One of the difficulties connected with this study of the antahkarana is the fact that hitherto the work done upon the antahkarana has been entirely unconscious. Therefore, the concept in men's minds relating to this form of creative work and this construction of the bridge meets at first with little response from the mind nature; also, in order to express these ideas, we have practically to create a new terminology, for there are no words suitable to define our meaning. Just as modern sciences have evolved a complete new terminology of their own during the past forty years, so this science must develop its own peculiar vocabulary. In the meantime, we must do the best we can with the words at our disposal.
Một trong những khó khăn liên quan đến việc nghiên cứu antahkarana là thực tế rằng cho đến nay công việc được thực hiện trên antahkarana hoàn toàn diễn ra một cách vô thức. Do đó, khái niệm trong tâm trí con người liên quan đến hình thức công việc sáng tạo này và việc kiến tạo cây cầu này lúc đầu chỉ nhận được rất ít sự phản hồi từ bản chất trí tuệ; hơn nữa, để diễn đạt những ý tưởng này, chúng ta hầu như phải tạo ra một thuật ngữ mới, vì không có từ ngữ nào thích hợp để định nghĩa điều mà chúng ta muốn truyền đạt. Cũng giống như các ngành khoa học hiện đại đã phát triển một hệ thuật ngữ hoàn toàn mới của riêng chúng trong vòng bốn mươi năm qua, thì khoa học này cũng phải phát triển một từ vựng đặc thù của chính nó. Trong khi chờ đợi, chúng ta phải cố gắng hết sức với những từ hiện có trong tầm tay.
The second point I would make is to ask those who are studying along these lines to realise that in time they will arrive at understanding, but that at present all that they can do is to depend upon the unalterable tendency of the subconscious nature to penetrate to the surface of consciousness as a reflex activity in the establishing of continuity of consciousness. This reflex activity of the lower nature corresponds to the development of continuity between the superconscious and the consciousness which develops upon the Path of Discipleship. It is all a part—in three stages—of the integrating process, proving to the disciple that all of life is (in terms of consciousness) one of revelation. Ponder on this.
Điểm thứ hai mà tôi muốn nêu ra là yêu cầu những ai đang nghiên cứu theo hướng này cần nhận ra rằng theo thời gian họ sẽ đạt đến sự hiểu biết, nhưng hiện tại tất cả những gì họ có thể làm là dựa vào khuynh hướng bất biến của bản chất tiềm thức—vốn luôn tìm cách thẩm thấu lên bề mặt của ý thức như một hoạt động phản chiếu—trong tiến trình thiết lập sự liên tục của tâm thức. Hoạt động phản chiếu của bản chất thấp này tương ứng với sự phát triển của sự liên tục giữa siêu thức và tâm thức, điều mà đệ tử phát triển trên Con Đường Đệ Tử. Tất cả điều này là một phần—với ba giai đoạn—của tiến trình hợp nhất, chứng minh cho đệ tử rằng toàn thể sự sống là (xét theo thuật ngữ tâm thức) một chuỗi mặc khải. Hãy suy ngẫm điều này.
Another of the difficulties in considering any of these esoteric sciences that deal with what has been called the “conscious unfoldment of the divine recognitions” (which is true awareness) is the ancient habit of humanity to materialise [453] all knowledge. Everything man learns is applied—as the centuries pass—to the world of natural phenomena and of natural process, and not to the recognition of the Self, the Knower, the Beholder, the Observer. When, therefore, man enters upon the Path, he has to educate himself in the process of using knowledge in reference to the conscious self-aware Identity, or to the self-contained, self-initiating Individual. When he can do this, he is transmuting knowledge into wisdom.
Một khó khăn khác khi xem xét bất kỳ khoa học nội môn nào có liên quan đến cái được gọi là “sự khai mở có ý thức của các nhận thức thiêng liêng” (chính là sự tỉnh thức chân thực) là tập quán cổ xưa của nhân loại trong việc vật chất hóa [453] mọi tri thức. Tất cả những gì con người học được qua các thế kỷ đều được ứng dụng vào thế giới hiện tượng tự nhiên và các tiến trình tự nhiên, chứ không phải vào sự nhận biết về Chân ngã, về Đấng Biết, Người Quan sát, Người Chứng kiến. Vì vậy, khi con người bước vào Con Đường, y phải tự giáo dục mình trong tiến trình sử dụng tri thức liên quan đến Bản Ngã có ý thức, tự nhận thức—tức cá thể tự tồn, tự phát khởi. Khi y có thể làm điều này, y đang chuyển hóa tri thức thành minh triết.
Previously I spoke of “knowledge-wisdom” which are words synonymous with “force-energy.” Knowledge used is force expressing itself; wisdom used is energy in action. In these words you have the expression of a great spiritual law, one which you would do well to consider carefully. Knowledge-force concerns the personality and the world of material values; wisdom-energy expresses itself through the consciousness thread and the creative thread, as they constitute in themselves a woven dual strand. They are (for the disciple) a fusion of the past (consciousness thread) and the present (the creative thread), and together they form what is usually called, upon the Path of Return, the Antahkarana. This is not entirely accurate. The wisdom-energy thread is the sutratma or life thread, for the sutratma (when blended with the consciousness thread) is again also called the antahkarana. Perhaps it might clarify the issue somewhat if I pointed out that though these threads eternally exist in time and space, they appear distinct and separate until a man is a probationary disciple, and therefore becoming conscious of himself and not only of the not-self. There is the life thread or sutratma and the consciousness thread—the one anchored in the heart and the other in the head. Throughout all the past centuries, the creative thread, in one or other of its three aspects, has been slowly woven by the man; of this fact in nature his creative activity during the past two hundred years is an indication, so that today the creative thread is a unity, generally speaking, as regards humanity as a whole and specifically of the individual disciple, and forms a strong closely woven thread upon the mental plane. [454]
Trước đây tôi đã đề cập đến “tri thức–minh triết” là những từ đồng nghĩa với “mãnh lực–năng lượng.” Tri thức được sử dụng là mãnh lực đang biểu lộ; minh triết được sử dụng là năng lượng trong hành động. Trong những từ ngữ này, bạn có sự diễn đạt của một định luật tâm linh vĩ đại, mà các bạn nên cân nhắc cẩn thận. Tri thức–mãnh lực liên quan đến phàm ngã và thế giới các giá trị vật chất; minh triết–năng lượng biểu lộ qua sợi dây tâm thức và sợi dây sáng tạo, vì chúng tự thân hợp thành một sợi dây kép được dệt chặt lại. Chúng là (đối với đệ tử) sự dung hợp của quá khứ (sợi dây tâm thức) và hiện tại (sợi dây sáng tạo), và hợp lại, chúng hình thành cái thường được gọi trên Con Đường Quay Về là Antahkarana. Điều này không hoàn toàn chính xác. Sợi dây năng lượng–minh triết là sutratma hay sợi dây sự sống, vì sutratma (khi được dung hợp với sợi dây tâm thức) lại cũng được gọi là antahkarana. Có lẽ sẽ làm rõ vấn đề hơn nếu tôi chỉ ra rằng mặc dù những sợi dây này tồn tại vĩnh viễn trong thời gian và không gian, nhưng chúng xuất hiện một cách riêng biệt và tách biệt cho đến khi con người là một đệ tử dự bị, và do đó bắt đầu trở nên ý thức về chính mình chứ không chỉ về cái phi-ngã. Có sợi dây sự sống hay sutratma và sợi dây tâm thức—một được neo vào tim và cái kia được neo vào đầu. Suốt bao thế kỷ qua, sợi dây sáng tạo, dưới một trong ba phương diện của nó, đã được con người chậm rãi dệt nên; hoạt động sáng tạo của y trong suốt hai trăm năm qua là một chỉ dấu cho thực tế này trong tự nhiên, để ngày nay sợi dây sáng tạo đã trở thành một thể thống nhất, nói chung đối với toàn thể nhân loại và một cách cụ thể với từng đệ tử cá nhân, và hình thành nên một sợi dây mạnh mẽ, được dệt chặt trên cõi trí. [454]
These three major threads which are in reality six, if the creative thread is differentiated into its component parts, form the antahkarana. They embody past and present experience and are so recognised by the aspirant. It is only upon the Path itself that the phrase “building the antahkarana” becomes accurate and appropriate. It is in this connection that confusion is apt to arise in the mind of the student. He forgets that it is a purely arbitrary distinction of the lower analysing mind to call this stream of energy the sutratma, and another stream of energy the consciousness thread and a third stream of energy the creative thread. They are essentially, all three of them together, the antahkarana in process of forming. It is equally arbitrary to call the bridge which the disciple builds from the lower mental plane—via the egoic, central vortex of force—the antahkarana. But for purposes of comprehending study and practical experience, we will define the antahkarana as the extension of the threefold thread (hitherto woven unconsciously, through life experimentation and the response of consciousness to environment) through the process of projecting consciously the triple blended energies of the personality as they are impulsed by the soul, across a gap in consciousness which has hitherto existed. Two events can then occur:
Ba sợi dây chính này, thực chất là sáu nếu sợi dây sáng tạo được phân biệt thành các phần cấu thành của nó, hợp thành antahkarana. Chúng hàm chứa kinh nghiệm quá khứ và hiện tại và được người chí nguyện nhận biết như thế. Chỉ khi bước vào chính Con Đường thì cụm từ “xây dựng antahkarana” mới trở nên chính xác và thích hợp. Chính ở điểm này mà sự nhầm lẫn dễ nảy sinh trong tâm trí người học. Y quên rằng đây chỉ là sự phân biệt tùy tiện của trí tuệ phân tích thấp, khi gọi dòng năng lượng này là sutratma, dòng khác là sợi dây tâm thức và dòng thứ ba là sợi dây sáng tạo. Về bản chất, cả ba sợi dây đó hợp lại chính là antahkarana đang trong tiến trình hình thành. Cũng mang tính tùy tiện không kém là việc gọi cây cầu mà đệ tử kiến tạo từ cõi hạ trí—thông qua trung tâm lực xoáy của linh hồn—là antahkarana. Nhưng để phục vụ cho việc nghiên cứu có thể lĩnh hội được và trải nghiệm thực hành, chúng ta sẽ định nghĩa antahkarana là sự mở rộng của sợi dây tam phân (cho đến nay đã được dệt nên một cách vô thức thông qua thử nghiệm trong đời sống và sự đáp ứng của tâm thức với môi trường) thông qua tiến trình phóng chiếu một cách có ý thức các năng lượng được hòa hợp tam phân của phàm ngã, khi chúng được linh hồn thúc đẩy, vượt qua một khoảng trống trong tâm thức vốn đã hiện hữu từ trước. Hai sự kiện có thể xảy ra sau đó:
1. The magnetic response of the Spiritual Triad (atma-buddhi-manas), which is the expression of the Monad, is evoked. A triple stream of spiritual energy is slowly projected towards the egoic lotus and towards the lower man.
1. Phản ứng từ tính của Tam nguyên tinh thần (atma–buddhi–manas), vốn là biểu lộ của Chân thần, được kích hoạt. Một dòng năng lượng tinh thần tam phân được từ từ phóng chiếu về phía Đài sen linh hồn và về phía con người thấp.
2. The personality then begins to bridge the gap which exists on its side between the manasic permanent atom and the mental unit, between the higher abstract mind and the lower mind.
2. Khi đó, phàm ngã bắt đầu bắc cầu vượt qua khoảng cách tồn tại ở phía mình, giữa nguyên tử trường tồn manas và đơn vị trí tuệ, giữa thượng trí trừu tượng và hạ trí cụ thể.
Technically, and upon the Path of Discipleship, this bridge between the personality in its three aspects and the monad and its three aspects is called the antahkarana.
Về mặt kỹ thuật, và trên Con Đường Đệ Tử, cây cầu nối giữa phàm ngã trong ba phương diện của nó và chân thần trong ba phương diện của Ngài được gọi là antahkarana.
This antahkarana is the product of the united effort of soul and personality, working together consciously to produce [455] this bridge. When it is completed, there is a perfect rapport between the monad and its physical plane expression, the initiate in the outer world. The third initiation marks the consummation of the process, and there is then a straight line of relationship between the monad and the lower personal self. The fourth initiation marks the complete realisation of this relation by the initiate. It enables him to say: “I and my Father are one.” It is for this reason that the crucifixion, or the Great Renunciation, takes place. Forget not that it is the soul that is crucified. It is Christ Who “dies.” It is not the man; it is not Jesus. The causal body disappears. The man is monadically conscious. The soul-body no longer serves any useful purpose; it is no more needed. Nothing is left but the sutratma, qualified by consciousness—a consciousness which still preserves identity whilst merged in the whole. Another qualification is creativity; thus consciousness can be focussed at will on the physical plane in an outer body or form. This body is will-created by the Master.
Antahkarana này là kết quả của nỗ lực hợp nhất giữa linh hồn và phàm ngã, cùng phối hợp một cách có ý thức để kiến tạo [455] cây cầu này. Khi nó được hoàn tất, có một mối tương quan hoàn hảo giữa chân thần và biểu hiện trên cõi trần của Ngài, tức là điểm đạo đồ nơi thế gian. Lần điểm đạo thứ ba đánh dấu sự viên mãn của tiến trình này, và khi đó có một đường thẳng nối kết trực tiếp giữa chân thần và cái ngã thấp hơn. Lần điểm đạo thứ tư đánh dấu sự nhận thức trọn vẹn về mối liên hệ này bởi điểm đạo đồ. Nó cho phép y nói rằng: “Ta và Cha là một.” Chính vì lý do này mà lễ đóng đinh, hay Đại Hy Sinh, diễn ra. Đừng quên rằng chính linh hồn bị đóng đinh. Chính là Chúa Christ “chết đi.” Không phải là con người; không phải là Jesus. Thể nhân quả tan biến. Con người trở nên có tâm thức chân thần. Thể linh hồn không còn phục vụ bất kỳ mục đích hữu dụng nào; nó không còn cần thiết nữa. Chỉ còn lại sutratma, được đặc tính hóa bởi tâm thức—một tâm thức vẫn duy trì bản ngã cá biệt trong khi hòa nhập vào toàn thể. Một đặc tính nữa là tính sáng tạo; nhờ đó tâm thức có thể được tập trung tùy ý trên cõi trần vào trong một thể hay hình tướng bên ngoài. Hình thể này được tạo ra bằng ý chí bởi một vị Chân sư.
Webinar 28
But in this task of unfoldment, of evolution and of development, the mind of man has to understand, analyse, formulate and distinguish; therefore the temporary differentiations are of profound and useful importance. We might therefore conclude that the task of the disciple is:
Nhưng trong công việc khai mở này, của tiến hóa và phát triển, trí tuệ con người phải thấu hiểu, phân tích, hình thành và phân biệt; do đó các sự phân biệt tạm thời có tầm quan trọng sâu sắc và hữu ích. Vì vậy, chúng ta có thể kết luận rằng nhiệm vụ của đệ tử là:
1. To become conscious of the following situations (if I may use such a word):
1. Trở nên có ý thức về các tình huống sau (nếu tôi có thể dùng từ như vậy):
a. Process in combination with force.
a. Tiến trình kết hợp với mãnh lực.
b. Status upon the path, or recognition of the available qualifying agencies, or energies.
b. Tình trạng trên đạo lộ, hoặc sự nhận thức các tác nhân hay năng lượng đủ tư cách đang hiện hữu.
c. Fusion or integration of the consciousness thread with the creative thread and with the life thread.
c. Sự dung hợp hoặc hợp nhất của sợi dây tâm thức với sợi dây sáng tạo và với sợi dây sự sống.
d. Creative activity. This is essential, for it is not only through the development of creative ability in the three worlds that the necessary focal point is created, but this also leads to the building of the antahkarana, its “creation.”
d. Hoạt động sáng tạo. Điều này là thiết yếu, vì không chỉ nhờ phát triển năng lực sáng tạo trong ba cõi mà điểm tập trung cần thiết được hình thành, mà điều này còn dẫn đến việc kiến tạo antahkarana, tức là việc “sáng tạo” nó.
2. To construct the antahkarana between the Spiritual Triad and the personality—with the cooperation of the [456] soul. These three points of divine energy might be symbolised thus:
2. Kiến tạo antahkarana giữa Tam nguyên tinh thần và phàm ngã—với sự hợp tác của [456] linh hồn. Ba điểm năng lượng thiêng liêng này có thể được biểu tượng như sau:
In this simple symbol you have a picture of the disciple's task upon the Path.
Trong biểu tượng đơn giản này, các bạn có một hình ảnh về nhiệm vụ của đệ tử trên Đạo Lộ.
Another diagram may serve to clarify:
Một biểu đồ khác có thể giúp làm rõ hơn:
See Diagram
(Xem Biểu Đồ)
In these you have the “nine of initiation” or the transmuting of nine forces into divine energies: [457]
Trong các biểu đồ này, các bạn có “bộ chín của điểm đạo” hay sự chuyển hóa chín mãnh lực thành các năng lượng thiêng liêng: [457]
The Bridge between the three Aspects of the Mind
There is one point which I would like to clarify if I can, for—on this point—there is much confusion in the minds of aspirants, and this is necessarily so.
Có một điểm mà tôi muốn làm rõ nếu có thể, vì — về điểm này — có rất nhiều sự lẫn lộn trong tư duy của các người chí nguyện, và điều này là điều tất yếu.
Let us for a moment, therefore, consider just where the aspirant stands when he starts consciously to build the antahkarana. Behind him lie a long series of existences, the experience of which has brought him to the point where he is able consciously to assess his condition and arrive at some understanding of his point in evolution. He can consequently undertake—in cooperation with his steadily awakening and focussing consciousness—to take the next step, which is that of accepted discipleship. In the present, he is oriented towards the soul; he, through meditation and the mystical experience, does have occasional contact with the soul, and this happens with increasing frequency; he is becoming somewhat creative upon the physical plane, both in his thinking and in his actions; at times, even if rarely, he has a genuine intuitive experience. This intuitive experience serves to anchor the “first tenuous thread spun by the Weaver in fohatic enterprise,” as the Old Commentary puts it. It is the first cable, projected from the Spiritual Triad in response to the emanation of the personality, and this is the result of the growing magnetic potency of both these aspects of the Monad in manifestation.
Vì vậy, chúng ta hãy tạm thời xem xét vị trí của người chí nguyện khi y bắt đầu một cách có ý thức xây dựng antahkarana. Phía sau y là một chuỗi dài những kiếp sống, mà kinh nghiệm trong đó đã đưa y đến điểm mà y có thể đánh giá một cách có ý thức tình trạng của mình và đạt đến phần nào sự hiểu biết về vị trí của y trong tiến trình tiến hoá. Do đó, y có thể đảm nhận — trong sự hợp tác với tâm thức đang dần thức tỉnh và tập trung — bước kế tiếp, đó là địa vị đệ tử chính thức. Ở hiện tại, y đang định hướng về phía linh hồn; thông qua tham thiền và kinh nghiệm thần bí, y đã có được những lần tiếp xúc với linh hồn, và điều này xảy ra ngày càng thường xuyên hơn; y đang trở nên phần nào sáng tạo trên cõi trần, cả trong tư duy lẫn hành động; đôi khi, dù hiếm hoi, y có được một kinh nghiệm trực giác thực sự. Kinh nghiệm trực giác này đóng vai trò như cái mỏ neo cho “sợi dây đầu tiên mong manh do Người Thợ Dệt quay nên trong công cuộc phóng xuất fohat,” như Cổ Luận đã diễn tả. Đó là sợi dây cáp đầu tiên, được phóng chiếu từ Tam nguyên tinh thần để đáp ứng với sự phát xạ từ phàm ngã, và điều này là kết quả của sức mạnh từ tính đang tăng dần của cả hai khía cạnh này của Chân Thần khi biểu lộ.
