RULE TWELVE — QUY LUẬT MƯỜI HAI
The Rule which we have now to consider carries us into realms of extra-planetary energy, into a world of a larger consciousness towards which the higher initiates strive and which is related in a peculiar way to both the past and the future. This rule might also be called the formula controlling the work of the New Group of World Servers.
Quy luật mà giờ đây chúng ta phải xem xét đưa chúng ta vào các lĩnh vực năng lượng ngoài hành tinh, vào một thế giới của một tâm thức rộng lớn hơn mà các điểm đạo đồ cao cấp hướng tới và có liên hệ đặc biệt với cả quá khứ lẫn tương lai. Quy luật này cũng có thể được gọi là công thức kiểm soát công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.
The three remaining rules for initiates and disciples are concerned with the work of the New Age and the coming revelation which will make that work both new and possible. They are therefore of supreme importance to us. Step by step, in the eleven rules already studied, we have seen the initiate or disciple carried from his position as an accepted disciple standing before the Angel of the Presence, to that point of attainment where the spiritual will is released in full service and with full comprehension at the time of the fourth initiation, where atma or pure spirit is in control, where the Spiritual Triad is expressing the nature of the Monad, where identification with the purpose of deity has transcended illumination of the mind, and has also transcended cooperation through pure love with the Plan. These words are all attempts to indicate the path of progress which is—to the initiate consciousness—the necessary preparatory stage to treading the Path of the Higher Evolution, just as the Probationary Path is the necessary preparatory stage to being accepted into an Ashram. Briefly, the eleven rules already dealt with might be regarded as controlling the conscious activity of the initiate in the following stages and relationships.
Ba quy luật còn lại dành cho các điểm đạo đồ và đệ tử liên quan đến công việc của Kỷ Nguyên Mới và sự mặc khải sắp đến, điều sẽ làm cho công việc ấy vừa mới mẻ vừa khả hữu. Vì thế chúng có tầm quan trọng tối thượng đối với chúng ta. Từng bước một, trong mười một quy luật đã được nghiên cứu, chúng ta đã thấy điểm đạo đồ hay đệ tử được đưa đi từ vị trí của y như một đệ tử được chấp nhận đang đứng trước Thiên Thần của Hiện Diện, đến điểm thành tựu nơi ý chí tinh thần được giải phóng trong sự phụng sự trọn vẹn và với sự thấu hiểu trọn vẹn vào lúc lần điểm đạo thứ tư, nơi atma hay tinh thần thuần túy nắm quyền kiểm soát, nơi Tam Nguyên Tinh Thần đang biểu lộ bản chất của chân thần, nơi sự đồng hoá với mục đích của Thượng đế đã vượt quá sự soi sáng của trí tuệ, và cũng đã vượt quá sự hợp tác thông qua tình thương thuần túy với Thiên Cơ. Những lời này đều là những cố gắng nhằm chỉ ra con đường tiến bộ vốn là—đối với tâm thức của điểm đạo đồ—giai đoạn chuẩn bị cần thiết để bước đi trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, cũng như Con Đường Dự Bị là giai đoạn chuẩn bị cần thiết để được chấp nhận vào một ashram. Nói vắn tắt, mười một quy luật đã được bàn đến có thể được xem như kiểm soát hoạt động hữu thức của điểm đạo đồ trong các giai đoạn và mối liên hệ sau đây.
1. The stage of the burning ground and the establishment of illumined group relation. This is revealed by the mind, functioning as an aspect of the group mind. [226]
1. Giai đoạn của vùng đất cháy và sự thiết lập mối liên hệ nhóm được soi sáng. Điều này được mặc khải bởi trí tuệ, vận hành như một phương diện của trí tuệ nhóm. [226]
2. The stage of ashramic recognition and the establishing of a forward-moving group rhythm; these reciprocal activities produce a needed group tension.
2. Giai đoạn của sự nhận biết ashram và sự thiết lập một nhịp điệu nhóm tiến về phía trước; các hoạt động hỗ tương này tạo ra một sự tập trung nhóm cần thiết.
3. The stage of emitting the group sound and the establishing of the power to invoke divinity, followed by a united group realisation that “God is Fire.”
3. Giai đoạn phát ra âm thanh nhóm và thiết lập quyền năng khẩn cầu thiên tính, tiếp theo là một sự chứng nghiệm hợp nhất của nhóm rằng “Thượng đế là Lửa.”
4. The stage of extinguishing the lesser fires through the means of the above realisation, and the establishing of a defined group reaction to the divine purpose or will; this results eventually in the negation of the Laws of Karma and Rebirth as they condition life in the three worlds.
4. Giai đoạn dập tắt các lửa nhỏ hơn bằng phương tiện của sự chứng nghiệm trên, và thiết lập một phản ứng nhóm xác định đối với thiên ý hay ý chí thiêng liêng; điều này cuối cùng dẫn đến sự phủ định các Định luật Nghiệp quả và Tái sinh khi chúng tác động lên đời sống trong ba cõi giới.
5. The stage of triadal perception and the establishing of spiritual contact, thus negating both the life of form and the soul. Duality is no longer recognised.
5. Giai đoạn tri giác tam nguyên tinh thần và thiết lập tiếp xúc tinh thần, nhờ đó phủ định cả đời sống hình tướng lẫn linh hồn. Nhị nguyên không còn được nhận biết nữa.
6. The stage of identification with the life aspect and the establishing of complete divine integration into the greater Whole. The initiate then moves onward in life and not in consciousness—a concept and a truth which it is not possible for you to understand at this time.
6. Giai đoạn đồng hoá với phương diện sự sống và thiết lập sự tích hợp thiêng liêng hoàn toàn vào trong Toàn Thể lớn lao hơn. Khi ấy điểm đạo đồ tiến lên trong sự sống chứ không phải trong tâm thức—một khái niệm và một chân lý mà hiện giờ các bạn không thể hiểu được.
7. The stage of a group sounding-forth of the Word and establishing direct relation with Shamballa as an integral part of the Hierarchy. This means the enunciation of a dual chord.
7. Giai đoạn nhóm cùng xướng Linh từ và thiết lập mối liên hệ trực tiếp với Shamballa như một phần không thể tách rời của Thánh Đoàn. Điều này có nghĩa là sự xướng lên một hợp âm kép.
8. The stage of responding to the higher aspects of the seven Ray Lives and establishing contact with the Three and the One. This is done under the Law of the Supplementary Seven.
8. Giai đoạn đáp ứng với các phương diện cao hơn của bảy Sự Sống Cung và thiết lập tiếp xúc với Bộ Ba và Đấng Duy Nhất. Điều này được thực hiện dưới Định luật của Bảy Bổ Sung.
9. The stage of spiritual negation, as it is called. This establishes a new affirmative attitude and results in a recognition of the true nature of the One Initiator.
9. Giai đoạn của sự phủ định tinh thần, như nó được gọi. Điều này thiết lập một thái độ khẳng định mới và dẫn đến sự nhận biết bản chất chân thực của Đấng Điểm đạo duy nhất.
10. The stage of the dissipation of all veils and the establishing of the power to work with light energy, thus earning the reward of new utilised ability, i.e., the ability to work with the consciousness aspect in all forms.
10. Giai đoạn làm tiêu tan mọi bức màn và thiết lập quyền năng làm việc với năng lượng ánh sáng, nhờ đó đạt được phần thưởng là năng lực mới được sử dụng, tức là khả năng làm việc với phương diện tâm thức trong mọi hình tướng.
11. The stage where the potencies of the death aspect of divine purpose can be used to carry out divine purpose, plus the establishing of complete identification (as a group) with the divine will. This marks the period of the Great [227] Renunciation and prefaces the complete transition out of the Fourth Creative Hierarchy, the human kingdom.
11. Giai đoạn mà các tiềm lực của phương diện tử vong của thiên ý có thể được sử dụng để thực hiện thiên ý, cộng với việc thiết lập sự đồng hoá hoàn toàn (như một nhóm) với ý chí thiêng liêng. Điều này đánh dấu thời kỳ của Đại [227] Từ Bỏ và mở đầu cho sự chuyển tiếp hoàn toàn ra khỏi Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức giới nhân loại.
This is a brief and inadequate summation of the more general and the more easily comprehended results of obedience to these rules. The initiate stands free and becomes consequently a dynamic factor within the working Hierarchy. Rule XII now becomes clear to him, not only through the realisation induced by his illumined mind, but through the higher divine qualities which are related to the expression of the will and purpose of the planetary Logos.
Đây là một bản tóm lược ngắn gọn và không đầy đủ về các kết quả tổng quát hơn và dễ hiểu hơn của sự tuân phục các quy luật này. Điểm đạo đồ đứng tự do và do đó trở thành một nhân tố năng động trong Thánh Đoàn đang hoạt động. Quy luật XII giờ đây trở nên rõ ràng đối với y, không chỉ qua sự chứng nghiệm do trí tuệ được soi sáng của y tạo ra, mà còn qua các phẩm tính thiêng liêng cao hơn có liên hệ với sự biểu lộ của ý chí và mục đích của Hành Tinh Thượng đế.
It will of course be obvious to you that only those who have reached the stages of work described in Rules X and XI will truly comprehend my meaning. I would warn you again that the obvious significance of the remaining three rules is not in reality the true spiritual significance because we are in these rules dealing with the planned work of the Hierarchy during the next great cycle, that of the Aquarian Age, we shall therefore be considering those activities and plans which will usher in and mature that new culture and civilisation which will slowly come into being when the world has straightened itself out after the processes of the world war (1914-1945). The rule runs as follows:
Dĩ nhiên các bạn sẽ thấy hiển nhiên rằng chỉ những ai đã đạt đến các giai đoạn công việc được mô tả trong Quy luật X và XI mới thực sự hiểu được ý tôi. Tôi lại cảnh báo các bạn rằng ý nghĩa hiển nhiên của ba quy luật còn lại thực ra không phải là ý nghĩa tinh thần chân thực bởi vì trong các quy luật này chúng ta đang đề cập đến công việc đã được hoạch định của Thánh Đoàn trong đại chu kỳ kế tiếp, tức Kỷ Nguyên Bảo Bình, vì thế chúng ta sẽ xem xét những hoạt động và kế hoạch sẽ mở đầu và làm chín muồi nền văn hóa và văn minh mới ấy, vốn sẽ từ từ xuất hiện khi thế giới đã tự điều chỉnh xong sau các tiến trình của cuộc thế chiến (1914-1945). Quy luật như sau:
Rule XII.
Quy luật XII.
Let the group serve as Aquarius indicates; let Mercury speed the group upon the upward Way and let Taurus bring illumination and the attainment of the vision; let the mark of the Saviour, as the group toils in Pisces, be seen above the aura of the group.
Hãy để nhóm phụng sự như Bảo Bình chỉ ra; hãy để Sao Thủy thúc đẩy nhóm trên Con Đường đi lên và hãy để Kim Ngưu mang lại sự soi sáng và sự đạt được linh ảnh; hãy để dấu hiệu của Đấng Cứu Thế, khi nhóm lao động trong Song Ngư, được thấy phía trên hào quang của nhóm.
You will remember that the rule as given to applicants emphasised:
Các bạn sẽ nhớ rằng quy luật như đã được trao cho các ứng viên đã nhấn mạnh:
1. The use of the hands in service for healing, blessing and for invocation.
1. Việc sử dụng đôi tay trong phụng sự để chữa lành, ban phúc và để khẩn cầu.
2. The mark of the Messenger in the feet; this referred to the use of the intuition, which is governed by Mercury.
2. Dấu hiệu của Sứ Giả nơi đôi chân; điều này ám chỉ việc sử dụng trực giác, vốn được Sao Thủy cai quản.
3. The use of the “eye.” This is not in reality the third eye (which is after all only a symbolic phrase), but the [228] ability to use developed soul power. This is that intermediate potency found between the power of the mind and the dynamic electric energy of pure will.
3. Việc sử dụng “con mắt.” Thực ra đây không phải là con mắt thứ ba (rốt cuộc chỉ là một cụm từ biểu tượng), mà là [228] khả năng sử dụng quyền năng linh hồn đã phát triển. Đây là tiềm lực trung gian được tìm thấy giữa quyền năng của trí tuệ và năng lượng điện năng động của ý chí thuần túy.
For the initiate, this rule simply carries the same message but on an infinitely higher scale, and (if I may so express it) obedience to this rule calls in Aquarian energy, the reasoning power of Mercury, and the illumination of Taurus, in order to carry forward hierarchical work upon a planet and in a planetary cycle which have been conditioned by Pisces for more than two thousand years.
Đối với điểm đạo đồ, quy luật này chỉ đơn giản mang cùng một thông điệp nhưng ở một quy mô cao hơn vô hạn, và (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) sự tuân phục quy luật này kêu gọi năng lượng Bảo Bình, quyền năng lý luận của Sao Thủy, và sự soi sáng của Kim Ngưu, để thúc đẩy công việc của Thánh Đoàn trên một hành tinh và trong một chu kỳ hành tinh đã bị Song Ngư tác động trong hơn hai ngàn năm.
I would have you ponder on this, for in realisation you will here have the formula for the work of the Hierarchy as it reconstructs the world after the destruction wrought since 1900 A.D. You have here also a great triangle of energies, functioning through the medium of Mercury, the reasonable, reasoning Messenger of the Gods:
Tôi muốn các bạn suy ngẫm về điều này, vì trong sự chứng nghiệm, ở đây các bạn sẽ có công thức cho công việc của Thánh Đoàn khi Thánh Đoàn tái thiết thế giới sau sự tàn phá đã diễn ra từ năm 1900 sau Công nguyên. Ở đây các bạn cũng có một tam giác lớn của các năng lượng, vận hành qua trung gian của Sao Thủy, Sứ Giả hợp lý, biết lý luận của các Thượng đế:
The Hierarchy is, therefore, at this time, conditioned by three great constellations: [229]
Do đó, vào lúc này Thánh Đoàn đang được ba chòm sao lớn tác động: [229]
1. Aquarius—
The Custodian of that “life more abundantly” of which the Christ spoke and which He can draw upon at this time in a new and dynamic manner in order to bring about the restoration needed. This energy is the “implementing force of universality.” It concerns the future.
2. Taurus —
The Revealer of the vision, the “eye of the Gods,” the donor of illumination. It is that which concerns the present.
3. Pisces —
The Inspiration of the World Saviour, and also the field of salvation. It is the field of force in which the two other forces must work. It has been produced by the past.
1. Bảo Bình—
Đấng Trông Giữ “sự sống dồi dào hơn” mà Đức Christ đã nói đến, và điều mà Ngài có thể vận dụng vào thời điểm này theo một cách mới mẻ và năng động nhằm đem lại sự phục hồi cần thiết. Năng lượng này là “mãnh lực thực thi tính phổ quát.” Nó liên quan đến tương lai.
2. Kim Ngưu —
Đấng Khải Lộ linh kiến, “con mắt của các Thần,” đấng ban sự soi sáng. Đó là điều liên quan đến hiện tại.
3. Song Ngư —
Nguồn Cảm Hứng của Đấng Cứu Thế, và cũng là trường cứu độ. Đó là trường mãnh lực trong đó hai mãnh lực kia phải hoạt động. Nó đã được tạo ra bởi quá khứ.
As these three constellations pour their energies into the great Ashram of Sanat Kumara, the Hierarchy, they are there concentrated and retained until released under “the swift design of Mercury” into the field of the human consciousness. The effect of this release is to awaken the intuition (governed as you know by Mercury), and to enlighten advanced humanity. It is through intuitive human beings that knowledge of the Plan is given to humanity and the work of restoration can be carried forward.
Khi ba chòm sao này tuôn các năng lượng của chúng vào đại ashram của Đức Sanat Kumara, tức Thánh Đoàn, các năng lượng ấy được tập trung và giữ lại ở đó cho đến khi được giải phóng dưới “thiết kế mau lẹ của Sao Thủy” vào lĩnh vực của tâm thức nhân loại. Hiệu quả của sự giải phóng này là đánh thức trực giác (như các bạn biết, do Sao Thủy cai quản), và soi sáng nhân loại tiến bộ. Chính qua những con người trực giác mà tri thức về Thiên Cơ được trao cho nhân loại và công việc phục hồi có thể được tiếp tục.
At this time and in a peculiar manner, the initiate-consciousness sees the Hierarchy as primarily energised by life, and by the energy of Aquarius, carrying a hitherto unknown aspect of the life energy of deity. This is of course difficult for you to comprehend and will only be understood as it truly is at the close of the Aquarian Age.
Vào lúc này và theo một cách đặc biệt, tâm thức điểm đạo đồ thấy Thánh Đoàn chủ yếu được tiếp năng lượng bởi sự sống, và bởi năng lượng của Bảo Bình, mang một phương diện cho đến nay chưa được biết đến của năng lượng sự sống của Thượng đế. Dĩ nhiên điều này khó để các bạn hiểu và sẽ chỉ được hiểu đúng như nó là vào lúc kết thúc Kỷ Nguyên Bảo Bình.
The initiate sees the New Group of World Servers brought under the illuminating power of Taurus, with the rest of humanity still under the influence of Pisces. You have, consequently, the “over-shadowing raincloud of knowable things” hovering over humanity, just as the Hierarchy overshadows the New Group and just as the soul overshadows the personality of man; you have all the needed illumination and light upon all the coming problems, waiting to precipitate itself through the New Group of World Servers under the influence of Taurus, the nurturer of all illumination, and you have humanity, at the same time, conditioned and made sensitive by Piscean energy during the past two thousand years. You have, therefore, a condition of great spiritual promise, and in this combination of [230] energies you have present those forces which will implement the activities of the Hierarchy, condition its initiates, affect every Ashram, bring light into the present darkness, and—as can already be seen—stir into new understanding the present Piscean consciousness of mankind.
Điểm đạo đồ thấy Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian được đặt dưới quyền năng soi sáng của Kim Ngưu, trong khi phần còn lại của nhân loại vẫn ở dưới ảnh hưởng của Song Ngư. Do đó, các bạn có “đám mây mưa của những điều khả tri phủ bóng” trên nhân loại, cũng như Thánh Đoàn phủ bóng lên Đoàn Người Mới và cũng như linh hồn phủ bóng lên phàm ngã của con người; các bạn có mọi sự soi sáng và ánh sáng cần thiết trên tất cả các vấn đề sắp đến, đang chờ tự ngưng tụ qua Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian dưới ảnh hưởng của Kim Ngưu, đấng nuôi dưỡng mọi sự soi sáng, và đồng thời các bạn có nhân loại, đã được tác động và trở nên nhạy cảm bởi năng lượng Song Ngư trong suốt hai ngàn năm qua. Do đó, các bạn có một tình trạng đầy hứa hẹn tinh thần lớn lao, và trong sự kết hợp [230] các năng lượng này, các bạn có hiện diện những mãnh lực sẽ thực thi các hoạt động của Thánh Đoàn, tác động lên các điểm đạo đồ của Thánh Đoàn, ảnh hưởng đến mọi ashram, mang ánh sáng vào bóng tối hiện nay, và—như đã có thể thấy—khuấy động tâm thức Song Ngư hiện tại của nhân loại vào một sự thấu hiểu mới.
It is in the New Group of World Servers that the training of the needed disciples for the Ashrams of the Masters takes place at this time in world history. This is a new hierarchical venture. In this group also accepted disciples learn to work in the same manner as does the Hierarchy. The Hierarchy works within the field of the world of human living; the New Group provides a similar field for the new disciple. It is towards that group also that initiates in the various Ashrams converge at times, in order to study the calibre and quality of the disciples who are engaged in world salvage, for it is through these disciples that the Hierarchy carries out its plans. Initiates do their main work upon mental levels and from behind the scenes, and because of this their potency is great; this is particularly so with those who have taken the third initiation. A certain percentage of them are, however, active out in the world of daily living.
Chính trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian mà việc huấn luyện các đệ tử cần thiết cho các ashram của các Chân sư đang diễn ra vào lúc này trong lịch sử thế giới. Đây là một cuộc mạo hiểm mới của Thánh Đoàn. Cũng trong nhóm này, các đệ tử được chấp nhận học cách làm việc theo cùng cách như Thánh Đoàn. Thánh Đoàn làm việc trong lĩnh vực của thế giới đời sống nhân loại; Đoàn Người Mới cung cấp một lĩnh vực tương tự cho đệ tử mới. Cũng chính về phía nhóm đó mà các điểm đạo đồ trong các ashram khác nhau đôi khi hội tụ, để nghiên cứu tầm vóc và phẩm tính của các đệ tử đang dấn thân vào công cuộc cứu vớt thế giới, vì chính qua các đệ tử này mà Thánh Đoàn thực hiện các kế hoạch của mình. Các điểm đạo đồ thực hiện công việc chính của họ trên các cấp độ trí tuệ và từ phía sau hậu trường, và vì thế tiềm lực của họ rất lớn; điều này đặc biệt đúng với những người đã nhận lần điểm đạo thứ ba. Tuy nhiên, một tỷ lệ nhất định trong số họ vẫn hoạt động tích cực ngoài thế giới đời sống hằng ngày.
You need ever to remember that at this time the main technique of the Hierarchy is that of conveying inspiration. The Masters are not openly lecturing or teaching in the great cities of the world; They work entirely through Their disciples and initiates. It will, however, be possible for Them to appear increasingly among men and evoke recognition as the influence of Aquarius is more firmly established. The Masters, in the meantime, must continue to work “within the silence of the universal Ashram,” as it has been called, and from there They inspire Their workers, and these latter in their time and way, inspire the New Group of World Servers.
Các bạn luôn cần nhớ rằng vào lúc này kỹ thuật chính của Thánh Đoàn là kỹ thuật truyền đạt cảm hứng. Các Chân sư không công khai thuyết giảng hay giảng dạy trong các thành phố lớn của thế giới; Các Ngài hoàn toàn làm việc qua các đệ tử và điểm đạo đồ của Các Ngài. Tuy nhiên, Các Ngài sẽ ngày càng có thể xuất hiện giữa những người nam và nữ và gợi lên sự nhận biết khi ảnh hưởng của Bảo Bình được thiết lập vững chắc hơn. Trong khi đó, các Chân sư phải tiếp tục làm việc “trong sự im lặng của đại ashram vũ trụ,” như nó đã được gọi, và từ đó Các Ngài truyền cảm hứng cho những người hoạt động của mình, và những người này đến lượt họ, theo thời gian và cách thức của họ, truyền cảm hứng cho Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.
You will note, therefore, that the effect of Aquarius upon the Hierarchy (as far as you, at your particular point in evolution can determine it) is to bring in the energy of Shamballa which is essentially the energy of life itself, implemented [231] by the will. This necessarily has created (and will increasingly create) major adjustments within the Hierarchy itself. The principal type of energy hitherto used by the Hierarchy is—as you well know—the energy of love. Now, to that must be added the energy of the life-giving will. New methods, new approaches to the human problem and new modes of work will have to be tried; experiment with the incoming forces will necessarily be the order of the day, though they will be experiments based upon vast knowledge and implemented with wisdom and understanding. It is the reaction of modern man to the ancient forces which produces the need for care. Mankind is oft unpredictable, owing to the factor of free will. It is this which lies behind the training given to disciples, upon which I have already given you much instruction. The new techniques and the changed approach from that of individual culture to united group progress will bring about many types of development. It is this different approach to the same basic problems which lies behind the new capacities which are emerging among disciples; it is this which enables disciples of experience to work at high speed and with a life potency that is unusual. I would have all disciples begin to train themselves to respond to the Aquarian energy now pouring into the Hierarchy. Some of you can do so as accepted disciples, and as members of my Ashram. Take advantage, therefore, of the opportunity for re-energising that comes to all those who have established contact, via their souls, with the Hierarchy, or who are members of an Ashram, or who, as probationers, are upon the periphery of the great Ashram of Sanat Kumara, the Hierarchy. This Aquarian influence produces mainly the intensifying of the hierarchical relationship to Shamballa, and therefore affects every member of His Ashram, from the Christ down to the most newly accepted disciple.
Do đó, các bạn sẽ lưu ý rằng ảnh hưởng của Bảo Bình lên Thánh Đoàn (trong chừng mực các bạn, ở điểm tiến hoá riêng của mình, có thể xác định được) là mang vào năng lượng của Shamballa, vốn về bản chất là năng lượng của chính sự sống, được thực thi [231] bởi ý chí. Điều này tất yếu đã tạo ra (và sẽ ngày càng tạo ra) những điều chỉnh lớn trong chính Thánh Đoàn. Loại năng lượng chủ yếu mà từ trước đến nay Thánh Đoàn sử dụng là—như các bạn biết rõ—năng lượng bác ái. Giờ đây, vào đó phải được thêm vào năng lượng của ý chí ban sự sống. Những phương pháp mới, những cách tiếp cận mới đối với vấn đề nhân loại và những phương thức làm việc mới sẽ phải được thử nghiệm; việc thử nghiệm với các mãnh lực đang đi vào tất yếu sẽ là trật tự của thời đại, dù đó sẽ là những thử nghiệm dựa trên tri thức bao la và được thực hiện với minh triết và thấu hiểu. Chính phản ứng của con người hiện đại đối với các mãnh lực cổ xưa tạo ra nhu cầu phải thận trọng. Nhân loại thường không thể dự đoán được, do yếu tố tự do ý chí. Chính điều này nằm sau sự huấn luyện được trao cho các đệ tử, về điều đó tôi đã cho các bạn nhiều chỉ dẫn. Các kỹ thuật mới và cách tiếp cận đã thay đổi từ sự tu dưỡng cá nhân sang tiến bộ nhóm hợp nhất sẽ mang lại nhiều loại phát triển. Chính cách tiếp cận khác biệt này đối với cùng những vấn đề căn bản nằm sau các năng lực mới đang xuất hiện nơi các đệ tử; chính điều này cho phép các đệ tử giàu kinh nghiệm làm việc với tốc độ cao và với một tiềm lực sự sống khác thường. Tôi muốn tất cả các đệ tử bắt đầu tự huấn luyện để đáp ứng với năng lượng Bảo Bình hiện đang tuôn vào Thánh Đoàn. Một số các bạn có thể làm như vậy với tư cách là các đệ tử được chấp nhận, và là các thành viên trong ashram của tôi. Vì vậy, hãy tận dụng cơ hội tái tiếp năng lượng đến với tất cả những ai đã thiết lập tiếp xúc, qua linh hồn của họ, với Thánh Đoàn, hoặc là thành viên của một ashram, hoặc là, như những người dự bị, đang ở trên chu vi của đại ashram của Đức Sanat Kumara, tức Thánh Đoàn. Ảnh hưởng Bảo Bình này chủ yếu tạo ra sự tăng cường mối liên hệ của Thánh Đoàn với Shamballa, và do đó ảnh hưởng đến mọi thành viên trong ashram của Ngài, từ Đức Christ cho đến đệ tử mới được chấp nhận gần đây nhất.
It is through the disciples that the New Group of World Servers are brought under the stepped-down Aquarian influences; this has to be an individual matter, largely dependent upon the point of evolution. Some members of [232] the New Group of World Servers will not respond in any way; they cannot. Others will respond as fully as their spiritual status permits. This inflow of Aquarian energy is one of the factors which will enable the Christ to complete His task as World Saviour and World Teacher; it will also enable Him to take the initiation which lies immediately ahead of Him and for which He has been preparing for close upon three thousand years—so exalted and peculiar an initiation it is. It is this influence also which has enabled the Master R. to assume the mantle of the Mahachohan and become the Lord of Civilisation—a civilisation which will be conditioned by the rhythm of the seventh ray.
Chính qua các đệ tử mà Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian được đặt dưới các ảnh hưởng Bảo Bình đã được hạ giảm; điều này phải là một vấn đề cá nhân, phần lớn tùy thuộc vào điểm tiến hoá. Một số thành viên của [232] Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ không đáp ứng theo bất kỳ cách nào; họ không thể. Những người khác sẽ đáp ứng đầy đủ trong mức độ địa vị tinh thần của họ cho phép. Dòng tuôn đổ năng lượng Bảo Bình này là một trong những yếu tố sẽ giúp Đức Christ hoàn tất nhiệm vụ của Ngài với tư cách là Đấng Cứu Thế Gian và Đức Chưởng Giáo; nó cũng sẽ giúp Ngài nhận cuộc điểm đạo đang ở ngay phía trước Ngài và là cuộc điểm đạo mà Ngài đã chuẩn bị gần ba ngàn năm—một cuộc điểm đạo cao cả và đặc biệt đến thế. Chính ảnh hưởng này cũng đã giúp Chân sư R. đảm nhận áo choàng của Đức Mahachohan và trở thành Chúa Tể của Văn Minh—một nền văn minh sẽ được tác động bởi nhịp điệu của cung bảy.
Incidentally, it is this Aquarian influence which has given the adepts of the Black Lodge the power to bring universal death throughout the world. These evil beings have responded to the will energy of Shamballa and to the life-giving vitality, but have used it in keeping with their own evil intentions and with the power conferred by their standing upon the cosmic ladder of evil. Hence the war. I only mention this as a striking example of the oft misunderstood fact that the same energy or identical force will produce results within the consciousness of a Christ or within the consciousness of anti-Christ. It is the same energy, but the forms upon which it plays differ so vastly that in one case the will-to-good is intensified, and in the others the will-to-evil. Energy per se is entirely impersonal.
Nhân tiện, chính ảnh hưởng Bảo Bình này đã trao cho các chân sư của Hắc đoàn quyền năng mang cái chết phổ quát đến khắp thế giới. Những hữu thể ác độc này đã đáp ứng với năng lượng ý chí của Shamballa và với sinh lực ban sự sống, nhưng đã sử dụng nó phù hợp với các ý đồ xấu xa riêng của họ và với quyền năng được ban cho bởi vị thế của họ trên chiếc thang vũ trụ của điều ác. Do đó mới có chiến tranh. Tôi chỉ nêu điều này như một ví dụ nổi bật về sự kiện thường bị hiểu sai rằng cùng một năng lượng hay cùng một mãnh lực giống hệt sẽ tạo ra các kết quả trong tâm thức của một Đức Christ hoặc trong tâm thức của phản-Christ. Đó là cùng một năng lượng, nhưng các hình tướng mà nó tác động lên khác biệt quá lớn đến nỗi trong trường hợp này Ý Chí-hướng Thiện được tăng cường, còn trong các trường hợp kia là ý chí hướng ác. Năng lượng tự nó hoàn toàn vô ngã.
The group, therefore, which “serves as Aquarius indicates” is the Hierarchy; the group which is “speeded upon the upward Way” is the New Group of World Servers. This group is ruled by Taurus, and to it that divine Taurian energy brings “illumination and the attainment of the vision.” This group is, figuratively speaking, the “bull, rushing forward upon a straight line with its one eye fixed upon the goal and beaming light.” But what is that goal? It is not the goal of Self-illumination, for that lies far behind; it is the goal of providing a centre of light within the world of men and of holding up the vision to the sons of men. Let this never be forgotten, and let the New Group of [233] World Servers realise its mission and recognise the demands of humanity upon it. What are these demands? Let me enumerate them, and then let me ask you to take them in all simplicity and act upon them.
Do đó, nhóm “phụng sự như Bảo Bình chỉ ra” là Thánh Đoàn; nhóm được “thúc đẩy trên Con Đường đi lên” là Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Nhóm này được Kim Ngưu cai quản, và đối với nhóm ấy năng lượng Kim Ngưu thiêng liêng mang lại “sự soi sáng và sự đạt được linh ảnh.” Nói theo nghĩa bóng, nhóm này là “con bò, lao tới trên một đường thẳng với một mắt duy nhất chăm chú vào mục tiêu và phát ra ánh sáng.” Nhưng mục tiêu ấy là gì? Đó không phải là mục tiêu tự soi sáng, vì điều đó đã ở rất xa phía sau; đó là mục tiêu cung cấp một trung tâm ánh sáng trong thế giới của những người nam và nữ và nâng linh ảnh lên trước mắt những người con của nhân loại. Đừng bao giờ quên điều này, và hãy để Đoàn Người Mới [233] Phụng Sự Thế Gian chứng nghiệm sứ mệnh của mình và nhận biết những đòi hỏi của nhân loại đối với nhóm. Những đòi hỏi ấy là gì? Hãy để tôi liệt kê chúng, rồi hãy để tôi yêu cầu các bạn tiếp nhận chúng trong tất cả sự đơn giản và hành động theo chúng.
