' But it is not often realised that a super-intelligent child can just as easily become a bully on the intellectual level. In the over-emphasis of his intellectual power he is more often than not encouraged by authority. This often occurs in the super-gifted who, lacking in physique or emotional maturity, exercise their mental powers excessively to compensate, thus very often becoming unpopular and themselves the targets for physical bullying.

Thường thấy các cậu bé phát triển một thân thể khoẻ mạnh hoặc siêu-vật chất và đôi khi phải bị cha mẹ hoặc các nhà chức trách kiềm chế vì khuynh hướng bắt nạt hoặc “lấy thịt đè người”. Nhưng ít ai nhận ra rằng một đứa trẻ siêu thông minh cũng có thể dễ dàng trở thành kẻ bắt nạt ở bình diện trí tuệ. Trong sự nhấn mạnh quá mức vào sức mạnh trí tuệ, y thường được nhà chức trách khuyến khích nhiều hơn là không. Điều này thường xảy ra nơi trẻ siêu thiên phú, những em vì thiếu thể chất hoặc chưa chín về cảm xúc nên sử dụng năng lực trí tuệ quá mức để bù trừ, do đó rất thường trở nên không được ưa và chính mình trở thành mục tiêu cho nạn bắt nạt bằng sức mạnh thể chất.

This is perhaps the basis of the biggest problem affecting the super-gifted ... that one or other of the personality vehicles is unable to keep up with that one which is over-developed or developed beyond normal standards. An example of this is the child, super-gifted intellectually, who was given a book on skating by his father. When accompanying his father on the ice for the first time, he was unable to execute the 'figure-of-eight' about which he had read. In a fury of despair at his physical incapacity for the exercise, he crawled around on the ice making the figure-of-eight. The super-gifted Hamlet of Shakespeare felt the weight of his emotional immaturity by comparing himself and Hercules with his uncle and father: 'My father's brother, but no more like my father Than I to Hercules'. (Hamlet Act 1, Scene 2)

Đây có lẽ là nền tảng của vấn đề lớn nhất tác động đến người siêu thiên phú... rằng một trong các hiện thể của phàm ngã không theo kịp với hiện thể kia vốn phát triển vượt mức hoặc vượt chuẩn bình thường. Thí dụ là đứa trẻ siêu thiên phú về trí tuệ được cha tặng một cuốn sách dạy trượt băng. Lần đầu theo cha ra băng, cậu không thể thực hiện “hình số tám” mà cậu đã đọc. Trong cơn tuyệt vọng vì bất lực thể chất cho bài tập ấy, cậu đã bò trên băng để vẽ ra hình số tám. Vị Hamlet siêu thiên phú của Shakespeare cảm thấy sức nặng của sự non nớt cảm xúc khi so sánh bản thân và Hercules với cậu chú và người cha: “Em trai của cha ta, nhưng chẳng giống cha ta hơn ta giống Héc-quyn là bao.” (Hamlet Hồi 1, Cảnh 2)

The adjustment to his environment of a six-year-old with a mind of eleven is one of the most difficult social adjustments anyone is ever called upon to make and when the super-gifted child fails to make the adjustment he seldom has anyone to appeal to for advice or understanding because he knows he will not be understood. He then turns to himself and forces adjustments upon himself which will certainly enable him to go on living in the world but which, by outward standards, are considered abnormal, peculiar or even perverted.

Sự thích nghi với môi trường của một đứa trẻ sáu tuổi có cái trí mười một là một trong những thích nghi xã hội khó khăn nhất mà ai đó từng bị gọi mời phải thực hiện; và khi đứa trẻ siêu thiên phú thất bại trong việc thích nghi, nó hiếm khi có ai để cầu cứu xin lời khuyên hay sự thấu hiểu, vì nó biết mình sẽ không được hiểu. Nó bèn quay vào chính mình và tự áp đặt các điều chỉnh cho mình, những điều chắc chắn sẽ cho phép nó tiếp tục sống trong đời, nhưng theo chuẩn bên ngoài, lại bị coi là bất thường, lập dị thậm chí lệch lạc.

Thus, in taking the example of relationships with his companions, we find a child small enough in size for companions of his own age but too large in mind. He therefore seeks companions with larger minds but they have physical bodies too big for him to cope with in playtime and sport. The persistent companionship of larger boys who will 'thump' him if he beats them too often with his wit will tend to make him negativistic and passive in outlook, a disastrous situation for a child on the threshold of puberty.

Vì vậy, lấy thí dụ về các mối quan hệ với bạn đồng lứa, chúng ta gặp một đứa trẻ có thân mình nhỏ nhắn tương xứng với bạn bè cùng tuổi, nhưng cái trí thì quá lớn. Vậy nên nó đi tìm bạn có trí lớn hơn, nhưng những người ấy lại có thân thể quá to để nó “xoay xở” trong giờ chơi và thể thao. Việc thường xuyên chơi với các cậu lớn hơn, những người sẽ “đánh” nó nếu nó chọc quê họ quá thường bằng trí tuệ, sẽ làm cho nó dần dần trở nên tiêu cực và thụ động trong phối cảnh—một tình thế tai hại cho đứa trẻ đang đứng trên ngưỡng dậy thì.

A super-gifted child might often be capable of leadership amongst a group of his own degree of development but unless special circumstances exist he seldom is able to lead in a group of companions whose development is average. He resents this, knowing that he is mentally superior to the group leader.

Một đứa trẻ siêu thiên phú có thể đủ khả năng lãnh đạo trong một nhóm gồm các bạn cùng mức phát triển với mình, nhưng trừ khi có những hoàn cảnh đặc biệt, nó hiếm khi có thể dẫn dắt một nhóm bạn có mức phát triển trung bình. Nó bực bội vì điều ấy, vì biết mình trội hơn về trí so với người cầm đầu nhóm.

Out of this last situation we often find the super-gifted antagonistic to authority, rebellious and soured. Too often they have recognised the intellectual weaknesses of others in positions of authority. They then quickly lose respect for all authority.

Từ hoàn cảnh sau cùng này, chúng ta thường thấy người siêu thiên phú trở nên đối kháng với thẩm quyền, nổi loạn và trở nên chua chát. Quá thường họ đã nhận ra những yếu kém về trí của người khác đang giữ vị trí thẩm quyền. Rồi họ mau chóng đánh mất sự tôn kính đối với mọi thẩm quyền.

They desperately need the guidance and advice of someone equally gifted but older and they seldom get it. This makes their position almost unique in our society and it accentuates their loneliness and all the qualities and vices which that condition can evoke.

Họ vô cùng cần sự hướng dẫn và lời khuyên từ một người cũng thiên phú như vậy nhưng lớn tuổi hơn—và họ hiếm khi có được. Điều này khiến vị thế của họ gần như độc nhất trong xã hội chúng ta, và nó làm tăng mức cô độc và mọi phẩm tính lẫn thói xấu mà tình trạng ấy có thể khơi dậy.

Their main problems are:

Những vấn đề chính của họ là:

• To suffer fools gladly.

• Học cách “chịu đựng kẻ dốt” một cách hoan hoan.

• To find enough hard, interesting work at school.

• Tìm đủ khối lượng công việc khó mà hứng thú ở trường.

• To keep from being negativistic to those in authority on all levels ... companions, artists, teachers, priests, etc.

• Tránh trở nên tiêu cực đối với những người có thẩm quyền ở mọi tầng... bạn bè, nghệ sĩ, thầy cô, giáo sĩ, v.v.

• To keep from becoming hermits when the environment proves too hostile or lacking in understanding of his problems.

• Tránh trở thành ẩn sĩ khi môi trường tỏ ra quá thù nghịch hoặc quá thiếu hiểu biết về các vấn đề của mình.

• To avoid habits of extreme trickery (especially on mental levels), sophistry and the desire to deceive and to expose his companions.

• Tránh các thói quen xảo trá cực đoan (đặc biệt ở bình diện trí), ngụy biện và ham muốn đánh lừa cũng như vạch trần bạn bè.

Fallible as I.Q. ratings are, when concerned with the super-gifted or creative child, they also fail to point out leadership in those less gifted. In the world as it is, the most rounded out personalities are grouped between 125 and 150. The best leaders are often between 115 and 135.

Dù các đánh giá I.Q. có nhiều sai số khi đụng đến trẻ siêu thiên phú hoặc sáng tạo, chúng cũng không chỉ ra được khả năng lãnh đạo nơi những người kém thiên phú hơn. Trong thế giới như nó đang là, những phàm ngã được phát triển tròn đầy nhất nằm trong khoảng 125 đến 150. Những người lãnh đạo tốt nhất thường trong khoảng 115 đến 135.

It is with some of these factors in mind that we face the problem of educating the super-gifted.

Với một số yếu tố như vậy trong tâm trí, chúng ta đối diện vấn đề giáo dục người siêu thiên phú.

Education of the Super-gifted—Giáo Dục Người Siêu Thiên Phú

In considering the titanic problem of caring for the super-gifted, it would be wise to remember the two types of Assageoli, for they provide the key to the matter.

Khi xét đến bài toán khổng lồ là chăm sóc người siêu thiên phú, sẽ khôn ngoan nếu nhớ đến hai loại của Assageoli, vì chúng cung cấp chiếc chìa khoá cho vấn đề.

Type I ... who are gifted in a general or multiple way. The problem here is to lead the child to an awareness of which of his many gifts is the one most advisable to develop. The child may be diverted from this end by -considerations of prestige, financial reward or self-gratification.

Loại 1... thiên phú theo nghĩa rộng hoặc đa năng. Vấn đề ở đây là dẫn dắt đứa trẻ đến chỗ nhận biết đâu là thiên phú đáng khuyến khích phát triển nhất trong số nhiều tài năng của nó. Trẻ có thể bị chệch khỏi mục tiêu này bởi những cân nhắc về uy tín, phần thưởng tài chính hoặc sự thoả mãn bản thân.

Type 2 ... who are super-gifted in a single or specialised way. Here, the problem is to develop the personality vehicles into a rounded out, stable unit capable of carrying the burdens imposed upon it by the indwelling consciousness, gifted as it is in one specific talent.

Loại 2... siêu thiên phú trong một lĩnh vực đơn lẻ hoặc chuyên biệt. Ở đây, vấn đề là phát triển các hiện thể của phàm ngã thành một đơn vị vững vàng, tròn đầy, đủ sức gánh các trọng trách mà tâm thức cư trú bên trong—vốn thiên phú đặc biệt—đặt lên nó.

Background—Bối Cảnh

The super-gifted should be given a background of rich culture and wide-experience, bearing always in mind though that a child, any child, is entitled to his youth. Both school and home may tend to overdo the enriched programme idea, forgetting that the child has the right to live normally through each stage of his development. Travel is an essential factor and it is no wonder that in astrology travel and higher studies come in the same house, for they are indispensable to each other if the rounding out of the personality is to progress with mental and cultural development.

Trẻ siêu thiên phú nên được cung cấp một bối cảnh văn hoá phong phú và trải nghiệm rộng rãi, luôn ghi nhớ rằng một đứa trẻ, bất kỳ đứa trẻ nào, cũng có quyền được sống tuổi thơ của mình. Cả nhà trường lẫn gia đình đều có xu hướng làm quá mức “chương trình làm giàu”, quên rằng đứa trẻ có quyền được sống bình thường qua từng chặng của tiến trình phát triển. Du hành là yếu tố thiết yếu, và chẳng lạ gì trong chiêm tinh học, du hành và học vấn bậc cao cùng nằm trong một nhà, vì chúng bất khả phân nếu việc làm tròn đầy phàm ngã phải đi song hành với phát triển trí tuệ và văn hoá.

The truth in this statement is to be seen in the inordinate interest which the super-gifted have in encyclopaedias, travel journals and the strong desire which they manifest to keep diaries. The keeping of a diary should be especially encouraged for it is a discipline which encourages lucid thought and action. Later, it prepares the way for an even closer contact with the soul.

Sự thật trong khẳng định này có thể thấy trong mối quan tâm quá độ mà trẻ siêu thiên phú dành cho các bách khoa thư, ký sự du hành và khát vọng mạnh mẽ muốn giữ nhật ký. Việc viết nhật ký nên đặc biệt được khuyến khích vì đó là một kỷ luật thúc đẩy tư duy và hành động minh bạch. Về sau, nó chuẩn bị con đường cho một tiếp xúc gần gũi hơn nữa với linh hồn.

Therefore, the teaching of biography to the super-gifted is inevitably fruitful, along with the history of civilization. In the latter, the inculcation of this instruction and the study of epic poetry such as John Milton’s Paradise Lost and the Anglo-Saxon epic Boewulf, etc., stimulates an early interest in the problems of humanity in which he will later participate. The study of foreign languages is also here important, remembering once more the correlation of the sign Gemini (which rules the learning of languages) and the ninth house. In fact Gemini is often powerfully aspected in the charts of super-gifted children.

Bởi vậy, dạy tiểu sử cho người siêu thiên phú tất yếu đem lại kết quả, cùng với lịch sử văn minh. Trong nội dung sau, việc thấm nhuần giáo dục này và học các trường ca như Thiên Đường Đã Mất của John Milton và trường ca Anglo-Saxon Beowulf, v.v., sẽ kích thích mối quan tâm sớm đến các vấn đề của nhân loại mà về sau em sẽ tham dự. Việc học ngoại ngữ cũng quan trọng ở đây, một lần nữa nhớ đến mối tương liên giữa dấu hiệu Song Tử (cai quản việc học ngôn ngữ) và nhà thứ chín. Thực tế, Song Tử thường được nhấn mạnh mạnh mẽ trong lá số của trẻ siêu thiên phú.

The aim is therefore, to provide a rich background on to which the child can engrave his gift. This is achieved, not necessarily by spending enormous sums on travel and schooling, but rather through the careful direction of the child's attention to all that is going on about him. Art in particular, now freely available for inspection, is a useful amplifier of this technique. True art disciplines the emotions, whether it be on stage, canvas or television or in marble or poetry.

Mục tiêu, do đó, là cung cấp một bối cảnh phong phú để đứa trẻ “khắc” thiên phú lên đó. Điều này không nhất thiết đạt được bằng cách chi những khoản khổng lồ cho du học và trường học, mà bằng sự hướng dẫn kỹ lưỡng sự chú ý của trẻ vào mọi điều đang diễn ra quanh em. Nghệ thuật, nay sẵn có để thưởng lãm, là một bộ khuếch đại hữu ích cho kỹ thuật này. Nghệ thuật chân chính rèn luyện cảm xúc, dù ở trên sân khấu, toan vẽ hay truyền hình, hay trong đá cẩm thạch hoặc thi ca.

Quietness and Relaxation—Tĩnh Lặng và Thư Giãn

From the beginning the child should be encouraged to enjoy his own company and be given every opportunity to find retreat, at first in his own room and later within himself. The super-gifted must be encouraged to share but never expect him to share everything. He must be able to 'call his soul his own,' for he vibrates at wavelengths his teachers will never know and at all stages he must have 'a room of one's own'. But by no means should he be allowed to become a hermit or crank through not mixing with children of his own age. One cannot always provide him with playmates who are equal in intellect as well as in size and it is therefore important that at least once a year all the super-gifted should meet each other in summer schools and similar establishments for comparing notes, for self-expression on a level otherwise obtainable only in solitude, in the company of their peers.

Ngay từ đầu, nên khuyến khích trẻ biết hưởng sự bầu bạn của chính mình và tạo mọi cơ hội để em tìm chốn “ẩn cư”, ban đầu là ngay trong phòng riêng, rồi về sau là ở bên trong chính mình. Trẻ siêu thiên phú phải được khuyến khích chia sẻ, nhưng đừng bao giờ mong em chia sẻ tất cả. Em phải có thể “gọi linh hồn là của chính mình”, vì em rung ở những bước sóng mà thầy cô sẽ không bao giờ biết, và ở mọi chặng, em phải có “một căn phòng của riêng mình”. Nhưng tuyệt đối không để em trở thành ẩn sĩ hoặc người lập dị vì không hoà nhập với những trẻ đồng trang lứa. Không phải lúc nào cũng có thể cung cấp cho em bạn chơi ngang sức về trí cũng như về tầm vóc; vì vậy, điều quan trọng là ít nhất mỗi năm một lần, tất cả trẻ siêu thiên phú nên gặp nhau trong các trường hè và cơ sở tương tự để đối chiếu ghi chép, để tự biểu đạt trên một bình diện vốn chỉ đạt được khi ở một mình—đó là trong cộng đồng các bạn đồng bậc.

Special Treatment—Chăm Sóc Đặc Biệt

Because a super-gifted child is sometimes able to finish his work long before his classmates, this is no excuse for loading him with more of the same quality tasks as his fellows receive. He should be given the same amount of work but of a higher nature. The previously accepted custom of accelerating such a child by permitting him to 'jump' one or two standards into a higher form has its dangers. The child inevitably finds himself in a form in which he is physically years behind his classmates and the problems stressed earlier soon arise.

Vì một đứa trẻ siêu thiên phú đôi khi có thể hoàn tất công việc của mình sớm hơn xa so với các bạn cùng lớp, điều này không phải là cái cớ để chất thêm cho em nhiều bài tập cùng loại như các bạn nhận. Em nên được giao cùng lượng công việc nhưng ở cấp độ cao hơn. Tập quán trước đây là “tăng tốc” cho đứa trẻ như vậy bằng cách cho phép em “nhảy” một hai lớp lên khối cao hơn có những rủi ro riêng. Trẻ tất yếu thấy mình trong một lớp mà ở đó em nhỏ hơn các bạn vài năm về thể chất, và các vấn đề đã nêu trước đó sớm xuất hiện.

M.B. suffered under this process. He started school two years before the accepted entrance age because he appeared 'big for his age'. Three years later, when in a class in which his comrades averaged two years his senior, he. again forged ahead, so much so that he was invited to 'jump' his next class. His mother was, of course, flattered by this suggestion and permitted it. The child then found himself in a class in which boys were three years older than he.

M.B. đã khổ sở vì quy trình này. Cậu vào trường sớm hai năm so với tuổi nhập học chuẩn vì “trông to xác” so với tuổi. Ba năm sau, khi ở trong một lớp mà các bạn trung bình lớn hơn cậu hai tuổi, cậu lại vượt lên trước, đến độ được mời “nhảy” qua lớp kế. Mẹ cậu dĩ nhiên hãnh diện trước đề nghị này và đã đồng ý. Cậu bé bấy giờ thấy mình trong một lớp mà các bạn lớn hơn cậu ba tuổi.

He now lost the comfort of intellectual superiority and was confronted with even greater physical differences than before. He found that his classmates were playing for the school first and second Elevens and Fifteens, whereas he was as far back as the fifth and sixth Elevens and Fifteens, in which none of his classmates participated. He, quite understandably, turned away from sport and was never able to go back to it when he needed it for relaxation in later years. He could never wrestle and tumble with his fellows because of the disparity in size and was often confronted with situations and conversations involving his class-friends which were unhealthy for him but not for them, again because of age disparity.

Cậu mất đi sự thoải mái nhờ ưu thế trí tuệ và phải đối diện những khác biệt thể chất còn lớn hơn trước. Cậu nhận ra bạn cùng lớp đang chơi cho Đội Một và Đội Hai bóng đá và bóng bầu dục của trường, trong khi cậu còn lùi tận đến Đội Năm và Đội Sáu—nơi không có bạn cùng lớp nào của cậu tham gia. Hoàn toàn dễ hiểu, cậu quay lưng với thể thao và không bao giờ quay lại được khi về sau cần nó để thư giãn. Cậu chẳng thể vật và nhào lộn cùng bạn bè vì chênh lệch thể hình, và thường bị đặt vào những tình huống cũng như các cuộc trò chuyện liên quan đến bạn bè cùng lớp—những điều tai hại cho cậu nhưng không tai hại cho họ—một lần nữa vì khác biệt tuổi tác.

Teachers of the Super-gifted—Những Người Dạy Trẻ Siêu Thiên Phú

Teachers are often more of a hindrance than a help to the super-gifted. The teacher should be prepared to adapt himself to his pupil and discover for himself what psychological type he belongs to. He should then adapt his techniques accordingly. At the same time he should recognise the dynamics of his pupil's nature, realising that there are cycles and rhythms in everyone. These are accentuated in the super-gifted child. In the handling of them,' more than any others, an understanding of their. rays would help. Special attention to will, imagination and spirituality is needed. Assageoli has dealt with this at some length in his pamphlet already mentioned.

Thầy cô thường trở thành trở ngại nhiều hơn là trợ giúp cho trẻ siêu thiên phú. Người dạy cần sẵn lòng thích nghi với học trò của mình và tự khám phá em thuộc loại hình tâm lý nào, rồi thích ứng kỹ thuật tương ứng. Đồng thời, thầy cô phải nhận ra động học nơi bản tính của học trò, hiểu rằng ai nấy đều có các chu kỳ và nhịp điệu. Những điều này nơi trẻ siêu thiên phú càng được nhấn mạnh. Trong việc giúp đỡ các em hơn ai hết, sự thấu hiểu về các cung của họ sẽ hữu ích. Cần chú ý đặc biệt đến ý chí, sự tưởng tượng và tinh thần. Assageoli đã bàn khá dài về điều này trong tập sách nhỏ đã nêu.

Super-gifted children don't have to have super-gifted teachers but they should be teachers who understand what is involved. To teach a musical genius, as Assageoli rightly points out, you don't have to be a genius in music yourself. In fact genius doesn't imply, by any means, an ability to teach. What is more important is that the teacher should establish the right relationship with his pupil, bearing in mind the factors involved.

Trẻ siêu thiên phú không nhất thiết phải có thầy cô siêu thiên phú, nhưng các thầy cô ấy phải là những người hiểu những gì liên quan. Như Assageoli nói đúng, để dạy một thiên tài âm nhạc, bạn không cần tự mình là thiên tài âm nhạc. Thực ra, thiên tài không hề mặc nhiên đi đôi với khả năng dạy học. Điều quan trọng hơn là người thầy phải thiết lập đúng mối quan hệ với học trò, lưu tâm các yếu tố liên đới.

The most important qualities that a teacher of superior children should have are:

Những phẩm chất quan trọng nhất mà một người thầy của trẻ vượt trội cần có là:

• The capacity to stimulate his pupil into achievement.

• Khả năng khơi gợi học trò đi đến thành tựu.

• The capacity to withhold damning and damaging criticism, to temper all with loving understanding or compassion.

• Khả năng kiềm chế phê phán mang tính lên án và gây hại, biết nhuần hoá tất cả bằng lòng thương yêu thấu hiểu hay từ bi.