It will be obvious to you that when the personality is becoming adequately magnetised from the spiritual angle, its note or sound will go forth and will evoke response from the soul on its own plane. Later the personality note and the soul note in unison will produce a definitely attractive effect upon the Spiritual Triad. This Spiritual Triad in its turn has been exerting an increasingly magnetic effect upon the personality. This begins at the time of the first conscious soul contact. The response of the Triad is transmitted necessarily, in this early stage, via the sutratma and produces inevitably the awakening of the head centre. That is why the heart doctrine begins to supersede the doctrine of the eye. [458] The heart doctrine governs occult development; the eye doctrine—which is the doctrine of the eye of vision—governs the mystical experience; the heart doctrine is based upon the universal nature of the soul, conditioned by the Monad, the One, and involves reality; the eye doctrine is based on the dual relation between soul and personality. It involves the spiritual relationships, but the attitude of dualism or of the recognition of the polar opposites is implicit in it. These are important points to remember as this new science becomes more widely known.
Các bạn sẽ thấy rõ rằng khi phàm ngã đang trở nên được từ hoá đủ từ góc độ tinh thần, âm thanh hay linh từ của nó sẽ phát ra và sẽ khơi dậy sự đáp ứng từ linh hồn trên cõi của nó. Về sau, linh từ của phàm ngã và linh từ của linh hồn, khi hòa điệu, sẽ tạo ra một ảnh hưởng hấp dẫn rõ rệt đối với Tam nguyên tinh thần. Tam nguyên tinh thần này, đến lượt nó, đã và đang phát ra một ảnh hưởng từ tính ngày càng gia tăng lên phàm ngã. Điều này bắt đầu vào thời điểm có sự tiếp xúc có ý thức đầu tiên với linh hồn. Sự đáp ứng của Tam nguyên tinh thần tất yếu được truyền đi, ở giai đoạn sớm này, thông qua sutratma và tất yếu dẫn đến sự thức tỉnh của luân xa đầu. Đó là lý do vì sao tâm pháp bắt đầu thay thế nhãn pháp. Tâm pháp chi phối sự phát triển huyền môn; nhãn pháp — tức là giáo lý của con mắt thị kiến — chi phối kinh nghiệm thần bí; tâm pháp dựa trên bản chất phổ quát của linh hồn, được điều kiện bởi Chân Thần, Đấng Duy Nhất, và bao hàm thực tại; nhãn pháp dựa trên mối quan hệ nhị nguyên giữa linh hồn và phàm ngã. Nó bao hàm các mối quan hệ tinh thần, nhưng thái độ nhị nguyên hay sự công nhận hai cực đối lập là điều hàm ý trong đó. Đây là những điểm quan trọng cần ghi nhớ khi khoa học mới này ngày càng được biết đến rộng rãi.
The aspirant eventually arrives at the point where the three threads—of life, of consciousness and of creativity—are being focussed, recognised as energy streams, and utilised deliberately by the aspiring disciple upon the lower mental plane. There—esoterically speaking—”he takes his stand, and looking upward sees a promised land of beauty, love and future vision.”
Người chí nguyện cuối cùng đạt đến điểm mà ba sợi dây — của sự sống, của tâm thức và của sáng tạo — đang được tập trung lại, được công nhận như những dòng năng lượng, và được sử dụng một cách có chủ ý bởi người đệ tử chí nguyện trên cõi hạ trí. Tại đó — theo nghĩa nội môn — “y chọn vị trí đứng của mình, và ngước nhìn lên, thấy một miền đất hứa của vẻ đẹp, tình thương và thị kiến tương lai.”
But there exists a gap in consciousness, though not in fact. The sutratmic strand of energy bridges the gap, and tenuously relates monad, soul and personality. But the consciousness thread extends only from soul to personality—from the involutionary sense. From the evolutionary angle (using a paradoxical phrase) there is only a very little conscious awareness existing between the soul and the personality, from the standpoint of the personality upon the evolutionary arc of the Path of Return. A man's whole effort is to become aware of the soul and to transmute his consciousness into that of the soul, whilst still preserving the consciousness of the personality. As the fusion of soul and personality is strengthened, the creative thread becomes increasingly active, and thus the three threads steadily fuse, blend, become dominant, and the aspirant is then ready to bridge the gap and unite the Spiritual Triad and the personality, through the medium of the soul. This involves a direct effort at divine creative work. The clue to understanding lies perhaps in the thought that hitherto the relation between soul and personality has been steadily carried forward, primarily by the soul, as it stimulated the personality [459] to effort, vision and expansion. Now—at this stage—the integrated, rapidly developing personality becomes consciously active, and (in unison with the soul) starts building the antahkarana—a fusion of the three threads and a projection of them into the “higher wider reaches” of the mental plane, until the abstract mind and the lower concrete mind are related by the triple cable.
Tuy nhiên vẫn tồn tại một khoảng trống trong tâm thức, dù trên thực tế thì không. Sợi năng lượng sutratma bắc cầu qua khoảng trống đó, và kết nối một cách mong manh giữa chân thần, linh hồn và phàm ngã. Nhưng sợi dây tâm thức chỉ kéo dài từ linh hồn đến phàm ngã — từ góc độ của tiến trình giáng hạ. Từ góc độ tiến hóa (dùng một cụm từ có vẻ nghịch lý) chỉ có một chút ý thức hiện hữu giữa linh hồn và phàm ngã, từ quan điểm của phàm ngã đang trên cung tiến hóa trong Con Đường Trở Về. Toàn bộ nỗ lực của con người là để trở nên ý thức về linh hồn và chuyển hóa tâm thức của mình thành tâm thức của linh hồn, đồng thời vẫn bảo tồn tâm thức của phàm ngã. Khi sự dung hợp giữa linh hồn và phàm ngã được củng cố, sợi dây sáng tạo trở nên ngày càng linh hoạt, và do đó ba sợi dây dần dần được hợp nhất, hòa quyện, trở nên chủ động, và người chí nguyện khi đó đã sẵn sàng để bắc cầu và hợp nhất Tam nguyên tinh thần với phàm ngã, thông qua trung gian của linh hồn. Điều này đòi hỏi một nỗ lực trực tiếp trong công cuộc sáng tạo thiêng liêng. Manh mối cho sự hiểu biết có lẽ nằm ở chỗ là cho đến nay, mối quan hệ giữa linh hồn và phàm ngã đã được duy trì một cách đều đặn, chủ yếu là bởi linh hồn, khi linh hồn kích thích phàm ngã nỗ lực, thị kiến và mở rộng. Giờ đây — tại giai đoạn này — phàm ngã đã được tích hợp, đang phát triển nhanh chóng trở nên chủ động một cách có ý thức, và (hòa hợp với linh hồn) bắt đầu xây dựng antahkarana — một sự dung hợp của ba sợi dây và một sự phóng chiếu của chúng vào các “tầm mức cao rộng hơn” của cõi trí, cho đến khi trí trừu tượng và trí cụ thể thấp được kết nối bởi sợi dây ba sợi.
It is to this process that our studies are related; earlier experience in relation to the three threads is logically regarded as having occurred normally. The man now stands, holding the mind steady in the light; he has some knowledge of meditation, much devotion, and also recognition of the next step. Knowledge of process gradually becomes clearer; a growing soul contact is established; occasional flashes of intuitive perception from the Triad occur. All these recognitions are not present in the case of every disciple; some are present; some are not. I am seeking to give a general picture. Individual application and future realisation have to be worked out by the disciple in the crucible of experience.
Chính với tiến trình này mà những nghiên cứu của chúng ta có liên hệ; những kinh nghiệm trước đó liên quan đến ba sợi dây một cách hợp lý được xem là đã xảy ra một cách tự nhiên. Con người giờ đây đứng vững, giữ cho trí tuệ được an định trong ánh sáng; y có một số hiểu biết về tham thiền, có nhiều lòng tận hiến, và cũng nhận biết được bước kế tiếp. Sự hiểu biết về tiến trình dần dần trở nên rõ ràng hơn; một mối liên hệ với linh hồn ngày càng được thiết lập; những tia chớp nhận thức trực giác từ Tam nguyên thi thoảng xuất hiện. Tất cả những sự nhận biết này không hiện diện trong trường hợp của mọi đệ tử; có một số hiện diện; một số thì không. Tôi đang cố gắng đưa ra một bức tranh tổng quát. Việc áp dụng riêng và sự chứng ngộ trong tương lai phải được chính người đệ tử thể hiện qua lò luyện của kinh nghiệm.
Webinar 29
The goal towards which the average disciple has worked in the past has been soul contact, leading eventually to what has been called “hierarchical inclusion.” The reward of the disciple's effort has been admittance into the Ashram of some Master, increased opportunity to serve in the world, and also the taking of certain initiations. The goal towards which higher disciples are working involves not only soul contact as its primary objective (for that has to some measure been attained), but the building of the bridge from the personality to the Spiritual Triad, with consequent monadic realisation and the opening up to the initiate of the Way to the Higher Evolution in its various branches and with its differing goals and objectives. The distinction (I said not “difference,” and would have you note this) between the two ways can be seen in the following listed comparisons: [460]
Mục tiêu mà người đệ tử trung bình đã hướng tới trong quá khứ là sự tiếp xúc với linh hồn, dẫn đến điều được gọi là “sự hòa nhập vào Thánh đoàn.” Phần thưởng cho nỗ lực của người đệ tử là được chấp nhận vào Ashram của một vị Chân sư nào đó, có thêm cơ hội để phụng sự thế gian, và cũng là sự trải qua một số lần điểm đạo nhất định. Mục tiêu mà những đệ tử cao cấp hơn đang hướng tới không chỉ bao gồm sự tiếp xúc với linh hồn như là mục tiêu chính (vì điều đó đã được đạt đến ở một mức độ nào đó), mà còn là sự xây dựng cây cầu từ phàm ngã đến Tam nguyên tinh thần, dẫn đến sự chứng ngộ chân thần và mở ra cho điểm đạo đồ Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu với nhiều nhánh khác nhau và những mục tiêu cùng lý tưởng khác nhau. Sự phân biệt (tôi không nói là “sự khác biệt”, và tôi muốn các bạn lưu ý điều này) giữa hai con đường có thể được thấy qua những điểm so sánh sau đây: [460]
Desire—Aspiration
Mind—Projection
The 1st and 2nd Initiations
The 3rd and 4th Initiations
Universal Love and Intuition
Universal Will and Mind
The Path of Light
The Way of the Higher Evolution
The Point of Contact
The Antahkarana or Bridge
The Plan
The Purpose
The Three Layers of the Egoic Petals
The Spiritual Triad
The Hierarchy
Shamballa
The Master's Ashram
The Council Chamber
The Seven Paths
The Seven Paths
Dục vọng—Khát vọng
Trí tuệ—Phóng chiếu
Cuộc Điểm đạo lần thứ 1 và thứ 2
Cuộc Điểm đạo lần thứ 3 và thứ 4
Tình thương Đại đồng và Trực giác
Ý chí Đại đồng và Trí tuệ
Con Đường Ánh Sáng
Con Đường Tiến hóa Cao cấp
Điểm Tiếp xúc
Antahkarana hay Cây Cầu
Thiên Cơ
Thiên Ý
Ba Lớp Cánh Hoa Chân Ngã
Tam Nguyên Tinh Thần
Thánh Đoàn
Shamballa
Đạo viện của Chân sư
Phòng Hội đồng
Bảy Con Đường
Bảy Con Đường
In reality, you have here the two major approaches to God or to the Divine Whole, both merging at the time of the fifth initiation in the one Way, which in itself combines all Ways. Forget not a statement which I have several times made, that the four minor rays must merge eventually into the third ray, and that all five must then finally merge into the second and the first rays; bear also in mind that all these rays or modes of Being are aspects or sub-rays of the second cosmic Ray of Love and of Fire.
Thực tế là, ở đây các bạn thấy hai con đường chính để tiếp cận Thượng Đế hay Toàn Thể Thiêng Liêng, cả hai sẽ hợp nhất vào thời điểm của lần điểm đạo thứ năm trong một Con Đường duy nhất, vốn tự thân kết hợp tất cả các Con Đường. Đừng quên một tuyên bố mà tôi đã nhiều lần đưa ra, rằng bốn cung phụ cuối cùng phải hợp nhất vào cung ba, và rằng cả năm cung này rồi sẽ hợp nhất vào cung hai và cung một; cũng hãy ghi nhớ rằng tất cả các cung hay các phương thức Hiện Tồn này đều là các khía cạnh hay các cung phụ của Cung Vũ Trụ thứ hai của Tình thương và Lửa.
I would like here also to point out some further relationships. You know well that upon the mental plane the three aspects of mind, or the three focal points of mental perception and activity, are to be found:
Tôi cũng muốn chỉ ra ở đây một vài mối liên hệ bổ sung. Các bạn đã biết rõ rằng trên cõi trí, ba khía cạnh của trí tuệ, hay ba điểm tập trung của tri giác và hoạt động trí tuệ, có thể được nhận thấy như sau:
1. The lower concrete mind. This expresses itself most completely through the fifth Ray of Concrete Science, reflecting the lower phase of the will aspect of divinity and summarising within itself all knowledge as well as the egoic memory. This lower concrete mind is related to the knowledge petals of the egoic lotus and is capable of pronounced soul illumination, proving eventually to be the searchlight of the soul. It can be brought under control through the processes of concentration. It is transient in time and space. Through conscious, creative work, it can be related to the manasic permanent atom or to the abstract mind.
1. Trí cụ thể thấp. Điều này được biểu hiện đầy đủ nhất thông qua cung năm của Khoa học Cụ thể, phản ánh khía cạnh thấp của Ý chí trong thiên tính và tổng hợp trong bản thân nó toàn bộ tri thức cũng như ký ức của chân ngã. Trí cụ thể thấp này có liên hệ với các cánh hoa tri thức của hoa sen chân ngã và có khả năng được linh hồn soi sáng rõ rệt, cuối cùng chứng minh nó là ngọn đèn tìm kiếm của linh hồn. Nó có thể được kiểm soát thông qua các tiến trình tập trung. Nó là tạm thời trong thời gian và không gian. Thông qua công việc sáng tạo có ý thức, nó có thể được kết nối với nguyên tử trường tồn manasic hay với trí trừu tượng.
2. The Son of Mind. This is the soul itself, governed by the second aspect of all the seven rays—a point I would ask you seriously to register. It reflects the lower phase of the love aspect of divinity and summarises in itself the results of all accumulated knowledge which is wisdom, illuminated [461] by the light of the intuition. Another way of expressing this is to describe it as love, availing itself of experience and knowledge. It expresses itself most fully through the love petals of its innate being. Through dedicated and devoted service it brings the divine Plan into activity in the three worlds of human accomplishment. It is therefore related to the second aspect of the Spiritual Triad and is brought into functioning activity through meditation. It then controls and utilises for its own spiritual ends the consecrated personality, via the illumined mind, referred to above. It is eternal in time and space.
2. Đứa Con của Trí Tuệ. Đây chính là linh hồn, chịu sự chi phối bởi khía cạnh thứ hai của tất cả bảy cung — một điểm mà tôi mong các bạn ghi nhớ thật nghiêm túc. Nó phản ánh khía cạnh thấp của khía cạnh tình thương của thiên tính và tổng hợp trong bản thân nó kết quả của toàn bộ tri thức đã tích lũy được — tức là minh triết, được soi sáng bởi ánh sáng của trực giác. Một cách diễn đạt khác là mô tả nó như là tình thương, tận dụng kinh nghiệm và tri thức. Nó được biểu lộ đầy đủ nhất qua các cánh hoa bác ái của bản thể nội tại. Thông qua sự phụng sự dâng hiến và tận tụy, nó đem Thiên Cơ vào hoạt động trong ba cõi của thành tựu nhân loại. Do đó, nó có liên hệ với khía cạnh thứ hai của Tam nguyên tinh thần và được kích hoạt thông qua tham thiền. Sau đó, nó điều khiển và sử dụng phàm ngã đã được thánh hiến để phục vụ cho các mục tiêu tinh thần của riêng mình, thông qua trí tuệ được soi sáng đã được nhắc đến ở trên. Nó là vĩnh cửu trong thời gian và không gian.
3. The abstract mind. This reveals itself most completely under the influence of the first Ray of Will or Power, reflecting the higher aspect of the will of divinity or of the atmic principles it summarises in itself when fully developed the purpose of Deity, and thus becomes responsible for the emergence of the Plan. It energises the will petals until such time as the eternal life of the soul is absorbed into that which is neither transient nor eternal but which is endless, boundless and unknown. It is brought into conscious functioning through the building of the antahkarana. This “radiant rainbow bridge” unites the illumined personality, focussed in the mind body, motivated by the love of the soul, with the Monad or with the One Life, and thus enables the divine manifesting Son of God to express the significance of the words: God is Love and God is a consuming Fire. This fire, energised by love, has burnt out all personality qualities, leaving only a purified instrument, coloured by the soul ray and no longer necessitating the existence of a soul body. The personality has by this time completely absorbed the soul, or to put it perhaps more accurately, both soul and personality have been fused and blended into one instrument for the use of the One Life.
3. Trí trừu tượng. Điều này được biểu hiện đầy đủ nhất dưới ảnh hưởng của cung một của Ý chí hay Quyền năng, phản ánh khía cạnh cao của ý chí thiêng liêng hay các nguyên lý atma; khi được phát triển hoàn toàn, nó tổng hợp trong bản thân nó mục đích của Thượng Đế, và do đó trở nên chịu trách nhiệm cho sự xuất lộ của Thiên Cơ. Nó kích hoạt các cánh hoa ý chí cho đến khi sự sống vĩnh cửu của linh hồn được hấp thụ vào điều vốn không là nhất thời cũng không là vĩnh cửu, mà là vô cùng, vô biên và bất khả tri. Nó được đưa vào hoạt động có ý thức thông qua việc xây dựng antahkarana. Chiếc “cầu cầu vồng rực rỡ” này hợp nhất phàm ngã được soi sáng, tập trung trong thể trí, được thúc đẩy bởi tình thương của linh hồn, với Chân Thần hay với Sự Sống Duy Nhất, và do đó cho phép người Con Thiêng Liêng biểu lộ ý nghĩa của những lời: Thượng Đế là Tình Thương và Thượng Đế là một Ngọn Lửa Thiêu Rụi. Ngọn lửa này, được tiếp năng lượng bởi tình thương, đã thiêu sạch mọi phẩm tính của phàm ngã, chỉ để lại một công cụ được tinh luyện, mang sắc thái của cung linh hồn và không còn cần đến sự hiện hữu của thể linh hồn nữa. Phàm ngã vào thời điểm này đã hoàn toàn hấp thụ linh hồn, hoặc nếu nói một cách chính xác hơn, cả linh hồn và phàm ngã đã được dung hợp và hòa quyện thành một khí cụ duy nhất để được Sự Sống Duy Nhất sử dụng.
This is but a picture or a symbolic use of words in order to express the unifying goal of material and spiritual evolution, as it is carried to its conclusion—for this world cycle—through the development of the three aspects of mind upon [462] the mental plane. The cosmic implications will not be lost to you, but it profits us not to dwell upon them. As this process is carried forward, three great aspects of divine manifestation emerge upon the theatre of world life and on the physical plane. These are Humanity, the Hierarchy and Shamballa.
Tất cả điều này chỉ là một bức tranh hoặc một cách sử dụng biểu tượng của ngôn từ nhằm diễn tả mục tiêu hợp nhất của tiến hóa vật chất và tinh thần, khi nó được dẫn đến sự hoàn mãn — trong chu kỳ thế gian này — thông qua sự phát triển của ba khía cạnh của trí tuệ trên cõi trí. Ý nghĩa vũ trụ của điều này sẽ không bị các bạn bỏ qua, nhưng việc tập trung vào điều đó vào lúc này không mang lại lợi ích cho chúng ta. Khi tiến trình này được đẩy mạnh, ba khía cạnh vĩ đại của sự biểu lộ thiêng liêng xuất hiện trên sân khấu của đời sống thế gian và trên cõi trần. Đó là: Nhân loại, Thánh đoàn và Shamballa.
