Table of Contents — Mục Lục
Title
Tựa đề
Contents
Nội dung
THE GREAT INVOCATION
ĐẠI KHẤN NGUYỆN
EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN
TRÍCH TỪ MỘT TUYÊN BỐ CỦA CHÂN SƯ TÂY TẠNG
KEYNOTE
CHỦ ÂM
CHAPTER ONE - THE DOCTRINE OF THE COMING ONE
CHƯƠNG MỘT - GIÁO LÝ VỀ ĐẤNG ĐANG ĐẾN
CHAPTER TWO - CHRIST’S UNIQUE OCCASION
CHƯƠNG HAI - CƠ HỘI ĐỘC ĐÁO CỦA ĐỨC CHRIST
CHAPTER THREE - THE REAPPEARANCE OF THE CHRIST
CHƯƠNG BA - SỰ TÁI XUẤT HIỆN CỦA ĐỨC CHRIST
CHAPTER FOUR - THE WORK OF THE CHRIST TODAY AND IN THE FUTURE
CHƯƠNG BỐN - CÔNG VIỆC CỦA ĐỨC CHRIST NGÀY NAY VÀ TRONG TƯƠNG LAI
CHAPTER FIVE - THE TEACHINGS OF THE CHRIST
CHƯƠNG NĂM - NHỮNG GIÁO HUẤN CỦA ĐỨC CHRIST
CHAPTER SIX - THE NEW WORLD RELIGION
CHƯƠNG SÁU - TÔN GIÁO THẾ GIỚI MỚI
CHAPTER SEVEN - PREPARATION FOR THE REAPPEARANCE OF THE CHRIST
CHƯƠNG BẢY - CHUẨN BỊ CHO SỰ TÁI XUẤT HIỆN CỦA ĐỨC CHRIST
CONCLUSION
KẾT LUẬN
THE ARCANE SCHOOL
TRƯỜNG ARCANE
INDEX
MỤC LỤC TRA CỨU
THE REAPPEARANCE
SỰ TÁI XUẤT HIỆN
OF
CỦA
THE CHRIST
ĐỨC CHRIST
by
bởi
ALICE A. BAILEY
ALICE A. BAILEY
INDEX EDITION
ẤN BẢN CÓ MỤC LỤC TRA CỨU
BOOKS BY ALICE A. BAILEY
CÁC SÁCH CỦA ALICE A. BAILEY
Initiation, Human and Solar
Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương
Letters on Occult Meditation
Thư về Tham Thiền Huyền Bí
The Consciousness of the Atom
Tâm thức của Nguyên tử
A Treatise on Cosmic Fire
Luận về Lửa Vũ Trụ
The Light of the Soul
Ánh sáng của Linh Hồn
The Soul and its Mechanism
Linh Hồn và Bộ Máy của Nó
From Intellect to Intuition
Từ Trí Năng đến Trực Giác
A Treatise on White Magic
Luận về Chánh Thuật
From Bethlehem to Calvary
Từ Bethlehem đến Calvary
Discipleship in the New Age–Vol. I
Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới–Tập I
Discipleship in the New Age–Vol. II
Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới–Tập II
Problems of Humanity
Những Vấn Đề của Nhân Loại
The Reappearance of the Christ
Sự Tái Xuất Hiện của Đức Christ
The Destiny of the Nations
Vận Mệnh của Các Quốc Gia
Glamour: A World Problem
Ảo Cảm: Một Vấn Đề của Thế Gian
Telepathy and the Etheric Vehicle
Viễn Cảm và Vận Cụ Dĩ Thái
The Unfinished Autobiography
Tự Truyện Chưa Hoàn Tất
Education in the New Age
Giáo Dục trong Kỷ Nguyên Mới
The Externalisation of the Hierarchy
Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn
A Treatise on the Seven Rays:
Luận về Bảy Cung:
Vol. I–Esoteric Psychology
Tập I–Tâm Lý Học Nội Môn
Vol. II–Esoteric Psychology
Tập II–Tâm Lý Học Nội Môn
Vol. III–Esoteric Astrology
Tập III–Chiêm Tinh Học Nội Môn
Vol. IV–Esoteric Healing
Tập IV–Trị Liệu Huyền Môn
Vol. V–The Rays and the Initiations
Tập V–Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo
THE GREAT INVOCATION — ĐẠI KHẤN NGUYỆN
From the point of Light within the Mind of God
Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế
Let light stream forth into the minds of men.
Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người
Let Light descend on Earth.
Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian
From the point of Love within the Heart of God
Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế
Let love stream forth into the hearts of men.
Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người
May Christ return to Earth.
Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian
From the centre where the Will of God is known
Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế
Let purpose guide the little wills of men—
Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người
The purpose which the Masters know and serve.
Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự
From the centre which we call the race of men
Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người
Let the Plan of Love and Light work out.
Cầu xin Thiên Cơ của Tình thương và Ánh sáng được thực thi
And may it seal the door where evil dwells.
Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác
Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.
Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian
“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.”
“Bài Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện trên không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của bài Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn giản của nó, và ở sự diễn đạt những chân lý cốt lõi nhất định mà tất cả mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí Thông Minh cơ bản mà chúng ta mơ hồ đặt tên là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi Sắc tướng, động lực của vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng một Cá Thể vĩ đại đã đến trái đất, được người Kitô giáo gọi là Đức Christ, và hiện thân cho tình thương đó để chúng ta có thể hiểu được; chân lý rằng cả tình thương và trí thông minh đều là kết quả của cái được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể thực hiện được.”
ALICE A. BAILEY
ALICE A. BAILEY
EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN — TRÍCH TỪ MỘT TUYÊN BỐ CỦA CHÂN SƯ TÂY TẠNG
Suffice it to say, that I am a Tibetan disciple of a certain degree, and this tells you but little, for all are disciples from the humblest aspirant up to, and beyond, the Christ Himself. I live in a physical body like other men, on the borders of Tibet, and at times (from the exoteric standpoint) preside over a large group of Tibetan lamas, when my other duties permit. It is this fact that has caused it to be reported that I am an abbot of this particular lamasery. Those associated with me in the work of the Hierarchy (and all true disciples are associated in this work) know me by still another name and office. A.A.B. knows who I am and recognises me by two of my names.
Chỉ cần nói rằng, tôi là một đệ tử người Tây Tạng ở một cấp độ nhất định, và điều này nói cho các bạn biết rất ít, vì tất cả đều là đệ tử từ người chí nguyện khiêm tốn nhất cho đến, và vượt lên trên, chính Đức Christ. Tôi sống trong một thể xác giống như những người khác, ở biên giới Tây Tạng, và đôi khi (theo quan điểm ngoại môn) chủ trì một nhóm lớn các lạt ma Tây Tạng, khi các nhiệm vụ khác của tôi cho phép. Chính sự thật này đã khiến người ta đồn rằng tôi là một tu viện trưởng của tu viện lạt ma này. Những người liên kết với tôi trong công việc của Thánh Đoàn (và tất cả các đệ tử chân chính đều liên kết trong công việc này) biết tôi qua một cái tên và chức vụ khác. A.A.B. biết tôi là ai và nhận ra tôi qua hai trong số các tên gọi của tôi.
I am a brother of yours, who has travelled a little longer upon the Path than has the average student, and has therefore incurred greater responsibilities. I am one who has wrestled and fought his way into a greater measure of light than has the aspirant who will read this article, and I must therefore act as a transmitter of the light, no matter what the cost. I am not an old man, as age counts among the teachers, yet I am not young or inexperienced. My work is to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom wherever I can find a response, and I have been doing this for many years. I seek also to help the Master M. and the Master K.H. whenever opportunity offers, for I have been long connected with Them and with Their work. In all the above, I have told you much; yet at the same time I have told you nothing which would lead you to offer me that blind obedience and the foolish devotion which the emotional aspirant offers to the Guru and Master Whom he is as yet unable to contact. Nor will he make that desired contact until he has transmuted emotional devotion into unselfish service to humanity-not to the Master.
