RULE FOURTEEN — QUY LUẬT MƯỜI BỐN
In this final rule for disciples and initiates, a great summation is embodied. I would here point out again (as I have so frequently in the past) that the obvious meaning—no matter how elevated—is not that with which we shall deal. It is the significance behind the meaning which is ever the concern of the initiate mind. Students would do well to remember the following sequence of words, embodying ideas: Symbol, Meaning, Significance, Light, regarding light as the emanating creative energy—the organiser of the symbol, the revealer of the meaning, the potency of the significance.
Trong quy luật cuối cùng này dành cho các đệ tử và điểm đạo đồ, một sự tổng kết lớn lao được hàm chứa. Ở đây tôi muốn lại chỉ ra (như tôi đã rất thường làm trong quá khứ) rằng ý nghĩa hiển nhiên—dù cao siêu đến đâu—không phải là điều chúng ta sẽ bàn đến. Chính thâm nghĩa đằng sau ý nghĩa mới luôn là mối quan tâm của trí tuệ điểm đạo đồ. Các đạo sinh nên ghi nhớ chuỗi từ sau đây, hàm chứa các ý tưởng: Biểu tượng, Ý nghĩa, Thâm nghĩa, Ánh sáng, xem ánh sáng như năng lượng sáng tạo phát xạ—đấng tổ chức biểu tượng, đấng mặc khải ý nghĩa, tiềm lực của thâm nghĩa.
We have studied the rules and have penetrated deeply into the world of significances. Most of you have not, however, passed beyond the stage of groping in the world of [286] meaning. The reason for this is that you have not yet taken the third initiation. I would ask you also to bear in mind that the world of symbols is that of the personal life, of the phenomenal world as that phrase covers the three worlds of human evolution; the world of meaning is the world in which the soul lives and moves with intention and understanding; the world of significance is the world of the Spiritual Triad, which only confers its freedom fully after the third initiation.
Chúng ta đã nghiên cứu các quy luật và đã thâm nhập sâu vào thế giới của thâm nghĩa. Tuy nhiên, phần lớn các bạn vẫn chưa vượt quá giai đoạn dò dẫm trong thế giới của [286] ý nghĩa. Lý do là vì các bạn chưa nhận lần điểm đạo thứ ba. Tôi cũng muốn yêu cầu các bạn ghi nhớ rằng thế giới của các biểu tượng là thế giới của đời sống cá nhân, của thế giới hiện tượng theo nghĩa cụm từ đó bao trùm ba cõi giới của tiến hoá nhân loại; thế giới của ý nghĩa là thế giới trong đó linh hồn sống và vận động với ý định và sự thấu hiểu; thế giới của thâm nghĩa là thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần, chỉ ban cho tự do trọn vẹn sau lần điểm đạo thứ ba.
The words dealt with in this Rule XIV are apparently so simple that they can be easily understood. I will attempt to show you that their real meaning is deep and esoteric to what you call the nth degree.
Những từ được bàn đến trong Quy Luật XIV này bề ngoài có vẻ rất đơn giản đến mức có thể dễ dàng được hiểu. Tôi sẽ cố gắng chỉ cho các bạn thấy rằng ý nghĩa thực sự của chúng sâu xa và huyền bí đến mức mà các bạn gọi là bậc thứ n.
Rule XIV.
Quy Luật XIV.
For Applicants: Listen. Touch. See. Apply. Know.
Dành cho những người thỉnh cầu: Lắng nghe. Chạm. Thấy. Áp dụng. Biết.
For Disciples and Initiates: Know. Express. Reveal. Destroy. Resurrect.
Dành cho các đệ tử và điểm đạo đồ: Biết. Biểu lộ. Mặc khải. Hủy diệt. Phục sinh.
The following relationships should be noted, for the first is the seed of the other.
Những mối liên hệ sau đây cần được lưu ý, vì điều thứ nhất là hạt giống của điều kia.
APPLICANTS
INITIATES
Listen
...
Know
Touch
...
Express
See
...
Reveal
Apply
...
Destroy
Know
...
Resurrect
NHỮNG NGƯỜI DỰ TUYỂN
NHỮNG ĐIỂM ĐẠO ĐỒ
Lắng nghe
. . .
Biết
Chạm
. . .
Biểu lộ
Thấy
. . .
Tiết lộ
Áp dụng
. . .
Phá hủy
Biết
. . .
Phục sinh
You will note that the applicant eventually arrives at knowledge and begins to know; the disciple or the initiate starts with knowing, and through his ability to express esoterically that which he knows is able to reveal the light, and by that light to destroy all illusion, glamour and maya; he brings about resurrection upon the physical plane—a resurrection from the death which physical plane life inevitably confers.
Các bạn sẽ lưu ý rằng người thỉnh cầu cuối cùng đi đến tri thức và bắt đầu biết; đệ tử hay điểm đạo đồ bắt đầu bằng sự biết, và nhờ khả năng biểu lộ một cách huyền bí điều mà y biết, y có thể mặc khải ánh sáng, và bằng ánh sáng đó hủy diệt mọi ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực; y mang lại sự phục sinh trên cõi hồng trần—một sự phục sinh khỏi cái chết mà đời sống cõi hồng trần tất yếu áp đặt.
The five words as given to the applicant are indeed relatively simple. Most aspirants understand their meaning [287] to a certain extent. They know that the listening mentioned has naught to do with the sense of physical hearing, and that the touch to be developed has reference to sensitivity and not the sensory perception of the physical vehicle. They know likewise that the sight to be cultivated is the power to see the beauty underlying form, to recognise the subjective divinity and to register also the love conveyed through the medium of symbols. The application of soul energy to the affairs of daily life and the establishing of those conditions which permit of soul knowledge are the elementary lessons of the aspirant. With these I need not deal, except in so far as they give the clue to the significance of the five words as given to the initiated disciple.
Năm từ được trao cho người thỉnh cầu quả thực tương đối đơn giản. Hầu hết những người chí nguyện đều hiểu ý nghĩa của chúng [287] ở một mức độ nào đó. Họ biết rằng sự lắng nghe được nhắc đến không liên quan gì đến giác quan nghe của thể xác, và rằng sự chạm cần được phát triển có liên hệ đến tính nhạy cảm chứ không phải tri giác cảm quan của vận cụ hồng trần. Tương tự, họ cũng biết rằng thị giác cần được vun bồi là năng lực nhìn thấy vẻ đẹp nằm dưới hình tướng, nhận ra thiên tính chủ quan và cũng ghi nhận bác ái được chuyển tải qua trung gian của các biểu tượng. Việc áp dụng năng lượng linh hồn vào các công việc của đời sống hằng ngày và việc thiết lập những điều kiện cho phép tri thức linh hồn là những bài học sơ đẳng của người chí nguyện. Với những điều này tôi không cần bàn đến, ngoại trừ trong chừng mực chúng cung cấp manh mối cho thâm nghĩa của năm từ được trao cho đệ tử đã được điểm đạo.
Let us take each of these five words and seek to ascertain their significance. But first of all, I would like to point out that here we are concerned with monadic signatures, with that which synthesises significances, and with that which contributes vital significance to the initiated life. I would have you, as you read my words, retreat within yourselves and seek to think, feel and perceive at your highest possible level of consciousness. The effort to do this will bear much fruit and bring rich reward to you. You will not grasp the full intention of these words, but your sense of awareness will begin to react to triadal impression. I know not how else to word this, limited as I am by the necessity of language. You may not register anything consciously, for the brain of the average disciple is as yet insensitive to monadic vibration. Even if the disciple is capable of some responsiveness, there are not the needed words in which to express the sensed idea or to clothe the concept. It is therefore impossible to put the divine ideas into their ideal form and them bring them down into the world of meaning, and from thence into the world of symbols. What I say will therefore have more significance towards the close of this century, when men will have recovered from the chaos and cruelty of war, and when the new and higher spiritual influences are being steadily poured out. I write, my brothers, for the future. [288]
Chúng ta hãy xét từng từ trong năm từ này và tìm cách xác định thâm nghĩa của chúng. Nhưng trước hết, tôi muốn chỉ ra rằng ở đây chúng ta đang quan tâm đến những dấu ấn chân thần, đến điều tổng hợp các thâm nghĩa, và đến điều đóng góp thâm nghĩa sinh động cho đời sống của điểm đạo đồ. Tôi muốn các bạn, khi đọc lời tôi, hãy rút vào bên trong chính mình và cố gắng suy nghĩ, cảm nhận và tri giác ở cấp độ tâm thức cao nhất có thể. Nỗ lực làm điều này sẽ mang lại nhiều hoa trái và phần thưởng phong phú cho các bạn. Các bạn sẽ không nắm bắt được trọn vẹn ý định của những lời này, nhưng ý thức nhận biết của các bạn sẽ bắt đầu đáp ứng với ấn tượng tam nguyên tinh thần. Tôi không biết phải diễn đạt điều này thế nào khác, bị giới hạn như tôi đang bị giới hạn bởi sự cần thiết của ngôn ngữ. Có thể các bạn sẽ không ghi nhận được điều gì một cách hữu thức, vì bộ não của đệ tử trung bình hiện vẫn chưa nhạy cảm với rung động chân thần. Ngay cả nếu đệ tử có khả năng đáp ứng phần nào, cũng không có những từ cần thiết để diễn đạt ý tưởng được cảm nhận hay khoác cho khái niệm ấy một hình thức. Vì vậy không thể đặt các ý tưởng thiêng liêng vào hình thức lý tưởng của chúng rồi đưa chúng xuống thế giới của ý nghĩa, và từ đó xuống thế giới của các biểu tượng. Do đó, điều tôi nói sẽ có nhiều thâm nghĩa hơn vào cuối thế kỷ này, khi con người đã hồi phục khỏi hỗn loạn và tàn bạo của chiến tranh, và khi các ảnh hưởng tinh thần mới mẻ và cao hơn đang được tuôn đổ đều đặn. Tôi viết, Huynh đệ của Tôi, cho tương lai. [288]
1. Know.
1. Biết.
What is the difference between the knowing of the aspirant and the knowledge of the initiated disciple? It is the difference which exists between two differing fields and areas of perception. The aspirant is told first of all to “know thyself”; he is then told to know the relation of form and soul, and the area covered by his knowledge is that of the three worlds, plus the level upon the mental plane on which his soul is focussed. The initiated disciple knows the relation of the periphery to the centre, of the One to the many, and of unity to diversity. The applicant is concerned with triplicity: himself as the knower, his field of knowledge, and that which is the agent of knowing, the mind. The initiated disciple is beyond registering triplicity and is occupied with the duality of manifestation, with life-energy as it affects or is related to matter-force, with spirit and substance. The knowledge of the initiate has naught to do with consciousness as the mind recognises that factor in the evolutionary process; his knowledge is related to the faculty of the intuition and to that divine perception which sees all things as within itself. Perhaps the simplest way to express the knowledge of the initiate is to say that it is direct awareness of God, thus putting it into mystical terms; the knowledge of the aspirant is related to that aspect of divinity which we call the soul in form. Putting this in still another way, I might point out that the aspirant is concerned with the knowledge of soul and matter, whilst the initiate is concerned with soul and spirit.
Sự khác biệt giữa sự biết của người chí nguyện và tri thức của đệ tử đã được điểm đạo là gì? Đó là sự khác biệt tồn tại giữa hai lĩnh vực và khu vực tri giác khác nhau. Trước hết người chí nguyện được bảo “hãy biết chính mình”; sau đó y được bảo phải biết mối liên hệ giữa hình tướng và linh hồn, và phạm vi được bao phủ bởi tri thức của y là ba cõi giới, cộng với cấp độ trên cõi trí nơi linh hồn của y được tập trung. Đệ tử đã được điểm đạo biết mối liên hệ giữa chu vi và trung tâm, giữa Một và nhiều, và giữa hợp nhất và đa dạng. Người thỉnh cầu quan tâm đến bộ ba: chính mình như thức giả, lĩnh vực tri thức của mình, và điều là tác nhân của sự biết, tức trí tuệ. Đệ tử đã được điểm đạo vượt khỏi việc ghi nhận bộ ba và bận tâm với tính nhị nguyên của biểu hiện, với năng lượng sự sống khi nó tác động lên hay có liên hệ với mãnh lực vật chất, với tinh thần và chất liệu. Tri thức của điểm đạo đồ không liên quan gì đến tâm thức như trí tuệ nhận ra yếu tố đó trong tiến trình tiến hoá; tri thức của y liên hệ với năng lực của trực giác và với tri giác thiêng liêng nhìn thấy mọi sự như ở bên trong chính nó. Có lẽ cách đơn giản nhất để diễn đạt tri thức của điểm đạo đồ là nói rằng đó là sự nhận biết trực tiếp về Thượng đế, như vậy đặt nó vào thuật ngữ thần bí; tri thức của người chí nguyện liên hệ với phương diện thiên tính mà chúng ta gọi là linh hồn trong hình tướng. Nói theo một cách khác nữa, tôi có thể chỉ ra rằng người chí nguyện quan tâm đến tri thức về linh hồn và vật chất, trong khi điểm đạo đồ quan tâm đến linh hồn và tinh thần.
If I say to you, my brothers, that the knowledge of the initiate is concerned with that which is produced by SOUND and not by the A.U.M. or the O.M., I shall have linked up these comments with much else given previously in the analysis of these fourteen rules. The “listening” of the aspirant has now been transformed into the effectual recognition of that which the Sound has created. I refer not here to the creation of the phenomenal world, or to the world of meaning which is essentially the Plan or the pattern underlying that phenomenal world, but to the intention or [289] the Purpose Which motivated the creative Sound; I am dealing with the impulsive energy which gives significance to activity and to the life-force which the Sound centralises at Shamballa.
Nếu tôi nói với các bạn, Huynh đệ của Tôi, rằng tri thức của điểm đạo đồ liên quan đến điều được tạo ra bởi ÂM THANH chứ không phải bởi A.U.M. hay O.M., thì tôi sẽ nối kết những nhận xét này với nhiều điều khác đã được đưa ra trước đây trong phần phân tích mười bốn quy luật này. “Sự lắng nghe” của người chí nguyện giờ đây đã được chuyển đổi thành sự nhận biết hữu hiệu điều mà Âm Thanh đã tạo ra. Ở đây tôi không đề cập đến việc tạo ra thế giới hiện tượng, hay thế giới của ý nghĩa vốn về bản chất là Thiên Cơ hay mô hình nằm dưới thế giới hiện tượng ấy, mà đề cập đến ý định hay [289] Mục Đích đã thúc đẩy Âm Thanh sáng tạo; tôi đang bàn đến năng lượng xung động mang lại thâm nghĩa cho hoạt động và cho lực sự sống mà Âm Thanh tập trung tại Shamballa.
It is not the fault of humanity that it is only now possible for the significance of the divine purpose to emerge more clearly in the consciousness of the initiated disciple. It is a question of timing and of movement in space; it concerns the relation of the Hierarchy, working with the Plan, to Shamballa, the recipient (by means of the Sound) of the creative energy which it is the divine intention to expend in producing a perfect expression of the divine Idea. It is to the knowledge of this relationship and of its effects that the first word of Rule XIV refers.
Không phải lỗi của nhân loại khi chỉ đến bây giờ thâm nghĩa của thiên ý mới có thể xuất hiện rõ ràng hơn trong tâm thức của đệ tử đã được điểm đạo. Đó là vấn đề thời điểm và chuyển động trong không gian; nó liên quan đến mối liên hệ của Thánh Đoàn, đang làm việc với Thiên Cơ, với Shamballa, nơi tiếp nhận (qua Âm Thanh) năng lượng sáng tạo mà ý định thiêng liêng muốn sử dụng để tạo ra một biểu hiện hoàn hảo của Ý Tưởng thiêng liêng. Chính tri thức về mối liên hệ này và các hiệu quả của nó là điều mà từ đầu tiên của Quy Luật XIV ám chỉ.
It was the dawning of this significance upon the consciousness of the Christ—a consciousness enlightened, purified and divinely focussed—that forced Him to cry out: “Father, not my will but Thine be done.” He received a vision of the emerging divine intention for humanity and (through humanity) for the planet as a whole. In the hierarchical stage of development which Christ had attained and which made Him the Head of the Hierarchy and the Master of all the Masters, His consciousness was entirely at one with the Plan; its application to life in the three worlds, and its goal of establishing the Kingdom of God on earth and the emergence of the fifth kingdom in nature, were now for Him simply the fulfilling of the law, and to that fulfillment His entire life was and had been geared. The Plan, its goal, its techniques and methods, its laws and their application, its phenomenal effects, the hindrances to be met, the energy (that of love) to be employed, and the close and growing relation and interplay between the Hierarchy and Humanity, between the heart centre of the planetary Logos and the creative centre, were known to Him and fully understood. At the highest point of this consummated knowledge, and at the moment of His complete surrender to the necessary sacrifice of His life to the fulfilling of the Plan, suddenly a great expansion of consciousness took place. [290] The significance, the intention, the purpose of it all, and the extent of the divine Idea as it existed in the mind of the “Father,” dawned on His soul (not on His mind, but on His soul). He saw still further into the significance of divinity than had ever seemed possible; the world of meaning and the world of phenomena faded out and—esoterically speaking—He lost His All. These are words necessarily meaningless to you. For the time being, neither the energy of the creative mind nor the energy of love was left to Him. A new type of energy became available—the energy of life itself, imbued with purpose and actuated by intention. For the first time, the relation of the Will, which had hitherto expressed itself in His life through love and the creative work of inaugurating the new dispensation and the launching for all time of the Kingdom of God, became clear to Him. At that point He passed through the Gethsemane of renunciation.
Chính sự ló rạng của thâm nghĩa này trong tâm thức của Đức Christ—một tâm thức được soi sáng, thanh luyện và tập trung một cách thiêng liêng—đã buộc Ngài phải kêu lên: “Lạy Cha, xin đừng theo ý con mà theo Ý Cha.” Ngài đã nhận được một linh ảnh về ý định thiêng liêng đang xuất hiện đối với nhân loại và (qua nhân loại) đối với toàn thể hành tinh. Ở giai đoạn phát triển của Thánh Đoàn mà Đức Christ đã đạt đến và khiến Ngài trở thành Đầu của Thánh Đoàn và là Chân sư của mọi Chân sư, tâm thức của Ngài hoàn toàn là một với Thiên Cơ; việc áp dụng Thiên Cơ ấy vào đời sống trong ba cõi giới, và mục tiêu của nó là thiết lập Thiên Giới trên trần gian và sự xuất hiện của giới thứ năm trong thiên nhiên, giờ đây đối với Ngài đơn giản chỉ là sự hoàn tất quy luật, và toàn bộ đời sống của Ngài đã và đang được điều chỉnh theo sự hoàn tất ấy. Thiên Cơ, mục tiêu của nó, các kỹ thuật và phương pháp của nó, các định luật của nó và sự áp dụng của chúng, các hiệu quả hiện tượng của nó, những chướng ngại phải đối diện, năng lượng (năng lượng bác ái) phải được sử dụng, và mối liên hệ cùng sự tương tác gần gũi và ngày càng tăng giữa Thánh Đoàn và Nhân Loại, giữa trung tâm tim của Hành Tinh Thượng đế và trung tâm sáng tạo, đều đã được Ngài biết và thấu hiểu trọn vẹn. Ở điểm cao nhất của tri thức đã viên mãn này, và vào khoảnh khắc Ngài hoàn toàn quy phục trước sự hi sinh cần thiết của đời sống mình để hoàn tất Thiên Cơ, đột nhiên một sự mở rộng lớn lao của tâm thức đã diễn ra. [290] Thâm nghĩa, ý định, mục đích của tất cả điều đó, và tầm mức của Ý Tưởng thiêng liêng như nó hiện hữu trong trí của “Đức Cha,” đã ló rạng trên linh hồn Ngài (không phải trên trí tuệ của Ngài, mà trên linh hồn Ngài). Ngài nhìn sâu hơn nữa vào thâm nghĩa của thiên tính so với điều từng dường như có thể; thế giới của ý nghĩa và thế giới của hiện tượng mờ dần đi và—nói theo huyền bí học—Ngài đã mất đi Tất Cả của mình. Đây là những lời tất yếu vô nghĩa đối với các bạn. Trong lúc ấy, cả năng lượng của trí tuệ sáng tạo lẫn năng lượng bác ái đều không còn lại cho Ngài. Một loại năng lượng mới trở nên khả dụng—năng lượng của chính sự sống, thấm nhuần mục đích và được thúc đẩy bởi ý định. Lần đầu tiên, mối liên hệ của Ý Chí, vốn cho đến lúc đó đã biểu lộ trong đời sống của Ngài qua bác ái và công việc sáng tạo là khai mở kỷ nguyên mới và khởi xướng Thiên Giới cho mọi thời đại, trở nên rõ ràng đối với Ngài. Tại điểm đó Ngài đã đi qua Gethsemane của sự từ bỏ.
A hint lies here. This high point of attainment of the Christ—as related in the Gospel story—was reached in Gethsemane, and for a brief moment we are given an insight into an aspect or happening of the Sixth Initiation. It was this event and spiritual crisis in the life of the Christ (taking place as He overshadowed His disciple, Jesus) which enabled Jesus on His own level of spiritual development to take the fourth initiation, that of the Crucifixion or the Great Renunciation. The numbers four and six are closely connected, and the lesser renunciation (great only from the human point of view) makes the higher renunciation possible eventually, and vice versa. Running through many parts of the Gospel story are two paralleling histories; the lesser world of discipleship profits by the achievements of those who take the higher initiations, and thus is demonstrated the close unity which forever exists within the Hierarchy and—focussing through the Christ—the synthesis which is beginning to be formed between the Hierarchy and Shamballa. This is taking place in this era for the first time in human history. The recognition of this emerging synthesis between Will and Love produced a definite effect in [291] the consciousness of the Christ and led Him to know much that had hitherto been concealed from Him.
Ở đây có một gợi ý. Điểm thành tựu cao này của Đức Christ—như được thuật lại trong câu chuyện Phúc Âm—đã đạt được tại Gethsemane, và trong một khoảnh khắc ngắn ngủi chúng ta được ban cho một cái nhìn sâu vào một phương diện hay biến cố của lần điểm đạo thứ sáu. Chính biến cố này và cuộc khủng hoảng tinh thần trong đời sống của Đức Christ (diễn ra khi Ngài phủ bóng lên đệ tử của Ngài là Đức Jesus) đã giúp Đức Jesus, trên cấp độ phát triển tinh thần riêng của ông, nhận lần điểm đạo thứ tư, tức Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ hay Đại Từ Bỏ. Các con số bốn và sáu có liên hệ mật thiết, và sự từ bỏ nhỏ hơn (chỉ lớn lao từ quan điểm nhân loại) cuối cùng làm cho sự từ bỏ cao hơn trở nên khả hữu, và ngược lại. Xuyên suốt nhiều phần của câu chuyện Phúc Âm là hai lịch sử song hành; thế giới nhỏ hơn của địa vị đệ tử được hưởng lợi từ những thành tựu của những ai nhận các lần điểm đạo cao hơn, và nhờ đó sự hợp nhất mật thiết luôn luôn tồn tại trong Thánh Đoàn được chứng minh và—được tập trung qua Đức Christ—sự tổng hợp đang bắt đầu được hình thành giữa Thánh Đoàn và Shamballa. Điều này đang diễn ra trong kỷ nguyên này lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Sự nhận biết về sự tổng hợp đang xuất hiện này giữa Ý Chí và Bác Ái đã tạo ra một hiệu quả rõ rệt trong [291] tâm thức của Đức Christ và dẫn Ngài đến chỗ biết nhiều điều trước đây vẫn bị che giấu khỏi Ngài.
These are deep mysteries. Their value to the disciple in training lies in the recognised and considered relationships.
Đây là những huyền nhiệm sâu xa. Giá trị của chúng đối với đệ tử đang được huấn luyện nằm ở các mối liên hệ được nhận biết và suy xét.
These rules are—as you know—the rules controlling group life; they constitute the key to the laws under which all planetary groups work. The hierarchical life, through its major aspect of Love, was a familiar area of consciousness and well-known to the Masters and to the Master of Them all, the Christ. But a further “knowing” lay ahead of even this “perfected Son of God”; the nature and the mind of that great Being, embodied in the Lord of the World at Shamballa, was now revealed to Him.
Như các bạn biết, các quy luật này là những quy luật kiểm soát đời sống nhóm; chúng cấu thành chìa khóa cho các định luật mà dưới đó mọi nhóm hành tinh hoạt động. Đời sống của Thánh Đoàn, qua phương diện lớn là Bác Ái của nó, là một lĩnh vực tâm thức quen thuộc và được các Chân sư cũng như Chân sư của tất cả Các Ngài, Đức Christ, biết rõ. Nhưng một “sự biết” xa hơn vẫn ở phía trước ngay cả đối với “Con của Thượng đế hoàn thiện” này; bản chất và trí tuệ của Đấng vĩ đại ấy, được hiện thân trong Đức Chúa Tể Thế Giới tại Shamballa, giờ đây đã được mặc khải cho Ngài.
It is this living realisation of Being and of identification with the planetary Logos upon the cosmic mental plane which constituted the unfolding awareness of the Christ upon the Way of the Higher Evolution. Therefore, experience, perception and Being are the keynotes of:
Chính sự chứng nghiệm sống động này về Bản Thể và về sự đồng nhất hóa với Hành Tinh Thượng đế trên cõi trí vũ trụ đã cấu thành sự nhận biết đang khai mở của Đức Christ trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Vì vậy, kinh nghiệm, tri giác và Bản Thể là các chủ âm của:
1. The Path of Evolution.
1. Con Đường Tiến Hoá.
2. The mode of unfoldment upon the Path.
2. Phương thức khai mở trên Con Đường.
3. The state of divine focus upon the Way.
3. Trạng thái tập trung thiêng liêng trên Con đường.
In other words, you have the states of Individualisation, of Initiation, and of Identification.
Nói cách khác, các bạn có các trạng thái của Biệt ngã hóa, của Điểm đạo, và của Đồng nhất hóa.
The relation between the listening of the aspirant and the knowledge of the initiated disciple has been expressed for us in a certain ancient writing as follows:
Mối liên hệ giữa sự lắng nghe của người chí nguyện và tri thức của đệ tử đã được điểm đạo đã được diễn đạt cho chúng ta trong một trước tác cổ như sau:
“Dimly the one who seeks hears the faint whisper of the life of God; he sees the breathing of that whisper which disturbs the waters of his Spatial life. The whisper penetrates. It then becomes the Sound of many waters and the Word of many voices. Great is the confusion but still the listening must go on.
“Người tìm kiếm mơ hồ nghe thấy tiếng thì thầm nhè nhẹ của sự sống của Thượng đế; y thấy hơi thở của tiếng thì thầm ấy làm xao động những làn nước của đời sống Không Gian của y. Tiếng thì thầm xuyên thấu. Rồi nó trở thành Âm Thanh của nhiều dòng nước và Linh từ của nhiều tiếng nói. Sự hỗn loạn thật lớn lao nhưng sự lắng nghe vẫn phải tiếp tục.
Listening is the seed of obedience, O Chela on the Path.
Lắng nghe là hạt giống của sự tuân phục, hỡi Đệ tử trên đường dây.
More loudly comes the voice; then suddenly the voices dim and listening now gives place to knowing—the [292] knowledge of that which lies behind the outer form, the perception of that which must be done. Order is seen. The pattern clear emerges.
Tiếng nói đến lớn hơn; rồi đột nhiên các tiếng nói mờ đi và sự lắng nghe giờ đây nhường chỗ cho sự biết— [292] tri thức về điều nằm sau hình tướng bên ngoài, tri giác về điều phải được thực hiện. Trật tự được nhìn thấy. Mô hình hiện ra rõ ràng.
Knowing is the seed of conscious doing, O Chela on the Path.
Biết là hạt giống của hành động hữu thức, hỡi Đệ tử trên đường dây.
Listening and knowledge also fade away and that which they produce can then be seen. Being emerges and union with the One. Identity is known—not on this plane but on that higher sphere where move and speak the greater Sons of Life. Being alone is left. The work is done.”
Lắng nghe và tri thức cũng mờ dần đi và khi đó điều mà chúng tạo ra có thể được nhìn thấy. Bản Thể xuất hiện và hợp nhất với Đấng Duy Nhất. Bản sắc được biết đến—không phải trên cõi này mà trên khối cầu cao hơn nơi các Con lớn lao của Sự sống vận động và nói năng. Chỉ còn lại Bản Thể. Công việc đã hoàn tất.”
2. Express.
2. Biểu lộ.
We come now to the second word of the fourteenth rule for disciples and initiates—the word Express. This cannot be correctly understood apart from the earlier word imparted to applicants—the word Touch. I would have you note that all the words given to the neophyte refer basically to something he must do in reference to himself, some task he must undertake which will make him more fit for advancement, or some process of apprehension which will enable him to function in a better and more sensitive instrument. This might be called the “introverted stage” of training because it brings the would-be disciple to a better knowledge of himself; he grasps the fact that he himself, the microcosm, is the key to the Macrocosm; he is the clue to the future, and he holds within himself the revelation which must precede esoteric action. In contradistinction to this, the words for the disciple and the initiate mark the attainment of a capacity to work from a most deeply esoteric centre in a pronouncedly occult way. By this I mean that the initiate, working as we have seen from a standpoint of knowledge, is at the same time no longer self-centred, but is now preoccupied with that in which he lives and moves and has his being. His interests are with the Whole and not with the part; his interests are those which will affect his environment (an aspect of that living vibrant Whole) and not himself; his task is the hierarchical one of the salvaging of others, and not his own salvation.
Giờ đây chúng ta đến với từ thứ hai của quy luật thứ mười bốn dành cho các đệ tử và các điểm đạo đồ—từ Biểu lộ. Từ này không thể được thấu hiểu đúng đắn nếu tách rời khỏi từ trước đó đã được truyền cho những người thỉnh cầu—từ Chạm đến. Tôi muốn các bạn lưu ý rằng mọi từ được trao cho người sơ cơ về căn bản đều quy chiếu đến một điều gì đó mà y phải làm liên quan đến chính mình, một nhiệm vụ nào đó mà y phải đảm nhận để khiến mình thích hợp hơn cho sự tiến bộ, hoặc một tiến trình lĩnh hội nào đó sẽ giúp y hoạt động trong một dụng cụ tốt hơn và nhạy bén hơn. Điều này có thể được gọi là “giai đoạn hướng nội” của sự huấn luyện vì nó đưa người đệ tử tương lai đến chỗ hiểu biết mình rõ hơn; y nắm được sự kiện rằng chính y, tiểu thiên địa, là chìa khóa của Đại thiên địa; y là đầu mối của tương lai, và y nắm giữ bên trong mình sự mặc khải phải đi trước hành động huyền bí. Trái lại với điều này, các từ dành cho đệ tử và điểm đạo đồ đánh dấu sự đạt được một năng lực làm việc từ một trung tâm huyền bí sâu xa nhất theo một cách thức rõ rệt là huyền môn. Bởi điều này tôi muốn nói rằng điểm đạo đồ, như chúng ta đã thấy, làm việc từ một lập trường tri thức, đồng thời không còn tập trung vào bản thân nữa, mà nay bận tâm với cái trong đó y sống, chuyển động và hiện hữu. Mối quan tâm của y là với Toàn thể chứ không phải với bộ phận; mối quan tâm của y là những gì sẽ tác động đến môi trường của y (một phương diện của Toàn thể sống động rung động ấy) chứ không phải đến chính y; nhiệm vụ của y là nhiệm vụ của Thánh đoàn là cứu vớt những người khác, chứ không phải sự cứu rỗi của riêng y.
