← The Rays and the Initiations (A Treatise on the Seven Rays Book 5)

4. The Path to Sirius — 4. Con Đường đến Sirius

4. The Path to Sirius — 4. Con Đường đến Sirius

I have frequently hinted in my various books that the Sun, Sirius, is closely related to our planetary Life; much is known in the Hierarchy anent this connection, and the particular relationship of this fourth Path to humanity, the fourth kingdom in nature, but little can be communicated to the general public. I may, however, tell you certain things which may make your imaginative rangings (if I may use so strange a phrase) creatively profitable to you.

Tôi đã thường gợi ý trong nhiều sách của tôi rằng Mặt Trời, Sirius, có liên hệ mật thiết với Sự Sống hành tinh của chúng ta; trong Thánh Đoàn người ta biết nhiều về mối liên hệ này, và về mối liên hệ đặc thù của Con Đường thứ tư này với nhân loại, giới thứ tư trong tự nhiên, nhưng rất ít điều có thể được truyền đạt cho công chúng nói chung. Tuy nhiên, tôi có thể nói với bạn một số điều có thể làm cho những cuộc du hành của trí tưởng tượng bạn (nếu tôi có thể dùng một cụm từ kỳ lạ như vậy) trở nên hữu ích một cách sáng tạo đối với bạn.

This great Sun which is to our solar Logos what the Monad is to the spiritual man, has a peculiar part to play where our Earth is concerned. It might be considered by those with a sound sense of occult proportion that our tiny planet with its planetary Logos (one of the “imperfect Gods” of The Secret Doctrine) would be too small to enter in the slightest way into the consciousness of that Supreme Illumined Entity Who is greater even than our Solar Logos. [414] Such, however, is the case. There is a relationship of very ancient date between our Lord of the World, Sanat Kumara, and the Lord of Sirius, and this exists in spite of the fact that our planet is not a sacred planet. It might be added that our planet is, in the immediate cycle, owing to the factors I have lately considered with you, rapidly passing out of this category, and on the inner planes and subjectively considered is a sacred planet; the effects of this transition from non-sacred to sacred have not fully demonstrated themselves objectively. The mystery of this relationship is partially revealed at one of the higher initiations and it is then realised by the initiates that there is a good and adequate reason for the relation and that the following esoteric events, relations and happenings are simply consequences:

Mặt Trời vĩ đại này, đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng như chân thần đối với con người tinh thần, có một vai trò đặc biệt phải đảm nhận liên quan đến Trái Đất chúng ta. Những ai có ý thức lành mạnh về tỉ lệ huyền bí có thể cho rằng hành tinh nhỏ bé của chúng ta cùng với Hành Tinh Thượng đế của nó (một trong những “Thượng đế bất toàn” của Giáo Lý Bí Nhiệm) quá nhỏ bé để có thể đi vào dù chỉ chút ít trong tâm thức của Thực Thể Tối Cao Rạng Ngời ấy, Đấng còn vĩ đại hơn cả Thái dương Thượng đế của chúng ta. [414] Tuy nhiên, đúng là như vậy. Có một mối liên hệ từ thời rất cổ xưa giữa Đức Chúa Tể Thế Giới của chúng ta, Đức Sanat Kumara, và Chúa Tể của Sirius, và điều này tồn tại mặc dù hành tinh chúng ta không phải là một hành tinh thiêng liêng. Có thể nói thêm rằng hành tinh chúng ta, trong chu kỳ hiện tại, do những yếu tố mà gần đây tôi đã cùng bạn xem xét, đang nhanh chóng vượt ra khỏi loại này, và trên các cõi bên trong cũng như xét một cách chủ quan thì nó là một hành tinh thiêng liêng; các hiệu quả của sự chuyển tiếp này từ không thiêng liêng sang thiêng liêng vẫn chưa biểu lộ đầy đủ một cách khách quan. Huyền nhiệm của mối liên hệ này được mặc khải phần nào ở một trong những lần điểm đạo cao hơn, và khi ấy các điểm đạo đồ nhận ra rằng có một lý do tốt đẹp và đầy đủ cho mối liên hệ ấy, và rằng các biến cố, liên hệ và diễn biến huyền bí sau đây chỉ đơn giản là những hệ quả:

1. The majority of liberated humanity, and therefore a large number of the initiates who have to make decision, choose this way to the cosmic centre.

1. Đa số nhân loại đã được giải thoát, và vì thế một số lượng lớn các điểm đạo đồ phải đưa ra quyết định, chọn con đường này đến trung tâm vũ trụ.

2. The relationship as it expresses itself is between the Hierarchy and Sirius, and not between Shamballa and that stupendous Sun. The energy evoked in response to this relationship enters the Hierarchy via the Heart of the Sun, creating as a consequence a triangle of spiritual energy of enormous potency. You have, therefore:

2. Mối liên hệ, như nó biểu lộ, là giữa Thánh Đoàn và Sirius, chứ không phải giữa Shamballa và Mặt Trời kỳ vĩ ấy. Năng lượng được gợi lên để đáp ứng với mối liên hệ này đi vào Thánh Đoàn qua Trái Tim Mặt Trời, do đó tạo ra một tam giác năng lượng tinh thần có tiềm lực vô cùng lớn. Vì vậy, bạn có:

3. As progress is made in the course of taking the higher initiations, it becomes apparent to the initiate that two major streams of energy enter our planetary life:

3. Khi sự tiến bộ được thực hiện trong tiến trình thọ nhận các lần điểm đạo cao hơn, điểm đạo đồ thấy rõ rằng có hai dòng năng lượng chính đi vào sự sống hành tinh của chúng ta:

a. A stream of energy coming from the cosmic mental plane and from that focal point which is to Sanat Kumara what the egoic lotus, the soul, is to the spiritual man; it carries the life principle of our planet and centres itself in Shamballa. From there it is dispersed throughout all forms upon the planet and we call it LIFE. It must be remembered that this life principle embodies or is impregnated with the will and purpose [415] of THAT which overshadows Sanat Kumara as the soul overshadows the personality.

a. Một dòng năng lượng đến từ cõi trí vũ trụ và từ tiêu điểm vốn đối với Đức Sanat Kumara cũng như hoa sen chân ngã, linh hồn, đối với con người tinh thần; nó mang nguyên khí sự sống của hành tinh chúng ta và tập trung tại Shamballa. Từ đó nó được phân tán khắp mọi hình tướng trên hành tinh và chúng ta gọi nó là SỰ SỐNG. Cần nhớ rằng nguyên khí sự sống này hiện thân hay được thấm nhuần bởi ý chí và mục đích [415] của ĐẤNG phủ bóng lên Đức Sanat Kumara như linh hồn phủ bóng lên phàm ngã.

b. A stream of energy coming from the sun, Sirius; this enters directly into the Hierarchy and carries with it the principle of buddhi, of cosmic love. This, in a mysterious way, is the principle found at the heart of every atom.

b. Một dòng năng lượng đến từ mặt trời Sirius; dòng này đi trực tiếp vào Thánh Đoàn và mang theo nguyên khí bồ đề, của tình thương vũ trụ. Điều này, theo một cách huyền nhiệm, là nguyên khí được tìm thấy nơi trung tâm của mọi nguyên tử.

The life principle follows the line of 1.3.5.7, whilst the buddhic flow follows the line of 2.4.6. Thus atma-buddhi becomes the blended reality which is brought to full unfoldment as evolution proceeds. The energy of Sirius by-passes (to use a modern word) Shamballa and is focussed in the Hierarchy. Its effect is not felt until after the third initiation, though the Masters use this energy whilst training disciples for the second, the fourth and the sixth initiations.

Nguyên khí sự sống đi theo tuyến 1.3.5.7, trong khi dòng bồ đề đi theo tuyến 2.4.6. Như vậy atma-buddhi trở thành thực tại dung hợp được đưa đến sự khai mở trọn vẹn khi tiến hoá tiếp diễn. Năng lượng của Sirius vượt qua Shamballa (để dùng một từ hiện đại) và được tập trung trong Thánh Đoàn. Hiệu quả của nó không được cảm nhận cho đến sau lần điểm đạo thứ ba, mặc dù các Chân sư sử dụng năng lượng này khi huấn luyện các đệ tử cho lần điểm đạo thứ hai, thứ tư và thứ sáu.

4. The entire work of the Great White Lodge is controlled from Sirius; the Ashrams are subjected to its cyclic inflow; the higher initiations are taken under its stimulation, for the principle of buddhi, of pure love (i.e., love-wisdom) must be active in the heart of every initiate prior to the initiation of the great decision; it is therefore only initiates of the fifth, sixth and higher initiations who can work consciously with the potent buddhic “livingness” which permeates all Ashrams, though unrecognised by the average disciple.

4. Toàn bộ công việc của Thánh đoàn được kiểm soát từ Sirius; các ashram chịu sự chi phối của dòng tuôn vào theo chu kỳ của nó; các lần điểm đạo cao hơn được thọ nhận dưới sự kích thích của nó, vì nguyên khí bồ đề, của tình thương thuần khiết (tức bác ái – minh triết) phải hoạt động trong tim của mọi điểm đạo đồ trước cuộc điểm đạo của quyết định lớn lao; vì thế chỉ những điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ năm, thứ sáu và cao hơn mới có thể làm việc một cách hữu thức với “sinh động tính” bồ đề mãnh liệt đang thấm nhuần mọi ashram, dù đệ tử trung bình không nhận ra.

5. This Sirian influence was not recognised, and little of it was definitely focussed in the Hierarchy, until Christ came and revealed the love of God to humanity. He is the expression, par excellence, of a Sirian initiation, and it is to that high place He will eventually go—no matter what duties or hierarchical obligations may take Him elsewhere between that time and now. The Buddha was originally to have chosen the fourth Path but other plans confront Him now and will probably claim His choice.

5. Ảnh hưởng Sirian này đã không được nhận biết, và rất ít phần của nó được tập trung một cách xác định trong Thánh Đoàn, cho đến khi Đức Christ đến và mặc khải tình thương của Thượng đế cho nhân loại. Ngài là biểu hiện, theo nghĩa tuyệt hảo nhất, của một điểm đạo Sirian, và chính đến nơi cao cả đó mà cuối cùng Ngài sẽ đi—bất kể những bổn phận hay nghĩa vụ trong Thánh Đoàn nào có thể đưa Ngài đến nơi khác giữa hiện tại và lúc ấy. Đức Phật nguyên thủy đã được dự định sẽ chọn Con Đường thứ tư nhưng hiện nay những kế hoạch khác đang ở trước Ngài và có lẽ sẽ đòi hỏi sự lựa chọn của Ngài.

6. Sanat Kumara is not on the Sirian line but—to speak in symbols, not too deeply veiled—Lucifer, Son of the Morning, is closely related, and hence the large number of human beings who will become disciples in the Sirian Lodge. This [416] is the true “Blue Lodge,” and to become a candidate in that Lodge, the initiate of the third degree has to become a lowly aspirant, with all the true and full initiations awaiting him “within the sunshine of the major Sun.”

6. Đức Sanat Kumara không ở trên tuyến Sirian nhưng—nói bằng biểu tượng, không quá che đậy—Lucifer, Con của Bình Minh, lại có liên hệ mật thiết, và do đó có một số lượng lớn những con người sẽ trở thành đệ tử trong Thánh đoàn Sirian. Đây [416] là “Thánh đoàn Lam” chân thực, và để trở thành một ứng viên trong Thánh đoàn đó, điểm đạo đồ cấp ba phải trở thành một người chí nguyện khiêm cung, với tất cả những lần điểm đạo chân thực và trọn vẹn đang chờ đợi y “trong ánh dương của Mặt Trời lớn lao.”

7. None of the above facts indicates divergence of view between Shamballa and the Hierarchy, nor do they signify cleavage or differing aims and goals. The whole subject is reflected in such minor relations on Earth as those between:

7. Không điều nào trong các sự kiện trên hàm ý có sự khác biệt quan điểm giữa Shamballa và Thánh Đoàn, cũng không có nghĩa là có sự chia rẽ hay những mục tiêu và cứu cánh khác nhau. Toàn bộ chủ đề này được phản chiếu trong những mối liên hệ nhỏ hơn trên Trái Đất như giữa:

a. The Spiritual Triad and the Personality.

a. Tam Nguyên Tinh Thần và Phàm ngã.

b. The mental unit and the manasic permanent atom.

b. đơn vị hạ trí và Nguyên tử trường tồn manas.

c. Atma-Buddhi.

c. Atma-Buddhi.

d. The Christ and the Buddha.

d. Đức Christ và Đức Phật.

The above somewhat uncorrelated items of information will give you a general idea of the significant connection between our unimportant little planet and that vast expression of divinity, the Life which is manifesting through Sirius; it is an expression which is organised and vital beyond anything man can vision and which is free to a completely unlimited extent, again beyond the power of man to comprehend. The principle of freedom is a leavening energy which can permeate substance in a unique manner; this divine principle represents an aspect of the influence which Sirius exerts on our solar system and particularly on our planet. This principle of freedom is one of the attributes of Deity (like will, love and mind) of which humanity knows as yet little. The freedom for which men fight is one of the lowest aspects of this cosmic freedom, which is related to certain great evolutionary developments that enable the life or spirit aspect to free itself from the impact, the contact and the influence of substance.

Những mẩu thông tin phần nào rời rạc trên đây sẽ cho bạn một ý niệm tổng quát về mối liên hệ đầy thâm nghĩa giữa hành tinh nhỏ bé không quan trọng của chúng ta và biểu hiện rộng lớn của thiên tính ấy, Sự Sống đang biểu lộ qua Sirius; đó là một biểu hiện được tổ chức và tiếp sinh lực vượt quá bất cứ điều gì con người có thể có tầm nhìn, và tự do đến một mức hoàn toàn vô hạn, cũng vượt quá khả năng thấu hiểu của con người. Nguyên khí tự do là một năng lượng men hoá có thể thấm vào chất liệu theo một cách độc đáo; nguyên khí thiêng liêng này biểu hiện một phương diện của ảnh hưởng mà Sirius tác động lên hệ mặt trời chúng ta và đặc biệt lên hành tinh chúng ta. Nguyên khí tự do này là một trong những thuộc tính của Thượng đế (giống như ý chí, tình thương và trí tuệ) mà nhân loại cho đến nay còn biết rất ít. Tự do mà con người chiến đấu để giành lấy là một trong những phương diện thấp nhất của tự do vũ trụ này, vốn liên hệ với một số phát triển tiến hoá lớn lao giúp phương diện sự sống hay tinh thần giải thoát chính nó khỏi tác động, tiếp xúc và ảnh hưởng của chất liệu.

It is the principle of freedom which enables Sanat Kumara to dwell on the Earth and yet stand free from all contacts, except with Those Who have trodden the Path of Liberation and now stand free upon the cosmic physical plane; it is that which enables the initiate to achieve a state of “isolated unity”; it is that which lies behind the Spirit of Death and forms the motivating power of that great releasing Agency; it is that which provides a “pathway of power” [417] between our Hierarchy and the distant sun, Sirius, and gives the incentive towards the “culture of freedom” or of liberation which motivates the work of the Masters of the Wisdom; it is that which produced the ferment and the vortex of conflict in far distant ages and which has been recognised in the present through the results of the Law of Evolution in every kingdom in nature; this is that which “substands” or lies under or behind all progress. This mysteriously “exerted influence,” this “pulling away” from form (as we might simply call it), emanates from Sirius and for it we have no name; it is the law of which the three cosmic laws—the Laws of Synthesis, of Attraction and of Economy—are only aspects. None of these three subsidiary laws imposes any rule or limitation upon the Lord of the World. The Law of Freedom, however, does impose certain restrictions, if one can use such a paradoxical phrase. It is responsible for His being known as the “Great Sacrifice,” for (under the control of this law) He created our planetary life and all that is within and upon it, in order to learn to wield this law with full understanding, in full consciousness, and yet at the same time to bring release to the myriad forms of His creation.

Chính nguyên khí tự do giúp Đức Sanat Kumara cư ngụ trên Trái Đất mà vẫn đứng tự do khỏi mọi tiếp xúc, ngoại trừ với những Đấng đã bước trên Con Đường Giải Thoát và nay đứng tự do trên cõi hồng trần vũ trụ; chính nó giúp điểm đạo đồ đạt đến trạng thái “Hợp Nhất Cô Lập”; chính nó nằm phía sau Tinh thần của Sự Chết và tạo thành quyền năng thúc đẩy của Tác Nhân giải thoát vĩ đại ấy; chính nó cung cấp một “con đường quyền năng” [417] giữa Thánh Đoàn chúng ta và mặt trời xa xôi Sirius, và đem lại động lực hướng tới “văn hoá của tự do” hay của giải thoát vốn thúc đẩy công việc của các Chân sư Minh triết; chính nó đã tạo ra sự lên men và xoáy lốc xung đột trong những thời đại xa xưa và đã được nhận biết trong hiện tại qua các kết quả của Định luật Tiến hoá trong mọi giới của tự nhiên; chính nó là điều “nâng đỡ từ bên dưới” hay nằm bên dưới hoặc phía sau mọi tiến bộ. “Ảnh hưởng được tác động” đầy huyền nhiệm này, sự “kéo ra khỏi” hình tướng này (như chúng ta có thể gọi đơn giản như vậy), phát ra từ Sirius và đối với nó chúng ta không có tên gọi; đó là định luật mà ba định luật vũ trụ—các Định luật Tổng Hợp, Hấp Dẫn và Tiết Kiệm—chỉ là những phương diện của nó. Không một định luật phụ thuộc nào trong ba định luật này áp đặt bất kỳ quy luật hay giới hạn nào lên Đức Chúa Tể Thế Giới. Tuy nhiên, Định luật Tự Do có áp đặt một số hạn chế, nếu người ta có thể dùng một cụm từ nghịch lý như vậy. Nó chịu trách nhiệm cho việc Ngài được biết đến như “Đấng Hi Sinh Vĩ Đại,” vì (dưới sự kiểm soát của định luật này) Ngài đã tạo ra sự sống hành tinh của chúng ta và mọi điều ở trong và trên đó, để học cách vận dụng định luật này với sự thấu hiểu trọn vẹn, trong tâm thức trọn vẹn, đồng thời cũng mang lại sự giải thoát cho vô số hình tướng trong sáng tạo của Ngài.

The Law of Economy affects humanity as a whole today throughout every phase of its life; the Law of Attraction is beginning to gain some control, particularly in the work which the Hierarchy undertakes to do; and many initiates and senior disciples are becoming aware of the significance of the Law of Synthesis and are reacting to its impact. Later on, when moving to one of the seven Paths, the Master will work with the Law of Freedom. This is not, as you may well surmise, its true name, for in the last analysis, freedom and liberation are effects of its activity. This unique and mysterious law governs the Life and the Lives upon Sirius, and it is to that unknown “sphere of functioning and intelligent activity” what the Law of Economy is to our planet—the lowest of the laws controlling existence in planetary form.

Định luật Tiết Kiệm ngày nay ảnh hưởng đến nhân loại như một toàn thể trong mọi phương diện của đời sống nó; Định luật Hấp Dẫn đang bắt đầu giành được một mức kiểm soát nào đó, đặc biệt trong công việc mà Thánh Đoàn đảm nhận thực hiện; và nhiều điểm đạo đồ cùng các đệ tử cao cấp đang trở nên nhận biết về ý nghĩa của Định luật Tổng Hợp và đang đáp ứng với tác động của nó. Về sau, khi chuyển sang một trong bảy Con Đường, Chân sư sẽ làm việc với Định luật Tự Do. Đây không phải, như bạn có thể dễ dàng suy ra, là tên gọi chân thực của nó, vì xét đến cùng, tự do và giải thoát là những hiệu quả của hoạt động của nó. Định luật độc đáo và huyền nhiệm này cai quản Sự Sống và các sự sống trên Sirius, và đối với “khối cầu hoạt động và hoạt động trí tuệ” chưa được biết đến ấy, nó cũng như Định luật Tiết Kiệm đối với hành tinh chúng ta—định luật thấp nhất trong các định luật kiểm soát sự hiện hữu trong hình tướng hành tinh.

This Law of Economy includes, as you know from my earlier writings, many lesser or subsidiary laws; it might therefore be stated that this Law of Freedom also does the [418] same. Until more divine attributes are realised as existing and recognised as aspects, it is not possible for the name of the law which embodies the Law of Freedom to be given, for there is no word in our language adequately available. The above information will, however, link Sirius and our little planet, the Earth, in your minds.

Định luật Tiết Kiệm này bao gồm, như các bạn đã biết từ những trước tác trước đây của tôi, nhiều định luật nhỏ hơn hay phụ thuộc; vì vậy, cũng có thể nói rằng Định luật Tự Do này [418] cũng như thế. Chừng nào nhiều thuộc tính thiêng liêng hơn chưa được chứng nghiệm là hiện hữu và được nhìn nhận như những phương diện, thì chưa thể nêu ra tên của định luật thể hiện Định luật Tự Do, vì trong ngôn ngữ của chúng ta không có từ nào thích hợp đầy đủ. Tuy nhiên, thông tin trên sẽ nối kết Sirius và hành tinh nhỏ bé của chúng ta, Trái Đất, trong tâm trí các bạn.

