← The Real World of Fairies – van Gelder Kunz, Dora song ngữ

Table of Contents – Mục Lục

Table of Contents – Mục Lục

Title Page

Trang Tựa

Copyright

Bản Quyền

Contents

Nội Dung

Foreword By Caitlín Matthews

Lời Tựa của Caitlín Matthews

1: Introduction To Fairy Worlds

1: Dẫn Nhập Vào Các Thế Giới Tiên

2: Dialogues With Little People

2: Đối Thoại Với Những Người Bé Nhỏ

3: A Typical Fairy

3: Một Nàng Tiên Điển Hình

4: Fairy Life

4: Đời Sống Tiên

5: Earth Fairies

5: Các Tiên Đất

6: Garden Fairies

6: Các Tiên Trong Vườn

7: Tree Spirits

7: Các Tinh Linh Cây

8: Mountain Fairies

8: Các Tiên Núi

9: Water Fairies

9: Các Tiên Nước

10: Fire Fairies

10: Các Tiên Lửa

11: Air Fairies

11: Các Tiên Khí

12: The Hurricane

12: Cơn Bão

Epilogue: Present Conditions

Lời bạt: Những điều kiện hiện nay

Roster Of Fairies

Danh sách các tiên

THE REAL WORLD

THẾ GIỚI THỰC

OF FAIRIES

CỦA CÁC TIÊN

A First-Person Account

Một tường thuật ngôi thứ nhất

DORA VAN GELDER

DORA VAN GELDER

A publication supported by

Một ấn phẩm được hỗ trợ bởi

THE KERN FOUNDATION

QUỸ KERN

CONTENTS – MỤC LỤC

FOREWORD BY CAITLÍN MATTHEWS

LỜI TỰA CỦA CAITLÍN MATTHEWS

1 INTRODUCTION TO FAIRY WORLDS

1 DẪN NHẬP VÀO CÁC THẾ GIỚI TIÊN

2 DIALOGUES WITH LITTLE PEOPLE

2 ĐỐI THOẠI VỚI NHỮNG NGƯỜI BÉ NHỎ

3 A TYPICAL FAIRY

3 MỘT TIÊN ĐIỂN HÌNH

4 FAIRY LIFE

4 ĐỜI SỐNG CỦA TIÊN

5 EARTH FAIRIES

5 CÁC TIÊN ĐẤT

6 GARDEN FAIRIES

6 CÁC TIÊN VƯỜN

7 TREE SPIRITS

7 CÁC TINH LINH CÂY

8 MOUNTAIN FAIRIES

8 CÁC TIÊN NÚI

9 WATER FAIRIES

9 CÁC TIÊN NƯỚC

10 FIRE FAIRIES

10 CÁC TIÊN LỬA

11 AIR FAIRIES

11 CÁC TIÊN KHÍ

12 THE HURRICANE

12 CƠN BÃO

EPILOGUE: PRESENT CONDITIONS

LỜI BẠT: NHỮNG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY

ROSTER OF FAIRIES

DANH SÁCH CÁC TIÊN

FOREWORD – LỜI TỰA

BY CAITLÍN MATTHEWS

CỦA CAITLÍN MATTHEWS

It is my pleasure to introduce the reader to the visionary encounters of Dora van Gelder in this new edition of The Real World of Fairies. The openhearted experiences of the writer reveal a wondrous realm which many will recognize from their own childhood, wherein each tree was inhabited by its native spirit and certain mysterious places held the possibility of joyful communion with our companions and neighbors of the natural world: beings unseen to most adults.

Tôi hân hạnh giới thiệu với độc giả những cuộc gặp gỡ đầy linh ảnh của Dora van Gelder trong ấn bản mới này của Thế Giới Thực của Các Tiên. Những trải nghiệm rộng mở tâm hồn của tác giả mặc khải một cảnh giới kỳ diệu mà nhiều người sẽ nhận ra từ chính tuổi thơ của mình, nơi mỗi cây đều có tinh linh bản địa cư ngụ, và một số nơi chốn huyền bí hàm chứa khả năng giao cảm hoan hỉ với những bạn đồng hành và láng giềng của chúng ta trong thế giới tự nhiên: những sinh linh mà phần lớn người lớn không nhìn thấy.

It is my place in this foreword to help set the author’s writing within the context of our contemporary understanding of the fairy realms. Within Dora van Gelder’s lifetime—a span that includes most of the twentieth century—fairies have undergone an interesting transition in popular consciousness.

Vai trò của tôi trong lời tựa này là giúp đặt tác phẩm của tác giả vào trong bối cảnh hiểu biết đương đại của chúng ta về các cảnh giới tiên. Trong đời Dora van Gelder—một quãng thời gian bao gồm phần lớn thế kỷ hai mươi—các tiên đã trải qua một chuyển tiếp thú vị trong tâm thức đại chúng.

In 1907-10, when W. Y. Evans-Wentz of Stanford University visited Britain, Scotland, Ireland, Wales, and Brittany for his outstanding study, The Fairy Faith in Celtic Countries, he learned that belief in and encounters with fairies was a living tradition still.1 These fairy traditions are still a daily part of people’s everyday experience in Celtic countries. They are the latter end of a long fairy tradition stretching back beyond the Middle Ages into the Celtic past. First-person documentation of this tradition is sporadic but consistent. Here are two instances of fairy encounters which involve clergymen—one Catholic, one Protestant—to demonstrate that seeing fairies has little to do with one’s spiritual orientation!

Trong các năm 1907-10, khi W. Y. Evans-Wentz thuộc Đại học Stanford đến thăm Anh, Scotland, Ireland, Wales và Brittany để thực hiện công trình nghiên cứu xuất sắc của ông, Đức tin về Tiên ở các Xứ Celtic, ông biết được rằng niềm tin vào các tiên và những cuộc gặp gỡ với họ vẫn là một truyền thống sống động.1 Những truyền thống tiên này vẫn là một phần hằng ngày trong kinh nghiệm thường nhật của người dân ở các xứ Celtic. Chúng là đoạn cuối của một truyền thống tiên lâu dài, trải ngược về quá khứ Celtic, vượt xa thời Trung cổ. Tư liệu ngôi thứ nhất về truyền thống này tuy rời rạc nhưng nhất quán. Sau đây là hai trường hợp gặp gỡ tiên có liên quan đến các giáo sĩ—một Công giáo, một Tin Lành—để cho thấy rằng việc nhìn thấy tiên chẳng liên quan bao nhiêu đến khuynh hướng tinh thần của một người!

A thirteenth-century account by the chronicler Gerald of Wales tells of Elidyr, a Welsh boy who went into the fairy hills. He found the subterranean realm of the fairies, a sunless realm of great beauty. The fairies were keepers of their word and had only the greatest contempt for mortal ambitions and lies. Elidyr learned the fairy tongue, which was a little like Greek. Due to adult mortal greed, which sent him back into Fairy to seek for gold, he eventually lost the way back and was forever after unable to return, as Elidyr subsequently related with tears of sorrow.2

Một tường thuật thế kỷ mười ba của nhà biên niên sử Gerald xứ Wales kể về Elidyr, một cậu bé xứ Wales đã đi vào các đồi tiên. Cậu tìm thấy cảnh giới dưới lòng đất của các tiên, một cảnh giới không có mặt trời nhưng đẹp đẽ vô cùng. Các tiên giữ lời hứa của mình và chỉ có sự khinh miệt lớn nhất đối với những tham vọng và dối trá của người phàm. Elidyr học tiếng của tiên, thứ tiếng hơi giống tiếng Hy Lạp. Do lòng tham của người lớn phàm tục, vốn sai cậu trở lại xứ Tiên để tìm vàng, cuối cùng cậu lạc mất đường về và từ đó về sau không bao giờ có thể trở lại nữa, như Elidyr sau này kể lại trong nước mắt đau buồn.2

The fairy researches of the seventeenth-century writer Rev. Robert Kirk remain the earliest semi-anthropological study of fairy customs and mores. Kirk himself is believed not to be in his tomb in Aberfoyle but to be in the fairy realms to this day. Kirk interviewed people who had encountered the fairies and knew of their ways. Several facts which he noted about them appear throughout the Celtic tradition: that they have their own underground dwellings which mortals tend to avoid, that they are apt to steal human children and substitute changelings in their places, that they are keepers of treasures, that they can form helpful alliances with humans.3

Những nghiên cứu về tiên của Mục sư Robert Kirk, nhà văn thế kỷ mười bảy, vẫn là công trình nghiên cứu bán nhân học sớm nhất về phong tục và tập quán của tiên. Người ta tin rằng chính Kirk không ở trong mộ của ông tại Aberfoyle, mà cho đến ngày nay vẫn ở trong các cảnh giới tiên. Kirk đã phỏng vấn những người từng gặp các tiên và biết đường lối của họ. Một số sự kiện mà ông ghi nhận về họ xuất hiện xuyên suốt truyền thống Celtic: rằng họ có những nơi cư trú riêng dưới lòng đất mà người phàm thường tránh xa, rằng họ có khuynh hướng đánh cắp trẻ em loài người và thay thế bằng những đứa trẻ bị tráo, rằng họ là những người giữ kho báu, rằng họ có thể lập những liên minh hữu ích với con người.3

Fairies appear in world traditions under many different names, of course, and remain a vigorous source of wonder, disquiet, or disbelief, depending on the degree of modernism in the country in question. But something has radically changed in this century. The process began when folklorists and story collectors, like the brothers Grimm, began to research stories in the early nineteenth century. Country people—significantly adults—told stories and songs of fairies as defensive warriors, beguiling lovers, keepers of treasures and wisdom. With an eye to a wider readership, story collectors began to change things. The more robust elements of fairy lore were purged until the term fairy story began to mean “a light folktale suitable for children.”4

Dĩ nhiên, các tiên xuất hiện trong những truyền thống thế giới dưới nhiều tên gọi khác nhau, và vẫn là một nguồn mạch mạnh mẽ của sự kinh ngạc, bất an hoặc hoài nghi, tùy theo mức độ hiện đại của quốc gia liên quan. Nhưng có một điều đã thay đổi tận gốc trong thế kỷ này. Tiến trình bắt đầu khi các nhà nghiên cứu dân gian và những người sưu tầm truyện, như anh em Grimm, khởi sự nghiên cứu các câu chuyện vào đầu thế kỷ mười chín. Người dân thôn quê—đáng chú ý là người lớn—kể những câu chuyện và bài hát về các tiên như những chiến binh phòng vệ, những người tình mê hoặc, những người giữ kho báu và minh triết. Nhằm hướng đến một số độc giả rộng hơn, những người sưu tầm truyện bắt đầu thay đổi mọi thứ. Những yếu tố mạnh mẽ hơn của truyền thuyết tiên bị thanh lọc, cho đến khi thuật ngữ truyện tiên bắt đầu có nghĩa là “một truyện dân gian nhẹ nhàng thích hợp cho trẻ em.”4

After the Age of Reason, wherein anything unseen was held not to exist, there was an upsurge of interest in the supernatural and the esoteric during the nineteenth century. Those researchers most interested in the field were disconnected from their own living fairy and magical traditions and looked to the mysterious East for their inspiration, neglecting the treasure that lay all about them.

Sau Thời đại Lý trí, trong đó bất cứ điều gì không thấy được đều bị cho là không tồn tại, thế kỷ mười chín chứng kiến một làn sóng quan tâm gia tăng đối với siêu nhiên và huyền bí học. Những nhà nghiên cứu quan tâm nhất đến lĩnh vực này đã bị tách rời khỏi các truyền thống tiên và huyền thuật sống động của chính họ, và hướng về phương Đông huyền bí để tìm cảm hứng, bỏ quên kho báu nằm quanh mình.

R. J. Stewart, a leading authority on fairy traditions, states that between the living fairy folk traditions of the world and the view of fairies now part of contemporary culture there is a world of difference. The image of fairies as small winged beings attendant on flowers owes more to the idea of devas or nature spirits popularized by nineteenth-century productions of A Midsummer Night’s Dream than to the view of fairies long held by our ancestors.5

R. J. Stewart, một thẩm quyền hàng đầu về các truyền thống tiên, nói rằng giữa các truyền thống dân gian sống động về tiên trên thế giới và quan điểm về tiên nay đã trở thành một phần của văn hóa đương đại, có một khoảng cách rất lớn. Hình ảnh các tiên như những sinh linh nhỏ bé có cánh, hầu cận bên hoa, mắc nợ ý tưởng về các thiên thần hoặc tinh linh tự nhiên được phổ biến bởi các vở diễn thế kỷ mười chín của Giấc Mộng Đêm Hè nhiều hơn là quan điểm về tiên mà tổ tiên chúng ta đã giữ từ lâu.5

At the end of the nineteenth century, interest in psychic phenomena took a more scientific and quantifying turn. New technology was brought to bear upon the capturing of ectoplasmic contacts, ghosts, and apparitions. The camera could not lie—or could it? The Cottingley fairy photographs taken by two little girls in 1917 caused a considerable stir in Theosophical circles. It was a hoax to which Sir Arthur Conan Doyle unwittingly lent his endorsement. In 1983, Elsie Wright, one of the little girls who took the photographs, then in her eighties, admitted to having faked the evidence from cardboard cutouts. The Cottingley fairy incident recently sparked two films, Photographing Fairies (1997) and Fairy Tale (1997), each of which dealt differently with the whole nature of the fairy phenomena.

Vào cuối thế kỷ mười chín, sự quan tâm đối với các hiện tượng thông linh chuyển sang một hướng khoa học và định lượng hơn. Công nghệ mới được đem áp dụng vào việc ghi nhận những tiếp xúc ngoại chất, ma và các sắc tướng hiện ra. Máy ảnh không thể nói dối—hay là có thể? Những bức ảnh tiên Cottingley do hai bé gái chụp năm 1917 đã gây xôn xao đáng kể trong các giới Thông Thiên Học. Đó là một trò lừa bịp mà Sir Arthur Conan Doyle vô tình xác nhận. Năm 1983, Elsie Wright, một trong hai bé gái đã chụp các bức ảnh, lúc ấy đã ngoài tám mươi, thừa nhận đã làm giả chứng cứ bằng các hình cắt từ bìa cứng. Sự kiện tiên Cottingley gần đây đã khơi nguồn cho hai bộ phim, Chụp Ảnh Tiên (1997) và Truyện Tiên (1997), mỗi phim đề cập theo một cách khác nhau đến toàn bộ bản chất của các hiện tượng tiên.

Today there is a growing interest in fairy traditions as they may be applied to the pagan revival. This movement sometimes swerves between the whimsical and the fantastic, but it does have a historical root: country people in Britain who were arrested and accused of witchcraft in the sixteenth and seventeenth centuries spoke of meeting with the Fairy Queen rather than with the Devil. The novels of modern fantasy writers like Charles de Lint sustain and develop the traditional view of fairies as allies, challengers, and lovers, and have become very popular among pagans.

Ngày nay có một mối quan tâm đang gia tăng đối với các truyền thống tiên khi chúng có thể được áp dụng vào sự phục hưng ngoại giáo. Phong trào này đôi khi chao đảo giữa nét ngộ nghĩnh và điều kỳ ảo, nhưng nó có một gốc rễ lịch sử: những người dân thôn quê ở Anh bị bắt và bị cáo buộc là phù thủy trong các thế kỷ mười sáu và mười bảy đã nói về việc gặp Nữ hoàng Tiên hơn là gặp Quỷ dữ. Các tiểu thuyết của những nhà văn kỳ ảo hiện đại như Charles de Lint duy trì và phát triển quan điểm truyền thống về các tiên như đồng minh, người thách thức và người tình, và đã trở nên rất phổ biến trong giới ngoại giáo.

Several once strongly held traditional fairy beliefs have altered over the last twenty years. Crop circles—once believed to be the work of fairies—and abductions of humans into the fairy realms have now been put at the door of aliens, as popular belief shifts from a planetary to an interplanetary focus. Instead of having a proper regard for our terrestrial neighbors the fairies, to whom country people have been leaving offerings of milk and other gifts for centuries, our postmodern culture has reached the ultimate disconnection from the earth by seeking for extraterrestrial explanations.

Một số niềm tin truyền thống về tiên từng được giữ rất mạnh mẽ đã thay đổi trong hai mươi năm qua. Những vòng tròn trên đồng ruộng—từng được tin là tác phẩm của các tiên—và những vụ con người bị đưa vào các cảnh giới tiên nay đã bị quy cho người ngoài hành tinh, khi niềm tin đại chúng chuyển trọng tâm từ hành tinh sang liên hành tinh. Thay vì có sự trân trọng đúng đắn đối với các láng giềng trần gian của chúng ta là các tiên, những vị mà người dân thôn quê đã dâng sữa và những lễ vật khác suốt nhiều thế kỷ, văn hóa hậu hiện đại của chúng ta đã đạt tới sự tách rời tối hậu khỏi trái đất bằng cách tìm kiếm những lời giải thích ngoài địa cầu.

The traditional view of fairies as spirits who must be addressed and treated with respect is now vested in extraterrestrials, who are cast as the baddies of the piece, while fairies are now viewed as akin to the angels, wholly good and useful to human beings. We need to be careful in our discernment of spirits. While we must be open to the possibility that we may indeed entertain angels unawares, we must also beware of being overly naive and accepting of every spirit we meet. Spirits, like people, come in all shapes and sizes. Some are well disposed towards us; some are indifferent to us; others will react strongly if we overstep the limits of good behavior.

Quan điểm truyền thống về các tiên như những tinh linh phải được xưng hô và đối xử với sự tôn trọng nay được đặt vào người ngoài hành tinh, những kẻ bị gán vai phản diện trong câu chuyện, trong khi các tiên nay được xem là gần với các thiên thần, hoàn toàn tốt lành và hữu ích cho con người. Chúng ta cần cẩn trọng trong sự phân biện tinh thần về các tinh linh. Trong khi chúng ta phải mở lòng với khả năng rằng quả thật chúng ta có thể tiếp đón các thiên thần mà không hay biết, chúng ta cũng phải coi chừng sự quá ngây thơ và dễ dàng chấp nhận mọi tinh linh mình gặp. Các tinh linh, giống như con người, có đủ mọi hình dạng và tầm vóc. Một số có thiện chí đối với chúng ta; một số dửng dưng với chúng ta; những kẻ khác sẽ phản ứng mạnh mẽ nếu chúng ta vượt quá giới hạn của hành vi đúng đắn.

Our view of the fairies has altered radically, but I wonder whether the fairies themselves have ever really changed?6

Quan điểm của chúng ta về các tiên đã thay đổi tận gốc, nhưng tôi tự hỏi liệu chính các tiên có bao giờ thật sự thay đổi chăng?6

Dora van Gelder stands as an important commentator on fairy encounters for the twentieth century. As a clairvoyant aware of the world as a joyous and animated place, she experiences fairies as the elemental forms of nature, from the standpoint of a formative, pristine perception.

Dora van Gelder là một nhà bình luận quan trọng về những cuộc gặp gỡ tiên trong thế kỷ hai mươi. Là một người thông nhãn ý thức về thế giới như một nơi chốn hoan hỉ và sống động, bà trải nghiệm các tiên như những hình tướng hành khí của thiên nhiên, từ lập trường của một tri giác đang tạo hình, nguyên sơ.

In approaching the experiences of Dora van Gelder, I am aware of how varied are the human accounts of fairy encounters. I have only my own to draw upon in a comparable way. My greatest wish as a child was to see a fairy. I used to lie in bed and pray with great earnestness to see one. Adults told me that fairies were to be found “at the bottom of the garden,” and so, dutifully, I would go and stand among the nettles and thistles and look for fairies. But I was destined to be disappointed on each of these vigils because fairies do not show themselves to obsessive sightseers, such as I was then.

Khi tiếp cận những trải nghiệm của Dora van Gelder, tôi ý thức rằng các tường thuật của con người về những cuộc gặp gỡ tiên đa dạng biết bao. Tôi chỉ có kinh nghiệm của chính mình để rút ra theo một cách có thể so sánh. Ước muốn lớn nhất của tôi khi còn nhỏ là nhìn thấy một tiên. Tôi thường nằm trên giường và cầu nguyện hết sức tha thiết để được nhìn thấy một vị. Người lớn bảo tôi rằng có thể tìm thấy các tiên “ở cuối khu vườn”, và vì vậy, một cách ngoan ngoãn, tôi sẽ đi ra đứng giữa đám tầm ma và gai kế để tìm tiên. Nhưng tôi đã được định sẵn là thất vọng trong mỗi lần canh chờ ấy, bởi các tiên không hiện ra cho những kẻ tham quan ám ảnh như tôi khi đó.

In fact, what I hadn’t realized was, I had already met and was friends with many fairies. You see, I had been confused by the literature. My childhood books had pictures of fairies: small, humanoid beings of diminutive size with little gauzy wings like those of butterflies. In these books, fairies lodged in acorn cups and ate off mushroom tables. They were always depicted like country children, happy, rosy, and good-natured. This was what I expected to see.

Thật ra, điều tôi đã không nhận ra là, tôi đã gặp và làm bạn với nhiều tiên rồi. Các bạn thấy đó, tôi đã bị văn chương làm cho bối rối. Những cuốn sách tuổi thơ của tôi có hình các tiên: những sinh linh nhỏ bé giống người, vóc dáng tí hon, với đôi cánh mỏng nhẹ như cánh bướm. Trong các sách ấy, các tiên trú trong chén quả sồi và ăn trên bàn nấm. Họ luôn được mô tả như trẻ em thôn quê, vui vẻ, hồng hào và hiền lành. Đó là điều tôi mong được thấy.

My actual experience of fairies had been going on for some time, but I didn’t know that was what they were. It took me many wasted years to recognize them. My favorite game as a child was to lie on the floor under a knitted woolen blanket of many colors that my mother had made for me. I would tuck in this blanket round my body and over my head so that I could meet with my friends, the Shapers.

Trải nghiệm thật sự của tôi về các tiên đã diễn ra một thời gian, nhưng tôi không biết họ chính là như vậy. Tôi đã mất nhiều năm uổng phí mới nhận ra họ. Trò chơi ưa thích của tôi khi còn nhỏ là nằm trên sàn dưới một tấm chăn len đan nhiều màu mà mẹ tôi đã làm cho tôi. Tôi sẽ nhét tấm chăn này quanh thân và phủ lên đầu để có thể gặp bạn bè của mình, những Đấng Tạo Hình.

The Shapers came to me in the semidarkness of the blanket. They came as shapes and colors, almost like the shapes that you see in a kaleidoscope. They turned and flowed in many different patterns. They came as smells, tastes, movements, and music as well. I loved them wholeheartedly, for they taught me and talked to me through their movements, patternings, and sounds. I say “talked,” but they did not use speech, nor did I “hear” them with my ears. They communicated in shapings, reordering their primordial patterns in complex dances that taught me primal forms of knowledge.

Những Đấng Tạo Hình đến với tôi trong khoảng nửa tối của tấm chăn. Họ đến như những hình dạng và màu sắc, gần giống những hình dạng mà các bạn thấy trong kính vạn hoa. Họ xoay chuyển và tuôn chảy trong nhiều mô hình khác nhau. Họ cũng đến như mùi hương, vị nếm, chuyển động và âm nhạc. Tôi yêu họ hết lòng, vì họ dạy tôi và trò chuyện với tôi qua những chuyển động, những cách tạo mô hình và âm thanh của họ. Tôi nói “trò chuyện”, nhưng họ không dùng lời nói, và tôi cũng không “nghe” họ bằng tai. Họ giao tiếp bằng những cách tạo hình, sắp xếp lại các mô hình nguyên thủy của họ trong những vũ điệu phức tạp, dạy tôi các hình thức tri thức sơ nguyên.

As I remember this experience with my adult perceptions, the Shapers might resemble nothing more than the intricate tracery of nuclei viewed through a microscope. Yet despite their geometric and abstract appearance, the Shapers were the fairies that I sought for in vain.

Khi tôi nhớ lại trải nghiệm này bằng những tri giác trưởng thành của mình, những Đấng Tạo Hình có thể không giống gì hơn là những đường nét chạm trổ tinh vi của các nhân tế bào nhìn qua kính hiển vi. Thế nhưng, bất chấp vẻ ngoài hình học và trừu tượng của họ, những Đấng Tạo Hình chính là các tiên mà tôi đã tìm kiếm trong vô vọng.

It is no wonder that I did not associate them with the fairies in my picture books. Not only did they not resemble winged children, but the Shapers taught me deep earth-shattering knowledge concerning music and sound, about creation and the relationship of cause and effect, about metaphor and symbol. This experience was like being taught a language deeper than speech, one that transcended space and time.

Không có gì lạ khi tôi đã không liên hệ họ với các tiên trong sách tranh của mình. Không những họ không giống trẻ em có cánh, mà những Đấng Tạo Hình còn dạy tôi tri thức sâu xa, làm rung chuyển nền tảng, liên quan đến âm nhạc và âm thanh, về sự sáng tạo và mối quan hệ nhân quả, về ẩn dụ và biểu tượng. Trải nghiệm này giống như được dạy một ngôn ngữ sâu hơn lời nói, một ngôn ngữ vượt lên không gian và thời gian.

I learned that the Shapers could be found in nature, in the woods that I explored every week alone—always safe with them to look after me. I knew they were in the chalk hills, the dew-ponds, the fallen trees that were my playmates, the fields of grain, and the secret, hidden, forgotten places of nature. The pathways shown to me by the Shapers in my childhood make sense to me now. I have come to understand the patterns, frequencies, and music of their teaching, as I use frequency, sound, and music in my practice to understand what ails people and as a healing agent for their soul hurts.

Tôi học được rằng có thể tìm thấy những Đấng Tạo Hình trong thiên nhiên, trong những khu rừng mà mỗi tuần tôi một mình khám phá—luôn an toàn khi có họ chăm nom tôi. Tôi biết họ ở trong những đồi phấn, những ao sương, những cây đổ là bạn chơi của tôi, những cánh đồng ngũ cốc, và những nơi bí mật, khuất ẩn, bị lãng quên của thiên nhiên. Những lối đi mà những Đấng Tạo Hình chỉ cho tôi trong thời thơ ấu giờ đây có ý nghĩa với tôi. Tôi đã đi đến chỗ thấu hiểu các mô hình, tần số và âm nhạc trong sự dạy dỗ của họ, khi tôi dùng tần số, âm thanh và âm nhạc trong thực hành của mình để thấu hiểu điều gì làm con người đau bệnh và như một tác nhân chữa lành những tổn thương của linh hồn họ.

