← The Rays and the Initiations (A Treatise on the Seven Rays Book 5)

SECTION ONE - THE ASPIRANT AND THE MYSTERIES OF INITIATION — PHẦN MỘT - NGƯỜI CHÍ NGUYỆN VÀ CÁC HUYỀN NHIỆM CỦA ĐIỂM ĐẠO

SECTION ONE - THE ASPIRANT AND THE MYSTERIES OF INITIATION — PHẦN MỘT - NGƯỜI CHÍ NGUYỆN VÀ CÁC HUYỀN NHIỆM CỦA ĐIỂM ĐẠO

[347]

[347]

Let us now take up our first point in this section and see what is really meant by the hackneyed words “door of initiation,” and what constitutes the difference between the door which faces the disciple and that which confronts the Master.

Bây giờ chúng ta hãy xét điểm đầu tiên trong phần này và xem thực sự điều gì được hàm ý bởi những từ đã trở nên sáo mòn “cánh cửa điểm đạo,” và điều gì tạo nên sự khác biệt giữa cánh cửa đối diện đệ tử và cánh cửa đối diện Chân sư.

THE ENTERING OF THE TWO DOORS OF INITIATION

SỰ ĐI VÀO HAI CÁNH CỬA ĐIỂM ĐẠO

It is of course obvious to you that the use of the word “door” is purely symbolic; the interpretation given to the word by the ordinary esoteric student and the orthodox Theosophist is that of a point of entry, and the significance of it to him is that it offers an opportunity to pass to new experience and fresh revelation—much of which is regarded by him as due reward for discipline and aspiration. That is largely an interpretation based on wishful thinking and is of quite secondary importance.

Dĩ nhiên đối với các bạn điều hiển nhiên là việc dùng từ “cánh cửa” hoàn toàn có tính biểu tượng; cách giải thích mà đạo sinh huyền bí học thông thường và nhà Thông Thiên Học chính thống đưa ra cho từ này là một điểm đi vào, và ý nghĩa của nó đối với y là nó đem lại một cơ hội để bước vào kinh nghiệm mới và sự mặc khải mới mẻ—mà phần lớn được y xem như phần thưởng xứng đáng cho kỷ luật và khát vọng. Điều đó phần lớn là một cách giải thích dựa trên mơ tưởng và chỉ có tầm quan trọng thứ yếu.

The Door of Initiation

Cánh Cửa Điểm Đạo

The real meaning underlying the phrase “door of initiation” is that of obstruction, of something which bars the way, of that which must be opened, or of that which hides or stands between the aspirant and his objective. This is a much more exact significance and one much more useful for [348] the aspirant to grasp. The picture of a man moving along the Path of Evolution until suddenly one day he stands before an open door through which he may joyously pass has no faintest resemblance to the truth; the idea that a man of a nice disposition and possessing certain character developments such as those portrayed in such books (by Annie Besant) as The Open Court and the Path of Discipleship, which condition the theosophical aspirants, is exceedingly misleading. These books are very useful and should be carefully studied by the man upon the Path of Probation, but are not so useful to the disciple, for they lead him to put the emphasis in the wrong direction and to focus upon that which should already have been developed. Naturally, the character development must be present and assumed to be stable in the man's equipment; these characteristics have, however, little bearing on initiation and passing through the “door” on the Path. They are indicative of the point reached upon the Path of Evolution, as a result of experiment, experience and continuous expression, and should be common to all aspirants who have reached the point of facing discipleship; they are unavoidable developments and connote simply the reaction of the personality to time and experience. It is eternally true that no one may pass through this door unless these character indications are developed, but that is due to the fact that the aspirant has progressed to a certain stage of unfoldment and automatically now has a measure of self-control, of mental understanding and of purity.

Ý nghĩa thực sự nằm bên dưới cụm từ “cánh cửa điểm đạo” là sự ngăn trở, là một cái gì đó chặn lối đi, là điều phải được mở ra, hoặc là điều che khuất hay đứng giữa người chí nguyện và mục tiêu của y. Đây là một ý nghĩa chính xác hơn nhiều và hữu ích hơn nhiều để [348] người chí nguyện nắm bắt. Hình ảnh một người tiến bước trên Con Đường Tiến Hoá cho đến bỗng nhiên vào một ngày kia y đứng trước một cánh cửa mở mà qua đó y có thể hân hoan đi qua, không có chút tương đồng nào với chân lý; ý tưởng cho rằng một người có tính khí dễ chịu và sở hữu một số sự phát triển về Tính cách như được mô tả trong những quyển sách như The Open Court and the Path of Discipleship (của Annie Besant), những sách đã tác động lên các người chí nguyện Thông Thiên Học, là hết sức sai lạc. Những quyển sách này rất hữu ích và nên được người đang ở trên Con Đường Dự Bị cẩn thận nghiên cứu, nhưng lại không hữu ích bằng đối với đệ tử, vì chúng khiến y đặt trọng tâm sai hướng và tập trung vào điều lẽ ra đã phải được phát triển rồi. Dĩ nhiên, sự phát triển Tính cách phải hiện diện và được giả định là ổn định trong bộ máy của con người; tuy nhiên, các đặc tính này ít liên quan đến điểm đạo và việc đi qua “cánh cửa” trên Đường Đạo. Chúng biểu thị điểm đã đạt được trên Con Đường Tiến Hoá, như là kết quả của thử nghiệm, kinh nghiệm và sự biểu lộ liên tục, và phải là điều chung nơi mọi người chí nguyện đã đạt đến điểm đối diện với địa vị đệ tử; chúng là những phát triển không thể tránh khỏi và chỉ đơn giản hàm ý phản ứng của phàm ngã đối với thời gian và kinh nghiệm. Vĩnh viễn đúng là không ai có thể đi qua cánh cửa này trừ phi các dấu hiệu Tính cách ấy đã được phát triển, nhưng đó là vì người chí nguyện đã tiến đến một giai đoạn khai mở nào đó và nay tự động có được một mức độ tự chủ, thấu hiểu trí tuệ và thanh khiết.

I would point out also that even the black magician possesses these qualities, for they are the sine qua non of all magical art, both black and white; the black magician passes through the door of initiation as it opens twice for the first two initiations. He passes through on the strength of his will and his character accomplishments and because the group-conscious aspect of the soul is active in him as in his brother seeking affiliation with the Great White Lodge. The love aspect is, however, lacking in the black magician. Forget not that all is energy and there is nothing else. The energy which [349] is an aspect of the soul and which we call magnetic attraction (the group-building quality) he shares with the spiritual aspirant. He is essentially group conscious, and though his motives are separative, his methods are those of the group, and these he can get only from the soul.

Tôi cũng muốn chỉ ra rằng ngay cả nhà hắc thuật cũng sở hữu các phẩm tính này, vì chúng là sine qua non của mọi nghệ thuật huyền thuật, cả đen lẫn trắng; nhà hắc thuật đi qua cánh cửa điểm đạo khi nó mở ra hai lần cho hai lần điểm đạo đầu tiên. Y đi qua nhờ sức mạnh ý chí và những thành tựu Tính cách của y, và bởi vì phương diện tâm thức nhóm của linh hồn hoạt động trong y cũng như trong huynh đệ của y đang tìm cách liên kết với Thánh đoàn. Tuy nhiên, phương diện bác ái lại thiếu nơi nhà hắc thuật. Đừng quên rằng tất cả đều là năng lượng và không có gì khác. Năng lượng mà [349] là một phương diện của linh hồn và chúng ta gọi là hấp lực từ tính (phẩm tính kiến tạo nhóm), y cũng chia sẻ với người chí nguyện tinh thần. Về bản chất, y có tâm thức nhóm, và dù động cơ của y là chia rẽ, các phương pháp của y vẫn là các phương pháp của nhóm, và những điều này y chỉ có thể nhận được từ linh hồn.

You see again another reason why the first and second initiations are not regarded by the Lodge of Masters as major initiations. Only the third is so regarded, because at that initiation the entire personality life is flooded with energy coming from the Spiritual Triad, via the “sacrifice petals” of the will and purpose aspect of the soul. To this type of energy the black magician is not responsive. He can and does respond to the knowledge—most ancient and hardly won—stored up in the “knowledge petals” of the souls he can appropriate and utilise the energy of attraction (erroneously called love by some students) stored up in the “love petals” of the soul, but he cannot respond to and use the energy of divine love, working out in the divine Plan which controls all knowledge and converts it into wisdom, and which actuates and clarifies the motive which brings loving magnetic attraction into action and which we call true group consciousness and group cohesion. It is at this point that the two ways—of darkness and of light—become widely divergent. Until the third initiation is taken, glamour may condition the attitude of those seeking to understand the life of a man upon the Path, and they may mistake the spurious for the real. The black magician leads a disciplined life, analogous to that of the spiritual aspirant; he practices purity for his own safeguarding and not in order that he may become a channel for the energy of light; he works with power (the power of magnetic attraction) with and in groups, but he does this for his own selfish ends and for the fulfillment of his own ambitious purposes. But at the third initiation there comes to the true spiritual initiate the revelation which is the reward of perseverance and purity rightly motivated—the revelation of the divine purpose, as the soul records it in terms of the hierarchical plan, though not yet in terms of the Monad. To this purpose and [350] to the loving Will of God (to use a trite Christian phrase) the black brother cannot respond; his aims are different. You have here the true meaning of the oft-used and misunderstood phrase, “the parting of the ways.”

Một lần nữa, bạn thấy thêm một lý do khác vì sao hai lần điểm đạo đầu tiên không được Thánh đoàn các Chân sư xem là các điểm đạo lớn. Chỉ lần điểm đạo thứ ba mới được xem như vậy, vì ở lần điểm đạo ấy toàn bộ đời sống phàm ngã được tràn ngập bởi năng lượng đến từ Tam Nguyên Tinh Thần, qua các “cánh hoa hi sinh” của phương diện ý chí và mục đích của linh hồn. Nhà hắc thuật không đáp ứng với loại năng lượng này. Y có thể và thực sự đáp ứng với tri thức—cổ xưa nhất và khó khăn lắm mới đạt được—được tích trữ trong các “cánh hoa tri thức” của linh hồn; y có thể chiếm dụng và sử dụng năng lượng hấp dẫn (bị một số đạo sinh gọi sai là bác ái) được tích trữ trong các “cánh hoa bác ái” của linh hồn, nhưng y không thể đáp ứng với và sử dụng năng lượng của tình thương thiêng liêng, đang vận hành trong Thiên Cơ thiêng liêng vốn kiểm soát mọi tri thức và chuyển nó thành minh triết, đồng thời thúc đẩy và làm sáng tỏ động cơ khiến hấp lực từ tính đầy yêu thương đi vào hoạt động, và điều đó chúng ta gọi là tâm thức nhóm chân chính và sự cố kết nhóm. Chính tại điểm này mà hai con đường—của bóng tối và của ánh sáng—trở nên phân kỳ rộng lớn. Cho đến khi lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận, ảo cảm có thể tác động lên thái độ của những ai tìm cách thấu hiểu đời sống của một người trên Đường Đạo, và họ có thể lầm cái giả với cái thật. Nhà hắc thuật sống một đời sống có kỷ luật, tương tự như người chí nguyện tinh thần; y thực hành sự thanh khiết để tự bảo vệ mình chứ không phải để trở thành một kênh dẫn cho năng lượng ánh sáng; y làm việc với quyền năng (quyền năng của hấp lực từ tính), cùng với và trong các nhóm, nhưng y làm điều này vì những mục đích ích kỷ của riêng mình và để hoàn thành những mục tiêu đầy tham vọng của riêng mình. Nhưng ở lần điểm đạo thứ ba, với điểm đạo đồ tinh thần chân chính sẽ đến sự mặc khải, là phần thưởng của sự kiên trì và thanh khiết được thúc đẩy đúng đắn—sự mặc khải về thiên ý, như linh hồn ghi nhận nó theo các thuật ngữ của thiên cơ thánh đoàn, dù chưa phải theo các thuật ngữ của chân thần. Nhà huynh đệ bóng tối không thể đáp ứng với mục đích này và [350] với Ý Chí yêu thương của Thượng Đế (dùng một cụm từ Ki-tô giáo quen thuộc); các mục tiêu của y khác hẳn. Ở đây bạn có ý nghĩa chân thực của cụm từ thường được dùng nhưng bị hiểu sai, “sự phân rẽ các nẻo đường.”

But both groups of aspirants (the black and the white) stand before the door of initiation and take the needed steps to open it on two similar occasions. Both overcome glamour after the second initiation, and see their way clearly ahead; but their goals emerge as widely different; one treads the broad way which leads ever deeper into matter and materialism, into darkness and “black power”; the other leads to the straight and narrow way, to the razor-edged path which leads into light and life. One group has never freed itself from the principles which governed the first solar system. They were principles entirely related to matter and substance, and were at that time and in that period (so remote that the number of years of distance can be stated only in super-astronomical figures) the conditioning factors for the initiation of the time. Certain units of humanity—then existent—were so completely conditioned by these material principles and so deliberately unready for moving on to the comprehension of another set of principles (more expressive of the divine nature) that they remained of “fixed and selfish material purpose” and a planned distortion of the divine will was intelligently created by them. You have here a hint as to the nature of evil and a clue to a part (though only a part) of the mystery to be noted in the statement that evil and good are reverse aspects of the same one reality, and evil is that good which we should have left behind, passing on to greater and more inclusive good. Forget not that the black magicians of today were the initiates of a previous solar system. When the door of initiation is ready to open for the third time, the parting of the ways takes place. Some follow selfish intention and the fixed determination to remain with the separative condition of matter; and to others, the divine will is clearly impressed upon them and becomes the motivating power in their lives. It was under instructions from the Great White Lodge on Sirius that the door remains [351] closed the third time to the dark brothers. Evil, as we understand it, has absolutely no place on Sirius.