Masonry, as originally instituted far back in the very night of time and long ante-dating the Jewish dispensation, was organised under direct Sirian influence and modelled as far as possible on certain Sirian institutions and bearing a slight resemblance also to our hierarchical life—as seen in the light of the Eternal Now. Its “Blue Lodge” with its three degrees is related to the three major groups of Lives on Sirius, for there are there no kingdoms of nature, such as we possess; these groups receive all Those Who choose the fourth Path, and train Them in the mode of existence and the type of livingness which is found on Sirius. This will make it plain to you that the least developed of the Sirian Lives are—from our standpoint—all of Them initiates of very high degree. Masonry is, therefore, connected in a peculiar way with the fourth Path. Down the ages, the Masonic tradition has been preserved, changing its nomenclature from time to time, reinterpreting its Words of Power, and consequently getting further and further removed from its original beauty and intent.

Hội Tam Điểm, như đã được thiết lập nguyên thủy từ rất xa xưa trong chính đêm tối của thời gian và có trước cả thời kỳ Do Thái giáo, đã được tổ chức dưới ảnh hưởng trực tiếp của Sirius và được mô phỏng, trong mức độ có thể, theo một số định chế của Sirius, đồng thời cũng mang đôi nét tương tự với đời sống Thánh đoàn của chúng ta—như được thấy trong ánh sáng của Hiện Tại Vĩnh Cửu. “Blue Lodge” của nó với ba cấp bậc có liên hệ với ba nhóm Sự Sống chính trên Sirius, vì ở đó không có các giới trong thiên nhiên như chúng ta có; các nhóm này tiếp nhận tất cả Những Đấng chọn Con Đường thứ tư, và huấn luyện Các Ngài trong phương thức hiện hữu và loại sinh hoạt được tìm thấy trên Sirius. Điều này sẽ làm cho các bạn thấy rõ rằng những Sự Sống Sirius kém phát triển nhất—xét từ quan điểm của chúng ta—tất cả Các Ngài đều là những điểm đạo đồ ở cấp rất cao. Vì vậy, Hội Tam Điểm được nối kết một cách đặc biệt với Con Đường thứ tư. Qua các thời đại, truyền thống Tam Điểm đã được bảo tồn, thay đổi danh xưng theo từng thời kỳ, diễn giải lại các Quyền năng từ của mình, và do đó ngày càng xa rời vẻ đẹp và chủ đích nguyên thủy của nó.

The time has now come, under cyclic law and in preparation for the New Age, for certain changes to be worked by Masons with spiritual understanding. The present Jewish colouring of Masonry is completely out of date and has been preserved far too long, for it is today either Jewish or Christian and should be neither. The Blue Lodge degrees are entirely Jewish in phrasing and wording, and this should be altered. The Higher Degrees are predominantly Christian, though permeated with Jewish names and words. This too should end. This Jewish colouring is today one of the main hindrances to the full expression of Masonic intention and should be changed, whilst preserving the facts and detail and structure of the Masonic symbolism intact. Whatever [419] form the new nomenclature will take (and this change will inevitably come), that too will pass away after due service rendered. Thus the cyclic transformation will proceed until such time as the bulk of humanity, standing upon the fourth Path, will pass through the initiatory process on Sirius, of which our E.A degree is a faint reflection.

Hiện nay, theo định luật chu kỳ và để chuẩn bị cho Kỷ Nguyên Mới, đã đến lúc một số thay đổi cần được những người Tam Điểm có sự thấu hiểu tinh thần thực hiện. Sắc thái Do Thái hiện nay của Hội Tam Điểm hoàn toàn lỗi thời và đã được duy trì quá lâu, vì ngày nay nó hoặc là Do Thái hoặc là Cơ Đốc, trong khi lẽ ra không nên là cả hai. Các cấp bậc Blue Lodge hoàn toàn mang cách diễn đạt và ngôn từ Do Thái, và điều này cần phải thay đổi. Các Cấp Bậc Cao phần lớn mang tính Cơ Đốc, dù thấm đẫm các tên gọi và từ ngữ Do Thái. Điều này cũng phải chấm dứt. Sắc thái Do Thái này ngày nay là một trong những chướng ngại chính đối với sự biểu lộ trọn vẹn của ý hướng Tam Điểm và cần phải được thay đổi, trong khi vẫn giữ nguyên vẹn các sự kiện, chi tiết và cấu trúc của biểu tượng học Tam Điểm. Dù [419] hình thức danh xưng mới sẽ mang lấy là gì đi nữa (và sự thay đổi này tất yếu sẽ đến), thì điều đó rồi cũng sẽ qua đi sau khi đã hoàn tất sự phụng sự thích đáng. Như thế, sự chuyển đổi theo chu kỳ sẽ tiếp diễn cho đến khi phần lớn nhân loại, đứng trên Con Đường thứ tư, sẽ đi qua tiến trình điểm đạo trên Sirius, mà cấp E.A của chúng ta chỉ là một phản ánh mờ nhạt.

5. The Ray Path — 5. Con Đường Cung

The history of evolution upon the Earth, from the angle of humanity is one of progress, emphatic revolutionary decisions and climaxing crises. Without such a history we should not realise the progress made and the steady though gradual growth of sensitive response to environment, to contact and to impressions—mental and spiritual. The history of evolution is in reality and from the occult point of view the history of the freeing of the spirit by the mode of steadily developing forms which—in orderly unfoldment and at the demand of spirit—meet its requirements in any particular cycle and at every stage of growth, consequent upon the response of substance to spiritual impact and impression.

Lịch sử tiến hoá trên Trái Đất, xét từ góc độ nhân loại, là một lịch sử của tiến bộ, của những quyết định cách mạng dứt khoát và của những cuộc khủng hoảng đạt đến cao điểm. Nếu không có một lịch sử như thế, chúng ta đã không nhận ra được sự tiến bộ đã đạt được và sự tăng trưởng vững chắc tuy dần dần của khả năng đáp ứng nhạy bén đối với môi trường, đối với tiếp xúc và đối với các ấn tượng—trí tuệ và tinh thần. Thực ra, lịch sử tiến hoá, xét theo quan điểm huyền bí, là lịch sử của sự giải phóng tinh thần bằng phương thức phát triển đều đặn các hình tướng—những hình tướng, trong sự khai mở có trật tự và theo đòi hỏi của tinh thần, đáp ứng các nhu cầu của nó trong bất kỳ chu kỳ riêng biệt nào và ở mọi giai đoạn tăng trưởng, như hệ quả của sự đáp ứng của chất liệu trước tác động và ấn tượng tinh thần.

This impact and this impression relate to the bringing together of substance and spirit, of form and matter, and is also closely connected with the cyclic appearance of the rays, with their varying ray influences, qualities and intentions, for they all contribute to the evolutionary process as they cycle in and out of manifested expression. It should be recognised that each ray Lord, whilst following His own path of development, has certain qualities to express and certain aspects of life to unfold and manifest. The effect of these intentions of the ray Lords or Lives upon our planet is, from Their angle, purely incidental and takes place without planning, being due to definite cyclic, circulatory and cosmic activities wherein They are eternally engaged. Their intention and purposes are not, therefore, in any way related to humanity—a fact which men are apt to forget.

Tác động và ấn tượng này liên quan đến việc đưa chất liệu và tinh thần, hình tướng và vật chất lại với nhau, và cũng gắn bó chặt chẽ với sự xuất hiện theo chu kỳ của các cung, với những ảnh hưởng cung, phẩm tính và ý hướng khác nhau của chúng, vì tất cả đều góp phần vào tiến trình tiến hoá khi chúng luân phiên đi vào rồi đi ra khỏi sự biểu lộ. Cần nhận ra rằng mỗi Đấng Chúa Tể Cung, trong khi đi theo con đường phát triển riêng của Ngài, đều có những phẩm tính nhất định để biểu lộ và những phương diện nhất định của sự sống để khai mở và biểu hiện. Tác động của những ý hướng này của các Đấng Chúa Tể Cung hay các Sự Sống lên hành tinh chúng ta, xét từ góc độ của Các Ngài, hoàn toàn chỉ là ngẫu nhiên và diễn ra không có sự hoạch định, do những hoạt động chu kỳ, tuần hoàn và vũ trụ xác định mà Các Ngài vĩnh viễn dấn thân vào. Vì vậy, ý hướng và mục đích của Các Ngài hoàn toàn không liên hệ gì đến nhân loại—một sự kiện mà con người thường dễ quên.

It is, however, with these ray intentions that the Initiate of the sixth degree is occupied when He passes on to the fifth or Ray Path. His decision and the intention of the ray [420] Lord at first, and the united intention of all of Them eventually, are curiously and uniquely connected. The Master on this Path works at the comprehension of the intention and the life purposes of the ray Lords. Many first ray souls find their way on to this Path, for there is a close connection between the decision at the sixth initiation and this fifth Path; this might be expected for two reasons: one, that every Master is on one of the three major rays, and secondly, every Master has to develop an understanding of the world of cosmic Purpose. It is a connection based upon the use of the will; it is the will-to-power, the will-to-love and the will-to-know, plus the other four aspects of will (A Treatise on the Seven Rays, Vol III. Esoteric Astrology Pages 599-601) which form the elementary basis of the training given on this fifth Path. Souls from other rays reach the same goal and occasionally choose this Path, but it is not the one which constitutes for Them the line of least resistance, as it often is for Masters on the first ray.

Tuy nhiên, chính với những ý hướng cung này mà điểm đạo đồ cấp sáu bận tâm khi Ngài tiến sang Con Đường thứ năm hay Con Đường Cung. Quyết định của Ngài và ý hướng của Đấng Chúa Tể Cung lúc đầu, rồi về sau là ý hướng hợp nhất của tất cả Các Ngài, được nối kết với nhau một cách kỳ lạ và độc đáo. Chân sư trên Con Đường này làm việc để thấu hiểu ý hướng và các mục đích sống của các Đấng Chúa Tể Cung. Nhiều linh hồn cung một tìm được lối đi vào Con Đường này, vì có một mối liên hệ chặt chẽ giữa quyết định ở lần điểm đạo thứ sáu và Con Đường thứ năm này; điều đó có thể được chờ đợi vì hai lý do: thứ nhất, mọi Chân sư đều thuộc một trong ba cung chính, và thứ hai, mọi Chân sư đều phải phát triển sự thấu hiểu về thế giới của Thiên Ý vũ trụ. Đó là một mối liên hệ dựa trên việc sử dụng ý chí; đó là ý chí hướng đến quyền năng, ý chí hướng đến tình thương và ý chí hướng đến tri thức, cộng với bốn phương diện khác của ý chí (Luận về Bảy Cung, Tập III. Chiêm Tinh Học Nội Môn, trang 599-601) tạo thành nền tảng sơ đẳng của sự huấn luyện được ban trên Con Đường thứ năm này. Các linh hồn thuộc những cung khác cũng đạt đến cùng mục tiêu và đôi khi chọn Con Đường này, nhưng đó không phải là con đường tạo thành con đường ít trở ngại nhất đối với Các Ngài, như thường là vậy đối với các Chân sư cung một.

Masters from the first ray and the second ray tread it often, and each of Them has a different mode of approach, technique and type of realisation:

Các Chân sư từ cung một và cung hai thường bước đi trên con đường này, và mỗi Ngài có một phương thức tiếp cận, kỹ thuật và loại chứng nghiệm khác nhau:

1. First ray souls have to negate their “isolated unity” and study the beauty and value of differentiation. This period of training is followed by a mysterious process called “multiple identification.” Note how the adjective here conveys the many and the plural whilst the noun gives the concept of unity and the singular. In these two words, apparently contradictory though esoterically significant, there is embodied one aspect of the initiation to be experienced on this ray Path.

1. Các linh hồn cung một phải phủ nhận “hợp nhất cô lập” của mình và nghiên cứu vẻ đẹp cùng giá trị của sự biến phân. Giai đoạn huấn luyện này được tiếp theo bởi một tiến trình huyền nhiệm gọi là “đồng hoá đa thể.” Hãy lưu ý cách tính từ ở đây chuyển tải cái nhiều và số nhiều, trong khi danh từ lại cho khái niệm về hợp nhất và số ít. Trong hai từ này, tuy bề ngoài mâu thuẫn nhưng về mặt huyền bí lại đầy thâm nghĩa, có hàm chứa một phương diện của điểm đạo sẽ được trải nghiệm trên Con Đường Cung này.

2. The second ray Master who decides to go this way has to negate his attractive, magnetic tendencies and learn the meaning of “isolated intention with a multiplicity of goals.” I know not how else to translate the archaic phrase which describes the objective of the Master's training on this Path. The exclusive has to become the inclusive in an [421] entirely newly apprehended world of realisation, whilst the inclusive has to master the technique of exclusiveness and become exclusive in a new realm of realisation; it is an exclusiveness which has in it no slightest element of the great heresy of separateness.

2. Chân sư cung hai quyết định đi theo lối này phải phủ nhận các khuynh hướng hấp dẫn, từ tính của mình và học ý nghĩa của “ý hướng cô lập với đa số mục tiêu.” Tôi không biết phải dịch cụm từ cổ xưa mô tả mục tiêu của sự huấn luyện của Chân sư trên Con Đường này theo cách nào khác. Cái độc hữu phải trở thành cái bao gồm trong một [421] thế giới chứng nghiệm hoàn toàn mới được lĩnh hội, trong khi cái bao gồm phải làm chủ kỹ thuật của tính độc hữu và trở nên độc hữu trong một lĩnh vực chứng nghiệm mới; đó là một tính độc hữu không chứa đựng dù chỉ chút ít nào yếu tố của Đại Tà thuyết về sự phân ly.

I may not here even indicate the type or quality of the intentions of the ray Lords which the Master of the sixth initiation has to learn to comprehend. The training given Him ends in another tremendous decision which will place Him in a group of Lives on some sacred planet or in some solar system which will be a correspondence to Shamballa on our little planet. Shamballa embodies the will or purpose of our planetary Logos. The goal which these initiates (trained on the ray Path) eventually reach is some sphere of activity wherein sublime purposes and divine intentions are worked out.

Tôi không thể ở đây dù chỉ gợi ý loại hay phẩm tính của những ý hướng của các Đấng Chúa Tể Cung mà Chân sư của lần điểm đạo thứ sáu phải học để thấu hiểu. Sự huấn luyện được ban cho Ngài kết thúc trong một quyết định trọng đại khác, quyết định này sẽ đặt Ngài vào một nhóm Sự Sống trên một hành tinh thiêng liêng nào đó hoặc trong một hệ mặt trời nào đó, vốn sẽ là một tương ứng với Shamballa trên hành tinh nhỏ bé của chúng ta. Shamballa thể hiện ý chí hay mục đích của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Mục tiêu mà các điểm đạo đồ này (được huấn luyện trên Con Đường Cung) cuối cùng đạt đến là một khối cầu hoạt động nào đó, nơi các mục đích siêu tuyệt và các ý hướng thiêng liêng được thực hiện.

6. The Path the Logos Himself is on — 6. Con Đường mà chính Thượng đế đang đi

It should be remembered as this peculiarly abstruse subject is approached that the Solar Logos is as far removed (in the evolutionary sense) from our planetary Logos as the latter is from the point of attainment of an accepted disciple. Yet the two are linked by a subjective unity and similarity of objective. At certain points upon the Way of the Higher Evolution Their two lines of energy meet and blend. Our Solar Logos also plays a peculiarly interesting part in the development of our entire planetary life. For the sake of clarity, yet at the same time speaking symbolically, Sanat Kumara might be regarded as a personal disciple of the Solar Logos, with all that that indicates of cosmic responsibility.

Cần ghi nhớ, khi tiếp cận chủ đề đặc biệt trừu tượng này, rằng Thái dương Thượng đế cách xa (theo nghĩa tiến hoá) Hành Tinh Thượng đế của chúng ta cũng như Hành Tinh Thượng đế cách xa điểm thành tựu của một đệ tử được chấp nhận. Tuy nhiên, cả hai được nối kết bởi một hợp nhất chủ quan và một sự tương đồng về mục tiêu. Tại những điểm nhất định trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, hai tuyến năng lượng của Các Ngài gặp nhau và hòa trộn. Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng đóng một vai trò đặc biệt thú vị trong sự phát triển của toàn bộ sự sống hành tinh của chúng ta. Vì mục đích làm sáng tỏ, nhưng đồng thời nói theo biểu tượng, Đức Sanat Kumara có thể được xem như một đệ tử cá nhân của Thái dương Thượng đế, với tất cả những gì điều đó hàm ý về trách nhiệm vũ trụ.

We had much difficulty in considering understandingly the path trodden by Those Masters Who decided to tread the Path of training for planetary Logoi. It is therefore far more difficult and practically impossible to say anything anent this Path which is trodden by Those Great Beings Who are in training for Solar Logoi. Of These, Sanat Kumara [422] is One. Not all the planetary Logoi tread the Path of Solar Logoi, for just as exalted positions await Them elsewhere in the universe. Those Masters, as I have said in A Treatise on Cosmic Fire, Who tread this Path are rare indeed, and hitherto have had to enter this Path via the angel or deva evolution and by transference then to the fifth or ray Path. Changes have however been made, and a Master can now pass on to this sixth Path directly and without entering the deva evolution.

Chúng ta đã gặp rất nhiều khó khăn khi cố gắng xem xét một cách thấu hiểu con đường được bước đi bởi những Chân sư đã quyết định bước lên Con Đường huấn luyện dành cho các Hành Tinh Thượng đế. Vì vậy, còn khó hơn nhiều và thực tế là không thể nói được điều gì về Con Đường này, vốn được bước đi bởi Những Đấng Vĩ Đại đang được huấn luyện để trở thành các Thái dương Thượng đế. Trong số Các Ngài, Đức Sanat Kumara [422] là Một. Không phải mọi Hành Tinh Thượng đế đều bước đi trên Con Đường của các Thái dương Thượng đế, vì cũng có những địa vị cao cả đang chờ Các Ngài ở nơi khác trong vũ trụ. Những Chân sư, như tôi đã nói trong Luận về Lửa Vũ Trụ, bước đi trên Con Đường này quả thật rất hiếm, và cho đến nay đã phải đi vào Con Đường này qua tiến hoá thiên thần hay deva, rồi bằng sự chuyển dịch sang Con Đường thứ năm hay Con Đường Cung. Tuy nhiên, những thay đổi đã được thực hiện, và giờ đây một Chân sư có thể tiến sang Con Đường thứ sáu này trực tiếp mà không cần đi vào tiến hoá deva.

This sixth Path is one on which the Masters in training have to work with the devas who are so frequently the mobile agents of the creative process in solar creation. The Masters Who enter upon this Path, eventually and as part of Their training, enter the Council Chamber of some of the sacred planets, before transferring into the group which guides our Solar Logos; this in its turn is only a temporary phase, though in both cases the time embraced may cover vast periods, from the point of view of humanity. They work with principles unknown to us on Earth, though two of these principles will later be revealed; many of them are controlling factors on other spheres and in other planetary schemes which are more advanced than ours; the Master in training then acts as the custodian of these “energetic principles” or as distributing agent; in this way Venus was the custodian of what we call the principle of Mind and brought it as a pure gift to embryonic humanity.

Con Đường thứ sáu này là con đường mà trên đó các Chân sư đang được huấn luyện phải làm việc với các thiên thần, những vị thường là các tác nhân linh động của tiến trình sáng tạo trong sự sáng tạo thái dương. Các Chân sư bước vào Con Đường này, cuối cùng và như một phần của sự huấn luyện của Các Ngài, đi vào Phòng Hội Đồng của một số hành tinh thiêng liêng, trước khi chuyển sang nhóm hướng dẫn Thái dương Thượng đế của chúng ta; đến lượt nó, điều này cũng chỉ là một giai đoạn tạm thời, dù trong cả hai trường hợp thời gian bao hàm có thể trải dài qua những thời kỳ mênh mông, xét từ quan điểm của nhân loại. Các Ngài làm việc với những nguyên khí mà chúng ta không biết trên Trái Đất, dù về sau hai trong số các nguyên khí này sẽ được mặc khải; nhiều nguyên khí trong số đó là những yếu tố kiểm soát trên các khối cầu khác và trong các hệ hành tinh khác tiến bộ hơn hệ của chúng ta; khi ấy Chân sư đang được huấn luyện hành động như người gìn giữ các “nguyên khí năng lượng” này hoặc như tác nhân phân phối; theo cách đó Sao Kim đã là người gìn giữ điều mà chúng ta gọi là nguyên khí Trí Tuệ và đã mang nó như một tặng phẩm thuần khiết đến cho nhân loại còn phôi thai.