[293]
[293]
If you will note your own present attitudes and actions, you will discover that primarily (I might add almost necessarily) they centre around yourselves, your own recognitions, your own grasp of truth, and your own progress upon the Path. But—as you achieve initiate status—self-interest declines until it disappears and, as an ancient Word has it, “only God is left”; only that remains in consciousness which is THAT, which is beauty, goodness and truth; which is not form but quality, which is that which lies behind the form and that which indicates destiny, soul, place, and status. Ponder on these words, for they convey to you where (as evolution goes on) you will later lay the emphasis.
Nếu các bạn lưu ý đến các thái độ và hành động hiện tại của chính mình, các bạn sẽ khám phá rằng về cơ bản (và tôi có thể thêm là gần như tất yếu) chúng xoay quanh chính các bạn, những sự nhận biết của riêng các bạn, sự nắm bắt chân lý của riêng các bạn, và sự tiến bộ của riêng các bạn trên Con Đường. Nhưng—khi các bạn đạt được địa vị điểm đạo đồ—sự quan tâm đến bản thân suy giảm cho đến khi biến mất, và như một Linh từ cổ xưa đã nói, “chỉ còn lại Thượng đế”; chỉ còn lại trong tâm thức cái là CÁI ĐÓ, cái là vẻ đẹp, thiện lành và chân lý; cái không phải là hình tướng mà là phẩm tính, cái nằm sau hình tướng và cái chỉ ra định mệnh, linh hồn, vị trí và địa vị. Hãy suy ngẫm về những lời này, vì chúng truyền đạt cho các bạn biết về nơi mà sau này (khi tiến hoá tiếp diễn) các bạn sẽ đặt trọng tâm.
In considering the word Express I can, I believe, make this distinction somewhat clearer. When the beginner on the Path ponders the significance of expression, he is occupied with his ability to express the truth which he theoretically recognises but to which he cannot as yet give form. This is valuable because it feeds his aspiration, centres his attention upon himself and increases his naive self-interest. This, frequently, presents its own problems, such as a sense of failure or an undue registration of success, or it fails to develop a sense of proportion.
Khi xem xét từ Biểu lộ, tôi tin rằng tôi có thể làm cho sự phân biệt này rõ hơn đôi chút. Khi người mới bắt đầu trên Con Đường suy ngẫm về ý nghĩa của sự biểu lộ, y bận tâm với khả năng biểu lộ chân lý mà về mặt lý thuyết y nhận ra nhưng chưa thể ban cho hình tướng. Điều này có giá trị vì nó nuôi dưỡng khát vọng của y, tập trung sự chú ý của y vào chính mình và gia tăng sự quan tâm ngây thơ của y đến bản thân. Điều này thường xuyên nêu ra những vấn đề riêng của nó, như cảm giác thất bại hoặc sự ghi nhận thành công quá mức, hoặc không phát triển được ý thức về tỉ lệ.
When, however, the initiate takes into his consciousness this injunction to express, it signifies to him not his own needs or requirements, but the need of others for those expressions of truth which will guide them on their way. This word, therefore, is to him an injunction to be creative. The initiate creates outside himself that which is his individual contribution to the totality of the creative forms whereby the Hierarchy is attempting to create “a new heaven and a new earth.” He is not occupied with what he himself expresses as a soul within a personality; he has developed the habit of right soul expression in the three worlds, and the appearance of his quality (to revert to the use of our original words—life, quality and appearance) is automatic and without any planning on his part. He is, however, occupied with the sequence of activities which I will list as follows: [294]
Tuy nhiên, khi điểm đạo đồ đưa mệnh lệnh này là biểu lộ vào tâm thức mình, thì đối với y, nó không hàm ý những nhu cầu hay đòi hỏi của riêng y, mà là nhu cầu của những người khác đối với những biểu lộ chân lý sẽ hướng dẫn họ trên đường đi. Vì vậy, đối với y, từ này là một mệnh lệnh phải sáng tạo. Điểm đạo đồ sáng tạo ra bên ngoài chính mình điều là sự đóng góp cá nhân của y vào toàn thể các hình tướng sáng tạo nhờ đó Thánh Đoàn đang cố gắng tạo ra “một trời mới và một đất mới.” Y không bận tâm với điều mà chính y biểu lộ như một linh hồn bên trong một phàm ngã; y đã phát triển thói quen biểu lộ linh hồn đúng đắn trong ba cõi giới, và sự xuất hiện của phẩm tính của y (để trở lại với cách dùng những từ nguyên thủy của chúng ta—sự sống, phẩm tính và sắc tướng) là tự động và không có bất kỳ sự hoạch định nào từ phía y. Tuy nhiên, y bận tâm với chuỗi hoạt động mà tôi sẽ liệt kê như sau: [294]
1. The preservation of hierarchical contact, of which direct, conscious soul contact is now an incident because it is now a habit.
1. Duy trì tiếp xúc với Thánh Đoàn, trong đó tiếp xúc trực tiếp, có ý thức với linh hồn nay chỉ là một sự việc phụ vì giờ đây nó đã là một thói quen.
2. An awareness, unbroken and consistent, of his ashramic place; I refer not to location but to status—a very different matter.
2. Một nhận thức không gián đoạn và nhất quán về vị trí ashram của mình; tôi không nói đến vị trí mà nói đến địa vị—một vấn đề rất khác.
3. Reflective concentration upon the hierarchical Plan as his particular Ashram has assumed responsibility for a measure of it; that responsibility he seeks to share intelligently and effectively.
3. Sự tập trung phản chiếu vào Thiên Cơ của Thánh Đoàn như ashram riêng của y đã nhận trách nhiệm đối với một phần nào đó của Thiên Cơ ấy; y tìm cách chia sẻ trách nhiệm đó một cách thông minh và hữu hiệu.
4. Recognition of the immediate contribution of the Ashram and his immediate contribution as an integral part of it. This does away with visionary mysticism and produces the practicing occultist.
4. Nhận ra sự đóng góp tức thời của ashram và sự đóng góp tức thời của chính y như một phần không thể tách rời của nó. Điều này loại bỏ thần bí học đầy linh ảnh và tạo ra nhà huyền bí học thực hành.
5. A study of the creative methods of his particular Ray and an imaginative visualisation of that which will be expressed when the desired creative work has taken due form.
5. Nghiên cứu các phương pháp sáng tạo của cung riêng của y và hình dung một cách tưởng tượng điều sẽ được biểu lộ khi công việc sáng tạo mong muốn đã mang hình tướng thích đáng.
6. Conscious projection of his contribution onto the outer physical plane. A tangible creative project is undertaken and eventually produced.
6. Phóng chiếu có ý thức sự đóng góp của y lên cõi hồng trần bên ngoài. Một dự án sáng tạo hữu hình được đảm nhận và cuối cùng được tạo ra.
7. He thus plays his part in bringing into objectivity the creative undertaking of his Ashram.
7. Như vậy y đóng phần của mình trong việc đưa công trình sáng tạo của ashram mình vào tính khách quan.
The seed of this creative work is that which the Ashram has planned for the exact moment of humanity’s presented need, correct as to timing and placement. This may not be what humanity believes it needs; it is essentially what the Hierarchy recognises as the needed factor, leading to the needed progress for the race at any specific moment in time. For instance, humanity believes today that its major need is peace and material comfort and is working vaguely for both; the Hierarchy knows that its major need is the recognition of the folly of past separateness and the cult of goodwill. Towards these ends, workers in the Ashrams are bending every effort. The creative task, therefore, of working disciples and initiates is to produce that presentation (appearance) of the necessitous truths in such a manner that the recognition of humanity may be so sound that right action can duly be [295] taken. Hierarchical workers must therefore express the true need in form, appropriate to the registering capacity of humanity at this moment.
Hạt giống của công việc sáng tạo này là điều mà ashram đã hoạch định cho đúng thời điểm của nhu cầu được trình bày của nhân loại, đúng về thời gian và vị trí. Điều này có thể không phải là cái mà nhân loại tin rằng mình cần; về bản chất, đó là cái mà Thánh Đoàn nhận ra là yếu tố cần thiết, dẫn đến sự tiến bộ cần thiết cho nhân loại vào bất kỳ thời điểm cụ thể nào. Chẳng hạn, ngày nay nhân loại tin rằng nhu cầu lớn nhất của mình là hòa bình và tiện nghi vật chất và đang mơ hồ làm việc cho cả hai; Thánh Đoàn biết rằng nhu cầu lớn nhất của nhân loại là sự nhận ra tính điên rồ của sự chia rẽ trong quá khứ và sự sùng bái thiện chí. Hướng đến các mục tiêu này, những người hoạt động trong các ashram đang dốc mọi nỗ lực. Vì vậy, nhiệm vụ sáng tạo của các đệ tử và điểm đạo đồ đang hoạt động là tạo ra sự trình bày (sắc tướng) của các chân lý cấp thiết ấy theo cách sao cho sự nhận biết của nhân loại có thể vững chắc đến mức hành động đúng đắn có thể được [295] thực hiện đúng lúc. Do đó, những người hoạt động của Thánh Đoàn phải biểu lộ nhu cầu chân thực trong hình tướng, thích hợp với năng lực ghi nhận của nhân loại vào lúc này.
The creative work of expression does not consequently concern the development and personal progress of the initiate. He has been taken into the Ashram because of his development and because of the contribution he should be able to make to the ashramic creative purpose. What, as a neophyte, he “touched” because of what he could gain spiritually for himself (and this with sound motive) has now become that which must be expressed in the field of service of the initiate, exacting from him all that he has and leaving him nothing for the separated self.
Vì thế, công việc sáng tạo của sự biểu lộ không liên quan đến sự phát triển và tiến bộ cá nhân của điểm đạo đồ. Y đã được tiếp nhận vào ashram vì sự phát triển của y và vì sự đóng góp mà y lẽ ra phải có khả năng thực hiện cho mục đích sáng tạo của ashram. Điều mà, như một người sơ cơ, y đã “chạm đến” vì điều y có thể đạt được về mặt tinh thần cho chính mình (và điều này với động cơ đúng đắn), nay đã trở thành điều phải được biểu lộ trong lĩnh vực phụng sự của điểm đạo đồ, đòi hỏi nơi y tất cả những gì y có và không để lại cho bản ngã tách biệt điều gì.
A great creative activity involving all Ashrams—major and minor—is now being planned in the hierarchical assembly, and the work of all waiting and attentive disciples is to make that creative plan successful through its full expression upon the physical plane. This they must do through their grouped and blended activities, which will embody the full expression of all that they have achieved and gained in the earlier stages of their individual unfoldment. Thus you will see that from God the Creator of all that IS, down to the humblest disciple in the hierarchical centre, the theme of creativity dominates and is the expression (again occultly understood) of the divine intention. At present, what is called creative work by men is in reality an expression of themselves and of their appreciation of beauty as they see it, of truth as they grasp it, of psychology as they interpret it, of nature as they scientifically interpret it. According to their spiritual development and their intelligent perception, so will be the quality and the nature of their expression—but it will be theirs.
Một hoạt động sáng tạo lớn lao bao gồm mọi ashram—lớn và nhỏ—nay đang được hoạch định trong hội nghị của Thánh Đoàn, và công việc của mọi đệ tử đang chờ đợi và chú tâm là làm cho kế hoạch sáng tạo ấy thành công thông qua sự biểu lộ trọn vẹn của nó trên cõi hồng trần. Điều này họ phải làm qua các hoạt động nhóm và dung hợp của mình, những hoạt động sẽ thể hiện sự biểu lộ trọn vẹn của tất cả những gì họ đã đạt được và thu nhận trong các giai đoạn trước của sự khai mở cá nhân của họ. Như vậy các bạn sẽ thấy rằng từ Thượng đế, Đấng Sáng Tạo của mọi cái ĐANG LÀ, cho đến người đệ tử khiêm nhường nhất trong trung tâm của Thánh Đoàn, chủ đề sáng tạo chi phối và là sự biểu lộ (một lần nữa được hiểu theo nghĩa huyền môn) của ý định thiêng liêng. Hiện nay, điều mà con người gọi là công việc sáng tạo thực ra là sự biểu lộ của chính họ và của sự cảm nhận của họ về cái đẹp như họ thấy, về chân lý như họ nắm bắt, về tâm lý học như họ diễn giải, về bản chất như họ diễn giải một cách khoa học. Tùy theo sự phát triển tinh thần và sự nhận thức thông minh của họ mà phẩm tính và bản chất của sự biểu lộ của họ sẽ như thế—nhưng đó sẽ là của họ.
In the case of hierarchical workers however, the situation is different. They work to express that which the Ashram, through its group of workers, is seeking to express they seek to express the Plan, or as much of it as they can grasp; they are occupied with the expression of soul as that soul should be known in the culture and the civilisation [296] immediately to be developed. They can work entirely free from self-interest; that which they create is not claimed by them but is regarded as an expression of hierarchical activity; they are free from the spirit to identify themselves with that which they expressed, but—having created that which their ashramic impulse has indicated—they pass on to a fresh expression of the dynamic, ever-moving purpose. They are not occupied with form, but with life, with organism rather than organisation, with ideas rather than ideals, and with essential truth rather than with carefully formulated theologies.
Tuy nhiên, trong trường hợp những người hoạt động của Thánh Đoàn, tình hình lại khác. Họ làm việc để biểu lộ điều mà ashram, thông qua nhóm người hoạt động của nó, đang tìm cách biểu lộ; họ tìm cách biểu lộ Thiên Cơ, hay nhiều chừng nào của Thiên Cơ mà họ có thể nắm bắt; họ bận tâm với sự biểu lộ của linh hồn như linh hồn ấy cần phải được biết đến trong nền văn hóa và nền văn minh [296] sắp được phát triển ngay sau đó. Họ có thể làm việc hoàn toàn không có tư lợi; điều họ sáng tạo không được họ nhận là của mình mà được xem như một sự biểu lộ của hoạt động Thánh Đoàn; họ thoát khỏi tinh thần đồng hoá mình với điều họ đã biểu lộ, nhưng—sau khi đã sáng tạo ra điều mà xung lực ashram của họ đã chỉ ra—họ chuyển sang một biểu lộ mới mẻ của mục đích năng động, luôn vận động. Họ không bận tâm với hình tướng, mà với sự sống, với cơ thể sống hơn là tổ chức, với các ý tưởng hơn là các lý tưởng, và với chân lý cốt yếu hơn là với các thần học được công thức hóa cẩn thận.
Christ expressed in Himself and refrained from putting it into form; He Himself was the truth, yet inevitably (because of its inherent life) that which He expressed took form and has greatly modified and coloured human thinking and planning, and this will be increasingly so. As the essence of Christianity emerges into expression (and in so doing destroys Churchianity) you have again a striking illustration of the truth of what I am seeking to emphasise. In the Christian Church, men have expressed themselves, not the Christ; they have imposed their interpretations of truth on truth itself; they have created a massive organisation in every land but a living organism is non-existent. In the new world religion which is on its way, Christianity will be expressed through the creative activity of the Christ spirit through the medium of the world disciples and initiates; we shall then see the full expression of hierarchical truth—of which the Christ today is the symbol and exponent.
Đức Christ đã biểu lộ trong chính Ngài và không đưa nó vào hình tướng; chính Ngài là chân lý, tuy nhiên tất yếu (vì sự sống cố hữu của nó) điều mà Ngài biểu lộ đã mang hình tướng và đã làm biến đổi sâu sắc cũng như nhuộm màu tư tưởng và hoạch định của nhân loại, và điều này sẽ ngày càng như vậy. Khi tinh túy của Cơ Đốc giáo đi vào biểu lộ (và khi làm như vậy sẽ phá hủy chủ nghĩa giáo hội) các bạn lại có một minh họa nổi bật về chân lý mà tôi đang tìm cách nhấn mạnh. Trong Giáo hội Cơ Đốc, con người đã biểu lộ chính họ, chứ không phải Đức Christ; họ đã áp đặt những diễn giải của họ về chân lý lên chính chân lý; họ đã tạo ra một tổ chức đồ sộ ở mọi quốc gia nhưng một cơ thể sống động thì không hiện hữu. Trong tôn giáo thế giới mới đang trên đường đến, Cơ Đốc giáo sẽ được biểu lộ qua hoạt động sáng tạo của tinh thần Christ thông qua trung gian của các đệ tử và điểm đạo đồ thế giới; khi ấy chúng ta sẽ thấy sự biểu lộ trọn vẹn của chân lý Thánh Đoàn—mà ngày nay Đức Christ là biểu tượng và là vị giải thích.
Neophytes and aspirants have “touched” that for which the Christ stood, and have then attempted to impose their comprehension of that which they contacted upon the rest of the world. Knowers, disciples and initiates express that which He represented (love-wisdom). This they do automatically and by force of habit, first in themselves and finally by a definitely planned creative activity in the outer world.
Những người sơ cơ và người chí nguyện đã “chạm đến” điều mà Đức Christ tượng trưng, rồi sau đó cố gắng áp đặt sự hiểu biết của họ về điều họ đã tiếp xúc lên phần còn lại của thế giới. Các thức giả, đệ tử và điểm đạo đồ biểu lộ điều mà Ngài đại diện (Bác Ái – Minh Triết). Điều này họ làm một cách tự động và bằng sức mạnh của thói quen, trước hết trong chính họ và cuối cùng bằng một hoạt động sáng tạo được hoạch định rõ ràng trong thế giới bên ngoài.
Therefore, my brothers, there lies ahead of all true aspirants an intermediate stage of decentralisation, of automatic spiritual living and of absorption into the Hierarchy [297] through the medium of an Ashram; therein the Plan can be learnt. When this phase of development is completed the disciple can then begin to work creatively in line with hierarchical activity.
Vì vậy, Huynh đệ của Tôi, phía trước mọi người chí nguyện chân chính là một giai đoạn trung gian của sự phi tập trung vào bản thân, của đời sống tinh thần tự động và của sự hòa nhập vào Thánh Đoàn [297] thông qua trung gian của một ashram; chính trong đó Thiên Cơ có thể được học biết. Khi giai đoạn phát triển này hoàn tất, đệ tử khi ấy có thể bắt đầu làm việc sáng tạo phù hợp với hoạt động của Thánh Đoàn.
As we consider the next word on our list, we must hold in our minds what we have discussed anent the words Touch and Express. It might be said that the words which are given to aspirants and applicants are the seed or germ of the concepts indicated in the words for initiates and disciples. Until the earlier significances are mastered in the earlier phases of discipleship, the later illumined service—based upon the later words—is not possible. Always in the fresh attitude to the developing esoteric understanding of the initiate there is implicit the fact of transition from individual self-interest to a universal state of consciousness; this in time becomes the directing agent for individualised service—as rendered by the individual disciple upon the physical plane. The fusion of the two attitudes—inclusive realisation and specialised service—renders the task of the initiate peculiarly difficult. He has to hold two attitudes simultaneously, whilst at the same time subjecting himself to the training required in order to enable him to take his next step forward upon the Path. It is only whilst this condition persists that the initiate has any sense of triplicity. This is an important point to note. Bear this in mind as we discuss our next two words: See and Reveal.
Khi chúng ta xem xét từ kế tiếp trong danh sách của mình, chúng ta phải giữ trong tâm trí điều chúng ta đã bàn đến liên quan đến các từ Chạm đến và Biểu lộ. Có thể nói rằng những từ được trao cho người chí nguyện và người thỉnh cầu là hạt giống hay mầm của các khái niệm được chỉ ra trong những từ dành cho điểm đạo đồ và đệ tử. Chừng nào các ý nghĩa sớm hơn chưa được làm chủ trong các giai đoạn sớm hơn của địa vị đệ tử, thì sự phụng sự được soi sáng về sau—dựa trên các từ về sau—không thể có được. Luôn luôn, trong thái độ mới mẻ đối với sự thấu hiểu huyền bí đang phát triển của điểm đạo đồ, có hàm ẩn sự kiện chuyển tiếp từ tư lợi cá nhân sang một trạng thái tâm thức phổ quát; theo thời gian, điều này trở thành tác nhân chỉ đạo cho sự phụng sự được biệt ngã hóa—như được thực hiện bởi đệ tử cá nhân trên cõi hồng trần. Sự dung hợp của hai thái độ—chứng nghiệm bao gồm và phụng sự chuyên biệt—khiến nhiệm vụ của điểm đạo đồ trở nên đặc biệt khó khăn. Y phải giữ đồng thời hai thái độ, trong khi cùng lúc tự đặt mình dưới sự huấn luyện cần thiết để có thể thực hiện bước tiến kế tiếp của mình trên Con Đường. Chỉ trong khi tình trạng này còn tồn tại thì điểm đạo đồ mới có bất kỳ cảm giác nào về tính tam phân. Đây là một điểm quan trọng cần lưu ý. Hãy ghi nhớ điều này khi chúng ta bàn đến hai từ kế tiếp: Thấy và Mặc khải.
3. Reveal.
3. Mặc khải.
The objective of the strictly human evolution in this planetary cycle is sight, culminating in that spiritual perception which is the major gift of the soul to the personality when contact is made; this conveys the sense of attractive love, indicates the nature of things, reveals the world of meaning, and gives the great gift of light, knowledge and ultimate illumination. Such are the goals for the mystic, the aspirant and the pledged disciple. The greatest physical gift is that of sight, and it is the same upon a higher turn of the spiral within the world of the soul. When the disciple has achieved a measure of vision and is “in sight” of his goal, he [298] can then be admitted to an Ashram wherein the nature of revelation can be made known to him. Men are apt to confuse vision and revelation, and I seek to clarify your minds somewhat on this matter; therefore, the preceding sentence is of major importance. Aspirants are prone to think that the goal towards which they move is that of soul contact, with a secondary goal of hierarchical position, and a third goal of service. This, however, is not correct.
Mục tiêu của tiến hoá thuần túy nhân loại trong chu kỳ hành tinh này là thị giác, đạt đến tột đỉnh trong sự tri giác tinh thần là món quà lớn lao mà linh hồn ban cho phàm ngã khi tiếp xúc được thiết lập; điều này truyền đạt cảm thức về tình thương hấp dẫn, chỉ ra bản chất của sự vật, mặc khải Thế giới của ý nghĩa, và ban món quà lớn lao của ánh sáng, tri thức và cuối cùng là soi sáng. Đó là những mục tiêu dành cho nhà thần bí, người chí nguyện và đệ tử đã tuyên thệ. Món quà vật lý lớn nhất là thị giác, và điều này cũng đúng ở một vòng xoắn cao hơn trong thế giới của linh hồn. Khi đệ tử đã đạt được một mức độ linh thị và “đã thấy” mục tiêu của mình, y [298] khi ấy có thể được nhận vào một ashram nơi bản chất của sự mặc khải có thể được cho y biết. Con người dễ nhầm lẫn linh thị và mặc khải, và tôi tìm cách làm cho trí tuệ các bạn sáng tỏ hơn đôi chút về vấn đề này; vì vậy, câu trước đó có tầm quan trọng lớn lao. Người chí nguyện có khuynh hướng nghĩ rằng mục tiêu mà họ đang tiến đến là tiếp xúc với linh hồn, với mục tiêu thứ yếu là địa vị trong Thánh Đoàn, và mục tiêu thứ ba là phụng sự. Tuy nhiên, điều này không đúng.
The goal ahead of the aspirant is the consciousness of non-separateness and the recognition of a universal inclusiveness; the secondary goal is the ability to reveal the nature of that reality, Unity; the third goal is the ability to take those measures in the three worlds which will facilitate mankind’s apprehension of these fundamentals. You will note how this last definition of the goal removes inevitably the factor of self-interest in its entirety. It might therefore be said that revelation concerns Oneness and nothing else. The practical nature of this truth is only recognised when the disciple attempts to do two things: to realise it individually, and to bring the nature of planetary unity and of non-separateness to the minds and into the lives of men everywhere.
Mục tiêu phía trước người chí nguyện là tâm thức không tách biệt và sự nhận ra tính bao gồm phổ quát; mục tiêu thứ yếu là khả năng mặc khải bản chất của thực tại ấy, tức Hợp Nhất; mục tiêu thứ ba là khả năng thực hiện những biện pháp trong ba cõi giới sẽ tạo điều kiện cho nhân loại lĩnh hội các chân lý nền tảng này. Các bạn sẽ lưu ý cách định nghĩa cuối cùng này về mục tiêu tất yếu loại bỏ hoàn toàn yếu tố tư lợi. Vì vậy có thể nói rằng mặc khải liên quan đến Nhất thể và không gì khác. Bản chất thực tiễn của chân lý này chỉ được nhận ra khi đệ tử cố gắng làm hai điều: chứng nghiệm nó một cách cá nhân, và mang bản chất của sự hợp nhất hành tinh và của tính không tách biệt đến với trí tuệ và vào trong đời sống của con người ở khắp nơi.
The work of the aspirant is to see the light; only when this has become a fact in his consciousness can he begin to grasp the hidden revelation which that contacted and utilised light can reveal. Here is another key sentence for your consideration.
Công việc của người chí nguyện là thấy ánh sáng; chỉ khi điều này đã trở thành một sự kiện trong tâm thức của y thì y mới có thể bắt đầu nắm bắt sự mặc khải ẩn giấu mà ánh sáng đã được tiếp xúc và sử dụng ấy có thể mặc khải. Đây là một câu then chốt khác để các bạn suy ngẫm.
With the theme of light, of vision, and of illumination, I seek not here to deal. I have covered these subjects at length in the books which I have written, and they have also constituted the earnest search of the mystics of all time; and also the Scriptures and the literature of all nations give much information. It is the subject of revelation and the task of the initiate to reveal with which I am concerned. The disciple, who represents the Ashram, must reveal to humanity the essential unity underlying all creation. This he does, first of all, by acting like a clear sheet of glass through which all may see the reality of Oneness as it [299] demonstrates in practicing operation. When he has, through his own life and words, demonstrated his conscious participation in this basic unity, he passes on to practice ashramic methods of making this fundamental truth still more apparent. You can here see why—as a hierarchical technique—we brought to the attention of the general public the fact of the existence of the New Group of World Servers. They offer a practical expression of an existent unity, based upon oneness of motive, of recognition, of orientation (towards the spiritual world and towards the service of humanity), of methods and of ideas; and all this in spite of the fact that the physical plane relationship is usually non-existent and outer organisation and recognition lack. The unity is subjective, and for that reason is impervious to every taint of separateness.
Với chủ đề ánh sáng, linh thị và soi sáng, ở đây tôi không tìm cách đề cập đến. Tôi đã trình bày dài về các chủ đề này trong những cuốn sách tôi đã viết, và chúng cũng đã tạo thành cuộc truy tầm tha thiết của các nhà thần bí mọi thời; Kinh điển và văn học của mọi dân tộc cũng cung cấp nhiều thông tin. Điều tôi quan tâm là chủ đề mặc khải và nhiệm vụ mặc khải của điểm đạo đồ. Đệ tử, người đại diện cho ashram, phải mặc khải cho nhân loại sự hợp nhất cốt yếu nằm dưới mọi sáng tạo. Trước hết, y làm điều này bằng cách hành động như một tấm kính trong suốt qua đó mọi người có thể thấy thực tại của Nhất thể khi nó [299] biểu hiện trong hoạt động thực tiễn. Khi y đã, qua chính đời sống và lời nói của mình, chứng minh sự tham dự có ý thức của mình vào sự hợp nhất căn bản này, y chuyển sang thực hành các phương pháp ashram để làm cho chân lý nền tảng này càng hiển nhiên hơn nữa. Ở đây các bạn có thể thấy vì sao—như một kỹ thuật của Thánh Đoàn—chúng tôi đã đưa đến sự chú ý của công chúng sự kiện hiện hữu của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Họ cống hiến một sự biểu lộ thực tiễn của một sự hợp nhất hiện tồn, dựa trên sự nhất thể của động cơ, của nhận biết, của định hướng (hướng về thế giới tinh thần và hướng về sự phụng sự nhân loại), của phương pháp và của ý tưởng; và tất cả điều này bất chấp sự kiện rằng mối liên hệ trên cõi hồng trần thường là không hiện hữu và thiếu vắng tổ chức cùng sự công nhận bên ngoài. Sự hợp nhất là chủ quan, và vì lý do đó không bị bất kỳ vết nhơ nào của sự tách biệt xâm phạm.
The inner organisation, to which we have given the name of the New Group of World Servers for the sake of recognition and identification, cannot be broken or in any way diminished, for it is constructed around a major principle of evolutionary growth which—when attained—indicates a registered consciousness of unity; this is something which, once recorded and known, cannot be lost or disproved. Once seen and realised, it becomes as much a fact in its possessor’s consciousness as the recognition and utilisation of his own physical body. This he knows to be a complex organism which constitutes a functioning unity through the medium of the life principle; it is an incontrovertible fact in the realisation of the intelligent man.
Tổ chức nội tại mà chúng tôi đã đặt tên là Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian vì mục đích nhận diện và xác định, không thể bị phá vỡ hay bị suy giảm theo bất kỳ cách nào, vì nó được xây dựng quanh một nguyên lý lớn của sự tăng trưởng tiến hoá mà—khi đạt được—cho thấy một tâm thức hợp nhất đã được ghi nhận; đây là điều mà, một khi đã được ghi nhận và biết đến, thì không thể bị mất đi hay bị bác bỏ. Một khi đã được thấy và chứng nghiệm, nó trở thành một sự kiện trong tâm thức của người sở hữu nó cũng giống như sự nhận biết và sử dụng chính thể xác của mình. Y biết đây là một cơ thể phức hợp tạo thành một sự hợp nhất đang hoạt động thông qua nguyên khí sự sống; đó là một sự kiện không thể chối cãi trong sự chứng nghiệm của con người thông minh.