The spiritual gifts of the fairies are available only by prayer and by a willingness to be very courteous in return. My fairy allies frequently bring me into contact with the spirits of herbs, plants, and trees that help to heal hurts of body and soul. It is my custom every day to offer food to the fairies with a song of thanks, in order to maintain good neighborly relations.

Những ân huệ tinh thần của các tiên chỉ có thể đến qua cầu nguyện và qua sự sẵn lòng đáp lại bằng thái độ hết sức nhã nhặn. Các đồng minh tiên của tôi thường xuyên đưa tôi tiếp xúc với các tinh linh của thảo mộc, cây cỏ và cây lớn, những vị giúp chữa lành các tổn thương của thể xác và linh hồn. Mỗi ngày, tôi có thói quen dâng thức ăn cho các tiên cùng một bài ca cảm tạ, để duy trì những quan hệ láng giềng tốt đẹp.

Perhaps there are many people who, like me, always wanted to meet a fairy? Many of my students express a keen interest in finding fairy allies of their own. The fairies do not like to be noticed all the time; they need their own space and quietness, just as humans do. While they are often glad to help us, they are also secretive and retiring. Often we need to make changes in ourselves before they will make themselves known to us.

Có lẽ có nhiều người, giống như tôi, luôn muốn gặp một tiên? Nhiều đạo sinh của tôi bày tỏ sự quan tâm sâu sắc đến việc tìm các đồng minh tiên của riêng họ. Các tiên không thích lúc nào cũng bị chú ý; họ cần không gian và sự yên tĩnh riêng, cũng như con người vậy. Dù họ thường vui lòng giúp chúng ta, họ cũng kín đáo và ẩn dật. Thường thì chúng ta cần thay đổi nơi chính mình trước khi họ tự cho chúng ta biết đến họ.

To find fairy allies we need to go with an honest heart, a lack of egocentricity, good manners, a sense of respect for others, and a keen, streetwise perception. Friendships come about through mutual attraction, likeness of spirit, and a willingness to reciprocate. Those who go with a consumerist spirit, with the aim of finding out what the fairies can do for them, will be sadly disappointed.

Để tìm các đồng minh tiên, chúng ta cần đi với một trái tim chân thật, không vị ngã, có lễ độ, có ý thức tôn trọng người khác, và một tri giác sắc bén, thực tế. Tình bạn nảy sinh qua sự thu hút lẫn nhau, sự tương đồng của tinh thần, và sự sẵn lòng đáp lại. Những ai đi với tinh thần tiêu dùng, nhằm tìm xem các tiên có thể làm gì cho họ, sẽ buồn bã thất vọng.

Dora van Gelder asks why more people do not see fairies. It seems evident that the majority of adults are too immersed in the physical side of reality to be aware of what is happening all around them in the unseen—and just as real—reality. Modern culture pays little heed to unseen reality and hence has little respect for cause and effect.

Dora van Gelder hỏi vì sao nhiều người hơn không nhìn thấy tiên. Có vẻ hiển nhiên rằng đa số người lớn quá đắm chìm trong mặt hồng trần của thực tại đến nỗi không ý thức được điều đang diễn ra khắp quanh họ trong thực tại vô hình—và cũng thật như vậy. Văn hóa hiện đại ít chú ý đến thực tại vô hình, và do đó ít tôn trọng nhân quả.

I myself am not a “see-er” of phenomena, but rather someone whose hearing and touch combine to create perception of the resonant field. However, a few years back I had a brief experience of “the second sight” or an dha shealladh, as spiritual seership is called in Gaelic. Returning home from a grueling trip abroad, in a state of semistarvation, I began literally to see fairies with my physical eyes. The fairy folk who lived in the trees, plants, and streams leapt out at me from every direction. They didn’t look like the Shapers at all. They looked like powerful, tall spirits, not many of them rosy and jolly, and certainly none of them with little wings! It was a very disturbing experience. In Estonia, I had been very much aware of the presence of fairies in the undisturbed enclave of the national forest. At home, in Oxford, I was actually seeing fairies at last, just as I had wished.

Bản thân tôi không phải là một “người thấy” các hiện tượng, mà đúng hơn là một người có thính giác và xúc giác kết hợp để tạo nên tri giác về trường cộng hưởng. Tuy nhiên, vài năm trước, tôi đã có một trải nghiệm ngắn về “thị giác thứ hai” hay an dha shealladh, như năng lực thông nhãn tinh thần được gọi trong tiếng Gaelic. Trở về nhà sau một chuyến đi nước ngoài kiệt sức, trong trạng thái gần như đói lả, tôi bắt đầu thật sự nhìn thấy các tiên bằng mắt hồng trần của mình. Dân tiên sống trong cây, cỏ và suối nhảy ra trước tôi từ mọi hướng. Họ hoàn toàn không giống những Đấng Tạo Hình. Họ trông như những tinh linh mạnh mẽ, cao lớn, không nhiều vị hồng hào và vui nhộn, và chắc chắn không vị nào có đôi cánh nhỏ! Đó là một trải nghiệm rất gây xáo động. Ở Estonia, tôi đã ý thức rất rõ về sự hiện diện của các tiên trong khu vực yên tĩnh của rừng quốc gia. Ở nhà, tại Oxford, cuối cùng tôi đã thật sự nhìn thấy các tiên, đúng như tôi từng ước muốn.

Plucking up courage, I began to ask them, “How is it I can see you in this way?” They replied, “You don’t normally see us because of the hard stone [concrete roads] and the harsh light [electric street lights]. But we abide in the wild places still.” As I spoke to them, I began to realize that this state of consciousness was a very dangerous one to remain in. I could very easily slip away into the fairy realms. I returned home and ate three meals, one after the other. Then I went to sleep. On awakening, I had the second sight no more, to my great relief!

Lấy hết can đảm, tôi bắt đầu hỏi họ: “Vì sao tôi có thể nhìn thấy các vị theo cách này?” Họ đáp: “Bình thường cô không thấy chúng tôi vì đá cứng [đường bê tông] và ánh sáng gắt [đèn đường điện]. Nhưng chúng tôi vẫn cư ngụ nơi hoang dã.” Khi tôi nói với họ, tôi bắt đầu nhận ra rằng duy trì trong trạng thái tâm thức này là điều rất nguy hiểm. Tôi có thể rất dễ dàng trượt vào các cảnh giới tiên. Tôi trở về nhà và ăn ba bữa, hết bữa này đến bữa khác. Rồi tôi đi ngủ. Khi thức dậy, tôi không còn thị giác thứ hai nữa, và tôi vô cùng nhẹ nhõm!

Many traditional and ancestral teachings about the fairy folk recommend caution: people who are vulnerable should not seek out the fairies or visit their haunts. I can quite understand how babies, children, the lovelorn, and stray domestic animals can be drawn into the realms of Fairy never to return. The realms of the otherworld are indeed beautiful, but fairy ways are not human ways, and we shouldn’t confuse the two.

Nhiều giáo huấn truyền thống và tổ truyền về dân tiên khuyên nên thận trọng: những người dễ bị tổn thương không nên tìm kiếm các tiên hoặc đến những nơi họ thường lui tới. Tôi có thể hoàn toàn thấu hiểu cách trẻ sơ sinh, trẻ em, người thất tình và những gia súc đi lạc có thể bị lôi cuốn vào các cảnh giới của xứ Tiên mà không bao giờ trở lại. Các cảnh giới của cõi khác quả thật đẹp đẽ, nhưng đường lối của tiên không phải là đường lối của con người, và chúng ta không nên lẫn lộn hai điều ấy.

In Ireland it is still a great breach of courtesy to tamper with the traditional haunts of fairy folk, and most country people are very careful to avoid such places. It is still considered a terrible thing to take wood from, let alone cut down, a fairy thorn tree.

Ở Ireland, việc đụng chạm đến những nơi lui tới truyền thống của dân tiên vẫn là một sự xúc phạm lớn đối với phép lịch sự, và hầu hết người dân thôn quê rất cẩn thận tránh những nơi như vậy. Việc lấy gỗ từ một cây táo gai tiên, chứ chưa nói đến chặt hạ nó, vẫn được xem là một điều khủng khiếp.

A recent case revealed this to me in a shocking way. My client Michael asked for soul healing for himself concerning the death of his younger sister some years before. As I began to journey in spirit towards my spirit allies, my way was suddenly blocked by a fairy man in a great rage. He told me that Michael’s family had injured his family, that unless Michael was prepared to plant a thorn tree as reparation, I could not go any further and get help for him. My own allies urged me to accept this agreement on Michael’s behalf. They further told me that the fairies had been taking the souls of children from Michael’s family in recompense for a terrible insult.

Một trường hợp gần đây đã mặc khải điều này cho tôi theo một cách gây chấn động. Thân chủ của tôi là Michael yêu cầu chữa lành linh hồn cho chính ông liên quan đến cái chết của người em gái nhiều năm trước. Khi tôi bắt đầu hành trình trong tinh thần hướng về các đồng minh tinh thần của mình, con đường của tôi bỗng bị một người tiên nam trong cơn thịnh nộ dữ dội chặn lại. Ông ấy nói với tôi rằng gia đình Michael đã làm tổn thương gia đình ông, rằng trừ khi Michael sẵn sàng trồng một cây táo gai để bồi thường, tôi không thể đi xa hơn và nhận được trợ giúp cho ông. Các đồng minh của riêng tôi thúc giục tôi chấp nhận thỏa thuận này thay mặt Michael. Họ còn nói với tôi rằng các tiên đã lấy linh hồn trẻ em trong gia đình Michael để đền bù cho một sự xúc phạm khủng khiếp.

When I told Michael about the fairy man’s anger and his demand for a thorn tree to be planted, Michael’s face grew white. He stopped me suddenly and told me about his grandfather, who had unaccountably cut down an ancient fairy thorn tree. Michael told me that in every branch of his family since that day a young child had died. Michael promised solemnly that he would not only plant a thorn tree on his land and dedicate it to the fairies in recompense, he would also ensure that no one ever touched the tree, not even prune it! It is a promise I am sure he will keep.

Khi tôi kể cho Michael về cơn giận của người tiên nam và yêu cầu của ông ấy rằng phải trồng một cây táo gai, mặt Michael trắng bệch. Ông đột ngột ngắt lời tôi và kể cho tôi nghe về ông nội của ông, người đã không rõ vì sao chặt hạ một cây táo gai tiên cổ thụ. Michael nói với tôi rằng trong mọi nhánh của gia đình ông kể từ ngày ấy đều có một đứa trẻ chết. Michael long trọng hứa rằng ông không chỉ trồng một cây táo gai trên đất của mình và hiến dâng nó cho các tiên để đền bù, mà ông còn bảo đảm rằng không ai từng chạm đến cây ấy, ngay cả tỉa cành cũng không! Đó là một lời hứa mà tôi chắc chắn ông sẽ giữ.

Such stories demonstrate the relationship between cause and effect. No one may act with intention and expect to avoid the consequences. Because our popular consciousness of fairies has changed, because we give little heed to the unseen reality, and because we have so little respect for the earth itself, we need to exercise care about our behavior. As Dora van Gelder points out, the impact of pollution upon the environment has made the world a colder, harder, more lifeless place.

Những câu chuyện như vậy chứng minh mối quan hệ giữa nhân và quả. Không ai có thể hành động với chủ ý mà lại mong tránh được hậu quả. Vì tâm thức đại chúng của chúng ta về các tiên đã thay đổi, vì chúng ta ít chú ý đến thực tại vô hình, và vì chúng ta quá ít tôn trọng chính trái đất, chúng ta cần thận trọng về hành vi của mình. Như Dora van Gelder chỉ ra, tác động của ô nhiễm lên môi trường đã khiến thế giới trở thành một nơi lạnh hơn, cứng hơn, kém sinh khí hơn.

As she states, those who work closely with the elements have a keener respect for the delicate relationship between realities than most other adults. She cites sailors and miners as people who have a natural respect for the spirits of nature. Fewer people now work directly with nature. Sealed off in offices, exiled from earth on the fourteenth floor, many have no sense of the seasons’ turning, of their own belonging to the cycles of nature. This lack of contact robs us of vitality, nurture, and spiritual health. Innumerable minor ailments and discontentments testify to our neglect of essential contact with nature. Yet it is to the healing power of nature that many now look.

Như bà nói, những ai làm việc gần gũi với các nguyên tố có sự tôn trọng sắc bén hơn đối với mối quan hệ tinh tế giữa các thực tại so với hầu hết những người lớn khác. Bà nêu các thủy thủ và thợ mỏ như những người có sự tôn trọng tự nhiên đối với các tinh linh tự nhiên. Ngày nay ít người làm việc trực tiếp với thiên nhiên hơn. Bị niêm kín trong văn phòng, bị lưu đày khỏi đất trên tầng mười bốn, nhiều người không có ý thức về sự chuyển xoay của các mùa, về sự thuộc về của chính họ trong các chu kỳ của thiên nhiên. Sự thiếu tiếp xúc này cướp đi sinh lực, sự nuôi dưỡng và sức khỏe tinh thần của chúng ta. Vô số bệnh nhẹ và bất mãn làm chứng cho sự bỏ bê của chúng ta đối với sự tiếp xúc thiết yếu với thiên nhiên. Tuy vậy, chính quyền năng chữa lành của thiên nhiên là điều mà nhiều người hiện nay hướng đến.

Today, with rising concerns about health and environment, more people are turning to herbal remedies and plant extracts. Those who have contacted the spirits of flowers and trees in the quest for healing have discovered the harmonious corrective secreted in healing plants. When we take such medicine for ourselves, we align ourselves with the spirit of Fairy; with such remedies, we hold the key to the world’s cure in more than one sense.

Ngày nay, với những quan ngại gia tăng về sức khỏe và môi trường, nhiều người hơn đang chuyển sang các phương thuốc thảo mộc và chiết xuất thực vật. Những ai đã tiếp xúc với các tinh linh của hoa và cây trong cuộc truy tìm sự chữa lành đã khám phá ra sự điều chỉnh hài hòa được tiết ra trong những cây chữa bệnh. Khi chúng ta dùng thuốc như vậy cho chính mình, chúng ta chỉnh hợp mình với tinh thần của xứ Tiên; với những phương thuốc ấy, chúng ta nắm giữ chìa khóa cho sự chữa lành thế giới theo hơn một nghĩa.

More and more people are now coming to a rather shocking awakening: that the earth and its resources are not commodities but the habitat of our species. We have shared this environment for ages uncounted with our fairy neighbors, but have been late to realize that it is the fairies and spirits of nature who have been preserving our planet, while we have been eroding its joys by our thoughtless behavior.

Ngày càng nhiều người hiện đang đi đến một sự thức tỉnh khá gây chấn động: rằng trái đất và các tài nguyên của nó không phải là hàng hóa mà là môi trường cư trú của loài chúng ta. Chúng ta đã chia sẻ môi trường này qua vô số thời đại với các láng giềng tiên của mình, nhưng đã muộn màng mới nhận ra rằng chính các tiên và tinh linh tự nhiên đã bảo tồn hành tinh của chúng ta, trong khi chúng ta đã làm xói mòn những niềm vui của nó bằng hành vi thiếu suy nghĩ.

The further we grow from our earthly origins, the more we tinker with the sacred web of life, the more synthetic foodstuffs and medicines we take into our bodies, the further we grow from our fairy neighbors.

Chúng ta càng xa rời nguồn gốc trần gian của mình, càng can thiệp vụn vặt vào mạng lưới thiêng liêng của sự sống, càng đưa thực phẩm và thuốc men tổng hợp vào cơ thể, chúng ta càng xa rời các láng giềng tiên của mình.

As Dora van Gelder points out, children sense the fun and the cooperative aspects of fairies. Bumbling adults very often act “off-beam” from their authentic selves and so can have less happy encounters. Our species has shown such great disrespect to the earth and its hidden inhabitants that we shouldn’t automatically expect such simple, uncomplicated encounters as those experienced by the author.

Như Dora van Gelder chỉ ra, trẻ em cảm nhận được niềm vui và các phương diện hợp tác của các tiên. Những người lớn vụng về rất thường hành động “lệch tia” khỏi cái tôi chân thực của họ, và vì vậy có thể có những cuộc gặp gỡ kém vui hơn. Loài chúng ta đã cho thấy sự bất kính lớn lao đến thế đối với trái đất và những cư dân ẩn khuất của nó, đến nỗi chúng ta không nên tự động mong đợi những cuộc gặp gỡ đơn giản, không phức tạp như những gì tác giả đã trải nghiệm.

The alliances and friendships we can have with the fairy world must begin with an awareness that we are all children of the earth and that respect is owed to all living beings. As we see from our experience in world politics, wherever there is a touch-point of conflict, there also are peacemakers. This is our task: to be good ambassadors of our own species, to be willing to make the changes within ourselves rather than at the expense of other beings. The more people realize this, the better the chances for peaceful cohabitation.

Những liên minh và tình bạn mà chúng ta có thể có với thế giới tiên phải bắt đầu bằng ý thức rằng tất cả chúng ta đều là con cái của trái đất, và rằng mọi sinh linh sống đều đáng được tôn trọng. Như chúng ta thấy từ kinh nghiệm của mình trong chính trị thế giới, bất cứ nơi nào có điểm tiếp xúc của xung đột, nơi đó cũng có những người kiến tạo hòa bình. Đây là nhiệm vụ của chúng ta: trở thành những đại sứ tốt đẹp của chính loài mình, sẵn lòng thực hiện những thay đổi trong chính mình thay vì gây tổn hại cho các sinh linh khác. Càng nhiều người nhận ra điều này, cơ hội chung sống hòa bình càng tốt đẹp hơn.

Wherever we go about the earth, we must acknowledge the fairies and spirits of the land. It is especially important when we are preparing the ground to build a house or plant a garden. We can sit quietly in that place and listen carefully to the fairies. Tune into the quality of the place. Cease to worry about your own concerns. Become one with the land, the grass, the trees, the birds. Feel the land as if you were a part of it. Remember that you are indeed a child of the universe, just as much as the animals, flowers, hills, and rocks.

Bất cứ nơi nào chúng ta đi trên trái đất, chúng ta phải thừa nhận các tiên và tinh linh của vùng đất ấy. Điều này đặc biệt quan trọng khi chúng ta chuẩn bị đất để xây một ngôi nhà hoặc trồng một khu vườn. Chúng ta có thể ngồi yên tại nơi ấy và lắng nghe các tiên một cách cẩn thận. Hãy hòa vào phẩm tính của nơi ấy. Hãy thôi lo lắng về những bận tâm của riêng bạn. Hãy trở nên một với đất, cỏ, cây, chim chóc. Hãy cảm nhận vùng đất như thể bạn là một phần của nó. Hãy nhớ rằng bạn quả thật là một đứa con của vũ trụ, cũng như các loài vật, hoa, đồi và đá.

Perhaps, if you sit for long enough with the right kind of listening, you will become aware of the fairies of that place. Then you will be privileged to learn that the fairy folk are special guardians of the wild and deep places of nature.

Có lẽ, nếu bạn ngồi đủ lâu với đúng loại lắng nghe, bạn sẽ trở nên ý thức về các tiên của nơi ấy. Khi đó bạn sẽ có đặc ân học biết rằng dân tiên là những người hộ vệ đặc biệt của những nơi hoang dã và sâu thẳm trong thiên nhiên.

Human beings have an arrogance that is abhorrent to fairies. It is only when we can lay aside our pride, our idea of ourselves as the summit of creation, that we can see and work with the fairies. This is not achieved by reading a book or attending a weekend course. This is a long, organic learning that spans years. But, if we are patient and courteous, we too can find fairy allies in the wild places of nature, in the secret pathways of our dreams, in the deep wisdom of the ancient and ancestral traditions of our land, as Dora van Gelder has demonstrated.

Con người có một sự kiêu ngạo khiến các tiên ghê tởm. Chỉ khi chúng ta có thể đặt sang một bên lòng kiêu hãnh của mình, ý tưởng của mình rằng bản thân là đỉnh cao của sáng tạo, chúng ta mới có thể nhìn thấy và làm việc với các tiên. Điều này không đạt được bằng cách đọc một cuốn sách hay tham dự một khóa học cuối tuần. Đây là một sự học hỏi lâu dài, hữu cơ, kéo dài qua nhiều năm. Nhưng, nếu chúng ta kiên nhẫn và nhã nhặn, chúng ta cũng có thể tìm thấy các đồng minh tiên trong những nơi hoang dã của thiên nhiên, trong những lối đi bí mật của các giấc mơ, trong minh triết sâu xa của các truyền thống cổ xưa và tổ truyền của vùng đất chúng ta, như Dora van Gelder đã chứng minh.

This prayer is for all who are seeking a way to contact the fairy folk:

Lời cầu nguyện này dành cho tất cả những ai đang tìm một con đường để tiếp xúc với dân tiên:

In the veils between the worlds, I remember the fairy folk who guard the ancient places. May we walk lightly and with courtesy upon the earth, may no being stay their progress or block their path, so that the hidden household of the earth may be peaceful.7

Trong những bức màn giữa các thế giới, tôi nhớ đến dân tiên, những vị canh giữ các nơi cổ xưa. Nguyện cho chúng ta bước đi nhẹ nhàng và nhã nhặn trên trái đất, nguyện không sinh linh nào ngăn cản bước tiến của họ hoặc chặn đường họ, để gia hộ ẩn khuất của trái đất được bình an.7

It is Dora van Gelder’s greatest wish that the divisions between ourselves and fairies may lessen and that a true cooperation may grow. The outcome of the future lies in all our hearts.

Ước nguyện lớn nhất của Dora van Gelder là những chia cách giữa chúng ta và các tiên có thể giảm bớt, và một sự hợp tác chân thật có thể lớn lên. Kết quả của tương lai nằm trong trái tim của tất cả chúng ta.

1. W. J. Evans-Wentz, The Fairy Faith in Celtic Countries (London: Oxford University Press, 1911). 2. Gerald of Wales, The journey through Wales (Harmondsworth: Penguin, 1977). 3. Robert Kirk, The Secret Commonwealth, ed. Stewart Sanderson (Cambridge: D. S. Brewer, 1976). 4. Caitlín Matthews and John Matthews, The Fairy-Tale Reader (London: Thorsons, 1993). 5. R. J. Stewart, The Living World of Fairy (Glastonbury: Gothic Image, 1995). 6. Peter Narvaez, ed., The Good People (Lexington: University Press of Kentucky, 1991). 7. Caitlín Matthews, Celtic Devotional (New York: Crown, 1996).

1. W. J. Evans-Wentz, Đức tin về Tiên ở các Xứ Celtic (London: Oxford University Press, 1911). 2. Gerald xứ Wales, Hành trình qua Wales (Harmondsworth: Penguin, 1977). 3. Robert Kirk, Khối Thịnh Vượng Chung Bí Mật, biên tập Stewart Sanderson (Cambridge: D. S. Brewer, 1976). 4. Caitlín Matthews và John Matthews, Tuyển tập Truyện Tiên (London: Thorsons, 1993). 5. R. J. Stewart, Thế Giới Sống Động của Tiên (Glastonbury: Gothic Image, 1995). 6. Peter Narvaez, biên tập, Những Người Tốt (Lexington: University Press of Kentucky, 1991). 7. Caitlín Matthews, Sách Sùng Tín Celtic (New York: Crown, 1996).

Caitlín Matthews is the author of thirty-one books, including Singing the Soul Back Home: Shamanism in Daily Life, The Celtic Tradition, and The Celtic Spirit: Daily Meditations for the Turning Year. Caitlín has a shamanic practice in Oxford which has helped many clients in search of healing, reintegration of soul, and vocational direction. With her husband, writer John Matthews, she teaches courses on shamanism and Celtic traditions worldwide.

Caitlín Matthews là tác giả của ba mươi mốt cuốn sách, bao gồm Hát Gọi Linh Hồn Trở Về Nhà: Shaman giáo trong Đời sống Hằng ngày, Truyền thống Celtic, và Tinh thần Celtic: Các bài Tham thiền Hằng ngày cho Năm Chuyển Mùa. Caitlín có một thực hành shaman giáo tại Oxford, đã giúp nhiều thân chủ tìm kiếm sự chữa lành, sự tái tích hợp linh hồn và định hướng nghề nghiệp. Cùng với chồng bà, nhà văn John Matthews, bà giảng dạy các khóa học về shaman giáo và các truyền thống Celtic trên khắp thế giới.

1 – 1

INTRODUCTION TO FAIRY WORLDS – DẪN NHẬP VÀO CÁC THẾ GIỚI TIÊN

Many people are willing and even longing to believe in the existence of fairies. The Little People are so bound up with happy memories of childhood that they are recalled with delight as part of a less materialistic world. But, to most of us, they stand as a lost illusion. Not so with everyone, fortunately. For I, amongst others, have seen all kinds of fairies for as long as I can remember, and I still see them daily. By seeing I mean that they are as much outside me as trees and are seen just as objectively.

Nhiều người sẵn lòng và thậm chí khao khát tin vào sự tồn tại của các tiên. Những Người Bé Nhỏ gắn bó mật thiết với những ký ức hạnh phúc của tuổi thơ đến nỗi họ được nhớ lại với niềm vui như một phần của một thế giới ít duy vật hơn. Nhưng, đối với phần lớn chúng ta, họ hiện ra như một ảo tưởng đã mất. May thay, không phải với tất cả mọi người đều như vậy. Vì tôi, cùng với một số người khác, đã nhìn thấy đủ loại tiên từ khi tôi có thể nhớ được, và tôi vẫn nhìn thấy họ hằng ngày. Khi nói nhìn thấy, tôi muốn nói rằng họ ở bên ngoài tôi cũng như cây cối, và được nhìn thấy một cách khách quan như vậy.