• The capacity to direct the pupil's attention and energies towards his life's expression. This would include the preparatory work of developing him in fields of expression in which he was backward, e.g., gymnastics, sport, elocution; and also of leading him to think in terms of continuing into university with his studies.

• Khả năng hướng sự chú ý và năng lượng của học trò về phía biểu đạt cuộc đời của em. Điều này bao gồm công việc chuẩn bị là phát triển em ở những lĩnh vực biểu đạt nơi em còn yếu, thí dụ: thể dục, thể thao, diễn thuyết; và cũng là dẫn dắt em nghĩ đến việc tiếp tục lên đại học với những môn học của mình.

The teacher should look for the possible weaknesses which might later be responsible for the child's personality failing to bear the weight of demands placed upon it by expression of the super-gift or gifts. These weaknesses could then be anticipated and dealt with as early as possible, long before they became fixed or habitual. The actual gift should be the least of the teacher's worries. Given a healthy framework of suitable physical, emotional and mental equipment, the gift will shine forth 'though hell should bar the way'.

Người thầy nên tìm các yếu điểm có thể về sau làm phàm ngã của đứa trẻ không chịu nổi sức nặng của những đòi hỏi đặt trên nó bởi việc biểu hiện siêu thiên phú (hoặc các thiên phú). Khi đó, các yếu điểm ấy có thể được dự liệu và xử lý sớm nhất có thể, lâu trước khi chúng trở thành nếp hay cố định. Chính “món quà” nên là mối lo ít nhất của người thầy. Khi đã có một khung lành mạnh gồm những trang bị thích hợp về thể chất, cảm xúc và trí tuệ, thiên phú sẽ chói sáng “dẫu địa ngục có chắn lối”.

Because the super-gift stems from the soul, inculcation of the wisdom of the ages and all that it implies should form part of the subjective side of the gifted one's instruction. This, with careful encouragement of the expression and memory of dreams, should be sufficient in the child's years before manhood. The process most suitable for the super-gifted is that dealt with by Dr Assageoli in his book Psychosynthesis in Education.

Vì siêu thiên phú phát xuất từ linh hồn, việc thấm nhuần Minh Triết Ngàn Đời và tất cả những gì nó hàm ý nên tạo thành phần chủ quan trong giáo dưỡng người thiên phú. Điều này, cộng với việc khích lệ cẩn trọng sự biểu đạt và ký ức về những giấc mơ, nên là đủ trong những năm trước tuổi trưởng thành của trẻ. Tiến trình phù hợp nhất cho người siêu thiên phú là tiến trình được Tiến sĩ Assageoli bàn trong cuốn Tổng Hợp Tâm lý trong Giáo dục.

Conclusion—Kết Luận

The super-gifted are the greatest of our hidden resources. They are the potential innovators and creators of tomorrow and they should be sought and developed in the interests of the age ahead. This may be achieved by:

Những người siêu thiên phú là tài nguyên ẩn giấu lớn nhất của chúng ta. Họ là những nhà đổi mới và sáng tạo tiềm năng của ngày mai, và họ nên được tìm kiếm, phát triển vì lợi ích của kỷ nguyên phía trước. Điều này có thể đạt được bằng cách:

• Alerting public opinion, parents and schools to look for them.

• Cảnh tỉnh dư luận, cha mẹ và nhà trường để cùng tìm kiếm họ.

• Helping them once they are found.

• Giúp đỡ họ ngay khi được phát hiện.

• Serving them once they are able to express their gifts.

• Phụng sự họ khi họ đã có thể biểu đạt các thiên phú của mình.

Chapter 9-Chương 9

Telepathy—Viễn Cảm

The powers latent in man are no longer a secret, or at least quite a number of them. From the olden days of wizard, witch doctor and gypsy come the tales of second sight, telepathy, teleport at ion, psychometry, now transformed into interesting and valid scientific material for research. What was once mysterious, nebulous, magical is now recognised as having nothing to do with sorcerers' spells, but is a force of nature in man, and indeed in many an animal.

Những năng lực tiềm ẩn nơi con người nay không còn là bí mật—ít nhất là một số không ít trong đó. Từ những ngày xưa của pháp sư, thầy mo và người Di-gan, đã có các câu chuyện về thấu thị, viễn cảm, dịch chuyển tức thời, Thuật trắc tâm, nay đang được chuyển hoá thành chất liệu khoa học thú vị và xác đáng để nghiên cứu. Điều từng u huyền, mờ ảo, “phép thuật” nay được công nhận là chẳng dính dáng gì đến bùa chú của phù thuỷ, mà là một lực của thiên nhiên nơi con người—và thực ra nơi nhiều loài vật.

This force has laws of usage which only await discovery, not through the naive gullibility of an open-mouthed onlooker at a travelling gypsy fortune teller, but with finely tuned instruments now in use and about to be formulated and fashioned so that there is no doubt that phenomena which now we know 'works' but are not sure 'how', will become clear factual evidence that man has powers yet untapped.

Lực này có những định luật sử dụng chỉ còn chờ được phát hiện, không phải qua sự cả tin non nớt của người đứng xem há hốc miệng trước một thầy bói Di-gan rong ruổi, mà với các thiết bị tinh vi đã và đang được đưa vào sử dụng, sắp sửa được soạn thảo và chế tác, để không còn hồ nghi rằng những hiện tượng mà giờ đây ta biết là “có tác dụng” nhưng chưa rõ “như thế nào” sẽ trở thành bằng chứng thực tế rõ ràng rằng con người còn có những năng lực chưa được khai thông.

Telepathy is in the forefront of these investigations. Old hat are the experiments with the mother rabbit and her babies parted from her in a submarine and one by one killed off and her reactions recorded. A household, worldwide phrase now runs, 'talk to your plants kindly, admiringly, they will respond'. Cards tests, long-distance communications all rigidly monitored, have long been normal public knowledge. It is an accepted faculty. But how does it really work and how can it be made as humanly reliable as possible? These are the questions now being posed by many serious qualified groups all over the world. No longer dare anyone say there must be some fake as yet undetected, results have gone far beyond that point.

Viễn cảm đang ở tuyến đầu của các khảo cứu này. Đã lỗi thời rồi là những thí nghiệm với thỏ mẹ và lũ con tách khỏi nó trong một tàu ngầm, bị giết lần lượt và phản ứng của nó được ghi nhận. Một câu nói cửa miệng, rộng khắp toàn cầu bây giờ là: “Hãy nói với cây cối của bạn bằng lòng tốt và sự ngưỡng mộ, chúng sẽ đáp lại.” Các thử nghiệm với thẻ bài, truyền tin khoảng cách xa, tất cả được giám sát nghiêm ngặt, từ lâu đã là kiến thức công chúng bình thường. Đó là một năng lực đã được chấp nhận. Nhưng nó thực sự vận hành thế nào và làm sao có thể khiến nó đáng tin cậy nhất có thể về mặt con người? Đó là các câu hỏi nay đang được nhiều nhóm nghiêm túc, có chuyên môn trên khắp thế giới đặt ra. Không ai còn dám nói chắc hẳn có trò bịp bợm nào đó chưa bị phát hiện—vì các kết quả đã đi xa hơn điểm ấy.

Alpha Rhythms—Nhịp Alpha

Alpha rhythms are now being recorded and noted and compared with certain conditions of receptivity between telepathised partners. It has been recorded that people who are unusually en rapport, such as twins, can influence the alpha rhythms of each other's brains. A message of objects seen will influence the sight area of the brain of the receiving partner in the experiment and similarly with a message concerning sound. States of mind have been measured or noted down of those who have submitted themselves to tests. A state of passivity, a state of concentrating in relaxed attention, emptying the mind, all these relate to measurements recordable on an instrument. By these means new laws of nature are being recognised.

Các nhịp alpha nay đang được ghi nhận, lưu ý và so sánh với những điều kiện tiếp nhận nhất định giữa các cặp đối tác viễn cảm. Người ta ghi nhận rằng những người đồng điệu bất thường, thí dụ các cặp sinh đôi, có thể ảnh hưởng lên nhịp alpha trong não của nhau. Một thông điệp về các đối tượng nhìn thấy sẽ ảnh hưởng đến vùng thị giác của não người nhận trong thí nghiệm, và tương tự với một thông điệp liên quan âm thanh. Trạng thái tâm trí của những người tự nguyện tham gia thử nghiệm đã được đo lường hoặc ghi lại. Một trạng thái thụ động, một trạng thái tập trung trong sự chú ý thư thái, sự rỗng tâm—tất cả tương liên với các đo lường có thể ghi nhận bằng thiết bị. Bằng các phương tiện ấy, những định luật mới của thiên nhiên đang được nhận diện.

Dr Karagulla found that there were many highly practical educated professional people who were reserved on the subject of their ability to 'see' what was wrong with their patients. An astonishing number of these people scarcely admitted to themselves, still less to their colleagues, this power they had and used.

Tiến sĩ Karagulla phát hiện rằng có rất nhiều người thực hành nghề chuyên môn được giáo dục cao, rất thực tế, tỏ ra dè dặt về khả năng “nhìn thấy” điều bất thường nơi bệnh nhân của họ. Một số đáng kinh ngạc trong họ còn hầu như chẳng tự thú nhận với chính mình—chứ đừng nói với đồng nghiệp—về quyền năng mà họ có và vẫn sử dụng.

Similarly with telepathy, many people have the rudiments of this power faintly manifesting. They have hunches about friends, 'relatives, events. Strange coincidences arise and are dismissed with a shrug or a laugh. But more people are now keeping an 'open mind' and some, alas, are taking an ego trip and embroidering the experience into an exciting psychic phenomenon and away they go into the rosy clouds of fantasy.

Tương tự với viễn cảm, nhiều người có mầm mống năng lực này biểu hiện lờ mờ. Họ có linh cảm về bạn bè, bà con, biến cố. Những trùng hợp lạ lùng nảy sinh rồi bị bỏ qua bằng một cái nhún vai hoặc tiếng cười. Nhưng ngày càng nhiều người nay giữ một “cái đầu mở”, và một số, than ôi, lại lên cơn tự ngã và thêu dệt trải nghiệm ấy thành một hiện tượng “thông linh” ly kỳ, và cứ thế bay bổng vào những áng mây hồng của mơ mộng.

Laboratory Conditions—Điều Kiện Phòng Thí Nghiệm

Serious investigation has shown that the best condition for the conscious transmission of telepathic messages is very like that of meditation. There are factors relating to a mild vegetarian diet, the control of intake of oxygen in the lungs; this is for those who are trying to develop their telepathic faculty under laboratory conditions.

Khảo cứu nghiêm túc cho thấy trạng thái tốt nhất cho việc truyền viễn cảm có ý thức rất giống với trạng thái tham thiền. Có những yếu tố liên quan đến một chế độ ăn chay nhẹ, sự kiểm soát lượng ôxy hít vào phổi; điều này dành cho những người đang tìm cách phát triển năng lực viễn cảm của mình dưới điều kiện phòng thí nghiệm.

Guessing the pattern on a card is now giving way to wider fields. It has been found that this dry, cold method gives a poorer response compared with more imaginative subjects connected with the beautiful in scenes of colour, images, music, poetry, etc. These subjects bring a response from the emotions, from the astral body, from the higher planes of the mind. Soon it may be that someone will think of direct 'telepathic' communication on a soul level. And find the instruments to record this event.

Việc đoán hoa văn trên thẻ nay đang nhường chỗ cho những lĩnh vực rộng hơn. Người ta nhận thấy phương pháp khô khan, lạnh lẽo này cho phản hồi kém hơn so với các chủ đề giàu sức gợi liên hệ cái đẹp trong cảnh sắc màu, hình tượng, âm nhạc, thi ca, v.v. Những chủ đề này khơi đáp ứng từ cảm xúc, từ thể cảm dục, từ những cõi cao của thể trí. Chẳng mấy chốc có thể sẽ có người nghĩ đến truyền thông “viễn cảm” trực tiếp ở bình diện linh hồn—và tìm ra thiết bị để ghi nhận sự kiện ấy.

Chapter 10-Chương 10

The Aura—Hào Quang

Within living memory the aura and its vibrations have changed in the area of public opinion from being a fantasy of psychics over-sensitive to vibrations, into a photographic fact.

Trong ký ức của người còn sống, hào quang và các rung động của nó đã đổi thay trong vùng dư luận: từ chỗ bị coi là hoang tưởng của các nhà ngoại cảm quá nhạy với rung động, thành một sự kiện ảnh chụp được.

Kilner began the fact-finding by his discovery of the blue gel which sensitized the eyes to the point of being able to see smoky flares emanating from fingers and hand. The Kirlians have since amassed a vast quantity of data from human auras to those of animals and vegetation in various forms of health and decay. The aura is now as acceptable as a nose, or ear, or a head of hair, as a part of the human body.

Kilner đã mở đầu cho việc truy cầu sự kiện bằng phát hiện về gel xanh lam khiến mắt mẫn cảm đến mức có thể thấy những ngọn khói mờ phát xạ từ các ngón tay và bàn tay. Từ đó, các Kirlian đã tích luỹ một kho dữ liệu mênh mông từ hào quang của con người đến hào quang của động vật và thực vật trong những trạng thái sức khoẻ và suy hoại khác nhau. Hào quang ngày nay được chấp nhận giống như cái mũi, cái tai, hay mái tóc—như một phần của thân thể con người.

But even with the assistance of the blue gel, not everyone can see this mysteriously wavering, kaleidoscopic aura. Some have this power, which is latent in man, well developed and use it for the benefit of mankind. These are the spiritual counsellors, healers and diagnosticians who can see the blurs and breaks in the aura of q_n afflicted person and by the location can judge what fundamental cause is giving rise to the unwanted symptoms.

Nhưng ngay cả với sự trợ giúp của gel xanh, không phải ai cũng có thể nhìn thấy hào quang bí ẩn, chập chờn, biến ảo như kính vạn hoa này. Một số người có năng lực vốn tiềm ẩn nơi con người ấy phát triển tốt và sử dụng nó vì lợi ích nhân loại. Đó là những bậc cố vấn tinh thần, những người trị liệu và chẩn đoán có thể nhìn ra những vết nhòe và những chỗ vỡ trong hào quang của người bệnh, và nhờ định vị mà phán đoán đâu là nguyên nhân căn cơ đang gây ra các triệu chứng không mong muốn.

LifeWork—Sự Nghiệp

Dr Karagulla has made this aura diagnosis in her life work. She has met and interviewed countless people, many of them already in the orthodox field of healing, doctors, nurses and therapists, who could sense something beyond the physical body of the patient and sometimes, by actually seeing the aura and sometimes by touching the patient, or passing their hands over the whole body of the patient, could 'tell' what was the cause of the illness.

Tiến sĩ Karagulla đã biến chẩn đoán qua hào quang thành công việc đời mình. Bà đã gặp và phỏng vấn vô số người—nhiều người trong số họ đã hoạt động trong lĩnh vực trị liệu chính thống: bác sĩ, y tá và nhà trị liệu—những người có thể cảm nhận điều gì đó vượt ngoài thân thể vật lý của bệnh nhân, và đôi khi, bằng cách thật sự nhìn thấy hào quang, hoặc bằng cách chạm vào bệnh nhân, hay đưa tay lướt trên toàn thân thể, có thể “nói” đâu là nguyên do của bệnh.

Although unable to see the aura herself, Dr Karagulla has clairvoyants as her assistants. To test one of them in the early days of her research, she took her to the outpatients department of a hospital. Without hesitation this clairvoyant was able to describe the condition of each patient without being able to use medical terms and without any medical training. Eventually these diagnoses were recorded on tape and the subjects were examined by the doctor; the results were infallible. A dark area in the aura around a part of the neck showed a man who had a malfunctioning pituitary gland. Another, who was described as being in a 'crumbling condition', had Paget's disease.

Dù bản thân không nhìn thấy hào quang, Tiến sĩ Karagulla có các nhà thông nhãn làm trợ lý. Để thử nghiệm một người trong số họ vào thời kỳ đầu nghiên cứu, bà dẫn cô đến khoa ngoại trú của một bệnh viện. Không chút do dự, nhà thông nhãn này có thể mô tả tình trạng của từng bệnh nhân, dù không thể dùng thuật ngữ y khoa và không có bất kỳ đào tạo y khoa nào. Cuối cùng, các chẩn đoán ấy được ghi băng và các đối tượng được bác sĩ khám—kết quả thì không sai chạy. Một vùng tối trong hào quang quanh cổ cho thấy một người đàn ông có tuyến yên rối loạn chức năng. Một người khác, được mô tả là đang ở “tình trạng rệu rã”, thì mắc bệnh Paget.

One of the clairvoyant helpers who accompanied Dr Karagulla could see centres of light in the aura and these always corresponded to the centres of energy known as the chakras and if any of these were dimmed or lifeless the clairvoyant would investigate that area for further clues.

Một trong các trợ lý thông nhãn đi cùng Tiến sĩ Karagulla có thể thấy các trung tâm ánh sáng trong hào quang, và chúng luôn tương ứng với các trung tâm năng lượng được biết đến như các luân xa; nếu bất kỳ luân xa nào mờ tối hoặc vô sinh lực, nhà thông nhãn sẽ khảo sát kỹ vùng ấy để tìm manh mối tiếp.

Almost before the public has time to be amazed by these discoveries of a body surrounding man which has energy or power centres and an emanating halo, we hear that the Russians are taking this seriously and have set up a body of biologists and scientists to study this energy body and carry the work of the Kirlians further still. With the aid of an electron microscope they claim that they have results which show some sort of plasma constellation made of ionized particles unified and organised. They call it the 'biological plasma body'.

Hầu như trước khi công chúng kịp kinh ngạc với khám phá về một thể bao quanh con người có các trung tâm năng lượng/quyền lực và một vầng hào quang phát xạ, chúng ta nghe rằng người Nga đang nghiêm túc với điều này và đã lập ra một cơ quan gồm các nhà sinh học và khoa học gia để nghiên cứu thể năng lượng này và đưa công trình của các Kirlian đi xa hơn nữa. Với kính hiển vi điện tử, họ tuyên bố có kết quả cho thấy một kiểu chòm plasma nào đó được cấu thành từ các hạt ion hoá, thống nhất và có tổ chức. Họ gọi nó là “thân thể plasma sinh học”.

Plasma is a gas which has been ionized, a substance which is said to emanate at a seance for the purpose of materializing people 'from the other side'. Plasma can only be contained in a magnetic field and every human being has this. Here we have another unknown power which we could control and use, latent in our parts.

Plasma là một chất khí đã bị ion hoá, một chất mà người ta cho là phát xuất trong Buổi gọi hồn để hiện hình những người “từ bên kia”. Plasma chỉ có thể được lưu giữ trong một trường từ—và mỗi con người đều có trường này. Ở đây chúng ta lại có một năng lực chưa biết khác mà chúng ta có thể kiểm soát và sử dụng—tiềm ẩn trong cấu phần của chúng ta.

The Aura in Healing—Hào Quang trong Trị Liệu

The level at which the patient may be diseased can be at the physical, etheric, emotional, mental or soul levels. The healer must possess a very positive magnetic aura at the level of the patient's disease. The aura of the healer becomes so positive that it constitutes the positive pole (north pole) of the combined magnetic entity of both healer and patient. Then there will be a passing of magnetic current from one to the other. Some radiate magnetic energy at one or two levels only. Only initiates or higher are capable of radiating the energy of the soul under control. An integrated personality, spiritually polarized possesses this faculty too.

Cấp độ mà nơi đó bệnh nhân có thể mắc bệnh có thể là hồng trần, dĩ thái, cảm dục, trí tuệ hoặc linh hồn. Người trị liệu phải sở hữu một hào quang từ tính rất dương ở cùng cấp độ với bệnh của bệnh nhân. Hào quang của người trị liệu trở nên dương đến mức nó trở thành cực dương (cực bắc) của thực thể từ tính kết hợp giữa cả người trị liệu lẫn bệnh nhân. Khi ấy sẽ có dòng điện từ tính lưu chuyển từ người này sang người kia. Có những người phát xạ năng lượng từ tính ở chỉ một hoặc hai cấp độ. Chỉ có các điểm đạo đồ hoặc cao hơn mới có thể phát xạ năng lượng linh hồn dưới sự kiểm soát. Một phàm ngã tích hợp, phân cực tinh thần cũng sở hữu khả năng này.

‘The radiation of the healer has to permeate and overcome the resistance of the patient's disease—not of the patient, who may be mentally or emotionally negative to the healer, and therefore in a position to be helped. This is done through the more powerful radiation of the healer. The magnetism of the healer is then brought into play and, consciously and with intent, he can draw out and disperse those atoms of substance which are the source and seat of the patient's discomfort. A hint is here given of one of the future physical plane modes of dispersing a disease. The power of directing definitely the magnetic currents radiating from a source outside the physical body is not yet realised, but it will embody one of the new modes of healing.

‘Vì vậy, bức xạ chữa lành tự nhiên tác động đến bầu khí quanh bệnh nhân... Có người phát xạ từ tính thể chất hay động vật, kẻ khác phát xạ từ tính cảm dục hoặc trí tuệ; lại có người phát xạ năng lượng của một phàm ngã tích hợp hoàn chỉnh. Bấy giờ từ tính của người trị liệu được đưa vào vận hành và, một cách có ý thức và với chủ ý, y có thể kéo ra và làm tiêu tán những nguyên tử chất liệu vốn là nguồn gốc và nơi trú đóng của sự khó chịu nơi bệnh nhân. Ở đây có ẩn ý về một trong những phương cách tương lai trên cõi hồng trần để làm tiêu tán bệnh tật. Quyền năng định hướng một cách xác quyết các dòng từ tính phát xạ từ một nguồn ở bên ngoài thân thể vật lý hãy còn chưa được nhận ra, nhưng nó sẽ thể hiện một trong những phương cách trị liệu mới.

‘A healing radiation, therefore, naturally affects the atmosphere around the patient ... Some people radiate physical or animal magnetism, others astral or mental magnetism; still others radiate the energy of a fully integrated personality.’ —Esoteric Healing by Alice A. Bailey (Lucis Press)

‘Vậy thì bức xạ chữa lành tự nhiên tác động đến không khí quanh bệnh nhân... Có người phát xạ từ tính thể chất hay động vật, có người từ tính cảm dục hay trí tuệ; lại có người phát xạ năng lượng của một phàm ngã tích hợp hoàn toàn.’ —Trị Liệu H uyền Môn của Alice A. Bailey (Lucis Press)

In my other books I have discussed the necessity for those that tread The Path to focus their attention in bringing energy to the three centres in the head region:

Trong các sách khác của tôi, tôi đã bàn đến sự cần thiết đối với những ai bước lên Thánh Đạo là phải tập trung chú ý vào việc dẫn năng lượng về ba trung tâm trong vùng đầu:

• The head centre … through meditation.