When, therefore, sight has been attained and the light streams forth, revelation of the oneness of all life is a simple and immediate occurrence; it comes first of all to the disciple as a flash of wondrous informative and instinctive realisation and then steadies down, as progress is made, into a constant apprehension and appreciation; it eventually produces the motivating impulse of all action.
Vì vậy, khi thị giác đã đạt được và ánh sáng tuôn đổ ra, sự mặc khải về tính nhất thể của mọi sự sống là một sự kiện đơn giản và tức thời; trước hết nó đến với đệ tử như một tia chớp của sự chứng nghiệm kỳ diệu, giàu thông tin và có tính bản năng, rồi dần ổn định, khi tiến bộ được thực hiện, thành một sự lĩnh hội và trân trọng thường hằng; cuối cùng nó tạo ra xung lực thúc đẩy của mọi hành động.
What is the immediate revelation which the initiates and the disciples of the world are seeking to bring to humanity? What aspect of this essential unity are they [300] endeavouring to make simple and apparent? One of the easiest things in the world to say (as has, for instance, Krishnamurti) is that life is one; that there is nothing but unity. That is a trite formulation of a very ancient truth, and one which is today an occult platitude. But life is not yet one in consciousness, however true it may be in fact. The reason for this is that life is loving synthesis in action, and of that there is little today in demonstration. We have life in activity but love, based on realised unity and leading to expressed synthesis, is still absent. The vision of it is, however, upon the horizon of many, for in these days many are attaining sight and light is pouring in. Revelation will come when the world disciples and initiates have perfected the art of revelation.
Sự mặc khải tức thời mà các điểm đạo đồ và các đệ tử của thế giới đang tìm cách mang đến cho nhân loại là gì? Họ đang [300] cố gắng làm cho phương diện nào của sự hợp nhất cốt yếu này trở nên đơn giản và hiển nhiên? Một trong những điều dễ nói nhất trên đời (như chẳng hạn Krishnamurti đã nói) là sự sống là một; không có gì ngoài sự hợp nhất. Đó là một công thức tầm thường của một chân lý rất cổ xưa, và ngày nay là một lời sáo rỗng huyền bí. Nhưng sự sống chưa phải là một trong tâm thức, dù trên thực tế điều đó có đúng đến đâu. Lý do là vì sự sống là tổng hợp yêu thương trong hành động, và ngày nay điều đó ít được biểu hiện. Chúng ta có sự sống trong hoạt động nhưng tình thương, dựa trên sự hợp nhất được chứng nghiệm và dẫn đến tổng hợp được biểu lộ, vẫn còn vắng mặt. Tuy nhiên, linh thị về điều đó đang ở trên chân trời của nhiều người, vì trong những ngày này nhiều người đang đạt được thị giác và ánh sáng đang tuôn vào. Sự mặc khải sẽ đến khi các đệ tử và điểm đạo đồ thế giới đã hoàn thiện nghệ thuật mặc khải.
The task ahead is simple. The important aspect, at this time, of the basic oneness underlying all forms, and which the workers of today must immediately emphasise, is the fact of the kingdom of God, of the planetary Hierarchy. The citizens of that kingdom and the members of that Hierarchy are gathered out of every nation, every political party, every social group, every religious cult or sect, and every organisation—no matter what their expressed objectives—and the universality of the field from which these people emerge, demonstrates their underlying unity. When this unity assumes adequate proportions in the eyes of mankind, a real synthesis will follow.
Nhiệm vụ phía trước thì đơn giản. Phương diện quan trọng, vào lúc này, của sự nhất thể căn bản nằm dưới mọi hình tướng, và là điều mà những người hoạt động ngày nay phải nhấn mạnh ngay lập tức, là sự kiện của Thiên Giới, của Thánh Đoàn hành tinh. Các công dân của giới ấy và các thành viên của Thánh Đoàn ấy được tập hợp từ mọi quốc gia, mọi đảng phái chính trị, mọi nhóm xã hội, mọi giáo phái hay tông phái tôn giáo, và mọi tổ chức—bất kể mục tiêu được tuyên bố của họ là gì—và tính phổ quát của lĩnh vực mà từ đó những người này xuất hiện chứng minh sự hợp nhất nền tảng của họ. Khi sự hợp nhất này đạt đến tỷ lệ thích đáng trong mắt nhân loại, một sự tổng hợp thực sự sẽ theo sau.
Therefore the call goes out at this time for hierarchical workers to reveal with greater emphasis the fact of the Hierarchy. This—if done on a large scale and through proper organisation—will destroy on a large scale the present world structure in the field of religion, of economics, and of politics; it is already doing so. An increase of pressure on the part of all who recognise the factual nature of the inner subjective kingdom of God, will produce amazing results. This kingdom, through its major power (a quality of synthesis, could you but realise it), is gathering together into itself men and women out of every nation and out of all parts of the Earth. It is absorbing them into itself not because [301] they are orthodox or religious in the generally accepted sense of the term, but because of their quality. Simultaneously, as their numbers increase, a reverse movement is taking place. Men are moving outward on to the physical plane, and doing this as a group in order to prove the factual nature of the world of unity into which they have succeeded in penetrating. They, therefore, are demonstrating oneness and synthesis in such a simple way that men everywhere can grasp it. The New Group of World Servers is the vanguard of the kingdom of God, the living proof of the existence of the world of spiritual Oneness.
Vì vậy, vào lúc này lời kêu gọi được phát ra cho những người hoạt động của Thánh Đoàn phải mặc khải với sự nhấn mạnh lớn hơn sự kiện của Thánh Đoàn. Điều này—nếu được thực hiện trên quy mô lớn và qua tổ chức thích hợp—sẽ phá hủy trên quy mô lớn cấu trúc thế giới hiện tại trong lĩnh vực tôn giáo, kinh tế và chính trị; nó đã đang làm như vậy. Sự gia tăng áp lực từ phía tất cả những ai nhận ra bản chất thực tại của Thiên Giới nội tại chủ quan của Thượng đế sẽ tạo ra những kết quả đáng kinh ngạc. Giới này, thông qua quyền năng lớn lao của nó (một phẩm tính của tổng hợp, nếu các bạn có thể chứng nghiệm điều đó), đang tập hợp vào trong chính nó những người nam và nữ từ mọi quốc gia và từ mọi miền của Trái Đất. Nó hấp thu họ vào trong chính nó không phải vì [301] họ chính thống hay có tôn giáo theo nghĩa thường được chấp nhận của từ này, mà vì phẩm tính của họ. Đồng thời, khi số lượng của họ gia tăng, một chuyển động ngược lại đang diễn ra. Con người đang tiến ra ngoài lên cõi hồng trần, và làm điều này như một nhóm để chứng minh bản chất thực tại của thế giới hợp nhất mà họ đã thành công thâm nhập vào. Vì vậy, họ đang chứng minh tính nhất thể và tổng hợp theo một cách đơn giản đến mức con người ở khắp nơi có thể nắm bắt được. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là đội tiên phong của Thiên Giới, bằng chứng sống động về sự hiện hữu của thế giới Nhất thể tinh thần.
To all applicants the call has gone out to see the Christ as He is, in order (as The New Testament puts it) that “as He is, so should we be in the world.” To disciples and initiates the call goes out to reveal to the world the grouped formation of all spiritual workers, the nature of the Christ consciousness which knows no separation, which recognises all men everywhere as Sons of God in process of expression. This is all desired because of the need to emphasise the all-inclusive approach of divinity to humanity. These working disciples and initiates regard all as essentially one and as brothers, which repudiates all man-made theologies (religious, scientific, political or economic) and says to all men everywhere: “We are all the children of God; we are all equally divine; we are all on our way to the revelation of divinity, and this upon the physical plane of existence; it is what we reveal that is of importance; what is revealed to us is of lesser importance, though it has its due place in the process of training and perfecting.”
Đối với mọi người thỉnh cầu, lời kêu gọi đã được phát ra là hãy thấy Đức Christ như Ngài là, để (như Tân Ước nói) “Ngài thế nào, thì chúng ta cũng phải như vậy trong thế gian.” Đối với các đệ tử và điểm đạo đồ, lời kêu gọi được phát ra là hãy mặc khải cho thế giới sự hình thành theo nhóm của mọi người hoạt động tinh thần, bản chất của tâm thức Christ vốn không biết đến sự tách biệt, vốn nhận ra mọi người ở khắp nơi là các Con của Thượng đế đang trong tiến trình biểu lộ. Tất cả điều này được mong muốn vì nhu cầu nhấn mạnh cách tiếp cận hoàn toàn bao gồm của thiên tính đối với nhân loại. Những đệ tử và điểm đạo đồ đang hoạt động này xem tất cả về bản chất là một và là huynh đệ, điều này bác bỏ mọi thần học do con người tạo ra (tôn giáo, khoa học, chính trị hay kinh tế) và nói với mọi người ở khắp nơi rằng: “Tất cả chúng ta đều là con cái của Thượng đế; tất cả chúng ta đều thiêng liêng như nhau; tất cả chúng ta đều đang trên đường đi đến sự mặc khải thiên tính, và điều này trên cõi hồng trần của sự tồn tại; điều chúng ta mặc khải mới là điều quan trọng; điều được mặc khải cho chúng ta thì ít quan trọng hơn, dù nó có vị trí thích đáng của nó trong tiến trình huấn luyện và hoàn thiện.”
There is an old catechism which seeks to make clear to the neophyte upon the verge of acceptance the distinction and the difference between vision and revelation. It is falling somewhat into disuse, owing to the fact that the applicant today starts on a much higher turn of the spiral than he did at the time the “form of interrogation” was compiled. I would like, however, to quote one or two of the questions and answers for the instruction of present-day aspirants. [302]
Có một bản giáo lý vấn đáp cổ xưa tìm cách làm sáng tỏ cho người sơ cơ đang ở ngưỡng được chấp nhận sự phân biệt và khác biệt giữa linh thị và mặc khải. Nó hiện đang phần nào rơi vào tình trạng ít được dùng đến, do sự kiện rằng người thỉnh cầu ngày nay bắt đầu ở một vòng xoắn cao hơn nhiều so với thời điểm “hình thức tra vấn” ấy được biên soạn. Tuy nhiên, tôi muốn trích dẫn một hay hai câu hỏi và câu trả lời để giáo huấn cho những người chí nguyện ngày nay. [302]
A CATECHISM
MỘT BẢN GIÁO LÝ VẤN ĐÁP
What dost thou see, O disciple on the Path?
Ngươi thấy gì, hỡi đệ tử trên Con Đường?
Naught but myself, O Master of my life.
Không gì ngoài chính tôi, hỡi Chân sư của đời tôi.
Look closer at thyself and speak again. What seest thou?
Hãy nhìn kỹ hơn vào chính ngươi và nói lại. Ngươi thấy gì?
A point of light which waxes and which wanes and makes the darkness darker.
Một điểm sáng đang tăng rồi giảm và làm bóng tối càng tối hơn.
Look with intense desire towards the dark and, when the light shines forth grasp opportunity. What now appears?
Hãy nhìn với khát vọng mãnh liệt vào bóng tối và, khi ánh sáng chiếu ra, hãy nắm lấy cơ hội. Giờ đây điều gì xuất hiện?
A horrid sight, O Master of my life. I like it not. It is not true. I am not this or that. This evil selfish thing, it is not me. I am not this.
Một cảnh tượng kinh khủng, hỡi Chân sư của đời tôi. Tôi không thích nó. Nó không thật. Tôi không phải cái này hay cái kia. Cái vật xấu xa ích kỷ này, đó không phải là tôi. Tôi không là cái này.
Turn on the light with will and power and fierce desire, and then recount the vision that may come. What seest thou?
Hãy bật ánh sáng bằng ý chí và quyền năng cùng khát vọng mãnh liệt, rồi kể lại linh ảnh có thể đến. Ngươi thấy gì?
Beyond the dark, revealed to me by means of light, I see a radiant form which beckons me. What is this Being, standing gracious in the dark and in the light? Is it and can it be my self?
Vượt ra ngoài bóng tối, được mặc khải cho tôi bằng ánh sáng, tôi thấy một hình tướng rạng ngời đang vẫy gọi tôi. Hữu thể này là gì, đang đứng đầy ân cần trong bóng tối và trong ánh sáng? Nó có phải và có thể là bản ngã của tôi chăng?
What dawns upon the sight as thou standest on the Way, O worn and tired disciple, triumphant in the light?
Điều gì ló rạng trước thị giác khi ngươi đứng trên Đạo, hỡi đệ tử mệt mỏi và kiệt sức, chiến thắng trong ánh sáng?
A radiant shining form which is my Self, my soul. A dark and sombre figure, yet old and wise, experienced and sad. This is my self, my lower self, my ancient tried appearance upon the ways of earth. These two stand face to face and in between, the burning ground....They move and merge....The Path comes to an end. The Way stretches before. Sight is attained, and in the light reality appears.
Một hình tướng sáng chói rạng ngời là Bản Ngã của tôi, linh hồn tôi. Một hình tượng tối tăm và u trầm, nhưng già nua và khôn ngoan, từng trải và buồn bã. Đây là bản ngã của tôi, phàm ngã của tôi, sắc tướng cổ xưa đã được thử luyện của tôi trên những nẻo đường trần thế. Hai cái này đứng đối diện nhau và ở giữa là vùng đất cháy.... Chúng chuyển động và dung hợp.... Con Đường đi đến chỗ kết thúc. Đạo trải dài phía trước. Thị giác đã đạt được, và trong ánh sáng thực tại xuất hiện.
What canst thou now reveal, O Server on the way?
Giờ đây ngươi có thể mặc khải điều gì, hỡi Người Phụng Sự trên đường?
Revelation comes through me, O Lord of Life. I see it not.
Sự mặc khải đến qua tôi, hỡi Chúa Tể của Sự sống. Tôi không thấy nó.
Why canst thou see it now? What hinders apprehension?
Vì sao giờ đây ngươi không thể thấy nó? Điều gì cản trở sự lĩnh hội?
Naught hinders me. I seek not sight for I have seen. My task is revelation. I seek naught for myself.
Không gì cản trở tôi. Tôi không tìm kiếm thị giác vì tôi đã thấy. Nhiệm vụ của tôi là mặc khải. Tôi không tìm gì cho chính mình.
What comes thy way for revelation? What hast thou to reveal?
Điều gì đến với ngươi để mặc khải? Ngươi phải mặc khải điều gì?
Only that which has for aeons long existed and has for aye been here. The Oneness of the Presence; the area [303] of love; the living, loving, wise, inclusive One, enfolding all and being all and leaving naught outside.
Chỉ điều đã hiện hữu từ những đại kiếp xa xưa và mãi mãi vẫn ở đây. Nhất thể của Hiện Diện; khu vực [303] của tình thương; Đấng Duy Nhất sống động, yêu thương, minh triết, bao gồm, ôm trọn tất cả và là tất cả và không để gì ở bên ngoài.
To whom must come this revelation, O Server of the world of living things?
Sự mặc khải này phải đến với ai, hỡi Người Phụng Sự của thế giới các sinh thể sống?
To all enfolded in the living, loving Presence; to those who all unknown to them maintain that Presence and for ever shall endure—as doth that Presence.
Đến với tất cả những ai được bao bọc trong Hiện Diện sống động, yêu thương; đến với những ai, dù không biết, vẫn duy trì Hiện Diện ấy và mãi mãi sẽ tồn tại—như chính Hiện Diện ấy.
And who are those who live within that Presence but know it not?
Và ai là những người sống trong Hiện Diện ấy mà không biết điều đó?
They are myself and thou, and still they are myself and still are all I meet. It is the one in every form who think mayhap that form is all; who living thus in time and space, see not the light or life within the form, who hide within, behind the veils, between the four and five (the four kingdoms in nature and the kingdom of God. A.A.B.) and see naught else. To them I must reveal the truth.
Họ là tôi và bạn, và họ vẫn là tôi và vẫn là tất cả những ai tôi gặp. Đó là cái một trong mọi hình tướng, những kẻ có thể nghĩ rằng hình tướng là tất cả; những kẻ sống như vậy trong thời gian và không gian, không thấy ánh sáng hay sự sống bên trong hình tướng, những kẻ ẩn mình bên trong, sau các bức màn, giữa bốn và năm (bốn giới trong thiên nhiên và Thiên Giới. A.A.B.) và không thấy gì khác. Với họ tôi phải mặc khải chân lý.
How will you do this hardest of all tasks, O triumphing disciple?
Ngươi sẽ làm nhiệm vụ khó nhất trong mọi nhiệm vụ này như thế nào, hỡi đệ tử chiến thắng?
By letting it be seen I am myself the truth; by living as a fragment of that Presence and seeing all its parts. And thus is revelation brought into the four and by the fifth.
Bằng cách để cho người ta thấy rằng chính tôi là chân lý; bằng cách sống như một mảnh của Hiện Diện ấy và thấy mọi phần của nó. Và như vậy sự mặc khải được mang vào trong bốn và bởi năm.
This is all that I can give you at this time upon the word and the injunction given to the initiate: Reveal. I would point that it is not his task to reveal the world of symbols. The five senses and the mind principle are adequate to bring that about. It is not his task to reveal the world of meaning. That, the disciple arrives at and interprets as he develops soul consciousness. His is the task to reveal the world of significances, the world of reality and of essential truth. Because of the success of the evolutionary process, this latter task is growing, and more and more initiated revealers will be needed during the period immediately ahead. Forget not that the invocative appeal of the mass of men, and the intelligent voicing of demand by those prepared intelligently to move forward, will inevitably [304] call forth the needed response and the needed revealers of reality.
Đó là tất cả những gì tôi có thể trao cho các bạn vào lúc này về từ và mệnh lệnh được trao cho điểm đạo đồ: Mặc khải. Tôi muốn chỉ ra rằng nhiệm vụ của y không phải là mặc khải thế giới của các biểu tượng. Năm giác quan và nguyên khí trí tuệ đủ để mang lại điều đó. Nhiệm vụ của y cũng không phải là mặc khải thế giới của ý nghĩa. Điều đó, đệ tử đạt tới và diễn giải khi y phát triển tâm thức linh hồn. Nhiệm vụ của y là mặc khải Thế giới của thâm nghĩa, thế giới của thực tại và của chân lý cốt yếu. Do sự thành công của tiến trình tiến hoá, nhiệm vụ sau này đang gia tăng, và ngày càng cần nhiều nhà mặc khải được điểm đạo hơn trong giai đoạn ngay trước mắt. Đừng quên rằng lời khẩn cầu của quần chúng nhân loại, và sự cất lên một cách thông minh nhu cầu của những ai đã sẵn sàng tiến bước một cách thông minh, tất yếu sẽ [304] gọi ra sự đáp ứng cần thiết và những nhà mặc khải thực tại cần thiết.
The next word which we are to consider is one of the most difficult for me to explain. The reason for my difficulty is that you are all imbued with the ordinary ideas anent these familiar words, and therefore it is well-nigh impossible for me to convey their significances to you from the angle of the initiate-consciousness. Identified as you are with the form aspect and with life in the three worlds, it is hard for you to comprehend the state of mind and the type of awareness which distinguishes those who are free from these all-compelling forces in the three worlds which condition human beings, thus bringing about erroneous orientation and preventing what is really meant by spiritual perception. The attitude of the average man, and even of the average disciple, is that of one who looks in from the periphery towards the centre, of one who is preoccupied with the shell of life and is not conscious of Reality as is a member of the Hierarchy.
Từ kế tiếp mà chúng ta sẽ xem xét là một trong những từ khó giải thích nhất đối với tôi. Lý do cho sự khó khăn của tôi là tất cả các bạn đều thấm nhuần những ý niệm thông thường liên quan đến những từ quen thuộc này, và vì vậy đối với tôi gần như không thể truyền đạt cho các bạn các thâm nghĩa của chúng từ góc độ của tâm thức điểm đạo đồ. Vì các bạn đồng hoá với phương diện hình tướng và với sự sống trong ba cõi giới, nên các bạn khó mà hiểu được trạng thái trí tuệ và loại nhận thức phân biệt những ai đã thoát khỏi các mãnh lực đầy tính cưỡng bách ấy trong ba cõi giới, những mãnh lực tác động lên con người, do đó gây ra sự định hướng sai lầm và ngăn cản điều thực sự được hàm ý bởi tri giác tinh thần. Thái độ của con người trung bình, và ngay cả của đệ tử trung bình, là thái độ của kẻ nhìn từ chu vi vào trung tâm, của kẻ bận tâm với cái vỏ của sự sống và không ý thức được Thực Tại như một thành viên của Thánh Đoàn.
Therefore, when I tell you that these words for initiates which constitute what I have called Rule XIV have a connotation quite different from that to which you are accustomed, I am propounding for you a most difficult problem. The true understanding is, I realise, not possible for you but much can be gained by your effort to comprehend. What you mean when you speak of the abstract mind is not exactly true to the facts; the effort to think abstractly is really an effort to think as far as possible as an initiate thinks who has transcended the concrete mind and thinks, or rather is aware, in terms of life and not of form, of being and not that which anchors being on the physical plane—or even in terms of consciousness, as you understand it. Forget not that I have elsewhere told you that consciousness (as grasped by the personality and the soul) has little relation to that form of living awareness which distinguishes the initiate who is essentially an expression of the Monad through the medium of the three aspects of the Spiritual Triad. This is peculiarly so in connection with the two [305] words Which remain for us to consider: Destroy and Resurrect.
Vì vậy, khi tôi nói với các bạn rằng những từ dành cho điểm đạo đồ cấu thành điều mà tôi gọi là Quy luật XIV có một hàm nghĩa hoàn toàn khác với điều mà các bạn quen thuộc, thì tôi đang nêu ra cho các bạn một vấn đề hết sức khó khăn. Tôi nhận ra rằng sự thấu hiểu chân thực là điều không thể đối với các bạn, nhưng nhiều điều có thể đạt được nhờ nỗ lực của các bạn để hiểu. Điều các bạn muốn nói khi nói về trí trừu tượng không hoàn toàn đúng với sự kiện; nỗ lực suy nghĩ một cách trừu tượng thực ra là nỗ lực suy nghĩ, trong mức có thể, như một điểm đạo đồ suy nghĩ, kẻ đã vượt lên trên trí cụ thể và suy nghĩ, hay đúng hơn là nhận biết, theo các thuật ngữ của sự sống chứ không phải hình tướng, của bản thể chứ không phải cái neo giữ bản thể trên cõi hồng trần—hay thậm chí theo các thuật ngữ của tâm thức như các bạn hiểu. Đừng quên rằng ở nơi khác tôi đã nói với các bạn rằng tâm thức (như được phàm ngã và linh hồn nắm bắt) ít liên hệ với hình thức nhận biết sống động phân biệt điểm đạo đồ, kẻ về bản chất là một sự biểu lộ của chân thần thông qua trung gian của ba phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần. Điều này đặc biệt đúng liên quan đến hai [305] từ còn lại để chúng ta xem xét: Hủy diệt và Phục sinh.
4. Destroy.
4. Hủy diệt.
What is this destruction which the disciple and the initiate (under instruction from this final rule) is asked to bring about? What is he required to destroy? Why is this destruction ordered?
Sự hủy diệt này là gì mà đệ tử và điểm đạo đồ (dưới sự chỉ dạy của quy luật cuối cùng này) được yêu cầu phải mang lại? Y được đòi hỏi phải hủy diệt điều gì? Vì sao sự hủy diệt này được ra lệnh?
Let me start with a basic statement: Destruction or the power and the wish to destroy which is characteristic of the undeveloped man, of the average man and of the probationary disciple is based upon the following impelling influences:
Hãy để tôi bắt đầu bằng một phát biểu căn bản: Sự hủy diệt hay quyền năng và ước muốn hủy diệt, vốn là đặc trưng của con người chưa phát triển, của con người trung bình và của đệ tử dự bị, dựa trên các ảnh hưởng thúc đẩy sau đây:
1. Lack of self-control along some line.
1. Thiếu tự chủ theo một phương diện nào đó.
2. Desire to attain one’s wishes by the removal of all obstacles.
2. Mong muốn đạt được điều mình muốn bằng cách loại bỏ mọi chướng ngại.
3. Violent emotional reaction.
3. Phản ứng cảm xúc mãnh liệt.
4. Revenge, hate, acquisitiveness and similar faults, based on lack of spiritual unfoldment.
4. Báo thù, thù hận, tính chiếm hữu và những lỗi tương tự, dựa trên sự thiếu khai mở tinh thần.
5. The effort to remove hindrances within oneself, such as those implied in the rule for probationary disciples: Kill out desire.
5. Nỗ lực loại bỏ những cản trở bên trong chính mình, như những điều được hàm ý trong quy luật dành cho các đệ tử dự bị: Hãy diệt trừ dục vọng.
6. The deliberate destruction of all that prevents contact with the soul.
6. Sự hủy diệt có chủ ý mọi điều ngăn cản tiếp xúc với linh hồn.
7. The destroying of all links which hold the spiritual man in the three worlds.
7. Sự hủy diệt mọi liên kết giữ con người tinh thần trong ba cõi giới.
These motives for destruction are all related to desire, to emotion and also to aspiration, implemented (towards the end of the cycle which leads to the treading of the Probationary Path) by the lower concrete mind. They cover a familiar case history and one which is well known to every sincere aspirant, or one which is realised for what they are at a lower level of life expression by the man who pays the penalties involved by this type of destruction. I feel no necessity to enlarge on this mode of destroying to students such as those who read this Treatise. This type of destruction is concerned mainly with form life in the three worlds, with individual aspiration and enterprise (from the lowest [306] groping physical desire up to the aspiration for conscious soul life), and with experiment and experience upon the three planes of ordinary human living.
Những động cơ hủy diệt này đều liên hệ với dục vọng, với cảm xúc và cả với khát vọng, được thực thi (về cuối chu kỳ dẫn đến việc bước lên Con Đường Dự Bị) bởi hạ trí cụ thể. Chúng bao quát một trường hợp lịch sử quen thuộc và là điều mà mọi người chí nguyện chân thành đều biết rõ, hoặc được nhận ra đúng như chúng là ở một cấp độ thấp hơn của sự biểu lộ sự sống bởi con người phải trả giá cho loại hủy diệt này. Tôi không thấy cần phải nói rộng thêm về kiểu hủy diệt này cho những đạo sinh như những người đọc bộ Luận này. Loại hủy diệt này chủ yếu liên quan đến đời sống hình tướng trong ba cõi giới, đến khát vọng và nỗ lực cá nhân (từ [306] dục vọng hồng trần mù mờ thấp nhất cho đến khát vọng về đời sống linh hồn có ý thức), và đến thử nghiệm cùng kinh nghiệm trên ba cõi của đời sống nhân loại thông thường.
But in this word “destroy” given (as an expressed command) for those who are members of the Hierarchy or who have moved or are moving from an affiliated relationship on the periphery of that Hierarchy toward the centre of activity and into close contact with some Ashram, the significance is very different.
Nhưng trong từ “hủy diệt” này được trao (như một mệnh lệnh được phát biểu) cho những ai là thành viên của Thánh Đoàn hoặc đã chuyển hay đang chuyển từ một mối liên hệ liên kết ở chu vi của Thánh Đoàn ấy vào trung tâm hoạt động và vào tiếp xúc gần gũi với một ashram nào đó, thì ý nghĩa lại rất khác.
The type of destruction here dealt with is never the result of desire; it is an effort of the spiritual will and is essentially an activity of the Spiritual Triad; it involves the carrying out of those measures which will hinder obstruction to God’s will; it is the furthering of those conditions which will destroy those who are attempting to prevent divine purpose from materialising as the Plan—for which the Hierarchy is responsible. Therefore, it is connected primarily with the relation of Shamballa to the Hierarchy, and not with the relation of the Hierarchy to Humanity. This is a formidable esoteric statement and its implications must be considered most carefully. This type of destruction has only a secondary relation to the destruction of form life as you know it. When steps are taken to implement divine purpose, the resultant effect may be the destroying of forms in the three worlds, but that is an effect and only a secondary destruction; something else has been destroyed on a higher level and outside the three worlds. This, in due time, may produce a form-reaction to which we may give the name of death. But the death of that form was not a primary objective and was not even considered, because it was not within the range of awareness of the destroyer.
Loại hủy diệt được bàn đến ở đây không bao giờ là kết quả của dục vọng; nó là một nỗ lực của ý chí tinh thần và về bản chất là một hoạt động của Tam Nguyên Tinh Thần; nó bao hàm việc thực hiện những biện pháp sẽ ngăn cản sự cản trở đối với Ý Chí của Thượng Đế; nó là sự thúc đẩy những điều kiện sẽ hủy diệt những kẻ đang cố ngăn cản mục đích thiêng liêng hiện hình thành Thiên Cơ—mà Thánh Đoàn chịu trách nhiệm. Vì vậy, nó chủ yếu liên hệ với mối quan hệ của Shamballa với Thánh Đoàn, chứ không phải với mối quan hệ của Thánh Đoàn với Nhân loại. Đây là một phát biểu huyền bí học đáng sợ và các hàm ý của nó phải được xem xét hết sức cẩn thận. Loại hủy diệt này chỉ có liên hệ thứ yếu với sự hủy diệt đời sống hình tướng như các bạn biết. Khi các bước được thực hiện để thi hành mục đích thiêng liêng, hiệu quả kết quả có thể là sự hủy diệt các hình tướng trong ba cõi giới, nhưng đó là một hiệu quả và chỉ là một sự hủy diệt thứ yếu; một điều gì khác đã bị hủy diệt ở một cấp độ cao hơn và bên ngoài ba cõi giới. Điều này, đến lúc thích hợp, có thể tạo ra một phản ứng hình tướng mà chúng ta có thể gọi là cái chết. Nhưng cái chết của hình tướng ấy không phải là mục tiêu chính yếu và thậm chí cũng không được xét đến, vì nó không nằm trong phạm vi nhận biết của kẻ hủy diệt.
The higher destruction which we are considering is related to the destruction of certain forms of consciousness which express themselves in great areas or extensive thoughtforms; these may have, in turn, conditioned human thinking. Perhaps the simplest illustration I can give you of this type of destruction would be concerned with the major ideologies which down the ages have conditioned or may [307] condition humanity. These ideologies produce potent effects in the three worlds. This type of destruction affects those civilisations which condition the human family for long periods of time, which concern climatic conditions that predispose the forms in the four kingdoms to certain characteristics in time and space, which produce effects in the great world religions, in world politics and all other “conditioning forms of thinking.” Does this convey much or little in connection with the concepts which I am attempting to make clear?