7. The Path of Absolute Sonship — 7. Con Đường của Tuyệt Đối Tử Tính

As I have previously pointed out, not much can be given out concerning this mysterious Path which leads into a triangle (if I may so express it) formed of three lines of energy of differing and greatly varying vibratory effectiveness. This triangle is in the nature of an open door, presenting unique and unprecedented opportunity to Those Who discover this Path. Just as one of the seven Paths produced ultimately relationship to the Pleiades, so this Path relates our solar system to the constellation of the Great Bear. You have, therefore, the following triangle composed [423] of one stream of energy emanating from the Great Bear, another stream of energy issuing from the Heart of the Sun or from our Solar Logos, and the base line constituted of the seven streams of energy which come from our seven sacred planets. The potency and the effectiveness of this triangle is therefore unique and apparent; it produces relation between our system, our planets and the universe. This “open” triangle presents opportunity to Those Lives Who, from the other side of the triangle to that presented to our solar system and its contents, seek to help our solar system and bring the non-sacred planets to the point of liberation which is their particular goal. Through this triangular door all the great Avatars enter our system and “find the Point where They can serve.”

Như tôi đã chỉ ra trước đây, không thể tiết lộ nhiều về Con Đường huyền nhiệm này, con đường dẫn vào một tam giác (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) được tạo thành bởi ba tuyến năng lượng có hiệu lực rung động khác nhau và rất khác biệt. Tam giác này có bản chất của một cánh cửa mở, trình bày cơ hội độc nhất và chưa từng có cho Những Đấng khám phá ra Con Đường này. Cũng như một trong bảy Con Đường cuối cùng tạo ra mối liên hệ với chòm Pleiades, thì Con Đường này liên hệ hệ mặt trời của chúng ta với chòm Đại Hùng. Vì vậy, các bạn có tam giác sau đây được cấu thành [423] bởi một dòng năng lượng phát ra từ chòm Đại Hùng, một dòng năng lượng khác phát ra từ Trái Tim của Mặt Trời hay từ Thái dương Thượng đế của chúng ta, và đường đáy được tạo thành bởi bảy dòng năng lượng đến từ bảy hành tinh thiêng liêng của chúng ta. Do đó, uy lực và hiệu quả của tam giác này là độc nhất và hiển nhiên; nó tạo ra mối liên hệ giữa hệ của chúng ta, các hành tinh của chúng ta và vũ trụ. Tam giác “mở” này trình bày cơ hội cho những Sự Sống, từ phía bên kia của tam giác đối diện với phía được trình bày cho hệ mặt trời của chúng ta và các nội dung của nó, tìm cách giúp đỡ hệ mặt trời của chúng ta và đưa các hành tinh không thiêng liêng đến điểm giải thoát là mục tiêu riêng của chúng. Qua cánh cửa tam giác này, tất cả các Đấng Hoá Thân vĩ đại đi vào hệ của chúng ta và “tìm ra Điểm nơi Các Ngài có thể phụng sự.”

The inflow of extra-solar energy is what produces the seven cosmic Paths. There is no such grouping as the seven solar Paths. In most cases, the Paths lead away from our solar system altogether.

Dòng năng lượng ngoài thái dương chảy vào là điều tạo ra bảy Con Đường vũ trụ. Không có nhóm nào như bảy Con Đường thái dương. Trong phần lớn các trường hợp, các Con Đường dẫn ra khỏi hệ mặt trời của chúng ta hoàn toàn.

If you will study the more abstruse teaching (more veiled and more symbolic than this) you will find certain statements made which—to the esotericist—will throw much light on the simpler presentations in this Treatise on the Seven Rays. It is simpler because only those points are given which carry in them the germ of possible enlightenment to the general public. A Treatise on Cosmic Fire is not written for the general public; it is strictly a presentation of truth for the initiated disciple. Its line is strictly a first ray and third ray presentation, whilst this Treatise is strictly a second ray approach. This is a statement warranting careful thought, and one that has as yet received no recognition. [424]

Nếu các bạn nghiên cứu giáo huấn trừu tượng hơn (được che giấu hơn và biểu tượng hơn giáo huấn này), các bạn sẽ thấy có những phát biểu mà—đối với nhà bí truyền học—sẽ soi sáng rất nhiều cho những trình bày đơn giản hơn trong Luận về Bảy Cung này. Nó đơn giản hơn vì chỉ những điểm mang trong mình mầm mống của sự giác ngộ khả hữu cho công chúng nói chung mới được nêu ra. Luận về Lửa Vũ Trụ không được viết cho công chúng nói chung; đó hoàn toàn là một sự trình bày chân lý dành cho đệ tử đã được điểm đạo. Đường lối của nó hoàn toàn là một sự trình bày theo cung một và cung ba, trong khi Luận này hoàn toàn là một cách tiếp cận theo cung hai. Đây là một phát biểu đáng để suy nghĩ cẩn trọng, và cho đến nay vẫn chưa được nhìn nhận. [424]

Among the changes necessitated by the abnormally rapid development of mankind, with its consequent stepping up of the qualities of disciples, is the fact that no longer does the Master—faced at the sixth initiation with a stupendous decision to make—enter upon the indicated Path entirely blindly, as heretofore. He is now given a revelation of the true united goal of the seven Paths and likewise a vision of their varying intermediate, individual goals. Hence the name of the fifth initiation is that of the “Initiation of Revelation.” He can thus make His decision with opened eyes and unblinded by the glory.

Trong số những thay đổi do sự phát triển nhanh bất thường của nhân loại làm cho cần thiết, cùng với việc nâng cao tương ứng các phẩm tính của các đệ tử, có sự kiện là Chân sư—khi đối diện ở lần điểm đạo thứ sáu với một quyết định trọng đại phải đưa ra—không còn bước vào Con Đường được chỉ định hoàn toàn trong mù quáng như trước kia nữa. Giờ đây Ngài được ban cho một sự mặc khải về mục tiêu hợp nhất đích thực của bảy Con Đường và đồng thời một linh ảnh về các mục tiêu trung gian, cá biệt khác nhau của chúng. Do đó, tên của lần điểm đạo thứ năm là “Cuộc Điểm Đạo Mặc Khải.” Nhờ vậy, Ngài có thể đưa ra quyết định của mình với đôi mắt mở và không bị vinh quang làm mù lòa.

One point requires elucidation here. The whole standard of the mental equipment of entering disciples is so much higher than it used to be, owing to the mental and intuitive development of man, that this fact has forced corresponding changes within the Hierarchy itself. The Masters Who are now moving forward on to the Path of the Higher Evolution are equally of much greater unfoldment; the will aspect is present to a great degree (little as you may realise it), and this is a new factor, conditioning much. Love and intelligence distinguished the Masters up to three hundred years ago. Love and intelligence and will distinguish Them today. This again is another reason for the comprehensive changes made and it is interesting to note that the bulk of the changes are due to the response of men to the hierarchical work. It is humanity that has forced these events of so far-reaching a nature; mankind has also forced revelations which it had been believed could not be given to men for thousands of years or until the sixth rootrace had come into being. An instance of the expansion of the information given can be noted in connection with the second Path. Nothing is mentioned in my earlier presentation of the seven Paths in Initiation, Human and Solar of a conditioning constellation. In A Treatise on Cosmic Fire, I mention that energy enters our system from an unknown source, via Gemini. In this latest contribution on the subject I mention that Libra, the Balances, is involved. Thus there are found on this Path of [425] Magnetic Work two blended influences, those of Gemini and Libra. You have, therefore:

Có một điểm cần được làm sáng tỏ ở đây. Toàn bộ tiêu chuẩn về trang bị trí tuệ của các đệ tử mới bước vào hiện nay cao hơn rất nhiều so với trước kia, do sự phát triển trí tuệ và trực giác của con người, đến nỗi sự kiện này đã buộc phải có những thay đổi tương ứng ngay trong chính Thánh đoàn. Các Chân sư hiện đang tiến lên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu cũng có mức khai mở lớn hơn nhiều; phương diện ý chí hiện diện ở mức độ rất lớn (dù các bạn có thể ít nhận ra điều đó), và đây là một yếu tố mới, tác động lên rất nhiều điều. Tình thương và trí tuệ đã phân biệt các Chân sư cho đến ba trăm năm trước. Ngày nay, tình thương, trí tuệ và ý chí phân biệt Các Ngài. Đây lại là một lý do khác cho những thay đổi toàn diện đã được thực hiện, và thật thú vị khi lưu ý rằng phần lớn những thay đổi ấy là do sự đáp ứng của con người đối với công việc của Thánh đoàn. Chính nhân loại đã thúc đẩy những biến cố có tính chất sâu rộng như vậy; nhân loại cũng đã buộc phải có những mặc khải mà người ta từng tin rằng không thể ban cho con người trong hàng ngàn năm hoặc cho đến khi giống dân gốc thứ sáu xuất hiện. Một ví dụ về sự mở rộng thông tin được ban có thể thấy liên quan đến Con Đường thứ hai. Trong phần trình bày trước đây của tôi về bảy Con Đường trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, không hề nhắc đến một chòm sao tác động nào. Trong Luận về Lửa Vũ Trụ, tôi có đề cập rằng năng lượng đi vào hệ của chúng ta từ một nguồn không rõ, qua Song Tử. Trong đóng góp mới nhất này về chủ đề ấy, tôi đề cập rằng Thiên Bình, Cái Cân, có liên quan. Như vậy, trên Con Đường [425] Từ Công này có hai ảnh hưởng hòa trộn, đó là của Song Tử và Thiên Bình. Vì vậy, các bạn có:

The dual energy of Gemini is brought to a point of balance by means of the influence of Libra, and this balanced and dual energy is released then into our solar system. This entering stream of balanced energies forms the second Path. I have given you much information in the above statement.

Năng lượng nhị nguyên của Song Tử được đưa đến một điểm quân bình nhờ ảnh hưởng của Thiên Bình, và rồi năng lượng quân bình và nhị nguyên này được giải phóng vào hệ mặt trời của chúng ta. Dòng năng lượng quân bình đi vào này tạo thành Con Đường thứ hai. Tôi đã cho các bạn rất nhiều thông tin trong phát biểu trên.

I have asked A.A.B. to incorporate at the close of this instruction a passage from A Treatise on Cosmic Fire, for this teaching anent the seven Paths is as a climaxing comment. I shall not enlarge upon it, but if you have spiritual imagination and speculative ability you can comprehend much. I have also asked A.A.B. to add to this instruction the seven tabulations earlier given so as to complete and round out this triple presentation. I do not urge you to study or to give much time to the consideration of the seven paths. The treading of one or other of those Paths lies far ahead of you, and it would be a waste of time. I would however remind you that every effort to live rightly, beautifully and usefully, to control the mind and to achieve loving understanding, lays the foundation for right decision at the sixth initiation; some day you too will stand at this point of unique choice and it is what you do here and now which will determine the way which you will go.

Tôi đã yêu cầu A.A.B. đưa vào cuối phần huấn thị này một đoạn trích từ Luận về Lửa Vũ Trụ, vì giáo huấn liên quan đến bảy Con Đường này là một lời bình luận đạt đến cao điểm. Tôi sẽ không khai triển thêm về nó, nhưng nếu các bạn có sự tưởng tượng tinh thần và khả năng suy đoán, các bạn có thể thấu hiểu được nhiều điều. Tôi cũng đã yêu cầu A.A.B. thêm vào phần huấn thị này bảy bảng biểu đã được đưa ra trước đó để hoàn tất và làm tròn đầy sự trình bày tam phân này. Tôi không thúc giục các bạn nghiên cứu hay dành nhiều thời gian để suy xét về bảy con đường. Việc bước đi trên một hay con đường khác trong số các Con Đường ấy còn ở rất xa phía trước các bạn, và đó sẽ là một sự phí thời gian. Tuy nhiên, tôi muốn nhắc các bạn rằng mọi nỗ lực sống đúng đắn, đẹp đẽ và hữu ích, kiểm soát trí tuệ và đạt được sự thấu hiểu đầy bác ái, đều đặt nền tảng cho quyết định đúng đắn ở lần điểm đạo thứ sáu; một ngày nào đó chính các bạn cũng sẽ đứng tại điểm lựa chọn độc nhất này, và chính điều các bạn làm ở đây và bây giờ sẽ quyết định con đường mà các bạn sẽ đi.

An Extract from A Treatise on Cosmic Fire, Pages 1243-1266

Một đoạn trích từ Luận về Lửa Vũ Trụ, Trang 1243-1266

The seven Paths, at a certain stage which may not be defined, become the four Paths, owing to the fact that our solar system is one of the fourth order. This merging is [426] effected in the following way:

Bảy Con Đường, ở một giai đoạn nhất định không thể xác định, trở thành bốn Con Đường, do sự kiện rằng hệ mặt trời của chúng ta thuộc bậc thứ tư. Sự hợp nhất này được [426] thực hiện theo cách sau:

The initiates upon Path I “fight their way” on to Path VI.

Các điểm đạo đồ trên Con Đường I “chiến đấu mở đường” sang Con Đường VI.

The initiates upon Path II “alchemise themselves” on to Path VII.

Các điểm đạo đồ trên Con Đường II “tự luyện kim hóa” sang Con Đường VII.

The initiates upon Path III through “piercing the veil” find Themselves upon Path V.

Các điểm đạo đồ trên Con Đường III, bằng cách “xuyên thủng bức màn,” thấy mình ở trên Con Đường V.

This leaves Path IV to be accounted for. Upon this Path pass all those who, through devotion and activity combined, achieve the goal but who lack as yet the full development of the manasic principle. This being the solar system of love-wisdom or of astral-buddhic development, the fourth Path includes the larger number of the sons of men. In the Hierarchy of our planet the “Lords of Compassion” are numerically greater than the “Masters of the Wisdom.” The former must therefore pass to the sun Sirius there to undergo a tremendous manasic stimulation, for Sirius is the emanating source of manas. There the mystic must go and become what is called “a spark of mahatic electricity.”

Điều này để lại Con Đường IV cần được giải thích. Trên Con Đường này đi qua tất cả những ai, nhờ lòng sùng tín và hoạt động kết hợp, đạt được mục tiêu nhưng vẫn còn thiếu sự phát triển trọn vẹn của nguyên khí manas. Vì đây là hệ mặt trời của Bác Ái – Minh Triết hay của sự phát triển cảm dục-Bồ đề, nên Con Đường thứ tư bao gồm số lượng lớn hơn các những người con của nhân loại. Trong Thánh đoàn của hành tinh chúng ta, “các Đấng Giải Thoát” đông hơn về số lượng so với “các Chân sư Minh Triết.” Vì vậy, các Ngài phải đi đến mặt trời Sirius để chịu một sự kích thích manas to lớn, vì Sirius là nguồn phát xuất của manas. Nhà thần bí phải đi đến đó và trở thành điều được gọi là “một tia lửa điện mahatic.”

These seven Paths are not concerned with nature or the balancing of the pairs of opposites. They are concerned only with unity, with that which utilises the pairs of opposites as factors in the production of LIGHT.

Bảy Con Đường này không liên quan đến thiên nhiên hay sự quân bình của các cặp đối đãi. Chúng chỉ liên quan đến hợp nhất, đến cái sử dụng các cặp đối đãi như những yếu tố trong việc tạo ra ÁNH SÁNG.

PATH I. EARTH SERVICE

CON ĐƯỜNG I. PHỤNG SỰ TRÁI ĐẤT

Attributes...... Wise compassion.

Thuộc tính...... Lòng từ bi minh triết.

Source........ Constellation of the Dragon, via Libra.

Nguồn........ Chòm Rồng, qua Thiên Bình.

Method........Twelve cosmic Identifications.

Phương pháp..... Mười hai sự Đồng Hoá vũ trụ.

Hierarchy...... The sixth.

Huyền giai...... Huyền giai thứ sáu.

Symbol........ A green dragon issuing from the centre of a blazing sun. Behind the sun and overtopping it can be seen two pillars on either side of a closed door.

Biểu tượng...... Một con rồng xanh lục phát ra từ trung tâm của một mặt trời rực cháy. Phía sau mặt trời và vượt cao hơn nó có thể thấy hai cột trụ ở hai bên một cánh cửa đóng kín.

Quality gained.. Luminosity.

Phẩm tính đạt được.. Tính phát quang.

PATH II. PATH OF MAGNETIC WORK

CON ĐƯỜNG II. CON ĐƯỜNG CỦA CÔNG VIỆC TỪ TÍNH

Attributes...... Responsiveness to heat and knowledge of rhythm.

Thuộc tính...... Khả năng đáp ứng với nhiệt và tri thức về nhịp điệu.

Source.........An unknown constellation, via Gemini.

Nguồn......... Một chòm sao không rõ, qua Song Tử.

Method........ The entering of the burning-ground. [427]

Phương pháp..... Đi vào vùng đất cháy. [427]

Hierarchy.......The third and fourth.

Huyền giai....... Huyền giai thứ ba và thứ tư.

Symbol....... A funeral pyre, four torches, and a fivefold star mounting towards the sun.

Biểu tượng...... Một giàn hỏa táng, bốn ngọn đuốc, và một ngôi sao ngũ phân vươn lên phía mặt trời.

Quality gained... Electrical velocity.

Phẩm tính đạt được... Tốc độ điện lực.

PATH III. PATH OR TRAINING FOR PLANETARY LOGOI

CON ĐƯỜNG III. CON ĐƯỜNG HAY SỰ HUẤN LUYỆN DÀNH CHO CÁC HÀNH TINH THƯỢNG ĐẾ

Attributes..... Cosmic vision, deva hearing and psychic correlation.

Thuộc tính...... Linh thị vũ trụ, thông nhĩ deva và sự tương quan thông linh.

Source........ Betelgeuse, via the sign Sagittarius.

Nguồn........ Betelgeuse, qua dấu hiệu hoàng đạo Nhân Mã.

Hierarchy......The fifth.

Huyền giai...... Huyền giai thứ năm.

Method........Prismatic identification.

Phương pháp...... Đồng hoá lăng kính.

Symbol....... A coloured cross with a star at the centre and backed by a blazing sun, surmounted by a Sensa Word.

Biểu tượng...... Một thập giá có màu với một ngôi sao ở trung tâm và phía sau là một mặt trời rực cháy, phía trên là một Linh từ Sensa.

Quality gained.. Cosmic etheric vision or septenary clairvoyance.

Phẩm tính đạt được.. Linh thị dĩ thái vũ trụ hay thông nhãn thất phân.

PATH IV. THE PATH TO SIRIUS

CON ĐƯỜNG IV. CON ĐƯỜNG ĐẾN SIRIUS

Attributes...... Cosmic rapture and rhythmic bliss.

Thuộc tính...... Sự xuất thần vũ trụ và chí phúc nhịp nhàng.

Source........ Sirius via the Sun which veils a zodiacal sign.

Nguồn........ Sirius qua Mặt Trời, vốn che giấu một dấu hiệu hoàng đạo.

Hierarchy...... Veiled by the numbers 14 and 17.

Huyền giai...... Được che giấu bởi các số 14 và 17.

Method....... Duplex rotary motion and rhythmic dancing upon the square.

Phương pháp...... Chuyển động quay kép và vũ điệu nhịp nhàng trên hình vuông.

Symbol........ Two wheels of electric fire, revolving

Biểu tượng....... Hai bánh xe lửa điện, quay

around an orange Cross, with an emerald at the centre.

quanh một Thập Giá màu cam, với một viên ngọc lục bảo ở trung tâm.

Quality gained...Unrevealed.

Phẩm tính đạt được... Chưa được mặc khải.

PATH V. THE RAY PATH

CON ĐƯỜNG V. CON ĐƯỜNG CUNG

Attributes...... A sense of cosmic direction.

Thuộc tính...... Ý thức về phương hướng vũ trụ.

Source.........The Pole Star via Aquarius.

Nguồn......... Sao Bắc Cực qua Bảo Bình.

Hierarchy...... The first and the second.

Huyền giai...... Huyền giai thứ nhất và thứ hai.

Method........Process of electrical insulation and the imprisonment of polar magnetism.

Phương pháp...... Tiến trình cách ly điện lực và giam giữ từ điện cực tính.

Symbol........ Five balls of fire enclosed within a sphere. Sphere is formed of a serpent inscribed with the mantram of insulation.

Biểu tượng....... Năm quả cầu lửa được bao kín trong một khối cầu. Khối cầu được tạo thành bởi một con rắn có khắc mantram của sự cách ly.

Quality gained.. Cosmic stability and magnetic equilibrium.

Phẩm tính đạt được.. Sự ổn định vũ trụ và quân bình từ tính.

PATH VI. THE PATH OF THE SOLAR LOGOS

CON ĐƯỜNG VI. CON ĐƯỜNG CỦA THÁI DƯƠNG THƯỢNG ĐẾ

Not given...... Not given.

Không nêu...... Không nêu.