Humanity is already the dominant kingdom in nature; the fact of the Hierarchy and of its imminent approach into physical appearance is becoming well known to hundreds of thousands of people today. Its recognised appearance will later set the stage for the needed preparatory phases which will finally lead to the exoteric rule of the Lord of the World, emerging from His aeonial seclusion in Shamballa, and coming forth into outer expression at the end of this world cycle.
Nhân loại hiện nay đã là giới thống trị trong tự nhiên; sự hiện diện của Thánh đoàn và sự xuất hiện cận kề của Thánh đoàn trên cõi trần đang ngày càng trở nên được biết đến bởi hàng trăm ngàn người hiện nay. Sự xuất hiện được công nhận của Thánh đoàn sau đó sẽ thiết lập nền tảng cho những giai đoạn chuẩn bị cần thiết, mà cuối cùng sẽ dẫn đến sự cai quản ngoại hiện của Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng sẽ xuất hiện từ cõi ẩn cư trường kỳ của Ngài trong Shamballa, và đi ra biểu hiện bên ngoài vào cuối chu kỳ thế gian này.
Here is the vast and necessary picture, presented in order to give reason and power to the next stage of human evolution.
Đây là bức tranh vĩ đại và cần thiết, được trình bày nhằm mang lại lý do và sức mạnh cho giai đoạn tiếp theo trong tiến trình tiến hóa của nhân loại.
Webinar 30
The point which I seek to emphasise is that only when the aspirant takes his stand with definiteness upon the mental plane, and keeps his “focus of awareness” increasingly there, does it become possible for him to make real progress in the work of divine bridge building, the work of invocation, and the establishing of a conscious rapport between the Triad, the soul and the personality. The period covered by the conscious building of the antahkarana is that from the final stages of the Path of Probation to the third initiation.
Điểm mà tôi muốn nhấn mạnh là: chỉ khi người chí nguyện xác lập vị trí của mình một cách dứt khoát trên cõi trí, và duy trì “trọng tâm của nhận thức” của y ngày càng ở tại đó, thì khi ấy mới trở nên khả dĩ cho y đạt được tiến bộ thực sự trong công cuộc xây dựng cây cầu thiêng liêng, trong công việc khẩn nguyện, và trong việc thiết lập một mối tương quan có ý thức giữa Tam nguyên, linh hồn và phàm ngã. Thời kỳ bao phủ bởi tiến trình xây dựng antahkarana một cách có ý thức là từ các giai đoạn cuối của Con Đường Dự Bị cho đến lần điểm đạo thứ ba.
In considering this process it is necessary, in the early stages, to recognise the three aspects of the mind as they express themselves upon the mental plane and produce the varying states of consciousness upon that plane. It is interesting here to note that, having reached the developed human stage (integrated, aspiring, oriented and devoted), the man stands firmly upon the lower levels of that mental plane; he is then faced by the seven subplanes of that plane with their corresponding states of consciousness. He is therefore entering upon a new cycle where—this time equipped with full self-consciousness—he has seven states of mental awareness [463] to develop; these are all innate or inherent in him, and all (when mastered) lead to one or other of the seven major initiations. These seven states of consciousness are—beginning from the first or lowest:
Khi xem xét tiến trình này, điều cần thiết là trong các giai đoạn đầu, phải nhận biết ba khía cạnh của trí tuệ khi chúng tự biểu hiện trên cõi trí và tạo ra các trạng thái tâm thức khác nhau trên cõi đó. Thật thú vị khi lưu ý rằng, sau khi đã đạt đến giai đoạn nhân loại phát triển (được tích hợp, có chí nguyện, có định hướng và tận hiến), con người đứng vững vàng trên các phân cảnh thấp của cõi trí đó; khi ấy y đối diện với bảy cõi phụ của cõi đó, mỗi cõi phụ tương ứng với một trạng thái tâm thức. Như vậy, y đang bước vào một chu kỳ mới mà — lần này được trang bị với đầy đủ ý thức tự ngã — y có bảy trạng thái nhận thức trí tuệ để phát triển; tất cả những điều này vốn đã tiềm ẩn trong y, và tất cả (khi đã được làm chủ) đều dẫn đến một trong bảy lần điểm đạo chính. Bảy trạng thái tâm thức này là — bắt đầu từ cõi thấp nhất:
Mental Plane
Cõi trí:
1. Lower mental awareness. The development of true mental perception.
1. Nhận thức trí tuệ thấp. Sự phát triển của tri giác trí tuệ chân thực.
2. Soul awareness or soul perception. This is not the perception of the soul by the personality, but the registering of that which the soul perceives by the soul itself. This is later registered by the lower mind. This soul perception is, therefore, the reversal of the usual attitude of mind.
2. Nhận thức linh hồn hay tri giác của linh hồn. Đây không phải là việc phàm ngã nhận biết linh hồn, mà là sự ghi nhận những gì linh hồn tri giác bởi chính linh hồn. Điều này sau đó mới được ghi nhận bởi trí cụ thể thấp. Do đó, nhận thức linh hồn này là sự đảo ngược thái độ thông thường của trí tuệ.
3. Higher abstract awareness. The unfoldment of the intuition and the recognition of intuitive process by the lower mind.
3. Nhận thức trừu tượng cao. Sự khai mở của trực giác và sự nhận biết tiến trình trực giác bởi trí tuệ thấp.
Buddhic Plane
Cõi Bồ đề:
4. Persistent, conscious, spiritual awareness. This is the full consciousness of the buddhic or intuitional level. This is the perceptive consciousness which is the outstanding characteristic of the Hierarchy. The life focus of the man shifts to the buddhic plane. This is the fourth or middle state of consciousness.
4. Nhận thức tinh thần có ý thức và bền bỉ. Đây là tâm thức đầy đủ ở cấp độ bồ đề hay trực giác. Đây là loại tâm thức tri giác vốn là đặc điểm nổi bật của Thánh đoàn. Tâm điểm sống của con người chuyển sang cõi bồ đề. Đây là trạng thái tâm thức thứ tư hay ở giữa.
Atmic Plane
Cõi Atma:
5. The consciousness of the spiritual will as it is expressed and experienced upon atmic levels or upon the third plane of divine manifestation. There is little that I can say about this condition of awareness; its state of nirvanic awareness can mean but little to the average disciple.
5. Tâm thức của ý chí tinh thần khi nó được biểu hiện và trải nghiệm trên các cấp độ atma hay trên cõi thứ ba của biểu lộ thiêng liêng. Tôi không thể nói nhiều về trạng thái nhận thức này; trạng thái nhận thức nirvanic của nó hầu như không mang nhiều ý nghĩa đối với người đệ tử trung bình.
Monadic Plane
Cõi Chân thần:
6. The inclusive awareness of the Monad upon its own plane, the second plane of our planetary and solar life.
6. Nhận thức bao hàm của Chân thần trên chính cõi của nó, cõi thứ hai trong đời sống hành tinh và thái dương của chúng ta.
Logoic Plane
Cõi Thượng Đế:
7. Divine consciousness. This is the awareness of the whole on the highest plane of our planetary manifestation. This is also an aspect of solar awareness upon the same plane.
7. Tâm thức thiêng liêng. Đây là sự nhận biết về Toàn Thể trên cõi cao nhất của biểu lộ hành tinh chúng ta. Đây cũng là một khía cạnh của nhận thức thái dương trên cùng cõi đó.
As we strive to arrive at some dim comprehension of the nature of the work to be done in building the antahkarana it might be wise, as a preliminary step, to consider the nature [464] of the substance out of which the “bridge of shining mind stuff” has to be built by the conscious aspirant. The oriental term for this “mind stuff” is chitta; it exists in three types of substance, all basically identical but all qualified or conditioned differently. It is a fundamental law in this solar system, and therefore in our planetary life experience, that the substance through which divinity (in time and space) expresses itself is karmically conditioned; it is impregnated by those qualities and aspects which are the product of earlier manifestations of that Being in Whom we live and move and have our being. This is the basic fact lying behind the expression of that Trinity or Triad of Aspects with which all the world religions have made us familiar. This trinity is as follows:
Khi chúng ta cố gắng đạt được một sự lĩnh hội mờ mịt nào đó về bản chất của công việc cần thực hiện trong việc xây dựng antahkarana, có lẽ một bước chuẩn bị khôn ngoan là xem xét bản chất của chất liệu [464] mà người chí nguyện có ý thức phải dùng để xây dựng “cây cầu bằng chất liệu trí tuệ rực sáng.” Thuật ngữ phương Đông cho chất liệu trí tuệ này là chitta; nó tồn tại trong ba loại chất liệu, tất cả đều về cơ bản là đồng nhất nhưng được đặc trưng hay điều kiện hoá khác nhau. Đó là một định luật nền tảng trong hệ thống thái dương này, và do đó trong kinh nghiệm sống hành tinh của chúng ta, rằng chất liệu mà qua đó Thiêng liêng (trong thời gian và không gian) tự biểu hiện thì luôn bị điều kiện bởi nghiệp quả; nó được thấm nhuần bởi những phẩm tính và khía cạnh vốn là kết quả của những lần biểu lộ trước đây của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và có hiện hữu của mình. Đây là sự thật cơ bản nằm phía sau sự biểu hiện của Tam vị hay Tam nguyên Trạng Thái mà mọi tôn giáo trên thế giới đã làm cho chúng ta quen thuộc. Tam vị đó là:
1.
The Father Aspect
This is the underlying Plan of God.
The Will Aspect.
The essential Cause of Being.
Purpose.
Life purpose, motivating evolution. The note of synthetic sound.
Utilises the sutratma
2.
The Son Aspect.
The quality of sensitivity.
The Love Aspect.
The nature of relationship.
Wisdom. Understanding.
The method of evolution.
Consciousness. Soul.
The note of attractive sound.
Utilises the consciousness thread
3.
The Mother Aspect
The intelligence of substance.
The Intelligence Aspect.
The nature of form.
The Holy Spirit.
Response to evolution. The note of Nature.
Develops the creative thread
1.
Phương diện Cha
Đây là Thiên Cơ nền tảng của Thượng Đế.
Phương diện Ý Chí.
Nguyên Nhân cốt yếu của Hiện Hữu.
Mục đích.
Mục đích sự sống, thúc đẩy tiến hóa. Âm điệu của âm thanh tổng hợp.
Sử dụng sutratma
2.
Phương diện Con.
Phẩm tính nhạy cảm.
Phương diện Bác Ái.
Bản chất của mối quan hệ.
Minh triết. Thấu hiểu.
Phương pháp tiến hóa.
Tâm thức. Linh hồn.
Âm điệu của âm thanh thu hút.
Sử dụng tuyến tâm thức
3.
Phương diện Mẹ
Trí tuệ của chất liệu.
Phương diện Trí Tuệ.
Bản chất của hình tướng.
Đức Thánh Linh.
Đáp ứng với tiến hóa. Âm điệu của Thiên Nhiên.
Phát triển tuyến sáng tạo
Webinar 31
The mental plane which must be bridged is like a great stream of consciousness or of conscious substance, and across this stream the antahkarana must be constructed. This is the concept which lies behind this teaching and behind the symbolism of the Path. Before a man can tread the Path, he must become that Path himself. Out of the substance of his own life he must construct this rainbow bridge, this Lighted Way. He spins it and anchors it as a spider spins a thread [465] along which it can travel. Each of his three divine aspects contributes to that bridge, and the time of this building is indicated when his lower nature is:
Cõi trí mà cần phải được bắc cầu giống như một dòng chảy vĩ đại của tâm thức hoặc của chất liệu có ý thức, và xuyên qua dòng chảy này, antahkarana phải được kiến tạo. Đây là khái niệm nằm phía sau lời dạy này và đằng sau biểu tượng của Con Đường. Trước khi một người có thể bước đi trên Con Đường, y phải trở thành chính Con Đường đó. Từ chất liệu của chính đời sống mình, y phải xây dựng cây cầu cầu vồng này, Con Đường Rực Sáng này. Y tự quay nên nó và gắn chặt nó giống như con nhện quay một sợi dây [465] mà nó có thể di chuyển trên đó. Mỗi khía cạnh thiêng liêng trong ba khía cạnh của y đều đóng góp vào cây cầu đó, và thời điểm của việc xây dựng này được biểu thị khi bản chất thấp của y là:
1. Becoming oriented, regulated and creative.
1. Đang trở nên có định hướng, được điều hòa và sáng tạo.
2. Recognising and reacting to soul contact and control.
2. Nhận biết và phản ứng với sự tiếp xúc và điều khiển từ linh hồn.
3. Sensitive to the first impression of the Monad. This sensitivity is indicated where there is:
3. Nhạy cảm với ấn tượng đầu tiên từ Chân Thần. Tính nhạy cảm này được biểu lộ khi có:
a. Submission to the “will of God” or of the greater Whole.
a. Sự quy phục “ý chí của Thượng Đế” hay của Toàn Thể lớn hơn.
b. Unfoldment of the inner spiritual will, overcoming all obstacles.
b. Sự khai mở ý chí tinh thần nội tại, vượt qua mọi chướng ngại.
c. Cooperation with the purpose of the Hierarchy, the interpreting will of God as expressed in love.
c. Hợp tác với Thiên Cơ của Thánh đoàn, tức là ý chí của Thượng Đế được diễn dịch thông qua tình thương.
I have enumerated these three responses to the totality of the divine aspects because they are related to the antahkarana and must become defined and conditioned upon the mental plane. They are there to be found expressing themselves in substance:
Tôi đã liệt kê ba phản ứng này đối với tổng thể các khía cạnh thiêng liêng bởi vì chúng có liên hệ với antahkarana và phải được xác định và điều kiện hóa trên cõi trí. Chúng hiện diện tại đó, tự biểu lộ qua chất liệu:
1. The lower concrete mind.
1. Trí cụ thể thấp.
The receptive common sense.
- Lý trí tiếp nhận.
The highest aspect of the form nature.
- Khía cạnh cao nhất của bản chất hình tướng.
The reflection of atma, the spiritual will.
- Phản ánh của atma, ý chí tinh thần.
The throat centre.
- Luân xa cổ họng.
Knowledge.
- Tri thức.
2. The individualised mind.
2. Trí tuệ đã cá nhân hóa.
The soul or spiritual ego.
- Linh hồn hay bản ngã tinh thần.
The middle principle. Buddhi-manas.
- Nguyên lý trung gian. Bồ đề - manas.
The reflection in mental substance of the Monad.
- Phản ánh của Chân Thần trong chất liệu trí tuệ.
Spiritual love-wisdom.
- Tình thương - minh triết tinh thần.
The heart centre.
- Luân xa tim.
Love.
- Tình thương.
3. The higher abstract mind.
3. Trí trừu tượng cao.
The transmitter of buddhi.
- Kênh truyền của bồ đề.
The reflection of the divine nature.
- Phản ánh của bản chất thiêng liêng.
Intuitive love, understanding, inclusiveness.
- Tình thương trực giác, sự thấu hiểu, bao dung.
The head centre.
- Luân xa đầu.
Sacrifice.
- Hy sinh.
[466] There are necessarily other arrangements of these aspects in manifestation, but the above will serve to indicate the relation of Monad-soul-personality as they express themselves through certain focussed stations or points of power upon the mental plane.
[466] Dĩ nhiên có những cách sắp xếp khác nữa của các khía cạnh này trong biểu hiện, nhưng những điều nêu trên đủ để minh họa cho mối liên hệ giữa Chân Thần – linh hồn – phàm ngã khi chúng biểu lộ qua các điểm quyền năng tập trung nhất định trên cõi trí.
In humanity, however, the major realisation to be grasped at the present point in human evolution is the need to relate—consciously and effectively—the spiritual Triad, the soul on its own plane and the personality in its three-fold nature. This is done through the creative work of the personality, the magnetic power of the Triad, and the conscious activity of the soul, utilising the triple thread.
Tuy nhiên, trong nhân loại, điều mà phần lớn cần được lĩnh hội tại điểm hiện tại trong tiến trình tiến hóa là nhu cầu thiết lập mối liên hệ — một cách có ý thức và hiệu quả — giữa Tam nguyên tinh thần, linh hồn trên cõi riêng của nó, và phàm ngã trong bản chất ba phần của nó. Điều này được thực hiện thông qua công việc sáng tạo của phàm ngã, quyền năng từ hoá của Tam nguyên, và hoạt động có ý thức của linh hồn, thông qua việc sử dụng sợi dây ba phần.
Webinar 32
You can see, therefore, why so much emphasis is laid by esotericists upon fusion, unity or blending; only when this is intelligently realised can the disciple begin to weave the threads into a bridge of light which eventually becomes the Lighted Way across which he can pass into the higher worlds of being. Thus he liberates himself from the three worlds. It is—in this world cycle—pre-eminently a question of fusion and expressing (in full waking awareness) three major states of consciousness:
Do đó, các bạn có thể thấy vì sao giới huyền môn lại đặt trọng tâm mạnh mẽ như vậy vào sự dung hợp, hợp nhất hoặc hòa quyện; chỉ khi điều này được nhận thức một cách thông minh thì người đệ tử mới có thể bắt đầu dệt các sợi dây thành một cây cầu ánh sáng, mà cuối cùng sẽ trở thành Con Đường Rực Sáng mà y có thể bước qua để vào các thế giới cao hơn của hiện tồn. Như vậy, y tự giải thoát khỏi ba cõi. Trong chu kỳ thế gian này, điều thiết yếu vượt trội chính là việc dung hợp và biểu hiện (trong trạng thái tỉnh thức hoàn toàn) ba trạng thái tâm thức chính yếu:
1. The Shamballa Consciousness.
1. Tâm thức Shamballa.
Awareness of the unity and purpose of Life.
- Nhận biết về sự hợp nhất và mục đích của Sự Sống.
Recognition and cooperation with the Plan.
- Công nhận và hợp tác với Thiên Cơ.
Will. Direction. Oneness.
- Ý chí. Định hướng. Nhất thể.
The influence of the Triad.
- Ảnh hưởng của Tam nguyên.
2. The Hierarchical Consciousness.
2. Tâm thức Thánh đoàn.
Awareness of the Self, the Soul.
- Nhận biết về Chân Ngã, tức là linh hồn.
Recognition and cooperation with divinity.
- Công nhận và hợp tác với Thiêng Liêng.
Love. Attraction. Relation.
- Tình thương. Hấp dẫn. Mối quan hệ.
The influence of the Soul.
- Ảnh hưởng của linh hồn.
3. The Human Consciousness.
3. Tâm thức nhân loại.
Awareness of the soul within the form.
- Nhận biết về linh hồn trong hình tướng.
Recognition and cooperation with the soul.
- Công nhận và hợp tác với linh hồn.
Intelligence. Action. Expression.
- Trí tuệ. Hành động. Biểu hiện.
The influence of the consecrated personality.
- Ảnh hưởng của phàm ngã được thánh hiến.
The man who finally builds the antahkarana across the mental [467] plane connects or relates these three divine aspects, so that progressively at each initiation they are more closely fused into one divine expression in full and radiant manifestation. Putting it in other words, the disciple treads the path of return, builds the antahkarana, crosses the Lighted Way, and achieves the freedom of the Path of Life.
Người đã xây dựng hoàn chỉnh antahkarana băng qua [467] cõi trí sẽ kết nối hay liên kết ba khía cạnh thiêng liêng này, sao cho ở mỗi lần điểm đạo tiếp theo, chúng càng được dung hợp mật thiết hơn thành một biểu hiện thiêng liêng thống nhất trong sự hiện lộ rực rỡ và trọn vẹn. Nói cách khác, người đệ tử bước đi trên Con Đường Trở Về, xây dựng antahkarana, băng qua Con Đường Rực Sáng, và đạt được sự tự do của Con Đường Sự Sống.