Sự hủy diệt cao hơn mà chúng ta đang xem xét liên hệ với sự hủy diệt một số hình tướng của tâm thức biểu lộ trong những lĩnh vực rộng lớn hay những hình tư tưởng bao quát; đến lượt chúng, chúng có thể đã tác động lên tư tưởng nhân loại. Có lẽ minh họa đơn giản nhất mà tôi có thể đưa ra cho các bạn về loại hủy diệt này sẽ liên quan đến những hệ tư tưởng lớn mà qua các thời đại đã tác động hoặc có thể [307] tác động lên nhân loại. Những hệ tư tưởng này tạo ra những hiệu quả mạnh mẽ trong ba cõi giới. Loại hủy diệt này ảnh hưởng đến những nền văn minh tác động lên gia đình nhân loại trong những thời kỳ dài, liên quan đến những điều kiện khí hậu khiến các hình tướng trong bốn giới có khuynh hướng mang những đặc tính nhất định trong thời gian và không gian, tạo ra những hiệu quả trong các tôn giáo lớn của thế giới, trong chính trị thế giới và trong mọi “hình tướng tư tưởng tác động” khác. Điều này có truyền đạt được nhiều hay ít liên quan đến các khái niệm mà tôi đang cố làm sáng tỏ?
That which is destroyed, therefore, are certain group forms and these upon a large scale; this requires an exercise of the spiritual will to bring about, and does not require simply the withdrawing of the attention of the soul, the decision to vacate the form and the failure of the basic desire to perpetuate, which is what we imply when we speak of death in the three worlds. The lack of the will-to-live of which we so glibly speak has little relation, in reality, to the will itself; it refers only to its faint or distorted reflection in the three worlds; this is much more closely related to desire and aspiration than to pure will, as spiritually comprehended.
Vì vậy, điều bị hủy diệt là một số hình tướng nhóm và điều này trên quy mô lớn; để mang lại điều đó cần có sự vận dụng ý chí tinh thần, chứ không chỉ đơn giản là rút sự chú ý của linh hồn, quyết định rời bỏ hình tướng và sự thất bại của dục vọng căn bản muốn duy trì, vốn là điều chúng ta hàm ý khi nói về cái chết trong ba cõi giới. Sự thiếu ý chí muốn sống mà chúng ta nói đến một cách quá dễ dãi thực ra ít liên hệ với chính ý chí; nó chỉ quy chiếu đến sự phản chiếu mờ nhạt hay méo mó của nó trong ba cõi giới; điều này liên hệ gần gũi với dục vọng và khát vọng hơn là với ý chí thuần túy, như được thấu hiểu về mặt tinh thần.
The Purpose of God (to use a familiar phrase) is that which implements the Plan. This purpose is the motivating life behind all that emanates from Shamballa and it is that which impulses all the activities of the Hierarchy; the task of the Hierarchy is to formulate the Plan for all forms of life in the three worlds and the four kingdoms in nature. This Plan, in time and space, is not in any way concerned with individual man or with the life of any microcosmic entity in any of the kingdoms of nature, but with the wholes, the cycles of time, with those vast plans of livingness which man calls history, with nations and races, with world religions and great political ideologies and with social organisations which produce permanent changes in types, constitutions, planetary areas and cyclic manifestations. It will therefore be obvious to you that from the standpoint of man’s little mind, these plans are well-nigh impossible to [308] grasp. From the standpoint of the vision of the initiate who has developed or is developing the wider grasp and who can see and think and vision (I care not what word you choose) in terms of the Eternal Now, the significance is clear; at times, the initiate creates and then anchors a germ of livingness; at times he builds that which can house his living idea with its conditioning qualities; at times, when these have served their purpose, he definitely and deliberately destroys. The reference is necessarily ever to form; with the initiate it is, however, to the “formless form” which is always the subjective aspect of the tangible world. It must be remembered that from the point of view of esotericism, all forms in the three worlds are tangible, in contradistinction to forms in the two higher worlds of the Spiritual Triad.
Mục Đích của Thượng đế (dùng một cụm từ quen thuộc) là điều thực thi Thiên Cơ. Mục đích này là sự sống thúc đẩy đằng sau mọi điều xuất lộ từ Shamballa và chính nó thúc đẩy mọi hoạt động của Thánh Đoàn; nhiệm vụ của Thánh Đoàn là công thức hóa Thiên Cơ cho mọi hình tướng sự sống trong ba cõi giới và bốn giới trong thiên nhiên. Thiên Cơ này, trong thời gian và không gian, hoàn toàn không liên quan đến con người cá nhân hay đời sống của bất kỳ thực thể tiểu thiên địa nào trong bất kỳ giới nào của thiên nhiên, mà liên quan đến các toàn thể, các chu kỳ thời gian, với những kế hoạch sống động bao la mà con người gọi là lịch sử, với các quốc gia và các nhân loại, với các tôn giáo thế giới và các hệ tư tưởng chính trị lớn, và với các tổ chức xã hội tạo ra những thay đổi lâu dài trong các loại hình, các cấu tạo, các khu vực hành tinh và các biểu hiện theo chu kỳ. Vì vậy, đối với các bạn, sẽ hiển nhiên rằng từ quan điểm của trí tuệ nhỏ bé của con người, những kế hoạch này gần như không thể [308] nắm bắt. Từ quan điểm của linh thị của điểm đạo đồ, kẻ đã phát triển hoặc đang phát triển sự nắm bắt rộng lớn hơn và có thể thấy, suy nghĩ và hình dung (tôi không quan tâm các bạn chọn từ nào) theo các thuật ngữ của Hiện Tại Vĩnh Cửu, thì ý nghĩa lại rõ ràng; đôi khi điểm đạo đồ sáng tạo rồi neo giữ một mầm sống động; đôi khi y xây dựng điều có thể chứa đựng ý tưởng sống động của y cùng các phẩm tính tác động của nó; đôi khi, khi những điều này đã phục vụ mục đích của chúng, y dứt khoát và có chủ ý hủy diệt. Sự quy chiếu tất yếu luôn luôn là đến hình tướng; tuy nhiên với điểm đạo đồ, đó là đến “hình tướng vô tướng” vốn luôn là phương diện chủ quan của thế giới hữu hình. Cần nhớ rằng từ quan điểm của huyền bí học, mọi hình tướng trong ba cõi giới đều là hữu hình, trái ngược với các hình tướng trong hai thế giới cao hơn của Tam Nguyên Tinh Thần.
The destruction considered is that of the formless structure on which the grosser structure is built. Some understanding of this will come if you consider the relation of the four subplanes of the physical plane, the four etheric levels, and the three subplanes which we call the dense physical planes. These constitute our physical plane in its two aspects. This is only a reflection of the three planes of the three worlds and the four planes from the buddhic plane up to the logoic, which constitute the cosmic physical plane. The destruction considered by the initiate is connected with the subjective worlds of the four higher planes and the three worlds of human living, and of other forms of life such as the three subhuman kingdoms.
Sự hủy diệt được xem xét là sự hủy diệt cấu trúc vô tướng mà trên đó cấu trúc thô nặng hơn được xây dựng. Một phần nào đó của điều này sẽ đến nếu các bạn xem xét mối quan hệ của bốn cõi phụ của cõi hồng trần, bốn cấp độ dĩ thái, và ba cõi phụ mà chúng ta gọi là các cõi hồng trần đậm đặc. Chúng cấu thành cõi hồng trần của chúng ta trong hai phương diện của nó. Đây chỉ là một phản chiếu của ba cõi của ba cõi giới và bốn cõi từ cõi Bồ đề lên đến cõi logoic, vốn cấu thành cõi hồng trần vũ trụ. Sự hủy diệt được điểm đạo đồ xem xét liên hệ với các thế giới chủ quan của bốn cõi cao hơn và ba cõi của đời sống nhân loại, cùng các hình tướng sự sống khác như ba giới dưới nhân loại.
In the human family, death supervenes when the soul withdraws its consciousness thread and its life thread; this process of death is contained, however, entirely within the three worlds. The soul has its station on the higher levels of the mental plane, as well you know. In connection with the forms of expression to which I have referred above—cycles, civilisations, cultures, races, kingdoms in nature and so forth—their destruction is brought about from still higher sources than the three worlds in which they manifest. This destruction takes place under the direction of Shamballa as it evokes the will of the Hierarchy or some particular [309] Ashram or some member of the Hierarchy in order to produce a predetermined result in the three worlds in line with the purpose of God. It might be said (accurately to a certain esoteric extent) that the destruction brought about in obedience to this fourth word in Rule XIV is the destruction of some aspect of the plan as it has been functioning in the three worlds, and this under divine purpose and intent.
Trong gia đình nhân loại, cái chết xảy đến khi linh hồn rút sợi dây tâm thức và sợi dây sự sống của nó; tuy nhiên tiến trình chết này hoàn toàn nằm trong ba cõi giới. Như các bạn đều biết rõ, linh hồn có vị trí của nó trên các cấp độ cao hơn của cõi trí. Liên quan đến các hình tướng biểu lộ mà tôi đã nói đến ở trên—các chu kỳ, các nền văn minh, các nền văn hóa, các nhân loại, các giới trong thiên nhiên, v.v.—sự hủy diệt của chúng được mang lại từ những nguồn còn cao hơn ba cõi giới nơi chúng biểu hiện. Sự hủy diệt này diễn ra dưới sự chỉ đạo của Shamballa khi nó gợi lên ý chí của Thánh Đoàn hay của một [309] ashram đặc biệt nào đó hay của một thành viên nào đó của Thánh Đoàn để tạo ra một kết quả đã được định trước trong ba cõi giới phù hợp với mục đích của Thượng đế. Có thể nói (một cách chính xác đến một mức độ huyền bí nào đó) rằng sự hủy diệt được mang lại trong sự tuân phục từ thứ tư này trong Quy luật XIV là sự hủy diệt một phương diện nào đó của Thiên Cơ như nó đã hoạt động trong ba cõi giới, và điều này dưới mục đích và ý định thiêng liêng.
This destruction is not outwardly so conclusive as is death—on the physical plane—of a man, though that is not essentially the rapidly consummated process as is usually surmised. The physical form may die and disappear, but an inner process of dying of the subtler bodies supervenes and the death process is not complete until the astral and mental bodies have disintegrated and the man stands free in his causal or soul body. So it is, on a much larger scale, with the death or destruction of phases of the divine Plan, engineered by the Hierarchy in conformity with the divine Purpose. There is an overlapping between the building process and the destroying process. Dying civilisations are present in their final forms whilst new civilisations are emerging; cycles come and go and in the going overlap; the same is also found to be true in the emerging and disappearing of rays and races. Death, in the last analysis and from the standpoint of the average human being, is simply disappearance from the physical plane—the plane of appearances.
Sự hủy diệt này bề ngoài không dứt khoát như cái chết—trên cõi hồng trần—của một con người, dù về bản chất đó cũng không phải là một tiến trình hoàn tất nhanh chóng như thường được phỏng đoán. Hình tướng vật lý có thể chết và biến mất, nhưng một tiến trình chết nội tại của các thể vi tế hơn xảy ra tiếp theo và tiến trình chết chưa hoàn tất cho đến khi thể cảm dục và thể trí đã tan rã và con người đứng tự do trong thể nguyên nhân hay thể linh hồn của mình. Trên một quy mô lớn hơn nhiều, cũng như vậy với cái chết hay sự hủy diệt các giai đoạn của Thiên Cơ thiêng liêng, do Thánh Đoàn điều hành phù hợp với Mục Đích thiêng liêng. Có một sự chồng lấn giữa tiến trình xây dựng và tiến trình hủy diệt. Những nền văn minh đang chết hiện diện trong các hình tướng cuối cùng của chúng trong khi những nền văn minh mới đang xuất hiện; các chu kỳ đến rồi đi và trong sự ra đi có sự chồng lấn; điều tương tự cũng đúng trong sự xuất hiện và biến mất của các cung và các nhân loại. Xét cho cùng, và từ quan điểm của con người trung bình, cái chết chỉ đơn giản là sự biến mất khỏi cõi hồng trần—cõi của các sắc tướng.
The form of destruction we are considering however, is more concerned with the destruction of quality than with forms, though the disappearance of these qualities produces the death of the outer form. The withdrawing life of a great expression of the hierarchical plan absorbs the qualities and returns with them, as endowments, later in time and space and manifests anew through the medium of more adequate forms of expression. The soul, however, kills the forms in the three worlds; it is the life aspect (in this higher and more extensive type of destruction) which destroys the innate quality and consequently the form of a civilisation, the type of an ideology and the character of a race or nation, [310] preserving only the essentials but discarding the distortions.
Hình thức hủy diệt mà chúng ta đang xét đến, tuy nhiên, liên quan đến sự hủy diệt phẩm tính hơn là các hình tướng, dù sự biến mất của các phẩm tính này tạo ra cái chết của hình tướng bên ngoài. Sự sống rút lui của một biểu hiện lớn của kế hoạch phân cấp hấp thu các phẩm tính ấy và mang chúng trở lại, như những thiên phú, về sau trong thời gian và không gian, rồi lại biểu hiện qua trung gian của những hình thức biểu đạt thích đáng hơn. Tuy nhiên, linh hồn giết chết các hình tướng trong ba cõi; chính phương diện sự sống (trong loại hủy diệt cao hơn và bao quát hơn này) hủy diệt phẩm tính cố hữu và do đó hủy diệt hình tướng của một nền văn minh, loại hình của một hệ tư tưởng và tính cách của một nhân loại hay quốc gia, [310] chỉ bảo tồn những điều cốt yếu nhưng loại bỏ các sự bóp méo.
This fourth word is closely related to the fourth initiation in which the causal body or soul vehicle on its own plane is destroyed—that beautiful, intangible, qualitative Identity which has motivated and implemented the man in the three worlds. Does this instance somewhat clarify the difficulty of this subject with which we are concerned? Ponder on this as an illustration of this form of destruction, and seek better understanding.
Linh từ thứ tư này liên hệ mật thiết với lần điểm đạo thứ tư, trong đó thể nguyên nhân hay vận cụ của linh hồn trên cõi riêng của nó bị hủy diệt—Bản Sắc phẩm tính đẹp đẽ, vô hình ấy, vốn đã thúc đẩy và thực hiện con người trong ba cõi. Trường hợp này có phần nào làm sáng tỏ khó khăn của chủ đề mà chúng ta đang bàn đến chăng? Hãy suy ngẫm về điều này như một minh họa cho hình thức hủy diệt này, và tìm cách thấu hiểu tốt hơn.
This higher form of destruction does not manifest under the activity or the non-activity of the Law of Attraction, as does the death which the soul brings about. It is definitely under the Law of Synthesis, a law of the monadic sphere of life, and one therefore most difficult for you to comprehend; it emanates from a point outside the five worlds of human and superhuman evolution, just as the destruction of form in the three worlds emanates from the soul functioning outside the three worlds of the lower, concrete mind, the astral world and the physical plane. This statement again may aid you in understanding.
Hình thức hủy diệt cao hơn này không biểu hiện dưới hoạt động hay sự không hoạt động của Định luật Hấp Dẫn, như cái chết do linh hồn tạo ra. Nó dứt khoát nằm dưới Định luật Tổng Hợp, một định luật của phạm vi sự sống chân thần, và vì thế là điều rất khó để các bạn lĩnh hội; nó phát xuất từ một điểm ở bên ngoài năm cõi giới của tiến hoá nhân loại và siêu nhân loại, cũng như sự hủy diệt hình tướng trong ba cõi phát xuất từ linh hồn đang hoạt động bên ngoài ba cõi của hạ trí cụ thể, thế giới cảm dục và cõi hồng trần. Phát biểu này một lần nữa có thể giúp các bạn hiểu được.
If this is so, it will be apparent to you that only initiates who have taken the fifth initiation and higher initiations can wield effectively this particular form of death—for monadic potency only becomes available after the third initiation, and its first successful use is the destruction of the causal body of the initiate. It is the reward of Transfiguration.
Nếu đúng như vậy, thì các bạn sẽ thấy rõ rằng chỉ những điểm đạo đồ đã trải qua lần điểm đạo thứ năm và các lần điểm đạo cao hơn mới có thể vận dụng hữu hiệu hình thức chết đặc biệt này—vì năng lực chân thần chỉ trở nên khả dụng sau lần điểm đạo thứ ba, và việc sử dụng thành công đầu tiên của nó là sự hủy diệt thể nguyên nhân của điểm đạo đồ. Đó là phần thưởng của Biến hình.
In connection with the use by the initiate of what we might call pure will, it should be remembered that this pure will works into manifestation through one or other of the three aspects of the Spiritual Triad. This activity is determined by the major ray upon which the initiate finds himself, from the angle of his monadic ray. Every spiritual man is upon one or another of the three major rays, for the minor four rays of attribute are all eventually absorbed into the third Ray of Active Intelligence.
Liên quan đến việc điểm đạo đồ sử dụng điều mà chúng ta có thể gọi là ý chí thuần túy, cần nhớ rằng ý chí thuần túy này đi vào biểu hiện qua một trong ba phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần. Hoạt động này được quyết định bởi cung chính mà điểm đạo đồ thuộc về, xét từ góc độ cung chân thần của y. Mọi người tinh thần đều ở trên một trong ba cung chính, vì bốn cung phụ thuộc tính rốt cuộc đều được hấp thu vào cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động.
If the initiate is upon the first ray, and therefore working in the Department of the Manu, he will use and express [311] the innate will aspect through the atmic nature or through the highest aspect of the Spiritual Triad, to which we give the inadequate name of “divine Will.” Students are apt to forget that the Spiritual Triad, related as it is to the Monad in much the same way as the threefold personality is related to the soul, expresses the three major aspects of Shamballic energy, which three are all of them expressions of the will of the planetary Logos and His essential Purpose. If the initiate is on the second ray, and therefore is working in the Department of the Christ, he will use the will through the medium of buddhi, the second aspect of the Spiritual Triad. If he is on the third ray and in the Department of the Mahachohan, the Lord of Civilisation, he will work through the higher mind, the lowest aspect of the Spiritual Triad. Forget not, however, that none of these aspects can be regarded as higher or lower, for all are equally divine. Understanding of these ideas may come if, for instance, you realise that the expression of buddhi, or of the intuition, in the consciousness of the spiritual man will lead to the use of the will in working out the purposes of Shamballa in the field of religions, of education, and of salvaging or saving the life aspect in all forms in the three worlds, but it will have no relation to the individual and personal problems of the man himself. If the expression is that of the higher mind, the use of the will will be in connection with civilisations and cultures for which the third department is responsible, and there will be the carrying out of the will of God in the large and general plans. If it is the will as it expresses itself through the atmic aspect of the Triad, it will function in relation to races, nations, and the kingdoms in nature, and to great planetary arrangements at present unknown to man. The synthesis of this picture will be apparent if carefully studied.
Nếu điểm đạo đồ ở trên cung một, và do đó hoạt động trong Ban của Đức Manu, y sẽ sử dụng và biểu lộ [311] phương diện ý chí cố hữu qua bản chất atma hay qua phương diện cao nhất của Tam Nguyên Tinh Thần, mà chúng ta đặt cho cái tên không đầy đủ là “Ý Chí thiêng liêng.” Các đạo sinh thường quên rằng Tam Nguyên Tinh Thần, liên hệ với chân thần gần như cùng một cách mà phàm ngã tam phân liên hệ với linh hồn, biểu lộ ba phương diện chính của năng lượng Shamballa, mà cả ba đều là những biểu hiện của ý chí của Hành Tinh Thượng đế và Thiên Ý cốt yếu của Ngài. Nếu điểm đạo đồ ở trên cung hai, và do đó đang hoạt động trong Ban của Đức Christ, y sẽ sử dụng ý chí qua trung gian của Bồ đề, phương diện thứ hai của Tam Nguyên Tinh Thần. Nếu y ở trên cung ba và trong Ban của Đức Mahachohan, Chúa Tể của Văn Minh, y sẽ hoạt động qua thượng trí, phương diện thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần. Tuy nhiên, đừng quên rằng không phương diện nào trong số này có thể được xem là cao hơn hay thấp hơn, vì tất cả đều thiêng liêng như nhau. Sự hiểu biết về các ý tưởng này có thể đến nếu, chẳng hạn, các bạn nhận ra rằng sự biểu lộ của Bồ đề, hay của trực giác, trong tâm thức của con người tinh thần sẽ dẫn đến việc sử dụng ý chí để thực hiện các mục đích của Shamballa trong lĩnh vực tôn giáo, giáo dục, và cứu vớt hay cứu độ phương diện sự sống trong mọi hình tướng ở ba cõi, nhưng nó sẽ không liên hệ gì đến các vấn đề cá nhân và riêng tư của chính con người ấy. Nếu sự biểu lộ là của thượng trí, thì việc sử dụng ý chí sẽ liên quan đến các nền văn minh và văn hóa mà ban thứ ba chịu trách nhiệm, và sẽ có sự thực hiện Ý Chí của Thượng Đế trong các kế hoạch lớn lao và tổng quát. Nếu đó là ý chí khi nó biểu lộ qua phương diện atma của Tam nguyên tinh thần, thì nó sẽ hoạt động liên hệ đến các nhân loại, các quốc gia, và các giới trong thiên nhiên, cùng những sắp xếp hành tinh vĩ đại mà hiện nay con người chưa biết đến. Sự tổng hợp của bức tranh này sẽ trở nên rõ ràng nếu được nghiên cứu cẩn thận.
At the same time it must be borne in mind that the destroying aspect of this pure will, expressing through the Monad, implements the purpose of Shamballa and is one of the major manifestations of the Love nature of the One in Whom we live and move and have our being; it is also [312] the guarantee of our ultimate and inevitable attainment, perfection, illumination and divine consummation.
Đồng thời, phải ghi nhớ rằng phương diện hủy diệt của ý chí thuần túy này, biểu lộ qua chân thần, thực hiện mục đích của Shamballa và là một trong những biểu hiện chính của bản chất Bác ái của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu; nó cũng là [312] sự bảo đảm cho thành tựu tối hậu và tất yếu của chúng ta, sự toàn thiện, soi sáng và viên mãn thiêng liêng.
This destruction wrought by the initiate is preparatory to his responsiveness to the fifth word which he receives at the fifth initiation and to which we give the inadequate name: Resurrect.
Sự hủy diệt do điểm đạo đồ thực hiện này là bước chuẩn bị cho sự đáp ứng của y đối với linh từ thứ năm mà y nhận được ở lần điểm đạo thứ năm và mà chúng ta đặt cho cái tên không đầy đủ là: Phục Sinh.
Prior to considering that word, I would like to point out that these five words have a clear reference to each of the five initiations; they give the initiate the keynote to the work which he must carry forward between the various initiatory processes. The work indicated has nothing whatever to do with the training and the discipline to which he will (needless to say) subject his personality; they are related instead to the work which he has to render. This work concerns what I might call certain essential realities connected with the purpose of Shamballa and with his ability to react or respond to the will of the Monad. As you know, this ability does not become an established fact and functioning realisation until after the third initiation; nevertheless, the preparatory sensitivity (if I may use this word is this connection) is slowly developing and paralleling the two other activities—Destroy and Resurrect—to which he is pledged:
Trước khi xét đến linh từ đó, tôi muốn chỉ ra rằng năm linh từ này có liên hệ rõ ràng đến từng một trong năm lần điểm đạo; chúng trao cho điểm đạo đồ chủ âm cho công việc mà y phải tiếp tục giữa các tiến trình điểm đạo khác nhau. Công việc được chỉ ra hoàn toàn không liên quan gì đến sự huấn luyện và kỷ luật mà y sẽ (khỏi cần nói) áp đặt lên phàm ngã của mình; trái lại, chúng liên hệ đến công việc mà y phải phụng sự. Công việc này liên quan đến điều mà tôi có thể gọi là một số thực tại cốt yếu gắn với mục đích của Shamballa và với khả năng phản ứng hay đáp ứng của y đối với ý chí của chân thần. Như các bạn biết, khả năng này không trở thành một sự kiện được xác lập và một chứng nghiệm đang hoạt động cho đến sau lần điểm đạo thứ ba; tuy nhiên, sự nhạy bén chuẩn bị ấy (nếu tôi có thể dùng từ này trong mối liên hệ này) đang chậm rãi phát triển và song hành với hai hoạt động khác—Hủy Diệt và Phục Sinh—mà y đã cam kết:
1. The disciplining of his lower nature so that the unfolding initiate-consciousness may find no hindrances and obstacles.
1. Kỷ luật bản chất thấp của mình để tâm thức điểm đạo đang khai mở không gặp trở ngại và chướng ngại nào.
2. Service to the Plan, under hierarchical impression.
2. Phụng sự Thiên Cơ, dưới sự cảm ứng của Thánh đoàn.
3. The development of monadic sensitivity.
3. Phát triển sự nhạy bén chân thần.
It might be of interest at this point if, in view of this third development—responsiveness to pure will—we considered these five words in relation to the five initiations with which you are all so theoretically familiar.
Đến đây, có lẽ sẽ là điều đáng quan tâm nếu, xét theo sự phát triển thứ ba này—sự đáp ứng với ý chí thuần túy—chúng ta xem xét năm linh từ này trong liên hệ với năm lần điểm đạo mà tất cả các bạn đều quen thuộc một cách lý thuyết.
The word Know, in relation to the initiate-consciousness, concerns the certainty of the initiate, and his profound conviction of the fact of the Christ in the hearts it is at the same time coupled with a reaction which emanates from the sacrifice petals in the egoic lotus—those petals which are composed of the will quality of the Monad and relate the soul to the emanating Monad. The first faint tremor of the [313] impact of monadic “destiny” (I know not how else to express this concept) makes itself felt, but is registered only by the soul of the initiate and on the level of soul consciousness; it is never registered by the man on the physical plane who is taking the first initiation; his brain cannot respond to this high vibration. Theoretically, and as a result of the teaching of the Ageless Wisdom, the spiritual man (in incarnation) has known that he is essentially the indwelling Christ, and the attainment of the Christ consciousness has been and will be his goal; the knowledge here referred to concerns something higher still—the Self-identification of the soul on its own plane and the Self-recognition which relates that Self to the enveloping whole, the Monad. If I might word it symbolically, I would say that the soul, the Christ (after the first initiation), knows that the inevitable processes of Christ-expression on Earth have been started and that the attainment of “the full-grown man in Christ” cannot be arrested. The centre of interest which has hitherto been directed to bringing this about now shifts and the soul on its own plane (not in the reflection of its consciousness on Earth) becomes determined to “go to the Father” or to demonstrate the highest aspect of divinity, the will aspect.
Linh từ Biết, trong liên hệ với tâm thức điểm đạo, liên quan đến sự xác tín của điểm đạo đồ, và niềm xác quyết sâu xa của y về sự kiện của Đức Christ trong tâm hồn, đồng thời nó gắn liền với một phản ứng phát xuất từ các cánh hoa hi sinh trong Hoa Sen Chân Ngã—những cánh hoa được cấu thành từ phẩm tính ý chí của chân thần và liên kết linh hồn với chân thần phát xuất. Sự rung động mờ nhạt đầu tiên của [313] tác động của “định mệnh” chân thần (tôi không biết diễn đạt khái niệm này cách nào khác) bắt đầu được cảm nhận, nhưng chỉ được ghi nhận bởi linh hồn của điểm đạo đồ và trên cấp độ tâm thức linh hồn; nó không bao giờ được ghi nhận bởi con người trên cõi hồng trần đang trải qua lần điểm đạo thứ nhất; bộ não của y không thể đáp ứng với rung động cao này. Về mặt lý thuyết, và như kết quả của giáo huấn của Minh Triết Ngàn Đời, con người tinh thần (đang lâm phàm) đã biết rằng về bản chất y là Đức Christ nội tại, và việc đạt được tâm thức Christ đã và sẽ là mục tiêu của y; tri thức được nói đến ở đây liên quan đến một điều còn cao hơn nữa—sự tự đồng nhất của linh hồn trên cõi riêng của nó và sự tự nhận biết liên kết Bản Ngã ấy với toàn thể bao bọc, tức chân thần. Nếu tôi có thể diễn đạt một cách biểu tượng, tôi sẽ nói rằng linh hồn, Đức Christ (sau lần điểm đạo thứ nhất), biết rằng các tiến trình tất yếu của sự biểu lộ Christ trên Trái Đất đã được khởi động và rằng việc đạt đến “con người trưởng thành trọn vẹn trong Đức Christ” không thể bị ngăn chặn. Trung tâm quan tâm vốn từ trước đến nay hướng vào việc làm cho điều này xảy ra nay chuyển dịch, và linh hồn trên cõi riêng của nó (không phải trong sự phản chiếu tâm thức của nó trên Trái Đất) trở nên quyết tâm “đi đến với Cha” hay biểu lộ phương diện cao nhất của thiên tính, tức phương diện ý chí.
There are in the Gospel story four recorded moments in the life of the Christ wherein this process of development within His consciousness, this monadic centralisation (I know not what other word to use, for we have not yet developed the terminology of the monad, the will aspect) begins to demonstrate and can be traced in a definitely unfolding process. In the past I have incidentally referred to these points, but I would like to gather all four of them together here for your illumination.
Trong câu chuyện Phúc Âm có bốn thời điểm được ghi lại trong cuộc đời của Đức Christ, trong đó tiến trình phát triển này bên trong tâm thức của Ngài, sự tập trung chân thần này (tôi không biết dùng từ nào khác, vì chúng ta chưa phát triển được thuật ngữ của chân thần, của phương diện ý chí) bắt đầu biểu lộ và có thể được truy dấu trong một tiến trình khai mở rõ rệt. Trước đây tôi đã tình cờ đề cập đến các điểm này, nhưng ở đây tôi muốn gom cả bốn lại với nhau để soi sáng cho các bạn.
1. His statement to His parents in the Temple, “Wist ye not that I must be about My Father’s business?” I would have you note that:
1. Lời Ngài nói với song thân trong Đền Thờ: “Cha mẹ há chẳng biết rằng con phải lo việc của Cha con sao?” Tôi muốn các bạn lưu ý rằng:
a. He was twelve years old at the time, and therefore the work upon which He had been occupied as a soul was finished, for twelve is the number of completed [314] labour. The symbolism of His twelve years is now replaced by that of the twelve Apostles.
a. Lúc ấy Ngài mười hai tuổi, và do đó công việc mà Ngài đã bận tâm với tư cách một linh hồn đã hoàn tất, vì mười hai là con số của lao động [314] hoàn mãn. Biểu tượng của mười hai năm của Ngài nay được thay bằng biểu tượng của mười hai Tông đồ.
b. He was in the Temple of Solomon, ever a symbol of the causal body of the soul, and He was therefore speaking on soul levels and not as the spiritual man on Earth.
b. Ngài ở trong Đền Thờ Solomon, vốn luôn là biểu tượng của thể nguyên nhân của linh hồn, và do đó Ngài đang nói trên các cấp độ linh hồn chứ không phải như con người tinh thần trên Trái Đất.
c. He was serving as a member of the Hierarchy, for He was found by His parents teaching the priests, the Pharisees and the Sadducees.
c. Ngài đang phụng sự như một thành viên của Thánh đoàn, vì song thân Ngài thấy Ngài đang giảng dạy cho các tư tế, người Pharisee và người Sadducee.
d. He spoke as an expression of the substance aspect (He spoke to His mother) and also as a soul (He spoke to His father), but He was controlled by neither; He now functioned as the monad, above and beyond yet inclusive of both.
d. Ngài nói như một biểu hiện của phương diện chất liệu (Ngài nói với mẹ Ngài) và cũng như một linh hồn (Ngài nói với cha Ngài), nhưng Ngài không bị điều khiển bởi bên nào; giờ đây Ngài hoạt động như chân thần, ở trên và vượt ngoài nhưng vẫn bao gồm cả hai.