• Trung tâm đầu … qua tham thiền.

• The brow centre … through focus of the mind.

• Trung tâm ấn đường … qua tập trung thể trí.

• The throat centre ... through service to mankind (the latter becomes the alta major centre as the subject learns also to breath in the correct manner).

• Trung tâm cổ họng... qua phụng sự nhân loại (trung tâm sau cùng này trở thành trung tâm alta major khi đệ tử cũng học thở đúng cách).

Integration of these three centres hastens the unfoldment of the Third Eye, but also brings, in the process, the capacity to heal with directed magnetic energy which streams from the vortex created by these three centres.

Sự tích hợp của ba trung tâm này thúc đẩy sự khai mở Con Mắt Thứ Ba, đồng thời cũng đem lại, trong tiến trình đó, khả năng chữa lành bằng năng lượng từ tính được định hướng tuôn chảy từ xoáy lực được tạo bởi ba trung tâm này.

‘When all the powers of the body and the directed attention of the healer are centred in the head, and when the astral body is quiescent and the mind is an active transmitter of soul energy to the three head centres, you then have an established radiance, or energy emanation which is a potent force in healing. The radiation is intense, not so much from the familiar aspect of light but from the extent of its emanating rays of active energy-which can reach the patient and energise the needed centre. All the centres of the body can become receptive to this energy and not just one.’

‘Khi mọi quyền năng của thân thể và sự chú ý được định hướng của người trị liệu đều được quy tụ vào đầu, và khi thể cảm dục tĩnh lặng còn thể trí là kẻ truyền năng lượng của linh hồn đến ba trung tâm đầu, khi ấy bạn có một bức xạ đã được thiết lập, hay một luồng năng lượng phát xạ, vốn là một lực hùng mạnh trong trị liệu. Bức xạ ấy mãnh liệt—không hẳn theo góc độ quen thuộc của ánh sáng, mà bởi tầm vươn của các tia năng lượng hoạt hóa của nó—có thể chạm đến bệnh nhân và tiếp sinh lực cho trung tâm cần thiết. Mọi trung tâm của thân đều có thể trở nên tiếp nhận năng lượng này, chứ không chỉ một trung tâm.’

—Esoteric Healing by Alice A. Bailey (Lucis Press)

—Trị Liệu Huyền Môn của Alice A. Bailey (Lucis Press)

It is important then to know, where possible, at least the site of the disease, even if we cannot know the cause. The energy chakra related to that site or the organs of that site, should then become the pole of the magnet whose 'north' centre is, at the moment of healing, in the brow region of the healer.

Vì vậy, điều quan trọng là biết, nếu có thể, ít nhất vị trí của bệnh, dù ta không thể biết nguyên nhân. Luân xa năng lượng liên hệ với vị trí đó hoặc các cơ quan tại vị trí đó, khi ấy nên trở thành cực của nam châm mà “cực bắc” là trung tâm, tại khoảnh khắc trị liệu, ở vùng ấn đường của người trị liệu.

Thus, the healing of an emotional disorder is via the brow directly to the solar plexus centre of the patient. The heart centre energizes all automatically when the love of the healer for the one to be healed is first established ... and it should be established as a prior act to the final application of energy through the brow.

Do đó, việc chữa một rối loạn cảm xúc là qua ấn đường hướng thẳng đến trung tâm tùng thái dương của bệnh nhân. Trung tâm tim tự động tiếp sinh lực cho tất cả khi tình thương của người trị liệu dành cho người được chữa lành được an lập trước... và nó nên được an lập như một hành động tiên khởi trước khi áp dụng năng lượng cuối cùng qua ấn đường.

The Ajna centre directs the 'dispelling radiance' of the healer, which ‘dis-spells' the hold of the disease.

Luân xa Ajna chỉ đạo “bức xạ xua tan” của người trị liệu, vốn “làm tan” cái nắm giữ của bệnh tật.

To those who find focus of energies and attention in the head a difficult process, the following technique may be of more help: Send deep love (transmuted into a substantial light/energy now) as a stream of radiant light from the Ajna Centre. It should be directed through the medium of the hands towards the patient at the site of the difficulty. The palms of the hands contain powerful chakras. These are held in front of the eyes ... the palms outwards and the back of the hands six inches from the eyes. The energy of Ajna is thus divided into two and pours through the palms. Visualize the energy pouring into the patient.

Với những ai thấy việc tập trung năng lượng và chú ý vào đầu là một tiến trình khó khăn, thì kỹ thuật sau đây có thể hữu ích hơn: Gửi tình thương sâu xa (đã được chuyển hoá thành một luồng ánh sáng/năng lượng hữu hình lúc này) như một dòng quang huy xạ từ Luân xa Ajna. Nó nên được dẫn qua trung gian của đôi tay hướng về bệnh nhân tại vị trí khó khăn. Lòng bàn tay có những luân xa mạnh mẽ. Đặt chúng trước mắt... lòng bàn tay hướng ra ngoài và mu bàn tay cách mắt khoảng mười lăm phân. Năng lượng của Ajna nhờ đó được phân làm hai và tuôn qua lòng bàn tay. Hãy hình dung năng lượng đang tuôn vào bệnh nhân.

Flames of Health—Những Ngọn Lửa của Sức Khỏe

Cleanliness is essential to good health. The surtace of the skin produces a corona of health, a veritable outpouping of flames which ate more pronounced in the region of the hair. The ethetic currents of the body are deflected by the hair, on the head and throughout the hair on the body skim downwards towards the earth. The poisons of the body have a tendency to follow these currents, and are drawn towards the feet. Excretory products like uric acid are thus attracted to the toes and soles of the feet, and produce the callouses which we call corns and the tophi of gout.

Sạch sẽ là điều thiết yếu cho sức khỏe tốt. Bề mặt da sản sinh một quầng hào quang của sức khoẻ, một sự tuôn đổ như những ngọn lửa thực thụ—rõ nét hơn ở vùng có tóc. Các dòng dĩ thái của thân thể bị tóc làm chệch hướng: trên đầu và khắp lớp lông măng trên thân, chúng trượt xuống dưới về phía đất. Độc tố của thân thể có khuynh hướng lần theo các dòng này và bị kéo về phía bàn chân. Những sản phẩm bài tiết như axit uric nhờ đó bị hút về ngón chân và gan bàn chân, tạo nên chai sạn mà ta gọi là mắt cá và các u cục tophi của bệnh gút.

Animals, and especially man, were never intended by nature to be off the earth during their waking moments and periods of activity. Every physical and mental action generates magnetism. This magnetism also flows in currents along the directions of the nerve paths to their extremities. If not interrupted they constitute a great healing and cleansing medium. The poisons and the magnetism bringing them to the feet are thus meant to be absorbed by the earth.

Động vật, và đặc biệt là con người, vốn không được Tự nhiên định liệu để rời khỏi mặt đất trong những lúc thức và những giai đoạn hoạt động. Mọi hành vi về thể xác và thể trí đều tạo ra từ điện. Từ điện này cũng chảy thành dòng theo các đường đi của thần kinh tới những đầu mút của chúng. Nếu không bị gián đoạn, chúng tạo thành một môi trường chữa lành và tẩy sạch hết sức lớn. Những độc tố và từ điện mang chúng xuống bàn chân vì thế là để được mặt đất hấp thụ.

Man will never be properly shod until he wears shoes made of material which does not interfere with these currents reaching the earth. Man is more in need of earthing than any instrument of an electrical nature.

Con người sẽ không bao giờ được “đi giày” đúng nghĩa cho đến khi y mang giày làm từ vật liệu không cản trở các dòng này tiếp đất. Con người còn cần nối đất hơn bất kỳ dụng cụ nào thuộc bản chất điện.

People living in hot climates are never seriously affected by the heart when they are barefooted but Europeans living in India and Africa are often overcome by heat through wearing insulated shoes. Sole-leather is a non-conductor of magnetism. Nothing absorbs the impurities of the body as they exude through the skin pores as quickly as mud or clay. North American Indians used clay packs on bruised, burnt or ulcerated skin.

Những người sống ở khí hậu nóng hầu như không bao giờ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi cái nóng khi đi chân trần, nhưng người châu Âu sống ở Ấn Độ và Châu Phi lại thường bị kiệt sức vì nóng do mang giày cách điện. Da đế giày là chất không dẫn từ điện. Không gì hấp thụ các tạp chất trong cơ thể thoát ra qua lỗ chân lông nhanh như bùn hay đất sét. Người bản địa Bắc Mỹ dùng đắp đất sét lên vùng da bầm dập, bỏng hay loét.

The use of mud in health hydros for 'Nature Cure' goes without saying. More benefit can be obtained in thirty minutes of exercise with bare feet on the ground, or upon material conducting body magnetism, than by any other possible use of the same time.

Việc dùng bùn trong các khu thuỷ trị liệu theo đường “Chữa Bệnh Tự Nhiên” là điều khỏi cần nói. Bạn có thể thu được lợi ích nhiều hơn trong ba mươi phút vận động với đôi chân trần trên đất, hoặc trên vật liệu dẫn từ điện cơ thể, so với mọi cách sử dụng khác cho cùng chừng ấy thời gian.

By far the greatest benefit derived through sea-bathing is due to contact with the sea bed. The beneficial results are augmented by walking barefooted along the beach before and after swimming.

Lợi ích lớn nhất của tắm biển phần nhiều là nhờ tiếp xúc với đáy biển. Kết quả có lợi tăng thêm nếu đi chân trần trên bãi biển trước và sau khi bơi.

Avoid Earth Contact in Sleep—Tránh Tiếp Xúc Đất Khi Ngủ

The magnetic currents of the body are generated principally during active periods and if the organism is brought into contact with the earth during sleep or inactivity extreme devitalization can occur.

Các dòng từ điện của cơ thể được phát sinh chủ yếu trong các giai đoạn hoạt động, và nếu cơ thể được đưa vào tiếp xúc với đất trong khi ngủ hay không hoạt động, có thể xảy ra tình trạng suy kiệt sinh lực trầm trọng.

Hair is a non-conductor of magnetism, and all animals, when lying Upon the earth, are very careful to lie upon the hairy surface of their bodies and to turn their paws and hooves up or in, so that the earth cannot rob them of their vitality during sleep. Chickens or fowls of any sort will roost upon wood, a tree or some other perch of non-conducting material during periods of inactivity. Cranes and other birds, while resting on the ground will raise one leg so as to break the magnetic arc. Patients in Nature Cure establishments should never be allowed to sleep when covered with earth or mud.

Tóc là chất không dẫn từ điện, và mọi loài vật, khi nằm trên đất, đều rất cẩn thận nằm lên bề mặt có lông của cơ thể và xoay bàn chân hay móng guốc lên trên hoặc co vào trong, để mặt đất không rút mất sinh lực của chúng trong khi ngủ. Gà hay chim thuộc bất kỳ loài nào cũng đậu trên gỗ, trên cây hay trên một chỗ đậu bằng vật liệu không dẫn trong những thời kỳ bất động. Sếu và các loài chim khác, khi nghỉ trên mặt đất, sẽ nhấc một chân lên để phá vỡ cung từ điện. Bệnh nhân ở các cơ sở Chữa Bệnh Tự Nhiên không bao giờ được phép ngủ khi đang bị phủ đất hay bùn.

A traveller relates that, in India, he was able to get great relief in his hotel rooms, by walking barefooted, in sandals made with copper and zinc soles, which were connected by fine wires with the drainpipe in his bathroom. The drainpipes were metallic and connected to the earth. Thus, while moving about in his room, he was able to discharge the magnetism accumulated through his activity in the city during the heat of the day.

Một lữ khách kể rằng, ở Ấn Độ, Ông có thể nhận được sự nhẹ nhõm lớn trong phòng khách sạn bằng cách đi chân trần, trong đôi dép có đế đồng và kẽm, được nối bằng dây mảnh với ống thoát nước trong phòng tắm. Các ống thoát nước bằng kim loại và nối xuống đất. Như vậy, khi đi lại trong phòng, Ông có thể phóng xả lượng từ điện tích lũy do hoạt động trong thành phố dưới cái nóng ban ngày.

One of the chief benefits of tub-bathing is that the bath-tub is usually made of an earthenware or metallic substance, and is connected up, through the drainpipes, with the earth. Water is a perfect conductor of magnetic currents and during bathing one should never sleep and never meditate when, during the latter, the attempt to focus magnetic currents in the region of the head centre is a necessary part of successful meditation. The ideal shoe should have a copper insole linked to a zinc plate on the bottom of the sole.

Một trong những lợi ích chính của việc tắm bồn là bồn tắm thường làm bằng sành sứ hoặc kim loại, và được nối, qua các ống thoát, với mặt đất. Nước là chất dẫn hoàn hảo của các dòng từ điện và khi tắm người ta không bao giờ được ngủ và không bao giờ nên tham thiền, vì trong trường hợp sau, việc cố gắng tập trung các dòng từ điện vào vùng trung tâm đầu là phần tất yếu của một cuộc tham thiền thành công. Đôi giày lý tưởng nên có miếng lót bằng đồng được nối với một tấm kẽm ở đáy đế.

Chapter 11-Chương 11

Exercising the Magnetic Aura—Luyện tập Hào Quang Từ Điện

By following the ensuing instructions for each segment (with the consciousness localised by the pressure of the hand) and indulging in the auto-suggestions, each part of the brain will become operative. The blood will flow to the neurons, and with each day there will come greater and greater response and sensitivity to any class of thought to which the particular segment of the brain is capable of responding.

Bằng cách làm theo các chỉ dẫn tiếp theo cho từng phân đoạn (với tâm thức được định vị nhờ sức ép của bàn tay) và thực hành các tự gợi ý, từng phần của bộ não sẽ trở nên hoạt động. Máu sẽ chảy tới các nơ-ron, và mỗi ngày sẽ có sự đáp ứng và nhạy cảm ngày càng lớn hơn đối với bất kỳ lớp tư tưởng nào mà phân đoạn não bộ đó có khả năng đáp ứng.

In this way you will discover from week to week it is easier for you to concentrate your mind on a subject, any subject. You will be able to think more deeply into, and all around and underneath any subject than you have ever been able to think in the past. Within a very few months, you will develop an intellectual power, a mental brilliancy that you never had before—a brilliancy which people around you will readily recognise, and at which they will wonder.

Bằng cách này, bạn sẽ khám phá từ tuần này qua tuần khác rằng bạn dễ dàng hơn trong việc tập trung thể trí vào một chủ đề, bất kỳ chủ đề nào. Bạn sẽ có thể suy nghĩ sâu hơn vào trong, và bao quát chung quanh cũng như bên dưới mọi chủ đề hơn trước đây bạn từng có thể. Chỉ trong rất ít tháng, bạn sẽ phát triển một quyền năng trí năng, một độ rực rỡ tinh thần mà trước đây bạn chưa từng có—một độ rực rỡ mà người quanh bạn sẽ dễ dàng nhận ra và lấy làm kinh ngạc.

All the while you will be laying a real foundation for continued youthfulness. If you are advanced in years, and your brain has begun to harden, you will, by this process, revivify it, and bring it speedily back into the active, usable condition of youth. Energy follows thought and circulation follows consciousness

Đồng thời bạn đang đặt nền tảng thực sự cho sự trẻ trung bền lâu. Nếu bạn đã cao tuổi, và não bạn đã bắt đầu xơ cứng, thì bằng tiến trình này, bạn sẽ phục sinh nó, và đưa nó nhanh chóng trở lại tình trạng hoạt động, hữu dụng như thời thanh xuân. Năng lượng theo sau tư tưởng và tuần hoàn theo sau tâm thức

1. Creativity—1. Sáng tạo

Clasp the back of the head, over segment 1, with both hands. The base of the thumbs are to cover the openings of the ears, and the tips of the fingers meeting, or inter-twined at the back of the head. Press the base of the skull gently, but sufficiently with the fingers to become conscious of that part of the head.

Ôm lấy phía sau đầu, phủ lên phân đoạn 1, bằng cả hai tay. Gốc của hai ngón cái che lỗ tai, và đầu các ngón tay gặp nhau, hoặc đan vào nhau phía sau đầu. Ấn nhẹ, nhưng đủ, các ngón tay vào nền sọ để bạn trở nên có ý thức về phần đầu đó.

Then allow the consciousness to travel from its centre in the brain, in and out to the surface on which you are bringing pressure. Visualize the segment and make to yourself suggestions along the line of creativity ...

Rồi để tâm thức di chuyển từ trung tâm của nó trong não, ra vào tới bề mặt nơi bạn đang tạo áp lực. Hình dung phân đoạn này và tự đưa ra cho mình các gợi ý theo hướng sáng tạo...

• Creative Power

• Quyền năng Sáng tạo

• Creative Energy

• Năng lượng Sáng tạo

• Creative Intelligence

• Trí tuệ Sáng tạo

You can visualize the centre of consciousness in the brain by imagining a line drawn between the openings of the ears intersected by a line running from the base of the nose, between the eyes, to the occiput or prominence in the centre of the back of the head. Where these lines intersect, is the seat of consciousness. As the consciousness streams outwards from this point to the surface, say to yourself mentally:

Bạn có thể hình dung trung tâm của tâm thức trong não bằng cách tưởng tượng một đường nối giữa hai lỗ tai được cắt nhau bởi một đường chạy từ chân mũi, giữa hai mắt, tới ụ chẩm hay điểm lồi ở giữa phía sau đầu. Nơi hai đường này cắt nhau là chỗ ngự của tâm thức. Khi tâm thức tuôn ra từ điểm này tới bề mặt, hãy tự nhủ thầm:

‘I am creative intelligence; I am creative energy; I am creative power. I am a creator because I am the inlet and the outlet of the one creative power and intelligence in the universe. I am creating this day a great …’ (here state what you wish to creation: a career, a work of art, a particular relationship, music, a business).

‘Tôi là trí tuệ sáng tạo; tôi là năng lượng sáng tạo; tôi là quyền năng sáng tạo. Tôi là một đấng sáng tạo vì tôi là cửa vào và cửa ra của quyền năng và trí tuệ sáng tạo duy nhất trong vũ trụ. Hôm nay tôi đang tạo ra một …’ ( tại đây nêu điều bạn mong muốn tạo ra: một sự nghiệp, một tác phẩm nghệ thuật, một mối quan hệ nào đó, âm nhạc, một doanh nghiệp).

Seize upon any method of creation which may be suggested to you while undergoing this exercise, and dwell upon it.

Nắm lấy bất kỳ phương cách sáng tạo nào được gợi ý cho bạn trong khi làm bài tập này, và chiêm nghiệm sâu vào nó.

2. Love—2. Tình thương

Raise the tip of your fingers and clasp them over segment 2. Oscillate your consciousness as before from the centre to the surface of the brain and make thought suggestions of Love to yourself; that you are love; that you are the embodiment of love; that you love everything and everybody. That you are love, because you are an inlet and an outlet for all the love there is; that God is love and love is God. That you are capable of a divine love, an unselfish love; that you love your neighbour as yourself.

Nâng đầu các ngón tay và ôm chúng lên phân đoạn 2. Đưa tâm thức dao động như trước, từ trung tâm ra bề mặt của não và tự mình đưa ra các gợi ý tư tưởng về Tình thương; rằng bạn là tình thương; rằng bạn là hiện thân của tình thương; rằng bạn yêu mọi sự và mọi người. Rằng bạn là tình thương, vì bạn là cửa vào và cửa ra cho mọi tình thương hiện có; rằng Thượng đế là tình thương và tình thương là Thượng đế. Rằng bạn có khả năng một tình thương thiêng liêng, một tình thương vô kỷ; rằng bạn yêu người lân cận như chính mình.

It is well for you to give a kindly thought to anybody of whom it has been more or less difficult for you to think kindly, remembering at all times that if you have any 'teachers' on earth, whom you have .been in the habit of miscalling 'enemies', you should have them each in your affirmation of love. Tell yourself that love is the motivating cause of all the words you use. Love is expressed in the tones of your voice, in the glint of your eye, in the expression of your face. That love pervades your entire being causing every cell in your body to thrill.

Sẽ tốt nếu bạn gửi một ý nghĩ thiện cảm tới bất kỳ ai mà trước đây với bạn ít nhiều là khó nghĩ thiện cảm, luôn ghi nhớ rằng nếu bạn có bất kỳ ‘người thầy’ nào trên đời, những người mà bạn vốn quen thói gọi sai là ‘kẻ thù’, bạn nên đưa từng người trong số họ vào lời khẳng định tình thương của mình. Hãy nói với chính mình rằng tình thương là nguyên nhân thúc đẩy mọi lời bạn dùng. Tình thương được biểu hiện trong âm sắc giọng nói, trong tia lấp lánh của mắt bạn, trong nét biểu cảm trên gương mặt bạn. Rằng tình thương thấm khắp toàn thể con người bạn khiến mỗi tế bào trong thân thể đều rung động.

Sound especially with this segment the lines from the Great Invocation:

Đặc biệt với phân đoạn này, hãy xướng những câu từ Đại Khấn Nguyện:

From the point of Love within the Heart of God

Từ điểm Tình Thương trong Tâm của Thượng Đế

Let love stream forth into the hearts of men.

Nguyện tình thương tuôn tràn vào trái tim của nhân loại.

3. Individuality—3. Tính cá thể

Bring your fingers to segment three and repeat the process of drawing consciousness from the central focus to the periphery of the brain that lies within the limits of this segment. Tell yourself that you are individuality. 'I am individuality; I am made in the image of and likeness of God.' But God has created no two people alike or for the same purpose. 'I therefore think differently and act differently and talk differently from others, and I am different. I am here to do a different work—an individualistic work. I am capable of tremendous individualistic achievement.'

Đưa các ngón tay bạn tới phân đoạn ba và lặp lại tiến trình kéo tâm thức từ tiêu điểm trung ương ra chu vi não bộ nằm trong ranh giới của phân đoạn này. Hãy nói với mình rằng bạn là tính cá thể. ‘Tôi là tính cá thể; tôi được tạo theo hình ảnh và tương tự như Thượng đế.’ Nhưng Thượng đế không tạo hai người nào giống nhau hoặc cho cùng một mục đích. ‘Vì vậy tôi nghĩ khác, hành xử khác và nói khác với người khác, và tôi khác biệt. Tôi có mặt ở đây để làm một công việc khác biệt—một công trình mang tính cá thể. Tôi có khả năng của những thành tựu cá thể phi thường.’