Tôi là một huynh đệ của các bạn, người đã đi trên Đường Đạo lâu hơn một chút so với người đạo sinh trung bình, và do đó đã gánh vác những trách nhiệm lớn hơn. Tôi là một người đã phấn đấu và chiến đấu để tiến vào một mức độ ánh sáng lớn hơn so với người chí nguyện sẽ đọc bài viết này, và vì vậy tôi phải hành động như một người truyền dẫn ánh sáng, bất kể giá nào. Tôi không phải là một người già, theo cách tính tuổi tác của các huấn sư, tuy nhiên tôi không còn trẻ hay thiếu kinh nghiệm. Công việc của tôi là giảng dạy và truyền bá kiến thức về Minh Triết Ngàn Đời bất cứ nơi nào tôi có thể tìm thấy một sự đáp ứng, và tôi đã làm điều này trong nhiều năm. Tôi cũng tìm cách giúp đỡ Chân sư M. và Chân sư K.H. bất cứ khi nào có cơ hội, vì tôi đã liên kết lâu dài với Các Ngài và với công việc của Các Ngài. Trong tất cả những điều trên, tôi đã nói với các bạn nhiều điều; tuy nhiên đồng thời tôi chưa nói với các bạn điều gì có thể khiến các bạn dâng hiến cho tôi sự vâng lời mù quáng và sự sùng tín ngu muội mà người chí nguyện đầy cảm xúc thường dâng lên cho Vị Guru và Chân sư Mà y chưa thể tiếp xúc. Y cũng sẽ không thực hiện được sự tiếp xúc mong muốn đó cho đến khi y chuyển hóa sự sùng tín đầy cảm xúc thành sự phụng sự vô kỷ vị tha cho nhân loại – chứ không phải cho Chân sư.
The books that I have written are sent out with no claim for their acceptance. They may, or may not, be correct, true and useful. It is for you to ascertain their truth by right practice and by the exercise of the intuition. Neither I nor A.A.B. is the least interested in having them acclaimed as inspired writings, or in having anyone speak of them (with bated breath) as being the work of one of the Masters. If they present truth in such a way that it follows sequentially upon that already offered in the world teachings, if the information given raises the aspiration and the will-to-serve from the plane of the emotions to that of the mind (the plane whereon the Masters can be found) then they will have served their purpose. If the teaching conveyed calls forth a response from the illumined mind of the worker in the world, and brings a flashing forth of his intuition, then let that teaching be accepted. But not otherwise. If the statements meet with eventual corroboration, or are deemed true under the test of the Law of Correspondences, then that is well and good. But should this not be so, let not the student accept what is said.
Những quyển sách mà tôi đã viết được đưa ra mà không đòi hỏi sự chấp nhận. Chúng có thể, hoặc có thể không, chính xác, đúng đắn và hữu ích. Việc xác minh sự thật của chúng bằng thực hành đúng đắn và bằng sự rèn luyện trực giác là tùy thuộc vào các bạn. Cả tôi và A.A.B. đều không quan tâm chút nào đến việc chúng được tung hô như những bài viết đầy cảm hứng, hay việc bất kỳ ai nói về chúng (với vẻ hết sức kính cẩn) như là công trình của một trong các Chân sư. Nếu chúng trình bày sự thật theo cách mà nó tiếp nối một cách tuần tự những gì đã được đưa ra trong các giáo lý thế giới, nếu thông tin được đưa ra nâng cao khát vọng và ý chí-phụng sự từ cõi cảm xúc lên cõi trí (cõi mà các Chân sư có thể được tìm thấy) thì chúng đã phục vụ mục đích của mình. Nếu giáo huấn được truyền tải gợi lên một sự đáp ứng từ thể trí được soi sáng của người hoạt động trên thế gian, và mang lại một sự lóe sáng của trực giác nơi y, thì hãy để giáo huấn đó được chấp nhận. Nhưng nếu không thì thôi. Nếu các tuyên bố nhận được sự chứng thực cuối cùng, hoặc được coi là đúng dưới sự kiểm chứng của Định luật Tương ứng, thì điều đó thật tốt. Nhưng nếu không phải như vậy, thì đạo sinh đừng chấp nhận những gì được nói.
AUGUST 1934
THÁNG TÁM NĂM 1934
KEYNOTE — CHỦ ÂM
Whenever there is a withering of the law and an uprising of lawlessness on all sides, then I manifest Myself.
Bất cứ khi nào có sự suy vi của luật pháp và sự trỗi dậy của tình trạng vô pháp ở khắp mọi phía, khi ấy Chính Ta sẽ tự biểu hiện.
For the salvation of the righteous and the destruction of such as do evil, for the firm establishing of the Law, I come to birth age after age.
Vì sự cứu độ của người công chính và sự hủy diệt những kẻ làm điều ác, vì sự thiết lập vững chắc luật pháp, Ta giáng sinh hết thời đại này đến thời đại khác.