Nhưng cả hai nhóm người chí nguyện (đen và trắng) đều đứng trước cánh cửa điểm đạo và thực hiện những bước cần thiết để mở nó ra trong hai dịp tương tự nhau. Cả hai đều vượt qua ảo cảm sau lần điểm đạo thứ hai, và thấy rõ con đường phía trước; nhưng các mục tiêu của họ hiện ra hoàn toàn khác biệt; một bên bước trên con đường rộng dẫn ngày càng sâu vào vật chất và chủ nghĩa duy vật, vào bóng tối và “quyền năng đen”; bên kia dẫn đến con đường thẳng và hẹp, đến con đường sắc như lưỡi dao dẫn vào ánh sáng và sự sống. Một nhóm chưa bao giờ tự giải thoát khỏi các nguyên khí đã chi phối hệ mặt trời thứ nhất. Đó là những nguyên khí hoàn toàn liên hệ với vật chất và chất liệu, và vào thời ấy, trong giai đoạn ấy (xa xôi đến mức số năm cách biệt chỉ có thể được diễn tả bằng những con số siêu thiên văn), chúng là các yếu tố tác động đối với điểm đạo của thời kỳ đó. Một số đơn vị nhân loại—khi ấy đang hiện hữu—đã bị các nguyên khí vật chất này tác động hoàn toàn đến mức, và cố ý không sẵn sàng tiến tới việc thấu hiểu một tập hợp nguyên khí khác (biểu lộ bản chất thiêng liêng hơn), nên họ vẫn ở trong “mục đích vật chất cố định và ích kỷ,” và một sự bóp méo được hoạch định của ý chí thiêng liêng đã được họ tạo ra một cách thông minh. Ở đây bạn có một gợi ý về bản chất của điều ác và một đầu mối cho một phần (dù chỉ là một phần) của huyền nhiệm cần được lưu ý trong phát biểu rằng điều ác và điều thiện là các phương diện đảo ngược của cùng một thực tại duy nhất, và điều ác là điều thiện mà lẽ ra chúng ta phải bỏ lại phía sau để tiến tới điều thiện lớn hơn và bao gồm hơn. Đừng quên rằng các nhà hắc thuật ngày nay là các điểm đạo đồ của một hệ mặt trời trước. Khi cánh cửa điểm đạo sẵn sàng mở ra lần thứ ba, sự phân rẽ các nẻo đường diễn ra. Một số theo đuổi ý định ích kỷ và quyết tâm cố định ở lại với tình trạng phân ly của vật chất; còn với những người khác, ý chí thiêng liêng được ghi khắc rõ ràng lên họ và trở thành động lực trong đời sống họ. Chính theo chỉ thị của Thánh đoàn trên Sirius mà cánh cửa vẫn [351] đóng lại lần thứ ba đối với các huynh đệ bóng tối. Điều ác, như chúng ta hiểu, hoàn toàn không có chỗ trên Sirius.

To the black magician, at this third opportunity, the door of initiation presents an insuperable barrier and obstacle; to the true spiritual neophyte, the door connotes “overcoming.” We shall not consider further the approach of the black brothers to that door, but shall confine ourselves to a consideration of the initiations of the Great White Lodge.

Đối với nhà hắc thuật, ở cơ hội thứ ba này, cánh cửa điểm đạo là một rào cản và chướng ngại không thể vượt qua; đối với người sơ cơ tinh thần chân chính, cánh cửa hàm ý “sự vượt thắng.” Chúng ta sẽ không xét thêm cách các huynh đệ bóng tối tiếp cận cánh cửa ấy, mà sẽ chỉ giới hạn vào việc xem xét các cuộc điểm đạo của Thánh đoàn.

This door of initiation is connected with the great problem of what H.P.B. calls the “mystery of electricity”; the door is itself an electrical phenomenon essentially. Having said this, even if you do not understand my meaning, you can, however, grasp the possibility that (being electrical in nature) it can easily present an obstructing force, a repelling energy to the approach of the aspirant; this is the correct way to look at it. It is only when the electrical energy of which the door is constituted and that of which the man is constructed at any particular time synchronise and vibrate in unison that the aspirant can pass through to greater light. This gives you a somewhat new and rather abstruse definition of initiation. Nevertheless, as science arrives at a better understanding of the human being as an electrical unit of power and light, and of his triple mechanism as created of three aspects of electricity, a truer comprehension of the significance of initiation will eventuate. The three fires of which all things are made are electrical in nature and—speaking symbolically—it is only when “fire by friction” is dominated by “solar fire” that the first four initiations can be taken, culminating in the fifth initiation in which these two fires are subordinated to “electric fire” emanating from the monad and giving a new revelation. This monadic process begins at the third initiation. It might be added that the third initiation (culminating in the Transfiguration) is taken on the three higher levels of the mental plane, and that it is therefore upon the fourth level of the mental plane that the aspirant first of all stands before the door, seeking initiation. That electrical unit or phenomenon of electricity [352] which we call the fourth kingdom in nature, on this fourth subplane of the mental plane esoterically “ejects” the unit of electricity which is ready to be absorbed by the higher form of electricity. Fire by friction dies out and solar fire takes its place, and the relationship between the two higher forms of electricity becomes established.

Cánh cửa điểm đạo này liên hệ với vấn đề lớn mà H.P.B. gọi là “huyền nhiệm của điện”; bản thân cánh cửa về cơ bản là một hiện tượng điện. Khi đã nói như vậy, dù bạn không hiểu ý tôi, bạn vẫn có thể nắm được khả năng rằng (vì có bản chất điện) nó có thể dễ dàng biểu hiện như một mãnh lực ngăn trở, một năng lượng đẩy lùi đối với sự tiếp cận của người chí nguyện; đó là cách đúng để nhìn nó. Chỉ khi năng lượng điện cấu thành cánh cửa và năng lượng điện cấu thành con người ở bất kỳ thời điểm nào đồng bộ và rung động hòa điệu thì người chí nguyện mới có thể đi qua đến ánh sáng lớn hơn. Điều này đem lại cho bạn một định nghĩa phần nào mới mẻ và khá khó hiểu về điểm đạo. Tuy nhiên, khi khoa học đạt đến sự thấu hiểu tốt hơn về con người như một đơn vị điện của quyền năng và ánh sáng, và về bộ máy tam phân của y như được tạo nên từ ba phương diện của điện, thì một sự hiểu biết chân thực hơn về ý nghĩa của điểm đạo sẽ xuất hiện. Ba ngọn lửa mà từ đó mọi sự được tạo thành đều có bản chất điện, và—nói theo biểu tượng—chỉ khi “Lửa ma sát” bị “Lửa Thái dương” chế ngự thì bốn lần điểm đạo đầu tiên mới có thể được tiếp nhận, đạt cực điểm ở lần điểm đạo thứ năm, trong đó hai ngọn lửa này bị đặt dưới “Lửa Điện” phát ra từ chân thần và đem lại một sự mặc khải mới. Tiến trình chân thần này bắt đầu ở lần điểm đạo thứ ba. Có thể nói thêm rằng lần điểm đạo thứ ba (đạt cực điểm trong Biến hình) được tiếp nhận trên ba cấp độ cao của cõi trí, và vì thế chính trên cấp độ thứ tư của cõi trí mà trước hết người chí nguyện đứng trước cánh cửa, tìm kiếm điểm đạo. Đơn vị điện hay hiện tượng điện [352] mà chúng ta gọi là giới thứ tư trong thiên nhiên, trên cõi phụ thứ tư này của cõi trí, một cách huyền bí “phóng ra” đơn vị điện đã sẵn sàng được hấp thu bởi hình thức điện cao hơn. Lửa ma sát tắt dần và Lửa Thái dương thay thế nó, và mối liên hệ giữa hai hình thức điện cao hơn được thiết lập.

It is solar fire which forms and likewise guards the door of initiation for the first four initiations. It is the electrical fire which forms the door of initiation for those initiations which guard the Way to the Higher Evolution.

Chính Lửa Thái dương tạo thành và cũng canh giữ cánh cửa điểm đạo cho bốn lần điểm đạo đầu tiên. Chính Lửa Điện tạo thành cánh cửa điểm đạo cho những cuộc điểm đạo canh giữ Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.

There are four types of fire by friction which create the “obstructing door” in unison with solar fire, of which it is essentially created. These are as follows:

Có bốn loại lửa ma sát cùng với Lửa Thái dương tạo nên “cánh cửa ngăn trở,” mà về bản chất cánh cửa ấy được tạo thành từ đó. Chúng như sau:

1. Electrical energy, composed of two forces of electricity: the innate, inert and latent force of the physical plane atoms of the dense physical vehicle, and the force which we call prana which is an aspect of the energy composing the etheric body. These two blend, combine and form the “door” through which the spiritual man must pass then he undergoes the first initiation. This provocative energy tests out every part of his physical equipment and—as he passes the test—the door opens, the opposing energies symbolically “die out,” and he can pass on to the Path of Initiation, free from that type of obstruction. The physical body no longer rules him, either through its limitations and faults or through the physical disciplines which have been hitherto needed but are no longer required.

1. Năng lượng điện, gồm hai mãnh lực điện: mãnh lực bẩm sinh, trơ ì và tiềm ẩn của các nguyên tử cõi hồng trần trong vận cụ hồng trần đậm đặc, và mãnh lực mà chúng ta gọi là prana, vốn là một phương diện của năng lượng cấu thành thể dĩ thái. Hai năng lượng này hòa trộn, kết hợp và tạo thành “cánh cửa” mà con người tinh thần phải đi qua khi y trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Năng lượng khiêu phát này thử thách mọi phần trong bộ máy hồng trần của y và—khi y vượt qua thử thách—cánh cửa mở ra, các năng lượng đối kháng theo biểu tượng “tắt đi,” và y có thể tiến lên Con Đường Điểm Đạo, thoát khỏi loại ngăn trở ấy. Thể xác không còn cai quản y nữa, hoặc qua các giới hạn và lỗi lầm của nó, hoặc qua các kỷ luật hồng trần trước đây cần thiết nhưng nay không còn cần nữa.

2. The electrical energy of the astral or emotional body next confronts him as he prepares to take the second initiation. You can call this energy, if you so choose, the sum total of all the glamours; a glamour is essentially a bewildering, deceiving and illusory energy-form which seeks to sidetrack and mislead the neophyte and which is attracted to him by ancient habit and old controls. He is therefore responsible for the impact of this energy. This type of energy takes form, and the massed forms of these glamours constitute the opposing door and oppose the passing of the [353] aspirant on to the next phase of the Path. With this electrical energy he must deal before he takes the second initiation. These particular energies are not thoughtforms; they are drifting, undefined and exceedingly fluid. Of this type of energy water is the symbol, and this is one reason why this second initiation is called the Baptism initiation, or the initiation of “entering the stream.”

2. Tiếp theo, năng lượng điện của thể cảm dục hay thể cảm xúc đối diện với y khi y chuẩn bị tiếp nhận lần điểm đạo thứ hai. Nếu muốn, bạn có thể gọi năng lượng này là tổng số của mọi ảo cảm; về bản chất, một ảo cảm là một hình tướng năng lượng gây hoang mang, lừa dối và ảo tưởng, tìm cách làm người sơ cơ đi chệch hướng và lạc lối, và bị hút đến với y bởi thói quen xưa cũ và những sự kiểm soát cũ. Vì vậy, y chịu trách nhiệm về tác động của năng lượng này. Loại năng lượng này mang hình tướng, và các hình tướng tập hợp của những ảo cảm này cấu thành cánh cửa đối kháng và chống lại sự đi qua của [353] người chí nguyện sang giai đoạn kế tiếp của Đường Đạo. Y phải đề cập đến loại năng lượng điện này trước khi tiếp nhận lần điểm đạo thứ hai. Những năng lượng đặc thù này không phải là các Hình tư tưởng; chúng trôi nổi, không xác định và cực kỳ linh động. Nước là biểu tượng của loại năng lượng này, và đó là một lý do vì sao lần điểm đạo thứ hai này được gọi là cuộc điểm đạo Rửa tội, hay cuộc điểm đạo của “bước vào dòng nước.”

3. The electrical energy of the mind now creates the door for the third initiation, and the obstruction which confronts the initiate is that of the electrical figments of his own thinking, shining with a light which is all their own (for they are of the highest order and type), but veiling the pure light which shines behind them. They constitute the sumtotal of illusion. This “door” is formed by the coming together of the three types of energy: fire by friction, solar fire (playing in full force at this third initiation), and electrical fire from the Spiritual Triad, making its first impact on the other two fires, for all three are in full activity at this initiatory crisis. All are localised and concentrated in that symbol of progress, the “door of initiation.”

3. Giờ đây năng lượng điện của trí tuệ tạo ra cánh cửa cho lần điểm đạo thứ ba, và chướng ngại đối diện với điểm đạo đồ là những hình ảnh điện do chính tư tưởng của y tạo ra, sáng rực bằng một ánh sáng hoàn toàn riêng của chúng (vì chúng thuộc loại và cấp độ cao nhất), nhưng lại che khuất ánh sáng thuần khiết đang chiếu rạng phía sau chúng. Chúng cấu thành tổng số của ảo tưởng. “Cánh cửa” này được hình thành bởi sự hội tụ của ba loại năng lượng: Lửa ma sát, Lửa Thái dương (đang hoạt động với toàn lực ở lần điểm đạo thứ ba này), và Lửa Điện từ Tam Nguyên Tinh Thần, đang tạo ra tác động đầu tiên lên hai ngọn lửa kia, vì cả ba đều hoạt động trọn vẹn trong cơn khủng hoảng điểm đạo này. Tất cả đều được định vị và tập trung trong biểu tượng của sự tiến bộ ấy, “cánh cửa điểm đạo.”

It should be becoming increasingly clear to you why the initiate is ever portrayed as one who works with the forces and energies of the planet and the system. To him, there is naught else.

Hẳn ngày càng trở nên rõ ràng với bạn vì sao điểm đạo đồ luôn được mô tả như một người làm việc với các mãnh lực và năng lượng của hành tinh và của hệ thống. Đối với y, không có gì khác.

4. The fourth type of “fire by friction” which confronts the initiate as he stands prepared for that initiation which we call the Great Renunciation is the electric energy of the entire integrated personality. That which is the product of every incarnation—the highly developed, powerful and “clear-eyed” personality (as it is called)—is the final event and presents the final great obstruction.

