As the externalisation of the Ashram proceeds, those souls upon the physical plane who are ready for enlightenment will find their way into the New Group of World Servers; this group will increasingly assume potent relation between the units of life within its periphery, the Ashram, and humanity. From one point of view, the New Group of World Servers can be regarded not only as a relating group, but also as a great transforming station, dowered later (though not noticeably so at the present time) with two functions in relation to the Ashram:
Khi sự ngoại hiện của ashram tiến triển, những linh hồn trên cõi hồng trần đã sẵn sàng cho giác ngộ sẽ tìm được đường vào Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian; nhóm này sẽ ngày càng đảm nhận mối liên hệ mạnh mẽ giữa các đơn vị sự sống trong chu vi của nó, ashram, và nhân loại. Từ một quan điểm, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian có thể được xem không chỉ như một nhóm liên kết, mà còn như một trạm chuyển đổi lớn, về sau được ban cho (dù hiện nay chưa rõ rệt) hai chức năng liên hệ với ashram:
1. One function is to enable “externalising units of perfection” (the higher initiates and the Masters) to step down Their individual potency to such a degree that They will be able to work in physical objectivity on the earth, with no undesirable effects upon humanity. I refer to average and undeveloped human beings. Students should bear in mind that contact with Those Who are initiates of high degree [374] and members of an Ashram has the following three effects upon humanity:
1. Một chức năng là giúp những “đơn vị hoàn thiện đang ngoại hiện” (các điểm đạo đồ cao cấp và các Chân sư) hạ thấp năng lực cá nhân của Các Ngài đến mức Các Ngài có thể làm việc trong tính khách quan hồng trần trên Trái Đất mà không gây ra những hậu quả không mong muốn cho nhân loại. Tôi muốn nói đến những con người trung bình và chưa phát triển. Các đạo sinh nên ghi nhớ rằng sự tiếp xúc với Những Đấng là các điểm đạo đồ cấp cao [374] và là thành viên của một ashram có ba tác động sau đây lên nhân loại:
a. On evolved men, aspirants, probationers and disciples, the effect is stimulating and magnetic.
a. Đối với những người đã tiến hóa, những người chí nguyện, những người dự bị và các đệ tử, tác động ấy có tính kích thích và từ tính.
b. On average human beings, capable of little response yet susceptible to impact and sensitive to impression, the effect is not helpful and is often destructive, because their etheric bodies are not competent to entertain and employ such high vibrations.
b. Đối với những con người trung bình, ít có khả năng đáp ứng nhưng vẫn dễ bị tác động và nhạy cảm với sự ghi khắc, tác động ấy không hữu ích và thường có tính hủy hoại, vì thể dĩ thái của họ không đủ khả năng tiếp nhận và sử dụng những rung động cao như thế.
c. On undeveloped humanity, the effect has been called “condensation or concretisation”; all their natural qualities (the qualified substance of their three bodies) are solidified; thus they create an automatic barrier to the entry of the too high impulses and vibrations.
c. Đối với nhân loại chưa phát triển, tác động ấy đã được gọi là “sự cô đặc hay cụ thể hóa”; mọi phẩm tính tự nhiên của họ (chất liệu đã được định tính của ba thể của họ) đều bị làm cho rắn chắc lại; do đó họ tạo ra một hàng rào tự động ngăn cản sự xâm nhập của những xung lực và rung động quá cao.
2. The second function is to enable those who are making definite soul contact, reorienting themselves and nearing the periphery of the Ashram, to absorb with profit the radiation of the Hierarchy.
2. Chức năng thứ hai là giúp những ai đang tạo được tiếp xúc linh hồn rõ rệt, đang tự tái định hướng và đang tiến gần chu vi của ashram, hấp thụ một cách hữu ích bức xạ của Thánh đoàn.
I would like at this point to refer back to the time sense in relation to the Hierarchy and its work, to which I referred a few pages back. It involves the inability of the average disciple to think in terms of the Ashram—the Ashram of the Christ, representing Sanat Kumara. When he turns his thoughts to the Master and the radiatory and magnetic group which He has attracted to Himself, the disciple almost inevitably thinks in terms of “my Master and His Ashram.” Yet this is not in any sense a statement of truth. There is one great Ashram, the Hierarchy, radiating (after due absorption of light, understanding and power from Shamballa, and this inflow is adequate to hierarchical need) as it seeks to aid not only the human evolution but all the other evolutions, of which humanity, in several cases, knows nothing. The great Ashram is likewise magnetic in its effect, and through its magnetic potency (brought about by an inflow of first ray power) “units of life and devotion”—human beings—are brought into the Ashram as disciples in preparation for initiation. People are apt to regard magnetic [375] potency as evidence of love; it is, in reality, evidence of the radiation of love when enhanced and strengthened by first ray energy. It is the admixture (if I may use such a peculiar term) of love and will which produces radiation. It is the conscious use by the Hierarchy of the power coming from Shamballa which results in the magnetic impact and the spiritual “pull” which draws the soul, incarnated in the body, towards the Ashram. This pull is directed towards the world of souls which is, through its manifesting units, undergoing experience in the school of life, yet overshadowed by the soul on its own level. It is this overshadowing soul which absorbs and utilises the magnetic power and which, from soul levels, transfers it to the souls of men.
Tại điểm này tôi muốn quay lại vấn đề cảm thức thời gian liên hệ với Thánh đoàn và công việc của Thánh đoàn, điều mà tôi đã nhắc đến vài trang trước. Nó bao hàm sự bất lực của đệ tử trung bình trong việc suy nghĩ theo thuật ngữ của ashram—ashram của Đức Christ, đại diện cho Đức Sanat Kumara. Khi y hướng tư tưởng đến Chân sư và nhóm bức xạ và từ tính mà Ngài đã thu hút về phía mình, đệ tử hầu như không tránh khỏi việc suy nghĩ theo kiểu “Chân sư của tôi và ashram của Ngài.” Tuy nhiên, điều này hoàn toàn không phải là một phát biểu chân thật. Chỉ có một đại ashram, tức Thánh đoàn, đang bức xạ (sau khi đã hấp thụ đầy đủ ánh sáng, sự thấu hiểu và quyền năng từ Shamballa, và dòng chảy này đáp ứng đủ cho nhu cầu của Thánh đoàn) khi nó tìm cách trợ giúp không chỉ tiến hóa nhân loại mà còn mọi tiến hóa khác, mà trong vài trường hợp nhân loại không hề biết đến. Đại ashram cũng có tác động từ tính, và qua năng lực từ tính của nó (được tạo ra bởi một dòng chảy quyền năng cung một), “những đơn vị của sự sống và sự sùng tín”—tức con người—được đưa vào ashram như những đệ tử đang chuẩn bị cho điểm đạo. Người ta thường xem năng lực [375] từ tính là bằng chứng của tình thương; thực ra, đó là bằng chứng của bức xạ của tình thương khi được tăng cường và củng cố bởi năng lượng cung một. Chính sự pha trộn (nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ kỳ lạ như vậy) của tình thương và ý chí tạo ra bức xạ. Chính việc Thánh đoàn sử dụng một cách hữu thức quyền năng đến từ Shamballa tạo nên tác động từ tính và “sức hút” tinh thần lôi kéo linh hồn, đang nhập thể trong thân xác, hướng về ashram. Sức hút này được hướng về thế giới các linh hồn, vốn qua các đơn vị biểu hiện của mình đang trải qua kinh nghiệm trong trường học của sự sống, nhưng vẫn được linh hồn trên chính cấp độ của nó phủ bóng. Chính linh hồn phủ bóng này hấp thụ và sử dụng quyền năng từ tính ấy, và từ các cấp độ linh hồn, chuyển nó đến các linh hồn của con người.
There is still another point upon which I would like to touch. Owing to the fact that the Law which governs the Hierarchy is the second systemic law, the Law of Attraction, students are apt to think that magnetism is a second ray quality. They are right in so far that all the systemic laws are expressions of the life of God through the medium, at this time, of the second ray, which makes our solar system a second ray system. All other laws and qualities (for a law from the divine angle is the motivating, qualified agent of the divine will, as understood in Shamballa) are related to the second ray as it manifests through our planetary Logos. Nevertheless, magnetic action is more closely allied to first ray functioning than it is to the second ray, and is an aspect or quality of the Law of Synthesis. It was this magnetic power of the first ray to which the Christ referred when He said “I, if I be lifted up (The Ascension Initiation. A.A.B.), will draw all men unto me.” He faced then those initiations which would qualify Him to become what is esoterically called “a Shamballa recipient.” There is, in magnetic action, more of the element of the will and of an expressing purpose. In explanation it might be said that the radiation of the Hierarchy, which is definitely second ray in nature, and which is projected as attractive radiation, is implemented by the magnetic aspect. This—as the Old Commentary puts it—is “a point of focussed fire, found in the centre of the jewel. [376] It stirs to life the quality of love which permeates the Ashram of the Lord. Radiation then can penetrate to other centres and to other lives, and thus the Lord is served.” It is this point of focussed dynamic will at the very heart of the Hierarchy which in reality implements the Plan.
Còn một điểm nữa mà tôi muốn đề cập. Do sự kiện rằng Định luật chi phối Thánh đoàn là định luật hệ thống thứ hai, Định luật Hấp Dẫn, các đạo sinh thường có khuynh hướng nghĩ rằng từ tính là một phẩm tính của cung hai. Họ đúng trong chừng mực mọi định luật hệ thống đều là những biểu hiện của sự sống của Thượng đế qua trung gian, vào lúc này, của cung hai, điều làm cho hệ mặt trời của chúng ta là một hệ thống cung hai. Mọi định luật và phẩm tính khác (vì một định luật, xét từ góc độ thiêng liêng, là tác nhân thúc đẩy và định tính của ý chí thiêng liêng, như được hiểu trong Shamballa) đều liên hệ với cung hai khi nó biểu lộ qua Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Tuy nhiên, hoạt động từ tính gắn bó với chức năng của cung một chặt chẽ hơn là với cung hai, và là một phương diện hay phẩm tính của Định luật Tổng Hợp. Chính quyền năng từ tính của cung một này mà Đức Christ đã nhắc đến khi Ngài nói: “Ta, nếu được nâng lên cao (Cuộc Điểm Đạo Thăng Thiên. A.A.B.), sẽ kéo mọi người đến với ta.” Khi ấy Ngài đang đối diện với những điểm đạo sẽ làm cho Ngài đủ tư cách để trở thành điều mà huyền bí học gọi là “một vị tiếp nhận Shamballa.” Trong hoạt động từ tính có nhiều yếu tố của ý chí và của một mục đích đang biểu lộ hơn. Để giải thích, có thể nói rằng bức xạ của Thánh đoàn, vốn rõ rệt thuộc bản chất cung hai, và được phóng chiếu như bức xạ hấp dẫn, được thực thi bởi phương diện từ tính. Điều này—như Cổ Luận nói—là “một điểm lửa tập trung, được tìm thấy trong trung tâm của viên ngọc. [376] Nó khuấy động sự sống của phẩm tính tình thương đang thấm nhuần ashram của Đức Chúa Tể. Khi ấy bức xạ có thể xuyên tới các trung tâm khác và các sự sống khác, và như thế Đức Chúa Tể được phụng sự.” Chính điểm ý chí năng động tập trung này ở ngay trung tâm của Thánh đoàn thực sự thực thi Thiên Cơ.
To put the matter as simply as possible—too simply to be entirely exact, yet near enough to the truth to be clarifying and helpful—it is this magnetic potency, this dynamic active and energising will, which enables the Hierarchy to move forward upon the eternal Path. Its functions might be listed as follows:
Để trình bày vấn đề một cách đơn giản nhất có thể—quá đơn giản để hoàn toàn chính xác, nhưng đủ gần với chân lý để làm sáng tỏ và hữu ích—chính năng lực từ tính này, ý chí năng động, hoạt động và tiếp năng lượng này, giúp Thánh đoàn tiến bước trên Con Đường vĩnh cửu. Các chức năng của nó có thể được liệt kê như sau:
1. It is the connecting energy which comes from Shamballa and “enlivens” (literally and occultly understood) the Ashram of Sanat Kumara. It is, in one sense, the higher correspondence to the prana which “enlivens” the dense physical body of man.
1. Đó là năng lượng nối kết đến từ Shamballa và “làm sống động” (theo nghĩa đen và theo huyền bí học) ashram của Đức Sanat Kumara. Theo một nghĩa nào đó, nó là sự tương ứng cao hơn của prana vốn “làm sống động” thể xác đậm đặc của con người.
2. It is the stimulating factor which produces cohesion among the various Ashrams, and is one of the sources of hierarchical unity. Putting it in other words, it is the service of the Plan which binds the seven Ashrams, with their subsidiary Ashrams, coherently into the one great Ashram. The Plan is the expression of the Purpose or the Will of God.
2. Đó là yếu tố kích thích tạo ra sự cố kết giữa các ashram khác nhau, và là một trong những nguồn của sự hợp nhất trong Thánh đoàn. Nói cách khác, chính sự phụng sự Thiên Cơ gắn kết bảy ashram, cùng các ashram phụ thuộc của chúng, một cách cố kết thành một đại ashram duy nhất. Thiên Cơ là biểu hiện của Thiên Ý hay Ý Chí của Thượng đế.
3. This Shamballic magnetism not only relates the Ashrams to each other, but it is also the potency which evokes the will or the first ray nature inherent in every man but which is only consciously and definitely unfolded within the periphery of the great Ashram.
3. Từ tính Shamballa này không chỉ liên hệ các ashram với nhau, mà còn là năng lực gợi lên ý chí hay bản chất cung một vốn tiềm ẩn trong mỗi con người nhưng chỉ được khai mở một cách hữu thức và rõ rệt bên trong chu vi của đại ashram.
4. In a mysterious sense, it is the life of that seed or germ which will come to fruition in the third solar system:
4. Theo một nghĩa huyền nhiệm, đó là sự sống của hạt giống hay mầm sống sẽ đi đến kết quả trong hệ mặt trời thứ ba:
a. In the “centre which we call the race of men” the potency of intelligence (developed in a previous solar system) is brought to fruition and the stirrings of the potency of love are felt.
a. Trong “trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại,” năng lực của trí tuệ (được phát triển trong một hệ mặt trời trước) được đưa đến kết quả và những rung động đầu tiên của năng lực tình thương được cảm nhận.
b. In the “centre which is nearest to the Lord” the potencies of intelligence and love are expressed, and at the third initiation the magnetic pull of the potency of will is felt. [377]
b. Trong “trung tâm gần Đức Chúa Tể nhất,” các năng lực của trí tuệ và tình thương được biểu lộ, và ở lần điểm đạo thứ ba, sức hút từ tính của năng lực ý chí được cảm nhận. [377]
c. In the “centre where the will of God is known” the intelligent loving Master, now responsive to the energy of the will, is faced with the seven Paths whereon that will can come to fruition and the “units of love can be transferred because they also will and know.” They can then form part of the third solar system which will be definitely under the influences coming from the cosmic mental plane, just as, in this solar system, the energies coming from the cosmic astral plane have been the major influence.
c. Trong “trung tâm nơi ý chí của Thượng đế được biết đến,” Chân sư thông tuệ và bác ái, giờ đây đáp ứng với năng lượng của ý chí, đối diện với bảy Con Đường, trên đó ý chí ấy có thể đi đến kết quả và “các đơn vị của tình thương có thể được chuyển dịch vì họ cũng có ý chí và biết.” Khi ấy họ có thể tạo thành một phần của hệ mặt trời thứ ba, hệ sẽ rõ rệt nằm dưới những ảnh hưởng đến từ cõi trí vũ trụ, cũng như trong hệ mặt trời này, các năng lượng đến từ cõi cảm dục vũ trụ đã là ảnh hưởng chủ yếu.
All this is, of course, an inadequate expression of abstruse truth. The cosmic astral plane is not an illusion, as is the astral plane with which we are all so unhappily acquainted. The reason for this lies in the fact that all our planes constitute the cosmic physical plane and are therefore regarded—as far as three worlds of human evolution are concerned—as illusion, for the dense physical substance is not a principle. This you have oft been told. The cosmic astral plane is a reservoir of love energy, pouring into two of our planes which constitute part of the cosmic etheric body—the monadic plane and the buddhic plane.
Dĩ nhiên, tất cả điều này là một cách diễn đạt chưa đầy đủ về chân lý thâm áo. Cõi cảm dục vũ trụ không phải là ảo tưởng, như cõi cảm dục mà tất cả chúng ta đều quen biết một cách đáng buồn. Lý do của điều này nằm ở chỗ mọi cõi của chúng ta đều cấu thành cõi hồng trần vũ trụ và vì thế được xem—xét theo ba cõi giới của tiến hóa nhân loại—là ảo tưởng, vì chất liệu hồng trần đậm đặc không phải là một nguyên khí. Điều này bạn đã nhiều lần được bảo cho biết. Cõi cảm dục vũ trụ là một kho chứa năng lượng tình thương, tuôn đổ vào hai cõi của chúng ta vốn cấu thành một phần của thể dĩ thái vũ trụ—cõi chân thần và cõi Bồ đề.
5. It is that which permeates the radiation from the Hierarchy to which humanity is responsive. No disciple or aspirant can be drawn into the periphery of the Hierarchy, and from thence into an Ashram, without finding that his will nature is being affected. It will only show itself at this stage as persistence and determination. Persistence is a quality of life and related to immortality, whilst determination is the lowest aspect of the will. Their development produces a reorientation which becomes a permanent attitude, and the disciple then becomes responsive not only to the “vitalised radiation” coming from the periphery of the Hierarchy but also, in an increasing measure, to the “magnetic pull” which emanates from the Hierarchy itself, and in particular from the Ashram to which he must eventually find his way.
5. Đó là điều thấm nhuần bức xạ từ Thánh đoàn mà nhân loại đáp ứng. Không đệ tử hay người chí nguyện nào có thể được lôi kéo vào chu vi của Thánh đoàn, và từ đó vào một ashram, mà không thấy rằng bản chất ý chí của mình đang bị tác động. Ở giai đoạn này nó chỉ biểu lộ như sự kiên trì và quyết tâm. Kiên trì là một phẩm tính của sự sống và liên hệ với tính bất tử, trong khi quyết tâm là phương diện thấp nhất của ý chí. Sự phát triển của chúng tạo ra một sự tái định hướng trở thành một thái độ thường trực, và khi ấy đệ tử không chỉ đáp ứng với “bức xạ được tiếp sinh lực” đến từ chu vi của Thánh đoàn mà còn, ở mức độ ngày càng tăng, với “sức hút từ tính” phát ra từ chính Thánh đoàn, và đặc biệt từ ashram mà cuối cùng y phải tìm được đường vào.
If you will make a close study of all the above information, you may find some measure of enlightenment. It is the great simplicities which must be ever kept in mind: the [378] three great divine aspects, the septenates of the evolutionary process, the divine qualities or principles, and the relation of energy to force. With these clearly held in mind, the detail is of small moment the intuition rapidly assimilates and relates the detail, if there be need to do so, to the manifesting whole.
Nếu bạn nghiên cứu kỹ toàn bộ thông tin trên, bạn có thể tìm thấy một mức độ soi sáng nào đó. Chính những điều đơn giản lớn lao phải luôn được ghi nhớ: ba phương diện thiêng liêng lớn, các bộ bảy của tiến trình tiến hoá, các phẩm tính hay nguyên khí thiêng liêng, và mối liên hệ của năng lượng với mãnh lực. Khi những điều này được giữ rõ ràng trong tâm trí, chi tiết chỉ còn ít quan trọng; trực giác nhanh chóng đồng hóa và liên hệ chi tiết, nếu cần làm như vậy, với toàn thể đang biểu lộ.
To return to our theme, which is the expression of the great Ashram through the medium of the seven Ashrams, it is this magnetic energy of the first aspect which is found at the heart of the seven Ashrams, energised and enlightened from the reservoir of will energy found at the heart of the great Ashram itself. This reservoir is fed from the “centre where the will of God is known,” and the directing agent of this energy, within the Hierarchy itself, is the Christ and His two Associates, the Manu and the Mahachohan. The forty-nine subsidiary Ashrams (not all of which are yet functioning) are energised by the potency of will from the reservoir of energy at the heart of each major Ashram, these in their turn being fed from the central reservoir. The correspondence of this in the human centres is called the “jewel in the lotus.”
Trở lại với chủ đề của chúng ta, tức sự biểu lộ của đại ashram qua trung gian bảy ashram, chính năng lượng từ tính của phương diện thứ nhất này được tìm thấy ở trung tâm của bảy ashram, được tiếp năng lượng và soi sáng từ kho chứa năng lượng ý chí ở trung tâm của chính đại ashram. Kho chứa này được nuôi dưỡng từ “trung tâm nơi ý chí của Thượng đế được biết đến,” và tác nhân điều hướng của năng lượng này, bên trong chính Thánh đoàn, là Đức Christ cùng hai Đấng Phối Hợp của Ngài, Đức Manu và Đức Mahachohan. Bốn mươi chín ashram phụ thuộc (không phải tất cả đều đang hoạt động) được tiếp năng lượng bởi năng lực ý chí từ kho chứa năng lượng ở trung tâm của mỗi ashram chính, và đến lượt các kho này lại được nuôi dưỡng từ kho trung tâm. Sự tương ứng của điều này trong các trung tâm con người được gọi là “viên ngọc trong hoa sen.”
Let us now study the formation of the great Ashram and then (this will have more meaning for you) the gradual formation of the seven Ashrams under direct ray activity. This process lies in the past history of humanity and I shall only briefly touch upon it. Once formed, it became the task of these seven Ashrams to produce the forty-two Ashrams. These seven Ashrams express ray qualities, and the whole forty-nine are expressive of the forty-nine fires, referred to in The Secret Doctrine; through these fires, the God of Fire seeks to make Himself known.