2. His statement to His disciples, “I must go up to Jerusalem,” after which we read that He steadfastly set His face to go there. This was an intimation that He had now a new objective. The only place of complete “peace” (the meaning of the word Jerusalem) is Shamballa; the Hierarchy is not a centre of peace in the true meaning of the term, which has no relation to emotion but to the cessation of the type of activity with which we are familiar in the world of manifestation; the Hierarchy is a very vortex of activity and of energies coming from Shamballa and from Humanity. From the standpoint of true esotericism, Shamballa is a place of “serene determination and of poised, quiescent will” as the Old Commentary expresses it.
2. Lời Ngài nói với các đệ tử: “Ta phải lên Jerusalem,” sau đó chúng ta đọc thấy rằng Ngài kiên quyết hướng mặt mình để đi đến đó. Đây là một dấu hiệu cho thấy giờ đây Ngài có một mục tiêu mới. Nơi duy nhất của “bình an” trọn vẹn (ý nghĩa của từ Jerusalem) là Shamballa; Thánh đoàn không phải là một trung tâm bình an theo ý nghĩa chân thực của từ này, vốn không liên hệ gì đến cảm xúc mà liên hệ đến sự chấm dứt loại hoạt động mà chúng ta quen thuộc trong thế giới biểu hiện; Thánh đoàn là một xoáy lực hoạt động và năng lượng phát ra từ Shamballa và từ Nhân loại. Theo quan điểm huyền bí học chân chính, Shamballa là nơi của “sự quyết tâm tĩnh lặng và ý chí an định, yên nghỉ” như Cổ Luận diễn tả.
3. The exclamation of the Christ, “Father, not my will, but Thine be done,” indicated His monadic and realised “destiny.” The meaning of these words is not as is so oft stated by Christian theologians and thinkers, a statement of acceptance of pain and of an unpleasant future. It is an exclamation evoked by the realisation of monadic awareness and the focussing of the life aspect within the Whole. The soul, in this statement, is renounced, and the monad, as a point of centralisation, is definitely and finally recognised. Students would do well to bear in mind that the Christ never underwent the Crucifixion subsequent to this episode, but [315] that it was the Master Jesus Who was crucified. The Crucifixion lay behind Him in the experience of the Christ. The episode of renunciation was a high point in the life of the World Saviour, but was no part of the experience of the Master Jesus.
3. Tiếng kêu của Đức Christ: “Lạy Cha, xin đừng theo ý con, mà theo ý Cha,” cho thấy “định mệnh” chân thần đã được chứng nghiệm của Ngài. Ý nghĩa của những lời này không phải, như các nhà thần học và tư tưởng gia Kitô giáo thường nói, là một lời chấp nhận đau khổ và một tương lai khó chịu. Đó là một tiếng kêu được khơi dậy bởi sự chứng nghiệm về nhận biết chân thần và sự tập trung của phương diện sự sống trong Toàn Thể. Trong lời tuyên bố này, linh hồn bị từ bỏ, và chân thần, như một điểm tập trung, được nhìn nhận dứt khoát và sau cùng. Các đạo sinh nên ghi nhớ rằng Đức Christ không bao giờ trải qua sự Đóng Đinh sau biến cố này, mà [315] chính Chân sư Jesus mới là Đấng bị đóng đinh. Sự Đóng Đinh đã ở phía sau Ngài trong kinh nghiệm của Đức Christ. Biến cố từ bỏ là một đỉnh cao trong đời sống của Đấng Cứu Thế Gian, nhưng không phải là một phần trong kinh nghiệm của Chân sư Jesus.
4. The final words of the Christ to His apostles, gathered together in the upper chamber (in the Hierarchy, symbolically) were, “Lo, I am with you all the days, even unto the end of the age,” or cycle. Here He was speaking as Head of the Hierarchy, which constitutes His Ashram, and also speaking as the Monad and expressing His divine Will to pervade or inform the world continuously and endlessly with His overshadowing consciousness; He expressed universality and the ceaseless continuity and contact which is the characteristic of monadic life—of life itself. It was also a tremendous affirmation, sent forth on the energy of the will, and making all things new and all things possible.
4. Những lời cuối cùng của Đức Christ với các tông đồ của Ngài, tụ họp trong phòng trên lầu (một cách biểu tượng là trong Thánh đoàn), là: “Này, Ta ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế,” hay tận chu kỳ. Ở đây Ngài nói như Đầu của Thánh đoàn, vốn cấu thành ashram của Ngài, và cũng nói như chân thần, biểu lộ Ý Chí thiêng liêng của Ngài để thấm nhuần hay phú linh thế giới một cách liên tục và vô tận bằng tâm thức phủ bóng của Ngài; Ngài biểu lộ tính phổ quát và sự liên tục không ngừng cùng sự tiếp xúc vốn là đặc tính của sự sống chân thần—của chính sự sống. Đó cũng là một sự khẳng định vô cùng mạnh mẽ, được phát ra trên năng lượng của ý chí, làm cho mọi sự trở nên mới mẻ và mọi sự trở nên khả hữu.
If you will carefully study these four statements you will see what is the knowledge referred to in this command given in Rule XIV to the initiate at the first initiation, the command to Know. It is the order to reorient the soul to the monad and not an order to reorient the personality to the soul, as is so oft believed.
Nếu các bạn nghiên cứu cẩn thận bốn lời tuyên bố này, các bạn sẽ thấy tri thức được nói đến trong mệnh lệnh ban cho điểm đạo đồ trong Quy luật XIV ở lần điểm đạo thứ nhất, mệnh lệnh Biết, là gì. Đó là mệnh lệnh tái định hướng linh hồn về phía chân thần chứ không phải mệnh lệnh tái định hướng phàm ngã về phía linh hồn, như người ta thường tin.
The word Express, in its deepest meaning and when given at the second initiation, does not mean the necessity to express the nature of the soul. It means (behind all other possible meanings) the command to express the will nature of the monad and to “feel after” and embody the Purpose which lies behind the Plan, as a result of the developed sensitivity. Obedience to the Plan brings revelation of the hidden Purpose, and this is a phrasing of the great objective which impulses the Hierarchy itself. As the initiate learns cooperation with the Plan and demonstrates this in his life of service, then within himself and paralleling this activity to which he is dedicated as a personality and soul, there is also an awakening realisation of the Father aspect, of the nature of the will, of the existence and factual nature of [316] Shamballa and of the universality and the livingness of whatever is meant by the word “Being.” He knows and is beginning to express that pure Being as pure will in activity.
Linh từ Biểu Lộ, trong ý nghĩa sâu xa nhất của nó và khi được ban ở lần điểm đạo thứ hai, không có nghĩa là sự cần thiết phải biểu lộ bản chất của linh hồn. Nó có nghĩa (đằng sau mọi ý nghĩa khả dĩ khác) là mệnh lệnh biểu lộ bản chất ý chí của chân thần và “dò tìm” rồi thể hiện Mục Đích nằm sau Thiên Cơ, như một kết quả của sự nhạy bén đã phát triển. Sự vâng phục Thiên Cơ mang lại sự mặc khải về Mục Đích ẩn giấu, và đây là một cách diễn đạt mục tiêu lớn lao thúc đẩy chính Thánh đoàn. Khi điểm đạo đồ học cách hợp tác với Thiên Cơ và chứng minh điều này trong đời sống phụng sự của mình, thì bên trong y và song song với hoạt động mà y hiến mình cho với tư cách phàm ngã và linh hồn, cũng có một sự thức tỉnh về phương diện Cha, về bản chất của ý chí, về sự hiện hữu và bản chất thực tế của [316] Shamballa, và về tính phổ quát cùng tính sống động của bất cứ điều gì được hàm ý bởi từ “Bản Thể.” Y biết và đang bắt đầu biểu lộ Bản Thể thuần túy ấy như ý chí thuần túy trong hoạt động.
When the third initiation is taken the initiate becomes aware, not only of the significance of the command to Know and of his innate ability to Express the will nature of the monad in carrying out the Purpose of Shamballa, but that (through his fused personality-soul) he is now in a position to “make revelation” to the Hierarchy that he is en rapport with the monadic source from which he originally came. He can now obey the command to Reveal, because the Transfiguration is consummated. He is not now revealing the soul only, but all the three aspects now meet in him and he can reveal the life aspect as will and not only the soul aspect as love or the matter aspect as intelligence. This is, as you know the first major initiation from the angle of the greater Lodge on Sirius, because it is the first initiation in which all the three aspects meet in the initiate. The first two initiations—oft regarded by humanity as major initiations—are in reality minor initiations from the Sirian point of view, because the relation of the man “under discipline and in training” is only a tendency; there is only a developing recognition of the Father and a slowly growing response to the monad, plus an unfolding sensitivity to the impact of the will aspect. But in the third initiation these developments are sufficiently present to merit the phrase, “revelation of the glory,” and the Transfiguration initiation takes place.
Khi lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận, điểm đạo đồ trở nên nhận biết không những về ý nghĩa của mệnh lệnh Biết và về khả năng cố hữu của mình trong việc Biểu Lộ bản chất ý chí của chân thần khi thực hiện Mục Đích của Shamballa, mà còn nhận biết rằng (qua phàm ngã-linh hồn được dung hợp của mình) giờ đây y ở vào vị thế có thể “mặc khải” cho Thánh đoàn rằng y đang có liên hệ với nguồn chân thần mà từ đó ban đầu y đã đến. Giờ đây y có thể tuân theo mệnh lệnh Mặc Khải, vì Biến hình đã hoàn tất. Giờ đây y không chỉ mặc khải linh hồn, mà cả ba phương diện nay gặp nhau trong y và y có thể mặc khải phương diện sự sống như ý chí chứ không chỉ phương diện linh hồn như bác ái hay phương diện vật chất như trí tuệ. Đây là, như các bạn biết, lần điểm đạo lớn đầu tiên xét từ góc độ của Thánh đoàn lớn hơn trên Sirius, vì đó là lần điểm đạo đầu tiên trong đó cả ba phương diện gặp nhau nơi điểm đạo đồ. Hai lần điểm đạo đầu tiên—thường được nhân loại xem là những lần điểm đạo lớn—thực ra là những lần điểm đạo nhỏ theo quan điểm Sirius, vì mối liên hệ của con người “đang chịu kỷ luật và được huấn luyện” chỉ là một khuynh hướng; chỉ có một sự nhận biết đang phát triển về Cha và một sự đáp ứng đang tăng trưởng chậm rãi đối với chân thần, cộng với một sự nhạy bén đang khai mở đối với tác động của phương diện ý chí. Nhưng trong lần điểm đạo thứ ba, các sự phát triển này hiện diện đủ để xứng đáng với cụm từ “mặc khải vinh quang,” và lần điểm đạo Biến hình diễn ra.
At the fourth initiation the destroying aspect of the will can begin to make its presence felt; the soul body, the causal body, the Temple of the Lord, is destroyed by an act of the will and because even the soul is recognised as a limitation by that which is neither the body nor the soul, but that which stands greater than either. The awareness of the perfected man is now focussed in that of the monad. The road to Jerusalem has been trodden. This is a symbolical way of saying that the antahkarana has been constructed and [317] the Way to the Higher Evolution—which confronts the higher initiates—has now opened up.
Ở lần điểm đạo thứ tư, phương diện hủy diệt của ý chí có thể bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận; thể linh hồn, thể nguyên nhân, Đền Thờ của Chúa, bị hủy diệt bởi một hành vi của ý chí và bởi vì ngay cả linh hồn cũng được nhận ra là một giới hạn đối với cái không phải là thể xác cũng không phải là linh hồn, mà là cái đứng cao hơn cả hai. Nhận biết của con người toàn thiện giờ đây được tập trung trong nhận biết của chân thần. Con đường đến Jerusalem đã được bước đi. Đây là một cách nói biểu tượng rằng antahkarana đã được xây dựng và [317] Con đường Tiến Hóa Cao Siêu—đang mở ra trước các điểm đạo đồ cao cấp—nay đã được khai mở.
The three aspects of the will, as focussed in the Spiritual Triad, are now in full expressions the initiate is animated by Purpose, but faces still greater evolutionary developments; of these I do not need to speak, as they concern divine aspects as yet unknown and unregistered by man. The reason for this complete ignorance is that the vehicles of any man below the third initiation contain too much “impure matter” to record the impact of these divine qualities. Only the “created body” (the mayavirupa) of an initiate of the fourth initiation can begin to register these divine impacts; it is therefore waste of our time to consider even the possibility of their existence. Even I, a Master, and therefore an initiate of a relatively high degree, am only faintly sensing them, and that because I am learning to obey the fifth word which we will briefly, very briefly, now consider.
Ba phương diện của ý chí, như được tập trung trong Tam Nguyên Tinh Thần, giờ đây ở trong sự biểu lộ trọn vẹn; điểm đạo đồ được Mục Đích làm sinh động, nhưng vẫn còn đối diện với những phát triển tiến hoá lớn hơn nữa; về những điều này tôi không cần nói, vì chúng liên quan đến các phương diện thiêng liêng mà con người hiện chưa biết và chưa ghi nhận được. Lý do của sự vô minh hoàn toàn này là các vận cụ của bất kỳ ai dưới lần điểm đạo thứ ba đều chứa quá nhiều “vật chất bất tịnh” để ghi nhận tác động của các phẩm tính thiêng liêng này. Chỉ “thể được tạo ra” (mayavirupa) của một điểm đạo đồ ở lần điểm đạo thứ tư mới có thể bắt đầu ghi nhận các tác động thiêng liêng này; vì thế, việc chúng ta xét đến ngay cả khả năng hiện hữu của chúng cũng là lãng phí thời gian. Ngay cả tôi, một Chân sư, và do đó là một điểm đạo đồ ở cấp độ tương đối cao, cũng chỉ đang cảm nhận chúng một cách mờ nhạt, và đó là vì tôi đang học cách tuân theo linh từ thứ năm mà giờ đây chúng ta sẽ ngắn gọn, rất ngắn gọn, xem xét.
5. Resurrect.
5. Phục Sinh.
One of the greatest of all distortions, and one of the most misleading of the theological teachings, has been the interpretation put upon the word “resurrection” in the Christian approach. This resurrection has been applied in many cases to the resurrection of the body; it is also applied to the fact (the selfishly motivated wish) of immortality; it is applied also to the physical resurrection of the Christ after he supposedly died upon the Cross. Resurrection teaches essentially the “lifting up” of matter into heaven; it does not teach the eternal persistence of the physical body of a man, as many Fundamentalists today suppose, looking for the reappearance of the discarded physical body; it does teach the “livingness of Life” and the state of “unalterable Being.” This unalterable Being constitutes the nature of the Monad, and it is to this condition of awareness that Christ attained when He functioned as a World Saviour and thereby guaranteed, by the force of His achievement as a personality-soul, the same point of attainment for us, for we are equally and essentially sons of the Father or expressions of the Monad, [318] the One. It does not, however, signify the resurrection of some personality in a particular vehicle used in a particular incarnation.
Một trong những sự bóp méo lớn nhất, và một trong những giáo huấn thần học gây lầm lạc nhất, là cách giải thích áp đặt lên từ “phục sinh” trong cách tiếp cận Kitô giáo. Sự phục sinh này trong nhiều trường hợp đã được áp dụng cho sự phục sinh của thể xác; nó cũng được áp dụng cho sự kiện (ước muốn có động cơ ích kỷ) về sự bất tử; nó cũng được áp dụng cho sự phục sinh thể xác của Đức Christ sau khi Ngài được cho là đã chết trên Thập Giá. Phục sinh về bản chất dạy sự “nâng vật chất lên” vào thiên giới; nó không dạy sự tồn tại vĩnh viễn của thể xác hồng trần của một con người, như nhiều người theo chủ nghĩa Cơ Bản ngày nay vẫn tưởng, mong chờ sự tái xuất hiện của thể xác đã bị bỏ lại; nó dạy “tính sống động của Sự sống” và trạng thái của “Bản Thể bất biến.” Bản Thể bất biến này cấu thành bản chất của chân thần, và chính đến trạng thái nhận biết này mà Đức Christ đã đạt tới khi Ngài hoạt động như một Đấng Cứu Thế Gian và nhờ đó bảo đảm, bằng sức mạnh của thành tựu của Ngài như một phàm ngã-linh hồn, cùng một điểm thành tựu ấy cho chúng ta, vì chúng ta cũng đều là những người con của Cha hay những biểu hiện của chân thần, [318] Đấng Duy Nhất, một cách bình đẳng và cốt yếu. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là sự phục sinh của một phàm ngã nào đó trong một vận cụ đặc biệt được dùng trong một kiếp sống đặc biệt.
The whole concept of resurrection is the new and most important revelation which is coming to humanity, and which will lay the basis for the new world religion.
Toàn bộ khái niệm phục sinh là sự mặc khải mới mẻ và quan trọng nhất đang đến với nhân loại, và sẽ đặt nền tảng cho tôn giáo thế giới mới.
In the immediate past, the keynote of the Christian religion has been death, symbolised for us in the death of the Christ, and much distorted for us by St. Paul in his effort to blend the new religion which Christ gave us with the old blood religion of the Jews. In the coming cycle, this distorted teaching on death will assume its rightful place and be known as the disciplining urge to relinquishment and to the ending by death of the hold by matter over the soul; the great goal of all religious teaching will be the resurrection of the spirit in man, and eventually in all forms of life, from the lowest point in evolution to the highest monadic experience. The emphasis in the future will be upon the “livingness of the Christ nature”—the proof of which will be the Risen Christ—and upon the use of the will invoking this “living display.” The glory and the radiance of the Transfiguration initiation will eventually be relegated to its destined place, and what is meant by the “display of life” will dimly be sensed in its unimaginable beauty.
Trong quá khứ gần đây, chủ âm của tôn giáo Kitô giáo là cái chết, được biểu tượng hóa cho chúng ta trong cái chết của Đức Christ, và bị Thánh Paul bóp méo rất nhiều trong nỗ lực hòa trộn tôn giáo mới mà Đức Christ đã trao cho chúng ta với tôn giáo máu huyết cũ của người Do Thái. Trong chu kỳ sắp tới, giáo huấn bị bóp méo này về cái chết sẽ đảm nhận vị trí đúng đắn của nó và được biết đến như xung lực kỷ luật hướng đến sự buông bỏ và đến sự chấm dứt, bằng cái chết, sự kềm giữ của vật chất đối với linh hồn; mục tiêu lớn lao của mọi giáo huấn tôn giáo sẽ là sự phục sinh của tinh thần trong con người, và cuối cùng trong mọi hình thức sự sống, từ điểm thấp nhất trong tiến hoá đến kinh nghiệm chân thần cao nhất. Trong tương lai, trọng tâm sẽ đặt vào “tính sống động của bản chất Christ”—mà bằng chứng sẽ là Đức Christ Phục Sinh—và vào việc sử dụng ý chí để khẩn cầu “sự biểu lộ sống động” này. Vinh quang và hào quang của lần điểm đạo Biến hình cuối cùng sẽ được đặt vào vị trí định sẵn của nó, và điều được hàm ý bởi “sự biểu lộ của sự sống” sẽ được cảm nhận mờ nhạt trong vẻ đẹp không thể tưởng tượng của nó.
The line or the path or the Way of Resurrection is the “Radiant Way” to which we have given the cumbersome name of the Antahkarana; this Way leads straight and directly from one great planetary centre to another—from Humanity to the Hierarchy and from the Hierarchy to Shamballa. This is the Way of Resurrection. It is a Way which is composed of the light of intelligent substance, of the radiant attractive substance of love, and the karmic way which is infused by the essence of inflexible will. Forget not that karma is essentially the conditioned will of the planetary Logos as He orders all things toward the ultimate goal of life itself through the process of livingness, of loving understanding, and of intelligent activity.
Đường hay lối hay Con Đường Phục Sinh là “Con Đường Rạng Rỡ” mà chúng ta đã đặt cho cái tên nặng nề là antahkarana; Con Đường này dẫn thẳng và trực tiếp từ một trung tâm hành tinh lớn đến một trung tâm khác—từ Nhân loại đến Thánh đoàn và từ Thánh đoàn đến Shamballa. Đây là Con Đường Phục Sinh. Đó là một Con Đường được cấu thành từ ánh sáng của chất liệu trí tuệ, từ chất liệu rạng ngời hấp dẫn của bác ái, và con đường nghiệp quả được thấm nhuần bởi tinh chất của ý chí bất khuất. Đừng quên rằng nghiệp quả về bản chất là ý chí được điều kiện hóa của Hành Tinh Thượng đế khi Ngài sắp đặt mọi sự hướng đến mục tiêu tối hậu của chính sự sống qua tiến trình sống động, thấu hiểu đầy bác ái, và hoạt động trí tuệ.
Therefore, the order to resurrect, as understood by the [319] initiate, concerns solely the application of the will nature and the aspect of Shamballa to the impulsing of hierarchical attraction and activity. It does not concern the individual life of the upward-moving aspirant or disciple, no matter what his degree, except incidentally and because major divine macrocosmic impulses must have lesser microcosmic effects. All these stupendous words with which we have been dealing relate to the cooperation of the initiate with the Will of Shamballa, and therefore, my brothers, are only dim hints to you.
Do đó, mệnh lệnh phục sinh, như được điểm đạo đồ thấu hiểu, [319] chỉ liên quan đến việc áp dụng bản chất ý chí và phương diện Shamballa vào việc thúc đẩy sự hấp dẫn và hoạt động của Thánh đoàn. Nó không liên quan đến đời sống cá nhân của người chí nguyện hay đệ tử đang đi lên, bất kể cấp độ nào của y, ngoại trừ một cách ngẫu nhiên và bởi vì các xung lực đại thiên địa thiêng liêng lớn lao phải có những hiệu quả tiểu thiên địa nhỏ hơn. Tất cả những linh từ trọng đại mà chúng ta đã bàn đến đều liên hệ đến sự hợp tác của điểm đạo đồ với Ý Chí của Shamballa, và vì thế, Huynh đệ của Tôi, chỉ là những gợi ý mờ nhạt đối với các bạn.
PART TWO - INTRODUCTORY REMARKS — PHẦN HAI - NHỮNG NHẬN XÉT MỞ ĐẦU
[323]
[323]
We now come to the final part of A Treatise on the Seven Rays and I have in mind three things which it appears to me to be necessary to do; these three will make this Treatise not only the textbook of the new psychology but also a more vital factor in the human consciousness, because the fact of initiation will be emphasised. These three are:
Giờ đây chúng ta đi đến phần cuối cùng của Luận về Bảy Cung và tôi có trong tâm trí ba điều mà theo tôi dường như cần phải làm; ba điều này sẽ khiến bộ Luận này không những là giáo trình của nền tâm lý học mới mà còn là một yếu tố sinh động hơn trong tâm thức nhân loại, bởi vì sự kiện điểm đạo sẽ được nhấn mạnh. Ba điều ấy là:
1. I propose to deal with the theme of Initiation in order to prepare the world of men for the restoration of the Mysteries.
1. Tôi dự định bàn đến chủ đề Điểm đạo để chuẩn bị thế giới loài người cho sự phục hồi các Mầu Nhiệm.
2. I will give some definite teaching on the Centres from the planetary angle and also from the angle of the individual aspirant.
2. Tôi sẽ đưa ra một số giáo huấn xác định về các Trung tâm từ góc độ hành tinh và cũng từ góc độ của người chí nguyện cá nhân.
3. I will endeavour to relate the seven Ray energies to the five and the seven Initiations and to the three and the seven centres in a new and more arresting manner.
3. Tôi sẽ cố gắng liên hệ các năng lượng của bảy cung với năm và bảy lần Điểm đạo, và với ba và bảy trung tâm theo một cách mới mẻ và gây chú ý hơn.
This is a large order and one not easy to fulfill because so much has already been given out anent initiation; the subject is dangerously familiar. By that I mean that certain preconceived ideas are already present in men's minds and many of these are not factual in nature and need to be discarded or, at the best, reinterpreted. I have myself dealt in a broad and general way with the subject of initiation in one of my earliest books: Initiation, Human and Solar; also, scattered through all my writings over the years is a mass of information which needs collating and bringing together as a basis for the instruction of disciples in training for an initiation.
Đây là một công việc lớn và không dễ hoàn thành vì đã có quá nhiều điều được công bố liên quan đến điểm đạo; chủ đề này đã trở nên quen thuộc một cách nguy hiểm. Ý tôi là một số ý tưởng định kiến đã hiện diện trong tâm trí con người và nhiều ý tưởng trong số đó không có tính thực tế và cần phải bị loại bỏ hoặc, tốt nhất, được diễn giải lại. Chính tôi đã bàn đến chủ đề điểm đạo một cách rộng rãi và tổng quát trong một trong những quyển sách đầu tiên của mình: Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương; ngoài ra, rải rác trong toàn bộ trước tác của tôi qua nhiều năm là một khối lượng thông tin cần được tập hợp và gom lại làm nền tảng cho việc huấn luyện các đệ tử đang chuẩn bị cho một lần điểm đạo.
In Discipleship in the New Age, Volume I, I gave out much more upon this subject and also information of a deeply esoteric nature anent the Ashrams of the Masters. The second volume of the book also contains much that is new and should serve to bring this whole subject much closer to public understanding. In the instructions now to be given, however, I shall endeavour to cover the ground [324] not already considered, and look at the subject of initiation from the angle of the seven rays, from the effect upon the centres, planetary and individual, and from the point of view of the esoteric training of the accepted aspirant or disciple. (These instructions were begun in March 1946 and completed in March 1949.)
Trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I, tôi đã đưa ra nhiều hơn nữa về chủ đề này và cả những thông tin có bản chất huyền bí sâu xa liên quan đến các ashram của các Chân sư. Tập hai của bộ sách ấy cũng chứa đựng nhiều điều mới và sẽ giúp đưa toàn bộ chủ đề này đến gần hơn nhiều với sự hiểu biết của công chúng. Tuy nhiên, trong các chỉ dẫn sắp được đưa ra, tôi sẽ cố gắng bao quát phần đất [324] chưa được xét đến, và nhìn chủ đề điểm đạo từ góc độ của bảy cung, từ ảnh hưởng lên các trung tâm, hành tinh và cá nhân, và từ quan điểm của sự huấn luyện huyền bí dành cho người chí nguyện hay đệ tử đã được chấp nhận. (Các chỉ dẫn này được bắt đầu vào tháng Ba năm 1946 và hoàn tất vào tháng Ba năm 1949.)
This final Volume of A Treatise on the Seven Rays will eventually change the attitude of men's minds towards the Mysteries and towards the activity of spiritual transference, which is one of the names given by the Masters to the basic mystery of initiation. In due time our educational centres, particularly those concerned with adult education, will take into calculation, normally and customarily, the fact of future initiation where their students are concerned, and will study their graduates from this angle in order to give advice or recommendation. In these institutions the elements of true esotericism will be taught, though they will not be then regarded as esoteric.
Tập cuối cùng này của Luận về Bảy Cung cuối cùng sẽ thay đổi thái độ của tâm trí con người đối với các Mầu Nhiệm và đối với hoạt động của sự chuyển dịch tinh thần, là một trong những tên gọi mà các Chân sư dùng cho mầu nhiệm căn bản của điểm đạo. Đến lúc thích hợp, các trung tâm giáo dục của chúng ta, đặc biệt là những trung tâm liên quan đến giáo dục người trưởng thành, sẽ tính đến, một cách bình thường và thường lệ, sự kiện điểm đạo tương lai nơi các học viên của họ, và sẽ nghiên cứu những người tốt nghiệp của mình từ góc độ này để đưa ra lời khuyên hay khuyến nghị. Trong các cơ sở ấy, những yếu tố của huyền bí học chân chính sẽ được giảng dạy, dù khi đó chúng sẽ không còn được xem là huyền bí nữa.
It will be apparent to you that this long Treatise is in the nature of a preparatory thesis covering a vast field or area of information. The first two volumes dealt with the sevenfold nature of man and with the influence of the seven basic energies or rays upon his unfoldment and his history, and (in a briefer manner) upon the world in which he lives and upon the environment which aids and conditions him. In the third volume we took into consideration the influences of the constellations and planets upon the man and upon our planet, the Earth, and gave much time to the consideration of esoteric astrology; the rays, the signs, the constellations and the planets are all of them closely interrelated and the human being is the recipient of the energies and forces which they emanate or distribute. This makes the man what he essentially is at any one time whilst in incarnation.
Các bạn sẽ thấy rõ rằng bộ Luận dài này có tính chất của một luận đề chuẩn bị bao quát một lĩnh vực hay phạm vi thông tin rộng lớn. Hai tập đầu đã bàn đến bản chất thất phân của con người và ảnh hưởng của bảy năng lượng căn bản hay bảy cung lên sự khai mở và lịch sử của y, và (một cách ngắn gọn hơn) lên thế giới mà y đang sống và lên môi trường trợ giúp và tác động lên y. Trong tập ba, chúng ta đã xét đến các ảnh hưởng của các chòm sao và các hành tinh lên con người và lên hành tinh của chúng ta, Trái Đất, và đã dành nhiều thời gian để xem xét Chiêm Tinh Học Nội Môn; các cung, các dấu hiệu, các chòm sao và các hành tinh đều liên hệ mật thiết với nhau, và con người là kẻ tiếp nhận các năng lượng và mãnh lực mà chúng phát ra hay phân phối. Điều này làm cho con người trở thành đúng như bản chất của y tại bất kỳ thời điểm nào khi đang lâm phàm.
We next considered the subject of healing because of the necessity of understanding the limitations—psychological and physical—which restrict man's free expression of divinity. We dealt with a major condition which has to be faced [325] and comprehended if humanity is ever to step off the ordinary path of evolution on to the path of discipleship and of initiation. Man has to become aware of the ray effects, of the place the centres play in his advance and unfoldment, and of the play of energies and forces which produce the difficulties and the diseases, and can at the same time cure them and bring about the liberation of the man.