One of the points which it is essential that students should grasp is the deeply esoteric fact that this antahkarana is built through the medium of a conscious effort within consciousness itself, and not just by attempting to be good, or to express goodwill, or to demonstrate the qualities of unselfishness and high aspiration. Many esotericists seem to regard the treading of the Path as the conscious effort to overcome the lower nature and to express life in terms of right living and thinking, love and intelligent understanding. It is all that, but it is something far more. Good character and good spiritual aspiration are basic essentials. But these are taken for granted by the Master Who has a disciple under training; their foundation and their recognition and development are the objectives upon the Path of Probation.
Một trong những điểm mà các học viên nhất thiết phải nắm bắt là một sự thật rất sâu sắc về mặt huyền môn: antahkarana này được xây dựng thông qua phương tiện của một nỗ lực có ý thức ngay trong chính tâm thức, và không chỉ đơn thuần bằng việc cố gắng trở nên tốt, hoặc biểu hiện thiện chí, hoặc thể hiện các phẩm chất vô ngã và khát vọng cao cả. Nhiều nhà huyền môn dường như cho rằng việc bước đi trên Con Đường là một nỗ lực có ý thức nhằm vượt qua bản chất thấp và biểu hiện đời sống theo lối sống và tư tưởng đúng đắn, tình thương và sự thấu hiểu có trí tuệ. Nó đúng là như thế, nhưng còn là điều vượt lên rất nhiều. Nhân cách tốt và khát vọng tâm linh cao đẹp là những điều kiện tiên quyết căn bản. Nhưng những điều này đã được Chân sư — vị đang huấn luyện một đệ tử — coi như là điều hiển nhiên; nền tảng của chúng và sự công nhận cũng như phát triển chúng là mục tiêu của Con Đường Dự Bị.
But to build the antahkarana is to relate the three divine aspects. This involves intense mental activity; it necessitates the power to imagine and to visualise, plus a dramatic attempt to build the Lighted Way in mental substance. This mental substance is—as we have seen—of three qualities or natures, and the bridge of living light is a composite creation, having in it:
Tuy nhiên, để xây dựng antahkarana tức là liên kết ba khía cạnh thiêng liêng. Điều này đòi hỏi hoạt động trí tuệ mãnh liệt; nó cần đến năng lực tưởng tượng và thị kiến, cùng với một nỗ lực mạnh mẽ nhằm xây dựng Con Đường Rực Sáng bằng chất liệu trí tuệ. Chất liệu trí tuệ này — như chúng ta đã thấy — có ba phẩm chất hay bản tính khác nhau, và cây cầu ánh sáng sống động là một công trình kết hợp, trong đó bao gồm:
1. Force, focussed and projected from the fused and blended forces of the personality.
1. Mãnh lực, được tập trung và phóng chiếu từ các mãnh lực đã được hòa quyện và dung hợp của phàm ngã.
2. Energy, drawn from the egoic body by a conscious effort.
2. Năng lượng, được rút từ thể linh hồn thông qua nỗ lực có ý thức.
3. Energy, abstracted from the Spiritual Triad.
3. Năng lượng, được chiết xuất từ Tam nguyên tinh thần.
It is essentially, however, an activity of the integrated and dedicated personality. Esotericists must not take the position that all they have to do is to await negatively some activity by the soul which will automatically take place after a certain measure of soul contact has been achieved, and that consequently and in time this activity will evoke response [468] both from the personality and the Triad. This is not the case. The work of the building of the antahkarana is primarily an activity of the personality, aided by the soul; this in time evokes a reaction from the Triad. There is far too much inertia demonstrated by aspirants at this time.
Tuy nhiên, về bản chất, đây là một hoạt động của phàm ngã đã được tích hợp và dâng hiến. Các nhà huyền môn không nên cho rằng tất cả những gì họ cần làm chỉ là thụ động chờ đợi một hoạt động nào đó từ linh hồn, điều mà sẽ tự động xảy ra sau khi đạt được một mức độ tiếp xúc linh hồn nhất định, và rằng kết quả là, theo thời gian, hoạt động đó sẽ khơi dậy sự đáp ứng [468] từ cả phàm ngã lẫn Tam nguyên. Điều đó không đúng. Công việc xây dựng antahkarana chủ yếu là một hoạt động của phàm ngã, với sự hỗ trợ của linh hồn; điều này, theo thời gian, sẽ khơi dậy một phản ứng từ Tam nguyên. Hiện nay có quá nhiều sự trì trệ được thể hiện bởi các người chí nguyện.
One might also look at this matter from another angle. The personality is beginning to transmute knowledge into wisdom, and when this takes place the focus of the personality life is then upon the mental plane, because the transmutation process (with its stages of understanding, analysis, recognition and application) is fundamentally a mental process. The personality is also beginning to comprehend the significance of love and to interpret it in terms of the group well-being, and not in terms of the personal self, of desire or even of aspiration. True love is rightly understood only by the mental type who is spiritually oriented. The personality is also arriving at the realisation that there is in reality no such thing as sacrifice. Sacrifice is usually only the thwarted desire of the lower nature, willingly endured by the aspirant, but—in this phase—a misinterpretation and limitation. Sacrifice is really complete conformity to the will of God because the spiritual will of the man and the divine will (as he recognises it in the Plan) is his will. There is a growing identification in purpose. Therefore, self-will, desire and those intelligent activities which are dually motivated are seen and recognised as only the lower expression of the three divine aspects, and the effort is to express these in terms of the soul and not, as hitherto, in terms of a dedicated and rightly oriented personality. This becomes possible in its true sense only when the focus of the life is in the mental vehicle and the head as well as the heart is becoming active. In this process, the stages of character building are seen as essential and effective, and are willingly and consciously undertaken. But—when these foundations of good character and intelligent activity are firmly established—something still higher and more subtle must be erected on the sub-structure.
Chúng ta cũng có thể xem xét vấn đề này từ một góc nhìn khác. Phàm ngã đang bắt đầu chuyển hóa tri thức thành minh triết, và khi điều này xảy ra thì trọng tâm đời sống của phàm ngã lúc ấy sẽ nằm trên cõi trí, vì tiến trình chuyển hóa (với các giai đoạn của sự thấu hiểu, phân tích, nhận biết và ứng dụng) về cơ bản là một tiến trình trí tuệ. Phàm ngã cũng đang bắt đầu thấu hiểu ý nghĩa của tình thương và giải thích nó dưới dạng lợi ích của toàn nhóm, chứ không phải dưới dạng của cái tôi cá nhân, của dục vọng hay thậm chí là của khát vọng. Tình thương chân chính chỉ được hiểu đúng bởi loại người thiên về trí tuệ đã được định hướng tâm linh. Phàm ngã cũng đang đạt đến sự nhận biết rằng thực tế không có điều gì gọi là hy sinh. Hy sinh thường chỉ là dục vọng bị ngăn trở của bản chất thấp, được người chí nguyện sẵn lòng chịu đựng, nhưng — trong giai đoạn này — là một sự diễn giải sai và là một giới hạn. Hy sinh thực sự là sự hòa hợp hoàn toàn với ý chí của Thượng Đế, bởi vì ý chí tinh thần của con người và ý chí thiêng liêng (như y nhận biết nó trong Thiên Cơ) chính là ý chí của y. Đang có một sự đồng nhất ngày càng tăng trong mục đích. Vì vậy, ý chí cá nhân, dục vọng và những hoạt động trí tuệ được thúc đẩy bởi hai động cơ kép được thấy và được nhận ra chỉ là sự biểu hiện thấp của ba khía cạnh thiêng liêng, và nỗ lực là nhằm biểu hiện chúng dưới dạng của linh hồn chứ không như trước đây, dưới dạng của một phàm ngã đã được dâng hiến và định hướng đúng. Điều này chỉ thực sự trở nên khả thi khi trọng tâm của đời sống nằm trong thể trí và cả đầu óc lẫn con tim đang trở nên hoạt động. Trong tiến trình này, các giai đoạn xây dựng phẩm tính được xem là cần thiết và hiệu quả, và được đảm nhận một cách tự nguyện và có ý thức. Tuy nhiên — khi những nền tảng của phẩm tính tốt và hoạt động trí tuệ đã được thiết lập vững chắc — thì điều gì đó cao hơn và vi tế hơn cần được dựng xây trên nền tảng đó.
Webinar 33
Knowledge-wisdom must be superseded by intuitive [469] understanding; this is, in reality, inclusive participation in the creative activity of divinity. The divine idea must become the possible ideal, and this ideal must become unfolded and manifested in substance upon the physical plane. The creative thread, now somewhat ready, must be brought into conscious functioning and activity.
Tri thức–minh triết phải được thay thế bởi sự thấu hiểu trực giác [469]; điều này, trên thực tế, là sự tham gia bao hàm vào hoạt động sáng tạo của Thiêng Liêng. Ý tưởng thiêng liêng phải trở thành lý tưởng khả dĩ, và lý tưởng đó phải được khai mở và biểu hiện thành chất liệu trên cõi trần. Sợi dây sáng tạo, lúc này đã phần nào sẵn sàng, phải được đưa vào hoạt động và vận hành một cách có ý thức.
Desire-love must be interpreted in terms of divine attraction, involving the right use or misuse of energies and forces. This process puts the disciple in touch with divinity as a progressively revealed Whole. The part, through the magnetic development of its own nature, comes into touch gradually with all that IS. The disciple becomes aware of this sum total in increasingly vivid expansions of consciousness, leading to initiation, realisation and identification. These are the three stages of initiation.
Dục vọng–tình thương phải được hiểu theo nghĩa của sức hút thiêng liêng, bao hàm việc sử dụng đúng (hoặc sai) các năng lượng và mãnh lực. Tiến trình này đưa người đệ tử tiếp xúc với Thiêng Liêng như là một Toàn Thể được tiết lộ dần dần. Phần nhỏ, thông qua sự phát triển từ tính của chính nó, dần dần tiếp xúc với toàn bộ điều đang Hiện Hữu. Người đệ tử nhận biết tổng thể này qua những mở rộng ngày càng sinh động của tâm thức, dẫn đến điểm đạo, chứng ngộ và đồng nhất hóa. Đây là ba giai đoạn của sự điểm đạo.
The consciousness thread, in cooperation with the creative thread and the life thread, awakens to a fully aware process of participation in the divine creative Plan—a Plan which is motivated by love and intelligently carried forward.
Sợi dây tâm thức, phối hợp với sợi dây sáng tạo và sợi dây sự sống, thức tỉnh để tham gia một cách đầy đủ và có ý thức vào Thiên Cơ sáng tạo — một Thiên Cơ được thúc đẩy bởi tình thương và được triển khai một cách có trí tuệ.
Direction-Will (which are words describing the orientation produced by the understanding of the two processes of knowledge-wisdom and desire-love) must produce the final orientation of the personality and the soul, fused and blended and at-one, towards the freedom of the Spiritual Triad; then the conscious attempt to use these three energies eventuates in creating the antahkarana upon the mental plane. You will note that at this early stage of the process I am emphasising the words “orientation” and “attempt.” They simply indicate the final control of substance by the initiate.
Định hướng–Ý chí (là những từ mô tả hướng định được tạo ra nhờ sự hiểu biết hai tiến trình tri thức–minh triết và dục vọng–tình thương) phải tạo ra định hướng tối hậu của phàm ngã và linh hồn, đã dung hợp và hòa làm một, hướng đến sự tự do của Tam nguyên tinh thần; sau đó nỗ lực có ý thức nhằm sử dụng ba năng lượng này sẽ dẫn đến việc tạo ra antahkarana trên cõi trí. Các bạn sẽ lưu ý rằng ở giai đoạn sớm này của tiến trình, tôi đang nhấn mạnh các từ “định hướng” và “nỗ lực.” Chúng đơn giản chỉ ra sự kiểm soát chất liệu tối hậu của điểm đạo đồ.
One of the indications that a man is no longer upon the Probationary Path is his emerging from the realm of aspiration and devotion into the world of the focussed will. Another indication is that he begins to interpret life in terms of energy and forces, and not in terms of quality and desire. This marks a definite step forward. There is too little use of the spiritual will, as the result of right orientation, in the life of disciples today. [470]
Một trong những dấu hiệu cho thấy một người không còn ở trên Con Đường Dự Bị nữa là y đã thoát ra khỏi cảnh giới của khát vọng và tận hiến để bước vào thế giới của ý chí tập trung. Một dấu hiệu khác là y bắt đầu giải thích đời sống theo các thuật ngữ của năng lượng và mãnh lực, chứ không theo các thuật ngữ của phẩm tính và dục vọng. Đây là một bước tiến rõ rệt. Trong đời sống của các đệ tử ngày nay, có quá ít việc sử dụng ý chí tinh thần như là kết quả của định hướng đúng đắn. [470]
In the future, this Science of the Antahkarana and its lower correspondence, the Science of Social Evolution (which is the joint or united antahkarana of humanity as a whole), will be known as the Science of Invocation and Evocation. It is in reality the Science of Magnetic Rapport, in which right relationship is brought about by mutual invocation, producing a responsive process which is one of evocation. It is this science which lies behind all conscious awakening of the centres and their interrelation; it lies behind the rapport between man and man, group and group, and eventually between nation and nation. It is this invocation, and the consequent evocation, which eventually relate soul and personality and soul and monad. It is the outstanding objective of humanity's appeal to God, to the Hierarchy and to the Spiritual Powers of the cosmos, no matter by what name you call them. The appeal goes forth. The invocation of humanity can and will and must evoke response from the spiritual Hierarchy and give the first demonstration upon a large scale of this new esoteric science—esoteric because it is based upon sound. Hence the use of the O.M. Into this science I cannot here go; we must confine our attention to our theme, which is the Science of the Antahkarana.
Trong tương lai, Khoa học về Antahkarana và hình thức tương ứng thấp hơn của nó, tức là Khoa học về Tiến Hóa Xã Hội (chính là antahkarana tập thể hay hợp nhất của toàn nhân loại), sẽ được biết đến như là Khoa học của Khẩn Nguyện và Dẫn Khởi. Trên thực tế, đây là Khoa học về Mối Liên Hệ Từ Tính, trong đó mối liên hệ đúng được thiết lập thông qua sự khẩn nguyện hỗ tương, tạo ra một tiến trình đáp ứng vốn là một sự dẫn khởi. Chính khoa học này nằm đằng sau mọi sự thức tỉnh có ý thức của các trung tâm và mối liên hệ tương hỗ giữa chúng; nó cũng nằm phía sau mối liên hệ giữa con người và con người, giữa nhóm và nhóm, và cuối cùng là giữa quốc gia và quốc gia. Chính sự khẩn nguyện này, và sự dẫn khởi hệ quả từ đó, cuối cùng sẽ nối kết linh hồn và phàm ngã, và nối kết linh hồn và Chân Thần. Đây là mục tiêu nổi bật trong lời kêu gọi của nhân loại gửi đến Thượng Đế, đến Thánh đoàn và đến các Quyền năng Thiêng liêng của vũ trụ, bất kể các bạn gọi các Đấng ấy bằng danh xưng nào. Lời khẩn nguyện được phát đi. Lời khẩn nguyện của nhân loại có thể, sẽ và nhất thiết phải dẫn khởi một phản ứng từ Thánh đoàn tinh thần và sẽ cung cấp minh chứng đầu tiên trên quy mô rộng lớn của khoa học huyền môn mới này — huyền môn vì nó được đặt nền tảng trên âm thanh. Do đó mới có việc sử dụng linh từ OM. Tôi không thể đi sâu vào khoa học này tại đây; chúng ta phải giới hạn sự chú tâm của mình vào chủ đề đang bàn, đó là Khoa học về Antahkarana.
Webinar 34
The Bridge as the Agent of Alignment
The word “alignment” is used much in modern esoteric training. I would point out that in making his alignment, the aspirant is only establishing the first stage of his process of realisation; he is establishing in his own consciousness the fact of his essential dualism. I would also point out that the critical aspect of this process is only arrived at when the distinction is sharply defined and recognised between the integrated and potent personality and the soul. It is an occult truism to state that the aspirant is to be recognised by or triplicity; the disciple by or recognised duality and the initiate by or unity. Note that the symbol of duality for undeveloped humanity is in which the separation of the higher nature from the lower is depicted; in the case of the disciple, it is showing the “path across” or the [471] narrow razor-edged Path between the pairs of opposites, forming later the antahkarana. These symbols, simple as they are, embody and convey vast truths to the illumined mind.
Từ “chỉnh hợp” được sử dụng rất nhiều trong huấn luyện huyền môn hiện đại. Tôi muốn chỉ ra rằng khi thực hiện sự chỉnh hợp của mình, người chí nguyện chỉ mới thiết lập giai đoạn đầu tiên của tiến trình chứng ngộ; y đang xác lập trong chính tâm thức của mình sự thật về tính nhị nguyên cốt lõi của bản thân. Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng khía cạnh then chốt của tiến trình này chỉ được đạt đến khi sự phân biệt giữa phàm ngã tích hợp và mạnh mẽ với linh hồn được xác định một cách rõ rệt và được nhận biết. Có một chân lý huyền môn rằng: người chí nguyện được nhận biết qua tam phân thể của y; người đệ tử qua nhị nguyên thể đã được nhận thức; và điểm đạo đồ qua sự hợp nhất. Lưu ý rằng biểu tượng của nhị nguyên đối với nhân loại chưa phát triển là một hình thức thể hiện sự tách biệt giữa bản chất cao và thấp; trong trường hợp của người đệ tử, đó là hình ảnh “con đường vượt qua” hay Con Đường hẹp như lưỡi dao cạo giữa hai cặp đối nghịch, hình thành sau này thành antahkarana. Những biểu tượng này, tuy đơn giản, lại hàm chứa và truyền đạt những chân lý vĩ đại cho trí tuệ được soi sáng.
Relatively speaking, and speaking in terms of the mental consciousness, the realisation of duality is only to be found in the three worlds and on the mental plane. When the third initiation is taken, the power of the lower pair of opposites is no longer felt and exists no more. A liberated consciousness and an unrestricted awareness—unrestricted as regards the initiate, moving within the orbit of the planetary Logos (though not unrestricted as regards that greater Life which moves within still other and greater defined limits)—are both understood and expressed. Within the planetary ring-pass-not the initiate moves with freedom and knows no limitation in consciousness. That is why the higher levels of our planetary and systemic planes are called formless. It is this which is the true symbol of alignment, involving as it does the sense of duality but indicating at the same time the way through what are called “the walls of limitation.”
Tương đối mà nói, và xét theo phương diện tâm thức trí tuệ, sự nhận thức về nhị nguyên chỉ hiện hữu trong ba cõi và trên cõi trí. Khi lần điểm đạo thứ ba được trải qua, quyền lực của cặp đối nghịch thấp hơn không còn được cảm nhận và cũng không còn tồn tại nữa. Một tâm thức đã được giải thoát và một sự nhận biết không bị giới hạn — không bị giới hạn đối với điểm đạo đồ đang vận hành trong quỹ đạo của Hành Tinh Thượng Đế (dù vẫn còn bị giới hạn khi xét đến một Sự Sống lớn hơn vốn vận hành trong các giới hạn được xác lập rộng lớn hơn nữa) — cả hai đều được hiểu và thể hiện. Bên trong vòng-giới-hạn hành tinh, vị điểm đạo đồ vận hành với sự tự do và không còn biết đến bất kỳ giới hạn nào trong tâm thức. Đó là lý do vì sao các cõi cao của hành tinh và Thái Dương hệ được gọi là vô sắc. Chính điều này mới là biểu tượng chân thực của sự chỉnh hợp, bởi vì nó bao hàm ý thức về nhị nguyên nhưng đồng thời cũng chỉ ra con đường xuyên qua cái được gọi là “bức tường giới hạn.”
Students would do well to consider the building of the antahkarana as an extension in consciousness. This extension is the first definite effort made upon the Path to bring in the monadic influence with full awareness, and finally directly. This process constitutes the individual parallel to the present inflow of force from Shamballa, about which I have elsewhere spoken. That highest Centre of energy upon our planet is now having a definite effect upon that centre which we call Humanity. This is brought about by direct alignment, and not via the Hierarchy as has hitherto been the case. When the individual antahkarana has been successfully started, and there is even a tenuous thread of living energy connecting the threefold personality and the Spiritual Triad, then the inflow of the will-energy becomes possible. This, in the early stages, can be most dangerous when not offset by the love energy of the soul. Only one thread of the threefold antahkarana passes through the egoic lotus. [472] The other two threads relate themselves directly with the Triad, and hence eventually with the Monad, the source of the triadal life. This is true of the individual and of humanity as a whole, and the effects of this alignment can be seen demonstrating in the world at this time.