Giờ đây chúng ta hãy nghiên cứu sự hình thành của đại ashram và rồi (điều này sẽ có ý nghĩa hơn đối với bạn) sự hình thành dần dần của bảy ashram dưới hoạt động trực tiếp của các cung. Tiến trình này thuộc về lịch sử quá khứ của nhân loại và tôi sẽ chỉ chạm đến nó một cách ngắn gọn. Một khi đã được hình thành, nhiệm vụ của bảy ashram này là tạo ra bốn mươi hai ashram. Bảy ashram này biểu lộ các phẩm tính cung, và toàn bộ bốn mươi chín ashram là biểu hiện của bốn mươi chín lửa, được nhắc đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm; qua những lửa này, Thượng đế của Lửa tìm cách làm cho chính Ngài được biết đến.
As we study some of the esoteric details connected with the life, the quality and, later, the appearance of the Ashrams of the Masters, I would remind you of certain points I have already made; your minds then will be predisposed to right thinking and interpretation. I am anxious for your approach to the subject to be correct. I have given you a number of definitions of an Ashram in the previous pages [379] and in my other books, and I would have you bear these in mind. The concept of a college group, of a band of workers or of a number of men and women working under the supervision of a Master is too apt to colour your thoughts. The complete freedom from all coercion or from any supervision of daily activity, the instinctive reaction of all within the Ashram to the ray influence and to the “breath of the prevailing Will” (as it is called) is something very different. I seek in what I intend to impart to you to give a very different impression. In our next section, on the dual life of the initiatory process, the newer concepts may emerge more clearly. The points I want you to bear in mind are as follows:
Khi chúng ta nghiên cứu một số chi tiết huyền bí học liên quan đến sự sống, phẩm tính và về sau là sắc tướng của các ashram của các Chân sư, tôi muốn nhắc bạn nhớ đến một số điểm mà tôi đã nêu ra; khi ấy trí tuệ của bạn sẽ được chuẩn bị sẵn cho tư duy và diễn giải đúng đắn. Tôi mong cách tiếp cận của bạn đối với chủ đề này phải đúng. Tôi đã đưa cho bạn một số định nghĩa về một ashram trong những trang trước [379] và trong các sách khác của tôi, và tôi muốn bạn ghi nhớ chúng. Khái niệm về một nhóm đại học, một ban người hoạt động hay một số những người nam và nữ làm việc dưới sự giám sát của một Chân sư quá dễ nhuộm màu tư tưởng của bạn. Sự hoàn toàn tự do khỏi mọi cưỡng ép hay khỏi bất kỳ sự giám sát nào đối với hoạt động hằng ngày, phản ứng bản năng của mọi người bên trong ashram đối với ảnh hưởng cung và đối với “hơi thở của Ý Chí đang ngự trị” (như nó được gọi) là điều rất khác. Trong điều tôi dự định truyền đạt cho bạn, tôi tìm cách tạo ra một ấn tượng rất khác. Trong phần kế tiếp của chúng ta, về đời sống nhị nguyên của tiến trình điểm đạo, những khái niệm mới hơn có thể sẽ hiện ra rõ ràng hơn. Những điểm tôi muốn bạn ghi nhớ như sau:
1. The great Ashram, the Hierarchy, is composed of many Ashrams, creating an “invoking area” of relationship for Sanat Kumara.
1. Đại ashram, tức Thánh đoàn, được cấu thành bởi nhiều ashram, tạo nên một “khu vực khẩn cầu” của mối liên hệ dành cho Đức Sanat Kumara.
2. The Christ, aided by the Manu and the Mahachohan, is the Coordinator of the entire life of the great Ashram.
2. Đức Christ, được Đức Manu và Đức Mahachohan trợ giúp, là Đấng Điều Hợp toàn bộ sự sống của đại ashram.
3. The personnel of the great Ashram is today entirely provided from the ranks of humanity. This was not so in the earlier cycles.
3. Nhân sự của đại ashram ngày nay hoàn toàn được cung cấp từ hàng ngũ nhân loại. Điều này không đúng trong các chu kỳ trước.
4. The great Ashram is formed of seven major Ashrams and forty-two secondary Ashrams which are gradually forming.
4. Đại ashram được hình thành bởi bảy ashram chính và bốn mươi hai ashram thứ yếu đang dần dần hình thành.
5. The entire Ashram is a unity, for the ashramic life in its differentiated groups is guarded by a ring-pass-not.
5. Toàn bộ ashram là một hợp nhất, vì đời sống ashram trong các nhóm đã biến phân của nó được canh giữ bởi một vòng-giới-hạn.
6. This ring-pass-not is provided by radiation.
6. Vòng-giới-hạn này được tạo ra bởi bức xạ.
7. The forty-two lesser Ashrams are held together by the magnetic interplay of the whole.
7. Bốn mươi hai ashram nhỏ hơn được giữ lại với nhau bởi sự tương tác từ tính của toàn thể.
8. Aspirants are drawn into relation with the Ashram through its radiation and enter finally into its magnetic field.
8. Những người chí nguyện được lôi kéo vào mối liên hệ với ashram qua bức xạ của nó và cuối cùng bước vào từ trường của nó.
9. There is a dual flow of energy or force into the great Ashram:
9. Có một dòng chảy kép của năng lượng hay mãnh lực đi vào đại ashram:
a. Energising life from Shamballa or what is called “unfettered enlightenment.” [380]
a. Sự sống tiếp năng lượng từ Shamballa hay điều được gọi là “giác ngộ không bị trói buộc.” [380]
b. The energy of active intelligence from Humanity, thus enabling the Masters to formulate the Plan.
b. Năng lượng của trí tuệ hoạt động từ Nhân loại, nhờ đó giúp các Chân sư hình thành Thiên Cơ.
10. The seven Ashrams are all concerned with the Plan.
10. Bảy ashram đều liên quan đến Thiên Cơ.
11. The Master Morya is the Head of all esoteric schools which truly prepare an aspirant for ashramic contact and work. The reason that a first ray Master is thus the Head is because it is the Will aspect which is developed within the Ashram.
11. Chân sư Morya là Đầu của mọi trường phái huyền bí học thực sự chuẩn bị một người chí nguyện cho sự tiếp xúc và công việc ashram. Lý do một Chân sư cung một lại là Đầu như vậy là vì chính phương diện Ý Chí được phát triển bên trong ashram.
12. It is the service of the Plan which binds the seven Ashrams, with their subsidiary Ashrams, into the one great Ashram.
12. Chính sự phụng sự Thiên Cơ gắn kết bảy ashram, cùng các ashram phụ thuộc của chúng, thành một đại ashram duy nhất.
13. It is only within his ray Ashram that the will of the disciple is developed.
13. Chỉ bên trong ashram cung của mình mà ý chí của đệ tử mới được phát triển.
14. The magnetic, dynamic energy of the first aspect of divinity is found at the heart of each of the seven Ashrams, fed from a reservoir of will energy which is found at the heart of the great Ashram itself.
14. Năng lượng từ tính, năng động của phương diện thứ nhất của thiên tính được tìm thấy ở trung tâm của mỗi một trong bảy ashram, được nuôi dưỡng từ một kho chứa năng lượng ý chí nằm ở trung tâm của chính đại ashram.
15. The forty-two subsidiary Ashrams are energised by the reservoir of will energy found at the heart of each of the major Ashrams.
15. Bốn mươi hai ashram phụ thuộc được tiếp năng lượng bởi kho chứa năng lượng ý chí nằm ở trung tâm của mỗi ashram chính.
16. The seven Ashrams express each the quality of their ray, one of the seven ray types.
16. Bảy ashram mỗi ashram biểu lộ phẩm tính của cung mình, một trong bảy loại cung.
If you will have these points in mind, the whole hierarchical theme will be recognised and correctly interpreted by you.
Nếu bạn ghi nhớ những điểm này, toàn bộ chủ đề về Thánh đoàn sẽ được bạn nhận biết và diễn giải một cách đúng đắn.
There was a time when (in the early history of the planet) there was no Hierarchy; there were only two major centres in the expression of the life of the Lord of the World: Shamballa and His embryonic throat centre, Humanity. Shamballa was the head centre. There was no humanity, such as we now know it, but only something so primitive that it is well-nigh impossible for you to grasp its significance or factual expression. But the life of God was there, plus an inherent “urge” and a dynamic “pull.” These two factors rendered the mass of men (if one may call them so) inchoately invocative, thus drawing from high spiritual centres certain developed and informed Lives Who—in increasing [381] numbers—”walked among men” and led them slowly, very slowly, forward into increasing light. The early history of the Hierarchy falls into two historical eras in the process of its becoming a “mediating Centre”:
Đã có một thời (trong lịch sử sơ khai của hành tinh) không có Thánh đoàn; chỉ có hai trung tâm chính trong biểu hiện sự sống của Đức Chúa Tể Thế Giới: Shamballa và trung tâm cổ họng phôi thai của Ngài, tức Nhân loại. Shamballa là trung tâm đầu. Không có nhân loại như chúng ta biết ngày nay, mà chỉ có một cái gì đó nguyên thủy đến mức bạn hầu như không thể nắm bắt được ý nghĩa hay biểu hiện thực tế của nó. Nhưng sự sống của Thượng đế đã ở đó, cộng với một “thúc đẩy” cố hữu và một “sức hút” năng động. Hai yếu tố này khiến khối người ấy (nếu có thể gọi họ như vậy) khẩn cầu một cách mơ hồ, nhờ đó lôi kéo từ các trung tâm tinh thần cao những Sự Sống đã phát triển và được thấm nhuần, những Đấng—với số lượng ngày càng tăng—“đi giữa loài người” và dẫn dắt họ chậm rãi, rất chậm rãi, tiến vào ánh sáng ngày càng tăng. Lịch sử ban đầu của Thánh đoàn rơi vào hai thời kỳ lịch sử trong tiến trình trở thành một “Trung tâm môi giới”:
First: The time when the relating, mediating, enlightening correspondences to Those we now call the Masters trod the earth with men and were not withdrawn and apparently invisible, as is now the case. Their task was to bring the primitive intelligence of humanity to the point where there could be the presentation of the Plan, with eventual cooperation. In occult parlance, Their work was the establishing of a rapport between the unrevealed second aspect (to which They were responsive) and Humanity. In this They succeeded, but the matter aspect and quality—that of active intelligence—was so strong that the second historical phase became essential.
Thứ nhất: Thời kỳ khi những sự tương ứng liên kết, môi giới, soi sáng với Những Đấng mà ngày nay chúng ta gọi là các Chân sư đi trên mặt đất cùng loài người và chưa rút lui và dường như vô hình, như hiện nay. Nhiệm vụ của Các Ngài là đưa trí tuệ nguyên thủy của nhân loại đến mức có thể trình bày Thiên Cơ, với sự hợp tác cuối cùng. Theo thuật ngữ huyền bí học, công việc của Các Ngài là thiết lập một sự giao cảm giữa phương diện thứ hai chưa được mặc khải (mà Các Ngài đáp ứng) và Nhân loại. Trong việc này Các Ngài đã thành công, nhưng phương diện vật chất và phẩm tính của nó—tức trí tuệ hoạt động—quá mạnh đến nỗi giai đoạn lịch sử thứ hai trở nên cần thiết.
Second: The time when the Hierarchy was created as we know it today; the heart centre of Sanat Kumara came into its own life, formed its own magnetic field, possessed its own ring-pass-not, and became a dynamic mediating centre between Shamballa and Humanity.
Thứ hai: Thời kỳ khi Thánh đoàn được tạo lập như chúng ta biết ngày nay; trung tâm tim của Đức Sanat Kumara đi vào sự sống riêng của nó, hình thành từ trường riêng, sở hữu vòng-giới-hạn riêng, và trở thành một trung tâm môi giới năng động giữa Shamballa và Nhân loại.
It has oft been told in occult and theosophical literature that the Hierarchy withdrew as a penalising measure because of the wickedness of mankind. This is only superficially true and is an instance of a man-made interpretation; giving us the first example of the fear-and-punishment psychology which—from that time on—has conditioned all religious teaching. The withdrawing Masters had Their Paul to distort the truth, just as had the Christ, Their august Head today. The truth was far otherwise.
Trong văn liệu huyền bí học và Thông Thiên Học, người ta thường nói rằng Thánh đoàn đã rút lui như một biện pháp trừng phạt vì sự độc ác của nhân loại. Điều này chỉ đúng một cách hời hợt và là một ví dụ của sự diễn giải do con người tạo ra; nó cho chúng ta ví dụ đầu tiên về tâm lý sợ hãi-và-trừng phạt, vốn từ thời điểm đó trở đi đã tác động lên mọi giáo huấn tôn giáo. Các Chân sư rút lui đã có vị Paul của Các Ngài để bóp méo chân lý, cũng như Đức Christ, Đấng đứng đầu uy nghi của Các Ngài ngày nay, đã có. Sự thật hoàn toàn khác.
The time came in those distant aeons when a certain percentage of human beings reached, through their own efforts, the stage (at that time demanded) of preparedness for initiation. This attainment brought surprising results:
Đã đến lúc trong những đại kiếp xa xưa ấy khi một tỷ lệ nhất định những con người đạt tới, nhờ nỗ lực riêng của họ, giai đoạn (vào thời đó được đòi hỏi) của sự chuẩn bị cho điểm đạo. Thành tựu này mang lại những kết quả đáng ngạc nhiên:
a. It became possible for certain of the Masters to “return from whence They came.”
a. Một số Chân sư có thể “trở về nơi Các Ngài đã đến.”
b. It became necessary to provide conditions where [382] these men “accepted for unfettered enlightenment” could receive the needed training.
b. Cần phải cung cấp những điều kiện trong đó [382] những người “được chấp nhận cho giác ngộ không bị trói buộc” này có thể nhận được sự huấn luyện cần thiết.
c. The process of creation had reached the evolutionary stage where the centres of the Lord of the World were differentiated; function and radiatory activity were established, and this produced a stronger “pull” and placed the Hierarchy “at the midway point.” A station of light and power was formed. All this was made possible because humanity could now produce its own “enlightened ones.”
c. Tiến trình sáng tạo đã đạt tới giai đoạn tiến hoá mà trong đó các trung tâm của Đức Chúa Tể Thế Giới đã được biến phân; chức năng và hoạt động bức xạ đã được thiết lập, và điều này tạo ra một “sức hút” mạnh hơn và đặt Thánh đoàn “ở điểm ở giữa.” Một trạm ánh sáng và quyền năng đã được hình thành. Tất cả điều này trở nên khả hữu vì nhân loại giờ đây có thể tạo ra những “đấng được soi sáng” của riêng mình.
These two historical periods (not events, except in so far that all TIME is a sequence or pattern of events) covered vast cycles; aeon by aeon, the work went on until we have today the three major centres in the planet, demonstrating great activity, much more closely related than ever before, and ready now to enter into a third historical period. In this coming cycle we shall see the first stages of the great spiritual fusion towards which all evolution tends; it will take the form of the externalisation of the Ashram, so that the Hierarchy (or the centre where the love of God is known and the purpose of Sanat Kumara is formulated into the Plan) and Humanity will meet on the physical plane and occultly know each other. Two centres then will be “visible in the light”—the Hierarchy and Humanity. When these two centres can work in full cooperation, then Shamballa will take form and will no longer be found existing only in cosmic etheric substance, as is now the case.
Hai thời kỳ lịch sử này (không phải là những biến cố, ngoại trừ ở chỗ mọi THỜI GIAN là một chuỗi hay mô hình của các biến cố) bao trùm những chu kỳ mênh mông; hết đại kiếp này đến đại kiếp khác, công việc vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay khi chúng ta có ba trung tâm chính trong hành tinh, biểu lộ hoạt động lớn lao, liên hệ với nhau chặt chẽ hơn bao giờ hết, và giờ đây sẵn sàng bước vào một thời kỳ lịch sử thứ ba. Trong chu kỳ sắp đến này, chúng ta sẽ thấy những giai đoạn đầu tiên của sự dung hợp tinh thần lớn lao mà mọi tiến hoá đều hướng tới; nó sẽ mang hình thức ngoại hiện của ashram, để Thánh đoàn (hay trung tâm nơi tình thương của Thượng đế được biết đến và Thiên Ý của Đức Sanat Kumara được hình thành thành Thiên Cơ) và Nhân loại sẽ gặp nhau trên cõi hồng trần và biết nhau theo huyền bí học. Khi ấy hai trung tâm sẽ “hữu hình trong ánh sáng”—Thánh đoàn và Nhân loại. Khi hai trung tâm này có thể làm việc trong sự hợp tác trọn vẹn, khi ấy Shamballa sẽ mang hình tướng và sẽ không còn chỉ hiện hữu trong chất liệu dĩ thái vũ trụ như hiện nay nữa.
What this means, how it will be accomplished, and what the implications are, will be revealed in such a distant future that we need waste no time considering it. We are working and living in the initial stages of the period wherein preparation is being made for the emergence of the Hierarchy into the world of men. This emergence is at present purely on to mental levels, but when the thoughtform of exoteric existence is created by Humanity itself and the invocative cry is intense enough, then the Great Ashram will slowly make its appearance upon the physical plane.
Điều này có nghĩa gì, sẽ được hoàn thành như thế nào, và các hàm ý là gì, sẽ được mặc khải trong một tương lai xa xôi đến mức chúng ta không cần phí thời gian suy xét về nó. Chúng ta đang làm việc và sống trong những giai đoạn đầu của thời kỳ mà trong đó sự chuẩn bị đang được thực hiện cho sự xuất hiện của Thánh đoàn vào thế giới loài người. Hiện nay, sự xuất hiện này thuần túy chỉ ở trên các cấp độ trí tuệ, nhưng khi Hình tư tưởng về sự tồn tại ngoại môn được chính Nhân loại tạo ra và tiếng kêu khẩn cầu đủ mãnh liệt, thì Đại Ashram sẽ từ từ xuất hiện trên cõi hồng trần.
On that plane, the distinction between the two centres [383] will be preserved, but the inner relationship and the spiritual fusion will steadily proceed until:
Trên cõi đó, sự phân biệt giữa hai trung tâm [383] sẽ được duy trì, nhưng mối liên hệ bên trong và sự dung hợp tinh thần sẽ đều đặn tiến triển cho đến khi:
Soul and personality are one,
Linh hồn và phàm ngã là một,
Love and intelligence are coordinated,
Bác ái và trí tuệ được phối hợp,
Plan and fulfillment are achieved.
Thiên Cơ và sự hoàn thành được đạt tới.
All this will be brought about through the invocative spirit in man, plus the initiatory process, carried on in the Ashrams of the great Ashram. What this coming process will entail of change in civilisation, in human nature and in the group expression of the human spirit—religions, society and politics—it is not possible here to say; so much lies hidden in the free will and right timing of mankind. But that future of spiritual cooperation and interplay within and without the great Ashram is assured, and for it all true disciples are working. The world situation today is therefore one of great interest. Humanity, the world disciple, is in process of recovering from a major test, prior to a great step forward towards a conscious approach to more spiritual living; this, factually, means a definite approach to the Hierarchy.
Tất cả điều này sẽ được mang lại nhờ tinh thần khẩn cầu trong con người, cộng với tiến trình điểm đạo, được tiến hành trong các ashram của đại Ashram. Tiến trình sắp đến này sẽ bao hàm những thay đổi gì trong nền văn minh, trong bản chất con người và trong sự biểu lộ tập thể của tinh thần nhân loại—tôn giáo, xã hội và chính trị—thì ở đây không thể nói được; quá nhiều điều còn ẩn giấu trong ý chí tự do và thời điểm đúng đắn của nhân loại. Nhưng tương lai của sự hợp tác và tương tác tinh thần ấy, cả bên trong lẫn bên ngoài đại Ashram, là điều chắc chắn, và vì nó mà mọi đệ tử chân chính đang làm việc. Vì vậy, tình hình thế giới ngày nay là một điều hết sức đáng quan tâm. Nhân loại, đệ tử thế giới, đang trong tiến trình hồi phục sau một thử thách lớn, trước khi tiến một bước lớn lao hướng tới sự tiếp cận có ý thức với một đời sống tinh thần hơn; trên thực tế, điều này có nghĩa là một sự tiếp cận rõ rệt với Thánh đoàn.
In the meantime the Hierarchy is orienting itself to a much closer rapport with humanity, and to an interior reorganisation which will make it possible to admit disciples in large numbers into the great Ashram. This will lead to the implementation of the lesser Ashrams and also to a preparation for the transmission of more of the Will energy, through the great Ashram, into the throat centre of Sanat Kumara, Humanity.
Trong khi đó, Thánh đoàn đang tự định hướng tới một sự tương giao gần gũi hơn nhiều với nhân loại, và tới một sự tái tổ chức nội tại sẽ làm cho việc tiếp nhận đông đảo đệ tử vào đại Ashram trở nên khả hữu. Điều này sẽ dẫn đến việc triển khai các ashram nhỏ hơn và cũng dẫn đến sự chuẩn bị cho việc truyền dẫn nhiều hơn năng lượng Ý Chí, qua đại Ashram, vào trung tâm cổ họng của Đức Sanat Kumara, tức Nhân loại.
The seven major Ashrams are each responsive to one of seven types of ray energy and are focal points in the Hierarchy of the seven rays. The central, senior and major Ashram is (at this time) the repository of second ray energy, as this ray governs this second solar system. It is the Ashram of Love-Wisdom—the Ashram in which the Buddha and the Christ received Their initiations and through which each of Them works. It will be obvious that if the process of invocation and evocation governs the interplay of the planetary centres, you have in this fact another reason why the senior Ashram is second ray in quality. Invocation is related [384] to radiation. Evocation is related to magnetism. These are two points worthy of your consideration.