4. Loại “lửa ma sát” thứ tư đối diện với điểm đạo đồ khi y đứng sẵn sàng cho cuộc điểm đạo mà chúng ta gọi là Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ là năng lượng điện của toàn bộ phàm ngã tích hợp. Điều là sản phẩm của mọi kiếp sống—phàm ngã được phát triển cao độ, đầy quyền năng và “mắt sáng” (như người ta gọi)—là biến cố cuối cùng và tạo ra chướng ngại lớn cuối cùng.

In the Gospel story there are two major episodes in the life of the Master Jesus which throw some light upon this fourth entrance through the door of initiation: the Transfiguration and the Crucifixion. In both of them the three aspects of the personality are symbolised. In the first case, they are symbolised by the three apostles who in bewilderment and profound humility took part in the third initiation, [354] the Transfiguration; in the second case, the three were depicted by the three Crosses—the two thieves and the central Master. The difference in the fourth initiation is definite; it lies in the fact that the four aspects of the personality (counting the dense physical body as one aspect and the etheric vehicle as a second aspect of the physical body) are involved, for this fourth emanation of fire by friction has a potent and destructive effect upon the dense physical body. The Great Renunciation involves the rejection of the physical life at any cost, and that cost frequently involves its physical death.

Trong câu chuyện Phúc Âm có hai giai đoạn lớn trong đời sống của Chân sư Jesus soi sáng phần nào cho lần đi vào thứ tư này qua cánh cửa điểm đạo: Biến hình và Đóng đinh. Trong cả hai trường hợp, ba phương diện của phàm ngã đều được biểu tượng hóa. Trong trường hợp thứ nhất, chúng được biểu tượng hóa bởi ba vị tông đồ, những người trong sự bối rối và khiêm cung sâu xa đã tham dự vào lần điểm đạo thứ ba, [354] cuộc Biến hình; trong trường hợp thứ hai, bộ ba ấy được mô tả bằng ba cây Thập giá—hai tên trộm và vị Chân sư ở giữa. Sự khác biệt trong lần điểm đạo thứ tư là rõ rệt; nó nằm ở chỗ bốn phương diện của phàm ngã (tính thể xác đậm đặc là một phương diện và vận cụ dĩ thái là phương diện thứ hai của thể xác) đều liên can, vì sự phát xạ thứ tư này của lửa ma sát có một tác động mạnh mẽ và hủy diệt lên thể xác đậm đặc. Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ bao hàm việc khước từ sự sống hồng trần bằng bất cứ giá nào, và cái giá ấy thường bao gồm cái chết hồng trần.

The Great Renunciation or fourth initiation has, therefore, two aspects: the outer involvement or objective happening in the eyes of the physical plane onlooker, and the subjective aspect, portrayed symbolically by the three Crosses and those who hung upon them.

Vì vậy, Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ hay lần điểm đạo thứ tư có hai phương diện: sự liên can bên ngoài hay biến cố khách quan trong mắt người quan sát trên cõi hồng trần, và phương diện chủ quan, được mô tả bằng biểu tượng ba cây Thập giá và những người bị treo trên đó.

The implications emerging out of this symbolism are not easy to see, even when the superficial meaning is apparent, because that superficial meaning hides and veils a universal reality. The Master Jesus passed through the door of the fourth initiation and overcame the final hindrances offered by His perfected personality. He died upon the Cross. All the four aspects of His personality participated in the event, and all four aspects electrically obstructed His passing though this door, even to the point of their complete destruction—bringing a final liberation. Something universal was also symbolised which had naught to do with the Initiated Master Jesus.

Những hàm ý phát sinh từ biểu tượng này không dễ thấy, ngay cả khi ý nghĩa bề mặt đã rõ ràng, vì ý nghĩa bề mặt ấy che giấu và phủ màn lên một thực tại phổ quát. Chân sư Jesus đã đi qua cánh cửa của lần điểm đạo thứ tư và vượt thắng những cản trở cuối cùng do phàm ngã hoàn thiện của Ngài đưa ra. Ngài chết trên Thập giá. Cả bốn phương diện của phàm ngã Ngài đều tham dự vào biến cố ấy, và cả bốn phương diện đều ngăn trở bằng điện đối với việc Ngài đi qua cánh cửa này, cho đến mức bị hủy diệt hoàn toàn—đem lại sự giải thoát cuối cùng. Một điều gì đó phổ quát cũng được biểu tượng hóa, điều không liên quan gì đến Chân sư Jesus đã được điểm đạo.

This symbolism and its meaning are related to the three Crosses which stood side by side and to the relationship between those who hung upon them. In the three figures humanity itself is portrayed and also related to the Hierarchy, and this “pictorial event” is a parallel to the one already considered—the initiation of the Master Jesus. In the Crucifixion, in this fourth passing through the door of initiation and in the staging of this event, two great and different individualities—the Master Jesus and the World Saviour, the Christ—are implicated; two major happenings [355] are indicated, and the Christian Church has confused the two and related both of them without discrimination to the Master Jesus. Yet one event was a hierarchical occurrence and the other was a great human crisis; one was the entrance of an initiate into the Mysteries of death, involving in the process all the four aspects of His nature; the other was a dramatic portrayal to mankind of three groups to be found within the human family:

Biểu tượng này và ý nghĩa của nó liên hệ đến ba cây Thập giá đứng cạnh nhau và đến mối liên hệ giữa những người bị treo trên đó. Trong ba hình tượng ấy, chính nhân loại được mô tả và cũng được liên hệ với Thánh đoàn, và “biến cố bằng hình ảnh” này là một song song với điều đã được xét đến trước đó—cuộc điểm đạo của Chân sư Jesus. Trong cuộc Đóng đinh, trong lần đi qua thứ tư này qua cánh cửa điểm đạo và trong việc dàn dựng biến cố này, hai cá thể lớn và khác biệt—Chân sư Jesus và Đấng Cứu Thế Gian, Đức Christ—đều liên can; hai biến cố lớn [355] được chỉ ra, và Giáo hội Ki-tô đã lẫn lộn cả hai và gán cả hai, không phân biệt, cho Chân sư Jesus. Tuy nhiên, một biến cố là một sự kiện của Thánh đoàn và biến cố kia là một cuộc khủng hoảng lớn của nhân loại; một bên là sự đi vào của một điểm đạo đồ vào các Huyền nhiệm của cái chết, bao gồm trong tiến trình ấy cả bốn phương diện của bản chất Ngài; bên kia là một sự mô tả đầy kịch tính cho nhân loại về ba nhóm có thể tìm thấy trong gia đình nhân loại:

1. Unregenerate man, pictured by the unrepentant thief.

1. Con người chưa được tái sinh, được biểu tượng bằng tên trộm không ăn năn.

2. The struggling aspirant, moving consciously towards liberation, symbolised for us in the repentant thief.

2. Người chí nguyện đang đấu tranh, có ý thức tiến về giải thoát, được biểu tượng cho chúng ta nơi tên trộm ăn năn.

3. The Hierarchy, composed of all who have passed to liberation through the medium of human experience, and thereby representing to us a guarantee of achievement.

3. Thánh đoàn, gồm tất cả những ai đã đi đến giải thoát qua trung gian của kinh nghiệm nhân loại, và nhờ đó biểu hiện cho chúng ta một bảo chứng về thành tựu.

Students would do well to keep this fourfold picture and this threefold symbol clearly distinguished in their minds, for individual attainment and the group possibilities are both involved; each is, however, distinct; in the one case the Master Jesus is the participator, and in the other and the more esoteric occurrence it is the One Who overshadows Him, the Christ. It was the Master Jesus who “died” and entered into the tomb, thus climaxing His long series of incarnations and ending—by destruction—the hold of matter on the spirit; through the tomb He passed into the Hierarchy, and the destiny of the Christian Church was committed to Him; that destiny still lies in His hands. But in the Gospel story, it is the Christ Who is indicated as appearing after the resurrection and not the Master Jesus, except in the one brief episode wherein He appeared to Mary, weeping outside the door of the sepulchre. The other episodes are universal in their implications, as indicated by:

Các đạo sinh nên giữ rõ ràng trong trí mình bức tranh tứ phân này và biểu tượng tam phân này, vì cả thành tựu cá nhân lẫn các khả năng của nhóm đều được bao hàm; tuy nhiên, mỗi điều là riêng biệt; trong trường hợp thứ nhất, Chân sư Jesus là người tham dự, còn trong trường hợp kia, biến cố huyền bí hơn, là Đấng phủ bóng Ngài, Đức Christ. Chính Chân sư Jesus là Đấng đã “chết” và đi vào mộ, như thế đạt cực điểm cho chuỗi dài các kiếp lâm phàm của Ngài và chấm dứt—bằng sự hủy diệt—sự kềm giữ của vật chất đối với tinh thần; qua ngôi mộ, Ngài đi vào Thánh đoàn, và vận mệnh của Giáo hội Ki-tô được giao phó cho Ngài; vận mệnh ấy vẫn còn nằm trong tay Ngài. Nhưng trong câu chuyện Phúc Âm, chính Đức Christ được chỉ ra là xuất hiện sau sự phục sinh chứ không phải Chân sư Jesus, ngoại trừ trong một giai đoạn ngắn khi Ngài hiện ra với Mary đang khóc bên ngoài cửa mộ. Các giai đoạn khác mang hàm ý phổ quát, như được chỉ ra bởi:

1. Christ walking with the two disciples on the road to Emmaus—a symbol of the essential dualism of spirit and matter, as embodied in a world Saviour.

1. Đức Christ đi cùng hai đệ tử trên đường đến Emmaus—một biểu tượng của tính nhị nguyên cốt yếu giữa tinh thần và vật chất, như được thể hiện trong một Đấng Cứu Thế Gian.

2. Christ appearing to the disciples in the upper room, [356] symbolising the zodiac, for Judas Iscariot was there, standing for the sign at the time in power; the other eleven disciples representing the remaining signs through which the sun must pass.

2. Đức Christ hiện ra với các đệ tử trong căn phòng trên lầu, [356] biểu tượng cho hoàng đạo, vì Judas Iscariot có mặt ở đó, tượng trưng cho dấu hiệu đang nắm quyền lúc ấy; mười một đệ tử kia tượng trưng cho các dấu hiệu còn lại mà mặt trời phải đi qua.

3. Pentecost. This event does not portray the triumph of orthodox Christianity (as the theologians believe and teach), but signifies the universal dissemination of the Christ consciousness throughout all time in the heart of every human being; to this the words and promise, “Lo, I am with you all the days, even until the end of the world,” bear witness.

3. Lễ Ngũ Tuần. Biến cố này không mô tả chiến thắng của Ki-tô giáo chính thống (như các nhà thần học tin và giảng dạy), mà biểu thị sự phổ biến phổ quát của tâm thức Christ xuyên suốt mọi thời đại trong trái tim của mỗi con người; điều này được chứng thực bởi lời nói và lời hứa: “Này, Ta ở cùng các ngươi mọi ngày cho đến tận thế.”

It is owing to the deeply esoteric meaning of the Resurrection and the Ascension and their major significance, referring to the consciousness of the Christ, that nothing much is told us about these initiations in The New Testament, except the vaguest generalities, in contradistinction to the wealth of detail given anent the other four initiations. Four of these initiations are related to the “door of initiation” as occultly understood and with the interpretation of which we are familiar; these four are related also to the electrical “fire by friction” of which that door is constructed, and which spreads to and creates the burning ground across which the initiate must four times move in order to “enter through that door.”

Chính vì ý nghĩa huyền bí sâu xa của Phục sinh và Thăng thiên cùng tầm quan trọng lớn lao của chúng, liên hệ đến tâm thức của Đức Christ, mà Tân Ước không cho chúng ta biết nhiều về các cuộc điểm đạo này, ngoại trừ những khái quát mơ hồ nhất, trái ngược với sự phong phú chi tiết được đưa ra liên quan đến bốn cuộc điểm đạo kia. Bốn cuộc điểm đạo này liên hệ với “cánh cửa điểm đạo” như được hiểu một cách huyền bí và với cách giải thích mà chúng ta quen thuộc; bốn cuộc điểm đạo này cũng liên hệ với “Lửa ma sát” bằng điện mà từ đó cánh cửa ấy được cấu thành, và thứ lửa này lan rộng ra và tạo nên vùng đất cháy mà điểm đạo đồ phải bốn lần đi qua để “bước vào qua cánh cửa ấy.”

The other two initiations (vaguely called the Resurrection and the Ascension) are related to the second so-called “door.” This door is not in the same sense an obstruction as is the first door; it opens on to the Way of the Higher Evolution. The first door symbolically admits the initiate into the “heart of the Sun,” whilst the second door—in a most mysterious sense—indicates the route which must be followed by the liberated initiate who seeks to penetrate to the Central Spiritual Sun—to which all the seven Paths eventually lead.

Hai cuộc điểm đạo còn lại (được gọi một cách mơ hồ là Phục sinh và Thăng thiên) liên hệ với “cánh cửa” thứ hai. Cánh cửa này không phải là một sự ngăn trở theo cùng ý nghĩa như cánh cửa thứ nhất; nó mở ra Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Cánh cửa thứ nhất theo biểu tượng cho phép điểm đạo đồ đi vào “trái tim Mặt Trời,” còn cánh cửa thứ hai—theo một ý nghĩa hết sức huyền nhiệm—chỉ ra lộ trình mà điểm đạo đồ đã được giải thoát phải theo nếu muốn xuyên nhập đến Mặt trời Tinh thần Trung Ương—nơi mà rốt cuộc cả bảy Con Đường đều dẫn tới.