Tiếp đó, chúng ta đã xét đến chủ đề trị liệu vì sự cần thiết phải hiểu các giới hạn—tâm lý và thể chất—đang hạn chế sự biểu lộ tự do của thiên tính nơi con người. Chúng ta đã bàn đến một điều kiện lớn phải được đối diện [325] và thấu hiểu nếu nhân loại muốn bước ra khỏi con đường tiến hoá thông thường để đi vào con đường địa vị đệ tử và điểm đạo. Con người phải trở nên nhận biết các ảnh hưởng của cung, vai trò mà các trung tâm giữ trong sự tiến bộ và khai mở của y, và sự vận hành của các năng lượng và mãnh lực tạo ra các khó khăn và bệnh tật, đồng thời cũng có thể chữa lành chúng và mang lại sự giải thoát cho con người.
From the consideration of limitations we passed on to an entirely new theme and an entirely new concept as regards man's education when he has reached a relatively very advanced stage of unfoldment. I gave you the new teaching anent the antahkarana or the mode and method whereby the initiate could relate in one great fusion or at-one-ment not only the soul and the personality, but monad, soul, and personality. This teaching has carried all that has hitherto been given, down the ages, another step further on and indicated the next stage of development ahead of the disciple. The time has come, as the Hierarchy had foreseen, for further light upon the endless Way.
Từ việc xem xét các giới hạn, chúng ta đã chuyển sang một chủ đề hoàn toàn mới và một khái niệm hoàn toàn mới liên quan đến sự giáo dục của con người khi y đã đạt đến một giai đoạn khai mở tương đối rất cao. Tôi đã trao cho các bạn giáo huấn mới liên quan đến antahkarana hay phương thức và phương pháp nhờ đó điểm đạo đồ có thể liên kết trong một sự dung hợp lớn hay nhất thể hóa không chỉ linh hồn và phàm ngã, mà cả chân thần, linh hồn và phàm ngã. Giáo huấn này đã đưa tất cả những gì từ trước đến nay đã được ban ra qua các thời đại tiến thêm một bước nữa và chỉ ra giai đoạn phát triển kế tiếp ở phía trước đệ tử. Thời điểm đã đến, như Thánh đoàn đã thấy trước, để có thêm ánh sáng về Con Đường vô tận.
Teaching anent the five initiations which confront all aspirants has long been given and has become public property; it has meant very little for most people and nothing at all to the mass of men; it has been regarded by the intelligentsia as vague and visionary nonsense; some few have admitted that these initiations may be possible, and others say that they are simply symbolic modes of indicating some final achievement which mankind faces; still others have accepted this teaching and have come to regard the initiations as goals and have then taken the necessary steps to prove the veridical nature of their beliefs; they have proved it, have become initiate, and have attained the status of Master of the Wisdom and taken their place within the Hierarchy. There is, therefore, a certain familiarity about these goals, the service they could entail and the consummation of the hierarchical possibilities; this itself indicates that the time had come when certain faint indications of that which lies behind the Mysteries and of that which is to be seen ahead of those who have achieved initiation should [326] be somewhat clarified; I therefore started to impart three phases of information:
Giáo huấn liên quan đến năm lần điểm đạo đối diện với mọi người chí nguyện từ lâu đã được ban ra và đã trở thành tài sản công cộng; đối với đa số người, nó có ý nghĩa rất ít và đối với quần chúng thì hoàn toàn không có ý nghĩa gì; giới trí thức xem nó là điều mơ hồ và viển vông vô nghĩa; một số ít đã thừa nhận rằng các lần điểm đạo này có thể là khả hữu, và những người khác nói rằng chúng chỉ đơn giản là những phương thức biểu tượng để chỉ một thành tựu cuối cùng nào đó mà nhân loại phải đối diện; còn những người khác nữa đã chấp nhận giáo huấn này và đi đến chỗ xem các lần điểm đạo như những mục tiêu, rồi sau đó đã thực hiện các bước cần thiết để chứng minh tính chân thực của niềm tin của mình; họ đã chứng minh được điều đó, đã trở thành điểm đạo đồ, và đã đạt đến địa vị Chân sư Minh Triết và giữ vị trí của mình trong Thánh đoàn. Vì vậy, đã có một mức độ quen thuộc nào đó đối với các mục tiêu này, đối với sự phụng sự mà chúng có thể bao hàm và đối với sự viên mãn của các khả năng phân cấp; chính điều này cho thấy rằng thời điểm đã đến khi một số chỉ dẫn mờ nhạt về điều nằm phía sau các Mầu Nhiệm và về điều sẽ được thấy ở phía trước những ai đã đạt được điểm đạo cần phải [326] được làm sáng tỏ phần nào; vì thế tôi bắt đầu truyền đạt ba giai đoạn thông tin:
I. I gave out teaching which indicated the mode of bridging the gap between the lower three worlds and the world of the Spiritual Triad. In doing this, it became apparent that there were three groupings or levels of consciousness which had to be recognised:
I. Tôi đã đưa ra giáo huấn chỉ ra phương thức bắt cầu khoảng cách giữa ba cõi thấp và thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần. Khi làm điều này, rõ ràng là có ba nhóm hay ba cấp độ tâm thức cần được nhận biết:
1. The three worlds of human evolution.
1. Ba cõi của tiến hoá nhân loại.
a. The mental plane.
a. cõi trí.
b. The astral plane.
b. cõi cảm dục.
c. The physical plane.
c. cõi hồng trần.
2. The three levels of the mental plane.
2. Ba cấp độ của cõi trí.
a. The level of the concretising mind, the lower mind.
a. Cấp độ của trí cụ thể hóa, hạ trí.
b. The level on which the soul is to be found.
b. Cấp độ nơi linh hồn được tìm thấy.
c. The level of the abstract or higher mind.
c. Cấp độ của trí trừu tượng hay thượng trí.
3. The three worlds of superhuman evolution, the levels of the Spiritual Triad: atma-buddhi-manas.
3. Ba cõi của tiến hoá siêu nhân loại, các cấp độ của Tam Nguyên Tinh Thần: atma-buddhi-manas.
Between the higher three and the lower three and embracing the mental plane was a definite gap, a break in the continuity of conscious contact or an area where there was no channelling for the inpouring of higher energies. Here the teaching of the conscious building of the antahkarana was required; thus the gap between the mental unit and the manasic permanent atom, between the personality (indwelt by the soul) and the Spiritual Triad could be bridged by the aspirant himself.
Giữa ba cõi cao hơn và ba cõi thấp hơn, bao trùm cõi trí, có một khoảng trống rõ rệt, một sự đứt đoạn trong tính liên tục của tiếp xúc hữu thức hay một khu vực nơi không có sự dẫn truyền cho dòng tuôn đổ của các năng lượng cao hơn. Tại đây, giáo huấn về việc xây dựng antahkarana một cách hữu thức là điều cần thiết; nhờ đó khoảng cách giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas, giữa phàm ngã (được linh hồn phú linh) và Tam Nguyên Tinh Thần có thể được chính người chí nguyện bắt cầu.
II. I found it necessary also to indicate the nature of the Way of the Higher Evolution which had been hinted at but about which absolutely no information had been given. It is the Way which opens out before the Master of the Wisdom, leading to states of identification and levels of awareness which lie outside our planetary sphere altogether. The following of this Way enables the Master to “abstract” Himself from the seven planes of our planetary life and divest Himself of all we understand as material existence. [327] Forget not that our seven planes are only the seven subplanes of the cosmic physical plane.
II. Tôi cũng thấy cần phải chỉ ra bản chất của Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, điều đã được gợi ý nhưng tuyệt nhiên chưa có thông tin nào được đưa ra. Đó là Con Đường mở ra trước Chân sư Minh Triết, dẫn đến các trạng thái đồng nhất hóa và các cấp độ nhận biết nằm hoàn toàn bên ngoài phạm vi hành tinh của chúng ta. Việc đi theo Con Đường này cho phép Chân sư “rút” chính Ngài ra khỏi bảy cõi của sự sống hành tinh của chúng ta và cởi bỏ mọi điều mà chúng ta hiểu là sự tồn tại vật chất. [327] Đừng quên rằng bảy cõi của chúng ta chỉ là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ.
III. I therefore opened up the subject of the possibility of the higher initiations which confront the Members of the Hierarchy. In this connection it is useful to remember that:
III. Vì vậy, tôi đã mở ra chủ đề về khả năng của các lần điểm đạo cao hơn đang đối diện với các Thành Viên của Thánh đoàn. Liên quan đến điều này, sẽ hữu ích nếu nhớ rằng:
1. The Council Chamber at Shamballa provides a goal for the Members of the Hierarchy, but not an abiding place.
1. Phòng Hội Đồng tại Shamballa cung cấp một mục tiêu cho các Thành Viên của Thánh đoàn, nhưng không phải là nơi cư ngụ thường trực.
2. The seven Paths which stretch out before a Master are entered by the treading of the Way of the Higher Evolution.
2. Bảy Con Đường trải ra trước một Chân sư được bước vào bằng cách đi trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.
3. The so-called third initiation, the Transfiguration, is only the first major initiation, from the standpoint of the Hierarchy; it marks the moment in time and space when the initiate sees truly and for the first time the door which opens on to this higher Way. Then—if he chooses the Path that the Christ chose (and there is no reason that he should)—he will “set his face to go up to Jerusalem.”
3. Cái gọi là lần điểm đạo thứ ba, Biến hình, chỉ là lần điểm đạo lớn đầu tiên, xét từ quan điểm của Thánh đoàn; nó đánh dấu khoảnh khắc trong thời gian và không gian khi điểm đạo đồ thấy đúng thật và lần đầu tiên cánh cửa mở ra Con Đường cao hơn này. Khi ấy—nếu y chọn Con Đường mà Đức Christ đã chọn (và không có lý do gì y phải chọn như vậy)—y sẽ “quyết tâm đi lên Jerusalem.”
These are some of the things which I have hinted at in past writings; they have been touched upon, vaguely and mysteriously, by past teachers and somewhat more explicitly by myself; I propose to be a little more definite in this new section.
Đó là một số điều mà tôi đã gợi ý trong các trước tác trước đây; chúng đã được các huấn sư trong quá khứ chạm đến một cách mơ hồ và huyền nhiệm, và được chính tôi trình bày phần nào minh bạch hơn; trong phần mới này tôi dự định sẽ xác định hơn đôi chút.
Teaching, if true, must be in line with the past and must provide scope for endeavour in the present and must also hold out further enlightenment for those who have succeeded or are succeeding in attaining the indicated goals. There must be a spiritual future indicated. It is that which is required now, for many are attaining the goals proposed by the Hierarchy, and others are working towards them. The taking of initiation is now often to be seen and is far more frequent today than at any other time in the history of the race; for those who have thus succeeded, the next step forward and the new spiritual enticement must be clearly disclosed. Evolution is not a static thing; death cannot be the [328] reward of living effort. To be static, to have attained all that can be attained, and to be at a complete standstill would be utter death and, my brothers, there is no death. There is only progress from glory to glory, a moving forward from point to point on the divine Way, and from revelation to revelation towards those points and revelations which are perhaps part of the Goal of God Himself. What the goals are upon the Higher Way is as yet utterly unknown to you; what divine qualities and objectives may be revealed to the Master and to the Christ as They tread the Way which leads Them off the cosmic physical plane altogether, you cannot know or sense, and if you could, you would not comprehend the meaning. “Eye hath not seen nor ear heard” the things which God will reveal to those who tread the way to the innermost centre, to those who love. This ancient writing can be paraphrased as follows: It is impossible to realise the wonder of the future which the planetary Logos will unfold before those who have unfolded the second divine aspect, Love, and who are therefore full Members of the Hierarchy, the centre where the energy of Love is anchored.
Giáo huấn, nếu chân thực, phải phù hợp với quá khứ, phải cung cấp phạm vi cho nỗ lực trong hiện tại, và cũng phải mở ra sự soi sáng hơn nữa cho những ai đã thành công hoặc đang thành công trong việc đạt đến các mục tiêu được chỉ ra. Phải có một tương lai tinh thần được chỉ ra. Đó là điều hiện nay cần thiết, vì nhiều người đang đạt đến các mục tiêu do Thánh đoàn đề ra, và những người khác đang nỗ lực hướng đến chúng. Việc tiếp nhận điểm đạo hiện nay thường được thấy và ngày nay xảy ra thường xuyên hơn bất kỳ thời kỳ nào khác trong lịch sử nhân loại; đối với những ai đã thành công như vậy, bước tiến kế tiếp và sự hấp dẫn tinh thần mới phải được bộc lộ rõ ràng. Tiến hoá không phải là một điều tĩnh tại; cái chết không thể là [328] phần thưởng của nỗ lực sống. Trở nên tĩnh tại, đã đạt được mọi điều có thể đạt được, và ở trong trạng thái hoàn toàn đình trệ sẽ là cái chết tuyệt đối, và, Huynh đệ của Tôi, không có cái chết. Chỉ có sự tiến bộ từ vinh quang đến vinh quang, một sự tiến bước từ điểm này đến điểm khác trên Con Đường thiêng liêng, và từ mặc khải này đến mặc khải khác hướng tới những điểm và những mặc khải có lẽ là một phần của Mục Tiêu của chính Thượng đế. Các mục tiêu trên Con Đường Cao Hơn là gì thì hiện vẫn hoàn toàn chưa được các bạn biết đến; những phẩm tính và mục tiêu thiêng liêng nào có thể được mặc khải cho Chân sư và cho Đức Christ khi Các Ngài bước đi trên Con Đường dẫn Các Ngài ra khỏi hẳn cõi hồng trần vũ trụ, các bạn không thể biết hay cảm nhận được, và nếu có thể, các bạn cũng sẽ không hiểu ý nghĩa. “Mắt chưa thấy, tai chưa nghe” những điều mà Thượng đế sẽ mặc khải cho những ai bước đi trên con đường đến trung tâm nội tại nhất, cho những ai yêu thương. Cổ văn này có thể được diễn giải như sau: Không thể chứng nghiệm được sự kỳ diệu của tương lai mà Hành Tinh Thượng đế sẽ khai mở trước những ai đã khai mở phương diện thiêng liêng thứ hai, Bác ái, và do đó là những Thành Viên trọn vẹn của Thánh đoàn, trung tâm nơi năng lượng Bác ái được neo giữ.
It is interesting to realise that the unfoldment of the love nature is that which opens the door which leads to the Way of the Higher Evolution and that nothing else will open it. This Way leads the Master off the cosmic physical plane on to the cosmic astral plane or to a level of cosmic awareness whereon is generated that cosmic impulse which we call Love.
Điều thú vị là nhận ra rằng chính sự khai mở bản chất bác ái là điều mở cánh cửa dẫn đến Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, và không gì khác có thể mở nó. Con Đường này dẫn Chân sư ra khỏi cõi hồng trần vũ trụ để đi vào cõi cảm dục vũ trụ hay đến một cấp độ nhận biết vũ trụ nơi xung lực vũ trụ mà chúng ta gọi là Bác ái được phát sinh.
It will be obvious to you that as this Treatise is not written to instruct Members of the Hierarchy, but only for aspirants and disciples and initiates below the grade of the third initiation, much that I will say will be somewhat “blind” or veiled in symbol; much that I could say (if words existed of an adequate nature) will not be said. Those that have eyes to see and ears to hear will read between the lines and correctly interpret my symbols, hints and references. To many what I will say will be as meaningless as A Treatise on Cosmic Fire is to the average reader and as the entire theme of initiation is to the ignorant and the undeveloped [329] man. Much, however, should be of practical service to the struggling disciple, and I want in these concluding pages to fire his zeal, deepen his understanding, stimulate his capacity to love, and enlighten his mind. Such is what I seek to do. On his part, let him approach this subject with deep humility, with a meditative and reflective attitude, and with a refusal to materialise the presented concepts, as is so easy a thing to do. Let him refuse to step down the teaching to the level of his physical consciousness. In these words I have conveyed a basic hint.
Các bạn sẽ thấy hiển nhiên rằng vì bộ Luận này không được viết để chỉ dạy các Thành Viên của Thánh đoàn, mà chỉ dành cho những người chí nguyện, các đệ tử và các điểm đạo đồ dưới cấp độ lần điểm đạo thứ ba, nên nhiều điều tôi sẽ nói sẽ phần nào “mù mờ” hay được che phủ trong biểu tượng; nhiều điều tôi có thể nói (nếu có những từ ngữ đủ thích đáng) sẽ không được nói ra. Những ai có mắt để thấy và tai để nghe sẽ đọc giữa các dòng và diễn giải đúng các biểu tượng, gợi ý và ám chỉ của tôi. Đối với nhiều người, điều tôi sẽ nói sẽ vô nghĩa chẳng khác gì Luận về Lửa Vũ Trụ đối với độc giả trung bình, và cũng như toàn bộ chủ đề điểm đạo đối với con người vô minh và chưa phát triển [329]. Tuy nhiên, nhiều điều sẽ có ích thực tiễn cho người đệ tử đang vật lộn, và trong những trang kết này tôi muốn khơi lửa nhiệt tâm của y, làm sâu sắc sự thấu hiểu của y, kích thích khả năng yêu thương của y, và soi sáng trí tuệ của y. Đó là điều tôi tìm cách thực hiện. Về phần mình, hãy để y tiếp cận chủ đề này với sự khiêm nhường sâu sắc, với thái độ tham thiền và suy tư, và với sự từ chối hiện hình các khái niệm được trình bày, như điều đó rất dễ xảy ra. Hãy để y từ chối hạ thấp giáo huấn xuống cấp độ tâm thức hồng trần của mình. Trong những lời này tôi đã chuyển đạt một gợi ý căn bản.
Love and light are the great revealers, and if the student truly seeks to understand and profit by what I am endeavouring to teach, let him love all men more deeply and let him see to it that his light shines forth in a dark place, for “in that light shall he see Light.” It is the lesser light within that reveals the greater light; when the light of the soul combines with the light of the lower man, then that fused and blended light will enable the aspirant to see the Door which opens upon the Way of the Higher Evolution.
Bác ái và ánh sáng là những đấng mặc khải vĩ đại, và nếu đạo sinh thực sự tìm cách hiểu và thu lợi từ điều tôi đang cố gắng giảng dạy, hãy để y yêu thương mọi người sâu sắc hơn và hãy bảo đảm rằng ánh sáng của y chiếu rọi trong nơi tối tăm, vì “trong ánh sáng ấy y sẽ thấy Ánh sáng.” Chính ánh sáng nhỏ hơn bên trong mặc khải ánh sáng lớn hơn; khi ánh sáng của linh hồn kết hợp với ánh sáng của phàm nhân, thì ánh sáng được dung hợp và hòa trộn ấy sẽ giúp người chí nguyện thấy được Cánh Cửa mở ra Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.
In considering our theme I propose to divide what I have to say, according to my usual custom as follows:
Khi xem xét chủ đề của chúng ta, tôi dự định phân chia điều tôi phải nói, theo thông lệ thường dùng của tôi, như sau:
The Aspirant and the Mysteries of Initiation
Người Chí Nguyện và Các Mầu Nhiệm của Điểm Đạo
The entering of the two Doors
Bước vào hai Cánh Cửa
The entering of the Ashrams
Bước vào các Ashram
The dual life of the initiatory process
Đời sống nhị nguyên của tiến trình điểm đạo
The science of the Antahkarana
Khoa học về Antahkarana
The Aspirant and the Major Initiations
Người Chí Nguyện và các lần Điểm Đạo Chính
The relation of the seven Rays to the Initiations
Mối liên hệ của bảy cung với các lần Điểm Đạo
The significance of the initiations
Ý nghĩa của các lần điểm đạo
The Aspirant and the seven Centres
Người Chí Nguyện và bảy Trung tâm
I have given you here and elsewhere in my writings all that it is at this time possible to give anent the planetary centres and the rays, including the rays of nations and of races. You will find a wealth of information hidden in my various books if due search is made and the material is gathered together into a coherent whole. I suggest that you study and compare, read and search topically and extract all that I have said about the various nations, their governing [330] constellations and their planetary rulers. This will facilitate research into the relation of the planetary centres to the systemic centres, the sacred planets and the energies pouring through them from the constellations which they “rule” in the esoteric sense. This is one of the paradoxes of occultism but it can be understood if the student remembers that the centres in his etheric body rule in so far as they are receptive or non-receptive to the influences emanating from the planet, via the planetary centres. It would not be advisable for me to give out the relation of the planetary centres to the centres of the human being; there is not enough love present as yet to balance such knowledge and to offset any possible misuse with its dire consequences. The reason I include them in the above outline is to show the organic wholeness of our theme, for the life of man encompasses the abstract and subjective as well as the outer physical levels of the manifested world.
Tôi đã trao cho các bạn ở đây và ở những nơi khác trong các trước tác của tôi tất cả những gì hiện nay có thể trao ra liên quan đến các trung tâm hành tinh và các cung, kể cả các cung của các quốc gia và các nhân loại. Các bạn sẽ tìm thấy một kho tàng thông tin ẩn giấu trong nhiều sách khác nhau của tôi nếu chịu khó tìm kiếm và gom tài liệu lại thành một toàn thể mạch lạc. Tôi gợi ý rằng các bạn hãy nghiên cứu và so sánh, đọc và tìm kiếm theo chủ đề, rồi trích ra tất cả những gì tôi đã nói về các quốc gia khác nhau, các chòm sao [330] chi phối chúng và các chủ tinh hành tinh của chúng. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc nghiên cứu mối liên hệ của các trung tâm hành tinh với các trung tâm hệ thống, các hành tinh thiêng liêng và các năng lượng tuôn đổ qua chúng từ các chòm sao mà chúng “cai quản” theo nghĩa huyền bí. Đây là một trong những nghịch lý của huyền bí học, nhưng có thể hiểu được nếu đạo sinh nhớ rằng các trung tâm trong thể dĩ thái của y cai quản trong chừng mực chúng tiếp nhận hay không tiếp nhận các ảnh hưởng phát ra từ hành tinh, qua các trung tâm hành tinh. Tôi không nên đưa ra mối liên hệ của các trung tâm hành tinh với các trung tâm của con người; hiện chưa có đủ bác ái để quân bình tri thức ấy và hóa giải bất kỳ sự lạm dụng khả dĩ nào cùng các hậu quả khủng khiếp của nó. Lý do tôi đưa chúng vào dàn bài trên là để chỉ ra tính toàn thể hữu cơ của chủ đề chúng ta, vì đời sống con người bao trùm cả các cấp độ trừu tượng và chủ quan cũng như các cấp độ hồng trần bên ngoài của thế giới biểu hiện.
I have made two affirmations during the past years anent the Hierarchy. One was that as a result of the cleansing of the Earth through the medium of the world war (1914-1945) and through the suffering to which humanity has been subjected (with a consequent purifying effect which will demonstrate later), it will be possible for the Hierarchy to externalise itself and function openly upon the physical plane. This will indicate a return to the situation which existed in Atlantean days when (using the Biblical symbolism) God Himself walked among men—divinity was present in physical form because the Members of the Hierarchy were guiding and directing the affairs of humanity as far as innate freewill permitted. On a higher turn of the spiral, this again will happen. The Masters will walk openly among men. Secondly, the Hierarchy will then restore the ancient Mysteries, the ancient landmarks so earnestly preserved by the Masonic tradition and which have been securely embalmed in the Masonic ritual, awaiting the day of resurrection.
Tôi đã đưa ra hai khẳng định trong những năm qua liên quan đến Thánh Đoàn. Một là, do kết quả của sự thanh tẩy Trái Đất qua trung gian cuộc thế chiến (1914-1945) và qua nỗi đau khổ mà nhân loại đã phải chịu đựng (với một hiệu quả thanh lọc tất yếu sẽ được chứng minh về sau), Thánh Đoàn sẽ có thể ngoại hiện chính mình và hoạt động công khai trên cõi hồng trần. Điều này sẽ biểu thị sự trở lại của tình trạng đã tồn tại vào thời Atlantis khi (dùng biểu tượng Kinh Thánh) chính Thượng đế đi giữa loài người—thiên tính hiện diện trong hình tướng hồng trần vì các Thành viên của Thánh Đoàn đang hướng dẫn và chỉ đạo các công việc của nhân loại trong chừng mực ý chí tự do bẩm sinh cho phép. Trên một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc, điều này sẽ lại xảy ra. Các Chân sư sẽ công khai đi giữa loài người. Thứ hai, khi ấy Thánh Đoàn sẽ phục hồi các Huyền Nhiệm cổ xưa, các cột mốc cổ xưa được truyền thống Tam Điểm gìn giữ tha thiết đến thế và đã được ướp giữ an toàn trong nghi lễ Tam Điểm, chờ đợi ngày phục sinh.
These ancient Mysteries were originally given to humanity by the Hierarchy, and were—in their turn—received [331] by the Hierarchy from the Great White Lodge on Sirius. They contain the clue to the evolutionary process, hidden in numbers and in words; they veil the secret of man's origin and destiny, picturing for him in rite and ritual the long, long path which he must tread. They provide also, when rightly interpreted and correctly presented, the teaching which humanity needs in order to progress from darkness to Light, from the unreal to the Real and from death to Immortality. Any true Mason who understands, even if only to a slight degree, the implications of that in which he participates will recognise this most ancient of Oriental prayers, giving the key to the three degrees of the Blue Lodge. I mention here the Masonic purpose because it is closely related to the restoration of the Mysteries and has held the clue—down the ages—to that long-awaited restoration, to the platform upon which the restored teaching can be based, and the structure which can express, in powerful ritual and in organised detailed rites, the history of man's moving forward upon the Path of Return.
Các Huyền Nhiệm cổ xưa này nguyên thủy đã được Thánh Đoàn ban cho nhân loại, và đến lượt mình, đã được [331] Thánh Đoàn tiếp nhận từ Thánh đoàn trên Sirius. Chúng chứa đựng manh mối của tiến trình tiến hoá, ẩn giấu trong các con số và trong ngôn từ; chúng che phủ bí mật về nguồn gốc và định mệnh của con người, phác họa cho y trong nghi thức và lễ nghi con đường dài, rất dài mà y phải bước đi. Chúng cũng cung cấp, khi được giải thích đúng đắn và trình bày chính xác, giáo huấn mà nhân loại cần để tiến từ bóng tối đến Ánh sáng, từ cái không thực đến cái Thực và từ cái chết đến Bất tử. Bất kỳ người Tam Điểm chân chính nào hiểu được, dù chỉ ở mức độ nhỏ, những hàm ý của điều mà y tham dự vào sẽ nhận ra lời cầu nguyện Đông phương cổ xưa nhất này, trao chìa khóa cho ba cấp của Blue Lodge. Tôi đề cập ở đây đến mục đích Tam Điểm vì nó liên hệ mật thiết với sự phục hồi các Huyền Nhiệm và đã nắm giữ manh mối—suốt bao thời đại—cho sự phục hồi được chờ đợi từ lâu ấy, cho nền tảng trên đó giáo huấn được phục hồi có thể được đặt cơ sở, và cho cấu trúc có thể biểu đạt, trong nghi lễ đầy quyền năng và trong các nghi thức chi tiết có tổ chức, lịch sử về sự tiến bước của con người trên Con Đường Trở Về.
The Mysteries will be restored in other ways also, for they contain much besides that which the Masonic rites can reveal or that religious rituals and ceremonies can disclose; they contain within their teaching and formulas the key to the science which will unlock the mystery of electricity—that mystery of which H.P.B. spoke; though much progress has already been made by science along this line, it is as yet only embryonic in nature, and only when the Hierarchy is present visibly on earth, and the Mysteries of which the Masters are the Custodians are given openly to man, will the true secret and nature of electrical phenomena be revealed.
Các Huyền Nhiệm cũng sẽ được phục hồi theo những cách khác, vì chúng chứa đựng nhiều điều hơn ngoài những gì các nghi thức Tam Điểm có thể tiết lộ hay những gì các nghi lễ và lễ thức tôn giáo có thể khai mở; trong giáo huấn và các công thức của chúng có chìa khóa cho khoa học sẽ mở ra bí ẩn của điện lực—bí ẩn mà H.P.B. đã nói đến; dù khoa học đã đạt được nhiều tiến bộ theo hướng này, bản chất của nó vẫn còn chỉ ở giai đoạn phôi thai, và chỉ khi Thánh Đoàn hiện diện hữu hình trên địa cầu, và các Huyền Nhiệm mà các Chân sư là những Đấng Bảo Quản được công khai ban cho con người, thì bí mật chân thực và bản chất của các hiện tượng điện mới được mặc khải.
The Mysteries are, in reality, the true source of revelation, and it can be only when the mind and the will-to-good are closely blended and conditioning human behaviour that the extent of the coming revelation will be grasped, for only then can humanity be trusted with these secrets. They concern those capacities which enable the Members of the Hierarchy to work consciously with the energies of the planet and of the solar system and to control forces within the [332] planet; they will put the ordinary psychic powers (today so stupidly approached and so little understood) in their rightful place and guide man towards their helpful usage.
Các Huyền Nhiệm, trên thực tế, là nguồn gốc chân chính của sự mặc khải, và chỉ khi trí tuệ và Ý Chí-hướng Thiện được hòa trộn chặt chẽ và tác động lên hành vi con người thì mức độ của sự mặc khải sắp đến mới được nắm bắt, vì chỉ khi ấy nhân loại mới có thể được tin cậy để giao phó những bí mật này. Chúng liên quan đến những năng lực giúp các Thành viên của Thánh Đoàn làm việc một cách hữu thức với các năng lượng của hành tinh và của hệ mặt trời và kiểm soát các mãnh lực bên trong [332] hành tinh; chúng sẽ đặt các quyền năng thông linh thông thường (ngày nay bị tiếp cận một cách ngu xuẩn và được hiểu quá ít) vào đúng vị trí của chúng và hướng dẫn con người đến việc sử dụng chúng một cách hữu ích.
The Mysteries will restore colour and music as they essentially are to the world and do it in such a manner that the creative art of today will be to this new creative art what a child's building of wooden blocks is to a great cathedral such as Durham or Milan. The Mysteries, when restored, will make real—in a sense incomprehensible to you at present—the nature of religion, the purpose of science and the goal of education. These are not what you think today.
Các Huyền Nhiệm sẽ phục hồi màu sắc và âm nhạc đúng như bản chất cốt yếu của chúng cho thế giới và thực hiện điều đó theo cách mà nghệ thuật sáng tạo ngày nay sẽ đối với nghệ thuật sáng tạo mới này như việc một đứa trẻ xây các khối gỗ so với một đại giáo đường như Durham hay Milan. Các Huyền Nhiệm, khi được phục hồi, sẽ làm cho bản chất của tôn giáo, mục đích của khoa học và mục tiêu của giáo dục trở nên thực hữu—theo một ý nghĩa hiện nay bạn không thể hiểu được. Những điều này không phải như điều các bạn nghĩ ngày nay.
The ground is being prepared at this time for this great restoration. The Churches and Masonry are today before the judgment seat of humanity's critical mind and the word has gone forth from that mass mind that both of them failed in their divinely assigned tasks. It is realised everywhere that new life must be poured in and great changes wrought in the awareness and in the training of those who work through and in these two media of truth. Those changes have not yet been carried out, for it will take a new vision and a new approach to life experience, and this only the coming generation is capable of giving; they and they alone can bring about the needed alterations and the revitalisation, but it can and will be done:
Hiện nay nền đất đang được chuẩn bị cho sự phục hồi vĩ đại này. Các Giáo hội và Tam Điểm ngày nay đang ở trước tòa phán xét của trí tuệ phê phán của nhân loại và linh từ đã phát ra từ khối tâm trí ấy rằng cả hai đều đã thất bại trong những nhiệm vụ được giao phó một cách thiêng liêng của mình. Ở khắp nơi người ta nhận ra rằng phải đổ vào một sự sống mới và phải tạo ra những thay đổi lớn trong nhận thức và trong sự huấn luyện của những người hoạt động qua và trong hai phương tiện chân lý này. Những thay đổi ấy vẫn chưa được thực hiện, vì sẽ cần một tầm nhìn mới và một cách tiếp cận mới đối với kinh nghiệm sống, và chỉ thế hệ đang đến mới có khả năng đem lại điều đó; họ và chỉ riêng họ mới có thể mang lại những thay đổi cần thiết và sự tiếp sinh lực, nhưng điều đó có thể và sẽ được thực hiện:
“That which is a mystery shall no longer be so, and that which has been veiled will now be revealed: that which has been withdrawn will emerge into the light, and all men shall see and together they shall rejoice. That time will come when desolation has wrought its beneficent work, when all things have been destroyed, and men, through suffering, have sought to be impressed by that which they had discarded in vain pursuit of that which was near at hand and easy of attainment. Possessed, it proved to be an agency of death—yet men sought life, not death.”
“Điều vốn là một huyền nhiệm sẽ không còn như thế nữa, và điều đã bị che phủ nay sẽ được mặc khải: điều đã bị rút lui sẽ xuất hiện trong ánh sáng, và mọi người sẽ thấy và cùng nhau họ sẽ hoan hỉ. Thời điểm ấy sẽ đến khi sự hoang tàn đã hoàn tất công việc từ thiện của nó, khi mọi sự đã bị hủy diệt, và con người, qua đau khổ, đã tìm cách để được ghi dấu bởi điều mà họ đã gạt bỏ trong cuộc theo đuổi vô ích cái ở ngay gần bên và dễ đạt được. Khi đã sở hữu, nó chứng tỏ là một tác nhân của cái chết—thế nhưng con người lại tìm kiếm sự sống, chứ không phải cái chết.”
So runs the Old Commentary when referring to the present cycle through which mankind is passing.
Cổ Luận viết như thế khi nói đến chu kỳ hiện tại mà nhân loại đang đi qua.
[333]
[333]
The tests for the first initiation, as far as humanity (the world disciple) is concerned, are well-nigh over and the hour of the birth of the Christ as an expression of the fourth kingdom in nature and the consummation of the work of the Fourth Creative Hierarchy is at hand. This there is no gainsaying; the birth hour may be long and the form may be “in labour” for much time, but the Christ will be born and the nature of the Christ and His consciousness will permeate and colour all human affairs. It is this condition—so imminent and so desirable and long foretold and anticipated—which will make possible the return of the Hierarchy and the restoration of the Mysteries.
Các thử thách cho lần điểm đạo thứ nhất, xét theo phương diện nhân loại (đệ tử thế gian), hầu như đã kết thúc và giờ sinh của Đức Christ như một biểu hiện của giới thứ tư trong thiên nhiên và sự hoàn tất công việc của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư đã gần kề. Không gì có thể phủ nhận điều này; giờ sinh có thể kéo dài và hình tướng có thể “chuyển dạ” trong một thời gian dài, nhưng Đức Christ sẽ được sinh ra và bản chất của Đức Christ cùng tâm thức của Ngài sẽ thấm nhuần và nhuộm màu mọi công việc của nhân loại. Chính tình trạng này—rất gần kề, rất đáng mong muốn, đã được tiên báo từ lâu và được chờ đợi—sẽ làm cho sự trở lại của Thánh Đoàn và sự phục hồi các Huyền Nhiệm trở nên khả hữu.
These occurrences are not only dependent upon the fitness of humanity to provide the right setting and upon the inevitability of evolutionary development itself, but the reappearance of the Hierarchy and that which its Members will accomplish is related also (and primarily) to the interior life and the spiritual impulses within the Hierarchy itself and unrelated to mankind altogether. The Hierarchy pursues its own line of spiritual unfoldment as a paralleling activity to its services on Earth in connection with planetary evolution. Men are so apt to regard their own lives and destiny and the unfoldment of the human consciousness as the factor of only and paramount importance upon Earth and in the evolutionary processes of the planet. These conditions are of importance, but they are not the only factors of importance, nor does humanity stand alone and isolated. Humanity occupies a midway point between the subhuman and the superhuman kingdoms, and each of these groups of evolving lives has its own important destiny—important to all contained within the group ring-pass-not. They have their own chosen and differing modes, methods and ways of achievement. Just as individual man has to learn the art or science of relationship to other men and to his environment, so humanity as a whole has to learn its relationship to that which lies above and beyond mankind and with that which is below and left behind. This involves a sense of proportion which can be attained only by the mind principle in man [334] and by those who are beginning to be mentally polarised. This sense of proportion will reveal to men their place upon the ladder of evolution and lead them to the recognition of the peculiar destiny and unique goals of other kingdoms in nature, including the fifth kingdom, the Kingdom of God, the spiritual Hierarchy of our planet.
Những biến cố này không chỉ tùy thuộc vào sự thích hợp của nhân loại trong việc cung cấp bối cảnh đúng đắn và vào tính tất yếu của chính sự phát triển tiến hoá, mà sự tái xuất hiện của Thánh Đoàn và điều mà các Thành viên của nó sẽ hoàn thành còn liên hệ nữa (và chủ yếu) đến đời sống nội tại và các xung lực tinh thần bên trong chính Thánh Đoàn và hoàn toàn không liên hệ đến nhân loại. Thánh Đoàn theo đuổi đường lối khai mở tinh thần riêng của mình như một hoạt động song hành với các phụng sự của nó trên Trái Đất liên quan đến tiến hoá hành tinh. Con người rất dễ xem đời sống và định mệnh của chính mình cùng sự khai mở của tâm thức nhân loại là yếu tố duy nhất và tối quan trọng trên Trái Đất và trong các tiến trình tiến hoá của hành tinh. Những điều kiện này là quan trọng, nhưng chúng không phải là những yếu tố quan trọng duy nhất, và nhân loại cũng không đứng một mình và cô lập. Nhân loại chiếm một điểm ở giữa giữa các giới dưới nhân loại và các giới siêu nhân loại, và mỗi nhóm sự sống đang tiến hoá này đều có định mệnh quan trọng riêng của mình—quan trọng đối với tất cả những gì được chứa trong vòng-giới-hạn của nhóm. Họ có những phương thức, phương pháp và cách thức thành tựu riêng được chọn lựa và khác biệt. Cũng như con người cá nhân phải học nghệ thuật hay khoa học về tương quan với những người khác và với môi trường của mình, thì nhân loại như một toàn thể cũng phải học mối tương quan của mình với điều nằm trên và vượt ngoài loài người và với điều ở bên dưới và bị bỏ lại phía sau. Điều này bao hàm một Ý thức về tỉ lệ mà chỉ có thể đạt được nhờ nguyên khí trí tuệ nơi con người [334] và bởi những ai đang bắt đầu phân cực trí tuệ. Ý thức về tỉ lệ này sẽ mặc khải cho con người vị trí của họ trên chiếc thang tiến hoá và dẫn họ đến sự nhận biết định mệnh đặc thù và các mục tiêu độc đáo của những giới khác trong thiên nhiên, kể cả giới thứ năm, Thiên Giới, Thánh Đoàn tinh thần của hành tinh chúng ta.
The Hierarchy is itself also at a point of spiritual crisis. Its initiates stand before the Door which leads to the Way of the Higher evolution and the entire personnel of the Hierarchy waits to make a united move forward, paralleling—on its own level—the move forward which humanity is also destined to make.
Bản thân Thánh Đoàn cũng đang ở một điểm khủng hoảng tinh thần. Các điểm đạo đồ của nó đang đứng trước Cánh Cửa dẫn đến Con đường Tiến Hóa Cao Siêu và toàn thể nhân sự của Thánh Đoàn đang chờ để thực hiện một bước tiến thống nhất, song hành—trên cấp độ riêng của mình—với bước tiến mà nhân loại cũng được định sẵn sẽ thực hiện.
But, my brothers, here is the point of interest. Under the great law of synthetic expression (called by us the Law of Synthesis, the law governing the first divine aspect) the Hierarchy must move forward in such a manner that the effort must encompass the physical plane as well as the higher planes. The activity engineered must cover the three worlds of human evolution as well as the three worlds of the Spiritual Triad. Forget not the overlapping of these two worlds which takes place upon the mental plane and warrants the well-known phrase “the five worlds of superhuman evolution.” Hence, therefore, the necessity for the externalisation of the Hierarchy and the demonstration of Their united ability to work from the physical plane up to the highest, in order to move unitedly through this Door on to the Way. Speaking symbolically, this externalisation is for the Members of the Hierarchy an act of sacrificial service, but it is also a symbolic gesture. The Hierarchy incarnates on Earth again, and for the first time since its last incarnation in Atlantean days. It is, however, a group incarnation and not the incarnation of individual Members. This is probably a subtle point too difficult for you to grasp.
Nhưng, Huynh đệ của Tôi, đây là điểm đáng chú ý. Dưới định luật vĩ đại của biểu hiện tổng hợp (được chúng tôi gọi là Định luật Tổng Hợp, định luật chi phối phương diện thiêng liêng thứ nhất), Thánh Đoàn phải tiến lên theo cách mà nỗ lực ấy phải bao trùm cõi hồng trần cũng như các cõi cao hơn. Hoạt động được điều động phải bao phủ ba cõi giới của tiến hoá nhân loại cũng như ba cõi giới của Tam Nguyên Tinh Thần. Đừng quên sự chồng lấn của hai thế giới này diễn ra trên cõi trí và là cơ sở cho cụm từ quen thuộc “năm thế giới của tiến hoá siêu nhân loại.” Vì thế, do đó, mới có sự cần thiết của việc ngoại hiện Thánh Đoàn và sự chứng minh khả năng hợp nhất của Các Ngài trong việc hoạt động từ cõi hồng trần lên đến cõi cao nhất, để cùng nhau đi qua Cánh Cửa này lên Con Đường. Nói theo biểu tượng, sự ngoại hiện này đối với các Thành viên của Thánh Đoàn là một hành vi phụng sự hi sinh, nhưng nó cũng là một cử chỉ biểu tượng. Thánh Đoàn lại nhập thể trên Trái Đất, và đây là lần đầu tiên kể từ lần nhập thể cuối cùng của nó vào thời Atlantis. Tuy nhiên, đó là một sự nhập thể theo nhóm chứ không phải sự nhập thể của các Thành viên cá biệt. Đây có lẽ là một điểm tinh tế quá khó để bạn nắm bắt.
The externalisation of the Hierarchy, therefore, and the restoration of the Mysteries, are not something done for humanity or simply carried out because men have earned a closer contact, have the right to some reward or are now so spiritual that the Hierarchy can have a good and useful time [335] helping them. The picture is entirely different. What looms with such importance in the consciousness of men is, in reality, quite secondary in relation to the hierarchical crisis which we are considering. This reappearance upon the physical plane and the consequent life of service (involving factors of profound significance to men) are an expression of the inherent spiritual impulse which is impelling hierarchical action in two directions but involving one unified movement, embracing all the five planes of superhuman evolution and necessitating a group recapitulation of incarnated process.
Vì vậy, sự ngoại hiện của Thánh Đoàn và sự phục hồi các Huyền Nhiệm không phải là điều gì được làm cho nhân loại hay chỉ được thực hiện vì con người đã xứng đáng có được một tiếp xúc gần gũi hơn, có quyền nhận một phần thưởng nào đó hay hiện nay đã quá tinh thần đến mức Thánh Đoàn có thể có một thời gian tốt đẹp và hữu ích [335] khi giúp đỡ họ. Bức tranh hoàn toàn khác. Điều hiện lên với tầm quan trọng lớn lao như thế trong tâm thức con người, trên thực tế, lại hoàn toàn thứ yếu so với cuộc khủng hoảng của Thánh Đoàn mà chúng ta đang xem xét. Sự tái xuất hiện này trên cõi hồng trần và đời sống phụng sự tất yếu theo sau đó (bao hàm những yếu tố có thâm nghĩa sâu xa đối với con người) là một biểu hiện của xung lực tinh thần cố hữu đang thúc đẩy hoạt động của Thánh Đoàn theo hai hướng nhưng bao hàm một chuyển động hợp nhất, ôm trọn cả năm cõi của tiến hoá siêu nhân loại và đòi hỏi một sự tái diễn theo nhóm của tiến trình nhập thể.
The Hierarchy has its own life and its own goals and objectives, its own evolutionary rhythm and its own spiritual expansions; these are not the same as those of the human kingdom. These goals and rhythms will become more familiar to thinking men as the Hierarchy approaches closer to the physical plane.
Thánh Đoàn có đời sống riêng, các mục tiêu và cứu cánh riêng, nhịp điệu tiến hoá riêng và các sự mở rộng tinh thần riêng; những điều này không giống với những điều của giới nhân loại. Các mục tiêu và nhịp điệu này sẽ trở nên quen thuộc hơn với những người biết suy tư khi Thánh Đoàn tiến gần hơn đến cõi hồng trần.
This inclusive and planned activity of the Hierarchy is related to spiritual incentives which have their roots in Shamballa. There the life aspect is being almost violently stimulated through the action of the Lords of Liberation Who have swept into planetary activity because of the use of the second Stanza of the great Invocation—which was used potently by Members of the Hierarchy. Again, it was not used by Them solely on behalf of humanity or for the liberation of mankind; it had hierarchical implications also and was in part a demand by the Hierarchy for permission to move along the Way. The releasing of the “saving force” because the hour of service had arrived, permitted (at the same time) the inflow of an aspect of energy which never reached humanity at all and was not intended for strictly human use, but which was retained by the Hierarchy for the vitalising into renewed livingness of the seven major Ashrams, thus enabling the entire Ashram of the Christ to lift itself on to a higher spiritual level and closer to the door which leads to Life.
Hoạt động bao gồm và có kế hoạch này của Thánh Đoàn liên hệ đến những động lực tinh thần có cội rễ trong Shamballa. Ở đó phương diện sự sống đang được kích thích gần như mãnh liệt qua hoạt động của các Đấng Giải Thoát, Các Ngài đã tràn vào hoạt động hành tinh do việc sử dụng bài kệ thứ hai của Đại Khấn Nguyện—đã được các Thành viên của Thánh Đoàn sử dụng một cách đầy quyền năng. Một lần nữa, Các Ngài không sử dụng nó chỉ riêng thay mặt cho nhân loại hay cho sự giải phóng loài người; nó cũng có những hàm ý thuộc Thánh Đoàn và một phần là lời thỉnh cầu của Thánh Đoàn xin phép được tiến bước trên Con Đường. Việc giải phóng “Mãnh Lực Cứu Rỗi” vì giờ phụng sự đã đến, đồng thời cho phép sự tuôn vào của một phương diện năng lượng chưa bao giờ chạm đến nhân loại và cũng không nhằm cho việc sử dụng thuần túy của con người, nhưng đã được Thánh Đoàn giữ lại để tiếp sinh lực thành sức sống mới cho bảy ashram chính, nhờ đó toàn thể ashram của Đức Christ có thể nâng mình lên một cấp độ tinh thần cao hơn và gần hơn với cánh cửa dẫn đến Sự sống.
These statements veil deep hierarchical mysteries and are not in any way related to the Mysteries which will concern [336] humanity when the Hierarchy is externalised. These mysteries will not be revealed to men. Only a general statement of the effects upon the Hierarchy of certain mysterious activities is permissible. They serve to show the steady pulsation of the evolutionary rhythm which permeates every atom, form, group and centre upon our planet, producing effects upon the lowest forms of existence and on and up to the very highest; there is naught anywhere but progress and a steady moving forward into clearer light and greater livingness.
Những phát biểu này che phủ các huyền nhiệm sâu xa của Thánh Đoàn và hoàn toàn không liên hệ gì đến các Huyền Nhiệm sẽ liên quan đến [336] nhân loại khi Thánh Đoàn được ngoại hiện. Những huyền nhiệm này sẽ không được mặc khải cho con người. Chỉ có thể đưa ra một phát biểu tổng quát về các hiệu quả trên Thánh Đoàn của một số hoạt động huyền bí nào đó. Chúng giúp cho thấy nhịp đập đều đặn của nhịp điệu tiến hoá đang thấm nhuần mọi nguyên tử, hình tướng, nhóm và trung tâm trên hành tinh chúng ta, tạo ra các hiệu quả trên những hình thức tồn tại thấp nhất và tiếp tục lên mãi đến những hình thức cao nhất; không nơi nào có gì ngoài sự tiến bộ và một sự tiến bước đều đặn vào ánh sáng rõ ràng hơn và sự sống động lớn lao hơn.
In these instructions I am dealing with the entire theme of initiation from its broad and general angle and from the angle of definition; it is not my intention, therefore, to duplicate here what is given in Volume II of Discipleship in the New Age. Our approach will be somewhat different in this final section of our Treatise; we will confine ourselves to the effect of the rays upon the initiate and to the relation existing between the ray energies and various initiations which I have already outlined. In this section also I do not intend to deal with the scientific awakening of the centres or with the technicalities of bringing them into the desired balance and activity. I have already given what is necessary in my various books, where a very great deal of information is given and will be found scattered through all of them. By means of this diffusion and scattering, the teaching is protected and cannot constitute a danger to the general public. Students in the immediate future will have to search out the teaching in all the many volumes and hunt most carefully for the details of the science of the centres and for information anent their nature and processes. The whole subject of the centres is dangerous if misunderstood; the centres constitute a menace when prematurely awakened or unduly energised, and this entire subject can prove most dangerous to the curiosity-impelled man and to the ignorant experimenter. The time is not yet ripe for the presentation of this subject in a fully coordinated manner; students are warned against publishing a clear correlated thesis on the subject as a result of their researches in my books. Nevertheless, [337] the true aspirant must be given the needed information.
Trong các huấn thị này tôi đang đề cập đến toàn bộ chủ đề điểm đạo từ góc độ rộng lớn và tổng quát của nó và từ góc độ định nghĩa; vì vậy, tôi không có ý định lặp lại ở đây điều đã được trình bày trong Tập II của Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới. Cách tiếp cận của chúng ta sẽ có phần khác trong phần cuối này của bộ Luận của chúng ta; chúng ta sẽ giới hạn vào hiệu quả của các cung trên điểm đạo đồ và vào mối liên hệ hiện hữu giữa các năng lượng cung và các lần điểm đạo khác nhau mà tôi đã phác họa. Trong phần này tôi cũng không có ý định đề cập đến sự thức tỉnh khoa học của các trung tâm hay các chi tiết kỹ thuật của việc đưa chúng vào sự quân bình và hoạt động mong muốn. Tôi đã đưa ra điều cần thiết trong nhiều sách khác nhau của tôi, nơi rất nhiều thông tin đã được cung cấp và sẽ thấy rải rác khắp tất cả các sách ấy. Nhờ sự phân tán và rải rác này, giáo huấn được bảo vệ và không thể trở thành một mối nguy cho công chúng nói chung. Các đạo sinh trong tương lai gần sẽ phải tìm kiếm giáo huấn trong tất cả nhiều tập sách và tra cứu hết sức cẩn thận các chi tiết của khoa học về các trung tâm và thông tin liên quan đến bản chất và các tiến trình của chúng. Toàn bộ chủ đề về các trung tâm là nguy hiểm nếu bị hiểu sai; các trung tâm tạo thành một mối đe dọa khi bị thức tỉnh quá sớm hay được nạp năng lượng quá mức, và toàn bộ chủ đề này có thể chứng tỏ là cực kỳ nguy hiểm đối với người bị thúc đẩy bởi tính tò mò và đối với kẻ thực nghiệm vô minh. Thời điểm vẫn chưa chín muồi để trình bày chủ đề này theo một cách hoàn toàn phối hợp; các đạo sinh được cảnh báo đừng công bố một luận đề rõ ràng và có tương quan về chủ đề này như kết quả của việc nghiên cứu trong các sách của tôi. Tuy nhiên, [337] người chí nguyện chân chính phải được trao thông tin cần thiết.
The Mysteries are revealed not primarily by the reception of information anent them and their processes, but by the action of certain processes, carried out within the etheric body of the disciple; these enable him to know that which is hidden; they put him in possession of a mechanism of revelation and make him aware of certain radiatory and magnetic powers or energies within himself which constitute channels of activity and modes whereby he may acquire that which it is the privilege of the initiate to own and to use.
Các Huyền Nhiệm được mặc khải không chủ yếu bằng việc tiếp nhận thông tin liên quan đến chúng và các tiến trình của chúng, mà bằng hoạt động của một số tiến trình nhất định, được thực hiện bên trong thể dĩ thái của đệ tử; những tiến trình này giúp y biết điều bị che giấu; chúng đặt y vào quyền sở hữu một bộ máy mặc khải và làm cho y nhận biết một số quyền năng hay năng lượng phóng xạ và từ tính nào đó bên trong chính mình, những thứ cấu thành các kênh hoạt động và các phương thức nhờ đó y có thể đạt được điều mà điểm đạo đồ có đặc ân sở hữu và sử dụng.
The disciple upon the Probationary Path starts off on his quest for the door of initiation, and for that which he will contact after passing through that door, with a definite equipment and created mechanism. This has been acquired, and facility in its use has been attained, through many cycles of incarnation. An incarnation is a definitely determined period (from the angle of the soul) wherein Experiment, Experience and Expression are the keynotes in each incarnation. Each successive incarnation continues the experiment, deepens the experience and relates the expression more closely to the latent unfolding divinity.
Đệ tử trên Con Đường Dự Bị khởi hành trong cuộc tìm kiếm cánh cửa điểm đạo, và điều mà y sẽ tiếp xúc sau khi đi qua cánh cửa ấy, với một trang bị xác định và một bộ máy đã được tạo dựng. Điều này đã được thủ đắc, và sự thành thạo trong việc sử dụng nó đã đạt được qua nhiều chu kỳ nhập thể. Một lần nhập thể là một giai đoạn được xác định rõ ràng (xét từ góc độ linh hồn) trong đó Thử nghiệm, Kinh nghiệm và Biểu hiện là các chủ âm trong mỗi lần nhập thể. Mỗi lần nhập thể kế tiếp tiếp tục cuộc thử nghiệm, đào sâu kinh nghiệm và liên hệ biểu hiện chặt chẽ hơn với thiên tính tiềm ẩn đang khai mở.
The same three words—in greatly enhanced interpretation and with the emphasis upon a much fuller opportunity—can be used to describe the progress of the initiate upon the final stages of the Path; with this we shall be partly engaged in this section. I would ask you, whilst reading and pondering upon all that I say, to have these three words in mind. Every initiation is approached by the disciple or initiate in a spirit of divine experimentation, but with a scientific aspect, because an initiation is a culminating moment of achievement, and success is a graded series of experiments with energy.
Ba từ ấy—với cách giải thích được nâng cao rất nhiều và với sự nhấn mạnh vào một cơ hội đầy đủ hơn nhiều—cũng có thể được dùng để mô tả sự tiến bộ của điểm đạo đồ trên các giai đoạn cuối cùng của Con Đường; với điều này chúng ta sẽ phần nào bận tâm trong phần này. Tôi muốn yêu cầu các bạn, trong khi đọc và suy ngẫm về tất cả những gì tôi nói, hãy ghi nhớ ba từ này. Mỗi lần điểm đạo đều được đệ tử hay điểm đạo đồ tiếp cận trong tinh thần thử nghiệm thiêng liêng, nhưng với một phương diện khoa học, vì một lần điểm đạo là một khoảnh khắc thành tựu cao điểm, và thành công là một chuỗi thử nghiệm có cấp bậc với năng lượng.
Having garnered the fruit of the experiment above indicated, there follows a certain period wherein experience in the use of the related potencies tales place. This occupies the interlude between one initiation and another. This may cover a period of many lives or prove relatively short. The results of the experiment of initiation and of experience [338] with the then endowed energies emerge as the ability of the initiate to express divinity more fully than heretofore; this means that he increasingly can function as a divine creator in relation to the hierarchical Plan, as the manipulator of the attractive energies of love, and as one who determines under the impelling will of Shamballa—the phase or aspect of the divine purpose with which he must himself be occupied in relation to the manifestation of the planetary Logos. You will note that I do not say in relation to humanity. The initiate works in many fields of divine creativity of which the field of mankind is only one.
Sau khi đã gặt hái thành quả của cuộc thử nghiệm nêu trên, sẽ tiếp theo một giai đoạn nhất định trong đó diễn ra kinh nghiệm trong việc sử dụng các tiềm năng liên hệ. Điều này chiếm khoảng thời gian giữa một lần điểm đạo và lần kế tiếp. Nó có thể bao trùm một thời kỳ của nhiều kiếp sống hoặc tương đối ngắn. Các kết quả của cuộc thử nghiệm điểm đạo và của kinh nghiệm [338] với các năng lượng được ban cho khi ấy xuất hiện như khả năng của điểm đạo đồ biểu hiện thiên tính đầy đủ hơn trước đây; điều này có nghĩa là y ngày càng có thể hoạt động như một đấng kiến tạo thiêng liêng trong mối liên hệ với Thiên Cơ của Thánh Đoàn, như người điều khiển các năng lượng hấp dẫn của bác ái, và như người xác định—dưới Ý Chí thúc đẩy của Shamballa—giai đoạn hay phương diện của Thiên Ý mà chính y phải bận tâm đến trong mối liên hệ với sự biểu hiện của Hành Tinh Thượng đế. Bạn sẽ lưu ý rằng tôi không nói trong mối liên hệ với nhân loại. Điểm đạo đồ hoạt động trong nhiều lĩnh vực sáng tạo thiêng liêng mà lĩnh vực nhân loại chỉ là một.
These three words will therefore indicate the first type of approach to our subject; what I have to say will therefore, in every case, have them in mind.
Vì vậy, ba từ này sẽ chỉ ra loại tiếp cận thứ nhất đối với chủ đề của chúng ta; do đó, trong mọi trường hợp, điều tôi phải nói sẽ ghi nhớ chúng.
Secondly, I would have you consider with me the various aspects of our sectional theme from the angle of the seven rays. By this I mean that disciples upon the different rays will all have the same goal, make the same experiments, go through the same experience and arrive equally at divine expression. However, their qualities and their modes of approach, their reactions and their distinctive natures will differ according to their ray type; this constitutes a most interesting and little known phase of our study of initiation. Initiation has been a blanket happening, and no note has been made of the ray implications. This I propose to remedy.
Thứ hai, tôi muốn các bạn cùng tôi xem xét các phương diện khác nhau của chủ đề từng phần của chúng ta từ góc độ bảy cung. Ý tôi là các đệ tử trên những cung khác nhau đều sẽ có cùng một mục tiêu, thực hiện cùng những thử nghiệm, trải qua cùng kinh nghiệm và đạt đến biểu hiện thiêng liêng như nhau. Tuy nhiên, các phẩm tính và phương thức tiếp cận của họ, các phản ứng và bản chất đặc thù của họ sẽ khác nhau tùy theo loại cung của họ; điều này tạo thành một giai đoạn rất thú vị và ít được biết đến trong nghiên cứu của chúng ta về điểm đạo. Điểm đạo đã được xem như một biến cố bao trùm chung, và không có ghi nhận nào về các hàm ý của cung. Đây là điều tôi đề nghị sửa chữa.
Each of the seven initiations, for instance, is an exemplification or a revealer of one of the seven ray qualities or tendencies; it is governed and conditioned always by a certain ray, and this is one of the factors which disciples have to learn and grasp whilst preparing for an initiation, because it involves success in handling and manipulating certain types of divine energy.
Chẳng hạn, mỗi một trong bảy lần điểm đạo là một sự minh họa hay một sự mặc khải một trong bảy phẩm tính hay khuynh hướng của cung; nó luôn luôn được chi phối và tác động bởi một cung nhất định, và đây là một trong những yếu tố mà các đệ tử phải học và nắm bắt trong khi chuẩn bị cho một lần điểm đạo, vì nó bao hàm sự thành công trong việc xử lý và điều khiển một số loại năng lượng thiêng liêng nhất định.
Each of the initiations brings one or other of the seven centres into full functioning activity, not from the angle of awakening or of stimulation, but from the angle of a “wheel turning upon itself.” This is an Old Testament expression [339] and is wholly inadequate, but I can find none other to substitute. The wording is totally blind and inadequate and will prove to you somewhat meaningless, except to the initiate who has experienced that turning.
Mỗi lần điểm đạo đưa một hay một trung tâm khác trong bảy trung tâm vào hoạt động đầy đủ, không phải từ góc độ thức tỉnh hay kích thích, mà từ góc độ của một “bánh xe tự quay trên chính nó.” Đây là một cách diễn đạt của Cựu Ước [339] và hoàn toàn không đầy đủ, nhưng tôi không thể tìm được cách nào khác để thay thế. Cách diễn đạt ấy hoàn toàn mù mờ và không đầy đủ và sẽ có vẻ phần nào vô nghĩa đối với bạn, ngoại trừ đối với điểm đạo đồ đã kinh nghiệm sự quay ấy.
As esoteric astrologers know well, there comes a life cycle wherein the disciple reverses himself upon the Wheel of Life (the zodiacal wheel) and from going clockwise around the zodiac, he now begins to go anti-clockwise; he learns that the substance aspect of his nature may still be conditioned by the forces flowing through them sequentially and serially, and according to his horoscope and according to the exoteric mode of the zodiacal revolution; at the same time, the disciple is receiving energy currents from the reversed wheel whereon he, as a soul, finds himself. He is consequently the recipient of two currents of energy, going in reverse directions; hence the increased conflict in his life and circumstances; these constitute the reason for the tests of initiation.