Then tell yourself the things you wish to achieve distinctively in life. Mention each one of them separately.

Sau đó hãy nói với chính mình về những điều bạn ước muốn đạt được một cách khác biệt trong đời. Nêu từng điều một cách riêng rẽ.

'All things in the Universe are working for my good, and I am working for the good of all things in the Universe. I have an abundance of everything essential for the perfection of my life, for the achievement of the things 1 have set myself the task of accomplishing. I accept the Law of Infinite Demand and Supply.'

‘Mọi sự trong Vũ trụ đều hoạt động vì điều thiện của tôi, và tôi hành động vì điều thiện của mọi sự trong Vũ trụ. Tôi có dư dật mọi thứ thiết yếu cho sự hoàn thiện cuộc đời tôi, cho việc đạt tới những điều tôi tự đặt ra phải hoàn thành. Tôi chấp nhận Định luật về Nhu cầu và Cung ứng Vô hạn.’

In this segment of the brain you take up the three thoughts: individuality, individual achievement, and the abundance of means with which to achieve along your chosen line.

Trong phân đoạn này của não, bạn nắm lấy ba ý tưởng: tính cá thể, thành tựu cá thể, và sự phong phú phương tiện để đạt tới theo tuyến đường bạn đã chọn.

4. Interior Understanding

4. Hiểu biết Nội tại

In this part of the brain there functions the interior understanding or insight. This is where the 'knower' is located. There is something within you that makes you realise, at times, that certain things are true or not true. It is also through this segment of the brain that one develops that peculiar power of awareness that is called telepathy. We become aware of the mental attitudes of people surrounding us.

Ở phần này của bộ não vận hành hiểu biết hay nội kiến. Đây là nơi ‘thức giả’ an trụ. Có một điều gì đó trong bạn, đôi khi khiến bạn nhận ra rằng một số điều là đúng hay không đúng. Cũng chính qua phân đoạn não này mà người ta phát triển năng lực nhận biết đặc biệt gọi là viễn cảm. Chúng ta trở nên nhận biết được thái độ tinh thần của những người quanh mình.

It is through this sector of the brain that we have the power to maintain our equilibrium, and to understand the relationship between contrasted things ... here it is too that we have that something that enables us to do the right thing at the right time and in the right place ... especially at moments of crisis. In other words the seat of wisdom, and the organ through which omniscience functions, is in this section of the brain. A line of auto-suggestions could be therefore, arranged in this order;

Cũng qua khu vực não này, chúng ta có năng lực duy trì thăng bằng, và hiểu mối liên hệ giữa những điều đối sánh … cũng tại đây chúng ta có cái gì đó cho phép mình làm điều đúng vào lúc đúng và ở nơi đúng … nhất là trong những thời khắc khủng hoảng. Nói cách khác, ngôi vị của minh triết, và cơ quan qua đó toàn tri vận hành, ở trong phần này của bộ não. Một tuyến các tự gợi ý vì thế có thể sắp xếp theo thứ tự này;

'I am wisdom. I am infinite wisdom in my own life. I am the inlet and the outlet of Omniscience, and this day I understand the relationships of life and I sense the deeper things of life. This day I think the right thought, I speak the right word and do the right thing at the right time and in the right place. This day I have the power of sending out the right thought and of sensing the thoughts of others that may be inimical or helpful to myself.'

‘Tôi là minh triết. Tôi là minh triết vô tận trong đời tôi. Tôi là cửa vào và cửa ra của Toàn Tri, và hôm nay tôi hiểu các mối liên hệ của sự sống và tôi cảm thấu những điều sâu kín của sự sống. Hôm nay tôi nghĩ đúng tư tưởng, nói đúng lời và làm đúng việc vào lúc đúng và ở nơi đúng. Hôm nay tôi có năng lực phát ra đúng tư tưởng và cảm thụ được các tư tưởng của người khác có thể bất lợi hoặc hữu ích cho mình.’

The pineal gland is directly below the top of the head in this segment. In this gland (and its chakra) lies the seat of the Hereditary Memory, and by awakening it to super-activity, you can call to your aid the wisdom inherited from your ancestors back to the year one.

Tuyến tùng nằm ngay dưới đỉnh đầu trong phân đoạn này. Trong tuyến này (và luân xa của nó) là ngôi vị của Ký ức Di truyền, và bằng cách đánh thức nó tới siêu hoạt động, bạn có thể triệu thỉnh về trợ lực cho mình minh triết được thừa hưởng từ tổ tiên của bạn trở về tới năm thứ nhất.

5. Emotions—5. Cảm xúc

The seat of the emotions is in the great basal ganglia directly under this segment. And it is through the operation of one or other of these great nerve centres that one's emotions in all their variety are aroused. Men and women whose heads are flat, and do not round out on top, and who have rather short measurements from ear to ear, directly over Segment 5, are usually lacking in firmness and ideals; therefore, they lack enthusiasm and do not have the power to impress other people.

Ngôi vị của cảm xúc ở các hạch nền lớn nằm ngay dưới phân đoạn này. Và chính qua hoạt động của một trong các trung tâm thần kinh lớn này mà cảm xúc của một người, trong mọi biến thiên của chúng, được khơi dậy. Những người nam và nữ có đầu dẹt, không nở tròn phía trên, và có số đo từ tai sang tai khá ngắn, ngay phía trên Phân đoạn 5, thường thiếu kiên định và thiếu lý tưởng; bởi thế họ thiếu nhiệt huyết và không có năng lực gây ấn tượng với người khác.

It is through this section that one gains the ability to put one's whole soul into the thing being done, in which one develops the enthusiasm which is contagious; which inspires others to a higher and nobler effort.

Chính qua phần này mà người ta đạt được khả năng đặt trọn linh hồn vào điều đang làm, qua đó phát triển một nhiệt huyết có tính lây lan; thứ nhiệt huyết truyền cảm người khác vươn tới nỗ lực cao quý hơn.

A suggestive line of thought might be organised as follows:

Một tuyến tư tưởng gợi ý có thể tổ chức như sau:

'This day I am able to feel; I am able to put feeling into everything I do and say and think; this day I have the power of great emotion; I am the master of my emotions and I direct them rather than let them direct me. I am their master. I have the power of a pleasing personality; I have the power to make others with whom I come into contact, enthusiastic; of reaching the inmost recesses of every human soul with whom I come into contact; the power of communicating my feeling and emotions to others.'

‘Hôm nay tôi có thể cảm; tôi có thể đặt cảm xúc vào mọi điều tôi làm, nói và nghĩ; hôm nay tôi có quyền năng của cảm xúc lớn; tôi là chủ của cảm xúc mình và tôi điều khiển chúng thay vì để chúng điều khiển tôi. Tôi là chủ của chúng. Tôi có sức hút của một phàm ngã dễ mến; tôi có quyền năng làm cho những người tôi tiếp xúc trở nên nhiệt huyết; quyền năng chạm tới những ngóc ngách thâm sâu nhất của mọi linh hồn con người mà tôi có tiếp xúc; quyền năng truyền đạt cảm thức và cảm xúc của tôi cho người khác.’

6. Intuition—6. Trực giác

This segment is the region of the brain through which one gets flashes of intuition. It is also the psychic or super-normal part of the brain—that is, the region of the brain in which supernormal or occult powers have their origin. It is the central upper portion of this segment which is concerned with clairvoyance; on the sides, psychometry; and down near the ears, clairaudience. These developments should never be sought for or crowded. In time, through these exercises, one may become sensitive to vibrations representing these qualities. The human brain is the only organism in the world that can transform thought into sound. This fact, to the uneducated, is frequently a source of great delusion and sometimes obsession. But clairaudience may be of great help to a man of intelligence. Socrates claimed that the things he taught were whispered in his ear by the Daemon.

Phân đoạn này là vùng não qua đó người ta nhận được những tia loé trực giác. Đây cũng là phần thông linh hay siêu thường của não—tức vùng não trong đó các năng lực siêu thường hay huyền bí có cội nguồn. Phần trung tâm phía trên của phân đoạn này liên hệ với thông nhãn; hai bên là trắc tâm; và phía gần tai là thông nhĩ. Những phát triển này không bao giờ nên tìm cầu hay thúc ép. Theo thời gian, qua các bài luyện này, người ta có thể trở nên nhạy cảm với những rung động biểu trưng cho các phẩm tính đó. Bộ não con người là cơ quan duy nhất trên thế giới có thể chuyển tư tưởng thành âm thanh. Sự kiện này, đối với người thiếu học, thường là nguồn của ảo tưởng lớn và đôi khi là ám ảnh. Nhưng thông nhĩ có thể giúp ích rất lớn cho một người thông tuệ. Socrates nói rằng những điều Ông dạy được Thần Daemon thì thầm vào tai.

It is through this segment that one gets inspiration; through this region illumination comes, and so a line of autosuggestion might be constructed as follows:

Qua phân đoạn này, người ta nhận được cảm hứng; qua vùng này, sự soi sáng đến, và vì vậy có thể dựng nên một tuyến tự gợi ý như sau:

'I am intuitive; I have great intuition; I have intuitive flashes; I am inspiration; I am illumined this day; .illumination comes to me now. The great over-soul reveals to me, through my thoughts, things that are essential for my guidance, so that I am led into the paths of right expression now. I am inspired to write, paint, ... '

‘Tôi có trực giác; tôi có trực giác lớn; tôi có những tia loé trực giác; tôi là cảm hứng; hôm nay tôi được soi sáng; sự soi sáng đến với tôi ngay bây giờ. Đại hồn mặc khải cho tôi, qua các tư tưởng, những điều thiết yếu cho sự hướng dẫn của tôi, để tôi được dẫn vào các nẻo biểu lộ đúng đắn ngay bây giờ. Tôi được cảm hứng để viết, vẽ, …’

7. Intellect—7. Trí năng

In this segment lies the power of observation - upon which conscious intelligence is based. One can arrange a system of auto-suggestion as follows:

Trong phân đoạn này nằm quyền năng quan sát—nền tảng của trí thông minh có ý thức. Có thể sắp xếp một hệ thống tự gợi ý như sau:

'I am intelligence; I am an intellectual giant; 1 am a mental genius; I have a brain which can comprehend anything that is comprehensible by the mind of man; I reason with inexorable and absolute logic; I reason inductively and deductively; I reason synthetically and analytically; this day I am intellectually brilliant; I have an-intellectual brilliance that is increasing from day to day'.

‘Tôi là trí thông minh; tôi là một người khổng lồ trí năng; tôi là một thiên tài tinh thần; tôi có một bộ não có thể lĩnh hội bất cứ điều gì khả lĩnh hội bởi thể trí của con người; tôi lý luận với lô-gíc nghiêm ngặt và tuyệt đối; tôi lý luận quy nạp và diễn dịch; tôi lý luận tổng hợp và phân tích; hôm nay tôi rực rỡ về trí năng; tôi có một độ rực rỡ trí năng đang gia tăng từng ngày’.

(It would be obviously unwise to think these autosuggestions out aloud, if any of your intimates are in your immediate vicinity.)

(Rõ ràng là không khôn ngoan nếu bạn nói to những tự gợi ý này khi có người thân cận ở ngay bên cạnh.)

When, however, you realise that your brain is really the machine of the One Intelligence; you are the channel through which the One Mind flows, and that you can absorb as much of this as you are willing to use, that 'All there is in the One Mind,' or Ray of Intelligence, is yours, there is no reason why you should stint yourself in any way in your auto-suggestions.

Tuy nhiên, khi bạn nhận ra rằng bộ não bạn thật sự là cỗ máy của Trí Duy Nhất; rằng bạn là kênh qua đó Vũ Trụ Trí tuôn chảy, và rằng bạn có thể hấp thu bao nhiêu tuỳ theo bạn sẵn lòng sử dụng, rằng ‘Mọi điều hiện có trong Vũ Trụ Trí’, hay Cung của Trí Tuệ, là của bạn, thì không có lý do gì để bạn tự hạn chế mình theo bất kỳ cách nào trong các tự gợi ý.

8. Application

8. Ứng dụng

Now bring your fingers over segment 8, in the centre of the forehead, and tell yourself that you have the power of application; the power of applying yourself, and everything that is in you, to the things you have in hand; that you are practical in your application; that you have the power of great concentration. That all there is, is in the one Mind, or in your hereditary ancestral memory, bearing upon any subject to which you may apply yourself during the day.

Giờ hãy đưa các ngón tay lên phân đoạn 8, ở giữa trán, và nói với mình rằng bạn có quyền năng ứng dụng; quyền năng chuyên tâm vào, và đem mọi điều nơi bạn, vào những việc bạn đang nắm trong tay; rằng bạn mang tính thực tiễn trong ứng dụng; rằng bạn có quyền năng của sự tập trung lớn. Rằng mọi điều hiện có đều ở trong Vũ Trụ Trí, hoặc trong ký ức tổ tiên di truyền của bạn, liên hệ tới bất kỳ chủ đề nào mà bạn có thể chuyên tâm trong ngày.

In your thoughts, review the other segments and focus them in this particular segment, saying: 'I now have the power to focus my "Creative" energy and to apply it practically. I am able to apply my "love" nature, or my "individuality". I now apply my "interior sight", my "Emotions", my "intuition", my "intellectual power".'

Trong tư tưởng, điểm qua các phân đoạn khác và gom chúng vào phân đoạn đặc thù này, nói: ‘Giờ đây tôi có quyền năng để tập trung năng lượng “Sáng tạo” của mình và áp dụng nó một cách thực tiễn. Tôi có thể ứng dụng bản tính “tình thương” của mình, hay “tính cá thể” của mình. Giờ đây tôi ứng dụng “thị kiến nội tại”, “Cảm xúc”, “trực giác”, “quyền năng trí năng” của mình.’

9. Expression—9. Biểu lộ

Finally, in segment 9, tell yourself that you have the power of expression; that the One Mind expresses itself fully through you ... in the smile on your face, in the movements of your body, in the work that you do, or the thoughts that you think. That you have the fluency of speech; that you are using pure, chaste, refined, cultured and scholarly language. That you. express yourself perfectly through anything which you may be doing—in art, architecture, music and business.

Sau cùng, ở phân đoạn 9, hãy nói với mình rằng bạn có quyền năng biểu lộ; rằng Vũ Trụ Trí biểu lộ trọn vẹn qua bạn … trong nụ cười trên gương mặt, trong các cử động của thân, trong công việc bạn làm, hay các tư tưởng bạn nghĩ. Rằng bạn có sự lưu loát trong lời nói; rằng bạn đang dùng ngôn ngữ trong sáng, đoan chính, tinh luyện, tao nhã và học thuật. Rằng bạn biểu lộ mình một cách hoàn hảo qua bất cứ điều gì bạn đang làm—trong nghệ thuật, kiến trúc, âm nhạc và kinh doanh.

In whatever way you desire to express yourself, use very positive auto-suggestions (while holding your hands over this segment of the brain). Tell yourself that you feel you can do anything. That you have perfect expression! That you are expressing continued youthfulness, etc. That you are bringing into expression the possibilities of each of the preceding segments of the brain.

Dù bạn muốn biểu lộ mình theo cách nào, hãy dùng những tự gợi ý thật quả quyết (trong khi đặt tay lên phân đoạn này của não). Hãy nói với mình rằng bạn cảm thấy có thể làm bất cứ điều gì. Rằng bạn có sự biểu lộ hoàn hảo! Rằng bạn đang biểu lộ sự trẻ trung liên tục, v.v. Rằng bạn đang đem ra biểu lộ những khả tính của mỗi phân đoạn não bộ trước đó.

Chapter 12-Chương 12

Hypnosis—Thôi miên

The state of hypnosis is not quite like waking, sleeping or dreaming. EEG tests show no difference between resting with eyes closed and the hypnotic state. Yet it has been proved to be a genuine condition and genuine results are obtained from suggestions made to the subject while under the influence of hypnosis. It does seem, however, that there is an element of psychological reaction in the recipient, he is hypnotised because he has a psychological or subconscious reason for entering this state and he accepts because of the same deep logic, or illogic, depending on the wording of the suggestions made.

Trạng thái thôi miên không hoàn toàn giống như thức, ngủ hay mơ. Các xét nghiệm điện não đồ cho thấy không có khác biệt giữa nghỉ ngơi nhắm mắt và trạng thái thôi miên. Tuy nhiên, nó đã được chứng minh là một tình trạng có thật và các kết quả chân thực thu được từ những gợi ý đưa cho đối tượng trong khi chịu ảnh hưởng của thôi miên. Dường như, tuy vậy, có một thành tố phản ứng tâm lý nơi người thụ nhận: y bị thôi miên vì y có một lý do tâm lý hay tiềm thức để đi vào trạng thái này và y chấp nhận vì cùng một lô-gíc sâu xa, hoặc phi lô-gíc, tuỳ theo cách diễn đạt của các gợi ý được đưa ra.

Hypnosis is an entrance into the power latent in man to offset pain, either as auto-hypnosis or self-suggestion, or as administered by a practitioner. It is now used in many countries to assist painless childbirth and tests have proved its efficacy in dentistry and in some major surgical operations.

Thôi miên là một lối đi vào quyền năng tiềm ẩn nơi con người để hóa giải đau đớn, hoặc dưới dạng tự thôi miên hay tự gợi ý, hoặc do một người hành nghề thực hiện. Nay nó được dùng ở nhiều quốc gia để trợ giúp sinh nở không đau và các thử nghiệm đã chứng minh hiệu quả của nó trong nha khoa và một số ca phẫu thuật lớn.

Hypnosis seems to act in such a way that the brain ignores any pain messages which it receives from the nerves, for it has been recorded in tests that patients feel something, since their pulse rate and blood-pressure changed a good deal during the operation. V. J. Taugher states in the Wisconsin Medical Journal that it seems as if the mind, under the influence of suggestion, exerts a strong control over the body.

Thôi miên dường như tác động theo cách khiến bộ não bỏ qua các tín hiệu đau mà nó tiếp nhận từ thần kinh, bởi vì trong các thử nghiệm đã ghi nhận rằng bệnh nhân vẫn cảm thấy “cái gì đó”, do nhịp mạch và huyết áp của họ thay đổi khá nhiều trong khi phẫu thuật. Ông V. J. Taugher phát biểu trên Wisconsin Medical Journal rằng dường như thể trí, dưới ảnh hưởng của gợi ý, áp đặt một kiểm soát mạnh mẽ lên thân thể.

As a power which could be used for the benefit of man, an important line in hypnotic treatment is that of heart regulation and blood circulation, either induced by a practitioner or by the subject himself; so that any undesirable condition such as hyper-tension can be controlled without drugs and their disagreeable side effects.

Như một quyền năng có thể dùng cho lợi ích con người, một hướng quan trọng trong trị liệu thôi miên là điều hòa hoạt động tim và tuần hoàn máu, hoặc do người hành nghề gây nên hoặc do chính đối tượng tự gây, để bất kỳ tình trạng không mong muốn nào như tăng huyết áp có thể được kiểm soát mà không cần thuốc và các tác dụng phụ khó chịu của chúng.

Psychosomatic Illnesses—Bệnh Tâm thể

For the same reason it can and has been used to help sufferers with allergies and other skin disorders related to psychosomatic causes. The power latent in man of bringing into material manifestation a visualised or subconscious image gives rise to many such maladies. It has been found time and time again that these psychosomatic illnesses have often been caused by a casual remark made to a very young impressionable child who reacted to it subconsciously, resulting in a lifetime of discomfort, if not disease.

Vì cùng lý do đó, thôi miên có thể, và đã, được dùng để giúp những người mắc dị ứng và các rối loạn da khác liên quan tới nguyên nhân tâm thể. Quyền năng tiềm ẩn nơi con người trong việc đưa một hình ảnh được hình dung hoặc tiềm thức vào biểu lộ vật chất gây ra nhiều chứng bệnh như vậy. Người ta đã nhiều lần phát hiện rằng những bệnh tâm thể này thường do một lời nhận xét bâng quơ nói với một đứa trẻ còn quá nhạy cảm khiến nó phản ứng ở tầng tiềm thức, và kết quả là cả một đời bất tiện, nếu không muốn nói là bệnh tật.

But at any age it is surprisingly easy to fall prey to a suggestion of the unpleasant circumstance linking a certain food, smell, plant or other contact, and quite without conscious volition we are landed with a mysteriously occurring migraine, or a rash, or worse, a refusal of some organ, nerve or muscle to co-operate normally. This is hypnosis in reverse and treatment by hypnosis used in an eliminating treatment can cure the subconscious cause in most cases.

Nhưng ở bất cứ tuổi nào, người ta cũng rất dễ dàng rơi vào bẫy của một gợi ý về trải nghiệm khó chịu gắn với một loại thức ăn, mùi, cây cỏ hay tiếp xúc nào đó, và hoàn toàn không do chủ ý có ý thức, chúng ta bỗng mắc một cơn đau nửa đầu bí ẩn, hoặc nổi ban, hay tệ hơn, một cơ quan, thần kinh hay bắp thịt nào đó từ chối hợp tác bình thường. Đây là thôi miên theo chiều ngược và trị liệu bằng thôi miên, dùng theo hướng loại trừ, có thể chữa nguyên nhân tiềm thức trong phần lớn trường hợp.

Our nervous system acts without our conscious control. It is an enormous relief to us not to have to remember to breathe, nor to keep our hearts pumping, nor to consciously order our leg muscle to lift the ankle and foot every time we take a step. But it would certainly be a tremendous help to us if we learnt to issue 'orders' now and then to eliminate or promote a desired condition. Hypnosis under the auspices of a skilled practitioner, or properly taught self-hypnosis, could avert many a condition of dis-ease before it took a serious hold on the sufferer, since the earliest symptoms could be dealt with at once before a penetrating diagnosis was necessary.

Hệ thần kinh của chúng ta hoạt động ngoài sự kiểm soát có ý thức của ta. Đó là một sự nhẹ nhõm to lớn khi ta không phải nhớ để thở, hay giữ cho tim đập, hay phải ra lệnh có ý thức cho bắp chân nhấc mắt cá và bàn chân lên mỗi lần ta bước đi. Tuy vậy, sẽ là một trợ giúp to lớn nếu ta học cách ban phát ‘mệnh lệnh’ thỉnh thoảng để loại bỏ hay thúc đẩy một tình trạng mong muốn. Thôi miên dưới sự bảo trợ của một người hành nghề thành thạo, hoặc tự thôi miên được dạy đúng cách, có thể ngăn chặn nhiều tình trạng bất-an bệnh lý trước khi nó bám rễ nghiêm trọng vào người bệnh, vì các triệu chứng sớm nhất có thể được xử lý ngay lập tức trước khi cần tới một chẩn đoán thấu suốt.