The Door to the Way of the Higher Evolution — Cánh Cửa Dẫn đến Con đường Tiến Hóa Cao Siêu

I write not for those initiates who have taken the third initiation, whose personality is soul-dominated and who [357] “walk ever in the light.” It will therefore be obvious that there is relatively little that I can say at this point which will be comprehensible, as far as the true meaning goes, to you who have not as yet achieved that state. The key to your understanding lies in the realisation that our seven planes are only the seven subplanes of the cosmic physical plane, and that all that now transpires in the life of the initiate simply releases him from physical experience (technically physical, even on the atmic, monadic and logoic planes), into that vortex of force which we know and understand as LOVE, or onto the cosmic astral plane. The note, the quality and the influence of the cosmic astral plane is love—the higher correspondence of emotion as experienced upon the astral plane of the planetary or solar manifestation. It is therefore to be realised that the Hierarchy is definitely under the impact of energies emanating from the cosmic astral plane, whilst Shamballa reacts to influences coming from the cosmic mental plane. The related stream of energy can therefore be seen to be from:

Tôi không viết cho những điểm đạo đồ đã tiếp nhận lần điểm đạo thứ ba, những người mà phàm ngã đã do linh hồn chi phối [357] “luôn bước đi trong ánh sáng.” Vì vậy, hiển nhiên là ở điểm này có tương đối ít điều tôi có thể nói mà các bạn, những người chưa đạt đến trạng thái ấy, có thể hiểu được về mặt ý nghĩa chân thực. Chìa khóa cho sự thấu hiểu của các bạn nằm trong sự chứng nghiệm rằng bảy cõi của chúng ta chỉ là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ, và rằng tất cả những gì hiện đang diễn ra trong đời sống của điểm đạo đồ chỉ đơn giản giải thoát y khỏi kinh nghiệm hồng trần (về mặt kỹ thuật là hồng trần, ngay cả trên các cõi atma, chân thần và logoi), để đi vào xoáy lực mà chúng ta biết và hiểu là BÁC ÁI, hay đi vào cõi cảm dục vũ trụ. Âm điệu, phẩm tính và ảnh hưởng của cõi cảm dục vũ trụ là bác ái—đối ứng cao hơn của cảm xúc như được trải nghiệm trên cõi cảm dục của biểu lộ hành tinh hay thái dương. Vì vậy cần chứng nghiệm rằng Thánh đoàn rõ ràng đang ở dưới tác động của các năng lượng phát ra từ cõi cảm dục vũ trụ, trong khi Shamballa phản ứng với các ảnh hưởng đến từ cõi trí vũ trụ. Do đó có thể thấy dòng năng lượng liên hệ là từ:

1. The cosmic astral plane.

1. Cõi cảm dục vũ trụ.

2. The solar buddhic plane, reflected in our planetary buddhic plane.

2. Cõi Bồ đề thái dương, được phản chiếu trong cõi Bồ đề hành tinh của chúng ta.

3. The astral plane, the plane of glamour in the three worlds.

3. Cõi cảm dục, cõi của ảo cảm trong ba cõi thấp.

In relation to the mind, you have:

Liên hệ với trí tuệ, bạn có:

1. The cosmic mental plane.

1. Cõi trí vũ trụ.

2. The solar atmic plane, reflected in our planetary atmic plane.

2. Cõi atma thái dương, được phản chiếu trong cõi atma hành tinh của chúng ta.

3. The mental plane, the plane of illusion.

3. Cõi trí, cõi của ảo tưởng.

In connection with the references to glamour and illusion, (see Glamour: a World Problem) it must be borne in mind that the reason glamour predominates and illusion functions in the three worlds is due to the fact that men identify themselves with the dense physical brain, and interpret life in terms of experience in the three worlds. There is no true astral plane, from the angle of personality identifications, but only what might be regarded as the figments of the imagination; yet fundamentally and sub-standing what [358] we know as the astral plane is the reflection of the cosmic principle of love. However, being essentially a reflection, it lacks basic reality from the angle of the true disciple and must be ignored as an expression of fundamental truth; at the same time, the astral plane exists from the angle of the Master, because it is an expression in dense physical cosmic substance of cosmic love. Its potency is, however, so great that it produces glamour in those who are not yet liberated. Students should remember that focussed power produces glamour where wrong identification is involved, but only reality and truth where there is freedom from the factor of form life. Therefore, temporarily, there is no astral plane for the disciple who is withdrawing identification; there is a field of service for the Master Who has no longer the power to identify His consciousness with anything in the three worlds; He can, however, relate cosmic sources with planetary and solar expressions of energy.

Liên quan đến các tham chiếu về ảo cảm và ảo tưởng, (xem Glamour: a World Problem) cần ghi nhớ rằng lý do ảo cảm chiếm ưu thế và ảo tưởng hoạt động trong ba cõi thấp là vì con người đồng hoá với bộ não hồng trần đậm đặc, và diễn giải đời sống theo các thuật ngữ của kinh nghiệm trong ba cõi thấp. Không có cõi cảm dục chân thực nào, từ góc độ các sự đồng hoá của phàm ngã, mà chỉ có điều có thể được xem như những hình ảnh hư ảo của sự tưởng tượng; tuy nhiên, về căn bản và nằm bên dưới, điều [358] chúng ta biết là cõi cảm dục lại là sự phản chiếu của nguyên khí bác ái vũ trụ. Tuy nhiên, vì về bản chất nó là một sự phản chiếu, nên nó thiếu thực tại căn bản từ góc độ của đệ tử chân chính và phải bị bỏ qua như một biểu lộ của chân lý nền tảng; đồng thời, cõi cảm dục vẫn hiện hữu từ góc độ của Chân sư, vì nó là một biểu lộ trong chất liệu hồng trần đậm đặc vũ trụ của bác ái vũ trụ. Tuy nhiên, uy lực của nó lớn đến mức tạo ra ảo cảm nơi những ai chưa được giải thoát. Các đạo sinh nên nhớ rằng quyền năng được tập trung tạo ra ảo cảm ở nơi có sự đồng hoá sai lầm, nhưng chỉ tạo ra thực tại và chân lý ở nơi có sự tự do khỏi yếu tố đời sống hình tướng. Vì vậy, tạm thời, không có cõi cảm dục nào đối với đệ tử đang rút sự đồng hoá lại; có một lĩnh vực phụng sự đối với Chân sư, Đấng không còn quyền năng đồng hoá tâm thức của Ngài với bất cứ điều gì trong ba cõi thấp; tuy nhiên, Ngài có thể liên hệ các nguồn vũ trụ với các biểu lộ năng lượng hành tinh và thái dương.

As we study the whole subject of initiation and the advanced initiations, it will be found necessary to remember always the relation of our seven planes to the cosmic range of planes. It is necessary also to bear in mind a fact oft forgotten, but which has been known and taught ever since modern occultism began to influence human thinking: the four planes which connote the highest possible spiritual influences, as far as humanity is concerned, are only—in the last analysis—the four etheric subplanes of the cosmic physical plane. These highest planes of our planetary life are, therefore, the source of all energy and all originating activity in our entire planetary expression and experience. These four planes are (as you already know):

Khi chúng ta nghiên cứu toàn bộ chủ đề điểm đạo và các cuộc điểm đạo cao, sẽ thấy cần phải luôn ghi nhớ mối liên hệ giữa bảy cõi của chúng ta với phạm vi các cõi vũ trụ. Cũng cần ghi nhớ một sự kiện thường bị quên lãng, nhưng đã được biết đến và giảng dạy kể từ khi huyền bí học hiện đại bắt đầu ảnh hưởng đến tư tưởng nhân loại: bốn cõi hàm ý các ảnh hưởng tinh thần cao nhất, xét theo nhân loại, rốt cuộc chỉ là bốn cõi phụ dĩ thái của cõi hồng trần vũ trụ. Vì vậy, các cõi cao nhất này của đời sống hành tinh chúng ta là nguồn của mọi năng lượng và mọi hoạt động khởi nguyên trong toàn bộ biểu lộ và kinh nghiệm hành tinh của chúng ta. Bốn cõi này là (như bạn đã biết):

1. The highest plane... Logoic plane... Will

1. Cõi cao nhất... cõi logoi... Ý chí

(Adi) Life......... 1st aspect

(Adi) Sự sống......... 1st aspect

2. The monadic plane... Universal... Love

2. Cõi chân thần... Phổ quát... Bác ái

Human monads...... 2nd aspect

Các chân thần nhân loại...... 2nd aspect

3. The atmic plane... 3rd aspect... Intelligence

3. Cõi atma... 3rd aspect... Trí tuệ

4. The buddhic plane... Pure reason... Intuition

4. Cõi Bồ đề... Lý trí thuần túy... Trực giác

This 4th or buddhic is a fusion of 2 and 3, of love and [359] intelligence, and produces understanding and intuitive perception.

Cõi thứ 4 hay cõi Bồ đề này là sự dung hợp của 2 và 3, của bác ái và [359] trí tuệ, và tạo ra sự thấu hiểu cùng tri giác trực giác.

All influences and energies, therefore, which are prevalent in our planetary existence, flow through and create the four above-mentioned planes and thus determine the nature of the evolutionary process at any given time in the three worlds. From the standpoint of a Master, the four planes are composed of forces which are basically responsive to, and finally conditioned by, the energies wielded by the Hierarchy and directed by Shamballa. In a peculiar manner, and under the Law of Correspondences, the three lower planes—mental, emotional and physical—constitute the three dense physical subplanes of the cosmic physical plane and are not, consequently, regarded as embodying principles. H.P.B. says, in connection with our physical plane (the lowest subplane of the cosmic physical plane), that it is not a principle, and this holds good also for the greater whole. The dense physical plane is matter conditioned by a previous solar system, and is almost automatic in its response to etheric energies; these constitute the etheric bodies of all forms created out of this “unprincipled substance,” as it is occultly called.

Vì vậy, mọi ảnh hưởng và năng lượng đang thịnh hành trong sự tồn tại hành tinh của chúng ta đều chảy qua và tạo ra bốn cõi vừa nêu trên, và như thế quyết định bản chất của tiến trình tiến hoá vào bất kỳ thời điểm nào trong ba cõi thấp. Từ quan điểm của một Chân sư, bốn cõi này được cấu thành bởi các mãnh lực vốn về căn bản đáp ứng với, và rốt cuộc bị tác động bởi, các năng lượng do Thánh đoàn vận dụng và do Shamballa chỉ đạo. Theo một cách đặc biệt, và dưới định luật tương ứng, ba cõi thấp—trí tuệ, cảm xúc và hồng trần—cấu thành ba cõi phụ hồng trần đậm đặc của cõi hồng trần vũ trụ và do đó không được xem là hiện thân của các nguyên khí. H.P.B. nói, liên hệ với cõi hồng trần của chúng ta (cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần vũ trụ), rằng nó không phải là một nguyên khí, và điều này cũng đúng đối với toàn thể lớn hơn. Cõi hồng trần đậm đặc là vật chất bị tác động bởi một hệ mặt trời trước, và gần như tự động trong sự đáp ứng với các năng lượng dĩ thái; các năng lượng này cấu thành các thể dĩ thái của mọi hình tướng được tạo ra từ “chất liệu không nguyên khí” này, như nó được gọi trong huyền bí học.

The three lower planes of our seven planes are, from the angle of the esotericist, the equally unprincipled dense cosmic substance; the mark or indication of the true initiate is the transfer of his life and his point of identification from unprincipled substance and substantial forms to “principled” substance and etheric forms. The tendency of the occult student to think ever in terms of spiritual abstraction can (and often does) militate against a grasp of the truth and presents a false picture to the intelligence; the facts which I have just emphasised have much to do with the nature of the higher initiations. I would ask you to remember this.

Ba cõi thấp của bảy cõi chúng ta, từ góc độ của nhà bí truyền học, cũng là chất liệu vũ trụ đậm đặc không nguyên khí tương tự; dấu hiệu hay chỉ báo của điểm đạo đồ chân chính là sự chuyển dịch đời sống và điểm đồng hoá của y từ chất liệu không nguyên khí và các hình tướng vật chất sang chất liệu “có nguyên khí” và các hình tướng dĩ thái. Khuynh hướng của đạo sinh huyền bí là luôn suy nghĩ theo các thuật ngữ trừu tượng tinh thần có thể (và thường thực sự) cản trở việc nắm bắt chân lý và trình bày một bức tranh sai lạc cho trí tuệ; các sự kiện mà tôi vừa nhấn mạnh có liên hệ rất nhiều đến bản chất của các cuộc điểm đạo cao hơn. Tôi muốn yêu cầu bạn ghi nhớ điều này.

The third initiation, therefore, releases the initiate from the planes of unprincipled substance (the lower subplanes of the cosmic physical plane), whilst the next two initiations make it possible for him to work with intelligence [360] and love on the two lower levels of the cosmic etheric plane—the buddhic and the atmic, the planes of spiritual love and intelligent will. The Way of the Higher Evolution leads through the monadic and logoic planes (the two highest levels of the cosmic physical plane); when the four planes of the cosmic etheric plane are completely mastered and under occult direction, the initiate is faced with the seven Paths and with the choice to tread one or other of them. His choice is naturally dependent upon ray determinations and past activity but is nevertheless a free choice, because all limitation has been removed, all wrong identification with physical forms is now impossible, and the initiate's only limitation is that imposed by entrance into cosmic levels of awareness with which he is still unfamiliar. Bear, therefore, continually in mind that the highest spiritual attainment upon and within the seven planes of our recognised planetary life is entirely conditioned by the fact that they are the seven subplanes of the cosmic physical plane and are composed of the three dense physical planes (our three worlds of human evolution) and the four cosmic etheric planes (the four levels of so-called spiritual development); these are conditioned by three forces and four energies. I have emphasised this by constant repetition on account of the great importance the recognition of these facts will play in any grasp you may achieve anent the Way of the Higher Evolution.