Các học viên sẽ có lợi nếu xem việc xây dựng antahkarana như là một sự mở rộng trong tâm thức. Sự mở rộng này là nỗ lực xác định đầu tiên được thực hiện trên Con Đường nhằm đưa ảnh hưởng của Chân Thần vào một cách trọn vẹn và sau cùng là trực tiếp. Tiến trình này cấu thành sự song song của cá nhân đối với dòng năng lượng hiện đang đổ xuống từ Shamballa, điều mà tôi đã đề cập nơi khác. Trung tâm năng lượng tối thượng trên hành tinh chúng ta hiện nay đang tạo ra một ảnh hưởng rõ rệt lên trung tâm được gọi là Nhân loại. Điều này được thực hiện thông qua sự chỉnh hợp trực tiếp, chứ không qua trung gian của Thánh đoàn như trước đây. Khi antahkarana cá nhân đã được khởi dựng thành công, và thậm chí chỉ cần một sợi dây năng lượng sống mỏng manh kết nối phàm ngã ba phần và Tam nguyên tinh thần, thì sự đổ xuống của năng lượng ý chí sẽ trở nên khả dĩ. Trong các giai đoạn đầu, điều này có thể vô cùng nguy hiểm nếu không được bù trừ bằng năng lượng tình thương của linh hồn. Chỉ một sợi trong antahkarana ba phần đi xuyên qua hoa sen chân ngã. [472] Hai sợi còn lại liên kết trực tiếp với Tam nguyên, và do đó sau cùng là với Chân Thần, nguồn gốc của sự sống tam nguyên. Điều này đúng đối với cả cá nhân lẫn toàn thể nhân loại, và những ảnh hưởng của sự chỉnh hợp này đang được biểu hiện trong thế giới hiện nay.
Webinar 35
This rather unexpected responsive activity has necessitated much increased activity on the part of the Hierarchy, in order to offset the consequences of any premature inflow of the will force. After the third initiation, when the soul body, the causal body, starts to dissipate, the line of relation or of connection can be and is direct. The initiate then “stands in the ocean of love, and through him pours that love; his will is love and he can safely work, for love divine will colour all his will, and he can wisely serve.” Love and intelligence then become the servants of the will. Soul energy and personality force contribute to the experience of the Monad in the three worlds of life service, and then the age-long task of the incarnating spiritual man is finally accomplished. He is ready for Nirvana, which is but the Way into new fields of spiritual experience and of divine development—incomprehensible as yet, even to the initiate of the third degree. This Way is revealed only when the antahkarana is built and completed and the man becomes focussed in the Triad as consciously as he is now focussed in the threefold lower nature.
Phản ứng đáp ứng khá bất ngờ này đã khiến Thánh đoàn phải gia tăng hoạt động để háo giải những hậu quả của bất kỳ sự đổ xuống sớm nào của mãnh lực ý chí. Sau lần điểm đạo thứ ba, khi thể linh hồn, tức thể nhân quả, bắt đầu tan rã, thì đường liên hệ hay kết nối có thể, và thực tế là, trở nên trực tiếp. Lúc đó điểm đạo đồ “đứng trong đại dương của tình thương, và qua y, tình thương tuôn chảy; ý chí của y là tình thương và y có thể hành động một cách an toàn, vì tình thương thiêng liêng sẽ nhuộm màu mọi ý chí của y, và y có thể phụng sự một cách sáng suốt.” Tình thương và trí tuệ khi ấy trở thành những người phụng sự cho ý chí. Năng lượng linh hồn và mãnh lực phàm ngã góp phần vào kinh nghiệm của Chân Thần trong ba cõi của sự phụng sự cuộc sống, và rồi nhiệm vụ kéo dài hàng kiếp của con người tâm linh nhập thế cuối cùng được hoàn tất. Y đã sẵn sàng cho trạng thái Niết Bàn, vốn chỉ là Con Đường dẫn vào các lãnh vực kinh nghiệm tâm linh và phát triển thiêng liêng mới — những điều hiện tại vẫn còn không thể lĩnh hội được, ngay cả đối với điểm đạo đồ bậc ba. Con Đường này chỉ được tiết lộ khi antahkarana được xây dựng và hoàn tất và con người trở nên tập trung trong Tam nguyên một cách có ý thức, cũng như hiện nay y đã tập trung có ý thức trong bản chất ba phần thấp hơn.
Then, and then only, is the true dualism of the divine nature apparent and the illusory duality disappears. Then you have Spirit-matter, Life-form. For this the triple experience of the unfolding consciousness is only preparatory. Through the unfolding consciousness, the initiate knows the significance of life and the uses of form, but stands completely unidentified with either, though blending these dualities in himself into a conscious synthesis. The attempt to convey his state of mind, in words that but limit and confuse, leads to apparent contradictions, and this is one of the peculiar paradoxes of the occult science. Do the above imparted facts make sense to you? Have they meaning for your mind? I think not. You have not yet the needed equipment [473] through which the type of implied awareness can work, or the realisation of that true Self-consciousness which would produce in you an understanding reaction. I simply make the esoteric assertion; later will come apprehension of the truth and that consequent energising which always comes when any abstract truth is truly appreciated and assimilated. But the time has not yet come for the comprehension of the above information. Disciples and aspirants grow through the means of a presented vision—unattainable as yet but definitely an extension of the known and previously grasped. Such is the mode of evolution, for it is ever a pressing forward towards the sensed.
Khi đó, và chỉ khi đó, nhị nguyên chân thật của bản chất thiêng liêng mới hiện rõ và sự nhị nguyên huyễn ảo sẽ biến mất. Lúc ấy các bạn có Thần linh–chất liệu, Sự sống–hình tướng. Toàn bộ kinh nghiệm ba phần của tâm thức đang khai mở chỉ là sự chuẩn bị cho điều đó. Thông qua tâm thức đang khai mở, điểm đạo đồ nhận biết được ý nghĩa của sự sống và công dụng của hình tướng, nhưng đứng hoàn toàn không đồng nhất với bất kỳ bên nào, dù y hòa hợp hai mặt đối nghịch này trong chính bản thân thành một sự tổng hợp có ý thức. Nỗ lực nhằm truyền đạt trạng thái tâm thức đó bằng ngôn từ — vốn chỉ giới hạn và gây nhầm lẫn — sẽ dẫn đến những mâu thuẫn có vẻ bề ngoài, và đây là một trong những nghịch lý đặc biệt của khoa học huyền môn. Những sự thật đã được truyền đạt ở trên có làm các bạn cảm thấy có ý nghĩa không? Chúng có mang lại điều gì cho trí tuệ của các bạn không? Tôi nghĩ là chưa. Các bạn vẫn chưa có được khí cụ cần thiết [473] để loại hình nhận thức được hàm ý đó có thể vận hành, cũng như chưa có được sự tự thức chân thật vốn sẽ tạo ra nơi các bạn một phản ứng hiểu biết. Tôi đơn thuần chỉ đưa ra khẳng định huyền môn; sự lĩnh hội chân lý và sự kích hoạt hệ quả — điều luôn xảy ra khi một chân lý trừu tượng được thực sự đón nhận và đồng hóa — sẽ đến sau. Nhưng thời điểm để hiểu được những thông tin ở trên vẫn chưa đến. Các đệ tử và người chí nguyện trưởng thành thông qua tầm nhìn được trình bày — tuy hiện tại vẫn chưa thể đạt tới nhưng chắc chắn là một sự mở rộng từ những điều đã biết và đã nắm bắt. Đó là phương thức tiến hóa, vì nó luôn là một sự thúc đẩy tiến về phía điều được cảm nhận.
Today, through human effort and hierarchical endeavour, a great alignment and linking up is taking place, and Monad-Soul-Personality are being more directly related than has hitherto been possible. One reason for this is that there are present in incarnation upon the planet many more initiates of the third degree than ever before; there are many more disciples being prepared for the third initiation; and in this third strictly human race, the Aryan (using this term in its generic sense and not in its prostituted German connotation), the three aspects of the personality are now so potent that their magnetic influence and their creative effect are making the building of the antahkarana an outstanding achievement, thus linking and aligning the three aspects in man. The same is true of the three divine centres in the planet which embody these divine qualities: Shamballa, Hierarchy, and Humanity. These are now closely aligned, thus producing a fusion of energies which is causing an inflow of the spiritual will, as well as a demonstration of the Destroyer aspect.
Ngày nay, thông qua nỗ lực của nhân loại và công cuộc cố gắng của Thánh đoàn, một sự chỉnh hợp và kết nối vĩ đại đang diễn ra, và Chân Thần – Linh Hồn – Phàm Ngã đang được liên kết một cách trực tiếp hơn bao giờ hết. Một trong những lý do cho điều này là hiện đang có mặt trong kiếp sống trên hành tinh nhiều điểm đạo đồ bậc ba hơn bao giờ hết; có nhiều đệ tử đang được chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ ba; và trong giống dân thực sự thứ ba, giống dân Arya (sử dụng thuật ngữ này theo nghĩa chung và không theo ý nghĩa bị lạm dụng của Đức quốc xã), ba khía cạnh của phàm ngã hiện nay mạnh mẽ đến mức ảnh hưởng từ hoá và hiệu ứng sáng tạo của chúng đang biến việc xây dựng antahkarana thành một thành tựu nổi bật, nhờ đó liên kết và chỉnh hợp ba khía cạnh trong con người. Điều tương tự cũng đúng với ba trung tâm thiêng liêng trên hành tinh vốn hiện thân cho các phẩm tính thiêng liêng này: Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại. Ba trung tâm này giờ đây đang được chỉnh hợp mật thiết với nhau, nhờ đó tạo ra một sự dung hợp các năng lượng đang gây ra một dòng đổ xuống của ý chí tinh thần, cũng như một sự biểu hiện của khía cạnh Hủy Diệt.
I have here indicated much of interest; I have pointed out a goal and indicated a Way. I have related (in consciousness) the Hierarchy and Shamballa. This signifies a great and critical moment in human affairs and an opportunity hitherto unparalleled in history. The need for a due appreciation of this will be evident, and should incite all who read to renewed effort and to fresh endeavour. Students must [474] seek to meet all the planetary changes and opportunities with corresponding changes in their own lives. They must seek those new attitudes and those new creative approaches which will result not alone in the building of the individual antahkarana, but also in the fusion of the many “radiant strands” which will produce those “connecting cables,” speaking symbolically, which will relate the planetary centres and present the medium along which can pass the fiery will and the predetermined purpose of Deity. This will bring about the reconstruction of the manifested worlds, and in this task each and every one of you can have his share.
Tôi đã chỉ ra ở đây nhiều điều thú vị; tôi đã vạch rõ một mục tiêu và chỉ ra một Con Đường. Tôi đã liên kết (trong tâm thức) Thánh đoàn và Shamballa. Điều này đánh dấu một khoảnh khắc vĩ đại và then chốt trong công cuộc nhân sự và một cơ hội chưa từng có trong lịch sử. Sự cần thiết phải nhận định đúng đắn về điều này là điều hiển nhiên, và nên thúc đẩy tất cả những ai đọc được điều này dốc lòng nỗ lực và cố gắng mới mẻ. Các học viên [474] phải tìm cách đáp ứng với mọi thay đổi và cơ hội trên bình diện hành tinh bằng những thay đổi tương ứng trong chính đời sống của họ. Họ phải tìm kiếm những thái độ mới và những phương pháp tiếp cận sáng tạo mới sẽ mang lại không chỉ việc xây dựng antahkarana cá nhân, mà còn là sự dung hợp của nhiều “sợi sáng rực rỡ” sẽ tạo thành những “dây cáp kết nối”, nói một cách biểu tượng, vốn sẽ liên kết các trung tâm hành tinh và tạo ra một phương tiện mà qua đó ý chí hừng hực và Thiên Ý đã định trước của Thượng Đế có thể tuôn chảy. Điều này sẽ mang lại sự tái thiết các thế giới hiện hình, và trong công việc này, mỗi người trong các bạn đều có phần của mình.
Let us now take up our next point in this section and indicate the technique for the constructing of the antahkarana. This will constitute an intensely practical teaching for which all that I have hitherto given should prove a firm foundation.
Giờ đây chúng ta hãy tiếp tục điểm kế tiếp trong phần này và trình bày kỹ thuật xây dựng antahkarana. Điều này sẽ tạo thành một giáo lý hết sức thực tiễn, mà mọi điều tôi đã trình bày trước đây nên được xem như là nền tảng vững chắc.
Webinar 36
The Technique of Construction
It is my intention to be very practical. The building of the antahkarana (which is consciously undertaken upon the Path of Discipleship) is a process which is followed under certain ancient and proven rules. When these rules are correctly followed, the sequence of events and the appearance of the desired results are inevitable and unavoidable. There is much that I could say which would be of small use to the average aspirant, as it would be concerned with subjective realities which—though existent and occult facts in a natural process—are as yet unrealisable. My problem is to present the process in such a manner that—towards the end of this century—educators will be thinking, speaking and teaching in terms of bridging, and thus approaching basic statements which have a definite bearing upon this point which we are considering. I would like here very succinctly to recall a few of them to your attention:
Ý định của tôi là trình bày một cách rất thực tiễn. Việc xây dựng antahkarana (vốn được thực hiện một cách có ý thức trên Con Đường Đệ Tử) là một tiến trình được thực hiện theo những quy luật cổ xưa và đã được kiểm chứng. Khi những quy luật này được tuân theo một cách đúng đắn, chuỗi sự kiện và sự xuất hiện của kết quả mong muốn là điều không thể tránh khỏi. Có rất nhiều điều mà tôi có thể nói ra nhưng sẽ ít hữu ích đối với người chí nguyện trung bình, vì chúng liên quan đến các thực tại chủ quan — dù chúng tồn tại và là những sự kiện huyền môn trong một tiến trình tự nhiên — vẫn còn vượt ngoài khả năng nhận thức hiện thời. Vấn đề của tôi là trình bày tiến trình này theo một cách mà — vào cuối thế kỷ này — các nhà giáo dục sẽ bắt đầu suy nghĩ, nói và giảng dạy bằng những thuật ngữ về việc bắc cầu, và nhờ đó tiếp cận các khẳng định căn bản có liên hệ rõ rệt đến điểm mà chúng ta đang xem xét. Tại đây, tôi muốn nhắc lại một cách rất ngắn gọn một vài khẳng định như sau:
1. Knowledge-force expresses itself through the consciousness thread and the creative thread.
1. Mãnh lực-tri thức tự biểu hiện thông qua sợi dây tâm thức và sợi dây sáng tạo.
2. These two threads are, for the disciple, a fusion of [475] past knowledge (the consciousness thread) and the present (the creative thread).
2. Đối với người đệ tử, hai sợi dây này là sự dung hợp của [475] tri thức quá khứ (sợi dây tâm thức) và hiện tại (sợi dây sáng tạo).
3. The life thread or sutratma proper is closely blended with these two. You then have atma-buddhi-manas (the latter being the agent of creation) functioning to a certain degree consciously in the aspirant.
3. Sợi dây sự sống hay sutratma thực sự được hòa quyện mật thiết với hai sợi dây trên. Khi đó, các bạn có atma-buddhi-manas (trong đó manas là tác nhân của sáng tạo) đang hoạt động đến một mức độ nhất định có ý thức trong người chí nguyện.
4. The fusion of personality and soul is in process, but when it has reached a certain point it becomes apparent that a creativity or a creative activity of the Will is needed to bridge between the Spiritual Triad and the personality, via the soul.
4. Sự dung hợp giữa phàm ngã và linh hồn đang diễn tiến, nhưng khi nó đạt đến một điểm nhất định, sẽ trở nên rõ ràng rằng cần đến một sự sáng tạo hay một hoạt động sáng tạo của Ý chí để bắc cầu giữa Tam nguyên tinh thần và phàm ngã, thông qua trung gian là linh hồn.
5. The bridge which must be constructed is called, technically, the antahkarana.
5. Cây cầu phải được kiến tạo đó về mặt kỹ thuật được gọi là antahkarana.
6. This bridge has to be built by the aspirant who is focussed upon the mental plane, because it is mental substance (in three grades) which must be used, and the three aspects of the mind—the manasic permanent atom, the Son of Mind or Ego, and the mental unit—are all involved in the process.
6. Cây cầu này phải được xây dựng bởi người chí nguyện đã định vị trên cõi trí, vì chính chất liệu trí tuệ (trong ba cấp độ) phải được sử dụng, và ba khía cạnh của trí tuệ — nguyên tử trường tồn manasic, Đứa Con của Trí Tuệ hay Bản Ngã, và đơn vị trí tuệ — tất cả đều tham gia trong tiến trình này.
Students would do well to learn that this process of building the antahkarana is one of the means whereby man, the trinity, becomes a duality. When the task is completed and the antahkarana is definitely built—thus producing perfect alignment between the Monad and its expression upon the physical plane—the body of the soul (the causal body) is completely and finally destroyed by the fire of the Monad, pouring down the antahkarana. There is then complete reciprocity between the Monad and the fully conscious soul on the physical plane. The “divine intermediary” is no longer required. The “Son of God Who is the Son of Mind” dies; the “veil of the temple is rent in twain from the top to the bottom”; the fourth initiation is passed, and there then comes the revelation of the Father.
Các học viên nên hiểu rằng tiến trình xây dựng antahkarana là một trong những phương tiện qua đó con người — vốn là một tam phân thể — trở thành nhị nguyên. Khi nhiệm vụ này hoàn tất và antahkarana được kiến tạo rõ ràng — nhờ đó tạo ra sự chỉnh hợp hoàn hảo giữa Chân Thần và biểu hiện của Ngài trên cõi trần — thì thể linh hồn (thể nhân quả) sẽ hoàn toàn và dứt khoát bị hủy diệt bởi lửa của Chân Thần, đổ xuống qua antahkarana. Khi đó sẽ có sự thông giao hoàn toàn giữa Chân Thần và linh hồn đã hoàn toàn tỉnh thức trên cõi trần. “Đấng Trung Gian thiêng liêng” không còn cần thiết nữa. “Người Con của Thượng Đế, Đấng là Con của Trí Tuệ” chết đi; “bức màn trong đền thờ bị xé ra làm hai từ trên xuống dưới”; lần điểm đạo thứ tư được vượt qua, và khi đó sẽ có sự mặc khải của Đức Cha.
This is the final and far-reaching result of the building of the bridge which is, in reality, the establishing of a line of light between Monad and personality as a full expression of the soul—between spirit and matter, between Father and Mother. It is evidence that “spirit has mounted on the [476] shoulders of matter” to that high place from whence it originally came, plus the gain of experience and of full knowledge, and of all that life in material form could give and all that conscious experience could confer. The Son has done His work. The task of the Saviour or of the Mediator has been completed. The unity of all things is known to be a fact in consciousness, and a human spirit can say with intention and with understanding: “I and my Father are one.”
Đây là kết quả sau cùng và sâu xa của việc xây dựng cây cầu, vốn trên thực tế là sự thiết lập một dòng ánh sáng giữa Chân Thần và phàm ngã như là biểu hiện trọn vẹn của linh hồn — giữa tinh thần và vật chất, giữa Cha và Mẹ. Đó là bằng chứng cho thấy “tinh thần đã cưỡi trên [476] vai vật chất” để vươn đến nơi cao cả từ đó nó đã khởi hành, cộng với những gì đã thu được từ kinh nghiệm, từ tri thức trọn vẹn, và từ tất cả những gì mà đời sống trong hình tướng vật chất có thể ban tặng và mọi trải nghiệm có ý thức có thể truyền trao. Người Con đã hoàn tất công việc của Ngài. Nhiệm vụ của Đấng Cứu Độ hay của Đấng Trung Gian đã được hoàn thành. Sự hợp nhất của muôn vật được biết là một sự thật trong tâm thức, và một tinh thần nhân loại có thể nói với chủ ý và sự thấu hiểu rằng: “Ta và Cha là một.”
The above is a brief and probably meaningless statement except theoretically, but it summarises the task which lies ahead and the work of the disciple who is in process of constructing the antahkarana. There is a close connection between the fourth initiation, the quaternary in its evolved condition—vital body, emotional vehicle, mind and soul—and this fourth technical stage of building consciously the “rainbow bridge.” You have therefore:
Những điều trên chỉ là một tuyên bố ngắn gọn và có lẽ còn vô nghĩa nếu chỉ xét trên lý thuyết, nhưng nó tóm lược nhiệm vụ phía trước và công việc của người đệ tử đang trong tiến trình xây dựng antahkarana. Có một mối liên hệ mật thiết giữa lần điểm đạo thứ tư, bộ tứ trong trạng thái tiến hóa của nó — thể sinh lực, thể cảm xúc, trí tuệ và linh hồn — và giai đoạn kỹ thuật thứ tư này trong việc xây dựng một cách có ý thức “cây cầu cầu vồng.” Do đó, các bạn có:
1. The Quaternary, the creative factor on Earth.
1. Bộ tứ, yếu tố sáng tạo trên Địa cầu.
2. The fourth initiation, that of the Crucifixion.
2. Lần điểm đạo thứ tư, tức là lần đóng đinh.
3. The fourth technical stage of building the Antahkarana:
3. Giai đoạn kỹ thuật thứ tư của việc xây dựng Antahkarana:
a. Sutratma, the life thread.
a. Sutratma, sợi dây sự sống.
b. The consciousness thread.
b. Sợi dây tâm thức.
c. The creative thread, itself threefold.
c. Sợi dây sáng tạo, tự thân là ba phần.
d. The technical antahkarana, bridging between the threefold personality and the Spiritual Triad.
d. Antahkarana về mặt kỹ thuật, bắc cầu giữa phàm ngã ba phần và Tam nguyên tinh thần.
4. The four stages of the Path of Return:
4. Bốn giai đoạn của Con Đường Trở Về:
a. The stage of evolution itself.
a. Giai đoạn của chính tiến hóa.
b. The stage of the Probationary Path.
b. Giai đoạn của Con Đường Dự Bị.
c. The stage of the Path of Discipleship.
c. Giai đoạn của Con Đường Đệ Tử.
d. The stage of the Path of Initiation.
d. Giai đoạn của Con Đường Điểm Đạo.
Yet it is one and the same entity which participates in and is responsible for all the differentiated aspects, steps and stages—experimenting, experiencing and expressing consciously in every one of these stages or modes of life, until the fourth initiation. Then consciousness itself gives place to life, and yet remains itself. To the above statement, add [477] the fact that it is the fourth kingdom in nature which undergoes all that is indicated above and is conditioned by the four aspects of the one sutratma. Once this is grasped, the beauty of the symbolism and the numerological relationships emerge significantly.
Tuy nhiên, đó vẫn là một và cùng một thực thể đang tham gia và chịu trách nhiệm cho tất cả các khía cạnh, các bước và các giai đoạn được phân biệt — thể nghiệm, trải nghiệm và biểu lộ một cách có ý thức trong từng giai đoạn hay phương thức sống này, cho đến lần điểm đạo thứ tư. Khi ấy, chính tâm thức được thay thế bởi sự sống, và tuy vậy vẫn giữ lại chính nó. Vào khẳng định trên, hãy bổ sung [477] thực tế rằng chính giới thứ tư trong thiên nhiên là giới trải qua tất cả những điều được chỉ ra ở trên và bị điều kiện hóa bởi bốn khía cạnh của một sutratma. Khi điều này được nắm bắt, vẻ đẹp của biểu tượng và các mối quan hệ số học sẽ hiện lộ một cách đầy ý nghĩa.
Webinar 37
The Construction of the Antahkarana...Past
In connection with this there is no need for elaboration, as it must be obvious that only the man who is the product of a very long and fruitful past experience is equipped to undertake the task of bridge building. The process involves much scientific experience in the art of living, and only the highly trained human enquirer can soundly and safely build the bridge between the highest and the lowest. Each of the major human races has been responsible for the expression and the employment of the threads which together form the antahkarana:
Liên quan đến điều này, không cần phải diễn giải dài dòng, vì rõ ràng rằng chỉ người nào là kết quả của một quá khứ rất dài và đầy thành quả mới được trang bị đầy đủ để đảm nhận nhiệm vụ xây dựng cây cầu. Tiến trình này bao hàm rất nhiều kinh nghiệm khoa học trong nghệ thuật sống, và chỉ người truy cầu nhân loại đã được huấn luyện cao mới có thể xây dựng cây cầu giữa cao và thấp một cách vững chắc và an toàn. Mỗi giống dân chính của nhân loại đều đã chịu trách nhiệm trong việc biểu hiện và sử dụng các sợi dây vốn cùng nhau tạo thành antahkarana:
1. In ancient Lemuria, the life thread, the sutratma per se, was the dominant factor in the life expression; the physical body, the animal form nature, and the dense outer factor was the focus of life exuberant, productive and vital.
1. Trong thời kỳ Lemuria cổ xưa, sợi dây sự sống, tức sutratma tự thân, là yếu tố chi phối trong sự biểu hiện của sự sống; thể xác, bản chất hình tướng thú vật, và yếu tố ngoại hiện đặc là trọng tâm của đời sống sung mãn, sinh động và mạnh mẽ.
2. In old Atlantis, the consciousness thread began to function in a way unrealised in Lemuria. Sensitivity, awareness and—as a result—desire and reaction were the keynotes. Active sensitivity as a prelude to full consciousness distinguished the human being. The astral vehicle was a controlling factor. The mind was relatively quiescent, except where the foremost members of the human race were concerned. The humanity of that world cycle were, however, all of them extremely psychic and mediumistic; they were “sensitives,” in the modern use of the term. The state of awareness was astral, and human beings were—as a race—clairaudient and clairvoyant, though in no way able to interpret that which they contacted; they were not able to distinguish astral phenomena from ordinary physical life (particularly in the middle period of their racial history), and the interpreting mind revealed nothing to them. They [478] simply lived and felt. Such was their life history. Two of the threads were functioning; one was not functioning at all. The bridge was not built.
2. Trong Atlantis xưa, sợi dây tâm thức bắt đầu vận hành theo cách mà ở Lemuria chưa từng có. Nhạy cảm, nhận thức và — kết quả là — dục vọng và phản ứng là những âm điệu chủ đạo. Sự nhạy cảm tích cực như là bước mở đầu cho tâm thức trọn vẹn là điều phân biệt con người. Thể cảm xúc là yếu tố chi phối. Trí tuệ tương đối yên tĩnh, trừ những trường hợp các thành viên tiên phong của nhân loại. Tuy nhiên, nhân loại trong chu kỳ thế giới đó hầu như đều rất có khả năng tâm linh và đồng cốt; họ là những “người nhạy cảm”, theo cách hiểu hiện đại của thuật ngữ này. Trạng thái nhận thức của họ là cảm dục, và với tư cách một chủng tộc, con người khi ấy là những người thông nhĩ và thông nhãn, tuy nhiên không hề có khả năng diễn giải những gì họ tiếp xúc được; họ không thể phân biệt hiện tượng cảm dục với đời sống vật chất thông thường (đặc biệt là trong giai đoạn giữa của lịch sử chủng tộc của họ), và trí tuệ diễn giải không hề hé lộ điều gì cho họ. Họ [478] đơn giản là sống và cảm nhận. Đó là lịch sử đời sống của họ. Hai sợi dây đã hoạt động; một sợi thì hoàn toàn chưa vận hành. Cây cầu chưa được xây dựng.
3. In our modern Aryan race—modern as far as racial histories are concerned—the third thread, the creative thread, comes into active expression and use. I would remind you that all these threads exist from the beginning of human existence, and that all these three streams of energy have been indissolubly present from the beginning of human consciousness. But for the greater part of human history, up to the present, men remained unaware of them, and quite unconsciously made use of and continued to make use of their presence. The process of recognising creative ability and of opportunity falls into two phases or stages:
3. Trong giống dân Arya hiện đại — gọi là hiện đại theo bối cảnh lịch sử chủng tộc — sợi dây thứ ba, sợi dây sáng tạo, bắt đầu được biểu hiện và sử dụng một cách tích cực. Tôi xin nhắc lại rằng tất cả các sợi dây này đã tồn tại từ khởi đầu của hiện hữu nhân loại, và rằng cả ba dòng năng lượng này đã hiện diện không thể tách rời từ khi tâm thức con người bắt đầu. Nhưng trong phần lớn lịch sử nhân loại cho đến nay, con người vẫn chưa nhận thức được chúng, và đã vô thức sử dụng cũng như tiếp tục sử dụng sự hiện diện của chúng. Tiến trình nhận biết năng lực sáng tạo và cơ hội được chia làm hai giai đoạn:
a. The stage wherein the mind principle is developed and unfolded and man becomes a mental creature. This produces the full activity of the mental unit, the integration of the three aspects of the personality, and the consequent awareness of the Son of Mind or soul.
a. Giai đoạn trong đó nguyên lý trí tuệ được phát triển và khai mở và con người trở thành một sinh linh trí tuệ. Điều này tạo ra hoạt động đầy đủ của đơn vị trí tuệ, sự tích hợp ba khía cạnh của phàm ngã, và sự nhận thức tương ứng về Đứa Con của Trí Tuệ hay linh hồn.
b. The stage of creative activity wherein the creative thread is brought into full use. This personality use of the thread—as distinguished from racial use—is characteristic of the Aryan race. It is only during the past five thousand years that it has gradually become the outstanding quality of mankind. In the other two races, and in the early stages of the Aryan race, although great creative monuments appeared everywhere upon the planet, they were not the product of the minds of the men of the time, but were the imposition of the creative will of the planetary Hierarchy upon those who were sensitive to the higher impression. The responsive sensitivity to creative impression was the outstanding quality of the later Atlantean consciousness and of the early Aryan period. It is today giving place to individual creativity, and consequently to the conscious creation of the bridging [479] antahkarana, which is the outcome of the fused and blended threefold thread.
b. Giai đoạn hoạt động sáng tạo trong đó sợi dây sáng tạo được đưa vào sử dụng hoàn toàn. Việc sử dụng sợi dây này bởi phàm ngã — khác biệt với việc sử dụng mang tính chủng tộc — là đặc điểm của giống dân Arya. Chỉ trong khoảng năm nghìn năm trở lại đây, điều này mới dần trở thành phẩm tính nổi bật của nhân loại. Trong hai giống dân trước đó, và trong các giai đoạn đầu của giống dân Arya, mặc dù các công trình sáng tạo vĩ đại đã xuất hiện khắp nơi trên hành tinh, chúng không phải là sản phẩm của trí tuệ con người thời đó, mà là sự áp đặt của ý chí sáng tạo từ Thánh đoàn hành tinh lên những ai nhạy cảm với ấn tượng cao siêu. Tính nhạy cảm đáp ứng với ấn tượng sáng tạo là đặc tính nổi bật của tâm thức Atlantis thời kỳ sau và của giai đoạn đầu giống dân Arya. Ngày nay, điều này đang nhường chỗ cho sự sáng tạo cá nhân, và do đó dẫn đến việc xây dựng có ý thức cây cầu antahkarana, vốn là kết quả của sợi dây ba phần đã được dung hợp và hòa quyện.
This brief summation of the past process is intended simply to give a synthetic background to all the work now to be done, and to convey to you an almost visual concept of the method whereby man has reached the stage of conscious life, of full self-awareness and creative expression. All of these were the expression of divine energy as it poured into his mechanism, via the silver thread of divine potency. This might be regarded as a threefold demonstration of the vertical life which becomes the horizontal life through the expression of creativity. Man then indeed becomes the Cross. When, however, he succeeds in constructing the rainbow bridge (which can only be done when man is upon the Fixed Cross), then finally the Cross gives place to the line. This takes place after the fourth initiation—that of the Crucifixion. There remains then only the vertical line “reaching from Heaven to Hell.” The goal of the initiate (between the fourth and the seventh initiations) is to resolve the line into the circle, and thus fulfill the law and the “rounding out” of the evolutionary process.
Bản tổng kết ngắn gọn về tiến trình trong quá khứ này nhằm đơn thuần cung cấp một bối cảnh tổng hợp cho toàn bộ công việc hiện nay phải thực hiện, và truyền đạt đến các bạn một hình ảnh gần như trực quan về phương pháp mà qua đó con người đã đạt đến giai đoạn sống có ý thức, tự thức trọn vẹn và biểu lộ sáng tạo. Tất cả những điều này là sự biểu hiện của năng lượng thiêng liêng khi nó tuôn đổ vào cơ cấu con người thông qua sợi dây bạc của quyền năng thiêng liêng. Điều này có thể được xem là một sự biểu hiện ba phần của đời sống theo chiều dọc, vốn trở thành đời sống theo chiều ngang thông qua biểu hiện của sự sáng tạo. Khi ấy, con người thực sự trở thành Thập Tự Giá. Tuy nhiên, khi con người thành công trong việc kiến tạo cây cầu cầu vồng (điều chỉ có thể thực hiện khi con người đang ở trên Thập Tự Giá Cố Định), thì cuối cùng Thập Tự Giá sẽ được thay thế bởi đường thẳng. Điều này xảy ra sau lần điểm đạo thứ tư — tức là lần đóng đinh. Khi ấy chỉ còn lại đường thẳng đứng “vươn từ Thiên đường đến Địa ngục.” Mục tiêu của điểm đạo đồ (giữa lần điểm đạo thứ tư và thứ bảy) là biến đường thẳng ấy thành vòng tròn, và như thế hoàn thành luật và việc “làm tròn đầy” tiến trình tiến hóa.
Another summation of the entire process may be found in the lines from Stanzas for Disciples which I gave out some time ago (June 1930) and which will also be found elsewhere in this volume.
Một bản tổng kết khác về toàn bộ tiến trình này có thể được tìm thấy trong các dòng thơ Stanzas for Disciples mà tôi đã ban ra từ lâu (tháng 6 năm 1930) và sẽ được tìm thấy ở nơi khác trong tập sách này.
“In the Cross is hidden Light. The vertical and horizontal in mutual friction creates a vibrant Cross scintillates, and motion originates. When the vertical assumes the horizontal, pralaya supervenes. Evolution is the movement of the horizontal to upright positiveness. In the secret of direction lies the hidden wisdoms in the doctrine of absorption lies the healing faculty in the point becoming the line, and the line becoming the cross is evolution. In the cross swinging to the horizontal lies salvation and pralayic peace.”
“Trong Thập Tự Giá ẩn giấu Ánh Sáng. Trục dọc và ngang trong sự ma sát hỗ tương tạo nên Thập Tự Giá sống động chói lòa, và chuyển động khởi sinh. Khi trục dọc trở thành trục ngang, pralaya xuất hiện. Tiến hóa là sự chuyển động từ chiều ngang sang tư thế thẳng đứng đầy khẳng quyết. Trong bí mật của phương hướng nằm ẩn các minh triết; trong giáo lý hấp thu nằm khả năng chữa lành; trong điểm trở thành đường, và đường trở thành thập tự là tiến hóa. Trong Thập Tự xoay về phương ngang nằm sự cứu rỗi và an bình pralaya.”
It might be said that few, very few, people are today at the Lemurian stage of consciousness wherein the life thread, [480] with its physical implications, is the dominant factor. Many, very many, people are at the Atlantean stage of development of “auric sensitivity.” A few—a very few in comparison with the untold masses of human beings—are utilising the results of the triple construction of energy within their own aura of awareness and their area of influence, in order to build, construct and utilise the bridge which links the various aspects of the mental plane. These three aspects they must employ simultaneously, and then later supersede them in such a manner that personality and ego disappear and only the Monad and its form upon the physical plane remain. In this connection, my earlier statement on the nature of form may be useful and lead to increased insight and understanding:
Có thể nói rằng rất ít, rất rất ít người hiện nay còn ở giai đoạn tâm thức Lemuria, nơi mà sợi dây sự sống [480] cùng với các hàm ý vật chất của nó là yếu tố chi phối. Rất nhiều, rất rất nhiều người đang ở giai đoạn Atlantis của sự “nhạy cảm hào quang.” Một số ít — rất ít so với vô số khối quần chúng nhân loại — đang sử dụng kết quả của sự kiến tạo năng lượng ba phần trong chính hào quang nhận thức và vùng ảnh hưởng của họ, nhằm kiến tạo, xây dựng và vận dụng cây cầu nối kết các khía cạnh khác nhau của cõi trí. Ba khía cạnh này họ phải sử dụng đồng thời, và rồi sau đó vượt lên trên chúng theo cách mà cả phàm ngã lẫn bản ngã đều biến mất, và chỉ còn lại Chân Thần cùng hình tướng của Ngài trên cõi trần. Liên quan đến điều này, phát biểu trước đó của tôi về bản chất của hình tướng có thể hữu ích và dẫn đến cái nhìn sâu sắc và sự thấu hiểu ngày càng tăng:
The physical plane is a complete reflection of the mental; the lowest three subplanes reflect the abstract subplanes, and the four etheric subplanes reflect the four mental concrete planes. The manifestation of the Ego on the mental plane for the causal body) is not the result of energy emanating from the permanent atoms as a nucleus of force, but is the result of different forces, and primarily of group force. It is predominantly marked by an act of an exterior force, and is lost in the mysteries of planetary karma. This is equally true of man's lowest manifestations. It is the result of reflex action, and is based on the force of the group of etheric centres through which man (as an aggregate of lives) is functioning. The activity of these centres sets up an answering vibration in the three lowest subplanes of the physical plane, and the interaction between the two causes an adherence to or aggregation around, the etheric body of particles of what we erroneously term 'dense substance.' This type of energised substance is swept up in the vortex of force currents issuing from the centres and cannot escape. These units of force, therefore, pile up according to the energy direction around and within the etheric sheath till it is hidden and concealed, yet interpenetrating. An inexorable law, the law of matter itself, brings this [481] about, and only those can escape the effect of the vitality of their own centres who are definitely 'Lords of Yoga' and can—through the conscious will of their own being—escape the compelling force of the Law of Attraction working on the lowest cosmic physical subplane.
Cõi trần là một sự phản chiếu hoàn toàn của cõi trí; ba phân cảnh thấp nhất phản ánh các phân cảnh trừu tượng, và bốn phân cảnh khí chất phản ánh bốn phân cảnh trí cụ thể. Sự biểu hiện của Bản ngã trên cõi trí (tức là thể nhân quả) không phải là kết quả của năng lượng phát ra từ các nguyên tử trường tồn như một hạch nhân của mãnh lực, mà là kết quả của những mãnh lực khác nhau, và chủ yếu là của mãnh lực nhóm. Nó được đánh dấu rõ rệt bởi hành động của một mãnh lực bên ngoài, và bị che giấu trong các huyền nhiệm của nghiệp quả hành tinh. Điều này cũng đúng với các biểu hiện thấp nhất của con người. Đó là kết quả của phản ứng phản chiếu, và được đặt nền trên mãnh lực của nhóm các trung tâm khí chất thông qua đó con người (với tư cách là một tổng thể của các đơn vị sống) đang hoạt động. Hoạt động của các trung tâm này tạo ra một rung động đáp ứng trong ba phân cảnh thấp nhất của cõi trần, và sự tương tác giữa hai bên gây ra một sự bám dính hoặc sự tụ hợp quanh thể dĩ thái các hạt chất mà chúng ta lầm gọi là “chất đặc.” Loại chất được tiếp năng lượng này bị cuốn vào trong xoáy năng lượng phát xuất từ các trung tâm và không thể thoát ra. Do đó, các đơn vị mãnh lực này tích tụ lại tùy theo hướng năng lượng xung quanh và bên trong thể dĩ thái cho đến khi thể này bị che lấp, ẩn tàng, tuy vẫn xuyên thấu. Một định luật không thể lay chuyển, định luật của chính vật chất, mang lại điều này [481], và chỉ những ai thực sự là “Chúa Tể của Yoga” và có thể — thông qua ý chí có ý thức của bản thể họ — thoát khỏi mãnh lực bắt buộc của Định Luật Hấp Dẫn đang hoạt động trên phân cảnh thấp nhất của cõi hồng trần vũ trụ mới có thể vượt thoát hiệu ứng của sinh lực từ chính các trung tâm của mình.