Auto-suggestion and hypnosis are closely linked, and hard to define separately. There are many people who would find it very difficult to hypnotise themselves and accept autosuggestion. Skilled diagnosis apart, this power latent in man to change his own condition at will meets much resistance within man himself. He has the whole of his buried subconscious to combat and unless he 'knows himself' and can come face to face with his many selves without fear or prejudice, he might do better to seek an experienced practitioner.

Tự gợi ý và thôi miên liên kết chặt chẽ, và khó mà định nghĩa tách rời. Có nhiều người sẽ thấy rất khó thôi miên chính mình và chấp nhận tự gợi ý. Bỏ qua phần chẩn đoán tinh vi, quyền năng tiềm ẩn nơi con người để chuyển đổi tình trạng của chính mình theo ý muốn gặp phải nhiều lực cản ngay trong bản thân y. Y có cả một phần tiềm thức bị chôn vùi phải đối đầu và trừ khi y ‘biết mình’ và có thể đương đầu với các “bản ngã” của mình không sợ hãi hay thành kiến, y có lẽ nên tìm đến một người hành nghề nhiều kinh nghiệm.

It is asserted that no one can succumb to hypnosis without being willing to do so and that it is in no way a relinquishing of the personality to another. Be this as it may, hypnosis is not given full approval by occultists of a high order. Both H.P. Blavatsky and the Tibetan, known as D.K., warned of the dangers inherent in the practitioner and patient relationship and further stated that there was no use for hypnosis in the spiritual development of the disciple.

Người ta khẳng định rằng không ai có thể rơi vào thôi miên nếu không sẵn lòng và rằng điều đó không hề là việc trao nộp phàm ngã cho một người khác. Dù thế nào, thôi miên không được các nhà huyền bí học bậc cao hoàn toàn chấp thuận. Cả Bà H. P. Blavatsky và Chân sư Tây Tạng, được biết là Chân sư DK, đều cảnh báo về các nguy hiểm tiềm ẩn trong mối quan hệ giữa người hành nghề và bệnh nhân, và còn nói thêm rằng thôi miên không có chỗ dùng trong phát triển tinh thần của người đệ tử.

Medical Use of Hypnosis—Ứng dụng Y khoa của Thôi miên

Research into the medical use of hypnosis continues and at the American Society for Clinical Hypnosis, where only professional people of integrity and holding a doctorate 'degree are accepted, Dr Raymond LaScola used hypnosis for memory recall. 'The mind remembers everything,' he says, 'and it is all accessible under hypnosis.' He uses hypnosis to memorise musical works and has helped witnesses to recall vital details of a crime.

Nghiên cứu về ứng dụng y khoa của thôi miên vẫn tiếp tục và tại Hiệp hội Mỹ về Thôi miên Lâm sàng, nơi chỉ chấp nhận những người chuyên nghiệp có nhân cách liêm chính và có học vị tiến sĩ, Bác sĩ Raymond LaScola dùng thôi miên để gợi lại ký ức. ‘Thể trí ghi nhớ mọi thứ,’ Ông nói, ‘và tất cả đều có thể truy cập dưới thôi miên.’ Ông dùng thôi miên để ghi nhớ những tác phẩm âm nhạc và đã giúp nhân chứng nhớ lại các chi tiết sống còn của một vụ án.

He has found that people can experience total recall of all details of an event in a way that is not possible for the conscious mind even to begin to visualise from memory. But under hypnosis such details can be regained from the subconscious mind, which absorbed the details without the conscious mind being able to relate to conscious thought at the time.

Ông đã phát hiện rằng con người có thể trải nghiệm hồi tưởng toàn bộ mọi chi tiết của một biến cố theo một cách mà thể trí có ý thức thậm chí không thể khởi sự hình dung từ trí nhớ. Nhưng dưới thôi miên, các chi tiết như vậy có thể được phục hồi từ thể trí tiềm thức, thể trí đã hấp thu các chi tiết mà thể trí có ý thức lúc bấy giờ không thể liên hệ đến tư tưởng có ý thức.

There are many instances where hypnosis has been used beneficially to relax in times of stress and as a preparation for an ordeal such as a critical operation, and for calming the nerves before an interview, an examination at university or school, or for facing a personal dread such as an aeroplane flight or a visit to the dentist. Dependence on this practice as an external help could become similar to that of a pep drug or tranquilliser, without the side effects. Skilled tuition in its use is needed, so that the patient can derive self-confidence in the powers of his mind to overcome obstacles through the use of self-suggestion and therefore augment his latent talents, rather than use the process as a crutch to lean on when the will is weak.

Có nhiều trường hợp thôi miên đã được dùng có lợi để thư giãn trong thời kỳ căng thẳng và như một cách chuẩn bị cho một thử thách như một ca phẫu thuật nguy kịch, cũng như để trấn tĩnh thần kinh trước một cuộc phỏng vấn, một kỳ thi ở đại học hay nhà trường, hoặc để đối diện một nỗi dread cá nhân như một chuyến bay hay một cuộc thăm khám nha sĩ. Lệ thuộc vào thực hành này như một trợ giúp bên ngoài có thể trở nên tương tự với việc dùng thuốc kích thích hay thuốc an thần, nhưng không có tác dụng phụ. Cần có sự hướng dẫn thành thạo về việc sử dụng, để bệnh nhân có thể thu nhận được tự tin vào quyền năng của thể trí mình nhằm vượt chướng ngại qua tự gợi ý và do đó phát huy thêm các tài năng tiềm tàng, hơn là dùng tiến trình này như một cái nạng để tựa khi ý chí yếu ớt.

Unwanted Habits—Thói quen Không mong muốn

Hypnosis can be used as an adjunct of the power of the will and mind to achieve and as a clearing agent of unnecessary fears and psychological warps which prevent successful performance. It may also be employed to dissociate from pain, depending on the individual's ability to go into deep hypnosis. As a persuader to stop smoking, over-eating and other unwanted habits, it can become a weapon of conscious control over our own wayward, mind-emotional-physical bodies.

Thôi miên có thể được dùng như một trợ lực của quyền năng ý chí và thể trí để đạt thành tựu, và như một tác nhân gột sạch những sợ hãi không cần thiết và những lệch lạc tâm lý vốn cản trở sự thể hiện thành công. Nó cũng có thể được dùng để tách rời khỏi cảm giác đau, tuỳ theo khả năng của cá nhân trong việc đi vào trạng thái thôi miên sâu. Như một phương tiện thuyết phục để ngừng hút thuốc, ăn quá độ và các thói quen không mong muốn khác, nó có thể trở thành một khí giới kiểm soát có ý thức đối với các thân thể ngang ngạnh của chính chúng ta ở ba phương diện: thể trí—cảm xúc—thể xác.

Moreover hypnosis provides a path to relaxation, with a repetitive formula which the body learns to adapt to with ease and speed, so that total relaxation can soon be obtained in the space of a second or two at most.

Hơn nữa, thôi miên cung cấp một con đường dẫn tới thư giãn, với một công thức lặp lại mà thân thể học cách thích nghi một cách dễ dàng và nhanh chóng, đến nỗi sự thư giãn toàn diện có thể đạt được chỉ trong một hai giây là cùng.

Danger Point—Điểm Nguy hiểm

With hypnosis it is possible to explore the memory, the subconscious, the unconscious—and beyond. But this is the danger point, when an experienced guide or partner must be in control to keep the experience of the explorer within the bounds of balance and safety. As an example of this, it may be remembered by some that a television show displayed an experienced hypnotist who had been able to take many of his patients into their past lives, or so it seemed. Some of these people were in a dramatic situation where it seemed they were about to lose their lives in one way or another and the hypnotist quickly brought each one back to the present 'waking' life. Even so, it took a few minutes for one or two of them to get themselves fully recovered from the sensation of drowning, stabbing or whatever death they had been about to undergo.

Với thôi miên, có thể thám sát ký ức, tiềm thức, vô thức—và vượt xa hơn. Nhưng đây là điểm nguy hiểm, khi một người hướng dẫn hay bạn đồng hành dày dạn kinh nghiệm phải giữ vai trò kiểm soát để giữ trải nghiệm của người thám hiểm trong giới hạn của thăng bằng và an toàn. Là một ví dụ, có người hẳn còn nhớ một chương trình truyền hình giới thiệu một nhà thôi miên giàu kinh nghiệm, người có thể đưa nhiều bệnh nhân của mình trở về các tiền kiếp, hay dường như thế. Một số người trong đó đang ở trong một tình huống kịch tính mà dường như họ sắp mất mạng theo cách này hay cách khác, và nhà thôi miên lập tức đưa từng người trở về đời sống ‘tỉnh’ hiện tại. Dù vậy, vẫn mất vài phút để một hai người trong họ phục hồi hoàn toàn khỏi cảm giác bị chết đuối, bị đâm chém hay bất kỳ cái chết nào mà họ sắp trải qua.

Since time immemorial hypnotism has been practised consciously or unconsciously. Priests and witch doctors, rabble rousers and quack medicine promoters, orators and men with a mission, and many other sorts of persuaders have put this power to use for their own ends, good or bad. Now that the scientist has at last decided to 'measure' it, the use of hypnotism and its effects will become widely understood and, since people will become more aware of its usage, wise discrimination as to the purpose to which it is to be put may prevail.

Từ thuở hồng hoang, thuật thôi miên đã được thực hành, một cách có ý thức hay vô thức. Tư tế và phù thủy, kẻ kích động đám đông và những kẻ bán thuốc dỏm, diễn giả và những người ôm một sứ mệnh, cùng nhiều dạng người thuyết phục khác đã đem quyền năng này ra sử dụng cho mục đích riêng, thiện hay ác. Nay khi nhà khoa học cuối cùng đã quyết định ‘đo đạc’ nó, việc sử dụng thuật thôi miên và ảnh hưởng của nó sẽ trở nên được thấu hiểu rộng rãi, và vì con người sẽ trở nên ý thức hơn về việc nó được dùng, sự phân biện khôn ngoan đối với mục đích mà nó được đem ra sử dụng có thể sẽ thắng thế.

Chapter 13-Chương 13

Psychokinesis—Tâm động lực

The ability to control and move objects has had much publicity in recent times with Yuri Geller and Nilya Mikhailova demonstrating their gifts and subjecting themselves to stringent laboratory tests. There is no doubt that there is a power in the mind of man to organise the movement of others.

Khả năng kiểm soát và di chuyển vật thể được nhắc tới rất nhiều gần đây, với Yuri Geller và Nilya Mikhailova biểu lộ các ân tứ của họ và chấp nhận các thử nghiệm phòng thí nghiệm nghiêm ngặt. Không thể hồ nghi rằng có một quyền năng trong thể trí con người để tổ chức sự chuyển động của vật thể.

So much has now been written about the subject, so many opportunities has the public been given to observe these talents for bending or moving objects without any apparent material assistance, that the question is being asked: 'Well, why do we' want these objects to be bent, broken, mended or moved anyway?'

Đã có quá nhiều điều được viết về chủ đề này, công chúng đã được cho thấy quá nhiều dịp quan sát các tài năng bẻ cong hay di chuyển vật thể mà không có trợ lực vật chất hiển lộ, đến mức câu hỏi được nêu ra: ‘Thế, rốt cuộc tại sao chúng ta lại muốn mấy vật ấy bị bẻ cong, bẻ gãy, hàn gắn hay di chuyển cơ chứ?’

We are in danger of forgetting the momentous fact that it is something within the person that is performing these feats and therefore it is a power we should know more about and perhaps discover how to put to greater and better use.

Chúng ta có nguy cơ quên mất sự kiện hệ trọng rằng có một cái gì đó bên trong con người đang thực hiện những kỳ tích đó, và vì thế đó là một quyền năng mà chúng ta nên hiểu biết nhiều hơn và có lẽ học cách đem ra sử dụng lớn lao và tốt đẹp hơn.

Since prehistoric times we have progressed in learning how to move objects, from rolling a heavy stone using a strong tree-branch as a lever to shooting capsules off to the moon or speeding ever faster by air travel from one bit of earth land to another. We have learnt the laws governing many forms of movement. The law or laws governing the movement of objects by the mind, or by what some would like to call 'psychic power' who can use the talent without knowing 'how it is done'.

Từ thời tiền sử, chúng ta đã tiến bộ trong việc học cách di chuyển vật thể, từ việc lăn một tảng đá nặng bằng cách dùng một cành cây chắc làm đòn bẩy đến việc bắn các con thoi lên mặt trăng hoặc du hành ngày càng nhanh bằng đường không từ phần đất này sang phần đất khác. Chúng ta đã học được các định luật cai quản nhiều dạng chuyển động. Các định luật cai quản việc chuyển động vật thể bằng thể trí, hay bằng điều mà một số người muốn gọi là ‘năng lực thông linh’—những người có thể sử dụng tài năng mà không biết ‘làm sao nó xảy ra’.

Controlling Electrons—Kiểm soát Điện tử

Cold calculating scientists are now hot on the trail. One of the first and least likely experiments was the trial carried out by Herr Schmidt while working for the Boeing Company. He suspected that certain people. could control the flow of electrons in an electronic system. With the apparatus at his disposal and a number of scientifically-minded people he was able to set up highly technically contrived and controlled scientific tests which proved that some people could control the flow of electrons and probably many more might develop the ability, were they aware of it. He concluded that psychokinesis was as natural a phenomenon as electricity, merely awaiting the exploration of its laws, just as the phenomenon of electricity, around since the world began, awaited its discovery and knowledge of its laws of operation. A great deal about electricity still awaits discovery, as the Tibetan states in A Treatise on Cosmic Fire, but that does not preclude our making very satisfactory use of those of its qualities which we do understand and control.

Những nhà khoa học lạnh lùng tính toán giờ đây đang ráo riết lần theo dấu vết. Một trong những thí nghiệm đầu tiên và có vẻ ít khả dĩ nhất là thử nghiệm do Herr Schmidt thực hiện khi làm việc cho Hãng Boeing. Ông nghi rằng một số người có thể kiểm soát dòng điện tử trong một hệ thống điện tử. Với thiết bị sẵn có và một số người có tư duy khoa học, Ông đã có thể thiết lập những thử nghiệm khoa học được cấu trúc và kiểm soát cao độ về mặt kỹ thuật, chứng minh rằng một số người có thể kiểm soát dòng điện tử, và rất có thể nhiều người nữa có thể phát triển khả năng này nếu họ ý thức về nó. Ông kết luận rằng tâm động lực là một hiện tượng tự nhiên như điện, chỉ đang chờ được thám hiểm các định luật của nó, y như hiện tượng điện, vốn tồn tại từ khi thế giới bắt đầu, đã chờ được phát hiện và hiểu biết các định luật vận hành của nó. Còn rất nhiều điều về điện vẫn đang chờ phát hiện, như Chân sư Tây Tạng dạy trong Luận về Lửa Vũ Trụ, nhưng điều đó không ngăn cản chúng ta sử dụng rất thỏa đáng những phẩm tính của điện mà chúng ta hiểu và kiểm soát được.

As Adrian V. Clark in his book Psychokinesis points out, we already move molecules every time we move a muscle, but we do not do this consciously; with these molecules there is the process of force needed to trigger off the movement through electric signals. It has been discovered that elements called photons are released at the moment of movement and this causes a recoil in- the molecule and so it, with all its companions, moves the muscle. Clark posits the theory that photons may be a clue to the psychokinetic form of movement. Since the mind radiates measurable waves, the power to focus and control these waves will be easy when laws of nature not yet discovered are known.

Như Adrian V. Clark nêu trong cuốn sách Psychokinesis, chúng ta đã di chuyển các phân tử mỗi lần ta cử động bắp thịt, nhưng ta không làm điều này một cách có ý thức; với các phân tử này, có một tiến trình lực cần thiết để kích hoạt chuyển động qua các tín hiệu điện. Người ta đã phát hiện rằng những phần tử gọi là photon được phóng thích vào khoảnh khắc cử động, và điều này gây phản lực ở phân tử, khiến nó cùng với mọi bạn đồng hành chuyển động bắp thịt. Clark nêu giả thuyết rằng photon có thể là manh mối cho dạng chuyển động tâm động lực. Vì thể trí phát xạ những làn sóng đo được, quyền năng tập trung và kiểm soát các làn sóng này sẽ trở nên dễ dàng khi các định luật của thiên nhiên, vốn chưa được khám phá, trở nên được biết.

The Fantastic Mrs. Mikhailova—Bà Mikhailova Phi thường

Mrs Mikhailova, and indeed 'the dependable Yuri Geller, often find they perform their feats in a spontaneous way, almost without intention and yet at other times, and especially under gruelling test conditions, intense effort is needed. The fantastic Mrs Mikhailova has divided the white from the yolk of an egg and divided smoke sealed in a jar. Professor Rhine, famous for his many and varied ESP tests, was told of a gambler who 'knew' when he would be able to control the fall of the dice. When put under laboratory tests he still succeeded and Professor Rhine and some companions also tried to get similar results and succeeded beyond the bounds of mere chance. A school-boy in Germany could control or predict the fall of a tossed coin thousands of times.

Bà Mikhailova, và quả thật là ‘Yuri Geller đáng tin cậy’, thường thấy rằng họ biểu diễn những kỳ tích một cách tự phát, hầu như không chủ ý, nhưng lúc khác, và đặc biệt dưới các điều kiện kiểm tra nghiệt ngã, lại cần nỗ lực mãnh liệt. Bà Mikhailova phi thường đã tách lòng trắng khỏi lòng đỏ trứng và tách khói bị niêm kín trong lọ. Giáo sư Rhine, nổi tiếng với nhiều thử nghiệm tri giác ngoại cảm đa dạng, được kể về một tay cờ bạc ‘biết’ khi nào mình có thể kiểm soát kết quả gieo xúc xắc. Khi đưa vào thử nghiệm phòng thí nghiệm, anh ta vẫn thành công, và Giáo sư Rhine cùng vài cộng sự cũng thử đạt kết quả tương tự và thành công vượt quá giới hạn của ngẫu nhiên. Một cậu học sinh ở Đức có thể kiểm soát hoặc dự đoán mặt sấp ngửa của đồng xu tung lên hàng ngàn lần.

Blinking lights have been tried on a random principle and Professor Beloff used the emission of radio-active particles in a particular metal as a method of discovering if molecules could be controlled. The emission of the particles from the radio-active source were measured by a Geiger counter and the two school-boys asked to take part were able to slow down or accelerate the emission, with a score of a billion to one against chance. It seems that the activity does take effect at this fine sub-atomic level. In fact, there is a possibility that fine waves from the mind-matter of man can relate to fine waves in the object to which the waves are directed, on an electro-magnetic plane perhaps.

Các đèn nhấp nháy đã được thử trên nguyên tắc ngẫu nhiên và Giáo sư Beloff dùng sự phát xạ các hạt phóng xạ trong một kim loại đặc thù như một phương tiện khám phá xem các phân tử có thể bị kiểm soát không. Sự phát xạ các hạt từ nguồn phóng xạ được đo bằng ống đếm Geiger và hai cậu học sinh được mời tham gia đã có thể làm chậm lại hoặc tăng tốc độ phát xạ, với tỷ số một tỉ ăn một chống lại ngẫu nhiên. Có vẻ như hoạt động diễn ra ở cấp độ vi tế dưới nguyên tử này. Thực vậy, có khả năng là các làn sóng vi tế từ vật-chất-thể-trí của con người có thể liên hệ với các làn sóng vi tế trong vật thể được hướng tới, có lẽ trên một bình diện điện-từ.

We are on the brink of exploration into the planes of existence beyond those of man known as solid liquid and gaseous; into the ionic, the planes and sub-planes of the etheric, and further still into the higher astral and mental planes, where man could consciously operate if only he knew the laws.

Chúng ta đang ở ngưỡng cửa của việc thám hiểm các cõi tồn tại vượt quá những cõi của con người vốn được biết như rắn, lỏng và khí; vào miền ion, các cõi và cõi phụ của dĩ thái, và còn xa hơn nữa vào các cõi cảm dục cao và cõi trí, nơi con người có thể vận hành một cách có ý thức nếu y biết các định luật.

Bio-Magnetism—Sinh Từ học

While we await the full discovery of man's latent powers, the field of healing has gone well ahead. The power to use the body as a channel for healing power to flow through to the patient is now widely practised.

Trong khi chúng ta chờ đợi sự khám phá đầy đủ các quyền năng tiềm ẩn của con người, lĩnh vực chữa lành đã tiến khá xa. Quyền năng dùng thân thể như một kênh cho năng lực chữa lành tuôn qua đến bệnh nhân nay được thực hành rộng rãi.

Parallel with this runs the young science of bio-magnetism. This is a technique very similar in its application to that of the healing power manifested by the healer who projects the healing power through his hands, by spoken word, through the magnetism of his eyes, or by projected thought or prayer.

Song hành với điều này là ngành khoa học non trẻ về sinh từ học. Đây là một kỹ thuật rất tương tự trong ứng dụng với việc biểu hiện quyền năng chữa lành bởi người chữa lành, người phóng chiếu năng lực chữa lành qua đôi tay, qua lời nói, qua từ điện nơi đôi mắt, hoặc bằng tư tưởng phóng chiếu hay lời cầu nguyện.

Linked with several avenues of research, the writer has delved deeply into the possibilities of transmitting the healing power of the electro-magnetic fields.

Kết nối với nhiều hướng nghiên cứu, người viết đã đào sâu vào các khả thể truyền dẫn quyền năng chữa lành của các trường điện từ.

The great advantage of this means of transmission is that the healer is then released from excessive pressure caused by the highly individual attention he has to give to each patient and a machine can take over, quite possibly on almost the same level as that required for routine treatments of cases.

Ưu thế lớn của phương tiện truyền dẫn này là người chữa lành được giải phóng khỏi áp lực quá mức do sự chú tâm mang tính cá nhân rất cao mà y phải dành cho từng bệnh nhân, và một cỗ máy có thể tiếp quản, rất có thể ở mức độ gần như tương tự như mức cần cho các ca điều trị thường quy.

Chapter 14-Chương 14

Magnetism: Energy Behind the Powers-Từ điện: Năng lượng Ở sau các Quyền năng

Magnetism—Từ điệnMagnetism is the beloved of the gods. For centuries it was known to the initiate few that magnetism was the energy which, more than any other, lay at the basis of the human aura from which, we have seen, there arise the powers latent in man.

Từ điện là điều chư thần ưu ái. Trong nhiều thế kỷ, số ít các vị nhập môn đã biết rằng từ điện là năng lượng, hơn bất cứ năng lượng nào khác, nằm ở nền tảng của hào quang con người, từ đó, như chúng ta đã thấy, nảy sinh những quyền năng tiềm ẩn nơi con người.