Bảy Ashram chính, mỗi Ashram đều đáp ứng với một trong bảy loại năng lượng cung và là những tiêu điểm trong Thánh đoàn của bảy cung. Ashram trung tâm, cao niên và chính yếu là (vào lúc này) nơi lưu giữ năng lượng cung hai, vì cung này cai quản hệ mặt trời thứ hai này. Đó là Ashram của Bác Ái – Minh Triết—Ashram mà trong đó Đức Phật và Đức Christ đã nhận các cuộc điểm đạo của Các Ngài và qua đó mỗi Đấng đều hoạt động. Hiển nhiên là nếu tiến trình Khẩn Cầu và Gợi Lên chi phối sự tương tác của các trung tâm hành tinh, thì trong sự kiện này bạn có thêm một lý do nữa vì sao Ashram cao niên có phẩm tính cung hai. Khẩn Cầu có liên hệ [384] với sự bức xạ. Gợi Lên có liên hệ với từ điện. Đây là hai điểm đáng để bạn suy ngẫm.
The other six major Ashrams came sequentially into being as the invocation of primitive man reached such a point of intensity of expression that a response was evoked from Shamballa, via its ray Representatives, working with directed energy in the three worlds. A “point of radiatory force” was established, at first in relation to the second ray Ashram, and later to the other Ashrams. One by one, as the rays cycled into activity in the three worlds and eventually on the physical plane, the seven Ashrams were founded, developed and expanded until the time arrived—several aeons ago—when all seven Ashrams were fully organised, and through them passed a steady flow of human beings liberating themselves from the three worlds.
Sáu Ashram chính khác lần lượt đi vào hiện hữu khi sự khẩn cầu của con người nguyên thủy đạt tới một mức độ mãnh liệt trong biểu lộ đến nỗi một sự đáp ứng được gợi lên từ Shamballa, qua các Đại Diện cung của nó, hoạt động với năng lượng được định hướng trong ba cõi giới. Một “điểm mãnh lực bức xạ” được thiết lập, lúc đầu liên hệ với Ashram cung hai, và về sau với các Ashram khác. Từng Ashram một, khi các cung luân phiên đi vào hoạt động trong ba cõi giới và cuối cùng trên cõi hồng trần, bảy Ashram đã được thành lập, phát triển và mở rộng cho đến khi thời điểm đến—cách đây nhiều đại kiếp—mà cả bảy Ashram đều được tổ chức đầy đủ, và qua chúng có một dòng chảy ổn định của những con người đang tự giải thoát mình khỏi ba cõi giới.
In the earliest times this flow of disciples was exceedingly small. One by one, individual aspirants found their way out of the ranks of humanity and inside the ring-pass-not of the Hierarchy. In the beginning, only the first two initiations were given and only through the instrumentality of the second ray; and at these initiations the World Teacher of the period of officiated.
Trong những thời kỳ sớm nhất, dòng chảy đệ tử này cực kỳ nhỏ. Từng người một, các người chí nguyện cá nhân tìm được lối ra khỏi hàng ngũ nhân loại và đi vào bên trong vòng-giới-hạn của Thánh đoàn. Ban đầu, chỉ có hai lần điểm đạo đầu tiên được ban truyền và chỉ qua công cụ của cung hai; và trong các cuộc điểm đạo này, Đức Chưởng Giáo của thời kỳ đó chủ trì.
Then at a time when the seventh Ray of Ceremonial Order (the ray which plays so potent and mysterious a part in the phase of discipleship called initiation) was in cyclic activity, a much greater number of disciples appeared, prepared for initiation; the initiatory process was then administered in a seventh ray Ashram; this seventh ray Ashram was the second to be formed, owing to the fact that the seventh ray is the relating factor between life and matter upon the form side. Again, so the ancient Archives tell us, there came a great crisis in the evolution of humanity; this necessitated one of the rare cyclic changes which have distinguished the fluid policy of the Hierarchy. Men began to demonstrate responsiveness to the Law of Integration and personality appeared with all its potentiality for good and evil. Man became an integrated unit in the three worlds. A great possibility then emerged; man could, through training [385] and the use of the mind, make contact with the soul. This had not hitherto been done except to a slight degree. This crisis therefore led to the creation, or rather to the appearance, of the initiatory process to which we have given the name of the third initiation.
Rồi đến một thời điểm khi cung bảy của Trật Tự Nghi Lễ (cung đóng một vai trò mạnh mẽ và huyền nhiệm như vậy trong giai đoạn địa vị đệ tử gọi là điểm đạo) hoạt động theo chu kỳ, một số lượng đệ tử lớn hơn nhiều xuất hiện, đã được chuẩn bị cho điểm đạo; khi ấy tiến trình điểm đạo được cử hành trong một ashram cung bảy; ashram cung bảy này là ashram thứ hai được hình thành, do sự kiện rằng cung bảy là yếu tố liên kết giữa sự sống và vật chất ở phía hình tướng. Lại nữa, như các Cổ Văn Khố cho chúng ta biết, đã xảy ra một cuộc khủng hoảng lớn trong sự tiến hoá của nhân loại; điều này đòi hỏi một trong những thay đổi chu kỳ hiếm hoi vốn đã phân biệt chính sách linh động của Thánh đoàn. Con người bắt đầu biểu lộ sự đáp ứng với Định luật sự tích hợp và phàm ngã xuất hiện với toàn bộ tiềm năng thiện và ác của nó. Con người trở thành một đơn vị tích hợp trong ba cõi giới. Khi ấy một khả năng lớn lao xuất hiện; con người có thể, qua sự huấn luyện [385] và việc sử dụng trí tuệ, tiếp xúc với linh hồn. Trước đó điều này chưa từng được thực hiện ngoại trừ ở một mức độ nhỏ. Vì vậy, cuộc khủng hoảng này đã dẫn đến việc tạo ra, hay đúng hơn là sự xuất hiện, của tiến trình điểm đạo mà chúng ta đã đặt tên là lần điểm đạo thứ ba.
The Hierarchy for the first time realised the complete success of the vast work, carried on in the human centre for millions of years. Soul and personality could be and were intelligently fused. This is one of the reasons why the Hierarchy regards the third initiation as the first major initiation; it marked a point of complete soul-personality integration. In the earlier initiations, the soul was present but was still only occasionally in control; constant failure in the three worlds was still possible, and the relation between the man in the three worlds and his soul was nebulous and largely potential. You will realise what I mean when I point out that many thousands of people in the world today have taken the first initiation and are oriented towards the spiritual life and the service of their fellowmen; their lives, however, frequently leave much to be desired, and the soul is obviously not in constant control; a great struggle is still being waged to achieve purification on all three levels. The lives of these initiates are faulty and their inexperience great, and a major attempt is instituted in this particular cycle to achieve soul fusion. When that is attained, then the third initiation (the first, hierarchically speaking) is taken. Today this triple process of preparation, purification and fusion is the ordinary practice of the disciple and the process has prevailed for untold years; but when this fusion first occurred, it marked a great hierarchical event. It was a crisis of supreme spiritual import.
Lần đầu tiên, Thánh đoàn nhận ra sự thành công trọn vẹn của công việc bao la đã được tiến hành trong trung tâm nhân loại suốt hàng triệu năm. Linh hồn và phàm ngã có thể được và đã được dung hợp một cách thông minh. Đây là một trong những lý do vì sao Thánh đoàn xem lần điểm đạo thứ ba là lần điểm đạo lớn đầu tiên; nó đánh dấu một điểm tích hợp hoàn toàn giữa linh hồn và phàm ngã. Trong các lần điểm đạo trước đó, linh hồn hiện diện nhưng vẫn chỉ thỉnh thoảng kiểm soát; sự thất bại liên tục trong ba cõi giới vẫn còn có thể xảy ra, và mối liên hệ giữa con người trong ba cõi giới với linh hồn của y còn mơ hồ và phần lớn chỉ là tiềm năng. Bạn sẽ hiểu điều tôi muốn nói khi tôi chỉ ra rằng ngày nay có nhiều ngàn người trên thế giới đã nhận lần điểm đạo thứ nhất và đang định hướng về đời sống tinh thần và sự phụng sự đồng loại; tuy nhiên, đời sống của họ thường còn nhiều điều chưa đạt, và linh hồn hiển nhiên không kiểm soát thường xuyên; một cuộc đấu tranh lớn vẫn đang được tiến hành để đạt sự thanh luyện trên cả ba cấp độ. Đời sống của các điểm đạo đồ này còn nhiều khiếm khuyết và sự thiếu kinh nghiệm của họ rất lớn, và trong chu kỳ đặc biệt này một nỗ lực lớn đang được thiết lập để đạt sự dung hợp linh hồn. Khi điều đó đạt được, thì lần điểm đạo thứ ba (lần thứ nhất, xét theo phẩm trật) được tiếp nhận. Ngày nay tiến trình tam phân này gồm chuẩn bị, thanh luyện và dung hợp là thực hành thông thường của đệ tử và tiến trình ấy đã thịnh hành từ những thời kỳ không thể đếm được; nhưng khi sự dung hợp này lần đầu xảy ra, nó đánh dấu một biến cố lớn của Thánh đoàn. Đó là một cuộc khủng hoảng có tầm quan trọng tinh thần tối thượng.
As you know, the first human being out of that “centre which we call the race of men” to achieve this point was the Christ; in that first great demonstration of His point of attainment (through the medium of what was then a new type of initiation) the Christ was joined by the Buddha. The Buddha had attained this same point prior to the creation of our planetary life, but conditions for taking the third initiation [386] were not then available, and He and the Christ took the initiation together. At this initiation, and since then for all initiates of that degree of attainment, They stood in the Presence of the One Initiator, the Lord of the World, and not in the Presence of the Initiate Who was then Head of the Hierarchy. This third initiation was taken in a fourth ray Ashram, the Ray of Harmony through Conflict. This Ashram had taken form and attained functioning activity some time earlier. You can see, under the Law of Correspondences, why this was so. The first human being in the fourth kingdom in nature to take this initiation did so in a fourth ray Ashram and then, esoterically speaking, “the Way lay open toward the Cross”; the initiate faced the process of extension on the Cross, and from that vantage point could view the three worlds. The fourth initiation then became a possibility; the crucifixion faced the disciple of the third degree with its promise of complete liberation and final resurrection.
Như bạn đã biết, con người đầu tiên từ “trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại” đạt tới điểm này là Đức Christ; trong cuộc biểu lộ lớn đầu tiên ấy về điểm thành tựu của Ngài (qua trung gian của một loại điểm đạo khi đó còn mới), Đức Christ được Đức Phật cùng tham dự. Đức Phật đã đạt tới cùng điểm này trước khi sự sống hành tinh của chúng ta được tạo ra, nhưng khi đó các điều kiện để nhận lần điểm đạo thứ ba [386] chưa có sẵn, và Ngài cùng Đức Christ đã nhận cuộc điểm đạo ấy với nhau. Trong cuộc điểm đạo này, và từ đó về sau đối với mọi điểm đạo đồ đạt tới cấp độ ấy, Các Ngài đứng trước Sự Hiện Diện của Đấng Điểm đạo Duy Nhất, Đức Chúa Tể Thế Giới, chứ không đứng trước Sự Hiện Diện của Điểm đạo đồ khi đó là Đầu của Thánh đoàn. Lần điểm đạo thứ ba này được tiếp nhận trong một ashram cung bốn, Cung của Hài Hòa qua Xung Đột. Ashram này đã thành hình và đạt hoạt động chức năng từ một thời gian trước đó. Theo định luật tương ứng, bạn có thể thấy vì sao điều này là như vậy. Con người đầu tiên trong giới thứ tư của thiên nhiên nhận cuộc điểm đạo này đã làm như thế trong một ashram cung bốn và rồi, nói theo huyền bí học, “Con Đường mở ra hướng về Thập Giá”; điểm đạo đồ đối diện với tiến trình mở rộng trên Thập Giá, và từ điểm thuận lợi đó có thể nhìn thấy ba cõi giới. Khi ấy lần điểm đạo thứ tư trở thành một khả năng; sự đóng đinh đặt trước đệ tử cấp ba lời hứa về sự giải thoát hoàn toàn và sự phục sinh cuối cùng.
You can see, therefore, what a tremendous crisis took place in the relation between Humanity and the Hierarchy—a crisis of such importance that Shamballa became involved and the Lord of time World Himself admitted the initiate to the higher contacts. Between that time and the crucifixion of the Master Jesus, the sixth ray Ashram, the fifth and the third, have all been formed around the nucleus of light, started by the ray Lords much earlier. The point of light and of will energy at the centre of each Ashram has existed for untold millennia of years, but the Ashrams themselves were only slowly formed around the nucleus as the various types of energy swept into manifestation and brought with them human types responsive to the ray energy.
Vì vậy, bạn có thể thấy cuộc khủng hoảng to lớn đã diễn ra trong mối liên hệ giữa Nhân loại và Thánh đoàn—một cuộc khủng hoảng quan trọng đến mức Shamballa đã can dự và chính Đức Chúa Tể Thế Giới đã tiếp nhận điểm đạo đồ vào các tiếp xúc cao hơn. Giữa thời điểm đó và cuộc đóng đinh của Chân sư Jesus, ashram cung sáu, cung năm và cung ba đều đã được hình thành quanh hạt nhân ánh sáng, vốn đã được các Đấng Chúa Tể Cung khởi xướng từ lâu trước đó. Điểm ánh sáng và năng lượng ý chí ở trung tâm mỗi Ashram đã tồn tại suốt những thiên niên kỷ không thể đếm được, nhưng bản thân các Ashram chỉ từ từ được hình thành quanh hạt nhân ấy khi các loại năng lượng khác nhau tràn vào biểu hiện và mang theo những loại người đáp ứng với năng lượng cung.
When the Master Jesus took the Crucifixion Initiation, another crisis arose of equally great import, if not greater. The crisis was brought about because simultaneously with the crucifixion of the Master, the Head of the Hierarchy, the Christ, took two initiations in one: the Resurrection Initiation and that of the Ascension. These are the fifth and sixth initiations, according to the Christian terminology. [387] This was possible because the first ray Ashram was now active, making entry into the Council Chamber at Shamballa possible. When the Christ achieved this, He was deemed worthy of embodying in Himself a new principle in evolution and of revealing to the world the nature of the second ray aspect—the divine principle of love (as humanity calls it) or of pure reason (as the Hierarchy calls it).
Khi Chân sư Jesus nhận Cuộc Điểm Đạo Đóng Đinh, một cuộc khủng hoảng khác lại phát sinh có tầm quan trọng ngang bằng, nếu không muốn nói là lớn hơn. Cuộc khủng hoảng này xảy ra vì đồng thời với sự đóng đinh của Chân sư, Đầu của Thánh đoàn là Đức Christ đã nhận hai cuộc điểm đạo trong một: Cuộc Điểm Đạo Phục Sinh và Cuộc Điểm Đạo Thăng Thiên. Theo thuật ngữ Cơ Đốc giáo, đây là lần điểm đạo thứ năm và thứ sáu. [387] Điều này có thể xảy ra vì ashram cung một lúc ấy đã hoạt động, khiến việc đi vào Phòng Hội Đồng tại Shamballa trở nên khả hữu. Khi Đức Christ đạt được điều này, Ngài được xem là xứng đáng để hiện thân trong chính mình một nguyên khí mới trong tiến hoá và mặc khải cho thế giới bản chất của phương diện cung hai—nguyên khí thiêng liêng của bác ái (như nhân loại gọi) hay của lý trí thuần túy (như Thánh đoàn gọi).
Since that time, all the seven major Ashrams have been fully organised and are steadily increasing in radiatory activity. As you will have noted, the order of their appearance—under ray activity—was 2, 7, 4, 6, 5, 3, 1. In giving this item of ashramic information I am giving you more hints than you will immediately realise.
Kể từ thời điểm đó, cả bảy Ashram chính đã được tổ chức đầy đủ và đang đều đặn gia tăng hoạt động bức xạ. Như bạn hẳn đã lưu ý, thứ tự xuất hiện của chúng—dưới hoạt động của các cung—là 2, 7, 4, 6, 5, 3, 1. Khi đưa cho bạn chi tiết thông tin ashram này, tôi đang cho bạn nhiều gợi ý hơn là bạn sẽ nhận ra ngay.
Each Ashram, as you know, expresses ray quality in its purest and most essential form. During the process of creating the seven Ashrams, they have shifted their focus (or location) from the lowest of the three levels of the abstract mental plane at each major crisis, until today the Ashrams are to be found on the buddhic plane and not on the mental plane at all. This marks the triumph of the hierarchical work, because pure reason—through the second ray—is now the dominant quality in all the Ashrams. Forget not in this connection that all the rays are subrays of the second Ray of Love-Wisdom, but that in the early days of hierarchical activity, it was the particular quality of the ray which dominated an Ashram that first demonstrated, and not the quality of the great major ray of which they were all a part.
Mỗi Ashram, như bạn biết, biểu lộ phẩm tính cung trong hình thức thuần khiết và cốt yếu nhất của nó. Trong tiến trình tạo ra bảy Ashram, chúng đã chuyển tiêu điểm (hay vị trí) của mình từ cấp thấp nhất trong ba cấp của cõi thượng trí trừu tượng tại mỗi cuộc khủng hoảng lớn, cho đến ngày nay các Ashram được tìm thấy trên cõi Bồ đề chứ hoàn toàn không còn trên cõi trí nữa. Điều này đánh dấu chiến thắng của công việc của Thánh đoàn, bởi vì lý trí thuần túy—qua cung hai—nay là phẩm tính chi phối trong mọi Ashram. Trong mối liên hệ này, đừng quên rằng mọi cung đều là các cung phụ của cung hai Bác Ái – Minh Triết, nhưng trong những ngày đầu hoạt động của Thánh đoàn, chính phẩm tính đặc thù của cung chi phối một Ashram là điều được biểu lộ trước tiên, chứ không phải phẩm tính của đại cung chính yếu mà tất cả chúng đều là một phần.
Today this is all changing, though the process is not yet perfected, and pure reason or true love is beginning to manifest itself through the quality of all the rays, functioning through their respective Ashrams. The secondary ray quality will not die out or in any way be lessened, but each ray quality will serve to implement the expression of pure love, which is the essential and—at this time—the primary quality of the Lord of the World, Sanat Kumara.
Ngày nay tất cả điều này đang thay đổi, dù tiến trình ấy vẫn chưa hoàn hảo, và lý trí thuần túy hay bác ái chân thật đang bắt đầu tự biểu lộ qua phẩm tính của mọi cung, hoạt động qua các Ashram tương ứng của chúng. Phẩm tính cung thứ yếu sẽ không mất đi hay bị giảm bớt theo bất kỳ cách nào, nhưng mỗi phẩm tính cung sẽ phụng sự cho việc triển khai sự biểu lộ của bác ái thuần túy, vốn là phẩm tính cốt yếu và—vào lúc này—là phẩm tính chính yếu của Đức Chúa Tể Thế Giới, Đức Sanat Kumara.
As the centuries have slipped away and the potency of the rays has increased on Earth, humanity has become more and more invocative; this has necessitated the expansion of [388] the Hierarchy itself, and each Ashram has become the creator of six other Ashrams (few of them as yet complete, and some entirely embryonic), so that, in fact, all the forty-nine Ashrams are in the making. The second ray, for instance, has five affiliated Ashrams and one of which only the nucleus exists, and all these are working under its inspiration and through the effect of the second ray central fire. All have at their centre a second ray disciple. The third ray has already two subsidiary Ashrams; the sixth has four, and so on. The first ray is the only one at this time with no subsidiary fully functioning Ashram, and this because the will aspect is as yet very little understood and few initiates can meet the requirements of the first ray initiation. This is no reflection upon humanity. It is a question of divine timing and expediency, and Shamballa is not yet prepared for an influx of first ray initiates. Ages must pass before this Will aspect will have reached the stage of unfoldment and expression on the physical plane and through the medium of mankind which will warrant the fusing of six first ray fires—the purest fires there are.
Khi các thế kỷ trôi qua và uy lực của các cung gia tăng trên Trái Đất, nhân loại ngày càng trở nên khẩn cầu hơn; điều này đã đòi hỏi sự mở rộng của [388] chính Thánh đoàn, và mỗi Ashram đã trở thành đấng sáng tạo của sáu Ashram khác (ít Ashram trong số đó hiện đã hoàn chỉnh, và một số còn hoàn toàn ở giai đoạn phôi thai), đến nỗi trên thực tế, tất cả bốn mươi chín Ashram đều đang trong tiến trình hình thành. Chẳng hạn, cung hai có năm Ashram liên kết và trong số đó có một Ashram mà chỉ mới có hạt nhân tồn tại, và tất cả đều đang hoạt động dưới cảm hứng của nó và qua hiệu quả của ngọn lửa trung tâm cung hai. Tất cả đều có ở trung tâm một đệ tử cung hai. Cung ba đã có hai Ashram phụ thuộc; cung sáu có bốn, v.v. Cung một hiện nay là cung duy nhất chưa có Ashram phụ thuộc nào hoạt động đầy đủ, và điều này là vì phương diện ý chí cho đến nay vẫn còn rất ít được thấu hiểu và ít điểm đạo đồ có thể đáp ứng các yêu cầu của cuộc điểm đạo cung một. Đây không phải là sự phản ánh bất lợi đối với nhân loại. Đó là vấn đề thời điểm thiêng liêng và sự thích nghi, và Shamballa vẫn chưa sẵn sàng cho một làn sóng tràn vào của các điểm đạo đồ cung một. Nhiều thời đại phải trôi qua trước khi phương diện Ý Chí này đạt tới giai đoạn khai mở và biểu lộ trên cõi hồng trần và qua trung gian nhân loại, đủ để bảo đảm cho sự dung hợp của sáu ngọn lửa cung một—những ngọn lửa thuần khiết nhất hiện có.