1. To receive and transmit illumination from the kingdom of souls.
1. Tiếp nhận và truyền đạt sự soi sáng từ giới các linh hồn.
2. To receive inspiration from the Hierarchy and go forth, consequently, to inspire.
2. Tiếp nhận cảm hứng từ Thánh Đoàn và do đó đi ra để truyền cảm hứng.
3. To hold the vision of the Plan before the eyes of men, for “where there is no vision, the people perish.”
3. Giữ linh ảnh của Thiên Cơ trước mắt con người, vì “nơi nào không có linh ảnh, dân chúng sẽ diệt vong.”
4. To act as an intermediate group between the Hierarchy and humanity, receiving light and power and then using both of these, under the inspiration of love, to build the new world of tomorrow.
4. Hành động như một nhóm trung gian giữa Thánh Đoàn và nhân loại, tiếp nhận ánh sáng và quyền năng rồi sử dụng cả hai điều này, dưới cảm hứng của tình thương, để xây dựng thế giới mới của ngày mai.
5. To toil in Pisces, illumined by Taurus and responsive in degree to the Aquarian impulse coming from the Hierarchy.
5. Lao động trong Song Ngư, được Kim Ngưu soi sáng và đáp ứng ở một mức độ nào đó với xung lực Bảo Bình đến từ Thánh Đoàn.
These objectives are not only individual objectives, but the goal for the entire group. All who respond to the life-giving force of Aquarius and to the light-giving force of Taurus can and will work in the New Group of World Servers, even though they have no occult knowledge and have never heard of their co-workers under that name. Forget this not.
Những mục tiêu này không chỉ là mục tiêu cá nhân, mà còn là mục tiêu của toàn thể nhóm. Tất cả những ai đáp ứng với mãnh lực ban sự sống của Bảo Bình và với mãnh lực ban ánh sáng của Kim Ngưu đều có thể và sẽ làm việc trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, dù họ không có tri thức huyền bí học và chưa bao giờ nghe nói đến các đồng sự của mình dưới danh xưng đó. Đừng quên điều này.
Recognition of the successful work of the New Group of World Servers will be accorded by the Hierarchy, and the testimony of the recognition will be the appearing of a symbol in the aura of the group—of the entire group. This will be a symbol projected by the Hierarchy, specifically by the Christ. What that symbol will be it is not for me to say. It is not yet fully earned, and only its dim and uncertain outline can be seen from the level on which the Masters work, and not at all from the level on which the group itself works. It is “the mark of a Saviour” and it will embody the mark or indication (the signature as medieval occultists used to call it) of a new type of salvation or salvage. Up till now the mark of the Saviour has been the Cross, and the quality of the salvation offered has been freedom from substance [234] or the lure of matter and from its hold—a freedom only to be achieved at a great cost. The future holds within its silence other modes of saving humanity. The cup of sorrow and the agony of the Cross are well-nigh finished. Joy and strength will take their place. Instead of sorrow we shall have a joy which will work out in happiness and lead eventually to bliss. We shall have a strength which will know naught but victory and will not recognise disaster. Even the Black Lodge knew of this change in the mode of salvation, and hastily founded its groups of youths, banded together by the motto “joy through strength and strength through joy.” It seems to be a law for group development to receive recognition from the side of evil, prior to that recognition coming from the good. But “after weeping cometh joy, and that joy cometh in the morning.” Only the dawn is with us as yet—the dawn of the Aquarian Age. The full tide of light is inevitably moving upon its way towards us.
Sự công nhận công việc thành công của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ được Thánh Đoàn ban cho, và bằng chứng của sự công nhận ấy sẽ là sự xuất hiện của một biểu tượng trong hào quang của nhóm—của toàn thể nhóm. Đây sẽ là một biểu tượng được Thánh Đoàn phóng chiếu, cụ thể là bởi Đức Christ. Biểu tượng ấy sẽ là gì thì tôi không thể nói. Nó vẫn chưa được xứng đáng hoàn toàn, và chỉ có đường nét mờ nhạt và bất định của nó có thể được thấy từ cấp độ mà các Chân sư làm việc, chứ hoàn toàn không thể thấy từ cấp độ mà chính nhóm làm việc. Nó là “dấu hiệu của một Đấng Cứu Thế” và sẽ thể hiện dấu hiệu hay chỉ dẫn (chữ ký, như các nhà huyền bí học thời trung cổ từng gọi) của một loại cứu rỗi hay cứu vớt mới. Cho đến nay dấu hiệu của Đấng Cứu Thế là Thập Giá, và phẩm tính của sự cứu rỗi được trao ban là sự giải thoát khỏi chất liệu [234] hay sức quyến rũ của vật chất và khỏi sự kềm giữ của nó—một sự giải thoát chỉ có thể đạt được với giá rất lớn. Tương lai giữ trong sự im lặng của nó những phương thức khác để cứu nhân loại. Chén sầu và nỗi thống khổ của Thập Giá gần như đã chấm dứt. Sự hoan hỉ và sức mạnh sẽ thay chỗ chúng. Thay vì đau khổ, chúng ta sẽ có một sự hoan hỉ sẽ biểu hiện thành hạnh phúc và cuối cùng dẫn đến chí phúc. Chúng ta sẽ có một sức mạnh sẽ không biết gì ngoài chiến thắng và sẽ không thừa nhận thảm họa. Ngay cả Hắc đoàn cũng biết về sự thay đổi này trong phương thức cứu rỗi, và đã vội vàng thành lập các nhóm thanh niên của nó, liên kết với nhau bằng khẩu hiệu “hoan hỉ qua sức mạnh và sức mạnh qua hoan hỉ.” Dường như là một định luật của sự phát triển nhóm rằng phải nhận được sự công nhận từ phía điều ác trước khi sự công nhận ấy đến từ phía điều thiện. Nhưng “sau tiếng khóc than là niềm vui, và niềm vui ấy đến vào buổi sáng.” Hiện giờ mới chỉ có bình minh ở cùng chúng ta—bình minh của Kỷ Nguyên Bảo Bình. Triều ánh sáng trọn vẹn tất yếu đang tiến về phía chúng ta.
This Rule tells us that “the group toils in Pisces.” This simply means that the field wherein the New Group of World Servers works is that of mankind, conditioned and ruled for the past two thousand years by Piscean energy. This is, as you know, the energy which produces mediation and which develops sensitivity in the individual. The work accomplished by and through this energy is so successfully accomplished that it has produced a mediating group of servers; this group acts as an intermediary between the Hierarchy and Humanity, and it has also developed the sensitive response of humanity to contacts, and to such a degree of sensitivity that the response to be accorded to the activities of the New Group of World Servers is very real and cannot be negated.
Quy luật này cho chúng ta biết rằng “nhóm lao động trong Song Ngư.” Điều này đơn giản có nghĩa là lĩnh vực trong đó Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian làm việc là lĩnh vực của nhân loại, đã được năng lượng Song Ngư tác động và cai quản trong hai ngàn năm qua. Đây là, như các bạn biết, năng lượng tạo ra sự trung gian và phát triển tính nhạy cảm nơi cá nhân. Công việc được hoàn thành bởi và qua năng lượng này đã được hoàn thành thành công đến mức nó đã tạo ra một nhóm phụng sự trung gian; nhóm này hoạt động như một trung gian giữa Thánh Đoàn và Nhân loại, và nó cũng đã phát triển sự đáp ứng nhạy cảm của nhân loại đối với các tiếp xúc, và đến một mức độ nhạy cảm như thế mà sự đáp ứng được dành cho các hoạt động của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là rất thực và không thể bị phủ nhận.
It should be remembered that the Piscean energy with which the group has to work is opposed to the incoming energies from the Hierarchy and the New Group of World Servers. This is owing to the fact that the energy of this constellation is passing out concurrently with the sixth ray energy, with which it peculiarly “coincided,” as it is esoterically [235] called. Hence the present difficulties. The passing out of the influence of Pisces, the slow withdrawal of the sixth ray force, the incoming Aquarian energy, via the Hierarchy (affecting at this time mainly the Hierarchy itself and the mental and astral planes) are conditions to which we must look for the origin of all our present troubles. In this involved situation, you have a planetary demonstration of the significance of inner causes, producing outer effects. Slowly, however, the Hierarchy is beginning to implement both the Shamballa energy and that of Aquarius; the Masters Themselves have to learn how to use new incoming energies in the service of the Plan, just as the individual has to learn, in any particular incarnation, to work with and use the available astrological forces which make their impact upon one or other of his bodies or upon his entire personality; such energies, as you well know, can be turned to good uses or to bad. It is not possible for the Masters to turn energy to evil ends, but They necessarily have to master new techniques and the new methods of work called for by the new conditions; these can either affect the Hierarchy itself or will produce reactions in the fourth kingdom and in the other kingdoms, producing rapidly changing orientation and attitudes.
Cần nhớ rằng năng lượng Song Ngư mà nhóm phải làm việc cùng là đối nghịch với các năng lượng đang đi vào từ Thánh Đoàn và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Điều này là do năng lượng của chòm sao này đang rút đi đồng thời với năng lượng cung sáu, mà với nó nó đã “trùng hợp” một cách đặc biệt, như được gọi một cách huyền bí [235]. Do đó mới có những khó khăn hiện nay. Sự rút đi của ảnh hưởng Song Ngư, sự rút lui chậm chạp của mãnh lực cung sáu, năng lượng Bảo Bình đang đi vào, qua Thánh Đoàn (vào lúc này chủ yếu ảnh hưởng đến chính Thánh Đoàn và cõi trí cùng cõi cảm dục) là những điều kiện mà chúng ta phải tìm trong đó nguồn gốc của mọi rắc rối hiện nay. Trong tình huống phức tạp này, các bạn có một minh họa hành tinh về ý nghĩa của các nguyên nhân bên trong tạo ra các hiệu quả bên ngoài. Tuy nhiên, từ từ Thánh Đoàn đang bắt đầu thực thi cả năng lượng Shamballa lẫn năng lượng Bảo Bình; chính các Chân sư cũng phải học cách sử dụng các năng lượng mới đang đi vào trong sự phụng sự Thiên Cơ, cũng như cá nhân phải học, trong bất kỳ lần lâm phàm cụ thể nào, cách làm việc với và sử dụng các mãnh lực chiêm tinh sẵn có đang tạo tác động lên thể này hay thể kia của y hoặc lên toàn bộ phàm ngã của y; như các bạn biết rõ, các năng lượng ấy có thể được chuyển sang những cách sử dụng tốt hoặc xấu. Các Chân sư không thể chuyển năng lượng sang các mục đích xấu, nhưng Các Ngài tất yếu phải làm chủ các kỹ thuật mới và các phương pháp làm việc mới mà các điều kiện mới đòi hỏi; những điều này hoặc có thể ảnh hưởng đến chính Thánh Đoàn hoặc sẽ tạo ra các phản ứng trong giới thứ tư và trong các giới khác, tạo ra sự định hướng và thái độ thay đổi nhanh chóng.
These forces and energies—from the zodiac or from one or other of the seven rays—have poured into and through our planetary Life for countless aeons. Each time that they cyclically make their appearance, the forms and substance in the three worlds upon which they impinge and through which they pass are different in the degree of evolutionary response and of sensitive reaction to impact. The response and the reactions of the human family as a whole, or of the individual within that whole, will differ from that of the previous cycle; with these factors the Hierarchy has to contend, changing cyclically its technique and altering its modes of work in order to meet the changing need. Bear this in mind. This has never been more evident to the Masters than today. The war might be regarded as a revolt by the form side of nature against the old conditions, and [236] against the new incoming conditioning factors on the part of the Black Lodge. Between the two forces—one sensitive, onward moving, ready for that which is new and better, and the other reactionary, static and determined to gain a strangle hold upon the life within the form—the Hierarchy stands at the midway point:
Các mãnh lực và năng lượng này—từ hoàng đạo hay từ cung này hay cung kia trong bảy cung—đã tuôn vào và qua Sự Sống hành tinh của chúng ta trong vô số đại kiếp. Mỗi lần chúng xuất hiện theo chu kỳ, các hình tướng và chất liệu trong ba cõi giới mà chúng tác động vào và đi qua đều khác nhau về mức độ đáp ứng tiến hoá và phản ứng nhạy cảm đối với tác động. Sự đáp ứng và các phản ứng của gia đình nhân loại nói chung, hay của cá nhân trong toàn thể ấy, sẽ khác với chu kỳ trước; với các yếu tố này Thánh Đoàn phải đương đầu, thay đổi kỹ thuật của mình theo chu kỳ và điều chỉnh các phương thức làm việc để đáp ứng nhu cầu đang thay đổi. Hãy ghi nhớ điều này. Điều này chưa bao giờ hiển nhiên đối với các Chân sư như ngày nay. Chiến tranh có thể được xem như một cuộc nổi dậy của mặt hình tướng của bản chất chống lại các điều kiện cũ, và [236] chống lại các yếu tố tác động mới đang đi vào từ phía Hắc đoàn. Giữa hai mãnh lực—một bên nhạy cảm, tiến lên, sẵn sàng cho điều mới và tốt đẹp hơn, và bên kia phản động, trì trệ và quyết tâm siết chặt sự sống bên trong hình tướng—Thánh Đoàn đứng tại điểm ở giữa:
a. Throwing all its weight on the side of that which is new, spiritual and desirable.
a. Dồn toàn bộ trọng lượng của mình về phía điều mới, tinh thần và đáng mong muốn.
b. Adapting itself simultaneously to new conditions and new emerging factors.
b. Đồng thời tự thích nghi với các điều kiện mới và các yếu tố mới đang xuất hiện.
c. Standing like a wall of steel, unshatterable and immovable between humanity and the forces of evil.
c. Đứng như một bức tường thép, không thể phá vỡ và bất lay chuyển giữa nhân loại và các mãnh lực của điều ác.
This has been an epoch of crisis, and the great moment for which the Hierarchy has been preparing ever since it was founded upon the Earth. Slowly down the ages, men have been trained and prepared for initiation; they have been taught to develop the initiate-consciousness; they have taken then their place within the ranks of the Hierarchy and have—later—passed into the higher centre, Shamballa.
Đây là một thời đại khủng hoảng, và là thời điểm lớn lao mà Thánh Đoàn đã chuẩn bị cho nó kể từ khi được thành lập trên Trái Đất. Chậm rãi qua các thời đại, con người đã được huấn luyện và chuẩn bị cho điểm đạo; họ đã được dạy để phát triển tâm thức điểm đạo đồ; rồi họ đã chiếm vị trí của mình trong hàng ngũ của Thánh Đoàn và—về sau—đi vào trung tâm cao hơn, Shamballa.
Paralleling this line of unfoldment of the individual, there has also been a great though slow expansion of the human consciousness and a gradual steady progress forward into light. It has now become possible to create the New Group of World Servers—men and women sensitive to the inner and newer vision and to the incoming forces and energies. Each group, therefore, whether it is the Hierarchy, the New Group of World Servers, or mankind itself, is wrestling with its own interior problems of response, of recognition and of responsibility; each also is actuated by an outgoing movement in two directions: towards that which is higher and which indicates a better and more spiritual future, with all that that implies, and also towards that which is rooted in and related to the past, which is crystallising, reactionary, blind in its selfishness and materiality, and which is implemented to retain the old things which should pass away and to fight that which is new.
Song song với đường khai mở của cá nhân này, cũng đã có một sự mở rộng lớn lao dù chậm chạp của tâm thức nhân loại và một sự tiến bộ dần dần nhưng vững chắc vào trong ánh sáng. Giờ đây đã trở nên khả hữu để tạo ra Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian—những người nam và nữ nhạy cảm với linh ảnh bên trong và mới mẻ hơn, và với các mãnh lực và năng lượng đang đi vào. Vì vậy, mỗi nhóm, dù là Thánh Đoàn, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, hay chính nhân loại, đều đang vật lộn với các vấn đề nội tại riêng của mình về sự đáp ứng, sự nhận biết và trách nhiệm; mỗi nhóm cũng được thúc đẩy bởi một chuyển động hướng ra ngoài theo hai hướng: hướng tới điều cao hơn và chỉ ra một tương lai tốt đẹp hơn và tinh thần hơn, với tất cả những gì điều đó hàm ý, và cũng hướng tới điều bén rễ trong và liên hệ với quá khứ, đang kết tinh, phản động, mù quáng trong tính ích kỷ và tính vật chất của nó, và được thực thi để giữ lại những điều cũ cần phải qua đi và để chống lại điều mới.
As individual aspirants, you all know that this condition [237] exists in the conflict waged interiorly and expressed exteriorly between the soul and the personality. The same conditioning factors can be seen also working in every group, organisation, world religion, and in every nation, as well as in the planet as a whole. Millions of years ago, the Hierarchy realised that such a time of crisis and of conflict was inevitable. The easiest way to handle it would have been as lesser conflicts were dealt with in the past—by a process of final intervention. Shamballa and the Hierarchy could have unitedly ended this world crisis, but it would then have again arisen and have gone on arising until humanity itself ended it once and for all upon the physical plane.
Là những người chí nguyện cá nhân, tất cả các bạn đều biết rằng tình trạng này [237] tồn tại trong cuộc xung đột được tiến hành bên trong và biểu lộ ra bên ngoài giữa linh hồn và phàm ngã. Các yếu tố tác động tương tự cũng có thể được thấy đang hoạt động trong mọi nhóm, tổ chức, tôn giáo thế giới, và trong mọi quốc gia, cũng như trong toàn thể hành tinh. Hàng triệu năm trước, Thánh Đoàn đã nhận ra rằng một thời kỳ khủng hoảng và xung đột như vậy là điều không thể tránh khỏi. Cách dễ nhất để xử lý nó hẳn đã là như các xung đột nhỏ hơn đã được xử lý trong quá khứ—bằng một tiến trình can thiệp cuối cùng. Shamballa và Thánh Đoàn có thể cùng nhau chấm dứt cuộc khủng hoảng thế giới này, nhưng khi đó nó sẽ lại phát sinh và sẽ tiếp tục phát sinh cho đến khi chính nhân loại tự mình chấm dứt nó một lần dứt khoát trên cõi hồng trần.
Of this situation the determination of the United Nations to win and to enforce complete surrender upon the aggressor nations which are the agents of the Black Lodge is symbolic and also symptomatic of the progress of the human spirit. (Written in September 1944.) This time, the Hierarchy refrains from outer action, but simply inspires and transmits the needed energy, leaving mankind to find its own way into freedom, and out of Pisces into the aura and the field of activity of Aquarius, guided by those who are responsive to the illumination which Taurus confers.
Về tình huống này, quyết tâm của Liên Hiệp Quốc nhằm chiến thắng và buộc các quốc gia xâm lược là những tác nhân của Hắc đoàn phải đầu hàng hoàn toàn là biểu tượng và cũng là triệu chứng của sự tiến bộ của tinh thần nhân loại. (Viết vào tháng Chín năm 1944.) Lần này, Thánh Đoàn kiềm chế hành động bên ngoài, mà chỉ đơn giản truyền cảm hứng và truyền đạt năng lượng cần thiết, để mặc nhân loại tự tìm đường đi vào tự do, và đi ra khỏi Song Ngư vào hào quang và lĩnh vực hoạt động của Bảo Bình, được hướng dẫn bởi những người đáp ứng với sự soi sáng mà Kim Ngưu ban cho.
See you not the beauty of this plan and its synthesising, culminating usefulness? See you not how the present crisis only indicates the success of the previous evolutionary cycles wherein humanity mastered certain lessons? All the post-war planning, the widespread reaction to ideals (in spite of all the efforts of the evil and reactionary forces), and the seething turmoil reaching throughout all levels of the human consciousness, plus the inspiration of disaster and suffering, are blasting open hitherto sealed areas in the minds of men, letting in illumination, sweeping away the bad old conditions. This is symbolised for us in the destruction of ancient cities and by the intermixture of races through the processes of war; this also signifies progress and is preparatory to great expansions of consciousness. These expansions in the human understanding will, in the next [238] one hundred and fifty years, completely alter the manner of man’s thinking; they will change the techniques of religion; they will bring about comprehension and fusion. When this work has been accomplished we shall record an era of world peace which will be symbolic of the state of the human spirit. Men will then settle down to the great task which confronts all of us in the New Age—the task of dissipating glamour and of bringing about a clearer light upon the astral plane, in the same way that better physical conditions will have been brought about upon the physical plane. All is planned and ordered; the right energies and forces will be available, for the Hierarchy works ever under the Law of Cycles and of Cyclic Compensation. The Masters know exactly that which must be done by right timing and by what has been called “the crisis of spatial extension.” They call this the interchangeableness of time and space—a meaningless phrase to you but one which is already being dimly sensed.
Các bạn không thấy vẻ đẹp của kế hoạch này và tính hữu dụng tổng hợp, viên mãn của nó sao? Các bạn không thấy cuộc khủng hoảng hiện nay chỉ cho thấy sự thành công của các chu kỳ tiến hoá trước đó, trong đó nhân loại đã làm chủ một số bài học sao? Tất cả việc hoạch định hậu chiến, phản ứng rộng khắp đối với các lý tưởng (bất chấp mọi nỗ lực của các mãnh lực ác độc và phản động), và sự náo động sôi sục lan khắp mọi cấp độ của tâm thức nhân loại, cộng với cảm hứng từ tai họa và đau khổ, đang phá tung những khu vực trong trí tuệ con người vốn trước đây bị niêm kín, để ánh sáng tràn vào, quét sạch các điều kiện xấu cũ. Điều này được biểu tượng hóa cho chúng ta trong sự tàn phá của các thành phố cổ và bởi sự pha trộn các nhân loại qua các tiến trình chiến tranh; điều này cũng biểu thị sự tiến bộ và là sự chuẩn bị cho những mở rộng lớn của tâm thức. Những mở rộng này trong sự thấu hiểu của con người, trong một trăm năm mươi năm [238] tới, sẽ hoàn toàn thay đổi cách suy nghĩ của con người; chúng sẽ thay đổi các kỹ thuật của tôn giáo; chúng sẽ mang lại sự thấu hiểu và dung hợp. Khi công việc này đã được hoàn thành, chúng ta sẽ ghi nhận một kỷ nguyên hòa bình thế giới, sẽ là biểu tượng của trạng thái tinh thần nhân loại. Khi đó con người sẽ an định để thực hiện nhiệm vụ lớn đang đối diện tất cả chúng ta trong Kỷ Nguyên Mới—nhiệm vụ làm tiêu tan ảo cảm và mang lại một ánh sáng rõ ràng hơn trên cõi cảm dục, cũng như các điều kiện hồng trần tốt đẹp hơn sẽ được mang lại trên cõi hồng trần. Mọi sự đều được hoạch định và sắp đặt; các năng lượng và mãnh lực đúng đắn sẽ sẵn có, vì Thánh Đoàn luôn luôn làm việc dưới Định luật Chu Kỳ và Bù Trừ Theo Chu Kỳ. Các Chân sư biết chính xác điều phải được thực hiện bằng thời điểm đúng đắn và bằng điều đã được gọi là “cuộc khủng hoảng của sự mở rộng không gian.” Các Ngài gọi điều này là tính có thể hoán đổi của thời gian và không gian—một cụm từ vô nghĩa đối với các bạn nhưng là điều đã đang được cảm nhận mơ hồ.
The two Rules which remain for us to study concern the work of the Hierarchy in the Aquarian Age. Hence they are specifically for the more advanced disciples and for initiates. We have seen in many ways that—at this time—the Hierarchy, because it is the Ashram of Sanat Kumara Himself, is coming peculiarly and in a new sense under the influence of His will nature. This means that the Members of the Hierarchy, familiar as They may be with the Plan for the immediate cycle with which They and humanity are confronted, are being brought to a new and more “appropriate” conception of the divine Purpose which lies behind the Plan and which motivates it. The will of God is becoming plainer to Them. It is taking on more definite lines. As our planetary Logos nears the climaxing point of the initiation which He is now undergoing, His Ashram, the Hierarchy, must and does (as part of a normal development) feel the effect. From the Christ down to the newest and latest accepted disciple, each in his own place, all are becoming increasingly responsive to the “will of God.” This [239] does not take place in a blind, acquiescing manner, but with understanding and “fortitude.” This receptive attitude on the part of the Hierarchy will bring about great, necessary and unexpected changes. Some of these, I have earlier hinted, may now be taking place; some will follow later. The following ideas may serve to clarify the whole concept in your minds:
Hai Quy luật còn lại để chúng ta nghiên cứu liên quan đến công việc của Thánh Đoàn trong Kỷ Nguyên Bảo Bình. Vì thế chúng đặc biệt dành cho các đệ tử tiến bộ hơn và cho các điểm đạo đồ. Chúng ta đã thấy theo nhiều cách rằng—vào lúc này—Thánh Đoàn, bởi vì đó là ashram của chính Đức Sanat Kumara, đang đi vào dưới ảnh hưởng của bản chất ý chí của Ngài theo một cách đặc biệt và mới mẻ. Điều này có nghĩa là các Thành viên của Thánh Đoàn, dù Các Ngài có quen thuộc đến đâu với Thiên Cơ cho chu kỳ trước mắt mà Các Ngài và nhân loại đang đối diện, vẫn đang được đưa đến một quan niệm mới và “thích đáng” hơn về Thiên Ý nằm sau Thiên Cơ và thúc đẩy nó. Ý Chí của Thượng Đế đang trở nên rõ ràng hơn đối với Các Ngài. Nó đang mang những đường nét xác định hơn. Khi Hành Tinh Thượng đế của chúng ta tiến gần đến điểm cao trào của cuộc điểm đạo mà Ngài hiện đang trải qua, ashram của Ngài, tức Thánh Đoàn, phải và thực sự cảm nhận được hiệu quả ấy (như một phần của sự phát triển bình thường). Từ Đức Christ xuống đến đệ tử mới nhất và gần đây nhất được chấp nhận, mỗi người ở vị trí riêng của mình, tất cả đều đang ngày càng đáp ứng với “Ý Chí của Thượng Đế.” Điều này [239] không diễn ra một cách mù quáng, cam chịu, mà với sự thấu hiểu và “sức chịu đựng.” Thái độ tiếp nhận này từ phía Thánh Đoàn sẽ mang lại những thay đổi lớn lao, cần thiết và bất ngờ. Một số trong đó, như tôi đã gợi ý trước đây, có thể hiện đang diễn ra; một số sẽ theo sau về sau. Những ý tưởng sau đây có thể giúp làm sáng tỏ toàn bộ khái niệm trong trí các bạn:
1. The entire technique of training disciples for initiation and of absorbing them into the various Ashrams which constitute the great Ashram of the Lord of the World has been altered. The Masters are no longer concerned with an individual, here or there, who endeavours to go forward on the Path, who evidences capacity and who is apparently ready for what has been called “the evocation of the initiate consciousness.” It is becoming obvious to the Hierarchy that with the arrival of the Aquarian Age, group preparation, group initiation and group acceptance must and will supersede the older methods. These older methods, built around the direct relationship between a Master and a disciple, reached their highest point of usefulness early in the Piscean Age. For nearly two thousand years these methods have proved so successful that the intensity of humanity’s response is such that hundreds are now ready “for absorption.” This readiness and success present a difficulty and pose a problem for the Masters, necessitating a reorganisation of Their plans and a readjustment of Their techniques.
1. Toàn bộ kỹ thuật huấn luyện các đệ tử cho điểm đạo và hấp thụ họ vào các ashram khác nhau cấu thành đại ashram của Đức Chúa Tể Thế Giới đã được thay đổi. Các Chân sư không còn quan tâm đến một cá nhân nào đó, ở đây hay ở kia, đang nỗ lực tiến lên trên Con Đường, biểu lộ năng lực và dường như sẵn sàng cho điều đã được gọi là “sự gợi lên tâm thức điểm đạo đồ.” Đối với Thánh Đoàn, ngày càng rõ ràng rằng với sự xuất hiện của Kỷ Nguyên Bảo Bình, sự chuẩn bị nhóm, điểm đạo nhóm và sự chấp nhận nhóm phải và sẽ thay thế các phương pháp cũ. Những phương pháp cũ này, được xây dựng quanh mối liên hệ trực tiếp giữa một Chân sư và một đệ tử, đã đạt đến đỉnh cao hữu dụng của chúng vào đầu Kỷ Nguyên Song Ngư. Trong gần hai ngàn năm, những phương pháp này đã chứng tỏ thành công đến mức cường độ đáp ứng của nhân loại hiện nay khiến hàng trăm người đã sẵn sàng “được hấp thụ.” Sự sẵn sàng và thành công này tạo ra một khó khăn và đặt ra một vấn đề cho các Chân sư, đòi hỏi phải tái tổ chức các kế hoạch của Các Ngài và điều chỉnh lại các kỹ thuật của Các Ngài.
2. Not only has the individual approach to the Hierarchy been superseded by a group approach, but it is now found to be possible to make a certain measure of the training objective and exoteric. Hence the establishment of the New Group of World Servers. This is primarily a group which, while working on the outer plane of daily, physical living, yet preserves a close ashramic integration; it thus provides a field of service for accepted disciples who are seeking service-expression, and it also provides a rallying point for all determined aspirants where they can be tried out and where their motives and persistence can be tested, prior to direct acceptance. This is something new, for it [240] shifts the responsibility of preparing aspirants for accepted discipleship onto the shoulders of the pledged disciple and away from the immediate attention of the accepting Master. He is thus freed for other fields of service. This, in itself, is one of the major indications of the success of the evolutionary process as applied to humanity. This “shift” was initiated by the Christ Himself; he worked with men very frequently through others, reaching humanity through the medium of His twelve Apostles, regarding Paul as substituting for Judas Iscariot. The Buddha tried the same system, but the relation of His group was, in the first instance, to Him and not so much to the world of men. Christ sent His Apostles out into the world to feed the sheep, to seek, to guide and to become “fishers of men.” The relation of the disciples of the Christ was only secondarily to their Master, and primarily to a demanding world; that attitude still controls the Hierarchy, yet with no less of devotion to the Christ. What the Buddha had instituted symbolically and in embryo became factual and existent under the demands of the Piscean Age.
2. Không những lối tiếp cận cá nhân đối với Thánh Đoàn đã được thay thế bằng lối tiếp cận theo nhóm, mà nay người ta còn thấy có thể làm cho một mức độ nhất định của mục tiêu huấn luyện trở nên khách quan và ngoại môn. Do đó có sự thiết lập Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Đây trước hết là một nhóm, tuy hoạt động trên cõi bên ngoài của đời sống hồng trần hằng ngày, vẫn duy trì một sự tích hợp ashram chặt chẽ; vì thế nó cung cấp một lĩnh vực phụng sự cho các đệ tử được chấp nhận đang tìm cách biểu lộ sự phụng sự, đồng thời cũng cung cấp một điểm quy tụ cho mọi người chí nguyện kiên định, nơi họ có thể được thử luyện và nơi các động cơ cùng sự bền chí của họ có thể được kiểm nghiệm trước khi được chấp nhận trực tiếp. Đây là điều mới mẻ, vì nó [240] chuyển trách nhiệm chuẩn bị các người chí nguyện cho địa vị đệ tử được chấp nhận sang vai của đệ tử đã tuyên thệ và ra khỏi sự lưu tâm trực tiếp của Chân sư tiếp nhận. Nhờ đó Ngài được giải phóng để dành cho các lĩnh vực phụng sự khác. Tự thân điều này là một trong những dấu hiệu chủ yếu về sự thành công của tiến trình tiến hoá khi được áp dụng cho nhân loại. Sự “chuyển dịch” này do chính Đức Christ khởi xướng; Ngài rất thường làm việc với những người nam và nữ thông qua người khác, tiếp cận nhân loại qua trung gian của mười hai Tông đồ của Ngài, xem Paul là người thay thế cho Judas Iscariot. Đức Phật đã thử cùng một hệ thống, nhưng mối liên hệ của nhóm Ngài trước hết là với Ngài chứ không nhiều với thế giới loài người. Đức Christ đã sai các Tông đồ của Ngài đi vào thế gian để chăn dắt đàn chiên, tìm kiếm, hướng dẫn và trở thành “những kẻ chài lưới người.” Mối liên hệ của các đệ tử của Đức Christ chỉ là thứ yếu đối với Chân sư của họ, còn chủ yếu là đối với một thế giới đang đòi hỏi; thái độ đó vẫn còn chi phối Thánh Đoàn, tuy không vì thế mà giảm bớt lòng sùng kính đối với Đức Christ. Điều mà Đức Phật đã thiết lập một cách biểu tượng và ở dạng phôi thai đã trở thành sự kiện và hiện hữu dưới những đòi hỏi của Kỷ Nguyên Song Ngư.