A TREATISE ON COSMIC FIRE, PAGE 789
(A Treatise on Cosmic Fire, trang 789)
Webinar 38
I have earlier told you that the astral body is an illusion. It is eventually discovered to be nonexistent by the man who has achieved the consciousness of the initiate. When buddhi reigns, the lower psychic nature fades out.
Trước đây tôi đã nói với các bạn rằng thể cảm dục là một ảo tưởng. Nó rốt cuộc được người đã đạt đến tâm thức điểm đạo phát hiện là không tồn tại. Khi bồ đề ngự trị, bản chất tâm linh thấp hơn mờ dần đi.
When the antahkarana is built, and the mental unit is superseded by the manasic permanent atom, and the causal body disappears, then the adept knows that the lower mind, the mental body, is also an illusion and is, for him, non-existent. There are then—as far as his individual consciousness is concerned—only three focal points or anchorages (both of these expressions are inadequate to express the full meaning):
Khi antahkarana được xây dựng, và đơn vị trí tuệ được thay thế bởi nguyên tử trường tồn manasic, và thể nhân quả biến mất, khi ấy vị đạo đồ biết rằng trí tuệ thấp, thể trí, cũng là một ảo tưởng và đối với y không còn tồn tại. Khi đó — xét theo phương diện tâm thức cá nhân của y — chỉ còn ba điểm tập trung hay neo đậu (cả hai cách diễn đạt này đều không đủ để truyền tải trọn vẹn ý nghĩa):
1. Humanity, in which he can focus himself at will through the medium of what is called technically the “mayavirupa”—a bodily form which he creates for the fulfillment of monadic purpose.
1. Nhân loại, trong đó y có thể tập trung bản thân theo ý muốn thông qua trung giới của điều mà về mặt kỹ thuật được gọi là “mayavirupa” — một hình thể thể xác mà y tạo ra để thực hiện Thiên Ý của Chân Thần.
He then fully expresses all the energies of the Mutable Cross.*
Khi đó y hoàn toàn biểu lộ tất cả các năng lượng của Thập Giá Biến Đổi.
2. The Hierarchy. Here, as a focussed unit of all-inclusive buddhic awareness, he finds his place and mode of service, conditioned by his monadic ray.
2. Thánh đoàn. Tại đây, như một đơn vị tập trung của nhận thức Bồ đề bao trùm mọi sự, y tìm thấy vị trí và phương thức phụng sự của mình, được điều kiện hóa bởi cung của Chân Thần y.
He then expresses the values of the Fixed Cross *
Khi đó y biểu lộ các giá trị của Thập Giá Cố Định.
3. Shamballa. This is his highest point of focus, the goal of the exertions of all initiates of the higher degrees and the source of the sutratma, through which (and its differentiations) he can now consciously work.
3. Shamballa. Đây là điểm tập trung cao nhất của y, là mục tiêu của mọi nỗ lực của các điểm đạo đồ thuộc các cấp cao hơn và là nguồn của sutratma, thông qua đó (và các phân biệt của nó) y giờ đây có thể làm việc một cách có ý thức.
Here he finds himself still crucified, but on the Cardinal Cross*.
Tại đây y nhận thấy mình vẫn còn bị đóng đinh, nhưng trên Thập Giá Chủ Yếu.
*(A Treatise on the Seven Rays, Vol III, Esoteric Astrology, Chapter VI.)
(Luận về Bảy Cung, Tập III, Chiêm Tinh Học Nội Môn, Chương VI.)
The task with which the human being in all his stages [482] of unfoldment has been occupied might therefore be stated to be the bridging of the gap between:
Nhiệm vụ mà con người, qua tất cả các giai đoạn [482] khai mở của mình, đã và đang đảm nhận có thể được tuyên bố là bắc cầu khoảng cách giữa:
1. The Mutable Cross and the Fixed Cross.
1. Thập Giá Biến Đổi và Thập Giá Cố Định.
2. Humanity and the Hierarchy.
2. Nhân loại và Thánh đoàn.
3. The lower triplicity, the personality, and the Spiritual Triad.
3. Bộ ba thấp, tức là phàm ngã, và Tam nguyên tinh thần.
4. The Monad on its own plane and the outer objective world.
4. Chân Thần trên cõi riêng của nó và thế giới khách quan bên ngoài.
This he does through a process of Intention, Visualisation, Projection, Invocation and Evocation, Stabilisation and Resurrection. With these various stages, we will now deal.
Điều này y thực hiện thông qua tiến trình của Ý Định, Quán Tưởng, Phóng Chiếu, Khẩn Nguyện và Khơi Gợi, Ổn Định và Phục Sinh. Chúng ta sẽ bàn đến các giai đoạn khác nhau này ngay sau đây.
The Construction of the Antahkarana in the Aryan Race. Present
Việc Xây Dựng Antahkarana trong Giống Dân Arya. Hiện tại
I would like to pause here and make a few remarks anent this relatively new process of building the antahkarana. It has been known and followed by those who were training for affiliation with the Hierarchy, but it has not been given out before to the general public. There are two things which it is essential that the student should note: one is that unless it is borne in mind that we are concerned with energy, and with energy which must be scientifically used, this whole teaching will prove futile. Secondly, it must be remembered that we are dealing with a technique and process which are dependent upon the use of the creative imagination. When these two factors are brought together (consciously and deliberately)—the factor of energy substance and the factor of planned impulse—you have started a creative process which will be productive of major results. The human being lives in a world of varied energies which are sometimes expressing themselves as dynamic, positive energies, as receptive, negative energies, or as magnetic, attractive forces. An understanding of this statement will substantiate that made by H.P.B. that “matter is spirit at its lowest point,” and the reverse is equally true. The whole process is one of establishing constructive relations between negative and positive energies and the subsequent production of magnetic force. This is the creative [483] process. It is true of the activity of a solar Logos, of a planetary Logos and of a human being—the only conscious creators in the universe. It must prove true of the disciple, who is attempting to bring into a constructive relation the Monad and the human expression in the three worlds of human evolution.
Tôi muốn tạm dừng tại đây và đưa ra vài nhận xét liên quan đến tiến trình tương đối mới mẻ này—xây dựng antahkarana. Nó đã được biết đến và được thực hành bởi những ai đang được huấn luyện để gia nhập Thánh đoàn, nhưng chưa từng được phổ biến ra công chúng rộng rãi trước đây. Có hai điều mà học viên cần phải đặc biệt lưu ý: thứ nhất, nếu không ghi nhớ rằng chúng ta đang nói đến năng lượng, và đến năng lượng cần phải được sử dụng một cách khoa học, thì toàn bộ giáo lý này sẽ trở nên vô ích. Thứ hai, cần nhớ rằng chúng ta đang bàn đến một kỹ thuật và một tiến trình vốn phụ thuộc vào việc sử dụng trí tưởng tượng sáng tạo. Khi hai yếu tố này được kết hợp lại (một cách có ý thức và chủ đích)—yếu tố chất liệu năng lượng và yếu tố xung lực được hoạch định—thì bạn đã khởi đầu một tiến trình sáng tạo có thể mang lại những kết quả trọng yếu. Con người sống trong một thế giới của các loại năng lượng đa dạng, đôi khi biểu lộ như những năng lượng động, tích cực; như những năng lượng tiếp nhận, tiêu cực; hoặc như những lực từ tính, lôi cuốn. Hiểu được mệnh đề này sẽ xác nhận phát biểu của H.P.B. rằng “vật chất là tinh thần ở điểm thấp nhất của nó,” và điều ngược lại cũng hoàn toàn đúng. Toàn bộ tiến trình là việc thiết lập các mối quan hệ có tính kiến tạo giữa các năng lượng âm và dương, và việc sản sinh mãnh lực từ tính tiếp theo sau đó. Đây chính là tiến trình sáng tạo [483]. Điều này đúng với hoạt động của một Thái dương Thượng đế, một Hành Tinh Thượng đế, và một con người—ba đối tượng sáng tạo có ý thức duy nhất trong vũ trụ. Điều đó cũng phải trở thành sự thật với người đệ tử, người đang cố gắng kiến tạo một mối liên hệ kiến tạo giữa Chân Thần và biểu lộ nhân loại của y trong ba cõi của sự tiến hóa nhân loại.
There has been much emphasis upon the life of the soul and its expression upon the physical plane; this has been necessary and a part of the evolutionary development of the human consciousness. The kingdom of souls must eventually give place to the rule of the spirit; the energy of the Hierarchy must become a force, receptive to the energy of Shamballa, just as the force of humanity has to become receptive to the energy of the kingdom of souls. Today all three processes are going on simultaneously, though the receptivity of the Hierarchy to the second aspect of the Shamballa energy is only now beginning to be recognisable. The Hierarchy has for long been receptive to the third or creative aspect of the Shamballa energy, and—at some very distant period—it will be responsive to the first aspect of that same energy. The triple nature of the divine manifestation must also express itself as a duality. This can be understood in a faint way when the disciple realises that (after the third initiation) he too must learn to function as a duality—Monad (spirit) and form (matter)—in direct rapport with the consciousness aspect, the mediating soul being absorbed into both of these two aspects of divine expression, but not functioning itself as a middle factor. When this has been achieved, the true nature of Nirvana will be comprehended, the beginning of that endless Way which leads to the One; this is the Way whereon duality is resolved into unity, the Way that Members of the Hierarchy are seeking to tread and for which They are preparing.
Đã có rất nhiều nhấn mạnh vào sự sống của linh hồn và biểu hiện của nó trên cõi trần; điều này là cần thiết và là một phần trong sự khai mở tiến hóa của tâm thức con người. Giới linh hồn cuối cùng phải nhường chỗ cho sự cai quản của tinh thần; năng lượng của Thánh đoàn phải trở thành một mãnh lực tiếp nhận năng lượng của Shamballa, cũng giống như mãnh lực của nhân loại phải trở nên tiếp nhận năng lượng của giới linh hồn. Ngày nay, cả ba tiến trình đó đang đồng thời diễn ra, mặc dù khả năng tiếp nhận của Thánh đoàn đối với khía cạnh thứ hai của năng lượng Shamballa chỉ mới bắt đầu được nhận ra. Thánh đoàn từ lâu đã tiếp nhận khía cạnh thứ ba hay khía cạnh sáng tạo của năng lượng Shamballa, và—vào một thời kỳ rất xa trong tương lai—sẽ đáp ứng với khía cạnh thứ nhất của năng lượng đó. Bản chất ba ngôi của sự biểu hiện thiêng liêng cũng phải tự biểu lộ như một nhị nguyên. Điều này có thể được hiểu một cách lờ mờ khi người đệ tử nhận ra rằng (sau lần điểm đạo thứ ba) y cũng phải học cách hoạt động như một nhị nguyên—Chân Thần (tinh thần) và hình thể (vật chất)—trong mối liên hệ trực tiếp với khía cạnh tâm thức, trong đó linh hồn trung giới được hấp thụ vào cả hai khía cạnh biểu hiện thiêng liêng này, nhưng bản thân nó không còn hoạt động như một yếu tố trung gian nữa. Khi điều này đạt được, bản chất thực sự của Niết-bàn sẽ được lĩnh hội, là khởi đầu của Con Đường bất tận dẫn đến Đấng Duy Nhất; đây chính là Con Đường mà các Thành Viên của Thánh đoàn đang nỗ lực bước đi và đang chuẩn bị để bước đi.
Webinar 39
The initial step towards bringing about this dualism is the building of the antahkarana, and this is consciously undertaken only when the disciple is preparing for the second initiation. As I have already said, there are literally [484] thousands so preparing, because it can be assumed that all earnest and true aspirants and disciples who work undeviatingly for spiritual advancement (with pure motive), and who are oriented unswervingly towards the soul, have taken the first initiation. This simply connotes the birth of the infant Christ within the heart, speaking symbolically. There should be many who are preparing to begin this task of building the rainbow bridge and who, under the influence of the Ageless Wisdom, are grasping the necessity and the importance of the revelation which this process conveys. What I am here writing has, therefore, a definite and useful purpose. My task has been for a long time the giving out, in book form, information anent the next stage of intelligent and spiritual recognition for humanity. Therefore, again, the understanding of the method of building the antahkarana is essential if humanity is to move forward as planned, and in this moving forward the disciples and aspirants must and do form the vanguard. Humanity will awaken steadily and as a whole to the incoming spiritual urge; an overwhelming impulse towards spiritual light and towards a major orientation will take place. Just as the individual disciple has to reverse himself upon the wheel of life and tread the Way counter-clockwise, so must humanity; and so humanity will. The two-thirds who will make the goal of evolution in this world cycle are already beginning to do so.
Bước đầu tiên nhằm thực hiện nhị nguyên này là xây dựng antahkarana, và điều này chỉ được thực hiện một cách có ý thức khi người đệ tử chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai. Như tôi đã nói trước đây, thực sự có [484] hàng ngàn người đang chuẩn bị cho điều đó, bởi có thể giả định rằng tất cả những người chí nguyện và đệ tử chân thành, nghiêm túc, làm việc không lay chuyển cho sự tiến bộ tinh thần (với động cơ trong sáng), và kiên định hướng về linh hồn, đều đã nhận lần điểm đạo thứ nhất. Điều này đơn giản có nghĩa là sự khai sinh của Chúa Hài Đồng bên trong trái tim, nói một cách biểu tượng. Phải có nhiều người đang chuẩn bị bắt đầu nhiệm vụ xây dựng cây cầu cầu vồng này và những người, dưới ảnh hưởng của Minh Triết Ngàn Đời, đang nắm bắt được sự cần thiết và tầm quan trọng của mặc khải mà tiến trình này mang lại. Những gì tôi đang viết ở đây, do đó, mang một mục đích rõ ràng và hữu ích. Nhiệm vụ của tôi từ lâu nay là truyền đạt, dưới dạng sách vở, những thông tin liên quan đến giai đoạn kế tiếp trong sự nhận biết thông minh và tinh thần của nhân loại. Do đó, một lần nữa, việc hiểu biết phương pháp xây dựng antahkarana là điều thiết yếu nếu nhân loại muốn tiến bước theo như Thiên Cơ, và trong tiến trình tiến bước này, các đệ tử và người chí nguyện phải và đang tạo thành lực lượng tiên phong. Nhân loại sẽ dần thức tỉnh, và như một tổng thể, trước xung lực tinh thần đang đến; sẽ xảy ra một xung động mạnh mẽ hướng đến ánh sáng tinh thần và một định hướng lớn lao. Cũng như người đệ tử cá nhân phải tự đảo chiều trên bánh xe cuộc sống và bước đi ngược chiều kim đồng hồ, thì nhân loại cũng vậy; và nhân loại sẽ làm như thế. Hai phần ba trong số họ—những người sẽ đạt đến mục tiêu tiến hóa trong chu kỳ thế gian này—đã bắt đầu làm điều đó.
In the process, however, the third divine aspect—that of the Creative Actor—comes into activity. It was so in the creative process where the tangible universe was concerned. It must also be when the individual disciple becomes the creating agent. For aeons, he has built and has used his vehicles of manifestation in the three worlds. Then came a time when advanced people began to create upon the mental plane; they dreamed dreams; they saw a vision; they contacted intangible beauty; they touched the Mind of God and returned to earth with an idea. To this idea they gave form and became creators upon the mental planet they became artists in some form of creative effort. In the task [485] of building the antahkarana the disciple has to work also on mental levels, and that which he there constructs will be of so fine a substance that it may not and cannot appear on physical levels. Because of his fixed orientation, that which he builds will “move upwards toward the centre of life,” and not “downwards toward the centre of consciousness or toward light appearance.”
Tuy nhiên, trong tiến trình đó, khía cạnh thiêng liêng thứ ba—khía cạnh của Đấng Sáng Tạo—bắt đầu đi vào hoạt động. Điều này đã từng xảy ra trong tiến trình sáng tạo liên quan đến vũ trụ hữu hình. Và điều đó cũng phải xảy ra khi người đệ tử cá nhân trở thành tác nhân sáng tạo. Trong vô số kiếp, y đã xây dựng và sử dụng các thể biểu lộ của mình trong ba cõi giới. Rồi đến một thời điểm, khi những con người tiến hóa bắt đầu sáng tạo trên cõi trí; họ mơ những giấc mơ; họ thấy những thị kiến; họ tiếp xúc với vẻ đẹp vô hình; họ chạm vào Trí Tuệ của Thượng đế và quay về trần gian với một ý tưởng. Cho ý tưởng đó, họ ban cho hình tướng và trở thành những người sáng tạo trên cõi trí; họ trở thành các nghệ sĩ trong một hình thức sáng tạo nào đó. Trong nhiệm vụ [485] xây dựng antahkarana, người đệ tử cũng phải làm việc trên các tầng trí, và điều mà y kiến tạo nơi đó sẽ được hình thành từ chất liệu tinh tế đến mức không thể và sẽ không thể biểu lộ trên các cõi trần. Do định hướng vững chắc của mình, điều y xây dựng sẽ “vươn lên hướng về trung tâm của sự sống,” chứ không “hạ xuống hướng về trung tâm của tâm thức hay hướng đến sự biểu hiện ánh sáng.”
Herein lies the difficulty for the beginner. He has, so to speak, to work in the dark, and is not in a position to verify the existence of that which he is attempting to construct. His physical brain is unable to register his creation as an accomplished fact. He has to depend entirely upon the proved technique of the work outlined, and to proceed by faith. The only evidence of success may be slow in coming, for the sensitivity of the brain is involved, and frequently where there is very real success the brain cells are not of the calibre which can register it. The possible evidences at this stage may be a flash of the spiritual intuition or the sudden realisation of the will-to-good in a dynamic and group form; it may also be simply an ability to understand and to make others understand certain spiritual and occult fundamentals; it may be a “facility of revelation,” both receptive and conditioning or distributing, and so world effective.
Đây chính là chỗ khó khăn cho người mới bắt đầu. Y, có thể nói như vậy, phải làm việc trong bóng tối, và không ở vào vị thế có thể xác minh sự tồn tại của điều mà y đang cố gắng kiến tạo. Bộ não thể xác của y không thể ghi nhận sự kiến tạo đó như một sự kiện đã hoàn tất. Y phải hoàn toàn dựa vào kỹ thuật đã được xác minh của công việc đã được vạch ra, và tiến bước bằng đức tin. Bằng chứng duy nhất về sự thành công có thể sẽ đến chậm, vì mức độ nhạy cảm của bộ não có liên quan, và thường thì, ngay cả khi có thành công thực sự, các tế bào não cũng không đủ phẩm chất để có thể ghi nhận điều đó. Những bằng chứng có thể có ở giai đoạn này có thể là một tia lóe sáng của trực giác tinh thần hoặc sự nhận thức đột ngột về Ý Chí-hướng Thiện trong một hình thức mang tính động lực và tập thể; nó cũng có thể đơn giản là khả năng hiểu biết và làm cho người khác hiểu được một số nền tảng tinh thần và huyền môn; nó có thể là một “năng lực mặc khải,” vừa có tính tiếp nhận vừa có tính điều kiện hay phân phối, và vì vậy mà có hiệu quả trên thế gian.