With this in mind, I undertook a course of study of 'The History of Medicine' at Sheffield University and later published my paper there, The Staff and Serpent of Aesculapius. I was much impressed, during my researches into the history of medicine, by the frequent mention of magnetism used as a therapy in ancient temples and down through the ages.

Với điều này trong tâm, tôi đã theo học một khóa ‘Lịch sử Y học’ tại Đại học Sheffield và sau đó công bố bài khảo cứu của tôi ở đó, Cây Gậy và Con Rắn của Aesculapius. Tôi rất ấn tượng, trong khi khảo cứu lịch sử y học, bởi những lần nhắc đến thường xuyên việc dùng từ điện như một liệu pháp trong các đền đài thời cổ và xuyên suốt các thời đại.

When I left medical school, I teamed up with George de la Warr and with the assistance of his extraordinary genius for instrumentation to measure the subtlest of energies, we were able to measure the effects of weak magnetic fields on the human body and psyche.

Khi rời trường y, tôi cộng tác với George de la Warr, và với sự trợ giúp thiên tài phi thường của Ông về thiết bị đo các năng lượng vi tế nhất, chúng tôi có thể đo được các hiệu ứng của những trường từ yếu lên cơ thể và tâm lý con người.

Our work was jointly published in the book Biomagnetism in 1967, now out of print. We were able to observe the effects.of magnets brought near the human body and later did considerable research to show that pulsating magnetic fields of low strength are able to affect the body chemistry of man.

Công trình của chúng tôi được xuất bản chung trong cuốn Biomagnetism năm 1967, nay đã hết lưu hành. Chúng tôi quan sát được các hiệu ứng của nam châm đưa lại gần cơ thể con người và về sau đã tiến hành nghiên cứu đáng kể cho thấy rằng các trường từ dao động cường độ thấp có khả năng ảnh hưởng tới hoá sinh học của con người.

The level of blood cholesterol, the pressure of the blood, its sedimentation rate, etc., were all powerfully affected by magnetic fields. We were then able to use magnetism in the treatment of a variety of complaints, including rheumatoid arthritis, hypertension, acne vulgaris, eczema, etc.

Mức cholesterol trong máu, huyết áp, tốc độ lắng, v.v., đều bị ảnh hưởng mạnh bởi các trường từ. Chúng tôi sau đó đã có thể sử dụng từ điện trong điều trị một loạt than phiền, gồm viêm khớp dạng thấp, tăng huyết áp, trứng cá thường, chàm, v.v.

Later, we discovered some of the many effects of magnetism on man's subtler bodies and at this time the writer is still actively engaged in research in this field. The numerous magnetic effects on man must inevitably confirm the teachings f the ages, that man's aura is magnetic. The chapters that follow demonstrate with impressive evidence the multiple effects of magnetism of weak strength on man and his aura.

Về sau, chúng tôi khám phá một số trong rất nhiều hiệu ứng của từ điện lên các thể vi tế hơn của con người, và vào thời điểm này người viết vẫn đang tích cực nghiên cứu trong lĩnh vực này. Nhiều hiệu ứng từ điện lên con người tất yếu sẽ xác nhận giáo huấn của muôn đời, rằng hào quang con người là từ điện. Những chương sau đây trình bày với bằng chứng ấn tượng các hiệu ứng đa dạng của từ điện yếu lên con người và hào quang của y.

Chapter 15-Chương 15

Biomagnetic Healing—Chữa lành Sinh Từ

Chances are that in the very near future the ultimate cure for cancer will consist' of something as simple as exposure to a magnetic field while breathing negatively charged ions. Even with weak electric currents, severe wounds and broken bones are now being healed three to five times faster than by the body's normal regenerative processes.

Rất có thể trong tương lai rất gần, phương cách chữa ung thư sau cùng sẽ bao gồm một điều đơn giản như tiếp xúc với trường từ trong khi hít thở các ion mang điện âm. Ngay cả với các dòng điện yếu, các vết thương nặng và xương gãy nay đang được chữa lành nhanh gấp ba đến năm lần so với tiến trình tái sinh bình thường của cơ thể.

Halting the ravages of age or regrowing amputated arms and legs with small electrical charges may sound like fantasy or science fiction, but such things are definitely on the way. In fact, much of the foregoing has already been partially successful on laboratory test animals.

Chặn đứng sự tàn phá của tuổi tác hay tái sinh các cánh tay và chân bị cắt cụt bằng các điện tích nhỏ nghe có vẻ là chuyện hoang tưởng hay khoa học viễn tưởng, nhưng những điều như vậy chắc chắn đang trên đường đến. Thực tế, phần nhiều điều nói trên đã phần nào thành công trên các động vật thử nghiệm trong phòng thí nghiệm.

Virtually none of man's ailments are immune to the beneficial effects of electromagnetic fields. According to a growing body of scientific evidence that has emerged during the past decade, there are no known adverse side effects from exposure to magnetic fields, however strong they may be. Conversely, it is known that any living entity which is deprived of even the earth's relatively weak magnetic field for prolonged periods will suffer complex, distressing illness—and will eventually die!

Hầu như không có bệnh tật nào của con người miễn nhiễm với các hiệu ứng có lợi của các trường điện từ. Theo một khối lượng bằng chứng khoa học đang tăng trưởng trong thập kỷ qua, không có tác dụng phụ bất lợi nào được biết đến do tiếp xúc với các trường từ, dù chúng mạnh đến đâu. Ngược lại, người ta biết rằng bất kỳ sinh thể nào bị tước đoạt ngay cả trường từ tương đối yếu của Trái Đất trong một thời gian dài sẽ mắc các chứng bệnh phức tạp, gây khổ sở—và cuối cùng sẽ chết!

Nearly every known mass extinction of earthly life (including that of dinosaurs) occurred during the geological past in periods of geomagnetic reversal. The evidence for the connection is now so solidly established that just about every expert in paleomagnetism has accepted it.

Gần như mọi đợt tuyệt chủng hàng loạt của sự sống trên Trái Đất (kể cả loài khủng long) xảy ra trong quá khứ địa chất đều diễn ra vào những thời kỳ đảo cực địa từ. Bằng chứng cho mối liên hệ này hiện được xác lập vững vàng đến nỗi hầu như mọi chuyên gia về cổ từ học đều chấp nhận nó.

When the human biomagnetic field was first mapped out in 1962 by Dr Robert O. Becker at New York's Upstate Medical Centre in Syracuse, it signalled the first combined reevaluation of medicine and psychiatry! In series after series of specialized experiments, the evidence compiled by Dr Becker and his colleagues, Dr Charles Bachman and Professor Howard Friedman, insistently inferred that magnetism was in fact the very key to the Secret of Life!

Khi trường sinh từ của con người lần đầu tiên được lập bản đồ vào năm 1962 bởi Tiến sĩ Robert O. Becker tại Trung tâm Y khoa Upstate của New York ở Syracuse, đó là tín hiệu đầu tiên cho một cuộc đánh giá lại kết hợp cả y học và tâm thần học! Qua hết loạt thử nghiệm chuyên biệt này đến loạt khác, bằng chứng do Tiến sĩ Becker và các đồng sự của Ông, Tiến sĩ Charles Bachman và Giáo sư Howard Friedman, tích lũy đã liên tục hàm ý rằng từ điện thực ra chính là chìa khóa cho Bí mật của Sự Sống!

First Recorded Healing—Ca Chữa lành Ghi nhận Đầu tiên

Becker is the guiding genius behind the first widely announced success of biomagnetic healing. A team of surgeons at the University of Pennsylvania Medical School vindicated Becker with the first recorded electromagnetic healing of a serious human fracture. The patient, a 51-year-old woman, suffered a cracked ankle bone that refused to heal during a two-year period. Under a contract from the Office of Naval Research, the Medical School developed a small skin-implanted power pack which effectively resolved the problem of delivering a constant current to the bone despite steadily increasing tissue resistance.

Becker là trí tuệ hướng đạo phía sau thành công được công bố rộng rãi đầu tiên của chữa lành sinh từ. Một nhóm phẫu thuật tại Trường Y Đại học Pennsylvania đã xác tín Becker bằng ca chữa lành bằng điện từ đầu tiên cho một vết gãy xương nghiêm trọng ở người. Bệnh nhân, một phụ nữ 51 tuổi, bị nứt xương cổ chân không chịu lành trong suốt hai năm. Theo một hợp đồng với Office of Naval Research, Trường Y đã phát triển một bộ nguồn nhỏ cấy dưới da, giải quyết một cách hữu hiệu vấn đề cung cấp dòng điện hằng định đến xương dù sức kháng của mô tăng dần.

The team, headed by Drs Carl Brighton and Zachary Friedenberg, inserted the negative pole of the circuit (the cathode) at the point of the fracture; the anode was taped to the skin nearby. A small cast was wrapped around her ankle and the power source—a small battery pack about the size of a penny, with resistors and field-effect transistors—was taped to the cast. This pack supplied a constant 10 micro-ampere current to the fracture area twenty-four hours a day for nine weeks until X-rays showed that the break was fully healed. The technique is now being widely studied and used on other patients with fractures that stubbornly refuse to heal on schedule.

Nhóm, do các Bác sĩ Carl Brighton và Zachary Friedenberg phụ trách, đã cắm cực âm của mạch (catot) tại điểm gãy; cực dương dán lên da gần đó. Một chiếc bột nhỏ quấn quanh cổ chân và bộ nguồn—một gói pin nhỏ cỡ đồng xu, với các điện trở và transistor hiệu ứng trường—được dán vào lớp bột. Bộ này cung cấp một dòng hằng 10 vi ampe tới vùng gãy xương suốt hai mươi bốn giờ mỗi ngày trong chín tuần, cho tới khi phim X-quang cho thấy chỗ gãy đã lành hoàn toàn. Kỹ thuật này nay đang được nghiên cứu rộng rãi và dùng cho các bệnh nhân khác có xương gãy ngoan cố không chịu lành theo lịch trình.

Becker and his colleagues have long known that the biomagnetic field at the front of the brain is negative, and that it is positive at the back of the brain centring on the brainstem leading to the central nervous system. During early experiments he found that by suddenly reversing this polarity in test animals they were rendered unconscious. Along with other reactions, this led to the conclusion that by enhancing the natural bio-electrical field, the healing of open wounds and broken bones could be enormously speeded up.

Becker và các đồng sự từ lâu đã biết rằng trường sinh từ ở phía trước não là âm, và ở phía sau não, tập trung vào thân não dẫn vào hệ thần kinh trung ương, là dương. Trong các thử nghiệm sớm, Ông nhận thấy rằng bằng cách đảo cực đột ngột như vậy ở động vật thử nghiệm, chúng rơi vào trạng thái bất tỉnh. Cùng với các phản ứng khác, điều này dẫn đến kết luận rằng bằng cách tăng cường trường điện sinh học tự nhiên, sự chữa lành các vết thương hở và xương gãy có thể được gia tốc mạnh mẽ.

Such amazing results attributed to the effects of magnetism on the human body have intrigued great minds since ancient times. As a general rule, however, medical men seem to play down the most important and interesting claims made for electromagnetic therapy.

Những kết quả kinh ngạc như vậy, được cho là do các hiệu ứng của từ điện lên cơ thể con người, đã lôi cuốn những trí tuệ lớn từ thời cổ đại. Tuy nhiên, như một quy luật chung, giới y khoa dường như hạ thấp những tuyên bố quan trọng và thú vị nhất dành cho liệu pháp điện từ.

According to a spokesman for the American Medical Association: 'Thousands of sick people could be victimized by false hopes raised by these stories of nonexistent miracle cures. It's still a very new field.'

Theo một người phát ngôn của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ: ‘Hàng ngàn người bệnh có thể trở thành nạn nhân của những hy vọng hão huyền do các câu chuyện về các phép chữa kỳ diệu vốn không hề tồn tại này thổi phồng. Đây vẫn là một lĩnh vực còn rất mới.’

Effect on Cancer Patients—Tác dụng trên Bệnh nhân Ung thư

My personal observation and experience, however, is that magnetic fields can be extremely effective and very beneficial. I had a ten-year case of chronic bursitis relieved by a few brief exposures to a strong magnetic field. Before he formed The Institute for Biomagnetics, New York's Dr Kenneth S. MacLean spent years exposing experimental animals to varying intensities of magnetism generated by heavy-duty electrical coils. He experimented on himself by spending hundreds of hours sleeping and working in a 3,600 gauss magnetic field.

Quan sát và trải nghiệm cá nhân của tôi, tuy vậy, là các trường từ có thể cực kỳ hiệu quả và rất có lợi. Tôi từng bị viêm bao hoạt dịch mạn tính suốt mười năm và được giảm nhẹ nhờ chỉ vài lần tiếp xúc ngắn với một trường từ mạnh. Trước khi thành lập Viện Sinh Từ học, Bác sĩ Kenneth S. MacLean ở New York đã bỏ ra nhiều năm để cho động vật thí nghiệm tiếp xúc với các cường độ từ khác nhau do các cuộn dây điện công suất lớn tạo ra. Ông đã tự làm thí nghiệm trên chính mình bằng cách dành hàng trăm giờ để ngủ và làm việc trong một trường từ 3.600 gauss.

Afterwards, MacLean cautiously began to accept cancer patients considered to be 'hopeless' by other doctors. He exposed these terminal sufferers to an average of ten magnetic treatments each. By carefully studying their microscopic cellular changes under strict laboratory control conditions, he concluded that exposure to strong magnetic fields was beneficial in virtually every case and harmful in none. His patients reacted so favourably—in some cases becoming totally pain free (although the treatment was not a cure)—that he was encouraged to expand his electromagnetic treatments.

Sau đó, MacLean thận trọng bắt đầu nhận những bệnh nhân ung thư bị các bác sĩ khác xem là “vô vọng”. Ông cho các bệnh nhân giai đoạn cuối này tiếp xúc trung bình mười liệu trình từ trường mỗi người. Bằng cách cẩn thận nghiên cứu những biến đổi vi thể của tế bào dưới các điều kiện kiểm soát nghiêm ngặt trong phòng thí nghiệm, ông kết luận rằng tiếp xúc với từ trường mạnh có lợi trong hầu như mọi trường hợp và không gây hại trong trường hợp nào. Bệnh nhân của ông đáp ứng rất thuận lợi—trong vài trường hợp hoàn toàn hết đau (dù liệu trình không phải là cách chữa khỏi)—đến mức ông được khích lệ mở rộng các liệu pháp điện từ của mình.

It was among the elderly cancer patients that MacLean first noticed a strange 'rejuvenating' effect that coincided with prolonged exposure to his artificially created magnetic fields. After ten half-hour sessions under his electromagnetic activator, the white hair of some of his patients showed a definite darkening. (Under a microscope, each 'white' hair is actually transparent—something like a glass tube.) In some unknown way, magnetism was either reactivating or restoring the melanin (pigmentation) of their hair.

Chính giữa nhóm bệnh nhân ung thư cao tuổi, MacLean lần đầu nhận thấy một hiệu ứng “trẻ hóa” lạ lùng trùng khớp với việc tiếp xúc kéo dài với các từ trường do ông tạo ra. Sau mười buổi, mỗi buổi nửa giờ dưới thiết bị hoạt hóa điện từ của ông, tóc bạc của một số bệnh nhân cho thấy sự sậm màu rõ rệt. (Dưới kính hiển vi, mỗi sợi tóc “bạc” thực ra trong suốt—tựa như một ống thủy tinh.) Bằng một cách chưa biết, từ tính hoặc kích hoạt lại hoặc khôi phục melanin (sắc tố) của tóc họ.

'There were other signs of regained health, of course,' MacLean said. 'at first I couldn't bring myself to believe that so many of these malignancies were actually regressing.' He showed me scores of 'before and after' colour slides of microscopic tissue cultures taken from his patients. (MacLean is an M.D. whose specialities are gynaecology and cytology.) in a significant number of cases, the slides showed a definite regression of wild cellular growth after prolonged electromagnetic treatment. It was extremely unlikely that they could all be attributed to what is called 'Spontaneous regression.' This unexplainable return to normalcy is observed in a tiny percentage of (often advanced) cancer cases.

“Dĩ nhiên còn có những dấu hiệu hồi phục sức khỏe khác,” MacLean nói. “lúc đầu tôi không thể tin nổi là nhiều khối u ác tính ấy thực sự đang thoái lui.” Ông cho tôi xem hàng loạt slide ảnh màu “trước và sau” của các nuôi cấy mô vi thể lấy từ bệnh nhân. (MacLean là bác sĩ y khoa, chuyên về phụ khoa và tế bào học.) Trong một số lượng đáng kể trường hợp, các slide cho thấy sự thoái lui rõ rệt của tăng sinh tế bào hoang dại sau điều trị điện từ kéo dài. Hết sức khó có khả năng quy tất cả vào hiện tượng gọi là “thoái lui tự phát”. Sự trở về bình thường không thể giải thích này chỉ được quan sát ở một tỷ lệ rất nhỏ các ca ung thư (thường là giai đoạn tiến xa).

MacLean's subdued enthusiasm occasionally broke through his professional attitude. 'I can't say anything officially yet,' he said confidentially, 'but hell—let's face it—this treatment is a godsend. It's good for almost anything!'

Sự phấn khởi kiềm chế của MacLean đôi lúc vẫn phá vỡ vẻ chuyên nghiệp của ông. “Tôi chưa thể nói gì chính thức,” ông nói nhỏ, “nhưng—hãy thẳng thắn mà nói—liệu pháp này đúng là món quà trời ban. Nó tốt cho gần như bất cứ thứ gì!”

Claiming too much, I figured, was just about as bad as rejecting all claims. I was torn between wanting to try his cure-all on a ten-year-old case of chronic bursitis of the left shoulder and trying to keep an impartial—if not sceptical —attitude. The cumulative reaction to several accidents and injuries was getting worse every year. It could, I thought, develop into anything from severe limitation to a painfully arthritic joint.

Tôi nghĩ, khẳng định quá mức cũng gần như tệ chẳng kém gì bác bỏ mọi khẳng định. Tôi bị giằng xé giữa mong muốn thử “thần dược” của ông cho một ca viêm bao hoạt dịch mạn tính ở vai trái đã mười năm và cố giữ một thái độ khách quan—nếu không muốn nói là hoài nghi. Phản ứng tích lũy của vài tai nạn và chấn thương ngày một xấu đi qua từng năm. Tôi nghĩ, nó có thể phát triển thành bất cứ điều gì từ hạn chế vận động nghiêm trọng đến một khớp viêm khớp đau đớn.

But after the first twenty minutes under MacLean's electromagnet, the discomfort was miraculously eased—for the first time in years. Two treatments later (except on damp, rainy days) I hardly noticed that I'd ever had any pain. Even a minor increase in electric current or the magnetic field seems to be beneficial.

Nhưng sau hai mươi phút đầu tiên dưới nam châm điện của MacLean, sự khó chịu được làm dịu một cách kỳ diệu—lần đầu tiên sau nhiều năm. Sau hai liệu trình nữa (trừ những ngày ẩm ướt, mưa dầm) tôi hầu như không còn để ý là mình từng đau. Ngay cả tăng nhẹ dòng điện hoặc cường độ từ trường dường như cũng có lợi.

Chapter 16-Chapter 16

Negative Ionization—Ion hóa âm

In certain respects oxygen is also magnetic and can hold positive or negative charges. Although they probably knew nothing about negative ionization, intelligent observers have known for centuries that changes in human behaviour were somehow related to subtle alterations in the air we breathe.

Ở một số phương diện, oxy cũng có tính từ và có thể mang điện tích dương hoặc âm. Dù có lẽ không biết gì về ion hóa âm, những nhà quan sát thông tuệ qua nhiều thế kỷ đã biết rằng những thay đổi trong hành vi con người nào đó có liên quan bằng cách nào đó với những biến chuyển tinh vi trong không khí chúng ta hít thở.

Some of these changes occur in twenty-seven and one-half-day cycles. Sweden's Nobel Prize winning chemist. Svante Arrhenius proved that the ion conductivity in the atmosphere coincided with a sharp upswing of crime every twenty-seven and one-half days.

Một số thay đổi này diễn ra theo chu kỳ hai mươi bảy ngày rưỡi. Nhà hóa học người Thụy Điển đoạt giải Nobel, Svante Arrhenius đã chứng minh rằng độ dẫn ion trong khí quyển trùng khớp với một đợt gia tăng đột biến tội phạm cứ mỗi hai mươi bảy ngày rưỡi.

Uncharacteristic Crimes—Những tội phạm khác thường

The Foehn was once called a 'Wind of Evil' in Switzerland. This warm, dry current of air always coincides with extreme restlessness and a radical increase in the' amount of violent—often downright senseless—crimes. Another wind like this blows from the Libyan Desert and is usually accompanied by extremely unpleasant changes in human personality and behaviour, during which crimes of violence and passion run rampant. All along the northern Mediterranean, enlightened judges recognize the connection of this Sirocco with changes in human behaviour. They usually impose very light sentences on people who commit uncharacteristic crimes during these periods.

Foehn từng được gọi là “Gió Ác” ở Thụy Sĩ. Dòng không khí ấm, khô này luôn trùng khớp với tình trạng bồn chồn cực độ và sự gia tăng đột ngột số vụ bạo lực—thường là vô nghĩa lý. Một luồng gió tương tự thổi từ sa mạc Libya và thường đi kèm những thay đổi cực kỳ khó chịu trong tính nết và hành vi con người, trong đó các tội ác bạo lực và tình cảm hoành hành. Dọc theo bờ Địa Trung Hải phía bắc, các thẩm phán sáng suốt nhận ra mối liên hệ của Sirocco với những biến đổi trong hành vi con người. Họ thường tuyên án rất nhẹ cho những người phạm các tội khác thường trong những thời kỳ này.

Medical climatologists know that when the air is powerfully charged with positive ionization, people do not always act responsibly. The American Institute of Medical Climatology (AIMC) in Philadelphia makes practical use of the fact that negatively ionized air is physically and emotionally beneficial to about sixty-five per cent. of the population. The other thirty-five percent seem to experience adverse reactions, and vice versa.

Các nhà khí hậu học y khoa biết rằng khi không khí bị tích điện dương mạnh mẽ, con người không phải lúc nào cũng hành xử có trách nhiệm. American Institute of Medical Climatology (AIMC) ở Philadelphia ứng dụng thực tiễn thực tế rằng không khí ion âm có lợi về thể chất và cảm xúc cho khoảng sáu mươi lăm phần trăm dân số. Ba mươi lăm phần trăm còn lại dường như trải nghiệm phản ứng bất lợi, và ngược lại.