3. The third great change has been in the relation of the Hierarchy to Shamballa, and of this you can necessarily know and understand little. I could perhaps express the underlying significance to you in symbolic language. The energy, emanating from Shamballa, has been divided into two direct and distinctive streams. One stream, embodying the dynamic of purpose, is now pouring into the Hierarchy and into its seven major Ashrams; another stream, embodying the dynamic of determination or of enlightened enthusiastic will, is reaching humanity direct, via the New Group of World Servers. Hitherto a blended stream of Shamballa force has poured into the Hierarchy and has streamed, in its undifferentiated type and quality, into all the groups within the Hierarchy. Now the quality of determination, or of what the average person understands by the use of the word “Will,” is pouring into the New Group of World Servers, whilst the energy of dynamic purpose, differentiated into seven diverging streams, is pouring into [241] each of the “seven points of reception,” the Masters’ Ashrams within the ring-pass-not of the Hierarchy. These seven types of purpose embody the seven energies which will reorganise and redefine the hierarchical undertakings, and thus inaugurate the New Age. These seven purposes might be called:
3. Sự thay đổi lớn thứ ba là trong mối liên hệ của Thánh Đoàn với Shamballa, và về điều này tất nhiên bạn chỉ có thể biết và thấu hiểu rất ít. Có lẽ tôi có thể diễn đạt cho bạn thâm nghĩa nền tảng bằng ngôn ngữ biểu tượng. Năng lượng phát ra từ Shamballa đã được phân thành hai dòng trực tiếp và riêng biệt. Một dòng, hiện thân cho động lực của mục đích, hiện đang tuôn vào Thánh Đoàn và vào bảy ashram chính của nó; một dòng khác, hiện thân cho động lực của sự quyết tâm hay của ý chí nhiệt thành được soi sáng, đang đến trực tiếp với nhân loại, qua Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Cho đến nay, một dòng mãnh lực Shamballa hòa trộn đã tuôn vào Thánh Đoàn và chảy, trong loại hình và phẩm tính chưa phân hoá của nó, vào mọi nhóm bên trong Thánh Đoàn. Nay phẩm tính của sự quyết tâm, hay điều mà người trung bình hiểu là việc dùng từ “Ý chí,” đang tuôn vào Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, trong khi năng lượng của mục đích năng động, được phân hoá thành bảy dòng phân kỳ, đang tuôn vào [241] mỗi một trong “bảy điểm tiếp nhận,” tức các ashram của các Chân sư bên trong vòng-giới-hạn của Thánh Đoàn. Bảy loại mục đích này hiện thân cho bảy năng lượng sẽ tái tổ chức và xác định lại các công việc của Thánh Đoàn, và như thế khai mở Kỷ Nguyên Mới. Bảy mục đích này có thể được gọi là:
a. The unknown, unseen and unheard purpose of Sanat Kumara. It is the secret of life itself and is known only to Him alone. In its initial phase of this new expression, it works through the Manu and the Master Morya; it is that which veils the central mystery which all esoteric schools—if true to their inaugurating impulse—will eventually reveal. What that is we do not yet know, but it is hinted at in Rule XIII.
a. Mục đích vô tri, vô kiến và vô thanh của Đức Sanat Kumara. Đó là bí mật của chính sự sống và chỉ một mình Ngài biết mà thôi. Trong giai đoạn khởi đầu của biểu hiện mới này, nó hoạt động qua Đức Manu và Chân sư Morya; đó là điều che phủ huyền nhiệm trung tâm mà mọi trường huyền bí học—nếu trung thành với xung lực khai sáng của mình—rốt cuộc sẽ mặc khải. Điều đó là gì thì chúng ta chưa biết, nhưng được ám chỉ trong Quy luật XIII.
b. The purpose underlying revelation. This may be a somewhat new idea to you for you are apt to regard revelation as a goal in itself. You seldom consider it as an effect of the inner purpose of Sanat Kumara. The emphasis hitherto has been on the aspect of revelation, making it an effect of what the disciple has done with himself and by means of which he is enabled to be the recipient of revelation. Yet behind all the successive revelations of divinity down the ages is to be found one significant purpose; all of them are and will prove themselves to be aspects of the Great Revelation. It is through the processes of revelation that divinity is slowly dawning upon the human consciousness. It is a sevenfold revelation; each of the seven kingdoms in nature reveals one aspect of it, and each of these seven reaches revelation in seven or fourteen lesser revelations or phases.
b. Mục đích nằm bên dưới sự mặc khải. Đây có thể là một ý tưởng phần nào mới đối với bạn vì bạn có khuynh hướng xem sự mặc khải như một mục tiêu tự thân. Bạn hiếm khi xem nó như một hiệu quả của mục đích nội tại của Đức Sanat Kumara. Cho đến nay sự nhấn mạnh vẫn đặt trên phương diện của sự mặc khải, khiến nó thành một hiệu quả của điều mà đệ tử đã làm với chính mình và nhờ đó y có thể trở thành người tiếp nhận sự mặc khải. Tuy nhiên, đằng sau mọi sự mặc khải kế tiếp nhau của thiên tính qua các thời đại, có thể tìm thấy một mục đích đầy thâm nghĩa; tất cả chúng đều là và sẽ chứng tỏ mình là các phương diện của Đại Mặc Khải. Chính qua các tiến trình mặc khải mà thiên tính đang dần dần rạng lên trong tâm thức nhân loại. Đó là một sự mặc khải thất phân; mỗi một trong bảy giới trong thiên nhiên mặc khải một phương diện của nó, và mỗi phương diện trong bảy phương diện ấy đạt đến sự mặc khải qua bảy hay mười bốn sự mặc khải nhỏ hơn hoặc các giai đoạn.
Ponder on this and learn to distinguish between vision (which is as much of the divine current revelation as a disciple can grasp in time and space) and revelation which is the synthesis of the divine expressive purpose. This is related to the will-to-good which is, in its turn, a complete expression of the love nature of Deity.
Hãy suy ngẫm điều này và học cách phân biệt giữa tầm nhìn (là phần nhiều nhất của sự mặc khải thiêng liêng hiện thời mà một đệ tử có thể nắm bắt trong thời gian và không gian) và sự mặc khải, là sự tổng hợp của mục đích biểu lộ thiêng liêng. Điều này liên hệ với Ý Chí-hướng Thiện, mà đến lượt nó là một biểu hiện trọn vẹn của bản chất bác ái của Thượng đế.
c. The (as yet) unrecognised purpose which evoked the creative activity of our Planetary Logos. This brought the [242] third aspect of the divine Trinity into play. The usual reasons brought forward by the finite mind of man to account for what is called by us “manifestation,” and to explain the dualism of all existence and the relation of spirit-matter, are by no means the real explanation of the divine purpose; they are based on man’s own essential dualism; they are the highest explanation of his own divine nature which he can achieve at this time. This is a point to be remembered. They are his response to the second Ray of Mutual Attraction, which the Ray of Love-Wisdom is sometimes called. They are not an expression of his response to the Will of God, and only indicate the limitations of his definition of divine purpose. As you will note, they really define nothing. Nor can I help you to recognise this third aspect and the eternal purpose of the Lord of the World. Just as a soul seeks incarnation in order to carry forward some fixed design and to take one of the higher initiations, so Sanat Kumara came into incarnation through the medium of this planet in order to carry forward His fixed designs (known to Him as a cosmic Soul on cosmic mental levels), and to take one of the higher initiations which mark the Path of Initiation for these great informing Lives of planetary spheres. He could take this particular initiation through the experience to be gained in a vehicle constituted, expressive and at the special state of consciousness of our entire planetary manifestation. It required an instrument in which the cells and atoms of His body (all lives in all kingdoms), and the integrated organisms within that body (the various kingdoms of nature), were at the peculiar point in evolution at which they are all now to be found.
c. Mục đích chưa được nhận biết đã gợi lên hoạt động sáng tạo của Chân Linh Hành Tinh của chúng ta. Điều này đã đưa [242] phương diện thứ ba của Tam Vị thiêng liêng vào hoạt động. Những lý do thông thường do trí tuệ hữu hạn của con người đưa ra để giải thích điều mà chúng ta gọi là “biểu hiện,” và để cắt nghĩa tính nhị nguyên của mọi hiện hữu cùng mối liên hệ tinh thần-vật chất, tuyệt nhiên không phải là lời giải thích thực sự về mục đích thiêng liêng; chúng dựa trên chính tính nhị nguyên cốt yếu của con người; chúng là lời giải thích cao nhất về bản chất thiêng liêng của chính y mà hiện nay y có thể đạt tới. Đây là một điểm cần ghi nhớ. Chúng là sự đáp ứng của y đối với cung hai của Sự Hấp Dẫn Tương Hỗ, cung mà đôi khi Cung Bác Ái – Minh Triết được gọi như vậy. Chúng không phải là một biểu hiện của sự đáp ứng của y đối với Ý Chí của Thượng Đế, và chỉ cho thấy những giới hạn trong định nghĩa của y về mục đích thiêng liêng. Như bạn sẽ lưu ý, thật ra chúng không định nghĩa điều gì cả. Tôi cũng không thể giúp bạn nhận ra phương diện thứ ba này và mục đích vĩnh cửu của Đức Chúa Tể Thế Giới. Cũng như một linh hồn tìm cách nhập thể để xúc tiến một đồ án cố định nào đó và để nhận một trong các lần điểm đạo cao hơn, thì Đức Sanat Kumara đã đến lâm phàm qua trung gian hành tinh này để xúc tiến các đồ án cố định của Ngài (được Ngài biết như một linh hồn vũ trụ trên các cấp độ cõi trí vũ trụ), và để nhận một trong các lần điểm đạo cao hơn đánh dấu Con Đường Điểm Đạo đối với các Sự sống phú linh vĩ đại của các khối cầu hành tinh này. Ngài có thể nhận lần điểm đạo đặc biệt ấy qua kinh nghiệm đạt được trong một vận cụ được cấu thành, biểu lộ và ở trong trạng thái tâm thức đặc biệt của toàn bộ biểu hiện hành tinh của chúng ta. Điều đó đòi hỏi một công cụ trong đó các tế bào và nguyên tử của thể Ngài (mọi sự sống trong mọi giới), và các cơ thể tích hợp bên trong thể ấy (các giới khác nhau trong thiên nhiên), đều ở đúng điểm tiến hoá đặc thù mà hiện nay tất cả chúng đang ở.
That is as far as I may go in giving you a hint, and you can see from this that in order to grasp more and comprehend more of His divine purpose you also will have to be in preparation for that particular initiation which for you—on your tiny level of awareness of fixed design—is the microcosmic parallel of His cosmic intention. Which that initiation is I may not state. The only service which these hints can render (as to the sevenfold divine purpose and [243] the consideration of them) is to develop in you, the disciple, the power to think abstractly—a much needed capacity before you can begin to tread the Way of the Higher Evolution; for this the five initiations open to humanity (as today constituted) prepare the human spirit.
Đó là giới hạn tôi có thể đi tới khi gợi cho bạn một ám chỉ, và từ đó bạn có thể thấy rằng để nắm bắt nhiều hơn và thấu hiểu nhiều hơn về mục đích thiêng liêng của Ngài, chính bạn cũng sẽ phải được chuẩn bị cho lần điểm đạo đặc biệt ấy, là điều đối với bạn—trên cấp độ nhỏ bé của bạn về sự nhận biết đồ án cố định—là tương ứng vi mô của ý định vũ trụ của Ngài. Đó là lần điểm đạo nào thì tôi không thể nói. Sự phụng sự duy nhất mà các ám chỉ này có thể mang lại (về mục đích thiêng liêng thất phân và [243] việc suy xét chúng) là phát triển nơi bạn, người đệ tử, năng lực tư duy trừu tượng—một khả năng rất cần thiết trước khi bạn có thể bắt đầu bước đi trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu; năm lần điểm đạo mở ra cho nhân loại (như hiện nay được cấu thành) chuẩn bị tinh thần con người cho điều đó.
d. The mysterious purpose which has necessitated the calling into activity the Principle of Pain. Suffering and Pain are essential requirements in order to carry this purpose to completion. The capacity to suffer, which is distinctive of humanity, is the outstanding conscious reaction to environment of the fourth kingdom in nature, the human. It is related to the power to think and consciously to relate cause and effect. It is a process on the way to something undreamt of today. And when I say this, my brother, I mean just exactly that. This same ability to respond through pain is not to be found (in the sense in which the human being comprehends it) in any of the subhuman kingdoms, nor in the superhuman kingdoms, any more than it was found in the previous solar system or will be found in the next. It is related to an aspect of the creative intelligence, an aspect and characteristic peculiar to humanity.
d. Mục đích huyền nhiệm đã khiến phải gọi Nguyên khí Đau Khổ vào hoạt động. Đau khổ và thống khổ là những đòi hỏi thiết yếu để đưa mục đích này đến chỗ hoàn tất. Năng lực chịu đau khổ, vốn là nét đặc trưng của nhân loại, là phản ứng hữu thức nổi bật của giới thứ tư trong thiên nhiên, tức giới nhân loại, đối với môi trường. Nó liên hệ với năng lực tư duy và liên hệ một cách hữu thức giữa nguyên nhân và kết quả. Đó là một tiến trình đang dẫn đến một điều mà ngày nay chưa ai mơ tưởng tới. Và khi tôi nói điều này, Huynh đệ của Tôi, tôi có ý đúng chính xác như vậy. Cùng khả năng đáp ứng qua đau khổ này không thể tìm thấy (theo nghĩa mà con người hiểu) trong bất kỳ giới dưới nhân loại nào, cũng không trong các giới siêu nhân loại, cũng như nó đã không có trong hệ mặt trời trước và sẽ không có trong hệ mặt trời kế tiếp. Nó liên hệ với một phương diện của trí tuệ sáng tạo, một phương diện và đặc tính riêng biệt của nhân loại.
This aspect was not found in the previous solar system, in which the other aspects of the creative intelligence functioned. In this solar system, it has been developed and brought from latency to potency in connection with the substance of the human bodies through which the human soul is gaining experience. It holds the secret of beauty in manifestation, and its first expression can be seen in the creative perfection of certain phases of art for which man, and man alone, is responsible. No other kingdom in nature creates forms, produces colour and sounds in harmonious relation, except the human; all of this type of creative art is the result of aeons of conflict, pain and suffering. The Jews, as a product of the humanity of the previous solar system, and as constituting the incarnating residue from that solar system, have run the gamut of suffering and are in the forefront of the creative arts at this time, particularly [244] in group production such as certain of the great motion pictures and in the field of scientific discovery.
Phương diện này đã không có trong hệ mặt trời trước, nơi các phương diện khác của trí tuệ sáng tạo đã hoạt động. Trong hệ mặt trời này, nó đã được phát triển và được đưa từ trạng thái tiềm ẩn đến trạng thái hữu lực liên quan đến chất liệu của các thể người, qua đó linh hồn con người đang thu nhận kinh nghiệm. Nó nắm giữ bí mật của vẻ đẹp trong biểu hiện, và biểu hiện đầu tiên của nó có thể thấy trong sự hoàn hảo sáng tạo của một số giai đoạn nghệ thuật mà con người, và chỉ riêng con người, chịu trách nhiệm. Không một giới nào khác trong thiên nhiên sáng tạo hình tướng, tạo ra màu sắc và âm thanh trong mối liên hệ hài hòa, ngoại trừ con người; toàn bộ loại nghệ thuật sáng tạo này là kết quả của những đại kiếp xung đột, đau khổ và thống khổ. Người Do Thái, như một sản phẩm của nhân loại trong hệ mặt trời trước, và như phần cặn dư nhập thể từ hệ mặt trời ấy, đã trải qua toàn bộ cung bậc đau khổ và hiện đang ở hàng đầu trong các nghệ thuật sáng tạo vào lúc này, đặc biệt [244] trong sáng tạo nhóm như một số phim điện ảnh lớn và trong lĩnh vực khám phá khoa học.
There will be, as you can well see, a close relation between this fourth purpose of Sanat Kumara, the fourth kingdom in nature, the human, and the fourth Ray of Harmony through Conflict. It is the balanced relation of these three, consummated at the fourth initiation, which produces the full beauty of the creative fixed design of the individual soul, or—on a different level of initiatory process—of the fixed design of the universal soul of the Lord of the World. The fourth ray being temporarily out of full incarnation at this time is the reason for the relative interlude in the production of human creative art of a very high order. The cycle of suffering is nearing its close, and we shall later see—when the fourth ray again swings into full objective activity—a recurrence of the arts on a turn of the spiral far more exalted than any lately seen.
Như bạn có thể thấy rõ, sẽ có một mối liên hệ chặt chẽ giữa mục đích thứ tư này của Đức Sanat Kumara, giới thứ tư trong thiên nhiên là giới nhân loại, và Cung bốn của Hài Hòa qua Xung Đột. Chính mối liên hệ quân bình của ba yếu tố này, được hoàn tất ở lần điểm đạo thứ tư, tạo ra vẻ đẹp trọn vẹn của đồ án cố định sáng tạo của linh hồn cá nhân, hay—trên một cấp độ khác của tiến trình điểm đạo—của đồ án cố định của linh hồn vũ trụ của Đức Chúa Tể Thế Giới. Việc cung bốn hiện nay tạm thời chưa hoàn toàn lâm phàm là lý do của khoảng gián đoạn tương đối trong việc sản sinh nghệ thuật sáng tạo nhân loại ở một trật tự rất cao. Chu kỳ đau khổ đang gần kết thúc, và về sau chúng ta sẽ thấy—khi cung bốn lại chuyển vào hoạt động khách quan trọn vẹn—một sự tái xuất hiện của nghệ thuật trên một vòng xoắn ốc cao quý hơn nhiều so với bất cứ điều gì gần đây đã thấy.
e. The fifth great secret underlying the purpose of Sanat Kumara is related in a peculiar sense to the cyclic manifestation of all that is found in the three worlds of human evolution. It concerns that which is working slowly into manifestation through the medium of the lower concrete mind as it controls desire and brings substance and matter into conformity with the divine thought along this line. The sumtotal of the highest phases of human thinking along all lines, materially affects what appears on the physical plane in all the kingdoms of nature, what precipitates civilisations and cultures, and which expresses the best response at the moment of human sensitivity to cosmic impression.
e. Bí mật lớn thứ năm nằm bên dưới mục đích của Đức Sanat Kumara liên hệ theo một ý nghĩa đặc biệt với biểu hiện chu kỳ của mọi điều được tìm thấy trong ba cõi thấp của tiến hoá nhân loại. Nó liên quan đến điều đang từ từ đi vào biểu hiện qua trung gian của hạ trí cụ thể khi nó kiểm soát dục vọng và đưa chất liệu cùng vật chất vào sự phù hợp với tư tưởng thiêng liêng theo đường hướng này. Tổng thể các giai đoạn cao nhất của tư duy nhân loại trên mọi phương diện, về mặt vật chất, ảnh hưởng đến điều xuất hiện trên cõi hồng trần trong mọi giới của thiên nhiên, điều làm ngưng tụ các nền văn minh và văn hóa, và điều biểu lộ sự đáp ứng tốt nhất vào lúc này của tính nhạy cảm nhân loại đối với ấn tượng vũ trụ.
This is all that can be said as we attempt to sum up the fixed desire and the pattern or purpose of divine activity down the ages. We know it to be profoundly inadequate as yet to express or to produce in manifested form the beauty of that design and to create in conformity with God’s thought; but—age by age—the thinking capacity of man and his creative imagination have wrought out the slowly unfolding design, and will continue to do so; every [245] great world cycle sees the emergence of greater beauty, and sees the subtle effects of man’s thinking upon the subhuman kingdoms in nature steadily bringing the unknown to the surface, altering the nature of the flora and the fauna of the planet, and preparing the way for that time of wonder when the Hierarchy will again be exoterically directing the Plan upon the earth and aiding mankind to work with a fuller understanding of the divine design.
Đó là tất cả những gì có thể nói khi chúng ta cố gắng tổng kết dục vọng cố định và mô hình hay mục đích của hoạt động thiêng liêng qua các thời đại. Chúng ta biết rằng cho đến nay nó vẫn còn hết sức bất toàn để biểu lộ hay tạo ra trong hình tướng biểu hiện vẻ đẹp của đồ án ấy và để sáng tạo phù hợp với tư tưởng của Thượng đế; nhưng—qua từng thời đại—năng lực tư duy của con người và sự tưởng tượng sáng tạo của y đã triển khai đồ án đang từ từ khai mở ấy, và sẽ tiếp tục làm như vậy; mỗi [245] đại chu kỳ thế giới đều chứng kiến sự xuất hiện của vẻ đẹp lớn hơn, và chứng kiến những hiệu quả vi tế của tư duy con người trên các giới dưới nhân loại trong thiên nhiên đang đều đặn đưa điều chưa biết lên bề mặt, làm thay đổi bản chất của hệ thực vật và động vật của hành tinh, và chuẩn bị con đường cho thời kỳ kỳ diệu khi Thánh Đoàn sẽ lại trực tiếp chỉ đạo Thiên Cơ trên trái đất một cách ngoại môn và trợ giúp nhân loại làm việc với sự thấu hiểu đầy đủ hơn về đồ án thiêng liêng.
Here again is another reason for the changing plans of the Hierarchy. The Masters have to prepare Themselves for this intended and imminent emergence. They are faced with the necessity of changing Their techniques of work in order to meet adequately the demands upon Them. It is far easier for Them to work, as illumined Minds, upon the mental substance of Their disciples than it will be for Them to work down upon the physical plane, relating the minds and the brains of advanced human beings. People are apt to forget that with each forward advance of humanity, the demands upon the Hierarchy change, new needs must be met, new techniques used, new and experimental methods must be employed. As I write for disciples and initiates, I call this to their attention. Their work of mental training does not end as they attain certain spiritual initiatory goals.
Ở đây lại có thêm một lý do khác cho các kế hoạch thay đổi của Thánh Đoàn. Các Chân sư phải tự chuẩn bị cho sự xuất hiện đã được dự định và sắp xảy ra này. Các Ngài đang đối diện với sự cần thiết phải thay đổi các kỹ thuật làm việc của mình để đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi đặt lên Các Ngài. Đối với Các Ngài, làm việc như những Trí Tuệ được soi sáng trên chất liệu trí tuệ của các đệ tử của Các Ngài dễ hơn nhiều so với việc làm việc xuống trên cõi hồng trần, liên kết trí tuệ và bộ não của những người tiến bộ. Người ta thường quên rằng với mỗi bước tiến lên của nhân loại, những đòi hỏi đặt lên Thánh Đoàn đều thay đổi, những nhu cầu mới phải được đáp ứng, những kỹ thuật mới phải được sử dụng, những phương pháp mới và có tính thử nghiệm phải được áp dụng. Vì tôi đang viết cho các đệ tử và điểm đạo đồ, tôi lưu ý họ điều này. Công việc huấn luyện trí tuệ của họ không chấm dứt khi họ đạt đến một số mục tiêu điểm đạo tinh thần nào đó.
This fifth purpose is therefore closely related to the whole theme of “the garment of God” and to the emergence into manifestation of His “robe of beauty” as it is created and brought into being by humanity, acting as the medium for ideas from the superhuman kingdoms, and then influencing and swinging into creative cooperation the subhuman kingdoms.
Do đó mục đích thứ năm này liên hệ chặt chẽ với toàn bộ chủ đề về “y phục của Thượng đế” và với sự xuất hiện vào biểu hiện của “áo choàng mỹ lệ” của Ngài khi nó được nhân loại sáng tạo và đưa vào hiện hữu, hành động như trung gian cho các ý tưởng từ các giới siêu nhân loại, rồi ảnh hưởng và đưa các giới dưới nhân loại vào sự hợp tác sáng tạo.
f. It is difficult for me to give any idea whatsoever of the purpose with which we are now concerned, because it is expressed in the relation existing between the significance of Desire, Will, Plan and Purpose. All these words are symbols evolved by man in his attempt to grasp logoic purpose. He recognises the impulses of desire, and in the course of the evolutionary process learns to transmute them [246] into aspiration; he passes on to a vague groping forward in an effort to understand and acquiesce in the “will of God,” as he calls it; as long, however, as human approach to that will remains negative, submissive, and acquiescent (as it does under the influence of the theological approach and in the manner inculcated by the Churches), no real light on the nature of that Will will be seen. It is only as human beings enter into relation with the Hierarchy and are gradually absorbed into the hierarchical life and begin to take the higher initiations that the true nature of the divine Will will be grasped and the purpose of Sanat Kumara be revealed by an appreciation of the plan, followed by a consequent cooperation with that Plan.
f. Tôi khó có thể đưa ra bất kỳ ý niệm nào về mục đích mà hiện nay chúng ta đang xét đến, vì nó được biểu lộ trong mối liên hệ hiện hữu giữa ý nghĩa của Dục vọng, Ý chí, Thiên Cơ và Mục đích. Tất cả những từ này đều là những biểu tượng do con người phát triển trong nỗ lực nắm bắt mục đích logoi. Y nhận ra các xung lực của dục vọng, và trong tiến trình tiến hoá học cách chuyển hoá chúng [246] thành khát vọng; y tiến tới một sự dò dẫm mơ hồ trong nỗ lực thấu hiểu và thuận theo “ý chí của Thượng đế,” như y gọi vậy; tuy nhiên, chừng nào sự tiếp cận của con người đối với ý chí ấy còn mang tính tiêu cực, phục tùng và cam chịu (như dưới ảnh hưởng của lối tiếp cận thần học và theo cách được các Giáo hội truyền dạy), thì sẽ không thấy được ánh sáng thực sự nào về bản chất của Ý chí đó. Chỉ khi con người đi vào mối liên hệ với Thánh Đoàn và dần dần được hấp thụ vào đời sống của Thánh Đoàn và bắt đầu nhận các lần điểm đạo cao hơn thì bản chất đích thực của Ý Chí thiêng liêng mới được nắm bắt và mục đích của Đức Sanat Kumara mới được mặc khải qua sự đánh giá đúng Thiên Cơ, tiếp theo là sự hợp tác tương ứng với Thiên Cơ đó.
All this will be done through the transmutation of desire into aspiration, and then into fixed determination. When, however, the initiate has related these phases of consciousness in his own inner experience, and has permitted those inner realisations to affect his outer experience and daily living, then the underlying Purpose will shine forth and he will no longer be working in the dark. You see, my brother, that all that I can do in these abstruse matters is to indicate what you can do, as an individual, to fit yourself to grasp divine purpose, and thus see the divine design and patterns as they are in reality. Once you have taken the needed steps and complied with the requirements, the mystery disappears.
Tất cả điều này sẽ được thực hiện qua sự chuyển hoá dục vọng thành khát vọng, rồi thành quyết tâm cố định. Tuy nhiên, khi điểm đạo đồ đã liên hệ các giai đoạn tâm thức này trong kinh nghiệm nội tại của chính mình, và đã cho phép những chứng nghiệm nội tại ấy ảnh hưởng đến kinh nghiệm bên ngoài và đời sống hằng ngày của mình, thì Mục đích nền tảng sẽ tỏa sáng và y sẽ không còn làm việc trong bóng tối nữa. Bạn thấy đó, Huynh đệ của Tôi, rằng trong những vấn đề thâm áo này, tất cả những gì tôi có thể làm là chỉ ra điều bạn có thể làm, với tư cách một cá nhân, để tự thích nghi hầu nắm bắt mục đích thiêng liêng, và nhờ đó thấy được đồ án và mô hình thiêng liêng như chúng thực sự là. Một khi bạn đã thực hiện các bước cần thiết và đáp ứng các đòi hỏi, huyền nhiệm sẽ biến mất.
g. The final phase of the divine purpose is the most difficult of all to indicate, and when I say indicate, I mean exactly that, and nothing more definite and clear. Does it mean anything to you when I say that the ceremonial ritual of the daily life of Sanat Kumara, implemented by music and sound and carried on the waves of colour which break upon the shores of the three worlds of human evolution, reveal—in the clearest notes and tones and shades—the deepest secret behind His purpose? It scarcely makes sense to you and is dismissed as a piece of symbolic writing, used by me in order to convey the unconveyable. Yet I am not here writing in symbols, but am making an exact statement [247] of fact. As beauty in any of its greater forms breaks upon the human consciousness, a dim sense is thereby conveyed of the ritual of Sanat Kumara’s daily living. More I cannot say.
g. Giai đoạn cuối cùng của mục đích thiêng liêng là điều khó chỉ ra nhất trong tất cả, và khi tôi nói chỉ ra, tôi có ý đúng như vậy, chứ không gì xác định và rõ ràng hơn. Điều đó có nghĩa gì với bạn chăng khi tôi nói rằng nghi lễ huyền môn trong đời sống hằng ngày của Đức Sanat Kumara, được thực hiện bằng âm nhạc và âm thanh và được chuyên chở trên những làn sóng màu sắc đập vào bờ của ba cõi thấp của tiến hoá nhân loại, mặc khải—trong những nốt, âm và sắc thái rõ ràng nhất—bí mật sâu xa nhất nằm sau mục đích của Ngài? Điều đó hầu như không có nghĩa gì đối với bạn và bị gạt đi như một mẩu văn chương biểu tượng, được tôi dùng để chuyển đạt điều không thể chuyển đạt. Tuy nhiên, ở đây tôi không viết bằng biểu tượng, mà đang đưa ra một phát biểu chính xác [247] về sự kiện. Khi vẻ đẹp trong bất kỳ hình thức lớn lao nào của nó tràn vào tâm thức con người, một cảm nhận mờ nhạt nhờ đó được truyền đạt về nghi lễ trong đời sống hằng ngày của Đức Sanat Kumara. Tôi không thể nói thêm.
Here are hints, therefore, as to the divine purpose; each of the seven supplements and completes the other six. Only by attempting to grasp the whole inner synthesis will we arrive at the merest hint of the nature of that exalted consciousness which has brought our planet and all that is within and upon it into being.
Vậy đây là những ám chỉ về mục đích thiêng liêng; mỗi điều trong bảy điều này bổ sung và hoàn tất sáu điều kia. Chỉ bằng cách cố gắng nắm bắt toàn bộ sự tổng hợp nội tại, chúng ta mới đạt đến được ám chỉ mong manh nhất về bản chất của tâm thức siêu việt đã đưa hành tinh chúng ta và mọi điều ở trong và trên nó vào hiện hữu.
RULE THIRTEEN — QUY LUẬT MƯỜI BA
Let us now descend to thoughts more practical and within the range of comprehension, and consider the thirteenth rule somewhat in detail. It runs as follows:
Giờ đây chúng ta hãy đi xuống những tư tưởng thực tiễn hơn và nằm trong phạm vi thấu hiểu, và xét quy luật thứ mười ba với đôi chút chi tiết. Nó như sau:
Rule XIII.
Quy luật XIII.
Let the group get ready to reveal the hidden mystery. Let the group demonstrate the higher meaning of the lessons learnt, and these are four and yet are one. Let the group understand the Law of Synthesis, of unity and fusion; let the threefold mode of working with that which is dynamic carry the group together towards the Higher Three where the Will of God holds sway; let Transfiguration follow Transformation, and may Transmutation disappear. Let the O.M. be heard right at the center of the group, proclaiming God is All.
Hãy để nhóm chuẩn bị mặc khải huyền nhiệm ẩn giấu. Hãy để nhóm chứng minh ý nghĩa cao hơn của các bài học đã học, và chúng là bốn mà vẫn là một. Hãy để nhóm thấu hiểu Định luật Tổng Hợp, của hợp nhất và dung hợp; hãy để phương thức tam phân làm việc với điều năng động mang nhóm cùng nhau tiến về Bộ Ba Cao hơn nơi Ý Chí của Thượng Đế ngự trị; hãy để Biến hình theo sau Chuyển đổi, và cầu mong Chuyển hoá biến mất. Hãy để O.M. được nghe ngay tại trung tâm của nhóm, tuyên xưng Thượng đế là Tất Cả.