In the following pages I propose to make these delightful beings as much a reality for you as I can. It is best that I try at the outset to make it clear why I have some special advantages for this enterprise. For one thing, having been born in the East, I have never been discouraged in my observations of fairies, because there are many people there who do see—and very many more who believe in—fairies. For this and other reasons, the not uncommon power among children to see them has in me persisted. Then, I have had the good fortune to fall in this life among family and friends who included several who could also see; and travel has enlarged the list. Therefore, what I have here set down is not the imagination of an isolated child. It is information gathered from many contacts and conversations with fairies all over the world in circumstances perfectly natural, however unusual. One can communicate with these beings in just as definite a manner as we human beings talk to one another—more so, for though the method (which I shall describe shortly) is slightly different, it is more rapid than speech, and, in some ways at least, it is a more accurate exchange.

Trong những trang sau, tôi dự định làm cho những sinh linh vui thích này trở nên thực đối với các bạn nhiều nhất có thể. Tốt nhất là ngay từ đầu tôi cố gắng làm rõ vì sao tôi có một vài thuận lợi đặc biệt cho công việc này. Trước hết, vì sinh ra ở phương Đông, tôi chưa bao giờ bị làm nản lòng trong việc quan sát các tiên, bởi vì ở đó có nhiều người thật sự nhìn thấy—và còn nhiều hơn nữa những người tin vào—các tiên. Vì lý do này và những lý do khác, quyền năng không hiếm nơi trẻ em để nhìn thấy họ đã tồn tại bền bỉ nơi tôi. Rồi tôi đã có vận may trong đời này được sống giữa gia đình và bạn bè, trong đó có một số người cũng có thể nhìn thấy; và việc du hành đã mở rộng danh sách ấy. Vì vậy, những gì tôi ghi lại ở đây không phải là sự tưởng tượng của một đứa trẻ cô lập. Đó là thông tin thu thập từ nhiều cuộc tiếp xúc và trò chuyện với các tiên trên khắp thế giới, trong những hoàn cảnh hoàn toàn tự nhiên, dù khác thường. Người ta có thể giao tiếp với những sinh linh này theo một cách xác định y như chúng ta, những con người, nói chuyện với nhau—thậm chí còn hơn thế, vì dù phương pháp ấy (mà tôi sẽ mô tả ngay sau đây) hơi khác, nó nhanh hơn lời nói, và ít nhất trong một vài phương diện, đó là một sự trao đổi chính xác hơn.

It is important to mention these things, for once we see the world from the fairy point of view, we get a glimpse of a new universe. So many things that matter very much to us do not seem to matter at all to them. Life and death, for instance, are things that they know all about; to them there is no uncertainty and no tragedy involved. Human beings so often shrink from life and fear death. Fairies actually see the flow of life through all things. We live in a world of form without understanding the life force beneath the forms. To us the loss of the form means the end of the life, but fairies are never deceived in this way. They have a penetrating and powerful lesson for us.

Điều quan trọng là phải đề cập đến những điều này, vì một khi chúng ta nhìn thế giới từ quan điểm của tiên, chúng ta thoáng thấy một vũ trụ mới. Biết bao điều rất quan trọng đối với chúng ta dường như chẳng quan trọng chút nào đối với họ. Chẳng hạn, sự sống và cái chết là những điều họ biết rõ; đối với họ không có sự bất định và không có bi kịch nào liên quan. Con người thường co rút trước sự sống và sợ cái chết. Các tiên thật sự thấy dòng chảy của sự sống qua mọi vật. Chúng ta sống trong một thế giới hình tướng mà không thấu hiểu mãnh lực sự sống bên dưới các hình tướng. Đối với chúng ta, sự mất đi của hình tướng có nghĩa là sự kết thúc của sự sống, nhưng các tiên không bao giờ bị lừa dối theo cách này. Họ có một bài học xuyên thấu và mạnh mẽ dành cho chúng ta.

Why do most people not see fairies? They live in the same world as we do, but their bodies are less dense than ours, though only slightly less dense than a tenuous gas. I feel sure that the veil between them and us is exceedingly thin—so thin that nearly anyone could penetrate it with a little effort along the right line. The difficulty is to indicate this line and especially to get others to comprehend it. Most certainly, one strong reason for our not seeing them is due to a difference in point of view. If, therefore, what I write here can help to change points of view toward the fairy world, it will help to make more and more people able to see them.

Vì sao hầu hết mọi người không nhìn thấy tiên? Họ sống trong cùng thế giới với chúng ta, nhưng thể của họ ít đậm đặc hơn thể của chúng ta, dù chỉ ít đậm đặc hơn một chất khí loãng một chút. Tôi cảm thấy chắc chắn rằng bức màn giữa họ và chúng ta cực kỳ mỏng—mỏng đến nỗi gần như bất cứ ai cũng có thể xuyên qua nó với một chút nỗ lực theo đúng con đường. Khó khăn là chỉ ra con đường này, và đặc biệt là khiến người khác lĩnh hội nó. Chắc chắn nhất, một lý do mạnh mẽ khiến chúng ta không nhìn thấy họ là do sự khác biệt trong quan điểm. Vì vậy, nếu những gì tôi viết ở đây có thể giúp thay đổi các quan điểm hướng về thế giới tiên, nó sẽ giúp ngày càng nhiều người có khả năng nhìn thấy họ.

That, of course, is not all. A special sense must be awakened in people if they are to see fairies. The kind of world fairies live in does not affect our ordinary senses directly. They cannot be touched or felt, yet they can certainly be seen. In fact, ordinary sight is a help in seeing them, but that sense by itself is a little too coarse to catch the light they give off. However, everyone has latent in them a sense finer than sight, and a number of people—a surprisingly large number—have activated it. It is this higher sense perception which is employed in watching the antics of the fairy world. After all, everyone has a wide range of sensory equipment. Touch reveals solids, taste tells us about liquids, and the sense of smell reports on gases. Sight is still more subtle, and the series does not end there. There is a force of special seeing called clairvoyance—clear seeing.

Dĩ nhiên, đó không phải là tất cả. Một giác quan đặc biệt phải được đánh thức nơi con người nếu họ muốn nhìn thấy tiên. Loại thế giới mà các tiên sống không tác động trực tiếp đến các giác quan thông thường của chúng ta. Không thể chạm vào hay cảm thấy họ, nhưng chắc chắn có thể nhìn thấy họ. Thật ra, thị giác thông thường là một trợ giúp trong việc nhìn thấy họ, nhưng giác quan ấy tự nó hơi quá thô để bắt được ánh sáng họ phát ra. Tuy nhiên, mọi người đều có tiềm tàng trong mình một giác quan tinh tế hơn thị giác, và một số người—một số lượng lớn đến đáng ngạc nhiên—đã hoạt hóa nó. Chính tri giác bằng giác quan cao hơn này được sử dụng trong việc quan sát những trò vui đùa của thế giới tiên. Xét cho cùng, mọi người đều có một phạm vi rộng các trang bị giác quan. Xúc giác mặc khải chất rắn, vị giác cho chúng ta biết về chất lỏng, và khứu giác báo cáo về chất khí. Thị giác còn tinh tế hơn nữa, và chuỗi này không kết thúc ở đó. Có một mãnh lực thấy đặc biệt gọi là thông nhãn—thấy rõ.

The fact is that there is a real physical basis for clairvoyance, and the faculty is not especially mysterious. The power centers in that tiny organ in the brain called the pituitary gland. The kind of vibrations involved are so subtle that no physical opening in the skin is needed to convey them to the pituitary body, but there is a special spot of sensitiveness just between the eyes above the root of the nose which acts as the external opening for the gland within. It feels as if one were looking from that spot on the forehead, just as it feels in ordinary sight as if one were looking with one’s eyes, although we all know we are only looking through them. Perception through that sensitive spot differs from percetion through the conventional sense organs in one way: within there is no nervous structure of the ordinary physical sort. But the perception works just as I have said, nevertheless. When it is necessary to look into that finer world in which the fairies and similar kinds of living beings exist, it is only necessary to concentrate for a moment along that line of sight, and the sense responds much as if the eyes (but in this case a single eye) has opened. I am told (for I do not pretend to be very well informed about biology) that there was once, in primitive animals ancestral to humans, a connection for the pituitary body to the skin and an outer opening for it. The present pituitary body is supposed to be an atrophied remnant from those days. But doctors know that the gland is far from being a useless remnant, for it secretes from both parts of itself some of those bodies which are an invisible part of the blood stream and have such a powerful influence on growth and other functions. So the pituitary gland is certainly very much alive and important in human beings. And it certainly has this use for receiving very fine vibrations from a world of things which are subtler than anything we know. I wish I could make it still clearer, but perhaps that is the best one can do. Maybe in a way it is just as well that this sense is not so readily at hand that people could force it to work. For any such violent effort to move nature ahead of her own time is in many cases fraught with danger. People sometimes try to press themselves forward into a clairvoyant state by using their will, taking drugs, or engaging in other practices. However, if its development is unnatural, clairvoyance is not usually safe. But this does not make it less real than in cases where the power occurs in a perfectly normal way.

Sự thật là có một nền tảng hồng trần thực sự cho thông nhãn, và năng lực này không đặc biệt huyền bí. Quyền năng tập trung trong cơ quan nhỏ bé trong bộ não gọi là tuyến yên. Loại rung động liên quan tinh tế đến nỗi không cần một lỗ mở hồng trần nào trên da để truyền chúng đến thể tuyến yên, nhưng có một điểm nhạy cảm đặc biệt ngay giữa hai mắt, phía trên gốc mũi, hoạt động như lỗ mở bên ngoài cho tuyến bên trong. Cảm giác như thể người ta đang nhìn từ điểm ấy trên trán, cũng như trong thị giác thông thường ta cảm thấy như thể mình nhìn bằng mắt, dù tất cả chúng ta đều biết mình chỉ nhìn xuyên qua chúng. Tri giác qua điểm nhạy cảm ấy khác với tri giác qua các cơ quan giác quan thông thường ở một phương diện: bên trong không có cấu trúc thần kinh thuộc loại hồng trần thông thường. Tuy nhiên, tri giác vẫn hoạt động đúng như tôi đã nói. Khi cần nhìn vào thế giới tinh tế hơn ấy, nơi các tiên và những loại sinh linh sống tương tự tồn tại, chỉ cần tập trung trong chốc lát theo đường nhìn ấy, và giác quan đáp ứng gần như thể đôi mắt—nhưng trong trường hợp này là một con mắt duy nhất—đã mở ra. Người ta nói với tôi (vì tôi không giả vờ là mình hiểu biết nhiều về sinh học) rằng từng có một thời, nơi các loài động vật nguyên thủy là tổ tiên của con người, một mối liên hệ từ thể tuyến yên đến da và một lỗ mở bên ngoài cho nó. Người ta cho rằng thể tuyến yên hiện nay là một tàn tích teo lại từ thời ấy. Nhưng các bác sĩ biết rằng tuyến này còn xa mới là một tàn tích vô dụng, vì nó tiết ra từ cả hai phần của chính nó một số thể vốn là một phần vô hình của dòng máu và có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến sự tăng trưởng và các chức năng khác. Vì vậy, tuyến yên chắc chắn rất sống động và quan trọng trong con người. Và chắc chắn nó có công dụng này: tiếp nhận những rung động rất tinh tế từ một thế giới của các sự vật vi tế hơn bất cứ điều gì chúng ta biết. Tôi ước mình có thể làm điều ấy rõ hơn nữa, nhưng có lẽ đó là điều tốt nhất mà người ta có thể làm. Có lẽ theo một cách nào đó cũng tốt khi giác quan này không dễ sẵn có đến mức người ta có thể ép nó hoạt động. Vì bất cứ nỗ lực bạo liệt nào như vậy nhằm thúc đẩy thiên nhiên đi trước thời điểm riêng của bà trong nhiều trường hợp đều đầy nguy hiểm. Đôi khi người ta cố tự đẩy mình vào trạng thái thông nhãn bằng cách dùng ý chí, dùng ma túy, hoặc tham gia vào những thực hành khác. Tuy nhiên, nếu sự phát triển của nó là không tự nhiên, thông nhãn thường không an toàn. Nhưng điều này không làm cho nó kém thực hơn trong những trường hợp quyền năng ấy xuất hiện theo một cách hoàn toàn bình thường.

The question will be asked why more people cannot see fairies. I suppose part of the answer is that almost nobody tries after they are grown up, or even in childhood for that matter, and the rest of the answer is that the few who know that fairies exist do not always try to see them in the right way. Toward the end of these pages I will have something to say about this, and so the matter may stand for the present. As far as I am concerned I can see fairies. I can see them with my eyes shut, but I do not close my eyes ordinarily, as it is for one thing unnecessary, and for another, when clairvoyant sight has brought fairies into range, ordinary sight helps very much to observe details. And many fairies are so nearly perceptible by ordinary sight that it is much easier to study them with that. Just what sort of light they give off or reflect (for they are themselves luminous) I do not know, for I am not a physicist, and even if I were, where are the instruments with which to study anything so subtle? A scientific friend suggested looking at fairies with and without some borrowed spectacles, by way of making some sort of test about the kind of light that is involved. I did so and found that the fairies looked different through the spectacles, just as trees look different. But perhaps the distortion is due to the effect upon one’s ordinary sight. Again, fairies seem not so visible through ordinary window glass, but the same difficulty arises here as before: is it the dimming of light to ordinary eyes that is affected? Experiments of this sort need the help of a number of people who can see and, to be of any use, would have to extend over a long period of time. It is best just to set down such facts as seem important and go on to the whole question of what fairies are like, for that is the main purpose we have in view.

Người ta sẽ hỏi vì sao nhiều người hơn không thể nhìn thấy tiên. Tôi cho rằng một phần của câu trả lời là hầu như không ai cố gắng sau khi trưởng thành, hoặc thậm chí cả trong thời thơ ấu cũng vậy; phần còn lại của câu trả lời là vài người biết rằng các tiên tồn tại không phải lúc nào cũng cố gắng nhìn thấy họ theo đúng cách. Gần cuối những trang này, tôi sẽ có đôi điều để nói về việc ấy, và vì vậy vấn đề có thể tạm để đó trong hiện tại. Về phần tôi, tôi có thể nhìn thấy tiên. Tôi có thể nhìn thấy họ khi nhắm mắt, nhưng thông thường tôi không nhắm mắt, một mặt vì điều đó không cần thiết, và mặt khác, khi thị giác thông nhãn đã đưa các tiên vào tầm, thị giác thông thường giúp rất nhiều trong việc quan sát chi tiết. Và nhiều tiên gần như có thể được nhận thấy bằng thị giác thông thường đến nỗi nghiên cứu họ bằng thị giác ấy dễ hơn nhiều. Chính xác loại ánh sáng nào họ phát ra hoặc phản chiếu (vì bản thân họ có ánh sáng) thì tôi không biết, vì tôi không phải là nhà vật lý, và ngay cả nếu tôi là nhà vật lý, thì đâu là những dụng cụ để nghiên cứu bất cứ điều gì vi tế như vậy? Một người bạn khoa học đề nghị nhìn các tiên khi có và không có một cặp kính mượn, như một cách thực hiện một loại thử nghiệm nào đó về loại ánh sáng liên quan. Tôi đã làm như vậy và thấy rằng các tiên trông khác đi qua cặp kính, cũng như cây cối trông khác đi. Nhưng có lẽ sự biến dạng là do tác động lên thị giác thông thường của người ta. Lại nữa, các tiên dường như không hiển hiện rõ qua kính cửa sổ thông thường, nhưng ở đây cũng nảy sinh cùng một khó khăn như trước: có phải điều bị tác động là sự làm mờ ánh sáng đối với đôi mắt thông thường chăng? Những thí nghiệm thuộc loại này cần sự trợ giúp của một số người có thể nhìn thấy, và để có ích, chúng phải kéo dài trong một thời gian lâu. Tốt nhất là chỉ ghi lại những sự kiện có vẻ quan trọng và tiếp tục đi vào toàn bộ vấn đề các tiên giống như thế nào, vì đó là mục đích chính mà chúng ta nhắm đến.

I should first say that in that invisible world there are many different kinds of creatures and activities besides fairies. It is not the purpose of this book to dwell on these others, yet some of them are so closely connected with the life and work of fairies that I shall have to mention them in their proper places.

Trước hết, tôi nên nói rằng trong thế giới vô hình ấy có nhiều loại sinh vật và hoạt động khác nhau bên cạnh các tiên. Mục đích của cuốn sách này không phải là bàn dài về những loại khác ấy, tuy nhiên một số trong đó liên hệ mật thiết đến đời sống và công việc của các tiên đến nỗi tôi sẽ phải đề cập đến họ ở những chỗ thích hợp.

Therefore, I must explain that there are two important forms of life which are related to fairies and are a part of that kingdom of nature. In fact, fairies are part of a great evolutionary line that parallels the human. It starts, as the human line does, with some exceedingly primitive forms and rises up through the fairies (who are themselves at various stages of evolution) and has as its highest beings those that are traditionally called “angels” or “devas.” The fairies stand more or less in the same relation to angels as animals stand to humans. Almost all fairies are concerned with the processes of nature, as I shall describe later, and many of the angels are also. Angels are not the theme of this book and are discussed only as they are connected with fairies, but I would like to say in general that conventional ideas about them are on the whole pretty far from the fact. Angels are more interesting in themselves, as they really exist and live, than the ordinary beliefs allow them to be. Something of this will appear as we go on. The conventional idea of angels has never appealed to me, for it portrays them as beings with all sorts of virtues but very little character, whereas in reality angels have vivid individualities and are most fascinating. They are strong beings, not at all negative or weak. One factor in the popular belief about angels is correct, and that is that they are superior in intelligence to humans. A great many are very far superior, of course—magnificent beings. Similarly, many fairies are far more intelligent and highly developed than animals. I think fairies as a whole are more evolved than animals as a whole. This too will appear as we go on, as we give specific cases and examples.

Do đó, tôi phải giải thích rằng có hai hình thức sự sống quan trọng có liên hệ với các tiên và là một phần của giới tự nhiên ấy. Thật vậy, các tiên là một phần của một dòng tiến hoá lớn chạy song song với dòng nhân loại. Nó khởi đầu, cũng như dòng nhân loại, với một số hình thức cực kỳ sơ khai, rồi vươn lên qua các tiên — vốn tự thân ở nhiều giai đoạn tiến hoá khác nhau — và có những sinh linh cao nhất là các vị theo truyền thống được gọi là “thiên thần” hay “deva.” Các tiên đứng trong mối tương quan với thiên thần ít nhiều giống như loài vật đứng trong mối tương quan với con người. Hầu như mọi tiên đều liên quan đến các tiến trình của tự nhiên, như tôi sẽ mô tả về sau, và nhiều thiên thần cũng vậy. Thiên thần không phải là chủ đề của quyển sách này và chỉ được bàn đến trong chừng mực các vị ấy có liên hệ với các tiên, nhưng tôi muốn nói một cách tổng quát rằng những quan niệm thông thường về các vị ấy, nhìn chung, khá xa sự thật. Tự thân các thiên thần, như các vị ấy thật sự hiện hữu và sống, thú vị hơn nhiều so với những gì các niềm tin thông thường cho phép người ta nghĩ về các vị ấy. Một phần của điều này sẽ hiện ra khi chúng ta tiếp tục. Quan niệm thông thường về thiên thần chưa bao giờ hấp dẫn tôi, vì nó mô tả các vị ấy như những sinh linh có đủ mọi đức hạnh nhưng rất ít tính cách, trong khi thực tế các thiên thần có cá tính sống động và vô cùng hấp dẫn. Các vị ấy là những sinh linh mạnh mẽ, hoàn toàn không tiêu cực hay yếu đuối. Một yếu tố trong niềm tin phổ biến về thiên thần là đúng, đó là các vị ấy vượt trội con người về trí tuệ. Dĩ nhiên, rất nhiều vị vượt trội rất xa — những sinh linh huy hoàng. Tương tự, nhiều tiên thông minh và phát triển cao hơn loài vật rất nhiều. Tôi nghĩ rằng xét toàn thể, các tiên tiến hoá hơn loài vật xét toàn thể. Điều này cũng sẽ hiện ra khi chúng ta tiếp tục, khi chúng ta đưa ra các trường hợp và ví dụ cụ thể.

The lower beings in this evolutionary stream may be called “elementals,” because their life is little organized, and they, much like the elements, have almost no feeling and, of course, no thought. They are usually small but vary greatly in size and are enormously varied in character and function. But we need not concern ourselves very much with them, except where they occur naturally in the accounts of fairies. Elemental life, like that of fairies, is also in close touch with human beings. Fairy life, which is quite distinct from elemental forms although it proceeds from them in an evolutionary sense, has many remarkable contacts with the human line. It is not quite so easy to get into contact with angels, however. The matter of which an angel’s body is made is very much finer than that of fairy bodies, and it is not visible at all to the physical eye. Angels require a pure form of clairvoyance for observation, so fine is the material of which their bodies are made. Thus, while angels are almost never seen with the physical eye, fairies can be seen in that way, especially out of the corner of the eye. A number of people can see fairies on the fringe of vision. The theory is that the central part of the retina is used so much for ordinary sight that it does not respond to the more delicate vibrations of light from fairies, whereas the rest of the retina is fresh and more suitable for such uses. Something of the relationship of the elemental life with the highest form of all, the angels which crown that evolutionary line, will be found in a later chapter.

Những sinh linh thấp hơn trong dòng tiến hoá này có thể được gọi là “hành khí,” vì sự sống của chúng ít được tổ chức, và chúng, rất giống các nguyên tố, hầu như không có cảm xúc và dĩ nhiên không có tư tưởng. Chúng thường nhỏ bé nhưng rất khác nhau về kích thước và vô cùng đa dạng về tính cách cũng như chức năng. Nhưng chúng ta không cần quan tâm nhiều đến chúng, ngoại trừ khi chúng xuất hiện một cách tự nhiên trong các tường thuật về tiên. Sự sống hành khí, giống như sự sống của các tiên, cũng ở trong sự tiếp xúc gần gũi với con người. Sự sống tiên, tuy hoàn toàn khác với các hình thức hành khí dù theo nghĩa tiến hoá thì phát xuất từ chúng, có nhiều tiếp xúc đáng chú ý với dòng nhân loại. Tuy nhiên, việc tiếp xúc với thiên thần không dễ như vậy. Chất liệu cấu thành thể của một thiên thần tinh tế hơn rất nhiều so với chất liệu của các thể tiên, và hoàn toàn không thể thấy bằng mắt hồng trần. Thiên thần đòi hỏi một hình thức thông nhãn tinh khiết để quan sát, vì chất liệu cấu thành thể của các vị ấy tinh tế đến thế. Vì vậy, trong khi thiên thần hầu như không bao giờ được thấy bằng mắt hồng trần, các tiên có thể được thấy theo cách ấy, đặc biệt là ở khoé mắt. Một số người có thể thấy các tiên ở rìa tầm nhìn. Giả thuyết là phần trung tâm của võng mạc được dùng quá nhiều cho thị giác thông thường đến nỗi nó không đáp ứng với các rung động ánh sáng tinh tế hơn từ các tiên, trong khi phần còn lại của võng mạc còn tươi mới và thích hợp hơn cho những công dụng như thế. Một điều gì đó về mối quan hệ của sự sống hành khí với hình thức cao nhất của tất cả, tức các thiên thần đội vương miện cho dòng tiến hoá ấy, sẽ được tìm thấy trong một chương sau.

I must make it plain that I have, in this book, described only a few of the thousands of kinds of fairies that exist. I want no one to suppose that I think 1 have seen all the kinds there are. Whether they are as numerous and varied as insects, birds, mammals, and fish I cannot say, but they do exist in great variety and abundance. I suppose that different and accurate names will, in due course, be given to all the sorts and kinds. In fact, in different mythologies names are given. But I have avoided these old terms. They have so many associations with mere belief, not with knowledge, that they are a distraction from the discussion of fairies as actualities. Furthermore, a number of preconceived ideas spring into people’s minds when such terms as elf, troll, undine, and the like are used. These ideas are sometimes right and sometimes wrong, so (to be safe) I have ignored most of these old Mterms and coined such descriptive names as seemed to me more useful. Also, I have called the whole kingdom “the fairies.” Sometimes these beings are generally classified as nature spirits, the term fairy being reserved for one special type belonging to the woods or garden. This, perhaps, is a good idea for the sake of accuracy, but the term fairy is so much more generally understood that I have used it for the whole kingdom.

Tôi phải nói rõ rằng trong quyển sách này, tôi chỉ mô tả một vài trong số hàng ngàn loại tiên hiện hữu. Tôi không muốn ai cho rằng tôi nghĩ mình đã thấy tất cả mọi loại hiện có. Chúng có đông đảo và đa dạng như côn trùng, chim, thú có vú và cá hay không thì tôi không thể nói, nhưng chúng thật sự hiện hữu với sự phong phú và đa dạng lớn lao. Tôi cho rằng, đến đúng lúc, những tên gọi khác nhau và chính xác sẽ được đặt cho mọi hạng và mọi loại. Thật vậy, trong các thần thoại khác nhau, các tên gọi đã được đặt ra. Nhưng tôi đã tránh những thuật ngữ cũ ấy. Chúng có quá nhiều liên tưởng với niềm tin đơn thuần, chứ không với tri thức, đến nỗi chúng làm xao lãng cuộc bàn luận về các tiên như những thực tại. Hơn nữa, một số ý tưởng định kiến nảy sinh trong trí người ta khi các thuật ngữ như elf, troll, undine, và những từ tương tự được dùng. Những ý tưởng này đôi khi đúng và đôi khi sai, nên để cho an toàn, tôi đã bỏ qua phần lớn các thuật ngữ cũ ấy và đặt ra những tên gọi mô tả mà tôi thấy hữu ích hơn. Ngoài ra, tôi đã gọi toàn thể giới ấy là “các tiên.” Đôi khi các sinh linh này thường được xếp loại là các tinh linh tự nhiên, còn thuật ngữ tiên được dành riêng cho một loại đặc biệt thuộc về rừng hoặc vườn. Có lẽ, vì sự chính xác, đây là một ý tưởng hay, nhưng thuật ngữ tiên được hiểu rộng rãi hơn rất nhiều nên tôi đã dùng nó cho toàn thể giới này.

There is one division within the kingdom which is quite as clear as divisions found in the world of animals and plants, and that is between fairies of the various elements. Therefore, I have arranged the descriptive part of this book to conform to the great natural divisions of fairies, namely, those of water, fire, air, and earth.

