← The Rays and the Initiations (A Treatise on the Seven Rays Book 5)

RULE TEN — QUY LUẬT MƯỜI

RULE TEN — QUY LUẬT MƯỜI

We now come to one of the most abstruse and difficult of all the rules for initiates; yet at the same time it is one of the most practical in application and of the greatest usefulness. It concerns the etheric levels of activity. I would have you note that I did not say the etheric levels of consciousness, for there is no such thing as consciousness upon the etheric planes. The four planes which constitute the etheric levels of the physical plane are the lowest correspondence to the four planes whereon the Monad and the Spiritual Triad are active, and—as I have oft told you—upon those levels there is no such thing as consciousness as we understand it. There is only a state of being and of activity for which we have no adequate or illustrative words. The four higher planes of our solar system are the four cosmic etheric planes, and one of the lines of development (confronting the initiate) is to function adequately in response to the life of the planetary Logos upon those planes. That, in the last analysis, constitutes the main field of unfoldment and of acquired wisdom for all initiates above the third degree.

Giờ đây chúng ta đi đến một trong những quy luật trừu tượng và khó hiểu nhất trong tất cả các quy luật dành cho các điểm đạo đồ; tuy nhiên đồng thời nó cũng là một trong những quy luật thực tiễn nhất trong ứng dụng và hữu ích nhất. Nó liên quan đến các cấp độ dĩ thái của hoạt động. Tôi muốn các bạn lưu ý rằng tôi đã không nói các cấp độ dĩ thái của tâm thức, vì không có cái gọi là tâm thức trên các cõi dĩ thái. Bốn cõi cấu thành các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần là sự tương ứng thấp nhất với bốn cõi nơi chân thần và Tam Nguyên Tinh Thần hoạt động, và—như tôi đã thường nói với các bạn—trên các cấp độ ấy không có cái gọi là tâm thức như chúng ta hiểu. Chỉ có một trạng thái hiện hữu và hoạt động mà chúng ta không có từ ngữ thích đáng hay minh họa nào. Bốn cõi cao của hệ mặt trời chúng ta là bốn cõi dĩ thái vũ trụ, và một trong những đường lối phát triển (đối diện với điểm đạo đồ) là hoạt động một cách thích đáng để đáp ứng với sự sống của Hành Tinh Thượng đế trên các cõi ấy. Xét cho cùng, điều đó cấu thành lĩnh vực chính của sự khai mở và minh triết đạt được đối với mọi điểm đạo đồ trên bậc ba.

In the above paragraph I have presented you with a new concept re initiation—one that has always been implicit in the teaching but one entirely and completely untouched as yet in any discussions on initiate-training.

Trong đoạn trên tôi đã trình bày cho các bạn một khái niệm mới về điểm đạo—một khái niệm vốn luôn hàm ẩn trong giáo huấn nhưng cho đến nay hoàn toàn chưa được đụng chạm đến trong bất kỳ cuộc thảo luận nào về việc huấn luyện điểm đạo đồ.

In the rule as given to applicants, the disciple is cautioned to work within those levels according to the methods [179] of the deva or angel evolution. The rule runs as follows:

Trong quy luật được trao cho các ứng viên, đệ tử được cảnh báo phải làm việc trong các cấp độ ấy theo các phương pháp [179] của sự tiến hoá thiên thần hay thiên thần. Quy luật như sau:

The Army of the Voice, the devas in their serried ranks, work ceaselessly. Let the disciple apply himself to a consideration of their methods; let him learn the rules whereby the Army works within the veils of maya.

Đạo Quân của Âm Thanh, các thiên thần trong hàng ngũ chỉnh tề của họ, làm việc không ngừng nghỉ. Hãy để đệ tử chuyên tâm xem xét các phương pháp của họ; hãy để y học các quy luật nhờ đó Đạo Quân làm việc bên trong các màn che của ảo lực.

These particular devas in “their serried ranks” are the directive agents of the divine energy which implements the purposes of Deity upon the physical plane. They work only on etheric levels—either upon our physical plane or on the cosmic etheric levels. They are therefore active in the realm of maya, which is the etheric plane as we usually understand it, or upon the planes of the Spiritual Triad. They are not active on the three gross physical levels or upon the astral or mental planes, nor are they active upon the highest or logoic plane. There they are implicit or latent but not active. They are the great “impulsive factors” in manifestation, organising substance, directing the multiplicity of lives and beings who constitute the forms through which God expresses divinity. In a peculiar sense, they are the embodiment of the divine purpose upon the planes of the Monad and of the Triad, just as the aggregate of energies in man’s etheric body is the result of his inner direction and the cause of his outer manifestation. To understand more fully the function of the deva forces, a man must arrive at some understanding of the forces in his etheric body which, in their turn, are the consequence of his point of attainment—an attainment demonstrated by his astral (emotional) and mental natures and activities. These indicate his point of development.

Các thiên thần đặc biệt này trong “hàng ngũ chỉnh tề của họ” là các tác nhân chỉ đạo của năng lượng thiêng liêng thực thi các mục đích của Thượng đế trên cõi hồng trần. Họ chỉ làm việc trên các cấp độ dĩ thái—hoặc trên cõi hồng trần của chúng ta hoặc trên các cấp độ dĩ thái vũ trụ. Vì thế họ hoạt động trong lĩnh vực của ảo lực, tức cõi dĩ thái như chúng ta thường hiểu, hoặc trên các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần. Họ không hoạt động trên ba cấp độ hồng trần thô trọng hay trên các cõi cảm dục hoặc cõi trí, cũng không hoạt động trên cõi cao nhất hay cõi logoic. Ở đó họ hàm ẩn hay tiềm tàng nhưng không hoạt động. Họ là những “nhân tố xung động” lớn lao trong biểu hiện, tổ chức chất liệu, chỉ đạo vô số sự sống và hữu thể cấu thành các hình tướng qua đó Thượng đế biểu lộ thiên tính. Theo một nghĩa đặc biệt, họ là hiện thân của mục đích thiêng liêng trên các cõi của chân thần và của Tam nguyên tinh thần, cũng như tổng thể các năng lượng trong thể dĩ thái của con người là kết quả của sự chỉ đạo bên trong của y và là nguyên nhân của sự biểu hiện bên ngoài của y. Để thấu hiểu đầy đủ hơn chức năng của các mãnh lực thiên thần, con người phải đạt đến một mức thấu hiểu nào đó về các mãnh lực trong thể dĩ thái của mình, mà đến lượt chúng là hệ quả của điểm thành tựu của y—một thành tựu được chứng minh bởi bản chất và hoạt động cảm dục (xúc cảm) và trí tuệ của y. Những điều này chỉ ra điểm phát triển của y.

The devas are the agents of the divine will because they are a consequence of the point of attainment of our planetary Logos as He exists outside the seven planes of our sphere of existence, the cosmic physical plane. They are conditioned by His cosmic astral and mental vehicles. In a definite sense, they are the agents of the Universal Mind, even though they are not mental as we understand that term. They are sometimes regarded as blind forces, but that is only because they get their inspiration from levels of [180] divine awareness outside the range of the human consciousness, no matter how high, or when used in its widest connotation.

Các thiên thần là các tác nhân của ý chí thiêng liêng bởi vì họ là hệ quả của điểm thành tựu của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta khi Ngài hiện hữu bên ngoài bảy cõi của khối cầu hiện hữu của chúng ta, tức cõi hồng trần vũ trụ. Họ được điều kiện hóa bởi các vận cụ cảm dục và trí tuệ vũ trụ của Ngài. Theo một nghĩa xác định, họ là các tác nhân của Vũ Trụ Trí, dù họ không phải là trí tuệ theo cách chúng ta hiểu thuật ngữ đó. Đôi khi họ được xem như những mãnh lực mù quáng, nhưng điều đó chỉ vì họ nhận cảm hứng từ các cấp độ [180] nhận thức thiêng liêng nằm ngoài phạm vi của tâm thức con người, dù cao đến đâu, hay khi được dùng theo nghĩa rộng nhất của nó.

Their controlling Agent in manifestation is the Triangle of Energy to which we give the name the “Three Buddhas of Activity.” They are therefore closely connected with the third aspect of divinity. They are essentially the “eye within the Triangle”—a most familiar symbol to many today. They are the expression, in activity, of the “All-Seeing Eye”; through their agency God sees, and through them and the energy directed through them, He directs the creative process. They are under the complete control of the three Buddhas of Activity, Who are the cosmic Prototypes of the Lords of the three major rays, but not in the sense usually understood when the rays are considered in their relation to man. They are the correspondence of these three rays and are responsible for the entire manifested universe, but only within the orbit of the third aspect, the expression of the Universal Mind.

Tác Nhân kiểm soát của họ trong biểu hiện là Tam Giác Năng Lượng mà chúng ta gọi là “Ba Đức Phật Hoạt Động.” Vì thế họ liên hệ chặt chẽ với phương diện thứ ba của thiên tính. Về bản chất, họ là “con mắt bên trong Tam Giác”—một biểu tượng rất quen thuộc với nhiều người ngày nay. Họ là biểu hiện, trong hoạt động, của “Con Mắt Thấy Tất Cả”; qua tác nhân của họ Thượng đế thấy, và qua họ cùng năng lượng được chỉ đạo xuyên qua họ, Ngài điều khiển tiến trình sáng tạo. Họ nằm dưới sự kiểm soát hoàn toàn của ba Đức Phật Hoạt Động, là các Nguyên Mẫu vũ trụ của các Chúa Tể của ba cung chính, nhưng không theo nghĩa thường được hiểu khi các cung được xét trong mối liên hệ với con người. Họ là sự tương ứng của ba cung này và chịu trách nhiệm cho toàn thể vũ trụ biểu hiện, nhưng chỉ trong quỹ đạo của phương diện thứ ba, biểu hiện của Vũ Trụ Trí.

They come from the cosmic mental plane, just as the energy—distinctive of the second aspect—comes from the cosmic astral plane. God is mind. God is intelligent functioning. God is creative activity. These are the qualities of the deva evolution. God is love. God is relationship. God is consciousness. These are the three qualities of the Christ evolution. This latter evolution is carried on within the created sphere of influence of the third aspect. God is life. God is fire. God is pure being. These are the qualities of the spirit aspect, the omnipotent aspect of Deity. All these three aspects focus themselves and find an outlet for expression upon the levels of the cosmic etheric planes and upon the levels of the etheric planes known to humanity in the three worlds. The Law of Correspondences is infallible, if rightly approached and applied.

Họ đến từ cõi trí vũ trụ, cũng như năng lượng—đặc trưng của phương diện thứ hai—đến từ cõi cảm dục vũ trụ. Thượng đế là trí tuệ. Thượng đế là sự vận hành thông minh. Thượng đế là hoạt động sáng tạo. Đó là các phẩm tính của sự tiến hoá thiên thần. Thượng đế là tình thương. Thượng đế là mối liên hệ. Thượng đế là tâm thức. Đó là ba phẩm tính của sự tiến hoá Christ. Sự tiến hoá sau này được thực hiện bên trong khối cầu ảnh hưởng đã được tạo ra của phương diện thứ ba. Thượng đế là sự sống. Thượng đế là lửa. Thượng đế là hiện hữu thuần túy. Đó là các phẩm tính của phương diện tinh thần, phương diện toàn năng của Thượng đế. Cả ba phương diện này đều tự hội tụ và tìm được lối thoát biểu hiện trên các cấp độ của các cõi dĩ thái vũ trụ và trên các cấp độ của các cõi dĩ thái mà nhân loại biết đến trong ba cõi thấp. Định luật tương ứng là bất khả sai lầm, nếu được tiếp cận và áp dụng đúng đắn.

This broad and general presentation must be rightly grasped if the rule, as given to disciples and initiates, is to be correctly understood.

Sự trình bày rộng lớn và tổng quát này phải được nắm bắt đúng đắn nếu quy luật, như được trao cho các đệ tử và các điểm đạo đồ, muốn được hiểu một cách chính xác.

You have been taught that illusion is the characteristic [181] which must be mastered by the initiate as he “escapes” occultly from the three worlds via the mental plane. (Glamour: A World Problem.) Glamour, you are told, is the characteristic of the astral plane, and must be dissipated by the disciple as he “escapes” mystically on to the Path of Initiation, just as the initiate finds himself (after mastering illusion) on the Path of the Higher Evolution. Maya is the conditioning factor on etheric levels, and must be evaded and overcome by the probationary disciple as he “escapes” from the thralldom of the physical plane. Thus he learns to tread the Path of Discipleship. These characteristics are, however, only the reaction of humanity to the activities of the deva evolution, rightly and divinely proceeding with their task of implementing the divine will. When the sphere of their activity comes into contact with the human intelligence, the effect upon humanity (before mastery is gained) is to compel men “to wander in the fields of maya, to drown in the sea of glamour, and to respond to the pull of illusion.”

Các bạn đã được dạy rằng ảo tưởng là đặc tính [181] mà điểm đạo đồ phải chế ngự khi y “thoát ra” một cách huyền bí khỏi ba cõi giới qua cõi trí. (Ảo Cảm: Một Vấn Đề của Thế Gian.) Các bạn được bảo rằng ảo cảm là đặc tính của cõi cảm dục, và phải được đệ tử làm tiêu tan khi y “thoát ra” một cách thần bí để bước lên Con Đường Điểm Đạo, cũng như điểm đạo đồ thấy mình (sau khi chế ngự ảo tưởng) ở trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Ảo lực là yếu tố điều kiện hóa trên các cấp độ dĩ thái, và phải được đệ tử dự bị tránh né và vượt qua khi y “thoát ra” khỏi ách nô lệ của cõi hồng trần. Nhờ đó y học cách bước đi trên Con Đường Đệ Tử. Tuy nhiên, các đặc tính này chỉ là phản ứng của nhân loại đối với các hoạt động của sự tiến hoá thiên thần, đang tiến hành đúng đắn và thiêng liêng trong nhiệm vụ thực thi ý chí thiêng liêng. Khi phạm vi hoạt động của họ tiếp xúc với trí tuệ con người, thì hiệu quả đối với nhân loại (trước khi đạt được sự chế ngự) là buộc con người “lang thang trong các cánh đồng của ảo lực, chìm đắm trong biển ảo cảm, và đáp ứng với sức kéo của ảo tưởng.”

In this teaching, you have presented to you, though in a somewhat different form, the ancient problem of duality, involving as it does the immense potency of the deva evolution. It definitely affects humanity; this is due to the fact that it is an expression of the will aspect of Shamballa. As man develops the will aspect, he learns to break loose from the aura of the deva evolution, and the major task of the Hierarchy (as far as basic essentials are concerned) is to “provide sanctuary” to those who have liberated themselves from the ocean of deva energies in which their vehicles must perforce move and live and have their being, but with which they have otherwise no point of contact, once liberated by their own effort and will “from the angels.” Let us now study Rule Ten.

Trong giáo huấn này, các bạn được trình bày, dù dưới một hình thức hơi khác, vấn đề cổ xưa về nhị nguyên tính, vì nó bao hàm tiềm lực to lớn của sự tiến hoá thiên thần. Nó chắc chắn ảnh hưởng đến nhân loại; điều này là do nó là một biểu hiện của phương diện ý chí của Shamballa. Khi con người phát triển phương diện ý chí, y học cách thoát khỏi hào quang của sự tiến hoá thiên thần, và nhiệm vụ chính của Thánh đoàn (xét về các yếu tính căn bản) là “cung cấp nơi trú ẩn” cho những ai đã tự giải thoát khỏi đại dương các năng lượng thiên thần mà trong đó các vận cụ của họ tất yếu phải vận động, sống và hiện hữu, nhưng ngoài điều đó họ không còn điểm tiếp xúc nào với nó nữa, một khi đã được giải thoát bởi nỗ lực và ý chí riêng của mình “khỏi các thiên thần.” Giờ đây chúng ta hãy nghiên cứu Quy luật Mười.

Rule X.

Quy luật X.

The rules for work within the veils of maya are known and have been used. Let the group widen all the rents within those veils and thus let in the light. Let the Army of the Voice be no more heard, and let the brothers onward move within the Sound. Then let them [182] know the meaning of the O.M. and let them hear that O.M. as it is sounded forth by Him Who stands and waits at the very centre of the Council Chamber of the Lord.

Các quy luật cho công việc bên trong các màn che của ảo lực đã được biết và đã được sử dụng. Hãy để nhóm mở rộng mọi chỗ rách trong các màn che ấy và nhờ đó để ánh sáng đi vào. Hãy để Đạo Quân của Âm Thanh không còn được nghe nữa, và hãy để các huynh đệ tiến bước bên trong Linh từ. Rồi hãy để họ [182] biết ý nghĩa của O.M. và hãy để họ nghe O.M. ấy khi nó được xướng lên bởi Đấng đứng và chờ đợi tại chính trung tâm của Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể.

I would here remind you that we are considering work that the initiate must accomplish, and are not considering the usual effort of struggling aspirants to deal with and handle those forces which have worked through into physical expression. These, from the levels of the forty-eight subplanes are waiting to precipitate themselves into the dense physical manifested world. The aspirant must ever work from the outside to the within and must endeavour to direct his life from above downwards, if these forces are to be dominated by him and are not to control him. The initiate, however, works “from within the circle,” that is the circle or field of maya. His activity must therefore be carried forward from the very heart of the mystery of these forces; this he can do because he is in a position to know the type of energy with which he has to contend, to understand the nature of the forces with which he can and must manipulate the “mayavic energies,” and thus to dominate the etheric planes he is also aware where one veil ends and another begins, and from what level he can successfully bring the swirling and living energies into conformity with the divine pattern.

Ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng chúng ta đang xem xét công việc mà điểm đạo đồ phải hoàn thành, chứ không xem xét nỗ lực thông thường của những người chí nguyện đang vật lộn để đề cập đến và xử lý các mãnh lực đã thâm nhập vào biểu hiện hồng trần. Những mãnh lực này, từ các cấp độ của bốn mươi tám cõi phụ, đang chờ để ngưng tụ vào thế giới biểu hiện hồng trần đậm đặc. Người chí nguyện phải luôn làm việc từ bên ngoài vào bên trong và phải cố gắng chỉ đạo đời sống của mình từ trên xuống dưới, nếu các mãnh lực này muốn bị y chế ngự và không kiểm soát y. Tuy nhiên, điểm đạo đồ làm việc “từ bên trong vòng tròn,” tức là vòng tròn hay trường của ảo lực. Vì thế hoạt động của y phải được tiến hành từ chính trung tâm của huyền nhiệm của các mãnh lực này; y có thể làm điều đó vì y ở vào vị trí có thể biết loại năng lượng mà mình phải đương đầu, thấu hiểu bản chất của các mãnh lực mà y có thể và phải vận dụng đối với “các năng lượng ảo lực,” và nhờ đó chế ngự các cõi dĩ thái; y cũng nhận biết nơi một màn che kết thúc và màn che khác bắt đầu, và từ cấp độ nào y có thể thành công đưa các năng lượng xoáy động và sống động vào sự phù hợp với mô hình thiêng liêng.

It should also be noted here that the energies projected by the initiate into the world of maya are directed by him from the various centres in his own body and from the central point of energy in each particular centre employed. It is the central “jewel in the lotus” from which the initiate works, and these seven central focal points, these seven jewels, so-called, are the correspondence of the jewel in the egoic lotus. This means, therefore, that successful work “within the veils of maya” involves ever the use of the will aspect and the conscious employment of that quota of the Shamballa force which the initiate is able to appropriate and to use because he has begun to work as a focussing agent of the Spiritual Triad and is no longer working as a [183] soul or as a personality under soul control. This is an important point to remember.

Cũng cần lưu ý ở đây rằng các năng lượng được điểm đạo đồ phóng chiếu vào thế giới của ảo lực được y chỉ đạo từ các trung tâm khác nhau trong thể riêng của mình và từ điểm năng lượng trung tâm trong mỗi trung tâm đặc biệt được sử dụng. Chính từ “ngọc châu trong hoa sen” trung tâm mà điểm đạo đồ làm việc, và bảy tiêu điểm trung tâm này, bảy ngọc châu này, như được gọi, là sự tương ứng của ngọc châu trong Hoa Sen Chân Ngã. Do đó điều này có nghĩa là công việc thành công “bên trong các màn che của ảo lực” luôn luôn bao hàm việc sử dụng phương diện ý chí và việc vận dụng có ý thức phần lực Shamballa mà điểm đạo đồ có thể tiếp nhận và sử dụng bởi vì y đã bắt đầu làm việc như một tác nhân hội tụ của Tam Nguyên Tinh Thần và không còn làm việc như một [183] linh hồn hay như một phàm ngã dưới sự kiểm soát của linh hồn nữa. Đây là một điểm quan trọng cần ghi nhớ.

It is along the antahkarana that the force used by the initiate must pour, and according to the nature of the work to be done will be the particular strand or thread of the rainbow bridge which the initiate employs. There are four veils of maya, constructed necessarily of seven forces, and these produce the factual and phenomenal aspect (in time and space) of the Great Illusion, in its three forms of illusion, glamour and maya. There are seven points of energy through which different aspects of the force needed to produce the desired effects within the veils of maya can flow, and these correspond to the seven ray types or qualities. But the major type of energy with which the initiate works upon the physical plane is the seventh, the ray or energy of ritual, of ceremony, of order and of law. The work done within the veils is one of rearrangement and the ordination and coordination of the forces, present as existent maya; this must provide, in time and space, the forms through which the plans of the Hierarchy can materialise, the souls of all forms can be subjected to the needed experience, and so progress towards the fulfillment of the will of God.

Chính dọc theo antahkarana mà mãnh lực được điểm đạo đồ sử dụng phải tuôn đổ, và tùy theo bản chất của công việc cần làm mà sợi hay tuyến đặc biệt của cây cầu vồng sẽ được điểm đạo đồ sử dụng. Có bốn màn che của ảo lực, tất yếu được cấu tạo từ bảy mãnh lực, và chúng tạo ra phương diện thực tế và hiện tượng (trong thời gian và không gian) của Đại Ảo Tưởng, trong ba hình thức của ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực. Có bảy điểm năng lượng qua đó các phương diện khác nhau của mãnh lực cần thiết để tạo ra các hiệu quả mong muốn bên trong các màn che của ảo lực có thể tuôn chảy, và chúng tương ứng với bảy loại hay phẩm tính cung. Nhưng loại năng lượng chính mà điểm đạo đồ làm việc với trên cõi hồng trần là loại thứ bảy, cung hay năng lượng của nghi lễ, của nghi thức, của trật tự và của định luật. Công việc được thực hiện bên trong các màn che là công việc tái sắp xếp và quy định cùng phối hợp các mãnh lực hiện diện như ảo lực hiện hữu; điều này phải cung cấp, trong thời gian và không gian, các hình tướng qua đó các kế hoạch của Thánh đoàn có thể hiện hình, các linh hồn của mọi hình tướng có thể chịu đựng kinh nghiệm cần thiết, và nhờ đó tiến tới sự hoàn thành Ý Chí của Thượng Đế.

Maya is not something to be destroyed, dissipated, dissolved or negated. Maya is in reality an aspect of time, and connotes to the initiate the mass of creative forces with which he must work; these are swept into form generation and activity, and embody in the transitional, ephemeral, present moment the phenomenal point in evolution reached by the life of God. The work of the initiate, acting under hierarchical inspiration, is to change the present forms into the more adequate forms demanded by the descending life and its dynamic activity. We are therefore dealing with the precipitated aspect of divine evolutionary process. We are concerned with the relation of the Army of the Voice to the SOUND which conditions evolution, and with the supervisory work of the Hierarchy as it sustains the work of the [184] soul to be found within all forms—built by the Army of the Voice and by the devas in their serried ranks.

Ảo lực không phải là cái gì đó cần bị phá hủy, làm tiêu tan, hòa tan hay phủ định. Trong thực tại, ảo lực là một phương diện của thời gian, và đối với điểm đạo đồ nó hàm ý khối lượng các mãnh lực sáng tạo mà y phải làm việc cùng; chúng bị cuốn vào sự phát sinh hình tướng và hoạt động, và hiện thân trong khoảnh khắc hiện tại chuyển tiếp, phù du, điểm hiện tượng trong tiến hoá mà sự sống của Thượng đế đã đạt tới. Công việc của điểm đạo đồ, hành động dưới cảm hứng của Thánh đoàn, là chuyển đổi các hình tướng hiện tại thành những hình tướng thích đáng hơn do sự sống giáng hạ và hoạt động năng động của nó đòi hỏi. Vì thế chúng ta đang đề cập đến phương diện đã ngưng tụ của tiến trình tiến hoá thiêng liêng. Chúng ta quan tâm đến mối liên hệ của Đạo Quân của Âm Thanh với LINH TỪ điều kiện hóa tiến hoá, và đến công việc giám sát của Thánh đoàn khi nó nâng đỡ công việc của [184] linh hồn được tìm thấy bên trong mọi hình tướng—được xây dựng bởi Đạo Quân của Âm Thanh và bởi các thiên thần trong hàng ngũ chỉnh tề của họ.