If you will add all the above information as a background to what you know about ashramic work today, you will have a more complete picture of evocative and spiritual reality. You know much (for I have told you much) anent the Ashrams open today and the requirements for acceptance. It is essential that the uniqueness of the initiatory process be discounted. Down the ages men have achieved, are achieving and will achieve. The only difference is that—as the intellect of man develops—the requirements for initiation become more drastic and exacting, and the initiate therefore becomes of a distinctly higher order. The Master today is infinitely wiser and more full of love and more “occultly reasonable” than was the Master in Atlantean times. This in itself constitutes a reasonable fact, does it not, my brothers?
Nếu bạn thêm tất cả thông tin trên làm nền cho điều bạn biết về công việc ashram ngày nay, bạn sẽ có một bức tranh đầy đủ hơn về thực tại gợi lên và tinh thần. Bạn biết nhiều (vì tôi đã nói với bạn nhiều) liên quan đến các Ashram hiện nay đang mở và các yêu cầu để được chấp nhận. Điều cốt yếu là phải giảm nhẹ tính độc nhất của tiến trình điểm đạo. Qua các thời đại, con người đã đạt được, đang đạt được và sẽ đạt được. Sự khác biệt duy nhất là—khi trí tuệ của con người phát triển—các yêu cầu cho điểm đạo trở nên nghiêm ngặt và khắt khe hơn, và vì thế điểm đạo đồ trở thành một hạng người cao hơn hẳn. Chân sư ngày nay minh triết hơn vô hạn, đầy bác ái hơn và “hợp lý theo huyền bí học” hơn Chân sư thời Atlantis. Điều này tự nó là một sự kiện hợp lý, phải không, Huynh đệ của Tôi?
In considering the work carried forward in the Ashram as it affects the Masters Themselves, two ideas automatically emerge: [389]
Khi xem xét công việc được tiến hành trong Ashram trong chừng mực nó ảnh hưởng đến chính các Chân sư, hai ý tưởng tự động xuất hiện: [389]
1. The Masters are also subject to limitation. The general idea of all aspirants is that They represent Those Who leave achieved freedom, have been liberated, and are therefore held by no limiting circumstances whatsoever. This is not true, though—speaking relatively, or so far as humanity is concerned—it is a fact that the limitations by which They were held as human beings are no longer present. But one achieved freedom only opens the door to another and wider freedom on ahead, and the ring-pass-not of our planetary Life in itself constitutes a powerful limitation. Speaking symbolically, somewhere in that great dividing wall of our planetary circumference, the Master must find an exit and discover a door which will permit Him to enter the Way of the Higher Evolution in its more cosmic stages. This Way leads Them in awareness and consciousness and experience into that “life more abundantly” of which Christ spoke; the origin and source of this more abundant life is to be found on cosmic levels, and not on the levels of the cosmic physical plane to which humanity and the Masters have hitherto been confined.
1. Các Chân sư cũng chịu sự giới hạn. Ý niệm chung của mọi người chí nguyện là Các Ngài tượng trưng cho Những Đấng đã đạt được tự do, đã được giải thoát, và vì vậy không còn bị bất kỳ hoàn cảnh giới hạn nào giữ lại nữa. Điều này không đúng, mặc dù—nói tương đối, hay trong chừng mực liên quan đến nhân loại—đúng là những giới hạn từng trói buộc Các Ngài khi còn là con người nay không còn nữa. Nhưng một tự do đạt được chỉ mở cánh cửa đến một tự do khác rộng lớn hơn ở phía trước, và vòng-giới-hạn của Sự sống Hành tinh của chúng ta tự nó đã cấu thành một giới hạn mạnh mẽ. Nói theo biểu tượng, ở đâu đó trong bức tường phân chia lớn lao của chu vi hành tinh chúng ta, Chân sư phải tìm ra một lối thoát và khám phá một cánh cửa cho phép Ngài bước vào Con đường Tiến Hóa Cao Siêu trong các giai đoạn vũ trụ hơn của nó. Con đường này dẫn Các Ngài trong nhận biết, tâm thức và kinh nghiệm vào “sự sống phong phú hơn” mà Đức Christ đã nói đến; nguồn gốc và cội nguồn của sự sống phong phú hơn này được tìm thấy trên các cấp độ vũ trụ, chứ không phải trên các cấp độ của cõi hồng trần vũ trụ mà nhân loại và các Chân sư cho đến nay vẫn bị giới hạn trong đó.
2. I am dealing with states of awareness and with experiences and spiritual undertakings which lie outside my own personal realisation. But in spite of this truth, just as you in the position of aspirants and disciples know much about the Hierarchy, its life, aims and conditioning rules, so do I, a Master of the fifth degree, know much concerning what lies ahead of me; I can therefore endeavour to make some small part of these essential truths clearer to those who can profit by them. Such people will necessarily be initiated disciples.
2. Tôi đang đề cập đến các trạng thái nhận biết và các kinh nghiệm cùng các công việc tinh thần nằm ngoài sự chứng nghiệm cá nhân của chính tôi. Nhưng bất chấp sự thật này, cũng như các bạn ở vị trí người chí nguyện và đệ tử biết nhiều về Thánh đoàn, đời sống, mục tiêu và các quy luật tác động của nó, thì tôi, một Chân sư cấp năm, cũng biết nhiều về điều đang ở phía trước tôi; vì vậy tôi có thể cố gắng làm sáng tỏ phần nào những chân lý cốt yếu này cho những ai có thể hưởng lợi từ chúng. Những người ấy tất yếu sẽ là các đệ tử đã được điểm đạo.
Years ago (in 1922) when I gave the names of the seven Paths along one of which a Master must go (Initiation, Human and Solar), it was felt by Those for Whom I was working that humanity was not ready for the information which I now propose to give. I would here remind you that I have ever stated that even the Hierarchy does not know exactly how humanity will react or what progress they will make within a given time. Since I gave the earlier exoteric information, the world war took place, the forces of hidden evil [390] emerged for a short period and were then routed, and humanity has awakened to truer values and spiritual perception to a totally unexpected extent. Men have been so aroused by the past agony that never again will they fall asleep; they may move slowly but they are, for the first time on a large scale, really thinking and visioning. For this reason, it is now possible to give out teaching hitherto regarded as too advanced. There are those alive today who will understand; there are those coming into incarnation during the next fifty years whose feet are already set upon this Higher Way, and it is for them I write.
Nhiều năm trước (năm 1922), khi tôi nêu tên bảy Con Đường mà theo một trong số đó Chân sư phải đi (Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương), Những Đấng mà tôi đang làm việc cho các Ngài cảm thấy rằng nhân loại chưa sẵn sàng cho thông tin mà nay tôi dự định đưa ra. Ở đây tôi muốn nhắc bạn rằng tôi luôn luôn nói rằng ngay cả Thánh đoàn cũng không biết chính xác nhân loại sẽ phản ứng ra sao hay họ sẽ tiến bộ đến mức nào trong một thời gian nhất định. Kể từ khi tôi đưa ra thông tin ngoại môn trước đó, chiến tranh thế giới đã xảy ra, các lực lượng của điều ác ẩn giấu [390] đã xuất hiện trong một thời gian ngắn rồi bị đánh bại, và nhân loại đã thức tỉnh trước những giá trị chân thật hơn và tri giác tinh thần ở một mức độ hoàn toàn không ngờ tới. Con người đã bị đánh thức mạnh mẽ bởi nỗi đau khổ trong quá khứ đến mức họ sẽ không bao giờ ngủ quên nữa; họ có thể tiến chậm nhưng lần đầu tiên trên quy mô lớn, họ thực sự đang suy nghĩ và có tầm nhìn. Vì lý do này, nay có thể truyền ra giáo huấn trước đây được xem là quá cao siêu. Có những người hiện đang sống sẽ hiểu; có những người sẽ nhập thể trong năm mươi năm tới mà chân họ đã đặt trên Con Đường Cao Siêu này rồi, và chính cho họ mà tôi viết.
There are certain preliminary statements which would be useful here, if there is to be any real and true measure of clear thinking and understanding. Their significance will emerge as we study the Seven Paths and the Nine Initiations. I shall do no more than state them, but you must regard them as basic:
Có một số phát biểu sơ bộ sẽ hữu ích ở đây, nếu muốn có bất kỳ mức độ suy nghĩ sáng rõ và thấu hiểu chân thật nào. Ý nghĩa của chúng sẽ xuất hiện khi chúng ta nghiên cứu Bảy Con Đường và Chín Cuộc Điểm Đạo. Tôi sẽ không làm gì hơn ngoài việc nêu chúng ra, nhưng bạn phải xem chúng là nền tảng:
1. Our seven planes—the mastery of which is our idealised spiritual goal—are after all only the lowest cosmic plane, the cosmic physical plane. From the cosmic angle, the Masters are only beginners, and even our deeply desired initiations (from the first to the sixth) are simply preparatory initiations for those to be taken later on upon the Way of the Higher Evolution.
1. Bảy cõi của chúng ta—mà sự làm chủ chúng là mục tiêu tinh thần lý tưởng hóa của chúng ta—rốt cuộc chỉ là cõi vũ trụ thấp nhất, tức cõi hồng trần vũ trụ. Từ góc độ vũ trụ, các Chân sư chỉ là những người mới bắt đầu, và ngay cả các cuộc điểm đạo mà chúng ta tha thiết mong muốn (từ lần thứ nhất đến lần thứ sáu) cũng chỉ đơn giản là những cuộc điểm đạo chuẩn bị cho những cuộc sẽ được tiếp nhận về sau trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.
2. This Higher Way is a sevenfold Way. The seven Paths form its seven modes of approach to the One Way and together create it. These seven Paths are not ray-conditioned. By that I mean that entering one or another of them is not in any way dependent upon the ray which conditioned the Master earlier. The Masters and the still higher initiates, such as the Christ, can choose any Path which makes its appeal in such a manner that complete rightness is registered in the initiate's consciousness and He knows that He can go no other way.
2. Con Đường Cao Siêu này là một Con Đường thất phân. Bảy Con Đường tạo thành bảy phương thức tiếp cận của nó đến Con Đường Duy Nhất và cùng nhau tạo nên nó. Bảy Con Đường này không bị cung tác động. Ý tôi là việc bước vào con đường này hay con đường kia không hề tùy thuộc vào cung đã tác động lên Chân sư trước đó. Các Chân sư và các điểm đạo đồ còn cao hơn nữa, như Đức Christ, có thể chọn bất kỳ Con Đường nào hấp dẫn Các Ngài theo cách mà sự đúng đắn hoàn toàn được ghi nhận trong tâm thức của điểm đạo đồ và Ngài biết rằng Ngài không thể đi theo con đường nào khác.
3. At the sixth initiation, called the Initiation of Decision, the Initiate makes His final choice as to the Way that He will go, and from that decision there is no turning back. [391]
3. Ở lần điểm đạo thứ sáu, được gọi là Cuộc Điểm Đạo Quyết Định, Điểm đạo đồ đưa ra lựa chọn cuối cùng của Ngài về Con Đường mà Ngài sẽ đi, và từ quyết định đó không có sự quay lui. [391]
4. Three things will necessarily colour any decision the Initiate may make; His ray, which still determines Him, His past activities as they may fit Him for specialised work, plus a sense of freedom hitherto unrealised. The decision might be regarded as the first gesture of the advancing Master toward liberation from all ray limitations. As He moves forward on the Higher Way, He will find Himself, as a result of the new training and field of experience, able to work on any ray.
4. Ba điều tất yếu sẽ nhuốm màu bất kỳ quyết định nào mà Điểm đạo đồ có thể đưa ra; cung của Ngài, vốn vẫn còn quyết định Ngài, các hoạt động trong quá khứ của Ngài trong chừng mực chúng có thể làm cho Ngài thích hợp với công việc chuyên biệt, cộng với một cảm thức tự do trước đây chưa từng được nhận ra. Quyết định này có thể được xem như cử chỉ đầu tiên của Chân sư đang tiến bước hướng tới sự giải thoát khỏi mọi giới hạn của cung. Khi Ngài tiến lên trên Con Đường Cao Siêu, do kết quả của sự huấn luyện mới và lĩnh vực kinh nghiệm mới, Ngài sẽ thấy mình có thể hoạt động trên bất kỳ cung nào.
5. The fifth initiation is usually called that of the Resurrection by the orthodox Christian, but this is not its real name; it is in reality the Initiation of Revelation, because the Initiate gains His first vision of the Door through which He must pass on to the seven Paths. He glimpses it and that is all, but between that initiation and the next in which He must perforce make His decision, He comes to understand the nature of the energy which each Path expresses and which will eventually evoke from Him a decisive activity.
5. Lần điểm đạo thứ năm thường được người Cơ Đốc giáo chính thống gọi là cuộc Phục Sinh, nhưng đó không phải tên thật của nó; trên thực tế, đó là Cuộc Điểm Đạo Mặc Khải, bởi vì Điểm đạo đồ đạt được linh ảnh đầu tiên của Ngài về Cánh Cửa mà qua đó Ngài phải đi tới bảy Con Đường. Ngài thoáng thấy nó và chỉ có thế, nhưng giữa cuộc điểm đạo đó và cuộc kế tiếp, trong đó Ngài bắt buộc phải đưa ra quyết định của mình, Ngài đi đến chỗ thấu hiểu bản chất của năng lượng mà mỗi Con Đường biểu lộ và năng lượng ấy cuối cùng sẽ gợi lên từ Ngài một hoạt động quyết định.
6. By passing through the second great Door of Initiation, the Initiate begins to learn the significance and the attractive potency of the Central Spiritual Sun, to which all the Paths eventually lead.
6. Bằng cách đi qua Cánh Cửa lớn thứ hai của Điểm đạo, Điểm đạo đồ bắt đầu học được ý nghĩa và uy lực hấp dẫn của Mặt trời Tinh thần Trung Ương, mà mọi Con Đường cuối cùng đều dẫn tới.
7. The fifth and sixth initiations are to the Master what the first and second are to the disciple—simply initiations of the threshold and not true initiations from the cosmic angle. The first true initiation upon the Higher Way is called the Initiation of Resurrection; this has no reference to the fifth initiation.
7. Lần điểm đạo thứ năm và thứ sáu đối với Chân sư cũng như lần thứ nhất và thứ hai đối với đệ tử—chỉ đơn giản là những cuộc điểm đạo của ngưỡng cửa chứ không phải những cuộc điểm đạo chân chính từ góc độ vũ trụ. Cuộc điểm đạo chân chính đầu tiên trên Con Đường Cao Siêu được gọi là Cuộc Điểm Đạo Phục Sinh; điều này không liên quan gì đến lần điểm đạo thứ năm.
8. The decision made by the Master enables Him to take the required training to enter His chosen Path, and this training is taken entirely upon cosmic etheric levels—the four highest subplanes of the cosmic physical plane—the buddhic, atmic, monadic and logoic planes.
8. Quyết định do Chân sư đưa ra cho phép Ngài nhận sự huấn luyện cần thiết để bước vào Con Đường đã chọn, và sự huấn luyện này hoàn toàn diễn ra trên các cấp độ dĩ thái vũ trụ—bốn cõi phụ cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ—các cõi Bồ đề, atma, chân thần và logoi.
9. On these planes the spiritual and the divine will is developed and brought into use; these are aspects of that undefinable purpose to which we give the simple name: the Will of God. Intelligence and love have been fully unfolded in the Master, but the will is embryonic still, from the [392] standpoint of Those responsible for training the Master and the higher Initiate. It is only by means of the divine will that the Master begins to free Himself from ray limitations.
9. Trên các cõi này, ý chí tinh thần và ý chí thiêng liêng được phát triển và đưa vào sử dụng; đây là các phương diện của mục đích bất khả định nghĩa mà chúng ta đặt cho cái tên đơn giản là: Ý Chí của Thượng Đế. Trí tuệ và bác ái đã được khai mở đầy đủ nơi Chân sư, nhưng ý chí vẫn còn ở giai đoạn phôi thai, từ [392] quan điểm của Những Đấng chịu trách nhiệm huấn luyện Chân sư và điểm đạo đồ cao hơn. Chỉ bằng phương tiện của ý chí thiêng liêng mà Chân sư mới bắt đầu tự giải thoát khỏi các giới hạn của cung.
10. I would remind you of an earlier statement that the Hierarchy reacts or responds to the energies and influences coming from the cosmic astral plane; from that level of spiritual life true divine love pours into it. Shamballa reacts to the cosmic mental plane, and therefore to the nature and purposes of the Mind of God; the expression of THAT which overshadows Sanat Kumara is similar to the soul overshadowing the incarnated spiritual man.
10. Tôi muốn nhắc bạn về một phát biểu trước đây rằng Thánh đoàn phản ứng hay đáp ứng với các năng lượng và ảnh hưởng đến từ cõi cảm dục vũ trụ; từ cấp độ đời sống tinh thần đó, bác ái thiêng liêng chân thật tuôn đổ vào nó. Shamballa phản ứng với cõi trí vũ trụ, và do đó với bản chất và các mục đích của Trí của Thượng đế; sự biểu lộ của ĐẤNG phủ bóng lên Đức Sanat Kumara tương tự như linh hồn phủ bóng lên con người tinh thần đang nhập thể.
If you will bear these facts in mind, some light may break through and, in any case, when the student or disciple returns to incarnation, this imparted knowledge (stored in the soul's content) will then be usefully available.
Nếu bạn ghi nhớ những sự kiện này, một ít ánh sáng có thể xuyên qua và, trong bất kỳ trường hợp nào, khi đạo sinh hay đệ tử trở lại nhập thể, tri thức được truyền đạt này (được lưu giữ trong nội dung của linh hồn) khi ấy sẽ sẵn sàng hữu ích.
I would like to enlarge somewhat upon an earlier remark. I stated that the “seven Ashrams are 'proving grounds' for all the Masters confronted with the sixth Initiation of Decision.”
Tôi muốn khai triển thêm đôi chút về một nhận xét trước đây. Tôi đã nói rằng “bảy Ashram là những ‘bãi thử’ cho mọi Chân sư đang đối diện với lần điểm đạo thứ sáu của Quyết Định.”
This constitutes part of the problem facing the Masters Who are thus to move forward; it is particularly crucial for Those Who have chosen the first Path, the Path of Earth Service, and for all in preparation for the sixth initiation. This process of changing for a final, conditioning decision—in line, consciously realised, with divine Purpose and entailing responsiveness to Shamballa—is a major undertaking; it is related to the development of understanding the Will, and concerns the spirit or life aspect; it involves an increasing revelation of the purpose and the “fixed intention” of the planetary Logos but (even more than that) it has relation to extra-planetary sources and energies and to those cosmic conditions which are responsible for the Presence of Sanat Kumara upon the Earth. It is will which has brought Him here, and the unfoldment of the will nature of the Masters and still higher Initiates admits Them into His inner deliberations by means of the highest form of telepathic rapport or impression to be found upon our planet. [393] This impression is, however, made possible by the development of the intuition, and has no relation to the mind nature.
Điều này cấu thành một phần của vấn đề mà các Chân sư đang chuẩn bị tiến lên phải đối diện; nó đặc biệt then chốt đối với Những Đấng đã chọn Con Đường thứ nhất, Con Đường Phụng Sự Địa Cầu, và đối với tất cả những ai đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ sáu. Tiến trình thay đổi này để đi đến một quyết định cuối cùng có tính tác động—phù hợp, một cách có ý thức, với Thiên Ý và bao hàm sự đáp ứng với Shamballa—là một công việc lớn; nó liên hệ với sự phát triển của việc thấu hiểu Ý Chí, và liên quan đến phương diện tinh thần hay sự sống; nó bao hàm một sự mặc khải ngày càng tăng về mục đích và “ý định cố định” của Hành Tinh Thượng đế nhưng (thậm chí còn hơn thế nữa) nó có liên hệ với các nguồn và năng lượng ngoài hành tinh và với những điều kiện vũ trụ chịu trách nhiệm cho Sự Hiện Diện của Đức Sanat Kumara trên Trái Đất. Chính ý chí đã đưa Ngài đến đây, và sự khai mở bản chất ý chí của các Chân sư và các Điểm đạo đồ còn cao hơn nữa cho phép Các Ngài đi vào những nghị bàn nội tâm của Ngài bằng phương tiện hình thức tương giao hay ấn tượng viễn cảm cao nhất có thể tìm thấy trên hành tinh chúng ta. [393] Tuy nhiên, ấn tượng này được làm cho khả hữu nhờ sự phát triển của trực giác, và không có liên hệ gì với bản chất trí tuệ.
This training in decision is given by forcing the Master to make basic decisions within His Ashram affecting world work and involving all within the Ashram. It is given by His admission to the conclave of the Masters, meeting every seven years. At that conclave They make decisions which concern all forms of life in all the kingdoms in the three worlds and their evolutionary progress; it is put to the test in group form when the entire Hierarchy meets at Its centennial conference and—at that time—decides what form of crisis, on what level of consciousness, and involving what group of lives, must be implemented and presented to humanity, though the other kingdoms of nature will be necessarily implicated. The reason for this is that the meeting of such a planned crisis will hasten certain realisations. Forget not that humanity grows through the presentation of moments of crisis. These moments of crisis, based on past karma, conditioned by the point in evolution already achieved, and on the presence in the three worlds of certain appropriate ray forces, are brought to the point of precipitation by united decision in the conclave of the Masters.
Sự huấn luyện trong quyết định này được ban ra bằng cách buộc Chân sư phải đưa ra những quyết định nền tảng trong Ashram của Ngài, ảnh hưởng đến công việc thế giới và liên quan đến tất cả những ai ở trong Ashram. Nó được ban ra bằng việc Ngài được tiếp nhận vào mật nghị của các Chân sư, họp mỗi bảy năm một lần. Tại mật nghị đó, Các Ngài đưa ra những quyết định liên quan đến mọi hình thức sự sống trong mọi giới ở ba cõi giới và sự tiến hoá của chúng; nó được đem ra thử thách trong hình thức nhóm khi toàn thể Thánh đoàn họp tại hội nghị bách niên của mình và—vào lúc đó—quyết định hình thức khủng hoảng nào, trên cấp độ tâm thức nào, và liên quan đến nhóm sự sống nào, phải được triển khai và trình bày cho nhân loại, dù các giới khác của thiên nhiên tất yếu cũng sẽ bị cuốn vào. Lý do của điều này là việc đối diện với một cuộc khủng hoảng được hoạch định như thế sẽ thúc đẩy một số chứng nghiệm nhất định. Đừng quên rằng nhân loại phát triển qua việc được trình bày những thời điểm khủng hoảng. Những thời điểm khủng hoảng này, dựa trên nghiệp quả quá khứ, được tác động bởi điểm tiến hoá đã đạt được, và bởi sự hiện diện trong ba cõi giới của một số mãnh lực cung thích hợp, được đưa tới điểm ngưng tụ bởi quyết định hợp nhất trong mật nghị của các Chân sư.