The key to the significance and the clue to the secret of this rule are to be found in the preparatory rule given to applicants in the earlier book (Initiation, Human and Solar). It is included here so that you can refer to it as you study its higher corresponding rule, as given to initiates and to advanced disciples
Chìa khóa cho ý nghĩa và đầu mối cho bí mật của quy luật này có thể tìm thấy trong quy luật chuẩn bị được trao cho các ứng viên trong cuốn sách trước đây (Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương). Nó được đưa vào đây để bạn có thể tham chiếu khi nghiên cứu quy luật tương ứng cao hơn của nó, như được trao cho các điểm đạo đồ và các đệ tử tiến bộ
Rule XIII. For Applicants. Four things the disciple must learn and comprehend before he can be shewn the inmost mystery: first, the laws of that which radiates; the five meanings of magnetisation make the second; the third is transmutation or the secret lost of alchemy; and lastly, the first letter of the Word which has been imparted, or the hidden name egoic.
Quy luật XIII. Dành cho các Ứng viên. Có bốn điều đệ tử phải học và thấu hiểu trước khi y có thể được chỉ cho huyền nhiệm thâm sâu nhất: thứ nhất, các định luật của điều phát xạ; năm ý nghĩa của sự từ điện tạo thành điều thứ hai; điều thứ ba là chuyển hoá hay bí mật đã mất của thuật luyện kim; và cuối cùng, chữ cái đầu tiên của Linh từ đã được truyền đạt, hay danh xưng ẩn giấu của chân ngã.
[248]
[248]
In this earlier rule, the disciple is told that before he can advance to the mysteries which will be revealed to him sequentially as he advances along the Path of Initiation, there are four things which he must “learn and comprehend.” These are:
Trong quy luật trước đây này, đệ tử được bảo rằng trước khi y có thể tiến vào các huyền nhiệm sẽ được mặc khải cho y tuần tự khi y tiến bước trên Con Đường Điểm Đạo, có bốn điều mà y phải “học và thấu hiểu.” Đó là:
1. The laws of that which radiates. 1 would call your attention to the fact that this does not refer to the Laws of Radiation. That which radiates comes under its own laws which are different to those which produced radiation. Students need to read with increasing care as they advance upon the occult way which leads to the Way of the Higher Evolution.
1. Các định luật của điều phát xạ. Tôi muốn lưu ý bạn đến sự kiện rằng điều này không nói đến các Định luật Phóng Xạ. Điều phát xạ nằm dưới các định luật riêng của nó, khác với những định luật đã tạo ra sự phóng xạ. Các đạo sinh cần đọc với sự cẩn trọng ngày càng tăng khi họ tiến trên con đường huyền bí dẫn đến Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.
2. He must study the five meanings of magnetisation. This refers to the five modes in which the Law of Magnetisation works; this is another name for the Law of Attraction.
2. Y phải nghiên cứu năm ý nghĩa của sự từ điện. Điều này nói đến năm phương thức mà Định luật Từ Điện vận hành; đây là một tên gọi khác của Định luật Hấp Dẫn.
3. He must comprehend what transmutation is and in which consists the secret art (now lost along with the Lost Word) of Alchemy. Esoterically speaking, transmutation is the mode whereby force is transmuted or changed into energy. This means (where a disciple is concerned) the transmutation or changing or stepping up of personality force into egoic energy.
3. Y phải thấu hiểu chuyển hoá là gì và bí nghệ (nay đã mất cùng với Linh từ Thất Truyền) của Thuật luyện kim hệ tại ở đâu. Nói theo huyền bí học, chuyển hoá là phương thức nhờ đó mãnh lực được chuyển hoá hay biến đổi thành năng lượng. Điều này có nghĩa (khi liên quan đến một đệ tử) là sự chuyển hoá hay biến đổi hay nâng cao mãnh lực phàm ngã thành năng lượng chân ngã.
4. He must know the “hidden name egoic” or the first letter of the imparted Word. Two things should be noted here. The “Word” here does not refer to the Sacred Word but to the name of the planetary Logos, the hidden name of Sanat Kumara Who is the soul of the world in all its phases, the manifesting Ego of the Logos on the cosmic mental plane. Only the first letter of that “ineffable name” is permitted expression to initiates until the fourth initiation. You will see, therefore, how vast a field this instruction on Rule XIII covers.
4. Y phải biết “danh xưng ẩn giấu của chân ngã” hay chữ cái đầu tiên của Linh từ đã được truyền đạt. Ở đây cần lưu ý hai điều. “Linh từ” ở đây không nói đến Linh từ Thiêng liêng mà nói đến danh xưng của Hành Tinh Thượng đế, danh xưng ẩn giấu của Đức Sanat Kumara, Đấng là linh hồn của thế giới trong mọi giai đoạn của nó, Chân ngã biểu hiện của Logos trên cõi trí vũ trụ. Chỉ chữ cái đầu tiên của “danh xưng bất khả ngôn” đó mới được phép biểu lộ cho các điểm đạo đồ cho đến lần điểm đạo thứ tư. Vì vậy bạn sẽ thấy phạm vi bao la mà huấn thị về Quy luật XIII này bao trùm.
The higher correspondences of these four requirements are expressed in the following terms:
Các tương ứng cao hơn của bốn đòi hỏi này được biểu lộ trong các thuật ngữ sau:
1. Let the group understand the Law of Synthesis. (This is the law which governs the thinking of those great Lives Who form the Council of Sanat Kumara in Shamballa.) [249]
1. Hãy để nhóm thấu hiểu Định luật Tổng Hợp. (Đây là định luật chi phối tư duy của những Sự Sống vĩ đại tạo thành Hội Đồng của Đức Sanat Kumara tại Shamballa.) [249]
2. Let the threefold mode of working with that which is dynamic carry the group together towards the Higher Three where the Will of God holds sway.
2. Hãy để phương thức tam phân làm việc với điều năng động mang nhóm cùng nhau tiến về Bộ Ba Cao hơn nơi Ý Chí của Thượng Đế ngự trị.
3. Let Transfiguration follow Transformation and may Transmutation disappear.
3. Hãy để Biến hình theo sau Chuyển đổi và cầu mong Chuyển hoá biến mất.
4. Let the O.M. be heard right at the centre of the group, proclaiming God is All.
4. Hãy để O.M. được nghe ngay tại trung tâm của nhóm, tuyên xưng Thượng đế là Tất Cả.
You can gather from the above what a tremendous field of esoteric truth is here covered and how abstruse to the average occult student is the theme. Again I would remind you that the real significance will only be perceived by the trained initiate and that what I say here must necessarily be veiled and even meaningless to the non-initiate, even whilst radiantly clear to those who truly know. Again, I would remind you that I write this particular section of A Treatise on the Seven Rays entirely for initiates, and that aspirants who have not taken initiation cannot understand or duly appreciate the inner meaning of these fourteen rules. In this fact lies no reason for discouragement, nor is there any suggestion that those with initiate consciousness should endeavour to explain, even if—through compassion or from the desire to stimulate approach to the Mysteries—they desired to do so. No true initiate would be so tempted, for he would realise that it would not only be impossible but also that there is a vital necessity for the disciple to work out significances and meanings through the medium of his own life experiment and to arrive at understanding through direct experience. Then no questioning can ever arise and sure knowledge takes its place. There are no questions of any kind in the consciousness of those who form the Hierarchy. The lower analytical concrete mind which questions and separates this from that has been completely controlled and superseded; response to indicated group activity takes place. Students need to realise more concretely that group consciousness, universal awareness, and therefore synthetic effort, synthetic understanding and synthetic activity are possible to a Master or an initiate of the higher degrees. That involves the keynote of this solar [250] system, particularly within this planet, the Earth; it will be succeeded in the next solar system by a type of life activity which is as yet only known in Shamballa.
Từ những điều trên bạn có thể nhận ra ở đây bao trùm một lĩnh vực chân lý huyền bí to lớn đến mức nào và chủ đề này thâm áo ra sao đối với đạo sinh huyền bí học trung bình. Một lần nữa tôi xin nhắc bạn rằng ý nghĩa thực sự chỉ được điểm đạo đồ lão luyện nhận biết, và những gì tôi nói ở đây tất nhiên phải được che phủ và thậm chí vô nghĩa đối với người chưa được điểm đạo, dù lại sáng tỏ rực rỡ đối với những ai thực sự biết. Một lần nữa, tôi xin nhắc bạn rằng tôi viết phần đặc biệt này của Luận về Bảy Cung hoàn toàn cho các điểm đạo đồ, và rằng những người chí nguyện chưa nhận điểm đạo không thể thấu hiểu hay đánh giá đúng ý nghĩa nội tại của mười bốn quy luật này. Trong sự kiện này không có lý do gì để nản lòng, cũng không có gợi ý nào rằng những người có tâm thức điểm đạo nên cố giải thích, ngay cả nếu—vì lòng từ bi hay vì mong muốn kích thích sự tiếp cận các Huyền Nhiệm—họ muốn làm như vậy. Không một điểm đạo đồ chân chính nào bị cám dỗ như thế, vì y sẽ nhận ra rằng điều đó không những là bất khả mà còn vì có một nhu cầu thiết yếu là đệ tử phải tự mình khai triển các thâm nghĩa và ý nghĩa qua trung gian của thí nghiệm đời sống riêng của mình và đi đến thấu hiểu qua kinh nghiệm trực tiếp. Khi đó sẽ không còn câu hỏi nào có thể nảy sinh nữa và tri thức chắc chắn sẽ thay thế. Không có bất kỳ câu hỏi nào trong tâm thức của những Đấng tạo thành Thánh Đoàn. Hạ trí cụ thể phân tích, vốn đặt câu hỏi và tách điều này khỏi điều kia, đã hoàn toàn được kiểm soát và thay thế; sự đáp ứng đối với hoạt động nhóm đã được chỉ định sẽ diễn ra. Các đạo sinh cần nhận ra một cách cụ thể hơn rằng tâm thức nhóm, nhận biết phổ quát, và do đó nỗ lực tổng hợp, thấu hiểu tổng hợp và hoạt động tổng hợp là điều có thể có đối với một Chân sư hay một điểm đạo đồ của các cấp cao hơn. Điều đó bao hàm chủ âm của hệ mặt trời này, đặc biệt trong hành tinh này là Trái Đất; trong hệ mặt trời kế tiếp, nó sẽ được tiếp nối bằng một loại hoạt động sự sống mà hiện nay chỉ được biết tại Shamballa.
Here I should like to pause a moment and interpolate some remarks.
Ở đây tôi muốn dừng lại một lát và xen vào vài nhận xét.
There are certain phases of teaching and knowledge which I have given to the world which are relatively new—new to the modern esotericist and occult student though not new to disciples and initiates. It might be useful here if I mentioned one or two of these new aspects of the fundamental Truth which have been given by me to the public. If these new phases of the teaching have been later given to the public by other occult groups, it will have been because the information was gained by those who have read the books put out by A.A.B. for me or who are directly and consciously in touch with my Ashram.
Có một số giai đoạn giáo huấn và tri thức mà tôi đã trao cho thế giới là tương đối mới—mới đối với nhà bí truyền học và đạo sinh huyền bí học hiện đại, dù không mới đối với các đệ tử và điểm đạo đồ. Ở đây sẽ hữu ích nếu tôi nêu ra một hay hai trong số những phương diện mới này của Chân Lý nền tảng mà tôi đã trao cho công chúng. Nếu những giai đoạn mới này của giáo huấn về sau đã được các nhóm huyền bí học khác trao cho công chúng, thì đó là vì thông tin ấy đã được tiếp nhận bởi những người đã đọc các sách do A.A.B. xuất bản cho tôi hoặc những người trực tiếp và hữu thức liên lạc với ashram của tôi.
An instance of this is that book by C. W. Leadbeater on “The Masters and the Path” which was published later than my book, Initiation, Human and Solar. If the dates of any given teaching are compared with that given by me, it will appear to be of a later date than mine. I say this with no possible interest in any controversy among occult groups or the interested public, but as a simple statement of fact and as a protection to this particular work of the Hierarchy. I would remind you that the instructions given by me as, for instance, those in A Treatise on White Magic and A Treatise on the Seven Rays were given sequentially over a period of years, antedating the publishing of the books. The same time factor prevailed in the publishing of the earlier books. All my books were written over a long period of years, prior to publishing. All that appears of the same type of information over other signatures harks back to these books. Even if denied by their writers, a comparison of the dates of publishing with the original dates of issuing the instructions (in the form of monthly sets for reading and study in the Arcane School) or with the books published before the formation in 1925 of the Disciples [251] Degree of the Arcane School will prove this conclusively. Bear in mind this factor of timing. A.A.B. takes down to my dictation an average of seven to twelve pages of typing (single-spaced) each time she writes for me; but owing to the exigencies of my work I cannot dictate to her every day, though I have found that she would gladly take my dictation daily if I so desired; weeks sometimes elapse between one dictation and another. I write the above paragraphs for the protection of the hierarchical work in years to come and not for the protection of A.A.B. or myself....
Một ví dụ về điều này là cuốn sách của C. W. Leadbeater về “Các Chân sư và Con Đường” được xuất bản sau cuốn sách của tôi, Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương. Nếu so sánh niên đại của bất kỳ giáo huấn nào với giáo huấn do tôi đưa ra, người ta sẽ thấy nó có niên đại muộn hơn của tôi. Tôi nói điều này không phải vì có bất kỳ quan tâm nào đến tranh luận giữa các nhóm huyền bí học hay công chúng quan tâm, mà như một phát biểu đơn giản về sự kiện và như một sự bảo vệ cho công trình đặc biệt này của Thánh Đoàn. Tôi xin nhắc bạn rằng các huấn thị do tôi đưa ra, chẳng hạn như những huấn thị trong Luận về Chánh Thuật và Luận về Bảy Cung đã được trao tuần tự trong một thời kỳ nhiều năm, có trước việc xuất bản sách. Yếu tố thời gian tương tự cũng chi phối việc xuất bản các sách trước đó. Tất cả các sách của tôi đều được viết trong một thời gian dài nhiều năm trước khi xuất bản. Mọi điều xuất hiện cùng loại thông tin dưới các chữ ký khác đều bắt nguồn từ các sách này. Dù các tác giả của chúng có phủ nhận đi nữa, việc so sánh ngày xuất bản với ngày nguyên thủy phát hành các huấn thị (dưới hình thức các bộ bài đọc và nghiên cứu hằng tháng trong Trường Arcane) hoặc với các sách được xuất bản trước khi thành lập vào năm 1925 cấp Địa vị Đệ tử [251] của Trường Arcane sẽ chứng minh điều này một cách dứt khoát. Hãy ghi nhớ yếu tố thời gian này. A.A.B. ghi lại theo lời đọc của tôi trung bình từ bảy đến mười hai trang đánh máy (cách dòng đơn) mỗi lần bà viết cho tôi; nhưng do những đòi hỏi trong công việc của tôi, tôi không thể đọc cho bà mỗi ngày, mặc dù tôi nhận thấy bà sẵn lòng ghi lời đọc của tôi hằng ngày nếu tôi muốn như vậy; đôi khi nhiều tuần trôi qua giữa lần đọc này và lần đọc khác. Tôi viết các đoạn trên để bảo vệ công việc của Thánh Đoàn trong những năm sắp tới chứ không phải để bảo vệ A.A.B. hay chính tôi....
What are some of these newer truths for which I am responsible as transmitting agent to the world of occult students? Let me briefly state them in the order of their relative importance:
Một số chân lý mới hơn mà tôi chịu trách nhiệm với tư cách tác nhân truyền đạt cho thế giới các đạo sinh huyền bí học là gì? Tôi xin vắn tắt nêu ra chúng theo thứ tự tầm quan trọng tương đối của chúng:
1. The Teaching on Shamballa. Little has ever been given on this subject. Only the name was known. This teaching includes:
1. Giáo huấn về Shamballa. Rất ít điều từng được trao về chủ đề này. Chỉ có danh xưng là được biết. Giáo huấn này bao gồm:
a. Information as to the nature of the will aspect.
a. Thông tin về bản chất của phương diện ý chí.
b. Indications as to the underlying purposes of Sanat Kumara.
b. Những chỉ dẫn về các mục đích nền tảng của Đức Sanat Kumara.
c. Directions as to the building of the antahkarana, which is the first step towards achieving monadic consciousness, and thus the first step towards the Way of the Higher Evolution.
c. Những chỉ dẫn về việc xây dựng antahkarana, là bước đầu tiên hướng tới việc đạt được tâm thức chân thần, và như thế là bước đầu tiên hướng tới Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.
2. The Teaching on the New Discipleship. This has been revolutionary where the older schools of occultism are concerned. The teaching includes:
2. Giáo huấn về Địa vị đệ tử Mới. Điều này đã mang tính cách mạng đối với các trường huyền bí học cũ. Giáo huấn bao gồm:
a. A presentation of the new attitude of the Masters to Their disciples, due to the rapid unfoldment of the mind principle and the growth of the principle of “free will.” This changed technique negates the old attitudes, such as that portrayed in the Theosophical literature, and it was a recognition of the difficulties of correcting the wrong impression given which prompted H.P.B. in one of her communications to the Esoteric Section of her day, to regret ever having mentioned Their names. That earlier presentation was useful but has now served [252] its purpose. Unless the schools based on the old methods change their techniques and their approach to truth, they will disappear.
a. Một sự trình bày về thái độ mới của các Chân sư đối với các đệ tử của Các Ngài, do sự khai mở nhanh chóng của nguyên khí trí tuệ và sự tăng trưởng của nguyên khí “ý chí tự do.” Kỹ thuật đã thay đổi này phủ nhận các thái độ cũ, như được mô tả trong văn liệu Thông Thiên Học, và chính sự nhận ra những khó khăn trong việc sửa chữa ấn tượng sai lầm đã được đưa ra đã khiến H.P.B. trong một thông điệp gửi Phân ban Nội môn thời của bà phải lấy làm tiếc vì đã từng nhắc đến danh xưng của Các Ngài. Sự trình bày trước đây ấy đã hữu ích nhưng nay đã hoàn thành [252] mục đích của nó. Trừ phi các trường phái dựa trên các phương pháp cũ thay đổi kỹ thuật và cách tiếp cận chân lý của họ, chúng sẽ biến mất.
b. Information as to the constitution of the Hierarchy and of the various Ashrams of which it is composed. I have presented the Hierarchy as the Ashram of Sanat Kumara in its sevenfold form, thus linking will and love.
b. Thông tin về cấu trúc của Thánh Đoàn và các ashram khác nhau hợp thành nó. Tôi đã trình bày Thánh Đoàn như ashram của Đức Sanat Kumara trong hình thức thất phân của nó, nhờ đó nối kết ý chí và bác ái.
c. A presentation of the newer type of meditations, with its emphasis upon visualisation and the use of the creative imagination; I have presented a system of meditation which has eliminated the attention paid hitherto to personal problems and the intense earlier focus on the relation of the disciple and the Master. The keynote of group fusion and of service underlies the newer form of meditation, and not this powerful emphasis upon the personal relation of the disciple to the Master and the achievement of the individual aspirant. This was degenerating into a form of spiritual selfishness and separateness.
c. Một sự trình bày về loại tham thiền mới hơn, với sự nhấn mạnh vào sự hình dung và việc sử dụng sự tưởng tượng sáng tạo; tôi đã trình bày một hệ thống tham thiền đã loại bỏ sự chú ý trước đây dành cho các vấn đề cá nhân và sự tập trung mãnh liệt trước kia vào mối liên hệ giữa đệ tử và Chân sư. Chủ âm của sự dung hợp nhóm và của phụng sự nằm bên dưới hình thức tham thiền mới hơn, chứ không phải sự nhấn mạnh mạnh mẽ này vào mối liên hệ cá nhân của đệ tử với Chân sư và thành tựu của người chí nguyện cá nhân. Điều này đã thoái hóa thành một hình thức ích kỷ tinh thần và biệt lập.
3. The Teaching on the Seven Rays. The fact of the seven rays was well known to the heads of the Theosophical Society, was mentioned very abstractly and vaguely in The Secret Doctrine, and formed in an elementary form some of the teaching given in the Esoteric Section; the names of the rays were given, and some information as to their qualities, and the Masters on the rays, was imparted but not much else. I have given out much information upon the subject and have endeavoured to show the importance of this teaching from the psychological angle, because the new psychology is in the making. If esoteric teaching is eventually to be public in its presentation, it will be given out along the lines of psychology because esoteric teaching in its fullest and deepest sense concerns the consciousness aspect of man and God.
3. Giáo huấn về Bảy Cung. Sự kiện về bảy cung đã được những người đứng đầu Hội Thông Thiên Học biết rõ, đã được nhắc đến rất trừu tượng và mơ hồ trong Giáo Lý Bí Nhiệm, và dưới hình thức sơ đẳng đã tạo thành một phần giáo huấn được trao trong Phân ban Nội môn; các danh xưng của các cung đã được đưa ra, cùng một số thông tin về phẩm tính của chúng và các Chân sư trên các cung, nhưng ngoài ra không nhiều. Tôi đã đưa ra nhiều thông tin về chủ đề này và đã cố gắng cho thấy tầm quan trọng của giáo huấn này từ góc độ tâm lý học, bởi vì nền tâm lý học mới đang được hình thành. Nếu giáo huấn huyền bí rốt cuộc được trình bày công khai, nó sẽ được đưa ra theo các đường hướng của tâm lý học bởi vì giáo huấn huyền bí theo ý nghĩa đầy đủ và sâu xa nhất của nó liên quan đến phương diện tâm thức của con người và Thượng đế.
4. The Teaching on the new Astrology. This teaching too has gone out to a few hundred students before its publication in book form. This new astrology has been hitherto [253] ignored by those astrologers who have read it and (with the exception of four astrologers who have deeply appreciated it but who wish I would be more explicit) see little in it. I have given enough, could the open-minded astrologer but realise, to establish the coming astrology on a firm basis; the accuracy of what I have given will in the course of time he ascertained when astrologers who are dealing with the horoscopes of advanced people and disciples will use the esoteric planets as given by me, and not the orthodox planets as usually used. The accuracy of their deductions will necessarily depend upon their own point of development and also upon their ability to recognise an advanced person, a disciple or an initiate when they meet him and undertake to cast his horoscope. If they are themselves advanced disciples, they may have a tendency to set too rigid a standard for those seeking astrological deduction, and thus fail to recognise a disciple; if they are not advanced, they may regard people as advanced who are far from being even true aspirants. In either case then the horoscope may prove inaccurate. It is of no use to use the esoteric planets in relation to the average man.
4. Giáo huấn về Chiêm tinh học mới. Giáo huấn này cũng đã được trao cho vài trăm đạo sinh trước khi được xuất bản thành sách. Chiêm tinh học mới này cho đến nay đã bị [253] các nhà chiêm tinh học đã đọc nó phớt lờ và (ngoại trừ bốn nhà chiêm tinh học đã đánh giá sâu sắc nó nhưng mong tôi nói rõ hơn) thấy rất ít điều trong đó. Tôi đã đưa ra đủ, nếu nhà chiêm tinh học cởi mở có thể nhận ra, để thiết lập nền chiêm tinh học sắp đến trên một cơ sở vững chắc; tính chính xác của điều tôi đã đưa ra theo thời gian sẽ được xác nhận khi các nhà chiêm tinh học đang xử lý các lá số chiêm tinh của những người tiến bộ và các đệ tử sẽ dùng các hành tinh nội môn như tôi đã nêu, chứ không dùng các hành tinh chính thống như thường được dùng. Tính chính xác của các suy luận của họ tất nhiên sẽ tùy thuộc vào chính điểm phát triển của họ và cũng vào khả năng của họ nhận ra một người tiến bộ, một đệ tử hay một điểm đạo đồ khi họ gặp y và đảm nhận việc lập lá số chiêm tinh của y. Nếu chính họ là các đệ tử tiến bộ, họ có thể có khuynh hướng đặt ra một tiêu chuẩn quá cứng nhắc cho những người tìm kiếm sự suy luận chiêm tinh, và như thế không nhận ra một đệ tử; nếu họ không tiến bộ, họ có thể xem những người là tiến bộ trong khi họ còn xa mới là những người chí nguyện chân chính. Trong cả hai trường hợp, lá số chiêm tinh khi ấy có thể tỏ ra không chính xác. Dùng các hành tinh nội môn trong liên hệ với người trung bình là vô ích.
5. Information about the New Group of World Servers and their work. This information includes
5. Thông tin về Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và công việc của họ. Thông tin này bao gồm
a. The recognition of this group as intermediate between the Hierarchy and Humanity.
a. Sự nhìn nhận nhóm này như trung gian giữa Thánh Đoàn và Nhân Loại.
b. The nature of their work as it influences the human soul and as it seeks through the instrumentality of the men and women of goodwill to determine the period in which we live.
b. Bản chất công việc của họ khi nó ảnh hưởng đến linh hồn con người và khi nó tìm cách, qua công cụ là những người nam và nữ thiện chí, tác động lên thời kỳ mà chúng ta đang sống.
c. The Triangle work which embodies two phases of their work, i.e., the forming of the network of light as the channel of communication between the Hierarchy and Humanity, and the forming simultaneously of the network of goodwill, which is the objective expression of the subjective influence of light. Ponder on this statement.
c. Công việc Tam Giác hiện thân cho hai giai đoạn công việc của họ, tức là việc hình thành mạng lưới ánh sáng như kênh giao tiếp giữa Thánh Đoàn và Nhân Loại, đồng thời hình thành mạng lưới thiện chí, là biểu hiện khách quan của ảnh hưởng chủ quan của ánh sáng. Hãy suy ngẫm về phát biểu này.
6. The attempt to form an exoteric branch of the inner Ashrams. This is evidenced in the work I have done with a [254] special group of aspirants and accepted disciples whose instructions, emanating from my Ashram, have been embodied in the book Discipleship in the New Age (Vols. I and II).
6. Nỗ lực hình thành một phân nhánh ngoại môn của các ashram nội tại. Điều này được chứng minh trong công việc tôi đã làm với một [254] nhóm đặc biệt gồm những người chí nguyện và các đệ tử được chấp nhận mà các huấn thị của họ, phát ra từ ashram của tôi, đã được thể hiện trong cuốn sách Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới (Tập I và II).
7. Teaching upon the new world religion, with its emphasis upon the three major Full Moon periods (Aries, Taurus, Gemini, falling usually in April, May and June respectively) and the nine (occasionally ten) minor Full Moons each year. This leads to a consequent relation being established between the work of the Christ and of the Buddha in the minds of spiritually inclined people everywhere, with the result of a great broadening of the human aspiration. This work is as yet embryonic, but it should receive increasing attention. Eventually it will demonstrate as the main linking unit between the East and the West, particularly if Shri Krishna is shown to be an earlier incarnation of the Lord of Love, the Christ. Thereby three major world religions—the Christian, the Hindu and the Buddhist—will be intimately related, whilst the Mahommedan faith will be found to be linked to the Christian faith because it embodies the work of the Master Jesus as He overshadowed one of His senior disciples, a very advanced initiate, Mahomet.
7. Giáo huấn về tôn giáo thế giới mới, với sự nhấn mạnh vào ba kỳ Trăng Tròn lớn (Bạch Dương, Kim Ngưu, Song Tử, thường rơi vào tháng Tư, tháng Năm và tháng Sáu tương ứng) và chín (đôi khi mười) kỳ Trăng Tròn nhỏ mỗi năm. Điều này dẫn đến việc thiết lập một mối liên hệ tương ứng giữa công việc của Đức Christ và của Đức Phật trong tâm trí của những người có khuynh hướng tinh thần ở khắp nơi, với kết quả là sự mở rộng lớn lao của khát vọng nhân loại. Công việc này hiện vẫn còn ở dạng phôi thai, nhưng cần được chú ý ngày càng nhiều. Cuối cùng nó sẽ chứng tỏ là đơn vị liên kết chính giữa Đông và Tây, đặc biệt nếu Shri Krishna được chỉ ra là một lần nhập thể trước đây của Chúa Tể của Bác Ái, Đức Christ. Nhờ đó ba tôn giáo lớn của thế giới—Kitô giáo, Ấn giáo và Phật giáo—sẽ được liên hệ mật thiết, trong khi đức tin Hồi giáo sẽ được thấy là gắn với đức tin Kitô giáo vì nó hiện thân cho công việc của Đức Jesus khi Ngài phủ bóng một trong các đệ tử cao cấp của Ngài, một điểm đạo đồ rất tiến bộ là Mahomet.
A close study of all the above will indicate to you the lines along which I would like to see the work expand in future years. I would ask for a careful study of these words, for I regard this as an important instruction and one which could be regarded as the skeleton outline of the work I wish to see done. It will involve an intensification of the work of the advanced section in the Arcane School, a greater emphasis upon the Full Moon meetings, a careful organisation of the Triangle work and the Goodwill work as an added effort to aid the work of the New Group of World Servers, plus an attempt to recognise the members of the New Group whenever and wherever contacted. This will not be at all an easy task, my brothers, if you look only for those who think and work your way, or who recognise the Hierarchy as you recognise it, or if you exclude those who labour in relation to religious and other fields in a manner different [255] to yours. Forget not, as an instance of this, that the great Labour Movement in the world was initiated by one of the Masters and is implemented from His Ashram at this time.
Một sự nghiên cứu kỹ lưỡng tất cả những điều trên sẽ chỉ cho bạn các đường hướng mà theo đó tôi muốn thấy công việc được mở rộng trong những năm tương lai. Tôi xin yêu cầu nghiên cứu cẩn thận những lời này, vì tôi xem đây là một huấn thị quan trọng và có thể được coi như dàn khung xương của công việc mà tôi muốn thấy được thực hiện. Điều đó sẽ bao hàm sự tăng cường công việc của phân ban cao cấp trong Trường Arcane, sự nhấn mạnh lớn hơn vào các cuộc họp Trăng Tròn, một sự tổ chức cẩn thận công việc Tam Giác và công việc Thiện chí như một nỗ lực bổ sung để trợ giúp công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, cộng với một nỗ lực nhận ra các thành viên của Đoàn Người Mới bất cứ khi nào và ở đâu tiếp xúc được. Điều này sẽ hoàn toàn không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, Các Huynh đệ của Tôi, nếu các bạn chỉ tìm những người suy nghĩ và làm việc theo cách của các bạn, hoặc những người nhìn nhận Thánh Đoàn như các bạn nhìn nhận, hoặc nếu các bạn loại trừ những người lao động trong các lĩnh vực tôn giáo và các lĩnh vực khác theo một cách khác [255] với cách của các bạn. Chớ quên, như một ví dụ về điều này, rằng phong trào Lao động lớn trên thế giới đã được một trong các Chân sư khởi xướng và hiện đang được thực hiện từ ashram của Ngài.
We come now to a detailed analysis of Rule XIII. In the foregoing pages I gave you certain broad principles and outlined a new aspect of the work which I had undertaken to do for humanity—under instruction from the Hierarchy. The teaching I gave there is very abstruse; little of it can as yet be of real service to the majority of aspirants but a wide and general idea can take form and provide the immovable background for later teaching. I would have you remember that the teaching which I have given out has been intermediate in nature, just as that given by H.P.B., under my instruction, was preparatory. The teaching planned by the Hierarchy to precede and condition the New Age, the Aquarian Age, falls into three categories:
Giờ đây chúng ta đi đến một phân tích chi tiết Quy luật XIII. Trong các trang trước tôi đã trao cho bạn một số nguyên lý rộng lớn và phác họa một phương diện mới của công việc mà tôi đã đảm nhận thực hiện cho nhân loại—dưới sự chỉ dẫn của Thánh Đoàn. Giáo huấn tôi đã trao ở đó rất thâm áo; cho đến nay rất ít điều trong đó có thể thực sự hữu ích cho đa số người chí nguyện, nhưng một ý niệm rộng và tổng quát có thể thành hình và cung cấp bối cảnh bất lay chuyển cho giáo huấn về sau. Tôi muốn bạn nhớ rằng giáo huấn tôi đã đưa ra có tính chất trung gian, cũng như giáo huấn do H.P.B. trao ra, dưới sự chỉ dẫn của tôi, có tính chất chuẩn bị. Giáo huấn do Thánh Đoàn hoạch định để đi trước và tác động lên Kỷ Nguyên Mới, Kỷ Nguyên Bảo Bình, thuộc vào ba loại:
1. Preparatory, given 1875-1890... written down by H.P.B.
1. Chuẩn bị, được trao 1875-1890... do H.P.B. ghi lại.
2. Intermediate, given 1919-1949... written down by A.A.B.
2. Trung gian, được trao 1919-1949... do A.A.B. ghi lại.
3. Revelatory, emerging after 1975... to be given on a worldwide scale via the radio.
3. Mặc khải, xuất hiện sau 1975... sẽ được trao trên quy mô toàn thế giới qua radio.
In the next century and early in the century an initiate will appear and will carry on this teaching. It will be under the same “impression,” for my task is not yet completed and this series of bridging treatises between the material knowledge of man and the science of the initiates has still another phase to run. The remainder of this century, as I told you elsewhere (Destiny of the Nations, page 106), must be dedicated to rebuilding the shrine of man’s living, to reconstructing the form of humanity’s life, to reconstituting the new civilisation upon the foundations of the old, and to the reorganising of the structures of world thought, world politics, plus the redistribution of the world’s resources in conformity to divine purpose. Then and only then will it be possible to carry the revelation further.