Vì vậy, lần điểm đạo thứ ba giải thoát điểm đạo đồ khỏi các cõi của chất liệu không nguyên khí (các cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ), trong khi hai lần điểm đạo kế tiếp giúp y có thể làm việc với trí tuệ [360] và bác ái trên hai cấp độ thấp của cõi dĩ thái vũ trụ—cõi Bồ đề và cõi atma, các cõi của bác ái tinh thần và ý chí thông minh. Con đường Tiến Hóa Cao Siêu dẫn qua các cõi chân thần và logoi (hai cấp độ cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ); khi bốn cõi của cõi dĩ thái vũ trụ đã được làm chủ hoàn toàn và ở dưới sự chỉ đạo huyền bí, điểm đạo đồ đối diện với bảy Con Đường và với sự lựa chọn bước trên con đường này hay con đường kia. Sự lựa chọn của y dĩ nhiên tùy thuộc vào các quyết định của cung và hoạt động quá khứ, nhưng vẫn là một lựa chọn tự do, vì mọi giới hạn đã được loại bỏ, mọi sự đồng hoá sai lầm với các hình tướng hồng trần nay không còn thể xảy ra, và giới hạn duy nhất của điểm đạo đồ là giới hạn do việc đi vào các cấp độ nhận biết vũ trụ mà y vẫn còn chưa quen thuộc áp đặt. Vì vậy, hãy luôn ghi nhớ rằng thành tựu tinh thần cao nhất trên và trong bảy cõi của đời sống hành tinh được công nhận của chúng ta hoàn toàn bị tác động bởi sự kiện rằng chúng là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ và được cấu thành bởi ba cõi hồng trần đậm đặc (ba cõi giới của tiến hoá nhân loại của chúng ta) và bốn cõi dĩ thái vũ trụ (bốn cấp độ của cái gọi là phát triển tinh thần); các cõi này bị tác động bởi ba mãnh lực và bốn năng lượng. Tôi đã nhấn mạnh điều này bằng sự lặp lại liên tục vì tầm quan trọng lớn lao mà việc nhận biết các sự kiện này sẽ giữ vai trò trong bất kỳ sự nắm bắt nào mà bạn có thể đạt được liên quan đến Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.

After the Master has taken the fifth initiation, He has—as you know—covered and mastered the ordinary field of evolution for humanity; that means the three worlds of ordinary human experience and the two worlds of superhuman effort, making the five fields of the spiritual activity of man. Love and intelligence are now perfectly developed in Him, though their expression and emphasis may vary according to His rays; He is aware of the fact of the Will or of the first divine aspect, with its two qualities (veiling a third) of destruction and of purpose; He is becoming active on the second plane of our planetary life, the monadic plane, and that great centre of life, Shamballa, is having a [361] definite vibratory effect upon Him; also (and this will be incomprehensible to you) He is becoming sensitive to a range of energies and influences which can now be registered by Him, owing to His increasing monadic polarisation and His contact with Shamballa.

Sau khi Chân sư đã tiếp nhận lần điểm đạo thứ năm, Ngài đã—như bạn biết—đi hết và làm chủ lĩnh vực tiến hoá thông thường của nhân loại; điều đó có nghĩa là ba cõi giới của kinh nghiệm nhân loại thông thường và hai cõi giới của nỗ lực siêu nhân, tạo thành năm lĩnh vực hoạt động tinh thần của con người. Bác ái và trí tuệ nay đã được phát triển hoàn hảo nơi Ngài, dù sự biểu lộ và nhấn mạnh của chúng có thể thay đổi tùy theo các cung của Ngài; Ngài ý thức được sự kiện của Ý chí hay phương diện thiêng liêng thứ nhất, với hai phẩm tính của nó (che giấu một phẩm tính thứ ba) là hủy diệt và mục đích; Ngài đang trở nên hoạt động trên cõi thứ hai của đời sống hành tinh chúng ta, cõi chân thần, và trung tâm sự sống vĩ đại ấy, Shamballa, đang có một [361] tác động rung động rõ rệt lên Ngài; đồng thời (và điều này sẽ không thể hiểu được đối với bạn) Ngài đang trở nên nhạy cảm với một phạm vi năng lượng và ảnh hưởng mà nay Ngài có thể ghi nhận, nhờ sự phân cực chân thần ngày càng tăng của Ngài và sự tiếp xúc của Ngài với Shamballa.

The cosmic astral plane becomes, for the Master, a definite objective; He is beginning to develop a great sensitivity to that level of awareness, but consciousness of that within the planetary life—as He knows it—prevents Him from registering this energy of pure cosmic love as He later will. It is this sense of limitation which is the cause of His recognition of the Door on to the Way of the Higher Evolution, for the fifth and sixth initiations liberate Him into the atmic and monadic states of awareness; these initiations are to the initiate at this stage of development what the first and second initiations are to the disciple who is seeking to tread the earlier stages of the Path of Initiation. They might therefore be regarded as initiations of the threshold—one leading to the awareness of the higher levels of conscious unfoldment which the third initiation (the first major initiation) inaugurates, and the other to those levels of impression, of contact and of future ascension which are the sevenfold goal set before the Master when the sixth initiation (the true ascension) is consummated. It is for this reason that this particular initiation is called the Initiation of Decision. The Master then chooses which of the seven Ways or Paths He will follow, because His aeonial experience has enabled Him to choose any of them and know that He has chosen aright. Though these seven Paths, being one of the septenates, are necessarily related to the seven rays, they are not ray paths, nor are they governed by the seven rays. Any one of them is open to a Master of the Wisdom, and His choice will not be dependent upon His ray type, though He will take that factor into consideration. They are more definitely related to the seven cosmic planes than to the seven rays; this we will consider in greater detail when dealing with the factor of the seven Ashrams which are “proving” grounds for all the Masters confronted with the Initiation of Decision. [362]

Cõi cảm dục vũ trụ trở thành, đối với Chân sư, một mục tiêu xác định; Ngài đang bắt đầu phát triển một sự nhạy cảm lớn đối với cấp độ nhận biết ấy, nhưng tâm thức về điều đó bên trong đời sống hành tinh—như Ngài biết nó—ngăn Ngài ghi nhận năng lượng của bác ái vũ trụ thuần túy này như về sau Ngài sẽ làm. Chính cảm thức giới hạn này là nguyên nhân khiến Ngài nhận ra Cánh Cửa dẫn đến Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, vì lần điểm đạo thứ năm và thứ sáu giải thoát Ngài vào các trạng thái nhận biết atma và chân thần; các cuộc điểm đạo này đối với điểm đạo đồ ở giai đoạn phát triển này cũng giống như lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai đối với đệ tử đang tìm cách bước trên các giai đoạn đầu của Con Đường Điểm Đạo. Vì vậy, chúng có thể được xem như các cuộc điểm đạo của ngưỡng cửa—một cuộc dẫn đến sự nhận biết các cấp độ cao hơn của sự khai mở tâm thức mà lần điểm đạo thứ ba (lần điểm đạo lớn đầu tiên) khai mở, và cuộc kia dẫn đến các cấp độ của sự ghi nhận, tiếp xúc và thăng tiến tương lai là mục tiêu thất phân được đặt trước Chân sư khi lần điểm đạo thứ sáu (sự thăng thiên chân thực) được hoàn tất. Chính vì lý do này mà cuộc điểm đạo đặc biệt này được gọi là Cuộc Điểm Đạo Quyết Định. Khi ấy Chân sư chọn sẽ theo một trong bảy Con Đường hay Lối Đi nào, vì kinh nghiệm qua các đại kiếp của Ngài đã giúp Ngài có thể chọn bất kỳ con đường nào trong số đó và biết rằng Ngài đã chọn đúng. Dù bảy Con Đường này, là một trong các bộ bảy, tất yếu có liên hệ với bảy cung, chúng không phải là các con đường của cung, cũng không bị bảy cung chi phối. Bất kỳ con đường nào trong số đó cũng mở ra cho một Chân sư Minh Triết, và sự lựa chọn của Ngài sẽ không tùy thuộc vào loại cung của Ngài, dù Ngài sẽ cân nhắc yếu tố đó. Chúng liên hệ rõ rệt hơn với bảy cõi vũ trụ hơn là với bảy cung; chúng ta sẽ xem xét điều này chi tiết hơn khi bàn đến yếu tố bảy ashram, là những nơi “thử luyện” cho mọi Chân sư đối diện với Cuộc Điểm Đạo Quyết Định. [362]

Disciples are more apt to be interested in the Ashrams from the angle of their own development; they are not prone to remember that the life progress and purpose of the Master not only determines the quality of the Ashram but that His own development and His eventual decisions are closely related to the Ashram which He controls. It is not easy for students to shift their attention away from the relation of the Ashram to humanity as a whole, or to realise that this relation is secondary to the Master Whose primary preoccupation is the unfoldment of the purposes of Sanat Kumara and the attainment of that state of Being which is significant of Shamballa. Students need to bear in mind that one phase of preparation for future work is that which will succeed the Initiation of Decision, and that this is dependent upon the type, quality and service rendered by the Master as He conditions and controls His Ashram. This I will attempt to enlarge upon under our next heading. It is useful however, for aspirants to discipleship, and above all for those preparing for initiation and consequently already working in an Ashram, to get this different point of view and begin to unfold within themselves a new sensitivity to impression coming from sources higher than the Hierarchy itself. This involves in them a new and higher type of orientation, and though it remains as yet impossible of attainment there is definite developing value in a grasp of the concept and the effort of the abstract mind and the intuitive perception to seize upon and reflect upon a new and entirely foreign concept. This higher reflective process is to the disciple who is working in an Ashram what aspiration is to the student upon the Probationary Path and the early stages of the Path of Discipleship.

Các đệ tử thường có khuynh hướng quan tâm đến các ashram từ góc độ sự phát triển của chính mình; họ không dễ nhớ rằng sự tiến bộ đời sống và mục đích của Chân sư không những quyết định phẩm tính của ashram mà sự phát triển riêng của Ngài và các quyết định cuối cùng của Ngài cũng liên hệ chặt chẽ với ashram mà Ngài kiểm soát. Đối với các đạo sinh, không dễ chuyển sự chú ý của họ ra khỏi mối liên hệ của ashram với toàn thể nhân loại, hay chứng nghiệm rằng mối liên hệ này là thứ yếu so với Chân sư, Đấng mà mối bận tâm chính yếu là sự khai mở các mục đích của Đức Sanat Kumara và việc đạt đến trạng thái Bản Thể có ý nghĩa đối với Shamballa. Các đạo sinh cần ghi nhớ rằng một giai đoạn chuẩn bị cho công việc tương lai là giai đoạn sẽ tiếp nối Cuộc Điểm Đạo Quyết Định, và điều này tùy thuộc vào loại hình, phẩm tính và sự phụng sự do Chân sư thể hiện khi Ngài tác động lên và kiểm soát ashram của mình. Tôi sẽ cố gắng khai triển điều này dưới tiêu đề kế tiếp của chúng ta. Tuy nhiên, điều hữu ích cho những người chí nguyện đến địa vị đệ tử, và trên hết cho những ai đang chuẩn bị cho điểm đạo và do đó đã làm việc trong một ashram, là đạt được quan điểm khác biệt này và bắt đầu khai mở trong chính mình một sự nhạy cảm mới đối với sự ghi nhận đến từ những nguồn cao hơn chính Thánh đoàn. Điều này bao hàm nơi họ một loại định hướng mới và cao hơn, và dù hiện nay vẫn chưa thể đạt được, vẫn có một giá trị phát triển rõ rệt trong việc nắm bắt khái niệm ấy và trong nỗ lực của trí trừu tượng cùng tri giác trực giác nhằm nắm lấy và suy tư về một khái niệm mới mẻ và hoàn toàn xa lạ. Tiến trình phản chiếu cao hơn này đối với đệ tử đang làm việc trong một ashram cũng giống như khát vọng đối với đạo sinh trên Con Đường Dự Bị và các giai đoạn đầu của Con Đường Đệ Tử.

In the latter case, the aspirant's emotional body becomes responsive to the principle of buddhi, reaching him via the love petals of the egoic lotus; in the more exalted situation, the disciple becomes aware (for that is all it is) of the possibility of an impression reaching him from the cosmic astral plane, via monadic levels of awareness. Note what I say—simply the possibility—for there is at this stage no assured [363] recognition of this goal; it is an impression which is to the disciple preparing for one of the higher initiations what an occult theory is to an aspirant on very much lower levels. The only way in which I can give any faintest idea of the higher reaches of the initiate consciousness will be through reference to lower grasped capacities and the presentation of undefinable truths in terms of that which has been defined and which (to these higher states of awareness) are in the nature of seed thoughts.

Trong trường hợp sau, thể cảm xúc của người chí nguyện trở nên đáp ứng với nguyên khí Bồ đề, đến với y qua các cánh hoa bác ái của hoa sen chân ngã; trong tình huống cao cả hơn, đệ tử trở nên nhận biết (vì đó là tất cả những gì xảy ra) về khả năng có một sự ghi nhận đến với y từ cõi cảm dục vũ trụ, qua các cấp độ nhận biết chân thần. Hãy lưu ý điều tôi nói—chỉ đơn giản là khả năng—vì ở giai đoạn này chưa có sự [363] nhận biết chắc chắn nào về mục tiêu ấy; đó là một ấn tượng đối với đệ tử đang chuẩn bị cho một trong các cuộc điểm đạo cao hơn, cũng như một lý thuyết huyền bí đối với một người chí nguyện ở các cấp độ thấp hơn rất nhiều. Cách duy nhất mà tôi có thể đem lại một ý niệm dù mờ nhạt nhất về các tầm mức cao hơn của tâm thức điểm đạo đồ là thông qua việc quy chiếu đến các năng lực thấp hơn đã được nắm bắt và trình bày các chân lý không thể định nghĩa theo các thuật ngữ của điều đã được định nghĩa và vốn, đối với các trạng thái nhận biết cao hơn này, có bản chất của các tư tưởng hạt giống.

Some small grasp of the nature of the consciousness of Shamballa will emerge as we study this section of the Treatise, for the higher levels of the cosmic etheric plane are permeated with energies emanating from the cosmic astral plane and the cosmic mental plane; these energies, playing through and directed by the great Lives Who form a permanent nucleus of the Council Chamber at Shamballa, do condition and are the impelling, motivating and relating power behind all the evolutionary processes on lower levels.

Một chút nắm bắt về bản chất của tâm thức Shamballa sẽ xuất hiện khi chúng ta nghiên cứu phần này của bộ Luận, vì các cấp độ cao hơn của cõi dĩ thái vũ trụ được thấm đẫm bởi các năng lượng phát ra từ cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ; các năng lượng này, vận hành qua và được chỉ đạo bởi các Sự Sống vĩ đại tạo thành một hạt nhân thường trực của Phòng Hội Đồng tại Shamballa, thực sự tác động lên và là quyền năng thúc đẩy, động cơ và liên kết đằng sau mọi tiến trình tiến hoá ở các cấp độ thấp hơn.