These decisions do not affect man's free will, for the Hierarchy does nothing to condition man's approach to the crisis and, occultly speaking, Their “attitude is deliberately turned to other things” during the period of man's decision; thus the potency of Their thinking does not affect the human mind. Once the precipitation of the crisis is complete, and humanity has begun to take action of some kind, then the full attention of the Masters, working through Their Ashrams, is committed to the giving of full assistance to all those who are seeking to guide humanity along correct lines—a relative few among the countless millions of the ignorant.
Những quyết định này không ảnh hưởng đến ý chí tự do của con người, vì Thánh đoàn không làm gì để tác động lên cách con người tiếp cận cuộc khủng hoảng và, nói theo huyền bí học, “thái độ của Các Ngài cố ý quay sang những điều khác” trong thời kỳ con người quyết định; do đó uy lực của tư tưởng Các Ngài không ảnh hưởng đến trí tuệ con người. Một khi sự ngưng tụ của cuộc khủng hoảng đã hoàn tất, và nhân loại đã bắt đầu thực hiện một loại hành động nào đó, thì toàn bộ sự chú ý của các Chân sư, hoạt động qua các Ashram của Các Ngài, được dồn vào việc ban sự trợ giúp trọn vẹn cho tất cả những ai đang tìm cách hướng dẫn nhân loại theo những đường lối đúng đắn—một số tương đối ít giữa vô số triệu người vô minh.
While these centennial conclaves are being held at the close of the first twenty-five years of every century, the Lord of the World with the Members of His Council watch the process of decision in order to see how far the will of the [394] Hierarchy conforms to that aspect of the divine will which should be expressed in the three worlds as the result of Their decision. They watch also Those particular Masters Who should in a short time be ready for the sixth initiation, in order to see how much of that divine will They register and what is the nature and quality of Their use of it. By recording that quality, the Council at Shamballa is able to determine with great accuracy which of the seven Paths a certain Initiate will choose. In this manner They become aware of how many senior disciples will be needed to take over the headship of an Ashram, with a consequent admittance of many disciples to the initiation next in order for them. At the same time, aspirants on the periphery of an Ashram are enabled to move forward into full ashramic participation.
Trong khi các mật nghị bách niên này được tổ chức vào cuối hai mươi lăm năm đầu của mỗi thế kỷ, Đức Chúa Tể Thế Giới cùng với các Thành Viên trong Hội Đồng của Ngài theo dõi tiến trình quyết định để xem ý chí của [394] Thánh đoàn phù hợp đến đâu với phương diện của ý chí thiêng liêng vốn phải được biểu lộ trong ba cõi giới như kết quả của quyết định của Các Ngài. Các Ngài cũng theo dõi những Chân sư đặc biệt mà trong một thời gian ngắn nữa sẽ sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ sáu, để xem Các Ngài ghi nhận được bao nhiêu về ý chí thiêng liêng đó và bản chất cùng phẩm tính của việc sử dụng nó nơi Các Ngài là gì. Bằng cách ghi nhận phẩm tính ấy, Hội Đồng tại Shamballa có thể xác định với độ chính xác lớn Chân sư nào sẽ chọn một trong bảy Con Đường nào. Theo cách này, Các Ngài nhận biết cần bao nhiêu đệ tử cao niên để tiếp quản quyền lãnh đạo một Ashram, kéo theo việc tiếp nhận nhiều đệ tử vào cuộc điểm đạo kế tiếp theo thứ tự dành cho họ. Đồng thời, những người chí nguyện ở chu vi của một Ashram được tạo điều kiện để tiến vào sự tham dự ashram trọn vẹn.
All this should give you some idea of the synthesis which expresses itself through the three planetary centres: Shamballa, the Hierarchy and Humanity. These are responsible for the conditioning of the other planetary centres and the consequent demonstration of divine intention. The basic purpose of Sanat Kumara is to bring about right relations in every field of His manifested life. The encouraging factor is today that the activity of humanity itself is, for the first time, concerned with the entire subject of right human relations and how to bring it about. I would have you reflect on this, for it means that, again for the first time, humanity is consciously responding to the will and intention of Shamballa, even though without realising the esoteric implications. This is of far greater importance than you can imagine, for it signifies a new relationship of a spiritual nature and deeply spiritual results.
Tất cả điều này hẳn cho bạn một ý niệm nào đó về sự tổng hợp biểu lộ qua ba trung tâm hành tinh: Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại. Ba trung tâm này chịu trách nhiệm tác động lên các trung tâm hành tinh khác và do đó biểu lộ ý định thiêng liêng. Mục đích căn bản của Đức Sanat Kumara là mang lại những mối liên hệ đúng đắn trong mọi lĩnh vực của đời sống biểu hiện của Ngài. Yếu tố đáng khích lệ ngày nay là hoạt động của chính nhân loại, lần đầu tiên, đang quan tâm đến toàn bộ chủ đề về những mối liên hệ đúng đắn giữa con người với nhau và làm sao để mang lại điều đó. Tôi muốn bạn suy ngẫm về điều này, vì nó có nghĩa rằng, một lần nữa lần đầu tiên, nhân loại đang đáp ứng một cách có ý thức với ý chí và ý định của Shamballa, dù không nhận ra các hàm ý huyền bí. Điều này quan trọng hơn nhiều so với bạn có thể tưởng tượng, vì nó biểu thị một mối liên hệ mới có bản chất tinh thần và những kết quả tinh thần sâu xa.
The preparation of the Masters for this sixth initiation is exceedingly strenuous. They find it as difficult to achieve Their goal as does the average disciple as he looks ahead at the initiation which immediately confronts him. They have to master the technique of handling the most potent energy and influence in the world, that of the intelligence. They have to penetrate into the mystery of electricity and implement [395] its expression in the creative process under the directive of Shamballa; They have to learn to work with electric fire in the same way as—much earlier—They worked with fire by friction as personalities, and with solar fire as disciples and lesser initiates. In this way, They become familiarised with what is meant by the words the “Central Spiritual Sun,” just as They were familiar with the appearance of the physical Sun when members of the human family, and with the “Heart of the Sun” as Members of the Hierarchy. Again you can see the same unfolding synthesis—a synthesis which originates in that focal point of attractive dynamic energy, known to us as the Sun and its planets.
Sự chuẩn bị của các Chân sư cho lần điểm đạo thứ sáu này cực kỳ gian khổ. Các Ngài thấy việc đạt mục tiêu của mình cũng khó như đệ tử trung bình khi y nhìn về phía trước tới cuộc điểm đạo đang trực tiếp đối diện với y. Các Ngài phải làm chủ kỹ thuật xử lý năng lượng và ảnh hưởng mạnh nhất trên thế giới, đó là trí tuệ. Các Ngài phải thâm nhập vào huyền nhiệm của điện lực và triển khai [395] sự biểu lộ của nó trong tiến trình sáng tạo dưới sự chỉ đạo của Shamballa; Các Ngài phải học cách làm việc với Lửa Điện theo cùng cách như—rất lâu trước đây—Các Ngài đã làm việc với Lửa ma sát với tư cách phàm ngã, và với Lửa Thái dương với tư cách đệ tử và các điểm đạo đồ thấp hơn. Bằng cách này, Các Ngài trở nên quen thuộc với điều được hàm ý bởi những từ “Mặt trời Tinh thần Trung Ương,” cũng như Các Ngài đã quen thuộc với sắc tướng của Mặt Trời vật lý khi còn là thành viên của gia đình nhân loại, và với “Trái Tim của Mặt Trời” khi là Thành Viên của Thánh đoàn. Một lần nữa bạn có thể thấy cùng một sự tổng hợp đang khai mở—một sự tổng hợp bắt nguồn từ tiêu điểm của năng lượng động lực hấp dẫn ấy, được chúng ta biết đến như Mặt Trời và các hành tinh của nó.
Thus within His Ashram the Master learns “occultly to decide” and to condition the creative centre for which He is responsible. He has to do this with the Ashram, surrounded by all those who are in training and who are the agents of His will. Through them He must act, and they thereby limit necessarily the vision to which He reacts, and step down the rate and quality of the energy of which He is the focal point. This energy constitutes the animating life of the Ashram as well as the force which the disciples and initiates must use in their work in the world, this of course in cooperation with the energy which each disciple within himself “occultly generates” and for which he—in his lesser degree—is responsible.
Như vậy, trong Ashram của mình, Chân sư học cách “quyết định theo huyền bí học” và tác động lên trung tâm sáng tạo mà Ngài chịu trách nhiệm. Ngài phải làm điều này cùng với Ashram, được bao quanh bởi tất cả những ai đang được huấn luyện và là các tác nhân của ý chí Ngài. Qua họ, Ngài phải hành động, và do đó họ tất yếu giới hạn tầm nhìn mà Ngài đáp ứng, và hạ thấp nhịp độ cùng phẩm tính của năng lượng mà Ngài là tiêu điểm. Năng lượng này cấu thành sự sống linh hoạt của Ashram cũng như mãnh lực mà các đệ tử và điểm đạo đồ phải sử dụng trong công việc của họ trên thế giới, dĩ nhiên là trong sự hợp tác với năng lượng mà mỗi đệ tử tự mình “phát sinh theo huyền bí học” và mà y—ở cấp độ thấp hơn của mình—chịu trách nhiệm.
More anent this subject will be given when we study specifically the nine initiations wherein another synthesis, interlocking with the synthesis of the Will, will appear.
Sẽ còn cho thêm về chủ đề này khi chúng ta nghiên cứu một cách chuyên biệt chín cuộc điểm đạo, trong đó một sự tổng hợp khác, đan xen với sự tổng hợp của Ý Chí, sẽ xuất hiện.
The seven Paths confronting the Master — Bảy Con Đường đối diện với Chân sư
It will be apparent to you now that the Master confronts two crises:
Giờ đây hẳn bạn thấy rõ rằng Chân sư đối diện với hai cuộc khủng hoảng:
1. The crisis of the will, as it demonstrates in unalterable decision.
1. Cuộc khủng hoảng của ý chí, như nó biểu lộ trong quyết định bất biến.
2. The crisis of the new step which will probably “cast Him adrift upon the shore of some distant sphere wherein His will must be expressed in love.” These ambiguous words of the Old Commentary mean that [396] His decision will (with one exception) take Him away from all that He has hitherto known.
2. Cuộc khủng hoảng của bước đi mới mà có lẽ sẽ “thả Ngài trôi dạt trên bờ của một khối cầu xa xôi nào đó nơi ý chí của Ngài phải được biểu lộ trong bác ái.” Những lời mơ hồ này của Cổ Luận có nghĩa là [396] quyết định của Ngài sẽ (chỉ trừ một ngoại lệ) đưa Ngài rời xa tất cả những gì Ngài cho đến nay đã biết.
The majority of the Masters then enter into realms wherein They are needed “to impart, strengthen and enlighten that which is already fused, already strong and already full of light, but which needs that which He brings in order to express the all-encompassing whole.”
Khi ấy, đa số các Chân sư đi vào những cõi giới nơi Các Ngài cần thiết “để truyền đạt, tăng cường và soi sáng điều vốn đã được dung hợp, đã mạnh mẽ và đã đầy ánh sáng, nhưng vẫn cần điều mà Ngài mang đến để biểu lộ toàn thể bao trùm tất cả.”
I have to leave you with these words as food for reflection as there is little further that I may say upon this point. In any case and for all deciding groups of Masters, the work with the Hierarchy is over, except for the few Who choose Path I. Part of the mistake which the Buddha made was connected with this subject of decision. He loved humanity so much that He felt He could not and did not choose the Path which He was in reality ordained to follow; He chose instead the Path of Earth Service—which was not His Path at all. This He knows and will in due time pass on to His rightful Path. This little incident will demonstrate the complete freedom of choice which distinguishes the sixth initiation.
Tôi phải để lại cho bạn những lời này như nhiều điều đáng suy ngẫm vì tôi có rất ít điều hơn nữa có thể nói về điểm này. Trong bất kỳ trường hợp nào, và đối với mọi nhóm Chân sư đang quyết định, công việc với Thánh đoàn đã chấm dứt, ngoại trừ số ít Những Đấng chọn Con Đường I. Một phần sai lầm mà Đức Phật đã phạm có liên hệ với chủ đề quyết định này. Ngài yêu nhân loại quá nhiều đến nỗi Ngài cảm thấy mình không thể và đã không chọn Con Đường mà trên thực tế Ngài đã được định sẵn để theo; thay vào đó Ngài chọn Con Đường Phụng Sự Địa Cầu—mà hoàn toàn không phải là Con Đường của Ngài. Điều này Ngài biết và đến đúng lúc sẽ chuyển sang Con Đường chính đáng của mình. Sự việc nhỏ này sẽ minh họa sự tự do lựa chọn hoàn toàn vốn phân biệt lần điểm đạo thứ sáu.
The seven Paths are, as you know from your study of Initiation, Human and Solar the following:
Bảy Con Đường là, như bạn đã biết qua việc nghiên cứu Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, như sau:
1. The Path of Earth Service.
1. Con Đường Phụng Sự Địa Cầu.
2. The Path of Magnetic Work.
2. Con Đường Công Tác Từ Tính.
3. The Path of Training for Planetary Logoi.
3. Con Đường Huấn Luyện cho các Hành Tinh Thượng đế.
4. The Path to Sirius.
4. Con Đường đến Sirius.
5. The Ray Path.
5. Con Đường Cung.
6. The Path on which our Logos is found.
6. Con Đường mà Thượng đế của chúng ta đang ở trên đó.
7. The Path of Absolute Sonship.
7. Con Đường của Cương Vị Con Tuyệt Đối.
In that first book which I wrote for the world, I gave a simple definition of the exoteric significance of these Paths—so simple as to convey but little. I wrote then for the general public. I will now endeavour to convey some of the deeper meanings, writing as I do for advanced disciples and for initiates who—reading between the lines and understanding the symbolism involved—will comprehend according to their point in evolution. [397]
Trong cuốn sách đầu tiên mà tôi viết cho thế giới, tôi đã đưa ra một định nghĩa đơn giản về ý nghĩa ngoại môn của các Con Đường này—đơn giản đến mức chỉ chuyển tải được rất ít. Khi ấy tôi viết cho công chúng nói chung. Nay tôi sẽ cố gắng truyền đạt một số ý nghĩa sâu xa hơn, vì tôi đang viết cho các đệ tử tiến bộ và cho các điểm đạo đồ, những người—đọc giữa các dòng và thấu hiểu biểu tượng liên quan—sẽ lĩnh hội tùy theo điểm tiến hoá của mình. [397]
As we approach the subject of the seven Paths, I would point out that the only basic point which can be presented to you is that of relationship. All these seven Paths lead to some objective which is thereby put in touch with our planetary life; these objectives—with the life and conditions they represent—present to the Master a vision of possibility. This vision is adequate to the task of drawing Him forth from the hierarchical Ashram, except in one case where vacancies in Shamballa need to be filled. The progressive experience of the greater Lives Who work in the Council Chamber of Sanat Kumara form no part of our studies. Many of these supreme Workers, as you have read in A Treatise on Cosmic Fire, found Their way to our planet from our sister planet, Venus, thereby in Their turn establishing relationship. Remember also that all the seven rays are the subrays of the great cosmic Ray of Love-Wisdom, which is ever expressive of relationship, implemented under the Law of Attraction; it is this form of esoteric attraction which draws the Master forth from His Ashram, conditions His decision and eventually leads to His passing through the door which opens on to other spheres and planes of activity.
Khi tiếp cận chủ đề bảy Con Đường, tôi muốn chỉ ra rằng điểm căn bản duy nhất có thể được trình bày cho bạn là điểm về mối liên hệ. Tất cả bảy Con Đường này đều dẫn đến một mục tiêu nào đó, nhờ đó được đặt vào tiếp xúc với đời sống hành tinh của chúng ta; những mục tiêu này—cùng với đời sống và các điều kiện mà chúng biểu thị—trình ra trước Chân sư một linh ảnh về khả năng. Linh ảnh này đủ sức lôi cuốn Ngài ra khỏi ashram của Thánh đoàn, ngoại trừ trong một trường hợp khi các chỗ trống ở Shamballa cần được lấp đầy. Kinh nghiệm tiến bộ của các Sự Sống lớn hơn đang làm việc trong Phòng Hội Đồng của Đức Sanat Kumara không thuộc phạm vi nghiên cứu của chúng ta. Nhiều Đấng Hoạt Động tối cao này, như bạn đã đọc trong Luận về Lửa Vũ Trụ, đã tìm đường đến hành tinh chúng ta từ hành tinh chị em của chúng ta là Sao Kim, qua đó đến lượt Các Ngài thiết lập mối liên hệ. Cũng hãy nhớ rằng cả bảy cung đều là các cung phụ của đại Cung vũ trụ Bác Ái – Minh Triết, vốn luôn biểu lộ mối liên hệ, được triển khai dưới Định luật Hấp Dẫn; chính hình thức hấp dẫn huyền bí này lôi cuốn Chân sư ra khỏi Ashram của Ngài, tác động lên quyết định của Ngài và cuối cùng dẫn Ngài đi qua cánh cửa mở ra những khối cầu và cõi hoạt động khác.
Let us now consider—very briefly and necessarily inadequately—these seven Paths, taking them one by one:
Giờ đây chúng ta hãy xem xét—rất ngắn gọn và tất yếu là không đầy đủ—bảy Con Đường này, lần lượt từng con đường một:
1. The Path of Earth Service — 1. Con Đường Phụng Sự Địa Cầu
This is the only Path which the Lord of the World regards as within the field of His spiritual interference. He reserves the right to retain in the service of the Hierarchy, and consequently of Humanity and the subsidiary evolutions, Those Masters Whom He regards at any one time as essential to the work to be done. This He does by asking Them to record Their decision when taking the sixth initiation, but to postpone moving on to one or other of the Paths until He gives the word. This word He has lately given in the case of the Buddha, Who has expiated His most understandable mistake and will now move forward—in His own good time—on to the Path which will lead Him to His rightful field of expression. In due time also, though [398] not for some time, the Christ will move forward “to the place which calls Him,” and the Master K.H. will assume the role of World Teacher. All these moves present their unique problems; they produce vacancies in the ranks of the Hierarchy which must be filled; they lead constantly to the inflow of new and powerful energies, for it must be recognised that these energies reach us along Paths leading to our planet as well as away from it. The invocative note of our united evolution at stated times and cycles sounds out and reaches Those Who are waiting for spiritual opportunity and service. They then follow the Path to our planet. From other spheres and planes They emerge along the lines of Their destiny and intention; we then call Them Avatars or Great Enlighteners or Planetary Saviours or Spiritual Regents; They act at the request of Sanat Kumara, given on higher cosmic levels.
Đây là Con Đường duy nhất mà Đức Chúa Tể Thế Giới xem là nằm trong phạm vi can thiệp tinh thần của Ngài. Ngài giữ quyền lưu lại trong sự phụng sự của Thánh đoàn, và do đó của Nhân loại cùng các tiến hoá phụ thuộc, những Chân sư mà vào bất kỳ thời điểm nào Ngài xem là thiết yếu cho công việc cần được thực hiện. Ngài làm điều này bằng cách yêu cầu Các Ngài ghi nhận quyết định của mình khi nhận lần điểm đạo thứ sáu, nhưng hoãn việc tiến sang một trong các Con Đường cho đến khi Ngài ra lệnh. Gần đây Ngài đã ra lệnh ấy trong trường hợp của Đức Phật, Đấng đã chuộc lỗi lầm rất dễ hiểu của mình và nay sẽ tiến lên—vào đúng thời điểm tốt đẹp của riêng Ngài—trên Con Đường sẽ dẫn Ngài đến lĩnh vực biểu lộ chính đáng của mình. Đến đúng lúc, dù [398] chưa phải trong một thời gian nữa, Đức Christ cũng sẽ tiến lên “đến nơi đang gọi Ngài,” và Chân sư KH sẽ đảm nhận vai trò Đức Chưởng Giáo. Tất cả những sự chuyển dịch này đều đặt ra những vấn đề độc đáo của chúng; chúng tạo ra những chỗ trống trong hàng ngũ Thánh đoàn cần phải được lấp đầy; chúng liên tục dẫn đến sự tuôn vào của những năng lượng mới và mạnh mẽ, vì phải nhận ra rằng những năng lượng này đến với chúng ta dọc theo các Con Đường dẫn tới hành tinh chúng ta cũng như rời khỏi nó. Chủ âm khẩn cầu của sự tiến hoá hợp nhất của chúng ta vào những thời điểm và chu kỳ nhất định vang lên và chạm tới Những Đấng đang chờ đợi cơ hội và sự phụng sự tinh thần. Khi ấy Các Ngài đi theo Con Đường đến hành tinh chúng ta. Từ những khối cầu và cõi khác, Các Ngài xuất hiện dọc theo các đường lối của định mệnh và ý định của Các Ngài; khi ấy chúng ta gọi Các Ngài là các Đấng Hoá Thân hay Các Đấng Đại Giác Ngộ hay các Đấng Cứu Thế Hành Tinh hay các Đấng Nhiếp Chính Tinh thần; Các Ngài hành động theo thỉnh cầu của Đức Sanat Kumara, được đưa ra trên các cấp độ vũ trụ cao hơn.
It is nevertheless a statement of fact that in due time even Those Who choose the Path of Earth Service and remain in hierarchical work are eventually given the right to follow Their decision and pass to extra-planetary service. The Hierarchy, as we have seen, gives the needed training for that wider service, and the theme of what I might call the educational process to which the Masters submit is the unfoldment of the consciousness of the relationships which lie beyond the aura of our planet; this is, in reality, a higher and most abstruse branch of the Science of Impression, which disciples upon their lower level have to master. This aspect of impression is, however, concerned with the formless worlds, whereas all the impressions to which the disciple has to learn to react emanate from and within the cosmic physical plane, of which all our seven planes are an integral part; our highest spiritual world is a part of the substantial world. The Masters, therefore, are working at a conscious receptivity or sensitivity to the cosmic astral plane, the source of the spirit or energy of love. There is a fundamental connection between the Hierarchy (the source of expression of love on Earth) and the cosmic astral plane, and it is towards this objective that the Masters work Who choose the Path [399] of Earth Service. The major ray of our solar system is that of love-wisdom, and there is no better field on which to master the preliminary stages of that divine unfoldment and receive the needed development and education than on the Earth.
Tuy nhiên, đó vẫn là một sự kiện rằng đến đúng lúc ngay cả Những Đấng chọn Con Đường Phụng Sự Địa Cầu và ở lại trong công việc của Thánh đoàn cuối cùng cũng được trao quyền đi theo quyết định của Các Ngài và chuyển sang phụng sự ngoài hành tinh. Thánh đoàn, như chúng ta đã thấy, ban sự huấn luyện cần thiết cho sự phụng sự rộng lớn hơn ấy, và chủ đề của điều mà tôi có thể gọi là tiến trình giáo dục mà các Chân sư chấp nhận là sự khai mở tâm thức về những mối liên hệ nằm ngoài hào quang của hành tinh chúng ta; trên thực tế, đây là một ngành cao hơn và cực kỳ thâm áo của Khoa Học về Ấn Tượng, mà các đệ tử ở cấp độ thấp hơn của mình phải làm chủ. Tuy nhiên, phương diện ấn tượng này liên quan đến các thế giới vô tướng, trong khi mọi ấn tượng mà đệ tử phải học cách đáp ứng đều phát xuất từ và ở bên trong cõi hồng trần vũ trụ, mà cả bảy cõi của chúng ta đều là một phần toàn vẹn; thế giới tinh thần cao nhất của chúng ta là một phần của thế giới có chất liệu. Vì vậy, các Chân sư đang hoạt động để đạt một sự tiếp nhận hay nhạy cảm có ý thức đối với cõi cảm dục vũ trụ, nguồn của tinh thần hay năng lượng bác ái. Có một mối liên hệ căn bản giữa Thánh đoàn (nguồn biểu lộ bác ái trên Trái Đất) và cõi cảm dục vũ trụ, và chính hướng tới mục tiêu này mà các Chân sư hoạt động, những Đấng chọn Con Đường [399] Phụng Sự Địa Cầu. Đại cung của hệ mặt trời chúng ta là cung bác ái-minh triết, và không có lĩnh vực nào tốt hơn trên đó để làm chủ các giai đoạn sơ khởi của sự khai mở thiêng liêng ấy và nhận sự phát triển cùng giáo dục cần thiết hơn là trên Trái Đất.
On the Earth, the Masters have overcome glamour and illusion, and for Them no astral plane exists. Now ahead of Them, and owing to Their freedom from these “bewilderments,” will come the opportunity to enter into the Heart of God, the centre of pure love, and from that centre to tread the way of love. All these seven Paths lead either to the cosmic astral plane or to the cosmic mental plane, according to the decision made at the sixth initiation. Upon the cosmic astral plane there is no glamour, but instead a great vortex of energy—the energy of pure love—under the domination of the Law of Attraction. It might be stated that:
Trên Trái Đất, các Chân sư đã vượt qua ảo cảm và ảo tưởng, và đối với Các Ngài không còn cõi cảm dục nào tồn tại nữa. Giờ đây ở phía trước Các Ngài, và nhờ sự tự do khỏi những “mê loạn” này, sẽ đến cơ hội đi vào Trái Tim của Thượng đế, trung tâm của bác ái thuần túy, và từ trung tâm đó bước đi trên con đường bác ái. Cả bảy Con Đường này đều dẫn либо tới cõi cảm dục vũ trụ hoặc tới cõi trí vũ trụ, tùy theo quyết định được đưa ra ở lần điểm đạo thứ sáu. Trên cõi cảm dục vũ trụ không có ảo cảm, mà thay vào đó là một xoáy năng lượng lớn—năng lượng của bác ái thuần túy—dưới sự chi phối của Định luật Hấp Dẫn. Có thể nói rằng:
Path 1. The Path of Earth Service leads to the cosmic astral plane.
Con Đường 1. Con Đường Phụng Sự Địa Cầu dẫn tới cõi cảm dục vũ trụ.
Path 2. The Path of Magnetic Work leads to the cosmic astral plane.
Con Đường 2. Con Đường Công Tác Từ Tính dẫn tới cõi cảm dục vũ trụ.
Path 3. The Path for Training for Planetary Logoi leads to the higher levels of the cosmic mental plane.
Con Đường 3. Con Đường Huấn Luyện cho các Hành Tinh Thượng đế dẫn tới các cấp độ cao hơn của cõi trí vũ trụ.
Path 4. The Path to Sirius leads to the cosmic astral plane.
Con Đường 4. Con Đường đến Sirius dẫn tới cõi cảm dục vũ trụ.
Path 5. The Ray Path leads to the cosmic mental plane.
Con Đường 5. Con Đường Cung dẫn tới cõi trí vũ trụ.
Path 6. The Path the Logos Himself is on leads to the cosmic buddhic plane.
Con Đường 6. Con Đường mà chính Thượng đế đang ở trên đó dẫn tới cõi Bồ đề vũ trụ.
Path 7. The Path of Absolute Sonship leads to the cosmic mental plane.
Con Đường 7. Con Đường của Cương Vị Con Tuyệt Đối dẫn tới cõi trí vũ trụ.
Three Paths, therefore, lead to the realm of loving attractive energy; one Path leads to its higher correspondence, the cosmic level of pure reason; three lead to the realm of divine Mind. Four of the Paths relate the advancing Master to the Heart of the Great Life Who functions through this solar system, and three to His Mind nature. All of them lead the initiate eventually to the Central Spiritual Sun. [400] All Who work in Shamballa find Their way to this supreme centre by the three most arduous ways, whilst the remainder reach the same goal via the way of love.
Vì vậy, ba Con Đường dẫn tới lĩnh vực của năng lượng bác ái hấp dẫn; một Con Đường dẫn tới tương ứng cao hơn của nó, tức cấp độ vũ trụ của lý trí thuần túy; ba Con Đường dẫn tới lĩnh vực của Trí của Thượng đế. Bốn Con Đường liên hệ Chân sư đang tiến bước với Trái Tim của Sự Sống Vĩ Đại đang hoạt động qua hệ mặt trời này, và ba Con Đường liên hệ với bản chất Trí của Ngài. Tất cả chúng cuối cùng đều dẫn điểm đạo đồ tới Mặt trời Tinh thần Trung Ương. [400] Tất cả Những Đấng hoạt động trong Shamballa đều tìm đường đến trung tâm tối thượng này bằng ba con đường gian nan nhất, trong khi số còn lại đạt cùng mục tiêu ấy qua con đường bác ái.
The unfoldment of the will has much to do with Their decision. It must not be thought that Those Masters Who are on the first, third and fifth rays, for instance, follow the Path numerically the same; such is not the case; nor that Those Who are predominantly on the second line of energy find the cosmic astral plane Their goal. Such again is not the case. Their response and decision is based on a realisation of cosmic need—a need of which you can know nothing, any more than it is possible for you to comprehend the nature of cosmic evil.
Sự khai mở của ý chí có liên quan rất nhiều đến quyết định của Các Ngài. Không nên nghĩ rằng chẳng hạn những Chân sư thuộc cung một, cung ba và cung năm thì đi theo Con Đường có cùng số thứ tự; không phải như vậy; cũng không phải rằng những vị chủ yếu thuộc tuyến năng lượng thứ hai thì lấy cõi cảm dục vũ trụ làm mục tiêu của Các Ngài. Điều đó cũng không đúng. Sự đáp ứng và quyết định của Các Ngài dựa trên một sự chứng nghiệm về nhu cầu vũ trụ—một nhu cầu mà bạn không thể biết gì về nó, cũng như bạn không thể nào hiểu được bản chất của điều ác vũ trụ.
As to the detail of the work of Those Who choose—until released—to stay on Earth and work in or with the Hierarchy, is there more that I can tell you? You know much anent this subject for I have given much—far more than has ever been given before. I have not dealt with the work of the Hierarchy in relation to evolutions other than the human, for two reasons:
Về chi tiết công việc của những Đấng chọn—cho đến khi được giải thoát—ở lại Trái Đất và làm việc trong hoặc với Thánh Đoàn, liệu tôi còn có thể nói thêm gì với bạn chăng? Bạn biết nhiều về chủ đề này vì tôi đã cho ra rất nhiều—nhiều hơn hẳn bất cứ điều gì từng được cho ra trước đây. Tôi đã không bàn đến công việc của Thánh Đoàn liên hệ với các tiến hoá khác ngoài nhân loại, vì hai lý do:
Your unfoldment is still such that you do not and cannot yet include or register the consciousness or nature of the subhuman kingdoms.
Sự khai mở của bạn hiện vẫn ở mức khiến bạn chưa và chưa thể bao gồm hay ghi nhận được tâm thức hoặc bản chất của các giới dưới nhân loại.
The work done by the Hierarchy in those kingdoms is largely carried forward via humanity and modern scientific development.
Công việc do Thánh Đoàn thực hiện trong các giới ấy phần lớn được tiến hành thông qua nhân loại và sự phát triển khoa học hiện đại.
There are many Masters Who do not work with the human kingdom at all, but are fully occupied with carrying out the divine Will in other kingdoms. With this work we have, at present, no concern. When any one takes the sixth initiation and makes his decision to follow the Path of Earth Service (either temporarily at the request of Sanat Kumara, or until the end of the world cycle), he will find himself faced with a secondary decision as to which of the four kingdoms will profitably provide the field of his sacrifice and service. We will now consider: [401]
Có nhiều Chân sư hoàn toàn không làm việc với giới nhân loại, mà bận rộn trọn vẹn trong việc thực hiện Ý Chí thiêng liêng trong các giới khác. Với công việc này, hiện nay chúng ta không quan tâm. Khi một người thọ nhận lần điểm đạo thứ sáu và quyết định đi theo Con Đường Phụng Sự Địa Cầu (hoặc tạm thời theo thỉnh cầu của Đức Sanat Kumara, hoặc cho đến hết chu kỳ thế giới), y sẽ thấy mình phải đối diện với một quyết định thứ yếu về việc trong bốn giới, giới nào sẽ hữu ích cung cấp lĩnh vực cho sự hi sinh và phụng sự của y. Giờ đây chúng ta sẽ xét đến: [401]
2. The Path of Magnetic Work — 2. Con Đường của Công Việc Từ Tính
In referring to this Path, I have stated that Those Who find Their way on to this Path work with fohat, or with the essential energy of our solar system which differentiates into seven major types of energy. Our planet with its ruling Lord is an integral part of the life expression of a still greater Entity, the solar Logos, and it is with the astral energy incident to His cosmic nature that the Master has to work. He learns to direct the currents of this essential energy, and because of His past relation to the Earth, He is part of the directing agency for astral energy within the planetary ring-pass-not. I also said that many Masters Who leave reached liberation upon the fifth ray find Their way to this Path, thus proving the statement that it is not the ray which determines decision. These fifth ray Masters (among many others, of course) will be working in a great second ray vortex of energy.
Khi đề cập đến Con Đường này, tôi đã nói rằng những Đấng tìm được lối vào Con Đường này làm việc với fohat, hay với năng lượng cốt yếu của hệ mặt trời chúng ta, năng lượng phân hoá thành bảy loại năng lượng chính. Hành tinh chúng ta cùng với Chúa Tể cai quản của nó là một phần toàn vẹn trong biểu hiện sự sống của một Thực Thể còn vĩ đại hơn nữa, Thái dương Thượng đế, và chính với năng lượng cảm dục gắn liền với bản chất vũ trụ của Ngài mà Chân sư phải làm việc. Ngài học cách điều khiển các dòng của năng lượng cốt yếu này, và bởi vì mối liên hệ trong quá khứ của Ngài với Trái Đất, Ngài là một phần của cơ quan chỉ đạo năng lượng cảm dục bên trong vòng-giới-hạn hành tinh. Tôi cũng đã nói rằng nhiều Chân sư đạt giải thoát qua cung năm tìm được lối vào Con Đường này, như thế chứng minh cho nhận định rằng không phải cung quyết định sự lựa chọn. Những Chân sư cung năm này (dĩ nhiên chỉ là một số trong nhiều vị khác) sẽ làm việc trong một xoáy năng lượng cung hai vĩ đại.
It must be pointed out that, in its original state, this pure astral energy, directed under law into our planetary life, is free from all that is at present associated with the astral plane: glamour and delusion, emotional fog and poisonous deceiving phenomena. These well-known aspects of the astral plane are all the creation of humanity down the ages and present, therefore, an increasingly difficult problem to all aspirants. The tormenting turmoil and chaos of the astral plane are due largely to three factors:
Cần chỉ ra rằng, trong trạng thái nguyên sơ của nó, năng lượng cảm dục thuần khiết này, được định hướng theo định luật vào sự sống hành tinh của chúng ta, hoàn toàn không có bất cứ điều gì hiện nay gắn liền với cõi cảm dục: ảo cảm và mê vọng, sương mù cảm xúc và những hiện tượng lừa dối độc hại. Những phương diện quen thuộc này của cõi cảm dục đều là sáng tạo của nhân loại qua các thời đại, và vì thế tạo nên một vấn đề ngày càng khó khăn cho mọi người chí nguyện. Sự hỗn loạn dày vò và tình trạng rối ren của cõi cảm dục phần lớn là do ba yếu tố:
The force of the constantly developing glamour as self-centered and undeveloped human beings create it.
Mãnh lực của ảo cảm không ngừng phát triển khi những con người tập trung vào bản thân và chưa phát triển tạo ra nó.
The force of those aspirants and disciples who are seeking to combat this in their own lives and in the lives of others.
Mãnh lực của những người chí nguyện và đệ tử đang tìm cách chống lại điều này trong đời sống của chính họ và trong đời sống của người khác.
The inflow of pure solar astral energy under cyclic law and the direction of the Master working on the second Path.
Sự tuôn vào của năng lượng cảm dục thái dương thuần khiết theo định luật chu kỳ và sự chỉ đạo của Chân sư đang làm việc trên Con Đường thứ hai.
These three factors create great trouble; during the past crisis of the world war (1914-1945) it reached most serious proportions. The hierarchical crisis to which I have earlier [402] referred was involved, and many Masters from the various Ashrams made a decision to work on this second Path in order to bring order out of chaos by pouring into the planetary astral plane pure astral energy, untainted by glamour and revelatory of pure love. They were experts in timing and in energy manipulation.
Ba yếu tố này tạo ra nhiều rối loạn; trong cuộc khủng hoảng vừa qua của chiến tranh thế giới (1914-1945), nó đã đạt đến những tỷ lệ hết sức nghiêm trọng. Cuộc khủng hoảng của Thánh Đoàn mà trước đây tôi đã [402] đề cập có liên quan đến điều này, và nhiều Chân sư từ các ashram khác nhau đã quyết định làm việc trên Con Đường thứ hai này để đem trật tự ra từ hỗn loạn bằng cách tuôn vào cõi cảm dục hành tinh năng lượng cảm dục thuần khiết, không bị ảo cảm làm ô nhiễm và biểu lộ tình thương thuần khiết. Các Ngài là những bậc chuyên gia về thời điểm và về thao tác năng lượng.
You will also note how three types of astral energy are therefore related:
Bạn cũng sẽ lưu ý rằng vì thế có ba loại năng lượng cảm dục liên hệ với nhau:
The astral force of our planet, distinctive of the planetary astral plane in the three worlds of human enterprise.
Mãnh lực cảm dục của hành tinh chúng ta, đặc trưng cho cõi cảm dục hành tinh trong ba cõi thấp của hoạt động nhân loại.
The astral force of the solar Logos, the true God of Love.
Mãnh lực cảm dục của Thái dương Thượng đế, Thượng đế Tình thương chân chính.
The astral energy of the cosmic astral plane.
Năng lượng cảm dục của cõi cảm dục vũ trụ.
These forces are symbolised to the manipulating Master by a triangle. In the Old Commentary it says:
Những mãnh lực này được biểu tượng hoá đối với vị Chân sư thao tác bằng một tam giác. Trong Cổ Luận có nói:
“The Master throws Himself—under the liberating Law of Sacrifice—into the vortex of the astral life of the One to Whom our Lord relates Himself with humble joy. And as the Master works, there forms before His eyes a triangle of force in shades of varying rose. By His magnetic power, He concentrates the energy required. Then through this triangle of force, as through an open door, He sends the potency of love into our planet, and till His cycle ends He thus must work.”
“Chân sư tự ném mình—dưới Định luật giải thoát của Hi Sinh—vào xoáy lốc của sự sống cảm dục của Đấng mà Đức Chúa Tể chúng ta liên hệ với niềm hoan hỉ khiêm cung. Và khi Chân sư làm việc, trước mắt Ngài hình thành một tam giác mãnh lực trong những sắc độ hồng khác nhau. Bằng quyền năng từ tính của Ngài, Ngài tập trung năng lượng cần thiết. Rồi qua tam giác mãnh lực này, như qua một cánh cửa mở, Ngài gửi tiềm lực của tình thương vào hành tinh chúng ta, và cho đến khi chu kỳ của Ngài chấm dứt, Ngài phải làm việc như thế.”
This is but a rough translation of some very ancient phrases, and is perhaps less symbolic than it may appear. It is in connection with this Path that the work of the Triangles which I initiated is related; the function of these Triangles is in reality to facilitate the work of distributing the pure incoming love energy (expressing itself as light and as goodwill) into the Hierarchy and Humanity. This deeply esoteric purpose of the Triangles will not be understood by the general public, but some of you who read this will appreciate the opportunity to serve in this manner consciously.
Đây chỉ là một bản dịch thô của vài cụm từ rất cổ xưa, và có lẽ ít tính biểu tượng hơn vẻ bề ngoài của nó. Chính liên hệ với Con Đường này mà công việc của các Tam Giác do tôi khởi xướng có liên quan; chức năng của các Tam Giác này thực ra là tạo điều kiện cho công việc phân phối năng lượng tình thương thuần khiết đang đi vào (biểu lộ thành ánh sáng và thiện chí) vào Thánh Đoàn và Nhân loại. Mục đích huyền bí sâu xa này của các Tam Giác sẽ không được công chúng nói chung hiểu, nhưng một số bạn đọc điều này sẽ trân trọng cơ hội được phụng sự theo cách này một cách hữu thức.
The Path of Magnetic Work takes the Master, first of all, to the Heart of the Sun, and from thence to the cosmic [403] mental plane, passing through and pausing temporarily upon the cosmic astral plane. The above statement does not in reality refer to progress from point to point in an ordered sequence. It refers to high states of awareness and to a form of cosmic contact which is registered by the Master from the point at which He stands upon this second Path, for all the planes are interpenetrating. This has been somewhat easy to understand in connection with our seven planes, as the rarer substances could be visualised as interpenetrating the denser. It is not so easy to comprehend, however, when we pass out of the cosmic physical plane (in our imagination, needless to say) and enter those planes of which we know nothing and of whose composition and substance (if they are substantial, as we understand the term) we are totally ignorant; besides that, we are not in a position to ascertain the truth.
Con Đường của Công Việc Từ Tính trước hết đưa Chân sư đến Trái Tim Mặt Trời, và từ đó đến cõi trí [403] vũ trụ, đi xuyên qua và tạm dừng trên cõi cảm dục vũ trụ. Mệnh đề trên thực ra không nói đến sự tiến triển từ điểm này sang điểm khác theo một trình tự có trật tự. Nó nói đến những trạng thái nhận biết cao và đến một hình thức tiếp xúc vũ trụ được Chân sư ghi nhận từ điểm mà Ngài đứng trên Con Đường thứ hai này, vì mọi cõi đều xuyên thấu lẫn nhau. Điều này có phần dễ hiểu khi liên hệ với bảy cõi của chúng ta, vì các chất liệu tinh tế hơn có thể được hình dung như xuyên thấu các chất liệu đậm đặc hơn. Tuy nhiên, điều đó không dễ hiểu như vậy khi chúng ta vượt ra khỏi cõi hồng trần vũ trụ (trong sự hình dung của chúng ta, dĩ nhiên) và đi vào những cõi mà chúng ta không biết gì, và về thành phần cũng như chất liệu của chúng (nếu chúng thực sự có chất liệu như chúng ta hiểu thuật ngữ này) thì chúng ta hoàn toàn vô tri; hơn nữa, chúng ta không ở trong vị thế để xác định chân lý.
The method of the Master's work upon this Path is also not easily understood. It can be summed up in the following words which may bring some light via their united meaning (each phrase contributing an idea), if due reflection is brought to bear upon them:
Phương pháp làm việc của Chân sư trên Con Đường này cũng không dễ hiểu. Nó có thể được tóm lược trong những lời sau đây, những lời có thể đem lại đôi chút ánh sáng qua ý nghĩa kết hợp của chúng (mỗi cụm từ đóng góp một ý tưởng), nếu có sự suy tư thích đáng được vận dụng vào chúng:
Isolated Unity
the position of the Master
A positive Focus
the mental attitude
Sound, under the Law of Attraction
the means employed
Precipitation
the intention visioned
Passage through the Triangle
the projection ensuing
Directive work under the Law of Distribution
direction towards the goal
Sự Hợp Nhất Biệt Lập
vị thế của Chân sư
Một Tiêu điểm Tích cực
thái độ trí tuệ
Âm thanh, dưới Luật Hấp dẫn
các phương tiện được sử dụng
Sự Kết tụ
ý định được linh thị
Sự Đi qua Tam giác
sự phóng chiếu tiếp diễn
Công tác chỉ đạo dưới Luật Phân phối
hướng đi đến mục tiêu
These phrases may give some vague idea of a process, based on “reception, then direction, producing rejection and impact where the rejecting agency ordained.”
Những cụm từ này có thể đem lại một ý niệm mơ hồ nào đó về một tiến trình, dựa trên “tiếp nhận, rồi định hướng, tạo ra sự khước từ và sự va chạm tại nơi tác nhân khước từ đã được ấn định.”
Another aspect of the work done by the Master on the second Path is the drawing off of those phases of glamour which no longer have the power to deceive mankind. They are not allowed to accumulate or to remain upon the astral plane. They are therefore, through the magnetic power of the Master, withdrawn from our planetary life and are “occultly [404] absorbed” by the Master; the substance of the glamour, purified and freed from all that conditioned it on the planetary astral plane, and with only the pure essence retained, sets the law in motion which draws this purified remainder into the cosmic astral plane.
Một phương diện khác của công việc do Chân sư trên Con Đường thứ hai thực hiện là rút đi những pha ảo cảm không còn quyền năng lừa dối nhân loại nữa. Chúng không được phép tích tụ hay lưu lại trên cõi cảm dục. Vì thế, nhờ quyền năng từ tính của Chân sư, chúng được rút khỏi sự sống hành tinh của chúng ta và được Chân sư “hấp thụ một cách huyền bí [404]”; chất liệu của ảo cảm, được thanh lọc và giải thoát khỏi mọi điều đã tác động lên nó trên cõi cảm dục hành tinh, và chỉ giữ lại tinh chất thuần khiết, sẽ khởi động định luật kéo phần còn lại đã được thanh lọc này vào cõi cảm dục vũ trụ.
Constantly, therefore, this great circulatory process goes on, demonstrating anew the essential synthesis underlying all life—human, planetary, systemic and cosmic; it reveals also that the Law of Attraction, the Law of Magnetic Work, and the cosmic Law of Synthesis are three aspects of one Law for which, as yet, we have no name.
Do đó, tiến trình tuần hoàn vĩ đại này liên tục diễn ra, một lần nữa chứng minh tính tổng hợp cốt yếu làm nền tảng cho mọi sự sống—nhân loại, hành tinh, hệ thống và vũ trụ; nó cũng cho thấy rằng Định luật Hấp Dẫn, Định luật Công Việc Từ Tính, và Định luật Tổng Hợp vũ trụ là ba phương diện của một Định luật duy nhất mà hiện nay chúng ta chưa có tên gọi.
It might be said that the Masters working on the second Path are working in relation to and in contact with certain great Lives Who work on the periphery of the constellation Libra, the Balances. This is due to the fact that Those Masters Who can work with magnetic energies, and with the three above Laws, have achieved a point of balance which makes Their work possible; it involves also a poised attention and directive power, permitting the inflow of energies from Libra which could not otherwise enter our planetary life at all. These Libran energies enter our solar system via the Heart of the Sun and are peculiarly amenable to magnetic attraction and distribution.
Có thể nói rằng các Chân sư làm việc trên Con Đường thứ hai đang làm việc trong mối liên hệ và tiếp xúc với một số Sự Sống vĩ đại đang hoạt động ở chu vi của chòm Thiên Bình, Cái Cân. Điều này là do những Chân sư có thể làm việc với các năng lượng từ tính, và với ba Định luật nêu trên, đã đạt đến một điểm quân bình khiến công việc của Các Ngài trở nên khả thi; điều này cũng bao hàm một sự chú tâm quân bình và quyền năng chỉ đạo, cho phép các năng lượng từ Thiên Bình tuôn vào mà nếu không thì hoàn toàn không thể đi vào sự sống hành tinh của chúng ta. Những năng lượng Thiên Bình này đi vào hệ mặt trời chúng ta qua Trái Tim Mặt Trời và đặc biệt dễ đáp ứng với sự hấp dẫn và phân phối từ tính.
All these Paths gradually came into being when our planetary Logos created the Earth and started the involutionary process of creation, leading in due time but much later, to evolution. They are therefore, all of Them, Paths of Return. This second Path was one of the first to be used and (again quoting the Old Commentary) “the door once opening inward now opens outward and permits the exit of those who hold the key because they entered by that door in aeons long gone by.”
Tất cả những Con Đường này dần dần xuất hiện khi Hành Tinh Thượng đế của chúng ta tạo ra Trái Đất và khởi sự tiến trình giáng hạ tiến hoá của sáng tạo, dẫn đến đúng thời điểm nhưng muộn hơn rất nhiều, tới tiến hoá. Vì thế, tất cả chúng đều là Con Đường Trở Về. Con Đường thứ hai này là một trong những Con Đường đầu tiên được sử dụng và (xin lại trích dẫn Cổ Luận) “cánh cửa xưa kia mở vào trong nay mở ra ngoài và cho phép sự ra đi của những ai giữ chìa khoá vì họ đã đi vào bằng cánh cửa ấy trong những đại kiếp đã qua từ lâu.”
All the Masters (and not only Those upon the fifth ray) receive careful training in the manipulation of energies, and hence the statement of the Master K.H. to His disciples that the occultist has to learn to master and control the forces and energies within himself; the disciple and the initiate work with hierarchical energies and with the forces [405] of the kingdoms of nature in the three worlds; the Master receives instruction in the handling of the energies which are extra-planetary but within the solar ring-pass-not. Those Masters Whose decision it is to tread the second Path are taught the control and direction of systemic energies and of certain energies emanating from Libra and from one of the stars in the constellation of the Great Bear. In the more advanced stages of Their work, and when the Master is far more advanced than the word indicates, He works consciously upon the cosmic mental plane; His activities will then be concerned with the relation of the energies of the Great Bear to the Pleiades, and their dual relationship (a higher correspondence to atma-buddhi) to the solar system and only incidentally to our Earth. Great is the interlocking, the interdependence and the interpenetration!
Tất cả các Chân sư (không chỉ riêng những vị thuộc cung năm) đều được huấn luyện cẩn trọng trong việc thao tác các năng lượng, và do đó có lời phát biểu của Chân sư KH với các đệ tử của Ngài rằng nhà huyền bí học phải học cách làm chủ và kiểm soát các mãnh lực và năng lượng bên trong chính mình; đệ tử và điểm đạo đồ làm việc với các năng lượng của Thánh Đoàn và với các mãnh lực [405] của các giới tự nhiên trong ba cõi thấp; Chân sư nhận sự chỉ dạy về việc xử lý các năng lượng ngoài hành tinh nhưng ở bên trong vòng-giới-hạn thái dương. Những Chân sư quyết định bước trên Con Đường thứ hai được dạy cách kiểm soát và định hướng các năng lượng hệ thống và một số năng lượng phát ra từ Thiên Bình và từ một trong các ngôi sao của chòm Đại Hùng. Trong các giai đoạn tiến bộ hơn của công việc của Các Ngài, và khi Chân sư đã tiến xa hơn rất nhiều so với điều từ ngữ này hàm ý, Ngài làm việc một cách hữu thức trên cõi trí vũ trụ; khi đó các hoạt động của Ngài sẽ liên quan đến mối liên hệ giữa các năng lượng của Đại Hùng với Thất Tinh, và mối liên hệ nhị nguyên của chúng (một tương ứng cao hơn với atma-buddhi) đối với hệ mặt trời và chỉ gián tiếp đối với Trái Đất của chúng ta. Sự móc nối, sự phụ thuộc lẫn nhau và sự xuyên thấu lẫn nhau thật vĩ đại biết bao!
3. The Path of Training for Planetary Logoi — 3. Con Đường Huấn Luyện cho các Hành Tinh Thượng đế
It is obviously impossible to say much about this Path. Those Masters Who tread it find Their way to the various schools for the training of planetary Logoi which are found within certain of the major planetary schemes, as stated in Initiation, Human and Solar. They are necessarily few in number, and a small group of Them remains to study in our particular planetary enterprise under Sanat Kumara. This They do after making Their decision and passing through the door on the periphery of our planetary ring-pass-not. Then—out of incarnation and working through the medium of the higher telepathy—They receive instruction of a nature incomprehensible to us, from the Members of the Council Chamber at Shamballa, and primarily from two of the Buddhas of Activity. Having learnt the technique and having passed certain tests, They move into the planetary life of Venus, our Earth's Alter-Ego, and there They complete Their training, as far as our solar system can give it, finding Their way eventually on to the cosmic mental plane.
Hiển nhiên là không thể nói nhiều về Con Đường này. Những Chân sư bước trên nó tìm được lối đến các trường khác nhau để huấn luyện các Hành Tinh Thượng đế, được đặt trong một số hệ hành tinh lớn, như đã nói trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương. Số lượng Các Ngài tất yếu rất ít, và một nhóm nhỏ trong số đó ở lại để học tập trong công cuộc hành tinh đặc thù của chúng ta dưới sự hướng dẫn của Đức Sanat Kumara. Các Ngài làm điều này sau khi đưa ra quyết định và đi qua cánh cửa ở chu vi vòng-giới-hạn hành tinh của chúng ta. Sau đó—không còn lâm phàm và làm việc qua trung gian của viễn cảm thượng đẳng—Các Ngài nhận sự chỉ dạy có bản chất không thể hiểu nổi đối với chúng ta, từ các Thành viên của Phòng Hội Đồng tại Shamballa, và chủ yếu từ hai vị Phật Hoạt Động. Sau khi đã học được kỹ thuật và vượt qua một số thử thách, Các Ngài đi vào sự sống hành tinh của Sao Kim, Đối phần của Trái Đất chúng ta, và tại đó Các Ngài hoàn tất sự huấn luyện của mình, trong chừng mực hệ mặt trời chúng ta có thể cung cấp, cuối cùng tìm được lối đến cõi trí vũ trụ.
Two things should be borne in mind in connection with this abstruse subject:
Có hai điều cần được ghi nhớ liên hệ với chủ đề thâm áo này:
First: These Masters work primarily with the “psyche” [406] or the soul aspect within the solar system. They are occupied with the subtler expressions of consciousness, with occult impressibility and that acute sensitivity which produces instant and accurate registration of all soul reactions within any particular planetary life. These kingdoms are not necessarily identical with those found on the Earth, but they are, in all cases, vast groups of living forms which are manifestations or expressions of the nature of any particular planetary Logos. The Masters taking this training are not occupied with individual states of consciousness within any group. It is the consciousness of the whole, and its responsiveness to cosmic impacts, that engages Their attention. They are not (if I might so express it) interested in any individual unit of any kind or in its individual reactions, responsiveness or susceptibility to impression. They are only concerned with those higher processes of identification which indicate an advanced state of evolutionary development. Their work is to further progressive development of identification. They begin with the identification of the Monad within our planetary sphere with the Purpose and the Will of the Lord of the World, and proceed—as Their training produces the desired capabilities—with greater identifications within the solar system. Beyond that we need not proceed.
Thứ nhất: Những Chân sư này làm việc chủ yếu với “psyche” [406] hay phương diện linh hồn bên trong hệ mặt trời. Các Ngài bận tâm với những biểu hiện tinh tế hơn của tâm thức, với tính dễ tiếp nhận huyền bí và sự nhạy bén sắc sảo tạo ra sự ghi nhận tức thì và chính xác mọi phản ứng của linh hồn bên trong bất kỳ sự sống hành tinh đặc thù nào. Những giới này không nhất thiết đồng nhất với những giới được tìm thấy trên Trái Đất, nhưng trong mọi trường hợp, chúng là những nhóm rộng lớn các hình tướng sống động, là những biểu hiện hay diễn đạt của bản chất của bất kỳ Hành Tinh Thượng đế đặc thù nào. Những Chân sư đang thọ huấn này không bận tâm với các trạng thái tâm thức cá biệt bên trong bất kỳ nhóm nào. Chính tâm thức của toàn thể, và sự đáp ứng của nó đối với các va chạm vũ trụ, mới là điều thu hút sự chú ý của Các Ngài. Các Ngài không quan tâm (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) đến bất kỳ đơn vị cá biệt nào thuộc bất kỳ loại nào hay đến các phản ứng, sự đáp ứng hoặc tính dễ tiếp nhận ấn tượng của riêng đơn vị đó. Các Ngài chỉ quan tâm đến những tiến trình đồng hoá cao hơn, vốn chỉ ra một trạng thái phát triển tiến hoá cao cấp. Công việc của Các Ngài là thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của sự đồng hoá. Các Ngài bắt đầu với sự đồng hoá của chân thần bên trong khối cầu hành tinh của chúng ta với Thiên Ý và Ý Chí của Đức Chúa Tể Thế Giới, rồi tiến tới—khi sự huấn luyện của Các Ngài tạo ra những năng lực mong muốn—những sự đồng hoá lớn hơn bên trong hệ mặt trời. Xa hơn thế, chúng ta không cần đi tiếp.
Their whole training is concerned with the planetary, systemic and cosmic building of the antahkarana, for it is via the antahkarana that spirit works, that life processes are controlled, and the will of all developing aspects of Deity function. Forget not that relating our planet to the planet Venus is a planetary antahkarana, passing from thence to the Heart of the Sun and later to the cosmic mental plane. There are “rainbow bridges” carrying the sevenfold energies of the seven rays from planet to planet, from system to system, and from plane to plane on cosmic levels. It is over these bridges that the will of the related spiritual Identities is projected, producing that synthesis of effort which is distinctive of the cooperative systemic life. The work of the Masters in training from our planet is, among other [407] things, to unfold within Themselves not only sensitivity to systemic purpose, but the ability to transmit that Purpose to the Council Chamber at Shamballa. They have—in an extraplanetary sense—a definite correspondence with and relation to the group of Nirmanakayas within our planet Who work in contemplative activity with the antahkarana which connects the Hierarchy with Shamballa and Humanity with the Hierarchy.
Toàn bộ sự huấn luyện của Các Ngài liên quan đến việc kiến tạo antahkarana ở cấp hành tinh, hệ thống và vũ trụ, vì chính qua antahkarana mà tinh thần hoạt động, các tiến trình sự sống được kiểm soát, và ý chí của mọi phương diện đang phát triển của Thượng đế vận hành. Đừng quên rằng cái nối kết hành tinh chúng ta với hành tinh Sao Kim là một antahkarana hành tinh, từ đó đi đến Trái Tim Mặt Trời và sau này đến cõi trí vũ trụ. Có những “cây cầu vồng” mang các năng lượng thất phân của bảy cung từ hành tinh này sang hành tinh khác, từ hệ thống này sang hệ thống khác, và từ cõi này sang cõi khác ở các cấp độ vũ trụ. Chính trên những cây cầu này mà ý chí của các Bản Sắc tinh thần có liên hệ được phóng chiếu, tạo ra sự tổng hợp nỗ lực vốn là đặc trưng của sự sống hệ thống hợp tác. Công việc của các Chân sư đang được huấn luyện từ hành tinh chúng ta, trong số những [407] điều khác, là khai mở bên trong chính Các Ngài không chỉ sự nhạy cảm đối với mục đích hệ thống, mà còn khả năng truyền đạt Mục Đích đó đến Phòng Hội Đồng tại Shamballa. Theo nghĩa ngoài hành tinh, Các Ngài có một sự tương ứng và một mối liên hệ xác định với nhóm Nirmanakayas bên trong hành tinh chúng ta, những vị đang hoạt động chiêm ngưỡng với antahkarana nối kết Thánh Đoàn với Shamballa và Nhân loại với Thánh Đoàn.
As planetary Logoi when Their Own time comes, these Masters will be concerned with the registration of the Purpose and expressed Will of some solar Logos. They will then, through the planetary and systemic antahkarana, supervise the gradual evolutionary impartation of that Will (which is now Theirs) to all the forms through which They function in any particular planet for which They have assumed responsibility. This definitely involves working with the soul aspect and with the unfoldment of conscious responsiveness and sensitive reaction to all the higher impressions.
Khi đến thời điểm riêng của Các Ngài với tư cách là các Hành Tinh Thượng đế, những Chân sư này sẽ quan tâm đến việc ghi nhận Mục Đích và Ý Chí được biểu lộ của một Thái dương Thượng đế nào đó. Khi ấy, thông qua antahkarana hành tinh và hệ thống, Các Ngài sẽ giám sát sự truyền đạt tiến hoá dần dần của Ý Chí đó (nay đã là của Các Ngài) đến mọi hình tướng mà qua đó Các Ngài hoạt động trên bất kỳ hành tinh đặc thù nào mà Các Ngài đã nhận trách nhiệm. Điều này rõ ràng bao hàm việc làm việc với phương diện linh hồn và với sự khai mở của sự đáp ứng hữu thức và phản ứng nhạy bén đối với mọi ấn tượng cao hơn.
Second: These Masters are the directing builders and Creators eventually of all forms of planetary life—forms embodying qualities and intentions as yet undreamed of by us. They have developed in Themselves a perfected synthesis of the two energies of atma-buddhi, or of spiritual will and spiritual love, completely unified and energetically active in a comprehensive condition seldom attained by any other group of Masters in training.
Thứ hai: Những Chân sư này cuối cùng là các đấng kiến tạo chỉ đạo và các Đấng Sáng Tạo của mọi hình thức sự sống hành tinh—những hình thức hiện thân các phẩm tính và ý hướng mà chúng ta còn chưa từng mơ tới. Các Ngài đã phát triển bên trong chính mình một sự tổng hợp hoàn hảo của hai năng lượng atma-buddhi, hay của ý chí tinh thần và tình thương tinh thần, hoàn toàn hợp nhất và hoạt động đầy năng lực trong một trạng thái bao gồm mà hiếm khi bất kỳ nhóm Chân sư đang thọ huấn nào khác đạt được.
It must be realised that the Buddhas of Activity, of Whom there are only three on our planet, are similarly active. They are active love-wisdom or a complete synthesis of active intelligence, active love and active will. The Masters on this third Path will, therefore, some day complete Their training for planetary Logoi by attaining the status of Buddhas of Activity, and will for a period serve in that capacity in some planetary scheme, before taking the control and guidance of Their Own body of manifestation.
Cần nhận ra rằng các vị Phật Hoạt Động, mà trên hành tinh chúng ta chỉ có ba vị, cũng hoạt động tương tự. Các Ngài là bác ái – minh triết hoạt động hay một sự tổng hợp hoàn chỉnh của trí tuệ hoạt động, tình thương hoạt động và ý chí hoạt động. Vì vậy, các Chân sư trên Con Đường thứ ba này một ngày nào đó sẽ hoàn tất sự huấn luyện của Các Ngài cho cương vị Hành Tinh Thượng đế bằng cách đạt đến địa vị các vị Phật Hoạt Động, và sẽ trong một thời kỳ phụng sự với tư cách đó trong một hệ hành tinh nào đó, trước khi nắm quyền kiểm soát và hướng dẫn thể biểu hiện riêng của Các Ngài.
The training of these Masters on the third Path might be described as an intensive study of a most exalted form of the Science of Impression. The supreme task of a planetary [408] Logos is to impress His sevenfold body of manifestation, via its seven states of consciousness and the seven centres, with His will and intention; these are progressively imparted as the etheric body is brought into an increasing state of receptivity through the awakening of the seven planetary centres, primarily the three major centres. The Masters thus in training gain experience of the methods used by the planetary Logoi of all the seven sacred planets, and the training is therefore an exceedingly lengthy one. It must be remembered however that—except in dense physical incarnation and, therefore, conditioned by the brain and its special limitations—the spiritual man is not conscious of time, once He is separated from the physical body. Time is the sequential registration by the brain of states of awareness and of progressive contacts with phenomena. There is no such thing as time on the inner planes, as humanity understands it. There are only cycles of activity or of non-activity; this non-activity for Masters on the third Path takes the form of cyclic periods of contemplation and mental activity, followed by active periods of energy direction to impress the will of certain planetary Logoi and Their agents upon the Council Chamber of our planet in particular, and upon other planets, as Their training is perfected.
Sự huấn luyện của những Chân sư này trên Con Đường thứ ba có thể được mô tả như một sự nghiên cứu chuyên sâu về một hình thức cực kỳ cao siêu của Khoa Học về Ấn Tượng. Nhiệm vụ tối thượng của một Hành Tinh [408] Thượng đế là gây ấn tượng lên thể biểu hiện thất phân của Ngài, thông qua bảy trạng thái tâm thức và bảy trung tâm, bằng ý chí và ý hướng của Ngài; những điều này được truyền đạt dần dần khi thể dĩ thái được đưa vào một trạng thái tiếp nhận ngày càng tăng qua sự thức tỉnh của bảy trung tâm hành tinh, chủ yếu là ba trung tâm chính. Những Chân sư đang được huấn luyện như vậy thu nhận kinh nghiệm về các phương pháp được các Hành Tinh Thượng đế của cả bảy hành tinh thiêng liêng sử dụng, và vì thế sự huấn luyện là một quá trình cực kỳ lâu dài. Tuy nhiên cần nhớ rằng—ngoại trừ khi ở trong lâm phàm hồng trần đậm đặc và do đó bị điều kiện hoá bởi bộ não và những giới hạn đặc thù của nó—con người tinh thần không có tâm thức về thời gian một khi Ngài đã tách khỏi thể xác. Thời gian là sự ghi nhận tuần tự của bộ não về các trạng thái nhận biết và về những tiếp xúc tiến bộ với các hiện tượng. Không hề có cái gọi là thời gian trên các cõi bên trong, theo cách nhân loại hiểu. Chỉ có các chu kỳ hoạt động hoặc không hoạt động; sự không hoạt động này đối với các Chân sư trên Con Đường thứ ba mang hình thức những giai đoạn chu kỳ của sự chiêm ngưỡng và hoạt động trí tuệ, tiếp theo là những giai đoạn tích cực của sự định hướng năng lượng để gây ấn tượng ý chí của một số Hành Tinh Thượng đế và các tác nhân của Các Ngài lên Phòng Hội Đồng của hành tinh chúng ta nói riêng, và lên các hành tinh khác, khi sự huấn luyện của Các Ngài được hoàn thiện.