Có một sự phân chia trong giới ấy cũng rõ ràng như những sự phân chia thấy được trong thế giới động vật và thực vật, đó là sự phân chia giữa các tiên thuộc các nguyên tố khác nhau. Vì vậy, tôi đã sắp xếp phần mô tả của quyển sách này cho phù hợp với những phân chia tự nhiên lớn của các tiên, tức là các tiên thuộc nước, lửa, khí và đất.

For the fairies of water are quite distinct from those of any other element; air supplies varieties which are different from the rest just as birds are different from fish or insects. This gives a natural and inevitable classification and one in which less departure from physical experience is involved. The groups merge into one another, just as in our solid world, some fish can fly a bit, and some land creatures can swim. But it is nevertheless a clear-cut and real division.

Vì các tiên của nước hoàn toàn khác với các tiên của bất kỳ nguyên tố nào khác; khí cung cấp những giống loại khác biệt với phần còn lại, cũng như chim khác với cá hay côn trùng. Điều này đem lại một sự phân loại tự nhiên và tất yếu, và là một sự phân loại ít rời xa kinh nghiệm hồng trần hơn. Các nhóm hoà lẫn vào nhau, cũng như trong thế giới rắn chắc của chúng ta, một số loài cá có thể bay đôi chút, và một số sinh vật trên cạn có thể bơi. Nhưng dù vậy, đó vẫn là một sự phân chia rõ rệt và có thật.

However, there is among them all, one type that most completely characterizes the term fairy. This is the common woods or garden fairy who figures frequently in these pages. He is to be found everywhere, and he varies as much from continent to continent as nationalities vary among human beings. Perhaps the best way to plunge into our subject is to take one of these land fairies and describe him at some length, in the hope that with his aid and in his companionship, we can enter freely and happily in the kingdom of these very real and truly delightful and friendly folk.

Tuy nhiên, trong số tất cả chúng, có một loại biểu hiện trọn vẹn nhất ý nghĩa của thuật ngữ tiên. Đó là tiên rừng hay tiên vườn thông thường, nhân vật thường xuất hiện trong các trang này. Y có thể được tìm thấy khắp nơi, và y thay đổi từ lục địa này sang lục địa khác cũng nhiều như các quốc tịch thay đổi giữa con người. Có lẽ cách tốt nhất để đi thẳng vào chủ đề của chúng ta là lấy một trong các tiên trên đất này và mô tả y khá dài, với hy vọng rằng nhờ sự trợ giúp của y và trong sự đồng hành của y, chúng ta có thể bước vào một cách tự do và hạnh phúc trong giới của những người bạn rất thật, thật sự đáng yêu và thân thiện này.

2 – 2

DIALOGUES WITH LITTLE PEOPLE – ĐỐI THOẠI VỚI NHỮNG NGƯỜI BÉ NHỎ

Our world already touches the fairy world at some points. Many people feel more or less truly the spirit of a wood or the grandeur of a mountain, but they attribute it too often to extraneous sights and sounds and sensations, whereas it often arises largely from the fairy world within. Poets like A. E., James Stevens, Yeats, Tennyson, and Shakespeare have enriched our knowledge of and feeling for the fairy world. They have known and known truly. A much larger number of people than is commonly supposed are in close communion with fairies and angels. The gap between the two groups of beings, fairies and humans, is not nearly so wide as our ignorance assumes. If we could only realize that we live in a world crowded with fairies, angels, and all manner of beings, it would make an immense difference in our attitude and our mode of living. The mere belief that such a world exists should delight us, the knowledge and certainty would follow in due course. We ourselves would become much more alive, for it is impossible to get into touch with that world, which thrills with the sense of being alive, without ourselves catching the same spirit and our own creative energy being awakened.

Thế giới của chúng ta đã chạm đến thế giới tiên ở một vài điểm. Nhiều người ít nhiều cảm nhận đúng tinh thần của một khu rừng hay vẻ hùng vĩ của một ngọn núi, nhưng họ quá thường quy điều đó cho những cảnh sắc, âm thanh và cảm giác bên ngoài, trong khi nó thường phát sinh phần lớn từ thế giới tiên bên trong. Những thi sĩ như A. E., James Stevens, Yeats, Tennyson và Shakespeare đã làm phong phú tri thức và cảm xúc của chúng ta đối với thế giới tiên. Họ đã biết, và biết một cách chân thật. Số người ở trong sự giao cảm gần gũi với các tiên và thiên thần lớn hơn rất nhiều so với điều người ta thường giả định. Khoảng cách giữa hai nhóm sinh linh, các tiên và con người, không hề rộng như sự vô minh của chúng ta tưởng. Nếu chúng ta chỉ có thể nhận ra rằng mình sống trong một thế giới đầy ắp các tiên, thiên thần và đủ mọi loại sinh linh, điều đó sẽ tạo nên một khác biệt vô cùng lớn trong thái độ và lối sống của chúng ta. Chỉ riêng niềm tin rằng một thế giới như thế hiện hữu cũng nên làm chúng ta hân hoan; tri thức và sự chắc chắn sẽ theo sau vào đúng lúc. Chính chúng ta sẽ trở nên sống động hơn nhiều, vì không thể tiếp xúc với thế giới ấy, vốn rung lên với cảm thức về sự sống động, mà chính chúng ta lại không bắt được cùng một tinh thần ấy và năng lượng sáng tạo của chính mình không được đánh thức.

I was only one of many children who have known of fairies from the very earliest years, but in my case—owing to my good fortune and perhaps special advantages—this knowledge has not only persisted but widened. The reader may know of cases like this; I also have met many children who see and many more adults who still remember the days when they had this power. But not many have the courage to own up to their faculties, for often they are afraid of being thought peculiar. The very way so many parents treat children puts them on the defensive in the matter. Being spanked for “telling lies” is no encouragement to pursue the subject further. It makes the child ashamed of a lovely experience. Furthermore, we must remember that the whole business of seeing fairies is a delicate operation at best. The power to see requires conditions of quiet and peace; and then, fairies are themselves quite as shy as wild creatures and have to be tamed and attracted. Altogether, even under the best circumstances, especially around cities, the undertaking is not easy for the inexperienced. Add to this the ignorant hostility of the majority and, what is more, a fixed belief that only the dense material is real, and one can begin to appreciate the problem faced by the seeing child. Fortunately, more and more parents are becoming aware of nurturing creative abilities and higher sense perceptions in their children.

Tôi chỉ là một trong số nhiều trẻ em đã biết về các tiên từ những năm rất sớm, nhưng trong trường hợp của tôi — nhờ vận may và có lẽ nhờ những thuận lợi đặc biệt — tri thức này không những vẫn tồn tại mà còn mở rộng. Độc giả có thể biết những trường hợp như thế; tôi cũng đã gặp nhiều trẻ em thấy được và nhiều người lớn hơn nữa vẫn còn nhớ những ngày họ có quyền năng này. Nhưng không nhiều người có can đảm thừa nhận các năng lực của mình, vì họ thường sợ bị cho là kỳ quặc. Chính cách quá nhiều cha mẹ đối xử với trẻ em khiến chúng phải tự vệ trong vấn đề này. Bị đánh đòn vì “nói dối” không phải là sự khích lệ để theo đuổi chủ đề ấy xa hơn. Nó làm đứa trẻ xấu hổ về một kinh nghiệm đáng yêu. Hơn nữa, chúng ta phải nhớ rằng toàn bộ việc thấy các tiên, trong điều kiện tốt nhất, vẫn là một thao tác tinh tế. Quyền năng thấy đòi hỏi các điều kiện tĩnh lặng và bình an; thêm nữa, chính các tiên cũng nhút nhát chẳng kém gì các sinh vật hoang dã và cần được thuần hoá cũng như lôi cuốn. Nói chung, ngay cả trong những hoàn cảnh tốt nhất, đặc biệt quanh các thành phố, công việc này không dễ đối với người thiếu kinh nghiệm. Thêm vào đó là sự thù nghịch vô minh của đa số và, hơn nữa, niềm tin cố định rằng chỉ vật chất đậm đặc mới là thực, và người ta có thể bắt đầu hiểu được vấn đề mà đứa trẻ thấy được phải đối diện. May thay, ngày càng có nhiều cha mẹ ý thức về việc nuôi dưỡng các khả năng sáng tạo và những nhận thức giác quan cao hơn nơi con cái mình.

People who live close to nature, such as peasants and farmers the world over, know of fairies. The evidence is as incontrovertible in its mass and source as it is important in its nature and consequences. It is important, therefore, to set down instances of contact between the two kingdoms.

Những người sống gần gũi với tự nhiên, như nông dân và người làm ruộng khắp thế giới, đều biết về các tiên. Xét về khối lượng và nguồn gốc, bằng chứng cũng không thể chối cãi như xét về bản chất và hậu quả, nó là quan trọng. Vì vậy, điều quan trọng là ghi lại những trường hợp tiếp xúc giữa hai giới.

The relation we could all have with fairies can be illustrated by one incident. Many years ago some friends celebrated my fourteenth birthday with a picnic at National Park in Australia. In the party there were others who could see, and as we sat on the bank of the main stream in the park, we remarked on the numbers of curious and friendly fairies peering at us from the bush. This was our first visit to the park, and the wealth of fairy life led us to get in touch with the angel of the area. He proved to be a remarkable character, of great stature, and with an air of power and determination. He was accustomed to rule and carry out his plans, but in a way imbued with great kindness. He had been attracted to one member of our party who wore a jeweled cross, everywhere a symbol of power, and in this case a jewel with a very special radiation of light. So the angel remarked on it and said as much to us. He was interested to find that we were capable of talking to him and seeing fairies. He wanted to know all about the cross and even expressed a desire to have something of a similar nature, and asked us if we could not get him one. We were, of course, curious to know what made him want such a thing, and he explained. It appeared that he was ensouling this great valley and that he had a scheme for it. He had divided the valley into three parts, and in each place he wanted a different influence to be maintained. To this end he placed in and along the lower basin, which was tidal, a certain kind of fairy which is to be found in the sea, and also an intermediate sort which inhabits brackish waters, and higher, on the land, some gnomes and some emerald green fairies. Then, above this, there was a weir and quiet water, and in and around this he had established particularly fine sweet water fairies, a light powder or turquoise blue in color, very human looking, and on the surrounding land many sky blue woods fairies and many splendid little butterfly fellows. Still higher up the stream, where it grew inaccessible and wild, he kept up a third atmosphere, with fairies of a kind more aloof from humanity. He wanted a jewel cross put somewhere in the central section of the valley to establish a center or point of influence for that part of the area. We were interested in all this and promised to get him a cross if possible. He was exceedingly pleased with the idea and most grateful.

Mối quan hệ mà tất cả chúng ta có thể có với các tiên có thể được minh hoạ bằng một sự việc. Nhiều năm trước, một số bạn bè đã mừng sinh nhật thứ mười bốn của tôi bằng một buổi dã ngoại tại Công viên Quốc gia ở Úc. Trong nhóm có những người khác cũng có thể thấy, và khi chúng tôi ngồi trên bờ dòng suối chính trong công viên, chúng tôi nhận xét về số lượng các tiên tò mò và thân thiện đang nhìn chúng tôi từ bụi cây. Đây là lần đầu tiên chúng tôi đến công viên, và sự phong phú của sự sống tiên đã khiến chúng tôi liên lạc với thiên thần của khu vực. Ngài tỏ ra là một tính cách đáng chú ý, có vóc dáng lớn lao, với phong thái đầy quyền năng và quyết tâm. Ngài quen cai quản và thực hiện các kế hoạch của mình, nhưng theo một cách thấm nhuần lòng nhân hậu lớn lao. Ngài đã bị thu hút bởi một thành viên trong nhóm chúng tôi, người đeo một cây thập giá nạm ngọc, ở đâu cũng là biểu tượng của quyền năng, và trong trường hợp này là một viên ngọc có bức xạ ánh sáng rất đặc biệt. Vì vậy thiên thần nhận xét về nó và nói với chúng tôi như thế. Ngài thích thú khi thấy chúng tôi có khả năng nói chuyện với Ngài và thấy các tiên. Ngài muốn biết tất cả về cây thập giá và thậm chí bày tỏ mong muốn có một vật có bản chất tương tự, rồi hỏi chúng tôi liệu chúng tôi có thể kiếm cho Ngài một cái không. Dĩ nhiên, chúng tôi tò mò muốn biết điều gì khiến Ngài muốn một vật như vậy, và Ngài giải thích. Có vẻ như Ngài đang phú linh thung lũng lớn này và Ngài có một hệ hoạch cho nó. Ngài đã chia thung lũng thành ba phần, và ở mỗi nơi Ngài muốn duy trì một ảnh hưởng khác nhau. Vì mục đích này, Ngài đặt trong và dọc theo lưu vực thấp, vốn chịu thuỷ triều, một loại tiên nhất định có thể tìm thấy ở biển, và cũng có một loại trung gian cư ngụ trong nước lợ, rồi cao hơn, trên đất liền, một số gnome và một số tiên xanh ngọc lục bảo. Sau đó, phía trên phần này có một đập nước và vùng nước yên, và trong cũng như quanh đó Ngài đã thiết lập những tiên nước ngọt đặc biệt tinh tế, có màu lam nhạt như phấn hay xanh ngọc, trông rất giống người, và trên vùng đất xung quanh có nhiều tiên rừng màu xanh da trời cùng nhiều anh bạn bướm nhỏ tuyệt đẹp. Lên cao hơn nữa theo dòng suối, nơi nó trở nên khó tiếp cận và hoang dã, Ngài duy trì một bầu không khí thứ ba, với các tiên thuộc một loại xa cách nhân loại hơn. Ngài muốn đặt một cây thập giá nạm ngọc ở đâu đó trong phần trung tâm của thung lũng để thiết lập một trung tâm hay điểm ảnh hưởng cho phần ấy của khu vực. Chúng tôi quan tâm đến tất cả điều này và hứa sẽ kiếm cho Ngài một cây thập giá nếu có thể. Ngài hết sức vui mừng với ý tưởng ấy và rất biết ơn.

Our party sang songs, as one does on such occasions, and this brought fairies from all over the place, the angel looking on all the time. They crowded round and were amazed to find people who could talk to them and who appreciated what they were about. When it came time to go, they begged us to come back again,

Nhóm chúng tôi hát các bài hát, như người ta thường làm trong những dịp như thế, và điều này đã đưa các tiên từ khắp nơi đến, trong khi thiên thần luôn đứng nhìn. Họ tụ tập đông đảo quanh chúng tôi và kinh ngạc khi thấy những người có thể nói chuyện với họ và trân trọng những gì họ đang làm. Khi đến lúc phải đi, họ nài xin chúng tôi trở lại,

In due course, a friend and I returned on the day we had appointed to give the angel the cross, but without it. As soon as we came down to the place, in fact, before we really got there, the angel’s first question was, “Have you got the cross?” I explained that we hadn’t, because it was not yet ready. At this he was extremely disappointed and said one really should keep one’s promises, once given, and that such things do not happen in the angelic kingdom. That slips occur in our material world did not count with him. But we stayed and had an enjoyable time making friends with several pleasant fairies who were delighted to talk to us. For the angel’s plan included helping human beings, who came there in thousands on holidays. He wanted to give them some vision of beauty and some feeling of rest, and the fairies were told to be as kind as possible to visitors and to try to understand them. So they were always curious about human doings and had more than the usual interest in finding a couple of human beings willing to talk to them and able to explain the vagaries of human behavior. Some points were mysterious to them. For example, holiday crowds played football there. The fairies could understand the running but did not make out why the ball was an object of such fierce pursuit. We never managed to make this clear, except to convey that it was a game. We promised the angel that we would come back and bring the cross without fail.

Đến đúng lúc, một người bạn và tôi trở lại vào ngày chúng tôi đã hẹn để trao cây thập giá cho thiên thần, nhưng lại không mang nó theo. Ngay khi chúng tôi đi xuống nơi ấy, thật ra là trước khi chúng tôi thật sự tới đó, câu hỏi đầu tiên của thiên thần là: “Các bạn có đem cây thập giá không?” Tôi giải thích rằng chúng tôi không đem, vì nó vẫn chưa sẵn sàng. Nghe vậy, Ngài vô cùng thất vọng và nói rằng một khi đã hứa thì người ta thật sự nên giữ lời, và những điều như thế không xảy ra trong giới thiên thần. Những sơ suất xảy ra trong thế giới vật chất của chúng ta không có giá trị gì đối với Ngài. Nhưng chúng tôi ở lại và có một thời gian vui vẻ kết bạn với vài tiên dễ mến, họ rất vui thích được nói chuyện với chúng tôi. Vì kế hoạch của thiên thần bao gồm việc giúp đỡ con người, những người đến đó hàng ngàn người vào các ngày nghỉ. Ngài muốn ban cho họ một linh ảnh nào đó về cái đẹp và một cảm giác nghỉ ngơi nào đó, và các tiên được bảo phải tử tế hết mức có thể với khách viếng thăm và cố gắng thấu hiểu họ. Vì vậy họ luôn tò mò về những việc làm của con người và có sự quan tâm hơn thường lệ khi tìm thấy một đôi con người sẵn lòng nói chuyện với họ và có thể giải thích những sự thất thường trong hành vi của con người. Một số điểm đối với họ rất bí ẩn. Chẳng hạn, các đám đông đi nghỉ chơi bóng đá ở đó. Các tiên có thể hiểu việc chạy, nhưng không hiểu tại sao quả bóng lại là đối tượng bị đuổi bắt dữ dội đến thế. Chúng tôi chưa bao giờ giải thích được điều này cho rõ, ngoại trừ truyền đạt rằng đó là một trò chơi. Chúng tôi hứa với thiên thần rằng chúng tôi sẽ trở lại và chắc chắn mang cây thập giá.

The cross was finally ready, and we took it down to the park. The angel explained to us where he wanted it put, but after walking a couple of miles and finding the place, we discovered it was particularly horrible, with a gruesomely unpleasant atmosphere due, I am bound to admit, to human misdeeds. We appealed to the angel, and he said that he wanted the cross in this unpleasant place just because it was so unsavory. He hoped the radiation of the jewel would set it right. We begged him not to insist on that but to select a lovely spot where it would do its work with help from the surroundings. He called another angel into the discussion, and finally it was decided to put the cross in a spot of great beauty and more centrally located. Accordingly it was concealed there, and the angel called at once all the fairies of the valley to the place. Thousands came to join the hundreds who already had been watching the business with great curiosity. The angel explained the purpose of the jewels, and he held then and there a ceremony to celebrate the acquisition. The fairies passed around in a circle in a slow winding dance, delightful in this addition to the beauties of the park. They were told by the angel to go there constantly and bathe in the radiation of the jewels and so carry the new influence about the park.

Cuối cùng cây thập giá đã sẵn sàng, và chúng tôi mang nó xuống công viên. Thiên thần giải thích cho chúng tôi nơi Ngài muốn đặt nó, nhưng sau khi đi bộ vài dặm và tìm thấy chỗ ấy, chúng tôi phát hiện đó là một nơi đặc biệt ghê tởm, với một bầu không khí khó chịu rùng rợn, mà tôi buộc phải thừa nhận là do những hành vi sai trái của con người. Chúng tôi thỉnh cầu thiên thần, và Ngài nói rằng Ngài muốn cây thập giá ở nơi khó chịu này chính vì nó quá đáng ghê tởm. Ngài hy vọng bức xạ của viên ngọc sẽ chỉnh lại nó. Chúng tôi khẩn cầu Ngài đừng khăng khăng như vậy mà hãy chọn một chỗ đáng yêu, nơi nó có thể làm công việc của mình với sự trợ giúp từ môi trường chung quanh. Ngài gọi một thiên thần khác vào cuộc thảo luận, và cuối cùng quyết định đặt cây thập giá ở một nơi rất đẹp và nằm ở vị trí trung tâm hơn. Theo đó, nó được giấu ở đó, và thiên thần lập tức gọi tất cả các tiên của thung lũng đến nơi ấy. Hàng ngàn tiên đến gia nhập với hàng trăm vị đã theo dõi việc này với sự tò mò lớn lao. Thiên thần giải thích mục đích của các viên ngọc, và ngay tại đó Ngài tổ chức một nghi lễ để mừng việc có được vật ấy. Các tiên đi vòng quanh theo một vòng tròn trong một điệu múa uốn lượn chậm rãi, thật đáng yêu khi thêm vào vẻ đẹp của công viên. Thiên thần bảo họ thường xuyên đến đó và tắm mình trong bức xạ của các viên ngọc, rồi như thế mang ảnh hưởng mới đi khắp công viên.

Such an episode is, of course, rare, but fairies in gardens every day are in touch with human beings. Generally when people come into a garden they know nothing about the fairies there. The fairies know the humans are there, but as there is no human response, they go about their own business.

Dĩ nhiên, một tình tiết như thế là hiếm, nhưng các tiên trong vườn hằng ngày vẫn tiếp xúc với con người. Thông thường khi người ta bước vào một khu vườn, họ không biết gì về các tiên ở đó. Các tiên biết con người có mặt, nhưng vì không có đáp ứng từ phía con người, họ tiếp tục công việc riêng của mình.

They always take notice of children and especially of quite small ones, as they have much affection for children, who are in the human order the nearest things to them. If, however, we walk in a garden without seeing the fairies but imagine their presence, we are sure to get in touch with them, especially when we stop to admire the flowers. Sincere admiration of the flowers and the plants is a great source of gratification to fairies. If they see a human being who truly feels attraction for a special plant or flower, they take an interest in the admirer, as their vanity is flattered. They immediately think that person must be especially nice, and in this way a point of contact is established, for growing things is a common interest. Love for flowers and a conscious invitation to the fairies to help is a way to come to know them and perhaps even to see them. It is love of living things which is the great bridge between the two kingdoms.

Họ luôn chú ý đến trẻ em, và đặc biệt là trẻ rất nhỏ, vì họ có nhiều tình cảm đối với trẻ em, những sinh linh trong trật tự nhân loại gần gũi với họ nhất. Tuy nhiên, nếu chúng ta đi trong một khu vườn mà không thấy các tiên nhưng hình dung sự hiện diện của họ, chắc chắn chúng ta sẽ tiếp xúc với họ, đặc biệt khi chúng ta dừng lại để chiêm ngưỡng các bông hoa. Sự chiêm ngưỡng chân thành đối với hoa và cây cối là một nguồn vui lớn cho các tiên. Nếu họ thấy một con người thật sự cảm thấy bị thu hút bởi một cây hay một bông hoa đặc biệt, họ quan tâm đến người chiêm ngưỡng ấy, vì lòng tự ái của họ được ve vuốt. Họ lập tức nghĩ rằng người ấy hẳn phải đặc biệt dễ thương, và bằng cách này một điểm tiếp xúc được thiết lập, vì những sự vật đang lớn lên là một mối quan tâm chung. Tình thương đối với hoa và một lời mời gọi có ý thức để các tiên trợ giúp là một cách để đi đến chỗ biết họ và có lẽ thậm chí thấy họ. Chính tình thương đối với những sự vật sống động là cây cầu lớn giữa hai giới.

The method of getting in touch with water babies (as I call them) is rather different. They are not at all shy or timid of human beings and so are willing to come near and make friends. They can help us considerably because of their overabundance of vitality, as will be discussed later. When I lived near the sea, we had a delightful way of getting into touch with the creatures of the water. Whenever we crossed the water on the ferry, I used to think of the sea fairies and invite them to come close to us. This they willingly did, as they thought it a lark. We used to amuse ourselves by looking around the boat until we found someone who looked miserable. Then we would ask one of the water babies if he would not go to that person and give him some of the sense of radiant happiness that is necessary to them. He would love to do this, so he would run up to such a person and try to shoot happiness into him, and very often we would see a change in the face and even the appearance of a smile. The fairy sometimes would stay about that individual for an hour or so trying to make him feel better. (These sea fairies can follow a person onto the land for a couple of hours but not very much longer.) This is something many people could try for themselves. The water baby likes to help, and to him it is all adventure. Some people feel, after such ministrations, as if they had had a refreshing meal, so substantial is the effect to a sensitive person.

Phương pháp tiếp xúc với các em bé nước, như tôi gọi họ, thì hơi khác. Họ hoàn toàn không nhút nhát hay e sợ con người, nên sẵn lòng đến gần và kết bạn. Họ có thể giúp chúng ta đáng kể nhờ sự dồi dào sinh lực quá mức của họ, như sẽ được bàn đến về sau. Khi tôi sống gần biển, chúng tôi có một cách rất thú vị để tiếp xúc với các sinh vật của nước. Mỗi khi chúng tôi đi qua nước bằng phà, tôi thường nghĩ đến các tiên biển và mời họ đến gần chúng tôi. Họ sẵn lòng làm như vậy, vì họ nghĩ đó là một trò vui. Chúng tôi thường tự giải trí bằng cách nhìn quanh thuyền cho đến khi tìm thấy ai đó trông khổ sở. Rồi chúng tôi hỏi một trong các em bé nước liệu y có chịu đến với người ấy và trao cho người ấy một phần cảm thức hạnh phúc rạng rỡ vốn cần thiết đối với họ không. Y rất thích làm điều này, nên y chạy đến người ấy và cố bắn hạnh phúc vào y, và rất thường chúng tôi thấy một sự thay đổi trên gương mặt, thậm chí sự xuất hiện của một nụ cười. Đôi khi tiên ấy ở quanh cá nhân đó khoảng một giờ hay hơn, cố làm cho y cảm thấy khá hơn. Các tiên biển này có thể theo một người lên đất liền trong đôi ba giờ nhưng không lâu hơn nhiều. Đây là điều nhiều người có thể tự thử. Em bé nước thích giúp đỡ, và đối với y tất cả là một cuộc phiêu lưu. Một số người cảm thấy, sau những sự chăm sóc như thế, như thể họ vừa có một bữa ăn làm tươi mới, vì hiệu quả đối với một người nhạy cảm thật đáng kể.

The help does not always come from fairy to human being; neither is the contact between the two kingdoms always of a pleasant character.

Sự trợ giúp không phải lúc nào cũng đến từ tiên sang con người; và sự tiếp xúc giữa hai giới cũng không phải lúc nào cũng có tính chất dễ chịu.

A case illustrating this happened to me. One evening in Australia a few of us went for a walk along the point of land in Sydney harbor where a dear Little Fellow is to be found. As we approached this place, the first thing that was strange was the sensation of physical heat at a certain spot along the path, although it was a cool night and it had not been a warm day. At the same time, there was also a most unpleasant creepy feeling. We had until then no special thought of my little fairy friend, but at that moment we caught sight of him running as hard as he could away from this unpleasant spot. Just then he also saw us and turned and rushed towards us, delighted and relieved to see us. He told us that he was terrified, as some most unpleasant creatures of which he was really frightened had invaded his place. We found indeed that there were four or five big monster-like creatures of a horrible color and feeling. They were playing in their own way and writhing about the spot. They were of a hideous red color, with monstrous caricatures of bison heads and shapeless bodies. They were the embodiment of some thoroughly unpleasant feelings resulting from some episodes involving humans which had taken place at that particular place. Something had gradually built up enough of an unpleasant emotional charge there so that, on this particular night, the negative feelings took this independent elemental shape. Our fairy friend begged for our help. We tried to drive the beasts away, for they were of low intelligence, and none could be of any practical use. But they were obstinate, and no effort of will had much direct effect on them. But by chance we found they had a mortal fear of the sea, just close by, and by an effort of our more determined will, we finally dislodged them from the land, and they tumbled into the harbor and almost immediately melted from sight.

Một trường hợp minh hoạ điều này đã xảy ra với tôi. Một buổi tối ở Úc, vài người trong chúng tôi đi dạo dọc theo mũi đất trong cảng Sydney, nơi có thể tìm thấy một Anh Bạn Nhỏ thân yêu. Khi chúng tôi đến gần nơi này, điều lạ đầu tiên là cảm giác nóng hồng trần tại một điểm nhất định dọc theo lối đi, mặc dù đó là một đêm mát và ban ngày cũng không nóng. Đồng thời, cũng có một cảm giác rờn rợn hết sức khó chịu. Cho đến lúc ấy chúng tôi không nghĩ đặc biệt gì đến người bạn tiên nhỏ của tôi, nhưng ngay khoảnh khắc đó chúng tôi thoáng thấy y đang chạy hết sức có thể khỏi chỗ khó chịu này. Đúng lúc ấy y cũng thấy chúng tôi, liền quay lại và lao về phía chúng tôi, vui mừng và nhẹ nhõm khi thấy chúng tôi. Y nói với chúng tôi rằng y khiếp sợ, vì một số sinh vật rất khó chịu, khiến y thật sự sợ hãi, đã xâm nhập nơi ở của y. Quả thật chúng tôi thấy có bốn hay năm sinh vật lớn giống quái vật, với màu sắc và cảm giác ghê tởm. Chúng đang chơi theo cách riêng của mình và quằn quại quanh chỗ ấy. Chúng có màu đỏ gớm ghiếc, với những cái đầu như tranh biếm hoạ quái dị của bò rừng và những thân hình vô dạng. Chúng là hiện thân của một số cảm xúc hết sức khó chịu phát sinh từ vài sự kiện liên quan đến con người đã xảy ra tại chính nơi đó. Một điều gì đó đã dần dần tích tụ đủ điện tích cảm xúc khó chịu ở đó, đến nỗi vào đêm đặc biệt này, những cảm xúc tiêu cực ấy khoác lấy hình dạng hành khí độc lập này. Người bạn tiên của chúng tôi khẩn cầu sự giúp đỡ của chúng tôi. Chúng tôi cố xua đuổi các con thú ấy, vì chúng có trí tuệ thấp, và không con nào có thể có bất kỳ ích lợi thực tiễn nào. Nhưng chúng ngoan cố, và không nỗ lực ý chí nào có tác dụng trực tiếp nhiều đối với chúng. Nhưng tình cờ chúng tôi phát hiện chúng có nỗi sợ chết người đối với biển, ngay gần đó, và bằng một nỗ lực ý chí cương quyết hơn của chúng tôi, cuối cùng chúng tôi đẩy chúng ra khỏi đất liền, và chúng lăn xuống cảng rồi gần như lập tức tan biến khỏi tầm mắt.

The Little Fellow never forgot this help and remained steadily our friend as long as we lived there. It is, however, more common to find fairies helping humanity than the other way around, for after all they are aware of us and are almost uniformly kindly, whereas we seldom know about them, and besides we are rather subject to moods—although moods do not last long in their presence! There is, in fact, a remarkable arrangement by means of which that world helps the people in this world of ours.

Anh Bạn Nhỏ không bao giờ quên sự giúp đỡ này và vẫn kiên định là bạn của chúng tôi chừng nào chúng tôi còn sống ở đó. Tuy nhiên, thường gặp hơn là các tiên giúp nhân loại chứ không phải ngược lại, vì rốt cuộc họ ý thức về chúng ta và hầu như luôn luôn tử tế, trong khi chúng ta hiếm khi biết về họ, và ngoài ra chúng ta lại khá lệ thuộc vào tâm trạng — mặc dù tâm trạng không kéo dài lâu khi có sự hiện diện của họ! Thật vậy, có một sự sắp đặt đáng chú ý nhờ đó thế giới ấy giúp đỡ những người trong thế giới này của chúng ta.

There is a whole department, as it were, composed of highly developed sylphs and often even angels who take part in the work. Many people have what is commonly called a “guardian angel.” This is usually a sylph who is linked with a person at birth or baptism or through some other ceremonial occasion. Guardian angels are supposed to help their human friends, especially at critical times, taking special interest during the years of childhood, though very often the connection languishes later on. If, however, human beings were aware of the relationship, they could do much more to profit by it, for one’s sylph is delighted to take part in the life of a person who responds to the sorts of things in which the sylph is interested. If the human partner is egocentric and is interested only in the more material sides of life, the sylph soon loses interest, although even then the sylph will help on occasion and during crises. But if the child shows increasing interest in things worthwhile and is being of use to others and generally outwardly turned and socially minded, then the presence and active aid of the sylph can continue for years. Sometimes the relationship is very beautiful. As a rule the sylph or the angel (in cases where it is an angel) is definitely more developed than the man or woman of the partnership and has the immense advantages of the fairy life, that is, its mobility, its cooperative spirit, and its beneficent outlook. For instance, the guardian may perceive that the child of its human friend is in some danger; the sylph then flashes into the feelings of the baby’s mother the idea of danger and moves her to run and see just in time. Innumerable little things—and often more important events which happen in early life—bring the relationship into active being.

Có thể nói, có cả một bộ phận gồm các sylph phát triển cao và thường thậm chí cả các thiên thần tham gia vào công việc. Nhiều người có cái thường được gọi là “thiên thần hộ mệnh.” Đây thường là một sylph được liên kết với một người lúc sinh ra hoặc lúc rửa tội, hoặc qua một dịp nghi lễ nào khác. Người ta cho rằng các thiên thần hộ mệnh giúp đỡ những người bạn con người của mình, đặc biệt vào những thời điểm nguy cấp, có sự quan tâm đặc biệt trong những năm thơ ấu, dù rất thường về sau mối liên hệ trở nên suy yếu. Tuy nhiên, nếu con người ý thức về mối quan hệ này, họ có thể làm được nhiều hơn để hưởng lợi từ nó, vì sylph của một người rất vui thích được tham gia vào đời sống của một người đáp ứng với những loại sự vật mà sylph quan tâm. Nếu người bạn đồng hành con người tập trung vào bản thân và chỉ quan tâm đến những phương diện vật chất hơn của đời sống, sylph sớm mất hứng thú, mặc dù ngay cả khi ấy sylph vẫn sẽ giúp đỡ trong vài dịp và trong các cơn khủng hoảng. Nhưng nếu đứa trẻ tỏ ra ngày càng quan tâm đến những điều đáng giá, đang hữu ích cho người khác, và nói chung hướng ra ngoài cũng như có tinh thần xã hội, thì sự hiện diện và trợ giúp tích cực của sylph có thể tiếp tục trong nhiều năm. Đôi khi mối quan hệ rất đẹp. Theo thường lệ, sylph hoặc thiên thần, trong những trường hợp đó là một thiên thần, chắc chắn phát triển hơn người nam hay người nữ trong mối quan hệ ấy, và có những lợi thế lớn lao của sự sống tiên, tức là tính động, tinh thần hợp tác và triển vọng thiện ích của nó. Chẳng hạn, vị hộ mệnh có thể nhận thấy đứa con của người bạn con người của mình đang gặp một nguy hiểm nào đó; khi ấy sylph loé vào cảm xúc của mẹ đứa bé ý tưởng về nguy hiểm và thúc bà chạy đến xem vừa kịp lúc. Vô số điều nhỏ bé — và thường cả những sự kiện quan trọng hơn xảy ra trong đời sống ban đầu — đưa mối quan hệ vào hiện hữu tích cực.

In childhood the relationship between the two kingdoms is closer than at any other time of life. This is because children are closer by nature to fairies than any other human beings. They are naturally happy and spontaneous in action; they fit well into nature; they are also somewhat irresponsible, with few worries about food and clothing; and they have a remarkable capacity for finding delight, fascination, and creative joy in little things like a pebble or a shell or an empty box. They also take an intense interest in young and growing things, are boundlessly curious about everything within range, have no consciousness of conventional traditions of behavior or moralities, and love adventure, dressing up, and tales of mystery and imagination. In all these ways children are close to the fairies in character. This is why in childhood the gates are so often open, and the human and fairy worlds are so completely one.

Trong thời thơ ấu, mối quan hệ giữa hai giới gần gũi hơn bất kỳ thời điểm nào khác của đời sống. Điều này là vì trẻ em, do bản chất, gần gũi với các tiên hơn bất kỳ con người nào khác. Chúng tự nhiên hạnh phúc và tự phát trong hành động; chúng hoà hợp tốt với tự nhiên; chúng cũng phần nào vô trách nhiệm, ít lo lắng về thức ăn và quần áo; và chúng có một khả năng đáng chú ý để tìm thấy niềm vui, sự mê say và hoan hỉ sáng tạo trong những vật nhỏ bé như một viên sỏi, một vỏ sò hay một cái hộp rỗng. Chúng cũng quan tâm mãnh liệt đến những sự vật non trẻ và đang lớn lên, tò mò vô hạn về mọi thứ trong tầm với, không có tâm thức về những truyền thống quy ước của hành vi hay đạo đức, và yêu thích phiêu lưu, hoá trang, cùng những câu chuyện huyền bí và tưởng tượng. Trong tất cả những cách này, trẻ em gần gũi với các tiên về tính cách. Đây là lý do vì sao trong thời thơ ấu các cánh cổng thường mở ra, và thế giới con người cùng thế giới tiên hoàn toàn là một.

Among adults there are many individuals who are more or less aware of the fairy kingdom, but the only group of people who may be said to furnish a sort of test of the relationship are sailors. The physical conditions of their life naturally mark them; the hours they keep, with watches in the night, their life on the sea, secluded with the same small company for long periods at a time, the sense of detachment from ordinary human concerns—all these create a special environment. In those surroundings, however, the fairies also play a part. Sailors are the only group of human beings who are subjected almost exclusively for long periods at a time to the presence and atmosphere of two special groups of fairies: those of the sea and those of the air. Now the nature of these is quite different from the land types, as I have tried to make clear. Is it not likely that the traditional character of the sailor, his belief in the supernatural and in the power of the elements, is due to this special experience? Miners, it is true, are also subjected to a special kind of fairy world, but for one thing, theirs is part of the earth element, and for another, they return to the normal influences of the surface after a few hours. But the sailor becomes really saturated with the jovial yet strange power of the creatures of the deep sea and of the air.

Trong số người lớn có nhiều cá nhân ít nhiều ý thức về giới tiên, nhưng nhóm người duy nhất có thể được nói là cung cấp một loại phép thử về mối quan hệ ấy là các thuỷ thủ. Những điều kiện hồng trần của đời sống họ tự nhiên ghi dấu lên họ; những giờ giấc họ giữ, với các phiên trực ban đêm, đời sống của họ trên biển, tách biệt với cùng một nhóm nhỏ trong những thời kỳ dài, cảm thức tách rời khỏi các mối bận tâm thông thường của con người — tất cả những điều này tạo nên một môi trường đặc biệt. Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh ấy, các tiên cũng đóng một vai trò. Thuỷ thủ là nhóm con người duy nhất trong những thời kỳ dài hầu như chỉ chịu sự hiện diện và bầu không khí của hai nhóm tiên đặc biệt: các tiên của biển và các tiên của khí. Bản chất của những nhóm này hoàn toàn khác với các loại trên đất, như tôi đã cố làm rõ. Chẳng phải có khả năng rằng tính cách truyền thống của người thuỷ thủ, niềm tin của y vào cái siêu nhiên và quyền năng của các nguyên tố, là do kinh nghiệm đặc biệt này sao? Quả thật, thợ mỏ cũng chịu ảnh hưởng của một loại thế giới tiên đặc biệt, nhưng một mặt, thế giới của họ là một phần của nguyên tố đất, và mặt khác, sau vài giờ họ trở lại với các ảnh hưởng bình thường của mặt đất. Nhưng người thuỷ thủ thật sự thấm đẫm quyền năng vui tươi mà kỳ lạ của các sinh vật biển sâu và của khí.

I have frequently been in the company of people who can watch the fairies, but the number of such folk is necessarily small. I have personally known ten or twenty with this capacity and have studied the fairies together with them at various times. I am here referring only to people who see them whenever they desire. On occasion, I have also been with persons who have seen fairies for the first time. And at times I have gone to observe and describe fairies to persons at their request, when circumstances made it useful. For instance, I made a fairy hunt in Central Park in New York just to satisfy the demands of a metropolitan paper. I went there expecting to find none at all, but there were a few, even though it was quite early spring. In fact, they were rather interesting, as they seemed to have no fear of human beings since they saw them so constantly. If a person came near one, the fairy would retreat a little, but the fairy had no sense of being menaced. There were two kinds most in evidence. Some were of the small, twelve-inch emerald green kind. They were having a lovely time climbing about a hickory tree and were much too happy, jumping from branch to branch and rejoicing, because it was a good sunshiny day, to respond to me at all. I also saw a fairy in two shades of brown and gold, looking like a teddy bear with a chunky face, who was busily engaged with some bushes. I managed to get into conversation with him, and I tried to explain to him that he would be put into a newspaper and could he not say something special? He was intrigued with the idea of receiving attention, but could not grasp the idea at all. His notion of a newspaper was a thing people put in front of their faces and then threw about the park! Why they did this, and how he could be put into one of them and then be thrown on the ground, was quite beyond his capacity to take in. As for a special interview, after all he was there, the people were there, he liked them, and he particularly liked the children, and so what was it all about? He was an extremely matter-of-fact fairy, I am afraid. Nevertheless, even though the fairy life in the park provided nothing very particular, the fact that there were any fairies at all in the cities was of much interest at that time. I have, in the past, actually accompanied reporters on such fairy hunts—not that the reporters ever saw them. For there continues to be wide interest in the fairy world, even in our materialistic, science-oriented world.

Tôi thường ở trong công ty của những người có thể quan sát các tiên, nhưng số người như thế tất yếu là ít. Cá nhân tôi đã biết mười hay hai mươi người có khả năng này và đã cùng họ nghiên cứu các tiên vào nhiều thời điểm khác nhau. Ở đây tôi chỉ nói đến những người thấy họ bất cứ khi nào họ muốn. Đôi khi, tôi cũng đã ở cùng những người lần đầu tiên thấy các tiên. Và có lúc tôi đã đi quan sát và mô tả các tiên cho những người theo yêu cầu của họ, khi hoàn cảnh khiến việc ấy hữu ích. Chẳng hạn, tôi đã thực hiện một cuộc săn tiên ở Công viên Trung tâm tại New York chỉ để thoả mãn yêu cầu của một tờ báo đô thị. Tôi đến đó với dự tưởng sẽ không tìm thấy gì cả, nhưng vẫn có một vài tiên, dù lúc ấy còn khá sớm trong mùa xuân. Thật ra, họ khá thú vị, vì dường như họ không sợ con người, bởi họ thấy con người liên tục. Nếu một người đến gần một tiên, tiên ấy sẽ lùi lại một chút, nhưng y không có cảm giác bị đe doạ. Có hai loại nổi bật nhất. Một số thuộc loại nhỏ, màu xanh ngọc lục bảo, cao khoảng mười hai inch. Họ đang có một thời gian tuyệt đẹp leo trèo trên một cây hồ đào và quá hạnh phúc, nhảy từ cành này sang cành khác và vui mừng vì đó là một ngày nắng đẹp, đến nỗi hoàn toàn không đáp ứng với tôi. Tôi cũng thấy một tiên có hai sắc nâu và vàng, trông giống một con gấu bông với gương mặt chắc nịch, đang bận rộn với vài bụi cây. Tôi xoay xở được để trò chuyện với y, và tôi cố giải thích với y rằng y sẽ được đưa lên báo và liệu y có thể nói điều gì đặc biệt không. Y bị hấp dẫn bởi ý tưởng được chú ý, nhưng hoàn toàn không nắm được ý tưởng ấy. Quan niệm của y về một tờ báo là một vật người ta đặt trước mặt mình rồi ném khắp công viên! Tại sao họ làm vậy, và làm thế nào y có thể được đưa vào một trong những thứ ấy rồi bị ném xuống đất, là điều hoàn toàn vượt quá khả năng tiếp nhận của y. Còn về một cuộc phỏng vấn đặc biệt, rốt cuộc y ở đó, người ta ở đó, y thích họ, và y đặc biệt thích trẻ em, vậy thì tất cả chuyện này là gì? Tôi e rằng y là một tiên hết sức thực tế. Tuy nhiên, dù sự sống tiên trong công viên không cung cấp điều gì rất đặc biệt, sự kiện rằng vẫn có bất kỳ tiên nào trong các thành phố đã rất đáng quan tâm vào lúc ấy. Trong quá khứ, tôi thật sự đã đi cùng các phóng viên trong những cuộc săn tiên như vậy — không phải là các phóng viên từng thấy họ. Vì vẫn tiếp tục có sự quan tâm rộng rãi đến thế giới tiên, ngay cả trong thế giới duy vật, định hướng khoa học của chúng ta.

Even though fairies have been supplanted in children’s imaginations by more modern fancies, like creatures from outer space, they remain a deep, instinctive need of humanity. This yearning for their friendship and for the mere knowledge that they exist has its root in the fact that the fairies are there, silent and unseen to most people, yet close at hand—tapping, as it were, with elfin hands on the thin shell between the two worlds. The clear bell notes of their music can almost be heard. The gaiety and beauty which they embody presses in upon us from every bit of parkland, of wood, of garden. The sky and sea are joyous thresholds into their worlds. On every side there are fairies, and therefore on every side loveliness and happiness. If adults could but recapture the simplicity and directness of children even in some small degree, they too would recover the lost land of happiness that is the kingdom of the Little People, for the fairies would delight in becoming their simple friends, always to be depended upon, always kind.

Dù các tiên đã bị thay thế trong trí tưởng tượng của trẻ em bởi những ảo tưởng hiện đại hơn, như các sinh vật từ ngoài không gian, họ vẫn là một nhu cầu sâu xa, bản năng của nhân loại. Niềm khao khát tình bạn của họ và chỉ riêng tri thức rằng họ hiện hữu có gốc rễ trong sự kiện rằng các tiên đang ở đó, im lặng và vô hình đối với phần lớn người ta, nhưng vẫn ở rất gần — như thể đang gõ bằng đôi tay elf lên lớp vỏ mỏng giữa hai thế giới. Những âm điệu chuông trong trẻo của âm nhạc họ hầu như có thể được nghe thấy. Sự vui tươi và vẻ đẹp mà họ hiện thân đang ép vào chúng ta từ từng mảnh đất công viên, rừng cây, khu vườn. Bầu trời và biển cả là những ngưỡng cửa hân hoan đi vào các thế giới của họ. Khắp mọi phía đều có các tiên, và vì vậy khắp mọi phía đều có vẻ đáng yêu và hạnh phúc. Nếu người lớn chỉ có thể giành lại sự giản dị và trực tiếp của trẻ em, dù chỉ ở mức độ nhỏ nào đó, thì họ cũng sẽ phục hồi miền đất hạnh phúc đã mất, tức giới của Những Người Bé Nhỏ, vì các tiên sẽ vui thích trở thành những người bạn đơn giản của họ, luôn có thể tin cậy, luôn tử tế.

3 – 3

A TYPICAL FAIRY – MỘT TIÊN ĐIỂN HÌNH

It is not easy to give a detailed description of how fairies look or what their bodies are made of. First of all, there are the many different varieties. This problem can perhaps be best met by describing a more or less typical fairy, pointing out those characteristics that they all seem to share. The second obstacle lies in the fact that most of us find it difficult to conceive of bodies that are not made of physical matter. However, we understand from science that physical matter is itself nothing but energy patterns and waves; therefore, it should not be hard for us to think of the bodies of fairies as made of a kind of finer matter, more subtle than the rarest gas. In our world we need a more or less rigid body to resist stress and accident and pressure, and this results in all sorts of specialized structures such as the bony skeleton and the muscular and nervous systems. But the environment in which fairies live does not demand this rigidity. Gravity and density and pressure are altogether different, and a complicated and resistant form is not needed. Since this is the universal state of affairs for fairies, what I am about to say of a selected individual fairy is more or less universally true.

Không dễ đưa ra một mô tả chi tiết về hình dáng các tiên hay thể của họ được làm bằng gì. Trước hết, có nhiều giống loại khác nhau. Có lẽ vấn đề này có thể được đáp ứng tốt nhất bằng cách mô tả một tiên ít nhiều điển hình, chỉ ra những đặc điểm mà dường như tất cả họ đều chia sẻ. Trở ngại thứ hai nằm ở sự kiện rằng phần lớn chúng ta thấy khó hình dung các thể không được làm bằng vật chất hồng trần. Tuy nhiên, từ khoa học chúng ta hiểu rằng chính vật chất hồng trần chẳng là gì ngoài các mô hình và làn sóng năng lượng; vì vậy, không nên quá khó để chúng ta nghĩ về các thể của tiên như được làm bằng một loại vật chất tinh tế hơn, vi tế hơn chất khí hiếm nhất. Trong thế giới của chúng ta, chúng ta cần một thể ít nhiều cứng chắc để chống lại sức căng, tai nạn và áp lực, và điều này dẫn đến đủ mọi cấu trúc chuyên biệt như bộ xương, hệ cơ và hệ thần kinh. Nhưng môi trường trong đó các tiên sống không đòi hỏi sự cứng chắc này. Trọng lực, mật độ và áp lực hoàn toàn khác, và một hình tướng phức tạp, có sức chống chịu là không cần thiết. Vì đây là tình trạng phổ quát đối với các tiên, điều tôi sắp nói về một cá thể tiên được chọn lọc ít nhiều đúng một cách phổ quát.

For purposes of description, I shall take an ordinary fairy of the surface of the land, a common woods or garden fairy, which we may consider the most typical of them all. This kind may be said to be in midstream of fairy evolution; they are in constant touch with humankind, are found in various colors and sizes nearly everywhere on earth, and have been seen by many people. These fairies are, in fact, so common that it is easy to pick out an individual for analysis. This one happens to be a green fairy of the New England woods.

Vì mục đích mô tả, tôi sẽ lấy một tiên bình thường trên bề mặt đất, một tiên rừng hay tiên vườn thông thường, mà chúng ta có thể xem là điển hình nhất trong tất cả. Có thể nói loại này ở giữa dòng tiến hoá của tiên; họ thường xuyên tiếp xúc với nhân loại, được tìm thấy với nhiều màu sắc và kích thước khác nhau gần như khắp nơi trên Trái Đất, và đã được nhiều người thấy. Thật vậy, các tiên này phổ biến đến nỗi dễ chọn ra một cá thể để phân tích. Vị này tình cờ là một tiên xanh của rừng New England.

He is some two feet six inches tall, with a slender body and a head which is rather larger in proportion to his body than is common among adult human beings. His body is made of matter in a state much more like vapor than anything else we know of in our world, but the form is quite definite and lasting. The material of his body is as loosely knit as the vapor from the spout of a boiling teakettle and is somewhat of the nature of a cloud of colored gas. In fact it is exactly that, only the gas is finer than the lightest we know and is less readily detected even than helium or hydrogen. But this does not prevent it from being held together in a form, for it is not a chemical but a living substance which life saturates and holds together. In truth, his power over this matter as a living creature is shown by the fact that his body is composed of two distinct densities of material. The body proper is a true emerald green and fairly dense, considering the stuff of which it is made; around this on all sides, both front and back, is a much thinner cloud of the same matter in which he is not so vividly alive. This thinner portion, which extends from all sides of his body proper, is a lighter green.

Y cao khoảng hai foot sáu inch, với một thân hình mảnh dẻ và một cái đầu hơi lớn hơn so với thân mình, xét theo tỉ lệ, so với điều thường thấy ở người trưởng thành. Thể của y được làm bằng vật chất ở một trạng thái giống hơi nước hơn bất cứ thứ gì khác mà chúng ta biết trong thế giới của mình, nhưng hình tướng thì khá xác định và bền vững. Chất liệu của thể y được kết dệt lỏng lẻo như hơi nước từ vòi của một ấm trà đang sôi và phần nào có bản chất của một đám mây khí có màu. Thật vậy, nó đúng là như thế, chỉ khác là khí ấy tinh tế hơn loại nhẹ nhất mà chúng ta biết và khó phát hiện hơn cả helium hay hydrogen. Nhưng điều này không ngăn nó được giữ lại với nhau trong một hình tướng, vì nó không phải là chất hoá học mà là một chất liệu sống, được sự sống thấm nhuần và giữ kết hợp lại. Thật ra, quyền năng của y đối với vật chất này với tư cách một sinh vật sống được cho thấy bởi sự kiện rằng thể của y gồm hai mật độ chất liệu rõ rệt. Thể đúng nghĩa có màu xanh ngọc lục bảo thật sự và khá đậm đặc, nếu xét theo thứ chất liệu cấu thành nó; quanh thể này ở mọi phía, cả trước lẫn sau, là một đám mây mỏng hơn nhiều của cùng chất liệu ấy, trong đó y không sống động mãnh liệt như vậy. Phần mỏng hơn này, vươn ra từ mọi phía của thể đúng nghĩa của y, có màu xanh nhạt hơn.

All this material is virtually the stuff of which feelings are made. It is vital matter. The movements of our friend are due to his desire to be somewhere or to do something. Since the matter of which he is made is itself of the nature of living emotion, instead of involving a complicated system of veins, muscles and nerves when he feels an emotion, his body responds immediately and directly.

Tất cả chất liệu này hầu như là thứ chất liệu cấu thành cảm xúc. Đó là vật chất sinh lực. Các cử động của người bạn chúng ta là do mong muốn của y muốn ở đâu đó hay làm điều gì đó. Vì vật chất cấu thành y tự thân có bản chất của cảm xúc sống động, nên thay vì liên quan đến một hệ thống phức tạp gồm tĩnh mạch, cơ bắp và thần kinh khi y cảm thấy một cảm xúc, thể của y đáp ứng tức thì và trực tiếp.

I must explain that although I see through the thinner outer part of his body, and although the denser part or body proper is so tenuous that one almost feels one sees into it, this does not prevent him from having some organic structure, although it is much simpler, I think, than any animal’s physical body could be. The principal inner organ appears to be what we might call his heart, which is a glowing and pulsating center about where a human heart would be. This is golden light. It pulsates very much like a human heart but simply in and out. When he is active it is rapid, and when he is quiet it is slow. This organ is his center of vitality, and it appears to circulate vital currents all over him, so he has a primitive system of circulation that is a kind of blood and nervous system combined. The head has a special structure, but he is not much centered in his head, for his principal experience is through feeling and life. On rare occasions, when he is curious or tries to think, his head glows a little also with the same sort of golden light from within. As he never eats, he has nothing like a digestive system, but he has a mouth and other facial organs. Before I pass to the latter, however, I must mention that this heart center has one peculiarity. The fairy can control it, and that is how he gets into touch with things around him, particularly living beings. When he wants to respond to a plant, he makes his heart beat at the same pulse rate as the plant. This synchrony makes them unified. The secret of the fairy life is rhythm. Each kind of fairy (whether water, land, air, or fire) comes into the world with a limited and definite range of rhythmic power, according to his species and his own personal nature. Within this range, he controls the rhythm of vitality by his desires and feelings.

Tôi phải giải thích rằng mặc dù tôi thấy xuyên qua phần ngoài mỏng hơn của thể y, và mặc dù phần đậm đặc hơn hay thể đúng nghĩa mỏng manh đến nỗi người ta hầu như cảm thấy mình thấy vào bên trong nó, điều này không ngăn y có một cấu trúc hữu cơ nào đó, dù tôi nghĩ nó đơn giản hơn nhiều so với bất kỳ thể xác nào của loài vật. Cơ quan bên trong chính dường như là cái chúng ta có thể gọi là trái tim của y, một trung tâm sáng rực và đập nhịp ở khoảng vị trí trái tim con người. Đây là ánh sáng vàng. Nó đập rất giống trái tim con người nhưng chỉ đơn giản là vào và ra. Khi y hoạt động, nó nhanh; khi y yên lặng, nó chậm. Cơ quan này là trung tâm sinh lực của y, và dường như nó luân chuyển các dòng sinh lực khắp toàn thân y, nên y có một hệ tuần hoàn sơ khai, là một loại hệ máu và hệ thần kinh kết hợp. Cái đầu có một cấu trúc đặc biệt, nhưng y không tập trung nhiều trong đầu, vì kinh nghiệm chính của y là qua cảm xúc và sự sống. Trong những dịp hiếm hoi, khi y tò mò hay cố suy nghĩ, đầu y cũng hơi sáng lên với cùng loại ánh sáng vàng từ bên trong. Vì y không bao giờ ăn, y không có gì giống hệ tiêu hoá, nhưng y có miệng và các cơ quan khác trên mặt. Tuy nhiên, trước khi tôi chuyển sang các phần sau, tôi phải nói rằng trung tâm tim này có một nét đặc biệt. Tiên có thể điều khiển nó, và đó là cách y tiếp xúc với những sự vật quanh mình, đặc biệt là các sinh linh sống. Khi y muốn đáp ứng với một cái cây, y làm cho tim mình đập cùng tần số nhịp với cây ấy. Sự đồng bộ này làm cho họ hợp nhất. Bí mật của sự sống tiên là nhịp điệu. Mỗi loại tiên, dù thuộc nước, đất, khí hay lửa, bước vào thế giới với một phạm vi quyền năng nhịp điệu hữu hạn và xác định, tuỳ theo loài của y và bản chất cá nhân riêng của y. Trong phạm vi này, y điều khiển nhịp điệu của sinh lực bằng các ham muốn và cảm xúc của mình.

This heart rhythm is a matter of vital contact with things around him, but his sensations and responses to a stimulus from without works whether or not he is in synchrony of identity with the person or creature. That is, he has something corresponding to our sensory mechanism. He is all sensation, and so he does not get sense impressions exclusively through specific organs of perception like eye or ear, but rather in a general and yet vivid way all over him. He saturates himself in things that give him sensation. It is true, however, that this is rather more acute and specialized in certain parts of his body. For instance, he does have eyes of a kind, and he seems to turn in order to get a good look at a thing, but he can be well aware of something visible behind him because his whole body feels the radiation from it. His senses include a sense of smell—all over him—for he bathes in what is evidently the perfume of sweet-smelling flowers, but he also does the same thing with flowers which appear to me to have no fragrance at all. So he is more sensitive in this particular sense than we are, not less. He has no sense of taste, for being ephemeral, he does not eat, but he certainly receives sounds and responds to music, and here again, his response is all over his body. He has something like ear orifices and sometimes pointed ears, but I think the sound actually is received all over him, and the ears serve for interpretation in some way.

Nhịp tim này là vấn đề tiếp xúc sinh lực với những sự vật quanh y, nhưng các cảm giác và đáp ứng của y trước một kích thích từ bên ngoài vẫn hoạt động dù y có ở trong sự đồng bộ của đồng nhất tính với người hay sinh vật ấy hay không. Nghĩa là, y có một cái gì tương ứng với bộ máy giác quan của chúng ta. Y hoàn toàn là cảm giác, và vì vậy y không nhận các ấn tượng giác quan độc quyền qua những cơ quan tri giác chuyên biệt như mắt hay tai, mà đúng hơn là theo một cách tổng quát nhưng sống động trên khắp toàn thân y. Y thấm mình trong những sự vật đem lại cảm giác cho y. Tuy nhiên, đúng là điều này có phần sắc bén và chuyên biệt hơn ở một số phần nhất định của thể y. Chẳng hạn, y thật sự có một loại mắt, và dường như y quay lại để nhìn rõ một vật, nhưng y vẫn có thể nhận biết rõ điều gì đó hữu hình phía sau mình vì toàn thể y cảm nhận bức xạ từ nó. Các giác quan của y bao gồm một giác quan về mùi — trên khắp toàn thân — vì y tắm mình trong thứ rõ ràng là hương thơm của những bông hoa thơm ngọt, nhưng y cũng làm điều tương tự với những bông hoa mà đối với tôi dường như hoàn toàn không có hương. Vì vậy y nhạy cảm hơn chúng ta trong giác quan đặc biệt này, chứ không kém hơn. Y không có vị giác, vì là phù du nên y không ăn, nhưng chắc chắn y tiếp nhận âm thanh và đáp ứng với âm nhạc, và ở đây một lần nữa, sự đáp ứng của y diễn ra trên khắp thể y. Y có một cái gì giống như lỗ tai và đôi khi có tai nhọn, nhưng tôi nghĩ âm thanh thật sự được tiếp nhận trên khắp toàn thân y, còn tai phục vụ cho sự diễn giải theo một cách nào đó.

In the average fairy the facial features are rudimentary. The one sense that seems to be localized in a special organ is sight. For a fairy does not come and peer at one. The eyes are not well defined and, in most cases, have no lids or brows or lashes, for he has no need of such things. He often has a protuberance like a nose and, as a rule, suggestions of ears. His mouth is a line, within any wrinkles around it, and it curves a little to express feelings of amusement and pleasure (which his whole form in fact expresses far more vividly), but he rarely opens his mouth and does not appear to have any teeth. When he does grin, the mouth draws back and becomes longer in an amusing way, but no wrinkles form around it or around his eyes. His face is a soft tan and a sort of furry-looking mop of green mossiness surrounds it.

Ở tiên trung bình, các nét mặt còn sơ khai. Giác quan duy nhất dường như được định vị trong một cơ quan đặc biệt là thị giác. Vì một tiên không đến và chăm chú nhìn người ta. Đôi mắt không được xác định rõ, và trong phần lớn trường hợp không có mí, lông mày hay lông mi, vì y không cần những thứ như thế. Y thường có một chỗ nhô ra giống như mũi và, theo thường lệ, những gợi ý về tai. Miệng y là một đường, nằm trong bất kỳ nếp nhăn nào quanh đó, và nó cong lên một chút để biểu lộ cảm xúc vui thích và khoái trá, điều mà thật ra toàn thể hình tướng của y biểu lộ sống động hơn nhiều, nhưng y hiếm khi mở miệng và dường như không có răng. Khi y cười toe, miệng kéo lùi lại và trở nên dài hơn theo một cách buồn cười, nhưng không có nếp nhăn nào hình thành quanh miệng hay quanh mắt y. Mặt y có màu rám nắng mềm mại, và một loại mớ xù trông như lông, màu rêu xanh, bao quanh nó.

One singular fact is that when one looks at him sideways, his head is nearly as thick from front to back as his body, and he does not possess much of a neck. Another thing about these common woods fairies is that they either have long legs and a short body or short legs and a long body. They seldom exhibit the proportions familiar to us.

Một sự kiện kỳ lạ là khi người ta nhìn nghiêng y, đầu y gần như dày từ trước ra sau bằng thân mình, và y không có nhiều cổ. Một điều khác về các tiên rừng thông thường này là họ hoặc có chân dài và thân ngắn, hoặc chân ngắn và thân dài. Họ hiếm khi biểu lộ những tỉ lệ quen thuộc với chúng ta.

When our green friend moves, he does not walk from place to place, but floats. His desire draws him, or his need to be at some spot. Of course, when he wants to, he can hop about in lively fashion and jump up and down. He has legs and arms without much detail of fingers and toes, and a hand will often enough be like a foot. All the knotty muscles and sinews we see in the bodies of animals are lacking here. He is slender and graceful and quaintly agile.

Khi người bạn xanh của chúng ta di chuyển, y không đi bộ từ nơi này sang nơi khác, mà trôi nổi. Ham muốn của y kéo y đi, hay nhu cầu của y phải ở một chỗ nào đó. Dĩ nhiên, khi muốn, y có thể nhảy lò cò một cách linh hoạt và nhảy lên nhảy xuống. Y có chân và tay nhưng không có nhiều chi tiết về ngón tay và ngón chân, và một bàn tay thường khá giống một bàn chân. Tất cả những cơ bắp và gân guốc nổi cục mà chúng ta thấy trong thân thể loài vật đều thiếu vắng ở đây. Y mảnh dẻ, duyên dáng và nhanh nhẹn một cách kỳ thú.

So much for a detailed description of one of the myriad Little People. The rest must be extensive qualifications of all I have said. For there are many varieties, as I shall show, varying from minute creatures of an inch or two to huge monsters.

Bấy nhiêu là mô tả chi tiết về một trong vô số Những Người Bé Nhỏ. Phần còn lại phải là những điều bổ sung rộng lớn cho tất cả những gì tôi đã nói. Vì có nhiều giống loại, như tôi sẽ chỉ ra, biến thiên từ những sinh vật nhỏ xíu chỉ một hay hai inch đến những quái vật khổng lồ.

The individual fairy, even the particular little fellow I have just been describing, has the power of changing his shape and size in a remarkable manner. His body is feeling and vitality, and as he feels and lives, the shape and size alter. He can make himself quite small, say five or six inches, and he can swell up until he is five or six feet. But he would need to want very much to do this, and he could not remain this huge size indefinitely. Nor need he stay green. He can take on colors as well as shapes. In fact, one of the most delightful games among fairies is what I have always called “dressing up” in colors and clothes and coverings, according to their fancy.

Cá thể tiên, ngay cả anh bạn nhỏ cụ thể mà tôi vừa mô tả, có quyền năng thay đổi hình dạng và kích thước của mình một cách đáng chú ý. Thể của y là cảm xúc và sinh lực, và khi y cảm xúc và sống, hình dạng cùng kích thước thay đổi. Y có thể làm cho mình khá nhỏ, chẳng hạn năm hay sáu inch, và y có thể phồng lên cho đến khi cao năm hay sáu foot. Nhưng y cần phải rất muốn làm điều này, và y không thể ở mãi trong kích thước khổng lồ ấy. Y cũng không cần phải cứ giữ màu xanh. Y có thể khoác lấy các màu sắc cũng như các hình dạng. Thật vậy, một trong những trò chơi đáng yêu nhất giữa các tiên là điều tôi luôn gọi là “hoá trang” bằng màu sắc, quần áo và lớp phủ, tuỳ theo ý thích của họ.

Even in natural coloring the common woods and garden fairy varies greatly in different localities. Besides this sort with green body and tan face (found in numbers here in New England), I have seen horizontally banded scarlet and purple ones in Florida; in California, golden ones sometimes in solid color and sometimes striped with pale shades; in the northwestern states, blue and also delicate lavender; in northern California, bronze-hued, as if cast in a mold and often with singular marks like whorls over the body. On the French Riviera, there are lemon yellow and green fairies, again striped, and also some lovely blue and pink ones, with a few scarlet and yellow. In India, I remember particularly among the many kinds there a sort that is deep orange and another, scarlet. In Java, the most lovely and common sort is deep blue striped with gold. In Australia, the commonest sorts are sky blue, but I have seen some strange black and red fairies in the mountains there. Orange and yellow and orange and white striped kinds occur in certain of the South Sea Islands. This list will show that this type of land-surface fairy alone has immense variations in appearance. The natural color seems to have some sympathetic relation with the vegetation; in general, the appearance is brighter in tropical lands.

Ngay cả trong màu sắc tự nhiên, tiên rừng và tiên vườn thông thường cũng thay đổi rất nhiều ở các địa phương khác nhau. Ngoài loại có thể xanh và mặt rám nắng này, được tìm thấy nhiều ở đây tại New England, tôi đã thấy những vị có dải ngang đỏ tươi và tím ở Florida; ở California, những vị màu vàng, đôi khi một màu đặc và đôi khi sọc với các sắc nhạt; ở các tiểu bang tây bắc, màu xanh lam và cả tím lavender dịu; ở miền bắc California, màu đồng, như thể được đúc trong khuôn và thường có những dấu hiệu kỳ lạ như các xoáy trên thân. Trên Riviera của Pháp, có các tiên màu vàng chanh và xanh lá, lại cũng có sọc, và cũng có một số vị màu xanh lam và hồng đáng yêu, cùng vài vị đỏ tươi và vàng. Ở Ấn Độ, trong nhiều loại ở đó, tôi đặc biệt nhớ một loại màu cam đậm và một loại khác màu đỏ tươi. Ở Java, loại đáng yêu và phổ biến nhất là xanh lam đậm có sọc vàng. Ở Úc, các loại phổ biến nhất có màu xanh da trời, nhưng tôi đã thấy một số tiên kỳ lạ màu đen và đỏ trong các ngọn núi ở đó. Các loại sọc cam và vàng, cam và trắng xuất hiện ở một số đảo Nam Thái Bình Dương. Danh sách này sẽ cho thấy chỉ riêng loại tiên trên bề mặt đất này đã có những biến thiên vô cùng lớn về vẻ ngoài. Màu sắc tự nhiên dường như có một mối quan hệ đồng cảm nào đó với thảm thực vật; nói chung, vẻ ngoài sáng hơn ở các vùng nhiệt đới.

This same ordinary garden or woods fairy will serve for a detailed description of the place of fairies in nature’s economy but again it should be understood that I am describing only one of hundreds of kinds.

Chính tiên vườn hay tiên rừng bình thường này sẽ phục vụ cho một mô tả chi tiết về vị trí của các tiên trong nền kinh tế của tự nhiên, nhưng một lần nữa cần hiểu rằng tôi chỉ mô tả một trong hàng trăm loại.

Perhaps the commonest of all sights in the world of fairies is their incessant activity among plants, shrubs, and other growing things. In every garden, on every strip of land where there is plant growth, one sees them busily engaged in constant care of living things. What exactly are they about, and how do their enterprises affect plants and animals? The answer is probably not simple, but I can at any rate describe exactly what I see.

Có lẽ cảnh tượng phổ biến nhất trong thế giới tiên là hoạt động không ngừng của họ giữa cây cối, bụi rậm và những sự vật đang lớn lên khác. Trong mỗi khu vườn, trên mỗi dải đất nơi có sự sinh trưởng của thực vật, người ta thấy họ bận rộn chăm sóc liên tục các sự vật sống. Chính xác họ đang làm gì, và các công việc của họ ảnh hưởng đến cây cối và loài vật như thế nào? Câu trả lời có lẽ không đơn giản, nhưng dù sao tôi có thể mô tả chính xác điều tôi thấy.

I must first of all explain that a fairy does not see anything in the way we do. When we look at a rose bush we see only the form of stem, leaves, and flowers. But the fairy sees quite differently. From a few yards away the rose bud itself is to him a glowing object, rather larger than the physical rose we see. It appears to him not as something reflecting light but actually the source of phosphorescent like light of its own creation. If the fairy comes nearer he perceives many details. At the point which we call the heart of the rose he sees a definite point of light, and from this radiate delicate lines of colored light which evidently correspond to the physical structure of the petals. There is a constant flow from the heart center along the lines of the blossom’s anatomy. Now, there are two main currents involved. The plant itself draws food and moisture and strength from the earth, and all this passes up the stem in the digestive process and looks to the fairy like currents of light. Meantime the leaves and the blossoms are drinking in sunshine as well as carbon dioxide, and the sunshine supplies a second current. These two streams look like ascending and descending spirals of light in the stem of the bush, and so the rose bush also appears to the fairy as a structure of glowing colored light—fine lines which are brighter than the general brown and green and white structure of the bush. The rose heart is the distributing center of these energies for the blossom itself.

Trước hết, tôi phải giải thích rằng một vị tiên không nhìn thấy sự vật theo cách chúng ta nhìn. Khi chúng ta nhìn một bụi hồng, chúng ta chỉ thấy hình tướng của thân, lá và hoa. Nhưng vị tiên nhìn rất khác. Từ khoảng cách vài thước, chính nụ hồng đối với y là một vật thể rực sáng, lớn hơn đôi chút so với bông hồng hồng trần mà chúng ta thấy. Nó hiện ra với y không phải như một vật phản chiếu ánh sáng, mà thực sự là nguồn phát ra thứ ánh sáng lân quang do chính nó tạo nên. Nếu vị tiên đến gần hơn, y nhận biết được nhiều chi tiết. Tại điểm mà chúng ta gọi là trái tim của bông hồng, y thấy một điểm sáng rõ rệt, và từ đó tỏa ra những đường ánh sáng màu tinh tế, hiển nhiên tương ứng với cấu trúc hồng trần của các cánh hoa. Có một dòng chảy liên tục từ trung tâm tim dọc theo các đường trong cấu tạo của đóa hoa. Bấy giờ, có hai luồng chính liên quan. Chính cây hút thức ăn, độ ẩm và sức mạnh từ đất, và tất cả những điều này đi lên theo thân trong tiến trình tiêu hóa, và đối với vị tiên trông giống như các dòng ánh sáng. Trong lúc đó, lá và hoa đang hấp thu ánh nắng cũng như khí carbon dioxide, và ánh nắng cung cấp một luồng thứ hai. Hai dòng này trông như những đường xoắn ốc ánh sáng đi lên và đi xuống trong thân của bụi cây, và vì vậy bụi hồng cũng hiện ra với vị tiên như một cấu trúc ánh sáng màu rực rỡ—những đường nét tinh vi sáng hơn cấu trúc nâu, xanh và trắng tổng quát của bụi cây. Trái tim của bông hồng là trung tâm phân phối các năng lượng này cho chính đóa hoa.

The opening of a bud, the growth of a leaf, the astonishing development of beauty in a flower involve physical operations which completed chemical science would leave as far beyond our comprehension as the difference between lead and iron, between water and carbonic acid, between gravitation and magnetism, are at present. A tree contains more mystery of creative power than the sun, from which all energy is borrowed. An earth without life, a sun, and countless stars, contains less wonder than the grain of mignonette.

Sự nở ra của một nụ, sự tăng trưởng của một chiếc lá, sự phát triển kỳ diệu của vẻ đẹp trong một bông hoa bao hàm những hoạt động hồng trần mà khoa học hóa học hoàn chỉnh vẫn sẽ để lại ngoài tầm thấu hiểu của chúng ta, cũng xa như hiện nay sự khác biệt giữa chì và sắt, giữa nước và acid carbonic, giữa trọng lực và từ điện. Một cái cây chứa đựng nhiều huyền nhiệm về quyền năng sáng tạo hơn mặt trời, từ đó mọi năng lượng được vay mượn. Một Trái Đất không có sự sống, một mặt trời, và vô số vì sao, chứa ít điều kỳ diệu hơn một hạt mignonette.

[Kelvin, quoted in J. Arthur Thompson, An Introduction to Science, p. 150]

[Kelvin, được trích trong J. Arthur Thompson, Dẫn Nhập vào Khoa Học, tr. 150]

In this interchange of energies, those from the earth and those from the sun, the fairy plays a definite part. He has power over both these currents, especially the vitality from the sun. He can retard them here and accelerate them there, and he can add some extra vitality from himself at such points as he desires. He first of all puts himself into rapport with the plant by making his own heart center beat with the rhythm of the plant. He stands off and sizes up what he wants to do. Then he goes to work. He skips and hops all over the plant and pats it with touches of light which flow from his own hands into the streams of the plant. In this way he alters and adjusts its life. He likes to have a gay show of flowers, and so he is likely to keep an eye on this aspect, but his main duty is to make the plant do as well as possible under existing conditions. He might spend a busy ten or twenty minutes in this way.

Trong sự trao đổi các năng lượng này, những năng lượng từ đất và những năng lượng từ mặt trời, vị tiên đóng một vai trò xác định. Y có quyền năng đối với cả hai luồng này, đặc biệt là sinh lực từ mặt trời. Y có thể làm chúng chậm lại ở đây và thúc nhanh chúng ở kia, và y có thể thêm một ít sinh lực phụ trội từ chính mình tại những điểm y muốn. Trước hết, y đặt mình vào mối giao cảm với cây bằng cách làm cho trung tâm tim của chính y đập theo nhịp điệu của cây. Y đứng lùi ra và ước lượng điều mình muốn làm. Rồi y bắt tay vào việc. Y nhảy nhót khắp cây và vỗ nhẹ vào nó bằng những chạm xúc ánh sáng tuôn từ chính đôi tay của y vào các dòng chảy của cây. Bằng cách này, y biến đổi và điều chỉnh sự sống của cây. Y thích có một cảnh hoa vui tươi rực rỡ, và vì thế y có khuynh hướng chú ý đến phương diện này, nhưng bổn phận chính của y là làm cho cây phát triển tốt nhất có thể trong những điều kiện hiện hữu. Y có thể bận rộn mười hay hai mươi phút theo cách ấy.

After what he would consider a hard job done, he would probably leave the plant, make a somersault or two in the air, and then bound about and have a good time, just for the joy of being alive. Then he would resume his labors.

Sau khi hoàn tất điều mà y xem là một công việc nặng nhọc, có lẽ y sẽ rời cây, nhào lộn một hai vòng trong không khí, rồi bật nhảy đây đó và vui chơi, chỉ vì niềm vui được sống. Rồi y lại tiếp tục công việc của mình.

It may properly be asked, “Would plants grow without this aid?” They most certainly would, but the intervention of fairies (and the care given by human beings) makes the difference between scraggly and luxurious growth. Plants grow no doubt because of an inner urge to live and reproduce, as that is the dominant thing in all nature. But the help of fairies is just as important for the plant’s full life as plowing is for the life of corn in a field. Why should we not take the fairy’s own testimony? He himself feels that his work is a serious business, and in his own way, he takes his job as important. He feels responsible for everything the plant does and takes an almost maternal pride in its achievement. Besides, he has to show results to the fairy above him, who comes at intervals to see how things are progressing. It is astonishing how far this sort of work is carried. For instance, I have seen even in hot houses a kind of fairy at work over the tiny plants. This is a very much smaller sort of fairy, but the work they do is of the same order.

Có thể hỏi một cách chính đáng: “Liệu cây cối có mọc lên nếu không có sự trợ giúp này chăng?” Chắc chắn là có, nhưng sự can thiệp của các vị tiên và sự chăm sóc của con người tạo nên khác biệt giữa sự tăng trưởng còi cọc và sự tăng trưởng sung mãn. Không nghi ngờ gì, cây cối mọc lên vì một thôi thúc nội tại muốn sống và sinh sản, vì đó là điều chủ đạo trong toàn bộ thiên nhiên. Nhưng sự trợ giúp của các vị tiên cũng quan trọng đối với đời sống đầy đủ của cây như việc cày xới đối với đời sống của bắp trong một cánh đồng. Tại sao chúng ta không chấp nhận chính lời chứng của vị tiên? Chính y cảm thấy công việc của mình là một việc nghiêm túc, và theo cách riêng của mình, y xem nhiệm vụ của mình là quan trọng. Y cảm thấy có trách nhiệm đối với mọi điều cây làm và có một niềm tự hào gần như mẫu tính về thành tựu của nó. Hơn nữa, y phải trình bày kết quả với vị tiên ở trên y, vị này thỉnh thoảng đến xem mọi việc đang tiến triển ra sao. Thật đáng kinh ngạc khi thấy loại công việc này được tiến hành đến mức nào. Chẳng hạn, tôi đã thấy ngay cả trong nhà kính một loại tiên đang làm việc với những cây con bé nhỏ. Đây là một loại tiên nhỏ hơn rất nhiều, nhưng công việc họ làm cũng thuộc cùng một trật tự.

A great deal of the life of the fairy is spent in playing about, though where a line can be drawn between work and play is hard to say, for of course, looking after the plant he loves is fun to the fairy. He looks upon it less as a duty than as a pleasure which he should attend to faithfully. There are, in fact, only degrees of play in his life. And so, even in play, he is useful because of the happiness which he radiates and which often makes human beings and other creatures spontaneously happy when they come within its influence, even if they know nothing about fairies.

Phần lớn đời sống của vị tiên được dành cho việc vui chơi đây đó, dù khó nói ranh giới giữa làm việc và vui chơi nằm ở đâu, vì dĩ nhiên việc chăm sóc cây mà y yêu quý là niềm vui đối với vị tiên. Y xem đó ít như một bổn phận hơn là một niềm vui mà y nên chu toàn một cách trung thành. Thật ra, trong đời sống của y chỉ có những cấp độ của vui chơi. Và vì vậy, ngay cả trong vui chơi, y cũng hữu ích nhờ niềm hạnh phúc mà y tỏa ra, và niềm hạnh phúc ấy thường làm cho con người và những sinh vật khác tự nhiên cảm thấy vui khi họ đi vào phạm vi ảnh hưởng của nó, cho dù họ chẳng biết gì về các vị tiên.

Play takes the form of jumping and skipping, peeping curiously into birds’ nests, and taking an interest in all the show of life about. The fairies know all neighboring birds and animals personally and show deep concern in all their doings. The sense of mischief is well developed, and practical jokes are going on all the time. One fairy will steal into another’s area and be found demurely doing the neighbor’s rightful jobs, only to be hustled out gaily. They have a power of hypnotic suggestion over animals which can make a rabbit or a squirrel miss a bit of food which he starts out to get. These antics are just fun, and the animals are not irritated or really teased. Groups of fairies in forests can similarly put spells over human beings in small ways, but on the whole they leave us severely alone. They sit about at intervals and relate anecdotes to one another, and this takes an astonishing form. The fairy has an immense power of mimicry and a sense of drama. He is an emotional artist of rare ability, and a group of them will put on a show for mutual entertainment. I must explain again that a fairy has the power not only to change his form but also to clothe himself in marvelous garments, a process that is carried out by drawing the denser part of the material about him by means of his will power or desire into a thought garment. This requires effort and concentration and takes a few minutes to achieve, especially if he desires to change his form. The thought garment will last as long as he sustains the effort at transformation. Most fairies are deficient in concentration, and thus they do not keep up the show for any length of time. Because of this lack of sustained concentration and their lack of thoroughness in thinking out their disguise, whole parts of the makeup will be missing, or they may lack a limb or other important part. This often gives them a ridiculous appearance. When the failure is prodigiously exaggerated, even the fairies are uproariously amused, and the failure will himself skip about in glee—for any cause for fun is good. If, all of a sudden, for lack of concentration one of them slides right out of his part and is discovered in his normal role, it is enough often to suspend the whole performance. But when a show is well under way, they get into the spirit of the thing, and the show gambols along merrily. It is like the dream of a vaudeville show, without any sustained dramatic theme. It is all makeup and make-believe and go-as-you-please.

Vui chơi mang hình thức nhảy lên, nhảy nhót, tò mò nhìn vào tổ chim, và quan tâm đến mọi cảnh tượng của sự sống chung quanh. Các vị tiên biết rõ từng con chim và con vật lân cận, và bày tỏ sự quan tâm sâu sắc đến mọi việc chúng làm. Ý thức tinh nghịch rất phát triển, và các trò đùa thực tế diễn ra không ngừng. Một vị tiên sẽ lẻn vào khu vực của vị khác và bị bắt gặp đang nghiêm trang làm những công việc chính đáng của người láng giềng, chỉ để rồi bị vui vẻ đuổi ra. Họ có một quyền năng gợi ý thôi miên đối với thú vật, có thể làm cho một con thỏ hay một con sóc bỏ lỡ một mẩu thức ăn mà nó định đi lấy. Những trò tinh nghịch này chỉ là vui đùa, và các con vật không bực bội hay thực sự bị trêu chọc. Tương tự, các nhóm tiên trong rừng có thể đặt bùa lên con người theo những cách nhỏ nhặt, nhưng nhìn chung họ để chúng ta hoàn toàn yên. Thỉnh thoảng họ ngồi lại và kể chuyện cho nhau nghe, và việc này mang một hình thức đáng kinh ngạc. Vị tiên có một quyền năng bắt chước rất lớn và một cảm thức kịch tính. Y là một nghệ sĩ cảm xúc có năng lực hiếm có, và một nhóm trong số họ sẽ trình diễn để cùng giải trí. Tôi phải giải thích lại rằng một vị tiên có quyền năng không chỉ thay đổi hình tướng của mình mà còn khoác lên mình những y phục kỳ diệu, một tiến trình được thực hiện bằng cách dùng quyền năng ý chí hoặc dục vọng của y kéo phần đậm đặc hơn của chất liệu quanh y thành một y phục bằng tư tưởng. Việc này đòi hỏi nỗ lực và sự tập trung, và mất vài phút để hoàn thành, nhất là nếu y muốn thay đổi hình tướng. Y phục bằng tư tưởng sẽ tồn tại chừng nào y còn duy trì nỗ lực chuyển đổi. Hầu hết các vị tiên thiếu sự tập trung, và vì thế họ không duy trì màn trình diễn được lâu. Do sự thiếu tập trung bền bỉ này và do họ thiếu sự thấu đáo trong việc nghĩ ra lớp ngụy trang của mình, toàn bộ các phần của hóa trang sẽ bị thiếu, hoặc họ có thể thiếu một chi hay một phần quan trọng khác. Điều này thường khiến họ có vẻ ngoài lố bịch. Khi thất bại bị phóng đại một cách quá mức, ngay cả các vị tiên cũng cười vang khoái trá, và chính kẻ thất bại cũng nhảy nhót trong niềm vui—vì bất cứ nguyên nhân nào tạo vui vẻ đều tốt. Nếu bỗng nhiên, vì thiếu tập trung, một người trong số họ trượt hẳn ra khỏi vai diễn và bị phát hiện trong vai trò bình thường của mình, điều đó thường đủ để làm gián đoạn toàn bộ buổi diễn. Nhưng khi một buổi diễn đã tiến triển tốt, họ nhập vào tinh thần của sự việc, và buổi diễn nhảy nhót vui tươi tiếp tục. Nó giống như giấc mơ về một buổi tạp kỹ, không có chủ đề kịch tính bền vững nào. Tất cả chỉ là hóa trang, giả vờ và tùy hứng.

In Australia I once saw an amusing incident of this kind. In the moonlight there were four or five fairies playing about. They were telling one another stories and dressing up and acting out some bits of the tales. One fairy had dressed up in his idea of a king, which he got from some storybook indirectly through the thoughts of some child. And he was trying to look and feel very important and severe, with much flinging about of arms. Just as he was very intent upon being very royal and severe, he forgot his crown and his regal garments, and these fell from him with a devastating effect of revelation so complete that all the others rolled about with glee. This attempt reminded others of having seen a Masonic cornerstone-laying procession, and they tried to reproduce it, strutting about in such fragments of the regalia as they could recall and carrying out a mummery they did not in the least appreciate. I happened to know some of the people in the original Masonic affair, and the fairies’ caricatures of them were faithful and very effective connotative cartooning.

Một lần ở Úc, tôi đã thấy một sự cố thú vị thuộc loại này. Dưới ánh trăng có bốn hay năm vị tiên đang vui chơi. Họ kể chuyện cho nhau nghe, hóa trang và diễn một vài đoạn trong các câu chuyện. Một vị tiên đã hóa trang theo ý tưởng của y về một vị vua, ý tưởng mà y gián tiếp nhận được từ một quyển truyện qua tư tưởng của một đứa trẻ nào đó. Và y đang cố tỏ ra và cảm thấy mình rất quan trọng và nghiêm khắc, vung tay rất nhiều. Đúng lúc y đang hết sức chú tâm làm cho mình thật vương giả và nghiêm khắc, y quên mất vương miện và triều phục, và những thứ này rơi khỏi y với một hiệu quả mặc khải tai hại đến trọn vẹn, khiến tất cả những người khác lăn lộn vì khoái chí. Nỗ lực này nhắc những người khác nhớ đến việc từng thấy một đoàn rước đặt viên đá góc của Hội Tam Điểm, và họ cố tái hiện nó, đi nghênh ngang trong những mảnh phẩm phục mà họ có thể nhớ được và thực hiện một màn diễn trò mà họ hoàn toàn không hiểu. Tôi tình cờ biết một vài người trong sự kiện Tam Điểm nguyên thủy ấy, và các bức biếm họa của các vị tiên về họ vừa trung thực vừa rất hiệu quả như tranh châm biếm gợi ý.

Another source of fun is for the fairy to tell a circle of friends a tale that he makes up. The idea is to make it more and more improbable and wild. A sort of “contest in the imaginary” sets in, with perfectly hilarious results mixed with sudden moments of great gravity. I suppose this kind of life, which is, in the last analysis, all fun, would not meet with the approval of a serious and work-oriented humanity. But we must remember that fairies, like children, have an overabundance of vitality. They are not restrained by public opinion as we are. Indeed, their public opinion is in favor of it!

Một nguồn vui khác là vị tiên kể cho vòng bạn bè một câu chuyện do y bịa ra. Ý tưởng là làm cho nó ngày càng khó tin và hoang đường hơn. Một kiểu “cuộc thi trong tưởng tượng” bắt đầu, với những kết quả hết sức buồn cười xen lẫn những khoảnh khắc đột ngột rất nghiêm trang. Tôi cho rằng loại đời sống này, rốt cuộc, toàn là vui chơi, có lẽ sẽ không được một nhân loại nghiêm túc và hướng về công việc tán thành. Nhưng chúng ta phải nhớ rằng các vị tiên, giống như trẻ em, có sinh lực dư thừa. Họ không bị dư luận kiềm chế như chúng ta. Thật vậy, dư luận của họ lại ủng hộ điều đó!

4 – 4

FAIRY LIFE – ĐỜI SỐNG TIÊN

Between the human point of view and that of a fairy, or any member of the angelic kingdom, one of the main differences is that we live in a world of form, and they live in a world of life. Our thoughts are primarily concerned with the form things have, and we seldom go further than that. But fairies are mainly concerned with the energy and life flowing around and within the form—life that is everywhere. For example, if we look at a tree we respond to its size, its shape, its color, its leaves, and fruit. These things combine to create its beauty for us. But when one comes to think of it, this is rather a limited way of seeing the world in which we live. In contrast, the fairy first beholds the spirit of the tree and responds to its vital energy. To a fairy, the tree is a living, breathing personality which is expressing itself in the form we see. There is then an exchange of feeling, a mutual response, between the fairy and the tree. Thus fairies live a life which is much less limited, much more interesting than ours. We humans are so hampered by the limitations of our senses that often we grow old too quickly out of sheer boredom with the dreadful monotony of our static world. We have feelings for the pets we are fond of, such as our cats and dogs, and a few exceptional human beings may feel something like a personal friendship with respect to trees or flowers. But the relationship between fairies and the creatures that live around them is so different as to be almost a new order of existence. Since this point is important, I should like to explain further.

Giữa quan điểm của con người và quan điểm của một vị tiên, hay bất cứ thành viên nào của giới thiên thần, một trong những khác biệt chính là chúng ta sống trong một thế giới của hình tướng, còn họ sống trong một thế giới của sự sống. Tư tưởng của chúng ta chủ yếu bận tâm đến hình tướng mà sự vật có, và hiếm khi chúng ta đi xa hơn điều đó. Nhưng các vị tiên chủ yếu quan tâm đến năng lượng và sự sống đang tuôn chảy quanh và bên trong hình tướng—sự sống ở khắp mọi nơi. Chẳng hạn, nếu chúng ta nhìn một cái cây, chúng ta đáp ứng với kích thước, hình dạng, màu sắc, lá và quả của nó. Những điều này kết hợp lại để tạo nên vẻ đẹp của nó đối với chúng ta. Nhưng khi người ta suy nghĩ về điều đó, đây là một cách nhìn khá giới hạn về thế giới trong đó chúng ta sống. Trái lại, vị tiên trước hết chiêm ngưỡng tinh thần của cây và đáp ứng với năng lượng sinh động của nó. Đối với một vị tiên, cái cây là một phàm ngã sống động, đang thở, đang biểu lộ chính mình trong hình tướng mà chúng ta thấy. Khi ấy có một sự trao đổi cảm xúc, một đáp ứng hỗ tương, giữa vị tiên và cái cây. Vì vậy các vị tiên sống một đời sống ít giới hạn hơn nhiều, thú vị hơn nhiều so với đời sống của chúng ta. Chúng ta, con người, bị cản trở quá nhiều bởi các giới hạn của giác quan đến nỗi thường trở nên già nua quá nhanh chỉ vì sự buồn chán thuần túy trước tính đơn điệu khủng khiếp của thế giới tĩnh tại của mình. Chúng ta có cảm tình với những thú nuôi mà mình yêu thích, như mèo và chó, và một vài con người đặc biệt có thể cảm thấy điều gì đó giống như một tình bạn riêng đối với cây cối hay hoa lá. Nhưng mối quan hệ giữa các vị tiên và những sinh vật sống quanh họ khác biệt đến mức gần như là một trật tự hiện hữu mới. Vì điểm này quan trọng, tôi muốn giải thích thêm.

Most of our world is composed of inanimate objects or things that appear to be dead. Not only are we ignorant of the true life of animals, plants, and rocks, but we are surrounded and our lives filled with things—just things—like chairs, tables, food, typewriters, cars, and television sets. Ours is a world of objects. But a fairy never experiences anything of this character. She lives in a world where every blade of grass and every leaf are thrilling with a sense of being alive. In her world nearly everything expresses itself in some form of rhythm. Grass has a certain kind of pulsing life, each tree is an individual friend, and the flowers, birds, insects, and fish are, to a fairy, like her children. Furthermore, she lives in a world of friendliness, with thousands of creatures that have no physical form. Everything, from the butterflies to the leaves floating in the wind, is filled with a riotous, joyous life, and she senses this and feels akin to them in just being alive. Her world pulsates with life, motion, feeling; these are its most essential characteristics.

Phần lớn thế giới của chúng ta gồm những vật vô tri hoặc những thứ dường như đã chết. Không chỉ chúng ta không biết gì về đời sống đích thực của thú vật, cây cối và đá, mà chúng ta còn bị vây quanh và đời sống của chúng ta đầy ắp những đồ vật—chỉ là đồ vật—như ghế, bàn, thức ăn, máy đánh chữ, xe hơi và máy truyền hình. Thế giới của chúng ta là một thế giới của đối tượng. Nhưng một vị tiên không bao giờ trải nghiệm bất cứ điều gì thuộc tính chất này. Nàng sống trong một thế giới nơi mỗi ngọn cỏ và mỗi chiếc lá đều rung động với cảm thức được sống. Trong thế giới của nàng, gần như mọi sự đều biểu lộ chính nó trong một hình thức nhịp điệu nào đó. Cỏ có một loại sự sống nhịp đập nhất định, mỗi cây là một người bạn cá biệt, và hoa, chim, côn trùng và cá đối với một vị tiên giống như con cái của nàng. Hơn nữa, nàng sống trong một thế giới thân thiện, với hàng ngàn sinh vật không có hình tướng hồng trần. Mọi thứ, từ những con bướm đến những chiếc lá trôi trong gió, đều đầy ắp một sự sống náo nhiệt, vui tươi, và nàng cảm nhận điều này, cảm thấy đồng loại với chúng chỉ trong việc cùng hiện tồn. Thế giới của nàng rung động với sự sống, chuyển động, cảm xúc; đó là những đặc tính thiết yếu nhất của nó.

Even one good look at the world in which the fairy lives is enough to convey this unique quality. It is not a world of surfaces—of skins and husks and barks, with definite separate edges and identities—but a state in which everything merges into everything else in an astonishing manner: Nothing is static; all is dynamic. Let us begin with the fairy herself. As one looks at her, one sees she has no skin. She is more or less a cloudy form. If you tried to touch her, there would be no point at which you could say, “This is her outer layer,” because although she is increasingly dense as you penetrate toward her center, it is a gradual increase; there is no boundary of skin or fur to mark her off. In the same way, the trees and grass and everything else in her world are to her like a pillar of light or a spot of glowing color, melting and mixing and fading into the surroundings. It is like living in a fluid world in which creatures have shapes that are sufficiently definite to be perceived, but which are always glowing, transparent, changing, and mingling.

Chỉ cần một lần nhìn rõ vào thế giới nơi vị tiên sống cũng đủ truyền đạt phẩm tính độc đáo này. Đó không phải là một thế giới của bề mặt—của da, vỏ trấu và vỏ cây, với những rìa và bản sắc riêng biệt rõ rệt—mà là một trạng thái trong đó mọi sự hòa vào mọi sự khác theo một cách đáng kinh ngạc: không có gì tĩnh tại; tất cả đều năng động. Hãy bắt đầu với chính vị tiên. Khi nhìn nàng, người ta thấy nàng không có da. Nàng ít nhiều là một hình tướng mây mờ. Nếu bạn cố chạm vào nàng, sẽ không có điểm nào mà bạn có thể nói: “Đây là lớp ngoài của nàng,” bởi vì mặc dù nàng ngày càng đậm đặc khi bạn xuyên vào gần trung tâm của nàng, đó là một sự gia tăng dần dần; không có ranh giới bằng da hay lông để tách biệt nàng. Cũng theo cách ấy, cây cối, cỏ và mọi thứ khác trong thế giới của nàng đối với nàng giống như một cột ánh sáng hoặc một điểm màu rực sáng, tan chảy, hòa trộn và nhạt dần vào môi trường chung quanh. Nó giống như sống trong một thế giới lưu chất, nơi các sinh vật có những hình dạng đủ xác định để được nhận biết, nhưng luôn rực sáng, trong suốt, thay đổi và hòa lẫn.

Because she lives in a world which throbs with life, the fairy looks at things in a way which is all her own. It is much simpler than ours. Fairies are realists, far more than we are. They have no complex and complicated emotions and ideas such as we have, because they have no sense of possession and no fear or envy. Therefore they have no illusions, but rather have the power of seeing clearly and coming straight to the point. It is true that they play at dressing up and making believe, but they are perfectly aware of what they are doing. It is to them just fun, not a means of escape from oppressive reality. This realism gives them an astonishing directness. They have nothing to hide and nothing to hide from. If a forest is to be burned down, they do not seek to deceive themselves about it; they accept it. They accept the unpleasant things (which are comparatively few) along with the vastly greater number of pleasant experiences.

Vì sống trong một thế giới rung động với sự sống, vị tiên nhìn sự vật theo một cách hoàn toàn riêng của nàng. Cách ấy đơn giản hơn chúng ta nhiều. Các vị tiên là những người thực tế, thực tế hơn chúng ta rất nhiều. Họ không có những cảm xúc và ý tưởng phức tạp, rắc rối như chúng ta, vì họ không có cảm thức sở hữu và không có sợ hãi hay ganh tị. Vì vậy họ không có ảo tưởng, mà đúng hơn có quyền năng nhìn rõ và đi thẳng vào điểm chính. Đúng là họ chơi trò hóa trang và giả vờ, nhưng họ hoàn toàn ý thức về điều mình đang làm. Đối với họ, đó chỉ là vui chơi, không phải một phương tiện trốn thoát khỏi thực tại áp bức. Tính thực tế này đem lại cho họ một sự trực tiếp đáng kinh ngạc. Họ không có gì để che giấu và không có gì để trốn tránh. Nếu một khu rừng sắp bị thiêu rụi, họ không tìm cách tự lừa dối mình về điều đó; họ chấp nhận nó. Họ chấp nhận những điều khó chịu, vốn tương đối ít, cùng với số lượng lớn hơn rất nhiều những trải nghiệm dễ chịu.

Furthermore, there is another remarkable contrast between fairies and humans. We live our waking lives in a dense physical world in which our imagination and our emotions play a part, it is true, but a part which is constructed and restricted. Dense matter, however, does not impede the fairies. The coarsest form of matter in their bodies is more fine and tenuous than our rarest gases. In fact, it is very close to emotion, so that when they feel something, it permeates their whole body—the emotion rushes all through them. In fact, they do almost nothing but feel emotions and a sense of being alive.

Hơn nữa, có một tương phản đáng chú ý khác giữa các vị tiên và con người. Chúng ta sống đời sống thức tỉnh của mình trong một thế giới hồng trần đậm đặc, trong đó Sự tưởng tượng và các cảm xúc của chúng ta quả thật có đóng một vai trò, nhưng là một vai trò được kiến tạo và bị giới hạn. Tuy nhiên, vật chất đậm đặc không cản trở các vị tiên. Hình thức vật chất thô nhất trong thể của họ còn tinh tế và mỏng manh hơn những chất khí loãng nhất của chúng ta. Thật ra, nó rất gần với cảm xúc, đến nỗi khi họ cảm thấy điều gì đó, nó thấm qua toàn bộ thể của họ—cảm xúc lao nhanh xuyên suốt họ. Thật vậy, họ hầu như không làm gì ngoài việc cảm nhận các cảm xúc và một cảm thức được sống.

Except for a few advanced types, fairies do not have a great deal of mental power. I do not mean that they are unintelligent, but they do not have to struggle to exist or even to be exquisitely happy. They do not have to worry about the things that make up the hardships of physical life, like poverty, hunger, thirst, and shelter. They do not have any need of money, nor have they anyone dependent upon them.

Ngoại trừ một vài loại tiến bộ, các vị tiên không có nhiều quyền năng trí tuệ. Tôi không muốn nói rằng họ không thông minh, nhưng họ không phải đấu tranh để tồn tại hay thậm chí để hạnh phúc một cách tuyệt diệu. Họ không phải lo lắng về những điều tạo nên các gian khổ của đời sống hồng trần, như nghèo đói, đói khát và nơi trú ẩn. Họ không có bất cứ nhu cầu nào về tiền bạc, cũng không có ai lệ thuộc vào họ.

In consequence, their whole objective in life is very different from ours. It is true that they stand in the same relation to angels that animals do to humanity, and it is also true that animals have simple wants and are not motivated as we are. But animals live surrounded by what, we call natural enemies, whereas fairies live surrounded by natural friends. So they live joyously and happily from day to day, concerning themselves with interesting occupations, and their objective is to enjoy, day by day, more and more of this fullness of life.

Do đó, toàn bộ mục tiêu trong đời sống của họ rất khác với chúng ta. Đúng là họ đứng trong cùng mối quan hệ với các thiên thần như thú vật đối với nhân loại, và cũng đúng là thú vật có những nhu cầu đơn giản và không được thúc đẩy như chúng ta. Nhưng thú vật sống bị vây quanh bởi những gì chúng ta gọi là kẻ thù tự nhiên, trong khi các vị tiên sống được vây quanh bởi những người bạn tự nhiên. Vì vậy họ sống vui tươi và hạnh phúc từ ngày này sang ngày khác, bận tâm với những nghề nghiệp thú vị, và mục tiêu của họ là vui hưởng, mỗi ngày, ngày càng nhiều hơn sự sung mãn của đời sống này.

They are, however, very conscious of being part of a great cooperative scheme. And thus they have a feeling of certainty. The angel is always present to guide them and to stimulate them to higher development. They have a feeling of awe and reverence (but absolutely no fear) toward the angel in charge of their lives and work. I once asked one of my fairy friends who was his superior and in charge of his district, and it was amusing to watch his response. He shot up in the air a few feet to express his delight at the thought of someone so much above him and for whom he had such a friendly feeling. But also to give me an impression of his great respect, he made several profound bows, touching his head to his toes and bending double, trying to make me understand it was someone very important.

Tuy nhiên, họ rất ý thức rằng mình là một phần của một hệ thống hợp tác lớn. Và vì thế họ có một cảm giác chắc chắn. Thiên thần luôn hiện diện để hướng dẫn họ và kích thích họ phát triển cao hơn. Họ có một cảm giác kính sợ và tôn kính, nhưng tuyệt đối không sợ hãi, đối với vị thiên thần phụ trách đời sống và công việc của họ. Một lần tôi hỏi một người bạn tiên của tôi ai là thượng cấp của y và phụ trách khu vực của y, và thật thú vị khi quan sát đáp ứng của y. Y phóng lên không trung vài bộ để biểu lộ niềm vui sướng khi nghĩ đến một người ở cao hơn y rất nhiều và đối với người ấy y có cảm tình thân thiện như thế. Nhưng cũng để tạo cho tôi một ấn tượng về sự kính trọng lớn lao của y, y cúi chào nhiều lần thật sâu, chạm đầu vào các ngón chân và gập đôi người lại, cố làm cho tôi thấu hiểu rằng đó là một người rất quan trọng.

This episode will show the lightness and happiness which pervade fairy feelings, even of the reverential kind. Humans have a system of morality, which embodies a very serious attitude toward life—a moral code based upon rules and involving fear of penal ties. Of course the fairies have not the vaguest conception of what all that means. They are the truest illustration of those lovely words of Jesus: “Consider the lilies of the field; they toil not, neither do they spin. Yet Solomon in all his glory was not arrayed as one of these” [Matthew 6:28-29]. Our standards of right and wrong do not apply to these small people at all. There is no sense of good or evil in their world, only a great love of beauty and perfection. This is what every single one of them tries for: an ideal beauty in all its glory and perfection, which they strive for in everything they undertake to do. But this striving after beauty is not an effort or struggle for them but rather a constant stimulus and a tremendous joy. I think it is partly this constant inner longing for beauty which gives these creatures their sense of radiant joy. They are not to be thought of as being perfect. There may be momentary anger, and jealousy is not unknown, but it evaporates quickly. With us a negative emotion can fester in us like a poisonous discharge, but with the fairies, there are no dregs of emotion to muddy their lives.

Giai thoại này sẽ cho thấy sự nhẹ nhàng và hạnh phúc thấm nhuần các cảm xúc của tiên, ngay cả thuộc loại tôn kính. Con người có một hệ thống đạo đức, bao hàm một thái độ rất nghiêm trọng đối với đời sống—một bộ quy tắc luân lý dựa trên các quy luật và bao hàm sự sợ hãi các hình phạt. Dĩ nhiên các vị tiên không có chút khái niệm mơ hồ nào về tất cả những điều ấy có nghĩa gì. Họ là minh họa chân thật nhất cho những lời đáng yêu của Đức Jesus: “Hãy xem hoa huệ ngoài đồng; chúng không nhọc công, cũng không kéo sợi. Tuy vậy, Solomon trong tất cả vinh quang của ông cũng không được mặc đẹp như một trong những hoa ấy” [Matthew 6:28-29]. Các tiêu chuẩn đúng và sai của chúng ta hoàn toàn không áp dụng cho những người bé nhỏ này. Không có cảm thức về thiện hay ác trong thế giới của họ, chỉ có một tình yêu lớn lao đối với vẻ đẹp và sự hoàn hảo. Đây là điều mà từng người trong số họ đều cố gắng đạt tới: một vẻ đẹp lý tưởng trong tất cả vinh quang và sự hoàn hảo của nó, điều họ cố gắng trong mọi việc họ đảm nhận. Nhưng sự vươn tới vẻ đẹp này đối với họ không phải là nỗ lực hay đấu tranh, mà đúng hơn là một kích thích thường xuyên và một niềm vui lớn lao. Tôi nghĩ phần nào chính niềm khao khát nội tâm thường xuyên này đối với vẻ đẹp đem lại cho những sinh vật ấy cảm thức hoan hỉ rạng rỡ của họ. Không nên nghĩ họ là hoàn hảo. Có thể có cơn giận thoáng qua, và ganh tị không phải là điều không biết đến, nhưng nó bốc hơi nhanh chóng. Với chúng ta, một cảm xúc tiêu cực có thể mưng mủ trong ta như một chất thải độc hại, nhưng với các vị tiên, không có cặn bã cảm xúc nào làm vẩn đục đời sống của họ.

The nearest thing to fear that they know is their feeling toward humanity. It is true that ugliness exists in their own kingdom and arouses aversion in them. For example, the water babies like to get out of the way of the deep-sea gorilla-like creatures, and these, after all, inhabit the same element and world. But while they may dislike something, they do not fear it, for they understand. There are many things about human beings, however, which are beyond their comprehension. Our motives are to them extremely strange, and they never know how we are going to react to anything; therefore, they regard us with a sense of fear, because to them we often seem so senselessly cruel in relation to the nature they love. For instance, the killing of beautiful birds and wild creatures and the suffering such creatures undergo before they die is something that shocks fairies. In nature, killing is accomplished quickly, and there is not much suffering in the process. But killing purely for pleasure, and the terror of the beasts in the process, is the peculiar horror which human beings inflict upon the fairies. Guns are something that they cannot understand, and the loud reports shock and terrify them.

Điều gần nhất với sợ hãi mà họ biết là cảm xúc của họ đối với nhân loại. Đúng là sự xấu xí tồn tại trong chính giới của họ và khơi dậy trong họ sự ghê sợ. Chẳng hạn, các em bé nước thích tránh xa những sinh vật biển sâu giống khỉ đột, và sau hết, những sinh vật này cư ngụ trong cùng nguyên tố và thế giới. Nhưng dù họ có thể không thích điều gì đó, họ không sợ nó, vì họ thấu hiểu. Tuy nhiên, có nhiều điều về con người vượt ngoài sự thấu hiểu của họ. Các động cơ của chúng ta đối với họ hết sức kỳ lạ, và họ không bao giờ biết chúng ta sẽ phản ứng ra sao với bất cứ điều gì; vì vậy, họ nhìn chúng ta với một cảm thức sợ hãi, bởi đối với họ chúng ta thường có vẻ tàn nhẫn một cách vô nghĩa đối với thiên nhiên mà họ yêu mến. Chẳng hạn, việc giết những con chim đẹp và những sinh vật hoang dã, cùng nỗi đau khổ mà các sinh vật ấy trải qua trước khi chết, là điều làm các vị tiên chấn động. Trong thiên nhiên, việc giết diễn ra nhanh chóng, và không có nhiều đau khổ trong tiến trình ấy. Nhưng giết chỉ thuần vì khoái lạc, và sự kinh hoàng của các con thú trong tiến trình ấy, là nỗi kinh hãi đặc biệt mà con người gây ra cho các vị tiên. Súng là điều họ không thể thấu hiểu, và những tiếng nổ lớn làm họ chấn động và khiếp sợ.

I have occasionally seen fairies who have strong personal attachment for one another, mostly between individuals of the same sort, such as two water or two land fairies. The pair will go about together, work together, and be inseparable. This affection is sweet to watch, as they put their arms around one another and evince great affection. They discuss their work and show keen mutual interest in details, and they have the loveliest time playing together. Unlike animals, which reproduce themselves, fairies are brought into being by angels. Therefore among fairies, especially those of the lower middle ranks of development, there is nothing resembling sex, but there is a feeling of complementary sympathy. That is, a more positive type of fairy has a special feeling for a more passive individual. For example, there will be a special feeling of sympathy between an individual oak and a neighboring birch tree; this feeling is quite different from the way the oak responds to its immediate kin. But these trees have a more placid existence than the volatile fairy. Among the latter, jealousy is not unknown. For instance, I have known two fairies who are fond of one another to be jealous of a third who wanted too much attention. I remember such a case where two green fairies had their attachment interrupted by the intrusion of a blue fairy. One of the green fairies came to me and complained about it. He wanted to have the exclusive attachment of his friend, and he exuded jealous green thoughts, which were rather funny. At one moment he would stalk around glowering, and the next minute something pleasant would catch his eye which would make him jubilant and forgetful of his misery, whereupon he would jump into the air to express his happiness. A fairy can seldom sustain an emotion like jealousy for any length of time. Eventually the blue interloper took up with someone of his own kind, and peace was restored.

Thỉnh thoảng tôi đã thấy các vị tiên có sự gắn bó cá nhân mạnh mẽ với nhau, phần lớn giữa những cá thể cùng loại, như hai vị tiên nước hoặc hai vị tiên đất. Cặp ấy sẽ đi cùng nhau, làm việc cùng nhau, và không thể tách rời. Tình cảm này thật ngọt ngào khi quan sát, khi họ vòng tay ôm nhau và biểu lộ tình cảm lớn lao. Họ bàn luận công việc của mình, tỏ ra quan tâm sâu sắc lẫn nhau về các chi tiết, và có thời gian vui chơi bên nhau đẹp đẽ nhất. Không giống thú vật tự sinh sản, các vị tiên được các thiên thần đưa vào hiện hữu. Vì vậy, trong số các vị tiên, đặc biệt là những vị thuộc các cấp phát triển trung hạ, không có gì giống như tính dục, nhưng có một cảm giác cảm thông bổ sung. Nghĩa là, một loại tiên tích cực hơn có một cảm giác đặc biệt đối với một cá thể thụ động hơn. Chẳng hạn, sẽ có một cảm giác cảm thông đặc biệt giữa một cây sồi cá biệt và một cây bạch dương lân cận; cảm giác này hoàn toàn khác với cách cây sồi đáp ứng với thân tộc gần gũi của nó. Nhưng những cây này có một hiện hữu trầm lặng hơn vị tiên dễ biến động. Trong số các vị sau, ganh tị không phải là điều không biết đến. Chẳng hạn, tôi từng biết hai vị tiên yêu mến nhau lại ganh tị với một vị thứ ba muốn được chú ý quá nhiều. Tôi nhớ một trường hợp như vậy, trong đó sự gắn bó của hai vị tiên xanh lục bị gián đoạn bởi sự xâm nhập của một vị tiên xanh lam. Một trong hai vị tiên xanh lục đến với tôi và than phiền về điều đó. Y muốn có sự gắn bó độc quyền của bạn mình, và y tỏa ra những tư tưởng xanh lục ganh tị, khá buồn cười. Lúc này y đi rảo quanh với vẻ cau có, và phút kế tiếp một điều dễ chịu nào đó lọt vào mắt y, khiến y hân hoan và quên nỗi khổ của mình, rồi y nhảy lên không trung để biểu lộ hạnh phúc. Một vị tiên hiếm khi có thể duy trì một cảm xúc như ganh tị trong bất cứ khoảng thời gian dài nào. Cuối cùng kẻ chen ngang màu xanh lam kết bạn với một người cùng loại với y, và hòa bình được khôi phục.

I have also seen instances of fairies’ jealousy of humans being expressed in different ways. For instance, in Australia I had a fairy friend whom I loved and called the Dear Little Fellow; I mentioned him in Chapter 2. As I was very fond of him, I used to talk to him exclusively. Often the fairies around him would get quite jealous because I talked only to him and seemed to take no notice of the rest. On one occasion a little green candle fairy stood off about fifteen feet, looking perfectly furious with me. He was in a rage because I had not noticed him and what he was doing, and he felt himself so superior to the other fairies of his kind that he expected a word of praise from me. He really thought rather well of himself. Many times in the garden I have admired a special flower to the exclusion of others, and the fairies responsible for the rest of the garden work have felt themselves slighted. But this sort of feeling never lasts long. In this respect fairies are very much like animals or little children in not harboring grudges.

Tôi cũng đã thấy những trường hợp các vị tiên ganh tị với con người được biểu lộ theo những cách khác nhau. Chẳng hạn, ở Úc tôi có một người bạn tiên mà tôi yêu quý và gọi là Bạn Nhỏ Thân Yêu; tôi đã nhắc đến y trong Chương 2. Vì tôi rất mến y, tôi thường nói chuyện riêng với y. Các vị tiên quanh y thường khá ganh tị vì tôi chỉ nói chuyện với y và dường như không chú ý gì đến những người còn lại. Một lần, một vị tiên nến nhỏ màu xanh lục đứng cách xa khoảng mười lăm bộ, nhìn tôi với vẻ hoàn toàn giận dữ. Y nổi cơn thịnh nộ vì tôi đã không chú ý đến y và điều y đang làm, và y cảm thấy mình vượt trội hơn nhiều so với các vị tiên khác cùng loại đến nỗi y mong đợi một lời khen từ tôi. Y thật sự khá tự đánh giá cao mình. Nhiều lần trong vườn, tôi đã ngưỡng mộ một bông hoa đặc biệt mà không chú ý đến những bông khác, và các vị tiên chịu trách nhiệm về phần còn lại của công việc trong vườn cảm thấy mình bị xem nhẹ. Nhưng loại cảm xúc này không bao giờ kéo dài lâu. Về phương diện này, các vị tiên rất giống thú vật hoặc trẻ nhỏ ở chỗ không nuôi dưỡng oán hận.

Fairies sometimes do become pensive. For example, something may be wrong with the plants they are attending that puzzles them; then they will pause to think about it. An interesting case concerned a coffee tree which was transplanted from its native soil in Costa Rica to the garden of a friend of mine in California. Naturally, the Costa Rican fairies did not come with the tree, and so when it appeared in the garden, the fairies in California were rather puzzled by it and did not know exactly how to help this tree to its best advantage. They held a sort of solemn clinic over it. But for a long time the bush made no progress, which really worried the fairies in charge. They succeeded in getting some advice, however, and in consequence the little tree took a fresh start and did well.

Đôi khi các vị tiên trở nên trầm tư. Chẳng hạn, có thể có điều gì đó không ổn với những cây mà họ đang chăm sóc, khiến họ bối rối; khi ấy họ sẽ dừng lại để suy nghĩ về điều đó. Một trường hợp thú vị liên quan đến một cây cà phê được chuyển từ đất bản xứ của nó ở Costa Rica đến khu vườn của một người bạn tôi ở California. Tự nhiên, các vị tiên Costa Rica không đi cùng cây ấy, và vì vậy khi nó xuất hiện trong vườn, các vị tiên ở California khá bối rối trước nó và không biết chính xác làm thế nào để giúp cây này đạt được lợi ích tốt nhất. Họ tổ chức một kiểu hội chẩn trang nghiêm quanh nó. Nhưng trong một thời gian dài bụi cây không tiến triển, điều này thật sự làm các vị tiên phụ trách lo lắng. Tuy nhiên, họ đã thành công trong việc nhận được vài lời khuyên, và do đó cây nhỏ bắt đầu lại một cách mới mẻ và phát triển tốt.

As I have said, fairies function mainly on the emotional level. The focus of their attention is on the things in their special charge (and this may be largely instinctive), but they have clear feelings about all sorts of things. They lead lives that are embued with feeling rather than thought. Their whole world, and indeed the very substance of which they are made, is vital and emotional, rather than physical and logical. Therefore, it is natural that they should be as competent to feel as we are to shape and control physical things. On the whole, as I said before, these feelings are positive and beneficent, but sometimes an individual will get rebellious and full of wild notions, or refuse to work or even become quarrelsome with his neighbors. I know of no case of the rebellion of an entire group. The individual who makes trouble is shunned by his fellows; he is ostracized. A friend of mine observed an extreme case, where a fairy quarreled continually with a neighbor. Finally the angel who had him in charge arranged with another angel for a transfer, and the rebel was sent many miles away. He drooped for a while but got over it all and resumed his happy state. Such extreme cases must be very rare, for I have never seen one. Of course fairies are not tied to one spot or one garden, and now and then one will take it into his head to go somewhere else. It is all easy, natural, and even, to some degree, casual. A human being who keeps a fine garden, loves and cares for his trees and plants, and perhaps even has some feeling for the plants’ inner life, will attract many more of the Little People than another person may do who is indifferent to this aspect.

Như tôi đã nói, các vị tiên hoạt động chủ yếu trên cấp độ cảm xúc. Trọng tâm chú ý của họ đặt vào những điều thuộc trách nhiệm đặc biệt của họ, và điều này có thể phần lớn là bản năng, nhưng họ có những cảm xúc rõ ràng về đủ loại sự vật. Họ dẫn dắt những đời sống thấm nhuần cảm xúc hơn là tư tưởng. Toàn bộ thế giới của họ, và thật vậy chính chất liệu mà họ được tạo nên, là sinh động và cảm xúc hơn là hồng trần và hợp lý. Vì vậy, tự nhiên là họ có năng lực cảm nhận cũng như chúng ta có năng lực tạo hình và kiểm soát các sự vật hồng trần. Nhìn chung, như tôi đã nói trước đây, những cảm xúc này là tích cực và hữu ích, nhưng đôi khi một cá thể sẽ trở nên nổi loạn và đầy những ý niệm hoang dại, hoặc từ chối làm việc, hoặc thậm chí trở nên hay gây gổ với láng giềng. Tôi không biết trường hợp nào về sự nổi loạn của cả một nhóm. Cá thể gây rối bị đồng bạn tránh xa; y bị tẩy chay. Một người bạn của tôi đã quan sát một trường hợp cực đoan, trong đó một vị tiên liên tục gây gổ với một người láng giềng. Cuối cùng vị thiên thần phụ trách y đã thu xếp với một thiên thần khác để chuyển dịch, và kẻ nổi loạn bị gửi đi xa nhiều dặm. Y ủ rũ một thời gian nhưng vượt qua tất cả và trở lại trạng thái hạnh phúc của mình. Những trường hợp cực đoan như vậy hẳn rất hiếm, vì tôi chưa bao giờ thấy một trường hợp nào. Dĩ nhiên các vị tiên không bị ràng buộc vào một chỗ hay một khu vườn, và thỉnh thoảng một vị sẽ nảy ý định đi nơi khác. Tất cả đều dễ dàng, tự nhiên, và thậm chí, ở một mức độ nào đó, tùy tiện. Một con người gìn giữ một khu vườn đẹp, yêu mến và chăm sóc cây cối của mình, và có lẽ thậm chí có chút cảm nhận về đời sống bên trong của cây, sẽ thu hút nhiều Người Bé Nhỏ hơn hẳn một người khác thờ ơ với phương diện này.

All fairies love young things—children, rabbits, cats, fish, or trees. Youth has a special appeal to them, partly, I think, because there is a bond of sympathy, partly because both are full of joy and happiness. Children, and indeed all young things, are very open to the fairies. Fairies love little children, watch them with keen interest and delight, and even try to copy their games. The same applies to young deer and rabbits. The fairies watch for them, and I think many young creatures can see fairies, as they are, after all, closer to nature’s repetitions than we are, and thus their sensibilities are not dulled. During the spring season, the fairies know every deer and rabbit and squirrel, and they try to protect them as much as they can by putting ideas into their heads and strengthening their instincts. It is a pretty sight to see a fairy enjoying the gambols of lambs, for instance, jumping around to encourage them. There is a close feeling of kinship and friendliness. One of the closest relationships exists between fairies and birds—especially young birds. They will caper about to draw attention to a worm, and if it happens to be a worm or grub that is a detriment to garden life, all the better for the fairy and so much the worse for Mr. Worm.

Tất cả các vị tiên đều yêu những gì non trẻ—trẻ em, thỏ, mèo, cá hoặc cây. Tuổi trẻ có một sức hấp dẫn đặc biệt đối với họ, phần nào, tôi nghĩ, vì có một mối dây cảm thông, phần nào vì cả hai đều đầy niềm vui và hạnh phúc. Trẻ em, và thật vậy mọi sự vật non trẻ, đều rất mở ra đối với các vị tiên. Các vị tiên yêu trẻ nhỏ, quan sát chúng với sự quan tâm sâu sắc và niềm thích thú, và thậm chí cố bắt chước các trò chơi của chúng. Điều tương tự áp dụng cho nai con và thỏ con. Các vị tiên trông chừng chúng, và tôi nghĩ nhiều sinh vật non trẻ có thể thấy các vị tiên, vì sau hết, chúng gần với các sự lặp lại của thiên nhiên hơn chúng ta, và vì vậy các khả năng cảm nhận của chúng chưa bị cùn mòn. Trong mùa xuân, các vị tiên biết từng con nai, thỏ và sóc, và họ cố bảo vệ chúng nhiều nhất có thể bằng cách đặt các ý tưởng vào đầu chúng và tăng cường các bản năng của chúng. Chẳng hạn, thật là một cảnh đẹp khi thấy một vị tiên vui thích trước những bước nhảy nhót của đàn cừu con, nhảy quanh để khuyến khích chúng. Có một cảm giác thân thuộc và thân thiện gần gũi. Một trong những mối quan hệ gần gũi nhất tồn tại giữa các vị tiên và chim—đặc biệt là chim non. Họ sẽ nhảy nhót để lôi kéo sự chú ý đến một con giun, và nếu tình cờ đó là một con giun hay ấu trùng gây hại cho đời sống trong vườn, thì càng tốt cho vị tiên và càng xấu cho Ông Giun.

The point of view of the different classes of fairies—water, land, fire, and air—differs somewhat, for their interests vary. For example, the not uncommon attention which land fairies pay to humanity is almost entirely lacking in other classes. Land fairies know our (to them) unaccountable ways and have a sort of timid and doubting attitude toward us, but the others are either indifferent or curious, or even hostile. Land fairies, again, move about over large areas much less frequently than do air or water fairies. In some ways, the land beings are more self-reliant and individualistic. In fact, the difference between water and land fairies is much like the difference between animals of the water and of the land. The water fairies tend to go about in larger groups, the land fairies in smaller, and within the land group there are many quite marked personalities. A land fairy also has more imagination, and therefore wants to be more like human beings and to copy their actions, as they think us so strange and amusing. They also understand that human beings are superior to them in intellectual power.

Quan điểm của các lớp tiên khác nhau—nước, đất, lửa và khí—khác nhau phần nào, vì các mối quan tâm của họ khác nhau. Chẳng hạn, sự chú ý không phải hiếm mà các vị tiên đất dành cho nhân loại hầu như hoàn toàn thiếu trong các lớp khác. Các vị tiên đất biết những cách thức khó hiểu của chúng ta đối với họ và có một thái độ rụt rè, nghi ngại nào đó đối với chúng ta, nhưng những vị khác hoặc thờ ơ, hoặc tò mò, hoặc thậm chí thù địch. Lại nữa, các vị tiên đất di chuyển trên những vùng rộng lớn ít thường xuyên hơn nhiều so với các vị tiên khí hay nước. Theo một vài phương diện, các sinh linh đất tự lực và cá nhân hơn. Thật vậy, sự khác biệt giữa tiên nước và tiên đất rất giống sự khác biệt giữa thú vật dưới nước và thú vật trên đất. Các vị tiên nước có khuynh hướng đi thành những nhóm lớn hơn, các vị tiên đất thành những nhóm nhỏ hơn, và trong nhóm đất có nhiều phàm ngã khá rõ nét. Một vị tiên đất cũng có nhiều Sự tưởng tượng hơn, và vì thế muốn giống con người hơn và bắt chước các hành động của họ, vì họ nghĩ chúng ta quá kỳ lạ và thú vị. Họ cũng thấu hiểu rằng con người vượt trội hơn họ về quyền năng trí thức.

Dominating the feelings of the fairies that inhabit the surface of the sea is the fact that rhythm, which plays so large a part in the lives of all fairies, is for them embodied in the physical rhythm of the waves. Of course each great group has a consciousness of the element in which it lives. One might say that one group has a watery feeling, another a fiery one, and so on. But each division also has something in the physical world which gives those fairies a certain character.

Điều chi phối các cảm xúc của các vị tiên cư ngụ trên mặt biển là sự kiện rằng nhịp điệu, vốn đóng một vai trò rất lớn trong đời sống của tất cả các vị tiên, đối với họ được hiện thân trong nhịp điệu hồng trần của sóng. Dĩ nhiên mỗi nhóm lớn có một tâm thức về nguyên tố trong đó họ sống. Người ta có thể nói rằng một nhóm có cảm giác nước, nhóm khác có cảm giác lửa, và cứ thế. Nhưng mỗi phân ngành cũng có một điều gì đó trong thế giới hồng trần đem lại cho các vị tiên ấy một tính cách nhất định.

In the case of the water fairies, the waves give them a fine feeling of effectiveness. They are in constant movement, like the surface of the sea itself, and just as the sea is one great mass in which there is not much differentiation of material, so the fairies of the sea are a homogeneous band. Fairies of lakes have much the same central experience, and those associated with streams have the flow of the water as their basis of activity.

Trong trường hợp các vị tiên nước, sóng đem lại cho họ một cảm giác tinh tế về hiệu năng. Họ luôn luôn chuyển động, giống như chính bề mặt biển, và cũng như biển là một khối lớn trong đó không có nhiều sự biến phân về chất liệu, các vị tiên của biển là một đoàn đồng nhất. Các vị tiên của hồ có nhiều trải nghiệm trung tâm tương tự, và những vị liên kết với suối lấy dòng chảy của nước làm nền tảng hoạt động của mình.

In the case of the beings of the air, altitude, vast distance, and a sense of almost complete freedom from physical attachment mark them. It is for this reason, perhaps, that they are so highly evolved. They are restricted neither materially nor spatially, but at the same time, they are less definite in their form and in their outlook.

Trong trường hợp các sinh linh của khí, độ cao, khoảng cách bao la, và một cảm giác gần như hoàn toàn tự do khỏi sự gắn bó hồng trần đánh dấu họ. Có lẽ vì lý do này mà họ tiến hoá rất cao. Họ không bị giới hạn về vật chất cũng như không gian, nhưng đồng thời, họ kém xác định hơn trong hình tướng và trong quan điểm của mình.

Salamanders, or fire fairies, are equally independent of humanity’s influence, but they are after all attached to a physical phenomenon. There is something refreshing and cleansing about the feeling of fire fairies. Because their special element is a sort of gateway between two worlds, they seem to stand on the borderland, sharing in both. It is difficult to describe their unique point of view. They see life as a constant flowing in and out of forms, and thus they are at the heart of the alchemy of nature.

Salamander, hay các vị tiên lửa, cũng độc lập với ảnh hưởng của nhân loại như vậy, nhưng sau hết họ gắn với một hiện tượng hồng trần. Có điều gì đó tươi mát và thanh tẩy trong cảm giác của các vị tiên lửa. Vì nguyên tố đặc biệt của họ là một kiểu cửa ngõ giữa hai thế giới, họ dường như đứng trên vùng biên, tham dự vào cả hai. Thật khó mô tả quan điểm độc đáo của họ. Họ thấy sự sống như một sự tuôn chảy liên tục vào và ra khỏi các hình tướng, và vì vậy họ ở ngay trái tim của thuật luyện kim của thiên nhiên.

Fairies as a whole have only vague conceptions, if any, about God, who (if they think at all about the subject) embodies for them the basis of the ordered universe in which they feel they live. Fairies, of course, do not undergo the kind of suffering we do, for the struggle for existence which makes up the greater part of the suffering of our human life has no counterpart in theirs. They do suffer in a minor way when things go wrong in their world, but of course that is not real suffering in our sense of the word. I do not think that they experience pain to any great extent, although they realize that it exists, since they see it in animals and other creatures. They sometimes desire to become human beings; cases of this kind have been known, and it is only thus that they sense our worries and difficulties. They admire us in many ways, and if we were kind and appreciative of their existence, they would gladly be friends.

Nhìn chung, các vị tiên chỉ có những quan niệm mơ hồ, nếu có, về Thượng đế, Đấng mà đối với họ, nếu họ có nghĩ gì về đề tài này, hiện thân cho nền tảng của vũ trụ có trật tự trong đó họ cảm thấy mình đang sống. Dĩ nhiên, các vị tiên không trải qua loại đau khổ như chúng ta, vì cuộc đấu tranh để tồn tại vốn tạo nên phần lớn đau khổ trong đời sống con người của chúng ta không có đối phần trong đời sống của họ. Họ có đau khổ theo cách nhỏ khi mọi việc trong thế giới của họ đi sai, nhưng dĩ nhiên đó không phải là đau khổ thật sự theo nghĩa của chúng ta. Tôi không nghĩ họ trải nghiệm đau đớn ở mức độ lớn nào, mặc dù họ nhận ra rằng nó tồn tại, vì họ thấy nó nơi thú vật và các sinh vật khác. Đôi khi họ mong muốn trở thành con người; những trường hợp thuộc loại này đã được biết đến, và chỉ bằng cách đó họ mới cảm nhận được các lo âu và khó khăn của chúng ta. Họ ngưỡng mộ chúng ta theo nhiều cách, và nếu chúng ta tử tế và biết trân trọng sự hiện hữu của họ, họ sẽ vui lòng làm bạn.

Though fairies know little about God, they do have a rather vague but beautiful concept of high beings in the evolutionary plan, such as their own angel, who is to them the wisest and most serene being in the world.

Dù các vị tiên biết ít về Thượng đế, họ có một quan niệm khá mơ hồ nhưng đẹp đẽ về các sinh linh cao trong Thiên Cơ tiến hoá, chẳng hạn như thiên thần của chính họ, đối với họ là sinh linh minh triết và tĩnh lặng nhất trong thế giới.