Yet, the life and consciousness of the Hierarchy are very different to the life and consciousness of Those Who constitute the great centre called Shamballa; the developing sensitivity to increasingly high impression, which is the result of each stage of the final initiatory process, is the only way in which the distinction and the goal become apparent. Just as those who read and study these ideas are occupied with concepts and thoughts totally unrealised and wholly inexplicable and sometimes even senseless, to the ordinary everyday businessman in the street, so there are also ranges of thought and eternal extra-planetary concepts which are equally unknown and temporarily inexplicable to the initiate working in an Ashram under some Master. When the student realises that the great universal Oneness which he associates with monadic consciousness, is only the registration of impressions localised (and therefore limited) and defined within the etheric levels of the cosmic physical plane, he can perhaps grasp the implications of the wonder which will be revealed to the initiate who can transcend the entire cosmic physical plane (our seven planes of the [364] human, superhuman and the divine worlds) and function upon another cosmic level. This is what the treading of the Way of the Higher Evolution enables a Master eventually to do.

Tuy nhiên, đời sống và tâm thức của Thánh đoàn rất khác với đời sống và tâm thức của Các Đấng cấu thành trung tâm vĩ đại gọi là Shamballa; sự nhạy cảm đang phát triển đối với sự ghi nhận ngày càng cao, vốn là kết quả của mỗi giai đoạn trong tiến trình điểm đạo cuối cùng, là cách duy nhất mà qua đó sự phân biệt và mục tiêu trở nên hiển nhiên. Cũng như những người đọc và nghiên cứu các ý tưởng này đang bận tâm với các khái niệm và tư tưởng hoàn toàn chưa được chứng nghiệm và hoàn toàn không thể giải thích, đôi khi thậm chí vô nghĩa, đối với người doanh nhân bình thường ngoài phố, thì cũng có những phạm vi tư tưởng và các khái niệm vĩnh cửu ngoài hành tinh cũng xa lạ và tạm thời không thể giải thích đối với điểm đạo đồ đang làm việc trong một ashram dưới quyền một Chân sư. Khi đạo sinh chứng nghiệm rằng sự Hợp Nhất phổ quát vĩ đại mà y liên hệ với tâm thức chân thần chỉ là sự ghi nhận các ấn tượng được định vị (và do đó bị giới hạn) và được xác định trong các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần vũ trụ, thì có lẽ y có thể nắm bắt được những hàm ý của điều kỳ diệu sẽ được mặc khải cho điểm đạo đồ có thể vượt lên toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ (bảy cõi của chúng ta thuộc [364] các thế giới nhân loại, siêu nhân và thiêng liêng) và hoạt động trên một cấp độ vũ trụ khác. Đây là điều mà việc bước trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu cuối cùng giúp một Chân sư thực hiện.

One interesting fact emerges out of all this comparative work and this mode of analogical teaching, and that is that the word “spiritual” refers neither to religious matters (so-called) nor to the Path of Discipleship or the Path of the major or higher initiations, but to the relationships on every level of the cosmic physical plane, to every level from the lowest to the highest. The word “spiritual” relates to attitudes, to relationships, to the moving forward from one level of consciousness (no matter how low or gross, from the point of view of a higher level of contact) to the next; it is related to the power to see the vision, even if that vision is materialistic as seen from the angle of a higher registration of possibility; the word “spiritual” refers to every effect of the evolutionary process as it drives man forward from one range of sensitivity and of responsiveness to impression to another; it relates to the expansion of consciousness, so that the unfoldment of the organs of sensory perception in primitive man or in the awakening infant are just as surely spiritual events as participation in an initiatory process; the development of the so-called irreligious man into a sound and effective businessman, with all the necessary perception and equipment for success, is as much a spiritual unfoldment—in that individual's experience—as the taking of an initiation by a disciple in an Ashram.

Một sự kiện thú vị nổi lên từ toàn bộ công việc so sánh này và từ phương thức giảng dạy bằng tương đồng này, đó là từ “tinh thần” không chỉ đến các vấn đề tôn giáo (cái gọi là như vậy), cũng không chỉ đến Con Đường Đệ Tử hay Con Đường của các cuộc điểm đạo lớn hay cao hơn, mà đến các mối liên hệ trên mọi cấp độ của cõi hồng trần vũ trụ, đến mọi cấp độ từ thấp nhất đến cao nhất. Từ “tinh thần” liên hệ đến các thái độ, đến các mối liên hệ, đến sự tiến lên từ một cấp độ tâm thức này (dù thấp hay thô nặng đến đâu, xét từ quan điểm của một cấp độ tiếp xúc cao hơn) sang cấp độ kế tiếp; nó liên hệ đến quyền năng thấy được tầm nhìn, ngay cả khi tầm nhìn ấy là duy vật nếu được nhìn từ góc độ của một sự ghi nhận cao hơn về khả thể; từ “tinh thần” chỉ đến mọi hiệu quả của tiến trình tiến hoá khi nó thúc đẩy con người tiến lên từ một phạm vi nhạy cảm và đáp ứng với ấn tượng này sang phạm vi khác; nó liên hệ đến sự mở rộng tâm thức, đến mức sự khai mở các cơ quan tri giác cảm quan nơi con người nguyên thủy hay nơi đứa trẻ đang thức tỉnh cũng chắc chắn là những biến cố tinh thần như việc tham dự vào một tiến trình điểm đạo; sự phát triển của người được gọi là không tôn giáo thành một doanh nhân vững vàng và hữu hiệu, với mọi tri giác và bộ máy cần thiết cho thành công, cũng là một sự khai mở tinh thần trong kinh nghiệm của cá nhân ấy, cũng như việc một đệ tử trong một ashram tiếp nhận một cuộc điểm đạo.

The assumption by orthodox church people that the word “spiritual” connotes profound and effective interest in orthodox religion is not borne out by the facts of the spiritual life. Some day, when the world is increasingly led by its initiates, this erroneous assumption will be discarded, and it will be realised that all activity which drives the human being forward towards some form of development (physical, emotional, intuitional, and so forth) is essentially spiritual in nature and is indicative of the livingness of the inner divine entity. [365]

Giả định của những người thuộc giáo hội chính thống rằng từ “tinh thần” hàm ý sự quan tâm sâu sắc và hữu hiệu đến tôn giáo chính thống không được các sự kiện của đời sống tinh thần xác nhận. Một ngày nào đó, khi thế giới ngày càng được dẫn dắt bởi các điểm đạo đồ của mình, giả định sai lầm này sẽ bị loại bỏ, và người ta sẽ chứng nghiệm rằng mọi hoạt động thúc đẩy con người tiến lên hướng đến một hình thức phát triển nào đó (hồng trần, cảm xúc, trực giác, v.v.) về bản chất đều là tinh thần và là dấu hiệu của tính sống động của thực thể thiêng liêng bên trong. [365]

I have felt it necessary to point this out because it will become apparent as we read and study this section of the Treatise that the Master—moving forward into higher areas of impressionability—may not and frequently will not express this development in terms of what is now regarded as “spiritual” by the religious devotee and by the man used to the wording and the terminology of the churchmen of all faiths. The discoveries of science, my brother, or the production of some great work in literature or in the field of art, are just as much an evidence of “spiritual” unfoldment as the rhapsodies of the mystic or the registration by the so called occultist of a contact with the Hierarchy.

Tôi thấy cần phải chỉ ra điều này vì sẽ trở nên hiển nhiên khi chúng ta đọc và nghiên cứu phần này của bộ Luận rằng Chân sư—đang tiến vào các lĩnh vực cao hơn của tính khả thụ ấn tượng—có thể không, và thường sẽ không, biểu lộ sự phát triển này theo các thuật ngữ của điều hiện nay được người sùng tín tôn giáo và người quen với cách diễn đạt cùng thuật ngữ của giới giáo sĩ thuộc mọi đức tin xem là “tinh thần.” Những khám phá của khoa học, Huynh đệ của Tôi, hay việc sáng tạo một tác phẩm lớn trong văn chương hoặc trong lĩnh vực nghệ thuật, cũng là bằng chứng của sự khai mở “tinh thần” không kém gì những cơn xuất thần của nhà thần bí hay sự ghi nhận của nhà huyền bí học được gọi như vậy về một tiếp xúc với Thánh đoàn.

There will, however, come a point in the experience of all those thus making a spiritual approach along some specialised line, where a meeting place will become apparent, where a joint goal will be unitedly recognised, where essential unity under diversity of forms, of methods and of techniques will be acknowledged, and where pilgrims on all ways of approach will know themselves to be one band of demonstrators of the divine.

Tuy nhiên, sẽ đến một điểm trong kinh nghiệm của tất cả những ai đang thực hiện sự tiếp cận tinh thần theo một đường lối chuyên biệt nào đó, khi một nơi gặp gỡ sẽ trở nên hiển nhiên, nơi một mục tiêu chung sẽ được cùng nhau nhận ra, nơi sự hợp nhất cốt yếu dưới sự đa dạng của các hình tướng, phương pháp và kỹ thuật sẽ được thừa nhận, và nơi những người hành hương trên mọi con đường tiếp cận sẽ biết mình là một đoàn duy nhất gồm những người biểu hiện điều thiêng liêng.

One such meeting place is upon the periphery of the Hierarchy during the stage immediately prior to acceptance into an Ashram. It is interesting to note that—on a world-wide scale—the world disciple, Humanity, is today on the verge of this major awakening and joint registration of a unity not hitherto reached; the growth of the spirit of internationalism, the inclusiveness of the scientific attitude, and the spread of a universal humanitarian welfare movement are all indicative of this meeting place.

Một nơi gặp gỡ như thế nằm ở chu vi của Thánh đoàn trong giai đoạn ngay trước khi được chấp nhận vào một ashram. Điều đáng chú ý là—trên quy mô toàn thế giới—đệ tử thế gian, tức Nhân loại, ngày nay đang ở bên bờ của sự thức tỉnh lớn lao này và của sự ghi nhận chung về một hợp nhất chưa từng đạt tới trước đây; sự tăng trưởng của tinh thần quốc tế, tính bao gồm của thái độ khoa học, và sự lan rộng của một phong trào phúc lợi nhân đạo phổ quát đều là những dấu hiệu của nơi gặp gỡ này.

Another such meeting place is recorded and entered (symbolically speaking) when the third initiation is taken, and still another is realised at the time of the seventh initiation. These all register development in group awareness, as well as in the recognition of the individual initiate, as to what is happening within the consciousness aspect of humanity. [366]

Một nơi gặp gỡ khác như thế được ghi nhận và được bước vào (nói theo biểu tượng) khi lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận, và một nơi nữa lại được chứng nghiệm vào lúc lần điểm đạo thứ bảy. Tất cả những điều này đều ghi nhận sự phát triển trong nhận thức nhóm, cũng như trong sự nhận biết của điểm đạo đồ cá nhân về điều đang xảy ra bên trong phương diện tâm thức của nhân loại. [366]

The door into the Way of the Higher Evolution simply permits the entrance of the sensitive initiate into “spheres of intimacy” (as they are sometimes called) which are this time cosmic in their implications, planetary in their effects, and which give to the initiate what has been called the “key to the Sun”—as it conditions the solar system—just as the door to initiation gives to the aspirant the “key to the kingdom of God.”

Cánh cửa đi vào Con đường Tiến Hóa Cao Siêu chỉ đơn giản cho phép điểm đạo đồ nhạy cảm bước vào những “khối cầu thân cận” (như đôi khi chúng được gọi), mà lần này mang hàm ý vũ trụ, có hiệu quả hành tinh, và trao cho điểm đạo đồ điều đã được gọi là “chìa khóa của Mặt Trời”—xét như nó tác động lên hệ mặt trời—cũng như cánh cửa dẫn vào điểm đạo trao cho người chí nguyện “chìa khóa của Thiên Giới.”

We have dealt in the foregoing pages with deep matters and have touched upon topics too high for the understanding of the average student or probationary disciple; dim recognitions, based on past acceptances are, however, possible to some of you. We have seen, among other things, that the so-called “door of initiation” presents obstacles whose purpose is to block entrance and to draw out the latent will of the applicant; an initiate is one who succeeds in penetrating to the further side of the door, where recognition awaits him. We will now concern ourselves with the basic theme of the Ashram itself.

Trong những trang trước, chúng ta đã bàn đến những vấn đề sâu xa và đã chạm tới những chủ đề quá cao đối với sự thấu hiểu của đạo sinh trung bình hay đệ tử dự bị; tuy nhiên, một vài nhận biết mờ nhạt, dựa trên những điều đã được chấp nhận trong quá khứ, vẫn có thể có nơi một số bạn. Trong nhiều điều khác, chúng ta đã thấy rằng cái gọi là “cánh cửa điểm đạo” đặt ra những chướng ngại mà mục đích là ngăn lối vào và khơi dậy ý chí tiềm ẩn của người xin vào; một điểm đạo đồ là người thành công trong việc xuyên qua phía bên kia cánh cửa, nơi sự nhận biết đang chờ y. Giờ đây chúng ta sẽ quan tâm đến chủ đề căn bản của chính ashram.