It is the impulsive incentive of these Masters which bridges and links between the Monad on the monadic plane and the three worlds of dense expression on the cosmic physical plane; in this process the antahkarana between the spiritual man in incarnation and the spiritual Triad is aided and finally constructed, but this is only incidental to the far greater work of relating Shamballa to all kingdoms in nature and to other planets.
Chính động lực thúc đẩy của những Chân sư này bắt cầu và nối kết giữa chân thần trên cõi chân thần và ba cõi thấp của biểu hiện đậm đặc trên cõi hồng trần vũ trụ; trong tiến trình này, antahkarana giữa con người tinh thần đang lâm phàm và Tam Nguyên Tinh Thần được trợ giúp và cuối cùng được kiến tạo, nhưng điều này chỉ là phụ thuộc đối với công việc lớn lao hơn nhiều là liên hệ Shamballa với mọi giới trong tự nhiên và với các hành tinh khác.
The number of Masters deciding on this Path is, as I said, not large; the training is peculiarly arduous and is followed, when opportunity is offered to function as a planetary Logos, by an act of sacrifice which confines Them indefinitely to the limitations of the ring-pass-not of Their body of manifestation, a planet. It is for this reason that Sanat Kumara has ever been called “The Great Sacrifice.” [409]
Số lượng Chân sư quyết định đi theo Con Đường này, như tôi đã nói, không nhiều; sự huấn luyện đặc biệt gian khổ và tiếp theo đó, khi cơ hội được trao để hoạt động như một Hành Tinh Thượng đế, là một hành vi hi sinh khiến Các Ngài bị giới hạn vô thời hạn trong những hạn chế của vòng-giới-hạn của thể biểu hiện của Các Ngài, tức một hành tinh. Chính vì lý do này mà Đức Sanat Kumara từ lâu vẫn được gọi là “Đấng Hi Sinh Vĩ Đại.” [409]
Certain Hierarchical Changes — Một Số Thay Đổi trong Thánh Đoàn
Before proceeding with our consideration of the seven cosmic Paths, I would like to pause here and clarify your mind, A.A.B., and answer certain questions which you are formulating.
Trước khi tiếp tục xem xét bảy Con Đường vũ trụ, tôi muốn dừng lại ở đây và làm sáng tỏ tâm trí của bạn, A.A.B., đồng thời trả lời một số câu hỏi mà bạn đang hình thành.
Some years ago (in 1925) I gave out to the world through your instrumentality A Treatise on Cosmic Fire. In that volume I elaborated upon the very elementary information given upon this subject in Initiation, Human and Solar—a book published earlier (in 1922). In both these volumes I touched upon the cosmic Paths. I gave (in very abstruse terms) some information; the terms were so abstruse that few can understand their meaning. The true significance is only for advanced initiates, of which I am not one, from Their point of view, though from yours I may be. In Initiation, Human and Solar very little was said, because the book was written for the general public and thus only a few ideas were indicated to point direction. Now, in A Treatise on the Seven Rays I have added to that already given; this book is, however, intended for a much larger number than those who read (and claim, erroneously, to understand) A Treatise on Cosmic Fire. In what I have to say, the teaching is carefully guarded. Two things should, however, be pointed out here in order to save confusion:
Vài năm trước đây (năm 1925) tôi đã chuyển ra cho thế giới qua trung gian của bạn Luận về Lửa Vũ Trụ. Trong bộ sách đó tôi đã khai triển thông tin rất sơ đẳng được đưa ra về chủ đề này trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương—một cuốn sách được xuất bản sớm hơn (năm 1922). Trong cả hai bộ sách này tôi đã chạm đến các Con Đường vũ trụ. Tôi đã đưa ra (bằng những thuật ngữ rất thâm áo) một số thông tin; các thuật ngữ ấy quá thâm áo đến nỗi ít ai có thể hiểu được ý nghĩa của chúng. Ý nghĩa chân thực chỉ dành cho các điểm đạo đồ cao cấp, mà theo quan điểm của Các Ngài thì tôi không phải là một trong số đó, mặc dù theo quan điểm của bạn thì có thể tôi là như vậy. Trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương rất ít được nói ra, vì cuốn sách được viết cho công chúng nói chung và do đó chỉ nêu ra một vài ý tưởng để chỉ hướng. Giờ đây, trong Luận về Bảy Cung tôi đã bổ sung vào những gì đã được cho ra; tuy nhiên, cuốn sách này được dành cho một số lượng người lớn hơn nhiều so với những người đọc (và sai lầm cho rằng mình hiểu) Luận về Lửa Vũ Trụ. Trong những gì tôi phải nói, giáo huấn được bảo vệ cẩn trọng. Tuy nhiên, ở đây cần chỉ ra hai điều để tránh nhầm lẫn:
1. It had not been the intention of the Hierarchy to give any further information anent these Paths; it was felt that enough had been said about this naturally incomprehensible subject. Owing, however, to the fundamental changes in the hierarchical plans, this decision was altered. I was permitted to add to that already given. This was due to two causes:
1. Ban đầu Thánh Đoàn không có ý định cho thêm bất kỳ thông tin nào về các Con Đường này; người ta cảm thấy rằng như thế là đã nói đủ về chủ đề vốn dĩ không thể hiểu này. Tuy nhiên, do những thay đổi căn bản trong các kế hoạch của Thánh Đoàn, quyết định này đã được thay đổi. Tôi được phép bổ sung vào những gì đã cho ra. Điều này là do hai nguyên nhân:
a. The tremendous unfoldment of the human consciousness during the last twenty-five years warrants more information; so many aspirants were being admitted to the Path of Discipleship and were finding their way into the Ashrams, thus forcing the passage of many initiates on to the Way of the Higher Evolution. [410] This in itself is a most joyous happening, but necessitated many ashramic adjustments.
a. Sự khai mở to lớn của tâm thức nhân loại trong hai mươi lăm năm qua biện minh cho việc cung cấp thêm thông tin; quá nhiều người chí nguyện đã được nhận vào Con Đường Đệ Tử và đang tìm được lối vào các ashram, do đó buộc nhiều điểm đạo đồ phải chuyển sang Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. [410] Bản thân điều này là một biến cố hết sức hoan hỉ, nhưng lại đòi hỏi nhiều điều chỉnh trong ashram.
b. Owing to this advancement, owing to the increased sensitivity of the human mechanism, and owing to the decisions humanity is in process of making (as a result of the frightful testing period of the war, 1914-1945), the Hierarchy—far earlier than had been hoped or anticipated—has prepared Itself for physical plane manifestation, or for what is called by Them “the process of externalisation.”
b. Do sự tiến bộ này, do sự nhạy cảm gia tăng của bộ máy nhân loại, và do những quyết định mà nhân loại đang trong tiến trình đưa ra (như là kết quả của thời kỳ thử thách khủng khiếp của chiến tranh, 1914-1945), Thánh Đoàn—sớm hơn rất nhiều so với điều đã hy vọng hay dự liệu—đã tự chuẩn bị cho sự biểu hiện trên cõi hồng trần, hay cho điều mà Các Ngài gọi là “tiến trình ngoại hiện.”
This has necessarily produced problems, and among them the strictly hierarchical problem of the passage of the initiate of the sixth degree on to the cosmic Paths. You will find, if you study closely the three presentations of the teaching (in Initiation, Human and Solar, A Treatise on Cosmic Fire, and A Treatise on the Seven Rays) what may appear to you as contradictions or differences. This is not truly so, but the casual reader may feel them to be present even though the differences are apparent more than real. Two causes account for this:
Điều này tất yếu đã tạo ra các vấn đề, và trong số đó có vấn đề thuần túy của Thánh Đoàn về việc chuyển điểm đạo đồ cấp sáu sang các Con Đường vũ trụ. Nếu bạn nghiên cứu kỹ ba cách trình bày giáo huấn (trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, Luận về Lửa Vũ Trụ, và Luận về Bảy Cung) bạn sẽ thấy điều có thể dường như là những mâu thuẫn hay khác biệt. Thực ra không phải vậy, nhưng người đọc hời hợt có thể cảm thấy chúng hiện diện dù các khác biệt chỉ là bề ngoài nhiều hơn là thực chất. Có hai nguyên nhân giải thích điều này:
a. The decision to throw open initiations higher than the fifth to the ready Master, and to familiarise the world of aspirants with their existence. Little has ever been given beyond the fifth initiation. Many initiates are becoming Masters, and many disciples are achieving the first initiation, and this fact confronts the three Great Lords Who rule the Hierarchy with a definite problem.
a. Quyết định mở các lần điểm đạo cao hơn lần thứ năm cho Chân sư đã sẵn sàng, và làm cho thế giới những người chí nguyện quen thuộc với sự hiện hữu của chúng. Từ trước đến nay rất ít điều từng được cho ra vượt quá lần điểm đạo thứ năm. Nhiều điểm đạo đồ đang trở thành Chân sư, và nhiều đệ tử đang đạt đến lần điểm đạo thứ nhất, và sự kiện này đặt ra cho ba Đấng Chúa Tể Vĩ Đại cai quản Thánh Đoàn một vấn đề xác định.
b. To make the sixth initiation and not the fifth initiation the Initiation of Decision. Here I must state the existence of a hierarchical problem: the use of the will aspect in the unfoldment of the initiate. It must be remembered that this first ray aspect is:
b. Làm cho lần điểm đạo thứ sáu chứ không phải lần điểm đạo thứ năm trở thành Cuộc Điểm Đạo Quyết Định. Ở đây tôi phải nêu ra sự hiện hữu của một vấn đề trong Thánh Đoàn: việc sử dụng phương diện ý chí trong sự khai mở của điểm đạo đồ. Cần nhớ rằng phương diện cung một này là:
A definite and most potent energy. It is the most potent energy in the planetary life and is carefully held in leash by Those Who are in a position to wield it. [411]
Một năng lượng xác định và cực kỳ mãnh liệt. Đó là năng lượng mãnh liệt nhất trong sự sống hành tinh và được giữ trong vòng kiểm soát cẩn trọng bởi những Đấng ở vào vị thế có thể vận dụng nó. [411]
The medium whereby the purpose of creation is finally revealed.
Phương tiện nhờ đó mục đích của sáng tạo cuối cùng được mặc khải.
The force which enables the Hierarchy to present the Plan in the three worlds.
Mãnh lực giúp Thánh Đoàn trình bày Thiên Cơ trong ba cõi thấp.
The needed dynamic whereby the “deciding” Master sets His foot upon the Path of the Higher Evolution.
Động lực cần thiết nhờ đó Chân sư “quyết định” đặt chân lên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.
Owing to the success of the influence of this Shamballa energy upon humanity when the experiment was made to test its impact without stepping it down through the medium of the Hierarchy, the entire course of man's spiritual history was most peculiarly altered. This had not been anticipated, for—as oft I have told you—the Masters know not which way mankind will go, nor may They interfere by action or thinking in humanity's decision. It was therefore necessary to control more definitely the passage of initiates on to the seven Paths; only a certain number are required to fulfill cosmic intention; it was therefore decided to make the rules of entrance more difficult and more rigid.
Do thành công của ảnh hưởng của năng lượng Shamballa này lên nhân loại khi cuộc thử nghiệm được thực hiện nhằm kiểm tra tác động của nó mà không hạ giảm nó qua trung gian của Thánh Đoàn, toàn bộ tiến trình lịch sử tinh thần của con người đã bị thay đổi một cách rất đặc biệt. Điều này đã không được dự liệu, vì—như tôi thường nói với bạn—các Chân sư không biết nhân loại sẽ đi theo hướng nào, và Các Ngài cũng không được phép can thiệp bằng hành động hay tư tưởng vào quyết định của nhân loại. Vì vậy cần phải kiểm soát chặt chẽ hơn sự chuyển tiếp của các điểm đạo đồ sang bảy Con Đường; chỉ cần một số lượng nhất định để hoàn thành ý định vũ trụ; do đó người ta quyết định làm cho các quy luật gia nhập trở nên khó khăn và nghiêm ngặt hơn.
Forget not, brother of mine, that this is not the first time that this has happened. Changes were made in Atlantean times; the door of entrance for the animal kingdom or for animal man into the human kingdom was stopped. No more units have since then been admitted from third kingdom into the fourth, except in a few cases and for specific reasons. Here, however, you have a reverse situation. The Hierarchy, owing to its constitution at that time and to the fact that very few, relatively, of our Earth humanity were members of the Hierarchy, could not influence directly the more developed human beings or train more aspirants. They therefore closed the door. That particular condition does not now exist, and the supreme Directors of the seven cosmic Paths are today in the same position as was the Hierarchy then; the word has gone forth to our three Great Lords—the Manu, the Christ and the Mahachohan—via the three Buddhas of Activity, to act in order to tighten up on requirements, to make the sixth initiation and not the fifth, the decisive one, and to present those on the seven rays with [412] a wider range of choices and a greater diversity of choice. Thus the Masters will have nine choices to face when They face Their decision; there will then be no need for Those on certain rays to pass to certain already determined Paths, but They can move forward under Their Own inspiration and with greater freedom. The cosmic mental plane is not barred to Them, as has hitherto been the case.
Đừng quên, huynh đệ của tôi, rằng đây không phải là lần đầu tiên điều này xảy ra. Những thay đổi đã được thực hiện vào thời Atlantis; cánh cửa gia nhập của giới động vật hay của người thú vào giới nhân loại đã bị đóng lại. Từ đó về sau không còn đơn vị nào được nhận từ giới thứ ba vào giới thứ tư nữa, ngoại trừ trong một vài trường hợp và vì những lý do đặc biệt. Tuy nhiên, ở đây bạn có một tình huống ngược lại. Thánh Đoàn, do cấu trúc của nó vào thời đó và do sự kiện rằng tương đối rất ít người trong nhân loại Trái Đất của chúng ta là thành viên của Thánh Đoàn, đã không thể trực tiếp ảnh hưởng đến những con người phát triển hơn hay huấn luyện thêm nhiều người chí nguyện. Vì vậy Các Ngài đã đóng cánh cửa. Điều kiện đặc thù đó hiện nay không còn nữa, và các Đấng Chỉ Đạo tối cao của bảy Con Đường vũ trụ ngày nay ở trong cùng vị thế như Thánh Đoàn khi ấy; linh từ đã được chuyển đến ba Đấng Chúa Tể Vĩ Đại của chúng ta—Đức Manu, Đức Christ và Đức Mahachohan—qua ba vị Phật Hoạt Động, để hành động nhằm siết chặt các đòi hỏi, làm cho lần điểm đạo thứ sáu chứ không phải lần thứ năm trở thành lần quyết định, và trình ra cho những vị thuộc bảy cung một phạm vi lựa chọn rộng hơn [412] và một sự đa dạng lựa chọn lớn hơn. Như vậy các Chân sư sẽ phải đối diện với chín lựa chọn khi Các Ngài đối diện với quyết định của mình; khi đó sẽ không còn cần thiết để những vị thuộc một số cung nhất định phải đi đến những Con Đường đã được định sẵn, mà Các Ngài có thể tiến lên dưới cảm hứng riêng của mình và với tự do lớn hơn. Cõi trí vũ trụ không còn bị ngăn cấm đối với Các Ngài như trước đây nữa.
All these changes have been due to the successful response of our planetary life, expressed through the human kingdom at this time, to the processes of evolution and to the inflow (since 1825) of the will energy from Shamballa. This, in its turn, is due to the progress of Sanat Kumara Himself, within His Own identified life upon the cosmic Path which emerges from the cosmic mental plane. All that we can contact and know is interdependent, and the unfoldment of the Life in Whom we live and move and have our being affects every aspect and department of His manifestation, just as the successful spiritual unfoldment of a human being and his ability to contact his soul produces incredible changes in the personality and affects every aspect and organ of his little manifestation upon the physical plane.
Tất cả những thay đổi này là do sự đáp ứng thành công của sự sống hành tinh chúng ta, được biểu lộ qua giới nhân loại vào thời điểm này, đối với các tiến trình tiến hoá và đối với sự tuôn vào (từ năm 1825) của năng lượng ý chí từ Shamballa. Đến lượt nó, điều này là do sự tiến bộ của chính Đức Sanat Kumara bên trong sự sống đồng hoá riêng của Ngài trên Con Đường vũ trụ xuất hiện từ cõi trí vũ trụ. Tất cả những gì chúng ta có thể tiếp xúc và biết đến đều phụ thuộc lẫn nhau, và sự khai mở của Sự Sống mà trong đó chúng ta sống, vận động và hiện hữu ảnh hưởng đến mọi phương diện và mọi bộ phận trong biểu hiện của Ngài, cũng như sự khai mở tinh thần thành công của một con người và khả năng tiếp xúc với linh hồn của y tạo ra những thay đổi khó tin trong phàm ngã và ảnh hưởng đến mọi phương diện và cơ quan trong biểu hiện nhỏ bé của y trên cõi hồng trần.
2. The intelligence of humanity now is of such a nature that certain earlier initiations no longer exist, and mankind has shown itself to possess the potentialities which will enable its individual units to tread not only the one or two cosmic Paths hitherto open to them, but all of them, if given the right training. This the premature discovery of the release of atomic energy has well demonstrated to the Hierarchy.
2. Trí tuệ của nhân loại hiện nay có bản chất đến mức một số lần điểm đạo trước kia không còn tồn tại nữa, và nhân loại đã cho thấy mình sở hữu những tiềm năng sẽ giúp các đơn vị cá thể của nó bước đi không chỉ trên một hay hai Con Đường vũ trụ trước đây mở ra cho họ, mà trên tất cả các Con Đường ấy, nếu được huấn luyện đúng đắn. Việc khám phá sớm năng lượng nguyên tử đã chứng minh rõ điều này cho Thánh Đoàn.
All these factors have forced a reorganisation in the Plans at Shamballa and, in a unique conference, in that far greater Council Chamber over which our Solar Logos presides; greater opportunity was consequently offered to the Members of our planetary Hierarchy. I stress that point: the opportunity was not offered or presented to the fourth kingdom in nature, but to the fifth kingdom.
Tất cả những yếu tố này đã buộc phải có một sự tái tổ chức trong các Kế Hoạch tại Shamballa và, trong một hội nghị độc nhất vô nhị, tại Phòng Hội Đồng còn vĩ đại hơn nhiều do Thái dương Thượng đế của chúng ta chủ trì; vì thế cơ hội lớn hơn đã được trao cho các Thành viên của Thánh Đoàn hành tinh chúng ta. Tôi nhấn mạnh điểm đó: cơ hội không được trao hay trình ra cho giới thứ tư trong tự nhiên, mà cho giới thứ năm.
It is all these facts which have caused what may look to you like discrepancies and limitations in what I have given and [413] in comparison with that given in the earlier volumes of this Treatise, but they are not so in reality. The Master of the fifth initiation, even if now He does not at that time make His decision, faces intelligently and with some understanding of the choices to be made, the sixth initiation and its decisions. He begins to take also the particular training, and to this the teaching in A Treatise on Cosmic Fire now applies. He is shewn the newer opportunity, the modes of decision, and the limitations which are no longer legitimate. I would like to point out here that these changes are a cause of deep joy to the Hierarchy and to the Great Lives in the Council Chamber at Shamballa, for they indicate the strength and potency of Sanat Kumara's success and the incredible progress made in the consciousness of humanity as a consequence; this will lead also to future paralleling decisions on the physical plane in human affairs; this deeply spiritual and mysterious success (mysterious because the human mind knows naught about it) was also the reason for the violent attempt of the Forces of Evil to gain control, and their resultant failure.
Chính tất cả những sự kiện này đã gây ra điều có thể trông như những sai khác và giới hạn trong những gì tôi đã cho ra và [413] khi so sánh với những gì đã được cho ra trong các tập trước của bộ Luận này, nhưng thực ra không phải vậy. Chân sư của lần điểm đạo thứ năm, ngay cả nếu lúc ấy Ngài chưa đưa ra quyết định của mình, vẫn đối diện một cách thông minh và với một mức độ thấu hiểu nào đó về những lựa chọn cần được thực hiện, với lần điểm đạo thứ sáu và các quyết định của nó. Ngài cũng bắt đầu tiếp nhận sự huấn luyện đặc thù, và chính vào điều này mà giáo huấn trong Luận về Lửa Vũ Trụ hiện nay được áp dụng. Ngài được chỉ cho thấy cơ hội mới hơn, các phương thức quyết định, và những giới hạn không còn chính đáng nữa. Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng những thay đổi này là nguyên nhân của niềm hoan hỉ sâu xa đối với Thánh Đoàn và đối với các Sự Sống Vĩ Đại trong Phòng Hội Đồng tại Shamballa, vì chúng cho thấy sức mạnh và hiệu lực của thành công của Đức Sanat Kumara và sự tiến bộ khó tin đã đạt được trong tâm thức nhân loại như một hệ quả; điều này cũng sẽ dẫn đến những quyết định song hành trong tương lai trên cõi hồng trần trong các công việc nhân loại; thành công sâu xa về tinh thần và đầy huyền nhiệm này (huyền nhiệm vì trí tuệ con người không biết gì về nó) cũng là lý do cho nỗ lực dữ dội của các Mãnh Lực của Điều Ác nhằm giành quyền kiểm soát, và sự thất bại tất yếu của chúng.