Trong thế kỷ tới và vào đầu thế kỷ, một điểm đạo đồ sẽ xuất hiện và sẽ tiếp tục giáo huấn này. Điều đó sẽ dưới cùng một “ấn tượng,” vì nhiệm vụ của tôi vẫn chưa hoàn tất và loạt luận thuyết bắt cầu này giữa tri thức vật chất của con người và khoa học của các điểm đạo đồ vẫn còn một giai đoạn nữa phải diễn ra. Phần còn lại của thế kỷ này, như tôi đã nói với bạn ở nơi khác (Vận Mệnh của Các Quốc Gia, trang 106), phải được hiến dâng cho việc tái thiết đền thờ của đời sống con người, cho việc tái cấu trúc hình thức của đời sống nhân loại, cho việc tái lập nền văn minh mới trên các nền tảng của nền văn minh cũ, và cho việc tái tổ chức các cấu trúc của tư tưởng thế giới, chính trị thế giới, cộng với việc tái phân phối các tài nguyên của thế giới phù hợp với mục đích thiêng liêng. Khi đó và chỉ khi đó mới có thể đưa sự mặc khải đi xa hơn.
It is with the above indicated sequence in mind that I [256] come to the analysis of the sentences in Rule XIII, beginning with the first:
Chính với trình tự đã được chỉ ra ở trên trong tâm trí mà tôi [256] đi đến việc phân tích các câu trong Quy luật XIII, bắt đầu với câu thứ nhất:
1. Let the group get ready to reveal the hidden mystery.
1. Hãy để nhóm chuẩn bị mặc khải huyền nhiệm ẩn giấu.
The readiness here referred to has nothing to do with personal preparedness or with the group unity which I have so often emphasised. It does not refer to individual purity or consecration or to mental development or to group relationships, as they work out in harmony and understanding. I am considering something far different to all these factors which are regarded as automatic and necessarily present. I refer to that which is the result of all of them, just as they in their turn are the result of soul contact. I refer to effects wrought out in the group owing to the present and factual nature of the monadic control which is taking place increasingly.
Sự sẵn sàng được nói đến ở đây không liên quan gì đến sự chuẩn bị cá nhân hay đến sự hợp nhất nhóm mà tôi đã thường nhấn mạnh. Nó không nói đến sự thanh khiết cá nhân hay sự thánh hiến hay sự phát triển trí tuệ hay các mối liên hệ nhóm, như chúng được thể hiện trong hài hòa và thấu hiểu. Tôi đang xét đến một điều hoàn toàn khác với tất cả các yếu tố này, những yếu tố được xem là tự động và tất yếu hiện diện. Tôi nói đến điều là kết quả của tất cả chúng, cũng như đến lượt chúng là kết quả của tiếp xúc linh hồn. Tôi nói đến các hiệu quả được tạo ra trong nhóm do bản chất hiện tại và thực tế của sự kiểm soát chân thần đang ngày càng diễn ra.
What does this mean? It signifies the fact that the members of the group are each and all of them upon the Path of Initiation at some one or other of its stages and that the group, as a group, is in process of taking initiation, for initiation is a process at this stage, and not an event. It signifies that the group antahkarana is built and is being consciously used, and that therefore divine purpose is being sensed (even if only faintly so) and that the Plan is being obeyed and carried out. It signifies also that the three strands of the “rainbow bridge” are now so strong and so firmly anchored that they not only connect the two aspects of the mental equipment (higher and lower mind), but that they have been carried also through the three levels of the triadal consciousness; it means also that these three strands are firmly anchored in what I have symbolically called the Council Chamber at Shamballa.
Điều này có nghĩa là gì? Nó biểu thị sự kiện rằng các thành viên của nhóm, từng người một và tất cả họ, đều đang ở trên Con Đường Điểm Đạo tại một giai đoạn nào đó của nó và rằng nhóm, với tư cách một nhóm, đang trong tiến trình nhận điểm đạo, vì điểm đạo là một tiến trình ở giai đoạn này, chứ không phải một biến cố. Nó biểu thị rằng antahkarana của nhóm đã được xây dựng và đang được sử dụng một cách hữu thức, và do đó mục đích thiêng liêng đang được cảm nhận (dù chỉ mờ nhạt) và Thiên Cơ đang được tuân theo và thực hiện. Nó cũng biểu thị rằng ba sợi của “Cây cầu vồng” nay đã mạnh mẽ và được neo giữ vững chắc đến mức chúng không những nối kết hai phương diện của bộ máy trí tuệ (thượng trí và hạ trí), mà còn đã được mang xuyên qua ba cấp độ của tâm thức tam nguyên tinh thần; điều đó cũng có nghĩa là ba sợi này được neo giữ vững chắc trong điều mà tôi đã gọi một cách biểu tượng là Phòng Hội Đồng tại Shamballa.
This Council Chamber is not a location or a place, but a state of consciousness within the all-enveloping Life. These three points of anchorage within the sphere of the planetary Consciousness, or (if you like it better, though remembering ever that we are speaking and thinking in terms of symbols) in the planetary brain, find their feeble correspondence in [257] the three points of sensitivity in the head of a disciple or initiate, that is, in the region of the pineal gland, the pituitary body and the carotid gland. These, as you know, are to be found within the areas to which we give the names the head centre, the ajna centre and the alta major centre. These correspondences are very real, even though functioning upon a minute scale; the initiate achieves his desired “perfecting” when the triad within his head is related, and love, will and intelligence are functioning in synthesis. Here we find a relation to the spiritual Triad and the three points in the Council Chamber which are presided over by the three Buddhas of Activity, and within Whose exalted consciousness the three strands of the antahkarana meet and become active in a way incomprehensible to you. Necessarily, this great antahkarana is not constructed correctly except by those whose individual antahkaranas are likewise in process of construction.
Phòng Hội Đồng này không phải là một vị trí hay một nơi chốn, mà là một trạng thái tâm thức bên trong Sự sống bao trùm tất cả. Ba điểm neo này bên trong khối cầu của Tâm thức hành tinh, hay (nếu bạn thích cách nói ấy hơn, dù luôn ghi nhớ rằng chúng ta đang nói và suy nghĩ bằng các biểu tượng) trong bộ não hành tinh, tìm thấy sự tương ứng yếu ớt của chúng trong [257] ba điểm nhạy cảm nơi đầu của một đệ tử hay điểm đạo đồ, tức là trong vùng của tuyến tùng quả, tuyến yên và tuyến cảnh. Như bạn đã biết, các điểm này nằm trong những khu vực mà chúng ta gọi là trung tâm đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major. Những sự tương ứng này rất thực, dù hoạt động trên một quy mô cực nhỏ; điểm đạo đồ đạt tới sự “hoàn thiện” mong muốn của y khi bộ ba trong đầu y được liên kết, và bác ái, ý chí cùng trí tuệ hoạt động trong tổng hợp. Ở đây chúng ta thấy một mối liên hệ với Tam Nguyên Tinh Thần và ba điểm trong Phòng Hội Đồng do ba Đức Phật Hoạt Động chủ trì, và trong tâm thức siêu việt của Các Ngài, ba sợi của antahkarana gặp nhau và trở nên hoạt động theo một cách mà bạn không thể hiểu nổi. Tất yếu, antahkarana vĩ đại này chỉ được kiến tạo đúng đắn bởi những ai mà các antahkarana cá nhân của họ cũng đang trong tiến trình được kiến tạo.
See you, therefore, the necessity of eventually organising a group in the world which will be so constituted and so carefully chosen and interiorly related that all its members are initiates, all have created their own “rainbow bridges” with understanding and accuracy, and all can now work in such complete unity that the group antahkarana becomes a channel of unimpeded communication direct from Shamballa to the group because every member of the group is a member of the Hierarchy. In this manner the three planetary centres arrive at the needed relationship, and another great triangle reaches true functioning activity. When this takes place, a revelation undreamt of will be manifested upon the Earth; a new divine quality, of which no knowledge at present exists, will make its presence felt, and the work of the Buddha and of the Christ, and the work of the coming Avatar, will be superseded by One for Whom both Shamballa and the Hierarchy have unitedly waited and of Whom the doctrine of the Messiah and the doctrine of Avatars have been and are today only the dim distant symbols. They preserve this concept of the Great Revelation in the consciousness of men, in the expectancy which the Hierarchy evidences, [258] and through the “preparatory work” now being undertaken at Shamballa.
Vậy nên, bạn có thấy sự cần thiết phải rốt cuộc tổ chức một nhóm trong thế giới, được cấu thành như thế và được tuyển chọn cẩn trọng, liên hệ nội tại với nhau đến mức mọi thành viên đều là điểm đạo đồ, mọi người đều đã tạo dựng các “cây cầu vồng” của riêng mình bằng sự thấu hiểu và chính xác, và giờ đây tất cả có thể làm việc trong sự hợp nhất trọn vẹn đến nỗi antahkarana nhóm trở thành một kênh giao tiếp trực tiếp không bị ngăn trở từ Shamballa đến nhóm bởi vì mọi thành viên của nhóm đều là một thành viên của Thánh Đoàn. Theo cách này, ba trung tâm hành tinh đạt tới mối liên hệ cần thiết, và một tam giác lớn khác đạt tới hoạt động chức năng chân chính. Khi điều này xảy ra, một sự mặc khải chưa từng được mơ tới sẽ biểu hiện trên Trái Đất; một phẩm tính thiêng liêng mới, mà hiện nay chưa hề có tri thức nào về nó, sẽ làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận, và công việc của Đức Phật và của Đức Christ, cùng công việc của Đấng Hoá Thân sắp đến, sẽ được thay thế bởi Một Đấng mà cả Shamballa lẫn Thánh Đoàn đã cùng nhau chờ đợi và mà giáo lý về Đấng Messiah cùng giáo lý về các Đấng Hoá Thân xưa nay và cả hôm nay chỉ mới là những biểu tượng mờ nhạt xa xăm. Các giáo lý ấy duy trì khái niệm này về Sự Mặc Khải Vĩ Đại trong tâm thức của nhân loại, trong sự mong đợi mà Thánh Đoàn biểu lộ, [258] và qua “công việc chuẩn bị” hiện đang được thực hiện tại Shamballa.
The group, therefore, to whom I address this instruction is not the group or groups who will first receive these papers. The instruction is intended for a group which will come later and which will prepare the way, and of which some of the more advanced aspirants can form part if they “walk humbly with their God.” This, my brother, is one of the most advanced injunctions in any of the world Scriptures and is found in The Bible. It has no reference to humility as usually interpreted and understood. It signifies the ability to view all life with a sense of divine proportion and from the angle of spiritual mathematics, and (paradoxical as this may sound) with no sense of dualism. The usual meaning is not correct. It involves acceptance and comprehension of purpose, and this in such a manner that the consecrated personality—under control of the Monad, via the antahkarana, and in cooperation with the one known God—walks the ways of Earth as a channel for the three divine qualities (love, will and intelligence), but also as a channel for that which these three qualities will enable him later to sense, know and reveal.
Vì vậy, nhóm mà tôi gửi huấn thị này đến không phải là nhóm hay các nhóm sẽ nhận trước tiên những tài liệu này. Huấn thị này dành cho một nhóm sẽ đến sau và sẽ dọn đường, và trong đó một số người chí nguyện tiến bộ hơn có thể tham gia nếu họ “bước đi khiêm cung với Thượng đế của mình.” Điều này, Huynh đệ của Tôi, là một trong những huấn lệnh cao siêu nhất trong bất kỳ Thánh điển nào của thế giới và được tìm thấy trong Kinh Thánh. Nó không liên hệ gì đến sự khiêm nhường như thường được diễn giải và thấu hiểu. Nó biểu thị khả năng nhìn toàn bộ sự sống với một ý thức về tỉ lệ thiêng liêng và từ góc độ của toán học tinh thần, và (nghịch lý thay như điều này có thể nghe ra) không có chút cảm thức nhị nguyên nào. Ý nghĩa thông thường là không đúng. Nó bao hàm sự chấp nhận và thấu hiểu mục đích, và theo một cách như thế mà phàm ngã đã được thánh hiến—dưới sự kiểm soát của chân thần, qua antahkarana, và trong sự hợp tác với Thượng đế duy nhất được biết đến—bước đi trên các nẻo đường của Trái Đất như một kênh cho ba phẩm tính thiêng liêng (bác ái, ý chí và trí tuệ), nhưng cũng như một kênh cho điều mà ba phẩm tính này về sau sẽ giúp y cảm nhận, biết đến và mặc khải.
These are solemn and important statements. They have within them the element of prophecy, but it is prophecy which has no relation to the salvation of humanity in any sense at all. It is related to an active Appearance which will, under the Law of Synthesis, indicate That which the three great planetary centres of divine life are unitedly intended to reveal. Something lies behind the three divine aspects of so great an importance, beauty and revelatory strength that all the happenings of all time, up to the present emerging Aquarian Age, have been only the initial and the initiatory preparation.
Đây là những phát biểu trang nghiêm và quan trọng. Chúng chứa trong mình yếu tố tiên tri, nhưng đó là một lời tiên tri không liên hệ gì đến sự cứu rỗi của nhân loại theo bất kỳ nghĩa nào. Nó liên hệ đến một Sắc tướng năng động, dưới Định luật Tổng Hợp, sẽ chỉ ra ĐIỀU mà ba trung tâm hành tinh lớn của sự sống thiêng liêng cùng nhau có ý định mặc khải. Có một điều gì đó nằm phía sau ba phương diện thiêng liêng, quan trọng, mỹ lệ và có sức mạnh mặc khải đến mức mọi biến cố của mọi thời đại, cho đến Kỷ Nguyên Bảo Bình đang xuất hiện hiện nay, chỉ mới là sự chuẩn bị ban đầu và chuẩn bị điểm đạo.
In this rule we find posed two preparatory steps and four major undertakings or demonstrations of fitness, if you like so to call them, for the work to be done. These latter correspond to the “four things the disciple must learn and comprehend before he can be shewn the inmost mystery,” [259] as it is said in the Rule for Applicants. There is a definite relation between the two sets of rules and it is one which we shall note as we proceed. The two preparatory injunctions simply summarise the effects in the life of the disciple who has applied and learned the significance of the Rules for Applicants, but they are this time demonstrated by a group of disciples who have passed through certain initiations and are functioning as a unified group. The simplicity of the subject is great and yet it is ever deemed to be complex. The applicant has become soul conscious, and is therefore an initiate; remember always that the soul on its own plane is an initiate of all degrees. Initiation is, in the last analysis, the realisation, the recognition in the brain consciousness of various spheres and states of divine awareness, with a consequent life demonstration of this fact, this eternal fact. Because of this, the man thinks only in group terms and does this automatically and without any consciousness that he is so doing; he expresses this group integrity simply as a part of his nature, just as in the personality stage and during the elapsing aeons since individualisation, he has thought only and naturally in terms of the separated self.
Trong quy luật này, chúng ta thấy được nêu ra hai bước chuẩn bị và bốn công việc lớn hay bốn sự chứng tỏ về tính xứng đáng, nếu bạn muốn gọi như thế, cho công việc phải được thực hiện. Bốn điều sau này tương ứng với “bốn điều mà đệ tử phải học và thấu hiểu trước khi y có thể được chỉ cho thấy huyền nhiệm thâm sâu nhất,” [259] như đã được nói trong quy luật dành cho người chí nguyện. Có một mối liên hệ xác định giữa hai bộ quy luật này và đó là điều mà chúng ta sẽ lưu ý khi tiếp tục. Hai huấn lệnh chuẩn bị chỉ đơn giản tóm lược các hiệu quả trong đời sống của đệ tử đã áp dụng và học được thâm nghĩa của các Quy Luật dành cho Người Chí Nguyện, nhưng lần này chúng được chứng minh bởi một nhóm đệ tử đã trải qua một số lần điểm đạo và đang hoạt động như một nhóm hợp nhất. Tính đơn giản của đề tài là rất lớn, tuy nhiên nó luôn được xem là phức tạp. Người chí nguyện đã trở nên có tâm thức linh hồn, và vì vậy là một điểm đạo đồ; hãy luôn nhớ rằng linh hồn trên cõi riêng của nó là một điểm đạo đồ ở mọi cấp độ. Điểm đạo, trong phân tích tối hậu, là sự chứng nghiệm, là sự nhận biết trong tâm thức não bộ về các khối cầu và trạng thái khác nhau của sự nhận biết thiêng liêng, cùng với sự biểu lộ trong đời sống của sự kiện này, sự kiện vĩnh cửu này. Vì thế, con người chỉ suy nghĩ theo thuật ngữ nhóm và làm điều đó một cách tự động, không hề có ý thức rằng mình đang làm như vậy; y biểu lộ tính toàn vẹn nhóm này đơn giản như một phần của bản chất mình, cũng như trong giai đoạn phàm ngã và trong các đại kiếp đã trôi qua kể từ khi biệt ngã hóa, y chỉ suy nghĩ một cách tự nhiên theo thuật ngữ của cái ngã tách biệt.
As long as a person makes a conscious effort to be group-conscious and has to train and discipline himself to work in group formation and as part of a group, he is still centred in the personality. This personality expression may be of an exceedingly high order and the aspirant or disciple may be the highest kind of selfless person, but true group living is as yet not present. The transition stage is most difficult and oft bewildering; it presents its own problems, based upon a newly presented phase of dualistic consciousness. The disciple reacts to group conditions and group problems; he tunes in with facility on the consciousness of those in the group; he is aware of group reactions and aspirations, but he is still himself; he is still passing through a stage of inner adjustment to a state of being and of awareness for which all past relationships have provided no guiding precedent. The group and the group personnel which are capable of adjustment (and which can carry out and [260] conform to Rule XIII for disciples and initiates) have become so merged with the soul (within themselves and within all other selves) that the situation is reversed. It would now be an effort for such people to think and react as personalities. I word the problem thus, so as to clarify it for you, if possible.
Chừng nào một người còn nỗ lực có ý thức để có tâm thức nhóm và còn phải tự huấn luyện, tự kỷ luật mình để làm việc trong đội hình nhóm và như một phần của nhóm, thì người ấy vẫn còn được đặt trung tâm trong phàm ngã. Sự biểu lộ phàm ngã này có thể thuộc một trật tự cực kỳ cao và người chí nguyện hay đệ tử có thể là loại người vô ngã cao nhất, nhưng đời sống nhóm chân thực vẫn chưa hiện diện. Giai đoạn chuyển tiếp là khó khăn nhất và thường gây bối rối; nó đưa ra những vấn đề riêng của nó, dựa trên một giai đoạn mới được trình bày của tâm thức nhị nguyên. Đệ tử đáp ứng với các điều kiện nhóm và các vấn đề nhóm; y dễ dàng chỉnh hợp với tâm thức của những người trong nhóm; y nhận biết các phản ứng và khát vọng của nhóm, nhưng y vẫn còn là chính mình; y vẫn đang trải qua một giai đoạn điều chỉnh nội tâm đối với một trạng thái hiện hữu và nhận biết mà mọi mối liên hệ trong quá khứ không cung cấp tiền lệ hướng dẫn nào. Nhóm và nhân sự của nhóm có khả năng điều chỉnh (và có thể thực hiện và [260] tuân theo Quy luật XIII dành cho đệ tử và điểm đạo đồ) đã trở nên dung hợp với linh hồn đến mức như thế (bên trong chính họ và bên trong mọi bản ngã khác) mà tình thế bị đảo ngược. Giờ đây, đối với những người như vậy, suy nghĩ và đáp ứng như các phàm ngã sẽ là một nỗ lực. Tôi diễn đạt vấn đề như thế để, nếu có thể, làm sáng tỏ nó cho bạn.
When this stage of centralisation is achieved, then the group can begin to reveal the hidden mystery. All that I can tell you about that mystery is that it concerns the purpose and the reason for which our planetary Logos took incarnation and became the informing Life of our planet, the Earth; it concerns the necessity, inherent in His Own nature, to reach a point upon the cosmic ladder of evolution which would make Him—as a result—the informing Life of a sacred planet. Forget not that our planet is not yet a sacred planet, though it is close to that great transformation. The cosmic secret of this transforming process is one that Sanat Kumara is now learning, and when That which overshadows Him during this incarnation has wrought the needed changes through a process of transformation and transmutation, then a great Transfiguration will take place and He will take His place among those empowered to work through a sacred planet.
Khi giai đoạn tập trung này đạt được, thì nhóm có thể bắt đầu mặc khải huyền nhiệm ẩn giấu. Tất cả những gì tôi có thể nói với bạn về huyền nhiệm ấy là nó liên quan đến mục đích và lý do vì sao Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đã lâm phàm và trở thành Sự sống phú linh cho hành tinh của chúng ta, Trái Đất; nó liên quan đến sự cần thiết, vốn có trong chính bản chất của Ngài, phải đạt tới một điểm trên chiếc thang tiến hoá vũ trụ mà kết quả là sẽ khiến Ngài trở thành Sự sống phú linh của một hành tinh thiêng liêng. Đừng quên rằng hành tinh của chúng ta chưa phải là một hành tinh thiêng liêng, dù nó đã gần với sự chuyển đổi lớn lao ấy. Bí mật vũ trụ của tiến trình chuyển đổi này là điều mà Đức Sanat Kumara hiện đang học hỏi, và khi ĐẤNG phủ bóng Ngài trong lần lâm phàm này đã tạo ra những thay đổi cần thiết qua một tiến trình chuyển đổi và chuyển hoá, thì một cuộc Biến hình lớn sẽ diễn ra và Ngài sẽ đảm nhận vị trí của mình giữa những Đấng được trao quyền làm việc qua một hành tinh thiêng liêng.
This process is that which implements the evolutionary process. Evolution is an effect of this hidden work, emanating from cosmic levels; only when evolution has run its course through all the multiplicity of forms, of cycles, chains and spheres, of rounds and races and of world periods, will we know something of the true nature of the hidden mystery. In the Council Chamber of Shamballa it is being dimly sensed. The Buddha and the Christ are expressing the qualities which—when more universally demonstrated—will indicate its nature, if I might so express it. They are together mobilising the equipment upon our planet which will make the revelation of the mystery inevitable. This should give you a hint and much food for thought. More I cannot say, and even this you will only vaguely [261] understand. Let us pass now to the second of the preparatory steps.
Tiến trình này là điều thực thi tiến trình tiến hoá. Tiến hoá là một hiệu quả của công việc ẩn giấu này, phát ra từ các cấp độ vũ trụ; chỉ khi tiến hoá đã hoàn tất lộ trình của nó qua toàn bộ tính đa tạp của các hình tướng, của các chu kỳ, các dãy và các khối cầu, của các cuộc tuần hoàn và các giống dân cùng các thời kỳ thế giới, chúng ta mới biết được đôi điều về bản chất chân thực của huyền nhiệm ẩn giấu. Trong Phòng Hội Đồng của Shamballa, điều đó đang được cảm nhận một cách mơ hồ. Đức Phật và Đức Christ đang biểu lộ những phẩm tính mà—khi được chứng tỏ phổ quát hơn—sẽ chỉ ra bản chất của nó, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy. Cùng nhau, Các Ngài đang huy động khí cụ trên hành tinh chúng ta, điều sẽ làm cho sự mặc khải huyền nhiệm trở nên không thể tránh khỏi. Điều này nên cho bạn một gợi ý và nhiều điều đáng suy ngẫm. Tôi không thể nói thêm nữa, và ngay cả điều này bạn cũng chỉ [261] thấu hiểu một cách mơ hồ. Giờ chúng ta hãy chuyển sang bước chuẩn bị thứ hai.
2. Let the group demonstrate the higher meaning of the lessons learnt, and these are four and yet are one.
2. Hãy để nhóm chứng tỏ ý nghĩa cao hơn của các bài học đã học, và các bài học này là bốn mà vẫn là một.
Aspirants learn, as they proceed upon the Path of Probation, to see the meaning of their physical plane activities in terms of the world of desire, of the astral plane. What they do originates upon that plane and gives their deeds meaning. This is the a.b.c. of elementary occultism and of true psychology. Later, they enter a higher world of meaning and find that “as a man thinketh in his heart, so is he.” Thus the lesson of kama-manasic impulse is slowly mastered and (in the process of learning) desire, prompted by the mind and implemented by the personality, loses its hold upon the aspirant. Later again, and as the soul begins to dominate, he learns the meaning of love and slowly, and oft through the mastering of pain, he absorbs the significance or meaning of group activity, group relation, and group initiation. He stands, therefore, at this stage ready (as this Rule expresses it) to learn the higher meaning of four lessons, processes or stages which are in themselves, nevertheless, one lesson. The four lessons which he has learnt up to this point have prepared him for the four lessons which—as an initiate and as one whose consciousness is focussed in the Spiritual Triad—he must now master. To summarise, they constitute the four phases of an activity which will bring him to a point of tension which will indicate the next possible initiatory stage. Four words could be used to express these processes: Radiation. Magnetisation. Transmutation. Impartation. Let me very briefly indicate some of the elementary significances of these words to the initiate-consciousness:
Những người chí nguyện học, khi họ tiến bước trên Con Đường Dự Bị, nhìn thấy ý nghĩa của các hoạt động cõi hồng trần của mình theo thuật ngữ của thế giới dục vọng, của cõi cảm dục. Điều họ làm bắt nguồn trên cõi đó và mang lại ý nghĩa cho hành vi của họ. Đây là a,b,c của huyền bí học sơ đẳng và của tâm lý học chân chính. Về sau, họ đi vào một thế giới ý nghĩa cao hơn và nhận ra rằng “con người nghĩ trong lòng mình thế nào, thì y là như thế ấy.” Như vậy bài học về xung lực trí-cảm được dần dần làm chủ và (trong tiến trình học hỏi) dục vọng, do trí tuệ thúc đẩy và được phàm ngã thực hiện, mất dần sự nắm giữ đối với người chí nguyện. Rồi sau nữa, khi linh hồn bắt đầu chi phối, y học được ý nghĩa của bác ái và chậm rãi, thường là qua việc làm chủ đau khổ, y hấp thụ thâm nghĩa hay ý nghĩa của hoạt động nhóm, liên hệ nhóm và điểm đạo nhóm. Vì vậy, ở giai đoạn này y đứng sẵn sàng (như Quy luật này diễn tả) để học ý nghĩa cao hơn của bốn bài học, tiến trình hay giai đoạn mà tuy vậy, tự chúng, vẫn là một bài học. Bốn bài học mà y đã học cho đến điểm này đã chuẩn bị y cho bốn bài học mà—với tư cách một điểm đạo đồ và là người có tâm thức tập trung trong Tam Nguyên Tinh Thần—giờ đây y phải làm chủ. Tóm lại, chúng cấu thành bốn giai đoạn của một hoạt động sẽ đưa y đến một điểm tập trung nhất tâm, điểm này sẽ chỉ ra giai đoạn điểm đạo khả hữu kế tiếp. Có thể dùng bốn từ để diễn tả các tiến trình này: Phóng xạ. Từ hoá. Chuyển hoá. Truyền đạt. Hãy để tôi chỉ ra thật vắn tắt một vài ý nghĩa sơ đẳng của những từ này đối với tâm thức điểm đạo:
1. Radiation. The initiate is a radiating centre of light and love. This radiation has two effects:
1. Phóng xạ. Điểm đạo đồ là một trung tâm phóng xạ của ánh sáng và bác ái. Sự phóng xạ này có hai hiệu quả:
a. It has made him an essential and vital factor for unity in the Master’s Ashram. [262]
a. Nó đã khiến y trở thành một yếu tố thiết yếu và sinh động cho sự hợp nhất trong ashram của Chân sư. [262]
b. It has enabled him to gather around him his own group and thus begin to form his own ashram. The personnel of the world group which will reveal the hidden mystery will all of them be “radiant centres” to a greater or lesser degree. They will thus be invocative and evocative. This thought holds the clue to the Law of Synthesis, of unity and of fusion as given in Rule XIII for initiates.
b. Nó đã giúp y quy tụ quanh mình nhóm riêng của y và nhờ đó bắt đầu hình thành ashram riêng của y. Tất cả nhân sự của nhóm thế giới sẽ mặc khải huyền nhiệm ẩn giấu đều sẽ là những “trung tâm phóng xạ” ở mức độ lớn hay nhỏ. Nhờ đó họ sẽ có tính khẩn cầu và gợi lên. Tư tưởng này nắm giữ chìa khóa của Định luật Tổng Hợp, của sự hợp nhất và của sự dung hợp như đã được nêu trong Quy luật XIII dành cho điểm đạo đồ.
2. Magnetisation. The initiate who is radiating light and love is himself being magnetised by the highest of the present known divine aspects—Life. This expresses itself through will and purpose and is therefore dynamic in character. The initiate is charged constantly with life, and consequently can work with the impelling Law of Evolution which (as worded in the rule we are considering) will “carry the group together towards the Higher Three.” See you not how the different phases of the teaching lead from one to another and provide a great ladder of approach to reality? I would call to your attention that in the Fourteen Rules for Applicants and in the Fourteen Rules for Disciples and Initiates you have the two great foundational courses of the coming Schools of the Mysteries, for which I have prepared the world in Letters on Occult Meditation.
2. Từ hoá. Điểm đạo đồ đang phóng xạ ánh sáng và bác ái thì chính y cũng đang được từ hoá bởi phương diện thiêng liêng cao nhất hiện được biết đến—Sự sống. Điều này biểu lộ qua ý chí và mục đích, vì vậy có tính năng động. Điểm đạo đồ liên tục được nạp đầy sự sống, và do đó có thể làm việc với Định luật Tiến Hoá thúc đẩy, định luật mà (như được diễn đạt trong quy luật chúng ta đang xét) sẽ “mang nhóm cùng nhau tiến về Ba Đấng Cao Hơn.” Bạn không thấy sao các giai đoạn khác nhau của giáo huấn dẫn từ giai đoạn này sang giai đoạn khác và cung cấp một chiếc thang lớn để tiếp cận thực tại? Tôi muốn lưu ý bạn rằng trong Mười Bốn Quy Luật dành cho Người Chí Nguyện và trong Mười Bốn Quy Luật dành cho Đệ Tử và Điểm Đạo Đồ, bạn có hai khóa học nền tảng lớn của các Trường Huyền Nhiệm tương lai, mà tôi đã chuẩn bị cho thế giới trong Thư về Tham Thiền Huyền Bí.
3. Transmutation. This indicates here an achievement and not a process; the work of transmuting the lower nature into the higher and desire into love, of transforming personality purpose into group livingness and being, has led to that complete transfiguration which makes the entire process of transmutation no longer needed. But—and this is the point to be emphasised—because of this achievement, the art of transmutation is now the instrument which the initiate can use and transmute that which is not himself, and thus consciously and with clear purpose further the ends of evolution. Transmutation “disappears” out of his own life, but the forces which have been transmuted into spiritual energy begin now to have a dynamic transmutative effect in the world of forms wherein he now chooses to work and serve, according to his ray and ashramic intent. [263]
3. Chuyển hoá. Ở đây điều này chỉ một thành tựu chứ không phải một tiến trình; công việc chuyển hoá bản chất thấp thành bản chất cao và dục vọng thành bác ái, chuyển đổi mục đích phàm ngã thành sự sống động và hiện hữu nhóm, đã dẫn đến cuộc biến hình trọn vẹn khiến toàn bộ tiến trình chuyển hoá không còn cần thiết nữa. Nhưng—và đây là điểm cần nhấn mạnh—chính vì thành tựu này mà nghệ thuật chuyển hoá giờ đây là công cụ mà điểm đạo đồ có thể dùng để chuyển hoá điều không phải là chính y, và nhờ đó một cách hữu thức và với mục đích rõ ràng thúc đẩy các cứu cánh của tiến hoá. Sự chuyển hoá “biến mất” khỏi đời sống riêng của y, nhưng các mãnh lực đã được chuyển hoá thành năng lượng tinh thần giờ đây bắt đầu có một hiệu quả chuyển hoá năng động trong thế giới các hình tướng, nơi y nay chọn làm việc và phụng sự, tùy theo cung của mình và ý định ashram. [263]
4. Impartation. Reference to this is made in the Book of Revelation, found in The New Testament. There we are told that the initiate is given a white stone, and in the stone “a new name” is found written; this is the “hidden name egoic.” I am at a loss at this point as to how to express the higher significance of this. This impartation marks a climaxing point in the attainment of the point of tension where the Sound can be heard and not the Word alone. Never forget that the O.M. is simply a symbolically sounded word which is intended to bring into the minds of those upon the Path those two great points of tension wherein
4. Truyền đạt. Điều này được nhắc đến trong Sách Khải Huyền, tìm thấy trong Tân Ước. Ở đó chúng ta được bảo rằng điểm đạo đồ được trao cho một viên đá trắng, và trong viên đá ấy có viết “một tên mới”; đó là “tên ẩn giấu của chân ngã.” Ở điểm này tôi lúng túng không biết phải diễn đạt ý nghĩa cao hơn của điều này như thế nào. Sự truyền đạt này đánh dấu một điểm cực đỉnh trong việc đạt tới điểm tập trung nhất tâm, nơi Âm Thanh có thể được nghe thấy chứ không chỉ riêng Linh từ. Đừng bao giờ quên rằng O.M. chỉ đơn giản là một linh từ được xướng một cách biểu tượng, nhằm mang vào tâm trí của những người trên Đường Đạo hai điểm tập trung nhất tâm lớn lao ấy, nơi mà
a. The “hidden name egoic” is conferred upon the disciple. This, as far as he is concerned, is the Word of his soul ray.
a. “tên ẩn giấu của chân ngã” được ban cho đệ tử. Theo như y có liên quan, đây là Linh từ của cung linh hồn của y.
b. The Sound heard of which the O.M. is a symbol. This is the first letter of the sevenfold Name of the planetary Logos. More upon this subject may not be given, nor am I in a position to give it.
b. Âm Thanh được nghe thấy mà O.M. là một biểu tượng của nó. Đây là chữ cái đầu tiên của Danh xưng thất phân của Hành Tinh Thượng đế. Không thể cho biết thêm về đề tài này, và tôi cũng không ở vị thế để cho biết.
These two preparatory injunctions will give you some idea of how abstruse is the teaching conveyed in the rules for initiates. The understanding and the expressing of the four rules for applicants, as demonstrated by the disciple now functioning in a group, can all be summed up in the word: Being. Having said that, what does it mean to you? Being, per se, can only be grasped by those who have “come alive” monadically, who function in the three worlds of the Spiritual Triad with even greater positivity than the highly advanced personality functions in the three worlds of human evolution; and who have grasped somewhat the purpose for which Sanat Kumara has come into being and through directed livingness is working out His intention.
Hai huấn lệnh chuẩn bị này sẽ cho bạn một ý niệm nào đó về mức độ thâm áo của giáo huấn được chuyển tải trong các quy luật dành cho điểm đạo đồ. Sự thấu hiểu và biểu lộ bốn quy luật dành cho người chí nguyện, như được chứng tỏ bởi đệ tử hiện đang hoạt động trong một nhóm, tất cả có thể được tóm lại trong một từ: Hiện Hữu. Nói như vậy rồi, điều đó có nghĩa gì đối với bạn? Chính hiện hữu chỉ có thể được nắm bắt bởi những ai đã “sống dậy” một cách chân thần, những người hoạt động trong ba cõi giới của Tam Nguyên Tinh Thần với tính khẳng định còn lớn hơn cả cách phàm ngã rất tiến bộ hoạt động trong ba cõi giới của tiến hoá nhân loại; và những người đã nắm bắt phần nào mục đích mà vì đó Đức Sanat Kumara đã đi vào hiện hữu và qua sự sống động có định hướng đang thực hiện ý định của Ngài.
We can now take up the four major injunctions given to the initiated disciple as he prepares to work under the Laws of the Spirit, as a conscious soul, and (for purposes of service) through a personality. There are many initiates working without a body of contact which a personality provides, but we shall not consider them in our studies. We shall only deal with those disciples who can work as a group [264] on the physical plane, fulfilling ashramic intent on the one hand and preparing themselves to tread the Way of the Higher evolution upon the other. The first major injunction in this Rule XIII reads as follows:
Giờ đây chúng ta có thể xét đến bốn huấn lệnh lớn được trao cho đệ tử đã được điểm đạo khi y chuẩn bị làm việc dưới các Định luật của Tinh thần, như một linh hồn hữu thức, và (vì mục đích phụng sự) qua một phàm ngã. Có nhiều điểm đạo đồ làm việc mà không có một thể tiếp xúc do phàm ngã cung cấp, nhưng chúng ta sẽ không xét đến họ trong các nghiên cứu của mình. Chúng ta sẽ chỉ bàn đến những đệ tử có thể làm việc như một nhóm [264] trên cõi hồng trần, một mặt hoàn thành ý định ashram và mặt khác chuẩn bị cho mình bước đi trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Huấn lệnh lớn đầu tiên trong Quy luật XIII này như sau:
3. Let the group understand the Law of Synthesis, of unity and fusion.
3. Hãy để nhóm thấu hiểu Định luật Tổng Hợp, của sự hợp nhất và sự dung hợp.
The Law of Synthesis, as you know, is the law of spiritual existence, and one of the three major laws of our solar system, as well as of our planet. It is a basic cosmic law, applied from sources of which we know nothing, as are the Laws of Attraction and of Economy. I dealt with these somewhat at length in A Treatise on Cosmic Fire, and of these two other laws I have given much and hinted more. Of the Law of Synthesis, I can tell you but little. It is the law governing the activities of the Spiritual Triad, and the conditioning law of monadic living. It works neither through the use of the energy of love nor through the application of the principle of economy. The fulfillment of these laws is necessary and preparatory to an understanding of the Law of Synthesis, and under the Law of Synthesis the worlds of illusion and glamour are mastered and the control of maya is negated; under the Law of Attraction the nature of love is revealed, first of all through desire for form life, and then through attraction to the soul and a consequent resolution of the dualities of soul and personality. This brings about a unity which—in due time—serves to reveal a greater potential dualism—that of soul and spirit; this fundamental duality must also be resolved, leaving the essential, universal planetary duality, Spirit-matter, present in time and space.
Định luật Tổng Hợp, như bạn đã biết, là định luật của sự hiện hữu tinh thần, và là một trong ba định luật lớn của hệ mặt trời chúng ta, cũng như của hành tinh chúng ta. Nó là một định luật vũ trụ căn bản, được áp dụng từ những nguồn mà chúng ta không biết gì, cũng như các Định luật Hấp Dẫn và Tiết Kiệm. Tôi đã bàn khá dài về các định luật này trong Luận về Lửa Vũ Trụ, và về hai định luật kia tôi đã cho nhiều điều và gợi ý còn nhiều hơn. Về Định luật Tổng Hợp, tôi chỉ có thể nói với bạn rất ít. Nó là định luật chi phối các hoạt động của Tam Nguyên Tinh Thần, và là định luật tác động lên sự sống chân thần. Nó không hoạt động qua việc sử dụng năng lượng bác ái cũng không qua việc áp dụng nguyên khí tiết kiệm. Việc hoàn thành các định luật ấy là cần thiết và có tính chuẩn bị cho sự thấu hiểu Định luật Tổng Hợp, và dưới Định luật Tổng Hợp, các thế giới của ảo tưởng và ảo cảm được làm chủ và sự kiểm soát của ảo lực bị phủ nhận; dưới Định luật Hấp Dẫn, bản chất của bác ái được mặc khải, trước hết qua dục vọng đối với đời sống hình tướng, rồi qua sự hấp dẫn đối với linh hồn và kết quả là sự giải quyết các nhị nguyên của linh hồn và phàm ngã. Điều này mang lại một sự hợp nhất mà—đến đúng lúc—phục vụ để mặc khải một nhị nguyên tính tiềm tàng lớn hơn—đó là linh hồn và tinh thần; nhị nguyên tính căn bản này cũng phải được giải quyết, để lại nhị nguyên tính hành tinh thiết yếu, phổ quát, Tinh thần-vật chất, hiện diện trong thời gian và không gian.
The Law of Synthesis has reference to this relationship and to the factual nature of the tremendous assertion of H. P. Blavatsky that “Matter is spirit at its lowest point of manifestation and spirit is matter at its highest.” It is of this synthesis that the group must learn; it is this relation which they must begin to comprehend, and the distinction (for there is a distinction) between synthesis, unity and fusion must in due time be mastered. [265]
Định luật Tổng Hợp liên quan đến mối liên hệ này và đến bản chất thực tế của lời khẳng định to lớn của H. P. Blavatsky rằng “Vật chất là tinh thần ở điểm biểu hiện thấp nhất của nó và tinh thần là vật chất ở điểm cao nhất của nó.” Chính về sự tổng hợp này mà nhóm phải học; chính mối liên hệ này mà họ phải bắt đầu thấu hiểu, và sự phân biệt (vì có một sự phân biệt) giữa tổng hợp, hợp nhất và dung hợp phải được làm chủ vào đúng lúc. [265]
To you, it may seem that these three words connote the same thing, but that is not so; fusion is ever related to the conscious merging of soul and substance until a point of equilibrium is achieved; at this point, unity becomes possible and the point of balance—through the attainment of a point of tension—is disturbed. This takes place in three definitely defined stages when the fusion of personality and soul is brought about through the self-initiated effort of the disciple: first of all upon the Probationary Path, then upon the Path of Discipleship, and finally at the third initiation, upon the Path of Initiation. It is essential that you ever remember that this third initiation, the Transfiguration, is the first major initiation from the standpoint of the Hierarchy, though the third from the limited vision of the aspirant. The initiate then goes on to learn the significance of unity in its true sense; this is only possible when monadic influence can be consciously registered and when the antahkarana is in process of conscious construction. I emphasise the word “conscious” here; much of the work of fusion and of attainment proceeds unconsciously under the fundamental Law of Evolution, which is a Shamballic law, embodying as it does the working out of the inscrutable will of Deity. The work now being done on the three stages of the Path has to be intentional and, therefore, consciously undertaken and intelligently planned; it must be backed, first of all by determination, then by the spiritual will, and finally as an implemented aspect of purpose.
Đối với bạn, có thể dường như ba từ này hàm ý cùng một điều, nhưng không phải vậy; dung hợp luôn liên hệ đến sự hòa nhập hữu thức của linh hồn và chất liệu cho đến khi đạt được một điểm quân bình; tại điểm này, sự hợp nhất trở nên khả hữu và điểm quân bình—qua việc đạt tới một điểm tập trung nhất tâm—bị xáo trộn. Điều này diễn ra trong ba giai đoạn được xác định rõ rệt khi sự dung hợp của phàm ngã và linh hồn được mang lại qua nỗ lực do chính đệ tử khởi xướng: trước hết trên Con Đường Dự Bị, rồi trên Con Đường Đệ Tử, và cuối cùng ở lần điểm đạo thứ ba, trên Con Đường Điểm Đạo. Điều cốt yếu là bạn luôn nhớ rằng lần điểm đạo thứ ba này, cuộc Biến hình, là lần điểm đạo lớn đầu tiên theo quan điểm của Thánh Đoàn, dù là lần thứ ba theo linh thị hạn hẹp của người chí nguyện. Khi ấy điểm đạo đồ tiếp tục học ý nghĩa của sự hợp nhất theo nghĩa chân thực của nó; điều này chỉ khả hữu khi ảnh hưởng chân thần có thể được ghi nhận một cách hữu thức và khi antahkarana đang trong tiến trình được kiến tạo một cách hữu thức. Ở đây tôi nhấn mạnh từ “hữu thức”; phần lớn công việc dung hợp và thành tựu diễn ra một cách vô thức dưới Định luật Tiến Hoá căn bản, vốn là một định luật Shamballa, vì nó thể hiện sự triển khai của ý chí bất khả tư nghị của Thượng đế. Công việc hiện đang được thực hiện trên ba giai đoạn của Đường Đạo phải có chủ ý và vì vậy phải được đảm nhận một cách hữu thức và được hoạch định một cách thông minh; trước hết nó phải được hậu thuẫn bởi quyết tâm, rồi bởi ý chí tinh thần, và cuối cùng như một phương diện được thực thi của mục đích.
Fusion might therefore be regarded as the individual process of spiritual integration, relating—in full waking consciousness—the three divine aspects in man. Unity might be regarded as the conscious adaptation of the initiated disciple to the greater whole, as his absorption into the group through his obedience to the laws of the soul, and as governing his attitude to that in which he lives and moves and has his being. This goes on until he sees no distinction, registers no differences and is aware of no separative reaction, and all this because the instinct to separation no longer exists in him. It refers to his oneness in the world of [266] energies in which he moves, making him an unimpeded channel for energy and, therefore, an integral and smoothly working part of his total environment and, above all, of the group to which, automatically and under the laws which govern his soul, he has been attracted. He has learnt all that he can learn through the processes of differentiation to which he has been subjected for aeons. The principle of intelligence controls him and the principle of love motivates him, and he has consequently attained unity. But, my brothers, it is the unity of his ray, of his Ashram and of the Plan; it is the unity of the Hierarchy which exists for purposes of service and active work in its seven major groups and its three main departments or divisions. It is indeed attainment and liberation. But more must still be learnt if the Way of the Higher Evolution is to be trodden and a choice between the seven cosmic Paths made—a choice which curiously enough is not dependent upon ray, for all rays are to be found on all these paths.
Vì vậy, dung hợp có thể được xem như tiến trình cá nhân của sự tích hợp tinh thần, liên hệ—trong tâm thức thức tỉnh trọn vẹn—ba phương diện thiêng liêng trong con người. Hợp nhất có thể được xem như sự thích ứng hữu thức của đệ tử đã được điểm đạo với toàn thể lớn hơn, như sự hấp thụ của y vào nhóm qua sự tuân phục các định luật của linh hồn, và như điều chi phối thái độ của y đối với cái mà trong đó y sống, vận động và hiện hữu. Điều này tiếp diễn cho đến khi y không còn thấy sự phân biệt nào, không còn ghi nhận khác biệt nào và không còn nhận biết phản ứng phân ly nào, và tất cả điều này là vì bản năng phân ly không còn tồn tại trong y nữa. Nó liên hệ đến tính nhất thể của y trong thế giới của [266] các năng lượng mà trong đó y vận động, khiến y trở thành một kênh không bị ngăn trở cho năng lượng và, do đó, là một phần toàn vẹn và vận hành trôi chảy của toàn bộ môi trường của y và, trên hết, của nhóm mà theo cách tự động và dưới các định luật chi phối linh hồn y, y đã bị thu hút vào. Y đã học được tất cả những gì y có thể học qua các tiến trình biến phân mà y đã phải trải qua trong các đại kiếp. Nguyên khí trí tuệ kiểm soát y và nguyên khí bác ái thúc đẩy y, và do đó y đã đạt tới sự hợp nhất. Nhưng, Các huynh đệ của tôi, đó là sự hợp nhất của cung của y, của ashram của y và của Thiên Cơ; đó là sự hợp nhất của Thánh Đoàn, vốn tồn tại vì các mục đích phụng sự và công việc năng động trong bảy nhóm lớn và ba ban hay phân bộ chính của nó. Quả thật đó là thành tựu và giải thoát. Nhưng vẫn còn phải học thêm nữa nếu Con đường Tiến Hóa Cao Siêu phải được bước đi và nếu phải đưa ra một sự lựa chọn giữa bảy Con Đường vũ trụ—một sự lựa chọn mà kỳ lạ thay lại không tùy thuộc vào cung, vì mọi cung đều được tìm thấy trên mọi con đường ấy.
This can only be done through synthesis. This Law of Synthesis
Điều này chỉ có thể được thực hiện qua tổng hợp. Định luật Tổng Hợp này
“works through the Seven which yet are One; which points to the seven ways and yet those upon the seven ways are one; which initiates the universal into the many but preserves its integrity; which originates the plan but preserves intact the purpose; which sees the multiplicity needed under the Law of Sacrifice but subordinates that law unto the Law of Synthesis; which breathes forth the many Breaths and yet is Life Itself.”
“hoạt động qua Bảy Đấng mà vẫn là Một; chỉ ra bảy con đường mà những ai trên bảy con đường ấy vẫn là một; điểm đạo cái phổ quát vào cái đa tạp nhưng vẫn bảo toàn tính toàn vẹn của nó; khởi nguyên thiên cơ nhưng vẫn giữ nguyên vẹn mục đích; thấy tính đa tạp cần thiết dưới Định luật Hi Sinh nhưng đặt định luật ấy dưới Định luật Tổng Hợp; thở ra nhiều Hơi Thở mà vẫn chính là Sự Sống.”
In this attempt to paraphrase an ancient definition of the Law of Synthesis, I have said all that I can upon the theme. Only as disciples build the antahkarana and function as the Spiritual Triad within the monadic Life will inspiration come, just as they learnt to make contact with the soul and to function as the threefold personality within the soul, and then revelation ensued. Naught is gained by further elucidation. Proceed with the work of building the antahkarana and light will shine upon your way and revelation will attend your steps.
Trong nỗ lực diễn giải lại một định nghĩa cổ xưa về Định luật Tổng Hợp này, tôi đã nói tất cả những gì tôi có thể nói về chủ đề ấy. Chỉ khi các đệ tử xây dựng antahkarana và hoạt động như Tam Nguyên Tinh Thần bên trong Sự sống chân thần thì cảm hứng mới đến, cũng như họ đã học cách tiếp xúc với linh hồn và hoạt động như phàm ngã tam phân bên trong linh hồn, và rồi sự mặc khải đã tiếp theo. Không đạt được gì bằng việc giải thích thêm nữa. Hãy tiếp tục công việc xây dựng antahkarana và ánh sáng sẽ chiếu rọi trên đường bạn, và sự mặc khải sẽ đi cùng từng bước chân bạn.
[267]
[267]
The second major injunction (though the fourth phrase in our rule) is:
Huấn lệnh lớn thứ hai (dù là cụm từ thứ tư trong quy luật của chúng ta) là:
4. Let the threefold mode of working with that which is dynamic carry the group together towards the Higher Three.
4. Hãy để phương thức tam phân làm việc với điều năng động ấy mang nhóm cùng nhau tiến về Ba Đấng Cao Hơn.
This injunction holds in it information which is somewhat new to the modern initiate, functioning in a physical body; it is difficult for him to grasp even a modicum of its significance. To convey any faintest hint of its meaning is incomparably difficult for me where disciples such as you are concerned. All I can do is to fall back upon the Law of Analogy, by means of which the microcosm can arrive at a glimmer of understanding of the more obvious aspects of the Macrocosm.
Huấn lệnh này chứa đựng thông tin phần nào mới mẻ đối với điểm đạo đồ hiện đại đang hoạt động trong một thể xác; đối với y, thật khó nắm bắt dù chỉ một phần nhỏ ý nghĩa của nó. Để truyền đạt dù chỉ một gợi ý mờ nhạt nhất về ý nghĩa của nó là điều vô cùng khó đối với tôi khi liên quan đến những đệ tử như các bạn. Tất cả những gì tôi có thể làm là quay về với định luật tương đồng, nhờ đó tiểu thiên địa có thể đạt tới một tia hiểu biết le lói về những phương diện hiển nhiên hơn của Đại thiên địa.
First, let me make reference to the words “the Higher Three”; let me see if I cannot somewhat clarify the entire complex idea. The words “Higher Three” refer to the three Buddhas of Activity Who still remain actively cooperating with the Lord of the World. They are, as you have been told, close to Sanat Kumara and came with Him when He decided to take incarnation through the medium of our planet, Earth. It is difficult to understand Their mysterious and peculiar functions. They do not belong to this solar system at all; They have passed through the human stage in such far distant and remote world cycles that the experience is no longer a part of Their consciousness; They act as advisors to Sanat Kumara where His initial purpose is concerned, and that is why the words “the will of God holds sway” occur in this rule. It is Their supreme task to see that, in the Council Chamber of Shamballa, that purpose is ever held steadily within the “area of preparation” (I know not how else to word it) of that Council. They function, in a peculiar sense, as linking intermediaries between the Logos of our solar system and the informing Life of the constellation Libra; They relate these two great centres of energy to our planetary Logos.
Trước hết, hãy để tôi đề cập đến những từ “Ba Đấng Cao Hơn”; hãy xem liệu tôi có thể phần nào làm sáng tỏ toàn bộ ý tưởng phức tạp này hay không. Những từ “Ba Đấng Cao Hơn” chỉ ba Đức Phật Hoạt Động, Các Ngài vẫn còn tích cực hợp tác với Đức Chúa Tể Thế Giới. Như bạn đã được bảo, Các Ngài ở gần Đức Sanat Kumara và đã đến cùng Ngài khi Ngài quyết định lâm phàm qua trung gian của hành tinh chúng ta, Trái Đất. Thật khó để hiểu các chức năng huyền nhiệm và đặc thù của Các Ngài. Các Ngài hoàn toàn không thuộc về hệ mặt trời này; Các Ngài đã đi qua giai đoạn nhân loại trong những chu kỳ thế giới xa xăm đến mức kinh nghiệm ấy không còn là một phần của tâm thức Các Ngài nữa; Các Ngài hành động như những cố vấn cho Đức Sanat Kumara về mục đích khởi thủy của Ngài, và đó là lý do vì sao những từ “ý chí của Thượng đế ngự trị” xuất hiện trong quy luật này. Nhiệm vụ tối thượng của Các Ngài là bảo đảm rằng, trong Phòng Hội Đồng của Shamballa, mục đích ấy luôn được giữ vững trong “khu vực chuẩn bị” (tôi không biết phải diễn đạt khác thế nào) của Hội Đồng đó. Theo một nghĩa đặc biệt, Các Ngài hoạt động như những trung gian liên kết giữa Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta và Sự sống phú linh của chòm sao Thiên Bình; Các Ngài liên hệ hai trung tâm năng lượng lớn này với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta.
In the last solar system They were the planetary Logoi of three planets in which the mind principle reached its [268] highest stage of development; They embody in Themselves in a most peculiar manner the wisdom aspect of the second ray, as it expresses itself primarily through what has been called in the Bhagavad Gita “skill in action.” Hence Their name, the Buddhas of Activity.
Trong hệ mặt trời trước, Các Ngài là các Hành Tinh Thượng đế của ba hành tinh mà trong đó nguyên khí trí tuệ đã đạt tới [268] giai đoạn phát triển cao nhất; Các Ngài thể hiện trong chính mình, theo một cách rất đặc biệt, phương diện minh triết của cung hai, như nó biểu lộ chủ yếu qua điều đã được gọi trong Bhagavad Gita là “kỹ năng trong hành động.” Do đó mà có danh xưng của Các Ngài, các Đức Phật Hoạt Động.
Sanat Kumara has now moved one step ahead of Them upon the great cosmic ladder of evolution, for an aspect of the Law of Sacrifice has conditioned Them. However, within the planetary consciousness and among Those Who work out the divine purposes, there are none Who approach the Eternal Youth and these three Buddhas in point of Evolution. They work out Their plans—these four Great Lives—through the medium of the Lords of the Seven Rays. Under the Law of Analogy, They are to Sanat Kumara what the three mind aspects upon the mental plane are to the disciple and the initiate. They represent in action:
Đức Sanat Kumara hiện đã tiến lên trước Các Ngài một bước trên chiếc thang tiến hoá vũ trụ vĩ đại, vì một phương diện của Định luật Hi Sinh đã tác động lên Các Ngài. Tuy nhiên, trong tâm thức hành tinh và giữa những Đấng thực hiện các mục đích thiêng liêng, không có Đấng nào sánh được với Đấng Thanh Xuân Vĩnh Cửu và ba Đức Phật này về mặt tiến hoá. Bốn Sự Sống Vĩ Đại này thực hiện các kế hoạch của Các Ngài qua trung gian các Đấng Chúa Tể của Bảy Cung. Theo định luật tương đồng, Các Ngài đối với Đức Sanat Kumara cũng như ba phương diện trí tuệ trên cõi trí đối với đệ tử và điểm đạo đồ. Trong hành động, Các Ngài biểu hiện:
The concrete or lower mind of the planetary Logos,
Trí cụ thể hay hạ trí của Hành Tinh Thượng đế,
That energy which we call the soul and which the disciple calls “the Son of Mind,”
Năng lượng mà chúng ta gọi là linh hồn và mà đệ tử gọi là “Con của Trí Tuệ,”
The higher or abstract mind,
Thượng trí hay trí trừu tượng,
but all this from cosmic levels and with cosmic implications. It was Their activity which (after evolution had run a long course) brought about the act of individualisation and thus brought the human kingdom into existence. In a mysterious sense, therefore, it might be said that the three Buddhas of Activity are responsible for:
nhưng tất cả điều này là từ các cấp độ vũ trụ và với những hàm ý vũ trụ. Chính hoạt động của Các Ngài đã (sau khi tiến hoá đã trải qua một chặng đường dài) mang lại hành động biệt ngã hóa và nhờ đó đưa giới nhân loại vào hiện hữu. Vì vậy, theo một nghĩa huyền nhiệm, có thể nói rằng ba Đức Phật Hoạt Động chịu trách nhiệm về:
1. The Act of Individualisation. The work of the particular Buddha responsible at the time for this major activity, has been temporarily quiescent since Lemurian days. He works, when active, through the seventh ray and draws the needed energy from two constellations: Cancer and Gemini.
1. Hành Động Biệt Ngã Hóa. Công việc của vị Đức Phật đặc biệt chịu trách nhiệm vào thời điểm đó cho hoạt động lớn lao này đã tạm thời yên lặng kể từ thời Lemuria. Khi hoạt động, Ngài làm việc qua cung bảy và rút năng lượng cần thiết từ hai chòm sao: Cự Giải và Song Tử.
2. The Act of Initiation. I would call your attention to the word act; I am not here referring to process. His work only begins at the third initiation when the planetary Logos is the Initiator. At that initiation, the will aspect begins to function. The Buddha behind the initiatory process is extremely active at this time; He works through the Christ [269] and the Lord of the second ray, drawing the needed energy from the constellations Capricorn and Aquarius.
2. Hành Động Điểm Đạo. Tôi muốn lưu ý bạn đến từ hành động; ở đây tôi không nói đến tiến trình. Công việc của Ngài chỉ bắt đầu ở lần điểm đạo thứ ba khi Hành Tinh Thượng đế là Đấng Điểm đạo. Ở lần điểm đạo đó, phương diện ý chí bắt đầu hoạt động. Đức Phật đứng sau tiến trình điểm đạo hiện cực kỳ hoạt động vào lúc này; Ngài làm việc qua Đức Christ [269] và Đấng Chúa Tể cung hai, rút năng lượng cần thiết từ các chòm sao Ma Kết và Bảo Bình.
3. The Act of Identification. This involves what has been called a “moment of opening-up,” during which the initiate sees that which lies within the cosmic intent and begins to function not only as a planetary unit but as a cosmic focal point. The Buddha of Activity, responsible for this type of planetary activity, works with the Lord of the first ray and functions as an outpost of the consciousness of the informing life of Aries and of Leo. His work is only now beginning to assume importance.
3. Hành Động Đồng Hoá. Điều này bao hàm điều đã được gọi là một “khoảnh khắc khai mở,” trong đó điểm đạo đồ thấy điều nằm trong ý định vũ trụ và bắt đầu hoạt động không chỉ như một đơn vị hành tinh mà còn như một tiêu điểm vũ trụ. Đức Phật Hoạt Động chịu trách nhiệm cho loại hoạt động hành tinh này làm việc với Đấng Chúa Tể cung một và hoạt động như một tiền đồn của tâm thức của sự sống phú linh của Bạch Dương và Sư Tử. Công việc của Ngài chỉ mới bắt đầu trở nên quan trọng.
I realise that this information has little meaning to you and lies beyond your understanding, but so was much that I gave you in A Treatise on Cosmic Fire. Its sole value for you lies in the revelation of the linking up and the interplay between all parts of our solar system, our universe and the zodiac. Through these three great Buddhas there is a basic relation, established aeons ago and steadfastly held, between our planet, three of the seven sacred planets, and six of the major constellations—the three and the six which most uniquely concern the fourth kingdom in nature. Other planets and other constellations are also related to the human family, but their relation is more aggressively (if I might use that word) related to the three subhuman kingdoms; with these we shall not here deal. Their relation to the human kingdom has been covered by me in the astrological section of this Treatise: A Treatise on the Seven Rays, Vol. III (Esoteric Astrology).
Tôi nhận ra rằng thông tin này ít có ý nghĩa đối với bạn và vượt ngoài sự thấu hiểu của bạn, nhưng nhiều điều tôi đã cho bạn trong Luận về Lửa Vũ Trụ cũng vậy. Giá trị duy nhất của nó đối với bạn nằm ở sự mặc khải về sự liên kết và tương tác giữa mọi phần của hệ mặt trời chúng ta, vũ trụ của chúng ta và vòng hoàng đạo. Qua ba Đức Phật vĩ đại này, có một mối liên hệ căn bản, được thiết lập từ các đại kiếp trước và được duy trì bền vững, giữa hành tinh của chúng ta, ba trong bảy hành tinh thiêng liêng, và sáu chòm sao lớn—ba và sáu này liên hệ một cách độc đáo nhất đến giới thứ tư trong thiên nhiên. Các hành tinh khác và các chòm sao khác cũng liên hệ đến gia đình nhân loại, nhưng mối liên hệ của chúng mạnh mẽ hơn (nếu tôi có thể dùng từ đó) đối với ba giới dưới nhân loại; ở đây chúng ta sẽ không bàn đến chúng. Mối liên hệ của chúng với giới nhân loại đã được tôi trình bày trong phần chiêm tinh của bộ Luận này: Luận về Bảy Cung, Tập III (Chiêm Tinh Học Nội Môn).
You will note that I have here indicated the existence of five triangles:
Bạn sẽ lưu ý rằng ở đây tôi đã chỉ ra sự hiện hữu của năm tam giác:
1. That existing in the interplay of the energies of the three Buddhas of Activity Who create a triangle, closely related to the planet Saturn.
1. Tam giác hiện hữu trong sự tương tác của các năng lượng của ba Đức Phật Hoạt Động, Các Ngài tạo thành một tam giác, liên hệ chặt chẽ với hành tinh Sao Thổ.
2. The triangle of the three rays through whom the three Buddhas work.
2. Tam giác của ba cung mà qua đó ba Đức Phật làm việc.
3. The three planets which are connected with the three Lords of the three rays and by means of which They express Their impelling energy. [270]
3. Ba hành tinh được nối kết với ba Đấng Chúa Tể của ba cung và nhờ đó Các Ngài biểu lộ năng lượng thúc đẩy của mình. [270]
4 - 5. Two interlaced triangles, created by the six constellations from which the three Buddhas of Activity draw Their needed energy and to which They are uniquely related through Their individual karma. These two interlaced triangles are the cause of the six-pointed star, so familiar among the many occult symbols.
4 - 5. Hai tam giác đan xen, được tạo ra bởi sáu chòm sao mà từ đó ba Đức Phật Hoạt Động rút năng lượng cần thiết của Các Ngài và với chúng Các Ngài có liên hệ độc đáo qua nghiệp quả cá nhân của mình. Hai tam giác đan xen này là nguyên nhân của ngôi sao sáu cánh, quá quen thuộc trong số nhiều biểu tượng huyền bí.