THE ENTERING OF THE ASHRAM — SỰ BƯỚC VÀO ASHRAM

This theme necessarily has great interest for all aspirants and would-be disciples, but I am not at first going to deal with the subject from the angle of humanity and its effort to establish contact with the Ashram. I desire first of all to speak of the Ashram as a whole, constituted of many Ashrams and creating an “invoking area” of relationship for the supreme Head of the Ashram, Sanat Kumara, the Lord of the World. I seek to enter into no discussion of this leading Life of our entire planet. HE is to a still greater Being, the One referred to elsewhere as “the One about Whom naught may be said,” what the vehicle of a Master in physical incarnation is to Him, and on a less accurate basis, what your personality is to you; it is an expression of the soul or of the Monad when a disciple has attained initiate-consciousness. [367] All the qualities, the love and the purpose of a supreme Entity, referred to in The New Testament as the “Unknown God,” are focussed in Sanat Kumara. Some gauge of the unfoldments which can lie ahead of humanity will enter the human consciousness when:

Chủ đề này tất nhiên có mối quan tâm lớn đối với mọi người chí nguyện và những ai mong trở thành đệ tử, nhưng lúc đầu tôi sẽ không bàn đến đề tài này từ góc độ của nhân loại và nỗ lực của nhân loại nhằm thiết lập tiếp xúc với ashram. Trước hết tôi muốn nói về ashram như một toàn thể, được cấu thành bởi nhiều ashram và tạo nên một “khu vực khẩn cầu” của mối liên hệ dành cho Đấng đứng đầu tối cao của ashram, Đức Sanat Kumara, Đức Chúa Tể Thế Giới. Tôi không tìm cách đi vào bất kỳ cuộc thảo luận nào về Sự Sống lãnh đạo này của toàn thể hành tinh chúng ta. NGÀI, đối với một Hữu thể còn vĩ đại hơn nữa, Đấng được nhắc đến ở nơi khác như “Đấng Bất Khả Tư Nghị,” cũng như vận cụ của một Chân sư đang lâm phàm trên cõi hồng trần đối với Ngài, và trên một cơ sở kém chính xác hơn, cũng như phàm ngã của bạn đối với bạn; đó là một biểu hiện của linh hồn hay của chân thần khi một đệ tử đã đạt tới tâm thức điểm đạo đồ. [367] Mọi phẩm tính, tình thương và mục đích của một Thực Thể tối cao, được nhắc đến trong Tân Ước như “Thượng đế Vô Danh,” đều được tập trung nơi Đức Sanat Kumara. Một mức độ nào đó về những sự khai mở có thể nằm phía trước nhân loại sẽ đi vào tâm thức con người khi:

1. The fact of the Hierarchy,

1. Sự kiện về Thánh đoàn,

2. The nature of its relationship to Shamballa,

2. Bản chất của mối liên hệ của Thánh đoàn với Shamballa,

3. The spiritual nature of Those Who respond in reverent obedience to the slightest wish of the Lord of the World,

3. Bản chất tinh thần của Những Đấng đáp ứng trong sự vâng phục tôn kính trước ước muốn nhỏ nhất của Đức Chúa Tể Thế Giới,

are among the accepted truths whereby men live. This will happen after the externalisation of the Hierarchy.

trở thành những chân lý được chấp nhận mà nhờ đó những người nam và nữ sống theo. Điều này sẽ xảy ra sau Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn.

This Lord of the World is the sole repository of the will and purpose of the One of Whom He is an expression; this again can be understood by you as evoking the same relation to the “unknown God” as your personality—when expressing adequately the soul and later the Monad—conditions your perception, knowledge, plans and purpose, and controls the quality of your life and directs the energy which you express.

Đức Chúa Tể Thế Giới này là kho chứa duy nhất của ý chí và mục đích của Đấng mà Ngài là một biểu hiện; điều này một lần nữa có thể được bạn hiểu như gợi lên cùng một mối liên hệ với “Thượng đế vô danh” như phàm ngã của bạn—khi biểu lộ đầy đủ linh hồn và về sau là chân thần—tác động lên tri giác, tri thức, kế hoạch và mục đích của bạn, đồng thời kiểm soát phẩm tính của đời sống bạn và điều hướng năng lượng mà bạn biểu lộ.

His vehicle of manifestation is the planet with its seven centres, of which only three are yet recognised by the occult student: Shamballa, His head centre, the Hierarchy, His heart centre, and Humanity, His throat centre. The other four centres are concerned with evolutions which are reached, controlled and related from one or other of these three major centres. The solar plexus is dominated by the Hierarchy, the heart centre of Sanat Kumara, and has a close relation to the deva evolution, hinted at by me in A Treatise on Cosmic Fire. The vastness of this subject will be understood by my use of the word “hint” in reference to what I have earlier written on the subject.

Vận cụ biểu hiện của Ngài là hành tinh với bảy trung tâm của nó, trong đó chỉ mới có ba trung tâm được đạo sinh huyền bí học nhận biết: Shamballa, trung tâm đầu của Ngài, Thánh đoàn, trung tâm tim của Ngài, và Nhân loại, trung tâm cổ họng của Ngài. Bốn trung tâm kia liên quan đến những tiến hóa được đạt tới, được kiểm soát và được liên hệ từ một hay trung tâm nào khác trong ba trung tâm chính này. Tùng thái dương bị Thánh đoàn chi phối, tức trung tâm tim của Đức Sanat Kumara, và có mối liên hệ mật thiết với tiến hóa thiên thần, điều tôi đã gợi ý trong Luận về Lửa Vũ Trụ. Tính bao la của chủ đề này sẽ được hiểu qua việc tôi dùng từ “gợi ý” khi nói đến điều tôi đã viết trước đây về đề tài ấy.

The centre which we call Shamballa controls that mysterious centre which is the correspondence to that which we call “the centre at the base of the spine”; this is the inadequate name given to the reservoir of threefold fire, latent and quiescent, which is found at the base of the human spine; it is entirely inactive except in those people who have [368] taken the third initiation. The planetary centre is related to the three fires (electric fire, solar fire, and fire by friction) which are the source of the life, warmth, moisture and growth of all forms upon our planet. It may seem curious and inexplicable to you, but the centre of creativity is affected, and I had almost said guarded, by the “centre which we call the race of men”; the reference in the serious occult books to the future of humanity as the Saviour of all the subhuman kingdoms has relation to this fact.

Trung tâm mà chúng ta gọi là Shamballa kiểm soát trung tâm huyền nhiệm tương ứng với điều mà chúng ta gọi là “trung tâm ở đáy cột sống”; đó là tên gọi chưa đầy đủ dành cho kho chứa lửa tam phân, tiềm ẩn và tĩnh tại, được tìm thấy ở đáy cột sống con người; nó hoàn toàn bất hoạt ngoại trừ nơi những người đã [368] tiếp nhận lần điểm đạo thứ ba. Trung tâm hành tinh này liên hệ với ba lửa (Lửa Điện, Lửa Thái dương, và Lửa ma sát), là nguồn của sự sống, hơi ấm, độ ẩm và sự tăng trưởng của mọi hình tướng trên hành tinh chúng ta. Điều đó có thể có vẻ kỳ lạ và khó giải thích đối với bạn, nhưng trung tâm sáng tạo bị ảnh hưởng, và tôi suýt nữa đã nói là được canh giữ, bởi “trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại”; lời nhắc đến trong các sách huyền bí học nghiêm túc về tương lai của nhân loại như Đấng Cứu Tinh của mọi giới dưới nhân loại có liên hệ với sự kiện này.

The ajna centre of the Lord of the World is just beginning to express itself in a recognisable manner through the New Group of World Servers. This intermediate group—between the Hierarchy and Humanity—is a carrier of the energy which makes the Plan possible (the Plan of which the Hierarchy is the custodian). This Plan implements the Purpose, and later, when the New Group of World Servers is organised and is recognised as a living organism, it will definitely receive energy from Shamballa in a direct reception, via the Hierarchy. This information is, I realise, of little immediate importance to you, but—towards the end of the century—it will be found explanatory of much.

Trung tâm ajna của Đức Chúa Tể Thế Giới chỉ mới bắt đầu biểu lộ theo cách có thể nhận biết được qua Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Nhóm trung gian này—giữa Thánh đoàn và Nhân loại—là kẻ mang năng lượng làm cho Thiên Cơ trở nên khả hữu (Thiên Cơ mà Thánh đoàn là vị giám hộ). Thiên Cơ này thực thi Thiên Ý, và về sau, khi Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian được tổ chức và được nhận biết như một cơ thể sống, nhóm ấy sẽ nhất định tiếp nhận năng lượng từ Shamballa theo cách trực tiếp, qua trung gian của Thánh đoàn. Tôi nhận ra rằng thông tin này hiện giờ ít có tầm quan trọng tức thời đối với bạn, nhưng—vào cuối thế kỷ—nó sẽ được thấy là giải thích được nhiều điều.

Though the Christ is the Head of the Hierarchy, it is Sanat Kumara, the Ancient of Days, Whose Ashram it truly is. The Christ (I am using one of His official names) is indeed the Master of all the Masters and the Coordinator of the entire life of the great Ashram, in conjunction with the two other hierarchical Officials, the Manu and the Mahachohan. The information I gave as to the constitution of the Hierarchy, in Initiation, Human and Solar, was along the same line. The Hierarchy is the Ashram of Sanat Kumara, but He has delegated His authority, right down the ages, to the so-called World Saviours successively; Their life expression embodied in every case the goal of the period during which They held office.

Dù Đức Christ là Đầu của Thánh đoàn, chính Đức Sanat Kumara, Đấng Thái Cổ, mới thực sự là Đấng có ashram ấy. Đức Christ (tôi đang dùng một trong những danh hiệu chính thức của Ngài) quả thật là Chân sư của mọi Chân sư và là Đấng Điều Hợp toàn bộ sự sống của đại ashram, cùng với hai Vị Chức Sắc khác của Thánh đoàn là Đức Manu và Đức Mahachohan. Thông tin tôi đã đưa ra về cấu tạo của Thánh đoàn trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương cũng theo cùng đường hướng ấy. Thánh đoàn là ashram của Đức Sanat Kumara, nhưng Ngài đã ủy thác thẩm quyền của Ngài, suốt các thời đại, cho những Đấng Cứu Tinh Thế Gian kế tiếp nhau; biểu hiện sự sống của Các Ngài trong mỗi trường hợp đều hiện thân cho mục tiêu của thời kỳ mà Các Ngài nắm giữ chức vụ.

In the early days of the Hierarchy, millennia of years ago, neither the official Directors of the Hierarchy nor the Masters were of the calibre which They are today. Had They been so, They would have been too far removed from [369] the factual life of the cycle, and therefore useless for the cycle of divine life which existed. The growth of humanity and its evolutionary status (when compared with primordial and primitive man) can be seen in the quality of the Hierarchy today, which humanity produced and towards which it looks for guidance and teaching. This is an interesting point which I offer for your consideration. Never forget, my brothers, that as it is humanity which has furnished the personnel of the Hierarchy—including the Christ, the first of our humanity to achieve divinity—we have, therefore, the guarantee and the assurance of humanity's ultimate success.

Trong những ngày đầu của Thánh đoàn, từ hàng ngàn thiên niên kỷ trước, các Đấng Điều Hành chính thức của Thánh đoàn cũng như các Chân sư chưa đạt đến tầm mức như Các Ngài ngày nay. Nếu khi ấy Các Ngài đã như vậy, thì Các Ngài đã quá xa rời [369] đời sống thực tế của chu kỳ, và vì thế vô dụng đối với chu kỳ sự sống thiêng liêng đang hiện hữu. Sự tăng trưởng của nhân loại và tình trạng tiến hóa của nhân loại (khi so với con người nguyên sơ và nguyên thủy) có thể được thấy trong phẩm tính của Thánh đoàn ngày nay, mà nhân loại đã tạo ra và hướng về đó để tìm sự hướng dẫn và giáo huấn. Đây là một điểm thú vị mà tôi nêu ra để bạn suy ngẫm. Đừng bao giờ quên, Các huynh đệ của tôi, rằng vì chính nhân loại đã cung cấp nhân sự cho Thánh đoàn—bao gồm cả Đức Christ, người đầu tiên trong nhân loại chúng ta đạt tới thiên tính—nên chúng ta có được sự bảo đảm và xác tín về thành công tối hậu của nhân loại.

The three major Executives of the Hierarchy:

Ba Đấng Điều Hành chính của Thánh đoàn:

1. The Christ, representing the second Ray of Love-Wisdom,

1. Đức Christ, đại diện cho cung hai Bác Ái – Minh Triết,

2. The Manu, representing the first Ray of Will or Power,

2. Đức Manu, đại diện cho Cung một Ý Chí hay Quyền năng,

3. The Mahachohan, representing the third Ray of Active Intelligence,

3. Đức Mahachohan, đại diện cho cung ba Trí Tuệ Hoạt Động,

are responsible to the Lord of the World for the processing of the life and impulse which condition the evolutionary process. This statement is made without any further definition by me because the whole subject is too abstruse and it would require another Treatise like that on Cosmic Fire to make it even a little clearer.

chịu trách nhiệm trước Đức Chúa Tể Thế Giới về việc xử lý sự sống và xung lực tác động lên tiến trình tiến hoá. Tôi đưa ra phát biểu này mà không định nghĩa thêm, vì toàn bộ chủ đề quá thâm áo và sẽ cần một bộ Luận khác như Luận về Lửa Vũ Trụ mới có thể làm cho nó sáng tỏ hơn đôi chút.

Humanity can only be the recipient of this type of information after the first Ray of Will or Power has become more active; this will take place when the work of the second Ray of Love-Wisdom has reached its next cyclic crisis point. The crisis points of a ray are ever indicative of success and have in them the quality of joy. Mankind will then be much freer from the spirit of separateness, and a measure of peace, unity and cooperation will be conditioning human relations. There is a constant shifting in the state of the planetary consciousness and this, though implemented from Shamballa, is produced by humanity itself; this unfolding human consciousness leads mankind eventually out of the fourth kingdom in nature into the fifth, the hierarchy of souls, and—at the same time—raises the level of consciousness [370] in all the three subhuman kingdoms. This series of happenings will remain for a long time inexplicable to man, though the results can be seen in the effect which humanity has had on the animal kingdom, through domestication; on the vegetable kingdom, through specialisation and science; and on the mineral kingdom, through the skilled utilisation of metals and the widespread use of the mineral products of the earth.

Nhân loại chỉ có thể tiếp nhận loại thông tin này sau khi Cung một Ý Chí hay Quyền năng trở nên hoạt động hơn; điều này sẽ xảy ra khi công việc của cung hai Bác Ái – Minh Triết đạt tới điểm khủng hoảng chu kỳ kế tiếp của nó. Những điểm khủng hoảng của một cung luôn luôn là dấu hiệu của thành công và chứa trong đó phẩm tính của sự hoan hỉ. Khi ấy nhân loại sẽ được giải thoát nhiều hơn khỏi tinh thần chia rẽ, và một mức độ hòa bình, hợp nhất và hợp tác sẽ tác động lên các quan hệ nhân loại. Có một sự chuyển dịch liên tục trong trạng thái tâm thức hành tinh, và điều này, dù được thực thi từ Shamballa, lại do chính nhân loại tạo ra; tâm thức nhân loại đang khai mở này cuối cùng dẫn nhân loại ra khỏi giới thứ tư trong thiên nhiên để vào giới thứ năm, tức thang bậc các linh hồn, và—đồng thời—nâng cao cấp độ tâm thức [370] trong cả ba giới dưới nhân loại. Chuỗi diễn biến này sẽ còn lâu mới có thể giải thích được đối với con người, dù các kết quả có thể được thấy trong ảnh hưởng mà nhân loại đã tạo ra trên giới động vật qua sự thuần hóa; trên giới thực vật qua sự chuyên biệt hóa và khoa học; và trên giới kim thạch qua việc sử dụng khéo léo các kim loại và việc dùng rộng rãi các sản phẩm khoáng vật của đất.