Benefits of Negative Ions—Lợi ích của ion âm

During the AIMC's pioneering experiments with the effects of electrical currents and magnetic fields, Dr Igho H. Kornblueh exposed patients suffering the prolonged agony of body burns to negatively ionized air. It seemed almost miraculous that patients with third-degree burns covering ninety per cent of their bodies could obtain almost complete freedom from pain, simply by breathing negatively polarized ions. Moreover, the healing process was speeded up.

Trong các thử nghiệm tiên phong của AIMC về tác dụng của dòng điện và từ trường, Bác sĩ Igho H. Kornblueh cho các bệnh nhân đang chịu đựng cơn thống khổ kéo dài vì bỏng cơ thể hít thở không khí ion âm. Gần như kỳ diệu là những bệnh nhân bị bỏng độ ba bao phủ chín mươi phần trăm cơ thể có thể gần như hoàn toàn thoát khỏi đau đớn chỉ bằng cách hít thở các ion phân cực âm. Hơn nữa, quá trình lành thương được tăng tốc.

Negative ionization promotes a general feeling of wellbeing. The effect runs all the way from the relief of headaches and minor pain and fatigue to the alleviation (but, unfortunately, not the cure) of the dreadful agony of the advanced stages of cancer. Philco Corporation produced an electronic ion-producing device patterned after Dr Kornbluehs prototype, and called it the 'Ionotron 8000.'

Ion hóa âm thúc đẩy cảm giác an khang nói chung. Tác dụng trải dài từ việc giảm đau đầu, đau nhẹ và mệt mỏi cho đến việc làm dịu (nhưng, tiếc thay, không chữa khỏi) nỗi thống khổ kinh khủng ở các giai đoạn tiến xa của ung thư. Tập đoàn Philco đã sản xuất một thiết bị điện tử tạo ion dựa theo nguyên mẫu của Bác sĩ Kornblueh và đặt tên là “Ionotron 8000.”

Now negative ionization is being used to strengthen tooth enamel, to resist cavities and dental decay. The American Chemway Corporation has American and European patents for its 'iontophoresic' toothbrush. It was once believed by dental experts that fluoride enters the system when sound teeth absorb fluoride ions. A new theory is that the enamel wall is negatively charged and therefore acts as an 'ionic sieve’. It is believed to resist the penetrating of negative ions and to facilitate the passage of positively charged ions. If so, the negatively charged fluoride ions never succeed in getting through the tooth enamel, and thus cannot adequately protect teeth.

Hiện nay ion hóa âm đang được dùng để gia cố men răng, chống sâu và hư răng. Công ty Chemway của Mỹ có bằng sáng chế tại Hoa Kỳ và châu Âu cho “bàn chải đánh răng điện chuyển ion” của họ. Từng có thời các chuyên gia nha khoa tin rằng fluor đi vào cơ thể khi răng lành hấp thu ion fluor. Một lý thuyết mới cho rằng vách men răng mang điện tích âm và vì thế hoạt động như một “màng lọc ion”. Người ta tin rằng nó cản trở sự thẩm nhập của ion âm và tạo điều kiện cho ion dương đi qua. Nếu vậy, các ion fluor mang điện âm không bao giờ xuyên qua được men răng, và do đó không thể bảo vệ răng một cách thích đáng.

Chemway's brush introduces ions of soluble salts into the body's tissues with an electric current. Their device looks like an ordinary toothbrush with two contacts of different metals. One is fixed on the neck of the toothbrush near the handle, so that it touches the lips when the teeth are being brushed. The other contact is buried under the bristles. Toothpaste with fluoride salt forms an electrolyte, and an electric current of about two volts or less is generated, which allows the fluoride ions to be absorbed.

Bàn chải của Chemway đưa các ion muối tan vào mô cơ thể bằng một dòng điện. Thiết bị của họ có hình dáng như một bàn chải đánh răng thông thường với hai tiếp điểm kim loại khác nhau. Một cái gắn ở cổ bàn chải gần tay cầm, để khi đánh răng nó chạm vào môi. Tiếp điểm còn lại nằm dưới lông bàn chải. Kem đánh răng có muối fluor tạo thành chất điện giải, và một dòng điện khoảng hai vôn hoặc ít hơn được sinh ra, cho phép ion fluor được hấp thu.

At New York's Upstate Medical Centre, research orthopaedic surgeon Robert O. Becker (who also happens to be associate chief of staff for research at the Syracuse Veterans Administration Hospital) established long ago that the biomagnetic and electrical fields of patients suffering from wounds and broken bones jumps sharply from negative (normal) to positive (traumatic). As healing progresses, however, the biomagnetic field slowly returns to its normal negative state. More than ten years ago, Dr Becker and his colleagues were already increasing the speed of healing among test animals with the use of negative electrical stimulation.

Tại Trung tâm Y khoa Upstate của New York, bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình nghiên cứu Robert O. Becker (đồng thời là phó giám đốc phụ trách nghiên cứu tại Bệnh viện Cựu chiến binh Syracuse) đã xác lập từ lâu rằng trường từ sinh học và điện của các bệnh nhân bị vết thương và gãy xương nhảy vọt mạnh từ trạng thái âm (bình thường) sang dương (chấn thương). Tuy nhiên, khi quá trình lành thương tiến triển, trường từ sinh học dần dần trở về trạng thái âm bình thường. Hơn mười năm trước, Bác sĩ Becker và các cộng sự đã tăng tốc độ lành thương ở động vật thí nghiệm bằng kích thích điện âm.

Regenerating Amputated Limbs—Tái sinh các chi bị cắt cụt

Becker has advanced further and faster than anyone in his field. Because- of his remarkable laboratory successes, he is convinced that the application of small amounts of negative electric current to the stumps of traumatized limbs will soon enable doctors to regenerate the arms, legs, hands and feet of human amputees!

Becker đã tiến xa và nhanh hơn bất kỳ ai trong lĩnh vực của mình. Nhờ những thành công phòng thí nghiệm đáng chú ý, ông tin chắc rằng việc áp một lượng nhỏ dòng điện âm vào các đoạn chi bị chấn thương sẽ sớm cho phép các bác sĩ tái sinh tay, chân, bàn tay và bàn chân cho người bị cắt cụt chi!

He was puzzled by the fact that higher animals lack the ability of, say, a lizard to grow a tailor a worm to regenerate the entire lower half of its body. Other creatures such as the hydra (a freshwater polyp) have long puzzled scientists by their strange ability to regrow amputated extremities.

Ông bối rối trước thực tế là các loài động vật bậc cao lại thiếu khả năng, ví như thằn lằn mọc lại đuôi hoặc giun tái tạo toàn bộ nửa thân dưới. Những sinh vật khác như hydra (một loại thủy tức nước ngọt) từ lâu đã làm các nhà khoa học bối rối bởi khả năng lạ lùng mọc lại các phần bị cắt cụt.

Without resorting to long-range genetic engineering, Becker has regenerated the limbs of animals as high on the evolutionary scale as the rat. In his early experiments on opossums and frogs, he achieved partial success in regrowing amputated limbs with slightly charged negative electric current.

Không cần viện đến công nghệ di truyền đường dài, Becker đã tái sinh chi cho những loài động vật cao đến mức chuột trong thang tiến hóa. Trong các thí nghiệm ban đầu trên thú có túi và ếch, ông đạt được thành công một phần trong việc mọc lại các chi bị cắt cụt bằng dòng điện âm nhẹ.

During fifteen years of dogged, determined work, he tried to prove that the reason man and other higher mammals cannot regenerate lost or damaged limbs is we have lost the ability to generate sufficient biomagnetic power to stimulate new limb 'buds.'

Suốt mười lăm năm làm việc kiên trì và quyết tâm, ông cố chứng minh rằng lý do con người và các loài thú cao cấp khác không thể tái sinh chi bị mất hoặc tổn thương là vì chúng ta đã đánh mất khả năng tạo đủ năng lượng từ sinh học để kích thích các “chồi” chi mới.

A decade ago, hardly anyone dreamed that small amounts of electrical current applied to an amputated arm or leg would stimulate the cells to grow new tissue and limb muscle, nerve and bone! Partial regeneration of amputated limbs seems awfully exotic yet it's been done many times. Transplanting nerve tissue onto the amputated limb or even injuring the tissue at the site of the amputation seems to increase the flow of electrical current which promotes regrowth.

Một thập kỷ trước, hầu như chẳng ai mơ rằng một lượng nhỏ dòng điện áp vào cánh tay hay chân bị cắt cụt sẽ kích thích các tế bào mọc mô mới và cơ, thần kinh, xương của chi! Việc tái sinh một phần các chi bị cắt cụt có vẻ rất kỳ lạ, nhưng nó đã được thực hiện nhiều lần. Cấy ghép mô thần kinh lên đoạn chi bị cắt cụt hoặc thậm chí gây tổn thương mô tại vị trí cắt cụt dường như làm tăng dòng điện thúc đẩy sự mọc trở lại.

Exactly how do cells and tissues re-group themselves at the stump of an amputated limb? Becker thinks that the application of electrical current 'may cause cells to revert to a primitive, undifferentiated (unspecialized) state, rather like the cells of an embryo. In some not-yet-understood manner, the undifferentiated cells become specialized once more and begin building new cells of their own type such as bone, muscle, skin, and nerve.'

Chính xác các tế bào và mô thực sự tái sắp xếp ra sao ở đầu mút của một chi bị cắt cụt? Becker cho rằng việc áp dòng điện “có thể khiến các tế bào quay về trạng thái nguyên thủy, chưa biệt hóa (không chuyên hóa), hơi giống các tế bào phôi. Bằng một cách nào đó chưa được hiểu, các tế bào chưa biệt hóa lại chuyên hóa một lần nữa và bắt đầu xây dựng các tế bào thuộc loại của chính chúng như xương, cơ, da và thần kinh.”

But where do the mysterious 'instructions' for resuming growth and specialization come from? 'They might be provided by the central nervous system,' Becker suggests, 'or by the local cells. Even hormones might help in the specialization and regeneration process. Although we're working toward the total regeneration of amputated human limbs, it could be a long time coming.'

Nhưng “chỉ thị” bí ẩn để tiếp tục sinh trưởng và chuyên hóa ấy đến từ đâu? “Chúng có thể được cung cấp bởi hệ thần kinh trung ương,” Becker gợi ý, “hoặc bởi các tế bào tại chỗ. Ngay cả hormone cũng có thể góp phần trong tiến trình chuyên hóa và tái sinh. Dù chúng tôi đang hướng đến tái sinh trọn vẹn các chi người bị cắt cụt, điều đó có thể còn rất lâu.”

Right now, he's more concerned with better understanding how cells and tissues repair themselves, and in new ways to stimulate them. 'This way,' he said, 'we'll be on much firmer ground when we go all-out for total regeneration. We're trying to induce certain kinds of tissue to grow just a little more instead of scarring.

Ngay lúc này, ông quan tâm hơn đến việc hiểu sâu hơn cách các tế bào và mô tự sửa chữa, và các phương thức mới để kích thích chúng. “Bằng cách này,” ông nói, “chúng ta sẽ đứng trên nền tảng vững chắc hơn khi dốc toàn lực cho tái sinh toàn phần. Chúng tôi đang cố gắng kích thích một số loại mô mọc thêm đôi chút thay vì hình thành sẹo.

‘For example, we might regrow the myocardium (part of the heart wall) of damaged hearts. In some respects this is like cloning whole organs. Let's say we suspect an individual might eventually suffer from a disease or malfunctioning heart—or other organ. By taking a tissue culture and stimulating redifferentiation with a magnetic field or electric current, we could regrow a new, healthy organ and keep it in reserve for the time when a transplant might become necessary. Such a procedure would eliminate the problem of rejection because the original heart actually belongs to the patient himself.

“Chẳng hạn, chúng ta có thể mọc lại cơ tim (một phần của thành tim) ở những trái tim bị tổn thương. Ở vài phương diện, điều này giống như nhân bản toàn bộ cơ quan. Chúng ta hãy nói rằng chúng ta nghi ngờ một cá nhân về sau có thể mắc bệnh tim hoặc rối loạn hoạt động tim—hay một cơ quan khác. Bằng cách lấy nuôi cấy mô và kích thích tái chuyên hóa bằng từ trường hay dòng điện, chúng ta có thể mọc lại một cơ quan mới, khỏe mạnh và giữ nó dự phòng cho lúc cần ghép. Quy trình như vậy sẽ loại bỏ vấn đề đào thải vì cơ quan gốc thực sự thuộc về chính bệnh nhân.

'We could also remove severely damaged hip joints from patients, regenerate the damaged joint tissue and then reimplant the joint. I'm trying this procedure on dogs now.'

“Chúng ta cũng có thể lấy các khớp háng bị hư hại nặng ra khỏi bệnh nhân, tái sinh mô khớp bị tổn thương rồi cấy ghép lại khớp. Tôi đang thử quy trình này trên chó.”

As far back as 1960, Becker applied magnetic fields and electric currents to the human central nervous system and learned that changes in bodily and emotional rhythms could be reinforced—even changed. He also discovered that the organized (direct current) activity of the brain governed human behaviour patterns.

Từ tận năm 1960, Becker đã áp dụng từ trường và dòng điện lên hệ thần kinh trung ương của người và nhận thấy các nhịp điệu cơ thể và cảm xúc có thể được củng cố—thậm chí thay đổi. Ông cũng phát hiện hoạt động có tổ chức (dòng điện một chiều) của bộ não chi phối các mô thức hành vi của con người.

Despite his outstanding success, some of his concepts are - at least by currently accepted standards - awesome! The slender, genial scientist is considered by those who know him as a natural candidate for a Nobel Prize, yet he is roundly criticized because the evidence he has accumulated suggests that electromagnetic and cosmic forces influence biological and mental rhythms. This is widely criticized as being a scientific basis for astrology. Becker, however, couldn't care less about where the facts lead, as long as they're true. He proved that the biomagnetic charge (an integral part of the system) could be influenced with external force fields (magnetic and electrostatic) as well as by changing the magnetic polarization of the air we breathe.

Bất chấp những thành công xuất sắc, một số khái niệm của ông—ít nhất theo các chuẩn mực hiện nay—thật đáng nể! Nhà khoa học mảnh mai, cởi mở này được những người quen biết xem là ứng viên tự nhiên cho giải Nobel, thế nhưng ông bị chỉ trích nặng nề vì những bằng chứng ông tích lũy gợi ý rằng các lực điện từ và vũ trụ ảnh hưởng đến các nhịp điệu sinh học và tinh thần. Điều này bị phê phán rộng rãi như là đặt cơ sở khoa học cho chiêm tinh học. Tuy nhiên, Becker không hề bận tâm chuyện sự thật dẫn đến đâu, miễn là chúng đúng. Ông đã chứng minh điện tích từ sinh học (một phần không thể tách rời của hệ) có thể bị ảnh hưởng bởi các trường lực bên ngoài (từ và tĩnh điện) cũng như bằng cách thay đổi phân cực từ của không khí chúng ta hít thở.

Air Ionization and ESP—Ion hóa không khí và tri giác ngoại cảm

Even Russian parapsychologists report that air ionization strongly affects human ESP abilities. People can't concentrate and often lose their psychic abilities during thunderstorms—when the local geomagnetic field fluctuates. This fact prompted Dr Leonid L. Vasiliev, a physiologist and winner of the Lenin prize for his work on the effects of ionization on humans, to introduce moderately strong magnetic fields during ESP experiments. 'We surround both the sender and receiver with artificial magnetic fields both before and during ESP tests,' he said. 'It gives them extra energy. The fields don't have to be strong. Weak fields work just as well.'

Ngay cả các nhà tâm linh học Nga cũng báo cáo rằng ion hóa không khí tác động mạnh lên năng lực tri giác ngoại cảm của con người. Con người không thể tập trung và thường mất năng lực ngoại cảm trong các cơn giông bão—khi địa từ trường địa phương dao động. Thực tế này đã thúc đẩy Bác sĩ Leonid L. Vasiliev, một nhà sinh lý học, người đoạt giải Lenin cho công trình về tác dụng của ion hóa lên con người, đưa các từ trường nhân tạo vừa phải vào trong những thí nghiệm ngoại cảm. “Chúng tôi bao phủ cả người phát lẫn người nhận bằng các từ trường nhân tạo trước và trong các bài kiểm tra ngoại cảm,” ông nói. “Nó cho họ thêm năng lượng. Trường không cần mạnh. Trường yếu cũng hiệu quả như nhau.”

The same geomagnetic parameters were used by Dr Becker and his associates in 1964 to correlate the rise of admissions to psychiatric hospitals with magnetic storms, cosmic ray activity, and the earth's electrical current. The human organism must have regular levels of temperature and oxygen in order to survive and prosper, and there are also certain electromagnetic parameters beyond which organic life cannot adapt, survive, or function, optimally.

Chính các tham số địa từ tương tự đã được Bác sĩ Becker và các cộng sự sử dụng vào năm 1964 để liên hệ sự gia tăng nhập viện tâm thần với bão từ, hoạt động tia vũ trụ và dòng điện của Trái Đất. Cơ thể con người phải có mức độ nhiệt độ và oxy đều đặn để tồn tại và phát triển, và cũng có những tham số điện từ nhất định mà vượt ra ngoài đó thì sự sống hữu cơ không thể thích nghi, tồn tại hay vận hành tối ưu được.

The American and Russian findings agree that man's central nervous system, brain, and mind depend on electrostatic charges for the organism's overall health and well-being. Serious consequences can result from insufficient negatively charged ions in the atmosphere.

Các phát hiện của Mỹ và Nga đồng thuận rằng hệ thần kinh trung ương, bộ não và thể trí của con người phụ thuộc vào các điện tích tĩnh điện cho sức khỏe và hạnh phúc tổng thể của cơ thể. Hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra khi trong khí quyển thiếu hụt ion mang điện âm.

Negative Electrical Differential—Chênh lệch điện âm

The human brain is essentially an electromagnetic and chemical device. Small electrical impulses applied to damaged brain areas will stimulate the nerves to activate muscles and also boost the healing process. Strong electric fields are generated when you splash water in a wash basin or take a shower. The positive charge runs down the drain, but the negative one stays in the atmosphere. This negatively ionized air probably accounts for more than seventy per cent of the after-shower 'lift' you experience. The same negative electrical differential makes trees and plants grow and thrive. Reverse its negative polarity and you can quickly kill a very large tree.

Bộ não con người về cơ bản là một thiết bị điện từ và hóa học. Những xung điện nhỏ áp vào các vùng não bị tổn thương sẽ kích thích thần kinh hoạt hóa cơ bắp và cũng thúc đẩy quá trình lành thương. Các điện trường mạnh được tạo ra khi bạn vốc nước trong chậu rửa hay tắm vòi sen. Điện tích dương theo dòng nước xuống cống, còn điện tích âm lưu lại trong không khí. Không khí ion âm này có lẽ giải thích hơn bảy mươi phần trăm cảm giác “tươi tỉnh sau khi tắm” mà bạn trải nghiệm. Sự chênh lệch điện âm tương tự làm cây cối và thực vật phát triển xanh tốt. Đảo ngược phân cực âm ấy và bạn có thể nhanh chóng giết một cái cây rất lớn.

The reason city dwellers feel so refreshed and exhilarated after an outdoor holiday or vacation is largely because of the geomagnetic field. In large urban areas the earth's electromagnetic field is effectively barred by acres of cement, large office buildings and apartments. The structures of modern civilization (including automobiles, trucks, aircraft, and ships) form 'Faraday cages' (i.e. grounded metal boxes that neutralize the field). You feel tired and worn-out because your body needs a regular flow of electromagnetic energy.

Lý do dân cư thành thị cảm thấy sảng khoái và phấn chấn sau kỳ nghỉ ngoài trời phần lớn là do địa từ trường. Ở các đô thị lớn, từ trường của Trái Đất bị ngăn chặn hiệu quả bởi hàng mẫu xi măng, các tòa nhà văn phòng và chung cư khổng lồ. Các cấu trúc của nền văn minh hiện đại (bao gồm ô tô, xe tải, máy bay và tàu thuyền) tạo thành “lồng Faraday” (tức các hộp kim loại nối đất làm trung hòa trường). Bạn thấy mệt mỏi và kiệt sức vì cơ thể cần một dòng chảy đều đặn của năng lượng điện từ.

Dr Crisjo Cristofv, father of the 'Cristofv effect,' invented an anti-fatigue device, a metal-enclosed can about the size of an orange, in which a solid-state device is connected to a battery. This is suspended from the ceiling on a slim probe and generates an BOO-volt per metre field.

Bác sĩ Crisjo Cristofv, cha đẻ của “hiệu ứng Cristofv,” đã phát minh một thiết bị chống mệt mỏi, là một hộp kim loại cỡ quả cam, bên trong có một thiết bị thể rắn nối với pin. Thiết bị này treo từ trần nhà trên một que mảnh và tạo ra một trường 800 vôn trên mét.

L. F. Tangemann, in the magazine Product Engineering, wrote: 'Tests of pilots in high-flying reconnaissance planes, and of truck drivers on the St. Louis-Milwaukee haul showed greater alertness and less tiredness when bathed in a negative magnetic field.'

L. F. Tangemann, trên tạp chí Product Engineering, viết: “Các thử nghiệm trên phi công máy bay trinh sát bay cao và tài xế xe tải trên tuyến St. Louis–Milwaukee cho thấy họ tỉnh táo hơn và ít mệt hơn khi được tắm mình trong một trường từ âm.”

According to Cristofv, the 11-hour truck run was cut to eight hours, and the drivers felt less tired and more able to sleep restfully afterward. Tests in factories and office buildings showed similar results.

Theo Cristofv, hành trình xe tải 11 giờ được rút xuống còn tám giờ, và tài xế ít mệt hơn, ngủ ngon hơn sau đó. Các thử nghiệm trong nhà máy và tòa nhà văn phòng cũng cho kết quả tương tự.

'Metal isn't the only offender,' according to Cristofv. Plastics also have an inherently high positive charge (as high as 50,000 volts per metre!), which degrades human performance and results in lowered resistance to illness and disease. He exposed cats to a positive field of this intensity; within three weeks their appetites dwindled to practically nothing, their sex drive evaporated, they became listless or sick, and even ran in terror from mice.

“Kim loại không phải là thủ phạm duy nhất,” theo Cristofv. Nhựa cũng mang điện tích dương vốn có rất cao (lên đến 50.000 vôn trên mét!), làm suy giảm hiệu suất của con người và dẫn đến sức đề kháng với bệnh tật suy yếu. Ông cho mèo tiếp xúc với một trường dương cường độ này; trong vòng ba tuần, chúng hầu như mất cảm giác thèm ăn, dục tính biến mất, trở nên uể oải hoặc ốm yếu, thậm chí chạy trốn chuột trong hoảng loạn.

It was once believed that an increase in the dosage of cosmic radiation during times when the geomagnetic field was weakened was the cause of the inexplicable, wholesale and sudden extinction of entire species during the earth's prehistoric past. New evidence, however, points to the direct harmful effect of reduced magnetism on those creatures.

Từng có thời người ta cho rằng liều bức xạ vũ trụ gia tăng trong những giai đoạn địa từ trường suy yếu là nguyên nhân gây ra sự tuyệt diệt khó hiểu, hàng loạt và đột ngột của cả loài sinh vật trong tiền sử Trái Đất. Tuy nhiên, bằng chứng mới lại chỉ ra tác động có hại trực tiếp của từ tính suy giảm lên những sinh vật đó.

Zero Magnetism—Từ trường bằng không

Whole continents were once plunged into conditions of zero magnetism. According to Dr Robert J. Uffen of the University of Western Ontario: 'There's clearly a causal relationship between geomagnetic reversals and the massive, sudden extinctions of whole species—many of them between 500 million and 250 million years ago.'

Toàn bộ lục địa từng bị nhấn chìm trong điều kiện từ trường bằng không. Theo Bác sĩ Robert J. Uffen của Đại học Western Ontario: “Rõ ràng có một mối quan hệ nhân quả giữa đảo cực địa từ và những vụ tuyệt diệt hàng loạt, đột ngột của cả loài—nhiều vụ trong khoảng từ 500 triệu đến 250 triệu năm trước.”

No living thing on this planet from microbes to whales - is immune to the beneficial or detrimental effects of magnetism. Evidence is increasing that any organism deprived of the earth's magnetic field for a prolonged period will eventually suffer from numerous 'mysterious' illnesses, ultimately resulting in crippling or death.

Không sinh vật nào trên hành tinh này—từ vi khuẩn đến cá voi—miễn nhiễm với tác động lợi hay hại của từ tính. Ngày càng có nhiều bằng chứng rằng bất kỳ sinh thể nào bị tước đi từ trường của Trái Đất trong một thời gian dài rốt cuộc sẽ mắc nhiều chứng bệnh “bí ẩn,” cuối cùng dẫn đến tàn phế hoặc tử vong.

During comparatively recent periods of geological history there were numerous reversals of the magnetic and geographic poles. When this happens, the intensity of the geomagnetic field drops all the way to zero, then, after a long interval, builds up to normal intensity. Studies revealed that it coincided with the massive extinction of everything from microbes to giant lizards at the end of the Ordovician period (425 million years ago), the Devonian (345 million years), Triassic (180 million), and Cretaceous periods (65 million years ago).

Trong những thời kỳ địa chất tương đối gần đây đã có nhiều lần đảo cực của cả từ cực và cực địa lý. Khi đó, cường độ địa từ trường giảm xuống đến bằng không, rồi sau một thời gian dài mới phục hồi đến cường độ bình thường. Các nghiên cứu cho thấy điều này trùng khớp với các vụ tuyệt diệt hàng loạt từ vi sinh vật đến thằn lằn khổng lồ vào cuối kỷ Ordovic (425 triệu năm trước), kỷ Devon (345 triệu năm), kỷ Trias (180 triệu), và kỷ Phấn Trắng (65 triệu năm trước).

In one study made by James D. Hays of Columbia University's Lamont-Doherty Geological Observatory, it was discovered that eight species of radiolaria (microscopic marine animals) became extinct immediately after each massive magnetic reversal.

Trong một nghiên cứu do James D. Hays của Đài quan sát Địa chất Lamont–Doherty, Đại học Columbia, thực hiện, người ta phát hiện tám loài radiolaria (động vật biển hiển vi) tuyệt chủng ngay sau mỗi lần đảo cực mạnh.

During the reversal, when magnetic intensity is near zero, cosmic radiation normally screened out by the earth's magnetic field bathes the surface of the planet. Early in the studies of the geomagnetic field, these radiations were believed to have produced mutations at a far greater speed and on a much wider scale than usual. 'Many species perished,' according to Dr William Ryan of the Lamont Doherty Laboratory, 'simply because they were unable to adapt.'

Trong thời kỳ đảo cực, khi cường độ từ gần bằng không, bức xạ vũ trụ vốn được địa từ trường chắn lại sẽ tắm lên bề mặt hành tinh. Ở những nghiên cứu ban đầu về địa từ trường, người ta cho rằng các bức xạ này đã tạo ra đột biến với tốc độ nhanh hơn nhiều và trên quy mô rộng hơn thường lệ. “Nhiều loài đã diệt vong,” theo Bác sĩ William Ryan của Phòng thí nghiệm Lamont–Doherty, “đơn giản vì chúng không thể thích nghi.”

The trouble with this theory, according to Dr C.J. Waddington of the University of Minnesota, is that the increase in cosmic radiation as a result of the removal of the magnetic field's shielding effect was entirely too small to have killed off any living creatures, even at sea level.

Vấn đề của lý thuyết này, theo Bác sĩ C. J. Waddington của Đại học Minnesota, là mức tăng bức xạ vũ trụ do loại bỏ hiệu ứng che chắn của từ trường là quá nhỏ để có thể giết chết sinh vật nào, ngay cả ở mực nước biển.

'The atmosphere between the equator and polar regions is so thick,' he says, 'that it would screen out any adverse cosmic radiation dosage.' Ironically, the magnetic field is shaped in such a way that the polar regions are not shielded from radiation—even when the field's intensity is at its maximum! Since some of the extinction happened in Antarctica, none of the magnetic reversals could have produced a noticeable increase in radiation dosage.

“Lớp khí quyển giữa xích đạo và vùng cực dày đến mức,” ông nói, “nó sẽ chắn được bất cứ liều bức xạ vũ trụ bất lợi nào.” Trớ trêu thay, từ trường có hình dạng theo cách mà các vùng cực không được che chắn khỏi bức xạ— ngay cả khi cường độ trường đạt mức tối đa! Vì một phần tuyệt diệt xảy ra ở Nam Cực, nên không lần đảo cực nào có thể tạo ra sự gia tăng đáng kể về liều bức xạ.

The most convincing evidence of all for the killing effect of low magnetism —as opposed to increased cosmic radiation—was presented by Ian K. Crain of Australia's National University. 'This cosmic radiation theory,' he said, 'fails to explain how marine life, which is completely shielded from cosmic radiation by the density of the ocean's water, can be affected by increases of radiation in the atmosphere.'

Bằng chứng thuyết phục nhất về tác dụng sát hại của từ lực thấp—trái với bức xạ vũ trụ tăng—được Ian K. Crain của Đại học Quốc gia Australia đưa ra. “Lý thuyết bức xạ vũ trụ này,” ông nói, “không giải thích được cách mà sinh vật biển, vốn được nước biển che chắn hoàn toàn khỏi bức xạ vũ trụ nhờ mật độ của nó, lại có thể bị ảnh hưởng bởi sự tăng bức xạ trong khí quyển.”

In spite of the all-but-conclusive proof of direct extinction through loss of magnetism, there are hundreds of strange and exotic explanations for the mass extinction of ancient animals. One of these is: 'magnetic reversals cause climatic change which has a negative influence on normal evolution.'

Bất chấp chứng cứ gần như mang tính kết luận về tuyệt diệt trực tiếp do mất từ tính, có hàng trăm lời giải thích kỳ lạ cho sự tuyệt diệt hàng loạt của động vật cổ xưa. Một trong số đó là: “đảo cực từ gây biến đổi khí hậu có ảnh hưởng tiêu cực tới tiến hóa bình thường.”

Three Lamont-Doherty scientists matched changes in magnetic intensity with changes of climate that had occurred during a million-year period, and concluded that 'a cause and effect relationship exists between changes in the Earth's magnetic field and the climate.'

Ba nhà khoa học Lamont–Doherty đã ghép nối những thay đổi về cường độ từ với những biến đổi khí hậu xảy ra trong một triệu năm và kết luận rằng “tồn tại mối quan hệ nhân–quả giữa những biến đổi trong từ trường Trái Đất và khí hậu”.

Conflicting Theories—Các lý thuyết mâu thuẫn

According to William B.F. Ryan, 'The higher the magnetic intensity, the colder the climate. Magnetism could change the climate by providing a shield against certain types of solar radiation.' (Dr Ryan used crustaceans, fish, and other marine life as his example.)

Theo William B. F. Ryan, “Cường độ từ càng cao, khí hậu càng lạnh. Từ tính có thể thay đổi khí hậu bằng cách tạo một lá chắn chống lại một số loại bức xạ mặt trời.” (Bác sĩ Ryan lấy giáp xác, cá và các sinh vật biển khác làm ví dụ.)

'Not so,' retorted Australia's Ian Crain in a recent issue of the Geological Society of America Bulletin. 'There's an enormous lag in thermal changes of the oceans. It could take centuries for a severe drop in atmospheric temperature to affect the ocean's temperature by even a few degrees! This gives marine life excellent protection from sudden changes in climate.

“Không phải vậy,” Ian Crain của Australia phản bác trong một số gần đây của Geological Society of America Bulletin. “Độ trễ nhiệt của đại dương là rất lớn. Có thể mất hàng thế kỷ để sự sụt giảm nghiêm trọng nhiệt độ khí quyển tác động đến nhiệt độ đại dương dù chỉ vài độ! Điều này cho sinh vật biển một sự bảo vệ tuyệt vời khỏi những biến đổi khí hậu đột ngột.

'There's a much simpler explanation for the correlation between magnetic reversals and mass extinctions of living things. These are caused DIRECTLY by the deadly effect of drastically reduced magnetism during each reversal! (Magnetic reversals can take anywhere from 10 years to several centuries.) Every study made on organisms living in magnetic fields of intensity below that of the earth are extremely consistent. Everyone of them shows enormous behavioural and physical abnormalities which are typical of life in a reduced magnetic field.'

“Có một lời giải thích đơn giản hơn nhiều cho mối tương quan giữa đảo cực từ và tuyệt diệt hàng loạt sinh vật. Chúng bị gây ra TRỰC TIẾP bởi tác dụng chí tử của từ lực giảm mạnh trong mỗi lần đảo cực! (Đảo cực từ có thể kéo dài từ 10 năm đến vài thế kỷ.) Mọi nghiên cứu trên sinh vật sống trong từ trường có cường độ dưới của Trái Đất đều vô cùng nhất quán. Tất cả đều cho thấy các bất thường hành vi và thể chất to lớn, vốn là điển hình của sự sống trong từ trường giảm.”

Is it conceivable that the long-range effect of decreased—or even zero –magnetism on our astronauts could be as deadly? According to Dr Crain, who has all the available evidence to back him, the answer is an emphatic 'yes.' Colonies of bacteria kept in a low magnetic field for only 72 hours suffered a drastic reduction in their reproductive capacity. Fifteen times less than normal, in fact.

Có thể hình dung được không rằng tác động dài hạn của từ lực suy giảm—thậm chí bằng không—đối với các phi hành gia của chúng ta có thể chí tử như thế? Theo Bác sĩ Crain, người có trong tay mọi bằng chứng sẵn có để hậu thuẫn, câu trả lời là một “có” dứt khoát. Các quần thể vi khuẩn giữ trong từ trường thấp chỉ 72 giờ đã chịu suy giảm nghiêm trọng khả năng sinh sản—chỉ còn bằng một phần mười lăm bình thường.

In tests of reduced magnetism on molluscs, protozoans, and flatworms, scientists observed that their ability to move around or to reproduce was markedly decreased. Birds under the same conditions became disoriented: their motor activity was badly altered and their egg-laying capacity drastically reduced. Among mice and rats, a decreased magnetic field adversely altered their enzyme activity. The longer each organism was deprived of magnetism, the less fertile it became, the more shrivelled its tissues and the shorter its life span!

Trong các thử nghiệm từ lực giảm trên thân mềm, động vật nguyên sinh và sán dẹp, các nhà khoa học quan sát thấy khả năng di chuyển hoặc sinh sản của chúng giảm rõ rệt. Chim trong cùng điều kiện trở nên mất phương hướng: hoạt động vận động bị thay đổi tồi tệ và khả năng đẻ trứng sụt giảm mạnh. Ở chuột và chuột cống, từ trường giảm đã làm thay đổi bất lợi hoạt tính enzyme của chúng. Càng bị tước từ lực lâu, mỗi sinh vật càng kém mắn đẻ, mô teo tóp hơn và vòng đời ngắn lại!

'All things considered,' says Dr Crain, 'the long-term effects of low magnetic fields must be considered absolutely lethal to any organism.'

“Tổng hòa mọi thứ,” Bác sĩ Crain nói, “tác động dài hạn của từ trường thấp phải được xem là tuyệt đối chí tử đối với bất kỳ sinh thể nào.”

Aside from their inner-ear trouble and other physical complaints, the astronauts who have been to the moon and back could form the nucleus for a whole new science. How many of these men, for example, will have fathered children since their return from the moon? Dr Charles A. Berry, chief flight surgeon for NASA's astronauts, bitterly complained that the top brass at the Manned Spacecraft Centre in Houston silenced him 'when it came to talking about the rather serious medical problems encountered by the Apollo 15 crew.'

Ngoài chứng rối loạn nội nhĩ và những phàn nàn thể chất khác, các phi hành gia từng lên Mặt Trăng trở về có thể tạo thành hạt nhân cho cả một ngành khoa học mới. Chẳng hạn, bao nhiêu người trong số họ đã làm cha sau khi từ Mặt Trăng trở về? Bác sĩ Charles A. Berry, bác sĩ trưởng bay của đội phi hành gia NASA, từng cay đắng phàn nàn rằng ban lãnh đạo cấp cao tại Trung tâm Tàu vũ trụ có người lái ở Houston đã buộc ông im lặng “khi nói đến các vấn đề y khoa khá nghiêm trọng mà tổ bay Apollo 15 gặp phải.”

It would seem incredible if NASA scientists have not fully developed and exploited Dr Cristofv's anti-fatigue magnetic field generator. According to official information, however, none of the command modules in any of the Apollo flights have used a supportive magnetic field.

Thật khó tin nếu các nhà khoa học NASA chưa phát triển và khai thác đầy đủ máy phát trường từ chống mệt mỏi của Bác sĩ Cristofv. Tuy nhiên, theo thông tin chính thức, không mô-đun chỉ huy nào trong các chuyến bay Apollo sử dụng một trường từ hỗ trợ.

As important as this is, even greater questions are posed by possibilities such as another geomagnetic reversal in the near future. Could the human race be wiped out like the dinosaurs by a wild fluctuation in the interplanetary and terrestrial field?

Quan trọng như vậy, nhưng những câu hỏi còn lớn hơn lại được đặt ra bởi những khả thể như một lần đảo cực địa từ nữa trong tương lai gần. Liệu loài người có thể bị quét sạch như khủng long bởi một dao động dữ dội của trường liên hành tinh và trường Trái Đất?

Horrifying enough, with a geomagnetic reversal the curtain might descend on the history of homo sapiens on this planet. If such a catastrophe did take place, it would be a subtle, almost unnoticed process. Without warning, all arts, scientific knowledge, engineering achievements, and the entire span of human civilization would come to an end.

Đủ kinh hoàng thay, với một lần đảo cực địa từ, tấm màn có thể khép lại lịch sử của homo sapiens trên hành tinh này. Nếu một thảm họa như vậy xảy ra, nó sẽ là một tiến trình tinh vi, hầu như không ai nhận thấy. Không lời cảnh báo, mọi nghệ thuật, tri thức khoa học, thành tựu kỹ thuật và toàn bộ nền văn minh nhân loại sẽ chấm dứt.

Symptoms of Catastrophe—Những triệu chứng của thảm họa

The first symptoms of the catastrophe would be a gradual decrease in travel and a growing disinterest by the general population in normal activities. Next, the almost incalculable effects of changes in the human enzymal system would affect the appetites and sexual activities of increasing millions of people. Wars would grind to a halt, diplomacy would shrivel and disappear, the food supply would dwindle as the result of changes in commerce and human industry brought on by human ennui. The animal population of the land and seas would be decimated by a radical drop in reproductive and other abilities. There simply wouldn't be enough food because plants would die off without the magnetic field.

Những triệu chứng đầu tiên của thảm họa sẽ là sự giảm dần việc đi lại và một sự thờ ơ ngày càng tăng của dân chúng đối với các hoạt động bình thường. Kế đến, những tác động khó lường của thay đổi trong hệ enzyme của con người sẽ ảnh hưởng đến khẩu vị và hoạt động tình dục của hàng triệu người ngày càng tăng. Chiến tranh sẽ dừng lại, ngoại giao héo úa rồi biến mất, nguồn cung thực phẩm cạn kiệt do những biến đổi trong thương mại và công nghiệp gây nên bởi sự chán chường của con người. Quần thể động vật trên đất liền và biển cả sẽ bị tàn sát bởi sự sụt giảm nghiêm trọng khả năng sinh sản và các năng lực khác. Đơn giản là sẽ không có đủ thực phẩm vì thực vật sẽ chết khi không có từ trường.

Entire forests would wither away from prolonged deprivation of the magnetic field. This would affect the oxygen supply in the atmosphere, thus accelerating and compounding all other negative effects on the human race. By comparison, present-day ecological problems would be insignificant. Undecomposed human and animal carcases would cover the land as well as the surface of the oceans, because the bacteria of decay would have been among the first life forms to be affected.

Cả rừng cây sẽ héo tàn vì bị tước từ trường kéo dài. Điều này sẽ tác động đến nguồn cung oxy trong khí quyển, do đó tăng tốc và chồng chất tất cả các tác động tiêu cực khác lên loài người. So sánh với đó, các vấn đề sinh thái hiện nay sẽ trở nên nhỏ bé. Xác người và động vật chưa phân hủy sẽ phủ kín đất liền cũng như mặt biển, vì các vi khuẩn phân hủy sẽ nằm trong số những dạng sống đầu tiên bị ảnh hưởng.

'Magnetic fields,' Dr Crain pointed out, 'would operate with equal effectiveness on marine and terrestrial organisms because water doesn't act as a barrier against them. A radical drop in geomagnetic intensity would be far more deadly than any increase in cosmic ray dosage. It would have a more lasting lethal effect on the most complex organisms, for instance, than on lower forms such as reptiles, insects, or bacteria.'

“Các từ trường,” Bác sĩ Crain nhấn mạnh, “tác động hiệu quả ngang nhau lên sinh vật biển và trên cạn vì nước không cản trở chúng. Sự sụt giảm mạnh cường độ địa từ sẽ chí tử hơn nhiều so với bất kỳ sự gia tăng liều bức xạ vũ trụ nào. Nó sẽ có tác động chí tử lâu dài lên những sinh vật phức tạp nhất, chẳng hạn, hơn là lên các dạng thấp như bò sát, côn trùng hay vi khuẩn.”

Scientists still don't know the exact mechanisms involved in the extinction of species. 'Biomagnetic changes could come from electrical reactions between the geomagnetic field and the ions. in living cells,' Dr Crain suggests. 'The total effect could easily be as catastrophic as the existing fossil record indicates it was.'

Các nhà khoa học vẫn chưa biết chính xác cơ chế liên quan đến việc tuyệt diệt loài. “Những biến đổi từ sinh học có thể đến từ các phản ứng điện giữa địa từ trường và ion trong các tế bào sống,” Bác sĩ Crain gợi ý. “Tổng hiệu ứng rất dễ chí tử như hồ sơ hóa thạch hiện có cho thấy nó đã từng như thế.”

Could It Happen?—Liệu điều đó có thể xảy ra không?

The end of the human race is about the most dismal prospect imaginable. But what about the idea of a new species of intelligent creature existing millions of years from now? A species puzzling over the discovery of thousands of human instead of dinosaur fossils? Could it happen?

Sự chấm dứt của loài người là viễn cảnh u ám nhất có thể tưởng tượng. Nhưng còn ý tưởng về một loài sinh vật thông minh mới tồn tại hàng triệu năm kể từ bây giờ thì sao? Một loài đang bối rối trước việc phát hiện ra hàng ngàn hóa thạch con người thay vì khủng long? Liệu điều đó có thể xảy ra?

Possibly. It has before. But considering the time required for geomagnetism to drop to zero, we might be able to prepare for it. With a vastly expanded knowledge of solar magnetism, the interplanetary magnetic field, and terrestrial magnetic effects on life, chances are that we'd be quickly alerted to any magnetic anomaly. This is one edge the dinosaurs didn't have.

Có thể. Trước đây đã từng. Nhưng xét đến khoảng thời gian cần để địa từ giảm về bằng không, chúng ta có thể chuẩn bị cho nó. Với tri thức được mở rộng vượt bậc về từ tính Mặt Trời, trường từ liên hành tinh và tác động từ của Trái Đất lên sự sống, rất có thể chúng ta sẽ được cảnh báo nhanh chóng về bất kỳ dị thường từ tính nào. Đây là lợi thế mà khủng long không có.

It's possible—even probable—that human ingenuity would eventually develop artificial fields. They'd be larger and more powerful than anything yet conceived—individual shields to blanket homes and factories. Entire cities, farms, and forests could be bathed in fields generated by artificial means. Huge activators might even be constructed on the ocean floors to protect marine life!

Có thể—thậm chí có khả năng cao—trí tuệ con người rốt cuộc sẽ phát triển các trường nhân tạo. Chúng sẽ lớn hơn và mạnh hơn bất kỳ thứ gì từng được hình dung—những tấm chắn cá nhân để bao phủ nhà ở và nhà máy. Cả thành phố, nông trại và rừng cây có thể được tắm mình trong các trường được tạo ra bằng phương tiện nhân tạo. Thậm chí có thể xây những bộ hoạt hóa khổng lồ dưới đáy đại dương để bảo vệ sinh vật biển!

Even without this sword of Damocles hanging over our collective heads, the rewards to be gained from full-scale research in this most important science could be incalculable.

Ngay cả khi không có thanh gươm Damocles này treo lơ lửng trên đầu tập thể chúng ta, phần thưởng thu được từ việc nghiên cứu toàn diện trong ngành khoa học quan trọng bậc nhất này có thể là không thể tính đếm.

It would, in fact become the single most important thrust of collective human effort ever made.

Thực vậy, nó sẽ trở thành mũi nhọn quan trọng nhất của nỗ lực chung của loài người từng được thực hiện.