Như các nhà chiêm tinh học nội môn đều biết rõ, có một chu kỳ sống trong đó đệ tử tự đảo ngược mình trên Bánh Xe Sự Sống (bánh xe hoàng đạo) và từ chỗ đi theo chiều kim đồng hồ quanh hoàng đạo, y nay bắt đầu đi ngược chiều kim đồng hồ; y học rằng phương diện chất liệu của bản chất mình vẫn có thể bị tác động bởi các mãnh lực tuần tự và liên tiếp chảy qua chúng, và theo lá số chiêm tinh của y và theo phương thức ngoại môn của cuộc vận hành hoàng đạo; đồng thời, đệ tử đang tiếp nhận các dòng năng lượng từ bánh xe đảo ngược mà trên đó y, như một linh hồn, đang hiện diện. Do đó y là người tiếp nhận hai dòng năng lượng đi theo hai hướng ngược nhau; vì thế xung đột trong đời sống và hoàn cảnh của y gia tăng; đó là lý do của các thử thách điểm đạo.
This, on a tiny scale, is true of the centres in the etheric body of the disciple; they too evidence the same dual activity, once the Path of Discipleship is trodden and the Path of Initiation is entered. The zodiacal wheel is itself essentially a cosmic centre; it is a twelve-petalled lotus, but it is a twelve-petalled lotus within the thousand-petalled lotus of an unknown cosmic Entity, the One referred to in my earlier books as the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID.
Điều này, trên một quy mô rất nhỏ, cũng đúng với các trung tâm trong thể dĩ thái của đệ tử; chúng cũng biểu lộ cùng một hoạt động nhị nguyên ấy, một khi Con Đường Đệ Tử được bước đi và Con Đường Điểm Đạo được đi vào. Bản thân bánh xe hoàng đạo về cốt yếu là một trung tâm vũ trụ; nó là một hoa sen mười hai cánh, nhưng là một hoa sen mười hai cánh nằm trong hoa sen ngàn cánh của một Thực Thể vũ trụ chưa được biết đến, Đấng đã được nhắc đến trong các sách trước đây của tôi là Đấng Bất Khả Tư Nghị.
The multiplicity of zodiacal influences have eventually a dual effect: one upon Shamballa (the planetary head centre) and the other upon the Hierarchy (the planetary heart centre); the effect is also felt in the head centre and the heart centre of every initiate. This final dual activity is registered by the initiate of the highest degrees when he undergoes the eighth and ninth initiations; the other seven initiations are governed by the seven rays.
Tính đa tạp của các ảnh hưởng hoàng đạo cuối cùng có một hiệu quả nhị nguyên: một trên Shamballa (trung tâm đầu hành tinh) và một trên Thánh Đoàn (trung tâm tim hành tinh); hiệu quả ấy cũng được cảm nhận trong trung tâm đầu và trung tâm tim của mọi điểm đạo đồ. Hoạt động nhị nguyên cuối cùng này được điểm đạo đồ của các cấp cao nhất ghi nhận khi y trải qua lần điểm đạo thứ tám và thứ chín; bảy lần điểm đạo kia được chi phối bởi bảy cung.
You have, therefore: [340]
Vì vậy, các bạn có: [340]
Initiation 1. Birth
Điểm đạo 1. Giáng sinh
Sacral centre..... 7th ray............. Physical plane
Trung tâm xương cùng..... cung bảy............. cõi hồng trần
Beginnings.... Relationship... Sex Magic
Khởi đầu.... Tương quan... Ma thuật tính dục
Initiation 2. Baptism
Điểm đạo 2. Rửa tội
Solar plexus centre.6th ray............. Astral plane
Trung tâm tùng thái dương.. cung sáu............. cõi cảm dục
Dedication.....Glamour......Devotion
Hiến dâng..... Ảo cảm...... Sùng tín
Initiation 3. Transfiguration
Điểm đạo 3. Biến hình
Ajna centre..... 5th ray..............Mental plane
Trung tâm ajna..... cung năm.............. cõi trí
Integration.....Direction......Science
Tích hợp..... Định hướng...... Khoa học
Initiation 4. Renunciation
Điểm đạo 4. Từ bỏ
Heart centre..... 4th ray............. Buddhic plane
Trung tâm tim..... cung bốn.............. cõi Bồ đề
Crucifixion.... Sacrifice......Harmony
Đóng đinh..... Hi sinh...... Hài hòa
Initiation 5. Revelation
Điểm đạo 5. Mặc khải
Base of spine.... 1st ray..............Atmic plane
Đáy cột sống.... cung một.............. cõi atma
Emergence.... Will..........Purpose
Xuất hiện..... Ý chí......... Mục đích
Initiation 6. Decision
Điểm đạo 6. Quyết định
Throat centre.... 3rd ray............. Monadic plane
Trung tâm cổ họng.... cung ba............. cõi chân thần
Fixation... Intelligent cooperation.. Creativity
Cố định..... Hợp tác thông minh... Sáng tạo
Initiation 7. Resurrection
Điểm đạo 7. Phục sinh
Head centre..... 2nd ray..............Logoic plane
Trung tâm đầu..... cung hai.............. cõi logoi
The Etern
Cõi Vĩnh Cửu
Pilgrim...... Love-Wisdom....Attraction
Người hành hương..... Bác Ái – Minh Triết.... Hấp dẫn
Initiation 8. Transition
Điểm đạo 8. Chuyển tiếp
Hierarchy.... Four minor rays......... Planetary
Thánh Đoàn.... bốn cung phụ.......... hành tinh
Choice..... Consciousness.... Sensitivity
Lựa chọn..... Tâm thức...... Tính nhạy cảm
Initiation 9. Refusal
Điểm đạo 9. Khước từ
Shamballa... Three major rays.......Systemic
Shamballa.... ba cung chính......... hệ thống
Seven Paths.. Being........... Existence
Bảy Con Đường... Bản thể......... Hiện hữu
It will not be possible for you to comprehend the synthesis which governs the four final initiations, and for these experiences we have as yet no adequate language. All that is possible is to indicate certain spiritual trends and tendencies and—as this section is written primarily for those who have taken or who are preparing to take one or other of the initiations—I can only hope that some meaning will be conveyed to those persons who are ready.
Các bạn sẽ không thể hiểu được sự tổng hợp chi phối bốn lần điểm đạo cuối cùng, và đối với những kinh nghiệm này hiện chúng ta chưa có ngôn ngữ thích đáng. Tất cả những gì có thể làm là chỉ ra một số xu hướng và khuynh hướng tinh thần nào đó và—vì phần này được viết chủ yếu cho những ai đã trải qua hoặc đang chuẩn bị trải qua một hay một lần điểm đạo khác—tôi chỉ có thể hy vọng rằng một phần ý nghĩa nào đó sẽ được truyền đạt đến những người đã sẵn sàng.
A careful study of the above tabulation should give you [341] a somewhat different idea anent the whole subject of initiation. The concept which has to supersede the one at present extant is that of group initiation, and not that of the initiation of an individual aspirant. In the past, and in order to get the idea of initiation into the minds of the people, the Hierarchy chose the mode (now obsolete) of holding out the prospect of initiation before the earnest disciple; upon this they placed an early emphasis of its peculiarity, its rewarding nature, its ritual and ceremonies, and its place in the scale of evolution. Since the fact of initiation had been grasped by many and achieved by some, it has become possible today to reveal what has always been implied, that initiation is a group event. If clear thinking had taken the place of a selfish individual aspiration, the fact of group initiation would have been obvious and for the following reasons, inherent and implied in the whole situation:
Một sự nghiên cứu cẩn thận bảng liệt kê trên sẽ đem lại cho các bạn [341] một ý niệm phần nào khác về toàn bộ chủ đề điểm đạo. Khái niệm phải thay thế khái niệm hiện đang tồn tại là khái niệm điểm đạo theo nhóm, chứ không phải điểm đạo của một người chí nguyện cá nhân. Trong quá khứ, và để đưa ý niệm điểm đạo vào tâm trí quần chúng, Thánh Đoàn đã chọn phương thức (nay đã lỗi thời) là đưa ra viễn cảnh điểm đạo trước mắt đệ tử tha thiết; trên điều này họ đã sớm nhấn mạnh tính đặc thù của nó, tính chất ban thưởng của nó, nghi lễ và lễ thức của nó, và vị trí của nó trên thang tiến hoá. Vì sự kiện điểm đạo đã được nhiều người nắm bắt và một số người đạt được, ngày nay có thể mặc khải điều vốn luôn được hàm ý, rằng điểm đạo là một biến cố theo nhóm. Nếu tư duy sáng suốt đã thay thế khát vọng cá nhân ích kỷ, thì sự kiện điểm đạo theo nhóm hẳn đã hiển nhiên vì những lý do sau đây, vốn cố hữu và hàm ý trong toàn bộ tình huống:
1. The soul—in its own nature—is group conscious and has no individual ambitions or individual interests, and is not at all interested in the aims of its personality. It is the soul which is the initiate. Initiation is a process whereby the spiritual man within the personality becomes aware of himself as the soul, with soul powers, soul relationships, and soul purpose. The moment a man realises this, even in a small measure, it is the group of which he is conscious.
1. Linh hồn—trong chính bản chất của nó—có tâm thức nhóm và không có tham vọng cá nhân hay lợi ích cá nhân nào, và hoàn toàn không quan tâm đến các mục tiêu của phàm ngã của nó. Chính linh hồn là điểm đạo đồ. Điểm đạo là một tiến trình nhờ đó con người tinh thần bên trong phàm ngã trở nên nhận biết chính mình như linh hồn, với các quyền năng của linh hồn, các tương quan của linh hồn, và mục đích của linh hồn. Ngay khi một người chứng nghiệm điều này, dù chỉ ở mức nhỏ, thì điều y có tâm thức về là nhóm.
2. Only the man whose sense of identity is beginning to expand and become inclusive can “take initiation” (as it is erroneously termed). If initiation were a purely personal achievement, it would throw the man back into the separative consciousness, out of which he is endeavouring to escape. This would not be spiritual progression. Every step upon the Path of Initiation increases group recognition. Initiation is essentially an expanding series of inclusive recognitions.
2. Chỉ người nào mà cảm thức về bản sắc đang bắt đầu mở rộng và trở nên bao gồm mới có thể “điểm đạo” (như cách gọi sai lầm ấy). Nếu điểm đạo là một thành tựu thuần túy cá nhân, nó sẽ đẩy con người trở lại tâm thức phân ly, ra khỏi điều mà y đang cố gắng thoát khỏi. Điều đó sẽ không phải là tiến bộ tinh thần. Mỗi bước trên Con Đường Điểm Đạo đều gia tăng sự nhận biết nhóm. Điểm đạo về cốt yếu là một chuỗi mở rộng của những sự nhận biết bao gồm.
3. Initiation admits the aspirant into membership in the Hierarchy. This involves, speaking esoterically, the relinquishing of all separative personality reactions in a series of progressive renunciations; these culminate [342] in the fourth initiation, and are again mysteriously emphasised at the ninth initiation.
3. Điểm đạo thừa nhận người chí nguyện vào tư cách thành viên trong Thánh Đoàn. Điều này bao hàm, nói theo huyền bí học, việc từ bỏ mọi phản ứng phàm ngã phân ly trong một chuỗi từ bỏ tiến bộ; những sự từ bỏ này lên đến đỉnh điểm [342] ở lần điểm đạo thứ tư, và lại được nhấn mạnh một cách huyền bí ở lần điểm đạo thứ chín.
It dawns on the initiate, as he proceeds from one initiation to another, that each time he moves forward on the path or penetrates into the heart of the Mysteries in company with those who are as he is, who share with him the same point in evolution, and who are working with him towards the same goal, that he is not alone; that it is a joint effort that is being made. This is in fact the keynote of an Ashram, conditioning its formation. It is composed of disciples and initiates at various stages of initiate-unfoldment who have arrived at their point of ashramic consciousness together, and who will proceed together until they arrive at that complete liberation which comes when the cosmic physical plane drops below the threshold of consciousness or of sensitive awareness and no longer holds any point of interest for the initiate.
Khi điểm đạo đồ tiến từ lần điểm đạo này sang lần khác, y dần nhận ra rằng mỗi lần y tiến bước trên con đường hay thâm nhập vào trái tim của các Huyền Nhiệm trong sự đồng hành với những người giống như y, những người cùng chia sẻ với y cùng một điểm tiến hoá, và đang cùng y làm việc hướng tới cùng một mục tiêu, thì y không đơn độc; đó là một nỗ lực chung đang được thực hiện. Thực ra đây là chủ âm của một ashram, tác động lên sự hình thành của nó. Nó được cấu thành bởi các đệ tử và điểm đạo đồ ở nhiều giai đoạn khai mở điểm đạo khác nhau, những người đã cùng nhau đạt đến điểm tâm thức ashram của mình, và sẽ cùng nhau tiến bước cho đến khi đạt đến sự giải thoát hoàn toàn đến khi cõi hồng trần vũ trụ rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức hay nhận biết nhạy cảm và không còn giữ bất kỳ điểm quan tâm nào đối với điểm đạo đồ nữa.
This is one of the new factors in hierarchical methods and techniques which I have had the responsibility of bringing to public attention, and so correcting the erroneous teaching of those trained under orthodox (so called) schools of occultism. The Master K.H., in one of the few (the very few) paragraphs in The Mahatma Letters which are genuine and not simply the work of H.P.B., gave a hint to aspirants of that time when He said that so many of them were so “spiritually selfish.” This spiritual selfishness has led the average esoteric student to appropriate initiation and to make it personal and individual. Yet one of the prime prerequisites for initiation is a clear and concise recognition of one's own group, not through a process of wishful thinking, but through factual cooperation and work upon the physical plane. I said group, my brother, and not organisation, for they are two very different things.
Đây là một trong những yếu tố mới trong các phương pháp và kỹ thuật của Thánh Đoàn mà tôi có trách nhiệm đưa ra trước sự chú ý của công chúng, và nhờ đó sửa chữa giáo huấn sai lầm của những người được đào luyện dưới các trường phái huyền bí học chính thống (cái gọi là như vậy). Chân sư KH, trong một trong số ít (rất ít) đoạn văn trong The Mahatma Letters là chân thực chứ không chỉ đơn giản là công trình của H.P.B., đã gợi ý cho những người chí nguyện thời ấy khi Ngài nói rằng rất nhiều người trong số họ quá “ích kỷ về mặt tinh thần.” Sự ích kỷ tinh thần này đã khiến đạo sinh huyền bí học trung bình chiếm hữu điểm đạo và biến nó thành điều cá nhân và riêng lẻ. Tuy nhiên, một trong những điều kiện tiên quyết hàng đầu cho điểm đạo là một sự nhận biết rõ ràng và súc tích về nhóm riêng của mình, không phải qua một tiến trình mơ tưởng, mà qua sự hợp tác và công việc thực tế trên cõi hồng trần. Tôi nói nhóm, Huynh đệ của Tôi, chứ không phải tổ chức, vì đó là hai điều rất khác nhau.
Have carefully in mind, therefore, the fact of group initiation, and forego the process of considered thought anent your preparation for initiation. Some groups are being prepared for initiation in which the following factors control—as far as the individual is concerned: [343]
Vì vậy, hãy ghi nhớ cẩn thận sự kiện điểm đạo theo nhóm, và từ bỏ tiến trình suy nghĩ cân nhắc liên quan đến sự chuẩn bị của riêng bạn cho điểm đạo. Một số nhóm đang được chuẩn bị cho điểm đạo trong đó các yếu tố sau đây chi phối—xét theo phương diện cá nhân: [343]
1. A group of men and women whose souls are on some one ray are gathered together subjectively by a Master on the same ray, for group training.
1. Một nhóm những người nam và nữ có các linh hồn thuộc một cung nào đó được một Chân sư trên cùng cung tập hợp lại một cách chủ quan để huấn luyện theo nhóm.
2. Opportunity is given to such people to contact on the physical plane some of those who are thus subjectively linked, and thus mutually convey a sense of group solidarity. The subjective relationship is assured by an objective contact. Recognition is therefore a preliminary test of initiation, and this should be remembered.
2. Cơ hội được trao cho những người ấy để tiếp xúc trên cõi hồng trần với một số người trong những người được liên kết chủ quan như thế, và nhờ đó cùng nhau truyền đạt một cảm thức về sự đoàn kết nhóm. Mối liên hệ chủ quan được bảo đảm bằng một tiếp xúc khách quan. Vì vậy, sự nhận biết là một thử thách sơ bộ của điểm đạo, và điều này cần được ghi nhớ.
3. Such people thus being trained and related are, from the angle of the initiation to be taken, at the same point in evolution. They are taking the same initiation and are being subjected to the same tests and difficulties. These tests and difficulties are due to the fact of the personality ray which may be (and usually is) quite different to the soul ray. It is the personality ray which works to prevent contact, to mislead in recognition, to retard progress and to misinterpret information. As long as a disciple in training is focussed in his personality, group initiation will not be possible for him, his recognition of co-aspirants will be fleeting and rapidly disturbed by the critical lower mind, and a wall of thoughtforms, created by the personality, anent the group members, will be thrown up and prevent a united moving forward through the Door of Initiation.
3. Những người được huấn luyện và liên hệ như thế, xét từ góc độ của lần điểm đạo sẽ được trải qua, đang ở cùng một điểm tiến hoá. Họ đang trải qua cùng một lần điểm đạo và đang chịu cùng những thử thách và khó khăn. Những thử thách và khó khăn này là do sự kiện của cung phàm ngã, có thể là (và thường là) hoàn toàn khác với cung linh hồn. Chính cung phàm ngã hoạt động để ngăn cản tiếp xúc, làm sai lệch sự nhận biết, trì hoãn tiến bộ và hiểu sai thông tin. Chừng nào một đệ tử đang được huấn luyện còn tập trung trong phàm ngã của mình, điểm đạo theo nhóm sẽ không thể có đối với y, sự nhận biết của y về các người chí nguyện đồng hành sẽ thoáng qua và nhanh chóng bị hạ trí phê phán làm xáo trộn, và một bức tường các hình tư tưởng, do phàm ngã tạo ra, liên quan đến các thành viên trong nhóm, sẽ được dựng lên và ngăn cản một sự tiến bước hợp nhất qua Cánh Cửa Điểm Đạo.
4. Group initiation cannot be achieved by a group in training until the members, as a group, have developed their particular “spiritual enterprise.” It is the law of the spirit that the disciple must appear before the Initiator empty-handed, but that in group formation the group members unitedly contribute something to the enrichment of the Ashram. This may take the form of some considered project in line with the Plan, whereby they testify to their comprehension of that Plan and demonstrate to the initiate-company in which they find themselves, and those senior disciples to whose contact they are to be admitted, that they have already proven their fitness for acceptance and have proven it along the line of service. It has to be a group [344] enterprise, a group service and a group contribution. The specific contribution of the individual does not appear.
4. Điểm đạo theo nhóm không thể được một nhóm đang huấn luyện đạt tới cho đến khi các thành viên, với tư cách một nhóm, đã phát triển “doanh nghiệp tinh thần” đặc thù của họ. Đó là định luật của tinh thần rằng đệ tử phải xuất hiện trước Đấng Điểm đạo với hai bàn tay trắng, nhưng trong sự hình thành nhóm, các thành viên nhóm cùng nhau đóng góp một điều gì đó cho sự làm phong phú ashram. Điều này có thể mang hình thức của một dự án được suy xét kỹ lưỡng phù hợp với Thiên Cơ, nhờ đó họ làm chứng cho sự thấu hiểu của mình về Thiên Cơ ấy và chứng minh cho đoàn thể điểm đạo đồ mà họ đang hiện diện trong đó, và cho những đệ tử cao cấp hơn mà họ sẽ được thừa nhận tiếp xúc, rằng họ đã chứng tỏ được sự thích hợp để được chấp nhận và đã chứng tỏ điều đó theo đường lối phụng sự. Nó phải là một công việc [344] theo nhóm, một phụng sự theo nhóm và một đóng góp theo nhóm. Đóng góp đặc thù của cá nhân không xuất hiện.
This thought of group initiation must be remembered, for it will colour all that I shall seek to convey to your minds and will hasten the day of your own acceptance.
Tư tưởng về điểm đạo theo nhóm này phải được ghi nhớ, vì nó sẽ nhuộm màu tất cả những gì tôi sẽ tìm cách truyền đạt đến tâm trí các bạn và sẽ thúc đẩy ngày được chấp nhận của chính các bạn.
No one is admitted (through the processes of initiation) into the Ashram of the Christ (the Hierarchy) until such time as he is beginning to think and live in terms of group relationships and group activities. Some well-meaning aspirants interpret the group idea as the instruction to them that they should make an effort to form groups—their own group or groups. This is not the idea as it is presented in the Aquarian Age, so close today; it was the mode of approach during the Piscean Age, now passed. Today, the entire approach is totally different. No man today is expected to stand at the centre of his little world and work to become a focal point for a group. His task now is to discover the group of aspirants with which he should affiliate himself and with whom he must travel upon the Path of Initiation—a very different matter and a far more difficult one. He needs to bear in mind the meaning of the following words from the Archives of the Masters, given in question and answer form. The questions are addressed to the neophyte who is getting his first glimpse of group relations leading to group initiation:
Không ai được thừa nhận (qua các tiến trình điểm đạo) vào ashram của Đức Christ (Thánh Đoàn) cho đến khi y bắt đầu suy nghĩ và sống theo các tương quan nhóm và các hoạt động nhóm. Một số người chí nguyện thiện chí diễn giải ý niệm nhóm như một chỉ thị dành cho họ rằng họ nên nỗ lực hình thành các nhóm—nhóm riêng của họ hay các nhóm. Đây không phải là ý niệm như nó được trình bày trong Kỷ nguyên Bảo Bình, hiện nay đã rất gần; đó đã từng là phương thức tiếp cận trong Kỷ nguyên Song Ngư, nay đã qua. Ngày nay, toàn bộ cách tiếp cận hoàn toàn khác. Không người nào ngày nay được mong đợi đứng ở trung tâm thế giới nhỏ bé của mình và làm việc để trở thành một tiêu điểm cho một nhóm. Nhiệm vụ của y hiện nay là khám phá nhóm người chí nguyện mà y nên liên kết với và cùng với họ y phải du hành trên Con Đường Điểm Đạo—một vấn đề rất khác và khó khăn hơn nhiều. Y cần ghi nhớ ý nghĩa của những lời sau đây từ Văn Khố của các Chân sư, được đưa ra dưới hình thức hỏi và đáp. Các câu hỏi được gửi đến người sơ cơ đang có cái thoáng nhìn đầu tiên về các tương quan nhóm dẫn đến điểm đạo theo nhóm:
“And dost thou see the Door, O Chela in the light?
“Và ngươi có thấy Cánh Cửa chăng, hỡi Đệ tử trong ánh sáng?
I see the door and hear a calling voice. What should I do, O Master of my life?
Con thấy cánh cửa và nghe một tiếng gọi. Con nên làm gì, hỡi Chân sư của đời con?
Go through that Door and waste not time in backward glances at the road just trodden. Go forward into light.
Hãy đi qua Cánh Cửa ấy và đừng phí thời gian ngoái nhìn lại con đường vừa bước qua. Hãy tiến vào ánh sáng.
The door is far too narrow, O Master of my life. I fear I cannot pass. [345]
Cánh cửa quá hẹp, hỡi Chân sư của đời con. Con sợ mình không thể đi qua. [345]
Go closer to the Door and take the hand in thine of another pilgrim on the way of life. Go closer to the Door; seek not to enter it alone.
Hãy đến gần Cánh Cửa hơn và nắm trong tay con bàn tay của một người hành hương khác trên đường đời. Hãy đến gần Cánh Cửa hơn; đừng tìm cách đi vào đó một mình.
I cannot see the door, now that I grasp the hand of the brother on the right and the brother on the left. I seem surrounded by the pilgrims on the way. Alike they seem, their note is one; they seem like unto me, and press around on every side. I cannot see the door.
Con không thể thấy cánh cửa nữa, giờ đây khi con nắm bàn tay của huynh đệ bên phải và huynh đệ bên trái. Dường như con bị bao quanh bởi những người hành hương trên đường. Họ có vẻ giống nhau, âm điệu của họ là một; họ dường như giống như con, và chen quanh con từ mọi phía. Con không thể thấy cánh cửa.
Move forward on the Path, O pilgrim in the light, and stand together, hand in hand, before the Door of Light. What seest thou?
Hãy tiến bước trên Con Đường, hỡi người hành hương trong ánh sáng, và hãy cùng đứng, tay trong tay, trước Cánh Cửa Ánh Sáng. Ngươi thấy gì?
The door again appears, and wide it seems, not narrow as before. What was that I saw before? It was not like the door which now confronts this band of brothers as we stand together on the Path.
Cánh cửa lại hiện ra, và dường như rộng, không hẹp như trước. Điều gì là cái mà trước đây con đã thấy? Nó không giống cánh cửa hiện đang đối diện nhóm huynh đệ này khi chúng con cùng đứng trên Con Đường.
The door you saw before was a figment of your mind; a thoughtform of your separative creation, something that cuts you off from truth—too narrow for your passing yet full of wrong allure. Only the man who holds his brother's hand can see the Door in truth; only the man, surrounded by the many who are one, can enter the Door which shuts itself upon the man who seeks to enter it alone.”
Cánh cửa mà trước đây con thấy là một ảo ảnh của trí tuệ con; một hình tư tưởng do sự sáng tạo phân ly của con tạo ra, một điều gì đó cắt con khỏi chân lý—quá hẹp để con đi qua nhưng lại đầy sức quyến rũ sai lầm. Chỉ người nắm tay huynh đệ mình mới có thể thấy Cánh Cửa trong chân lý; chỉ người, được bao quanh bởi số đông là một, mới có thể đi vào Cánh Cửa, cánh cửa tự khép lại trước người tìm cách đi vào một mình.”
In Lemurian days, initiates entered alone and one by one, and then only a few managed to attain the goal and one at a time were admitted to the Mysteries. In Atlantean times, when the Door of Initiation stood wide open, the aspirants to the Mysteries were admitted in groups of seven, but had not contacted their fellow group members in physical consciousness; the emphasis was still (during the training period) upon individual attainment and achievement. Today, so rapidly is man making spiritual progress, the Hierarchy is admitting groups all the time, particularly in connection with those rays which are at present in incarnation. This means that the three major rays (which are always [346] predominantly active though they may have varying cycles of increased or decreased activity) have large groups undergoing their preparatory training for some one initiation. This group admission will develop rapidly as the world settles back into a cycle of peaceful growth and unfoldment after the drastic experience of the world war (1914-1945); it is for this that information such as I am here attempting to give must be made available.
Vào thời Lemuria, các điểm đạo đồ đi vào một mình và từng người một, và khi ấy chỉ có ít người xoay xở đạt đến mục tiêu và từng người một được thừa nhận vào các Huyền Nhiệm. Vào thời Atlantis, khi Cánh Cửa Điểm Đạo mở rộng, những người chí nguyện vào các Huyền Nhiệm được thừa nhận theo các nhóm bảy người, nhưng đã không tiếp xúc với các thành viên cùng nhóm của mình trong tâm thức hồng trần; sự nhấn mạnh vẫn còn (trong thời kỳ huấn luyện) đặt trên thành tựu và đạt được cá nhân. Ngày nay, con người đang tiến bộ tinh thần nhanh đến mức Thánh Đoàn luôn luôn thừa nhận các nhóm, đặc biệt liên quan đến những cung hiện đang Đang lâm phàm. Điều này có nghĩa là ba cung chính (vốn luôn luôn [346] hoạt động nổi trội dù chúng có thể có những chu kỳ hoạt động tăng hay giảm khác nhau) có những nhóm lớn đang trải qua sự huấn luyện chuẩn bị cho một lần điểm đạo nào đó. Sự thừa nhận theo nhóm này sẽ phát triển nhanh chóng khi thế giới ổn định trở lại trong một chu kỳ tăng trưởng và khai mở hòa bình sau kinh nghiệm khốc liệt của cuộc thế chiến (1914-1945); chính vì điều này mà thông tin như điều tôi đang cố gắng đưa ra ở đây phải được làm cho sẵn có.
One other point I would seek to make clear. As you know, an Ashram has in it disciples and initiates at all points of evolutionary development and of all grades and degrees; these all work together in perfect unison and yet—within their differentiated ranks, for each degree stands alone yet united with all the others—with their own established rapport, their coded telepathic interplay, and a shared occult secrecy and silence which guard the secrets and knowledges of one grade from another and from the unready. Similarly, when an aspirant, seeking upon the physical plane to find those who will share with him the mystery of his next immediate step or demonstrated expansion, discovers his own group, he will find that it has in it those who have not reached his particular point of wisdom and those also who have already left him far behind. He will be drawn into a vortex of force and a field of service simultaneously. Ponder on this statement. He will learn, therefore, the lessons required by one who is to work in an Ashram and will know how to handle himself with those who may not yet share with him the secrets which he already knows, and with those who have penetrated deeper into the Mysteries than he has.
Tôi muốn làm sáng tỏ thêm một điểm nữa. Như các bạn biết, một ashram có trong nó các đệ tử và điểm đạo đồ ở mọi điểm phát triển tiến hoá và ở mọi cấp và bậc; tất cả những người này cùng làm việc trong sự hợp nhất hoàn hảo và tuy vậy—trong các hàng ngũ đã được biến phân của họ, vì mỗi cấp đứng riêng nhưng hợp nhất với tất cả các cấp khác—với sự giao cảm đã được thiết lập riêng của họ, sự tương tác viễn cảm được mã hóa của họ, và một sự bí mật huyền bí cùng im lặng được chia sẻ, bảo vệ các bí mật và tri thức của cấp này khỏi cấp khác và khỏi những người chưa sẵn sàng. Tương tự như vậy, khi một người chí nguyện, đang tìm kiếm trên cõi hồng trần những người sẽ cùng chia sẻ với y huyền nhiệm của bước kế tiếp gần nhất hay sự mở rộng đã được chứng minh của y, khám phá ra nhóm riêng của mình, y sẽ thấy rằng trong đó có những người chưa đạt đến điểm minh triết đặc thù của y và cũng có những người đã bỏ y lại rất xa phía sau. Y sẽ đồng thời bị cuốn vào một xoáy lực và một lĩnh vực phụng sự. Hãy suy ngẫm về phát biểu này. Vì vậy, y sẽ học những bài học cần thiết cho người sẽ làm việc trong một ashram và sẽ biết cách xử sự với những người có thể chưa cùng chia sẻ với y các bí mật mà y đã biết, và với những người đã thâm nhập vào các Huyền Nhiệm sâu hơn y.