From the Law of Analogy, another exceedingly important triangle is found in the human body and (esoterically considered) is related to the subject under consideration:
Từ định luật tương đồng, một tam giác cực kỳ quan trọng khác được tìm thấy trong cơ thể con người và (xét theo huyền bí học) có liên hệ với chủ đề đang được bàn đến:
1. The ajna centre, embodying the directing energy of that body of activity which we call the personality.
1. Trung tâm ajna, thể hiện năng lượng chỉ đạo của khối thể hoạt động mà chúng ta gọi là phàm ngã.
2. The throat centre, which is peculiarly active today in all human beings; this testifies to the success of the creative work of the Buddhas of Activity. This, in its turn, has a small symbolic triangle of its own, to which I would call attention: the thyroid gland and the para-thyroids.
2. Trung tâm cổ họng, hiện nay hoạt động một cách đặc biệt nơi mọi con người; điều này chứng tỏ sự thành công của công việc sáng tạo của các Đức Phật Hoạt Động. Đến lượt nó, trung tâm này có một tam giác biểu tượng nhỏ của riêng nó mà tôi muốn lưu ý: tuyến giáp và các tuyến cận giáp.
3. The centre at the base of the spine. This is galvanised into activity at a certain stage of the evolutionary process, by energy emanating from the Buddhas of Activity Who are the least active at this particular time. It is an energy pouring towards the fourth kingdom but not directed towards any individual. These great Lives work through major groups. Their potency is such that it would otherwise prove destructive.
3. Trung tâm ở đáy cột sống. Trung tâm này được kích hoạt vào một giai đoạn nhất định của tiến trình tiến hoá bởi năng lượng phát ra từ Đức Phật Hoạt Động hiện ít hoạt động nhất vào thời điểm đặc biệt này. Đó là một năng lượng tuôn đổ về giới thứ tư nhưng không hướng đến bất kỳ cá nhân nào. Những Sự Sống vĩ đại này làm việc qua các nhóm lớn. Quyền năng của Các Ngài mạnh đến mức nếu không như vậy thì sẽ tỏ ra có tính hủy diệt.
The purpose of Deity is necessarily embodied in a mental proposition; it is through this mental proposition that the three Buddhas of Activity implement Their work. I can put it no clearer. There will come a time in the experience of all initiates when—each for himself—a formulation of this mental proposition will be absolutely necessary. By means of this, each initiate will embody his individual understanding of the divine purpose as the Plan has been revealed to him.
Mục đích của Thượng đế tất yếu được thể hiện trong một mệnh đề trí tuệ; chính qua mệnh đề trí tuệ này mà ba Đức Phật Hoạt Động thực hiện công việc của Các Ngài. Tôi không thể nói rõ hơn. Sẽ đến một lúc trong kinh nghiệm của mọi điểm đạo đồ khi—mỗi người cho chính mình—một sự hình thành mệnh đề trí tuệ này sẽ tuyệt đối cần thiết. Nhờ đó, mỗi điểm đạo đồ sẽ thể hiện sự thấu hiểu cá nhân của mình về mục đích thiêng liêng như Thiên Cơ đã được mặc khải cho y.
This he can do only through the means of group experience, in cooperation with his group and when the group—as a whole—has reached a similar point of realisation [271] has together touched the fringes of this highest of all revelations for humanity. When, for the first time, they succeed in doing this, they will come—as a group—under the direct emanation of the Higher Three and under an aspect of the Council Chamber at Shamballa which has been hitherto unknown and unrealised. This will connote a high stage of initiation of the group and is, in effect, connected with inter-hierarchical activity. It is a working out into the consciousness of the group members of an event which has taken place within the Ashram of Sanat Kumara, the Hierarchy itself; this takes place through the stimulation of all the Ashrams at a certain Full Moon, and concerns the relation of the Ashrams as a whole to Shamballa, and not to Humanity.
Y chỉ có thể làm điều này qua kinh nghiệm nhóm, trong sự hợp tác với nhóm của mình và khi nhóm—như một toàn thể—đã đạt tới một điểm chứng nghiệm tương tự [271] đã cùng nhau chạm tới rìa của sự mặc khải cao nhất này dành cho nhân loại. Khi lần đầu tiên họ thành công trong việc làm điều này, họ sẽ đến—như một nhóm—dưới sự phát xạ trực tiếp của Ba Đấng Cao Hơn và dưới một phương diện của Phòng Hội Đồng tại Shamballa mà từ trước đến nay chưa được biết đến và chưa được chứng nghiệm. Điều này sẽ hàm ý một giai đoạn điểm đạo cao của nhóm và thực chất có liên hệ với hoạt động liên-thánh đoàn. Đó là sự triển khai vào tâm thức của các thành viên nhóm của một biến cố đã diễn ra bên trong ashram của Đức Sanat Kumara, tức chính Thánh Đoàn; điều này diễn ra qua sự kích thích của mọi ashram vào một kỳ Trăng Tròn nhất định, và liên quan đến mối liên hệ của các ashram như một toàn thể với Shamballa, chứ không phải với Nhân Loại.
Can you grasp something of what I am endeavouring somewhat unsuccessfully to convey? There is an ashramic activity of which disciples know nothing in their brain consciousness until such time as the third initiation has been taken and the results of it are then dimly but increasingly sensed. It is related to the interplay between Shamballa and the Hierarchy, but not between the Hierarchy and Humanity. It concerns the purpose and the plan as the latter is the instrument of the former. The event of realisation takes place via the triad formed by a Master and His two senior disciples, or it is formed by three Masters all upon the same ray, as for instance, the Master K.H. and his Ashram, myself and my Ashram and another affiliated Ashram.
Bạn có thể nắm bắt được phần nào điều mà tôi đang cố gắng, dù phần nào không thành công, để truyền đạt không? Có một hoạt động ashram mà các đệ tử không biết gì trong tâm thức não bộ của họ cho đến khi lần điểm đạo thứ ba đã được tiếp nhận và khi đó các kết quả của nó mới được cảm nhận một cách mơ hồ nhưng ngày càng tăng. Nó liên hệ đến sự tương tác giữa Shamballa và Thánh Đoàn, chứ không phải giữa Thánh Đoàn và Nhân Loại. Nó liên quan đến mục đích và thiên cơ, trong đó thiên cơ là công cụ của mục đích. Biến cố chứng nghiệm diễn ra qua bộ ba được hình thành bởi một Chân sư và hai đệ tử cao cấp của Ngài, hoặc được hình thành bởi ba Chân sư cùng trên một cung, chẳng hạn như Chân sư KH và ashram của Ngài, tôi và ashram của tôi, cùng một ashram liên kết khác.
It is for this reason that in all exoteric groups connected with an Ashram, there is always a group leader and two others who are the reflection or the correspondence to the higher triad. This is part of the externalisation of the Hierarchy which is proceeding rapidly at this time.
Chính vì lý do này mà trong mọi nhóm ngoại môn liên kết với một ashram, luôn luôn có một trưởng nhóm và hai người khác là sự phản chiếu hay tương ứng với bộ ba cao hơn. Đây là một phần của Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn hiện đang tiến hành nhanh chóng vào lúc này.
The importance of understanding the function of triangles is a prime necessity. A hint lies here for students in the political realm, where every country, under differing names, has its chosen ruler, and its ministers responsible for home affairs (or interior relations), and its foreign secretary, responsible for exoteric relationships.
Tầm quan trọng của việc thấu hiểu chức năng của các tam giác là một điều tối cần thiết hàng đầu. Ở đây có một gợi ý cho các đạo sinh trong lĩnh vực chính trị, nơi mỗi quốc gia, dưới những tên gọi khác nhau, đều có người cai trị được chọn, và các bộ trưởng phụ trách nội vụ (hay các quan hệ nội bộ), cùng bộ trưởng ngoại giao, chịu trách nhiệm về các quan hệ ngoại hiện.
[272]
[272]
One further point anent the Buddhas of Activity might here be of interest. Each of Them has a special relation to the three races which have been or are strictly human: these are the third, the fourth and the fifth rootraces which we call the Lemurian, the Atlantean and the present Aryan race (I do not use the word “Aryan” in the manner of the German race). In some peculiar manner, They represent in Shamballa the soul of each of these three races. One thing complicates this question for you, but it is in reality quite simple. The same souls re-incarnate in each race, and each soul therefore comes in turn under the influence of each of the three Buddhas, each of Whom is of a quality different to that of his two Associates. They represent—in Their lowest aspect—the three aspects of the mind, as I earlier said. There is:
Một điểm nữa liên quan đến các Đức Phật Hoạt Động có lẽ ở đây sẽ đáng quan tâm. Mỗi vị trong Các Ngài có một mối liên hệ đặc biệt với ba nhân loại đã từng hoặc đang là nhân loại theo nghĩa chặt chẽ: đó là giống dân gốc thứ ba, thứ tư và thứ năm mà chúng ta gọi là nhân loại Lemuria, Atlantis và nhân loại Arya hiện nay (tôi không dùng từ “Arya” theo cách của chủng tộc Đức). Theo một cách đặc biệt nào đó, Các Ngài đại diện trong Shamballa cho linh hồn của mỗi một trong ba nhân loại này. Có một điều làm cho vấn đề này trở nên phức tạp đối với bạn, nhưng thực ra nó khá đơn giản. Cùng những linh hồn ấy tái nhập thể trong mỗi nhân loại, và vì vậy mỗi linh hồn lần lượt chịu ảnh hưởng của từng vị trong ba Đức Phật, mỗi vị có một phẩm tính khác với hai Vị Đồng Sự của mình. Các Ngài đại diện—trong phương diện thấp nhất của Các Ngài—cho ba phương diện của trí tuệ, như tôi đã nói trước đây. Có:
1. The instinctual nature as it develops into the mind nature and makes a transition into an automatic, subconscious character and—at the same time—assumes some of its paralleling higher qualities.
1. Bản chất bản năng khi nó phát triển thành bản chất trí tuệ và chuyển tiếp vào một tính cách tự động, tiềm thức và—đồng thời—mang lấy một số phẩm tính cao hơn song hành của nó.
2. The lower concrete mind in its more developed stage, as it gradually assumes control and supersedes instinct in the consciousness of man. The Buddhas of Activity preside over what might be called (using a technical, occult term) the ahamkara principle—the mind as it serves the selfish interests of man and enables man thereby to achieve a sense of proportion and a finer estimate of values. Forget not that selfishness is a stage of unfoldment, and that it is a necessary stage whereby humanity learns the price of self-interest.
2. Hạ trí cụ thể trong giai đoạn phát triển hơn của nó, khi nó dần dần nắm quyền kiểm soát và thay thế bản năng trong tâm thức con người. Các Đức Phật Hoạt Động chủ trì điều có thể được gọi là (dùng một thuật ngữ kỹ thuật, huyền bí) nguyên khí ahamkara—trí tuệ khi nó phục vụ các lợi ích ích kỷ của con người và nhờ đó giúp con người đạt được ý thức về tỉ lệ và sự ước lượng giá trị tinh tế hơn. Đừng quên rằng tính ích kỷ là một giai đoạn của sự khai mở, và đó là một giai đoạn cần thiết nhờ đó nhân loại học được cái giá của tư lợi.
3. The personality mind. This assumes control over the man and leads him to prove the nature of power and of success and—above all else—of integration. This too is a necessary phase and precedes a stage of awakening.
3. Trí tuệ phàm ngã. Điều này nắm quyền kiểm soát con người và dẫn y đến chỗ chứng minh bản chất của quyền lực và thành công và—trên hết mọi điều khác—của sự tích hợp. Đây cũng là một giai đoạn cần thiết và đi trước một giai đoạn thức tỉnh.
These three great Lives Who have associated Themselves with the Lord of the World might be regarded as constituting aspects of His personality, though this is not technically [273] so. The name Sanat Kumara is not His true name; it is only the first letter of that name which is known only to the Masters, whilst the second letter is known only to the Chohans. The first syllable of His name is known in the Council Chamber at Shamballa, but the rest of His name remains unknown as yet. The three Buddhas of Activity are to the planetary Logos (to give you another definition) what the Spiritual Triad is to the dedicated personality of the initiated disciple, for such is the spiritual status of the planetary Logos; the one of the three Buddhas now coming into activity is the one Who works through the spiritual will.
Ba Sự Sống vĩ đại này, những Đấng đã liên kết với Đức Chúa Tể Thế Giới, có thể được xem như cấu thành các phương diện của phàm ngã của Ngài, dù về mặt kỹ thuật điều này không đúng như vậy. Tên Sanat Kumara không phải là tên thật của Ngài; chỉ chữ cái đầu tiên của tên ấy mới được các Chân sư biết đến, còn chữ cái thứ hai chỉ được các Chohan biết. Âm tiết đầu tiên của tên Ngài được biết trong Phòng Hội Đồng tại Shamballa, nhưng phần còn lại của tên Ngài cho đến nay vẫn chưa được biết. Ba Đức Phật Hoạt Động đối với Hành Tinh Thượng đế (để cho bạn một định nghĩa khác) cũng như Tam Nguyên Tinh Thần đối với phàm ngã tận hiến của đệ tử đã được điểm đạo, vì đó là địa vị tinh thần của Hành Tinh Thượng đế; vị trong ba Đức Phật hiện đang đi vào hoạt động là vị làm việc qua ý chí tinh thần.
Within the body of the planetary Logos humanity is slowly building that which they call the antahkarana; this is, in reality, the linking thread between the head centre of Sanat Kumara and His heart centre. Ponder on these words. There is a mystery involved here and it is little that I can do to make it clearer. As humanity builds or creates the triangles of light and of goodwill, they are in reality invoking a response activity from two of the Buddhas of Activity—the One Who works through the medium of the will aspect, and the One Who works through love in humanity, intelligently applied. Forget not that these three great Buddhas summarise in a peculiar sense the transmuted essence of the previous solar system in which intelligent activity was the goal. Today, that essence underlies all the activity of this solar system but is motivated by love, which was not the case in the earlier manifestation. The Buddhas Themselves form a deeply esoteric Triangle.
Bên trong thể của Hành Tinh Thượng đế, nhân loại đang chậm rãi xây dựng điều mà họ gọi là antahkarana; thực ra đây là sợi dây liên kết giữa trung tâm đầu của Đức Sanat Kumara và trung tâm tim của Ngài. Hãy suy ngẫm về những lời này. Có một huyền nhiệm liên quan ở đây và tôi chỉ có thể làm rất ít để khiến nó rõ hơn. Khi nhân loại xây dựng hay tạo ra các tam giác ánh sáng và thiện chí, thực ra họ đang khẩn cầu một hoạt động đáp ứng từ hai trong ba Đức Phật Hoạt Động—Vị làm việc qua trung gian của phương diện ý chí, và Vị làm việc qua bác ái trong nhân loại, được áp dụng một cách thông minh. Đừng quên rằng ba Đức Phật vĩ đại này, theo một nghĩa đặc biệt, tóm lược tinh chất đã được chuyển hoá của hệ mặt trời trước, trong đó hoạt động thông minh là mục tiêu. Ngày nay, tinh chất ấy nằm bên dưới mọi hoạt động của hệ mặt trời này nhưng được thúc đẩy bởi bác ái, điều không phải như vậy trong biểu hiện trước kia. Chính các Đức Phật tạo thành một Tam giác sâu xa huyền bí.
The two types of triangles now being created by a mere handful of people are related to that basic triangle. A third type of triangle will at some much later date be constructed but only when these two earlier types are well established in the consciousness of humanity. Then the activity of all the three Buddhas will be involved and present, and a major planetary integration will take place. This is symbolised in man when the three centres in the head (the ajna centre, the brahmarandra centre, and the alta major centre) are [274] all functioning and unshakably related, thereby constituting a triangle of light within the head.
Hai loại tam giác hiện đang được tạo ra bởi chỉ một số rất ít người có liên hệ với tam giác căn bản ấy. Một loại tam giác thứ ba sẽ được kiến tạo vào một ngày nào đó muộn hơn nhiều nhưng chỉ khi hai loại trước đó đã được thiết lập vững chắc trong tâm thức nhân loại. Khi ấy hoạt động của cả ba Đức Phật sẽ được bao hàm và hiện diện, và một sự tích hợp hành tinh lớn sẽ diễn ra. Điều này được biểu tượng hóa nơi con người khi ba trung tâm trong đầu (trung tâm ajna, trung tâm brahmarandra, và trung tâm alta major) đều [274] đang hoạt động và liên hệ với nhau một cách bất khả dao động, nhờ đó cấu thành một tam giác ánh sáng bên trong đầu.
From the triangles now being created and those later to be assembled, the Buddhas of Activity will extract that essential quality (at present very rarely to be found) which will go to the building of this aspect of the planetary antahkarana.
Từ các tam giác hiện đang được tạo ra và những tam giác về sau sẽ được tập hợp, các Đức Phật Hoạt Động sẽ rút ra phẩm tính thiết yếu ấy (hiện nay rất hiếm được tìm thấy) để góp phần xây dựng phương diện này của antahkarana hành tinh.
The triangles of light and of goodwill are essentially invocative. They constitute the a.b.c. of the coming Science of Invocation. Their strength is dependent upon the depth of feeling in the one case, and the strength of the will in the other, with which they are created. I have here given those disciples who are launching this new project which is so close to my heart a new and useful hint. This work must go on. It is because the entire concept is so new and different to anything hitherto projected that it seems so impossible of achievement; the triangles project has its incentive in such highly esoteric sources that some disciples regard the work as exceedingly difficult and thus complicate, by their thinking, its essential simplicity; others regard it as the simplest thing in the world, and by an emphasis upon the exoteric and the organisational angle, they again hinder the true type of triangle being created. Disciples need to be aware of the true proposed plan and find ways to make clear the middle position between the difficulties brought forward and the simplicities which distort.
Các tam giác ánh sáng và thiện chí về bản chất là có tính khẩn cầu. Chúng cấu thành a.b.c. của Khoa Học Khẩn Cầu sắp đến. Sức mạnh của chúng tùy thuộc vào chiều sâu cảm xúc trong trường hợp này, và sức mạnh của ý chí trong trường hợp kia, mà nhờ đó chúng được tạo ra. Ở đây tôi đã trao cho những đệ tử đang khởi xướng dự án mới này, vốn rất gần gũi với tâm tôi, một gợi ý mới mẻ và hữu ích. Công việc này phải được tiếp tục. Chính vì toàn bộ khái niệm này quá mới mẻ và khác biệt với bất cứ điều gì từng được phóng chiếu từ trước đến nay nên nó dường như không thể thành tựu; dự án tam giác có động lực từ những nguồn gốc huyền bí học cao siêu đến mức một số đệ tử xem công việc này là cực kỳ khó khăn và do đó, bằng tư tưởng của mình, làm phức tạp tính đơn giản cốt yếu của nó; những người khác lại xem đó là điều đơn giản nhất trên đời, và do nhấn mạnh vào khía cạnh ngoại môn và tổ chức, họ lại cản trở việc tạo ra loại tam giác chân chính. Các đệ tử cần ý thức được kế hoạch chân thực được đề xuất và tìm ra những cách làm sáng tỏ vị trí trung đạo giữa những khó khăn được nêu ra và những sự đơn giản hóa gây bóp méo.
Perhaps I may help to clarify somewhat the minds responsible for the initial steps in this deeply esoteric enterprise. It is different to the intellectual and practical work which the men and women of goodwill are asked to do and will do; it is not what some earnest people regard as goodwill work or a phase of the goodwill work. The forming of triangles of light and of goodwill concerns the reservoir of energy upon the inner and etheric side of life which will automatically and with full circulatory effect enable the exoteric work of the men and women of goodwill to make progress. It is not goodwill per se, but the creation of triangles of energy within the etheric body of the planet which [275] are deliberately qualified by goodwill. The two phases of the work are necessarily complementary to each other but must not be regarded as one. The triangles of light must be qualified by or become the agents of goodwill, and the two groups are closely interrelated. The men and women of goodwill need know nothing of these triangles unless it is deemed wise and they are individually advanced enough to react correctly, but their work along the lines of goodwill will be successful or non-successful (I speak from the long range view) according to the intensity of purpose and the depth of love demonstrated by the two groups of triangle members.
Có lẽ tôi có thể giúp làm sáng tỏ phần nào trí tuệ của những người chịu trách nhiệm cho các bước khởi đầu trong công cuộc sâu sắc huyền bí này. Nó khác với công việc trí tuệ và thực tiễn mà những người nam và nữ thiện chí được yêu cầu thực hiện và sẽ thực hiện; nó không phải là điều mà một số người nhiệt thành xem là công việc thiện chí hay một giai đoạn của công việc thiện chí. Việc hình thành các tam giác ánh sáng và thiện chí liên quan đến hồ chứa năng lượng ở mặt bên trong và dĩ thái của sự sống, vốn sẽ tự động và với hiệu quả tuần hoàn trọn vẹn giúp cho công việc ngoại môn của những người nam và nữ thiện chí tiến triển. Đó không phải chính là thiện chí, mà là việc tạo ra các tam giác năng lượng trong thể dĩ thái của hành tinh, những tam giác [275] được cố ý mang phẩm tính thiện chí. Hai giai đoạn của công việc tất yếu bổ sung cho nhau nhưng không được xem là một. Các tam giác ánh sáng phải được mang phẩm tính thiện chí hoặc trở thành tác nhân của thiện chí, và hai nhóm này có liên hệ mật thiết với nhau. Những người nam và nữ thiện chí không cần biết gì về các tam giác này trừ phi điều đó được xem là khôn ngoan và cá nhân họ đủ tiến bộ để đáp ứng đúng đắn, nhưng công việc của họ theo đường lối thiện chí sẽ thành công hay không thành công (tôi nói từ quan điểm dài hạn) tùy theo cường độ mục đích và chiều sâu bác ái được biểu lộ bởi hai nhóm thành viên tam giác.
Those responsible for the creative work upon the outer field must begin with the esoteric work. I am writing here for disciples, some of whom are members of my Ashram, and for the New Group of World Servers; these are responsible for carrying forward the work as planned. The two groups of triangles already formed are in reality building a thoughtform anent this work which will evoke response from the true builders.
Những ai chịu trách nhiệm cho công việc sáng tạo trên lĩnh vực bên ngoài phải bắt đầu bằng công việc huyền bí. Ở đây tôi viết cho các đệ tử, một số người trong đó là thành viên của ashram của tôi, và cho Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian; họ chịu trách nhiệm xúc tiến công việc như đã hoạch định. Hai nhóm tam giác đã được hình thành thực ra đang xây dựng một Hình tư tưởng liên quan đến công việc này, hình tư tưởng ấy sẽ gợi lên sự đáp ứng từ những đấng kiến tạo chân chính.
It will be apparent to you, therefore, that this creative work, with its intelligent and practical purposes and its ability when rightly functioning to unite the exoteric and the esoteric workers in one spiritual undertaking, originates in reality in Shamballa itself and was grasped—as to intent and purpose—by Masters upon the first and second rays, though primarily the second ray disciple and Master understood it the most easily. Later, when steady and systematic work has been done, and the idea is familiar to the public, this activity will form an important part of the new world religion and be better understood; it will have its own inner group who will work entirely subjectively, building the triangles of light and of goodwill, and then will work objectively, directing the activities of those who are building the organisational aspect of triangles of practical goodwill on Earth with an effective subsidiary activity.
Do đó, hiển nhiên với các bạn rằng công việc sáng tạo này, với những mục đích thông tuệ và thực tiễn của nó cùng khả năng, khi vận hành đúng đắn, hợp nhất những người hoạt động ngoại môn và nội môn trong một công cuộc tinh thần duy nhất, thực sự bắt nguồn từ chính Shamballa và đã được các Chân sư trên cung một và cung hai nắm bắt—xét về ý định và mục đích—dù chủ yếu đệ tử và Chân sư cung hai hiểu nó dễ dàng hơn cả. Về sau, khi công việc đều đặn và có hệ thống đã được thực hiện, và ý tưởng này trở nên quen thuộc với công chúng, hoạt động này sẽ tạo thành một phần quan trọng của tôn giáo thế giới mới và sẽ được hiểu rõ hơn; nó sẽ có nhóm nội môn riêng của mình, những người sẽ làm việc hoàn toàn một cách chủ quan, xây dựng các tam giác ánh sáng và thiện chí, rồi sau đó sẽ làm việc một cách khách quan, chỉ đạo các hoạt động của những người đang xây dựng phương diện tổ chức của các tam giác thiện chí thực tiễn trên Trái Đất bằng một hoạt động phụ trợ hữu hiệu.
That time is not yet. Today we have the creation of a general thoughtform or the germinating of the seed of an [276] idea. Later, when the true outer work begins, its potency will be objectively demonstrated because the Buddhas of Activity will gradually become aware of the existence of the thoughtform in its nature of light and its quality of goodwill. They will then pour of Their life into it as need arises and emergency decrees. Then gradually “the will of God will hold sway,” as our injunction expresses it. Paralleling all this will be the work of the men and women of goodwill throughout the world, but in itself entirely objective—worldwide and amazingly useful.
Thời điểm đó vẫn chưa đến. Ngày nay chúng ta có việc tạo ra một Hình tư tưởng tổng quát hay sự nảy mầm của hạt giống của một [276] ý tưởng. Về sau, khi công việc bên ngoài chân chính bắt đầu, năng lực của nó sẽ được chứng minh một cách khách quan bởi vì các Đấng Phật Hoạt Động sẽ dần dần nhận biết sự hiện hữu của Hình tư tưởng ấy trong bản chất ánh sáng và phẩm tính thiện chí của nó. Khi đó Các Ngài sẽ rót sự sống của Các Ngài vào đó khi nhu cầu phát sinh và tình trạng khẩn cấp đòi hỏi. Rồi dần dần “Ý Chí của Thượng Đế sẽ ngự trị,” như mệnh lệnh của chúng ta diễn tả. Song song với tất cả điều này sẽ là công việc của những người nam và nữ thiện chí trên khắp thế giới, nhưng tự thân hoàn toàn khách quan—mang tính toàn cầu và hữu ích một cách đáng kinh ngạc.
Disciples need to learn to think in terms of group synthesis. This implies the achieving by them of deepened subjective relationships and increased sensitivity to the higher impression and the inner inspiration. The vertical life of the spirit and the horizontal life of relationship must be expressed simultaneously in some measure, before the significance of these Rules can be somewhat grasped.
Các đệ tử cần học cách suy nghĩ theo thuật ngữ của sự tổng hợp nhóm. Điều này hàm ý việc họ đạt được những mối liên hệ chủ quan sâu sắc hơn và sự nhạy cảm gia tăng đối với ấn tượng cao hơn và cảm hứng nội tại. Đời sống thẳng đứng của tinh thần và đời sống ngang của mối liên hệ phải được biểu lộ đồng thời ở một mức độ nào đó, trước khi thâm nghĩa của các Quy Luật này có thể phần nào được nắm bắt.
We have been considering Shamballa, and I have given you some information (hitherto not communicated in words) re the Council Chamber of Sanat Kumara and of Those Who constitute its membership. I would pause here to remind you of two facts:
Chúng ta đã xem xét Shamballa, và tôi đã cung cấp cho các bạn một số thông tin (cho đến nay chưa từng được truyền đạt bằng lời) liên quan đến Phòng Hội Đồng của Đức Sanat Kumara và của Những Đấng tạo thành thành phần của hội đồng ấy. Ở đây tôi muốn dừng lại để nhắc các bạn hai sự kiện:
1. Shamballa is a state of consciousness or a phase of sensitive awareness wherein there is acute and dynamic response to divine purpose—a response made possible by the synthesis of purpose and of spiritual relationship which exists between Those Who are associated with Sanat Kumara.
1. Shamballa là một trạng thái tâm thức hay một giai đoạn của sự nhận biết nhạy bén, trong đó có sự đáp ứng sắc bén và năng động đối với thiên ý—một sự đáp ứng được làm cho khả hữu nhờ sự tổng hợp của mục đích và mối liên hệ tinh thần hiện hữu giữa Những Đấng liên kết với Đức Sanat Kumara.
2. Brotherhood, as it essentially is, constitutes a major mystery; also it is one which is only in process of solving, and that only on the two higher levels of the cosmic physical plane—those levels which we call the logoic and the monadic.
2. Tình huynh đệ, như bản chất đích thực của nó, cấu thành một huyền nhiệm lớn; đồng thời đó cũng là một huyền nhiệm mới chỉ đang trong tiến trình được giải quyết, và điều đó chỉ trên hai cấp độ cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ—những cấp độ mà chúng ta gọi là cõi logoic và cõi chân thần.
I am aware that you understand brotherhood in terms of the One Father and His children. That understanding is in itself so limited and inaccurate that it serves mainly to distort the truth; yet all that you can grasp at this time is [277] embodied in this concept. The nearest description of the true relationship might be said to be as follows: Brotherhood is an expression of the relation which the planetary Logos (on the cosmic mental plane) bears to His Personality as it expresses itself through the planet with all its forms of life, upon the cosmic physical plane; this relationship is focussed through Sanat Kumara Who is the individualised Mind of that great Life. Wording it otherwise, the planetary Logos on His Own plane is to Sanat Kumara what the soul is to the human personality upon the physical plane in the three worlds. The sum total of the relation and of the relationships set up is, therefore, inadequately covered by the word “brotherhood.” “Fellowship,” so frequently used to express a similar idea, is in reality the mode whereby a dimly sensed brotherhood seeks to make its presence felt. The words “the fellowship of Christ” indicate the emergence of this concept subjectively upon the mental plane; this will be followed, as time elapses, by concrete manifestation upon the physical plane. It is this idea which lies behind the glibly used words “idea, ideal and idol,” and which is also responsible for the growing sense of responsibility which characterises all human advancement upon the way of life. It is this basic idea which governs the Council Chamber at Shamballa and which constitutes the motivating impulse behind the planetary expression of livingness. It is this also which characterises the ideal for which the Hierarchy stands and which implements the Plan; it is this spiritual planning which results in the growing “forms of relationship” which today seem to be taking definite shape in the concretising of the divine project: Right Human Relations.
Tôi biết rằng các bạn hiểu tình huynh đệ theo thuật ngữ của Một Người Cha và con cái của Ngài. Sự hiểu biết đó tự thân quá hạn hẹp và thiếu chính xác đến nỗi chủ yếu chỉ làm bóp méo chân lý; tuy nhiên tất cả những gì các bạn có thể nắm bắt vào lúc này đều [277] được hàm chứa trong khái niệm ấy. Mô tả gần đúng nhất về mối liên hệ chân thực có thể được nói như sau: Tình huynh đệ là một biểu hiện của mối liên hệ mà Hành Tinh Thượng đế (trên cõi trí vũ trụ) mang đối với Phàm ngã của Ngài khi nó biểu lộ qua hành tinh với mọi hình thức sự sống của nó trên cõi hồng trần vũ trụ; mối liên hệ này được tập trung qua Đức Sanat Kumara, Đấng là Trí Tuệ đã được biệt ngã hóa của Sự Sống vĩ đại ấy. Nói theo cách khác, Hành Tinh Thượng đế trên cõi riêng của Ngài đối với Đức Sanat Kumara cũng như linh hồn đối với phàm ngã con người trên cõi hồng trần trong ba cõi giới. Vì vậy, tổng thể của mối liên hệ và các mối liên hệ được thiết lập không được bao quát đầy đủ bởi từ “tình huynh đệ.” “Tình bằng hữu,” từ thường được dùng để diễn đạt một ý tưởng tương tự, thực ra là phương thức nhờ đó một tình huynh đệ được cảm nhận mờ nhạt tìm cách làm cho sự hiện diện của nó được cảm thấy. Những từ “tình bằng hữu của Đức Christ” chỉ ra sự xuất hiện của khái niệm này một cách chủ quan trên cõi trí; điều này về sau, theo thời gian, sẽ được tiếp nối bằng sự biểu hiện cụ thể trên cõi hồng trần. Chính ý tưởng này nằm sau những từ được dùng một cách trơn tru “ý tưởng, lý tưởng và thần tượng,” và cũng chính nó chịu trách nhiệm cho ý thức trách nhiệm ngày càng tăng, vốn đặc trưng cho mọi sự tiến bộ của con người trên đường đời. Chính ý tưởng căn bản này chi phối Phòng Hội Đồng tại Shamballa và cấu thành xung lực thúc đẩy đằng sau biểu hiện hành tinh của tính sống động. Chính điều này cũng đặc trưng cho lý tưởng mà Thánh Đoàn đứng ra bảo vệ và là điều thực thi Thiên Cơ; chính sự hoạch định tinh thần này dẫn đến những “hình thức liên hệ” ngày càng tăng mà ngày nay dường như đang mang hình dạng rõ rệt trong sự cụ thể hóa dự án thiêng liêng: Những Tương Quan Đúng Đắn của Con Người.
I have written these opening remarks because it is this elevated understanding of brotherhood which conditions divine purpose and which leads to the spiritual planning that will give you the due to the third major injunction, with this we shall now deal. This injunction is worded as follows:
Tôi đã viết những nhận xét mở đầu này bởi vì chính sự thấu hiểu cao siêu này về tình huynh đệ tác động lên thiên ý và dẫn đến sự hoạch định tinh thần, điều sẽ cho các bạn manh mối đối với mệnh lệnh lớn thứ ba, mà giờ đây chúng ta sẽ bàn đến. Mệnh lệnh này được phát biểu như sau:
5. Let Transfiguration follow Transformation, and may Transmutation disappear.
5. Hãy để Biến hình theo sau Chuyển đổi, và cầu mong Chuyển hoá biến mất.
[278]
[278]
I would here remind you that in these fourteen rules we must approach our theme from the angle of the initiate-consciousness and not from that of the blended soul-personality consciousness. It is the higher approach which is here indicated, the problem of the initiate-group and not that of the individual within the group. Hence the great difficulty in putting any of these teachings into words. To the average aspirant to accepted discipleship, the three words which distinguish this third major injunction (but which symbolically constitute the fifth injunction in the rule) might be defined as follows: The ideas conveyed are those of an aspirant to the Mysteries as he faces initiation. Let us take these words in the order given in Rule XIII.
Ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng trong mười bốn quy luật này, chúng ta phải tiếp cận chủ đề của mình từ góc độ tâm thức của điểm đạo đồ chứ không phải từ góc độ tâm thức linh hồn-phàm ngã dung hợp. Chính cách tiếp cận cao hơn được chỉ ra ở đây, vấn đề của nhóm điểm đạo đồ chứ không phải của cá nhân trong nhóm. Do đó mới có khó khăn lớn trong việc diễn đạt bất kỳ giáo huấn nào trong số này thành lời. Đối với người chí nguyện trung bình hướng tới địa vị đệ tử được chấp nhận, ba từ phân biệt mệnh lệnh lớn thứ ba này (nhưng về mặt biểu tượng cấu thành mệnh lệnh thứ năm trong quy luật) có thể được định nghĩa như sau: Những ý tưởng được chuyển tải là những ý tưởng của một người chí nguyện hướng tới các Huyền Nhiệm khi y đối diện với điểm đạo. Chúng ta hãy xét các từ này theo thứ tự được nêu trong Quy Luật XIII.
1. Transfiguration—that stage upon the Path of Initiation wherein the third initiation is undergone, wherein the personality is irradiated by the full light of the soul and the three personality vehicles are completely transcended; they have become simply forms through which spiritual love may flow out into the world of men in the salvaging task of creation.
1. Biến hình—giai đoạn trên Con Đường Điểm Đạo trong đó lần điểm đạo thứ ba được trải qua, trong đó phàm ngã được chiếu rạng bởi toàn bộ ánh sáng của linh hồn và ba vận cụ phàm ngã hoàn toàn được vượt qua; chúng chỉ còn là những hình tướng qua đó bác ái tinh thần có thể tuôn chảy vào thế giới loài người trong công tác cứu vớt của sáng tạo.
2. Transformation—the evolutionary process which is carried on upon the Path of Discipleship, in which the disciple transforms his lower threefold “appearance” or personality and begins to display divine “quality.” His physical body becomes obedient to the dictates of his mind, which is becoming responsive to the higher mind through the medium of the soul; his emotional nature becomes the receptacle of buddhi or of the intuition; then, after the third initiation it disappears altogether, and the buddhic vehicle becomes the main instrument of sentiency. The mind, in due course, is equally transformed by impression from the higher mind, as it endeavours to implement the will nature of the Monad.
2. Chuyển đổi—tiến trình tiến hoá được tiến hành trên Con Đường Đệ Tử, trong đó đệ tử chuyển đổi “sắc tướng” tam phân thấp của mình hay phàm ngã và bắt đầu biểu lộ “phẩm tính” thiêng liêng. Thể xác của y trở nên vâng phục những chỉ thị của trí tuệ, vốn đang trở nên đáp ứng với thượng trí qua trung gian của linh hồn; bản chất cảm xúc của y trở thành vật chứa của Bồ đề hay trực giác; rồi sau lần điểm đạo thứ ba, nó hoàn toàn biến mất, và vận cụ Bồ đề trở thành công cụ chính của cảm nhận. Đến lượt mình, thể trí cũng được chuyển đổi do ấn tượng từ thượng trí, khi nó nỗ lực thực thi bản chất ý chí của chân thần.
3. Transmutation—the method whereby that which is lower is absorbed by the higher, whereby force is transmuted into energy, whereby the energy of the three lower centres is carried up into the three higher centres (head, heart and throat) and which later enables the initiate to [279] centralise all the energies in the three directing centres in the head. This transmuting process goes forward under the pressure of daily life experience, under the magnetic effect of soul contact, and as the inevitable result of evolution itself.
3. Chuyển hoá—phương pháp nhờ đó cái thấp được hấp thụ bởi cái cao, nhờ đó mãnh lực được chuyển hoá thành năng lượng, nhờ đó năng lượng của ba trung tâm thấp được đưa lên ba trung tâm cao (đầu, tim và cổ họng) và về sau giúp điểm đạo đồ [279] tập trung mọi năng lượng vào ba trung tâm chỉ đạo trong đầu. Tiến trình chuyển hoá này diễn ra dưới áp lực của kinh nghiệm đời sống hằng ngày, dưới hiệu ứng từ tính của sự tiếp xúc linh hồn, và như kết quả tất yếu của chính tiến hoá.
All these three spiritualising processes are well known, in theory at least, to all spiritual aspirants; they are expressions of soul-personality intention and effective interplay; they also constitute a paralleling activity to the task of building the antahkarana, as modes of alignment play a large part in the process of transmutation.
Cả ba tiến trình tinh thần hóa này, ít nhất về mặt lý thuyết, đều đã quen thuộc với mọi người chí nguyện tinh thần; chúng là những biểu hiện của ý định và sự tương tác hữu hiệu giữa linh hồn và phàm ngã; chúng cũng cấu thành một hoạt động song hành với nhiệm vụ xây dựng antahkarana, vì các phương thức chỉnh hợp đóng một vai trò lớn trong tiến trình chuyển hoá.
It is not, however, with these attitudes, processes and interpretations that the initiate is concerned, but with the significance of these processes in terms of the completed antahkarana and from the point of view of the “angle of intention” of the Monad. In other words: What do Transfiguration and Transformation signify to Members of the Hierarchy as They face the Way of the Higher Evolution? What can these words imply to Those for Whom the soul, the mediating principle, no longer has any factual significance?
Tuy nhiên, điều mà điểm đạo đồ quan tâm không phải là những thái độ, tiến trình và cách diễn giải này, mà là thâm nghĩa của các tiến trình ấy xét theo antahkarana đã hoàn tất và từ quan điểm của “góc độ ý định” của chân thần. Nói cách khác: Biến hình và Chuyển đổi có nghĩa gì đối với các Thành Viên của Thánh Đoàn khi Các Ngài đối diện với Con đường Tiến Hóa Cao Siêu? Những từ này có thể hàm ý gì đối với Những Đấng mà đối với Các Ngài, linh hồn, nguyên khí trung gian, không còn mang bất kỳ thâm nghĩa thực tế nào nữa?
Consider for a moment that the initiate who has undergone the first major initiation (the Transfiguration) and the two initiations of the threshold (the Birth and Baptism of the Christian Mysteries) has created the antahkarana in order to establish direct relation between the Monad and the personality, between the centre of universal awareness or identification and the form-expression in the three worlds. The antahkarana is constructed and constitutes an active channel of contact. The soul which has for ages directed the various and varying personalities is no longer in existence; the causal body has disappeared, shattered at the moment when the initiate (at the fourth initiation) cries out and says: “My God, my God, why hast Thou forsaken me?” The Temple of Solomon, the spiritual temple “not made with hands, eternal in the Heavens,” is no longer required; it has served its ancient purpose, and that which has been deemed eternal must disappear in the light of [280] THAT to which eternity is only a phase of that which shall later be revealed. All that now remains for the initiate are the two points of living purpose to which we give the names of spirit-matter or life-appearance. The lesson ahead of the initiate is to realise the inner meaning (not the obvious and easily grasped meaning) that spirit is matter at its highest point, and matter is spirit at its lowest. This involves the free interplay of life-energy, consciously applied as the result of age-long processes, and matter-force, via the antahkarana. The “rainbow bridge” becomes a channel for the impact of monadic or life energy upon substance, so that substance, taking form under the cyclic intention of the planetary Logos, may become increasingly coloured or qualified by the energy of universality. You can see from the above somewhat involved sentences how inadequate is language to express the understanding and the intention of the Hierarchy.
Hãy suy xét trong chốc lát rằng điểm đạo đồ đã trải qua lần điểm đạo lớn thứ nhất (Biến hình) và hai lần điểm đạo của ngưỡng cửa (Giáng Sinh và Rửa Tội của các Huyền Nhiệm Cơ Đốc) đã tạo dựng antahkarana để thiết lập mối liên hệ trực tiếp giữa chân thần và phàm ngã, giữa trung tâm của sự nhận biết phổ quát hay đồng nhất hóa và biểu hiện hình tướng trong ba cõi giới. Antahkarana đã được kiến tạo và cấu thành một kênh tiếp xúc linh hoạt. Linh hồn, vốn qua bao thời đại đã chỉ đạo các phàm ngã đa dạng và biến đổi, không còn hiện hữu nữa; thể nguyên nhân đã biến mất, bị phá tan vào khoảnh khắc khi điểm đạo đồ (ở lần điểm đạo thứ tư) kêu lên và nói: “Lạy Thượng đế của con, lạy Thượng đế của con, sao Ngài đã lìa bỏ con?” Đền thờ Solomon, ngôi đền tinh thần “không do tay người làm nên, vĩnh cửu trên các cõi trời,” không còn cần thiết nữa; nó đã phục vụ mục đích cổ xưa của nó, và điều từng được xem là vĩnh cửu phải biến mất trong ánh sáng của [280] ĐẤNG mà đối với Ngài, vĩnh cửu chỉ là một giai đoạn của điều về sau sẽ được mặc khải. Tất cả những gì giờ đây còn lại cho điểm đạo đồ là hai điểm của mục đích sống động mà chúng ta gọi là tinh thần-vật chất hay sự sống-sắc tướng. Bài học ở phía trước của điểm đạo đồ là chứng nghiệm ý nghĩa nội tại (không phải ý nghĩa hiển nhiên và dễ nắm bắt) rằng tinh thần là vật chất ở điểm cao nhất của nó, và vật chất là tinh thần ở điểm thấp nhất của nó. Điều này bao hàm sự tương tác tự do của năng lượng sự sống, được áp dụng một cách hữu thức như kết quả của những tiến trình kéo dài qua nhiều thời đại, và mãnh lực vật chất, qua antahkarana. “Cây cầu vồng” trở thành một kênh cho tác động của năng lượng chân thần hay năng lượng sự sống lên chất liệu, để chất liệu, mang hình tướng dưới ý định chu kỳ của Hành Tinh Thượng đế, có thể ngày càng được nhuốm màu hay mang phẩm tính bởi năng lượng của tính phổ quát. Từ những câu trên, phần nào rắc rối, các bạn có thể thấy ngôn ngữ bất toàn đến mức nào trong việc diễn đạt sự thấu hiểu và ý định của Thánh Đoàn.
To the initiate, therefore, the two words, Transfiguration and Transformation, mean something quite different than they mean to a disciple, whilst Transmutation is now meaningless to him, for there is nothing within him which requires transmuting. It might consequently be stated that:
Vì vậy, đối với điểm đạo đồ, hai từ Biến hình và Chuyển đổi có nghĩa hoàn toàn khác với ý nghĩa của chúng đối với một đệ tử, trong khi Chuyển hoá giờ đây không còn ý nghĩa gì đối với y, vì không có gì trong y cần được chuyển hoá. Do đó có thể nói rằng:
1. Transmutation concerns the expression of the life force upon the three lower planes of human living and evolution.
1. Chuyển hoá liên quan đến sự biểu lộ của lực sự sống trên ba cõi thấp của đời sống và tiến hoá nhân loại.
2. Transformation concerns in a most peculiar manner the three aspects of mind upon the mental plane:
2. Chuyển đổi liên quan theo một cách rất đặc biệt đến ba phương diện của trí tuệ trên cõi trí:
a. The lower mind
a. Hạ trí
b. The son of mind, the soul
b. Con của Trí Tuệ, linh hồn
c. The higher mind.
c. Thượng trí.
3. Transfiguration concerns the life of the Spiritual Triad upon its own three levels of identification.
3. Biến hình liên quan đến đời sống của Tam Nguyên Tinh Thần trên ba cấp độ đồng nhất hóa của chính nó.
To this might be added the fact that:
Có thể thêm vào đó sự kiện rằng:
1. The three lower planes of transmutation are the dense, liquid and gaseous sub-planes of the cosmic physical plane.
1. Ba cõi thấp của chuyển hoá là các cõi phụ đậm đặc, lỏng và khí của cõi hồng trần vũ trụ.
2. The mental plane is a unique location (or state of consciousness) whereon or wherein the lower planes are [281] subjected to impression from the three higher. The higher three and the lower three are subjected to a definitely esoteric and mysterious process, and it is on this plane that the work of transmutation is completed—from the angle of the initiate.
2. Cõi trí là một vị trí độc nhất (hay trạng thái tâm thức) nơi mà hoặc trong đó các cõi thấp [281] chịu ấn tượng từ ba cõi cao. Ba cõi cao và ba cõi thấp phải chịu một tiến trình rõ rệt huyền bí và bí nhiệm, và chính trên cõi này công việc chuyển hoá được hoàn tất—xét từ góc độ của điểm đạo đồ.
3. The three planes of the Spiritual Triad are the spheres whereon transformation goes forward. This transformation has naught to do with the transforming of the personality, but is uniquely related to the interior work of the Hierarchy and the effect of this living, developing intensity upon the Members of the Hierarchy. Five planes are therefore involved in these two phases of the divine work.
3. Ba cõi của Tam Nguyên Tinh Thần là những khối cầu nơi sự chuyển đổi diễn ra. Sự chuyển đổi này không liên quan gì đến việc chuyển đổi phàm ngã, mà liên hệ độc nhất với công việc nội tại của Thánh Đoàn và hiệu quả của cường độ sống động, đang phát triển này lên các Thành Viên của Thánh Đoàn. Vì vậy năm cõi được bao hàm trong hai giai đoạn này của công việc thiêng liêng.
4. The two highest planes (the monadic and the logoic) are the planes of transfiguration, from the point of view of the higher initiate. By then the processes of transmutation have dropped below the threshold of consciousness, and though the initiate (working with forms in the three worlds) has his instrument upon the outer physical plane, his own work and hierarchical activity is strictly triadal and monadic, with a steadily growing responsiveness to logoic intent.
4. Hai cõi cao nhất (cõi chân thần và cõi logoic) là các cõi của biến hình, xét từ quan điểm của điểm đạo đồ cao cấp. Đến lúc ấy các tiến trình chuyển hoá đã rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức, và dù điểm đạo đồ (làm việc với các hình tướng trong ba cõi giới) có công cụ của mình trên cõi hồng trần bên ngoài, công việc riêng của y và hoạt động của Thánh Đoàn hoàn toàn mang tính tam nguyên tinh thần và chân thần, với sự đáp ứng ngày càng tăng đối với ý định logoic.
Let us now consider the phases of transfiguration and transformation as far as is possible in an exoteric instruction, and “may transmutation disappear” for all disciples as time elapses, and that with speed—owing to the great need today for hierarchical workers.
Giờ đây chúng ta hãy xem xét các giai đoạn của biến hình và chuyển đổi trong chừng mực có thể trong một giáo huấn ngoại môn, và “cầu mong chuyển hoá biến mất” đối với mọi đệ tử theo thời gian, và điều đó với tốc độ nhanh—do nhu cầu lớn lao ngày nay đối với những người hoạt động của Thánh Đoàn.
It might here be asked: What is the work undertaken by the Masters Themselves upon the three planes of the Spiritual Triad? Students are well aware that many of the Masters are occupied with the evolutionary processes of the various kingdoms in nature in the three lower worlds. They forget that the majority are not so occupied. Have you ever wondered what it is that incites a Master to stay working in the three worlds and with His mind focussed upon its evolutionary processes? Have you ever considered what else it might be possible that intrigued and demanded His interest? The self-centred attitude of mankind is inclined to believe that human need, and incidentally the need of the [282] other kingdoms in nature, are all that prompts the Hierarchy to carry on its work of salvaging and stimulation. But that is only a partial estimate of the work which They are doing. In the processes of carrying forward Their work, the consciousness of the Master is being steadily expanded, and this because of the nature of Their work in the three worlds; it necessarily becomes more and more inclusive. That is the effect upon Him, as He works on behalf of humanity or on behalf of the other kingdoms in nature. There is a definite and evolutionary effect. But on the higher three levels of the Spiritual Triad, another type of evolutionary impulse is directing His activities. I have told you elsewhere that consciousness (as we understand it) is being transcended, and a new aspect of universal sentiency is taking its place. To this development I have given the inadequate name of Identification. This is a word which involves consciousness, which invokes the will, which is dynamic in nature, inclusive in contact, and which is also based upon the doctrine of non-separativeness.
Ở đây có thể đặt câu hỏi: Chính các Chân sư đảm nhận công việc gì trên ba cõi của Tam Nguyên Tinh Thần? Các đạo sinh đều biết rõ rằng nhiều Chân sư bận rộn với các tiến trình tiến hoá của các giới khác nhau trong thiên nhiên trong ba cõi thấp. Họ quên rằng đa số không bận rộn như vậy. Các bạn đã bao giờ tự hỏi điều gì thúc đẩy một Chân sư ở lại làm việc trong ba cõi giới và với trí tuệ của Ngài tập trung vào các tiến trình tiến hoá của chúng chưa? Các bạn đã bao giờ suy xét điều gì khác có thể lôi cuốn và đòi hỏi sự quan tâm của Ngài chưa? Thái độ tập trung vào bản thân của nhân loại có khuynh hướng tin rằng nhu cầu của con người, và nhân tiện cả nhu cầu của các [282] giới khác trong thiên nhiên, là tất cả những gì thúc đẩy Thánh Đoàn tiếp tục công việc cứu vớt và kích thích của mình. Nhưng đó chỉ là một ước lượng phiến diện về công việc mà Các Ngài đang làm. Trong các tiến trình xúc tiến công việc của mình, tâm thức của Chân sư đang được mở rộng đều đặn, và điều này là do bản chất công việc của Các Ngài trong ba cõi giới; nó tất yếu trở nên ngày càng bao gồm hơn. Đó là hiệu quả tác động lên Ngài khi Ngài làm việc thay mặt cho nhân loại hay thay mặt cho các giới khác trong thiên nhiên. Có một hiệu quả rõ rệt và tiến hoá. Nhưng trên ba cấp độ cao hơn của Tam Nguyên Tinh Thần, một loại xung lực tiến hoá khác đang chỉ đạo các hoạt động của Ngài. Tôi đã nói với các bạn ở nơi khác rằng tâm thức (như chúng ta hiểu) đang được vượt qua, và một phương diện mới của cảm nhận phổ quát đang thay thế nó. Đối với sự phát triển này tôi đã đặt cho cái tên không đầy đủ là Đồng nhất hóa. Đây là một từ bao hàm tâm thức, khẩn cầu ý chí, có bản chất năng động, bao gồm trong tiếp xúc, và cũng dựa trên giáo lý về tính không phân ly.
This, however, is only a beginning of an entirely new phase of development; consciousness eventually drops below the level of perception. It becomes as automatic and unregistered in its expression as animal instinct is to the human being. It functions, but the man is not consciously aware of it. It is a protective mechanism. The will aspect of the Monad supersedes but does not negate love (which has become, in its turn, instinctual); a one-pointed, rapier-like assumption of identification takes the place of the inclusiveness hitherto felt and practised. Perhaps I can convey to you something of what I mean by pointing out that the circle with the point at the centre is symbolic of the perfected man. He is rounded out; he is inclusive both vertically (soul contact) and horizontally (human relationship), yet he stands at the centre of his consciousness and of its self-imposed ring-pass-not. From thence he never moves, but is aware all the time of all that proceeds within his sphere of influence. Here is the symbol of the Master, from a specific point of attainment.
Tuy nhiên, đây chỉ là khởi đầu của một giai đoạn phát triển hoàn toàn mới; rốt cuộc tâm thức rơi xuống dưới cấp độ tri giác. Nó trở nên tự động và không được ghi nhận trong biểu hiện của nó cũng như bản năng động vật đối với con người. Nó vận hành, nhưng con người không hữu thức về nó. Nó là một cơ chế bảo vệ. Phương diện ý chí của chân thần thay thế nhưng không phủ nhận bác ái (đến lượt nó đã trở thành bản năng); một sự đảm nhận đồng nhất hóa nhất tâm, sắc bén như lưỡi kiếm, thay thế cho tính bao gồm vốn trước đây được cảm nhận và thực hành. Có lẽ tôi có thể truyền đạt cho các bạn phần nào điều tôi muốn nói bằng cách chỉ ra rằng vòng tròn với điểm ở trung tâm là biểu tượng của con người hoàn thiện. Y đã được viên mãn; y bao gồm cả theo chiều dọc (tiếp xúc linh hồn) lẫn theo chiều ngang (liên hệ nhân loại), tuy nhiên y đứng ở trung tâm tâm thức của mình và của vòng-giới-hạn do chính mình áp đặt. Từ đó y không bao giờ di chuyển, nhưng luôn luôn nhận biết mọi điều diễn ra trong phạm vi ảnh hưởng của mình. Đây là biểu tượng của Chân sư, xét từ một điểm thành tựu nhất định.
[283]
[283]
But the Master Himself is not static. His field of work is clear; His realm of contacts—human, subhuman and super-human—is also clear. Within the ring-pass-not and in the world of sentiency and in relation to the world of loving understanding, He stands the Master.
Nhưng bản thân Chân sư không tĩnh tại. Lĩnh vực công việc của Ngài thì rõ ràng; phạm vi tiếp xúc của Ngài—nhân loại, dưới nhân loại và siêu nhân loại—cũng rõ ràng. Trong vòng-giới-hạn và trong thế giới của cảm nhận và trong mối liên hệ với thế giới của sự thấu hiểu đầy bác ái, Ngài đứng đó như một Chân sư.
It is at this precise point in time and space that the work of Transformation begins for the Master—a transformation which is brought about by the unfoldment and the development made possible upon the three levels of the Spiritual Triad. As this transformation takes place, a new activity supervenes which finally enables the Master to break through the planetary ring-pass-not, and thus arrive at the door of the Higher Evolution.
Chính tại điểm chính xác này trong thời gian và không gian mà công việc Chuyển đổi bắt đầu đối với Chân sư—một sự chuyển đổi được mang lại bởi sự khai mở và phát triển trở nên khả hữu trên ba cấp độ của Tam Nguyên Tinh Thần. Khi sự chuyển đổi này diễn ra, một hoạt động mới xuất hiện, cuối cùng giúp Chân sư xuyên thủng vòng-giới-hạn hành tinh, và nhờ đó đi đến cánh cửa của Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.
What I have now to say may be made somewhat clearer by means of the following symbol. The Master has now penetrated into another cosmic level, but He is still within the aura of the One Life. Now the cosmic astral plane is revealed to Him. He sees the reason why, first of all, sentiency had to be developed; why it had then to be used and mastered and finally had to be completely negated—negated in such a manner that it dropped below the level of consciousness. There is no glamour upon the cosmic astral plane, and only those who have dominated sentient reaction upon all levels of the cosmic physical plane and are completely free from it, can then—through the illumined will and through the power of that mysterious quality (if I may so call a factual expression) of identification—direct the lowest aspect of cosmic desire upon the cosmic astral plane. This necessarily has to be tuned in with that to which they are irrevocably related. This identification is therefore the highest expression of divine purpose upon the cosmic physical plane, even whilst it is the lowest aspect of the cosmic astral desire. Therefore, my brothers, the transformation with which this rule deals is the transformation of consciousness into identification. More than that I may not say. To express the true meaning I have no words or symbols.
Điều tôi sắp nói có thể được làm sáng tỏ phần nào bằng biểu tượng sau đây. Chân sư giờ đây đã thâm nhập vào một cấp độ vũ trụ khác, nhưng Ngài vẫn còn ở trong hào quang của Một Sự Sống. Giờ đây cõi cảm dục vũ trụ được mặc khải cho Ngài. Ngài thấy lý do tại sao trước hết cảm nhận phải được phát triển; tại sao sau đó nó phải được sử dụng và làm chủ, và cuối cùng phải bị phủ nhận hoàn toàn—bị phủ nhận theo cách khiến nó rơi xuống dưới cấp độ tâm thức. Không có ảo cảm nào trên cõi cảm dục vũ trụ, và chỉ những ai đã chế ngự phản ứng cảm nhận trên mọi cấp độ của cõi hồng trần vũ trụ và hoàn toàn giải thoát khỏi nó mới có thể, qua ý chí được soi sáng và qua quyền năng của phẩm tính huyền nhiệm ấy (nếu tôi có thể gọi một biểu hiện thực tế như vậy), là đồng nhất hóa, chỉ đạo phương diện thấp nhất của dục vọng vũ trụ trên cõi cảm dục vũ trụ. Điều này tất yếu phải được điều chỉnh cho phù hợp với điều mà họ có liên hệ bất khả thu hồi. Vì vậy, sự đồng nhất hóa này là biểu hiện cao nhất của thiên ý trên cõi hồng trần vũ trụ, ngay cả khi nó là phương diện thấp nhất của dục vọng cảm dục vũ trụ. Do đó, Huynh đệ của Tôi, sự chuyển đổi mà quy luật này đề cập đến là sự chuyển đổi của tâm thức thành đồng nhất hóa. Hơn thế nữa tôi không thể nói. Để diễn đạt ý nghĩa chân thực, tôi không có lời hay biểu tượng nào.
In this line of approach through identification, the Master builds that of which the spiritual correspondence is [284] the manasic antahkarana. The antahkarana which is now emerging is a projection from the Ashram of a Master; there are, therefore, seven ways into the Way of the Higher Evolution. These seven ways correspond to the seven Ashrams upon the seven Rays; they are related also to the seven initiations, to the seven principles of man, and to all the other many septenates. It is the force of Will, generated by the Master, during the process of
Trong đường lối tiếp cận này qua đồng nhất hóa, Chân sư xây dựng điều mà tương ứng tinh thần của nó là [284] antahkarana manas. Antahkarana hiện đang xuất hiện là một sự phóng chiếu từ ashram của một Chân sư; vì vậy có bảy con đường đi vào Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Bảy con đường này tương ứng với bảy ashram trên bảy cung; chúng cũng liên hệ với bảy lần điểm đạo, với bảy nguyên khí của con người, và với mọi bộ bảy khác. Chính mãnh lực của Ý Chí, do Chân sư tạo ra, trong tiến trình
1. Attaining the fifth initiation
1. Đạt đến lần điểm đạo thứ năm
2. Working in the three worlds of creative salvaging
2. Làm việc trong ba cõi giới của sự cứu vớt sáng tạo
3. Achieving ashramic purpose and consequent group activity
3. Thành tựu mục đích ashram và hoạt động nhóm hệ quả
4. Manifesting ray energy
4. Biểu lộ năng lượng cung
5. Demonstrating a faculty which is known only to initiates who have passed beyond the third initiation.
5. Chứng tỏ một năng lực chỉ được biết đến bởi những điểm đạo đồ đã vượt quá lần điểm đạo thứ ba.
This provides the focussed intention which enables the Master to attain what is called transformation, and later, to project the dynamic impulse of His spiritual will in such a manner that He succeeds in piercing the planetary ring-pass-not; He is then given the freedom of the world, and not just the freedom of the worlds.
Điều này cung cấp ý định được tập trung, giúp Chân sư đạt được điều được gọi là chuyển đổi, và về sau phóng chiếu xung lực năng động của ý chí tinh thần của Ngài theo cách khiến Ngài thành công trong việc xuyên thủng vòng-giới-hạn hành tinh; khi đó Ngài được ban cho tự do của thế giới, chứ không chỉ tự do của các thế giới.
It will be obvious that I am dealing with the subject of the sixth initiation. When this initiation has been consummated, the Chohan then transcends the three worlds of the Spiritual Triad and is focussed as a “projecting agent of the Lighted Will” as it expresses itself upon the monadic plane. This stage of unfoldment is in reality the Ascension initiation, the true significance of which will be revealed through the medium of the coming world religion.
Hiển nhiên là tôi đang đề cập đến chủ đề của lần điểm đạo thứ sáu. Khi lần điểm đạo này được hoàn tất, Chohan khi ấy vượt qua ba cõi giới của Tam Nguyên Tinh Thần và được tập trung như một “tác nhân phóng chiếu của Ý Chí được Soi Sáng” khi nó biểu lộ trên cõi chân thần. Giai đoạn khai mở này thực ra là lần điểm đạo Thăng Thiên, ý nghĩa chân thực của nó sẽ được mặc khải qua trung gian của tôn giáo thế giới sắp đến.
There then follows, as a result of this, what is called the true Transfiguration. This enables the initiate to function upon the logoic or highest plane of the cosmic physical plane. This—in Christian phraseology—is called the “sitting down upon the right hand of God in Heaven.” There the man who has attained this seventh initiation is transfigured. The first contact comes along the line which he has projected as a result of transformation; it is made with [285] That which has ever overshadowed Sanat Kumara. The Chohan has now taken the seventh initiation.
Sau đó, như một kết quả của điều này, diễn ra điều được gọi là Biến hình chân chính. Điều này giúp điểm đạo đồ hoạt động trên cõi logoic hay cõi cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ. Điều này—theo thuật ngữ Cơ Đốc giáo—được gọi là “ngồi bên hữu Thượng đế trên Thiên Đàng.” Ở đó con người đã đạt đến lần điểm đạo thứ bảy này được biến hình. Sự tiếp xúc đầu tiên đến theo đường mà y đã phóng chiếu như kết quả của chuyển đổi; nó được thực hiện với [285] Đấng đã luôn luôn phủ bóng lên Đức Sanat Kumara. Chohan giờ đây đã nhận lần điểm đạo thứ bảy.
6. Let the O.M. be heard right at the centre of the group, proclaiming God is All.
6. Hãy để O.M. được nghe thấy ngay tại trung tâm của nhóm, tuyên xưng Thượng đế là Tất Cả.
It is not my intention to interpret this final phrase of Rule XIII. Its meaning lies beyond your most elevated comprehension. It concerns the transmutation of the O.M. into the originating SOUND, bringing certain basic transformation and resulting in a transfiguration which extends to the entire planet and has reference to a certain major planetary initiation. With these matters we are not concerned. With them, only a few of the more advanced Masters are concerned. Therefore we will wait until, through resolution, we have resolved our spiritual problems, transmuted our lower natures and undergone the lower aspects of both transformations, and are consequently ready for the third initiation—that of the Transfiguration.
Tôi không có ý định diễn giải cụm từ cuối cùng này của Quy Luật XIII. Ý nghĩa của nó vượt quá sự thấu hiểu cao nhất của các bạn. Nó liên quan đến sự chuyển hoá của O.M. thành ÂM THANH khởi nguyên, mang lại một số chuyển đổi căn bản và dẫn đến một sự biến hình mở rộng đến toàn bộ hành tinh và có liên hệ với một lần điểm đạo hành tinh lớn nào đó. Với những vấn đề này chúng ta không quan tâm. Chỉ một vài Chân sư tiến bộ hơn mới quan tâm đến chúng. Vì vậy chúng ta sẽ chờ đợi cho đến khi, nhờ sự kiên quyết, chúng ta giải quyết được các vấn đề tinh thần của mình, chuyển hoá các bản chất thấp của mình và trải qua các phương diện thấp hơn của cả hai sự chuyển đổi, và do đó sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ ba—lần điểm đạo Biến hình.