I am attempting to make a very abstruse subject clear, and words prove inadequate. I can but outline to you process and method and a consequent hope for the future; on your side, you can only experiment, obey, have confidence in the experience of those who teach, and then wait patiently for results.
Tôi đang cố gắng làm rõ một đề tài hết sức trừu tượng, và ngôn ngữ tỏ ra không đủ. Tôi chỉ có thể phác thảo cho các bạn tiến trình và phương pháp, cùng với một hy vọng hệ quả dành cho tương lai; còn về phía các bạn, các bạn chỉ có thể thực hành thử nghiệm, tuân theo, đặt niềm tin vào kinh nghiệm của những người giảng dạy, và sau đó kiên nhẫn chờ đợi kết quả.
The Six Stages of the Building Process
I have employed six words to express this process and its resultant condition. It might prove useful to study them from the angle of their occult significance—a significance which is not usually apparent except to the trained disciple who has been taught to penetrate into the world of meaning and to see interpretations not apparent to the neophyte. [486] Perhaps by the time we have investigated these words, the method of construction and the means whereby the antahkarana is built will appear with greater clarity.
Tôi đã sử dụng sáu từ để diễn đạt tiến trình này và trạng thái kết quả của nó. Có thể sẽ hữu ích nếu nghiên cứu chúng dưới góc độ thâm nghĩa huyền môn—một ý nghĩa thường không rõ ràng trừ phi đối với người đệ tử đã được huấn luyện để thâm nhập vào thế giới của ý nghĩa và thấy được những diễn giải mà người sơ học không thể nhận ra được [486]. Có lẽ khi chúng ta đã khảo sát những từ này, phương pháp kiến tạo và các phương tiện qua đó antahkarana được xây dựng sẽ trở nên sáng tỏ hơn.
These words cover a building technique or a process of energy manipulation which brings into being a rapport between the Monad and a human being who is aspiring towards full liberation and is treading the Path of Discipleship and Initiation; it can create a channel of light and life between the higher and the lower divine aspects and can produce a bridge between the world of spiritual life and the world of daily physical plane living. It is a technique for producing the highest form of dualism and of eliminating the threefold expression of divinity, thereby intensifying the divine expression and bringing man nearer to his ultimate goal. Disciples must always remember that soul consciousness is an intermediate stage. It is also a process whereby—from the angle of the subhuman kingdoms in nature—humanity itself becomes the divine intermediary and the transmitter of spiritual energy to those lives whose stages of consciousness are below that of self-consciousness. Humanity becomes to these lives—in their totality—what the Hierarchy is to humanity. This service only becomes possible when a sufficient number of the human race are distinguished by the knowledge of the higher duality and are increasingly soul-conscious and not just self-conscious. They can then make this transmission possible, and it is done by means of the antahkarana.
Những từ này bao quát một kỹ thuật kiến tạo hoặc một tiến trình thao tác năng lượng mà qua đó tạo ra được một mối tương quan giữa Chân Thần và con người đang khao khát đạt tới sự giải thoát toàn diện và đang bước đi trên Con Đường Đệ Tử và Điểm Đạo; nó có thể tạo ra một kênh ánh sáng và sự sống giữa hai phương diện thiêng liêng—thượng và hạ, và có thể kiến tạo một cây cầu nối giữa thế giới sự sống tinh thần và thế giới sinh hoạt hằng ngày trên cõi trần. Đây là một kỹ thuật để sản sinh hình thức cao nhất của nhị nguyên và loại bỏ sự biểu hiện tam phân của thiên tính, nhờ đó làm tăng cường biểu hiện thiêng liêng và đưa con người đến gần mục tiêu tối hậu của mình hơn. Các đệ tử luôn phải nhớ rằng tâm thức linh hồn chỉ là một giai đoạn trung gian. Đây cũng là một tiến trình mà—dưới góc nhìn từ các giới tiền nhân loại trong thiên nhiên—nhân loại trở thành trung giới thiêng liêng và là kẻ truyền dẫn năng lượng tinh thần đến các sự sống có mức tâm thức thấp hơn tâm thức tự ý thức. Nhân loại trở thành, đối với tổng thể những sự sống này, điều mà Thánh đoàn là đối với nhân loại. Sự phụng sự này chỉ trở nên khả thi khi có đủ số người trong nhân loại được phân biệt bởi sự hiểu biết về nhị nguyên cao hơn và ngày càng ý thức về linh hồn, chứ không chỉ đơn thuần có tâm thức bản ngã. Lúc đó, họ có thể thực hiện được sự truyền dẫn này, và điều đó được thực hiện nhờ vào antahkarana.
Webinar 40
Let us, therefore, take these six aspects of a basic building technique and endeavour to arrive at their occult and creative significance.
Vậy nên, chúng ta hãy xét sáu phương diện này của một kỹ thuật kiến tạo nền tảng và nỗ lực nắm bắt ý nghĩa huyền môn và sáng tạo của chúng.
1. Intention. By this is not meant a mental decision, wish or determination. The idea is more literally the focussing of energy upon the mental plane at the point of greatest possible tension. It signifies the bringing about of a condition in the disciple's consciousness which is analogous to that of the Logos when—on His much vaster scale—He concentrated within a ring-pass-not (defining His desired [487] sphere of influence) the energy-substance needed to carry out His purpose in manifesting. This the disciple must also do, gathering his forces (to use a common expression) into the highest point of his mental consciousness and holding them there in a state of absolute tension. You can now see the purpose lying behind some of the meditation processes and techniques as embodied in the words so often used in the meditation outlines: “raise the consciousness to the head centre”; “hold the consciousness at the highest possible point”; “endeavour to hold the mind steady in the light”; and many similar phrases. They are all concerned with the task of bringing the disciple to the point where he can achieve the desired point of tension and of energy-focussing. This will enable him to begin the conscious task of constructing the antahkarana. It is this thought which really lies unrecognised behind the word “intention,” used so often by Roman Catholics and Anglo-Catholics when preparing candidates for communion. They indicate a different direction, however, for the orientation they desire is not that towards the Monad or spirit, but towards the soul, in an effort to bring about better character equipment in the personality and an intensification of the mystical approach.
1. Ý định (Intention). Ở đây không có nghĩa là một quyết định trí tuệ, một ước muốn hay một sự quyết tâm. Ý niệm này chính xác hơn là việc tập trung năng lượng trên cõi trí tại điểm căng thẳng cao nhất có thể đạt được. Nó biểu thị sự tạo lập một trạng thái trong tâm thức người đệ tử tương đồng với trạng thái của Logos khi—ở một quy mô vĩ đại hơn vô cùng—Ngài đã tập trung, trong một vòng-giới-hạn (xác định phạm vi ảnh hưởng mong muốn của Ngài), chất liệu-năng lượng cần thiết để thực hiện Thiên Ý trong sự biểu lộ. Người đệ tử cũng phải làm điều tương tự, gom tụ các mãnh lực của y (dùng một cách nói thông thường) vào điểm cao nhất trong tâm thức trí tuệ của mình và duy trì chúng ở đó trong một trạng thái căng thẳng tuyệt đối. Giờ đây các bạn có thể thấy được mục đích ẩn sau một số tiến trình và kỹ thuật tham thiền được thể hiện trong những cụm từ thường xuyên được dùng trong các sơ đồ tham thiền: “nâng tâm thức lên trung tâm đầu,” “duy trì tâm thức tại điểm cao nhất có thể,” “nỗ lực giữ cho trí tuệ an định trong ánh sáng,” và nhiều cụm từ tương tự. Tất cả đều liên quan đến nhiệm vụ đưa người đệ tử đến điểm mà y có thể đạt được mức căng thẳng và sự tập trung năng lượng như mong muốn. Chính tư tưởng này thực ra là ẩn tàng phía sau từ “ý định,” vốn được dùng thường xuyên bởi các tín đồ Công giáo La Mã và Anh giáo khi chuẩn bị ứng viên cho nghi lễ hiệp thông. Tuy nhiên, họ hướng theo một định hướng khác, bởi vì điều họ mong muốn không phải là hướng về Chân Thần hay tinh thần, mà là hướng về linh hồn, trong nỗ lực phát triển các phẩm tính tốt đẹp hơn nơi phàm ngã và làm sâu sắc hơn lối tiếp cận huyền bí.
In the “intention” of the disciple who is consciously occupied with the rainbow bridge, the first necessary steps are:
Trong “ý định” của người đệ tử đang một cách có ý thức dấn thân vào nhiệm vụ kiến tạo cầu vồng, các bước đầu tiên cần thiết là:
a. The achievement of right orientation; and this must take place in two stages: first, towards the soul as one aspect of the building energy, and second, towards the Triad.
a. Đạt được sự định hướng đúng đắn; và điều này phải diễn ra trong hai giai đoạn: đầu tiên, hướng về linh hồn như một phương diện của năng lượng xây dựng; và kế đến, hướng về Tam nguyên tinh thần.
b. A mental understanding of the task to be carried out. This involves the use of the mind in two ways: responsiveness to buddhic or intuitional impression and an act of the creative imagination.
b. Hiểu biết về mặt trí tuệ đối với nhiệm vụ cần thực hiện. Điều này bao gồm việc sử dụng trí tuệ theo hai cách: đáp ứng với ấn tượng Bồ đề hay trực giác, và hành động của trí tưởng tượng sáng tạo.
c. A process of energy gathering or of force absorption. in order that the needed energies are confined within a mental ring-pass-not, prior to the later process of visualisation and projection. [488]
c. Một tiến trình tụ hội năng lượng hoặc hấp thụ mãnh lực, nhằm mục đích giới hạn các năng lượng cần thiết trong một vòng-giới-hạn trên cõi trí, trước khi tiến tới tiến trình quán tưởng và phóng chiếu sau đó. [488]
d. A period of clear thinking anent process and intention. so that the dedicated bridge-builder may clearly perceive what is being done.
d. Một giai đoạn suy nghĩ rõ ràng liên quan đến tiến trình và ý định, để người kiến tạo cầu có tâm nguyện có thể nhận thức rõ ràng điều đang được thực hiện.
e. The steady preservation of tension without undue physical strain upon the brain cells.
e. Duy trì trạng thái căng thẳng đều đặn mà không gây căng thẳng quá mức đối với các tế bào não thể xác.
When this has been accomplished there will be found to be present a focal point of mental energy which previously had been nonexistent; the mind will be held steady in the light, and there will also be the alignment of a receptive attentive personality and a soul oriented towards the personality and in a state of constant, directed perception. I would remind you that the soul (as it lives its own life on its own level of awareness) is not always constantly aware of its shadow, the personality, in the three worlds. When the antahkarana is being built, this awareness must be present alongside the intention of the personality.
1. Khi điều này đã được thực hiện, sẽ thấy xuất hiện một điểm tiêu biểu của năng lượng trí tuệ mà trước đây chưa hề tồn tại; trí tuệ sẽ được giữ vững trong ánh sáng, và sẽ có sự chỉnh hợp giữa một phàm ngã tiếp nhận và chú tâm với một linh hồn hướng về phàm ngã và ở trong trạng thái tri nhận liên tục, có định hướng. Tôi muốn nhắc các bạn rằng linh hồn (khi sống đời sống riêng của nó trên cấp độ nhận thức riêng của nó) không phải lúc nào cũng luôn luôn nhận biết cái bóng của mình, tức là phàm ngã, trong ba cõi. Khi sợi dây antahkarana đang được kiến tạo, sự nhận biết này phải hiện diện song hành cùng với ý định của phàm ngã.
2. Visualisation. Up to this point the activity has been of a mental nature. The creative imagination has been relatively quiescent; the disciple has been occupied within the mind and upon mental levels, and has “looked neither up nor down.” But now the right point of tension has been reached; the reservoir or pool of needed energy has been restrained within the carefully delimited ring-pass-not, and the bridge-builder is ready for the next step. He therefore proceeds at this point to construct the blue print of the work to be done, by drawing upon the imagination and its faculties as they are to be found upon the highest level of his astral or sensitive vehicle. This does not relate to the emotions. Imagination is, as you know, the lowest aspect of the intuition, and this fact must be remembered at all times. Sensitivity, as an expression of the astral body, is the opposite pole to buddhic sensitivity. The disciple has purified and refined his imaginative faculties so that they are now responsive to the impression of the buddhic principle or of the intuitive perception—perception, apart from sight or any recorded possible vision. According to the responsiveness of the astral vehicle to the [489] buddhic impression, so will be the accuracy of the “plans” laid for the building of the antahkarana and the visualising of the bridge of light in all its beauty and completeness.
2. Hình dung. Cho đến điểm này, hoạt động vẫn mang tính trí tuệ. Trí tưởng tượng sáng tạo vẫn tương đối yên tĩnh; người đệ tử đã bận rộn trong trí tuệ và trên các cấp độ trí tuệ, và đã “không nhìn lên cũng không nhìn xuống.” Nhưng bây giờ điểm nhất tâm đúng đắn đã đạt được; hồ chứa hay bể năng lượng cần thiết đã được kiềm giữ trong vòng-giới-hạn được xác định cẩn thận, và người xây cầu đã sẵn sàng cho bước tiếp theo. Do đó, y tiến hành tại điểm này để kiến tạo bản thiết kế của công việc sẽ được thực hiện, bằng cách vận dụng trí tưởng tượng và các năng lực của nó như chúng được tìm thấy trên cấp độ cao nhất của thể cảm dục hay thể nhạy cảm của y. Điều này không liên quan đến cảm xúc. Trí tưởng tượng, như các bạn đã biết, là khía cạnh thấp nhất của trực giác, và sự thật này phải luôn luôn được ghi nhớ. Tính nhạy cảm, như là biểu hiện của thể cảm dục, là cực đối lập với tính nhạy cảm của Bồ đề. Người đệ tử đã thanh lọc và tinh luyện các năng lực tưởng tượng của y đến mức chúng giờ đây phản hồi với ấn tượng của nguyên khí Bồ đề hay của trực nhận trực giác — một sự tri nhận vượt khỏi thị giác hoặc bất kỳ hình ảnh được ghi nhận nào. Theo mức độ phản hồi của thể cảm dục đối với [489] ấn tượng Bồ đề, thì cũng sẽ là mức độ chính xác của những “kế hoạch” được lập ra cho việc xây dựng sợi dây antahkarana và việc hình dung cây cầu ánh sáng trong tất cả vẻ đẹp và sự trọn vẹn của nó.
The creative imagination has to be stepped up in its vibratory nature so that it can affect the “pool of energy” or the energy-substance which has been gathered for the building of the bridge. The creative activity of the imagination is the first organising influence which works upon and within the ring-pass-not of accumulated energies, held in a state of tension by the “intention” of the disciple. Ponder upon this occult and significant statement.
Trí tưởng tượng sáng tạo phải được nâng cao trong bản chất rung động của nó để nó có thể tác động đến “hồ năng lượng” hay chất liệu năng lượng đã được tập hợp để xây dựng cây cầu. Hoạt động sáng tạo của trí tưởng tượng là ảnh hưởng tổ chức đầu tiên hoạt động lên và trong vòng-giới-hạn của những năng lượng được tích tụ, được giữ trong trạng thái căng thẳng bởi “ý định” của người đệ tử. Hãy suy ngẫm về tuyên bố huyền môn và đầy ý nghĩa này.
The creative imagination is in the nature of an active energy, drawn up into relationship with the point of tension; it there and then produces effects in mental substance. The tension is thereby increased, and the more potent and the clearer the visualisation process, the more beautiful and strong will be the bridge. Visualisation is the process whereby the creative imagination is rendered active and becomes responsive to and attracted by the point of tension upon the mental plane.
Trí tưởng tượng sáng tạo mang bản chất của một năng lượng chủ động, được nâng lên trong mối liên hệ với điểm nhất tâm; tại đó và khi đó, nó tạo ra các hiệu quả trong chất liệu trí tuệ. Nhờ đó căng thẳng được gia tăng, và quá trình hình dung càng mạnh mẽ và rõ ràng, thì cây cầu càng đẹp đẽ và vững chắc. Hình dung là tiến trình qua đó trí tưởng tượng sáng tạo được kích hoạt và trở nên phản hồi với và bị thu hút bởi điểm nhất tâm trên cõi trí.
At this stage the disciple is occupied with two energies: one, quiescent and held within a ring-pass-not, but at a point of extreme tension, and the other active, picture-forming, outgoing and responsive to the mind of the bridge-builder. In this connection it should be remembered that the second aspect of the divine Trinity is the form-building aspect, and thus, under the Law of Analogy, it is the second aspect of the personality and the second aspect of the Spiritual Triad which are becoming creatively active. The disciple is now proceeding with the second stage of his building work, and so the numerical significance will become apparent to you. He must work slowly at this point, picturing what he wants to do, why he has to do it, what are the stages of his work, what will be the resultant effects of his planned activity, and what are the materials with which he has to work. He endeavours to visualise the entire process, and by this means sets up a definite rapport (if successful) between the buddhic intuition and the creative imagination [490] of the astral body. Consequently, you will have at this point:
Ở giai đoạn này, người đệ tử đang làm việc với hai loại năng lượng: một, tĩnh lặng và được giữ trong một vòng-giới-hạn, nhưng ở một điểm căng thẳng cực độ; và một cái khác, chủ động, tạo hình ảnh, hướng ra ngoài và phản hồi với trí tuệ của người xây cầu. Trong mối liên hệ này, cần phải nhớ rằng phương diện thứ hai của Tam vị Thiêng liêng là phương diện kiến tạo hình tướng, và do đó, theo Định luật Tương đồng, chính là phương diện thứ hai của phàm ngã và phương diện thứ hai của Tam nguyên tinh thần đang trở nên chủ động một cách sáng tạo. Người đệ tử hiện đang tiếp tục với giai đoạn thứ hai của công trình xây dựng của y, và vì vậy ý nghĩa về mặt con số sẽ trở nên rõ ràng đối với các bạn. Y phải làm việc chậm rãi ở điểm này, hình dung điều y muốn làm, lý do tại sao y phải làm điều đó, các giai đoạn của công việc là gì, kết quả của hoạt động có kế hoạch của y sẽ là gì, và chất liệu y phải làm việc là gì. Y cố gắng hình dung toàn bộ tiến trình, và bằng phương tiện này thiết lập một mối liên hệ chắc chắn (nếu thành công) giữa trực giác Bồ đề và trí tưởng tượng sáng tạo [490] của thể cảm dục. Do đó, tại điểm này, các bạn sẽ có:
The buddhic activity of impression.
Hoạt động Bồ đề của sự ấn tượng.
The tension of the mental vehicle, as it holds the needed energy-substance at the point of projection.
Điểm nhất tâm của thể trí, khi nó giữ chất liệu năng lượng cần thiết tại điểm phóng chiếu.
The imaginative processes of the astral body.
Quá trình tưởng tượng của thể cảm dục.
When the disciple has trained himself to be consciously aware of the simultaneity of this threefold work, then it goes forward successfully and almost automatically. This he does through the power of visualisation. A current of force is set up between these pairs of opposites (astral-buddhic) and—as it passes through the reservoir of force upon the mental plane—it produces an interior activity and an organisation of the substance present. There then supervenes a steadily mounting potency, until the third stage is reached and the work passes out of the phase of subjectivity into that of objective reality—objective from the standpoint of the spiritual man.
Khi người đệ tử đã rèn luyện bản thân để có ý thức nhận biết được sự đồng thời của ba công việc kép này, thì công việc đó sẽ tiến triển thành công và gần như một cách tự động. Y làm được điều này nhờ quyền năng hình dung. Một dòng mãnh lực được thiết lập giữa các cặp đối nghịch này (cảm dục – Bồ đề) và — khi nó đi qua hồ chứa mãnh lực trên cõi trí — nó tạo ra một hoạt động nội tại và một sự tổ chức của chất liệu đang hiện diện. Khi đó một năng lượng ngày càng gia tăng đều đặn kế tiếp diễn ra, cho đến khi đạt tới giai đoạn thứ ba và công việc chuyển từ pha chủ quan sang pha hiện thực khách quan — khách quan từ quan điểm của con người tinh thần.