PATH VII. THE PATH OF ABSOLUTE SONSHIP

CON ĐƯỜNG VII. CON ĐƯỜNG CỦA TUYỆT ĐỐI TỬ TÍNH

Not given.......Not given. [428]

Không nêu....... Không nêu. [428]

The World Tension Analysed — Phân Tích Sự Căng Thẳng của Thế Giới

The tension in the world today, (written in April 1947) particularly in the Hierarchy, is such that it will produce another and perhaps ultimate world crisis, or else such a speeding up of the spiritual life of the planet that the coming in of the long looked-for New Age conditions will be amazingly hastened. I would have you consider carefully what I have said here, remembering what I have told you in the past anent points of tension. This present tension constitutes a major problem for the disciple in training, and therefore our particular theme in this instruction is peculiarly apposite.

Sự căng thẳng trong thế giới ngày nay, (viết vào tháng Tư năm 1947) đặc biệt trong Thánh đoàn, đến mức sẽ tạo ra một cuộc khủng hoảng thế giới khác và có lẽ là tối hậu, hoặc sẽ tạo ra một sự tăng tốc của đời sống tinh thần của hành tinh đến nỗi sự xuất hiện của những điều kiện Kỷ Nguyên Mới được mong đợi từ lâu sẽ được thúc đẩy nhanh một cách đáng kinh ngạc. Tôi muốn các bạn suy xét cẩn trọng điều tôi đã nói ở đây, ghi nhớ điều tôi đã nói với các bạn trước kia liên quan đến các điểm tập trung nhất tâm. Sự căng thẳng hiện nay này tạo thành một vấn đề lớn cho đệ tử đang được huấn luyện, và vì vậy chủ đề riêng của chúng ta trong phần huấn thị này đặc biệt thích hợp.

There is a great deal of glamour in the world today and a great deal of that glamour is concentrated in Russia, owing to the youth and the basic political inexperience of that people. The United States of America is also young and inexperienced, but not to the same extent as are the Russian people. Today, the Russians are suffering from the glamour of power, the glamour of planning, the glamour of what they consider a great ideal (and such it is), the glamour of prestige and the inevitable—but ephemeral—glamour of totalitarianism. It is this same totalitarianism which also constitutes their weakest point, because it leads inexorably to a revolt of the human spirit. That human spirit is to be found in Russia to exactly the same extent as it is to be found in any other country in the world.

Ngày nay có rất nhiều ảo cảm trong thế giới, và phần lớn ảo cảm đó tập trung ở Nga, do tuổi trẻ và sự thiếu kinh nghiệm chính trị căn bản của dân tộc ấy. Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ cũng trẻ và thiếu kinh nghiệm, nhưng không đến cùng mức như dân Nga. Ngày nay, người Nga đang chịu đựng ảo cảm của quyền lực, ảo cảm của hoạch định, ảo cảm về điều mà họ xem là một lý tưởng lớn lao (và quả thật là như vậy), ảo cảm của uy tín và ảo cảm tất yếu—nhưng phù du—của chủ nghĩa toàn trị. Chính chủ nghĩa toàn trị này cũng tạo thành điểm yếu nhất của họ, vì nó dẫn inexorably đến một cuộc nổi dậy của tinh thần con người. Tinh thần con người ấy hiện diện ở Nga đúng cùng mức như nó hiện diện ở bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới.

Freedom is an essentially spiritual attribute, underlying the entire evolutionary process; this should always be remembered as a strengthening and conditioning reality by all men everywhere. It has survived aeons of opposition from the principle of enslaving selfishness and is largely responsible, at this time, for the struggle in which we are all participating.

Tự do là một thuộc tính tinh thần cốt yếu, làm nền cho toàn bộ tiến trình tiến hoá; điều này luôn luôn cần được mọi người ở khắp nơi ghi nhớ như một thực tại tăng cường và tác động. Nó đã sống sót qua các đại kiếp đối kháng từ nguyên khí của tính ích kỷ nô dịch hóa và hiện nay phần lớn chịu trách nhiệm cho cuộc đấu tranh mà tất cả chúng ta đang tham dự.

The country which is the most free from selfishness today is Great Britain; she is experienced, old, and therefore mature in her thinking; she has learnt much in a relatively short time and her judgment is sound. The most [429] selfish country in the world today is France, with the United States (though along totally different lines) running her a close second; both are materially selfish and capitalistically engrossed. Russia is also selfish but it is the selfishness of a fanatical ideal, held by an immature, a too young a people. The selfishness of the United States is also due to youth, but it will eventually yield to experience and to suffering; there is—fortunately for the soul of this great people—much suffering in store for the United States. The selfishness of France is less excusable; France too is old and experienced; again and again she has been the victim of the armed forces of Germany and cries aloud to the world about it. France forgets that she frequently over-ran central Europe in the Middle Ages, and the Napoleonic conquests are relatively modern history. Her evil destiny (as she regards it) does, nevertheless, give her the opportunity to become spiritual in her life and attitudes, instead of grossly and intellectually (though brilliantly) material. She has not yet learned her lesson, and as yet shows little inclination to do so. Strain, economic privations and anxiety may teach her; the result will be stability.

Quốc gia ngày nay ít ích kỷ nhất là Anh Quốc; bà giàu kinh nghiệm, lâu đời, và vì vậy chín chắn trong tư duy; bà đã học được nhiều điều trong một thời gian tương đối ngắn và phán đoán của bà là vững vàng. Quốc gia ích kỷ nhất trên thế giới ngày nay là Pháp, với Hoa Kỳ (dù theo những đường lối hoàn toàn khác) bám sát ở vị trí thứ hai; cả hai đều ích kỷ về vật chất và bị cuốn hút vào chủ nghĩa tư bản. Nga cũng ích kỷ nhưng đó là sự ích kỷ của một lý tưởng cuồng tín, được nắm giữ bởi một dân tộc chưa trưởng thành, quá trẻ. Sự ích kỷ của Hoa Kỳ cũng do tuổi trẻ, nhưng cuối cùng nó sẽ nhường chỗ cho kinh nghiệm và đau khổ; may mắn cho linh hồn của dân tộc lớn lao này, Hoa Kỳ còn nhiều đau khổ đang chờ phía trước. Sự ích kỷ của Pháp thì ít có thể bào chữa hơn; Pháp cũng lâu đời và giàu kinh nghiệm; hết lần này đến lần khác bà đã là nạn nhân của các lực lượng vũ trang Đức và lớn tiếng kêu với thế giới về điều đó. Pháp quên rằng bà thường xuyên tràn qua trung Âu trong thời Trung Cổ, và các cuộc chinh phục của Napoléon là lịch sử tương đối hiện đại. Tuy nhiên, định mệnh xấu xa của bà (như bà xem thế) lại cho bà cơ hội trở nên tinh thần trong đời sống và thái độ của mình, thay vì thô nặng và trí tuệ (dù xuất sắc) theo vật chất. Bà vẫn chưa học được bài học của mình, và cho đến nay cho thấy rất ít khuynh hướng làm như vậy. Căng thẳng, thiếu thốn kinh tế và lo âu có thể dạy bà; kết quả sẽ là sự ổn định.

In the hands of the United States, Great Britain and Russia, and also in the hands of France, lies the destiny of the world disciple, Humanity. Humanity has been passing through the tests which are preparatory to the first initiation; they have been hard and cruel and are not yet entirely over. The Lords of Karma (four in number) are today working through these four Great Powers; it is, however, a karma which seeks to liberate, as does all karma. In the coming crisis, true vision and a new freedom, plus a wider spiritual horizon may be attained. The crisis, if rightly handled, need not again reach the ultimate horror.

Trong tay Hoa Kỳ, Anh Quốc và Nga, và cả trong tay Pháp, nằm định mệnh của đệ tử thế giới, Nhân loại. Nhân loại đã đi qua những thử thách chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất; chúng đã khắc nghiệt và tàn nhẫn và vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt. Các Đấng của Nghiệp Quả (bốn vị) ngày nay đang làm việc qua bốn Cường Quốc này; tuy nhiên, đó là một nghiệp quả tìm cách giải thoát, như mọi nghiệp quả đều vậy. Trong cuộc khủng hoảng sắp tới, linh thị chân chính và một tự do mới, cộng với một chân trời tinh thần rộng lớn hơn, có thể đạt được. Nếu được xử lý đúng đắn, cuộc khủng hoảng ấy không nhất thiết lại đạt đến nỗi kinh hoàng tối hậu.

The area of difficulty—as is well known—is the Near East and Palestine. The Jews, by their illegal and terroristic activities, have laid a foundation of great difficulty for those who are seeking to promote world peace. As a Jewish member of my Ashram pointed out (and I commend him on his soul vision), the Jews have partially again opened the door [430] to the Forces of Evil, which worked originally through Hitler and his evil gang. The “sealing” of that door had not been successfully accomplished, and it is the part of wisdom to discover this in time. These Forces of Evil work through a triangle of evil, one point of which is to be found in the Zionist Movement in the United States, another in central Europe, and the third in Palestine. Palestine is no longer a Holy Land and should not be so regarded.

Khu vực khó khăn—như ai cũng biết—là Cận Đông và Palestine. Người Do Thái, bằng các hoạt động phi pháp và khủng bố của mình, đã đặt nền móng cho những khó khăn lớn đối với những ai đang tìm cách thúc đẩy hòa bình thế giới. Như một thành viên Do Thái trong ashram của tôi đã chỉ ra (và tôi khen ngợi y về linh thị của linh hồn), người Do Thái một phần lại đã mở cánh cửa [430] cho các Mãnh lực Ác, vốn ban đầu đã hoạt động qua Hitler và băng nhóm xấu xa của ông. Việc “niêm phong” cánh cửa đó đã không được thực hiện thành công, và phần của minh triết là phải khám phá ra điều này kịp thời. Các Mãnh lực Ác này hoạt động qua một tam giác ác, một đỉnh của nó được tìm thấy trong Phong Trào Zionist tại Hoa Kỳ, một đỉnh khác ở trung Âu, và đỉnh thứ ba ở Palestine. Palestine không còn là Thánh Địa nữa và không nên được xem như vậy.

I would have you bear these points in mind while you investigate the world picture. This picture is taking shape and warrants recognition. It involves the Jews (who are not a nation but a religious group) the Near East and Russia. In the maps which are to be found in the Archives of the spiritual Hierarchy, the entire area of the Near East and Europe—Greece, Yugoslavia, Turkey, Palestine, the Arab States, Egypt and Russia—are under a heavy overshadowing cloud. Can that cloud be dissipated by the right thinking and planning of Great Britain, the United States and the majority of the United Nations or—must it break in disaster over the world? Will it present a task too hard for correct handling by that inexperienced disciple—Humanity?

Tôi muốn các bạn ghi nhớ những điểm này khi khảo sát bức tranh thế giới. Bức tranh này đang thành hình và đáng được nhìn nhận. Nó liên quan đến người Do Thái (không phải là một quốc gia mà là một nhóm tôn giáo), Cận Đông và Nga. Trong các bản đồ được lưu giữ trong Văn Khố của Huyền Giai Tinh Thần, toàn bộ khu vực Cận Đông và châu Âu—Hy Lạp, Nam Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Palestine, các Quốc Gia Ả Rập, Ai Cập và Nga—đều nằm dưới một đám mây phủ bóng nặng nề. Liệu đám mây đó có thể được làm tiêu tan bởi tư duy và hoạch định đúng đắn của Anh Quốc, Hoa Kỳ và đa số các Quốc Gia Liên Hiệp hay—nó phải vỡ ra trong tai họa trên thế giới? Liệu nó có đặt ra một nhiệm vụ quá khó để đệ tử thiếu kinh nghiệm ấy—Nhân loại—xử lý đúng đắn hay không?

In what I have written above you have the picture of the true situation; it is one which finds Great Britain temporarily weakened and ineffective (except for the clear thinking of her people and her political maturity); it finds the United States, unused to power, somewhat arrogant, with a strong superiority complex, inexperienced and yet at the same time exceedingly well-intentioned and fundamentally sound. It is the mass of the people who are sound in their thinking and not their representatives in Congress.

Trong điều tôi đã viết ở trên, các bạn có bức tranh của tình hình thực sự; đó là một tình hình cho thấy Anh Quốc tạm thời suy yếu và kém hiệu quả (ngoại trừ tư duy sáng suốt của dân bà và sự chín chắn chính trị của bà); nó cho thấy Hoa Kỳ, chưa quen với quyền lực, phần nào kiêu ngạo, với mặc cảm ưu việt mạnh mẽ, thiếu kinh nghiệm nhưng đồng thời lại hết sức thiện chí và căn bản là lành mạnh. Chính quần chúng nhân dân là những người lành mạnh trong tư duy của họ chứ không phải các đại diện của họ trong Quốc Hội.

It is not for me to tell you what will happen, although the Hierarchy knows. Humanity must (as must all disciples) be left entirely free to settle its own destiny. Humanity has not yet learned the difficult lesson which all disciples have to master: the lesson of the dual life of the man whose soul is functioning and whose physical brain is constantly aware of this fact.

Không phải phần việc của tôi là nói cho các bạn biết điều gì sẽ xảy ra, mặc dù Thánh đoàn biết. Nhân loại phải được để hoàn toàn tự do định đoạt số phận của mình, cũng như mọi đệ tử đều phải như vậy. Nhân loại vẫn chưa học được bài học khó khăn mà mọi đệ tử đều phải làm chủ: bài học về đời sống nhị nguyên của con người mà linh hồn đang hoạt động và bộ não hồng trần của y luôn luôn ý thức được sự kiện này.

THE DUAL LIFE OF THE INITIATORY PROCESS — ĐỜI SỐNG NHỊ NGUYÊN CỦA TIẾN TRÌNH ĐIỂM ĐẠO

[431]

[431]

In all the many books which I have written, I have said relatively little about the brain and its relation to the personality and the soul. It is not possible to enlarge at any length on that theme here, but I will make certain statements without which this whole process of dual living would be most difficult to explain. I will sum up what I have to say in the form of three basic statements:

Trong tất cả nhiều quyển sách tôi đã viết, tôi nói tương đối ít về bộ não và mối liên hệ của nó với phàm ngã và linh hồn. Ở đây không thể khai triển dài về chủ đề đó, nhưng tôi sẽ đưa ra một số phát biểu mà nếu thiếu chúng thì toàn bộ tiến trình sống nhị nguyên này sẽ rất khó giải thích. Tôi sẽ tóm lược điều mình muốn nói dưới hình thức ba phát biểu căn bản:

1. The brain is a most delicate receiving and transmitting apparatus:

1. Bộ não là một bộ máy tiếp nhận và truyền đạt cực kỳ tinh tế:

a. It is responsive to information relayed to it, via the senses, from the emotional plane and from the mind.

a. Nó đáp ứng với thông tin được chuyển đến nó, qua các giác quan, từ cõi cảm dục và từ trí tuệ.

b. Through its medium the personal lower self becomes aware of its environment, of the nature of its desires, and of its mental peculiarities, as well as of the emotional states and the thoughts of the people contacted in the environment.

b. Qua trung gian của nó, phàm ngã thấp cá nhân trở nên ý thức về môi trường của mình, về bản chất các ham muốn của mình, và về những đặc điểm trí tuệ của mình, cũng như về các trạng thái cảm xúc và các tư tưởng của những người mà nó tiếp xúc trong môi trường.

2. The brain is largely conditioned by the endocrine system, and this far more than the endocrinologists would care to admit:

2. Bộ não phần lớn bị tác động bởi hệ nội tiết, và điều này nhiều hơn mức các nhà nội tiết học muốn thừa nhận:

a. It is powerfully conditioned by three major glands which are found in close relation to the brain substance. These are the pituitary body, the pineal gland and the carotid gland.

a. Nó bị tác động mạnh mẽ bởi ba tuyến chính nằm trong mối liên hệ gần gũi với chất liệu não. Đó là tuyến yên, tuyến tùng và tuyến động mạch cảnh.

b. These form a triangle, practically unrelated in primitive man, occasionally related in average man, and closely related in the spiritual man.

b. Chúng tạo thành một tam giác, hầu như không liên hệ ở con người nguyên thủy, đôi khi có liên hệ ở con người trung bình, và liên hệ chặt chẽ ở con người tinh thần.

c. These glands are objective correspondences of the three energy centres, by means of which the soul, or the indwelling spiritual man, controls his physical vehicle.

c. Các tuyến này là những tương ứng khách quan của ba trung tâm năng lượng, nhờ đó linh hồn, hay con người tinh thần nội tại, kiểm soát vận cụ hồng trần của y.

d. Where the relation is close between the three glands—as is increasingly the case where disciples are concerned—a triangle of circulating energies is always established.

d. Ở đâu có mối liên hệ chặt chẽ giữa ba tuyến—như ngày càng là trường hợp nơi các đệ tử—thì ở đó luôn luôn thiết lập một tam giác năng lượng tuần hoàn.

e. This triangle, through the carotid gland in the [432] medulla oblongata, becomes related to other glands and centres.

e. Tam giác này, qua tuyến động mạch cảnh trong [432] hành tủy, trở nên liên hệ với các tuyến và trung tâm khác.

3. The brain, as transmitter, becomes a powerful directing agency:

3. Bộ não, với tư cách là cơ quan truyền đạt, trở thành một tác nhân chỉ đạo mạnh mẽ:

a. As a recipient and transmitter of pure energy or life it uses the carotid gland controlled by the alta major centre, and establishes a close relation with the heart and the heart centre.

a. Với tư cách là kẻ tiếp nhận và truyền đạt năng lượng thuần túy hay sự sống, nó sử dụng tuyến động mạch cảnh do trung tâm alta major kiểm soát, và thiết lập một mối liên hệ chặt chẽ với tim và trung tâm tim.

b. As a recipient of mental energy or of energy from the soul, the ajna centre becomes the directing agency; this is the centre which controls the pituitary body.

b. Với tư cách là kẻ tiếp nhận năng lượng trí tuệ hay năng lượng từ linh hồn, trung tâm ajna trở thành tác nhân chỉ đạo; đây là trung tâm kiểm soát tuyến yên.

c. These energies are received via the head centre, which controls the pineal gland. Emotional energy enters the personality system via the solar plexus centre, where it either controls or is transmuted and elevated.

c. Các năng lượng này được tiếp nhận qua trung tâm đầu, trung tâm này kiểm soát tuyến tùng. Năng lượng cảm xúc đi vào hệ thống phàm ngã qua trung tâm tùng thái dương, nơi nó hoặc kiểm soát hoặc được chuyển hoá và nâng cao.

It is this triple mechanism in the head—both objective and subjective—which uses the physical brain as a receiving agent and as a transmitting agent. It is this which is brought into creative activity and thus under the control of the disciple in training or in process of being prepared for initiation. I have not hitherto emphasised this, nor do I wish to do so, for it is not desirable for the disciple or aspirant consciously and deliberately to deal with the mechanism in the head. Let him learn to control and consciously employ the mind; let him train his mind to receive communications from three sources:

Chính bộ máy tam phân này trong đầu—cả khách quan lẫn chủ quan—sử dụng bộ não hồng trần như một tác nhân tiếp nhận và như một tác nhân truyền đạt. Chính điều này được đưa vào hoạt động sáng tạo và do đó nằm dưới sự kiểm soát của đệ tử đang được huấn luyện hoặc đang trong tiến trình được chuẩn bị cho điểm đạo. Trước đây tôi chưa nhấn mạnh điều này, và tôi cũng không muốn làm như vậy, vì không nên để đệ tử hay người chí nguyện có ý thức và cố ý đề cập đến bộ máy trong đầu. Hãy để y học cách kiểm soát và sử dụng trí tuệ một cách có ý thức; hãy để y huấn luyện trí tuệ của mình tiếp nhận các truyền đạt từ ba nguồn:

The three worlds of ordinary living, thus enabling the mind to act as the “common-sense.”

Ba cõi giới của đời sống thông thường, nhờ đó làm cho trí tuệ hoạt động như “thường thức.”

The soul, and thus consciously become the disciple, the worker in an Ashram, illumined by the wisdom of the soul, and superseding gradually the knowledge gained in the three worlds. That knowledge, rightly applied, becomes wisdom.

Linh hồn, và nhờ đó một cách có ý thức trở thành đệ tử, người hoạt động trong một ashram, được soi sáng bởi minh triết của linh hồn, và dần dần thay thế tri thức thu được trong ba cõi giới. Tri thức ấy, khi được áp dụng đúng đắn, trở thành minh triết.

The Spiritual Triad, acting as the intermediary between the Monad and the brain of the personality. This can eventually take place, because the soul and personality [433] are fused and blended into one functioning unit, this superseding again what we mean when we use the erroneous phrase “the soul.” Duality then takes the place of the original triplicity.