It must be borne in mind that the Council Chamber of the Lord at Shamballa is a unit, but that the Hierarchy is a differentiation of this basic unity into the seven major Ashrams and the forty-nine Ashrams which are gradually forming. The Hierarchy is, however, a unity within itself, for the entire ashramic life is guarded by a ring-pass-not, created by its radiation; the seven and the forty-nine Ashrams are held together by the magnetic interplay of the whole. It is this radiation which affects by its quality the senior aspirants in the world, and draws them gradually into relationship with itself and finally into its magnetic field. This is aided by the clarity of perception, the intensification of the livingness of the rightly oriented aspirant. I prefer the word “livingness” to that of “vibration,” so widely used in modern occultism.

Cần ghi nhớ rằng Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể tại Shamballa là một đơn vị, nhưng Thánh đoàn là một sự biến phân của hợp nhất căn bản này thành bảy ashram chính và bốn mươi chín ashram đang dần dần hình thành. Tuy nhiên, Thánh đoàn là một hợp nhất trong chính nó, vì toàn bộ đời sống ashram được canh giữ bởi một vòng-giới-hạn do bức xạ của nó tạo ra; bảy ashram và bốn mươi chín ashram được giữ lại với nhau nhờ sự tương tác từ tính của toàn thể. Chính bức xạ này tác động bằng phẩm tính của nó lên những người chí nguyện cao cấp trong thế giới, và dần dần lôi cuốn họ vào mối liên hệ với chính nó và cuối cùng vào từ trường của nó. Điều này được hỗ trợ bởi sự sáng tỏ trong tri giác, sự tăng cường tính sống động của người chí nguyện được định hướng đúng đắn. Tôi thích từ “tính sống động” hơn từ “rung động,” vốn được dùng quá rộng rãi trong huyền bí học hiện đại.

There is therefore a dual inflow into the Ashram of Sanat Kumara, controlled and directed by the three hierarchical Directors:

Vì vậy có một dòng chảy kép đi vào ashram của Đức Sanat Kumara, được ba Đấng Điều Hành của Thánh đoàn kiểm soát và điều hướng:

1. From Shamballa itself. This is a flow of energising life or of what we might call “unfettered enlightenment”; this impresses the purpose or the will of the Lord of the World upon the united Hierarchy in a manner incomprehensible to you; it also creates a dynamic magnetic impulse which enables the graded initiates, through the medium of the Ashrams, to organise the Plan and set it in motion, so that the Purpose gradually materialises on earth. Because the senior initiates, from the Christ down to initiates of the fourth degree, are conscious in varying ways (according to ray) of the Eternal Now, and can work free from the compulsion of time, They can see the impressed Purpose as a [371] more complete whole than can initiates of lesser degree and development. It is this capacity which makes Them responsive to Shamballa, where the living will of the “Unknown God” (for a period of a life cycle) is seen in completeness and is already existent. The Hierarchy is, however, handicapped in its activity by the time sense and the materialistic focus of the “centre which we call the race of men.”

1. Từ chính Shamballa. Đây là một dòng sự sống tiếp năng lượng hay điều mà chúng ta có thể gọi là “giác ngộ không bị trói buộc”; nó ghi khắc mục đích hay ý chí của Đức Chúa Tể Thế Giới lên Thánh đoàn hợp nhất theo một cách mà bạn không thể hiểu được; nó cũng tạo ra một xung lực từ tính năng động giúp các điểm đạo đồ theo cấp bậc, qua trung gian các ashram, tổ chức Thiên Cơ và đưa nó vào vận hành, để Thiên Ý dần dần hiện hình trên Trái Đất. Bởi vì các điểm đạo đồ cao cấp, từ Đức Christ xuống đến các điểm đạo đồ cấp bốn, đều hữu thức theo những cách khác nhau (tùy theo cung) về Hiện Tại Vĩnh Cửu, và có thể làm việc không bị sự cưỡng bách của thời gian chi phối, nên Các Ngài có thể thấy Thiên Ý được ghi khắc như một [371] toàn thể hoàn chỉnh hơn so với các điểm đạo đồ có cấp bậc và sự phát triển thấp hơn. Chính năng lực này khiến Các Ngài đáp ứng với Shamballa, nơi ý chí sống động của “Thượng đế Vô Danh” (trong một giai đoạn của chu kỳ sự sống) được thấy trong tính toàn vẹn và đã hiện hữu sẵn. Tuy nhiên, Thánh đoàn bị cản trở trong hoạt động của mình bởi cảm thức thời gian và sự tập trung duy vật của “trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại.”

2. From Humanity. There is a constant (and increasing) flow of reoriented human energy penetrating into and beyond the radiatory periphery. This penetrating energy, implemented by the individual aspirant and disciple, is that of intelligent activity and—little as you may have realised it—it is this constant inflow which aids in the intelligent application of the Plan to human affairs. The Science of Impression, which governs the technique of Shamballa, functions through the three different centres in three different ways:

2. Từ Nhân loại. Có một dòng chảy liên tục (và ngày càng tăng) của năng lượng nhân loại đã được tái định hướng xuyên vào và vượt qua chu vi bức xạ. Năng lượng xuyên nhập này, được thực thi bởi người chí nguyện và đệ tử cá nhân, là năng lượng của trí tuệ hoạt động và—dù bạn có thể ít nhận ra điều đó—chính dòng chảy liên tục này hỗ trợ cho việc áp dụng một cách thông tuệ Thiên Cơ vào các công việc nhân loại. Khoa Học về Sự Ghi Khắc, vốn chi phối kỹ thuật của Shamballa, vận hành qua ba trung tâm khác nhau theo ba cách khác nhau:

a. Shamballa... dynamic impression

a. Shamballa... ghi khắc năng động

b. The Hierarchy... magnetic telepathy

b. Thánh đoàn... viễn cảm từ tính

c. Humanity... radiatory sensitivity

c. Nhân loại... tính nhạy cảm bức xạ

yet these three are only manifestations of the will of God as it works out in the activities of His three major centres.

tuy nhiên cả ba chỉ là những biểu hiện của Ý Chí của Thượng Đế khi nó vận hành trong các hoạt động của ba trung tâm chính của Ngài.

One point should here be made: the entry of a member of the human family into the ranks of the initiates and his participation in the activity of some one or other of the Ashrams produces a movement out of the Hierarchy of some Master and into the highest centre of all; it has this effect only after the entering initiate has taken the third initiation, and can therefore take his part in the hierarchical life as a monadic expression susceptible to impression from Shamballa. When a Master thus emerges He is immediately confronted with the choice between the seven Paths. With this development and decision we shall later deal. The seven Paths are all concerned with purpose, just as the seven Ashrams are all concerned with the plan. There is, as you will later see, a direct relation between the seven Paths and the seven Ashrams. Though we shall not deal with the subject at all, there is likewise a correspondence in the third [372] major centre, Humanity. You have, therefore, curiously interrelated:

Ở đây cần nêu ra một điểm: việc một thành viên của gia đình nhân loại bước vào hàng ngũ các điểm đạo đồ và tham gia vào hoạt động của một ashram nào đó sẽ tạo ra một sự chuyển động ra khỏi Thánh đoàn của một Chân sư và đi vào trung tâm cao nhất trong tất cả; điều này chỉ có hiệu quả sau khi điểm đạo đồ mới vào đã tiếp nhận lần điểm đạo thứ ba, và do đó có thể tham gia vào đời sống của Thánh đoàn như một biểu hiện chân thần có khả năng tiếp nhận sự ghi khắc từ Shamballa. Khi một Chân sư xuất hiện như thế, Ngài lập tức đối diện với sự lựa chọn giữa bảy Con Đường. Chúng ta sẽ bàn đến sự phát triển và quyết định này sau. Bảy Con Đường đều liên quan đến Thiên Ý, cũng như bảy ashram đều liên quan đến Thiên Cơ. Như bạn sẽ thấy về sau, có một mối liên hệ trực tiếp giữa bảy Con Đường và bảy ashram. Dù chúng ta sẽ hoàn toàn không bàn đến đề tài này, vẫn có một sự tương ứng trong trung tâm chính thứ ba, tức Nhân loại. Vì thế, bạn có những mối liên hệ kỳ lạ sau đây:

The seven Paths

Bảy Con Đường

The seven Rays

Bảy Cung

The seven Ashrams

Bảy Ashram

The seven Races

Bảy Nhân loại

Students would do well to bear in mind that these relationships are the result of the involutionary activity of the life expression of the Lord of the World. The key to the mystery of differentiation is found by the Master when He is faced by the choice of the seven Paths. At that high point of will expression, He discovers the secret of that evolutionary process which proceeds from unity to differentiation, and from differentiation to unity again. Individualisation, Initiation and Identification are the three main stages in the evolutionary activity of the life of God and condition the quality of each of the three divine centres. The four related septenates, enumerated above, eventually produce a synthesis which will consummate upon the cosmic mental plane. This is of course beyond my powers to teach or to explain, as I am not yet a liberated Master, though I am a liberated human being.

Các đạo sinh nên ghi nhớ rằng những mối liên hệ này là kết quả của hoạt động giáng hạ tiến hoá trong biểu hiện sự sống của Đức Chúa Tể Thế Giới. Chìa khóa của huyền nhiệm về sự biến phân được Chân sư tìm thấy khi Ngài đối diện với sự lựa chọn bảy Con Đường. Ở điểm cao ấy của sự biểu lộ ý chí, Ngài khám phá bí mật của tiến trình tiến hoá đi từ hợp nhất đến biến phân, và từ biến phân trở lại hợp nhất. Biệt ngã hóa, Điểm đạo và Đồng nhất hóa là ba giai đoạn chính trong hoạt động tiến hoá của sự sống của Thượng đế và tác động lên phẩm tính của mỗi một trong ba trung tâm thiêng liêng. Bốn bộ bảy liên hệ với nhau, được liệt kê ở trên, cuối cùng sẽ tạo ra một tổng hợp sẽ hoàn tất trên cõi trí vũ trụ. Dĩ nhiên điều này vượt ngoài khả năng giảng dạy hay giải thích của tôi, vì tôi chưa phải là một Chân sư giải thoát, dù tôi là một con người đã được giải thoát.

In the human centre, the man becomes identified with himself; in the Hierarchy, he becomes identified with the group; in Shamballa, He becomes identified with the planetary WHOLE. When that takes place, He is then aware for the first time that other identifications—lying beyond the planetary ring-pass-not—confront Him; His choice of one or other of the Paths is conditioned by the quality of His previous identifications, which are in their turn conditioned by His ray type.

Trong trung tâm nhân loại, con người trở nên đồng nhất với chính mình; trong Thánh đoàn, y trở nên đồng nhất với nhóm; trong Shamballa, Ngài trở nên đồng nhất với TOÀN THỂ hành tinh. Khi điều đó xảy ra, lần đầu tiên Ngài ý thức rằng những sự đồng nhất hóa khác—nằm ngoài vòng-giới-hạn hành tinh—đang đối diện với Ngài; sự lựa chọn một hay một Con Đường khác của Ngài được tác động bởi phẩm tính của những sự đồng nhất hóa trước đó của Ngài, mà đến lượt chúng lại được tác động bởi loại cung của Ngài.

Passing from these broad generalisations, which in reality lie far beyond our present grasp but which will have their future usefulness, let us now consider the Hierarchy as it exists (in the consciousness of Sanat Kumara, as His Ashram) and as it constitutes “the noble middle Path” to which the Buddha refers, and fills the intermediate and the [373] mediating place between Shamballa and Humanity. This position of the Hierarchy must never be forgotten.

Rời khỏi những khái quát rộng lớn này, vốn thực ra nằm vượt xa tầm nắm bắt hiện nay của chúng ta nhưng sẽ có ích trong tương lai, giờ đây chúng ta hãy xem xét Thánh đoàn như nó hiện hữu (trong tâm thức của Đức Sanat Kumara, như ashram của Ngài) và như nó cấu thành “Con Đường trung đạo cao quý” mà Đức Phật nhắc đến, đồng thời lấp đầy vị trí trung gian và [373] môi giới giữa Shamballa và Nhân loại. Vị trí này của Thánh đoàn không bao giờ được quên.

The seven Groups of Ashrams within the Hierarchy — Bảy Nhóm Ashram trong Thánh đoàn

It is because the first Ray of Will or Power, through its Ashram, is related to Shamballa, that the Master Morya is the Head of all truly esoteric schools. In the esoteric enterprise and in the work done by disciples in the Ashrams, the Will is developed so that the Purpose may eventually be understood. He relates the three points of the triangle composed of the Hierarchy, the world of souls on the mental plane, and those human souls who (on all Rays) are ready for contact with the Hierarchy. They have made contact with their souls, and this is registered in the Hierarchy. The triangle is, therefore, as follows:

Chính vì Cung một Ý Chí hay Quyền năng, qua ashram của nó, có liên hệ với Shamballa, nên Chân sư Morya là Đầu của mọi trường phái huyền bí học chân chính. Trong công cuộc huyền bí học và trong công việc do các đệ tử thực hiện trong các ashram, Ý Chí được phát triển để Thiên Ý cuối cùng có thể được thấu hiểu. Ngài liên kết ba điểm của tam giác gồm Thánh đoàn, thế giới các linh hồn trên cõi trí, và những linh hồn nhân loại đang sẵn sàng tiếp xúc với Thánh đoàn (trên mọi cung). Họ đã tiếp xúc với linh hồn mình, và điều này được ghi nhận trong Thánh đoàn. Vì vậy tam giác như sau: