Webinar 41
3. Projection. The task of the disciple has now reached a most critical point. Many aspirants reach this particular stage and—having developed a real capacity to visualise, and having therefore constructed by its means the desired form, and organised the substance which is to be employed in this later phase of the building process—find themselves unable to proceed any further. What then is the matter? Primarily, an inability to use the Will in the process of projection. This process is a combination of will, further and continued visualisation, and the use of the ray Word of Power. Up to the present stage in the process, the method for all the seven rays is identical; but at this point there comes a change. Each disciple, having successfully organised the bridge substance, having brought into activity the will aspect, and being consciously aware of process and performance, proceeds now to move the organised substance forward, so that from the centre of force which he has succeeded in accumulating there appears a line of light-substance or projection. This is sent forward upon a [491] Word of Power, as in the logoic creative process. This is in reality a reversal of the process of the Monad when It sent forth the thread of life which finally anchored itself in the soul. The soul, in reality, came into being through the means of this anchoring; then came the later process, when the soul in its turn sent forth a dual thread which finally found anchorage in the head and the heart of the lower threefold man, the personality. The disciple is focussed in the centre which he has constructed upon the mental plane, and is drawing all his resources (those of the threefold personality and the soul combined) into activity; he now projects a line towards the Monad.
3. Phóng chiếu. Nhiệm vụ của người đệ tử hiện đã đạt đến một điểm hết sức then chốt. Nhiều người chí nguyện đạt đến giai đoạn đặc biệt này và — sau khi đã phát triển một năng lực hình dung thực sự, và nhờ đó đã kiến tạo hình thể mong muốn, và đã tổ chức chất liệu sẽ được sử dụng trong giai đoạn sau của tiến trình xây dựng — nhận thấy mình không thể tiến xa hơn được nữa. Vậy thì vấn đề là gì? Trước hết là sự bất lực trong việc sử dụng Ý Chí trong tiến trình phóng chiếu. Tiến trình này là một sự kết hợp của ý chí, hình dung tiếp tục và sâu hơn, cùng với việc sử dụng linh từ Quyền năng của cung. Cho đến giai đoạn hiện tại trong tiến trình, phương pháp cho cả bảy cung là giống nhau; nhưng tại điểm này có một sự thay đổi. Mỗi người đệ tử, sau khi đã tổ chức thành công chất liệu cây cầu, đã kích hoạt được khía cạnh ý chí, và đang có ý thức về tiến trình và hiệu quả công việc, giờ đây tiến hành di chuyển chất liệu đã được tổ chức về phía trước, sao cho từ trung tâm mãnh lực mà y đã tích tụ thành công sẽ xuất hiện một đường chất liệu ánh sáng hay sự phóng chiếu. Điều này được gửi đi trên một [491] Linh từ Quyền năng, giống như trong tiến trình sáng tạo của Thượng đế. Đây thực ra là một sự đảo ngược tiến trình của Chân thần khi Nó đã phóng ra sợi dây sự sống vốn cuối cùng đã neo đậu vào linh hồn. Linh hồn, thực ra, đã hình thành thông qua phương tiện của sự neo đậu này; rồi đến tiến trình sau đó, khi linh hồn đến lượt mình phóng ra sợi dây kép, cuối cùng neo đậu vào đầu và tim của phàm nhân tam phân, tức là phàm ngã. Người đệ tử đang tập trung tại trung tâm mà y đã kiến tạo trên cõi trí, và đang tập hợp mọi tài nguyên của mình (bao gồm cả phàm ngã tam phân và linh hồn hợp nhất) vào hoạt động; giờ đây y phóng chiếu một đường đi về phía Chân thần.
It is along this line that the final withdrawal of the forces takes place, the forces which—upon the downward way or the involutionary path—focussed themselves in the personality and the soul. The antahkarana per se, completed by the bridge built by the disciple, is the final medium of abstraction or of the great withdrawal. It is with the antahkarana that the initiate is concerned in the fourth initiation, called sometimes the Great Renunciation—the renunciation or the withdrawal from form life, both personal and egoic. After this initiation neither of these aspects can hold the Monad any more. The “veil of the Temple” is rent in twain from the top to the bottom—that veil which separated the Outer Court (the personality life) from the Holy Place (the soul) and from the Holy of Holies (the Monad) in the Temple at Jerusalem. The implications and the analogies will necessarily be clear to you.
Chính dọc theo đường này mà sự rút lui sau cùng của các mãnh lực diễn ra, những mãnh lực mà — trong hành trình đi xuống hay con đường giáng hạ tiến hóa — đã tập trung vào phàm ngã và linh hồn. Sợi dây antahkarana tự nó, được hoàn tất bởi cây cầu do người đệ tử kiến tạo, là phương tiện sau cùng của sự siêu thoát hay của sự rút lui vĩ đại. Chính với antahkarana mà vị điểm đạo đồ phải bận tâm trong lần điểm đạo thứ tư, đôi khi còn được gọi là Đại Xả Bỏ — sự xả bỏ hay sự rút lui khỏi đời sống hình tướng, cả ở cấp độ cá nhân lẫn linh hồn. Sau lần điểm đạo này, không phương diện nào trong hai phương diện đó có thể giữ chân Chân thần nữa. “Bức màn của Thánh Điện” bị xé đôi từ trên xuống dưới — bức màn đã phân cách Tiền Đình (đời sống phàm ngã) với Thánh Điện (linh hồn) và với Nơi Cực Thánh (Chân thần) trong Thánh Điện ở Jerusalem. Những hàm ý và các điểm tương đồng chắc chắn sẽ rõ ràng với các bạn.
In order, therefore, to bring about the needed projection of the accumulated energies, organised by the creative imagination and brought to a point of excessive tension by the focussing of the mental impulse (an aspect of the will), the disciple then calls upon the resources of his soul, stored up in what is technically called “the jewel in the lotus.” This is the anchorage of the Monad—a point which must not be forgotten. The aspects of the soul which we call knowledge, love and sacrifice, and which are expressions of the causal body, are only effects of this monadic radiation. [492]
Do đó, để tạo ra được sự phóng chiếu cần thiết của các mãnh lực đã được tích tụ, được tổ chức bởi trí tưởng tượng sáng tạo và được đưa đến điểm căng thẳng cực độ bởi sự tập trung của xung lực trí tuệ (một khía cạnh của ý chí), người đệ tử sau đó kêu gọi đến những tài nguyên của linh hồn mình, được lưu giữ trong cái mà về mặt kỹ thuật được gọi là “viên ngọc trong hoa sen.” Đây là nơi Chân thần neo đậu — một điểm không được quên. Những khía cạnh của linh hồn mà chúng ta gọi là tri thức, tình thương và hy sinh, và vốn là những biểu hiện của thể nguyên nhân, chỉ là các hiệu ứng của sự phát xạ từ Chân thần [492].
Therefore, before the bridge can be truly built and “projected on the upward way, providing safe travelling for the pilgrim's weary feet” (as the Old Commentary puts it), the disciple must begin to react in response to the closed lotus bud or jewel at the centre of the opened lotus. This he does when the sacrifice petals of the egoic lotus are assuming control in his life, when his knowledge is being transmuted into wisdom, and his love for the whole is growing; to these is being added the “power to renounce”. These three egoic qualities—when functioning with a measure of potency—produce an increased activity at the very centre of soul life, the heart of the lotus. It should be remembered that the correspondences in the egoic lotus to the three planetary centres are as follows:
Do đó, trước khi cây cầu có thể thực sự được kiến tạo và “được phóng chiếu trên con đường đi lên, tạo điều kiện an toàn cho đôi chân mệt mỏi của người hành hương” (như Cổ Luận có nói), người đệ tử phải bắt đầu phản hồi lại với nụ hoa sen khép kín hay viên ngọc nơi trung tâm của hoa sen đang nở. Y làm được điều này khi các cánh hoa hy sinh của hoa sen chân ngã đang nắm quyền kiểm soát trong đời sống của y, khi tri thức của y đang được chuyển hoá thành minh triết, và tình thương của y đối với toàn thể đang lớn dần lên; kèm theo đó là “năng lực xả bỏ.” Ba phẩm tính chân ngã này — khi vận hành với một mức độ hiệu lực nhất định — tạo ra một hoạt động gia tăng nơi chính trung tâm của đời sống linh hồn, tức là trái tim của hoa sen. Cần ghi nhớ rằng những điểm tương ứng trong hoa sen chân ngã với ba trung tâm hành tinh như sau:
Shamballa.... The jewel in the lotus.
Shamballa.... Viên ngọc trong hoa sen.
Hierarchy.... The three groups of petals.
Thánh đoàn.... Ba nhóm cánh hoa.
Humanity....The three permanent atoms within the aura of the lotus.
Nhân loại.... Ba nguyên tử trường tồn trong hào quang của hoa sen.
Students should also bear in mind that they need to rid themselves of the usual idea of sacrifice as a process of giving-up, or renunciation of all that makes life worth living. Sacrifice is, technically speaking, the achievement of a state of bliss and of ecstasy because it is the realisation of another divine aspect, hidden hitherto by both the soul and the personality. It is understanding and recognition of the will-to-good which made creation possible and inevitable, and which was the true cause of manifestation. Ponder on this, for it is very different in its significance to the usual concepts anent sacrifice.
Các học viên cũng cần ghi nhớ rằng họ cần loại bỏ ý niệm thông thường về hy sinh như là một tiến trình từ bỏ, hay xả bỏ tất cả những gì khiến đời sống trở nên đáng sống. Hy sinh, nói một cách kỹ thuật, là sự thành tựu một trạng thái phúc lạc và ngây ngất vì đó là sự nhận biết một khía cạnh thiêng liêng khác, vốn bị che khuất từ trước đến nay bởi cả linh hồn lẫn phàm ngã. Đó là sự thấu hiểu và công nhận Ý Chí - Hướng Thiện vốn đã làm cho sự sáng tạo trở nên khả hữu và tất yếu, và là nguyên nhân thật sự của sự biểu lộ. Hãy suy ngẫm điều này, vì ý nghĩa của nó rất khác với những khái niệm thông thường về hy sinh.
When the disciple has gained the fruit of experience which is knowledge and is learning to transmute it into wisdom, when his objective is to live truly and in reality, and when the will-to-good is the crowning goal of his daily life, then he can begin to evoke the Will. This will make the link between the lower and the higher minds, between spirit and matter and between Monad and personality a definite and existent fact. Duality then supervenes upon [493] triplicity, and the potency of the central nucleus in the egoic vehicle destroys—at the fourth initiation—the three surrounding expressions. They disappear, and then the so-called destruction of the causal body has taken place. This is the true “second death”—death to form altogether.
Khi người đệ tử đã thu hoạch được trái quả của kinh nghiệm, tức là tri thức, và đang học cách chuyển hoá nó thành minh triết, khi mục tiêu của y là sống một cách chân thực và thực tế, và khi Ý Chí - Hướng Thiện là mục tiêu tối thượng trong đời sống hàng ngày của y, thì y có thể bắt đầu triệu gọi Ý Chí. Điều này sẽ tạo ra mối liên kết giữa hạ trí và thượng trí, giữa tinh thần và vật chất, và giữa Chân thần và phàm ngã trở thành một sự thật cụ thể và hiện hữu. Khi đó nhị nguyên thay thế [493] tam phân, và năng lực của hạt nhân trung tâm trong thể chân ngã tiêu huỷ — tại lần điểm đạo thứ tư — ba biểu hiện bao quanh. Chúng biến mất, và khi đó cái gọi là sự tiêu hủy của thể nguyên nhân đã xảy ra. Đây chính là “cái chết thứ hai” thực sự — sự chết đối với hình tướng trên mọi phương diện.
This is practically all that I can tell you anent the process of projection. It is a living process, growing out of the conscious daily experience and dependent upon the expression of the divine aspects in the life upon the physical plane, as far as is possible. Where there is an attempt to approximate the personality life to the demands of the soul and to use the intellect on behalf of humanity, love is beginning to control; and then the significance of the “divine sacrifice” is increasingly understood and becomes a natural, spontaneous expression of individual intention. Then it becomes possible to project the bridge. The vibration is then set up on lower levels of divine manifestation and becomes strong enough to produce response from the higher. Then, when the Word of Power is known and rightly used, the bridge is rapidly built.
Đó gần như là tất cả những gì tôi có thể nói với các bạn về tiến trình phóng chiếu. Đây là một tiến trình sống động, phát sinh từ kinh nghiệm ý thức hàng ngày và tùy thuộc vào mức độ biểu hiện của các khía cạnh thiêng liêng trong đời sống trên cõi trần, trong phạm vi có thể. Khi có một nỗ lực để đưa đời sống phàm ngã tiệm cận với các yêu cầu của linh hồn và sử dụng trí tuệ vì lợi ích nhân loại, thì tình thương bắt đầu kiểm soát; và khi đó ý nghĩa của “sự hy sinh thiêng liêng” được thấu hiểu ngày càng sâu sắc và trở thành một biểu hiện tự nhiên, tự phát của ý định cá nhân. Khi ấy việc phóng chiếu cây cầu trở nên khả thi. Rung động khi ấy được thiết lập trên các cấp độ thấp hơn của sự biểu lộ thiêng liêng và trở nên đủ mạnh để tạo ra sự đáp ứng từ cấp cao hơn. Rồi, khi Linh từ Quyền năng được biết đến và được sử dụng đúng cách, cây cầu sẽ được kiến tạo một cách nhanh chóng.
Students need feel in no way discouraged by this picture. Much can happen on the inner planes where there is right intention, as well as occult intention (purpose and tension combined), and the bridge reaches stages of definite outline and structure long before the disciple is aware of it.
Các học viên không cần cảm thấy nản lòng bởi bức tranh này. Nhiều điều có thể xảy ra trên các cõi nội giới khi có ý định đúng đắn, cũng như có ý định huyền môn (kết hợp giữa mục đích và điểm nhất tâm), và cây cầu sẽ đạt đến những giai đoạn có hình dạng và cấu trúc rõ rệt từ rất lâu trước khi người đệ tử nhận thức được điều đó.
Webinar 42
4. Invocation and Evocation. The three preceding stages mark, in reality, the three stages of personality work. The remaining three are expressions of response from higher levels of the spiritual life; beyond briefly indicating them, there is very little that I can put into words. The task of Invocation, based on Intention, Visualisation and Projection, has been carefully undertaken by the disciple and he has at least some measure of clear perception as to the work he has done by the dual means of spiritual living and scientific, technical, occult work. He is therefore himself invocative. His life effect is registered upon the higher levels of consciousness and he is recognised as “a point of invocative tension.” This tension and this [494] reservoir of living energy, which is the disciple himself, is set in motion by projected thought, the use of the will and a sounded Word or Phrase of Power.
4. Sự Kêu Gọi và Sự Đáp Lại. Ba giai đoạn trước đánh dấu, trên thực tế, ba giai đoạn công việc của phàm ngã. Ba giai đoạn còn lại là sự biểu hiện của sự đáp ứng từ các mức độ cao hơn của đời sống tinh thần; vượt ra ngoài việc chỉ ra sơ lược về chúng, tôi không thể diễn đạt nhiều bằng lời. Công việc của sự Kêu Gọi, dựa trên Ý Định, Hình Tưởng và Sự Phóng Chiếu, đã được người đệ tử thực hiện một cách cẩn trọng, và y đã đạt được ít nhiều mức độ nhận thức rõ ràng về công việc mà y đã thực hiện thông qua hai phương tiện kép: đời sống tinh thần và công việc huyền môn mang tính khoa học và kỹ thuật. Do đó, chính bản thân y trở nên có tính kêu gọi. Tác động của đời sống y được ghi nhận trên các mức độ cao hơn của tâm thức và y được công nhận là “một điểm của căng thẳng kêu gọi.” Sự căng thẳng này và hồ chứa năng lượng sống—chính là người đệ tử—được khởi động bởi tư tưởng được phóng chiếu, việc sử dụng ý chí và một Linh Từ hay Cụm Từ của Quyền Năng được xướng lên.
The result is that his developed potency and its radius of influence are now sufficiently strong to call out a response from the Spiritual Triad. There is then a going forth towards the aspect of the antahkarana, constructed by the disciple, along which the life of soul and body can travel. The Father (Monad), working through the thread, now goes forth to meet the Son (the soul, enriched by the experience of personality life in the three worlds), and from the higher levels a line of responsive projection of energy is sent forth which will eventually make contact with the lower projection. Thus the antahkarana is built. The tension of the lower evokes the attention of the higher.
Kết quả là, năng lực đã được phát triển của y và bán kính ảnh hưởng của nó giờ đây đủ mạnh để kêu gọi một sự đáp ứng từ Tam nguyên tinh thần. Khi đó có một sự tiến tới khía cạnh của sợi dây antahkarana, được người đệ tử kiến tạo, dọc theo đó, sự sống của linh hồn và thể xác có thể di chuyển. Đức Cha (Chân thần), làm việc qua sợi dây, giờ đây tiến đến gặp Đức Con (linh hồn, được làm phong phú qua kinh nghiệm của đời sống phàm ngã trong ba cõi), và từ các mức độ cao hơn, một dòng năng lượng phóng chiếu hồi ứng được phát ra, điều này cuối cùng sẽ tạo ra sự tiếp xúc với dòng phóng chiếu thấp hơn. Như vậy, sợi dây antahkarana được kiến tạo. Sự căng thẳng của cõi thấp gọi lên sự chú tâm của cõi cao.
This is the technical process of invocation and evocation. There is a gradual approach from both the divine aspects. Little by little, the vibration of both becomes stronger reciprocally. There comes then a moment when contact between the two projections is made in meditation. This is not a contact between soul and personality (the goal of the average aspirant), but a contact between the fused soul and personality energy and the energy of the Monad, working through the Spiritual Triad. This does not constitute a moment of crisis, but is in the nature of a Flame of Light, a realisation of liberation, and a recognition of the esoteric fact that a man is himself the Way. There is no longer the sense of personality and soul or of ego and form, but simply the One, functioning on all planes as a point of spiritual energy and arriving at the one sphere of planned activity by means of the path of Light. In considering this process, words prove completely inadequate. At this stage, when very advanced, there is no form attracting the Monad outwards into manifestation. There is no way in which the call of matter or of form can evoke a response from the Monad. There remains only the great pull of the consciousness of humanity as a whole and to this, response can be made via the completed antahkarana. Down—or rather [495] across—this bridge, descent can be made at will, in order to serve humanity and to carry out the will of Shamballa.
Đây là tiến trình kỹ thuật của sự kêu gọi và sự đáp lại. Có một sự tiếp cận dần dần từ cả hai phương diện thiêng liêng. Từng chút một, rung động của cả hai trở nên mạnh hơn một cách tương hỗ. Rồi đến một thời điểm khi sự tiếp xúc giữa hai dòng phóng chiếu diễn ra trong lúc tham thiền. Đây không phải là sự tiếp xúc giữa linh hồn và phàm ngã (mục tiêu của người chí nguyện trung bình), mà là sự tiếp xúc giữa năng lượng hợp nhất của linh hồn và phàm ngã với năng lượng của Chân thần, hoạt động thông qua Tam nguyên tinh thần. Điều này không cấu thành một thời điểm khủng hoảng, mà có tính chất như một Ngọn Lửa Ánh Sáng, một sự nhận thức về sự giải thoát, và một sự công nhận thực tại huyền môn rằng con người chính là Con Đường. Không còn cảm giác về phàm ngã và linh hồn hay ngã và hình tướng, mà chỉ còn Một, vận hành trên mọi cõi như một điểm của năng lượng tinh thần và đi đến một lĩnh vực duy nhất của hoạt động đã được hoạch định bằng phương tiện của con đường Ánh sáng. Khi xem xét tiến trình này, lời nói hoàn toàn trở nên bất lực. Ở giai đoạn này, khi đã rất cao, không còn hình tướng nào hấp dẫn Chân thần tiến ra ngoài vào sự biểu hiện. Không còn cách nào để tiếng gọi của vật chất hay hình tướng có thể khơi lên một sự đáp ứng từ Chân thần. Chỉ còn lại lực hút lớn lao từ tâm thức của toàn thể nhân loại, và với điều này, sự đáp ứng có thể được thực hiện thông qua sợi dây antahkarana đã hoàn tất. Dọc theo—hay đúng hơn là ngang qua—chiếc cầu này, sự hạ giáng có thể được thực hiện theo ý chí, nhằm phụng sự nhân loại và thực thi Thiên Ý của Shamballa.
This is a statement of the final consummation. But before that can take place in its perfected completion, there must be a long period of gradual approach of the two aspects of the bridge—the higher, emanating from the Spiritual Triad, in response to monadic impulse, and the lower, emanating from the personality, aided by the soul—across the chasm of the separating mind. Finally, contact between that which the Monad projects and that which the disciple is projecting is made, and then come the fifth and sixth stages.
Đây là tuyên bố về sự viên mãn sau cùng. Nhưng trước khi điều đó có thể diễn ra trong sự hoàn thiện trọn vẹn của nó, phải có một thời kỳ dài của sự tiếp cận dần dần từ hai khía cạnh của chiếc cầu—phía trên, xuất lộ từ Tam nguyên tinh thần, để đáp ứng với xung lực từ Chân thần, và phía dưới, xuất lộ từ phàm ngã, với sự trợ giúp của linh hồn—băng qua hố ngăn cách do trí tuệ chia rẽ tạo ra. Cuối cùng, sự tiếp xúc giữa cái mà Chân thần phóng chiếu và cái mà người đệ tử đang phóng chiếu được thực hiện, và khi đó xuất hiện giai đoạn thứ năm và thứ sáu.
5 and 6. Stabilisation and Resurrection. The bridge is now built. Thin and tenuous may be its strands at the beginning, but time and active understanding will slowly weave thread after thread until the bridge stands finished, stable and strong and capable of being used. It must perforce be used, because there is now no other medium of intercourse between the initiate and the One Whom he now knows to be himself. He ascends in full consciousness into the sphere of monadic life; he is resurrected from the dark cave of the personality life into the blazing light of divinity; he is no longer only a part of humanity and a member also of the Hierarchy, but he belongs to the great company of Those Whose will is consciously divine and Who are the Custodians of the Plan. They are responsive to impression from Shamballa and are under the direction of the Heads of the Hierarchy.
5 và 6. Ổn định và Phục sinh. Chiếc cầu giờ đây đã được xây dựng. Ban đầu, những sợi dây của nó có thể mỏng manh và yếu ớt, nhưng thời gian và sự thấu hiểu chủ động sẽ dần dần đan sợi này nối tiếp sợi kia cho đến khi chiếc cầu được hoàn thiện, vững vàng và mạnh mẽ, và có thể được sử dụng. Nó bắt buộc phải được sử dụng, vì giờ đây không còn phương tiện giao tiếp nào khác giữa điểm đạo đồ và Đấng mà y giờ đây biết chính là bản thân mình. Y thăng lên trong sự tỉnh thức trọn vẹn vào lĩnh vực của sự sống thuộc chân thần; y được phục sinh khỏi hang tối của đời sống phàm ngã vào ánh sáng rực rỡ của thiên tính; y không còn chỉ là một phần của nhân loại và cũng là một thành viên của Thánh đoàn, mà y thuộc về đại ngũ của Những Đấng có ý chí là thiêng liêng một cách tự ý thức và là Những Đấng Bảo Tồn Thiên Cơ. Các Ngài nhạy cảm với sự ấn tượng từ Shamballa và dưới sự chỉ đạo của các Vị Đứng Đầu Thánh đoàn.
The “freedom of the three Centres” is Theirs. They can express at will the triple energy of Humanity, the dual energy of the Hierarchy, and the one energy of Shamballa.
“Quyền tự do của ba Trung Tâm” là của Các Ngài. Các Ngài có thể biểu hiện theo ý muốn năng lượng ba ngôi của nhân loại, năng lượng nhị nguyên của Thánh đoàn, và năng lượng đơn nhất của Shamballa.
Such, my brothers, is the goal of the disciple as he begins to work at the building of the antahkarana. Reflect upon these matters and proceed with the work.
Như vậy, hỡi các huynh đệ, đó là mục tiêu của người đệ tử khi y bắt đầu công cuộc xây dựng antahkarana. Hãy suy ngẫm về những vấn đề này và tiếp tục công việc.
(In some Talks to Disciples, the Tibetan makes the following remarks which apply here with peculiar force. A.A.B.) [496]
(Trong một vài cuộc nói chuyện với các đệ tử, Chân sư Tây Tạng đưa ra những nhận xét sau đây, rất phù hợp với phần này. A.A.B.) [496]
“Your major need is for an intensification of your inner spiritual aspiration. You need to work more definitely from what might be called a point of tension. Study what is said about tension and intensity. It is intensity of purpose which will change you from the plodding fairly satisfactory aspirant into the disciple whose heart and mind are aflame. Perhaps, however, you prefer to go forward steadily, with no group effort, making your work for me and for the group an ordered part of the daily life, which you can adjust pretty much as you like, and in which the life of the spirit receives its reasonable share, in which the service aspect is not neglected, and your life presentation is neatly balanced and carried forward without much real strain. When this is the case, it may be your personality choice or your soul decision for a specific life, but it means that you are not the disciple, with everything subordinated to the life of discipleship.
“Nhu cầu chính yếu của các bạn là làm mãnh liệt hơn khát vọng tinh thần nội tâm. Các bạn cần phải làm việc một cách dứt khoát hơn từ cái mà người ta có thể gọi là một điểm nhất tâm. Hãy nghiên cứu những gì được nói về sự nhất tâm và mãnh liệt. Chính sự mãnh liệt của mục đích sẽ biến các bạn từ người chí nguyện đều đặn, khá thỏa đáng, thành người đệ tử có trái tim và trí tuệ bừng cháy. Tuy nhiên, có lẽ các bạn thích tiến bước đều đặn, không có nỗ lực nhóm, khiến công việc của các bạn cho tôi và cho nhóm trở thành một phần được sắp xếp trong đời sống hằng ngày, mà các bạn có thể điều chỉnh khá tùy ý, trong đó đời sống tinh thần nhận được phần hợp lý của nó, trong đó phương diện phụng sự không bị lãng quên, và sự thể hiện đời sống của các bạn được cân bằng một cách gọn gàng và được tiếp tục mà không có nhiều căng thẳng thực sự. Khi điều này xảy ra, có thể đó là sự chọn lựa của phàm ngã hoặc quyết định của linh hồn các bạn cho một kiếp sống cụ thể, nhưng điều đó có nghĩa là các bạn không phải là người đệ tử, người đặt mọi thứ dưới sự phục tùng của đời sống đệ tử.
“I would like here to point out two things. First: if you can so change your tension that you are driven by the life of the spirit, it will entail a galvanic upheaval in your inner life. For this, are you prepared? Secondly: it will not produce any outer change in your environing relationships. Your outer obligations and interests must continue to be met, but I am talking in terms of inner orientations, dynamic inner decisions, and an interior organising for service and for sacrifice. Perhaps you prefer the slower and easier way? If that is so, it is entirely your own affair, and you are still on your way. You are still a constructive and useful person. I am simply here facing you with one of the crises which come in the life of all disciples, wherein choices have to be made that are determining for a cycle, but for a cycle only. It is pre-eminently a question of speed and of organising for speed. This means eliminating the non-essentials and concentrating on the essentials—the inner essentials, as they concern the soul and its relation to the personality, and the outer ones as they concern you and your environment.
“Tôi muốn chỉ ra hai điều tại đây. Thứ nhất: nếu các bạn có thể thay đổi điểm nhất tâm của mình đến mức bị thôi thúc bởi đời sống tinh thần, điều đó sẽ kéo theo một cơn chấn động mãnh liệt trong đời sống nội tâm. Các bạn đã sẵn sàng cho điều này chưa? Thứ hai: điều đó sẽ không tạo ra bất kỳ thay đổi nào bên ngoài trong các mối quan hệ xung quanh. Các nghĩa vụ và mối quan tâm bên ngoài của các bạn phải tiếp tục được đáp ứng, nhưng tôi đang nói theo những thuật ngữ của định hướng nội tâm, các quyết định nội tâm đầy năng động, và một sự tổ chức bên trong cho phụng sự và hy sinh. Có lẽ các bạn thích con đường chậm hơn và dễ hơn? Nếu đúng như vậy, đó hoàn toàn là việc riêng của các bạn, và các bạn vẫn đang trên hành trình. Các bạn vẫn là những con người có ích và xây dựng. Tôi đơn giản chỉ đang đặt trước mặt các bạn một trong những khủng hoảng xuất hiện trong đời sống của mọi người đệ tử, nơi các lựa chọn phải được đưa ra, những lựa chọn có tính quyết định cho một chu kỳ—nhưng chỉ trong một chu kỳ mà thôi. Điều này đặc biệt là một vấn đề về tốc độ và tổ chức để đạt được tốc độ. Điều này có nghĩa là loại bỏ những điều không thiết yếu và tập trung vào những điều thiết yếu—các yếu tố thiết yếu bên trong, khi chúng liên quan đến linh hồn và mối quan hệ của nó với phàm ngã, và những yếu tố thiết yếu bên ngoài khi chúng liên quan đến các bạn và môi trường của các bạn.
“I would give you three key thoughts for deep reflection [497] during the next six months; will you ponder on them, one each month for three months, within the head, and during the second three months brood on them in the heart. These key thoughts are:
“Tôi muốn đưa cho các bạn ba ý tưởng then chốt để suy ngẫm sâu sắc [497] trong sáu tháng tới; các bạn có sẵn lòng suy tưởng về chúng, mỗi tháng một ý tưởng trong ba tháng đầu tiên, trong đầu, và trong ba tháng sau, chiêm nghiệm về chúng trong trái tim không? Những tư tưởng then chốt này là:
1. The necessity for speed.
1. Sự cần thiết của tốc độ.
2. The reorganisation of standards of thought and of living.
2. Sự tái tổ chức các tiêu chuẩn tư duy và đời sống.
3. The expression of: Sincerity, Sacrifice, Simplicity.” (Discipleship in the New Age. Vol I, p 358)
3. Sự biểu lộ của: Chân thành, Hy sinh, Giản dị.” (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I, tr. 358)
Webinar 43
In the many strands of light, woven by the aspirants, disciples and initiates of the world, we can see the group antahkarana gradually appearing—that bridge whereby humanity as a whole will be able to abstract itself from matter and form. This building of the antahkarana is the great and ultimate service which all true aspirants can render.
Trong nhiều sợi dây ánh sáng, được đan dệt bởi các người chí nguyện, các đệ tử và các điểm đạo đồ trên thế giới, chúng ta có thể nhìn thấy antahkarana nhóm dần dần hiện ra—chiếc cầu nhờ đó nhân loại như một toàn thể sẽ có thể tự tách mình ra khỏi vật chất và hình tướng. Việc xây dựng antahkarana này chính là sự phụng sự vĩ đại và tối hậu mà mọi người chí nguyện chân chính có thể cống hiến.
The immediate Task ahead
What I have now to say is in the nature of a generalisation. I would like to indicate, as far as possible (asking you to remember that all generalisations are basically sound but erroneous in detail), the point where humanity stands in relation to the antahkarana. It might be said that the whole goal of normal evolution is to bring humanity to the point where a direct line of contact is established between the personality and the Spiritual Triad, via the soul—or rather, through the medium of using the soul consciousness to achieve this awareness. This is consummated at the time of the third initiation. We will now for a minute consider the Monad.
Những gì tôi sắp nói đây mang tính khái quát. Tôi muốn chỉ ra, trong phạm vi có thể (yêu cầu các bạn nhớ rằng mọi khái quát đều cơ bản là đúng nhưng sai ở chi tiết), vị trí mà nhân loại hiện đang đứng trong mối liên hệ với antahkarana. Có thể nói rằng toàn bộ mục tiêu của tiến hóa thông thường là đưa nhân loại đến điểm mà một đường tiếp xúc trực tiếp được thiết lập giữa phàm ngã và Tam nguyên tinh thần, thông qua linh hồn—hay đúng hơn, thông qua việc sử dụng tâm thức linh hồn để đạt được sự tỉnh thức này. Điều này được hoàn tất vào thời điểm điểm đạo lần thứ ba. Giờ đây, chúng ta sẽ xem xét về Chân thần.
I would remind you that there is an analogy in the relation between personality and soul, to that between the Triad and the Monad. This is an analogy that is essentially complete, from the standpoint of consciousness, but not from the standpoint of form. What finally takes place at the most advanced stage of development is the complete fusion of the unified personality and soul with the unified Monad and Spiritual Triad. Only when this has been truly [498] accomplished is there the complete release of the Lives informing our solar system from all form control. Bear this carefully in mind, realising the significance of the word Service, used so frequently in the occult science, and realising also the fact that, for aspirants and disciples, the immediate task ahead is:
Tôi muốn nhắc các bạn rằng có một sự tương đồng trong mối liên hệ giữa phàm ngã và linh hồn, với mối liên hệ giữa Tam nguyên và Chân thần. Đây là một sự tương đồng vốn về bản chất là trọn vẹn, xét theo quan điểm của tâm thức, nhưng không phải xét theo hình tướng. Điều sau cùng xảy ra ở giai đoạn phát triển cao nhất chính là sự dung hợp hoàn toàn giữa phàm ngã và linh hồn đã được hợp nhất với Chân thần và Tam nguyên tinh thần đã hợp nhất. Chỉ khi điều này thực sự [498] được hoàn thành thì mới có sự giải thoát hoàn toàn cho các Đơn vị Sống vốn hoạt hóa Thái Dương Hệ của chúng ta khỏi mọi sự kiểm soát của hình tướng. Hãy ghi nhớ điều này một cách cẩn trọng, nhận ra ý nghĩa của từ “Phụng sự” vốn thường xuyên được dùng trong khoa học huyền môn, và cũng nhận ra rằng, đối với các người chí nguyện và đệ tử, nhiệm vụ trước mắt là:
1. To bring about the at-one-ment of soul and body, through the medium of alignment.
1. Mang lại sự hợp nhất giữa linh hồn và thể xác, thông qua phương tiện là sự chỉnh hợp.
2. To build the antahkarana, using the six modes or means outlined by me previously, and thus evoke response to the Triad. The thought of Alignment-Invocation-Evocation are the three major ideas for you to hold in mind as we proceed with this study.
2. Xây dựng antahkarana, sử dụng sáu phương thức mà tôi đã trình bày trước đây, và nhờ đó gợi lên sự đáp ứng từ Tam nguyên. Tư tưởng về Chỉnh hợp–Khẩn cầu–Gợi lên là ba ý tưởng chính để các bạn ghi nhớ khi chúng ta tiếp tục nghiên cứu này.
The reason that I am giving out what was earlier regarded as some of the preparatory work prior to the third initiation is due to the fact that the race is now at the point of development which warrants complete change in the approach to divinity as taught by the Hierarchy. This does not mean that past teaching is abrogated, but it is shifted back to the earlier stages on the Path of Discipleship, whilst the teaching given in those stages now becomes the work done by the aspirants upon the Probationary Path. Emphasis has been laid upon purification, upon the need for the development of the Christ life, upon the mystical vision and upon philosophy. Occult truths have been given to the race and have evoked much interest, criticism and discussion; they have appealed to all types of mind; they have been distorted and misapplied. Nevertheless, they have been instrumental in aiding advanced aspirants to move forward on to the Path of Discipleship, with a paralleling moving forward of accepted disciples. Once firmly established upon the Path, the truths become self-evident and individual application and verification can be made, leading the disciple inevitably to the Portal of Initiation.
Lý do khiến tôi đưa ra những điều vốn trước đây được xem là công việc chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ ba là vì giống dân hiện đang ở điểm phát triển cho phép có sự thay đổi hoàn toàn trong cách tiếp cận với Thượng đế như đã được Thánh đoàn giảng dạy. Điều này không có nghĩa là giáo lý cũ bị bãi bỏ, mà nó được chuyển trở lại về các giai đoạn sớm hơn trên Con Đường Đệ Tử, trong khi những giáo lý được ban cho trong các giai đoạn đó nay trở thành công việc của các người chí nguyện đang trên Con Đường Dự Bị. Trọng tâm đã từng được đặt vào sự thanh luyện, vào nhu cầu phát triển đời sống theo Đức Christ, vào thị kiến huyền nhiệm và triết lý. Các chân lý huyền môn đã được truyền ra cho giống dân và đã khơi dậy nhiều sự quan tâm, phê phán và tranh luận; chúng đã thu hút mọi loại trí tuệ; chúng đã bị bóp méo và áp dụng sai. Tuy nhiên, chúng đã đóng vai trò hỗ trợ các người chí nguyện tiến bộ bước vào Con Đường Đệ Tử, đồng thời các đệ tử chính thức cũng tiến bước song hành. Một khi đã được thiết lập vững chắc trên Con Đường, các chân lý trở nên hiển nhiên, và có thể được áp dụng và kiểm chứng cá nhân, dẫn người đệ tử tiến đến Cánh Cửa Điểm Đạo một cách không thể tránh khỏi.
The race as a whole stands now at the very entrance to the Path of Discipleship. The racial gaze is forward to the vision, whether it is the vision of the soul, a vision of a better way of life, of an improved economic situation, or of [499] better inter-racial relationship. That this vision is oft distorted, that it is materially oriented or only partially seen is sadly true; but in some form or another there exists today an appreciable grasp of the “new and desirable” by the masses—a thing hitherto unknown. In the past, it was the intelligentsia or the elect who were privileged to have the vision. Today, it is the mass of men. Humanity, therefore, as a whole stands ready for a general alignment process, and that is the spiritual reason which lay behind the world war. The “sharp shears of sorrow must separate the real from the unreal; the lash of pain must awaken the sleepy soul to exquisite life; the wrenching away of the roots of life from the soil of selfish desire must be undergone, and then the man stands free.” So runs the Old Commentary in one of its more mystical stanzas. Thus it points prophetically to the close of the Aryan Race—not a close in the sense of completion, but a closing of a cycle of mental perfecting, preparatory to a cycle wherein the mind will be rightly used as an instrument of alignment, then as the searchlight of the soul, and as the controller of the personality.
Giống dân nói chung hiện đang đứng ngay ngưỡng cửa của Con Đường Đệ Tử. Ánh nhìn của giống dân hướng về thị kiến, dù đó là thị kiến của linh hồn, một viễn cảnh về đời sống tốt đẹp hơn, một tình hình kinh tế được cải thiện, hay [499] mối quan hệ tốt đẹp hơn giữa các chủng tộc. Rằng thị kiến đó thường bị bóp méo, rằng nó hướng về vật chất hoặc chỉ được nhìn thấy một phần là điều đáng tiếc nhưng đúng; tuy nhiên, dưới một hình thức này hay khác, hiện nay có một sự lĩnh hội đáng kể trong quần chúng về điều “mới và đáng mong muốn”—điều mà trước đây chưa từng có. Trong quá khứ, chỉ có giới trí thức hoặc tầng lớp tinh hoa mới có đặc quyền tiếp nhận thị kiến. Ngày nay, đó là quần chúng. Do đó, nhân loại như một tổng thể đã sẵn sàng cho một tiến trình chỉnh hợp chung, và đó chính là lý do tinh thần đằng sau cuộc đại chiến thế giới. “Lưỡi kéo sắc bén của khổ đau phải cắt lìa điều thực với điều hư; roi đau đớn phải đánh thức linh hồn đang ngủ mê để sống một đời sống diệu kỳ; việc bứng rễ của sự sống khỏi lớp đất của dục vọng ích kỷ phải được trải qua, và rồi con người đứng trong tự do.” Đó là lời của Cổ Luận trong một khổ kệ có tính huyền nhiệm. Như vậy, nó đã tiên tri về sự kết thúc của Giống Dân Aryan—không phải là sự kết thúc theo nghĩa hoàn mãn, mà là sự kết thúc của một chu kỳ hoàn thiện trí tuệ, để chuẩn bị cho một chu kỳ mà trong đó trí tuệ sẽ được sử dụng đúng đắn như một công cụ của sự chỉnh hợp, sau đó như đèn pha của linh hồn, và là kẻ điều khiển phàm ngã.
For the masses—under the slow processes of evolution—the next step forward is the aligning of the soul and the form, so that there can be a blending in consciousness, following on a mental appreciation of the Christ principle and its deep expression in the life of the race. This is something which can be seen quite clearly emerging, if you have the eyes to see. It is evident in the universal interest in goodwill, leading eventually to peace; this desire for peace may be based on individual or national selfishness, or upon a true desire to see a happier world wherein man can lead a fuller spiritual life and base his efforts on truer values; it can be seen in all the planning which is going on for a new world order, based on human liberty, belief in human rights and right human relations; it is demonstrating also in the work of the great humanitarian movements, the welfare organisations, and the widespread evocation of the human mind through the network of educational institutions throughout the world. The Christ spirit is expressively present, [500] and the failure to recognise this fact has been largely due to the prevalent human effort to explain and interpret this phrase solely in terms of religion, whereas the religious interpretation is but one mode of understanding Reality. There are others of equal importance. All the great avenues of approach to Reality are spiritual in nature and interpretive of divine purpose, and whether the religious Christian speaks of the Kingdom of God, or the humanitarian emphasises the brotherhood of man, or the leaders against evil head the fight for the new world order or for the Four Freedoms or the Atlantic Charter, they all express the emergence of the love of God in its form of the spirit of Christ.
Đối với quần chúng—dưới những tiến trình tiến hóa chậm rãi—bước kế tiếp là sự chỉnh hợp giữa linh hồn và hình tướng, để có thể có sự hòa hợp trong tâm thức, nối tiếp sau một sự lĩnh hội bằng trí tuệ về nguyên lý của Đức Christ và sự biểu lộ sâu sắc của nguyên lý này trong đời sống của giống dân. Đây là điều mà các bạn có thể thấy đang xuất hiện một cách khá rõ ràng, nếu các bạn có con mắt để thấy. Điều đó hiển hiện qua sự quan tâm phổ quát đến thiện chí, cuối cùng dẫn đến hòa bình; khát vọng cho hòa bình này có thể dựa trên sự ích kỷ cá nhân hay quốc gia, hoặc trên một khát khao chân thật nhằm nhìn thấy một thế giới hạnh phúc hơn, nơi con người có thể sống một đời sống tinh thần trọn vẹn hơn và đặt nỗ lực của mình trên các giá trị chân thật hơn; điều đó có thể được thấy qua tất cả các kế hoạch hiện đang được thực hiện cho một trật tự thế giới mới, dựa trên tự do con người, niềm tin vào nhân quyền và các mối quan hệ đúng đắn giữa con người với nhau; nó cũng đang được biểu lộ trong công việc của các phong trào nhân đạo vĩ đại, các tổ chức phúc lợi, và sự gợi mở rộng khắp của trí tuệ con người thông qua mạng lưới các cơ sở giáo dục trên toàn thế giới. Tinh thần của Đức Christ đang hiện diện một cách rõ ràng, [500] và sự thất bại trong việc công nhận thực tế này phần lớn là do nỗ lực phổ biến của con người nhằm giải thích và diễn đạt cụm từ này chỉ thuần túy trong các thuật ngữ tôn giáo, trong khi cách hiểu tôn giáo chỉ là một trong nhiều phương thức để lĩnh hội Thực Tại. Còn nhiều cách khác có tầm quan trọng ngang bằng. Tất cả các con đường tiếp cận Thực Tại đều mang tính tinh thần và có vai trò diễn đạt Thiên Ý, và cho dù người Kitô hữu tôn giáo nói đến Vương quốc của Thượng đế, hay người nhân đạo nhấn mạnh đến tình huynh đệ của nhân loại, hay những người lãnh đạo trong cuộc chiến chống lại ác lực dẫn đầu trong việc thiết lập trật tự thế giới mới, hoặc đấu tranh cho Bốn Tự Do hay Hiến Chương Đại Tây Dương, tất cả họ đều đang biểu lộ sự xuất hiện của Tình Thương của Thượng đế dưới hình thức tinh thần của Đức Christ.
Humanity in the mass has therefore reached a point of emergence from darkness; it has itself evoked the reaction of the powers of evil, and hence their attempt to arrest the progress of the human spirit and to stop the onward march of the good, the true and the beautiful.
Do đó, nhân loại như một toàn thể đã đạt đến một điểm của sự trỗi dậy khỏi bóng tối; chính nó đã gợi lên phản ứng từ các quyền lực của ác lực, và vì thế xảy ra nỗ lực của chúng nhằm ngăn chặn sự tiến bộ của tinh thần con người và chặn đứng bước tiến của điều thiện, điều chân thật và điều mỹ lệ.
Aspirants and probationary disciples are occupied with a definite process of focussing their consciousness in the soul. This process falls into two parts:
Các người chí nguyện và các đệ tử dự bị đang dấn thân vào một tiến trình xác định nhằm tập trung tâm thức của mình vào linh hồn. Tiến trình này chia thành hai phần:
An intensification of the personality life, so that it is developed to its highest individualistic powers.
- Một sự tăng cường đời sống phàm ngã, để nó được phát triển đến mức tối đa các năng lực cá nhân hóa cao nhất của nó.
A process of moving forward into the light and of conscious soul contact.
- Một tiến trình tiến vào ánh sáng và tiếp xúc có ý thức với linh hồn.
This involves the earlier stage of the alignment process, which is a mode of focussed, concentrated effort, according to the ray and life purpose of the soul. This may take the form of a profound application to some scientific endeavour or a deep concentration on the spiritual work of the world, or it may be a complete dedication to humanitarian effort; it matters not. I would call your attention to that statement. In every case the motivating power must be betterment; it must be carried forward by extreme effort; but—given right motive and the effort to develop simultaneously a good character and a stable purpose—the aspirant or probationary disciple will eventually find that he has succeeded in establishing a definite soul relation; he will have discovered that [501] the path of contact between soul and brain, via the mind, has been opened, and that he has mastered the first stage in the needed alignment process.
Điều này bao hàm giai đoạn đầu tiên của tiến trình chỉnh hợp, vốn là một phương thức nỗ lực tập trung và chú tâm, tùy theo cung và mục đích sống của linh hồn. Điều này có thể biểu hiện dưới hình thức ứng dụng sâu sắc vào một nỗ lực khoa học nào đó, hoặc sự tập trung sâu xa vào công cuộc tâm linh của thế giới, hoặc có thể là sự cống hiến trọn vẹn cho các nỗ lực nhân đạo; điều đó không quan trọng. Tôi muốn các bạn chú ý đến lời phát biểu đó. Trong mọi trường hợp, động lực thúc đẩy phải là vì sự cải thiện; điều đó phải được thực hiện bằng một nỗ lực tối đa; nhưng—nếu có động cơ đúng đắn và có nỗ lực đồng thời để phát triển một tính cách tốt và một mục đích ổn định—người chí nguyện hoặc đệ tử dự bị cuối cùng sẽ thấy rằng y đã thành công trong việc thiết lập một mối liên hệ rõ ràng với linh hồn; y sẽ nhận ra rằng [501] con đường tiếp xúc giữa linh hồn và bộ não, thông qua trí tuệ, đã được mở ra, và rằng y đã làm chủ được giai đoạn đầu tiên của tiến trình chỉnh hợp cần thiết.
When this has been accomplished, the man passes on to the Path of Discipleship and can undertake the work I am outlining for you in this treatise. Thus you can see how the entire human family has reached a central and most important point upon the evolutionary path. The immediate path ahead for all—each in his own place—is to stand with right orientation, undeterred by circumstances, and then unflinchingly move forward.
Khi điều này đã được hoàn tất, con người sẽ bước tiếp trên Con Đường Đệ Tử và có thể đảm nhận công việc mà tôi đang trình bày cho các bạn trong trước tác này. Như vậy, các bạn có thể thấy rõ toàn thể gia đình nhân loại đã đạt đến một điểm trung tâm và hết sức quan trọng trên con đường tiến hóa. Con đường trước mắt ngay lập tức cho tất cả—mỗi người tại vị trí của mình—là đứng vững với sự định hướng đúng đắn, không bị hoàn cảnh làm dao động, và rồi tiến bước không nao núng.
Webinar 44
I have given you the six methods of building the antahkarana, and as we proceed to take up our next point, I would have you refer to them at frequent intervals. The ray methods with which we shall be concerned are the methods, uniquely possible on the seven major lines of emanatory energy, which differing ray types will bring to bear on these six stages of the building process. All disciples on all these seven rays use the same building technique of Intention, Visualisation, Projection, Invocation and Evocation, Stabilisation and Resurrection. Of these the first two are uniform in technique for all the rays, but when the stage of Projection is reached, then the ray techniques begin to differ, and it is these techniques or methods of ray work, coupled with the seven Words of Power, which we shall now proceed to consider.
Tôi đã trình bày cho các bạn sáu phương pháp xây dựng antahkarana, và khi chúng ta tiếp tục sang điểm kế tiếp, tôi muốn các bạn thường xuyên tham khảo lại chúng. Các phương pháp theo cung mà chúng ta sẽ xem xét là những phương pháp một cách đặc thù có thể được áp dụng trên bảy dòng năng lượng phát xạ chính yếu, mà các loại hình cung khác nhau sẽ vận dụng vào sáu giai đoạn của tiến trình xây dựng này. Tất cả các đệ tử thuộc cả bảy cung đều sử dụng cùng một kỹ thuật xây dựng gồm: Ý định, Hình dung, Phóng chiếu, Khẩn cầu và Gợi lên, Ổn định và Phục sinh. Trong số đó, hai giai đoạn đầu tiên có kỹ thuật đồng nhất cho tất cả các cung, nhưng khi đến giai đoạn Phóng chiếu, các kỹ thuật theo cung mới bắt đầu có sự khác biệt, và chính những kỹ thuật hay phương pháp làm việc theo cung này, kết hợp với bảy Quyền năng từ, là điều mà chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu sau đây.
The Seven Ray Methods used in the Construction Process
Until the stage of projection is reached, the methods employed by all disciples on all rays are identical. Their intention is one, and they all have to attain the same measure of tension and of preparation for the construction of the bridge by gathering the needed energy from two sources—the personality and the soul. By this focussing and its resultant tension, by thus evoking the Spiritual Triad and starting the dual process of building from both ends of the bridge (if such a phrase is possible and permissible), the work goes forward uniformly. The use of the creative imagination [502] is now called forth and this forms the second stage. This presents a real difficulty for the first ray and the seventh ray aspirants. Neither type can with facility organise the material energy, orient energy currents, and see their objective clearly in the mind's eye pictorially. It is a process which is profoundly difficult for them. It must, however, in some way be done, because the use of the visual imagination is an essential factor in the building process and one of the major means of focussing, prior to projection.
Cho đến khi đạt đến giai đoạn phóng chiếu, các phương pháp được sử dụng bởi tất cả các đệ tử thuộc mọi cung đều giống nhau. Ý định của họ là một, và tất cả đều phải đạt đến cùng một mức độ nhất tâm và chuẩn bị cho việc xây dựng chiếc cầu bằng cách tập hợp năng lượng cần thiết từ hai nguồn—phàm ngã và linh hồn. Nhờ vào sự tập trung này và mức độ căng thẳng sinh ra từ đó, bằng cách gợi lên Tam nguyên tinh thần và bắt đầu tiến trình kép của việc xây dựng từ cả hai đầu của chiếc cầu (nếu có thể dùng một cụm từ như vậy), công việc được tiến hành một cách đồng đều. Việc sử dụng trí tưởng tượng sáng tạo [502] giờ đây được gọi vào hành động và điều này tạo thành giai đoạn thứ hai. Điều này gây ra một khó khăn thực sự cho các người chí nguyện thuộc cung một và cung bảy. Cả hai loại này đều không dễ dàng tổ chức năng lượng vật chất, định hướng các dòng năng lượng, và thấy rõ mục tiêu của mình dưới dạng hình ảnh trong “mắt trí tuệ.” Đây là một tiến trình cực kỳ khó khăn đối với họ. Tuy vậy, nó vẫn phải được thực hiện theo một cách nào đó, vì việc sử dụng trí tưởng tượng thị giác là một yếu tố thiết yếu trong tiến trình xây dựng và là một trong những phương tiện chính yếu của sự tập trung, trước khi đến giai đoạn phóng chiếu.
This process of projection falls into three main activities:
Tiến trình phóng chiếu này bao gồm ba hoạt động chính:
1. After due focussing and after careful, sequential and systematic picturing the “rainbow bridge,” the disciple—by a distinct and separate effort—calls in the will aspect of his nature, as far as he can in this incarnation. It is in this connection that the differing ray methods make their appearance, the difference being determined by the quality of the ray life.
1. Sau khi đã tập trung đúng mức và hình dung một cách cẩn trọng, tuần tự và có hệ thống về “chiếc cầu cầu vồng,” người đệ tử—bằng một nỗ lực rõ ràng và riêng biệt—gọi mời khía cạnh Ý chí của bản chất mình, trong mức độ có thể trong kiếp sống hiện tại. Chính trong mối liên hệ này mà các phương pháp theo cung khác biệt bắt đầu xuất hiện, và sự khác biệt đó được quyết định bởi phẩm tính của sự sống thuộc cung.
2. The disciple has to preserve steadily the triple consciousness, not simply theoretically but also factually, so that three paralleling lines of thought, or three streams of active energy, are used by him simultaneously:
2. Người đệ tử phải duy trì đều đặn ba trạng thái tâm thức, không chỉ trên lý thuyết mà còn trong thực tế, để ba dòng tư tưởng song song, hoặc ba dòng năng lượng hoạt động, được y sử dụng một cách đồng thời:
a. He is aware of himself, personality and soul, as occupied with the process of bridge building. He never for one second loses his sense of conscious identity.
a. Y ý thức được chính mình, phàm ngã và linh hồn, như đang tham gia vào tiến trình xây dựng chiếc cầu. Y không một giây phút nào đánh mất ý thức bản ngã của mình.
b. He is aware of the point of focussed tension which he has succeeded in producing and that three streams of energy have contributed to it—the focussed energy of the personality, poised in the lower concrete mind, the inflowing magnetic energy of the soul, streaming out from the twelve petals of the three tiers plus the innermost tier of the egoic lotus, and the energy of the “jewel in the lotus”—all streaming into the centre of tension on the mental levels of the lower mind.
b. Y ý thức được điểm tập trung căng thẳng mà y đã thành công trong việc tạo ra, và rằng ba dòng năng lượng đã góp phần vào đó—năng lượng tập trung của phàm ngã, được giữ thế quân bình trong thể trí cụ thể thấp; năng lượng từ tính đang tuôn đổ của linh hồn, tuôn ra từ mười hai cánh hoa của ba tầng và tầng sâu nhất của Hoa Sen Chân Ngã; và năng lượng của “viên ngọc trong hoa sen”—tất cả đều tuôn vào trung tâm của sự căng thẳng trên các tầng trí tuệ của hạ trí.
c. He is aware of as much of the consciousness of his ray energy as can enter into his awareness; this is his egoic ray energy and not personality force. He endeavours to see himself as a point of particular energy [503] coloured by his ray life, and carefully bears in mind that the energy of his egoic ray is the major energy through which the Monad is attempting to express itself, and also that his threefold egoic vehicle is a reflection of and closely related to the three aspects of the Spiritual Triad. It is this relation (and its conscious interplay and effect) which is evoked by the building of the antahkarana, and which eventually (when it is powerful enough) brings into radiant activity the “jewel in the lotus.”
c. Y ý thức được càng nhiều càng tốt tâm thức của năng lượng thuộc cung linh hồn y có thể thâm nhập vào nhận thức của y; đây là năng lượng cung linh hồn chứ không phải là mãnh lực của phàm ngã. Y cố gắng thấy chính mình như một điểm năng lượng đặc thù [503] được tô màu bởi sự sống thuộc cung của y, và luôn nhớ rằng năng lượng cung linh hồn của y là năng lượng chính yếu mà qua đó Chân thần đang tìm cách biểu hiện, và rằng ba thể linh hồn hợp nhất của y là sự phản ánh và có mối quan hệ chặt chẽ với ba phương diện của Tam nguyên tinh thần. Chính mối quan hệ này (và sự tương tác có ý thức và hiệu quả của nó) được gợi lên thông qua việc xây dựng antahkarana, và cuối cùng (khi đủ mạnh) làm cho “viên ngọc trong hoa sen” biểu hiện một cách rực rỡ.
3. When these three stages of realisation have been completed as far as the disciple feels he is capable of carrying them, then and only then does he prepare himself for the distinctive use of his ray method in preparing for the “projecting sound” or Word of Power.
3. Khi ba giai đoạn nhận thức này đã được hoàn tất trong mức độ mà người đệ tử cảm thấy y có thể đảm nhận, thì và chỉ khi đó y mới chuẩn bị cho việc sử dụng phương pháp đặc thù theo cung của mình trong việc chuẩn bị cho “âm thanh phóng chiếu” hay Quyền năng từ.
You can see from all the above that this constitutes a definitely planned process of a basic scientific nature, and requires as careful following as the procedure of any scientist in search of some advanced chemical formula. The only difference, scientifically speaking, is that the whole process is carried forward upon subjective levels and in the realm of consciousness, thus requiring a consciousness and a concentration not needed when working more tangibly on the outer plane of awareness. At first it seems complicated, as the disciple tries to master the different stages of the process, but it all becomes entirely automatic when once mastered. Here is a summary of process up to the point of definite projection:
Từ tất cả những điều trên, các bạn có thể thấy rằng đây là một tiến trình được hoạch định rõ ràng, mang bản chất khoa học căn bản, và đòi hỏi sự tuân thủ cẩn thận như cách một nhà khoa học làm việc với một công thức hóa học tiên tiến. Sự khác biệt duy nhất, xét theo góc độ khoa học, là toàn bộ tiến trình này được thực hiện trên các tầng chủ quan và trong lĩnh vực tâm thức, do đó đòi hỏi một mức độ tỉnh thức và tập trung không cần thiết khi làm việc một cách cụ thể hơn trên bình diện ngoại tại của ý thức. Lúc đầu, nó có vẻ phức tạp, khi người đệ tử cố gắng nắm vững các giai đoạn khác nhau của tiến trình, nhưng một khi đã được làm chủ, mọi thứ trở nên hoàn toàn tự động. Dưới đây là bảng tóm lược tiến trình cho đến điểm phóng chiếu xác định:
I. Intention, producing focussing and tension.
I. Ý định, tạo ra sự tập trung và căng thẳng.
II. Visualisation, produced by:
II. Hình dung, được tạo ra bởi:
1. The buddhic activity of “impression.”
1. Hoạt động Bồ đề của “ấn tượng.”
2. The tension of the mental body.
2. Sự căng thẳng của thể trí.
3. The imaginative processes of the astral body.
3. Tiến trình tưởng tượng của thể cảm xúc.
III. Projection:
III. Phóng chiếu:
1. The calling in of the Will aspect.
1. Gọi mời khía cạnh Ý chí.
2. The preservation of a triple state of awareness in order that: [504]
2. Duy trì ba trạng thái nhận thức để: [504]
a. The disciple is aware constantly of his own identity.
a. Người đệ tử luôn ý thức về bản ngã của chính mình.
b. He is conscious of a fixed point of tension.
b. Y ý thức về một điểm căng thẳng cố định.
c. He is aware actively of his soul ray or his soul energy.
c. Y ý thức một cách tích cực về cung linh hồn hay năng lượng linh hồn của mình.
3. He starts in to use that distinctive ray energy correctly.
3. Y bắt đầu sử dụng đúng đắn năng lượng cung đặc thù đó.
4. He then, when all the above is completed, uses the Word of Power which is the agent of his Will.
4. Sau khi tất cả điều trên được hoàn tất, y sử dụng Quyền năng từ, vốn là tác nhân của Ý chí.
This short tabulation should aid in the process, and you can see how stage grows out of stage and how, once familiarity has been established, it should be possible for the preliminary work to be rapidly carried forward.
Bảng tóm tắt ngắn gọn này sẽ hỗ trợ trong tiến trình, và các bạn có thể thấy mỗi giai đoạn phát triển từ giai đoạn trước, và một khi sự quen thuộc đã được thiết lập, thì công việc chuẩn bị có thể được tiến hành nhanh chóng.
When, however, the distinctive methods of the ray energy of the disciple reach the point of definite use, it is not so simple as it sounds. Success in the building process is dependent upon the ability of the disciple to do three things:
Tuy nhiên, khi các phương pháp đặc thù của năng lượng cung nơi người đệ tử đạt đến điểm được sử dụng một cách xác định, thì mọi thứ không đơn giản như vẻ bề ngoài. Sự thành công trong tiến trình xây dựng tùy thuộc vào khả năng của người đệ tử trong việc thực hiện ba điều:
1. Hold the mind steady in the light, i.e., preserving the point of tension at its highest possible point at any given time in the disciple's unfoldment and building activity.
1. Giữ vững trí tuệ trong ánh sáng, tức là duy trì điểm căng thẳng ở mức cao nhất có thể tại bất kỳ thời điểm nào trong tiến trình phát triển và hoạt động xây dựng của người đệ tử.
2. Register consciousness of soul contact, thus bringing about an increasing fusion between the soul and the personality, so that complete at-one-ment is increasingly attained. Technically, this means that the energy of the soul ray and of the personality ray merge together, with the soul ray dominating always.
2. Ghi nhận tâm thức về sự tiếp xúc với linh hồn, từ đó tạo nên sự dung hợp ngày càng tăng giữa linh hồn và phàm ngã, để đạt được sự hợp nhất hoàn toàn một cách ngày càng vững chắc. Về mặt kỹ thuật, điều này có nghĩa là năng lượng của cung linh hồn và cung phàm ngã được dung hợp lại, với cung linh hồn luôn giữ vị trí chủ đạo.
3. Hold in mind, specifically and in detail, the method to be employed in building the bridge, according to the particular ray technique, and with the objective in view of relating (in a new and significant manner, factually and not just theoretically) the Spiritual Triad and the personality.
3. Ghi nhớ trong trí, một cách cụ thể và chi tiết, phương pháp được áp dụng trong việc xây dựng chiếc cầu, theo kỹ thuật riêng của từng cung, với mục tiêu liên kết (một cách mới mẻ và có ý nghĩa, trên thực tế chứ không chỉ trên lý thuyết) giữa Tam nguyên tinh thần và phàm ngã.
The soul, therefore, as a separate entity, is fading slowly out of the picture because it is being absorbed into and by the personality, which is becoming more and more the soul in incarnation. Eventually the relation is established between [505] spirit (Monad) and personality (form or matter), with a tiny point of consciousness eternally present which is aware of both these factors and yet preserves inviolate its own identity. This latter realisation is the result of aeonian work, carried forward by the soul. Paradoxically, we say that the soul fades or drops out, yet in the last analysis it remains, for in this solar system there is naught else but only this consciousness of being.
Vì vậy, linh hồn, như một thực thể riêng biệt, đang dần mờ nhạt khỏi bức tranh, bởi vì nó đang được hấp thu vào và bởi phàm ngã, vốn ngày càng trở thành linh hồn nhập thể. Cuối cùng, mối liên hệ được thiết lập giữa [505] tinh thần (Chân thần) và phàm ngã (hình tướng hay vật chất), với một điểm nhỏ của tâm thức hiện diện vĩnh viễn, vốn nhận biết được cả hai yếu tố này và đồng thời vẫn bảo toàn nguyên vẹn bản chất riêng của nó. Nhận thức sau cùng này là kết quả của công trình mang tính trường cửu được thực hiện bởi linh hồn. Nghịch lý thay, chúng ta nói rằng linh hồn mờ dần hay biến mất, nhưng xét đến tận cùng thì nó vẫn hiện hữu, bởi trong Thái Dương Hệ này không có gì khác ngoài tâm thức về sự hiện hữu.
One point I would touch upon here before taking up the seven ray methods of projection. The bridge to be built is called frequently the “rainbow bridge” because it is constituted of all the colours of the seven rays. Speaking specifically and from the angle of the disciple, the bridge which he builds between the personality and the Spiritual Triad is composed of seven strands of energy, or seven streams of force; he uses all the seven rays, having gained facility in so doing because again and again his personality has (in the long cycle of incarnations) been on all the seven rays many times. But his soul ray dominates eventually, and in the rainbow bridge the “colours of his rays are heard vibrating; the note of his ray is seen.” The bridge built by humanity as a whole is one bridge composed of the multiplicity of individual bridges, built by the many disciples. It is therefore formed eventually of seven strands or streams of energy coming from the seven egoic groups (one group of each ray type). To this bridge the creative work of all human beings who reach the stage of soul contact contributes. Their dominant strands of light fuse into one whole and their lesser strands are lost to sight in the radiant light of the sevenfold bridge which humanity will eventually complete.
Tôi muốn đề cập một điểm tại đây trước khi bước vào các phương pháp phóng chiếu của bảy cung. Chiếc cầu cần xây thường được gọi là “chiếc cầu cầu vồng” vì nó được tạo thành từ tất cả các màu sắc của bảy cung. Nói một cách cụ thể và dưới góc nhìn của người đệ tử, chiếc cầu mà y xây dựng giữa phàm ngã và Tam nguyên tinh thần được cấu thành từ bảy sợi năng lượng, hoặc bảy dòng mãnh lực; y sử dụng tất cả bảy cung, vì trong chuỗi dài của các kiếp sống, phàm ngã của y đã nhiều lần hoạt động trên cả bảy cung, nên y đã trở nên thành thạo trong việc sử dụng chúng. Tuy nhiên, cung linh hồn của y cuối cùng sẽ chiếm ưu thế, và trong chiếc cầu cầu vồng ấy, “các màu sắc của cung y rung động và âm thanh của cung y được thấy.” Chiếc cầu do nhân loại xây dựng như một tổng thể là một chiếc cầu được tạo thành từ vô số những chiếc cầu riêng lẻ do nhiều đệ tử xây dựng. Do đó, nó cuối cùng được hình thành từ bảy sợi hoặc dòng năng lượng đến từ bảy nhóm linh hồn (mỗi nhóm thuộc một loại cung). Vào chiếc cầu này, công trình sáng tạo của tất cả những con người đạt đến giai đoạn tiếp xúc với linh hồn đều đóng góp. Các sợi sáng chủ đạo của họ dung hợp thành một chỉnh thể, và các sợi phụ biến mất khỏi tầm nhìn trong ánh sáng rực rỡ của chiếc cầu bảy lần mà nhân loại cuối cùng sẽ hoàn tất.
Even in this finally completed bridge—at the end of the world cycle—one ray light and colour will predominate, the second ray, with the fourth ray as the subsidiary ray. The fourth ray might be symbolically called “the main cable” for humanity, because it is the dominant note of the Fourth Creative Hierarchy. Now let us take up the seven ray methods, one by one.
Ngay cả trong chiếc cầu được hoàn tất sau cùng đó—vào cuối chu kỳ thế giới—sẽ có một ánh sáng và màu sắc cung chiếm ưu thế: cung hai, với cung bốn là cung phụ. Cung bốn có thể được gọi biểu tượng là “dây cáp chính” cho nhân loại, vì nó là âm thanh chủ đạo của Đệ Tứ Huyền Giai Sáng Tạo. Giờ đây chúng ta hãy xem xét từng phương pháp của bảy cung.
Webinar 45
[506] As we consider these seven ray techniques with their accompanying Words of Power, you must bear carefully in mind that we are dealing entirely with the Will aspect. This necessitates a higher process of alignment and the evocation of a divine aspect hitherto relatively quiescent, except in so far as the will finds its reflection in the activity of the sacrifice petals of the egoic lotus, plus its distorted shadow in the mind nature. This consequently posits a fairly high stage of spiritual unfoldment upon the part of the builder of the antahkarana; it means that there are indications of it (to say the least) between the mind, the sacrifice petals and the atmic principle. This may be simply the most tenuous thread imaginable, a thousand times finer than a gossamer web, but it must inevitably be present. When, from the angle of the esotericist, this is a tangible fact, you will then have the following direct contact:
[506] Khi chúng ta nghiên cứu các kỹ thuật của bảy cung này cùng với các Quyền năng từ tương ứng, các bạn phải ghi nhớ một cách cẩn trọng rằng chúng ta đang hoàn toàn xử lý với phương diện Ý chí. Điều này đòi hỏi một tiến trình chỉnh hợp ở cấp cao hơn và sự gợi lên của một phương diện thiêng liêng vốn từ trước đến nay tương đối tĩnh tại, ngoại trừ chừng nào ý chí còn được phản ánh trong hoạt động của các cánh hoa hy sinh trong Hoa Sen Chân Ngã, cộng thêm bóng méo mó của nó trong bản chất trí tuệ. Hệ quả là điều này giả định một trình độ khai mở tinh thần tương đối cao nơi người kiến tạo antahkarana; điều đó có nghĩa là đã có những dấu hiệu (ít nhất là vậy) của sự liên hệ giữa trí tuệ, các cánh hoa hy sinh và nguyên khí atma. Điều này có thể chỉ là sợi dây mỏng manh nhất có thể tưởng tượng, mảnh hơn cả sợi tơ nhện đến hàng ngàn lần, nhưng nó nhất thiết phải hiện diện. Khi, dưới góc nhìn của nhà huyền môn, điều này trở thành một thực tại có thể cảm nhận được, các bạn sẽ có được sự tiếp xúc trực tiếp sau đây:
This contact, when completed, marks an entire unit of spiritual work, if I might so word it, bringing the man upon the physical plane into complete alignment; this unity is consummated at the time of the fourth initiation, the Great Renunciation at which time the first aspect begins to dominate the other two.
Sự tiếp xúc này, khi hoàn thành, đánh dấu một đơn vị trọn vẹn của công việc tinh thần, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, mang con người trên cõi trần vào sự chỉnh hợp hoàn toàn; sự hợp nhất này được hoàn thành vào thời điểm của lần điểm đạo thứ tư, Sự Từ Bỏ Vĩ Đại, khi đó trạng thái thứ nhất bắt đầu chi phối hai trạng thái còn lại.
Then the soul life—as hitherto understood—fades out and the causal body disappears. The sum total of memory, [507] quality and acquirements is then absorbed into the Monad. The words “I and my Father are one” become true. The astral body also vanishes in the same great process of renunciation, and the physical body (as an automatic agent of the vital body) is no longer needed, though it persists and serves a purpose when so required by the Monad. From the form aspect, you then have the Monad, the sphere of the Spiritual Triad and the etheric body upon the physical plane. I would here remind you that the levels of conscious existence which we regard as formless are only relatively so, because our seven planes are the seven subplanes of the cosmic physical plane. The centre of consciousness is now in the Will nature, when this point of attainment is reached, and is no longer in the love nature. Activity and love are still present in full measure, but the focus of the initiate's attention is in the will aspect of divinity.
Rồi đời sống linh hồn—như đã được hiểu cho đến nay—mờ dần và thể nguyên nhân biến mất. Tổng số ký ức, phẩm tính và thành quả sau đó được hấp thụ vào Chân Thần. Những lời “Ta và Cha Ta là một” trở thành sự thật. Thể cảm xúc cũng biến mất trong quá trình từ bỏ vĩ đại tương tự, và thể xác (như một tác nhân tự động của thể sinh lực) không còn cần thiết nữa, mặc dù nó vẫn tồn tại và phục vụ một mục đích khi Chân Thần yêu cầu. Từ khía cạnh hình tướng, bạn sẽ có Chân Thần, phạm vi của Tam nguyên tinh thần và thể dĩ thái trên cõi trần. Tôi xin nhắc nhở bạn rằng các cấp độ tồn tại tâm thức mà chúng ta coi là vô tướng chỉ mang tính tương đối, vì bảy cõi giới của chúng ta là bảy cõi phụ của cõi trần vũ trụ. Trung tâm tâm thức bây giờ nằm trong bản chất Ý Chí, khi điểm thành tựu này đạt được, và không còn nằm trong bản chất tình thương nữa. Hoạt động và tình thương vẫn hiện diện đầy đủ, nhưng tiêu điểm chú ý của điểm đạo đồ nằm trong khía cạnh ý chí của thiên tính.
It has been said in an ancient book belonging to the Masters' Archives that:
Trong một cuốn sách cổ thuộc Văn Khố của các Chân Sư đã nói rằng:
“The preservation of values is the task of the initiate of the first ray; the attainment of positivity is the goal of the initiate of the second ray. He who works upon the third ray must reach the path from here to there.
“Việc bảo tồn các giá trị là nhiệm vụ của điểm đạo đồ cung một; việc đạt được tính tích cực là mục tiêu của điểm đạo đồ cung hai. Y, người làm việc trên cung ba, phải đạt đến con đường từ đây đến đó.
The initiate of the fourth ray arrives at the will aspect when conflict steps into its rightful place and causes no undue concern. These four attainments mark the goal for men and sway them all upon the lower point of consciousness. The ray of vision and of application indicates the way direct, evokes the will to follow, and welds the love of God, the love of man and all that breathes into the purpose underlying all, and towards that purpose and its earthly consummation the seventh ray gives all it has.”
Điểm đạo đồ cung bốn đạt đến khía cạnh ý chí khi xung đột bước vào vị trí chính đáng của nó và không gây ra lo lắng không đáng có. Bốn thành tựu này đánh dấu mục tiêu cho con người và chi phối tất cả họ trên điểm tâm thức thấp hơn. Cung của tầm nhìn và sự ứng dụng chỉ ra con đường trực tiếp, khơi dậy ý chí theo đuổi, và hàn gắn tình thương của Thượng đế, tình thương của con người và tất cả những gì có hơi thở vào mục đích nằm dưới tất cả, và hướng tới mục đích đó và sự hoàn thành trần thế của nó, cung bảy cho đi tất cả những gì nó có.”
It has not been easy to put these abstruse ideas, expressed in the most archaic language and symbolism, into modern terms and words. I have but conveyed the general idea—the collaboration of all the seven rays in the building processes of Deity and their planned interaction, on a tiny scale, [508] infinitesimal in comparison with the great Whole. Man responds within the circle of humanity, enclosed within the greater circle of the Hierarchy, and becomes conscious of this fusion and uses the potencies of both groups of lives, through the medium of the antahkarana. The moment the disciple approaches that point in consciousness and the antahkarana is firmly anchored (even if as yet but a tenuous structure), he becomes aware of the factor of the greater circle which encloses the other two—Shamballa, the Secret Place where the will of God is formulated for the immediate present and for the long range future.
Không dễ dàng để đưa những ý tưởng trừu tượng này, được diễn đạt bằng ngôn ngữ và biểu tượng cổ xưa nhất, thành những thuật ngữ và từ ngữ hiện đại. Tôi chỉ truyền đạt ý tưởng chung—sự cộng tác của tất cả bảy cung trong các quá trình kiến tạo của Thượng đế và sự tương tác được lên kế hoạch của chúng, trên một quy mô nhỏ, vô cùng nhỏ bé so với Đại Toàn Thể. Con người đáp ứng trong vòng nhân loại, được bao bọc trong vòng lớn hơn của Thánh đoàn, và nhận thức được sự dung hợp này và sử dụng tiềm năng của cả hai nhóm sự sống, thông qua trung gian của antahkarana. Vào thời điểm đệ tử tiếp cận điểm đó trong tâm thức và antahkarana được neo đậu vững chắc (ngay cả khi chỉ là một cấu trúc mong manh), y nhận thức được yếu tố của vòng tròn lớn hơn bao bọc hai vòng tròn kia—Shamballa, Nơi Bí Mật nơi ý chí của Thượng đế được xây dựng cho hiện tại trước mắt và cho tương lai dài hạn.
With this vision and suggested preamble let us now ascertain the seven techniques to be employed at the projection stage of the building process.
Với tầm nhìn này và lời nói đầu gợi ý, chúng ta hãy xác định bảy kỹ thuật được sử dụng ở giai đoạn phóng chiếu của quá trình kiến tạo.
Ray One...Will or Power
Cung Một...Ý Chí hoặc Quyền Năng
To understand the first ray technique, the basic quality of the ray must be grasped. It is dynamic. The point at the centre is the First Ray of Power, and its technique is never to move from the centre but from that point to work dynamically. Perhaps the word that would best express its mode of work is Inspiration. The Father inspires response from the material aspect, or from the Mother if you like that symbolism, but it accomplishes this by remaining immovably itself. From the point where he is, the Builder (human or divine) works, not by the Law of Attraction, as does the second ray, but by the Law of Synthesis, by a fiat of the will, based on a clearly formulated purpose and programme. You will see, therefore, that the first ray personality has to ascertain (as in fact do all disciples) which aspect he himself is of a particular ray. It is not possible for any disciple who has not taken the third initiation to ascertain his monadic ray, but any disciple building the antahkarana, and who has reached the stage of projection, should know his soul ray and his personality ray, and should remember that their fused or blended potency must perform the act of projection. The energy of the Monad can be evoked, but it results in a down-pouring towards its [509] working agent and it is not an act of projection per se. The act of projection is the work of the “shadow and the reflection.” The Old Commentary says in this connection, when dealing with the Word of Power for each ray:
Để hiểu kỹ thuật cung một, phẩm tính cơ bản của cung phải được nắm bắt. Nó mang tính năng động. Điểm ở trung tâm là Cung Quyền Năng Thứ Nhất, và kỹ thuật của nó là không bao giờ di chuyển khỏi trung tâm mà từ điểm đó làm việc một cách năng động. Có lẽ từ ngữ diễn đạt phương thức làm việc của nó tốt nhất là Cảm Hứng. Cha truyền cảm hứng cho sự đáp ứng từ khía cạnh vật chất, hoặc từ Mẹ nếu bạn thích biểu tượng đó, nhưng y hoàn thành điều này bằng cách giữ nguyên không lay chuyển. Từ điểm y đang ở, Đấng Kiến Tạo (con người hoặc thiêng liêng) làm việc, không phải bằng Định luật Hấp dẫn, như cung hai, mà bằng Định luật Tổng Hợp, bằng một mệnh lệnh của ý chí, dựa trên một mục đích và chương trình được xây dựng rõ ràng. Do đó, bạn sẽ thấy rằng phàm ngã cung một phải xác định (như tất cả các đệ tử thực sự làm) khía cạnh nào của một cung cụ thể mà y là. Không thể cho bất kỳ đệ tử nào chưa thực hiện lần điểm đạo thứ ba để xác định cung chân thần của mình, nhưng bất kỳ đệ tử nào xây dựng antahkarana, và đã đạt đến giai đoạn phóng chiếu, nên biết cung linh hồn và cung phàm ngã của mình, và nên nhớ rằng tiềm năng được dung hợp hoặc pha trộn của chúng phải thực hiện hành động phóng chiếu. Năng lượng của Chân Thần có thể được khơi dậy, nhưng nó dẫn đến một sự tuôn đổ xuống tác nhân làm việc của nó và nó không phải là một hành động phóng chiếu tự thân. Hành động phóng chiếu là công việc của “cái bóng và sự phản chiếu.” Cổ Luận nói trong mối liên hệ này, khi đề cập đến Quyền năng từ cho mỗi cung:
“When there is no shadow, for the Sun is clear, and no reflection for the water is no more, then naught remains but the one who stands with eyes directing life and form. The threefold shadow now is one. The three of self exists no more. The higher three descends and all the nine are one. Await the time.”
“Khi không có bóng tối, vì Mặt Trời quang đãng, và không có sự phản chiếu vì nước không còn nữa, thì không còn gì ngoài người đứng đó với đôi mắt chỉ đạo sự sống và hình tướng. Cái bóng tam phân giờ đây là một. Ba cái tôi không còn tồn tại nữa. Ba cái tôi cao hơn giáng xuống và tất cả chín cái tôi là một. Hãy đợi thời điểm.”
When, therefore, the ray of the soul dominates the ray of the personality, then the self becomes the acting agent, aided by the ray of the lower self. The rays of the three vehicles are no longer active, but only the basic duality of soul and personality remains, and there is no lesser differentiation.
Do đó, khi cung của linh hồn chi phối cung của phàm ngã, thì cái tôi trở thành tác nhân hành động, được cung của cái tôi thấp hơn hỗ trợ. Các cung của ba thể không còn hoạt động nữa, mà chỉ còn lại nhị nguyên cơ bản của linh hồn và phàm ngã, và không có sự phân biệt thấp hơn.
In considering all these seven rays, I seek to do three things in every case:
Khi xem xét tất cả bảy cung này, tôi tìm cách thực hiện ba điều trong mọi trường hợp:
1. Give the technique of projection. This technique falls into four stages:
1. Đưa ra kỹ thuật phóng chiếu. Kỹ thuật này được chia thành bốn giai đoạn:
a. The preparatory stage in which the consciousness becomes focussed in the soul ray.
a. Giai đoạn chuẩn bị trong đó tâm thức tập trung vào cung linh hồn.
b. An interlude in which the projecting agent realises with intensity the existence of the “point of tension” and the finished product of the visualisation process.
b. Một khoảng thời gian xen kẽ trong đó tác nhân phóng chiếu nhận ra một cách mãnh liệt sự tồn tại của “điểm nhất tâm” và sản phẩm hoàn chỉnh của quá trình hình dung.
c. A focussed activity of the will, according to the ray, in which a line of light or of living substance is imaginatively and creatively sent out or projected from the mental unit, as far as possible towards the Spiritual Triad, using constantly the creative imagination.
c. Một hoạt động tập trung của ý chí, theo cung, trong đó một đường ánh sáng hoặc chất liệu sống được tưởng tượng và sáng tạo gửi đi hoặc phóng chiếu từ đơn vị trí tuệ, càng xa càng tốt về phía Tam nguyên tinh thần, liên tục sử dụng trí tưởng tượng sáng tạo.
d. This line of light (this strand or bridge) is then pictured as coloured by the two ray qualities, and it is held stably aligned in the light of the Spiritual Triad—not the light of the soul. This corresponds to the much earlier stage of development in which the mind was held steady in the light. The mind still is held in this manner, but the mind (as the agent of the soul and the [510] personality) is no longer quiescent, but itself becomes an active holding agent.
d. Đường ánh sáng này (sợi hoặc cầu nối này) sau đó được hình dung có màu sắc bởi hai phẩm tính cung, và nó được giữ chỉnh hợp ổn định trong ánh sáng của Tam nguyên tinh thần—không phải ánh sáng của linh hồn. Điều này tương ứng với giai đoạn phát triển sớm hơn nhiều, trong đó trí tuệ được giữ vững trong ánh sáng. Trí tuệ vẫn được giữ theo cách này, nhưng trí tuệ (với tư cách là tác nhân của linh hồn và phàm ngã) không còn tĩnh lặng nữa, mà tự nó trở thành một tác nhân giữ vững tích cực.
2. Indicate briefly the effect of the Word of Power. When adequate stability has been acquired, the disciple utters a Word of Power which serves to carry the light still further on and up. When correctly uttered, this Word produces three effects:
2. Chỉ ra ngắn gọn hiệu quả của Quyền năng từ. Khi sự ổn định đầy đủ đã đạt được, đệ tử phát ra một Quyền năng từ phục vụ để mang ánh sáng đi xa hơn và lên cao hơn. Khi được phát ra chính xác, Quyền năng từ này tạo ra ba hiệu ứng:
a. It keeps the channel for the descending light of the Spiritual Triad clear of all impediments.
a. Nó giữ cho kênh dẫn ánh sáng giáng xuống của Tam nguyên tinh thần không bị cản trở.
b. It reaches (by means of its vibratory activity) the centre of power which we call the Spiritual Triad, focussed temporarily in the manasic permanent atom, and evokes a response in the form of a thread of descending triadal light.
b. Nó chạm đến (bằng hoạt động rung động của nó) trung tâm quyền năng mà chúng ta gọi là Tam nguyên tinh thần, tạm thời tập trung vào nguyên tử trường tồn trí tuệ, và khơi dậy một sự đáp ứng dưới dạng một sợi ánh sáng tam nguyên giáng xuống.
c. It causes a vibration throughout the antahkarana which in its turn evokes response from the “rainbow bridge” as built by all other disciples. Thus the work of constructing the racial antahkarana is furthered.
c. Nó gây ra một rung động khắp antahkarana, đến lượt nó khơi dậy sự đáp ứng từ “cầu vồng” được xây dựng bởi tất cả các đệ tử khác. Do đó, công việc xây dựng antahkarana chủng tộc được thúc đẩy hơn nữa.
I am here doing two things—speaking to you in symbols. There is, literally speaking, no up or down or higher and lower, as you know, nor do any of the separative actions as outlined by the occult sciences exist. Yet the truth has to be thus presented owing to the mind consciousness of the disciple. I have also been giving in human terms the outline of a process which, if adequately followed, will enable you to make real progress in the preparatory understanding required by all who hope some day to take initiation.
Ở đây tôi đang làm hai việc—nói chuyện với bạn bằng biểu tượng. Theo nghĩa đen, không có lên hay xuống hoặc cao hơn và thấp hơn, như bạn biết, cũng như không có bất kỳ hành động tách biệt nào như được vạch ra bởi khoa học huyền bí. Tuy nhiên, sự thật phải được trình bày như vậy do tâm thức trí tuệ của đệ tử. Tôi cũng đã đưa ra bằng thuật ngữ con người phác thảo của một quá trình, nếu được tuân thủ đầy đủ, sẽ cho phép bạn đạt được tiến bộ thực sự trong sự hiểu biết chuẩn bị cần thiết cho tất cả những người hy vọng một ngày nào đó sẽ thực hiện điểm đạo.
3. This brings us to the third point, the nature of initiation. Initiation falls really into three major expansions of consciousness.
3. Điều này đưa chúng ta đến điểm thứ ba, bản chất của điểm đạo. Điểm đạo thực sự được chia thành ba sự mở rộng tâm thức chính.
a. The expansion of consciousness of the dedicated personality into that of the soul; this is completely consummated at the third initiation.
a. Sự mở rộng tâm thức của phàm ngã tận tụy vào tâm thức của linh hồn; điều này được hoàn thành trọn vẹn ở lần điểm đạo thứ ba.
b. The expansion of this fused and blended consciousness [511] into that of the Spiritual Triad, completely consummated at the fifth initiation.
b. Sự mở rộng tâm thức được dung hợp và pha trộn này vào tâm thức của Tam nguyên tinh thần, hoàn thành trọn vẹn ở lần điểm đạo thứ năm.
c. The expansion of consciousness toward which the Masters are working, which is consummated at the seventh initiation.
c. Sự mở rộng tâm thức mà các Chân Sư đang hướng tới, được hoàn thành ở lần điểm đạo thứ bảy.
Students today have made much progress towards the control of the personality, and the disciples in the world are now so numerous that the hierarchical emphasis is today upon the states of consciousness which follow the third initiation. Hence the giving out to the public of the teaching upon the antahkarana.
Các học viên ngày nay đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc kiểm soát phàm ngã, và các đệ tử trên thế giới hiện nay đông đảo đến mức sự nhấn mạnh của Huyền Giai ngày nay là vào các trạng thái tâm thức sau lần điểm đạo thứ ba. Do đó, việc công bố cho công chúng giáo lý về antahkarana.
You will find below, in tabulated form, the teaching anent the six stages so that you may have a visual picture of the intended process. The following of the process is, of course, another matter and its success is dependent upon more than a theoretical grasp of process. It is dependent upon your ability to live more definitely in the world of meaning than hitherto, upon your knowledge of your soul and personality rays and upon your capacity to focus in your blended consciousness, and from that point—holding the mind steady in the light—utter the Word of Power which will carry your created thread of light forward towards the Spiritual Triad.
Bạn sẽ tìm thấy bên dưới, ở dạng bảng, giáo lý về sáu giai đoạn để bạn có thể có một bức tranh trực quan về quá trình dự định. Tất nhiên, việc tuân theo quá trình là một vấn đề khác và sự thành công của nó phụ thuộc vào nhiều hơn là một sự nắm bắt lý thuyết về quá trình. Nó phụ thuộc vào khả năng của bạn sống rõ ràng hơn trong thế giới ý nghĩa so với trước đây, vào kiến thức của bạn về các cung linh hồn và phàm ngã, và vào khả năng tập trung vào tâm thức pha trộn của bạn, và từ điểm đó—giữ trí tuệ vững vàng trong ánh sáng—phát ra Quyền năng từ sẽ mang sợi ánh sáng được tạo ra của bạn tiến về phía Tam nguyên tinh thần.
OUTLINE FOR REFLECTIVE CONTEMPLATION ON CONSTRUCTING THE ANTAHKARANA
I. Points to have in mind.
I. Những điểm cần lưu ý.
This work of construction concerns the handling of energy. Students should ponder upon the distinction between energy and force.
Công việc xây dựng này liên quan đến việc xử lý năng lượng. Học viên nên suy ngẫm về sự khác biệt giữa năng lượng và mãnh lực.
It is dependent upon the use of the creative imagination. Students would do well to reflect upon the relationship of the imagination to the intuition and of both to the mind.
Nó phụ thuộc vào việc sử dụng trí tưởng tượng sáng tạo. Học viên nên suy ngẫm về mối quan hệ giữa trí tưởng tượng với trực giác và cả hai với trí tuệ.
The work of building the antahkarana must be done with as much conscious understanding as possible. [512]
Công việc xây dựng antahkarana phải được thực hiện với sự thấu hiểu có ý thức càng nhiều càng tốt.
II. The six steps or methods of building the Antahkarana.
II. Sáu bước hoặc phương pháp xây dựng Antahkarana.
1. Intention.
1. Ý Định.
a. The achieving of right orientation
a. Đạt được sự định hướng đúng đắn
Towards the soul
Hướng tới linh hồn
Towards the Spiritual Triad
Hướng tới Tam nguyên tinh thần
b. A mental understanding of the work to be done is necessary.
b. Cần có sự thấu hiểu trí tuệ về công việc cần làm.
c. A ring-pass-not of consciously gathered energies must be created and held in a state of tension.
c. Một vòng-giới-hạn của các năng lượng được thu thập có ý thức phải được tạo ra và giữ ở trạng thái nhất tâm.
d. A period of clear thinking anent this process of Intention must be attempted.
d. Một khoảng thời gian tư duy rõ ràng về quá trình Ý Định này phải được cố gắng.
e. Then follows the preservation of a point of tension.
e. Sau đó là việc duy trì một điểm nhất tâm.
2. Visualisation.
2. Hình dung.
a. The use of the creative imagination or the picture-making faculty.
a. Sử dụng trí tưởng tượng sáng tạo hoặc khả năng tạo hình ảnh.
b. Response to intuitional or buddhic impression.
b. Đáp ứng với ấn tượng trực giác hoặc bồ đề.
c. Preoccupation with two energies:
c. Chú tâm đến hai loại năng lượng:
The energy held at a point of tension within the previously created ring-pass-not.
Năng lượng được giữ ở một điểm nhất tâm trong vòng-giới-hạn được tạo ra trước đó.
The active picture-forming energy brought into action by the mind of the builder.
Năng lượng tạo hình ảnh tích cực được đưa vào hoạt động bởi trí tuệ của người xây dựng.
3. Projection.
3. Phóng chiếu.
a. The calling in of the will through the method appropriate to the Ray of the disciple, the soul ray.
a. Kêu gọi ý chí thông qua phương pháp phù hợp với Cung của đệ tử, cung linh hồn.
b. The simultaneous preservation of three lines of thought:
b. Đồng thời duy trì ba luồng tư tưởng:
Awareness of the blended personality and soul.
Nhận thức về phàm ngã và linh hồn được pha trộn.
Awareness of the point of focussed tension.
Nhận thức về điểm nhất tâm tập trung.
Awareness of the Ray energy in its will aspect.
Nhận thức về năng lượng Cung trong khía cạnh ý chí của nó.
c. The use of one or other of the seven Ray methods of projection, according to the Ray of the disciple.
c. Sử dụng một hoặc phương pháp phóng chiếu trong bảy phương pháp Cung, theo Cung của đệ tử.
d. the use of a Word of Power.
d. sử dụng một Quyền năng từ.
4. Invocation and Evocation.
4. Khẩn cầu và Triệu hồi.
a. The blended soul and personality are now invocative, and their united intention is expressed in the previous three stages.
a. Linh hồn và phàm ngã được pha trộn bây giờ mang tính khẩn cầu, và ý định thống nhất của chúng được thể hiện trong ba giai đoạn trước.
b. Then a response comes from the Spiritual Triad, which that intention, propelled by an act of will from a point of tension has evoked.
b. Sau đó, một sự đáp ứng đến từ Tam nguyên tinh thần, mà ý định đó, được thúc đẩy bởi một hành động ý chí từ một điểm nhất tâm, đã triệu hồi.
5. Stabilisation.
5. Ổn định.
This is bought about by long patient use of the four [513] previous processes and followed by a conscious use of the antahkarana.
Điều này được mua bằng việc sử dụng kiên nhẫn lâu dài bốn quá trình trước đó và tiếp theo là việc sử dụng có ý thức antahkarana.
6. Resurrection and Ascension.
6. Phục sinh và Thăng thiên.
This is the rising up of the consciousness out of soul and personality limitations (from the angle of the monad) and its passing into that of the Spiritual Triad.
Đây là sự trỗi dậy của tâm thức ra khỏi những giới hạn của linh hồn và phàm ngã (từ góc độ của chân thần) và sự chuyển vào tâm thức của Tam nguyên tinh thần.
Webinar 46
Here I would touch upon one important point connected with all Words of Power. I could give you these words in their ancient Sensa form, but it would not be possible for me to teach, through the medium of writing, their ancient and peculiar pronunciation or the note upon which they should be sounded forth. This used to be regarded of supreme importance. Today, disciples are being taught to work far more upon the inner planes of meaning and not to depend, as heretofore, upon the outer activity of sound. Remember that you are not creating now upon the outer plane. The physical sound or sounds are therefore of relatively no importance. What does matter is the ability of the disciple to feel the meaning of the Word of Power as he silently utters it. It is the quality of his idea which will bring the right effect, and not the way in which he makes a sound with the aid of his vocal cords and his mouth. Students have been taught that the A.U.M. sounded inaudibly and listened for, is of greater potency than when sounded audibly. This was preparatory to the utterance of these Words of Power. They have been learning the significance of the O.M., even if they did not realise it. This was all in preparation for the use of the Ray Words. It is the thought behind the form, the registered feeling anent the words, and the understanding of their significance which are of importance; it is the ability to think, to feel and silently to send out the call of quality to quality, of meaning to meaning, of nature to nature, of form to spirit which matters, remembering ever that that which is found upon the physical plane is not a principle. The physical sound is not that which will lead to a successful building of the antahkarana. It is the quality of a particular [514] type of subjective nature (the soul ray as it dominates the personality ray) which makes appeal to that which is still more subjective; that is what in truth accomplishes the work. It should be borne in mind that from the angle of the Spiritual Triad the soul nature is definitely objective. This is a statement of occult fact which will be better understood when the nature of man (as taught in the occult sciences) is admitted by thinkers, scientists and psychologists.
Ở đây tôi muốn đề cập đến một điểm quan trọng liên quan đến tất cả các Quyền năng từ. Tôi có thể đưa cho bạn những từ này ở dạng Sensa cổ xưa của chúng, nhưng tôi không thể dạy, qua phương tiện viết, cách phát âm cổ xưa và đặc biệt của chúng hoặc nốt mà chúng nên được xướng lên. Điều này từng được coi là tối quan trọng. Ngày nay, các đệ tử đang được dạy làm việc nhiều hơn trên các cõi ý nghĩa bên trong và không phụ thuộc, như trước đây, vào hoạt động âm thanh bên ngoài. Hãy nhớ rằng bạn không tạo ra bây giờ trên cõi bên ngoài. Do đó, âm thanh vật lý hoặc các âm thanh tương đối không quan trọng. Điều quan trọng là khả năng của đệ tử cảm nhận ý nghĩa của Quyền năng từ khi y thầm phát ra nó. Chính phẩm tính ý tưởng của y sẽ mang lại hiệu quả đúng đắn, chứ không phải cách y tạo ra âm thanh với sự trợ giúp của dây thanh quản và miệng. Học viên đã được dạy rằng A.U.M. được xướng lên không nghe thấy và được lắng nghe, có hiệu lực lớn hơn khi được xướng lên có thể nghe thấy. Điều này là chuẩn bị cho việc phát ra những Quyền năng từ này. Họ đã học được ý nghĩa của O.M., ngay cả khi họ không nhận ra điều đó. Tất cả điều này là sự chuẩn bị cho việc sử dụng các Lời Cung. Chính tư tưởng đằng sau hình tướng, cảm giác được ghi nhận về các từ ngữ và sự hiểu biết về ý nghĩa của chúng là điều quan trọng; chính khả năng suy nghĩ, cảm nhận và thầm gửi đi lời kêu gọi phẩm tính đến phẩm tính, ý nghĩa đến ý nghĩa, bản chất đến bản chất, hình tướng đến tinh thần là điều quan trọng, luôn nhớ rằng những gì được tìm thấy trên cõi trần không phải là một nguyên khí. Âm thanh vật lý không phải là thứ sẽ dẫn đến việc xây dựng thành công antahkarana. Chính phẩm tính của một loại bản chất chủ quan cụ thể (cung linh hồn khi nó chi phối cung phàm ngã) tạo ra sự hấp dẫn đối với những gì còn chủ quan hơn; đó là điều thực sự hoàn thành công việc. Cần lưu ý rằng từ góc độ của Tam nguyên tinh thần, bản chất linh hồn chắc chắn là khách quan. Đây là một tuyên bố về sự thật huyền bí sẽ được hiểu rõ hơn khi bản chất của con người (như được dạy trong khoa học huyền bí) được các nhà tư tưởng, nhà khoa học và nhà tâm lý học thừa nhận.
The point I wish to make is that no particular word is going to be given by me, because it would be useless. The O.M. is useless to most people, even though trained students may now be deriving benefit from its use. This general uselessness is caused not only because people do not use the Word correctly, but also because, even when using it they are not holding its significance firmly in their consciousness. So it is with a Word of Power. Of what use would it be if I attempted to give the Word of the first ray, which looks (when presented in its symbolic written form) something like this—UKRTAPKLSTI? Certain sounds in this word-form are omitted because there is no way of depicting them, since they are neither vowels nor consonants. Correctly sounded, the above forms three words. But I can give, as far as possible, the English equivalent in meaning, and it is this meaning which I ask you to have in mind as you mentally utter the sound or Word of Power and visually attempt to see it performing the esoteric miracle of bridge building.
Điểm tôi muốn nhấn mạnh là không có từ ngữ cụ thể nào được tôi đưa ra, vì nó sẽ vô ích. O.M. vô ích đối với hầu hết mọi người, mặc dù các học viên được đào tạo hiện có thể thu được lợi ích từ việc sử dụng nó. Sự vô dụng chung này không chỉ gây ra bởi vì mọi người không sử dụng Quyền năng từ một cách chính xác, mà còn bởi vì, ngay cả khi sử dụng nó, họ không giữ vững ý nghĩa của nó trong tâm thức của mình. Cũng như vậy đối với một Quyền năng từ. Nó sẽ có ích gì nếu tôi cố gắng đưa ra Quyền năng từ của cung một, trông (khi được trình bày ở dạng viết tượng trưng) giống như thế này—UKRTAPKLSTI? Một số âm thanh trong dạng từ này bị bỏ qua vì không có cách nào để mô tả chúng, vì chúng không phải là nguyên âm cũng không phải là phụ âm. Được xướng lên chính xác, dạng trên tạo thành ba từ. Nhưng tôi có thể đưa ra, trong phạm vi có thể, ý nghĩa tương đương tiếng Anh, và chính ý nghĩa này mà tôi yêu cầu bạn ghi nhớ khi bạn thầm phát ra âm thanh hoặc Quyền năng từ và trực quan cố gắng nhìn thấy nó thực hiện phép lạ huyền bí của việc xây cầu.
The first ray disciple has, therefore, to meet the requirements to the best of his ability and to follow the four stages of the technique of projection (pages 489-493, 509). When he has faithfully followed this outlined routine, personality and soul fusion has to be consciously attempted and to some measure achieved, and then these blended factors are held steady in the triadal light. Another point of focussed intention is now brought about, resulting in a new and still more dynamic tension. In the completed silence which results, the act of projecting the antahkarana is performed, [515] and it is then carried forward on the impetus of a Word of Power. The symbolism connected with this lies behind the Masonic usage of the words, translated into English, “So mote it be,” uttered with the right hand stretched forth and signifying the embodied will of the Lodge, itself a symbol of the Will and Purpose of the Most High.
Do đó, đệ tử cung một phải đáp ứng các yêu cầu tốt nhất khả năng của mình và tuân theo bốn giai đoạn của kỹ thuật phóng chiếu (trang 489-493, 509). Khi y đã trung thành tuân theo quy trình được vạch ra này, sự dung hợp phàm ngã và linh hồn phải được cố gắng một cách có ý thức và đạt được ở một mức độ nào đó, và sau đó các yếu tố pha trộn này được giữ vững trong ánh sáng tam nguyên. Một điểm ý định tập trung khác bây giờ được tạo ra, dẫn đến một sự nhất tâm mới và năng động hơn. Trong sự im lặng hoàn toàn kết quả, hành động phóng chiếu antahkarana được thực hiện, và sau đó nó được mang đi trên động lực của một Quyền năng từ. Biểu tượng liên quan đến điều này nằm sau việc sử dụng các từ của Hội Tam Điểm, được dịch sang tiếng Anh, “Vậy thì hãy như vậy,” được phát ra với bàn tay phải duỗi ra và biểu thị ý chí được thể hiện của Nhà, bản thân nó là một biểu tượng của Ý Chí và Thiên Ý của Đấng Tối Cao.
The meaning of the Word of Power to be used at this point of accomplished projection might be summed up in the words: “I ASSERT THE FACT.” This is the nearest form I can give you for the word-form earlier mentioned. A little deep reflection on these words will show that if uttered with an understanding of their meaning, they are of terrific potency. The disciple who utters them assumes and then asserts:
Ý nghĩa của Quyền năng từ được sử dụng tại điểm phóng chiếu hoàn thành này có thể được tóm tắt trong các từ: “TÔI KHẲNG ĐỊNH SỰ THẬT.” Đây là dạng gần nhất mà tôi có thể đưa cho bạn đối với dạng từ được đề cập trước đó. Một chút suy ngẫm sâu sắc về những từ này sẽ cho thấy rằng nếu được phát ra với sự hiểu biết về ý nghĩa của chúng, chúng có hiệu lực khủng khiếp. Đệ tử phát ra chúng giả định và sau đó khẳng định:
1. The Spiritual Triad is a fact.
1. Tam nguyên tinh thần là một sự thật.
2. The relation between the fused and blended personality and the soul is a fact.
2. Mối quan hệ giữa phàm ngã và linh hồn được dung hợp và pha trộn là một sự thật.
3. The antahkarana is also a fact.
3. Antahkarana cũng là một sự thật.
4. The dual expression of the basic duality of manifestation—personality or form and Monad or Spirit—is a fact.
4. Sự thể hiện kép của nhị nguyên cơ bản của biểu hiện—phàm ngã hoặc hình tướng và Chân Thần hoặc Tinh Thần—là một sự thật.
5. The will of the Monad is the factor to be evoked.
5. Ý chí của Chân Thần là yếu tố cần được khơi dậy.
6. The knowing, purposeful One can be depended upon to contact the instrument of its will upon the physical plane.
6. Đấng Hiểu Biết, Có Mục Đích có thể được tin cậy để tiếp xúc với công cụ ý chí của y trên cõi trần.
7. The work is done.
7. Công việc đã hoàn thành.
This factual assumption is not faith, but knowledge and conviction, and upon this realised conviction the disciple rests, acts and depends. It becomes an unalterable and unchangeable attitude. The meaning of the above seven-fold statement will become clearer if the disciple will ponder the distinction between faith and conviction. It is this divine assertion which holds the universe in being; it is this divine assertion which is the embodied summation of all knowledge and love, and the first ray disciple must begin to use this technique, resting back upon his divine prerogative of assertion. Ponder on this statement. It is the [516] technique of Shamballa and the established right, prerogative and privilege of all first ray souls.
Giả định thực tế này không phải là đức tin, mà là kiến thức và sự xác tín, và trên sự xác tín được nhận ra này, đệ tử nghỉ ngơi, hành động và phụ thuộc. Nó trở thành một thái độ không thể thay đổi và không thể thay đổi. Ý nghĩa của tuyên bố thất phân trên sẽ trở nên rõ ràng hơn nếu đệ tử suy ngẫm sự khác biệt giữa đức tin và sự xác tín. Chính sự khẳng định thiêng liêng này giữ cho vũ trụ tồn tại; chính sự khẳng định thiêng liêng này là sự tổng kết được thể hiện của tất cả kiến thức và tình thương, và đệ tử cung một phải bắt đầu sử dụng kỹ thuật này, dựa vào đặc quyền khẳng định thiêng liêng của mình. Hãy suy ngẫm về tuyên bố này. Đó là kỹ thuật của Shamballa và quyền, đặc quyền và đặc ân đã được thiết lập của tất cả các linh hồn cung một.
Ray Two...Love-Wisdom
Cung Hai...Bác Ái-Minh Triết
Again the first two stages of Intention and Visualisation have been carefully followed and the four stages of the Projection have been carried through to their highest point. The vivid light of the second ray soul (the most vivid in this second ray solar system) dominates the light of form and radiates out to the triadal light. Then comes a moment of intense concentration and the peculiar Word of Power of the second ray is enunciated. Of this Word, the dual symbol SXPRULXS takes form in the mind of the disciple and signifies the assertion: “I SEE THE GREATEST LIGHT.” This statement has relation to the Central Spiritual Sun and not to the Heart of the Sun; it involves, if I might so express it, the most intense effort to see in the light the relation of the whole, and this is one of the most potent experiences to which the disciple can be subjected. It is not vision or even aspiration to see the vision. It is complete sight and of this the Masonic symbol of the “Eye of God,” the “All-Seeing Eye,” is the expression. It involves realisation of the light of the divine countenance; of this the light of the soul is the dim reflection. The disciple has learnt the significance of solar and lunar light (soul and form light), but this is something other. It is the great obliterating light of reality itself, revealing the fact of the higher Lighted Way which leads to Nirvana; Of this, the projected antahkarana is the stage first consciously realised by the disciple.
Một lần nữa, hai giai đoạn đầu tiên của Ý Định và Hình dung đã được tuân thủ cẩn thận và bốn giai đoạn của Phóng Chiếu đã được thực hiện đến điểm cao nhất của chúng. Ánh sáng sống động của linh hồn cung hai (sống động nhất trong hệ mặt trời cung hai này) chi phối ánh sáng của hình tướng và tỏa ra ánh sáng tam nguyên. Sau đó đến một khoảnh khắc tập trung mãnh liệt và Quyền năng từ đặc biệt của cung hai được phát ra. Về Quyền năng từ này, biểu tượng kép SXPRULXS hình thành trong trí tuệ của đệ tử và biểu thị sự khẳng định: “TÔI NHÌN THẤY ÁNH SÁNG VĨ ĐẠI NHẤT.” Tuyên bố này có liên quan đến Mặt trời Tinh thần Trung Ương và không phải đến Tâm của Mặt Trời; nó bao gồm, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, nỗ lực mãnh liệt nhất để nhìn thấy trong ánh sáng mối quan hệ của toàn bộ, và đây là một trong những trải nghiệm mạnh mẽ nhất mà đệ tử có thể trải qua. Nó không phải là tầm nhìn hoặc thậm chí là khát vọng nhìn thấy tầm nhìn. Đó là thị giác hoàn chỉnh và biểu hiện của điều này là biểu tượng Hội Tam Điểm của “Mắt của Thượng đế”, “Mắt Thấy Tất Cả”. Nó bao gồm sự nhận ra ánh sáng của dung nhan thiêng liêng; ánh sáng của linh hồn là sự phản chiếu mờ nhạt của điều này. Đệ tử đã học được ý nghĩa của ánh sáng mặt trời và ánh trăng (ánh sáng linh hồn và ánh sáng hình tướng), nhưng đây là một điều khác. Đó là ánh sáng xóa bỏ vĩ đại của chính thực tại, tiết lộ sự thật về Con Đường Ánh Sáng Cao Hơn dẫn đến Niết Bàn; về điều này, antahkarana được phóng chiếu là giai đoạn đầu tiên được đệ tử nhận ra một cách có ý thức.
I am faced with difficulty in making these Words of Power clear to you, because essentially it is the Word made flesh or the soul in incarnation which at this point registers power; it is the symbol (the form aspect) and the power (the Spirit aspect) which acts as a great creative agency and bridges across all barriers and separative states of consciousness, thus establishing complete unity.
Tôi gặp khó khăn trong việc làm rõ những Quyền năng từ này cho bạn, vì về cơ bản, chính Linh từ hóa thân hoặc linh hồn đang nhập thể tại thời điểm này đăng ký quyền năng; chính biểu tượng (khía cạnh hình tướng) và quyền năng (khía cạnh Tinh Thần) hoạt động như một tác nhân sáng tạo vĩ đại và bắc cầu qua tất cả các rào cản và trạng thái tâm thức tách biệt, do đó thiết lập sự hợp nhất hoàn chỉnh.
I have indicated to you certain vowels and consonants [517] which are the nearest approach which I can make to making these Words clear, and I have done so in the case of the first and second rays. I shall give you no others, as it is entirely useless. I shall only give you the significances, the concepts involved and the meaning of which these archaic word-forms (which I have attempted to portray in Anglo-Saxon letters) are the embodiment. As the race passes more and more into the world of meaning, these word-forms assume less and less importance, and only the concentrated thought, based on understanding comprehension, can achieve the results. It is into this somewhat new form of work we are now pioneering.
Tôi đã chỉ ra cho bạn một số nguyên âm và phụ âm là cách tiếp cận gần nhất mà tôi có thể thực hiện để làm rõ những Quyền năng từ này, và tôi đã làm như vậy trong trường hợp của cung một và cung hai. Tôi sẽ không đưa cho bạn những cái khác, vì nó hoàn toàn vô ích. Tôi sẽ chỉ đưa cho bạn những ý nghĩa, các khái niệm liên quan và ý nghĩa mà những dạng từ cổ xưa này (mà tôi đã cố gắng mô tả bằng chữ cái Anglo-Saxon) là hiện thân. Khi nhân loại ngày càng đi vào thế giới ý nghĩa, những dạng từ này ngày càng ít quan trọng hơn, và chỉ có tư tưởng tập trung, dựa trên sự thấu hiểu toàn diện, mới có thể đạt được kết quả. Chúng ta hiện đang tiên phong vào hình thức làm việc có phần mới này.
Webinar 47—48
Ray Three... Active Intelligence
Cung Ba...Trí Tuệ Tích Cực
The processes of Intention and Visualisation have been followed, and again the four stages of the Projection technique have been concluded. At the point of highest tension, the disciple utters the Word of Power for the third ray. It is not easy for the disciple on this ray to achieve the necessary focal point of silence; his intense fluidity leads to many words or to great mental activity, frequently carried forward under the impulse of glamour. This lessens the potency of what he seeks to do. But when he has succeeded in achieving “mental silence” and is simply a point of intelligent concentration, then he can use the Word of Power with great effectiveness. The difficulty is that he has to overcome the tendency to use it with the idea of physical plane results in his consciousness. Always he works from the angle of that divine quality which characterises matter; just as the second ray disciple works always from the angle of quality and the first ray disciple from the positivity of spirit. But once he intuitively comprehends and factually grasps the concept that spirit-matter are one reality, and once he has achieved within himself the sublimation of matter, then he can divorce himself from all that the human being understands in relation to form. He can then utter the Word of Power which will make possible his complete identification with spirit, via the antahkarana. This word is “PURPOSE ITSELF AM I”
Các quá trình Ý Định và Hình dung đã được tuân theo, và một lần nữa bốn giai đoạn của kỹ thuật Phóng Chiếu đã được hoàn thành. Tại điểm nhất tâm cao nhất, đệ tử phát ra Quyền năng từ cho cung ba. Đệ tử trên cung này không dễ dàng đạt được điểm tập trung im lặng cần thiết; tính lưu động mãnh liệt của y dẫn đến nhiều từ ngữ hoặc hoạt động trí tuệ lớn, thường được mang đi dưới sự thúc đẩy của ảo cảm. Điều này làm giảm hiệu lực của những gì y tìm cách làm. Nhưng khi y đã thành công trong việc đạt được “sự im lặng trí tuệ” và chỉ đơn giản là một điểm tập trung thông minh, thì y có thể sử dụng Quyền năng từ một cách hiệu quả cao. Khó khăn là y phải vượt qua xu hướng sử dụng nó với ý tưởng về kết quả cõi trần trong tâm thức của mình. Y luôn làm việc từ góc độ phẩm tính thiêng liêng đặc trưng cho vật chất; giống như đệ tử cung hai luôn làm việc từ góc độ phẩm tính và đệ tử cung một từ tính tích cực của tinh thần. Nhưng một khi y trực giác thấu hiểu và nắm bắt thực tế khái niệm rằng tinh thần-vật chất là một thực tại, và một khi y đã đạt được trong chính mình sự thăng hoa của vật chất, thì y có thể tách mình khỏi tất cả những gì con người hiểu liên quan đến hình tướng. Sau đó, y có thể phát ra Quyền năng từ sẽ giúp y có thể hoàn toàn đồng nhất với tinh thần, thông qua antahkarana. Quyền năng từ này là “BẢN THÂN TÔI LÀ MỤC ĐÍCH”
[518] As regards the other and remaining Words of Power connected with the four Rays of Attribute, I shall simply list them, as there is little that I can say about them. They can be comprehended in the light of what I have said anent the three Words of Power used upon the Rays of Aspect.
Liên quan đến các Quyền năng từ còn lại khác được kết nối với bốn Cung Thuộc Tính, tôi sẽ chỉ liệt kê chúng, vì có rất ít điều tôi có thể nói về chúng. Chúng có thể được thấu hiểu dưới ánh sáng của những gì tôi đã nói về ba Quyền năng từ được sử dụng trên các Cung Trạng Thái.
Ray Four...Harmony through Conflict
Cung Bốn...Hài Hòa qua Xung Đột
“TWO MERGE WITH ONE”
“HAI DUNG HỢP VỚI MỘT”
Ray Five...Concrete Knowledge or Science
Cung Năm...Kiến Thức Cụ Thể hoặc Khoa Học
“THREE MINDS UNITE”
“BA TRÍ HỢP NHẤT”
(This asserts the fact that the Universal Mind, the higher mind and the lower concrete mind are blended through the projected antahkarana.)
(Điều này khẳng định sự thật rằng Trí tuệ Vũ Trụ, thượng trí và hạ trí cụ thể được pha trộn thông qua antahkarana được phóng chiếu.)
Ray Six...Devotion or Idealism
Cung Sáu...Sự Tận Tâm hoặc Chủ Nghĩa Duy Tâm
“THE HIGHEST LIGHT CONTROLS”
“ÁNH SÁNG CAO NHẤT KIỂM SOÁT”
Ray Seven...Ceremonial Law or Order
Cung Bảy...Luật Nghi Lễ hoặc Trật Tự
“THE HIGHEST AND THE LOWEST MEET”
“CAO NHẤT VÀ THẤP NHẤT GẶP NHAU”
You will note that in all these Words of Power, two obvious thoughts emerge; first, that the goal of all activity is the complete fusion of the three Aspects, and secondly, that consciousness of this comes through the building and use of the bridge between the Spiritual Triad and the Personality. You will note that these are all definite assertions, based on knowledge leading to conviction. The various schools of affirmation found today throughout the world are but the distorted efforts of humanity to arrive at the affirmative position which the blended soul and personality always necessarily assumes, and demonstrate a kind of instinctual reaction to a new realisation which is coming into the consciousness of humanity, via its disciples and initiates.
Bạn sẽ lưu ý rằng trong tất cả những Quyền năng từ này, hai tư tưởng rõ ràng xuất hiện; thứ nhất, mục tiêu của mọi hoạt động là sự dung hợp hoàn chỉnh của ba Trạng Thái, và thứ hai, nhận thức về điều này đến thông qua việc xây dựng và sử dụng cầu nối giữa Tam nguyên tinh thần và Phàm Ngã. Bạn sẽ lưu ý rằng đây đều là những khẳng định chắc chắn, dựa trên kiến thức dẫn đến sự xác tín. Các trường phái khẳng định khác nhau được tìm thấy ngày nay trên khắp thế giới chỉ là những nỗ lực méo mó của nhân loại để đạt được vị trí khẳng định mà linh hồn và phàm ngã được pha trộn luôn nhất thiết phải đảm nhận, và thể hiện một loại phản ứng bản năng đối với một sự nhận ra mới đang đi vào tâm thức của nhân loại, thông qua các đệ tử và điểm đạo đồ của nó.
We have practically concluded our study of the antahkarana; however, I want to enlarge a little further upon the three final stages of the building process as dealt with and outlined earlier. These three stages were most briefly considered, owing to their abstract nature. They are part, however, of the six building methods. The first [519] three were considered in greater detail than the last three, and I have felt that it might serve a useful purpose if I gave more teaching anent Invocation and Evocation in particular, for it will condition—consciously and exoterically—the new world religion, as it has hitherto conditioned it esoterically and unconsciously.
Chúng ta đã thực tế kết thúc nghiên cứu về antahkarana; tuy nhiên, tôi muốn mở rộng thêm một chút về ba giai đoạn cuối cùng của quá trình xây dựng như đã được đề cập và phác thảo trước đó. Ba giai đoạn này được xem xét rất ngắn gọn, do bản chất trừu tượng của chúng. Tuy nhiên, chúng là một phần của sáu phương pháp xây dựng. Ba phương pháp đầu tiên được xem xét chi tiết hơn ba phương pháp cuối cùng, và tôi cảm thấy rằng có thể phục vụ một mục đích hữu ích nếu tôi đưa ra nhiều giáo lý hơn về Khẩn cầu và Triệu hồi nói riêng, vì nó sẽ điều kiện—một cách có ý thức và ngoại môn—tôn giáo thế giới mới, như nó đã điều kiện một cách nội môn và vô thức cho đến nay.
Webinar 49
Invocation and Evocation (continued from pages 493-495):
Khẩn cầu và Triệu hồi (tiếp theo từ trang 493-495):
These two words are descriptive of that mysterious something—emanation, voiceless appeal, inherent urge towards the light—which is innate in all forms, which produces interplay and relationship, and which is the cause of all progress or pushing forward along the path of an expanding consciousness and a penetration into the light. This is true of a plant pushing its way out of the darkness of earth into the light of the sun, a child extricating itself under the life impulse from the womb of its mother, of the human being pushing himself into realms of greater knowledge and effective physical living, of the aspirant driving forward out of the Hall of Learning into the Hall of Wisdom, of the disciple penetrating into the realm of soul light and life, of the initiate passing from grade to grade in the Hierarchy of Liberation, of the Christ moving on into the Council Chamber of Shamballa, and of the Lord of the World Himself undertaking those processes which will lead Him into realms of divine life—of which even the highest initiate on our planet has no conception. All comes about as part of a great system of invocation and evocation, of appeal and response, and all are distinctive of the “mode of Life” which governs the entire graded hierarchy of Being upon our planet.
Hai từ này mô tả một điều gì đó bí ẩn—xuất lộ phát xạ, lời kêu gọi không lời, sự thôi thúc bẩm sinh hướng tới ánh sáng—điều bẩm sinh trong tất cả các hình tướng, tạo ra sự tương tác và mối quan hệ, và là nguyên nhân của mọi tiến bộ hoặc sự thúc đẩy về phía trước trên con đường của một tâm thức đang mở rộng và sự thâm nhập vào ánh sáng. Điều này đúng với một cái cây đẩy mình ra khỏi bóng tối của đất vào ánh sáng mặt trời, một đứa trẻ tự giải thoát mình dưới xung động sự sống khỏi bụng mẹ, con người tự đẩy mình vào các lĩnh vực kiến thức lớn hơn và cuộc sống vật lý hiệu quả, người chí nguyện lái mình về phía trước ra khỏi Phòng Học Tập vào Phòng Minh Triết, đệ tử thâm nhập vào lĩnh vực ánh sáng và sự sống linh hồn, điểm đạo đồ vượt qua từ cấp độ này sang cấp độ khác trong Huyền Giai Giải Thoát, Đức Christ tiến vào Phòng Hội Đồng của Shamballa, và chính Đức Chúa Tể Thế Giới thực hiện những quá trình sẽ dẫn Ngài vào các lĩnh vực sự sống thiêng liêng—điều mà ngay cả điểm đạo đồ cao nhất trên hành tinh của chúng ta cũng không có khái niệm. Tất cả đều diễn ra như một phần của một hệ thống khẩn cầu và triệu hồi vĩ đại, của lời kêu gọi và sự đáp ứng, và tất cả đều đặc trưng cho “phương thức Sự Sống” chi phối toàn bộ Huyền Giai Phẩm Trật của Bản Thể trên hành tinh của chúng ta.
This evolutionary pushing forward along the Lighted Way, out of darkness into light, from the unreal to the real, and from death to immortality, is an inherent urge in all forms. It constitutes one of the most subtle and one of the least understood laws of the universe, being related to the Life principle, of which we know as yet naught; it underlies the Law of Evolution as well as the Law of Karma [520] and is, in reality, the Law of the Life Purpose of the planetary Logos; it is an expression of His dynamic intention as it forces all substance in manifestation and in time and space to act and react in conformity to His Will. He thus enables His form—the planet which is a compound of all the seven kingdoms in nature—to express logoic intention for the “duration of the Great Breath”; of this breath, time and space are the two aspects. It affects the tiniest atom and the most exalted Being within the sphere of His consciousness and the scope of His livingness; it affects the subhuman kingdoms, unconsciously to them, and is (in relation to them) sometimes spoken of as “the Law of Life of the Sun.” The human family, after the stage of personality integration is reached, reacts with increasing consciousness of the divine purpose. Once the antahkarana is constructed and the higher initiations are taken, the initiate then cooperates with that purpose in full understanding and intention. He no longer simply reacts to his own interior urges, which force him ever to invoke the higher aspect of life and of consciousness which he senses on ahead. He now knows. He sees; he participates in the Plan; he relates himself to the divine Intention through an understanding of the doctrine or Science of Tension; he makes the divine Intention his, as far as he can grasp it. This reciprocal interplay produces the mutability of form and the immutability of the divine nature which is distinctive of those liberated Consciousnesses which have freed Themselves from the prison of form.
Sự thúc đẩy tiến hóa này về phía trước dọc theo Con Đường Ánh Sáng, ra khỏi bóng tối vào ánh sáng, từ cái không có thật đến cái có thật, và từ cái chết đến sự bất tử, là một sự thôi thúc bẩm sinh trong tất cả các hình tướng. Nó cấu thành một trong những định luật tinh tế nhất và ít được hiểu nhất của vũ trụ, liên quan đến nguyên khí Sự Sống, mà chúng ta vẫn chưa biết gì; nó nằm dưới Định Luật Tiến Hóa cũng như Định Luật Nghiệp Quả và trên thực tế, là Định Luật Mục Đích Sự Sống của Hành Tinh Thượng Đế; nó là một sự thể hiện ý định năng động của Ngài khi Ngài buộc tất cả vật chất trong biểu hiện và trong thời gian và không gian hành động và phản ứng phù hợp với Ý Chí của Ngài. Do đó, Ngài cho phép hình tướng của Ngài—hành tinh là một hợp chất của tất cả bảy giới trong tự nhiên—thể hiện ý định thượng đế cho “khoảng thời gian của Đại Hơi Thở”; về hơi thở này, thời gian và không gian là hai khía cạnh. Nó ảnh hưởng đến nguyên tử nhỏ nhất và Bản Thể cao quý nhất trong phạm vi tâm thức và phạm vi sự sống của Ngài; nó ảnh hưởng đến các giới dưới loài người, một cách vô thức đối với chúng, và (liên quan đến chúng) đôi khi được gọi là “Định Luật Sự Sống của Mặt Trời”. Gia đình nhân loại, sau khi giai đoạn tích hợp phàm ngã đạt được, phản ứng với sự nhận thức ngày càng tăng về mục đích thiêng liêng. Một khi antahkarana được xây dựng và các lần điểm đạo cao hơn được thực hiện, điểm đạo đồ sau đó hợp tác với mục đích đó với sự thấu hiểu và ý định đầy đủ. Y không còn đơn giản phản ứng với những thôi thúc nội tâm của chính mình, buộc y luôn khẩn cầu khía cạnh cao hơn của sự sống và tâm thức mà y cảm nhận được ở phía trước. Bây giờ y biết. Y nhìn thấy; y tham gia vào Thiên Cơ; y liên hệ mình với Thiên Ý thông qua sự thấu hiểu giáo lý hoặc Khoa Học về Sự Nhất Tâm; y biến Thiên Ý thành của mình, trong phạm vi y có thể nắm bắt được. Sự tương tác hỗ tương này tạo ra tính khả biến của hình tướng và tính bất biến của bản chất thiêng liêng, đặc trưng cho những Tâm Thức được giải thoát đã tự giải thoát khỏi nhà tù của hình tướng.
Elsewhere (The Reappearance of the Christ. p 157-158) I said that “The definition of religion, which will in the future prove of greater accuracy than any yet formulated by the theologians, might be expressed as follows:
Ở nơi khác (Sự Tái Xuất Hiện của Đức Christ. tr. 157-158) tôi đã nói rằng “Định nghĩa về tôn giáo, trong tương lai sẽ chứng minh độ chính xác lớn hơn bất kỳ định nghĩa nào được các nhà thần học đưa ra, có thể được diễn đạt như sau:
Religion is the name given to the invocative appeal of humanity and the evocative response of the greater Life to that cry.
Tôn giáo là tên gọi được đặt cho lời kêu gọi khẩn cầu của nhân loại và sự đáp ứng triệu hồi của Sự Sống vĩ đại hơn đối với tiếng kêu đó.”
It is, in fact, the recognition by the part of its relationship to the Whole, plus a constantly growing demand for increased [521] awareness of that relation; it draws forth the recognition of the Whole that the demand has been made. It is the impact of the vibration of humanity—oriented specifically to the Great Life of which it feels itself a part—upon that Life, and the responsive impact of that “All surrounding Love” upon the lesser vibration. It is only now that the impact of the human vibration can dimly be sensed in Shamballa; hitherto its most potent activity has only reached the Hierarchy. Religion, the science of invocation and evocation as far as humanity is concerned, is the approach (in the coming New Age) of a mentally polarised humanity. In the past, religion has had an entirely emotional appeal. It concerned the relation of the individual to the world of reality, of the seeking aspirant to the sought-for divinity. Its technique was the process of fitting oneself for the revelation of that divinity, of achieving a perfection which would warrant that revelation, and of developing a sensitivity and a loving response to the ideal Man, summarised for present day humanity in the Christ.
Trên thực tế, đó là sự nhận ra của phần về mối quan hệ của nó với Toàn Thể, cộng với nhu cầu ngày càng tăng về nhận thức lớn hơn về mối quan hệ đó; nó rút ra sự nhận ra của Toàn Thể rằng nhu cầu đã được đưa ra. Đó là tác động của sự rung động của nhân loại—được định hướng cụ thể đến Sự Sống Vĩ Đại mà nó cảm thấy mình là một phần—lên Sự Sống đó, và tác động đáp ứng của “Tình Thương Bao Quanh Tất Cả” đó lên sự rung động nhỏ hơn. Chỉ bây giờ tác động của sự rung động của con người mới có thể được cảm nhận một cách lờ mờ ở Shamballa; cho đến nay hoạt động mạnh mẽ nhất của nó chỉ đạt đến Huyền Giai. Tôn giáo, khoa học về khẩn cầu và triệu hồi liên quan đến nhân loại, là sự tiếp cận (trong Kỷ Nguyên Mới sắp tới) của một nhân loại phân cực trí tuệ. Trong quá khứ, tôn giáo đã có một sự hấp dẫn hoàn toàn mang tính cảm xúc. Nó liên quan đến mối quan hệ của cá nhân với thế giới thực tại, của người chí nguyện đang tìm kiếm với thiên tính đang được tìm kiếm. Kỹ thuật của nó là quá trình tự chuẩn bị cho sự mặc khải của thiên tính đó, đạt được một sự hoàn hảo đảm bảo cho sự mặc khải đó, và phát triển sự nhạy cảm và sự đáp ứng yêu thương đối với Con Người lý tưởng, được tóm tắt cho nhân loại ngày nay trong Đức Christ.
Christ came to end the cycle of this emotional approach which had existed since Atlantean days; He demonstrated in Himself the visioned perfection and then presented to humanity an example—in full manifestation—of every possibility latent in man up to that time. The achieving of the perfection of the Christ-consciousness became the emphasised goal of humanity.”
Đức Christ đến để kết thúc chu kỳ của sự tiếp cận cảm xúc này đã tồn tại từ thời Atlantis; Ngài đã chứng minh trong chính mình sự hoàn hảo được hình dung và sau đó trình bày cho nhân loại một tấm gương—trong sự biểu hiện đầy đủ—về mọi khả năng tiềm ẩn trong con người cho đến thời điểm đó. Việc đạt được sự hoàn hảo của tâm thức Christ trở thành mục tiêu được nhấn mạnh của nhân loại.”
The activity of all previous Teachers and demonstrating Sons of God became only the presentation of the various aspects of a divine perfection which the Christ summarised in Himself. But He did far more than just this. Had this been all that He accomplished, He would have presented to humanity a picture of a static achievement, a culmination of perfection such as the evolutionary status of man at that time demanded; He would have given us, in fact, a Figure of very great, but at the same time, arrested development. This was of course impossible, but the religion which He founded has never recognised this fact or considered what lay beyond Christ, what was the nature of His [522] subjective background and what was His point of achievement, and whether He still had other possibilities. This was perhaps an unavoidable omission owing to the fact that the idea of evolution was unknown until relatively very late, in the human consciousness. Orthodox religion has been preoccupied with an emotional and aspirational approach to this Figure of Perfection; it has not looked beyond the Figure to the Reality which He represents. This Christ Himself foresaw as a possibility, and sought to obviate when He pointed out to His disciples that they could do “greater things” than He had done, because He was going “to the Father.” He, in those words, pointed beyond Himself to the One Who was responsible for His Being, and to the Way of the Higher Evolution—a subject with which the church has never satisfactorily dealt. In the above words He indicated a state of being which He had never demonstrated on earth, owing to the unpreparedness of man, and also to the fact that He Himself was only “on His Way.”
Hoạt động của tất cả các Huấn Sư trước đây và các Con của Thượng đế đang chứng minh chỉ trở thành sự trình bày các khía cạnh khác nhau của một sự hoàn hảo thiêng liêng mà Đức Christ đã tóm tắt trong chính mình. Nhưng Ngài đã làm được nhiều hơn thế. Nếu đây là tất cả những gì Ngài đã hoàn thành, Ngài sẽ trình bày cho nhân loại một bức tranh về một thành tựu tĩnh tại, một đỉnh cao của sự hoàn hảo như tình trạng tiến hóa của con người vào thời điểm đó yêu cầu; trên thực tế, Ngài sẽ cho chúng ta một Hình Tượng rất vĩ đại, nhưng đồng thời, sự phát triển bị đình trệ. Điều này tất nhiên là không thể, nhưng tôn giáo mà Ngài sáng lập chưa bao giờ nhận ra sự thật này hoặc xem xét những gì nằm ngoài Đức Christ, bản chất bối cảnh chủ quan của Ngài là gì và điểm thành tựu của Ngài là gì, và liệu Ngài vẫn còn những khả năng khác hay không. Đây có lẽ là một thiếu sót không thể tránh khỏi do thực tế là ý tưởng về sự tiến hóa đã không được biết đến cho đến tương đối muộn trong tâm thức con người. Tôn giáo chính thống đã bận tâm đến một sự tiếp cận cảm xúc và khát vọng đối với Hình Tượng Hoàn Hảo này; nó đã không nhìn xa hơn Hình Tượng đến Thực Tại mà Ngài đại diện. Chính Đức Christ đã thấy điều này như một khả năng, và tìm cách loại bỏ khi Ngài chỉ ra cho các đệ tử của mình rằng họ có thể làm “những điều lớn lao hơn” những gì Ngài đã làm, bởi vì Ngài sẽ “đi đến Cha.” Trong những lời đó, Ngài đã chỉ ra ngoài chính mình đến Đấng chịu trách nhiệm cho Bản Thể của Ngài, và đến Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu—một chủ đề mà nhà thờ chưa bao giờ giải quyết thỏa đáng. Trong những lời trên, Ngài đã chỉ ra một trạng thái tồn tại mà Ngài chưa bao giờ chứng minh trên trái đất, do sự thiếu chuẩn bị của con người, và cũng do thực tế là chính Ngài chỉ “đang Trên Đường Đi.”
The Way of the Higher Evolution has also its two phases, as has the Lighted Way. In the early stages of the unfoldment of the Christ consciousness and in the attainment of the third initiation, the Transfiguration, the aspirant and the initiate-disciple pass along the first part of the Path of Discipleship. In the treading of the Way of the Higher Evolution (for which we have as yet only this somewhat cumbersome name) the initiate-disciple treads the Way of Antahkarana and the Way of the Higher Initiations. In making this statement I would again remind you that the third initiation is regarded by the Hierarchy as the first major initiation, whilst the two previous initiations are considered as only preparatory in their nature. The training given in preparation for them, and the consequent expansions of consciousness, reveal to the initiate the nature of the soul, the scope (widespread and universal) of the divine consciousness, and his relation to the Father, the Monad. They enable him to become the soul in manifestation to such an extent that his awareness is definitely and unalterably [523] that of the soul; at the fourth initiation the soul-body, the causal vehicle, is no longer needed, and it then disappears, dissipates, and is entirely destroyed, thus leaving the initiate free to tread the Way of the Higher Evolution and to follow in the footsteps of the Christ. He was the first of our planetary humanity to blaze the trail (is not that a phrase much used?) to the higher spheres of revelation.
Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu cũng có hai giai đoạn, giống như Con Đường Ánh Sáng. Trong giai đoạn đầu của sự khai mở tâm thức Christ và trong việc đạt được lần điểm đạo thứ ba, Sự Biến Hình, người chí nguyện và đệ tử điểm đạo đồ đi dọc theo phần đầu tiên của Con Đường Đệ Tử. Trong việc bước đi trên Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu (mà chúng ta vẫn chỉ có cái tên có phần rườm rà này), đệ tử điểm đạo đồ bước đi trên Con Đường Antahkarana và Con Đường Điểm Đạo Cao Hơn. Khi đưa ra tuyên bố này, tôi xin nhắc lại với bạn rằng lần điểm đạo thứ ba được Huyền Giai coi là lần điểm đạo chính đầu tiên, trong khi hai lần điểm đạo trước đó chỉ được coi là mang tính chuẩn bị trong bản chất của chúng. Sự huấn luyện được đưa ra để chuẩn bị cho chúng, và sự mở rộng tâm thức tiếp theo, tiết lộ cho điểm đạo đồ bản chất của linh hồn, phạm vi (rộng lớn và phổ quát) của tâm thức thiêng liêng và mối quan hệ của y với Cha, Chân Thần. Chúng cho phép y trở thành linh hồn trong sự biểu hiện đến mức nhận thức của y chắc chắn và không thể thay đổi là nhận thức của linh hồn; ở lần điểm đạo thứ tư, thể linh hồn, thể nguyên nhân, không còn cần thiết nữa, và sau đó nó biến mất, tiêu tan và bị phá hủy hoàn toàn, do đó để điểm đạo đồ tự do bước đi trên Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu và bước theo dấu chân của Đức Christ. Ngài là người đầu tiên trong nhân loại hành tinh của chúng ta khai phá con đường (không phải đó là một cụm từ được sử dụng nhiều sao?) đến các cõi mặc khải cao hơn.
I would here also remind you that, during this stage of human evolution, all these various phases exist simultaneously; this largely accounts for the relative differences and difficulties which characterise all the religions of the world and all relationships. Emotional appeal is needed by the masses, and their goal—some way ahead—is soul consciousness and soul control. It is the mystical way and the way of the early and preparatory stages of the science of Invocation and Evocation. It is the method to be followed by average humanity at this time, because men are largely Atlantean in their approach and their natures; they must learn to tread the Path by becoming the Path Itself, and in this way develop the mechanism and the capacities which are inherent in the divine Mind, which “spins the thread of connecting light and relates all beings within the planetary ring-pass-not into Itself.”
Ở đây tôi cũng xin nhắc nhở bạn rằng, trong giai đoạn tiến hóa của con người này, tất cả các giai đoạn khác nhau này cùng tồn tại; điều này phần lớn giải thích cho những khác biệt và khó khăn tương đối đặc trưng cho tất cả các tôn giáo trên thế giới và tất cả các mối quan hệ. Sự hấp dẫn cảm xúc là cần thiết cho quần chúng, và mục tiêu của họ—một con đường nào đó ở phía trước—là tâm thức linh hồn và sự kiểm soát linh hồn. Đó là con đường thần bí và con đường của các giai đoạn đầu và chuẩn bị của khoa học Khẩn cầu và Triệu hồi. Đó là phương pháp được nhân loại trung bình tuân theo vào thời điểm này, bởi vì con người phần lớn là người Atlantis trong cách tiếp cận và bản chất của họ; họ phải học cách bước đi trên Con Đường bằng cách trở thành Chính Con Đường, và theo cách này phát triển cơ chế và khả năng vốn có trong Trí Tuệ thiêng liêng, “quay sợi dây ánh sáng kết nối và liên hệ tất cả các sinh vật trong vòng-giới-hạn hành tinh vào Chính Nó.”
By becoming the Path, symbolically speaking, and by a process of reorientation, the aspirant who is seeking to tread the Lighted Way of purification and of discipleship reaches a point where that light and that path have brought him to a specific goal. Then the light which he has generated from within himself, and is learning rapidly to use, reveals to him the Way of the Higher Evolution, the fact of a still greater goal further on ahead—called by the Christ “the Father's House.”
Bằng cách trở thành Con Đường, theo nghĩa tượng trưng, và bằng một quá trình tái định hướng, người chí nguyện đang tìm cách bước đi trên Con Đường Ánh Sáng của sự thanh lọc và địa vị đệ tử đạt đến một điểm mà ánh sáng và con đường đó đã đưa y đến một mục tiêu cụ thể. Sau đó, ánh sáng mà y đã tạo ra từ bên trong chính mình, và đang nhanh chóng học cách sử dụng, tiết lộ cho y Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu, sự thật về một mục tiêu lớn hơn nữa ở phía trước—được Đức Christ gọi là “Nhà của Cha.”
At the fourth initiation he becomes aware, for the first time in his experience, that there is a hiatus or gap separating him from his distant goal. This constituted the major part of the agony upon the Cross. There was a fusion of agonies at that supreme moment, if I might attempt to express what occurred. The Master Jesus, crucified there, [524] felt the agony of human need and renounced His own life and gave His all (again symbolically speaking) to meet that need. The Christ, at that time over-shadowing His great Disciple, also passed simultaneously through a great initiatory experience. The agony of His yearning for revelation and increased enlightenment (in order to enhance His equipment as World Saviour) revealed to Him the new possibilities, from which—when confronted with them dimly in the garden of Gethsemane and later upon the Cross—His whole nature shrank.
Ở lần điểm đạo thứ tư, y nhận thức được, lần đầu tiên trong kinh nghiệm của mình, rằng có một khoảng trống hoặc khoảng cách ngăn cách y với mục tiêu xa xôi của mình. Điều này cấu thành phần lớn sự đau khổ trên Thập Giá. Đã có một sự hợp nhất của những đau khổ vào thời điểm tối cao đó, nếu tôi có thể cố gắng diễn đạt những gì đã xảy ra. Đức Thầy Jesus, bị đóng đinh ở đó, cảm thấy sự đau khổ của nhu cầu con người và từ bỏ cuộc sống của chính mình và trao đi tất cả của mình (lại nói theo nghĩa tượng trưng) để đáp ứng nhu cầu đó. Đức Christ, vào thời điểm đó phủ bóng lên Đệ Tử vĩ đại của Ngài, cũng đồng thời trải qua một kinh nghiệm điểm đạo vĩ đại. Sự đau khổ của sự khao khát của Ngài đối với sự mặc khải và sự khai sáng gia tăng (để nâng cao trang bị của Ngài với tư cách là Đấng Cứu Độ Thế Giới) đã tiết lộ cho Ngài những khả năng mới, mà—khi đối mặt với chúng một cách lờ mờ trong vườn Gethsemane và sau đó trên Thập Giá—toàn bộ bản chất của Ngài đã co rúm lại.
Great as is this mystery to you, and impossible as it is for you to comprehend that whereof I speak, it is wise to establish the fact in your consciousness that at the Crucifixion initiation, the Master Jesus took the fourth initiation and the Christ took the sixth initiation. The Master Jesus reached the culminating experience of the Lighted Way, whilst the Christ made that final effort which enabled Him entirely to complete and traverse the “rainbow bridge” and to “go to the Father” (as He told His disciples), thus moving forward on to the first stage of the Way of the Higher Evolution.
Vĩ đại như bí ẩn này đối với bạn, và không thể nào bạn có thể thấu hiểu những gì tôi nói, điều khôn ngoan là thiết lập sự thật trong tâm thức của bạn rằng tại lần điểm đạo Đóng Đinh, Đức Thầy Jesus đã thực hiện lần điểm đạo thứ tư và Đức Christ đã thực hiện lần điểm đạo thứ sáu. Đức Thầy Jesus đã đạt đến kinh nghiệm đỉnh cao của Con Đường Ánh Sáng, trong khi Đức Christ đã thực hiện nỗ lực cuối cùng đó cho phép Ngài hoàn toàn hoàn thành và đi qua “cầu vồng” và “đi đến Cha” (như Ngài đã nói với các đệ tử của mình), do đó tiến lên giai đoạn đầu tiên của Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu.
The practical point for aspirants and disciples to remember is that the Science of Invocation and Evocation entered a new phase when Christ came and presented Himself before humanity; He then gave the teaching which summarised all the past and indicated the new aspects of the future teaching. He opened the door to the Way of the Higher Evolution, hitherto closed, just as the Buddha epitomised in Himself the achievements of the Lighted Way and the attainment of all knowledge and wisdom. Christ, in opening this “greater door beyond the lesser door,” anchored—if I may so inadequately express it—the Will of God on Earth, particularly in relation to the consciousness of men. He lifted the entire Science of Invocation and Evocation to the mental plane and made possible a new approach to divinity. It is difficult to give you a symbol which could clarify this matter in your mind. But the one given may carry some enlightenment: [525]
Điểm thực tế mà những người chí nguyện và đệ tử cần nhớ là Khoa học Khẩn cầu và Triệu hồi đã bước vào một giai đoạn mới khi Đức Christ đến và trình diện trước nhân loại; sau đó Ngài đã đưa ra giáo lý tóm tắt tất cả quá khứ và chỉ ra những khía cạnh mới của giáo lý tương lai. Ngài đã mở cánh cửa đến Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu, trước đây đã đóng, giống như Đức Phật đã tóm tắt trong chính Ngài những thành tựu của Con Đường Ánh Sáng và sự đạt được tất cả kiến thức và minh triết. Đức Christ, khi mở “cánh cửa lớn hơn vượt ra ngoài cánh cửa nhỏ hơn” này, đã neo đậu—nếu tôi có thể diễn đạt một cách không đầy đủ như vậy—Ý Chí của Thượng đế trên Trái Đất, đặc biệt liên quan đến tâm thức của con người. Ngài đã nâng toàn bộ Khoa học Khẩn cầu và Triệu hồi lên cõi trí và tạo ra một sự tiếp cận mới đối với thiên tính. Thật khó để đưa cho bạn một biểu tượng có thể làm rõ vấn đề này trong tâm trí bạn. Nhưng biểu tượng được đưa ra có thể mang lại một số sự khai sáng:
[526]
It must be remembered that intelligence and love were present upon Earth, the first in greater degree than the second, and that the task of all the great World Saviours (emerging from the Secret Place, from the illimitable past until the present time) has been to anchor, organise, and implement these divine aspects, energies, attributes, and to further their development within the body of the planetary Logos. They also, from time to time, demonstrated to the humanity of Their period of appearing, the point in that development which had been reached. These Representatives of Deity have been of all grades, degrees and differing points of spiritual unfoldment; They have been chosen for Their aptitude to respond to invocation, to manifest certain divine qualities, and to attract around Themselves those who had latent the same divine qualities, and who could therefore step down the teaching that the World Saviour came to give, and translate into human equivalents as much of the divine inspiration as was possible. Many of Them have been forgotten even if Their work was successful. Others have been resolved into myths by the thoughtform-making faculty of man but Their work is still thereby remembered, and to this, monuments and tradition constantly testify; greater Sons of God possessed a potency and a love of humanity which, even at the close of many centuries, evokes the attention of mankind and conditions even yet the reactions of millions of people.
Phải nhớ rằng trí tuệ và tình thương đã hiện diện trên Trái Đất, cái thứ nhất ở mức độ lớn hơn cái thứ hai, và nhiệm vụ của tất cả các Đấng Cứu Độ Thế Giới vĩ đại (xuất hiện từ Nơi Bí Mật, từ quá khứ vô hạn cho đến thời điểm hiện tại) là neo đậu, tổ chức và thực hiện những khía cạnh, năng lượng, thuộc tính thiêng liêng này, và thúc đẩy sự phát triển của chúng trong thân thể của Hành Tinh Thượng Đế. Họ cũng, theo thời gian, chứng minh cho nhân loại trong thời kỳ xuất hiện của Họ, điểm trong sự phát triển đó đã đạt được. Những Đại Diện của Thượng Đế này thuộc mọi cấp bậc, trình độ và điểm khai mở tinh thần khác nhau; Họ đã được chọn vì năng khiếu đáp ứng lời khẩn cầu, thể hiện những phẩm tính thiêng liêng nhất định và thu hút xung quanh Họ những người có tiềm ẩn những phẩm tính thiêng liêng tương tự, và do đó có thể hạ thấp giáo lý mà Đấng Cứu Độ Thế Giới đến để đưa ra, và dịch sang những tương đương con người càng nhiều cảm hứng thiêng liêng càng tốt. Nhiều người trong số Họ đã bị lãng quên ngay cả khi công việc của Họ thành công. Những người khác đã được giải quyết thành những huyền thoại bởi khả năng tạo hình tư tưởng của con người nhưng công việc của Họ vẫn được ghi nhớ, và những tượng đài và truyền thống liên tục chứng thực điều này; những Con của Thượng đế vĩ đại hơn sở hữu một tiềm năng và tình thương đối với nhân loại, ngay cả khi kết thúc nhiều thế kỷ, vẫn gợi lên sự chú ý của nhân loại và điều kiện ngay cả những phản ứng của hàng triệu người.
Vyasa—the original Vyasa, Who was the Great Individuality evoked by the invocation of the early animal-men—is still more than just a name, even though He has passed out of our planetary scheme millions of years ago. He opened a door into the human kingdom through His response to the animal kingdom in its higher invocative ranks; His work brought about the process known as individualisation. Down through the ages, these Sons of God have come, evoked by human invocation; in Their turn, They have invoked certain aspects of the divine nature, deeply hidden in mankind—all related hitherto to consciousness and to responsiveness of the part to the Whole. [527] Eventually Hercules came forth and opened the door on to the Path of Discipleship, His work being preserved for us in the Twelve Labours of Hercules. These epitomised the various tests to which all disciples are subjected, prior to the various initiations. Shri Krishna came and opened the door through which mankind could pass to the Second Initiation. The Buddha, a still greater Figure, the One Who is known as the “Enlightened One,” also came and demonstrated to humanity the nature of the Lighted Way, its revelations and its effects in consciousness. He enacted for us the supreme achievements of the mystic way. Then came the Christ and performed a triple work:
Vyasa—Vyasa nguyên thủy, Đấng là Cá Tính Vĩ Đại được triệu hồi bởi lời khẩn cầu của những người thú ban đầu—vẫn còn hơn cả một cái tên, mặc dù Ngài đã rời khỏi hệ hành tinh của chúng ta hàng triệu năm trước. Ngài đã mở một cánh cửa vào giới nhân loại thông qua sự đáp ứng của Ngài đối với giới động vật trong các cấp bậc khẩn cầu cao hơn của nó; công việc của Ngài đã mang lại quá trình được gọi là sự biệt ngã hóa. Qua các thời đại, những Con của Thượng đế này đã đến, được triệu hồi bởi lời khẩn cầu của con người; đến lượt Họ, Họ đã triệu hồi những khía cạnh nhất định của bản chất thiêng liêng, được ẩn giấu sâu sắc trong nhân loại—tất cả đều liên quan cho đến nay đến tâm thức và sự đáp ứng của phần đối với Toàn Thể. Cuối cùng, Hercules xuất hiện và mở cánh cửa vào Con Đường Đệ Tử, công việc của Ngài được bảo tồn cho chúng ta trong Mười Hai Kỳ Công của Hercules. Những điều này tóm tắt các thử thách khác nhau mà tất cả các đệ tử phải chịu, trước các lần điểm đạo khác nhau. Shri Krishna đến và mở cánh cửa mà qua đó nhân loại có thể vượt qua để đến Lần Điểm Đạo Thứ Hai. Đức Phật, một Hình Tượng vĩ đại hơn, Đấng được biết đến với tên gọi “Đấng Giác Ngộ”, cũng đến và chứng minh cho nhân loại bản chất của Con Đường Ánh Sáng, những mặc khải và ảnh hưởng của nó trong tâm thức. Ngài đã thực hiện cho chúng ta những thành tựu tối cao của con đường thần bí. Sau đó, Đức Christ đến và thực hiện một công việc tam phân:
1. He opened the door to the third initiation.
1. Ngài mở cánh cửa đến lần điểm đạo thứ ba.
2. He anchored on Earth “the Will of God in the matrix of love” (as it has been esoterically called).
2. Ngài neo đậu trên Trái Đất “Ý Chí của Thượng đế trong ma trận của tình thương” (như nó đã được gọi một cách nội môn).
3. He pointed the way through “the needle's eye” which gives entrance to the passage through the Pyramid (the symbol of the Spiritual Triad in this case. A.A.B.) which leads out on to the Way which terminates in Shamballa.
3. Ngài chỉ ra con đường qua “lỗ kim” cho phép lối vào lối đi qua Kim Tự Tháp (biểu tượng của Tam nguyên tinh thần trong trường hợp này. A.A.B.) dẫn ra Con Đường kết thúc ở Shamballa.
His work was of a major consummating nature; He demonstrated in Himself two divine aspects, thus giving “shape and substance to love”; this had been sequentially fostered by several preceding lesser World Saviours, of Whom Shri Krishna was the greatest.
Công việc của Ngài mang tính chất hoàn thành chính; Ngài đã chứng minh trong chính Ngài hai khía cạnh thiêng liêng, do đó “mang lại hình dạng và chất liệu cho tình thương”; điều này đã được nhiều Đấng Cứu Độ Thế Giới nhỏ hơn trước đó thúc đẩy tuần tự, trong đó Shri Krishna là vĩ đại nhất.
The Christ completed the work of the Buddha by manifesting in its fullness the nature of love, thus permitting the full expression of love-wisdom in its dual aspect—the one aspect demonstrated by the Buddha and the other by the Christ. But His greatest work has not yet been emphasised in the worlds of thought and of religion—the revelation of the Way of the Higher Evolution. This entails the bringing through of pure divine will and the relating of the spiritual Hierarchy to the great Council at Shamballa. It will be apparent to you, therefore, that He was the first to carry through—from stage to stage—the complete revelation of humanity to the Hierarchy and of the Hierarchy to Shamballa. This He did by virtue of a [528] completely finished and constructed antahkarana, and thus He facilitated the work of all future aspirants and disciples. He made possible their unimpeded progress, as far as the opening of each stage of the planetary antahkarana is concerned. He presented the “first thread of living substance, irradiated by love, intelligently woven and energised by will” which any human being of our Earth humanity had interwoven with the planetary antahkarana. Here lies the secret of the sixth initiation, which has not yet received the attention of the occultist—it is that of the Ascension.
Đức Christ đã hoàn thành công việc của Đức Phật bằng cách biểu hiện đầy đủ bản chất của tình thương, do đó cho phép biểu hiện đầy đủ của bác ái-minh triết trong khía cạnh kép của nó—một khía cạnh được Đức Phật chứng minh và khía cạnh kia được Đức Christ chứng minh. Nhưng công việc vĩ đại nhất của Ngài vẫn chưa được nhấn mạnh trong thế giới tư tưởng và tôn giáo—sự mặc khải về Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu. Điều này đòi hỏi phải mang lại ý chí thiêng liêng thuần túy và liên hệ Huyền Giai Tinh Thần với Hội Đồng vĩ đại tại Shamballa. Do đó, bạn sẽ thấy rõ rằng Ngài là người đầu tiên thực hiện—từ giai đoạn này sang giai đoạn khác—sự mặc khải hoàn chỉnh của nhân loại cho Huyền Giai và của Huyền Giai cho Shamballa. Ngài đã làm điều này nhờ một antahkarana được hoàn thành và xây dựng hoàn toàn, và do đó Ngài đã tạo điều kiện thuận lợi cho công việc của tất cả những người chí nguyện và đệ tử trong tương lai. Ngài đã tạo điều kiện cho sự tiến bộ không bị cản trở của họ, liên quan đến việc mở từng giai đoạn của antahkarana hành tinh. Ngài đã trình bày “sợi dây đầu tiên của chất liệu sống, được chiếu xạ bởi tình thương, được dệt một cách thông minh và được tiếp sinh lực bởi ý chí” mà bất kỳ con người nào trong nhân loại Trái Đất của chúng ta đã dệt vào antahkarana hành tinh. Ở đây nằm bí mật của lần điểm đạo thứ sáu, vẫn chưa nhận được sự chú ý của nhà huyền bí—đó là sự Thăng Thiên.
Here comes a climaxing note. The whole evolutionary scheme is based upon a series of ascensions. These ascensions are the result of a process, a technique, a method (choose which word you will) of invocation by the lesser individual, group or kingdom, and the evocation of that which is greater, more inclusive and more enlightened. This is true, whether it concerns a lonely aspirant upon the Way or an entire kingdom in nature. The greatest of the incarnating Sons of God are necessarily Those Who can include whole kingdoms or states of divine Being in Their consciousness. Here is the key as to why the invocation by a group “standing with massed intent” can bring forth, and has done so many times in our planetary history, One Who could meet the need which the invocation voiced, upon “a way of escape,” and embody in Himself the required vision or goal.
Đây là một nốt cao trào. Toàn bộ hệ thống tiến hóa dựa trên một loạt các sự thăng thiên. Những sự thăng thiên này là kết quả của một quá trình, một kỹ thuật, một phương pháp (hãy chọn từ nào bạn muốn) khẩn cầu của cá nhân, nhóm hoặc giới nhỏ hơn, và sự triệu hồi của những gì lớn hơn, bao gồm hơn và giác ngộ hơn. Điều này đúng, cho dù nó liên quan đến một người chí nguyện cô đơn trên Con Đường hay toàn bộ giới trong tự nhiên. Những Con của Thượng đế hóa thân vĩ đại nhất nhất thiết là Những Đấng có thể bao gồm toàn bộ các giới hoặc trạng thái Bản Thể thiêng liêng trong tâm thức của Họ. Đây là chìa khóa lý do tại sao lời khẩn cầu của một nhóm “đứng với ý định tập thể” có thể mang lại, và đã làm như vậy nhiều lần trong lịch sử hành tinh của chúng ta, Một Đấng có thể đáp ứng nhu cầu mà lời khẩn cầu đã lên tiếng, trên “một con đường thoát,” và thể hiện trong chính Ngài tầm nhìn hoặc mục tiêu cần thiết.
You will note here that I have carried the teaching (earlier given upon the subject) into the realm of the whole. Previously, I dealt with the process as it applied to the disciple invoking his soul; later I carried the concept farther, and we considered the disciple invoking his Father in Heaven, the Monad. Now, we have briefly touched upon humanity as a whole, standing at a great point of invocation wherein the entire human kingdom is involved. Thus you have the final three of the six great stages in the process we are considering: Invocation, leading to Evocation, to Revelation (at the Fifth initiation) and to Decision (at the sixth).
Bạn sẽ lưu ý ở đây rằng tôi đã mang giáo lý (được đưa ra trước đó về chủ đề này) vào lĩnh vực của toàn thể. Trước đây, tôi đã đề cập đến quá trình này khi nó áp dụng cho đệ tử khẩn cầu linh hồn của mình; sau đó tôi đã mang khái niệm này đi xa hơn, và chúng ta đã xem xét đệ tử khẩn cầu Cha của mình trên Thiên Đường, Chân Thần. Bây giờ, chúng ta đã đề cập ngắn gọn đến nhân loại nói chung, đứng ở một điểm khẩn cầu vĩ đại, trong đó toàn bộ giới nhân loại tham gia. Do đó, bạn có ba giai đoạn cuối cùng trong sáu giai đoạn vĩ đại trong quá trình chúng ta đang xem xét: Khẩn cầu, dẫn đến Triệu hồi, đến Mặc khải (ở lần điểm đạo thứ năm) và đến Quyết định (ở lần điểm đạo thứ sáu).
[529] To sum up. We have carried our study of the esoteric aspects of mental unfoldment to a point where we have lifted the entire spiritual man into realms which are neither those of the soul nor of the personality; they are those which make him an integral part of monadic experience. We are therefore dealing definitely with initiate experience. That the personality remains as an instrument or vehicle of expression for the one universal soul in its many personality aspects upon the physical plane has been duly emphasised; that the soul per se has been lost to consciousness in the sea of universal realisation has also been made clear; that the state of being which the initiate has now reached, as a result of the six stages of conscious building of the antahkarana, has been detailed; but I have pointed out in this connection that what has transpired lies beyond what we call consciousness, and is consequently undefinable by the human intellect. We have dealt with certain high stages of unfoldment which remain impossible to any human comprehension outside that of Those Who can function in the Courts of Shamballa. When these stages have been passed, then the goal of all the evolutionary processes has been reached, as far as humanity is concerned. These concepts cover our presentation of truth and of our theme up to the present point. Further we cannot go, for it would be profitless; nor would the human constitution prove adequate to the imposed task.
Tóm lại. Chúng ta đã mang nghiên cứu về các khía cạnh nội môn của sự khai mở trí tuệ đến một điểm mà chúng ta đã nâng toàn bộ con người tinh thần vào các lĩnh vực không phải là của linh hồn cũng không phải là của phàm ngã; chúng là những lĩnh vực khiến y trở thành một phần không thể thiếu trong kinh nghiệm chân thần. Do đó, chúng ta đang đề cập một cách dứt khoát đến kinh nghiệm điểm đạo đồ. Việc phàm ngã vẫn là một công cụ hoặc phương tiện biểu hiện cho linh hồn phổ quát duy nhất trong nhiều khía cạnh phàm ngã của nó trên cõi trần đã được nhấn mạnh đúng mức; việc linh hồn tự thân đã bị mất vào tâm thức trong biển nhận thức phổ quát cũng đã được làm rõ; trạng thái tồn tại mà điểm đạo đồ hiện đã đạt được, do kết quả của sáu giai đoạn xây dựng có ý thức antahkarana, đã được trình bày chi tiết; nhưng tôi đã chỉ ra trong mối liên hệ này rằng những gì đã xảy ra nằm ngoài những gì chúng ta gọi là tâm thức, và do đó không thể được trí tuệ con người định nghĩa. Chúng ta đã đề cập đến một số giai đoạn khai mở cao mà bất kỳ sự thấu hiểu nào của con người bên ngoài Những Đấng có thể hoạt động trong Triều Đình của Shamballa đều không thể đạt được. Khi những giai đoạn này đã qua, thì mục tiêu của tất cả các quá trình tiến hóa đã đạt được, liên quan đến nhân loại. Những khái niệm này bao gồm sự trình bày sự thật và chủ đề của chúng ta cho đến thời điểm hiện tại. Chúng ta không thể đi xa hơn, vì nó sẽ vô ích; cũng như thể chất con người sẽ không chứng tỏ đủ khả năng cho nhiệm vụ được áp đặt.
I have in these previous sections carried our theme to the point where it climaxes all that has been hitherto given out anent the human mind and its capabilities. I have indicated the method whereby the mind, trained in meditation, and therefore soul-conscious, can—through the construction of the antahkarana—reach heights and stages of inclusiveness which will introduce to it certain aspects of the so-called Universal Mind, the mind of God, as it is familiarly called. What I have really done is to deal very briefly with the mode whereby the disciple or the initiate can, with increasing power, tune in on the mind of the planetary Logos, Sanat Kumara. Just as the disciple can, [530] when soul conscious, tune in on the mind of his Master, so the initiate, upon a higher turn of the spiral, can register the thoughts of the divine Being in Whom we all live and move and have our being.
Trong các phần trước, tôi đã mang chủ đề của chúng ta đến điểm mà nó đạt đến đỉnh điểm tất cả những gì đã được đưa ra cho đến nay về trí tuệ con người và khả năng của nó. Tôi đã chỉ ra phương pháp mà qua đó trí tuệ, được huấn luyện trong tham thiền, và do đó có tâm thức linh hồn, có thể—thông qua việc xây dựng antahkarana—đạt đến những đỉnh cao và giai đoạn bao gồm sẽ giới thiệu cho nó những khía cạnh nhất định của cái gọi là Trí Tuệ Vũ Trụ, trí tuệ của Thượng đế, như nó thường được gọi. Những gì tôi thực sự đã làm là đề cập rất ngắn gọn đến phương thức mà qua đó đệ tử hoặc điểm đạo đồ có thể, với sức mạnh ngày càng tăng, điều chỉnh theo trí tuệ của Hành Tinh Thượng Đế, Sanat Kumara. Giống như đệ tử có thể, khi có tâm thức linh hồn, điều chỉnh theo trí tuệ của Chân Sư của mình, thì điểm đạo đồ, trên một vòng xoắn ốc cao hơn, có thể ghi nhận những tư tưởng của Bản Thể thiêng liêng mà trong Ngài tất cả chúng ta sống và di chuyển và tồn tại.
Through the development of the antahkarana and its conscious, scientific use, the initiate becomes aware of what transpires in the Council Chamber of Shamballa; he can then efficiently begin to work as an exponent of the Will aspect of divinity. Yet all this time we have confined ourselves entirely to the consideration of the mind aspect in its three phases upon the mental plane, and with their extension into states of being unknown to all except trained disciples and initiates. It has been my intention thus to give a theoretical, though not yet practical insight into modes of activity and possible states of being to which you can some day aspire and eventually attain.
Thông qua sự phát triển của antahkarana và việc sử dụng có ý thức, khoa học của nó, điểm đạo đồ nhận thức được những gì xảy ra trong Phòng Hội Đồng của Shamballa; sau đó y có thể bắt đầu làm việc hiệu quả như một người giải thích khía cạnh Ý Chí của thiên tính. Tuy nhiên, trong suốt thời gian này, chúng ta đã giới hạn hoàn toàn việc xem xét khía cạnh trí tuệ trong ba giai đoạn của nó trên cõi trí, và với sự mở rộng của chúng vào các trạng thái tồn tại mà tất cả trừ các đệ tử và điểm đạo đồ được huấn luyện đều không biết. Mục đích của tôi là đưa ra một cái nhìn sâu sắc về mặt lý thuyết, mặc dù chưa thực tế, về các phương thức hoạt động và các trạng thái tồn tại có thể mà bạn có thể một ngày nào đó khao khát và cuối cùng đạt được.
THE MEANING OF THE INITIATORY PROCESS — Ý NGHĨA CỦA TIẾN TRÌNH ĐIỂM ĐẠO
Before proceeding with our next point concerning the fusion of the Master's consciousness with that of His disciple, I would like to refer to the significance of the words I earlier emphasised, “the initiatory process.” I have dealt at length with the theme of initiation in many of my books and have endeavoured to present the subject in such a manner that it becomes apparent that it fits into the evolutionary process as a normal and inevitable procedure. Initiation has been so frequently presented as being a ceremony that I have felt it necessary to offset strenuously that erroneous significance. If, however, you are to comprehend that which I have to say, you will have to call in what measures of enlightened understanding you may possess.
Trước khi tiếp tục điểm kế tiếp của chúng ta liên quan đến sự dung hợp tâm thức của Chân sư với tâm thức của đệ tử Ngài, tôi muốn đề cập đến ý nghĩa của những từ mà trước đây tôi đã nhấn mạnh, “tiến trình điểm đạo.” Tôi đã bàn rất dài về chủ đề điểm đạo trong nhiều sách của tôi và đã cố trình bày đề tài này theo cách khiến rõ ràng rằng nó phù hợp với tiến trình tiến hoá như một thủ tục bình thường và tất yếu. Điểm đạo đã quá thường được trình bày như một nghi lễ đến nỗi tôi cảm thấy cần phải mạnh mẽ hóa giải ý nghĩa sai lầm ấy. Tuy nhiên, nếu bạn muốn hiểu điều tôi phải nói, bạn sẽ phải vận dụng bất cứ mức độ thấu hiểu giác ngộ nào mà bạn có thể sở hữu.
Initiation is only a ceremony in so far that there comes a climaxing point in the initiatory process in which the disciple's consciousness becomes dramatically aware of the personnel of the Hierarchy and of his own position in relation to it. This realisation he symbolises to himself—successively and on an increasingly large scale—as a great [531] rhythmic ceremonial of progressive revelation in which he, as a candidate, is the centre of the hierarchical stage. This is definitely so (from the ceremonial angle) in the first two initiations, and in relation to the Christ as the Initiator. After the third initiation, the ceremonial angle lessens in his consciousness because the higher initiations are not registered by the mind (with its ability to reduce realisation into symbolic form) and thus transmitted to the brain, but they reach the brain and are there registered via the antahkarana; the results of the experience of expansion are now definitely of such a nature that they cannot be reduced to symbols or to symbolic happenings; they are formless and remain in the higher consciousness.
Điểm đạo chỉ là một nghi lễ trong chừng mực có một điểm cao trào trong tiến trình điểm đạo, trong đó tâm thức của đệ tử trở nên nhận biết một cách đầy kịch tính về thành phần nhân sự của Thánh đoàn và về vị trí của chính y trong liên hệ với nó. Sự chứng nghiệm này, y biểu tượng hóa cho chính mình—liên tiếp và trên một quy mô ngày càng lớn—như một nghi lễ nhịp điệu vĩ đại của sự mặc khải tiến bộ, trong đó y, với tư cách một ứng viên, là trung tâm của sân khấu thánh đoàn. Điều này rõ ràng là như vậy (xét từ góc độ nghi lễ) trong hai lần điểm đạo đầu tiên, và trong liên hệ với Đức Christ như Đấng Điểm đạo. Sau lần điểm đạo thứ ba, góc độ nghi lễ giảm bớt trong tâm thức của y vì các lần điểm đạo cao hơn không được trí tuệ ghi nhận (với khả năng quy giảm chứng nghiệm thành hình thức biểu tượng) rồi truyền đến bộ não, mà chúng đến bộ não và được ghi nhận ở đó qua antahkarana; các kết quả của kinh nghiệm mở rộng giờ đây rõ ràng có bản chất đến mức không thể quy giảm thành các biểu tượng hay các biến cố biểu tượng; chúng là vô tướng và vẫn ở trong tâm thức cao hơn.
I am not here saying that the teachings given in the past by various occult groups, or in my book Initiation, Human and Solar, are not correct or do not recount accurately what the candidate believes has taken place. The point I seek to make is that the ceremonial aspect is due to the thoughtform-making capacity of the disciple and (which is of major importance) constitutes his contribution to the future externalisation of the initiatory process in its earlier stages. When an adequate number of disciples will have succeeded in relating the Spiritual Triad to the soul-infused personality and have occultly “precipitated” the energies of the Monad through the medium of the antahkarana, then the first and second initiations can be “ceremoniously” enacted on earth.
Ở đây tôi không nói rằng các giáo huấn đã được đưa ra trong quá khứ bởi các nhóm huyền bí khác nhau, hay trong sách của tôi Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, là không đúng hay không thuật lại chính xác điều mà ứng viên tin rằng đã xảy ra. Điểm tôi muốn nêu ra là phương diện nghi lễ là do năng lực tạo hình tư tưởng của đệ tử và (điều này rất quan trọng) cấu thành phần đóng góp của y vào sự ngoại hiện tương lai của tiến trình điểm đạo trong các giai đoạn đầu của nó. Khi một số lượng đầy đủ các đệ tử đã thành công trong việc liên hệ Tam Nguyên Tinh Thần với phàm ngã được linh hồn thấm nhuần và đã một cách huyền bí “ngưng tụ” các năng lượng của chân thần qua trung gian của antahkarana, khi ấy lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai có thể được thực hiện “một cách nghi lễ” trên Trái Đất.
The higher initiations cannot be thus presented but will be enacted on the mental plane, through the medium of symbols and not through the details of ceremonious happenings. This symbolic representation will hold good for the third, the fourth and the fifth initiations. After these five great expansions have taken place, the initiations will no longer be registered as factual ceremonials on earth or as symbolic visualisations on the mental plane. It is hard to find a word or a phrase which can express what occurs; the nearest I can approach to the truth is the “existence of illumination through revelation.” You [532] will note in this connection that the fifth initiation is given the name of Revelation. You therefore have a sequence of consequences or of the results of spiritual attainment which are as follows:
Các lần điểm đạo cao hơn không thể được trình bày như vậy mà sẽ được thực hiện trên cõi trí, qua trung gian của các biểu tượng chứ không qua các chi tiết của những diễn biến nghi lễ. Sự biểu hiện biểu tượng này sẽ đúng cho lần điểm đạo thứ ba, thứ tư và thứ năm. Sau khi năm sự mở rộng lớn lao này đã diễn ra, các lần điểm đạo sẽ không còn được ghi nhận như những nghi lễ thực tế trên Trái Đất hay như những sự hình dung biểu tượng trên cõi trí nữa. Thật khó tìm được một từ hay một cụm từ có thể diễn tả điều xảy ra; điều gần nhất mà tôi có thể tiến đến chân lý là “sự hiện hữu của soi sáng qua mặc khải.” Bạn [532] sẽ lưu ý trong mối liên hệ này rằng lần điểm đạo thứ năm được gọi là Mặc Khải. Vì vậy bạn có một chuỗi các hệ quả hay các kết quả của thành tựu tinh thần như sau:
1. Factual Ceremonials, based on externalisation.
1. Các Nghi Lễ Thực Tế, dựa trên sự ngoại hiện.
Initiation 1—The Birth.
Điểm đạo 1—Giáng Sinh.
Initiation 2—The Baptism.
Điểm đạo 2—Lễ Rửa Tội.
2. Symbolic Representation, based on spiritual visualisation.
2. Sự Biểu Hiện Biểu Tượng, dựa trên sự hình dung tinh thần.
Initiation 3—The Transfiguration.
Điểm đạo 3—Biến hình.
Initiation 4—The Renunciation.
Điểm đạo 4—Sự từ bỏ.
Initiation 5—The Revelation.
Điểm đạo 5—Mặc Khải.
3. Illumination through Revelation, based on living Light.
3. Soi sáng qua Mặc Khải, dựa trên Ánh sáng sống động.
Initiation 6—Decision.
Điểm đạo 6—Quyết Định.
Initiation 7—Resurrection.
Điểm đạo 7—Phục Sinh.
Initiation 8—Transition.
Điểm đạo 8—Chuyển tiếp.
Initiation 9—Refusal.
Điểm đạo 9—Khước Từ.
It will be obvious that these three attempts to define the process of initiation present only the outer form aspects each initiation has three aspects, as has all else in nature, for initiation is a natural process. There is first, its form aspect; then its soul or consciousness aspect; and finally, its life aspect.
Hiển nhiên là ba nỗ lực này nhằm định nghĩa tiến trình điểm đạo chỉ trình bày các phương diện hình tướng bên ngoài; mỗi lần điểm đạo có ba phương diện, cũng như mọi thứ khác trong thiên nhiên, vì điểm đạo là một tiến trình tự nhiên. Trước hết là phương diện hình tướng của nó; rồi đến phương diện linh hồn hay tâm thức của nó; và cuối cùng là phương diện sự sống của nó.
The form aspect culminates experience and presents the disciple's comprehension of the initiatory process; the consciousness aspect indicates in a mysterious manner the rate of expansion as the disciple has undergone the process; the life aspect permits of extra-planetary contact, thus indicating the possible future and the eventual processes of identification. It might be added that the factual ceremonial admits the disciple into full fellowship with the Hierarchy; that the symbolic representation indicates to the disciple the Way into Shamballa, and that illumined revelation presents to the initiate the bridge between our cosmic physical plane and the inner subjective and cosmic worlds; this entrance to the bridge (I am speaking in symbols) [533] reveals the existence of the cosmic Antahkarana, created by the Lord of the World and His group of Executives.
Phương diện hình tướng kết thúc kinh nghiệm và trình bày sự hiểu biết của đệ tử về tiến trình điểm đạo; phương diện tâm thức chỉ ra một cách huyền nhiệm tốc độ mở rộng khi đệ tử đã trải qua tiến trình ấy; phương diện sự sống cho phép có sự tiếp xúc ngoài hành tinh, nhờ đó chỉ ra tương lai có thể có và các tiến trình đồng hoá sau cùng. Có thể thêm rằng nghi lễ thực tế cho phép đệ tử đi vào tình huynh đệ trọn vẹn với Thánh đoàn; rằng sự biểu hiện biểu tượng chỉ cho đệ tử Con Đường đi vào Shamballa, và rằng sự mặc khải được soi sáng trình bày cho điểm đạo đồ cây cầu giữa cõi hồng trần vũ trụ của chúng ta và các thế giới nội tại chủ quan và vũ trụ; lối vào cây cầu này (tôi đang nói bằng biểu tượng) [533] mặc khải sự hiện hữu của Antahkarana vũ trụ, do Đức Chúa Tể Thế Giới và nhóm các Đấng Chấp Hành của Ngài tạo ra.
This information concerning the initiatory process is coordinating in its nature and is of service to you only in this connection. It demonstrates the underlying solar synthesis which was the fundamental platform I gave out in A Treatise on Cosmic Fire. Beyond that implication, the information is of no use to you. It enables you, however, to begin to develop the esoteric sense of synthesis.
Thông tin này liên quan đến tiến trình điểm đạo có bản chất phối hợp và chỉ hữu ích cho bạn trong mối liên hệ ấy. Nó chứng minh sự tổng hợp thái dương nền tảng vốn là nền tảng cơ bản mà tôi đã trình bày trong Luận về Lửa Vũ Trụ. Ngoài hàm ý đó ra, thông tin này không có ích gì cho bạn. Tuy nhiên, nó giúp bạn bắt đầu phát triển ý thức huyền bí về sự tổng hợp.
These three grades of appreciation or of comprehension of the initiatory process are hinted at in the Masonic Work. The ceremonial aspect can be related to the degrees of Entered Apprentice and of Fellow Craft, plus certain little-practiced degrees, as for instance that of Mark Mason degree and one or two others; these are expansions of the implied teaching. The initiations, covered by the term symbolic representation, find their first hint in the sublime third degree, that of Master Mason, in the Holy Royal Arch and in one or two succeeding degrees; the higher degrees of the Scottish Rite constitute a vague and nebulous attempt to hold before the Masons of the world those expansions of consciousness and of growth into the Light which are experienced in the remaining higher initiations—those subject to the process called illumination through revelation.
Ba cấp độ đánh giá hay thấu hiểu tiến trình điểm đạo này được gợi ý trong Công Trình Tam Điểm. Phương diện nghi lễ có thể được liên hệ với các cấp bậc của Entered Apprentice và Fellow Craft, cộng với một số cấp bậc ít được thực hành, chẳng hạn như cấp Mark Mason và một hay hai cấp khác; đó là những mở rộng của giáo huấn hàm ẩn. Các lần điểm đạo, được bao hàm trong thuật ngữ sự biểu hiện biểu tượng, tìm thấy gợi ý đầu tiên của chúng trong cấp bậc thứ ba cao cả, tức Master Mason, trong Holy Royal Arch và trong một hay hai cấp tiếp theo; các cấp cao hơn của Scottish Rite cấu thành một nỗ lực mơ hồ và không rõ nét nhằm giữ trước mắt các Tam Điểm gia trên thế giới những sự mở rộng tâm thức và sự tăng trưởng vào Ánh sáng vốn được kinh nghiệm trong các lần điểm đạo cao hơn còn lại—những lần chịu sự chi phối của tiến trình được gọi là soi sáng qua mặc khải.
The Masonic Work is an ancient and laudable attempt to preserve in some germinal form the spiritual truth anent initiation. In spite of distortion, some loss of the Ancient Landmarks and a deplorable crystallisation, the truth is there and at a later date (in the early part of the next century) a group of enlightened Masons will re-arrange the rituals and adapt the present forms and formulas in such a manner that the spiritual possibilities, symbolically indicated, will emerge with greater clarity and a deepened spiritual potency; the coming form of Masonry in the New Age will necessarily rest upon the foundation of a newly interpreted and enlightened Christianity, having no relation to theology and being universal in [534] nature. Its present form, resting as it does on a Jewish foundation which is nearly five thousand years old, must disappear. This must take place, not because it is Jewish, but because it is old and reactionary and has not followed the evolutionary passage of the sun through the zodiac. That passage should and does symbolise human evolution, and just as the sin of the children of Israel in the wilderness was their reverting to a dispensation and religious ritual which had passed and gone (the religion of the people in the time of Taurus, the Bull, symbolised by their falling down and worshipping the golden calf), so today modern Masonry is in line to do the same; and the ancient usages and forms, consistent and right in the Jewish dispensation, are now obsolete and should be abrogated. It is equally true of the Jewish race that in the rejection of the Christ as the Messiah they have remained, metaphorically and practically, in the sign of Aries, the Ram, or of the Scapegoat; they have yet to pass into the sign (again speaking symbolically) of Pisces, the Fishes, and recognise their Messiah when He again comes in the sign Aquarius. Otherwise they are repeating their ancient sin of non-response to the evolutionary process.
Công Trình Tam Điểm là một nỗ lực cổ xưa và đáng ca ngợi nhằm bảo tồn dưới một hình thức mầm mống nào đó chân lý tinh thần liên quan đến điểm đạo. Bất chấp sự bóp méo, một phần mất mát của các Ancient Landmarks và một sự kết tinh đáng tiếc, chân lý vẫn ở đó và vào một ngày sau này (trong phần đầu của thế kỷ tới) một nhóm Tam Điểm gia giác ngộ sẽ sắp xếp lại các nghi thức và thích nghi các hình thức và công thức hiện nay theo cách sao cho các khả năng tinh thần, được chỉ ra một cách biểu tượng, sẽ xuất hiện với sự rõ ràng lớn hơn và một mãnh lực tinh thần sâu sắc hơn; hình thức Tam Điểm sắp đến trong Kỷ Nguyên Mới tất yếu sẽ đặt nền trên cơ sở của một Cơ Đốc giáo được diễn giải mới mẻ và giác ngộ, không liên hệ gì đến thần học và có bản chất phổ quát. Hình thức hiện nay của nó, vì đặt nền trên một cơ sở Do Thái đã gần năm nghìn năm tuổi, phải biến mất. Điều này phải xảy ra, không phải vì nó là Do Thái, mà vì nó cũ kỹ và phản động và đã không theo kịp sự vận hành tiến hoá của mặt trời qua hoàng đạo. Sự vận hành ấy nên và quả thực tượng trưng cho tiến hoá nhân loại, và cũng như tội lỗi của con cái Israel trong hoang mạc là việc họ quay trở lại một thời kỳ phân phối và nghi lễ tôn giáo đã qua và mất rồi (tôn giáo của dân chúng vào thời Kim Ngưu, Con Bò, được tượng trưng bằng việc họ sấp mình thờ con bê vàng), thì ngày nay Tam Điểm hiện đại cũng đang trên đường làm điều tương tự; và các tập tục và hình thức cổ xưa, nhất quán và đúng đắn trong thời kỳ Do Thái, nay đã lỗi thời và nên bị bãi bỏ. Điều này cũng đúng đối với chủng tộc Do Thái rằng trong việc khước từ Đức Christ như Đấng Messiah, họ đã vẫn còn, theo nghĩa ẩn dụ và thực tế, trong dấu hiệu hoàng đạo Bạch Dương, Con Cừu Đực, hay Con Dê Gánh Tội; họ còn phải đi vào dấu hiệu (lại nói theo biểu tượng) Song Ngư, Hai Con Cá, và nhận ra Đấng Messiah của họ khi Ngài lại đến trong dấu hiệu Bảo Bình. Nếu không, họ đang lặp lại tội lỗi xưa của mình là không đáp ứng với tiến trình tiến hoá.
Let us now consider what the initiatory process signifies to the disciple as he seeks to lead the dual life which it demands. You will note that I call it a process in contradistinction to the theosophical definition which regards it as a culminating ceremony of a period of training.
Giờ đây chúng ta hãy xét xem tiến trình điểm đạo có ý nghĩa gì đối với đệ tử khi y tìm cách sống đời sống nhị nguyên mà nó đòi hỏi. Bạn sẽ lưu ý rằng tôi gọi nó là một tiến trình để phân biệt với định nghĩa của Thông Thiên Học vốn xem nó như một nghi lễ cao trào của một thời kỳ huấn luyện.
The initiatory process is in reality the result of the activity of three energies:
Tiến trình điểm đạo thực ra là kết quả của hoạt động của ba năng lượng:
1. The energy generated by the disciple as he seeks to serve humanity.
1. Năng lượng do đệ tử tạo ra khi y tìm cách phụng sự nhân loại.
2. The energy made available to the disciple as he succeeds in building the antahkarana.
2. Năng lượng được cung cấp cho đệ tử khi y thành công trong việc xây dựng antahkarana.
3. The energy of the hierarchical Ashram into which he is being “absorbed” or integrated.
3. Năng lượng của ashram thánh đoàn mà y đang được “hấp thụ” vào hay được tích hợp vào.
It is these three energies, each with its own mode of expression and each producing its own specific results, which implement or engineer the initiatory process; these [535] energies are evoked by the disciple himself, and their increasing strength and revelatory capacity depend largely upon the disciple's determination, purpose and will, his persistence and spiritual integrity. It is through his understanding of the word “process” that the disciple discovers the true meaning of the occult statement that “before a man can tread the Path he must become that Path himself.” Increasingly the disciple finds what it is to become a creative agent, using the creative faculties of the mind and conforming increasingly (as he creates) to the Plan of the Creator, the Lord of the World.
Chính ba năng lượng này, mỗi năng lượng với phương thức biểu lộ riêng và mỗi năng lượng tạo ra các kết quả đặc thù riêng, thực hiện hay điều hành tiến trình điểm đạo; các [535] năng lượng này được chính đệ tử gợi lên, và sức mạnh ngày càng tăng cùng năng lực mặc khải của chúng phần lớn tùy thuộc vào quyết tâm, mục đích và ý chí của đệ tử, vào sự kiên trì và tính toàn vẹn tinh thần của y. Chính qua sự hiểu biết của mình về từ “tiến trình” mà đệ tử khám phá ý nghĩa chân thực của phát biểu huyền bí rằng “trước khi một người có thể bước trên Con Đường, y phải tự mình trở thành Con Đường ấy.” Đệ tử ngày càng khám phá ra ý nghĩa của việc trở thành một tác nhân sáng tạo, sử dụng các năng lực sáng tạo của trí tuệ và ngày càng tuân theo (khi y sáng tạo) Thiên Cơ của Đấng Sáng Tạo, Đức Chúa Tể Thế Giới.
The first three initiations are definitely and in a most mysterious way concerned with the creative work, and with the spiritual expression in a human being of the third aspect of divinity, that of intelligent activity. The fourth, fifth and sixth initiations are as definitely related to the second aspect of love-wisdom as it expresses itself through created forms; the seventh, eighth and ninth initiations are occultly “inspired” by the first divine aspect, that of the Will. Only, therefore, at the ninth initiation is the human being a full and true expression of divinity; he then realises that in him all the divine aspects meet. Through them he is consciously, creatively and constructively en rapport with the consciousness of the One in Whom we live and move and have our being. All this is the result of a process and the effect of the inherent livingness which is found in all forms of life from the tiny atom up to Those great Lives Who are little more than names to the disciple.
Ba lần điểm đạo đầu tiên rõ ràng và theo một cách rất huyền nhiệm liên hệ đến công việc sáng tạo, và đến sự biểu lộ tinh thần trong một con người của phương diện thứ ba của thiên tính, tức hoạt động thông minh. Lần điểm đạo thứ tư, thứ năm và thứ sáu cũng rõ ràng liên hệ đến phương diện thứ hai của bác ái – minh triết khi nó biểu lộ qua các hình tướng được sáng tạo; lần điểm đạo thứ bảy, thứ tám và thứ chín được “truyền cảm hứng” một cách huyền bí bởi phương diện thiêng liêng thứ nhất, tức Ý Chí. Vì vậy, chỉ ở lần điểm đạo thứ chín con người mới là một biểu lộ trọn vẹn và chân thực của thiên tính; khi ấy y nhận ra rằng trong y mọi phương diện thiêng liêng gặp nhau. Qua chúng y có ý thức, một cách sáng tạo và xây dựng, trong sự tương thông với tâm thức của Đấng Duy Nhất mà trong Ngài chúng ta sống, di chuyển và có bản thể của mình. Tất cả điều này là kết quả của một tiến trình và là hiệu quả của sự sống động cố hữu được tìm thấy trong mọi hình thức sự sống từ nguyên tử nhỏ bé cho đến các Sự Sống vĩ đại kia, những Đấng đối với đệ tử chỉ hơn những cái tên một chút.
This initiation process governs the dual life of the disciple in three ways:
Tiến trình điểm đạo này chi phối đời sống nhị nguyên của đệ tử theo ba cách:
1. It is expressed in the results effected in the three worlds and in the tangible and growing proof he gives of definitely defined areas of attainment.
1. Nó được biểu lộ trong các kết quả được tạo ra trong ba cõi giới và trong bằng chứng hữu hình, ngày càng tăng mà y đưa ra về những lĩnh vực thành tựu được xác định rõ ràng.
2. It is demonstrated as effects in his consciousness in the form of an increasing fusion of soul and personality as well as growing power to invoke the inflow of the higher light, through the medium of the antahkarana. [536]
2. Nó được chứng minh như những hiệu quả trong tâm thức của y dưới hình thức một sự dung hợp ngày càng tăng của linh hồn và phàm ngã cũng như quyền năng ngày càng tăng để khẩn cầu dòng ánh sáng cao hơn tuôn vào, qua trung gian của antahkarana. [536]
3. It is revealed both through the Spiritual Triad and the soul-infused personality as they unitedly prove the livingness of the divine Love-Nature. As this revelation takes hold of the disciple's consciousness and conditions his expressive form of service, it initiates him into that mysterious area of the divine consciousness which we call the “Heart of God”; this is our planetary correspondence to the “Heart of the Sun.” The heart of God, i.e., of our planetary Logos, and the heart of the Sun, i.e., the solar Logos, are mysteriously related, and it is through this sustained relation that it becomes possible for human beings to enter the Hierarchy. Forget not that the Hierarchy is the expression of the energy of love. The relationship also enables them eventually to pass off the cosmic physical plane on to the cosmic astral plane.
3. Nó được mặc khải qua cả Tam Nguyên Tinh Thần lẫn phàm ngã được linh hồn thấm nhuần khi cả hai cùng nhau chứng minh sự sống động của Bản Chất Bác Ái thiêng liêng. Khi sự mặc khải này nắm lấy tâm thức của đệ tử và tác động lên hình thức biểu lộ phụng sự của y, nó điểm đạo y vào lĩnh vực huyền nhiệm của tâm thức thiêng liêng mà chúng ta gọi là “Trái Tim của Thượng đế”; đây là sự tương ứng hành tinh của chúng ta với “Trái Tim của Mặt Trời.” Trái tim của Thượng đế, tức của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, và trái tim của Mặt Trời, tức Thái dương Thượng đế, liên hệ với nhau một cách huyền nhiệm, và chính nhờ mối liên hệ được duy trì này mà con người có thể đi vào Thánh đoàn. Đừng quên rằng Thánh đoàn là biểu hiện của năng lượng bác ái. Mối liên hệ này cũng giúp họ cuối cùng có thể rời khỏi cõi hồng trần vũ trụ để đi vào cõi cảm dục vũ trụ.
Each divine aspect has three subsidiary aspects, and in our planet and on the cosmic physical plane the lowest aspect of love (that which we call the Will-to-Good) is revealed. For humanity, struggling upon this cosmic physical plane, we subdivide unconsciously this will-to-good into three aspects; these we are only today beginning to grasp as existent possibilities. The lowest aspect we call goodwill. little realising the attitude to the universal goal which it sets; the second aspect we vaguely call love and hope to demonstrate that we do demonstrate love through our affiliation with the Hierarchy; the highest we call the will-to-good and leave it undefined because it is in no way possible, even for initiates of the fifth initiation, truly to comprehend what is the nature and purpose of the will-to-good which conditions divine activity.
Mỗi phương diện thiêng liêng có ba phương diện phụ, và trên hành tinh chúng ta cũng như trên cõi hồng trần vũ trụ, phương diện thấp nhất của bác ái (điều mà chúng ta gọi là Ý Chí-hướng Thiện) được mặc khải. Đối với nhân loại, đang vật lộn trên cõi hồng trần vũ trụ này, chúng ta vô thức phân chia ý chí-hướng thiện này thành ba phương diện; ngày nay chúng ta mới chỉ bắt đầu nắm bắt chúng như những khả năng hiện hữu. Phương diện thấp nhất chúng ta gọi là thiện chí, ít nhận ra thái độ đối với mục tiêu phổ quát mà nó thiết lập; phương diện thứ hai chúng ta mơ hồ gọi là bác ái và hy vọng biểu lộ nó, rằng chúng ta thực sự biểu lộ bác ái qua sự liên kết của mình với Thánh đoàn; phương diện cao nhất chúng ta gọi là Ý Chí-hướng Thiện và để nó không được định nghĩa vì hoàn toàn không thể, ngay cả đối với các điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ năm, thực sự hiểu được bản chất và mục đích của ý chí-hướng thiện vốn tác động lên hoạt động thiêng liêng.
The emphasis in the earlier teaching was upon character as the determining factor in deciding whether a man could “take initiation” (as it was called), and this was another of the presentations which have greatly misled aspirants. Character is of major importance—of such recognised importance that it is not necessary to dwell upon it. It is character, however, which enables a man to become a disciple with the aim in view of eventually entering [537] the Ashram of a Master and passing then through the processes of initiation. It is character which is rightly regarded as the first requirement when a man steps off the Probationary Path on to the Path of Discipleship. But he is still, however, a long way from his goal, and a long way from being accepted by a Master as a disciple. The truth might be expressed this way: When the disciple's eyes are removed from himself and his functioning in the three worlds is becoming spiritually controlled (or is in process of being controlled), then he is faced with becoming a truly mental being, with the focus of his life upon the mental level where it is subject to soul control; it then in turn becomes the directing agent of the man upon the physical plane. This does not mean that he is occupied with making his lower concrete mind active, directing and illumined; that is taking place gradually and automatically through the pressure of the higher influences pouring into and through him. He is occupied with the task of becoming aware of the activities of his higher or abstract mind and of the pure reason which controls and animates the buddhic plane, and which is itself susceptible to impression from the Monad. That plane has to become the one toward which his mental consciousness looks and upon which it focusses its attention. There it must be polarized, in the same sense as the consciousness of average humanity is today polarised on the plane of the emotions and of astral activity but is shifting with rapidity on to the mental plane.
Sự nhấn mạnh trong giáo huấn trước đây đặt trên Tính cách như yếu tố quyết định trong việc xác định liệu một người có thể “điểm đạo” hay không (như người ta gọi), và đây là một cách trình bày khác đã gây hiểu lầm rất lớn cho những người chí nguyện. Tính cách quả thật có tầm quan trọng lớn—một tầm quan trọng được thừa nhận đến mức không cần phải bàn dài về nó. Tuy nhiên, chính tính cách cho phép một người trở thành đệ tử với mục tiêu cuối cùng là đi vào [537] ashram của một Chân sư và rồi trải qua các tiến trình điểm đạo. Chính tính cách được xem một cách đúng đắn là yêu cầu đầu tiên khi một người bước khỏi Con Đường Dự Bị để vào Con Đường Đệ Tử. Nhưng dù vậy, y vẫn còn rất xa mục tiêu của mình, và còn rất xa việc được một Chân sư chấp nhận làm đệ tử. Chân lý có thể được diễn đạt như sau: Khi mắt của đệ tử được rời khỏi chính mình và sự hoạt động của y trong ba cõi giới đang trở nên được kiểm soát về mặt tinh thần (hoặc đang trong tiến trình được kiểm soát), thì y phải đối diện với việc trở thành một hữu thể thực sự trí tuệ, với trọng tâm đời sống của y ở cấp độ trí tuệ nơi nó chịu sự kiểm soát của linh hồn; đến lượt nó, khi ấy nó trở thành tác nhân chỉ đạo con người trên cõi hồng trần. Điều này không có nghĩa là y bận tâm làm cho hạ trí cụ thể của mình trở nên hoạt động, chỉ đạo và được soi sáng; điều đó đang diễn ra dần dần và tự động qua áp lực của các ảnh hưởng cao hơn đang tuôn vào và xuyên qua y. Y bận tâm với nhiệm vụ trở nên nhận biết các hoạt động của thượng trí hay trí trừu tượng của mình và của lý trí thuần túy vốn kiểm soát và làm sinh động cõi Bồ đề, và bản thân nó lại có thể tiếp nhận sự ghi ấn từ chân thần. Cõi ấy phải trở thành cõi mà tâm thức trí tuệ của y hướng đến và trên đó nó tập trung sự chú ý. Ở đó nó phải được phân cực, theo cùng nghĩa mà tâm thức của nhân loại trung bình ngày nay được phân cực trên cõi cảm xúc và hoạt động cảm dục nhưng đang nhanh chóng chuyển sang cõi trí.
This involves a dual activity; the lower mind becomes a potent factor in directing the service activities of the disciple. These activities become the major motivating potency in the disciple's life and are a consequence of a growing soul fusion with the personality, thus developing and unfolding his sense of inclusiveness. Inclusiveness is the supreme key to the understanding of consciousness. At the same time, the higher mind is impressing the lower mind and drawing it into a higher fusion with itself.
Điều này bao hàm một hoạt động nhị nguyên; hạ trí trở thành một yếu tố mạnh mẽ trong việc chỉ đạo các hoạt động phụng sự của đệ tử. Những hoạt động này trở thành mãnh lực thúc đẩy chủ yếu trong đời sống của đệ tử và là hệ quả của sự dung hợp ngày càng tăng của linh hồn với phàm ngã, nhờ đó phát triển và khai mở ý thức bao gồm của y. Tính bao gồm là chìa khóa tối thượng để hiểu tâm thức. Đồng thời, thượng trí đang ghi ấn lên hạ trí và kéo nó vào một sự dung hợp cao hơn với chính nó.
This process of unfoldment creates certain major points of successive fusions, with consequent points of tension; [538] these points of tension (when consciously attained) become the actuating energy which enables the disciple to “stand in the light and in that light see greater Light; within that greater Light he knows and sees, grasps and absorbs that which has hitherto been dark and secret and unknown.” This is initiation.
Tiến trình khai mở này tạo ra một số điểm lớn của những sự dung hợp kế tiếp nhau, với các điểm tập trung nhất tâm kéo theo; [538] những điểm tập trung nhất tâm này (khi được đạt đến một cách hữu thức) trở thành năng lượng thúc đẩy giúp đệ tử “đứng trong ánh sáng và trong ánh sáng ấy thấy Ánh sáng lớn hơn; bên trong Ánh sáng lớn hơn ấy y biết và thấy, nắm bắt và hấp thụ điều mà cho đến nay vẫn tối tăm, bí mật và chưa được biết.” Đó là điểm đạo.
Periods of search, periods of pain, periods of detachment, periods of revelation producing points of fusion, points of tension and points of energy projection—such is the story of the Path of Initiation.
Những giai đoạn tìm kiếm, những giai đoạn đau khổ, những giai đoạn tách rời, những giai đoạn mặc khải tạo ra các điểm dung hợp, các điểm tập trung nhất tâm và các điểm phóng chiếu năng lượng—đó là câu chuyện của Con Đường Điểm Đạo.
Initiation is in truth the name given to the revelation or new vision which ever draws the disciple onward into greater light; it is not something conferred upon him or given to him. It is a process of light recognition and of light utilisation in order to enter into ever clearer light. Progress from a dimly lighted area in the divine manifestation into one of supernal glory is the story of the Path of Evolution.
Điểm đạo thật ra là tên gọi dành cho sự mặc khải hay linh ảnh mới luôn luôn kéo đệ tử tiến lên vào ánh sáng lớn hơn; nó không phải là điều gì được ban cho y hay trao cho y. Nó là một tiến trình nhận biết ánh sáng và sử dụng ánh sáng để đi vào ánh sáng ngày càng rõ hơn. Sự tiến bộ từ một khu vực mờ sáng trong biểu hiện thiêng liêng sang một khu vực của vinh quang thiên thượng là câu chuyện của Con Đường Tiến Hóa.
In the Masters' Archives there are some Rules for Disciples of very ancient origin. Among them is one that is so old and so abstruse that it is only now possible to bring it to the attention of humanity, owing to the increased mental and Spiritual perception of the modern aspirant. It can be inadequately translated as follows:
Trong Văn Khố của các Chân sư có một số Quy Luật cho Đệ Tử có nguồn gốc rất cổ xưa. Trong số đó có một quy luật cổ đến mức và thâm áo đến mức chỉ bây giờ mới có thể đưa ra trước sự chú ý của nhân loại, do tri giác trí tuệ và tinh thần gia tăng của người chí nguyện hiện đại. Nó có thể được dịch một cách chưa đầy đủ như sau:
“The light is seen, a tiny point of piercing light. This light is warm and red. It nearer draws as it reveals the things that are, the things which may be. It pierces the third centre and removes all glamour and desire.
“Ánh sáng được thấy, một điểm nhỏ của ánh sáng xuyên thấu. Ánh sáng này ấm và đỏ. Nó tiến lại gần hơn khi nó mặc khải những điều đang là, những điều có thể là. Nó xuyên qua trung tâm thứ ba và xua tan mọi ảo cảm và dục vọng.
“A light is seen through the medium of the lower light—a light of warmth and heat. It pierces to the heart and in that light all forms are seen pervaded by a glowing light. The world of lighted forms is now perceived, linked each to each by light. This light is blue, and flaming is its nature. Between the warm and reddish light and this clear light there burns a glow of flame—a flame which must be entered, ere the light of blue is entered and is used. [539]
“Một ánh sáng được thấy qua trung gian của ánh sáng thấp hơn—một ánh sáng của sự ấm áp và nhiệt. Nó xuyên đến trái tim và trong ánh sáng ấy mọi hình tướng được thấy là thấm nhuần bởi một ánh sáng rực cháy. Thế giới của những hình tướng được soi sáng giờ đây được tri giác, mỗi hình tướng liên kết với nhau bằng ánh sáng. Ánh sáng này màu xanh lam, và bản chất của nó là bốc lửa. Giữa ánh sáng ấm và đỏ ấy với ánh sáng trong trẻo này có một quầng lửa bừng cháy—một ngọn lửa phải được đi vào trước khi ánh sáng xanh lam được đi vào và được sử dụng. [539]
“Another light is then perceived, the clear cold light which is not light but darkness in its purest purity—the LIGHT of God Himself. It renders dark all else beside Itself; all forms fade out and yet the whole of life is there. It is not light as we know light. It is that pure essential essence of that Light which reveals Itself through light.”
“Rồi một ánh sáng khác được tri giác, ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo không phải là ánh sáng mà là bóng tối trong sự tinh khiết thuần túy nhất của nó—ÁNH SÁNG của chính Thượng đế. Nó làm cho mọi thứ khác trở nên tối tăm bên cạnh Chính Nó; mọi hình tướng mờ đi nhưng toàn thể sự sống vẫn ở đó. Nó không phải là ánh sáng như chúng ta biết ánh sáng. Nó là tinh chất cốt yếu thuần túy của Ánh Sáng ấy, Đấng tự mặc khải qua ánh sáng.”
It was the second light to which the Buddha and the Christ both referred when They said: “I am the light of the world.” It is the Light of God Himself, the Lord of the Worlds, in which the Lives within the Council Chamber of Shamballa live and move and have Their Being.
Chính ánh sáng thứ hai này mà cả Đức Phật lẫn Đức Christ đều nói đến khi Các Ngài phán: “Ta là ánh sáng của thế gian.” Đó là Ánh Sáng của chính Thượng đế, Đức Chúa Tể các Thế Giới, trong đó các Sự Sống bên trong Phòng Hội Đồng của Shamballa sống, di chuyển và có Bản Thể của Các Ngài.
It is the recognition of the varying “lights” upon the Lighted Way that signifies readiness for initiation. The initiate enters into light in a peculiar sense; it permeates his nature according to his development at any point in time and space; it enables him to contact and see the hitherto unseen, and on the basis of the newly acquired knowledge to direct his steps still further.
Chính sự nhận biết các “ánh sáng” khác nhau trên Con Đường được Soi Sáng biểu thị sự sẵn sàng cho điểm đạo. Điểm đạo đồ đi vào ánh sáng theo một ý nghĩa đặc biệt; nó thấm vào bản chất của y tùy theo sự phát triển của y tại bất kỳ điểm nào trong thời gian và không gian; nó giúp y tiếp xúc và thấy điều trước đây chưa thấy, và trên cơ sở tri thức mới thu nhận được, chỉ đạo các bước chân của mình đi xa hơn nữa.
I am not here speaking in symbols. Each initiation dims the light already acquired and used, and then immerses the initiate in a higher light. Each initiation enables the disciple to perceive an area of divine consciousness hitherto unknown but which, when the disciple has familiarised himself with it and with its unique phenomena, vibratory quality and interrelations, becomes for him a normal field of experience and activity. Thus (if I may so express it) the “worlds of living forms and formless lives become his own.” Again duality enters into his mental perception, for he is now aware of the lighted area from which he comes to the point of tension or of initiation; through the initiatory process he discovers a new and more brilliantly lighted area into which he may now enter. This involves no leaving of the former field of activity in which he has worked and lived; it simply means that new fields of responsibility and of opportunity confront him because he is—through his own effort—able to see more light, to walk in a greater light, to prove more adequately than [540] heretofore his capacities within the greatly increased area of possibility.
Ở đây tôi không nói bằng biểu tượng. Mỗi lần điểm đạo làm mờ ánh sáng đã thu nhận và sử dụng trước đó, rồi nhấn chìm điểm đạo đồ vào một ánh sáng cao hơn. Mỗi lần điểm đạo giúp đệ tử tri giác một lĩnh vực của tâm thức thiêng liêng trước đây chưa biết, nhưng khi đệ tử đã làm quen với nó và với các hiện tượng độc đáo, phẩm tính rung động và các tương liên của nó, thì nó trở thành đối với y một lĩnh vực kinh nghiệm và hoạt động bình thường. Như vậy (nếu tôi có thể diễn đạt như thế) “các thế giới của những hình tướng sống động và những sự sống vô tướng trở thành của riêng y.” Một lần nữa nhị nguyên tính đi vào tri giác trí tuệ của y, vì giờ đây y nhận biết lĩnh vực được soi sáng mà từ đó y đi đến điểm tập trung nhất tâm hay điểm đạo; qua tiến trình điểm đạo y khám phá một lĩnh vực mới và được soi sáng rực rỡ hơn mà giờ đây y có thể đi vào. Điều này không bao hàm việc rời bỏ lĩnh vực hoạt động trước kia nơi y đã làm việc và sống; nó chỉ đơn giản có nghĩa là những lĩnh vực trách nhiệm và cơ hội mới đối diện với y vì y—qua nỗ lực của chính mình—có thể thấy nhiều ánh sáng hơn, bước đi trong ánh sáng lớn hơn, chứng tỏ đầy đủ hơn [540] trước đây các năng lực của mình trong lĩnh vực khả thể đã được mở rộng rất nhiều.
Initiation is, therefore, a constant fusion of the lights, progressively entered, thus enabling the initiate to see further, deeper and more inclusively. As one of the Masters has said: “The light must enter vertically and be diffused or radiated horizontally.” This creates the cross of service upon which the disciple is pendant until the Cross of Sanat Kumara is revealed to him; he knows then why this planet is—for wise and adequate reasons—the planet of distress, dispassion and detachment. When he knows this, he knows all that our planetary life can tell him and reveal to him. He has transmuted knowledge into wisdom.
Vì vậy, điểm đạo là một sự dung hợp liên tục của các ánh sáng, được đi vào dần dần, nhờ đó giúp điểm đạo đồ thấy xa hơn, sâu hơn và bao quát hơn. Như một trong các Chân sư đã nói: “Ánh sáng phải đi vào theo chiều dọc và được khuếch tán hay bức xạ theo chiều ngang.” Điều này tạo ra thập giá phụng sự mà trên đó đệ tử bị treo cho đến khi Thập Giá của Đức Sanat Kumara được mặc khải cho y; khi ấy y biết vì sao hành tinh này—vì những lý do minh triết và đầy đủ—là hành tinh của khổ đau, vô dục và tách rời. Khi y biết điều này, y biết tất cả những gì đời sống hành tinh của chúng ta có thể nói cho y và mặc khải cho y. Y đã chuyển hoá tri thức thành minh triết.
It is at the centre of this cross of service that the point of fusion and the point of tension must be found. The point of fusion is created by the focussing of all the power, aims and desires of the disciple dynamically upon the mental plane; the point of tension is created when the invocative power of this focal point becomes capable of evoking response from that which is invoked. For the average aspirant and for the disciple, this is either the soul or the Spiritual Triad. The meeting of the two focussed energies produces a point of tension. Disciples should not focus their attention upon the task of producing a point of tension. They should remember the life of dual activity; i.e., that which he is at any given moment of endeavour, and that with which he can fuse and blend this sum total of his achieved development. The potency of his thinking along these dual lines will automatically produce the point of tension, through the medium of the fusion of the appropriate dualities. It is through the activity of the lower mind that fusion with the soul is brought about, with successive, intensifying points of tension; it is through the activity established between higher and lower mind that fusion with the Spiritual Triad becomes possible, with points of tension arising at many points along the bridge, the antahkarana; it is through the activity of pure reason that fusion with the Hierarchy becomes possible, and it [541] is that which produces those points of tension which we call Initiations. There are necessarily still higher points of tension, but it is with those called initiations that we are dealing at this time.
Chính tại trung tâm của thập giá phụng sự này mà điểm dung hợp và điểm tập trung nhất tâm phải được tìm thấy. Điểm dung hợp được tạo ra bởi sự tập trung một cách năng động trên cõi trí của toàn bộ quyền năng, mục tiêu và dục vọng của đệ tử; điểm tập trung nhất tâm được tạo ra khi quyền năng khẩn cầu của điểm tập trung ấy trở nên có khả năng gợi lên sự đáp ứng từ điều được khẩn cầu. Đối với người chí nguyện trung bình và đối với đệ tử, đó hoặc là linh hồn hoặc là Tam Nguyên Tinh Thần. Sự gặp gỡ của hai năng lượng được tập trung tạo ra một điểm tập trung nhất tâm. Các đệ tử không nên tập trung sự chú ý của mình vào nhiệm vụ tạo ra một điểm tập trung nhất tâm. Họ nên ghi nhớ đời sống của hoạt động nhị nguyên; tức là, điều mà y là tại bất kỳ thời điểm nỗ lực nào, và điều mà y có thể dung hợp và hòa trộn tổng số sự phát triển đã đạt được này với nó. Hiệu lực của tư tưởng của y khi đi theo các đường nhị nguyên này sẽ tự động tạo ra điểm tập trung nhất tâm, qua trung gian của sự dung hợp các nhị nguyên tính thích hợp. Chính qua hoạt động của hạ trí mà sự dung hợp với linh hồn được mang lại, với các điểm tập trung nhất tâm liên tiếp và tăng cường; chính qua hoạt động được thiết lập giữa thượng trí và hạ trí mà sự dung hợp với Tam Nguyên Tinh Thần trở nên có thể, với các điểm tập trung nhất tâm phát sinh tại nhiều điểm dọc theo cây cầu, antahkarana; chính qua hoạt động của lý trí thuần túy mà sự dung hợp với Thánh đoàn trở nên có thể, và [541] chính điều đó tạo ra những điểm tập trung nhất tâm mà chúng ta gọi là Điểm đạo. Tất nhiên còn có những điểm tập trung nhất tâm cao hơn nữa, nhưng hiện nay chúng ta đang bàn đến những điểm được gọi là điểm đạo.
Light may enter your mind in this connection if you will constantly bear in mind the essential duality of manifestation itself; the negative and the positive poles present within the consciousness of every form. The achieved point of fusion (the result of active and positive work and effort) is rendered negative to that which is being invoked, and by this means another and positive point of tension can be achieved. Initiation—a dramatic and a major point of tension—connotes essentially the fusion of the negative and the positive aspects. Owing to this, in all initiatory processes, it is the will of the disciple which is active and which produces, first of all, a fusion and (as a consequence) the appearance of a point of tension.
Ánh sáng có thể đi vào trí tuệ bạn trong mối liên hệ này nếu bạn luôn ghi nhớ nhị nguyên tính cốt yếu của chính sự biểu hiện; các cực âm và dương hiện diện trong tâm thức của mọi hình tướng. Điểm dung hợp đã đạt được (kết quả của công việc và nỗ lực tích cực, chủ động) được làm cho trở thành âm đối với điều đang được khẩn cầu, và bằng phương tiện này một điểm tập trung nhất tâm khác và dương tính có thể đạt được. Điểm đạo—một điểm tập trung nhất tâm đầy kịch tính và quan trọng—về bản chất hàm ý sự dung hợp của các phương diện âm và dương. Do đó, trong mọi tiến trình điểm đạo, chính ý chí của đệ tử là yếu tố hoạt động và tạo ra, trước hết, một sự dung hợp và (như một hệ quả) sự xuất hiện của một điểm tập trung nhất tâm.
Let me illustrate. In the work of creating the antahkarana, the disciple first of all and as far as in him lies, through the medium of positive mental labour, focusses himself upon the mental plane. The fusion of the soul and of time personality is then present and is the result of a positive activity. The quality and the vibratory nature of that positive focal point is then rendered negative to that higher vibration or contact which is invoked by the existent radiance and potency. The response from the opposite pole is (if the disciple could but realise it) immediate and to the extent possible, determined by the disciple's point of attainment.
Hãy để tôi minh họa. Trong công việc tạo ra antahkarana, trước hết đệ tử, trong chừng mực có thể, qua trung gian của lao động trí tuệ tích cực, tập trung chính mình trên cõi trí. Khi ấy sự dung hợp của linh hồn và phàm ngã theo thời gian hiện diện và là kết quả của một hoạt động tích cực. Phẩm tính và bản chất rung động của điểm tập trung tích cực ấy sau đó được làm cho trở thành âm đối với rung động hay tiếp xúc cao hơn đang được khẩn cầu bởi bức xạ hiện hữu và hiệu lực. Sự đáp ứng từ cực đối diện là (nếu đệ tử có thể nhận ra điều đó) tức thì và, trong mức độ có thể, được quyết định bởi điểm thành tựu của đệ tử.
This invocative-evocative activity produces a point of tension but not—as yet—a point of fusion with the positive pole. From that point of tension the disciple works at the creation of the antahkarana; this will eventually bring about the desired fusion between the soul-infused personality and the Spiritual Triad. The same general process dictates all the desired fusions and produces those points of tension which are the secret of all growth. These [542] points of fusion and of tension the disciple consciously endeavours to bring about.
Hoạt động khẩn cầu-gợi lên này tạo ra một điểm tập trung nhất tâm nhưng chưa—vào lúc này—tạo ra một điểm dung hợp với cực dương. Từ điểm tập trung nhất tâm ấy đệ tử hoạt động để tạo ra antahkarana; điều này cuối cùng sẽ mang lại sự dung hợp mong muốn giữa phàm ngã được linh hồn thấm nhuần và Tam Nguyên Tinh Thần. Cùng một tiến trình tổng quát chi phối mọi sự dung hợp mong muốn và tạo ra những điểm tập trung nhất tâm vốn là bí mật của mọi tăng trưởng. Những [542] điểm dung hợp và tập trung nhất tâm này, đệ tử một cách hữu thức nỗ lực mang lại.
These are the broad and general lines governing the initiatory process; the work here indicated is followed by all disciple-initiates of all degrees, and even by the Lord of the World Himself. He, in His high Place, holds the manifested world of energies in a state of fusion; points of tension successively occur as a consequence of a growing divine realisation within these forms of intelligent activity, of love-wisdom and of the will-to-good. These points of tension vary according to the divine purpose and the individual initiatory problem of Sanat Kumara Himself, as He submits to a cosmic initiatory process. Such a point of tension, of stupendous magnitude, is present in the world today; the intention behind this realised fusion and tension is to enable humanity (as an integral part of the divine body of manifestation) to move forward into greater light and nearer to the “heart of love,” which is the Hierarchy. As this takes place—and it is taking place—the Hierarchy Itself moves nearer to a conscious fusion with Humanity. The point of tension thereby achieved—and this has not yet appeared—will produce the Kingdom of God on Earth in exoteric form.
Đây là những đường nét rộng lớn và tổng quát chi phối tiến trình điểm đạo; công việc được chỉ ra ở đây được mọi đệ tử-điểm đạo đồ ở mọi cấp độ tuân theo, và ngay cả chính Đức Chúa Tể Thế Giới cũng vậy. Ngài, ở cương vị cao cả của Ngài, giữ thế giới biểu hiện của các năng lượng trong một trạng thái dung hợp; các điểm tập trung nhất tâm lần lượt xuất hiện như một hệ quả của sự chứng nghiệm thiêng liêng ngày càng tăng bên trong các hình tướng của hoạt động thông tuệ, của bác ái-minh triết và của Ý Chí-hướng Thiện. Các điểm tập trung nhất tâm này thay đổi tùy theo Thiên Ý và vấn đề điểm đạo cá nhân của chính Đức Sanat Kumara, khi Ngài thuận phục một tiến trình điểm đạo vũ trụ. Một điểm tập trung nhất tâm như thế, có tầm vóc phi thường, hiện đang hiện diện trong thế giới ngày nay; ý định đằng sau sự dung hợp và nhất tâm đã được chứng nghiệm này là giúp nhân loại (như một phần toàn vẹn của thể biểu hiện thiêng liêng) tiến vào ánh sáng lớn lao hơn và đến gần hơn với “trái tim của bác ái,” tức là Thánh đoàn. Khi điều này diễn ra—và nó đang diễn ra—chính Thánh đoàn cũng tiến gần hơn đến một sự dung hợp hữu thức với Nhân loại. Điểm tập trung nhất tâm nhờ đó đạt được—và điều này vẫn chưa xuất hiện—sẽ tạo ra Thiên Giới trên Trái Đất dưới hình thức ngoại môn.
We will now consider one of the lesser, though essential, fusions which must be achieved by the disciple, producing consequently in his life a point or points of tension.
Giờ đây chúng ta sẽ xét đến một trong những sự dung hợp nhỏ hơn, tuy thiết yếu, mà đệ tử phải đạt được, và do đó tạo ra trong đời sống của y một hay nhiều điểm tập trung nhất tâm.