Tam Nguyên Tinh Thần, hoạt động như trung gian giữa chân thần và bộ não của phàm ngã. Điều này cuối cùng có thể xảy ra, vì linh hồn và phàm ngã [433] được dung hợp và hòa trộn thành một đơn vị hoạt động, điều này lại thay thế điều chúng ta muốn nói khi dùng cụm từ sai lầm “linh hồn.” Khi ấy nhị nguyên tính thay thế cho bộ ba nguyên thủy.

It has been necessary to make these somewhat elementary remarks and to clarify these points, if there is to be true understanding as to what constitutes the dual life of the disciple or the Master, and wherein they differ.

Cần phải đưa ra những nhận xét phần nào sơ đẳng này và làm sáng tỏ những điểm này, nếu muốn có sự thấu hiểu chân chính về điều gì cấu thành đời sống nhị nguyên của đệ tử hay của Chân sư, và chúng khác nhau ở đâu.

One of the tests of the initiatory process is a hitherto totally unexpected one. Tests which are expected and for which preparation has been made do not constitute true tests in the real sense of the word, esoterically understood. It is a test—imposed with increasing rigidity as initiation after initiation is taken—to see just how far the initiate is capable of retaining or preserving in his brain consciousness the registered facts of several worlds or planes of consciousness; i.e., the three worlds of human endeavour and the world of soul consciousness, or both of these and the world of the Ashram; or again these and the activity of the Hierarchy itself, viewing it as a complete whole; or again, of all these and the world of Triadal experience, until the point is reached where a straight continuity of consciousness can be registered and held which comes directly from the Council Chamber of the Lord of the World to Those Masters Who are functioning in a physical body and must therefore use a physical brain. In every single case the test (in order to be passed correctly) must involve the brain consciousness; the facts, registered upon the subtler planes, must be correctly registered, recognised and interpreted simultaneously upon the physical plane.

Một trong những thử thách của tiến trình điểm đạo là một thử thách cho đến nay hoàn toàn không được chờ đợi. Những thử thách được chờ đợi và đã có chuẩn bị cho chúng không cấu thành những thử thách chân chính theo nghĩa thực của từ này, xét theo cách hiểu huyền bí. Đó là một thử thách—được áp đặt với sự nghiêm ngặt ngày càng tăng khi lần điểm đạo này tiếp nối lần điểm đạo khác—để xem điểm đạo đồ có khả năng đến mức nào trong việc giữ lại hay bảo tồn trong tâm thức não bộ của mình các sự kiện đã được ghi nhận của nhiều thế giới hay cõi tâm thức; tức là ba cõi giới của nỗ lực nhân loại và thế giới của tâm thức linh hồn, hoặc cả hai thế giới này và thế giới của ashram; hoặc lại nữa, các thế giới ấy và hoạt động của chính Thánh đoàn, được nhìn như một toàn thể hoàn chỉnh; hoặc lại nữa, tất cả những điều này và thế giới của kinh nghiệm Tam nguyên tinh thần, cho đến khi đạt đến điểm mà một sự liên tục trực tiếp của tâm thức có thể được ghi nhận và giữ vững, đến thẳng từ Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể Thế Giới đến những Chân sư đang hoạt động trong một thể xác và do đó phải sử dụng một bộ não hồng trần. Trong từng trường hợp riêng biệt, thử thách (để được vượt qua đúng đắn) phải bao hàm tâm thức não bộ; các sự kiện được ghi nhận trên các cõi vi tế hơn phải được ghi nhận, nhận biết và diễn giải một cách chính xác đồng thời trên cõi hồng trần.

You can see for yourselves that this is a major and most necessary indication of a developing awareness; a Master has to be aware at any time on any plane and at will. It will also be obvious to you that this will be a growing and an increasing perception for which the intermediate stages, between initiations, prepare the initiate. Gradually, each one of the five senses, plus the common-sense (the mind), has to demonstrate the effectiveness of its higher correspondence [434] and thus of a developing subtle apparatus. Through this apparatus the initiate is put in touch with widening areas of the divine “state of mind” or with the planetary consciousness, until “the mind that is in Christ” becomes truly the mind of the initiate, with all that those words entail of meaning and esoteric significance. Consciousness, Sensitivity, Awareness, Planetary Rapport, Universal Consciousness—these are the words which we must consider, sequentially developed and in their truly esoteric sense.

Các bạn có thể tự thấy rằng đây là một dấu hiệu lớn và rất cần thiết của một nhận thức đang phát triển; một Chân sư phải có nhận thức vào bất kỳ lúc nào trên bất kỳ cõi nào và theo ý muốn. Các bạn cũng sẽ thấy rõ rằng đây sẽ là một tri giác đang tăng trưởng và ngày càng gia tăng, mà các giai đoạn trung gian giữa các lần điểm đạo chuẩn bị cho điểm đạo đồ. Dần dần, mỗi một trong năm giác quan, cộng với thường thức (trí tuệ), phải chứng minh hiệu quả của tương ứng cao hơn của nó [434] và do đó của một bộ máy vi tế đang phát triển. Qua bộ máy này, điểm đạo đồ được đặt vào tiếp xúc với những lĩnh vực ngày càng mở rộng của “trạng thái trí tuệ” thiêng liêng hay với tâm thức hành tinh, cho đến khi “trí tuệ ở trong Đức Christ” thực sự trở thành trí tuệ của điểm đạo đồ, với tất cả những gì những lời ấy bao hàm về ý nghĩa và thâm nghĩa huyền bí. Tâm thức, Tính nhạy cảm, Nhận thức, Sự tương giao hành tinh, Tâm thức vũ trụ—đó là những từ mà chúng ta phải xem xét, được phát triển tuần tự và theo ý nghĩa huyền bí đích thực của chúng.

You have here a wide and general picture, involving the goal, the means or mode, the testing point and the physical brain; these are four factors which have received little or no attention where initiation has been dealt with in the occult writings. They are nevertheless of major importance. I am dealing with them here because of the stage of development now reached by the human mind, because of their increasingly close relation to the physical brain, and because there are now so many aspirants ready to tread the Path of Discipleship, the Path of Initiatory Training. They are now in a position to work consciously at the task of a dual and constant process of spiritual and physical recognitions.

Ở đây các bạn có một bức tranh rộng lớn và tổng quát, bao gồm mục tiêu, phương tiện hay phương thức, điểm thử thách và bộ não hồng trần; đó là bốn yếu tố đã nhận được rất ít hoặc không nhận được sự chú ý nào khi điểm đạo được bàn đến trong các trước tác huyền bí. Tuy nhiên, chúng lại có tầm quan trọng lớn lao. Tôi đang đề cập đến chúng ở đây vì giai đoạn phát triển mà trí tuệ con người hiện nay đã đạt tới, vì mối liên hệ ngày càng chặt chẽ của chúng với bộ não hồng trần, và vì hiện nay có quá nhiều người chí nguyện sẵn sàng bước lên Con Đường Đệ Tử, Con Đường Huấn Luyện Điểm Đạo. Giờ đây họ ở vào vị thế có thể làm việc một cách có ý thức với nhiệm vụ của một tiến trình nhị nguyên và liên tục của những sự nhận biết tinh thần và hồng trần.

The Dual Life of the Disciple — Đời Sống Nhị Nguyên của Đệ Tử

I have divided this theme into two parts, owing to the fact that the dualism displayed by a Master and that demonstrated by a disciple are not identical or one and the same thing at advancing points of distinction. The subject, when you first approach it, seems of a relative simplicity, but a closer consideration of it will present great and unexpected dissimilarities.

Tôi đã chia chủ đề này thành hai phần, do sự kiện rằng tính nhị nguyên được một Chân sư biểu lộ và tính nhị nguyên được một đệ tử chứng tỏ không đồng nhất hay không phải là cùng một điều ở những điểm phân biệt đang tiến triển. Chủ đề này, khi các bạn mới tiếp cận, dường như tương đối đơn giản, nhưng khi xem xét kỹ hơn sẽ bộc lộ những khác biệt lớn lao và bất ngờ.

In connection with the dual life of the disciple, the factors involved are the threefold personality (with an awakening or onlooking consciousness centred or focussed in the brain), the soul which seems at first the ultimate goal of attainment but is later seen as simply a system or collection of fusing spiritual attributes, and the lowest aspect of the Spiritual Triad, the abstract mind. The disciple feels that, if he can attain the immediate and fused consciousness [435] of the three, he has attained; he realises also that this involves the construction of the antahkarana. All these factors, for one who has just been admitted to the Path of Discipleship and who is just finding his place within an Ashram, seem an adequately difficult undertaking and one that engrosses every power which he possesses.

Liên quan đến đời sống nhị nguyên của đệ tử, các yếu tố liên hệ là phàm ngã tam phân (với một tâm thức đang thức tỉnh hay đang quan sát, được tập trung hay định tiêu trong bộ não), linh hồn lúc đầu dường như là mục tiêu tối hậu của thành tựu nhưng về sau được thấy chỉ đơn giản là một hệ thống hay tập hợp các thuộc tính tinh thần đang dung hợp, và phương diện thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần, tức trí trừu tượng. Đệ tử cảm thấy rằng nếu y có thể đạt được tâm thức trực tiếp và dung hợp [435] của cả ba, thì y đã đạt được; y cũng nhận ra rằng điều này bao hàm việc xây dựng antahkarana. Tất cả những yếu tố này, đối với người vừa mới được nhận vào Con Đường Đệ Tử và vừa mới tìm được chỗ đứng của mình trong một ashram, dường như là một công việc đủ khó khăn và là điều cuốn hút mọi năng lực mà y sở hữu.

This, for the time being, is true and—until the third initiation—these objectives, their conscious fusion, plus a recognition of the divine planes of awareness to which they all admit him, indicate the disciple's task and keep him fully occupied. To the recognitions entailed he has to add a growing capacity to work on the levels of consciousness involved, remembering always that a plane and a state of consciousness are synonymous terms, and that he is making progress, becoming aware, building the antahkarana, training as a hierarchical worker within an Ashram, familiarising himself with new and opening spiritual environments, widening his horizon, stabilising himself upon the Path, and living upon the physical plane the life of an intelligent man within the world of men. He is demonstrating also no freakish peculiarities, but appears as a man of goodwill, of benevolent intelligence, of unalterable goodness, and of stern and unchangeable spiritual purpose. Is that enough of a goal for a disciple? Does it seem well-nigh impossible of accomplishment? Can you undertake such a proposition and make good your undertaking?

Điều này, trong lúc này, là đúng và—cho đến lần điểm đạo thứ ba—các mục tiêu này, sự dung hợp hữu thức của chúng, cộng với việc nhận biết các cõi tâm thức thiêng liêng mà tất cả chúng đều cho phép y đi vào, cho thấy nhiệm vụ của đệ tử và giữ cho y hoàn toàn bận rộn. Vào những sự nhận biết tất yếu ấy, y phải thêm vào một năng lực ngày càng tăng để hoạt động trên các cấp độ tâm thức liên hệ, luôn ghi nhớ rằng một cõi và một trạng thái tâm thức là những thuật ngữ đồng nghĩa, và rằng y đang tiến bộ, đang trở nên nhận biết, đang xây dựng antahkarana, đang được huấn luyện như một người hoạt động của Thánh đoàn bên trong một Ashram, đang làm quen với những môi trường tinh thần mới đang mở ra, đang mở rộng chân trời của mình, đang tự ổn định trên Con Đường, và đang sống trên cõi hồng trần đời sống của một con người thông minh trong thế giới của những người nam và nữ. Y cũng không biểu lộ những nét kỳ quặc khác thường nào, mà xuất hiện như một người thiện chí, có trí tuệ nhân hậu, có thiện tính bất biến, và có mục đích tinh thần nghiêm nghị, không đổi thay. Chừng ấy có đủ làm mục tiêu cho một đệ tử chăng? Điều đó có vẻ gần như không thể thực hiện được chăng? Bạn có thể đảm nhận một đề nghị như thế và hoàn thành điều mình đảm nhận chăng?

Most assuredly you can, for the factor of time enters in and the disciple is free to submit to its conditioning, particularly in the early stages of his discipleship; this he usually does at first, knowing nothing else to do, but the speed or the sattvic or rhythmic nature of the spiritual life eventually changes this attitude; he then works with no true consciousness of time except as it affects other people and his associates upon the physical plane.

Chắc chắn là bạn có thể, vì yếu tố thời gian có tham dự vào và đệ tử được tự do thuận theo sự tác động của nó, đặc biệt trong các giai đoạn đầu của địa vị đệ tử; lúc đầu y thường làm như vậy, vì không biết phải làm gì khác, nhưng tốc độ hay bản chất sattva hoặc nhịp điệu của đời sống tinh thần rốt cuộc sẽ thay đổi thái độ này; khi ấy y hoạt động mà không có ý thức thực sự về thời gian, ngoại trừ trong chừng mực nó ảnh hưởng đến những người khác và các cộng sự của y trên cõi hồng trần.

At first, his registration of that which is sensed or seen upon the subtler planes or the soul plane is slow; it takes time for contacts and for knowledge gained to penetrate from the higher levels to his physical brain. This fact (when [436] he discovers it) tends to upset his time-awareness, and the first step is therefore taken on the path of timelessness, speaking symbolically. He gains also the capacity to work with greater rapidity and mental coordination than does the average intelligent man; in this way he learns the limitations of time as a brain condition, and learns also how to offset it and to work in such a way that he does more within a set time limit than is possible to the average man, no matter how ardently he may pursue the effort. The overcoming of time and the demonstration of spiritual speed are indications that the dual life of discipleship is superseding the integrated life of the personality, though leading in its turn to a still greater synthesis and higher integration.

Thoạt đầu, sự ghi nhận của y về điều được cảm nhận hay được thấy trên các cõi vi tế hơn hoặc trên cõi linh hồn là chậm chạp; cần có thời gian để các tiếp xúc và tri thức thu nhận được thấm xuống từ các cấp độ cao hơn đến bộ não hồng trần của y. Sự kiện này (khi [436] y khám phá ra nó) có khuynh hướng làm xáo trộn ý thức về thời gian của y, và vì thế bước đầu tiên được thực hiện trên con đường vô thời gian, nói theo biểu tượng. Y cũng đạt được năng lực hoạt động với tốc độ nhanh hơn và sự phối hợp trí tuệ lớn hơn con người thông minh trung bình; theo cách này y học được những giới hạn của thời gian như một điều kiện của bộ não, và cũng học được cách hóa giải nó và hoạt động theo cách sao cho y làm được nhiều hơn trong một giới hạn thời gian nhất định so với điều có thể đối với người trung bình, bất kể ông có thể theo đuổi nỗ lực ấy tha thiết đến đâu. Việc vượt thắng thời gian và biểu lộ tốc độ tinh thần là những dấu hiệu cho thấy đời sống nhị nguyên của địa vị đệ tử đang thay thế đời sống tích hợp của phàm ngã, dù đến lượt nó lại dẫn đến một tổng hợp còn lớn hơn và một sự tích hợp cao hơn nữa.

The dual life which all disciples lead produces also a rapidity of mental interpretation which is essential to the sane registration of the phenomenal life of the various higher planes and states of consciousness. Forget not that all our planes are subplanes of the cosmic physical plane, and are therefore phenomenal in nature. As they are contacted and recorded and the knowledge is transmitted to the physical brain, via the mind, there must always accompany them a true interpretation and a correct recognition of “things as they are.” It is here that the non-disciple and the psychic go wrong, for their interpretation is almost always fundamentally in error, and it takes time (coming within that cycle of limitation) intelligently to interpret and truly register what the perceiving consciousness has contacted. When the time factor no longer controls, the interpretations registered by the brain are infallibly correct. I have here given you a major piece of information.

Đời sống nhị nguyên mà mọi đệ tử đều sống cũng tạo ra một sự mau lẹ trong diễn giải trí tuệ, điều thiết yếu cho việc ghi nhận lành mạnh đời sống hiện tượng của các cõi cao hơn khác nhau và các trạng thái tâm thức. Đừng quên rằng tất cả các cõi của chúng ta đều là các cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ, và vì thế đều có bản chất hiện tượng. Khi chúng được tiếp xúc và ghi nhận, và tri thức được truyền đến bộ não hồng trần qua trung gian của trí tuệ, thì luôn luôn phải đi kèm với chúng một sự diễn giải chân chính và một sự nhận biết đúng đắn về “sự vật như chúng là.” Chính ở đây người không phải đệ tử và nhà thông linh sai lầm, vì sự diễn giải của họ hầu như luôn luôn sai lầm một cách căn bản, và cần có thời gian (nằm trong chu kỳ giới hạn ấy) để diễn giải một cách thông minh và ghi nhận một cách chân thực điều mà tâm thức tri giác đã tiếp xúc. Khi yếu tố thời gian không còn kiểm soát nữa, các diễn giải được bộ não ghi nhận sẽ đúng đắn không sai. Ở đây tôi đã trao cho bạn một mẩu thông tin quan trọng.

You will see, therefore, that in the earlier initiatory process, the factor of time is noted by the initiate and also by the presenting Masters. An instance of a slow permeation of information from the plane of initiation to the physical brain can be seen in the fact that very few aspirants and disciples register the fact that they have already taken the first initiation, the birth of the Christ in the cave of the heart. That they have taken it is evidenced by their deliberate [437] treading of the Way, by their love of the Christ—no matter by what name they may call Him—and by their effort to serve and help their fellowmen; they are still, however, surprised when told that the first initiation lies behind them. This is due entirely to the factor of time, leading to their inability to “bring through” past events with accuracy, by a false humility as well (inculcated by the Christian Church, as it attempts to keep people subjugated by the sin idea), and by the intensely forward-looking anticipatory consciousness of the average aspirant. When a true perspective and a balanced point of view have been attained, and some awareness of the Eternal Now is beginning to penetrate into their understanding, then the past, the present and the future will be lost to sight in the consciousness of the inclusiveness of the moment that IS; then the limitations of time will be ending and the Law of Karma will be negated; it is at present so closely related to past and future. The dual life of the disciple will then be ended, giving place to the cosmic dualism of the Master. The Master is free from the limitations of time, though not of space, because space is an eternal Entity.

Vì vậy, bạn sẽ thấy rằng trong tiến trình điểm đạo ban đầu, yếu tố thời gian được điểm đạo đồ lưu ý và cũng được các Chân sư trình diện lưu ý. Một ví dụ về sự thẩm thấu chậm chạp của thông tin từ cõi điểm đạo đến bộ não hồng trần có thể thấy trong sự kiện là rất ít người chí nguyện và đệ tử ghi nhận sự kiện rằng họ đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất, sự giáng sinh của Đức Christ trong hang động của trái tim. Việc họ đã trải qua điều đó được chứng minh bằng việc họ cố ý [437] bước đi trên Con Đường, bằng tình thương của họ đối với Đức Christ—dù họ có gọi Ngài bằng tên gì đi nữa—và bằng nỗ lực phụng sự và giúp đỡ đồng loại; tuy nhiên, họ vẫn ngạc nhiên khi được bảo rằng lần điểm đạo thứ nhất đã ở phía sau họ. Điều này hoàn toàn là do yếu tố thời gian, dẫn đến việc họ không thể “mang qua” các biến cố quá khứ một cách chính xác, cũng như do một sự khiêm tốn giả tạo (được Giáo hội Cơ Đốc inculcate, khi giáo hội cố giữ con người trong sự phục tùng bằng ý niệm tội lỗi), và do tâm thức tiên liệu mãnh liệt hướng về phía trước của người chí nguyện trung bình. Khi một viễn cảnh chân chính và một quan điểm quân bình đã đạt được, và một ít nhận biết về Hiện Tại Vĩnh Cửu bắt đầu thấm vào sự thấu hiểu của họ, thì quá khứ, hiện tại và tương lai sẽ mất khỏi tầm nhìn trong tâm thức về tính bao gồm của khoảnh khắc đang LÀ; khi ấy các giới hạn của thời gian sẽ chấm dứt và Định luật Nghiệp quả sẽ bị phủ định; hiện nay nó liên hệ quá chặt với quá khứ và tương lai. Khi đó đời sống nhị nguyên của đệ tử sẽ chấm dứt, nhường chỗ cho nhị nguyên tính vũ trụ của Chân sư. Chân sư được tự do khỏi các giới hạn của thời gian, dù không khỏi giới hạn của không gian, bởi vì không gian là một Thực Thể vĩnh cửu.

You will see, therefore, the great necessity for a constant emphasis, at this stage in the training of the average aspirant, on the need for alignment, or for the creation of a channel of direct relation from the brain to the desired point of contact. To this trained alignment must eventually be added the building of the antahkarana and its subsequent use in a growing system of alignments. The antahkarana must be completed and direct contact must be established with the Spiritual Triad by the time the third initiation has been taken. Then follows the fourth initiation with its destruction of the egoic, causal or soul body, owing to the complete fusion of soul and personality. The dual life of the disciple ends.

Vì vậy, bạn sẽ thấy sự cần thiết lớn lao của việc luôn luôn nhấn mạnh, ở giai đoạn này trong sự huấn luyện của người chí nguyện trung bình, đến nhu cầu chỉnh hợp, hay tạo ra một kênh liên hệ trực tiếp từ bộ não đến điểm tiếp xúc mong muốn. Vào sự chỉnh hợp đã được huấn luyện này, cuối cùng phải thêm vào việc xây dựng antahkarana và việc sử dụng nó về sau trong một hệ thống chỉnh hợp ngày càng tăng. Antahkarana phải được hoàn tất và sự tiếp xúc trực tiếp phải được thiết lập với Tam Nguyên Tinh Thần vào lúc lần điểm đạo thứ ba đã được trải qua. Sau đó là lần điểm đạo thứ tư với sự hủy diệt của thể chân ngã, nguyên nhân hay thể linh hồn, do sự dung hợp hoàn toàn của linh hồn và phàm ngã. Đời sống nhị nguyên của đệ tử chấm dứt.

The Dual Existence of the Master — Sự Hiện Hữu Nhị Nguyên của Chân sư

I would have you note here the difference between the two headings. I refer in one place to the dual life of the [438] disciple but in another to the dual existence of the Master. That distinction is deliberate and intentional. The disciple lives in the three worlds and, until the third initiation, he demonstrates his livingness strictly in relation to the soul and the personality, and therefore strictly to the phenomenal world and to the various levels of the dense cosmic physical plane.

Ở đây tôi muốn bạn lưu ý sự khác biệt giữa hai tiêu đề. Ở một chỗ tôi nói đến đời sống nhị nguyên của [438] đệ tử nhưng ở chỗ khác lại nói đến sự hiện hữu nhị nguyên của Chân sư. Sự phân biệt ấy là có chủ ý và cố ý. Đệ tử sống trong ba cõi giới và, cho đến lần điểm đạo thứ ba, y biểu lộ sự sống động của mình một cách nghiêm ngặt trong liên hệ với linh hồn và phàm ngã, và vì thế nghiêm ngặt trong liên hệ với thế giới hiện tượng và với các cấp độ khác nhau của cõi hồng trần vũ trụ đậm đặc.

The Master functions on the plane of BEING and demonstrates the fact that He eternally IS, that He exists as a divine aspect upon the formless levels of the cosmic etheric planes; this is a very different matter to the life of the disciple and to which little attention has been paid. Existence, Being, Essential Life, Dynamic Energy, electric Fire are all of them distinctive of the higher initiations; they produce basic distinctions between their constitution and mode of life expression and that of those who live, who are in process of becoming, who express quality, and who fuse and blend solar fire and fire by friction. Being and Existence are not the same as Becoming or of Qualified Appearance. It is largely a question of emphases. A Master has synthesised within Himself all for which the advancing disciple longs to express, all that is possible as Expansion, plus an emphasis upon the dynamic life aspect, plus an ability to stand immovable in pure Being. Here again I find it hard to express that for which no words are to be found.

Chân sư hoạt động trên cõi BẢN THỂ và chứng tỏ sự kiện rằng Ngài vĩnh viễn LÀ, rằng Ngài hiện hữu như một phương diện thiêng liêng trên các cấp độ vô tướng của các cõi dĩ thái vũ trụ; đây là một vấn đề rất khác với đời sống của đệ tử và là điều ít được chú ý đến. Hiện hữu, Bản thể, Sự sống Cốt yếu, Năng lượng Động, Lửa Điện, tất cả đều là những đặc trưng của các lần điểm đạo cao hơn; chúng tạo ra những khác biệt căn bản giữa cấu tạo và phương thức biểu lộ sự sống của các Ngài với những người sống, đang trong tiến trình trở thành, biểu lộ phẩm tính, và dung hợp, hòa trộn Lửa Thái dương với Lửa ma sát. Bản thể và Hiện hữu không giống như Sự Trở Thành hay Sắc Tướng Có Phẩm Tính. Phần lớn đây là vấn đề nhấn mạnh. Một Chân sư đã tổng hợp trong chính Ngài mọi điều mà đệ tử đang tiến bộ khao khát biểu lộ, mọi điều có thể có như Sự Mở Rộng, cộng thêm sự nhấn mạnh vào phương diện sự sống năng động, cộng thêm khả năng đứng bất lay chuyển trong Bản thể thuần túy. Ở đây nữa tôi thấy khó diễn đạt điều mà không có lời nào có thể tìm thấy.

In the Master, all the divine aspects are proved capable of expression in accordance with this particular time, in this particular round and chain (reverting to the old symbolism of The Secret Doctrine) and through any particular racial expression. These divine characteristics—viewed from the angle of time and space—are shewn in a definitely relative form; later cycles and time periods will show these aspects in a still more perfected form. But the relativity of these matters does not really concern us, and the perfection is—from the angle of the human disciple today—exactly what we understand by perfection. The Masters know, however, that a higher, deeper and more intensive manifestation of divinity is potentially possible, but it causes Them no [439] concern or strain, no anxiety or fiery aspiration; They know, as no disciple can know, the workings of the Law of Inevitability. This Law releases the Masters (under the accompanying Law of Service), at the sixth initiation, into a wider field of experience, with all the divine assets and qualities so developed within Them that They know that Their equipment is adequate to the undertaking and that They can, without hesitancy and concern, take the next required steps.

Trong Chân sư, mọi phương diện thiêng liêng đều được chứng minh là có khả năng biểu lộ phù hợp với thời kỳ đặc biệt này, trong cuộc tuần hoàn và Dãy đặc biệt này (trở lại với biểu tượng học cũ của Giáo Lý Bí Nhiệm) và qua bất kỳ biểu hiện chủng tộc đặc biệt nào. Những đặc tính thiêng liêng này—được nhìn từ góc độ thời gian và không gian—được biểu lộ trong một hình thức rõ rệt là tương đối; các chu kỳ và thời kỳ sau này sẽ cho thấy các phương diện ấy trong một hình thức còn hoàn thiện hơn nữa. Nhưng tính tương đối của những vấn đề này thực sự không liên quan đến chúng ta, và sự hoàn thiện ấy—từ góc độ của đệ tử nhân loại ngày nay—chính là điều mà chúng ta hiểu là hoàn thiện. Tuy nhiên, các Chân sư biết rằng một biểu lộ cao hơn, sâu hơn và mãnh liệt hơn của thiên tính là có thể có về mặt tiềm năng, nhưng điều đó không gây cho Các Ngài [439] sự bận tâm hay căng thẳng nào, không lo âu hay khát vọng rực lửa nào; Các Ngài biết, theo cách mà không đệ tử nào có thể biết, sự vận hành của Định luật Tất Yếu. Định luật này giải thoát các Chân sư (dưới Định luật Phụng sự đi kèm), ở lần điểm đạo thứ sáu, vào một lĩnh vực kinh nghiệm rộng lớn hơn, với tất cả các tài sản và phẩm tính thiêng liêng đã được phát triển đến mức Các Ngài biết rằng trang bị của mình là đầy đủ cho công việc đảm nhận và rằng Các Ngài có thể, không do dự và không bận tâm, thực hiện các bước kế tiếp cần thiết.

It is hard for the disciple—struggling with glamour and illusion—to realise that the higher initiations are free from all concern and from any emotional or self-centred reactions to the work which lies ahead or to the form side of manifestation; it is well-nigh impossible for the neophyte to vision a time when he will be free from all reactions engendered by life on the dense cosmic physical planes and from all the limitations of life in the three worlds. Today, aspiration provides a constant source of anxious questioning, of painful deliberations and of high voltage spiritual ambition, with their consequent limitations and moments of sensed failure and lack of achievement. The Master has left all this behind, knowing that even this so-called “spiritual responsiveness” is a form of self-centred attitude. Eventually—and disciples should take courage and hope from this statement—all this agonising reaction to the spiritual urge will be left behind. The Master knows the Law and is entirely free from any consideration of the time equation, as far as He Himself is concerned. He only regards time as it may affect the working of the Plan in the three worlds.

Đối với đệ tử—đang vật lộn với ảo cảm và ảo tưởng—thật khó nhận ra rằng các lần điểm đạo cao hơn không có mọi bận tâm và không có bất kỳ phản ứng cảm xúc hay tập trung vào bản thân nào đối với công việc ở phía trước hay đối với mặt hình tướng của sự biểu hiện; đối với người sơ cơ thì gần như không thể có được linh ảnh về một thời điểm khi y sẽ được tự do khỏi mọi phản ứng do đời sống trên các cõi hồng trần vũ trụ đậm đặc gây ra và khỏi mọi giới hạn của đời sống trong ba cõi giới. Ngày nay, khát vọng cung cấp một nguồn liên tục của những câu hỏi lo âu, những cân nhắc đau đớn và tham vọng tinh thần điện thế cao, cùng với các giới hạn kéo theo và những lúc cảm thấy thất bại và thiếu thành tựu. Chân sư đã bỏ lại tất cả điều này phía sau, biết rằng ngay cả cái gọi là “sự đáp ứng tinh thần” này cũng là một hình thức thái độ tập trung vào bản thân. Cuối cùng—và các đệ tử nên lấy can đảm và hy vọng từ lời phát biểu này—mọi phản ứng đau đớn đối với thúc đẩy tinh thần này sẽ bị bỏ lại phía sau. Chân sư biết Định luật và hoàn toàn tự do khỏi mọi cân nhắc về phương trình thời gian, xét về phần chính Ngài. Ngài chỉ xét đến thời gian trong chừng mực nó có thể ảnh hưởng đến sự vận hành của Thiên Cơ trong ba cõi giới.

The dual existence of the Master involves what we might call the two poles: that of the monadic consciousness, whatever that may be, and that of the self-created form which He may use as a member of the Hierarchy and a worker in the three worlds of human enterprise. I would here remind you that there are many groups and types of Masters, and most of Them are quite unknown to occult students either from Their work or from rumour or from knowledge of the many evolutionary processes of which the human is only [440] one. Not all the Masters work in the three worlds; not all the Masters need or possess physical bodies; not all the Masters “have Their faces turned towards the realm of dark light, but many face for aeons towards the clear cold light of spiritual existence”; not all the Masters make or are required to make the sacrifices which work for the fourth kingdom in nature entails. Not all souls liberated or limited constitute the Kingdom of God in the sense which that phrase conveys to us; that term is limited to the soul which informs units in the human family; not all the Masters work under the great Buddha of Activity Who is responsible to Sanat Kumara for the Plan working out in connection with Humanity. He works through the three Great Lords of the Eternal Ashram of Sanat Kumara, but His two Brothers have Each of Them an equally important work and are responsible—as He is—to the Council Chamber. Each of Them also works through a triangle of energies with grouped subsidiary forces working in seven departments and differentiated also into forty-nine lesser departments, as is the Ashram which we call the Hierarchy. Forget not, there are many Hierarchies and the Human Hierarchy is but one.

Sự hiện hữu nhị nguyên của Chân sư bao hàm điều mà chúng ta có thể gọi là hai cực: cực của tâm thức chân thần, dù điều đó có thể là gì, và cực của hình tướng do chính Ngài tạo ra mà Ngài có thể sử dụng như một thành viên của Thánh đoàn và một người hoạt động trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại. Ở đây tôi muốn nhắc bạn rằng có nhiều nhóm và loại Chân sư, và phần lớn Các Ngài hoàn toàn không được các đạo sinh huyền bí biết đến, dù qua công việc của Các Ngài hay qua lời đồn hay qua tri thức về nhiều tiến trình tiến hoá mà tiến trình nhân loại chỉ là [440] một. Không phải mọi Chân sư đều hoạt động trong ba cõi giới; không phải mọi Chân sư đều cần hay sở hữu thể xác; không phải mọi Chân sư đều “quay mặt về phía cõi của ánh sáng tối tăm, mà nhiều vị hướng về trong nhiều đại kiếp phía ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của sự hiện hữu tinh thần”; không phải mọi Chân sư đều thực hiện hay được yêu cầu thực hiện những hy sinh mà công việc cho giới thứ tư trong thiên nhiên đòi hỏi. Không phải mọi linh hồn được giải thoát hay bị giới hạn đều cấu thành Thiên Giới theo nghĩa mà cụm từ ấy gợi cho chúng ta; thuật ngữ đó bị giới hạn vào linh hồn phú linh các đơn vị trong gia đình nhân loại; không phải mọi Chân sư đều hoạt động dưới quyền Đức Phật Hoạt Động vĩ đại, Đấng chịu trách nhiệm trước Đức Sanat Kumara về sự triển khai của Thiên Cơ liên hệ đến Nhân loại. Ngài hoạt động qua ba Đại Chúa Tể của Ashram Vĩnh Cửu của Đức Sanat Kumara, nhưng hai Huynh Đệ của Ngài mỗi vị đều có một công việc quan trọng ngang nhau và chịu trách nhiệm—như Ngài—trước Phòng Hội Đồng. Mỗi vị trong Các Ngài cũng hoạt động qua một tam giác năng lượng với các mãnh lực phụ thuộc được nhóm lại, hoạt động trong bảy ban và cũng được biến phân thành bốn mươi chín ban nhỏ hơn, cũng như Ashram mà chúng ta gọi là Thánh đoàn. Đừng quên, có nhiều Huyền Giai và Huyền Giai Nhân Loại chỉ là một.

This whole theme is one of great complexity and yet at the same time so simple that when the simplicity of the planetary constitution is truly grasped and the analytic disputations of the concrete mind are overcome, the liberated Master enters a world of spiritual endeavour which is free from forms and symbols or the veils which hide the basic truth and the underlying mystery.

Toàn bộ chủ đề này rất phức tạp, nhưng đồng thời lại rất đơn giản đến nỗi khi tính đơn giản của cấu tạo hành tinh được nắm bắt thật sự và các cuộc tranh biện phân tích của trí cụ thể được vượt qua, Chân sư được giải thoát sẽ đi vào một thế giới của nỗ lực tinh thần không có hình tướng và biểu tượng hay những bức màn che giấu chân lý căn bản và huyền nhiệm nền tảng.

Being is simple, free, unlimited and unimpeded and in that world the Master moves and works. Becoming is complex, imprisoning, limited and subjected to hindrances, and in that world the disciple and the lesser initiates live and move and have their being. The Master works simultaneously in two worlds or states of awareness; i.e., that related to pure existence, to the untrammelled life of the planes controlled by the Monad, and also by the Hierarchy. There naught but the Plan engrosses His attention. He deals safely with “the simplicity which is Shamballa” and its [441] sphere or aura of influence and “with the field of relationships which are nurtured from the Ashram of the Christ.” I am here quoting one of the Masters Who was endeavouring to explain to a disciple the simplicity of the life which a Master expresses.

Bản thể thì đơn giản, tự do, vô hạn và không bị cản trở, và trong thế giới ấy Chân sư di chuyển và hoạt động. Sự Trở Thành thì phức tạp, giam hãm, hữu hạn và chịu các chướng ngại, và trong thế giới ấy đệ tử và các điểm đạo đồ thấp hơn sống, di chuyển và có bản thể của mình. Chân sư hoạt động đồng thời trong hai thế giới hay hai trạng thái nhận biết; tức là, trạng thái liên hệ với hiện hữu thuần túy, với đời sống không bị trói buộc của các cõi do chân thần kiểm soát, và cũng do Thánh đoàn kiểm soát. Ở đó không gì ngoài Thiên Cơ thu hút sự chú ý của Ngài. Ngài đề cập một cách an toàn đến “tính đơn giản là Shamballa” và khối cầu hay hào quang ảnh hưởng của nó, và “đến trường quan hệ được nuôi dưỡng từ ashram của Đức Christ.” Ở đây tôi đang trích lời một trong các Chân sư, Đấng đang cố giải thích cho một đệ tử về tính đơn giản của đời sống mà một Chân sư biểu lộ.

THE SCIENCE OF THE ANTAHKARANA

Webinar 26

As we enter on the consideration of “The dual life of the initiatory process” I would call your attention to the wording used, and particularly to its significance in reference to the initiatory process. This deals, as we shall see, not with the effort of the disciple to live simultaneously the life of the spiritual world and the practical life of physical plane service, but entirely with the preparation of the disciple for initiation, and therefore with his mental life and attitudes.

Khi chúng ta bắt đầu xem xét “Đời sống kép của tiến trình điểm đạo,” tôi muốn các bạn chú ý đến cách diễn đạt được sử dụng, và đặc biệt là ý nghĩa của nó liên quan đến tiến trình điểm đạo. Điều này không đề cập đến nỗ lực của đệ tử nhằm sống đồng thời đời sống của thế giới tinh thần và đời sống thực tiễn trong sự phụng sự nơi cõi trần, mà hoàn toàn liên quan đến sự chuẩn bị của đệ tử cho điểm đạo, và do đó, đến đời sống trí tuệ và các thái độ của y.

This statement might be regarded as concerning itself primarily with two major aspects of his mental life and not with the life of relation between soul and personality. It is proper, consequently, to see a duality existing in the consciousness of the disciple, and both of its aspects existing side by side:

Tuyên bố này có thể được xem như chủ yếu liên quan đến hai phương diện chính của đời sống trí tuệ của y, chứ không phải đến đời sống quan hệ giữa linh hồn và phàm ngã. Do đó, việc nhận ra một nhị nguyên tồn tại trong tâm thức của đệ tử là điều phù hợp, và cả hai phương diện đó tồn tại song song:

1. The life of awareness in which he expresses the soul attitude, soul awareness and soul consciousness, through the medium of the personality upon the physical plane; this he learns to register and express consciously.

1. Đời sống của sự tỉnh thức trong đó y biểu lộ thái độ của linh hồn, sự tỉnh thức của linh hồn và tâm thức của linh hồn, thông qua trung gian của phàm ngã nơi cõi trần; điều này y học được cách ghi nhận và biểu lộ một cách có ý thức.

2. The intensely private and purely subjective life in which he—the soul-infused personality—oriented upon the mental plane, brings into increasing rapport:

2. Đời sống riêng tư mãnh liệt và hoàn toàn chủ quan trong đó y—phàm ngã được linh hồn thấm nhuần—định hướng trên cõi trí, tạo nên sự đồng điều ngày càng sâu sắc hơn giữa:

a. His lower concrete mind and the higher abstract mind.

a. Hạ trí cụ thể của y và thượng trí trừu tượng.

b. Himself and the Master of his ray group, thus developing the ashramic consciousness.

b. Chính y và Chân sư thuộc nhóm cung của y, nhờ đó phát triển tâm thức ashram.

c. Himself and the Hierarchy as a whole, becoming increasingly aware of the spiritual synthesis underlying the united Ashrams. He thus consciously and steadily approaches the radiant Centre of this solar Ashram, the Christ Himself, the first Initiator.

c. Chính y và toàn thể Thánh đoàn, nhờ đó ngày càng trở nên tỉnh thức với sự hợp nhất tinh thần nền tảng của các Ashram hợp nhất. Như vậy, y tiếp cận một cách có ý thức và đều đặn Trung Tâm rực rỡ của đại Ashram Thái Dương này, tức chính Đấng Christ, Đấng Điểm Đạo thứ nhất.

[442]

[442]

This inner life with its three slowly revealed objectives concerns essentially the life of preparation for initiation.

Đời sống nội tâm này cùng với ba mục tiêu được dần dần hé lộ chủ yếu liên quan đến đời sống chuẩn bị cho điểm đạo.

There is no initiation for the disciple until he has begun consciously to build the antahkarana, thus bringing the Spiritual Triad and the mind as the highest aspect in the three worlds into a close relationship; later, he brings his physical brain into a position of a recording agent upon the physical plane, thus again demonstrating a clear alignment and a direct channel from the Spiritual Triad straight through to the brain via the antahkarana which has linked the higher mind and the lower.

Không có điểm đạo nào dành cho đệ tử cho đến khi y bắt đầu kiến tạo một cách có ý thức antahkarana, nhờ đó đưa Tam nguyên tinh thần và trí tuệ, như là phương diện cao nhất trong ba cõi, vào một mối quan hệ mật thiết; về sau, y đưa bộ não vật lý vào vị trí như một cơ quan ghi nhận nơi cõi trần, nhờ đó lại một lần nữa chứng tỏ sự chỉnh hợp rõ ràng và một kênh trực tiếp từ Tam nguyên tinh thần xuyên suốt đến bộ não qua sợi dây antahkarana vốn đã kết nối thượng trí và hạ trí.

This involves much work, much interpretive capacity and much power to visualise. I am choosing my words with care. This visualisation is not necessarily concerned with form and with concrete mental presentations; it is concerned with a pictorial and symbolic sensitivity which expresses interpretively the spiritual understanding, conveyed by the awakening intuition—the agent of the Spiritual Triad. The meaning of this becomes clearer as the work proceeds. It is difficult for the man who is beginning the work of constructing the antahkarana to grasp the meaning of visualisation as it is seen to be related to a growing responsiveness to that which the ashramic group conveys to him, to his emerging vision of the divine Plan as it exists in reality, and to that which is committed to him as the effect or the result of each successive initiation. I prefer the word “effect” to the word “result,” for the initiate increasingly works consciously with the Law of Cause and Effect on planes other than the physical. We use the word “result” to express the consequences of that great cosmic Law as they demonstrate in the three worlds of human evolution.

Điều này đòi hỏi nhiều công phu, nhiều khả năng diễn giải và nhiều năng lực quán tưởng. Tôi đang chọn từ ngữ một cách cẩn trọng. Sự quán tưởng này không nhất thiết liên quan đến hình tướng và các biểu tượng trí cụ thể; nó liên quan đến một sự nhạy cảm mang tính biểu tượng và hình ảnh, biểu lộ bằng diễn giải minh triết tâm linh được truyền đạt bởi trực giác đang thức tỉnh—tác nhân của Tam nguyên tinh thần. Ý nghĩa của điều này sẽ trở nên rõ ràng hơn khi công việc tiến triển. Thật khó cho người mới bắt đầu công cuộc xây dựng antahkarana để thấu hiểu ý nghĩa của sự quán tưởng trong mối liên hệ với sự nhạy cảm ngày càng tăng đối với những gì nhóm ashram truyền đạt cho y, với thị kiến đang hiện ra của Thiên Cơ như nó thực sự hiện hữu, và với những điều được giao phó cho y như là hiệu quả hay kết quả của mỗi lần điểm đạo kế tiếp. Tôi ưu tiên dùng từ “hiệu quả” hơn là “kết quả,” vì điểm đạo đồ ngày càng làm việc một cách có ý thức với Định luật Nhân Quả trên các cõi vượt ngoài cõi trần. Chúng ta sử dụng từ “kết quả” để chỉ các hậu quả của Định luật vĩ đại này khi nó biểu lộ trong ba cõi tiến hóa của nhân loại.

It is in connection with this effort that he discovers the value, uses and purpose of the creative imagination. This creative imagination is all that remains to him eventually of the active and intensely powerful astral life which he has lived for so many lives; as evolution proceeds, his astral body becomes a mechanism of transformation, desire being transformed into aspiration and aspiration itself being transformed [443] into a growing and expressive intuitive faculty. The reality of this process is demonstrated in the emergence of that basic quality which has always been inherent in desire itself: the imaginative quality of the soul, implementing desire and steadily becoming a higher creative faculty as desire shifts into ever higher states and leads to ever higher realisations. This faculty eventually invokes the energies of the mind, and the mind, plus the imagination, becomes in time a great invocative and creative agent. It is thus that the Spiritual Triad is brought into rapport with the threefold personality.

Chính trong mối liên hệ với nỗ lực này mà y khám phá ra giá trị, công dụng và mục đích của khả năng tưởng tượng sáng tạo. Khả năng tưởng tượng sáng tạo này chính là tất cả những gì còn lại cuối cùng của đời sống cảm dục mãnh liệt và đầy năng lượng mà y đã từng sống qua nhiều kiếp; khi tiến hóa tiếp diễn, thể cảm dục của y trở thành một cơ cấu chuyển hóa, trong đó ham muốn được chuyển hóa thành khát vọng và bản thân khát vọng lại được chuyển hóa [443] thành một khả năng trực giác đang phát triển và biểu lộ. Tính hiện thực của tiến trình này được minh chứng qua sự hiển lộ của phẩm tính nền tảng luôn tiềm tàng trong chính ham muốn: phẩm tính tưởng tượng của linh hồn, thực thi ham muốn và dần dần trở thành một năng lực sáng tạo cao hơn khi ham muốn chuyển hóa thành các trạng thái ngày càng cao và dẫn đến các nhận thức ngày càng cao hơn. Năng lực này cuối cùng kêu gọi các năng lượng của trí tuệ, và trí tuệ, cộng với tưởng tượng, theo thời gian trở thành một tác nhân sáng tạo và khẩn thỉnh vĩ đại. Chính nhờ đó mà Tam nguyên tinh thần được đưa vào sự đồng điều với phàm ngã tam phân.

I have told you in earlier writings that basically the astral plane is non-existent as a part of the divine Plan; it is fundamentally the product of glamour, of kama-manas—a glamour which humanity itself has created and in which it has lived practically entirely since early Atlantean days. The effect of an increasing soul contact has not simply been to dispel the mists of glamour, but it has also served to consolidate and to bring into effective use, therefore, the imagination with its overwhelmingly powerful creative faculty. This creative energy, when implemented by an illumined mind (with its thoughtform making ability), is then wielded by the disciple in order to make contacts higher than with the soul, and to bring into symbolic form that of which he becomes aware through the medium of a line of energy—the antahkarana—which he is steadily and scientifically creating.

Tôi đã nói với các bạn trong những trước tác trước đây rằng về bản chất, cõi cảm dục không hiện hữu như là một phần của Thiên Cơ; nó chủ yếu là sản phẩm của ảo cảm, của kama-manas—một loại ảo cảm mà chính nhân loại đã tạo ra và trong đó nó đã hầu như sống hoàn toàn kể từ những ngày đầu của giống dân Atlantis. Tác động của sự tiếp xúc ngày càng tăng với linh hồn không chỉ đơn thuần là để xua tan màn sương ảo cảm, mà còn góp phần củng cố và đưa vào sử dụng hiệu quả khả năng tưởng tượng cùng với năng lực sáng tạo đầy uy lực của nó. Năng lượng sáng tạo này, khi được thực thi bởi một trí tuệ được soi sáng (với khả năng tạo ra hình tư tưởng), sau đó được đệ tử vận dụng nhằm tạo lập các tiếp xúc vượt trên linh hồn, và biểu lộ thành hình thức mang tính biểu tượng những điều mà y trở nên tỉnh thức thông qua trung gian của một dòng năng lượng—sợi dây antahkarana—mà y đang xây dựng một cách đều đặn và khoa học.

It might be said (equally symbolically) that at each initiation he tests the connecting bridge and discovers gradually the soundness of that which he has created under the inspiration of the Spiritual Triad and with the aid of the three aspects of his mind (the abstract mind, the soul or the Son of Mind, and the lower concrete mind), combined with the intelligent cooperation of his soul-infused personality. In the early stages of his invocative work, the instrument used is the creative imagination. This enables him at the very beginning to act as if he were capable of thus creating; then, when the as if imaginative consciousness is no longer [444] useful, he becomes consciously aware of that which he has—with hope and spiritual expectancy—sought to create; he discovers this as an existent fact and knows past all controversy that “faith is the substance of things hoped for, the evidence of things not seen.”

Có thể nói (một cách tượng trưng tương tự) rằng tại mỗi lần điểm đạo, y thử nghiệm cây cầu nối kết và dần dần khám phá ra độ vững chắc của điều mà y đã kiến tạo dưới sự cảm hứng của Tam nguyên tinh thần và với sự trợ giúp của ba phương diện của trí tuệ mình (trí trừu tượng, linh hồn hay Con của Trí tuệ, và hạ trí cụ thể), kết hợp với sự hợp tác thông tuệ của phàm ngã được linh hồn thấm nhuần. Trong những giai đoạn đầu của công việc khẩn cầu, công cụ được sử dụng là khả năng tưởng tượng sáng tạo. Điều này cho phép y ngay từ khởi đầu hành động như thể y có khả năng kiến tạo theo cách đó; rồi, khi trạng thái tâm thức tưởng tượng “như thể” không còn [444] hữu ích nữa, y trở nên có ý thức rõ ràng về điều mà y đã—với niềm hy vọng và sự kỳ vọng thiêng liêng—cố gắng kiến tạo; y khám phá ra điều đó như một thực tại hiện hữu và biết, vượt khỏi mọi tranh luận, rằng “đức tin là bản thể của những điều hy vọng, là bằng chứng của những điều không thấy được.”

Building the Antahkarana

With the introductory teaching on the science of the Antahkarana we shall not here deal, for the student will find it in the book, Education in the New Age. That preliminary presentation should be studied before taking up the more advanced stage which begins here. Let us now consider, step by step this science which is already proving a useful source of experiment and testing.

Ở đây chúng ta sẽ không bàn về phần giáo huấn nhập môn liên quan đến khoa học Antahkarana, vì học viên có thể tìm thấy trong quyển sách Giáo Dục Trong Kỷ Nguyên Mới. Bản trình bày sơ khởi đó cần được nghiên cứu trước khi bước vào giai đoạn cao hơn bắt đầu từ đây. Giờ đây chúng ta hãy cùng khảo sát từng bước một khoa học này, vốn đã chứng tỏ là một nguồn hữu ích cho việc thực nghiệm và thử nghiệm.

The human soul (in contradistinction to the soul as it functions in its own kingdom, free from the limitations of human life) is imprisoned and subject to the control of the lower three energies for the major part of its experience. Then, upon the Path of Probation, the dual energy of soul begins to be increasingly active, and the man seeks to use his mind consciously, and to express love-wisdom on the physical plane. This is a simple statement of the objective of all aspirants. When the five energies are beginning to be used, consciously and wisely in service, a rhythm is then set up between the Personality and the Soul. It is as if a magnetic field were then established and these two vibrating and magnetic units, or grouped energies, swung into each other's field of influence. This happens only occasionally and rarely in the early stages; later it occurs more constantly, and thus a path of contact is established which eventually becomes the line of least resistance, “the way of familiar approach,” as it is sometimes called. Thus is the first half of the “bridge,” the antahkarana, constructed. By the time the third initiation is completed, this Way is completed, and the initiate can “pass to higher worlds at will, leaving the lower worlds far behind; or he can come again and pass upon the way that leads from dark to light, from light to dark, and from the under lower worlds into the realms of light.” [445]

Linh hồn con người (trái ngược với linh hồn khi nó hoạt động trong cõi giới của chính nó, tự do khỏi những giới hạn của đời sống nhân loại) bị giam giữ và chịu sự chi phối của ba năng lượng thấp trong phần lớn kinh nghiệm của mình. Rồi, trên Con Đường Dự Bị, năng lượng kép của linh hồn bắt đầu hoạt động ngày càng mạnh mẽ, và con người tìm cách sử dụng trí tuệ của mình một cách có ý thức, và biểu lộ bác ái–minh triết trên cõi trần. Đây là một tuyên bố đơn giản về mục tiêu của tất cả những người chí nguyện. Khi năm năng lượng bắt đầu được sử dụng một cách có ý thức và khôn ngoan trong phụng sự, một nhịp điệu sẽ được thiết lập giữa Phàm ngã và Linh hồn. Dường như một trường từ lực được thiết lập và hai đơn vị rung động và từ tính này, hay các năng lượng tập hợp thành nhóm, bắt đầu chuyển động vào trường ảnh hưởng của nhau. Điều này chỉ xảy ra một cách thỉnh thoảng và hiếm hoi ở những giai đoạn đầu; sau này, nó diễn ra thường xuyên hơn, và như vậy một con đường tiếp xúc được thiết lập, con đường này cuối cùng trở thành đường ít trở ngại nhất, “con đường tiếp cận quen thuộc,” như đôi khi được gọi. Như thế là nửa đầu của “cây cầu,” tức antahkarana, được kiến tạo. Đến khi lần điểm đạo thứ ba hoàn tất, Con Đường này đã được hoàn thành, và điểm đạo đồ có thể “tự do tiến vào các thế giới cao hơn, bỏ lại các cõi thấp phía sau; hoặc y có thể trở lại và bước đi trên con đường dẫn từ tối đến sáng, từ sáng đến tối, và từ các cõi thấp hơn đi vào những cõi giới của ánh sáng.” [445]

Thus the two are one, and the first great union upon the Path of Return is completed. A second stage of the Way has then to be trodden, leading to a second union of still further importance in that it leads to complete liberation from the three worlds. It must be remembered that the soul, in its turn, is a union of three energies of which the lower three are the reflection. It is a synthesis of the energy of Life itself (which demonstrates as the life-principle within the world of forms), of the energy of the intuition or spiritual love-wisdom or understanding (this demonstrates as sensitivity and feeling in the astral body), and spiritual mind, whose reflection in the lower nature is the mind or the principle of intelligence in the form world. In these three we have the atma-buddhi-manas of the theosophical literature—that higher triplicity which is reflected in the lower three, and which focusses through the soul body on the higher levels of the mental plane before being precipitated into incarnation—as it is esoterically called.

Như vậy hai trở thành một, và sự hợp nhất lớn lao đầu tiên trên Con Đường Quay Về được hoàn tất. Khi ấy, phải bước vào một giai đoạn thứ hai của Con Đường, dẫn đến một sự hợp nhất thứ hai còn quan trọng hơn nữa vì nó đưa đến sự giải thoát hoàn toàn khỏi ba cõi. Cần ghi nhớ rằng linh hồn, đến lượt mình, là một sự hợp nhất của ba năng lượng, trong đó ba năng lượng thấp là sự phản ánh. Nó là một tổng hợp của năng lượng của Sự sống chính nó (biểu lộ như là nguyên khí sống trong thế giới hình tướng), năng lượng của trực giác hay bác ái–minh triết hay hiểu biết tinh thần (biểu lộ như là sự nhạy cảm và cảm giác trong thể cảm dục), và trí tuệ tinh thần, mà phản ánh của nó trong bản chất thấp là trí tuệ hay nguyên khí thông tuệ trong thế giới hình tướng. Trong ba phương diện này, chúng ta có atma–buddhi–manas của văn học Thông Thiên Học—bộ ba cao hơn này là sự phản ánh của ba phương diện thấp, và nó tập trung thông qua thể linh hồn trên các cõi cao của cõi trí trước khi được ngưng tụ vào nhập thể—theo cách gọi nội môn.

Modernising the concept, we might say that the energies which animate the physical body and the intelligent life of the atom, the sensitive emotional states, and the intelligent mind, have eventually to be blended with and transmuted into the energies which animate the soul. These are the spiritual mind, conveying illumination; the intuitive nature, conferring spiritual perception; and divine livingness.

Nếu hiện đại hóa khái niệm này, ta có thể nói rằng các năng lượng vận hành thể xác và sự sống thông tuệ của nguyên tử, các trạng thái cảm xúc nhạy cảm, và trí tuệ thông minh, rốt cuộc phải được dung hợp với và chuyển hóa thành các năng lượng vận hành linh hồn. Đó là trí tuệ tinh thần, mang lại sự soi sáng; bản chất trực giác, ban phát nhận thức tinh thần; và sự sống thiêng liêng.

After the third initiation the “Way” is carried forward with great rapidity, and the “bridge” is finished which links perfectly the higher spiritual Triad and the lower material reflection. The three worlds of the Soul and the three worlds of the Personality become one world wherein the initiate works and functions, seeing no distinction, regarding one world as the world of inspiration and the other world as constituting the field of service, yet regarding both together as forming one world of activity. Of these two worlds, the subjective etheric body (or the body of vital inspiration) and the dense physical body are symbols on the external plane.

Sau lần điểm đạo thứ ba, “Con Đường” được đẩy nhanh với tốc độ lớn, và “cây cầu” được hoàn tất, kết nối trọn vẹn Tam nguyên tinh thần cao hơn và sự phản ánh vật chất thấp hơn. Ba cõi của Linh hồn và ba cõi của Phàm ngã trở thành một thế giới trong đó điểm đạo đồ hoạt động và làm việc, không còn thấy sự phân biệt, xem một cõi là cõi cảm hứng và cõi kia là lĩnh vực phụng sự, nhưng xem cả hai như hình thành một thế giới hoạt động duy nhất. Trong hai cõi giới này, thể dĩ thái chủ quan (hay thể sinh lực cảm hứng) và thể xác đậm đặc là những biểu tượng trên cõi ngoại giới.

How is this bridging antahkarana to be built? Where [446] are the steps which the disciple must follow? I deal not here with the Path of Probation whereon the major faults should be eliminated and whereon the major virtues should be developed. Much of the instruction given in the past has laid down the rules for the cultivation of the virtues and qualifications for discipleship, and also the necessity for self-control, for tolerance and for unselfishness. But these are elementary stages and should be taken for granted by the students. Such students should be occupied not only with the establishment of the character aspect of discipleship, but with the more abstruse and difficult requirements for those whose eventual goal is initiation.

Cây cầu antahkarana này sẽ được kiến tạo ra sao? Đâu là [446] các bước mà đệ tử phải theo? Tôi sẽ không bàn ở đây về Con Đường Dự Bị, nơi mà các lỗi lầm chính cần được loại bỏ và nơi mà các đức tính lớn cần được phát triển. Nhiều giáo huấn đã được ban ra trong quá khứ để chỉ dẫn các quy tắc cho việc nuôi dưỡng các đức tính và những phẩm chất cần thiết cho địa vị đệ tử, cũng như nhu cầu về tự kiểm soát, lòng bao dung và tính vô kỷ. Nhưng đó là các giai đoạn sơ khởi và cần được coi là điều hiển nhiên đối với học viên. Những học viên như vậy cần phải chú tâm không chỉ vào việc thiết lập phương diện phẩm cách của địa vị đệ tử, mà còn vào những yêu cầu trừu tượng và khó khăn hơn dành cho những ai có mục tiêu sau cùng là điểm đạo.

It is with the work of the “bridge-builders” that we are concerned. First, let me assure you that the real building of the antahkarana takes place only when the disciple is beginning to be definitely focussed upon mental levels, and when therefore his mind is intelligently and consciously functioning. He must begin at this stage to have some more exact idea than has hitherto been the case as to the distinctions existing between the thinker, the apparatus of thought, and thought itself, beginning with its dual esoteric function which is:

Chúng ta đang quan tâm đến công việc của những “người kiến tạo cầu nối.” Trước hết, hãy để tôi khẳng định rằng việc kiến tạo thực sự của antahkarana chỉ diễn ra khi đệ tử bắt đầu thật sự tập trung vào các cõi trí tuệ, và do đó, khi trí tuệ của y hoạt động một cách thông tuệ và có ý thức. Tại giai đoạn này, y phải bắt đầu có một ý niệm chính xác hơn so với trước đây về sự phân biệt tồn tại giữa người tư duy, cơ cấu của tư duy, và chính tư duy—bắt đầu với hai chức năng nội môn kép của nó, đó là:

1. The recognition and receptivity to IDEAS.

1. Sự nhận biết và tiếp nhận CÁC Ý TƯỞNG.

2. The creative faculty of conscious thoughtform building.

2. Năng lực sáng tạo trong việc kiến tạo các hình tư tưởng có ý thức.

This necessarily involves a strong mental attitude and reorientation of the mind to reality. As the disciple begins to focus himself on the mental plane (and this is the prime intent of the meditation work), he starts working in mental matter and trains himself in the powers and uses of thought. He achieves a measure of mind control; he can turn the searchlight of the mind in two directions, into the world of human endeavour and into the world of soul activity. Just as the soul makes a way for itself by projecting itself in a thread or stream of energy into the three worlds, so the disciple begins consciously to project himself into the higher worlds. His energy goes forth, through the medium of the controlled and directed mind, into the world of the higher [447] spiritual mind and into the realm of the intuition. A reciprocal activity is thus set up. This response between the higher and the lower mind is symbolically spoken of in terms of light, and the “lighted way” comes into being between the personality and the spiritual Triad, via the soul body, just as the soul came into definite contact with the brain via the mind. This “lighted way” is the illumined bridge. It is built through meditation; it is constructed through the constant effort to draw forth the intuition, through subservience and obedience to the Plan (which begins to be recognised as soon as the intuition and the mind are en rapport), and through a conscious incorporation into the group in service and for purposes of assimilation into the whole. All these qualities and activities are based upon the foundation of good character and the qualities developed upon the Probationary Path.

Điều này đương nhiên đòi hỏi một thái độ trí tuệ mạnh mẽ và một sự tái định hướng của trí tuệ về với thực tại. Khi đệ tử bắt đầu tập trung bản thân trên cõi trí (và đây là mục tiêu chính của công việc tham thiền), y bắt đầu làm việc trong vật chất trí tuệ và tự rèn luyện về năng lực và cách sử dụng tư tưởng. Y đạt được một mức độ nào đó của sự kiểm soát trí tuệ; y có thể hướng luồng sáng trí tuệ theo hai hướng: vào thế giới của nỗ lực nhân loại và vào thế giới hoạt động của linh hồn. Cũng giống như linh hồn tự tạo con đường cho mình bằng cách phóng chiếu chính nó như một sợi dây hay dòng năng lượng đi vào ba cõi, thì đệ tử bắt đầu một cách có ý thức phóng chiếu chính mình vào các cõi giới cao hơn. Năng lượng của y được phóng ra, thông qua trung gian của trí tuệ được kiểm soát và định hướng, đi vào thế giới của thượng trí tinh thần [447] và vào cõi giới của trực giác. Một hoạt động tương hỗ như vậy được thiết lập. Sự đáp ứng này giữa thượng trí và hạ trí được nói một cách tượng trưng qua ngôn ngữ ánh sáng, và “con đường rực sáng” được hình thành giữa phàm ngã và Tam nguyên tinh thần, thông qua thể linh hồn, giống như cách mà linh hồn thiết lập tiếp xúc rõ ràng với bộ não qua trung gian của trí tuệ. “Con đường rực sáng” này chính là cây cầu được soi sáng. Nó được kiến tạo qua tham thiền; được xây dựng thông qua nỗ lực liên tục nhằm triệu gọi trực giác, thông qua sự quy phục và vâng theo Thiên Cơ (cái mà bắt đầu được nhận biết ngay khi trực giác và trí tuệ tương liên), và thông qua sự hội nhập có ý thức vào trong nhóm để phụng sự và nhằm mục đích hòa nhập vào tổng thể. Tất cả những phẩm tính và hoạt động này đều được đặt nền tảng trên phẩm cách tốt và những phẩm chất đã được phát triển trên Con Đường Dự Bị.

The effort to draw forth the intuition requires directed occult (but not aspirational) meditation. It requires a trained intelligence, so that the line of demarcation between intuitive realisation and the forms of the higher psychism may be clearly seen. It requires a constant disciplining of the mind, so that it can “hold itself steady in the light,” and the development of a cultured right interpretation, so that the intuitive knowledge achieved may then clothe itself in the right thoughtforms.

Nỗ lực để triệu gọi trực giác đòi hỏi phải có một phương pháp tham thiền huyền môn có định hướng (nhưng không mang tính chí nguyện). Nó đòi hỏi một trí thông tuệ được huấn luyện, để ranh giới giữa nhận thức trực giác và các hình thái tâm linh cao hơn của thông linh có thể được nhận biết rõ ràng. Nó đòi hỏi sự rèn luyện liên tục của trí tuệ, để nó có thể “giữ vững trong ánh sáng,” và sự phát triển của khả năng giải thích đúng đắn một cách có văn hóa, để tri thức trực giác đạt được có thể tự biểu lộ bằng những hình tư tưởng thích hợp.

It might also be stated here that the construction of the bridge whereby the consciousness can function with facility, both in the higher worlds and in the lower, is primarily brought about by a definitely directed life-tendency, which steadily sends the man in the direction of the world of spiritual realities, plus certain movements of planned and carefully timed and directed reorientation or focussing. In this last process the gain of the past months or years is closely assessed; the effect of that gain upon the daily life and in the bodily mechanism is as carefully studied; and the will-to-live as a spiritual being is brought into the consciousness with a definiteness and a determination that makes for immediate progress. [448]

Cũng có thể nói ở đây rằng việc xây dựng cây cầu mà qua đó tâm thức có thể hoạt động một cách dễ dàng, cả trong các cõi giới cao lẫn thấp, chủ yếu được thực hiện bởi một khuynh hướng sống được định hướng một cách rõ rệt, khuynh hướng này liên tục đưa con người đến gần hơn với thế giới của các thực tại tinh thần, cộng với một số chuyển động tái định hướng hoặc tập trung được lên kế hoạch và canh thời điểm một cách cẩn trọng. Trong tiến trình sau cùng này, các thành quả của những tháng hoặc năm trước đó được đánh giá kỹ lưỡng; tác động của thành quả ấy lên đời sống hằng ngày và trên cơ cấu thể xác được khảo sát cẩn thận; và ý chí sống như một hữu thể tinh thần được đưa vào tâm thức với một sự xác quyết và quyết tâm làm nên bước tiến ngay lập tức. [448]

This building of the antahkarana is most assuredly proceeding in the case of every earnest student. When the work is carried on intelligently and with full awareness of the desired purpose, and when the aspirant is not only aware of the process but alert and active in its fulfillment, then the work proceeds apace and the bridge is built.

Việc kiến tạo antahkarana chắc chắn đang được tiến hành trong trường hợp của mọi học viên chân thành. Khi công việc đó được thực hiện một cách trí tuệ và với đầy đủ ý thức về mục đích mong muốn, và khi người chí nguyện không chỉ nhận biết về tiến trình đó mà còn tỉnh thức và chủ động trong việc hoàn tất nó, thì công việc tiến triển nhanh chóng và cây cầu được kiến tạo.

It is wise to accept the fact that humanity is now in a position to begin the definite process of constructing the link or bridge between the various aspects of man's nature, so that instead of differentiation there will be unity, and instead of a fluid, moving attention, directed here and there into the field of material living and emotional relationships, we shall have learnt to control the mind and to have bridged the divisions, and so can direct at will the lower attention in any desired manner. Thus all aspects of man, spiritual and natural, can be focussed where needed.

Thật khôn ngoan khi chấp nhận thực tế rằng nhân loại hiện nay đang ở vào vị trí có thể bắt đầu tiến trình xác định việc kiến tạo liên kết hay cây cầu giữa các phương diện khác nhau trong bản chất con người, để thay vì phân rẽ, sẽ có sự hợp nhất; và thay vì sự chú tâm di động, trôi nổi, hướng vào cuộc sống vật chất và các mối quan hệ cảm xúc, chúng ta sẽ học được cách kiểm soát trí tuệ và đã xây dựng được các nhịp cầu vượt qua các chia cách, và nhờ đó có thể định hướng sự chú tâm thấp hơn theo bất kỳ cách nào mong muốn. Như thế, mọi phương diện của con người, cả tinh thần lẫn thiên nhiên, có thể được tập trung vào nơi cần thiết.

This bridging work has in part already been done. Humanity has as a whole already bridged the gap between the emotional-astral nature and the physical man. It should be noted here that the bridging has to be done in the consciousness aspect, and concerns the continuity of man's awareness of life in all its various aspects. The energy which is used in connecting, in consciousness, the physical man and the astral body is focussed in the solar plexus. Many today, speaking in symbolical terms, are carrying that bridge forward and linking the mind with the two aspects already linked. This thread of energy emanates from or is anchored in the head. Some people, fewer of course in number, are steadily linking the soul and the mind, which in its turn is linked with the other two aspects. The soul energy, when linked with the other threads has its anchor in the heart. A very few people, the initiates of the world, having effected all the lower syntheses, are now occupied with bringing about a still higher union, with that triple Reality which uses the soul as its medium of expression, just as the soul in its turn is endeavoring to use its shadow, the threefold lower man.

Công việc kiến tạo cầu nối này phần nào đã được thực hiện. Nhân loại nói chung đã kiến tạo được nhịp cầu nối giữa bản chất cảm dục–cảm xúc và con người vật lý. Cần lưu ý ở đây rằng việc kiến tạo cầu nối phải được thực hiện trong phương diện tâm thức, và liên quan đến sự liên tục của sự tỉnh thức của con người đối với sự sống trong mọi phương diện đa dạng của nó. Năng lượng được dùng để nối kết, trong tâm thức, con người thể chất và thể cảm dục được tập trung tại tùng thái dương. Ngày nay, theo cách nói tượng trưng, nhiều người đang tiếp tục kiến tạo cây cầu đó và kết nối trí tuệ với hai phương diện đã được liên kết. Sợi dây năng lượng này phát xuất từ hoặc được neo vào đầu. Một số người, tuy ít hơn, đang đều đặn kết nối linh hồn và trí tuệ, cái mà đến lượt nó lại kết nối với hai phương diện kia. Năng lượng của linh hồn, khi được liên kết với các sợi dây khác, thì điểm neo của nó là ở tim. Một số rất ít người, các điểm đạo đồ của thế gian, sau khi đã thực hiện xong mọi sự tổng hợp thấp, hiện đang bận tâm với việc kiến tạo một sự hợp nhất còn cao hơn nữa, với Thực Tại tam phân vốn sử dụng linh hồn làm trung gian biểu lộ, giống như cách mà linh hồn đang cố gắng sử dụng cái bóng của nó là con người tam phân thấp hơn.

These distinctions and unifications are matters of form, [449] symbols in speech, and are used to express events and happenings in the world of energies and forces, in connection with which man is definitely implicated. It is to these unifications that we refer when the subject of initiation is under consideration.

Những sự phân biệt và hợp nhất này là những vấn đề mang tính hình tướng, [449] là những biểu tượng trong ngôn từ, và được sử dụng để biểu đạt những biến cố và sự kiện trong thế giới của năng lượng và mãnh lực, mà trong đó con người chắc chắn có liên can. Chính đến những sự hợp nhất này mà chúng ta đề cập khi bàn đến đề tài điểm đạo.

It will be useful if we repeat here a few statements made in an earlier book:

Sẽ hữu ích nếu chúng ta lặp lại ở đây một vài phát biểu đã được đưa ra trong một cuốn sách trước:

Students should train themselves to distinguish between the sutratma and the antahkarana, between the life thread and the thread of consciousness. The one thread is the basis of immortality and the other the basis of continuity. Herein lies a fine distinction for the investigator. One thread (the sutratma) links and vivifies all forms into one functioning whole, and embodies in itself the will and the purpose of the expressing entity, be it man, God or a crystal. The other thread (the antahkarana) embodies the response of the consciousness within the form to a steadily expanding range of contacts within the environing whole. One is the direct stream of life, unbroken and immutable, which can be regarded symbolically as a direct stream of living energy flowing from the centre to the periphery, and from the source to the outer expression, or the phenomenal appearance. It is the life. It produces the individual process and the evolutionary unfoldment of all forms.

Các học viên nên tự rèn luyện để phân biệt giữa sutratma và antahkarana, giữa sợi dây sự sống và sợi dây tâm thức. Một sợi dây là nền tảng của sự bất tử và sợi kia là nền tảng của sự liên tục. Trong đó tồn tại một sự phân biệt tinh tế đối với người khảo cứu. Một sợi dây (sutratma) liên kết và sinh động hóa mọi hình tướng thành một tổng thể hoạt động, và bao hàm trong chính nó ý chí và mục đích của thực thể biểu lộ, dù là con người, Thượng Đế hay một tinh thể. Sợi dây kia (antahkarana) bao hàm sự đáp ứng của tâm thức trong hình tướng đối với một phạm vi tiếp xúc ngày càng mở rộng trong toàn thể bao quanh. Một sợi là dòng năng lượng sống trực tiếp, không đứt đoạn và bất biến, có thể được xem tượng trưng như là một dòng năng lượng sống chảy từ trung tâm đến ngoại vi, và từ nguồn đến sự biểu lộ bên ngoài, hay biểu hiện hiện tượng. Nó là sự sống. Nó tạo ra tiến trình cá biệt và sự khai mở tiến hóa của mọi hình tướng.

It is, therefore, the path of life, which reaches from the Monad to the personality, via the soul. This is the thread soul and it is one and indivisible. It conveys the energy of life and finds its final anchor in the centre of the human heart and at some central focal point in all forms of divine expression. Naught is and naught remains but life. The consciousness thread (antahkarana) is the result of the union of life and substance or of the basic energies which constitute the first differentiation in time and space; this produces something different, which only emerges as a third divine manifestation after the union of the basic dualities has taken place.

Do đó, đây là con đường của sự sống, kéo dài từ Chân thần đến phàm ngã, thông qua linh hồn. Đây là sợi dây linh hồn và nó là một và không thể phân chia. Nó truyền tải năng lượng sống và tìm được điểm neo cuối cùng nơi trung tâm trái tim con người và tại một điểm hội tụ trung tâm trong mọi hình tướng của biểu lộ thiêng liêng. Không có gì tồn tại và không có gì còn lại ngoài sự sống. Sợi dây tâm thức (antahkarana) là kết quả của sự hợp nhất giữa sự sống và vật chất, hay giữa các năng lượng căn bản vốn tạo nên sự phân cực đầu tiên trong thời gian và không gian; điều này tạo ra một cái gì đó khác biệt, chỉ xuất hiện như một biểu lộ thiêng liêng thứ ba sau khi sự hợp nhất của các cặp đối đã diễn ra.

The life thread, the silver cord or the sutratma is, as far as man is concerned, dual in nature. The life thread [450] proper, which is one of the two threads which constitute the sutratma, is anchored in the heart, whilst the other thread, which embodies the principle of consciousness, is anchored in the head. This you already know, but this I feel the need to constantly reiterate. In the work of the evolutionary cycle, however, man has to repeat what God has already done. He must himself create, both in the world of consciousness and of life. Like a spider, man spins connecting threads, and thus bridges and makes contact with his environment, thereby gaining experience and sustenance. The spider symbol is often used in the ancient occult books and the scriptures of India in connection with this activity of the human being. These threads, which man creates, are triple in number, and with the two basic threads which have been created by the soul, constitute the five types of energy which make man a conscious human being.

Sợi dây sự sống, sợi dây bạc hay sutratma, xét trong mối liên hệ với con người, có bản chất nhị phân. Sợi dây sự sống [450] thực sự, là một trong hai sợi dây hợp thành sutratma, được neo vào tim, trong khi sợi còn lại, biểu hiện nguyên khí tâm thức, được neo vào đầu. Điều này các bạn đã biết, nhưng tôi cảm thấy cần phải nhấn mạnh thường xuyên. Tuy nhiên, trong công việc của chu kỳ tiến hóa, con người phải lặp lại những gì Thượng Đế đã làm. Y phải tự mình sáng tạo, cả trong thế giới tâm thức lẫn thế giới sự sống. Giống như con nhện, con người kéo các sợi dây nối kết, và nhờ đó bắc cầu và tạo tiếp xúc với môi trường xung quanh, qua đó thu thập kinh nghiệm và nuôi dưỡng bản thân. Biểu tượng con nhện thường được dùng trong các sách huyền môn cổ và kinh sách Ấn Độ liên quan đến hoạt động này của con người. Những sợi dây mà con người tạo ra là tam phân, và cùng với hai sợi dây căn bản được kiến tạo bởi linh hồn, tạo thành năm loại năng lượng khiến con người trở thành một hữu thể nhân loại có tâm thức.

The triple threads created by man are anchored in the solar plexus, the head and the heart. When the astral body and the mind nature are beginning to function as a unit, and the soul also is consciously connected (do not forget that it is always unconsciously linked), an extension of this five-fold thread—the basic two and the human three—is carried to the throat centre, and when that occurs man can become a conscious creator on the physical plane. From these major lines of energy lesser lines can radiate at will. It is upon this knowledge that all future intelligent psychic unfoldment must be based.

Ba sợi dây tam phân được con người tạo ra được neo vào tùng thái dương, đầu và tim. Khi thể cảm dục và bản chất trí tuệ bắt đầu hoạt động như một đơn vị, và linh hồn cũng được kết nối một cách có ý thức (đừng quên rằng nó luôn luôn được kết nối một cách vô thức), thì một sự mở rộng của sợi dây năm luồng—hai căn bản và ba do con người tạo ra—được đưa đến trung tâm cổ họng, và khi điều đó xảy ra, con người có thể trở thành một nhà sáng tạo có ý thức trên cõi trần. Từ những dòng năng lượng chính này, các dòng năng lượng thứ yếu có thể phát xạ tùy ý. Chính trên nền tảng kiến thức này mà tất cả sự khai mở tâm linh thông tuệ trong tương lai phải được xây dựng.

In the above paragraph and its implications you have a brief and inadequate statement as to the Science of the Antahkarana. I have endeavoured to express this in terms, symbolic if you will, which will convey a general idea to your minds. We can learn much through the use of the pictorial and visual imagination. This bridging must take place:

Trong đoạn văn trên và các hàm ý của nó, các bạn có một phát biểu vắn tắt và chưa đầy đủ về Khoa học Antahkarana. Tôi đã cố gắng trình bày điều này bằng các thuật ngữ—nếu bạn muốn, mang tính tượng trưng—nhằm truyền tải một ý niệm tổng quát đến trí tuệ của các bạn. Chúng ta có thể học được rất nhiều thông qua việc sử dụng trí tưởng tượng hình ảnh và thị kiến. Việc kiến tạo cầu nối này phải diễn ra như sau:

1. From the physical to the vital or etheric body. This is really an extension of the life thread between the heart and the spleen.

1. Từ thể xác đến thể sinh lực hay thể dĩ thái. Đây thực sự là một sự mở rộng của sợi dây sự sống giữa tim và tỳ tạng.

2. From the physical and the vital, regarding them as a [451] unity, to the astral or emotional vehicle. This thread emanates from, or is anchored in, the solar plexus, and is carried upwards, by means of the aspiration, till it anchors itself in the love petals of the egoic Lotus.

2. Từ thể xác và thể sinh lực, xét như một [451] đơn vị, đến thể cảm dục hay thể cảm xúc. Sợi dây này phát ra từ, hoặc được neo vào, tùng thái dương, và được nâng lên nhờ khát vọng, cho đến khi nó tự neo vào các cánh hoa bác ái của Đài sen linh hồn.

3. From the physical and astral vehicles to the mental body. One terminus is anchored in the head, and the other in the knowledge petals of the egoic Lotus, being carried forward by an act of the will.

3. Từ các thể xác và thể cảm dục đến thể trí. Một đầu được neo vào đầu, và đầu kia vào các cánh hoa tri thức của Đài sen linh hồn, được chuyển đi nhờ một hành động của ý chí.

Webinar 27

Advanced humanity is in process of linking the three lower aspects, which we call the personality, with the soul itself, through meditation, discipline, service and directed attention. When this has been accomplished, a definite relation is established between the sacrifice or will petals of the egoic Lotus and the head and heart centres, thus producing a synthesis between consciousness, the soul and the life principle. The process of establishing this inter-linking and inter-relation, and the strengthening of the bridge thus constructed, goes on until the Third Initiation. The lines of force are then so inter-related that the soul and its mechanism of expression are a unity. A higher blending and fusing can then go on.

Nhân loại tiến hóa hiện đang trong tiến trình liên kết ba phương diện thấp—mà chúng ta gọi là phàm ngã—với chính linh hồn, thông qua tham thiền, kỷ luật, phụng sự và sự chú tâm có định hướng. Khi điều này đã được thực hiện, một mối quan hệ xác định được thiết lập giữa các cánh hoa hy sinh hay ý chí của Đài sen linh hồn với các trung tâm đầu và tim, nhờ đó tạo ra sự tổng hợp giữa tâm thức, linh hồn và nguyên khí sự sống. Tiến trình thiết lập sự liên kết và tương quan này, cùng với việc củng cố cây cầu được kiến tạo như thế, tiếp tục cho đến lần điểm đạo thứ ba. Các đường năng lượng khi ấy được liên kết chặt chẽ đến mức linh hồn và cơ chế biểu lộ của nó trở thành một hợp nhất. Khi đó, một sự dung hợp và hòa trộn cao hơn có thể tiếp tục diễn ra.

I can perhaps indicate the nature of this process in the following manner: I have stated here and elsewhere that the soul anchors itself in the body at two points:

Tôi có thể phần nào chỉ ra bản chất của tiến trình này theo cách sau: tôi đã nói ở đây và ở những nơi khác rằng linh hồn tự neo vào thể xác tại hai điểm:

1. There is a thread of energy, which we call the life or spirit aspect, anchored in the heart. It uses the blood stream, as is well known, as its distributing agency, and through the medium of the blood, life energy is carried to every part of the mechanism. This life energy carries the re-generating power and coordinating energy to all the physical organisms and keeps the body “whole.”

1. Có một sợi dây năng lượng, mà chúng ta gọi là phương diện sự sống hay tinh thần, được neo vào tim. Nó sử dụng dòng máu, như đã được biết, làm cơ quan phân phối của mình, và thông qua trung gian dòng máu, năng lượng sống được chuyên chở đến mọi phần của cơ cấu thể chất. Năng lượng sống này mang lại quyền năng tái tạo và năng lượng phối hợp đến tất cả các cơ quan vật chất và giữ cho cơ thể được “toàn vẹn.”

2. There is a thread of energy, which we call the consciousness aspect or the faculty of soul knowledge, anchored in the centre of the head. It controls that response mechanism which we call the brain, and through its medium it directs activity and induces awareness throughout the body by means of the nervous system. [452]

2. Có một sợi dây năng lượng, mà chúng ta gọi là phương diện tâm thức hay năng lực tri thức linh hồn, được neo vào trung tâm đầu. Nó kiểm soát cơ chế phản ứng mà chúng ta gọi là bộ não, và thông qua trung gian của nó, nó điều khiển hoạt động và khơi dậy nhận thức khắp toàn thân nhờ vào hệ thần kinh. [452]

These two energy factors, which are recognised by the human being as knowledge and life, or as intelligence and living energy, are the two poles of his being. The task ahead of him now is to develop consciously the middle or balancing aspect, which is love or group relationship. (See Education in the New Age, pages 26-27, 32-33, 92.)

Hai yếu tố năng lượng này, được con người nhận biết như là tri thức và sự sống, hay như là trí thông tuệ và năng lượng sống, là hai cực trong bản thể của y. Nhiệm vụ sắp tới đối với y lúc này là phát triển một cách có ý thức phương diện trung gian hay cân bằng, tức là tình thương hay mối liên hệ nhóm. (Xem Giáo Dục Trong Kỷ Nguyên Mới, trang 26–27, 32–33, 92.)

The Nature of the Antahkarana