The supervisory, directive work of the Hierarchy, carried forward by the Masters and Their groups and by the initiates within those groups, is seldom considered; it is, however, a work of major importance and is one definitely referred to in this rule. Fundamentally, the task set before the Hierarchy is to “let in the light”; but this time not in the sense of revelation, of vision or of illumination. These latter are all aspects of soul light; the work of the initiate is to aid in the construction of the planetary body of light—substance which will finally reveal the nature of Deity and the glory of the Lord. It is the planetary correspondence to the light-body through which Christ and all the Sons of God Who have reached perfection finally manifest. It is a vehicle created by the energy of Will, and it is implemented and “held in being” by the Will. It expresses itself exoterically by the projection of this will energy, via the central point in each of the seven chakras or lotuses.

Công việc giám sát, chỉ đạo của Thánh đoàn, được tiến hành bởi các Chân sư và các nhóm của Các Ngài cùng bởi các điểm đạo đồ trong các nhóm ấy, hiếm khi được xem xét; tuy nhiên đó là một công việc có tầm quan trọng lớn lao và chắc chắn được nói đến trong quy luật này. Về căn bản, nhiệm vụ đặt ra trước Thánh đoàn là “để ánh sáng đi vào”; nhưng lần này không theo nghĩa mặc khải, linh thị hay soi sáng. Những điều sau này đều là các phương diện của ánh sáng linh hồn; công việc của điểm đạo đồ là trợ giúp trong việc xây dựng thể ánh sáng hành tinh—chất liệu mà cuối cùng sẽ mặc khải bản chất của Thượng đế và vinh quang của Đức Chúa Tể. Đó là sự tương ứng hành tinh với thể ánh sáng qua đó Đức Christ và mọi Con của Thượng đế đã đạt đến hoàn thiện cuối cùng biểu lộ. Đó là một vận cụ được tạo ra bởi năng lượng của Ý Chí, và được thực thi và “duy trì trong hiện hữu” bởi Ý Chí. Nó biểu lộ ra bên ngoài bằng sự phóng chiếu năng lượng ý chí này, qua điểm trung tâm trong mỗi một trong bảy luân xa hay hoa sen.

In studying these rules for the initiate, it must ever be remembered that they concern primarily the use of the will or first aspect. This is the energy of the Monad, utilised via the Spiritual Triad and related to the personality via the antahkarana. Secondary interpretations and tertiary correspondences are always possible, but the main significance of these rules is related to the first divine aspect. You have therefore, as you reflect, think, study and correlate, to bear constantly in mind:

Khi nghiên cứu các quy luật này dành cho điểm đạo đồ, luôn luôn phải nhớ rằng chúng chủ yếu liên quan đến việc sử dụng ý chí hay phương diện thứ nhất. Đây là năng lượng của chân thần, được sử dụng qua Tam Nguyên Tinh Thần và liên hệ với phàm ngã qua antahkarana. Những diễn giải thứ yếu và những tương ứng bậc ba luôn luôn có thể có, nhưng thâm nghĩa chính của các quy luật này liên hệ với phương diện thiêng liêng thứ nhất. Vì thế, khi phản tỉnh, suy nghĩ, nghiên cứu và liên hệ, các bạn phải luôn ghi nhớ:

1. The seven ray types.

1. Bảy loại cung.

2. The Monad, the Spiritual Triad and the threefold personality; these constitute another septenate.

2. Chân thần, Tam Nguyên Tinh Thần và phàm ngã tam phân; những điều này cấu thành một bộ bảy khác.

3. The seven groups of Masters.

3. Bảy nhóm Chân sư.

4. The seven centres and their seven central points, or jewels.

4. Bảy trung tâm và bảy điểm trung tâm, hay các ngọc châu, của chúng.

5. The four veils of maya.

5. Bốn màn che của ảo lực.

Various other septenates could also be related, but such relationship is not required by the initiate who has consciously discarded all these lower septenates and works now [185] with the seven major energies, the sevenfold field of their activity and the septenary aspect of the implementing instrument, whether planetary or individual.

Nhiều bộ bảy khác cũng có thể được liên hệ, nhưng mối liên hệ như vậy không cần thiết đối với điểm đạo đồ, người đã có ý thức loại bỏ tất cả các bộ bảy thấp hơn ấy và hiện đang làm việc [185] với bảy năng lượng chính, trường hoạt động thất phân của chúng và phương diện thất phân của công cụ thực thi, dù là hành tinh hay cá nhân.

Simplification proceeds rapidly as one nears the goal of the spirit. Will ever concerns itself with the essentials and not with the details of manifestation. Love concerns itself with transitional, evolutionary fundamentals, whilst intelligence concerns itself with the detail and its coherent coordination in response to the impulse and attractive force of divine love and the dynamic impulse of the spirit.

Sự đơn giản hóa tiến triển nhanh chóng khi người ta đến gần mục tiêu của tinh thần. Ý chí luôn quan tâm đến các yếu tính chứ không phải các chi tiết của biểu hiện. Bác ái quan tâm đến các nền tảng chuyển tiếp, tiến hoá, trong khi trí tuệ quan tâm đến chi tiết và sự phối hợp mạch lạc của nó để đáp ứng với xung lực và mãnh lực hấp dẫn của bác ái thiêng liêng cùng xung lực năng động của tinh thần.

Let us now proceed, after these few preliminary remarks, to take this tenth rule sentence by sentence. These are five in number, and the first which we will consider is:

Giờ đây, sau vài nhận xét sơ bộ này, chúng ta hãy tiếp tục xem xét quy luật thứ mười này từng câu một. Có năm câu, và câu đầu tiên mà chúng ta sẽ xem xét là:

1. The rules for work within the veils of Maya are known and have been used.

1. Các quy luật cho công việc bên trong các màn che của ảo lực đã được biết và đã được sử dụng.

Students should remember that the work of the Hierarchy is constantly conditioned by the point in evolution of the human hierarchy. In the early days of human history, thinking, and progress had practically no place, and therefore little or no effect upon the forces and energies which were active upon etheric levels. At that period, they were left in a relatively quiescent state or else were swept into activity by definite and planned impression from the Hierarchy; any effect coming from the human kingdom was due solely to mass impulse or impression. This was very little, owing to the lack of coordinated relation between units and groups within the human family. Later, as family units massed together and formed tribes, and then tribe united with tribe to form larger tribes or embryonic nations, this mass effect increased, but there was still but little thinking or direction connected with it; it was largely instinctive and—if I might so express it—the etheric plane was in reality more in the nature of a matrix surrounding a valuable creation, and was essentially protective, separating and slightly energising.

Các đạo sinh nên nhớ rằng công việc của Thánh đoàn luôn được điều kiện hóa bởi điểm tiến hoá của thang tiến hoá nhân loại. Trong những ngày đầu của lịch sử loài người, tư duy và tiến bộ hầu như không có chỗ đứng, và vì thế hầu như không có hoặc có rất ít tác động lên các mãnh lực và năng lượng đang hoạt động trên các cấp độ dĩ thái. Trong thời kỳ đó, chúng được để trong trạng thái tương đối tĩnh lặng hoặc bị cuốn vào hoạt động bởi sự ấn tượng rõ rệt và có kế hoạch từ Thánh đoàn; bất kỳ hiệu quả nào đến từ giới nhân loại chỉ hoàn toàn do xung lực hay ấn tượng quần chúng. Điều này rất ít, do thiếu mối liên hệ phối hợp giữa các đơn vị và các nhóm trong gia đình nhân loại. Về sau, khi các đơn vị gia đình tụ tập lại và hình thành các bộ lạc, rồi bộ lạc hợp nhất với bộ lạc để tạo thành các bộ lạc lớn hơn hay các quốc gia phôi thai, hiệu quả quần chúng này gia tăng, nhưng vẫn còn rất ít tư duy hay sự chỉ đạo gắn liền với nó; phần lớn là bản năng và—nếu tôi có thể diễn đạt như vậy—cõi dĩ thái trong thực tại mang bản chất của một khuôn nền bao quanh một tạo vật quý giá, và về bản chất là có tính bảo hộ, phân cách và tiếp sinh lực nhẹ nhàng.

In Atlantean days, the plane whereon humanity received its major direction or unfoldment was such that the [186] emotional, impulsive nature and the field of maturing desire became dominantly active. Then the real difficulty within the realm of maya started. Hitherto only two energies had been felt upon the etheric plane: the energy of life itself, via the sutratma, as it passed through the etheric plane in order to produce exoteric livingness upon the physical plane, and secondly, the energy of the Hierarchy as a whole, producing a slow, broad, though somewhat negative organisation of the prevalent forces. But then a third and most potent force, generated by humanity, was beginning to make an impact upon the etheric forces. Men were beginning, at this early period of human history, to desire, and this desire was not, as hitherto, of a purely animal nature and hence an emanation from dense physical substance (and, therefore, not related to a principle), but it embodied a new type of energy and was—in reality—man’s first expression of the highest divine aspect. Desire is the lowest reflection within the human consciousness of the will aspect.

Vào thời Atlantis, cõi mà trên đó nhân loại nhận được định hướng hay sự khai mở chủ yếu của mình là cõi trong đó bản chất [186] cảm xúc, xung động và lĩnh vực của dục vọng đang chín muồi trở nên hoạt động một cách nổi trội. Khi ấy, khó khăn thực sự trong lĩnh vực của ảo lực bắt đầu. Cho đến lúc đó, chỉ có hai năng lượng được cảm nhận trên cõi dĩ thái: năng lượng của chính sự sống, qua sutratma, khi nó đi xuyên qua cõi dĩ thái để tạo ra sức sống ngoại hiện trên cõi hồng trần, và thứ hai là năng lượng của Thánh đoàn như một toàn thể, tạo ra một sự tổ chức chậm rãi, rộng lớn, tuy phần nào thụ động, của các mãnh lực đang chi phối. Nhưng rồi một mãnh lực thứ ba và cực kỳ mạnh mẽ, do nhân loại tạo ra, bắt đầu tác động lên các mãnh lực dĩ thái. Vào giai đoạn sớm này của lịch sử nhân loại, con người bắt đầu ham muốn, và ham muốn này không còn, như trước kia, chỉ thuần túy có bản chất thú tính và do đó là một phát xạ từ chất liệu hồng trần đậm đặc (và vì thế không liên hệ với một nguyên khí), mà nó thể hiện một loại năng lượng mới và—thực ra—là biểu hiện đầu tiên của con người về phương diện thiêng liêng cao nhất. Dục vọng là sự phản chiếu thấp nhất trong tâm thức con người của phương diện ý chí.

This potent vibration of desire was evoked by men who were as yet without any spiritual vision of any kind; they were purely material in their instinctive reactions (and rightly so at that particular time), and these reactions attracted the attention of certain purely evil energies or Beings. These Beings availed themselves of the situation in order to satisfy their desire for power—again a distortion of the will or first aspect. Thus the Black Lodge was founded. It fed upon human desire and resembled a vast overshadowing vampire. It vitiated human living and increased the growth of desire far beyond normal expectancy or hierarchical planning, thus creating false goals and standards, building a barrier between the lowest planetary centre, Humanity, and the “middle point” or centre, the Hierarchy. It will be apparent, therefore, that the following energies were let loose within the realm of maya:

Rung động mạnh mẽ của dục vọng này được khơi dậy bởi những con người khi ấy còn chưa có bất kỳ linh thị tinh thần nào; họ hoàn toàn vật chất trong các phản ứng bản năng của mình (và điều đó là đúng vào thời điểm đặc biệt ấy), và những phản ứng này đã thu hút sự chú ý của một số năng lượng hay Thực Thể thuần ác. Các Thực Thể này đã lợi dụng tình thế để thỏa mãn dục vọng quyền lực của mình—một lần nữa là sự bóp méo của ý chí hay phương diện thứ nhất. Vì thế Hắc đoàn được thành lập. Nó nuôi sống bằng dục vọng của con người và giống như một ma cà rồng khổng lồ phủ bóng. Nó làm bại hoại đời sống con người và gia tăng sự phát triển của dục vọng vượt xa mức bình thường hay dự liệu của Thánh đoàn, do đó tạo ra các mục tiêu và tiêu chuẩn giả tạo, dựng nên một rào cản giữa trung tâm hành tinh thấp nhất là Nhân loại và “điểm ở giữa” hay trung tâm là Thánh đoàn. Do đó, hiển nhiên là các năng lượng sau đây đã được giải phóng trong lĩnh vực của ảo lực:

1. The instinctive force of animal desire. This was not wrong in itself and is subject to negation in time, and normally is controlled. [187]

1. Mãnh lực bản năng của dục vọng thú tính. Tự nó điều này không sai và theo thời gian sẽ bị phủ định, và bình thường thì được kiểm soát. [187]

2. The stream of descending life, and this in two aspects:

2. Dòng sự sống giáng xuống, và điều này trong hai phương diện:

a. The life aspect, as it bestows being.

a. Phương diện sự sống, khi nó ban hữu thể.

b. The life aspect, as it preserves form.

b. Phương diện sự sống, khi nó bảo tồn hình tướng.

3. The steady impact of the attractive power of the soul, implemented by the Hierarchy and increasing in potency as time elapses.

3. Tác động đều đặn của quyền năng hấp dẫn của linh hồn, được Thánh đoàn thực thi và ngày càng tăng cường lực theo thời gian.

4. The impelling power of material desire, focussed in the Black Lodge, both feeding human desire and drawing a form of life from the massed desire of humanity.

4. Quyền năng thúc đẩy của dục vọng vật chất, tập trung trong Hắc đoàn, vừa nuôi dưỡng dục vọng của con người vừa rút ra một hình thức sự sống từ dục vọng tập thể của nhân loại.

5. Human development along astral lines, expressing itself as certain well-defined energies or force directions:

5. Sự phát triển của con người theo các đường cảm dục, biểu lộ thành những năng lượng hay hướng mãnh lực nhất định, rõ rệt:

a. Material desire for possessions.

a. Dục vọng vật chất đối với của cải sở hữu.

b. Desire for that which is owned by others. To this the commandment “Thou shalt not steal” has reference.

b. Dục vọng đối với những gì thuộc sở hữu của người khác. Điều răn “Ngươi chớ trộm cắp” là nói đến điều này.

c. Personality aims and ambitions; these constitute a form of focussed desire of a compelling, life-determining nature.

c. Những mục tiêu và tham vọng của phàm ngã; chúng cấu thành một dạng dục vọng tập trung có tính cưỡng bách, quyết định đời sống.

d. Aspiration, leading to vision and to the mystic Way.

d. Khát vọng, dẫn đến linh ảnh và đến Con Đường thần bí.

e. Purification, the conscious handling of desire upon the Probationary Path.

e. Sự thanh lọc, tức việc xử lý dục vọng một cách hữu thức trên Con Đường Dự Bị.

f. Initiation. The first two initiations are taken, as you know, upon the astral plane, and bring complete release both from that plane of glamour and from the realm of maya.

f. Điểm đạo. Hai lần điểm đạo đầu tiên, như bạn đã biết, được tiếp nhận trên cõi cảm dục, và đem lại sự giải thoát hoàn toàn khỏi cả cõi ảo cảm đó lẫn lĩnh vực của ảo lực.

All throughout this period, the organisation of the etheric plane has been going on, subject to the impact of energies and forces as listed above, plus certain other energies (latent or potent) with which we have no immediate concern. Both the great White Lodge and its opponent, the Black Lodge, increased steadily in potency. Gradually the forces took organised form and the four “veils of maya” or the seven separating energies became well-defined. When this differentiation was complete, two great planetary events (if I might call them so) were consummated: [188]

Trong suốt thời kỳ này, sự tổ chức của cõi dĩ thái vẫn tiếp diễn, chịu tác động của các năng lượng và mãnh lực như đã liệt kê ở trên, cộng thêm một số năng lượng khác (tiềm tàng hay mạnh mẽ) mà hiện giờ chúng ta không trực tiếp quan tâm. Cả Thánh đoàn lẫn đối thủ của nó là Hắc đoàn đều tăng trưởng đều đặn về cường lực. Dần dần các mãnh lực mang hình thức có tổ chức và bốn “bức màn của ảo lực” hay bảy năng lượng phân cách trở nên được xác định rõ. Khi sự biến phân này hoàn tất, hai biến cố hành tinh lớn lao (nếu tôi có thể gọi như vậy) đã được hoàn thành: [188]

1. The seven centres in the human body (five up the spine and two in the head) were esoterically “in shape.” The seven lotuses or chakras were functioning, some powerfully, whilst others remained unawakened. These seven were now visible to clairvoyant vision.

1. Bảy trung tâm trong thể người (năm dọc theo cột sống và hai trong đầu) một cách huyền bí đã “thành hình.” Bảy hoa sen hay luân xa đang hoạt động, có cái mạnh mẽ, trong khi những cái khác vẫn chưa thức tỉnh. Bảy trung tâm này lúc ấy đã có thể thấy được đối với linh thị thông nhãn.

2. The seven Ashrams of the Masters in Their seven groups (conditioned by the seven Rays) appeared, motivated from Shamballa, organised at this time upon the higher levels of the mental plane, and gradually supplied with personnel from the ranks of humanity itself, as one by one men achieved initiation.

2. Bảy ashram của các Chân sư trong bảy nhóm của Các Ngài (được điều kiện hóa bởi bảy cung) xuất hiện, được thúc đẩy từ Shamballa, được tổ chức vào thời điểm này trên các cấp độ cao hơn của cõi trí, và dần dần được bổ sung nhân sự từ chính hàng ngũ nhân loại, khi từng người một đạt đến điểm đạo.

Paralleling this activity and implemented, fed and sustained by the Black Lodge, was the appearance of glamour upon the astral plane, and to this thickening glamour humanity steadily contributed and responded. Then as evolution progressed and the human intellect began to make itself felt, “the four veils of maya” and the great “curtain of glamour” began to condition the mental plane. Illusion then appeared, and the distinction between truth and falsehood, between good and evil, and between the left hand Path and the Path of Initiation became apparent to the advanced humanity of the time. These distinctions had always been known to the Hierarchy, but now human beings were faced with them and recognised them: the great potency of intellectual choice confronted humanity and the Aryan race (as that name is correctly used to denote modern intelligent humanity) came into being.

Song song với hoạt động này, và được Hắc đoàn thực thi, nuôi dưỡng và duy trì, là sự xuất hiện của ảo cảm trên cõi cảm dục, và vào ảo cảm ngày càng dày đặc này nhân loại đã đều đặn góp phần và đáp ứng. Rồi khi tiến hoá tiến triển và trí tuệ con người bắt đầu tự biểu lộ ảnh hưởng của nó, “bốn bức màn của ảo lực” và “tấm màn lớn của ảo cảm” bắt đầu tác động lên cõi trí. Khi ấy ảo tưởng xuất hiện, và sự phân biệt giữa chân lý và giả dối, giữa thiện và ác, và giữa tả đạo với Con Đường Điểm Đạo trở nên rõ ràng đối với phần nhân loại tiến bộ của thời đó. Những phân biệt này vốn luôn được Thánh đoàn biết đến, nhưng giờ đây con người phải đối diện với chúng và nhận ra chúng: sức mạnh lớn lao của sự lựa chọn bằng trí tuệ đối diện với nhân loại và nhân loại Arya (khi tên gọi ấy được dùng đúng để chỉ nhân loại thông minh hiện đại) xuất hiện.

As the ages slipped away, men contributed more and more both to the problem and to the solution of maya, of glamour and of illusion. The potency of human thought began to make itself felt; men in increasing numbers sought the Path of Liberation and so passed on into the Hierarchy; they became active and instructed opponents of the Black Lodge and intelligent wielders of energy as it can be projected downwards and used to destroy the four veils, to dissipate glamour and to dispel illusion. Humanity responded more and more sensitively to impacts—both subjective and objective—and their cooperation began to be [189] effective and useful to the Hierarchy, necessitating some changes in hierarchical techniques, releasing hierarchical workers for other and different activities, and greatly complicating the problem and menacing the safety and the status of the Black Lodge.

Khi các thời đại trôi qua, con người ngày càng góp phần nhiều hơn vào cả vấn đề lẫn giải pháp của ảo lực, của ảo cảm và của ảo tưởng. Sức mạnh của tư tưởng con người bắt đầu được cảm nhận; ngày càng nhiều người tìm kiếm Con Đường Giải Thoát và nhờ đó đi vào Thánh đoàn; họ trở thành những đối thủ tích cực và được huấn luyện của Hắc đoàn và là những người sử dụng năng lượng một cách thông minh khi năng lượng ấy có thể được phóng chiếu xuống dưới và dùng để phá hủy bốn bức màn, làm tiêu tan ảo cảm và xua tan ảo tưởng. Nhân loại ngày càng đáp ứng nhạy bén hơn với các tác động—cả chủ quan lẫn khách quan—và sự hợp tác của họ bắt đầu trở nên [189] hữu hiệu và hữu ích đối với Thánh đoàn, khiến cần có một số thay đổi trong các kỹ thuật của Thánh đoàn, giải phóng các người hoạt động của Thánh đoàn cho những hoạt động khác và khác biệt, đồng thời làm cho vấn đề thêm phức tạp và đe dọa sự an toàn cũng như địa vị của Hắc đoàn.

One of the results of this mental development was the sending of the disciples out into the world of men; they issued forth in large numbers, and whilst preserving their conscious link with the Ashram with which they were affiliated, they could be trusted to live among men as men and to bring their potency to bear upon the problem of maya and glamour, doing so from below upwards. This work had to be done by disciples who could stand under pressure, who would, in spite of all difficulties, live nobly and prepare for and take the initiation which was for them their next step. Several hundred years ago, only a few could be so trusted. Today (1944) there are many in every land, though there are very few in Germany, owing to the concentration in that unhappy land of the power of the Black Lodge and also to the misuse of the Shamballa force. This force has been isolated and its destructive aspect utilised in Germany, and this has been done without the paralleling activity of the love energy of the Hierarchy. It is this fact that has made it impossible (since 1933) for disciples of the White Lodge to enter. Elsewhere, however, the concentration of active disciples is greater than at any other time in human history.

Một trong những kết quả của sự phát triển trí tuệ này là việc gửi các đệ tử ra thế giới loài người; họ xuất hiện với số lượng lớn, và trong khi vẫn giữ mối liên kết hữu thức với ashram mà họ trực thuộc, họ có thể được tin cậy để sống giữa loài người như những con người và đem cường lực của mình tác động lên vấn đề của ảo lực và ảo cảm, làm điều đó từ dưới lên trên. Công việc này phải do những đệ tử có thể đứng vững dưới áp lực, những người mà bất chấp mọi khó khăn vẫn sống cao quý và chuẩn bị cho rồi tiếp nhận lần điểm đạo là bước kế tiếp của họ. Vài trăm năm trước, chỉ có rất ít người có thể được tin cậy như thế. Ngày nay (1944) có nhiều người ở mọi quốc gia, dù ở Đức thì rất ít, do sự tập trung tại vùng đất bất hạnh ấy của quyền lực Hắc đoàn và cũng do sự lạm dụng mãnh lực Shamballa. Mãnh lực này đã bị cô lập và phương diện hủy diệt của nó đã được sử dụng tại Đức, và điều này đã được thực hiện mà không có hoạt động song hành của năng lượng bác ái của Thánh đoàn. Chính sự kiện này đã khiến từ năm 1933 các đệ tử của Thánh đoàn không thể đi vào đó. Tuy nhiên, ở những nơi khác, sự tập trung của các đệ tử hoạt động lớn hơn bất kỳ thời kỳ nào khác trong lịch sử nhân loại.

I have emphasised this point because our second phrase, “let the group widen all the rents within those veils,” has reference here to disciples and the groups which they have everywhere gathered around themselves. It is these groups, many in number and differing in ray potency, which will lead the world through the post-war period into the New Age. It is their pressure upon the physical plane which has precipitated the crisis between the great White Lodge and the Black Lodge. Their work is to let in the light, and where the light goes the Black Lodge must fade out and disappear. It feeds on glamour and illusion and uses the [190] veils of maya as a protection. Students would do well to avoid naming and differentiating the four veils. The veils themselves are transient and variable. They differ as they come under the impact of the seven rays. It is not possible or practical to distinguish them one from the other, except from the angle of the Hierarchy, and their destruction today (though it was not so earlier) has to come from the dense physical plane, and the attack must be made by personalities and individualities dwelling in physical bodies. This is a somewhat new mode of approach, for hitherto only a very few disciples and initiates have been able so to work. Today, hundreds and thousands of disciples are working, and thus learning to use the ancient rules for work within the veils of maya. Let me here give you some of these rules or formulas as they are to be found in The Masters’ Book of Rules and as I can translate them. Some are untranslatable:

Tôi đã nhấn mạnh điểm này vì cụm từ thứ hai của chúng ta, “hãy để nhóm mở rộng mọi vết rách trong những bức màn ấy,” ở đây nói đến các đệ tử và các nhóm mà họ đã tập hợp quanh mình ở khắp nơi. Chính các nhóm này, đông đảo về số lượng và khác nhau về cường lực cung, sẽ dẫn dắt thế giới đi qua thời kỳ hậu chiến vào Kỷ Nguyên Mới. Chính áp lực của họ trên cõi hồng trần đã làm ngưng tụ cuộc khủng hoảng giữa Thánh đoàn và Hắc đoàn. Công việc của họ là để ánh sáng đi vào, và nơi nào ánh sáng đi tới thì Hắc đoàn phải mờ dần rồi biến mất. Nó nuôi sống bằng ảo cảm và ảo tưởng và dùng các [190] bức màn của ảo lực như một sự bảo vệ. Các đạo sinh nên tránh gọi tên và phân biệt bốn bức màn. Bản thân các bức màn là tạm thời và biến đổi. Chúng khác nhau khi chịu tác động của bảy cung. Không thể và cũng không thực tế để phân biệt chúng với nhau, ngoại trừ từ góc độ của Thánh đoàn, và sự phá hủy chúng ngày nay (dù trước kia không phải vậy) phải đến từ cõi hồng trần đậm đặc, và cuộc tấn công phải do các phàm ngã và các cá thể cư ngụ trong thể xác thực hiện. Đây là một phương thức tiếp cận phần nào mới mẻ, vì cho đến nay chỉ có rất ít đệ tử và điểm đạo đồ có thể làm việc như thế. Ngày nay, hàng trăm và hàng ngàn đệ tử đang làm việc, và nhờ đó học cách sử dụng các quy luật cổ xưa cho công việc bên trong các bức màn của ảo lực. Ở đây, hãy để tôi trao cho bạn một vài quy luật hay công thức này như chúng được tìm thấy trong Sách Các Quy Luật của các Chân sư và như tôi có thể dịch chúng. Một số là không thể dịch được:

1. Focus the force at the jewel’s point and find the veil that it can touch.

1. Tập trung mãnh lực tại điểm của viên ngọc và tìm bức màn mà nó có thể chạm tới.

2. Carry the force from point to point and then project.

2. Mang mãnh lực từ điểm này sang điểm khác rồi phóng chiếu.

3. Look for the energy in form behind the veil attacked. A rent within the veil exists. Find it and see.

3. Hãy tìm năng lượng trong hình tướng phía sau bức màn bị tấn công. Có một vết rách trong bức màn. Hãy tìm nó và nhìn thấy.

4. A path lies through the veils, giving access to the several courts. Walk on that path, wielding destruction and clearing out the refuse in the court. The court of the money changers is the last.

4. Có một con đường xuyên qua các bức màn, cho phép đi vào nhiều sân khác nhau. Hãy bước trên con đường ấy, vận dụng sự hủy diệt và quét sạch phế thải trong sân. Sân của những kẻ đổi tiền là sân cuối cùng.

5. Meet the descending forces and find the current which is yours.

5. Hãy gặp các mãnh lực giáng xuống và tìm ra dòng chảy là của bạn.

6. Watch for the evil stream of force which seeks to mend the rents. Project upon that stream the energy of which you know. It led you from the Ashram into the veils. Use it and drive the evil back unto the astral plane.

6. Hãy canh chừng dòng mãnh lực ác đang tìm cách vá lại các vết rách. Hãy phóng chiếu lên dòng ấy năng lượng mà bạn biết. Chính nó đã dẫn bạn từ ashram vào trong các bức màn. Hãy dùng nó và đẩy cái ác trở lui về cõi cảm dục.

7. Work with the Sound and know it as the source of power. Use first the Voice; then use the O.M., and later use the Sound. All three together will suffice.

7. Hãy làm việc với Âm thanh và biết nó là nguồn quyền năng. Trước hết hãy dùng Tiếng Nói; rồi dùng O.M., và sau đó dùng Âm thanh. Cả ba cùng nhau sẽ đủ.

There are other rules, but these will give you the [191] major recognitions needed to do this type of work; these are the rules which the adventuring disciple needs to know. They have been used, and should not be interpreted by the lower mind, but with the aid of the initiate consciousness.

Còn có những quy luật khác, nhưng những điều này sẽ cho bạn các [191] nhận thức chủ yếu cần thiết để làm loại công việc này; đó là những quy luật mà đệ tử dấn thân cần phải biết. Chúng đã được sử dụng, và không nên được diễn giải bằng hạ trí, mà bằng sự trợ giúp của tâm thức điểm đạo.

The second phrase runs as follows:

Cụm từ thứ hai như sau:

2. Let the group widen all the rents within those veils and thus let in the light.

2. Hãy để nhóm mở rộng mọi vết rách trong những bức màn ấy và nhờ đó để ánh sáng đi vào.

We come now to a definite group injunction or instruction. The aid of the group is invoked almost in the form of an order. The point of this formulated injunction is that in the new era and in the interlude between the past (wherein prominent disciples worked within the veils of maya) and the New Age (wherein humanity itself will consciously function upon the etheric plane), the work of the esoteric groups, under the direction of the New Group of World Servers, is needed. They will have the capacity to recognise the distinction between the various veils. This is the next needed development. The groups must focus the energy at the very centre of the group being; the group must carry the force from point to point and from veil to veil; the group must project the destroying energy and become unitedly aware of what each veil hides; the group must perform the activities (seven in all) of purification; the group must meet, accept and distribute the descending spiritual energy which will finally consummate the work done. The group—through the use of that descending current—will drive the forces of evil back on to the astral plane and will together work with the three aspects of the first ray. These are typified by the Voice, the O.M. and the Sound.

Giờ đây chúng ta đi đến một huấn lệnh hay chỉ thị rõ rệt dành cho nhóm. Sự trợ giúp của nhóm được khẩn cầu gần như dưới hình thức một mệnh lệnh. Điểm cốt yếu của huấn lệnh được phát biểu này là trong kỷ nguyên mới và trong khoảng chuyển tiếp giữa quá khứ (khi các đệ tử nổi bật làm việc bên trong các bức màn của ảo lực) và Kỷ Nguyên Mới (khi chính nhân loại sẽ hoạt động một cách hữu thức trên cõi dĩ thái), công việc của các nhóm huyền bí học, dưới sự chỉ đạo của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, là điều cần thiết. Họ sẽ có khả năng nhận ra sự khác biệt giữa các bức màn khác nhau. Đây là sự phát triển cần thiết kế tiếp. Các nhóm phải tập trung năng lượng tại chính trung tâm của hữu thể nhóm; nhóm phải mang mãnh lực từ điểm này sang điểm khác và từ bức màn này sang bức màn khác; nhóm phải phóng chiếu năng lượng hủy diệt và cùng nhau nhận biết điều mà mỗi bức màn che giấu; nhóm phải thực hiện các hoạt động thanh lọc (tổng cộng là bảy); nhóm phải gặp, chấp nhận và phân phối năng lượng tinh thần giáng xuống, năng lượng cuối cùng sẽ hoàn tất công việc đã làm. Nhóm—qua việc sử dụng dòng giáng xuống ấy—sẽ đẩy các mãnh lực ác trở lại cõi cảm dục và cùng nhau làm việc với ba phương diện của cung một. Chúng được tiêu biểu bởi Tiếng Nói, O.M. và Âm thanh.

In the above you have in reality a great formula for group activity and also a potent method (once the group can unitedly work together) for the cleansing and the re-organisation of the forces active in the world today. These forces are now raging and running wild; their effect is almost tangible (being in etheric substance) and factually and visibly present under the control of the Black Lodge. This [192] Lodge uses the voices of lying propaganda, the Word of death (which I shall not give to you for the O.M., the Word of Life, suffices), and the Sound of the densest aspect in manifestation—the sound of power in the mineral kingdom. This constitutes an unparalleled condition and creates a unique concentration of the Forces of Good and the forces of evil upon the etheric plane. The task of all groups which are working under the Masters of the Wisdom is to let in the light, utilising those rents which already exist within the Veils of maya.

Trong những điều trên, thực ra bạn có một công thức lớn lao cho hoạt động nhóm và cũng có một phương pháp mạnh mẽ (một khi nhóm có thể cùng nhau làm việc hợp nhất) để thanh lọc và tái tổ chức các mãnh lực đang hoạt động trong thế giới ngày nay. Những mãnh lực này hiện đang cuồng nộ và chạy loạn; tác động của chúng gần như có thể sờ thấy được (vì ở trong chất liệu dĩ thái) và thực sự, hiển nhiên hiện diện dưới sự kiểm soát của Hắc đoàn. [192] Hắc đoàn này sử dụng các tiếng nói của tuyên truyền dối trá, Linh từ của sự chết (điều mà tôi sẽ không trao cho bạn, vì O.M., Linh từ của Sự sống, là đủ), và Âm thanh của phương diện đậm đặc nhất trong biểu hiện—âm thanh của quyền năng trong giới kim thạch. Điều này tạo thành một tình trạng chưa từng có và tạo ra một sự tập trung độc nhất của Các Mãnh Lực Thiện và các mãnh lực ác trên cõi dĩ thái. Nhiệm vụ của tất cả các nhóm đang làm việc dưới sự hướng dẫn của các Chân sư Minh triết là để ánh sáng đi vào, sử dụng những vết rách đã hiện hữu trong các Bức màn của ảo lực.

Three major rents within these Veils might here be noted. They are symbolically referred to in The Bible, though their essential meaning has not been noted or comprehended.

Ở đây có thể lưu ý đến ba vết rách lớn trong các Bức màn này. Chúng được nhắc đến một cách biểu tượng trong Kinh Thánh, dù ý nghĩa cốt yếu của chúng chưa được lưu ý hay thấu hiểu.

The first major rent was made by the establishment of the Law of God, and this is portrayed for us symbolically in The Old Testament in the story of Moses. He went up into the Mount of God and there received the Ten Commandments. This is the expression of divine law as adapted for humanity and as needed in the projection of those forces which will destroy, purify and reorganise. Moses, the Lawgiver, penetrated to one of the halls within the Veils of maya, and there encountered the glory of the Lord. This was of such a radiance that, as the Old Commentary puts it:

Vết rách lớn thứ nhất được tạo ra bởi việc thiết lập Định luật của Thượng đế, và điều này được mô tả biểu tượng cho chúng ta trong Cựu Ước qua câu chuyện về Moses. Ông đi lên Núi của Thượng đế và tại đó nhận Mười Điều Răn. Đây là biểu hiện của định luật thiêng liêng như được thích ứng cho nhân loại và như cần thiết trong việc phóng chiếu những mãnh lực sẽ hủy diệt, thanh lọc và tái tổ chức. Moses, nhà lập pháp, đã xuyên vào một trong những đại sảnh bên trong các Bức màn của ảo lực, và tại đó gặp vinh quang của Chúa. Vinh quang ấy rực rỡ đến mức, như Cổ Luận nói:

“He who entered among the first to penetrate within the veils absorbed the light and knew not how to pass it on. Neither he nor they were ready, but the light was there and likewise the two directing eyes. But only one can use, project and send the light upon its mission. The other must be blinded, and of this fact the Lawgiver was aware. He therefore veiled the light, assuming towards this end a fragment of that which he had helped destroy, and so descended from the mountain top, back to the darkness of the earth.”

“Người bước vào trong số những người đầu tiên xuyên thấu vào bên trong các bức màn đã hấp thụ ánh sáng và không biết cách truyền nó đi. Cả ông lẫn họ đều chưa sẵn sàng, nhưng ánh sáng đã ở đó và hai con mắt chỉ đạo cũng vậy. Nhưng chỉ một người có thể sử dụng, phóng chiếu và gửi ánh sáng đi làm sứ mạng của nó. Người kia phải bị làm mù, và nhà lập pháp biết rõ sự kiện này. Vì thế ông đã che ánh sáng lại, vì mục đích ấy khoác lấy một mảnh của chính điều mà ông đã giúp phá hủy, rồi từ đỉnh núi đi xuống, trở lại bóng tối của trần gian.”

The second, and much the most important rent, was made by the power of the second aspect when the Christ subjected the Master Jesus to the fourth initiation and Their joint influence was triumphant over death. Then we read [193] that the veil of the Temple was split in twain from the top to the bottom. The lawgiver assisted at the first rending as the climax to the third initiation, and there was a somewhat similar process of glorification. A similar event took place at the Transfiguration of the Christ, overshadowing or rather working through the Master Jesus. But at the triumph over death and through the Great Renunciation or Crucifixion episode, a great and major rending took place. The Law, when rightly kept and interpreted, defines man’s attitude upon the mental plane and serves to make a rent in the etheric veil, separating the etheric vehicle in its fourfold aspect from the dense physical form. The rending of the second veil at the time of the Crucifixion let in light on to the second level of the etheric plane, and a new type of illumination was spread abroad upon the earth. Law and Love could now penetrate into the consciousness of humanity in a new and direct manner, as the brain of man became involved through the substance of the etheric counterpart of the physical brain; the instinct to self-preservation (one of the lowest aspects of Law) and the tendency to sensitivity (feeling or emotion, one of the lowest forms of Love) could be expressed in a more comprehensive manner.

Vết rách thứ hai, và quan trọng hơn nhiều, được tạo ra bởi quyền năng của phương diện thứ hai khi Đức Christ đặt Chân sư Jesus vào lần điểm đạo thứ tư và ảnh hưởng chung của Hai Ngài chiến thắng sự chết. Khi ấy chúng ta đọc thấy [193] rằng bức màn của Đền thờ bị xé làm hai từ trên xuống dưới. Nhà lập pháp đã trợ giúp trong lần xé rách đầu tiên như là đỉnh điểm của lần điểm đạo thứ ba, và đã có một tiến trình vinh hiển hóa phần nào tương tự. Một biến cố tương tự đã xảy ra trong cuộc Biến hình của Đức Christ, phủ bóng hay đúng hơn là hoạt động qua Chân sư Jesus. Nhưng trong chiến thắng sự chết và qua giai đoạn Đại Từ Bỏ hay Đóng Đinh, một sự xé rách lớn lao và trọng yếu đã diễn ra. Định luật, khi được tuân giữ và diễn giải đúng đắn, xác định thái độ của con người trên cõi trí và giúp tạo ra một vết rách trong bức màn dĩ thái, phân cách vận cụ dĩ thái trong phương diện tứ phân của nó khỏi hình thể hồng trần đậm đặc. Sự xé rách bức màn thứ hai vào lúc Đóng Đinh đã để ánh sáng chiếu vào cấp độ thứ hai của cõi dĩ thái, và một loại soi sáng mới được lan truyền khắp địa cầu. Định luật và Bác ái giờ đây có thể thâm nhập vào tâm thức nhân loại theo một cách mới và trực tiếp, khi bộ não con người được lôi cuốn vào qua chất liệu của đối phần dĩ thái của bộ não hồng trần; bản năng tự bảo tồn (một trong những phương diện thấp nhất của Định luật) và khuynh hướng nhạy cảm (cảm giác hay cảm xúc, một trong những hình thức thấp nhất của Bác ái) có thể được biểu lộ theo một cách bao quát hơn.

Another rending of the veil, and one of relatively minor importance, took place when Saul of Tarsus saw the glory of the Lord and was changed into Paul the Apostle. His forward moving and potent directness and sincerity, pushing along “the road to Damascus,” forced him to penetrate through one of the separating veils. The Kingdom of Heaven suffereth violence and the violent take it by force. This force, working in Saul, drove him through the veil which prevented vision, and the rent thereby made brought him a new revelation. He was, we are told, completely blinded for three days, and this the esoteric records corroborate. This is a well-known correspondence to the three days in the tomb and one recognised by esotericists; it corresponds also to the penetration into the third heaven to which Paul testified later in his life. He realised the nature of the Law, as his later epistles demonstrate; he was brought [194] to the feet of the Initiator through the effect of love, and thus he availed himself of the two earlier rents in the veil. Whilst thus reaching out to the light, he wrote that epistle about which so much controversy has raged—The Epistle to the Hebrews. In it the results of the rending of the third veil provide the keynote and express the first and highest aspect, as the two earlier rents lead to the revelation of the third and second divine qualities. This first aspect is seen as synthesis, as the Communion of Saints, and as related to the Lord of the World, Melchizedek. Read that epistle in the light of these remarks, and note how a great initiate endeavoured to reveal some facts, inherent in the will or power aspect. These were, however, far beyond the ken of the disciples and aspirants of the time, but can today form a true part of the realisation of humanity. Law, Love, Union or Synthesis—all these great energies have seeped into the human consciousness and now provide the platform upon which the new civilisation can be founded, the new approach to God be taken, and new human relations be implemented.

Một sự xé rách khác của bức màn, và có tầm quan trọng tương đối nhỏ hơn, đã xảy ra khi Saul xứ Tarsus nhìn thấy vinh quang của Chúa và được biến đổi thành Paul Tông đồ. Sự tiến tới mạnh mẽ, trực chỉ và chân thành của ông, thúc đẩy ông dọc theo “con đường đến Damascus,” đã buộc ông xuyên qua một trong những bức màn phân cách. Thiên Giới chịu bạo lực và kẻ mạnh bạo chiếm lấy nó bằng sức mạnh. Mãnh lực này, hoạt động trong Saul, đã đẩy ông xuyên qua bức màn ngăn cản linh thị, và vết rách do đó tạo ra đã đem đến cho ông một mặc khải mới. Chúng ta được cho biết rằng ông hoàn toàn mù trong ba ngày, và các ghi chép huyền bí xác nhận điều này. Đây là một tương ứng quen thuộc với ba ngày trong mộ và là điều được các nhà bí truyền học công nhận; nó cũng tương ứng với việc xuyên vào cõi trời thứ ba mà về sau trong đời Paul đã làm chứng. Ông nhận ra bản chất của Định luật, như các thư tín sau này của ông cho thấy; ông được đưa [194] đến dưới chân Đấng Điểm đạo nhờ tác động của bác ái, và nhờ đó ông đã tận dụng hai vết rách trước đó trong bức màn. Trong khi vươn tới ánh sáng như vậy, ông đã viết bức thư mà quanh đó đã có quá nhiều tranh luận—Thư gửi tín hữu Do Thái. Trong đó, các kết quả của sự xé rách bức màn thứ ba cung cấp chủ âm và biểu lộ phương diện thứ nhất và cao nhất, cũng như hai vết rách trước dẫn đến sự mặc khải của phẩm tính thiêng liêng thứ ba và thứ hai. Phương diện thứ nhất này được thấy như tổng hợp, như Sự Hiệp Thông của các Thánh, và như có liên hệ với Đức Chúa Tể Thế Giới, Melchizedek. Hãy đọc bức thư ấy dưới ánh sáng của những nhận xét này, và lưu ý cách một điểm đạo đồ lớn lao đã cố gắng mặc khải một số sự kiện vốn tiềm ẩn trong phương diện ý chí hay quyền năng. Tuy nhiên, những điều này vượt quá xa tầm hiểu biết của các đệ tử và người chí nguyện thời đó, nhưng ngày nay có thể tạo thành một phần chân thực trong sự chứng nghiệm của nhân loại. Định luật, Bác ái, Hợp nhất hay Tổng hợp—tất cả những năng lượng lớn lao này đã thấm vào tâm thức con người và giờ đây cung cấp nền tảng trên đó nền văn minh mới có thể được xây dựng, cách tiếp cận mới đến Thượng đế có thể được thực hiện, và các quan hệ nhân loại mới có thể được thực thi.

Three great rents, therefore, now exist, as well as numerous smaller and less important ones, to which no reference has been or need be made. Three great Sons of God at the moment of initiation made a major contribution to the human consciousness through their determined will-to-law, will-to-love and will-to-synthesis. Mankind was thereby aided to move forward more easily along the “lighted Way,” to pass through the halls of maya, aided by the light pouring through the rents made in the separating veils by perfected divine Men at the very moment of Their triumph. A fourth great rent still remains to be made as a result of the energies released and the gained good which the three earlier rents have made possible. This fourth major rent will be made by humanity itself, standing with “massed intent,” focussed through the groups which are externalisations of the Ashrams of the Masters. It will therefore be made at the time that the Hierarchy takes physical shape upon the earth again.

Vì vậy, hiện nay có ba vết rách lớn, cùng với nhiều vết rách nhỏ hơn và ít quan trọng hơn, mà không cần hay chưa từng được nhắc đến. Ba Con của Thượng đế vĩ đại, vào khoảnh khắc điểm đạo, đã đóng góp lớn lao cho tâm thức nhân loại qua ý chí-hướng-định luật, ý chí-hướng-bác ái và ý chí-hướng-tổng hợp đầy kiên định của Các Ngài. Nhờ đó nhân loại được trợ giúp để tiến lên dễ dàng hơn trên “Con Đường được Soi Sáng,” đi qua các đại sảnh của ảo lực, được ánh sáng tuôn qua những vết rách trong các bức màn phân cách do những Con Người thiêng liêng hoàn thiện tạo ra ngay vào khoảnh khắc chiến thắng của Các Ngài. Một vết rách lớn thứ tư vẫn còn phải được tạo ra như là kết quả của các năng lượng được giải phóng và điều thiện đạt được mà ba vết rách trước đã làm cho khả hữu. Vết rách lớn thứ tư này sẽ do chính nhân loại tạo ra, đứng với “ý định tập thể,” được tập trung qua các nhóm là sự ngoại hiện của các ashram của các Chân sư. Vì thế nó sẽ được tạo ra vào lúc Thánh đoàn lại mang hình thể hồng trần trên địa cầu.

[195]

[195]

Bear in mind the symbolical nature of this teaching. The veils are not actually existing veils in the usual sense of that term. They are in the nature of opposing forces and energies which act as inhibitory factors to the aspirant as he seeks to make progress, and to the entire human family as it moves onward upon the Path of Evolution. They are not basically related to consciousness at all, for in the majority of cases these veils “lie on the earthward side of being and not upon the side of light”; they are essentially physical forces, and although they are the result of man’s own effort and activity down the ages, they are largely unrealised, unseen obstacles to his progress. They constitute the lowest concentration of forces precipitated from levels of activity other and higher than the physical, as you understand physical substance. If one might use a phrase which, even if true, is misleading, they lie between the subtle inner man, mental and astral, and his physical brain. They are that which prevents brain registration of the world of causes and of meaning. This inner world can be emotional or mental in its focus and in its force precipitation on to the etheric plane. It can be the fused result of personality integration and be a combination of energies; or it can be dominated by the effects of soul energy. These, if evoked, can penetrate occultly and drive out or break down and through the separating veiling forces, thus producing coordination eventually between soul and brain.

Hãy ghi nhớ bản chất biểu tượng của giáo huấn này. Các bức màn không thực sự là những bức màn hiện hữu theo nghĩa thông thường của từ ấy. Chúng có bản chất là những mãnh lực và năng lượng đối kháng, hoạt động như những yếu tố ngăn trở đối với người chí nguyện khi y tìm cách tiến bộ, và đối với toàn thể gia đình nhân loại khi nó tiến bước trên Con Đường Tiến Hoá. Về căn bản, chúng hoàn toàn không liên hệ với tâm thức, vì trong đa số trường hợp các bức màn này “nằm về phía hướng đất của hữu thể chứ không ở phía ánh sáng”; về bản chất chúng là các mãnh lực hồng trần, và mặc dù là kết quả của nỗ lực và hoạt động của chính con người qua các thời đại, chúng phần lớn là những chướng ngại không được nhận ra, không được thấy đối với sự tiến bộ của y. Chúng cấu thành sự tập trung thấp nhất của các mãnh lực được ngưng tụ từ những cấp độ hoạt động khác và cao hơn cõi hồng trần, theo cách bạn hiểu chất liệu hồng trần. Nếu có thể dùng một cụm từ mà dù đúng vẫn gây hiểu lầm, thì chúng nằm giữa con người nội tại vi tế, trí tuệ và cảm dục, với bộ não hồng trần của y. Chúng là điều ngăn cản sự ghi nhận của bộ não về thế giới của các nguyên nhân và của ý nghĩa. Thế giới nội tại này có thể có trọng tâm cảm xúc hay trí tuệ và có sự ngưng tụ mãnh lực của nó xuống cõi dĩ thái. Nó có thể là kết quả dung hợp của sự tích hợp phàm ngã và là một sự kết hợp các năng lượng; hoặc nó có thể bị chi phối bởi các tác động của năng lượng linh hồn. Những năng lượng này, nếu được khơi dậy, có thể xuyên thấu một cách huyền bí và đẩy ra hoặc phá vỡ, xuyên qua các mãnh lực che phủ phân cách, nhờ đó cuối cùng tạo ra sự phối hợp giữa linh hồn và bộ não.

These veils are as curtains over the windows of vision. They prevent realisation of that which lies beyond the room or area of average or mediocre experience, and they prevent the light from penetrating.

Các bức màn này như những tấm rèm che trên các cửa sổ của linh thị. Chúng ngăn cản sự chứng nghiệm về điều nằm ngoài căn phòng hay khu vực của kinh nghiệm trung bình hoặc tầm thường, và chúng ngăn cản ánh sáng xuyên vào.

The work of the three Sons of God referred to above is not concerned with the rending of the veils of their own interior life and forces, thus bringing about soul contact unimpeded and dear, or with the illumination of experience upon the physical plane. That had long ago been effected in these special and individual cases. Their service was rendered to humanity and They made rents in the veils which separated mankind as a whole from the higher spiritual [196] experience and from registration of the fact of the existence of the Hierarchy. Theirs was a universal service, and made possible further human progress, for until some greater measure of light had been let in it was not possible for man to see and grasp the necessity to destroy the obstacles to light. The veils remain unperceived by the average aspirant until some light appears through the rents in the “curtain of impediment.”

Công việc của ba Con của Thượng đế được nhắc đến ở trên không liên quan đến việc xé rách các bức màn của chính đời sống nội tại và các mãnh lực của Các Ngài, nhờ đó đem lại sự tiếp xúc linh hồn không bị cản trở và rõ ràng, hay với sự soi sáng kinh nghiệm trên cõi hồng trần. Điều đó từ lâu đã được thực hiện trong những trường hợp đặc biệt và cá nhân này. Sự phụng sự của Các Ngài được hiến dâng cho nhân loại và Các Ngài đã tạo ra những vết rách trong các bức màn vốn phân cách toàn thể nhân loại khỏi kinh nghiệm tinh thần cao hơn [196] và khỏi sự ghi nhận sự kiện hiện hữu của Thánh đoàn. Phụng sự của Các Ngài là phổ quát, và làm cho sự tiến bộ xa hơn của con người trở nên khả hữu, vì cho đến khi một mức độ ánh sáng lớn hơn được để cho đi vào thì con người không thể nhìn thấy và nắm bắt được sự cần thiết phải phá hủy các chướng ngại đối với ánh sáng. Các bức màn vẫn không được người chí nguyện trung bình nhận ra cho đến khi một ít ánh sáng xuất hiện qua các vết rách trong “tấm màn của sự ngăn trở.”

The glory of the Christ and the uniqueness of His accomplishment lies in the fact that He was the first to bring about the rending of the veils from “the top to the bottom.” This He could do because He acted as the World Saviour, outside and independent of humanity; He was free from the aura of the human family and—again quoting the Old Commentary, as far as it is possible to translate these archaic terms:

Vinh quang của Đức Christ và tính độc nhất của thành tựu của Ngài nằm ở sự kiện rằng Ngài là Đấng đầu tiên tạo ra sự xé rách các bức màn từ “trên xuống dưới.” Ngài có thể làm điều này vì Ngài hành động như Đấng Cứu Thế Gian, ở bên ngoài và độc lập với nhân loại; Ngài tự do khỏi hào quang của gia đình nhân loại và—xin lại trích Cổ Luận, trong chừng mực có thể dịch được những thuật ngữ cổ xưa này:

“From above He worked and from the further side issued the force which tore its way into the separating forces, driving them in a threefold direction, from the point which is the highest, to the right and to the left, thus letting in that streaming force which resolved itself as light, as love, as lifting energy. Thus worked the One for Whom all men must wait. He is as man, but works not as a man. He works as light divine, as energy supreme and as the Saviour of the world of men.”

“Từ trên cao Ngài làm việc và từ phía bên kia xa hơn phát ra mãnh lực đã xé đường xuyên vào các mãnh lực phân cách, đẩy chúng theo ba hướng, từ điểm là cao nhất, sang phải và sang trái, nhờ đó để cho mãnh lực tuôn đổ ấy đi vào, mãnh lực tự phân giải thành ánh sáng, thành bác ái, thành năng lượng nâng lên. Đấng mà mọi người phải chờ đợi đã làm việc như thế. Ngài như con người, nhưng không làm việc như một con người. Ngài làm việc như ánh sáng thiêng liêng, như năng lượng tối thượng và như Đấng Cứu Thế của thế giới loài người.”

Let me again quote from the same source and give you the ancient names of the veils:

Hãy để tôi lại trích từ cùng nguồn ấy và trao cho bạn những tên gọi cổ xưa của các bức màn:

“Next to the earthly plane is found the Veil of Impulsion and then the Hall of Concentration. To that succeeds the Veil of Distortion, related to the world of glamour as impulsion is to force. Beyond that veil is found the Hall of Choice. And then we find another veil, the Veil of Separation, and beyond it lies the Hall of Blinded Men—blinded by light but facing towards the final veil, the Veil of Aspiration. Four veils, three halls and many men.”

“Kế cõi trần gian là Bức Màn của Xung Lực và rồi đến Đại Sảnh của Tập Trung. Tiếp theo đó là Bức Màn của Sự Bóp Méo, liên hệ với thế giới của ảo cảm như xung lực liên hệ với mãnh lực. Bên kia bức màn ấy là Đại Sảnh của Lựa Chọn. Rồi chúng ta thấy một bức màn khác, Bức Màn của Sự Phân Cách, và bên kia nó là Đại Sảnh của Những Người Mù—mù vì ánh sáng nhưng hướng về bức màn cuối cùng, Bức Màn của Khát Vọng. Bốn bức màn, ba đại sảnh và nhiều người.”

I will leave you to make due application of this paragraph [197] of stated truth and of condensed realisation. I would remind you that concentration is one thing to the aspirant, and a very different thing to the initiate, and that the choices made by the initiate resemble not those made by the disciple. The blinding force referred to can range all the way from the deep spiritual darkness in which the average man moves, through the blindness of which Saul of Tarsus was the exponent, up to that condition which overwhelms the highest Initiate as He awaits entrance into the Council Chamber of the Lord.

Tôi sẽ để bạn tự áp dụng thích đáng đoạn văn [197] chân lý được phát biểu và sự chứng nghiệm cô đọng này. Tôi muốn nhắc bạn rằng tập trung là một điều đối với người chí nguyện, và là một điều rất khác đối với điểm đạo đồ, và rằng những lựa chọn do điểm đạo đồ thực hiện không giống những lựa chọn do đệ tử thực hiện. Mãnh lực làm mù được nói đến có thể trải dài từ bóng tối tinh thần sâu đậm mà con người trung bình đang bước đi trong đó, qua sự mù lòa mà Saul xứ Tarsus là người tiêu biểu, cho đến tình trạng tràn ngập điểm đạo đồ cao nhất khi Ngài chờ bước vào Phòng Hội Đồng của Chúa Tể.

Blindness is a prelude to initiation of no matter what degree. It is only at the last and highest initiation that the “tendency to blindness” comes to a complete end. In the early stages of evolution, blindness is natural, innate, unavoidable and impenetrable. For ages man walks in the dark. Then comes the stage wherein this normal blindness is a protection, but has also entered a phase wherein it can be overcome. Technically speaking, the blindness to which I have referred is something different. From the moment when a human being catches the first, faint glimpse of the “something other” and sees himself in juxtaposition to that dimly sensed, distant reality, the blindness with which I have dealt is something imposed by the soul upon the hastening aspirant, so that the lessons of conscious experience, of discipleship, and later of initiation may be correctly assimilated and expressed; by its means, the hurrying seeker is defended from making too rapid and superficial progress. It is depth and a profound “rootedness” (if I may coin such a word) for which the inner Teacher and later the Master looks, and “occult blindness,” its need, its wise handling and its final elimination are part of the curriculum imposed upon the candidate. This truth is recognised, though not truly interpreted, by the Masonic Fraternity. In one of the most important and highest initiations, the candidate enters with unblinded eyes and no hoodwink is applied. Then, halfway through the ceremony, he is blinded, and in that condition passes through the terrific tests, symbolic of a certain high stage upon the Path.

Mù lòa là khúc dạo đầu của điểm đạo, bất kể ở cấp độ nào. Chỉ ở lần điểm đạo cuối cùng và cao nhất thì “khuynh hướng mù lòa” mới chấm dứt hoàn toàn. Trong các giai đoạn đầu của tiến hoá, mù lòa là tự nhiên, bẩm sinh, không thể tránh và không thể xuyên thủng. Qua nhiều thời đại con người bước đi trong bóng tối. Rồi đến giai đoạn mà sự mù lòa bình thường này là một sự bảo vệ, nhưng cũng đã bước vào một pha trong đó nó có thể được vượt qua. Nói theo kỹ thuật, sự mù lòa mà tôi đã nói đến là một điều khác. Từ khoảnh khắc một con người bắt gặp cái thoáng nhìn đầu tiên, mờ nhạt, về “một cái gì khác” và thấy mình đặt cạnh thực tại xa xăm được cảm nhận lờ mờ ấy, thì sự mù lòa mà tôi đã bàn đến là điều do linh hồn áp đặt lên người chí nguyện đang vội vã, để cho các bài học của kinh nghiệm hữu thức, của địa vị đệ tử, và sau này của điểm đạo có thể được đồng hóa và biểu lộ một cách đúng đắn; nhờ đó, người tìm kiếm hấp tấp được bảo vệ khỏi việc tiến bộ quá nhanh và hời hợt. Điều mà Huấn sư nội tại và sau này là Chân sư tìm kiếm là chiều sâu và một “sự bén rễ” sâu xa (nếu tôi có thể tạo ra một từ như vậy), và “sự mù lòa huyền bí,” nhu cầu của nó, cách xử lý khôn ngoan đối với nó và sự loại bỏ cuối cùng của nó là một phần của chương trình được áp đặt lên ứng viên. Chân lý này được Huynh đệ Hội Tam Điểm công nhận, dù không được diễn giải đúng. Trong một trong những lần điểm đạo quan trọng và cao nhất, ứng viên bước vào với đôi mắt không bị che và không bị bịt mắt. Rồi, ở nửa chừng nghi lễ, y bị làm mù, và trong tình trạng đó đi qua những thử thách khủng khiếp, tượng trưng cho một giai đoạn cao nào đó trên Đường Đạo.

[198]

[198]

Blindness is therefore, esoterically speaking, the place of learning and is related to the eye, throat and heart doctrine. It is not related to the dim vision, the sensing of half truths and the gropings of the aspirant in the process of learning about himself, or as he visions the goal and seeks to walk the Path. That is a familiar condition and one to which all beginners are subjected and which they cannot avoid for it is inherent in their natures. Occult blindness is spiritually induced and “blacks out” the glory and the promised attainment and reward. The disciple is thrown back upon himself. All he can see is his problem, his tiny field of experience, and his—to him—feeble and limited equipment. It is to this stage that the prophet Isaiah refers when he speaks of giving to the struggling aspirant “the treasures of darkness.” The beauty of the immediate, the glory of the present opportunity and the need to focus upon the task and service of the moment are the rewards of moving forward into the apparently impenetrable darkness. For the initiate, this blindness is still more esoteric; there remains for him absolutely no light whatsoever—no earth light nor any light within the three worlds at all. There is only blackness. To this the mystic has given the name “the dark night of the soul.” The true dark night (of which the mystic’s dark night is only a dim reflection, to speak paradoxically) marks a very exalted state of Being and stage of development. It was into the blackness and darkness that Christ penetrated as He overshadowed one of His Masters, the Master Jesus upon the Cross. This will strike a new note for many, and can only now be revealed. It is concerned with the facility with which a Master participates in the experience, subjectively realised, of the disciples whom He has prepared for initiation. It relates also to the still higher identification of the Christ with those initiates who are taking the fourth and fifth initiations, such as the Master Jesus in the experience referred to above. Christ is no longer the Initiator, but stands to the initiate as the Master does to the disciple. It is a curious phase of “identical participation,” which evokes no reaction from the Master or the [199] Master of the Masters, the Christ, except in so far as it enables the divine Participator Himself to face another area of darkness, veiling and hiding a still more supernal glory. The above paragraph is far beyond the comprehension of the average student, but will be comprehended by those whose eyes are open to be blinded.

Vì vậy, nói theo huyền bí học, mù lòa là nơi học hỏi và liên hệ với nhãn pháp, tâm pháp và giáo lý về cổ họng. Nó không liên hệ với linh thị mờ nhạt, với việc cảm nhận các nửa chân lý và những lần dò dẫm của người chí nguyện trong tiến trình học hỏi về chính mình, hay khi y hình dung mục tiêu và tìm cách bước đi trên Đường Đạo. Đó là một tình trạng quen thuộc mà mọi người mới bắt đầu đều phải chịu và không thể tránh được vì nó vốn có trong bản chất của họ. Sự mù lòa huyền bí được gây ra về mặt tinh thần và “làm tắt” vinh quang cùng thành tựu và phần thưởng được hứa hẹn. Đệ tử bị ném trở lại vào chính mình. Tất cả những gì y có thể thấy là vấn đề của mình, lĩnh vực kinh nghiệm nhỏ bé của mình, và—đối với y—trang bị yếu ớt và hạn chế của mình. Chính đến giai đoạn này mà nhà tiên tri Isaiah nói đến khi ông nói về việc ban cho người chí nguyện đang đấu tranh “những kho tàng của bóng tối.” Vẻ đẹp của cái trước mắt, vinh quang của cơ hội hiện tại và nhu cầu phải tập trung vào nhiệm vụ và sự phụng sự của khoảnh khắc hiện thời là phần thưởng của việc tiến vào bóng tối tưởng chừng không thể xuyên thủng. Đối với điểm đạo đồ, sự mù lòa này còn huyền bí hơn nữa; đối với y tuyệt đối không còn ánh sáng nào—không ánh sáng trần gian cũng không bất kỳ ánh sáng nào trong ba cõi giới. Chỉ còn bóng đen. Điều này nhà thần bí đã gọi là “đêm tối của linh hồn.” Đêm tối đích thực (mà đêm tối của nhà thần bí chỉ là một phản chiếu mờ nhạt, nói một cách nghịch lý) đánh dấu một trạng thái Bản Thể rất cao và một giai đoạn phát triển rất cao. Chính vào bóng đen và bóng tối ấy mà Đức Christ đã xuyên vào khi Ngài phủ bóng một trong các Chân sư của Ngài, Chân sư Jesus trên Thập giá. Điều này sẽ gợi lên một nốt mới cho nhiều người, và chỉ bây giờ mới có thể được tiết lộ. Nó liên quan đến sự dễ dàng mà một Chân sư tham dự vào kinh nghiệm, được chứng nghiệm một cách chủ quan, của các đệ tử mà Ngài đã chuẩn bị cho điểm đạo. Nó cũng liên hệ đến sự đồng hoá còn cao hơn nữa của Đức Christ với những điểm đạo đồ đang tiếp nhận lần điểm đạo thứ tư và thứ năm, như Chân sư Jesus trong kinh nghiệm được nhắc đến ở trên. Đức Christ không còn là Đấng Điểm đạo nữa, mà đứng đối với điểm đạo đồ như Chân sư đứng đối với đệ tử. Đó là một giai đoạn kỳ lạ của “sự tham dự đồng nhất,” không khơi lên phản ứng nào từ Chân sư hay [199] Chân sư của các Chân sư, Đức Christ, ngoại trừ ở chỗ nó giúp chính Đấng Tham Dự thiêng liêng đối diện với một lĩnh vực bóng tối khác, che phủ và giấu kín một vinh quang còn thiên thượng hơn nữa. Đoạn trên vượt quá xa sự thấu hiểu của đạo sinh trung bình, nhưng sẽ được thấu hiểu bởi những ai có đôi mắt mở ra để bị làm mù.

Students must remember that the four veils upon the etheric plane are only the lower symbolic correspondences to certain great areas of divine expression, and that ever the glory must be approached through the darkness. Such is the Law. These higher veiling factors can be mentioned and enumerated, but more information concerning these mysteries, this separating darkness encountered by the initiate, may not be given:

Các đạo sinh phải nhớ rằng bốn bức màn trên cõi dĩ thái chỉ là những tương ứng biểu tượng thấp hơn của một số lĩnh vực lớn lao của biểu hiện thiêng liêng, và rằng vinh quang luôn luôn phải được tiếp cận qua bóng tối. Đó là Định luật. Những yếu tố che phủ cao hơn này có thể được nhắc đến và liệt kê, nhưng không thể cung cấp thêm thông tin về các huyền nhiệm này, về bóng tối phân cách mà điểm đạo đồ gặp phải:

VEIL I. That which faces the disciple as he wrestles with the Dweller on the Threshold and becomes conscious of the Angel of the Presence, though as yet he sees Him not.

BỨC MÀN I. Điều đối diện với đệ tử khi y vật lộn với Kẻ Chận Ngõ và trở nên hữu thức về Thiên Thần của Hiện Diện, dù y chưa nhìn thấy Ngài.

VEIL II. That which the initiate encounters at the fourth initiation and which forces him to cry out in his blindness: “My God, my God, why hast Thou forsaken me.” The words uttered by the Christ at that time, and as the Participator, have been forgotten by the orthodox, though preserved by the esotericist. To them H.P.B. refers in The Secret Doctrine.

BỨC MÀN II. Điều mà điểm đạo đồ gặp phải ở lần điểm đạo thứ tư và buộc y phải kêu lên trong sự mù lòa của mình: “Lạy Thượng đế của con, lạy Thượng đế của con, sao Ngài bỏ con.” Những lời Đức Christ thốt ra vào lúc ấy, và với tư cách Đấng Tham Dự, đã bị giới chính thống quên mất, dù được nhà bí truyền học bảo tồn. H.P.B. nói đến chúng trong Giáo Lý Bí Nhiệm.

VEIL III. That mysterious blindness which overwhelms the initiate when—as the Embodiment of all the forces of the Spiritual Triad—He faces the Monad and is impelled forward by the “devastating Will” of the first aspect. Of this I may not write. It concerns the sixth and seventh initiations.

BỨC MÀN III. Sự mù lòa huyền nhiệm tràn ngập điểm đạo đồ khi—với tư cách Hiện Thân của mọi mãnh lực của Tam Nguyên Tinh Thần—Ngài đối diện với chân thần và bị thúc đẩy tiến lên bởi “Ý Chí tàn phá” của phương diện thứ nhất. Về điều này tôi không thể viết. Nó liên quan đến lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy.

VEIL IV. That “unknown impenetrable Void, the utter darkness of negation” which Those Who are in the Council Chamber of the Lord of the World and Who are focussed in Shamballa face when the time comes for Them to “negate” our planetary life-expression and experience altogether. They must then leave behind all the seven planes of spiritual and human experience [200] and pass onward and out into phases of Life and being for which we have no words, and of which we have no conception. They leave through the fourth veil on the cosmic physical etheric levels (on the highest plane of our seven planes) and pass on to the cosmic astral plane. There They negate its existence as They have earlier negated the existence of the astral plane, so familiar an illusion to all of us. The initiate passes on to the cosmic astral plane and finds—What? Who knows? I do not.

BỨC MÀN IV. “Khoảng Không bất khả xuyên thấu không ai biết ấy, bóng tối tuyệt đối của sự phủ định” mà Những Đấng ở trong Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể Thế Giới và được tập trung trong Shamballa phải đối diện khi đến lúc Các Ngài phải “phủ định” hoàn toàn biểu hiện sự sống và kinh nghiệm hành tinh của chúng ta. Khi ấy Các Ngài phải bỏ lại sau lưng cả bảy cõi của kinh nghiệm tinh thần và nhân loại [200] và đi tiếp ra ngoài vào những pha của Sự sống và hữu thể mà chúng ta không có lời nào để diễn tả, và cũng không có quan niệm nào. Các Ngài rời đi qua bức màn thứ tư trên các cấp độ dĩ thái hồng trần vũ trụ (trên cõi cao nhất của bảy cõi chúng ta) và đi vào cõi cảm dục vũ trụ. Ở đó Các Ngài phủ định sự hiện hữu của nó như trước đây Các Ngài đã phủ định sự hiện hữu của cõi cảm dục, một ảo tưởng quá quen thuộc với tất cả chúng ta. Điểm đạo đồ đi vào cõi cảm dục vũ trụ và thấy—Điều gì? Ai biết được? Tôi không biết.

Thus the veils serve their purpose; blindness nurtures and protects, provided it is innate and natural, soul-imposed or spiritually engendered. If it is willfully self-induced, if it provides an alibi for grasped knowledge, if it is assumed in order to avoid responsibility, then sin enters in and difficulty ensues. From this may all of you be protected.

Như vậy các bức màn phục vụ mục đích của chúng; sự mù lòa nuôi dưỡng và bảo vệ, miễn là nó bẩm sinh và tự nhiên, do linh hồn áp đặt hoặc được tạo ra về mặt tinh thần. Nếu nó được cố ý tự gây ra, nếu nó cung cấp một cái cớ cho tri thức đã nắm bắt được, nếu nó được giả định để tránh trách nhiệm, thì tội lỗi đi vào và khó khăn phát sinh. Cầu mong tất cả các bạn được bảo vệ khỏi điều này.

Step by step, the Brothers of the Light and others who tread consciously the Lighted Way have removed Themselves from the lure of form; the Army of the Voice no longer can succeed in deflecting Their footsteps and the veils of illusion no longer block Their vision and Their moving forward. A relative freedom has been gained and the initiate stands free from much that has hitherto hindered his progress; the world of form, of glamour and of seduction has for him no further appeal. He comprehends the significance of the injunction which is embodied in the third phrase of this tenth rule:

Từng bước một, các Huynh Đệ của Ánh Sáng và những người khác đang hữu thức bước đi trên Con Đường được Soi Sáng đã tự tách mình khỏi sức quyến rũ của hình tướng; Đạo Quân của Âm Thanh không còn có thể thành công trong việc làm chệch hướng bước chân của Các Ngài và các bức màn của ảo tưởng không còn ngăn trở linh thị và sự tiến bước của Các Ngài. Một sự tự do tương đối đã đạt được và điểm đạo đồ đứng tự do khỏi nhiều điều trước đây đã cản trở sự tiến bộ của y; thế giới của hình tướng, của ảo cảm và của sự quyến dụ không còn sức hấp dẫn nào nữa đối với y. Y hiểu được thâm nghĩa của huấn lệnh được thể hiện trong cụm từ thứ ba của quy luật thứ mười này:

3. Let the Army of the Voice be no more heard, and let the brothers onward move within the Sound.

3. Hãy để Đạo Quân của Âm Thanh không còn được nghe nữa, và hãy để các huynh đệ tiến bước trong Âm thanh.

Putting the idea into esoteric terms, the above sentence could be paraphrased as follows: The voices and the Voice fade out. The A.U.M. is replaced by the O.M. and at the centre of that O.M. the brother stands.

Diễn đạt ý tưởng này bằng các thuật ngữ huyền bí học, câu trên có thể được diễn giải như sau: các tiếng nói và Tiếng Nói mờ dần. A.U.M. được thay thế bằng O.M. và tại trung tâm của O.M. ấy, huynh đệ đứng đó.

The many voices of the world, the flesh and the devil are no longer distinguished; there is nothing within the consciousness of the initiate which can respond to them. The Voice of the Silence dies out also and the Word itself [201] cannot be heard. Only the SOUND remains. This is the Sound which reverberates in the formless worlds; it is the Sound to which the Spiritual Triad responds and of which the initiate is a part, because the Sound which he makes as he proceeds upon his creative way is a part of the universal Sound. It should be pointed out that He Who stands at the very centre of the Council Chamber of Shamballa sounds forth all words, the Word, and He also utters the SOUND. This is apt to be forgotten. He it is Who intones the A.U.M. and all things come to be; He it is Who voices the Word, the O.M., and God incarnate in humanity appears on earth: He it is Who utters the SOUND, and upon that outgoing Breath holds all things in life; and—in the rise and fall of its cadences—there is found the cyclic rhythm of the creative process. He it will be Who will withdraw the Sound and centering the vibration within Himself, will some day bring to a close this periodic manifestation and carry the Sound to other localities in space, holding it in quiescence on the withdrawn breath until a later cycle of expression dawns. Then it will again be exhaled and sent forth to provide a new field of experience for the Lives which, in cyclic rhythm, again seek to manifest. The entire story of incarnation is hidden in the understanding of the SOUND and its differentiation into the O.M. and the A.U.M.

Nhiều tiếng nói của thế gian, xác thịt và ma quỷ không còn được phân biệt nữa; không có gì trong tâm thức của điểm đạo đồ có thể đáp ứng với chúng. Tiếng Nói của Im Lặng cũng tắt đi và ngay cả Linh từ [201] cũng không thể được nghe. Chỉ còn lại ÂM THANH. Đây là Âm thanh vang dội trong các thế giới vô tướng; đó là Âm thanh mà Tam Nguyên Tinh Thần đáp ứng và điểm đạo đồ là một phần của nó, bởi vì Âm thanh mà y tạo ra khi tiến bước trên con đường sáng tạo của mình là một phần của Âm thanh vũ trụ. Cần chỉ ra rằng Đấng đứng tại chính trung tâm của Phòng Hội Đồng ở Shamballa xướng ra mọi lời, Linh từ, và Ngài cũng phát ra ÂM THANH. Điều này thường bị quên mất. Chính Ngài xướng A.U.M. và muôn vật đi vào hiện hữu; chính Ngài phát ra Linh từ, O.M., và Thượng đế nhập thể trong nhân loại xuất hiện trên địa cầu: chính Ngài phát ra ÂM THANH, và trên Hơi Thở tuôn ra ấy giữ cho muôn vật ở trong sự sống; và—trong sự lên xuống của các nhịp điệu của nó—có thể tìm thấy nhịp điệu chu kỳ của tiến trình sáng tạo. Chính Ngài sẽ rút Âm thanh lại và tập trung rung động vào trong chính mình, một ngày kia sẽ kết thúc biểu hiện tuần hoàn này và mang Âm thanh đến những địa điểm khác trong không gian, giữ nó trong trạng thái tĩnh lặng trên hơi thở rút lại cho đến khi một chu kỳ biểu lộ muộn hơn ló rạng. Khi ấy nó sẽ lại được thở ra và phát đi để cung cấp một lĩnh vực kinh nghiệm mới cho các Sự sống mà, theo nhịp điệu chu kỳ, lại tìm cách biểu hiện. Toàn bộ câu chuyện nhập thể được ẩn giấu trong sự thấu hiểu về ÂM THANH và sự biến phân của nó thành O.M. và A.U.M.

When we can identify the Sound and are no longer “moved” by the O.M., then the initiate becomes a Christ in expression and makes His appearance, either in physical form or upon the planes of what to us might be called the “areas of non-appearance.” He can then contain and utilise the energies of which the Spiritual Triad is the custodian and which are the expression of the will and purpose of God. Though the initiate may not be a part of the planetary government, and though he may not be a member of the Council at Shamballa (for only a limited number of initiates are so placed), he nevertheless has the right to move on identical levels and to prepare himself for those higher evolutionary processes which will give him entrance to the cosmic astral plane. This will enable him to “see through” [202] and to recognise “cosmic glamour,” and will give him the hidden key to the world of feeling and of sentiency of which our feeling-response and our emotional and intuitional sensitivity are but the dim and distorted reflections. This is a factor of some importance to have in mind if a right sense of proportion is to be developed. The initiate has learnt on earth that the astral plane is in fact non-existent—at least for those of the higher degrees of initiation. This knowledge constitutes the first step towards the comprehension of the secret of negation, towards a true understanding of the basis of the ever-existent pairs of opposites, and towards the knowledge which lies behind the significance of negation. The above sentence is in all probability of little meaning to you, but it nevertheless contains a truth for which the trials, experiences and initiations of planetary existence prepare the initiate. They endow him with those qualities which will enable him to contact cosmic evil and yet remain untouched, eventually to play his part in bringing the Black Lodge and its Brotherhood to an unholy finish. The roots of the Black Lodge are on the cosmic astral plane, as the roots of the White Lodge and its Brotherhood are on the cosmic mental plane; this is, in reality, only for the time being and in order to see certain organised activities upon the star Sirius perfected and carried to a consummation. This has oft been hinted in my writings.

Khi chúng ta có thể đồng hoá với Âm thanh và không còn bị O.M. “làm chuyển động” nữa, thì điểm đạo đồ trở thành một Đức Christ trong biểu hiện và xuất hiện, hoặc trong hình tướng hồng trần hoặc trên các cõi mà đối với chúng ta có thể gọi là “những lĩnh vực không-hiện-diện.” Khi ấy y có thể chứa đựng và sử dụng các năng lượng mà Tam Nguyên Tinh Thần là người gìn giữ và là biểu hiện của ý chí và mục đích của Thượng đế. Dù điểm đạo đồ có thể không là một phần của chính quyền hành tinh, và dù y có thể không là thành viên của Hội Đồng tại Shamballa (vì chỉ một số hữu hạn điểm đạo đồ được đặt vào vị trí ấy), tuy nhiên y vẫn có quyền di chuyển trên những cấp độ đồng nhất và chuẩn bị cho mình những tiến trình tiến hoá cao hơn sẽ cho y lối vào cõi cảm dục vũ trụ. Điều này sẽ giúp y “nhìn xuyên qua” [202] và nhận ra “ảo cảm vũ trụ,” và sẽ trao cho y chiếc chìa khóa ẩn giấu của thế giới cảm giác và cảm thụ mà sự đáp ứng cảm giác của chúng ta cùng tính nhạy cảm cảm xúc và trực giác của chúng ta chỉ là những phản chiếu mờ nhạt và méo mó. Đây là một yếu tố khá quan trọng cần ghi nhớ nếu muốn phát triển một Ý thức về tỉ lệ đúng đắn. Điểm đạo đồ đã học trên địa cầu rằng cõi cảm dục thực ra không hiện hữu—ít nhất là đối với những người ở các cấp độ điểm đạo cao hơn. Tri thức này tạo thành bước đầu tiên hướng tới sự thấu hiểu bí mật của sự phủ định, hướng tới một sự thấu hiểu chân thực về nền tảng của các cặp đối cực luôn hiện hữu, và hướng tới tri thức nằm sau thâm nghĩa của sự phủ định. Câu trên rất có thể ít ý nghĩa đối với bạn, nhưng dù sao nó vẫn chứa đựng một chân lý mà các thử thách, kinh nghiệm và điểm đạo của sự hiện hữu hành tinh chuẩn bị cho điểm đạo đồ. Chúng ban cho y những phẩm tính sẽ giúp y tiếp xúc với cái ác vũ trụ mà vẫn không bị chạm đến, để cuối cùng đóng vai trò của mình trong việc đưa Hắc đoàn và Huynh đệ đoàn của nó đến một kết cuộc bất thánh. Cội rễ của Hắc đoàn nằm trên cõi cảm dục vũ trụ, cũng như cội rễ của Thánh đoàn và Huynh đệ đoàn của nó nằm trên cõi trí vũ trụ; thực ra điều này chỉ là tạm thời và nhằm thấy một số hoạt động có tổ chức trên sao Sirius được hoàn thiện và đưa đến chỗ viên mãn. Điều này đã nhiều lần được ám chỉ trong các trước tác của tôi.

“The Way of the Higher Evolution” leads to the cosmic astral plane, and the goal which carries a man there is the transcendent vision accorded at some of the higher initiations; the quality which enables him to work as a creative factor in the great White Lodge is the developed buddhic faculty. It is upon the “wings of Sound” that he travels, to use a well-known though little understood metaphor. This can only be when he can

“Con đường Tiến Hóa Cao Siêu” dẫn đến cõi cảm dục vũ trụ, và mục tiêu đưa con người đến đó là linh ảnh siêu việt được ban ở một số lần điểm đạo cao hơn; phẩm tính giúp y làm việc như một yếu tố sáng tạo trong Thánh đoàn là năng lực Bồ đề đã phát triển. Chính trên “đôi cánh của Âm thanh” mà y du hành, dùng một ẩn dụ quen thuộc nhưng ít được hiểu. Điều này chỉ có thể xảy ra khi y có thể

4. Hear the O.M. as it is sounded forth by Him Who stands and waits at the very centre of the Council Chamber of the Lord.

4. Nghe O.M. khi nó được xướng lên bởi Đấng đứng và chờ đợi tại chính trung tâm của Phòng Hội Đồng của Chúa Tể.

[203]

[203]

These are grave and solemn thoughts, and of small use to the average reader. It is essential, however, that he avoid the concept that the attainment of the highest initiation upon this planet marks the end or the consummation of a great and final stage. It only marks the beginning of significance. This is a statement of esoteric value. Just as the attainment of physical control sets the neophyte free for the learning of higher lessons in preparation for the major initiations, so the surmounting of the conditions presented by the seven planes of our planetary life sets the initiate (such as the Buddha or the Christ) free for still higher and more important conditioning circumstances. Their real work as Members of the White Brotherhood is on the point of beginning, and the true purpose of the existence of the Great White Lodge begins faintly to dawn upon Their entranced and amazed understanding. It is of real value to us, therefore, to endeavour to grasp the continuity of revelation and the vast future or vista of unfolding wonder which, stage by stage, grade by grade and plane by plane, unfolds before the initiate-consciousness.

Đây là những tư tưởng nghiêm trọng và trang nghiêm, ít hữu ích đối với độc giả trung bình. Tuy nhiên, điều cốt yếu là y phải tránh quan niệm cho rằng việc đạt đến lần điểm đạo cao nhất trên hành tinh này đánh dấu sự kết thúc hay sự viên mãn của một giai đoạn lớn lao và tối hậu. Nó chỉ đánh dấu sự khởi đầu của thâm nghĩa. Đây là một phát biểu có giá trị huyền bí học. Cũng như việc đạt được sự kiểm soát hồng trần giải phóng người sơ cơ để học những bài học cao hơn nhằm chuẩn bị cho các lần điểm đạo lớn, thì việc vượt qua các điều kiện do bảy cõi của đời sống hành tinh chúng ta trình ra cũng giải phóng điểm đạo đồ (như Đức Phật hay Đức Christ) cho những hoàn cảnh tác động còn cao hơn và quan trọng hơn. Công việc thực sự của Các Ngài với tư cách là Thành viên của Huynh đệ Đoàn Chánh đạo đang ở điểm bắt đầu, và mục đích chân thực của sự hiện hữu của Thánh đoàn bắt đầu hé rạng mờ nhạt trước sự thấu hiểu xuất thần và kinh ngạc của Các Ngài. Vì vậy, đối với chúng ta, việc cố gắng nắm bắt tính liên tục của sự mặc khải và tương lai bao la hay viễn cảnh của điều kỳ diệu đang khai mở, từng giai đoạn một, từng cấp bậc một và từng cõi một, trước tâm thức điểm đạo là điều thực sự có giá trị.

We enter here into a consideration of realms of advancement of which even advanced humanity has no faintest idea; we are touching upon goals and objectives which confront the advanced Members of the Hierarchy; we are dealing with ideas and concepts for which we have no adequate terminology and which are of such a nature that the human mechanism of thought proves incapable of registering them. What, for instance, do the words or phrases, “Divine purpose, Shamballa, the Lord of the World, states of registration or awareness which have no relation to sentiency as it expresses itself through consciousness, the Lodge on Sirius” and similar concepts convey to you? I would venture to suggest that in reality, they represent nothing, and this because the goal of all who read these words is contact with the soul, recognition of and by the Hierarchy, and initiation. If I say to you that the words “the O.M., as it is sounded forth by Him Who stands within the confines of Shamballa” signify that the one Sound, rounded and full, [204] of O is sounded forth, but that the concluding sound of the M is omitted, does that convey aught to your intelligence? Again I venture to say that it does not. It is therefore of small importance for me to enlarge upon this phase of the Rules. I would be more profitably employed if I elucidated somewhat the meaning of the words “the Council Chamber of the Lord.” Three concepts have perchance taken shape in your minds in connection with Shamballa, if you have sought the true esoteric attitude:

Ở đây chúng ta bước vào việc xem xét những cõi tiến bộ mà ngay cả nhân loại tiến bộ cũng không có lấy ý niệm mơ hồ nhất; chúng ta đang chạm đến những mục tiêu và cứu cánh đối diện với các Thành Viên cao cấp của Thánh đoàn; chúng ta đang bàn đến những ý tưởng và khái niệm mà chúng ta không có thuật ngữ thích đáng, và có bản chất đến mức bộ máy tư tưởng của con người tỏ ra bất lực trong việc ghi nhận chúng. Chẳng hạn, những từ hay cụm từ như “Thiên Ý, Shamballa, Đức Chúa Tể Thế Giới, những trạng thái ghi nhận hay nhận biết không có liên hệ gì với cảm năng như nó biểu lộ qua tâm thức, Thánh đoàn trên Sirius” và những khái niệm tương tự gợi lên nơi bạn điều gì? Tôi mạo muội gợi ý rằng trên thực tế, chúng không biểu thị điều gì cả, và điều này là vì mục tiêu của tất cả những ai đọc các lời này là tiếp xúc với linh hồn, được Thánh đoàn nhận biết và nhận biết Thánh đoàn, cùng điểm đạo. Nếu tôi nói với bạn rằng những lời “O.M., như nó được xướng lên bởi Đấng đứng trong phạm vi của Shamballa” có nghĩa là một Âm thanh duy nhất, tròn đầy và viên mãn, [204] của O được xướng lên, nhưng âm kết thúc của M thì bị bỏ đi, điều đó có truyền đạt được gì cho trí tuệ của bạn chăng? Một lần nữa tôi mạo muội nói rằng không. Vì vậy, việc tôi khai triển thêm về phương diện này của các quy luật là điều ít quan trọng. Tôi sẽ được dùng hữu ích hơn nếu làm sáng tỏ phần nào ý nghĩa của những lời “Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể.” Có lẽ ba khái niệm đã hình thành trong trí bạn liên quan đến Shamballa, nếu bạn đã tìm cách có được thái độ huyền bí học chân chính:

1. That Humanity exists as a great centre of intelligent energy in the substance of the planetary Life.

1. Nhân loại hiện hữu như một trung tâm lớn của năng lượng trí tuệ trong chất liệu của Sự sống Hành tinh.

2. That the spiritual centre, where attractive, coherent, magnetic energy is focussed and from whence it flows in two directions

2. Trung tâm tinh thần, nơi năng lượng hấp dẫn, cố kết, từ tính được tập trung và từ đó tuôn chảy theo hai hướng

a. Towards the three worlds and the four kingdoms of nature,

a. Về phía ba cõi thấp và bốn giới trong thiên nhiên,

b. Towards Shamballa and the two higher kingdoms in manifestation

b. Về phía Shamballa và hai giới cao hơn đang biểu hiện

is what we usually call the Hierarchy, the Kingdom of God, the centre of love and of mediating understanding (note these last two words).

là điều mà chúng ta thường gọi là Thánh đoàn, Thiên Giới, trung tâm của tình thương và của sự thấu hiểu trung gian (hãy lưu ý hai từ cuối này).

3. That there is another centre which is neither spiritual nor human but which is characterised by divinity. Divinity is the expression of the will or purpose of the One in Whom we live and move and have our being. That centre where the will of God is focussed and dynamically sent forth to carry out the purpose is Shamballa.

3. Có một trung tâm khác không phải là tinh thần cũng không phải là nhân loại, nhưng được đặc trưng bởi thiên tính. Thiên tính là biểu hiện của ý chí hay mục đích của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu. Trung tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế được tập trung và được phóng ra một cách năng động để thực hiện mục đích ấy chính là Shamballa.

The time has now come when a distinction must be made by esotericists between the words “spiritual” and “divine.” They are not the same, nor do they have the same significance. The quality of spirituality is Love. The quality of divinity is Will. There is a definite distinction between the two and the mediating principle (or that which relates or unites the two qualities) is Wisdom. Of that Wisdom the Buddha was the expression in time and space; that means that there was only a relative and limited manifestation of that fusing linking principle. His great achievement, unrealised [205] by Him, was an innate and (at that time, not now) unconscious recognition of the distinction between love and will, and an ability to express in Himself a fusing, blending energy which could and did bring together love and will, soul and Monad. At the same time (and later in full expression in Palestine) the Christ demonstrated—for the teaching of humanity—the at-one-ment of love and intelligence, of soul and personality. These are points of real importance to have in mind.

Nay đã đến lúc các nhà bí truyền học phải phân biệt giữa hai từ “tinh thần” và “thiêng liêng.” Chúng không giống nhau, cũng không có cùng ý nghĩa. Phẩm tính của tinh thần là Tình thương. Phẩm tính của thiêng liêng là Ý chí. Có một sự phân biệt rõ rệt giữa hai điều đó, và nguyên lý trung gian (hay điều liên hệ hoặc hợp nhất hai phẩm tính ấy) là Minh triết. Đức Phật là biểu hiện của Minh triết ấy trong thời gian và không gian; điều đó có nghĩa là chỉ có một biểu hiện tương đối và giới hạn của nguyên lý dung hợp nối kết ấy. Thành tựu lớn lao của Ngài, không được [205] chính Ngài nhận ra, là một sự nhận biết bẩm sinh và (vào thời đó, chứ không phải bây giờ) vô thức về sự phân biệt giữa tình thương và ý chí, cùng khả năng biểu lộ trong chính Ngài một năng lượng dung hợp, hòa trộn, có thể và thực sự đã đưa tình thương và ý chí, linh hồn và chân thần lại với nhau. Đồng thời (và về sau được biểu lộ trọn vẹn tại Palestine), Đức Christ đã chứng minh—để giáo huấn nhân loại—sự hợp nhất của tình thương và trí tuệ, của linh hồn và phàm ngã. Đây là những điểm thật sự quan trọng cần ghi nhớ.

Embodying, therefore, divinity in a sense and form incomprehensible to disciples, and which constitutes the goal of such advanced individuals as the Christ, are a group of Lives or focussed integrated Beings Who stand around Sanat Kumara, the Lord of the World.

Vì vậy, hiện thân cho thiên tính theo một ý nghĩa và hình thức mà các đệ tử không thể hiểu được, và là mục tiêu của những cá nhân cao cấp như Đức Christ, là một nhóm các Sự Sống hay các Hữu Thể tích hợp, tập trung, đứng quanh Đức Sanat Kumara, Đức Chúa Tể Thế Giới.

As I have earlier said, Sanat Kumara is to the Planetary Logos what the personality, plus soul, is to the disciple. He is also the coherent force within the planet, holding, through His radiatory influence, all forms and all substances in the planetary form so that they constitute one coherent, energised and functioning whole. A parallel to this, though on a much smaller scale, can be seen in the radiatory influence of the Christ as it permeates, energises and holds in coherent expression the Christian Church in all its many aspects in the world; a still smaller analogy can be seen in the influence wielded by a disciple who stands at the centre of a group and holds it also in coherent and useful manifestation. Intermediate between these two symbols of will and love, united in manifestation (the Christ and a disciple), is the work of a world disciple, for the influence is wider and more far-reaching than that of a disciple, yet not as potent or comprehensive as that of the Christ.

Như tôi đã nói trước đây, Đức Sanat Kumara đối với Hành Tinh Thượng đế cũng như phàm ngã cộng với linh hồn đối với đệ tử. Ngài cũng là mãnh lực cố kết bên trong hành tinh, giữ cho mọi hình tướng và mọi chất liệu trong hình tướng hành tinh, nhờ ảnh hưởng phóng xạ của Ngài, cấu thành một toàn thể duy nhất, cố kết, được tiếp năng lượng và đang hoạt động. Một tương đồng với điều này, dù ở quy mô nhỏ hơn nhiều, có thể thấy trong ảnh hưởng phóng xạ của Đức Christ khi nó thấm khắp, tiếp năng lượng và giữ cho Giáo hội Cơ Đốc trong mọi phương diện đa dạng của nó trên thế giới được biểu lộ một cách cố kết; một loại suy còn nhỏ hơn nữa có thể thấy trong ảnh hưởng do một đệ tử nắm giữ khi y đứng ở trung tâm một nhóm và cũng giữ nhóm ấy trong biểu hiện cố kết và hữu dụng. Ở khoảng giữa hai biểu tượng này của ý chí và tình thương, hợp nhất trong biểu hiện (Đức Christ và một đệ tử), là công việc của một đệ tử thế gian, vì ảnh hưởng ấy rộng hơn và sâu xa hơn ảnh hưởng của một đệ tử, nhưng không mạnh mẽ hay bao quát bằng ảnh hưởng của Đức Christ.

Coherency, affecting lives, forms and substances, is an expression of will and purpose, motivated by love and implemented intelligently in carrying forward the plans through which the Purpose seeks expression. When, however, you arrive at the potency of such a Being as Sanat Kumara, you find His individual potency enhanced and [206] amplified by the fused ability of a group of Lives Who—though not as far advanced as He is upon the Path of Evolution which stretches before the Planetary Logoi—are yet greatly in advance of the most developed members of the spiritual Hierarchy. It is these Lives Who constitute the innermost circle of the Council Chamber of the Lord of the World. Their normal contacts are extra-planetary and are very seldom of a planetary nature. They are in direct rapport with the Planetary Logos upon His own high plane, the cosmic mental plane; this great and Unknown Being uses Sanat Kumara as the soul uses a temporary personality when that personality is at an advanced stage of initiate consciousness. This is only a parallel and an analogy and must not be unduly elaborated in the detail of relationship.

Sự cố kết, tác động lên các sự sống, các hình tướng và các chất liệu, là một biểu hiện của ý chí và mục đích, được thúc đẩy bởi tình thương và được thực hiện một cách trí tuệ trong việc xúc tiến các kế hoạch mà qua đó Mục Đích tìm cách biểu lộ. Tuy nhiên, khi bạn đạt đến uy lực của một Hữu Thể như Đức Sanat Kumara, bạn thấy uy lực cá nhân của Ngài được tăng cường và [206] khuếch đại bởi khả năng dung hợp của một nhóm các Sự Sống, những Đấng—dù chưa tiến xa bằng Ngài trên Con Đường Tiến Hóa trải dài trước các Hành Tinh Thượng đế—vẫn vượt rất xa những thành viên phát triển nhất của Thánh đoàn tinh thần. Chính các Sự Sống này cấu thành vòng trong cùng của Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể Thế Giới. Những tiếp xúc bình thường của Các Ngài là ngoài hành tinh và rất hiếm khi có tính chất hành tinh. Các Ngài trực tiếp tương thông với Hành Tinh Thượng đế trên cõi cao riêng của Ngài, cõi trí vũ trụ; Hữu Thể vĩ đại và vô danh này sử dụng Đức Sanat Kumara như linh hồn sử dụng một phàm ngã tạm thời khi phàm ngã ấy ở một giai đoạn cao của tâm thức điểm đạo đồ. Đây chỉ là một sự song hành và một loại suy, và không được khai triển quá mức trong chi tiết của mối liên hệ.

The major characteristic of these Lives is Will or Purpose. They embody and consciously know and intelligently appreciate what is the motivating idea which the Planetary Logos—working consciously on His own high level—seeks to work out and achieve in His planned incarnation through a planet. He functions when in incarnation on the cosmic physical plane, and embodies the seven principles of which we know, and all is focussed in and through the Individuality of Sanat Kumara, implemented and energised through the seven planetary centres. The three Buddhas of Activity (Who are also Members of the Great Council) are expressions of the counterparts on cosmic levels of the energies latent in the three permanent atoms in the three worlds of human endeavour. This is again a dangerous parallel to propose for—as a symbol—it lacks any true analogy.

Đặc tính chủ yếu của các Sự Sống này là Ý chí hay Mục đích. Các Ngài hiện thân và biết một cách hữu thức, đồng thời đánh giá một cách trí tuệ điều gì là ý tưởng thúc đẩy mà Hành Tinh Thượng đế—làm việc một cách hữu thức trên cấp độ cao riêng của Ngài—tìm cách thực hiện và đạt được trong lần lâm phàm đã được hoạch định của Ngài qua một hành tinh. Khi đang lâm phàm, Ngài hoạt động trên cõi hồng trần vũ trụ, và hiện thân cho bảy nguyên khí mà chúng ta biết, và tất cả đều được tập trung trong và qua Cá Thể của Đức Sanat Kumara, được thực hiện và tiếp năng lượng qua bảy trung tâm hành tinh. Ba Đức Phật Hoạt Động (cũng là Thành Viên của Đại Hội Đồng) là những biểu hiện của các đối phần trên các cấp độ vũ trụ của những năng lượng tiềm ẩn trong ba nguyên tử trường tồn ở ba cõi thấp của nỗ lực nhân loại. Đây lại là một sự song hành nguy hiểm để nêu ra vì—như một biểu tượng—nó thiếu bất kỳ loại suy chân thực nào.

The Seven Spirits before the Throne of God are also Members of the Council, and each of Them is in close rapport and contact with one or other of the seven sacred planets in our solar system, and can thus draw upon the energies which they embody.

Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai của Thượng đế cũng là Thành Viên của Hội Đồng, và mỗi Đấng trong Các Ngài có sự tương thông và tiếp xúc mật thiết với một hay một hành tinh thiêng liêng khác trong hệ mặt trời của chúng ta, và do đó có thể rút lấy những năng lượng mà các hành tinh ấy hiện thân.

It will therefore be apparent to you inferentially, how comparatively few of the Members of our Hierarchy have yet been able to reach the state or condition of development which would warrant Their forming a part of the [207] great Council, or which would enable them to respond to the O, sounded out at intervals of one hundred years by Sanat Kumara. It is this sound which gathers together the responsive Units into the Council. This Council is held at one hundred year intervals, and as far as our modern humanity is concerned, these Councils have been held—under our arbitrary dates—in 1725, 1825, 1925.

Do đó, bằng suy luận, bạn sẽ thấy rõ có tương đối ít Thành Viên của Thánh đoàn chúng ta cho đến nay có thể đạt tới trạng thái hay điều kiện phát triển đủ để bảo đảm cho Các Ngài trở thành một phần của [207] Đại Hội Đồng, hay khiến các Ngài có thể đáp ứng với âm O, được Đức Sanat Kumara xướng lên theo chu kỳ một trăm năm. Chính âm thanh này tập hợp các Đơn Vị đáp ứng vào Hội Đồng. Hội Đồng này được tổ chức theo chu kỳ một trăm năm, và xét theo nhân loại hiện đại của chúng ta, các Hội Đồng này đã được tổ chức—theo niên đại quy ước của chúng ta—vào các năm 1725, 1825, 1925.

At these Councils, Those Who are responsible for the planetary development, along certain predetermined lines, make Their reports; decision is made as to new unfoldments; certain types of energy, cosmic and solar, are made available for the carrying forward of the Plans which implement the Purpose; the evolution of consciousness in the three worlds receives, necessarily, major attention.

Tại các Hội Đồng này, những Đấng chịu trách nhiệm về sự phát triển hành tinh theo những đường hướng tiền định nào đó sẽ trình bày báo cáo của Các Ngài; các quyết định được đưa ra về những sự khai mở mới; một số loại năng lượng, vũ trụ và thái dương, được cung ứng để xúc tiến các Kế Hoạch thực hiện Mục Đích; sự tiến hóa của tâm thức trong ba cõi thấp tất yếu nhận được sự chú ý chủ yếu.

I would have you remember that this refers not only to the human kingdom and its unfoldment, but to the three subhuman kingdoms also which are—from many points of view—of equal importance to the human. This is a hard saying for humanity to accept.

Tôi muốn bạn nhớ rằng điều này không chỉ nói đến giới nhân loại và sự khai mở của nó, mà còn nói đến ba giới dưới nhân loại nữa, những giới mà—xét từ nhiều quan điểm—có tầm quan trọng ngang với nhân loại. Đây là một lời khó chấp nhận đối với nhân loại.

It is these great goals which slowly dawn on the consciousness of the initiate as he advances step by step along the Path of Initiation. They must perforce be noted here, even if dealing with matters incomprehensible to the reader; initiation otherwise would be apt to be regarded as the attainment of a relatively static condition and would land the initiate in an eternal impasse or impassable cul-de-sac. Initiation is in fact the recognition of the goals which are implemented from Shamballa. It is not a process whereby a man becomes solely a Member of the Spiritual Hierarchy. Initiation (as the candidate understands it) is in reality only incidental and preparatory to the Path of the Higher Evolution.

Chính những mục tiêu lớn lao này dần dần ló rạng trong tâm thức của điểm đạo đồ khi y tiến từng bước trên Con Đường Điểm Đạo. Chúng nhất thiết phải được ghi nhận ở đây, ngay cả khi bàn đến những vấn đề người đọc không thể hiểu; nếu không, điểm đạo rất có thể bị xem như sự đạt đến một trạng thái tương đối tĩnh tại và sẽ đưa điểm đạo đồ vào một ngõ cụt vĩnh viễn không lối thoát. Thực ra, điểm đạo là sự nhận biết những mục tiêu được thực hiện từ Shamballa. Nó không phải là một tiến trình nhờ đó con người chỉ đơn thuần trở thành một Thành Viên của Huyền Giai Tinh Thần. Điểm đạo (theo cách ứng viên hiểu) trên thực tế chỉ là điều phụ thuộc và chuẩn bị cho Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.

There is little more that I can tell you anent this Rule. The subject is, as you can see, too advanced even for the initiate who, in a few decades, will read and study these instructions. That your vision may expand, and your power to think and reflect abstractly may grow, is my hope and wish for you.

Tôi có rất ít điều hơn nữa có thể nói với bạn về quy luật này. Như bạn thấy, chủ đề này quá cao siêu ngay cả đối với điểm đạo đồ, người mà trong vài thập niên nữa sẽ đọc và nghiên cứu các chỉ huấn này. Mong ước và hy vọng của tôi dành cho bạn là tầm nhìn của bạn sẽ mở rộng, và năng lực suy nghĩ cũng như phản tỉnh một cách trừu tượng của bạn sẽ tăng trưởng.

RULE ELEVEN — QUY LUẬT MƯỜI MỘT

[208]

[208]

I would like to speak, at this point in our discussion of the fourteen rules for initiates, upon the theme of group initiation; these rules are those to which groups that are seeking, in unison, a group expansion of consciousness, must learn to conform. It is for this reason that I have hitherto omitted to go into detail in relating these rules to the seven centres or, specifically, to the great seven solar initiations. Of these seven initiations only five concern average humanity. The remaining two initiations concern only those who are willing to meet certain unusual requirements and to produce that special effort which entitles them to the appellation, “Victors, through the clear pure will.”

Tại điểm này trong cuộc bàn luận của chúng ta về mười bốn quy luật dành cho các điểm đạo đồ, tôi muốn nói về chủ đề điểm đạo nhóm; đây là những quy luật mà các nhóm đang tìm kiếm, trong hợp nhất, một sự mở rộng tâm thức theo nhóm, phải học cách tuân theo. Chính vì lý do này mà cho đến nay tôi đã không đi vào chi tiết trong việc liên hệ các quy luật này với bảy trung tâm hay, cụ thể hơn, với bảy cuộc điểm đạo thái dương lớn. Trong bảy cuộc điểm đạo này, chỉ có năm cuộc liên quan đến nhân loại trung bình. Hai cuộc điểm đạo còn lại chỉ liên quan đến những ai sẵn lòng đáp ứng một số đòi hỏi khác thường và tạo ra nỗ lực đặc biệt khiến họ xứng đáng với danh xưng “Những Đấng Chiến Thắng, nhờ ý chí trong sáng thuần khiết.”

Group initiation is no easy achievement, particularly as it is practically an untried experiment and constitutes essentially a pioneering effort. That such a development was inevitable, if the evolutionary growth of humanity proved in any way satisfactory, was early realised by the Hierarchy. However, it has taken millenia of years to make it seem—as an hypothetical effort—in any way possible, and only tentative experiments have as yet been attempted. The first objective of these experiments (going on quietly in various places all over the world) is to see if a group of disciples can work together in such a manner that an inner fusion can be seen—by the Masters—to be taking place. The results, hitherto, have not been encouraging. It has, for one thing, been difficult to find disciples who are approximately at the same point in evolution, whose rays are “shining through” adequately, and who can evidence some one quality, or some controlling theme (if I may use such a phrase) which they share in unison and which would suffice to hold them together and prove strong enough to offset personality differences, preferences and barriers. It has not been possible, as yet, to do this. Group after group has been tried and tested out by different Masters in various parts of the world, and hitherto all such attempts have proved failures. When I use the word “failure” I mean failure from [209] the angle of the planned objective. From the angle of the individual growth of any particular disciple there has not necessarily been failure; from the angle of the unwitting, general public, the publication of Discipleship in the New Age will prove in years to come an epochal success.

Điểm đạo nhóm không phải là một thành tựu dễ dàng, đặc biệt vì trên thực tế đây là một thử nghiệm hầu như chưa từng được thực hiện và về bản chất là một nỗ lực khai phá. Thánh đoàn đã sớm nhận ra rằng một sự phát triển như thế là điều tất yếu, nếu sự tăng trưởng tiến hóa của nhân loại tỏ ra phần nào thỏa đáng. Tuy nhiên, phải mất hàng ngàn năm mới khiến nó có vẻ—như một nỗ lực giả định—có phần khả thi, và cho đến nay mới chỉ có những thử nghiệm thăm dò được tiến hành. Mục tiêu đầu tiên của các thử nghiệm này (đang âm thầm diễn ra ở nhiều nơi trên khắp thế giới) là xem liệu một nhóm đệ tử có thể cùng làm việc theo cách mà một sự dung hợp nội tại có thể được các Chân sư thấy là đang diễn ra hay không. Cho đến nay, kết quả vẫn không đáng khích lệ. Trước hết, rất khó tìm được những đệ tử ở gần cùng một điểm tiến hoá, có các cung đang “chiếu xuyên qua” một cách đầy đủ, và có thể biểu lộ một phẩm tính nào đó, hay một chủ đề chi phối nào đó (nếu tôi có thể dùng cụm từ như vậy) mà họ cùng chia sẻ trong hợp nhất và đủ để giữ họ lại với nhau, đồng thời đủ mạnh để hóa giải những khác biệt, sở thích và rào cản của phàm ngã. Cho đến nay vẫn chưa thể làm được điều này. Hết nhóm này đến nhóm khác đã được các Chân sư khác nhau thử nghiệm và kiểm tra tại nhiều nơi trên thế giới, và cho đến nay mọi nỗ lực như thế đều thất bại. Khi tôi dùng từ “thất bại,” tôi muốn nói là thất bại xét từ [209] góc độ của mục tiêu đã hoạch định. Xét từ góc độ sự tăng trưởng cá nhân của bất kỳ đệ tử riêng biệt nào thì không nhất thiết là thất bại; xét từ góc độ của công chúng nói chung không hề hay biết, việc xuất bản Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới trong những năm sắp tới sẽ chứng tỏ là một thành công mang tính thời đại.

It might be of value to consider briefly what group initiation involves, and to do this factually and not sentimentally and aspirationally.

Có lẽ sẽ hữu ích nếu ngắn gọn xem xét điểm đạo nhóm bao hàm điều gì, và làm điều này một cách thực tế chứ không theo tình cảm hay khát vọng.

One of the problems confronting the Hierarchy in this connection is the elimination of sentiment—that curious, emotional reaction and relationship which links all the members of a group together in the bonds of liking or disliking. Where there is liking, then too strong a personality relation is established, as far as the good of the group is concerned. The group equilibrium is disturbed. Where there is disliking, the inner faculty of rebuff works constantly, and cleavages then occur. Is it not true, my brothers, that your relation to each other is frequently subjected to the impact of approval or of disapproval? When that attitude exists, the first steps towards group fusion are absent. This is what we mean by sentiment, and this emotional reaction must disappear as a preliminary stage. I speak not at this time anent impersonality. For some people, impersonality is simply an escape mechanism from responsibility; for others, it connotes suppression and entails such hard labour that the entire time of the disciple is given to the achievement of impersonality, thereby guaranteeing non-success. That at which you strenuously strive and which assumes undue place in your thinking, in due time becomes itself a prison and merits later destruction. Such is the occult law. Impersonality is possible only to the disciple who knows truly how to love, and to him who sees life and its phantasmagoria (including all associated persons) in the light of the Spiritual Triad.

Một trong những vấn đề đối diện với Thánh đoàn trong mối liên hệ này là loại bỏ tình cảm—phản ứng và mối liên hệ cảm xúc kỳ lạ nối kết mọi thành viên của một nhóm trong những ràng buộc của thích hay không thích. Nơi nào có sự thích, thì một mối liên hệ phàm ngã quá mạnh được thiết lập, xét theo lợi ích của nhóm. Sự quân bình của nhóm bị xáo trộn. Nơi nào có sự không thích, thì năng lực nội tại của sự gạt bỏ liên tục hoạt động, và khi đó các chia rẽ xảy ra. Có phải không đúng sao, Huynh đệ của Tôi, rằng mối liên hệ của các bạn với nhau thường xuyên chịu tác động của sự tán thành hay không tán thành? Khi thái độ ấy tồn tại, những bước đầu tiên hướng tới sự dung hợp nhóm vắng mặt. Đó là điều chúng tôi muốn nói đến bằng tình cảm, và phản ứng cảm xúc này phải biến mất như một giai đoạn sơ khởi. Lúc này tôi không nói về tính vô ngã. Đối với một số người, tính vô ngã chỉ đơn giản là một cơ chế trốn tránh trách nhiệm; đối với những người khác, nó hàm ý sự đè nén và đòi hỏi một lao động gian khổ đến mức toàn bộ thời gian của đệ tử bị dành cho việc đạt được tính vô ngã, do đó bảo đảm sự không thành công. Điều mà bạn cố gắng mãnh liệt đạt tới và điều chiếm vị trí quá mức trong tư tưởng của bạn, đến lúc sẽ tự nó trở thành một nhà tù và về sau đáng bị hủy diệt. Đó là định luật huyền bí. Tính vô ngã chỉ có thể có nơi đệ tử biết thật sự cách yêu thương, và nơi người nhìn thấy sự sống cùng cảnh huyễn ảo của nó (bao gồm mọi người liên hệ) trong ánh sáng của Tam Nguyên Tinh Thần.

It is to this that Rule XI primarily refers, and it will not be possible for you to comprehend the significance of this rule unless there is a measure of clarity in your minds anent true group relationships. Such relationships are not [210] based upon personality or impersonality, or upon liking or disliking, or on criticism or non-criticism, but upon a real comprehension of “divine indifference,” spiritual detachment and deep, persistent, unchanging love. To many earnest aspirants the juxtaposition of these phrases will seem paradoxical; but an understanding of the occult paradoxes tends to liberation. In the comprehension of these basic attitudes lies the first lesson of the aspirant to participation in group initiation.

Chính điều này là điều mà Quy luật XI chủ yếu đề cập đến, và bạn sẽ không thể hiểu được ý nghĩa của quy luật này trừ phi trong trí bạn có một mức độ sáng tỏ nào đó về các mối liên hệ nhóm chân chính. Những mối liên hệ như thế không [210] dựa trên phàm ngã hay tính vô ngã, hay trên thích và không thích, hay trên phê phán và không phê phán, mà dựa trên một sự thấu hiểu thực sự về “Điềm nhiên thiêng liêng,” sự tách rời tinh thần và tình thương sâu xa, bền bỉ, bất biến. Đối với nhiều người chí nguyện tha thiết, việc đặt những cụm từ này cạnh nhau sẽ có vẻ nghịch lý; nhưng sự thấu hiểu các nghịch lý huyền bí có khuynh hướng dẫn đến giải thoát. Chính trong sự thấu hiểu các thái độ căn bản này có bài học đầu tiên của người chí nguyện muốn tham dự vào điểm đạo nhóm.

The second point which the group thus striving has to grasp is the necessity for the utilisation of the force of destruction.

Điểm thứ hai mà nhóm đang nỗ lực như vậy phải nắm được là sự cần thiết phải sử dụng lực hủy diệt.

A group is brought together under karmic law, ashramic necessity and soul direction. Immediately there is presented to the watching Masters an opportunity for the very definite training of some willing aspirants, but also an equally definite point of tension, indicating real difficulty. There is little, in reality, to link these people except inclination, a joint aspiration and a goal seen and held in unison. The outstanding characteristic of such a group is spiritual selfishness. This statement may surprise you until a close scrutiny of your own heart is undergone, and then I venture to predict that you will discover that it is not divine love of humanity that has enabled you to find your way into the outer group of some Ashram but desire for development, for achievement and for liberation. The first step, therefore, is to recognise this and hence the injunction so oft misunderstood: Kill out desire. This has to be the first destructive activity of the disciple. It is not what the disciple seeks, or wants or desires which should condition him and drive him to what we might call “ashramic acquiescence,” but the all-impelling motive of world need. So the disciple begins to rid himself of desire by a process of attrition. He does not positively fight desire with a view to its elimination; he does not seek to transmute it (as should the probationary disciple), but he ceases to give it any recognition; he fails to provide it with the needed stimulation of attention, for as ever, energy follows thought; he is preoccupied [211] with world need and with the service he can render, and—almost inadvertently, as it were—desire dies of attrition.

Một nhóm được tập hợp lại dưới định luật nghiệp quả, sự cần thiết của ashram và sự chỉ đạo của linh hồn. Ngay lập tức, trước mắt các Chân sư đang quan sát xuất hiện một cơ hội để huấn luyện rất rõ rệt cho một số người chí nguyện sẵn lòng, nhưng đồng thời cũng là một điểm tập trung nhất tâm rõ rệt không kém, cho thấy khó khăn thực sự. Trên thực tế, có rất ít điều nối kết những người này ngoài khuynh hướng, một khát vọng chung và một mục tiêu được nhìn thấy và nắm giữ trong hợp nhất. Đặc tính nổi bật của một nhóm như vậy là tính ích kỷ tinh thần. Lời khẳng định này có thể làm bạn ngạc nhiên cho đến khi bạn khảo sát kỹ lưỡng chính trái tim mình, và khi đó tôi mạo muội tiên đoán rằng bạn sẽ khám phá ra rằng không phải tình thương thiêng liêng đối với nhân loại đã giúp bạn tìm được đường vào nhóm bên ngoài của một ashram, mà là ham muốn phát triển, thành tựu và giải thoát. Vì vậy, bước đầu tiên là nhận ra điều này, và do đó mới có huấn lệnh thường bị hiểu sai: Hãy diệt trừ ham muốn. Đây phải là hoạt động hủy diệt đầu tiên của đệ tử. Không phải điều đệ tử tìm kiếm, mong muốn hay ham muốn nên tác động lên y và thúc đẩy y đến điều mà chúng ta có thể gọi là “sự thuận phục ashram,” mà là động cơ thôi thúc toàn diện của nhu cầu thế giới. Vì thế đệ tử bắt đầu tự giải thoát khỏi ham muốn bằng một tiến trình bào mòn. Y không tích cực chiến đấu với ham muốn nhằm loại bỏ nó; y không tìm cách chuyển hoá nó (như đệ tử dự bị phải làm), mà ngừng dành cho nó bất kỳ sự thừa nhận nào; y không cung cấp cho nó sự kích thích cần thiết của sự chú ý, vì như thường lệ, năng lượng đi theo tư tưởng; y bận tâm [211] với nhu cầu thế giới và với sự phụng sự mà y có thể cống hiến, và—gần như vô tình vậy—ham muốn chết đi vì bị bào mòn.

It will be apparent to you, therefore, that it will take time for all the members of a group to achieve the destruction of individual desire, and that until some measure of this united liberating process is attained, the group cannot go forward together as a unit on the Way of Initiation.

Do đó, bạn sẽ thấy rõ rằng sẽ cần thời gian để mọi thành viên của một nhóm đạt được sự hủy diệt ham muốn cá nhân, và rằng cho đến khi đạt được một mức độ nào đó của tiến trình giải thoát hợp nhất này, nhóm không thể cùng nhau tiến lên như một đơn vị trên Con Đường Điểm Đạo.

The next step is the destruction of the ties which link the personalities of the group members. These must be severed, and the relation between the group members must be on the basis of soul activity, joint pledge to the Master of the Ashram, and a united service given to humanity. There comes a point of freedom in the group relation which will demonstrate in some definitely planned and united activity, carried forward in the outer world but enriching the life of the Ashram. Until this stage is reached, the activity of the group corresponds to that of the probationary disciple and not to that of the pledged disciple. The spontaneously emerging group work, engendered by the group consciousness and fusing the entire group of disciples at a point of tension in service, is the first indication that the group is ready for further teaching, for an intensification of its group potency and for a closer relation to the Master. This has all been brought about by the group itself, independently of any injunction of the Master, and as a result of the united soul life of the group effectively making its presence felt. These two spiritually destructive processes—the destruction of desire and the severing of all personality ties—are the first two and essential results of true group work.

Bước kế tiếp là hủy diệt những dây buộc nối kết các phàm ngã của các thành viên trong nhóm. Những dây buộc này phải bị cắt đứt, và mối liên hệ giữa các thành viên trong nhóm phải đặt trên cơ sở hoạt động của linh hồn, lời cam kết chung với Chân sư của ashram, và sự phụng sự hợp nhất dành cho nhân loại. Sẽ đến một điểm tự do trong mối liên hệ nhóm, điểm này sẽ biểu lộ trong một hoạt động nào đó được hoạch định rõ rệt và hợp nhất, được thực hiện trong thế giới bên ngoài nhưng làm phong phú đời sống của ashram. Cho đến khi đạt tới giai đoạn này, hoạt động của nhóm tương ứng với hoạt động của đệ tử dự bị chứ không phải của đệ tử đã cam kết. Công việc nhóm tự phát xuất hiện, được sinh ra bởi tâm thức nhóm và dung hợp toàn thể nhóm đệ tử tại một điểm tập trung nhất tâm trong phụng sự, là dấu hiệu đầu tiên cho thấy nhóm đã sẵn sàng cho giáo huấn thêm nữa, cho sự tăng cường uy lực nhóm và cho mối liên hệ gần gũi hơn với Chân sư. Tất cả điều này đã được chính nhóm mang lại, độc lập với bất kỳ huấn lệnh nào của Chân sư, và là kết quả của đời sống linh hồn hợp nhất của nhóm đang biểu lộ sự hiện diện của nó một cách hữu hiệu. Hai tiến trình hủy diệt tinh thần này—sự hủy diệt ham muốn và sự cắt đứt mọi dây buộc phàm ngã—là hai kết quả đầu tiên và thiết yếu của công việc nhóm chân chính.

The third quality which must be utterly rooted out and destroyed is that of all reaction towards recognition, whether that recognition is accorded by the world of men, by other disciples, or by the Master. The ability to work without any token of recognition, to see others claim the reward of action taken, and even to be unaware that the results of the good initiated by the individual disciple or [212] his group are claimed by others, are the hallmarks of the hierarchical worker. The Masters get no recognition for the work done by Their disciples, though They initiated the original impulse and have given both guidance and direction; the disciple carries out the Plan; he shoulders the responsibility; he pays the price, either good or bad, or the karmic results of instituted activity, and he is the one who gains the recognition of the crowd. But—until the disciple seeks no recognition, until he fails to think in terms of results and is unaware of the reaction of the world to his work as an individual disciple—he has yet far to go in order to gain the higher initiations. The entire problem becomes increasingly difficult when an entire ashramic group is concerned, for the recognition of the group service seems little to ask from the world which is served; nevertheless, such a demand and such an expectation delay the complete absorption of the group into the inner Ashram.

Phẩm tính thứ ba phải được nhổ tận gốc và hủy diệt hoàn toàn là mọi phản ứng đối với sự công nhận, dù sự công nhận ấy được ban bởi thế giới loài người, bởi các đệ tử khác, hay bởi Chân sư. Khả năng làm việc mà không có bất kỳ dấu hiệu công nhận nào, thấy người khác nhận phần thưởng của hành động đã được thực hiện, và thậm chí không biết rằng kết quả của điều thiện do đệ tử cá nhân hay [212] nhóm của y khởi xướng lại bị người khác nhận lấy, là những dấu hiệu đặc trưng của người hoạt động của Thánh đoàn. Các Chân sư không nhận được sự công nhận nào cho công việc do các đệ tử của Các Ngài thực hiện, mặc dù Các Ngài đã khởi xướng xung lực ban đầu và đã ban cả sự hướng dẫn lẫn chỉ đạo; đệ tử thực hiện Thiên Cơ; y gánh lấy trách nhiệm; y trả giá, dù tốt hay xấu, hay các kết quả nghiệp quả của hoạt động đã được thiết lập, và y là người nhận được sự công nhận của đám đông. Nhưng—cho đến khi đệ tử không còn tìm kiếm sự công nhận, cho đến khi y không còn suy nghĩ theo kết quả và không biết đến phản ứng của thế giới đối với công việc của mình như một đệ tử cá nhân—thì y vẫn còn phải đi rất xa mới có thể đạt được các cuộc điểm đạo cao hơn. Toàn bộ vấn đề càng trở nên khó khăn hơn khi liên quan đến cả một nhóm ashram, vì sự công nhận đối với phụng sự của nhóm dường như là điều ít ỏi để yêu cầu từ thế giới được phụng sự; tuy nhiên, một đòi hỏi và một kỳ vọng như thế làm trì hoãn sự hấp thu trọn vẹn của nhóm vào ashram nội tại.

These are not, however, impossible objectives, or I would not waste your time or mine in their delineation. The group can measure up to the occult necessity if unitedly they recognise the scope of the endeavour and unitedly strive for complete absorption in service—an absorption so deep that it excludes all other recognitions, particularly those of a personal nature. We come back, therefore (as is continually the case), to the fact that when a group can arrive at a suitable point of united tension, non-essential reactions disappear and undesirable qualities are automatically removed.

Tuy nhiên, đây không phải là những mục tiêu bất khả, nếu không tôi đã không lãng phí thời gian của bạn hay của tôi để phác họa chúng. Nhóm có thể đáp ứng nhu cầu huyền bí nếu họ cùng nhau nhận ra tầm mức của nỗ lực và cùng nhau phấn đấu để được hấp thu hoàn toàn trong phụng sự—một sự hấp thu sâu đến mức loại trừ mọi sự công nhận khác, đặc biệt là những công nhận có tính cá nhân. Vì vậy, chúng ta lại quay về (như vẫn thường xảy ra) với sự kiện rằng khi một nhóm có thể đạt tới một điểm tập trung nhất tâm hợp nhất thích hợp, những phản ứng không thiết yếu sẽ biến mất và những phẩm tính không mong muốn sẽ tự động bị loại bỏ.

These three types of work along the lines of destruction merit your careful consideration and—because they are along the line of the destroying aspect—it will be apparent to you that the method employed is that of the utilisation of the group Will. It will be equally apparent that the group Will can only make its appearance under the Law of Occult Continuity when, and if, the group is functioning intelligently and demonstrating love adequately.

Ba loại công việc này theo đường hướng hủy diệt xứng đáng được bạn cân nhắc cẩn thận và—vì chúng thuộc đường hướng của phương diện hủy diệt—bạn sẽ thấy rõ rằng phương pháp được sử dụng là sử dụng ý chí nhóm. Cũng sẽ rõ ràng không kém rằng ý chí nhóm chỉ có thể xuất hiện dưới Định luật Liên Tục Huyền Bí khi, và nếu, nhóm đang hoạt động một cách trí tuệ và biểu lộ tình thương một cách đầy đủ.

We now come to the third factor which group initiation involves. This is diversity in unity, consciously recognised [213] and utilised. A group is not composed of disciples all of whom are being prepared for the same initiation. This is oft a hard saying for group members to accept. The significance of my earlier statement, that a group is composed of men and women all of whom are at the same point in evolution, is a generalisation and simply means that all of them have reached the point where they are pledged and unalterably committed to the work of the Ashram, under some particular Master.

Giờ đây chúng ta đến với yếu tố thứ ba mà điểm đạo nhóm bao hàm. Đó là sự đa dạng trong hợp nhất, được nhận biết một cách hữu thức [213] và được sử dụng. Một nhóm không gồm toàn những đệ tử đang được chuẩn bị cho cùng một cuộc điểm đạo. Đây thường là một lời khó chấp nhận đối với các thành viên trong nhóm. Ý nghĩa của lời phát biểu trước đây của tôi, rằng một nhóm gồm những người nam và nữ đều ở cùng một điểm tiến hoá, là một sự khái quát hóa và chỉ đơn giản có nghĩa là tất cả họ đã đạt tới điểm mà họ đã cam kết và không thể thay đổi trong việc dấn thân vào công việc của ashram, dưới một Chân sư nào đó.

The work, however, requires a diversity of quality and of potencies in order to be effective in manifestation upon the outer plane. It needs those who are in close contact with the Master, and are therefore initiates of a certain standing; it needs also those who have facility of relationship with the inner Ashram and are therefore senior disciples, though not necessarily high initiates; it needs also those not so advanced upon the Path of Discipleship because they have, or can establish, a close connection with ordinary humanity in the life of everyday. A group of disciples such as this is consequently a miniature hierarchy, and a hierarchy exists in its various degrees in order to permit of a wide range of effective relationships. Ponder on this statement. You can see now why there is necessity for the elimination of personality reactions, for only thus could the groups function as a coordinated unit with the various members recognising each other’s status and yet not moved to jealousy or belittlement thereby; the work is then carried forward on the basis of inspiration, coordination and practical application. The senior members of the group, and those with the most advanced status (whatever that may be), provide the incentive of the Plan as they receive it from the Master; the more experienced among the disciples then coordinate the Plan within the group, relating it to the Ashram and indicating its approach to the world of men; the neophytes—pledged and dedicated though yet without experience—carry out the Plan upon the physical plane. This entails, as you can see, smooth and effective coordination, a proper attention to the general picture, and an application of the detail of [214] work to the immediate necessity. It is a hard task for a group of intensely individualistic disciples (and all disciples are individual) to begin to take the first steps towards these attitudes and the relationships which distinguish the Hierarchy as a whole.

Tuy nhiên, công việc đòi hỏi sự đa dạng về phẩm tính và uy lực để có hiệu quả trong biểu hiện trên cõi bên ngoài. Nó cần những người tiếp xúc mật thiết với Chân sư, và do đó là những điểm đạo đồ ở một địa vị nhất định; nó cũng cần những người có khả năng liên hệ với ashram nội tại và do đó là những đệ tử cao cấp, dù không nhất thiết là những điểm đạo đồ cao; nó cũng cần những người chưa tiến xa đến thế trên Con Đường Đệ Tử vì họ có, hoặc có thể thiết lập, một mối liên hệ gần gũi với nhân loại bình thường trong đời sống hằng ngày. Vì vậy, một nhóm đệ tử như thế là một thánh đoàn thu nhỏ, và một thánh đoàn hiện hữu trong các cấp độ khác nhau của nó để cho phép một phạm vi rộng lớn các mối liên hệ hữu hiệu. Hãy suy ngẫm về lời phát biểu này. Giờ đây bạn có thể thấy vì sao cần phải loại bỏ các phản ứng phàm ngã, vì chỉ như thế các nhóm mới có thể hoạt động như một đơn vị phối hợp, với các thành viên khác nhau nhận biết địa vị của nhau mà không vì thế bị thúc đẩy đến ganh tị hay hạ thấp nhau; khi đó công việc được tiến hành trên cơ sở cảm hứng, phối hợp và ứng dụng thực tiễn. Những thành viên cao cấp của nhóm, và những người có địa vị tiến bộ nhất (dù địa vị ấy là gì), cung cấp động lực của Thiên Cơ như họ nhận được từ Chân sư; rồi những đệ tử giàu kinh nghiệm hơn sẽ phối hợp Thiên Cơ trong nội bộ nhóm, liên hệ nó với ashram và chỉ ra cách tiếp cận của nó với thế giới loài người; những người sơ cơ—dù đã cam kết và tận hiến nhưng chưa có kinh nghiệm—sẽ thực hiện Thiên Cơ trên cõi hồng trần. Như bạn thấy, điều này đòi hỏi sự phối hợp trôi chảy và hữu hiệu, sự chú ý thích đáng đến bức tranh tổng quát, và sự ứng dụng chi tiết của công việc [214] vào nhu cầu trước mắt. Đối với một nhóm đệ tử có tính cá thể mãnh liệt (và mọi đệ tử đều là cá thể), việc bắt đầu thực hiện những bước đầu tiên hướng tới các thái độ và các mối liên hệ phân biệt Thánh đoàn như một toàn thể là một nhiệm vụ khó khăn.

Still another important factor in the group preparation for initiation is the cultivation of silence. How, we ask ourselves at times when the functioning of the Ashram is under discussion, can we train our disciples to realise that, essentially, silence is not refraining from speech. So many disciples seem to think that it is, and that they have to learn not to talk if they hope to take initiation. Some would do a great deal better if they talked more than they do—along right lines. The silence imposed in an Ashram is refraining from certain lines of thought, the elimination of reverie and the unwholesome use of the creative imagination. Speech is consequently controlled at its source, because speech is the result of certain inner sources of ideas, of thought and of imagination; it is the precipitation (at a certain point of saturation, if I might so express it) of inner reservoirs which overflow on to the physical plane. The retention of speech and the suppression of words, if they are the result of a realisation that what is to be said is wrong, or undesirable, or unwise, or wasteful, of energy will simply increase the inner banking up and will lead eventually to a still more violent display of words at a later date; it may also bring about serious and disastrous conditions within the astral body of the disciple. The silence of thought is to be cultivated and, my brothers, I do not mean silent thinking. I mean that certain lines of thought are refused admission; certain habits of thinking are eradicated and certain approaches to ideas are not developed. This is done by a process of substitution, and not by a violent process of suppression. The initiate learns to keep his thought apparatus in a certain effective condition. His thoughts do not intermingle the one with the other, but are contained (if I may thus pictorially word it) in separate compartments or carefully filed for reference and later use. There are certain [215] layers of thought (again speaking symbolically) which are held within the Ashram itself and are never permitted to enter the mind of the disciple or the initiate when not consciously working in the Ashram; others are related to the group and its work and are given free play within the group ring-pass-not; still others are of a more mundane nature and govern the daily life and relationships of the disciple with personalities and with the affairs of civilised living and physical plane events. These are only indications of what I mean, but will suffice to show (if you duly meditate) a little of what is meant by the silence of the initiate. Within the permitted levels of contact, speech is free and unimpeded; outside those levels, no indication is given that the other spheres of thought activity, with their conditioning speech, even exist. Such is the silence of the initiated disciple.

Một yếu tố quan trọng khác nữa trong sự chuẩn bị điểm đạo của nhóm là việc vun bồi sự im lặng. Đôi khi chúng ta tự hỏi, khi bàn về hoạt động của ashram, làm sao có thể huấn luyện các đệ tử của mình nhận ra rằng về bản chất, im lặng không phải là kiêng nói. Rất nhiều đệ tử dường như nghĩ như vậy, và cho rằng họ phải học cách không nói nếu hy vọng được điểm đạo. Một số người sẽ làm tốt hơn nhiều nếu họ nói nhiều hơn hiện nay—theo những đường hướng đúng đắn. Sự im lặng được áp đặt trong một ashram là sự kiêng những đường lối tư tưởng nhất định, sự loại bỏ mộng tưởng và việc sử dụng không lành mạnh sự tưởng tượng sáng tạo. Vì thế lời nói được kiểm soát ngay tại nguồn của nó, bởi vì lời nói là kết quả của một số nguồn nội tại của ý tưởng, của tư tưởng và của sự tưởng tượng; nó là sự ngưng tụ (ở một điểm bão hòa nào đó, nếu tôi có thể diễn tả như vậy) của những hồ chứa nội tại tràn ra cõi hồng trần. Việc giữ lại lời nói và đè nén ngôn từ, nếu là kết quả của sự nhận ra rằng điều sắp nói là sai, hay không mong muốn, hay không khôn ngoan, hay lãng phí năng lượng, thì chỉ đơn giản làm tăng thêm sự dồn nén bên trong và cuối cùng sẽ dẫn đến một sự bộc phát ngôn từ còn dữ dội hơn vào lúc sau; nó cũng có thể gây ra những tình trạng nghiêm trọng và tai hại trong thể cảm dục của đệ tử. Sự im lặng của tư tưởng phải được vun bồi, và, Huynh đệ của Tôi, tôi không có ý nói là suy nghĩ trong im lặng. Ý tôi là một số đường lối tư tưởng nhất định bị từ chối không cho đi vào; một số thói quen suy nghĩ bị nhổ bỏ và một số cách tiếp cận ý tưởng không được phát triển. Điều này được thực hiện bằng một tiến trình thay thế, chứ không phải bằng một tiến trình đè nén dữ dội. Điểm đạo đồ học cách giữ bộ máy tư tưởng của mình trong một tình trạng hữu hiệu nhất định. Các tư tưởng của y không trộn lẫn với nhau, mà được chứa đựng (nếu tôi có thể diễn tả bằng hình ảnh như vậy) trong những ngăn riêng biệt hoặc được lưu trữ cẩn thận để tham khảo và sử dụng về sau. Có những [215] lớp tư tưởng nhất định (một lần nữa nói theo biểu tượng) được giữ trong chính ashram và không bao giờ được phép đi vào trí của đệ tử hay điểm đạo đồ khi không làm việc một cách hữu thức trong ashram; những lớp khác liên hệ đến nhóm và công việc của nhóm, và được tự do hoạt động trong vòng-giới-hạn của nhóm; còn những lớp khác nữa có tính chất trần thế hơn và chi phối đời sống hằng ngày cùng các mối liên hệ của đệ tử với các phàm ngã và với những công việc của đời sống văn minh cùng các biến cố trên cõi hồng trần. Đây chỉ là những chỉ dẫn về điều tôi muốn nói, nhưng sẽ đủ để cho thấy (nếu bạn tham thiền đúng mức) phần nào điều được hàm ý bởi sự im lặng của điểm đạo đồ. Trong những cấp độ tiếp xúc được cho phép, lời nói là tự do và không bị cản trở; ngoài những cấp độ ấy, không có dấu hiệu nào cho thấy những lĩnh vực hoạt động tư tưởng khác, cùng lời nói do chúng tác động, thậm chí còn hiện hữu. Đó là sự im lặng của đệ tử đã được điểm đạo.

We have therefore considered briefly but suggestively four qualities which a group preparing for initiation needs to develop, to consider and unitedly to achieve. They are:

Vì vậy, chúng ta đã ngắn gọn nhưng có tính gợi mở xem xét bốn phẩm tính mà một nhóm đang chuẩn bị cho điểm đạo cần phát triển, cân nhắc và cùng nhau đạt được. Chúng là:

1. The achieving of a non-sentimental group interrelation.

1. Đạt được một mối liên hệ nhóm không tình cảm.

2. Learning how to use the forces of destruction constructively.

2. Học cách sử dụng các lực hủy diệt một cách xây dựng.

3. Attaining the power to work as a miniature Hierarchy, and as a group to exemplify unity in diversity.

3. Đạt được năng lực hoạt động như một thánh đoàn thu nhỏ, và như một nhóm biểu hiện sự hợp nhất trong đa dạng.

4. Cultivating the potency of occult silence.

4. Vun bồi uy lực của sự im lặng huyền bí.

We now come, after these preliminary remarks, to a consideration of the next rule.

Giờ đây, sau những nhận xét sơ bộ này, chúng ta đi đến việc xem xét quy luật kế tiếp.

Rule XI.

Quy luật XI.

Let the group together move the fire within the Jewel in the Lotus into the Triad and let them find the Word which will carry out that task. Let them destroy by their dynamic Will that which has been created at the midway point. When the point of tension is reached by the brothers at the fourth great cycle of attainment, then will this work be done.

Hãy để nhóm cùng nhau chuyển lửa bên trong Ngọc Châu trong Hoa Sen vào Tam nguyên tinh thần và hãy để họ tìm ra Linh từ sẽ thực hiện nhiệm vụ ấy. Hãy để họ hủy diệt bằng Ý chí năng động của mình điều đã được tạo ra tại điểm ở giữa. Khi điểm tập trung nhất tâm được các huynh đệ đạt tới trong chu kỳ lớn thứ tư của thành tựu, khi đó công việc này sẽ được hoàn tất.

On first reading this rule it is obvious that it concerns the fourth initiation and the consequent destruction of the [216] causal body—the vehicle through the means of which the Monad has created first of all the personality, and then an instrument for the expression of the second divine aspect. We are therefore dealing with one of the major initiations. I would here call to your recollection the fact that (from the angle of the Hierarchy) this initiation is the second major initiation, and not the fourth, as it is regarded from the human angle; the third initiation is technically regarded as the first major initiation. The major initiations are really possible only after the transfiguration of the personality.

Khi đọc lần đầu quy luật này, hiển nhiên là nó liên quan đến lần điểm đạo thứ tư và sự hủy diệt tiếp theo của [216] thể nguyên nhân—vận cụ mà qua đó chân thần trước hết đã tạo ra phàm ngã, rồi sau đó là một công cụ để biểu lộ phương diện thiêng liêng thứ hai. Vì vậy, chúng ta đang bàn đến một trong những cuộc điểm đạo lớn. Ở đây tôi muốn nhắc bạn nhớ đến sự kiện rằng (xét từ góc độ của Thánh đoàn) cuộc điểm đạo này là cuộc điểm đạo lớn thứ hai, chứ không phải thứ tư như được nhìn từ góc độ con người; lần điểm đạo thứ ba về mặt kỹ thuật được xem là cuộc điểm đạo lớn thứ nhất. Các cuộc điểm đạo lớn thực sự chỉ có thể có sau sự Biến hình của phàm ngã.

What, therefore, brings about the destruction of the soul body? The destroying agent is the second aspect of the Will. The third or lowest aspect of the Will, working through the mind or the manasic principle, was the sustaining factor in the long cycle of personality development; it was the principle of intelligent synthesis, holding the life principle intact and individualised through the long series of successive incarnations. During that cycle the will demonstrated first as the lower man; then it focussed itself in the Son of Mind, the divine Agnishvatta, the soul, and became increasingly a factor of potency. Later, as the disciple builds the antahkarana and thus establishes a direct channel of communication between the Monad and the personality, the lower mind becomes fused with the abstract mind or higher mind (the manasic principle, sublimated and purified), and gradually the soul is—to use a peculiar but sensitively expressing word—by-passed. It has by now served its purpose. Love and light are in expression in the physical plane life. Neither the personality vehicle nor the soul body is required, as under the old conditions. Their place can now be taken by the Spiritual Triad and the Monad; the essential life of both the lower aspects (creative in nature and expressive of loving intent as to purpose) can now be withdrawn. Triplicity, from the angle of the three periodical vehicles—Monad, soul and personality—is resolved into duality, and the Monad (reflected in the Triad) can now work upon the lower planes through the medium of a definitely created personality or “point of tension” in the [217] three worlds. It is to this that the rule applies when studied in terms of the individual initiate, whilst the life in which the soul is “by-passed” and its ring-pass-not is destroyed, is of such profound difficulty that it is called the life of crucifixion or of renunciation.

Vậy thì điều gì mang lại sự hủy diệt thể linh hồn? Tác nhân hủy diệt là phương diện thứ hai của Ý chí. Phương diện thứ ba hay thấp nhất của Ý chí, hoạt động qua trí tuệ hay nguyên lý manas, là yếu tố duy trì trong chu kỳ dài phát triển phàm ngã; đó là nguyên lý tổng hợp trí tuệ, giữ cho nguyên lý sự sống còn nguyên vẹn và được biệt ngã hóa qua chuỗi dài những lần nhập thể liên tiếp. Trong chu kỳ ấy, ý chí trước hết biểu lộ như phàm nhân; rồi nó tập trung vào Con của Trí Tuệ, Agnishvatta thiêng liêng, linh hồn, và ngày càng trở thành một yếu tố uy lực. Về sau, khi đệ tử xây dựng antahkarana và do đó thiết lập một kênh giao tiếp trực tiếp giữa chân thần và phàm ngã, hạ trí được dung hợp với trí trừu tượng hay thượng trí (nguyên lý manas, đã được thăng hoa và thanh luyện), và dần dần linh hồn—dùng một từ đặc biệt nhưng diễn tả tinh tế—được vượt qua. Đến lúc này nó đã hoàn thành mục đích của mình. Tình thương và ánh sáng đang được biểu lộ trong đời sống cõi hồng trần. Cả vận cụ phàm ngã lẫn thể linh hồn đều không còn cần thiết như trong những điều kiện cũ. Giờ đây vị trí của chúng có thể được Tam Nguyên Tinh Thần và chân thần thay thế; sự sống cốt yếu của cả hai phương diện thấp hơn (có bản chất sáng tạo và biểu lộ ý định yêu thương đối với mục đích) nay có thể được rút đi. Bộ ba, xét từ góc độ ba vận cụ chu kỳ—chân thần, linh hồn và phàm ngã—được giải quyết thành nhị nguyên, và chân thần (được phản chiếu trong Tam nguyên tinh thần) giờ đây có thể hoạt động trên các cõi thấp qua trung gian của một phàm ngã được tạo dựng rõ rệt hay “điểm tập trung nhất tâm” trong [217] ba cõi thấp. Chính điều này là điều quy luật áp dụng đến khi được nghiên cứu theo nghĩa của điểm đạo đồ cá nhân, trong khi đời sống mà trong đó linh hồn được “vượt qua” và vòng-giới-hạn của nó bị phá hủy thì khó khăn sâu sắc đến mức được gọi là đời sống đóng đinh hay đời sống từ bỏ.

We are, however, concerned with the interpretation of the rule as it affects a group which is preparing for the joint initiation of its members. It is by adhering to the ancient dictum that “as it is with the Macrocosm so will it be with the microcosm,” and by the application, therefore, of the Law of Analogy, that we shall eventually arrive at understanding. I cannot hope to do more than indicate significances, but it will now be clear to you why I have dealt with the four qualities which a group must develop in unison prior to initiation. We shall find it useful to relate these qualities to the various phrases or injunctions in this Rule XI. We must consider each of them separately. Let us now look at the first sentence.

Tuy nhiên, chúng ta quan tâm đến việc giải thích quy luật này khi nó tác động đến một nhóm đang chuẩn bị cho cuộc điểm đạo chung của các thành viên. Chính bằng cách tuân theo châm ngôn cổ xưa rằng “trên sao, dưới vậy,” và do đó bằng việc áp dụng định luật tương đồng, mà cuối cùng chúng ta sẽ đi đến sự thấu hiểu. Tôi không thể hy vọng làm gì hơn ngoài việc chỉ ra các thâm nghĩa, nhưng giờ đây bạn sẽ thấy rõ vì sao tôi đã bàn đến bốn phẩm tính mà một nhóm phải cùng nhau phát triển trước khi điểm đạo. Chúng ta sẽ thấy hữu ích khi liên hệ các phẩm tính này với những cụm từ hay huấn lệnh khác nhau trong Quy luật XI này. Chúng ta phải xem xét từng điều một cách riêng biệt. Giờ đây hãy nhìn vào câu đầu tiên.

1. Let the group together move the fire within the Jewel in the Lotus into the Triad.

1. Hãy để nhóm cùng nhau chuyển lửa bên trong Ngọc Châu trong Hoa Sen vào Tam nguyên tinh thần.

Let me first remind you that fire always connotes the first aspect and this, as you know, is the life aspect. To this let me add the well-known fact that “Our God is a consuming fire,” and call to your recollection that the first aspect is the destroyer aspect. You have immediately established a relation between the first two qualities with which we have been dealing and the work of the crucifixion as a symbolic expression of the fourth initiation. The achieving of a selfless and impersonal group interrelation was the first prerequisite, and the word “together” in this rule deals with the work of the group when—as a closely knit unit—it can move forward. This transference of the life or of the fire has to be the result of united action, taken by the group when full interior unity has been attained. It cannot take place prior to this, any more than an individual initiate can take this particular initiation until such time as complete fusion of the three bodies and the soul has been effectually [218] brought about and divine indifference has been achieved to all lower reactions of the component parts of the fused and interrelated instrument. So must it be with the group.

Trước hết, hãy để tôi nhắc bạn rằng lửa luôn luôn hàm ý phương diện thứ nhất và điều này, như bạn biết, là phương diện sự sống. Xin thêm vào đó sự kiện quen thuộc rằng “Thượng đế của chúng ta là ngọn lửa thiêu đốt,” và nhắc bạn nhớ rằng phương diện thứ nhất là phương diện hủy diệt. Bạn lập tức thiết lập được một mối liên hệ giữa hai phẩm tính đầu tiên mà chúng ta đã bàn đến và công việc đóng đinh như một biểu hiện tượng trưng của lần điểm đạo thứ tư. Việc đạt được một mối liên hệ nhóm vô ngã và phi cá nhân là điều kiện tiên quyết đầu tiên, và từ “cùng nhau” trong quy luật này đề cập đến công việc của nhóm khi—như một đơn vị gắn bó chặt chẽ—nó có thể tiến lên. Sự chuyển dịch sự sống hay lửa này phải là kết quả của hành động hợp nhất, do nhóm thực hiện khi sự hợp nhất nội tại trọn vẹn đã đạt được. Nó không thể diễn ra trước đó, cũng như một điểm đạo đồ cá nhân không thể nhận cuộc điểm đạo đặc biệt này cho đến khi sự dung hợp hoàn toàn của ba thể và linh hồn đã được thực hiện hữu hiệu [218] và Điềm nhiên thiêng liêng đối với mọi phản ứng thấp của các phần cấu thành công cụ đã được dung hợp và liên hệ lẫn nhau đã đạt được. Nhóm cũng phải như vậy.

The group life must express itself upon the physical plane and in group formation. It will possess a sensitive feeling apparatus, corresponding to the astral body, and the group mind will be well organised and functioning rhythmically. Thus the group “personality” will be active, but divinely active, by the time this particular stage is reached. The group soul will also be in full flower as an expression of the inner Ashram, and at the very heart of the group life, veiled and hidden by its outer personality expression and by its vibrant loving soul, will be a point of living fire or life which—in due time and under right conditions—must be transferred into the inner Ashram, found on triadal levels. This may or may not mean the destruction of the group causal body and the establishing of a direct line of relationship between the pure Ashram and a group of disciples. It will undoubtedly mean, during the stages preliminary to that desirable attainment, a definite change of focus and the gradual establishing of a point of tension upon slowly realised higher levels, carried on until the transference is completed.

Sự sống của nhóm phải biểu lộ trên cõi hồng trần và trong hình thành nhóm. Nó sẽ sở hữu một bộ máy cảm nhận nhạy bén, tương ứng với thể cảm dục, và trí của nhóm sẽ được tổ chức tốt và hoạt động nhịp nhàng. Như vậy “phàm ngã” của nhóm sẽ hoạt động, nhưng là hoạt động một cách thiêng liêng, vào lúc giai đoạn đặc biệt này được đạt tới. Linh hồn nhóm cũng sẽ nở rộ trọn vẹn như một biểu hiện của ashram nội tại, và ngay nơi trung tâm của sự sống nhóm, được che phủ và ẩn giấu bởi biểu hiện phàm ngã bên ngoài của nó và bởi linh hồn yêu thương rung động của nó, sẽ có một điểm của lửa sống hay sự sống mà—đến đúng lúc và trong những điều kiện thích hợp—phải được chuyển vào ashram nội tại, được tìm thấy trên các cấp độ tam nguyên tinh thần. Điều này có thể hoặc không có thể có nghĩa là sự hủy diệt thể nguyên nhân của nhóm và việc thiết lập một đường liên hệ trực tiếp giữa ashram thuần túy và một nhóm đệ tử. Chắc chắn nó sẽ có nghĩa, trong các giai đoạn sơ bộ dẫn đến thành tựu đáng mong muốn ấy, một sự thay đổi tiêu điểm rõ rệt và việc dần dần thiết lập một điểm tập trung nhất tâm trên những cấp độ cao hơn được nhận ra từ từ, được tiếp tục cho đến khi sự chuyển dịch hoàn tất.

All the time that this is taking place, the fire at the heart of the group life is becoming more and more vital, and consequently more and more spiritually destructive. The second quality which we considered, the constructive planned use of the forces of destruction, can now be seen as active. It is these forces which are often responsible for the upheavals, the cleavages, the dispersions and the fatalities which are so frequently the characteristics of the group life in its early stages. The fire is then working under the stimulation of the Spiritual Triad, but is not consciously being manipulated by the group itself. The group becomes esoterically “a burning ground,” and much time would be saved and much unnecessary distress and pain and suffering would be eliminated if the group members would realise [219] what was happening to them and would simply stand steady until such time as the “purification so as by fire” has been completed and the life principle in the group heart can shine forth with both brilliance and radiance. It is this quality of patient endurance which is so sorely needed by the members of a group being prepared for initiation. Once, however, the purpose underlying all distressing events and disrupted personnel is grasped, rapid progress can be made—again by the simple practice of divine indifference. This divine indifference was the outstanding quality of the Master upon the Cross at Calvary. The seven words from the Cross were concerned with others, with His mission, with world need, and with relationship with the Father or with the Monad. But disciples and aspirants are so intensely preoccupied with themselves, their effect upon others, their endurances and pain, or with criticism of their brothers or of themselves! The goal and the main objective is not adequately emphasised in their consciousness. The group personality is often functioning with potency, but the fusing love of the soul is absent and the shattering inflow of the life at the heart of the Jewel is not permitted full sway. It is blocked and intercepted by group conditions, and until there is at least some united will to take together what is needed in order to shift the life of the group to higher levels of awareness and into the Ashram on buddhic levels, the technique of transference will not be committed to the group by the Master. That is what is meant by the next sentence in the rule:

Trong suốt thời gian điều này diễn ra, ngọn lửa ở trung tâm sự sống nhóm ngày càng trở nên sinh động hơn, và do đó ngày càng có tính tinh thần hủy diệt hơn. Giờ đây có thể thấy phẩm tính thứ hai mà chúng ta đã xem xét, việc sử dụng có tính xây dựng và có kế hoạch các lực hủy diệt, đang hoạt động. Chính các lực này thường chịu trách nhiệm cho những biến động, chia rẽ, phân tán và tổn thất vốn rất thường là đặc trưng của đời sống nhóm trong các giai đoạn đầu. Khi đó ngọn lửa đang hoạt động dưới sự kích thích của Tam Nguyên Tinh Thần, nhưng chưa được chính nhóm điều khiển một cách hữu thức. Nhóm trở thành một cách huyền bí “vùng đất cháy,” và sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian, đồng thời loại bỏ được nhiều đau khổ, thống khổ và phiền não không cần thiết nếu các thành viên trong nhóm nhận ra [219] điều gì đang xảy ra với họ và chỉ đơn giản đứng vững cho đến khi “sự thanh luyện như bởi lửa” được hoàn tất và nguyên lý sự sống trong trái tim nhóm có thể chiếu tỏa với cả vẻ huy hoàng lẫn rạng ngời. Chính phẩm tính chịu đựng kiên nhẫn này là điều mà các thành viên của một nhóm đang được chuẩn bị cho điểm đạo rất cần. Tuy nhiên, một khi mục đích nằm sau mọi biến cố đau đớn và mọi nhân sự bị xáo trộn được nắm bắt, thì có thể đạt được tiến bộ nhanh chóng—một lần nữa bằng việc thực hành đơn giản Điềm nhiên thiêng liêng. Điềm nhiên thiêng liêng này là phẩm tính nổi bật của Chân sư trên Thập giá tại Calvary. Bảy lời trên Thập giá liên quan đến người khác, đến sứ mệnh của Ngài, đến nhu cầu thế giới, và đến mối liên hệ với Đức Cha hay với chân thần. Nhưng các đệ tử và người chí nguyện lại quá bận tâm với chính mình, với ảnh hưởng của mình lên người khác, với những chịu đựng và đau đớn của mình, hay với sự phê phán các huynh đệ của mình hoặc chính mình! Mục tiêu và cứu cánh chính không được nhấn mạnh đầy đủ trong tâm thức của họ. Phàm ngã nhóm thường hoạt động mạnh mẽ, nhưng tình thương dung hợp của linh hồn thì vắng mặt, và dòng tuôn đổ có tính phá vỡ của sự sống nơi trung tâm Ngọc Châu không được phép có toàn quyền vận hành. Nó bị ngăn chặn và chặn lại bởi các điều kiện của nhóm, và cho đến khi có ít nhất một ý chí hợp nhất để cùng nhau tiếp nhận điều cần thiết nhằm chuyển sự sống của nhóm lên các cấp độ nhận biết cao hơn và vào ashram trên các cấp độ Bồ đề, thì kỹ thuật chuyển dịch sẽ không được Chân sư truyền cho nhóm. Đó là điều được hàm ý trong câu kế tiếp của quy luật:

2. Let them find the Word which will carry out that task.

2. Hãy để họ tìm ra Linh từ sẽ thực hiện nhiệm vụ ấy.

What is this technique of transference? It falls into three stages, each one of which has to be arrived at by the group in unison. The first is the stage of united tension or the attaining of such a focal point of planned and focussed intent that the group is undeviatingly oriented to the immediate task to be done and is functioning from the angle of purpose as one individual. This is perhaps the hardest stage, but it has to be mastered prior to the assistance of [220] the Master in the inner Ashram; He is to the group what the Monad is to the disciple, ever seeking to bring about the esoteric “renunciation” of the causal vehicle. This point of tension has to be held in high vibratory activity all through the process of transference. I would remind you that the outstanding characteristic of Jesus of Nazareth, throughout the period prior to the crucifixion, was one of complete silence; here is where the efficacy of the fourth quality mentioned by me appears. The group, at this stage, is so preoccupied with the task ahead and so conscious of the need for preserving a united and uniform tension, that “the silence of the secret place” settles on it and the work can then proceed apace. When this point has been attained, then the third quality manifests with power to work as a miniature hierarchy, and this becomes increasingly noticeable.

Kỹ thuật chuyển dịch này là gì? Nó gồm ba giai đoạn, mỗi giai đoạn đều phải được nhóm đạt tới trong hợp nhất. Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn nhất tâm hợp nhất hay đạt tới một tiêu điểm của ý định đã được hoạch định và tập trung đến mức nhóm được định hướng không lệch lạc về nhiệm vụ trước mắt phải làm và đang hoạt động từ góc độ mục đích như một cá thể duy nhất. Đây có lẽ là giai đoạn khó nhất, nhưng nó phải được làm chủ trước khi có sự trợ giúp của [220] Chân sư trong ashram nội tại; Ngài đối với nhóm cũng như chân thần đối với đệ tử, luôn tìm cách mang lại “sự từ bỏ” huyền bí của vận cụ nguyên nhân. Điểm tập trung nhất tâm này phải được giữ trong hoạt động rung động cao trong suốt tiến trình chuyển dịch. Tôi muốn nhắc bạn rằng đặc tính nổi bật của Đức Jesus thành Nazareth, trong suốt giai đoạn trước khi bị đóng đinh, là sự im lặng hoàn toàn; chính ở đây hiệu lực của phẩm tính thứ tư mà tôi đã nêu ra xuất hiện. Ở giai đoạn này, nhóm quá bận tâm với nhiệm vụ phía trước và quá ý thức về nhu cầu duy trì một sự nhất tâm hợp nhất và đồng nhất, đến mức “sự im lặng của nơi bí mật” phủ xuống trên nó và khi đó công việc có thể tiến hành nhanh chóng. Khi điểm này đã đạt được, thì phẩm tính thứ ba biểu lộ với năng lực hoạt động như một thánh đoàn thu nhỏ, và điều này ngày càng trở nên rõ rệt.

Now comes the result of all these preliminary stages, and it comes spontaneously and automatically. I want to emphasise that the group does not wait in expectancy for a Word to be given to it; it does not search and strive to discover a Word; it does not take some Word as may be suggested by a helpful disciple and then proceed to “empower it.” The Word is the result of the point of tension; it emerges from the silence and its first expression is simply the slowly rising tempo of the group “Sound” or note. As you know, every individual and every group of individuals have their own peculiar note or sound which is the creative agent of the focussed group life.

Giờ đây đến kết quả của tất cả các giai đoạn sơ bộ này, và nó đến một cách tự phát và tự động. Tôi muốn nhấn mạnh rằng nhóm không chờ đợi trong mong ngóng để được ban cho một Linh từ; nó không tìm kiếm và cố gắng khám phá một Linh từ; nó không lấy một Linh từ nào đó như có thể được một đệ tử hữu ích gợi ý rồi tiến hành “trao quyền năng” cho nó. Linh từ là kết quả của điểm tập trung nhất tâm; nó xuất hiện từ sự im lặng và biểu hiện đầu tiên của nó chỉ đơn giản là nhịp độ tăng dần của “Âm thanh” hay chủ âm của nhóm. Như bạn biết, mỗi cá nhân và mỗi nhóm cá nhân đều có âm điệu hay âm thanh đặc thù riêng của mình, là tác nhân sáng tạo của sự sống nhóm được tập trung.

At this point we again touch the fringe of the coming Science of Invocation. This group sound, rising as the tension increases and stabilises, is invocatory in effect and draws forth response eventually from the inner Ashram, owing to its relation to the outer group. When the response of the Master is registered in the group consciousness and His potency is added to the potency of the group, the sound emitted by the group changes in quality, is amplified and diversified, is enriched and then precipitated outside the ring-pass-not of the group life; this precipitation takes the [221] form of a Word. This Word, being the result of group activity; focus and tension, plus the aid of the Master, brings about three results:

Tại điểm này, chúng ta lại chạm đến rìa của Khoa Học Khẩn Cầu sắp đến. Âm thanh nhóm này, tăng lên khi sự nhất tâm gia tăng và ổn định, có hiệu quả khẩn cầu và cuối cùng gợi lên sự đáp ứng từ ashram nội tại, do mối liên hệ của nó với nhóm bên ngoài. Khi sự đáp ứng của Chân sư được ghi nhận trong tâm thức nhóm và uy lực của Ngài được thêm vào uy lực của nhóm, âm thanh do nhóm phát ra thay đổi về phẩm tính, được khuếch đại và đa dạng hóa, được làm phong phú và rồi ngưng tụ ra ngoài vòng-giới-hạn của đời sống nhóm; sự ngưng tụ này mang [221] hình thức của một Linh từ. Linh từ này, là kết quả của hoạt động nhóm, sự tập trung và nhất tâm, cộng với sự trợ giúp của Chân sư, mang lại ba kết quả:

1. It produces fusion between the outer group and the inner Ashram.

1. Nó tạo ra sự dung hợp giữa nhóm bên ngoài và ashram nội tại.

2. It enables the group life to be transferred along the group antahkarana and focusses it once and for all in the Master’s Ashram.

2. Nó giúp sự sống nhóm được chuyển dọc theo antahkarana của nhóm và được tập trung một lần là mãi mãi trong ashram của Chân sư.

3. The result of this transference is twofold:

3. Kết quả của sự chuyển dịch này có hai mặt:

a. The outer group dies, occultly speaking.

a. Nhóm bên ngoài chết đi, nói theo huyền bí học.

b. The soul of the group, being now merged with the life aspect on levels higher than those on which the causal body exists, is no longer of major importance; the Great Renunciation takes place, and the causal body—having served its purpose—dies and is destroyed. So died, according to theological injunction, the Christ upon the Cross. Yet He died not, and still lives, and by His life are all souls saved.

b. Linh hồn của nhóm, nay đã hòa nhập với phương diện sự sống trên những cấp độ cao hơn những cấp độ mà thể nguyên nhân hiện hữu, không còn giữ tầm quan trọng chủ yếu nữa; Sự từ bỏ Vĩ đại diễn ra, và thể nguyên nhân—sau khi đã hoàn thành mục đích của nó—chết đi và bị hủy diệt. Theo huấn lệnh thần học, Đức Christ đã chết như thế trên Thập giá. Tuy nhiên Ngài không chết, mà vẫn sống, và nhờ sự sống của Ngài mà mọi linh hồn được cứu.

It is hard for esoteric students to realise that the emphasis of the coming Schools of Enlightenment will be upon the life aspect, and not upon contact with the soul. The goal will be transference and not union. Aspirants and disciples today are largely the result of the old order of teaching and are the flower of the processes to which humanity has been subjected. This is a vital transition period; disciples and aspirants in the world at this time are, figuratively speaking, at the same stage as the group which we are considering—the stage of the transference of the life from the outer form into the inner being. Hence the difficulty with which you are all faced, and the arduous task it is to comprehend realistically that which I am attempting to convey. The problem of soul contact is something which you can and do grasp, at least theoretically. The problem of life transference from the highest point of present attainment into some vague and mystical spiritual focus is not so easy to understand. Forget not, I am not looking for understanding for I write for those who will come after you, and [222] for those who will be the reincarnated aspects of your present selves.

Thật khó để các đạo sinh huyền bí học chứng nghiệm rằng trọng tâm của các Trường Giác Ngộ sắp đến sẽ đặt trên phương diện sự sống, chứ không phải trên sự tiếp xúc với linh hồn. Mục tiêu sẽ là sự chuyển dịch chứ không phải sự hợp nhất. Những người chí nguyện và các đệ tử ngày nay phần lớn là kết quả của trật tự giáo huấn cũ và là tinh hoa của các tiến trình mà nhân loại đã phải trải qua. Đây là một thời kỳ chuyển tiếp thiết yếu; các đệ tử và người chí nguyện trên thế giới vào lúc này, nói theo nghĩa bóng, đang ở cùng một giai đoạn như nhóm mà chúng ta đang xét đến—giai đoạn chuyển dịch sự sống từ hình tướng bên ngoài vào hữu thể bên trong. Do đó mới có khó khăn mà tất cả các bạn đang phải đối diện, và nhiệm vụ gian nan là phải thấu hiểu một cách thực tế điều mà tôi đang cố gắng truyền đạt. Vấn đề tiếp xúc linh hồn là điều các bạn có thể và thực sự nắm bắt được, ít nhất là trên lý thuyết. Vấn đề chuyển dịch sự sống từ điểm thành tựu cao nhất hiện nay sang một tiêu điểm tinh thần mơ hồ và thần bí nào đó thì không dễ hiểu đến thế. Đừng quên, tôi không tìm kiếm sự thấu hiểu vì tôi viết cho những người sẽ đến sau các bạn, và [222] cho những người sẽ là các phương diện tái sinh của chính bản ngã hiện tại của các bạn.

You will note, therefore, how the four qualities dealt with (page 215) have enabled the group to achieve the sounding of the Word. That Word, now emitted by them as a group under the inspiration of the Master (and I use the word “inspiration” advisedly), has gone forth; it has passed beyond the sphere of the immediate group influence; it has made its initial impact upon the soul of the group and has vitalised to a new potency the life aspect, the Jewel in the Lotus of the soul. Now comes the possibility of fulfilling the third great injunction contained in this rule:

Do đó, các bạn sẽ lưu ý cách mà bốn phẩm tính đã được bàn đến (trang 215) đã giúp nhóm đạt được việc xướng Linh từ. Linh từ ấy, nay được họ phát ra như một nhóm dưới cảm hứng của Chân sư (và tôi dùng từ “cảm hứng” một cách có chủ ý), đã phát ra; nó đã vượt ra ngoài khối cầu ảnh hưởng trực tiếp của nhóm; nó đã tạo ra tác động ban đầu lên linh hồn của nhóm và đã tiếp sinh lực cho phương diện sự sống đến một tiềm lực mới, tức Viên Ngọc trong Hoa Sen của linh hồn. Giờ đây xuất hiện khả năng hoàn thành mệnh lệnh lớn thứ ba chứa trong quy luật này:

3. Let them destroy by their dynamic Will that which has been created at the midway point.

3. Hãy để họ hủy diệt bằng Ý Chí năng động của họ điều đã được tạo ra tại điểm ở giữa.

In the fulfillment of the requirement here enjoined, the group enters upon its major test in this work of transference. The group members have unitedly preserved the point of tension; unitedly they have created the antahkarana; unitedly they have invoked by the group sound the attention of the Master and of the Master’s Ashram; unitedly that sound has taken the form of a Word, and that Word has made an impact upon the life aspect of the group within the form of the group soul; it has energised it so that the destruction of the causal body is now in order. The tendency of the group would then be to relax, and this quite normally; the irretrievable Word has gone forth and all is well and safely accomplished. But it is not so in verity. By the power of their united love, the group has mastered personnel difficulties and has developed together the four qualities; it has also found the Word which can affect the soul—for the Word is ever related to the second aspect, and because of that it can reach and energise the soul, the second aspect per se.

Trong việc hoàn thành yêu cầu được truyền dạy ở đây, nhóm bước vào cuộc thử thách lớn của mình trong công việc chuyển dịch này. Các thành viên nhóm đã cùng nhau duy trì điểm tập trung nhất tâm; cùng nhau họ đã tạo ra antahkarana; cùng nhau họ đã khẩn cầu, bằng âm thanh của nhóm, sự chú ý của Chân sư và của ashram của Chân sư; cùng nhau âm thanh ấy đã mang hình thức của một Linh từ, và Linh từ ấy đã tạo tác động lên phương diện sự sống của nhóm bên trong hình tướng của hồn nhóm; nó đã tiếp năng lượng cho phương diện ấy đến mức việc hủy diệt thể nguyên nhân nay đã theo đúng trật tự. Khi đó khuynh hướng của nhóm sẽ là thư giãn, và điều này hoàn toàn tự nhiên; Linh từ không thể thu hồi đã phát ra và mọi sự đều tốt đẹp và được hoàn tất an toàn. Nhưng trong chân lý thì không phải vậy. Bằng quyền năng của tình thương hợp nhất, nhóm đã làm chủ các khó khăn về nhân sự và đã cùng nhau phát triển bốn phẩm tính; nhóm cũng đã tìm ra Linh từ có thể tác động đến linh hồn—vì Linh từ luôn luôn liên hệ với phương diện thứ hai, và bởi thế nó có thể vươn tới và tiếp năng lượng cho linh hồn, tức chính phương diện thứ hai.

But now, in the final stages of the great work of transference, the group has to arrive at a new point of tension and of united attainment. It has to use the dynamic will, the energy of the first aspect, and so bring about the final [223] destruction of the causal body. The life within the causal body has been stimulated and vitalised and is now seeking to break out of its confining form. The vehicle of the soul is being subjected to pressure from within but then—both in the case of the individual initiate and of the initiated group—the final blow has to be struck also from without, by an act of the united will; this corresponds to the great cry of the Christ upon the Cross when He exclaimed “It is finished.” With these words, we are told, the veil of the Temple was rent from the top to the bottom, and the life of the Christ ascended to the Father. Ponder upon the significances of these phrases. “That which has been created at the midway point” is no longer needed. No mediating principle or intermediary between man and the Father is any longer required; the Monad and the personality are in complete at-one-ment and have achieved perfected relationship; triplicity has given place to duality, and the Way of the Higher Evolution stands open before the initiate.

Nhưng giờ đây, trong các giai đoạn cuối của đại công trình chuyển dịch, nhóm phải đạt đến một điểm tập trung nhất tâm mới và một thành tựu hợp nhất mới. Nhóm phải sử dụng ý chí năng động, năng lượng của phương diện thứ nhất, và như thế mang lại sự [223] hủy diệt cuối cùng của thể nguyên nhân. Sự sống bên trong thể nguyên nhân đã được kích thích và tiếp sinh lực, và nay đang tìm cách phá vỡ hình tướng giam hãm nó. Vận cụ của linh hồn đang chịu áp lực từ bên trong nhưng rồi—trong cả trường hợp của điểm đạo đồ cá nhân lẫn của nhóm được điểm đạo—đòn cuối cùng cũng phải được giáng xuống từ bên ngoài, bằng một hành vi của ý chí hợp nhất; điều này tương ứng với tiếng kêu lớn của Đức Christ trên Thập Giá khi Ngài thốt lên: “Mọi sự đã hoàn tất.” Với những lời ấy, như chúng ta được cho biết, bức màn của Đền Thờ đã bị xé từ trên xuống dưới, và sự sống của Đức Christ thăng lên với Cha. Hãy suy ngẫm về thâm nghĩa của những cụm từ này. “Điều đã được tạo ra tại điểm ở giữa” không còn cần thiết nữa. Không còn cần đến nguyên khí trung gian hay bất kỳ trung gian nào giữa con người và Cha nữa; chân thần và phàm ngã ở trong sự nhất như hoàn toàn và đã đạt được mối liên hệ viên mãn; bộ ba đã nhường chỗ cho nhị nguyên, và Con đường Tiến Hóa Cao Siêu mở ra trước điểm đạo đồ.

It will be obvious that this phase of group attainment can as yet be only a hope. It lies far ahead of the present day groups, just as the fourth initiation lies far ahead of the average aspirant or disciple. But groups must have their goals and must strive towards the vision, just as the individual must; I am laying the foundation for the phase of group living and united striving which will be so distinctive an aspect of the coming era. There are three further points which I seek to make:

Hiển nhiên là giai đoạn thành tựu nhóm này hiện giờ chỉ có thể là một hy vọng. Nó còn ở rất xa phía trước các nhóm ngày nay, cũng như lần điểm đạo thứ tư còn ở rất xa phía trước người chí nguyện hay đệ tử trung bình. Nhưng các nhóm phải có mục tiêu của mình và phải phấn đấu hướng tới linh ảnh, cũng như cá nhân phải làm như vậy; tôi đang đặt nền móng cho giai đoạn sống nhóm và nỗ lực hợp nhất, vốn sẽ là một phương diện rất đặc trưng của kỷ nguyên sắp đến. Có thêm ba điểm nữa mà tôi muốn nêu ra:

First, the attainment of the ability to use the group will dynamically can be more easily understood if it is realised that it means the extension of the point of tension into realms which involve the super-consciousness of the disciple; also that the release of the life aspect from the confines of the causal body produces a new cycle of invocation and invocative activity. This brings about an inflow of the destroyer aspect of the divine Will, and consequently the complete destruction of the causal vehicle.

Thứ nhất, việc đạt được khả năng sử dụng ý chí nhóm một cách năng động có thể được hiểu dễ hơn nếu nhận ra rằng điều đó có nghĩa là sự mở rộng điểm tập trung nhất tâm vào những lĩnh vực bao hàm siêu tâm thức của đệ tử; đồng thời, sự giải phóng phương diện sự sống khỏi các giới hạn của thể nguyên nhân tạo ra một chu kỳ mới của khẩn cầu và hoạt động khẩn cầu. Điều này mang lại một dòng tuôn đổ của phương diện hủy diệt của Ý Chí thiêng liêng, và do đó là sự hủy diệt hoàn toàn của vận cụ nguyên nhân.

Secondly, it is not to be inferred that all in the group must be disciples who are in process of taking the fourth [224] initiation. A group can be composed of disciples and initiates of all degrees, though there must be among the group personnel at least one disciple who has taken the initiation of crucifixion. This necessity is symbolised for us in the close relation which existed between Jesus as He took this initiation and the Christ Who had taken it in an earlier state of life. The more diversified the group, the richer its life and possibilities. Forget this not. One hint I can give you upon this difficult subject. When the results of the first point of tension, prior to the emergence of the Word, have been reached, initiates of the fourth degree within the Ashram lend their aid and do much to make possible the attainment of the goal by the group.

Thứ hai, không nên suy ra rằng tất cả trong nhóm đều phải là những đệ tử đang trong tiến trình nhận lần điểm đạo thứ tư [224]. Một nhóm có thể gồm các đệ tử và điểm đạo đồ ở mọi cấp độ, dù trong nhân sự của nhóm phải có ít nhất một đệ tử đã nhận cuộc điểm đạo đóng đinh. Sự cần thiết này được biểu tượng hóa cho chúng ta trong mối liên hệ mật thiết đã tồn tại giữa Đức Jesus khi ông nhận cuộc điểm đạo này và Đức Christ, Đấng đã nhận nó trong một trạng thái sống sớm hơn. Nhóm càng đa dạng thì sự sống và các khả năng của nhóm càng phong phú. Đừng quên điều này. Tôi có thể cho các bạn một gợi ý về chủ đề khó khăn này. Khi các kết quả của điểm tập trung nhất tâm đầu tiên, trước khi Linh từ xuất hiện, đã đạt được, các điểm đạo đồ bậc bốn trong ashram sẽ trợ giúp và làm nhiều điều để khiến việc đạt mục tiêu của nhóm trở nên khả hữu.

Thirdly, I would have you note that I have given you much in a brief form and have added much of new information anent the fourth initiation. What I have said is applicable both to the individual aspirant and to a group seeking initiation. Read what I have said with attention, but remember that it is not yet possible for you to differentiate between what is symbolic and what may be factual. The secrets of initiation are thus guarded with care.

Thứ ba, tôi muốn các bạn lưu ý rằng tôi đã trao cho các bạn rất nhiều điều trong một hình thức ngắn gọn và đã thêm vào nhiều thông tin mới liên quan đến lần điểm đạo thứ tư. Điều tôi đã nói áp dụng cho cả người chí nguyện cá nhân lẫn cho một nhóm đang tìm kiếm điểm đạo. Hãy đọc điều tôi đã nói một cách chú tâm, nhưng hãy nhớ rằng hiện giờ các bạn chưa thể phân biệt điều gì là biểu tượng và điều gì có thể là sự kiện. Các bí mật của điểm đạo vì thế được gìn giữ cẩn trọng.

One simple rule towards comprehension and attainment ever holds good. The Great Renunciation becomes possible only when the practice of the little renunciations governs the life of a disciple and a group. The renouncing of ambition, of all personality ties, and the renunciation of all that hinders progress as it is revealed to the eye of the soul, lays a sound foundation for the final great transference, based upon the renunciation of that which for aeons has connoted beauty, truth and goodness, and which has seemed the ultimate goal of all aspirational effort. The endeavour to see that which lies ahead and beyond the apparent finality of soul fusion faces disciples, among them some of you, at this time; and that all of you may penetrate beyond the veil of the soul and eventually see that veil “rent from the top to the bottom,” and thus be enabled to say with those of like degree “It is finished” is my earnest hope. Then will open for you as for others, the Way of the [225] Higher Evolution, and the glory of the Lord will be seen in a new light—a light which will dim and throw into the shade all previous goals and visions.

Một quy luật đơn giản hướng tới sự thấu hiểu và thành tựu luôn luôn đúng. Đại Từ Bỏ chỉ trở nên khả hữu khi việc thực hành những sự từ bỏ nhỏ chi phối đời sống của một đệ tử và của một nhóm. Việc từ bỏ tham vọng, mọi ràng buộc của phàm ngã, và từ bỏ mọi điều cản trở tiến bộ như được mặc khải cho con mắt của linh hồn, đặt nền móng vững chắc cho cuộc chuyển dịch lớn cuối cùng, dựa trên sự từ bỏ điều mà qua nhiều đại kiếp đã hàm nghĩa vẻ đẹp, chân lý và thiện hảo, và đã dường như là mục tiêu tối hậu của mọi nỗ lực khát vọng. Nỗ lực để thấy điều nằm phía trước và vượt quá tính chung cuộc bề ngoài của sự dung hợp linh hồn đang đối diện các đệ tử, trong đó có một số các bạn, vào lúc này; và việc tất cả các bạn có thể xuyên qua bức màn của linh hồn và cuối cùng thấy bức màn ấy “bị xé từ trên xuống dưới,” nhờ đó có thể nói cùng những người đồng bậc rằng “Mọi sự đã hoàn tất” là niềm hy vọng tha thiết của tôi. Khi ấy sẽ mở ra cho các bạn cũng như cho những người khác, Con đường Tiến Hóa [225] Cao Siêu, và vinh quang của Chúa Tể sẽ được thấy trong một ánh sáng mới—một ánh sáng sẽ làm lu mờ và phủ bóng lên mọi mục tiêu và linh ảnh trước đây.