THE BHAGAVAD GITA
THE BHAGAVAD GITA
BOOK IV, SUTRA 7, 8.
QUYỂN IV, KINH 7, 8.
CHAPTER ONE - THE DOCTRINE OF THE COMING ONE — CHƯƠNG MỘT - GIÁO LÝ VỀ ĐẤNG ĐANG ĐẾN
THE DOCTRINE OF THE COMING ONE - Western Teaching
GIÁO LÝ VỀ ĐẤNG ĐANG ĐẾN - Giáo huấn phương Tây
THE DOCTRINE OF AVATARS - Eastern Teaching
GIÁO LÝ VỀ CÁC ĐẤNG HOÁ THÂN - Giáo huấn phương Đông
[5]
[5]
Right down the ages, in many world cycles and in many countries (and today in all) great points of tension have occurred which have been characterised by a hopeful sense of expectancy. Some one is expected and His coming is anticipated. Always in the past, it has been the religious teachers of the period who have fostered and proclaimed this expectancy and the time has always been one of chaos and difficulty, of a climaxing point at the close of a civilisation or culture and when the resources of the old religions have seemed inadequate to meet men’s difficulties or to solve their problems. The coming of the Avatar, the advent of a Coming One and, in terms of today, the reappearance of the Christ are the keynotes of the prevalent expectancy. When the times are ripe, the invocation of the masses is strident enough and the faith of those who know is keen enough, then always He has come and today will be no exception to this ancient rule or to this universal law. For decades, the reappearance of the Christ, the Avatar, has been anticipated by the faithful in both hemispheres—not only by the Christian faithful, but by those who look for Maitreya and for the Boddhisattva as well as those who expect the Imam Mahdi.
Suốt các thời đại, trong nhiều chu kỳ thế giới và tại nhiều quốc gia (và ngày nay là ở tất cả), đã xảy ra những điểm tập trung nhất tâm lớn, được đặc trưng bởi một cảm thức hy vọng và mong đợi. Một ai đó được chờ đợi và sự quang lâm của Ngài được mong ngóng. Trong quá khứ, luôn luôn chính các huấn sư tôn giáo của thời kỳ đó đã nuôi dưỡng và công bố niềm mong đợi này, và thời điểm ấy luôn luôn là thời kỳ hỗn loạn và khó khăn, là một điểm cực đỉnh vào lúc kết thúc của một nền văn minh hay văn hóa, khi các nguồn lực của những tôn giáo cũ dường như không đủ để đáp ứng những khó khăn của con người hay giải quyết các vấn đề của họ. Sự quang lâm của Đấng Hoá Thân, sự xuất hiện của một Đấng Đang Đến và, theo ngôn ngữ ngày nay, sự tái xuất hiện của Đức Christ là những chủ âm của niềm mong đợi đang thịnh hành. Khi thời cơ chín muồi, sự khẩn cầu của quần chúng đủ mạnh mẽ và đức tin của những người biết đủ sắc bén, thì khi ấy Ngài luôn luôn đã đến, và ngày nay sẽ không là ngoại lệ đối với quy luật cổ xưa này hay đối với định luật phổ quát này. Trong nhiều thập niên, sự tái xuất hiện của Đức Christ, Đấng Hoá Thân, đã được những người trung tín ở cả hai bán cầu mong đợi—không chỉ bởi những tín đồ Cơ Đốc giáo trung tín, mà còn bởi những người trông đợi Đức Maitreya và Đức Bồ Tát cũng như những người chờ đợi Imam Mahdi.
When men feel that they have exhausted all their own resources and have come to an end of all their own innate possibilities and that the problems and conditions confronting them are beyond their solving or handling, they are apt to look for a divine Intermediary and for the [6] Mediator Who will plead their cause with God and bring about a rescue. They look for a Saviour. This doctrine of Mediators, of Messiahs, of Christs and of Avatars can be found running like a golden thread through all the world faiths and Scriptures and, relating these world Scriptures to some central source of emanation, they are found in rich abundance everywhere. Even the human soul is regarded as an intermediary between man and God; Christ is believed by countless millions to act as the divine mediator between humanity and divinity.
Khi con người cảm thấy rằng họ đã dùng cạn mọi nguồn lực của chính mình và đã đi đến tận cùng mọi khả năng bẩm sinh của mình, và rằng những vấn đề cùng hoàn cảnh đối diện họ vượt ngoài khả năng giải quyết hay xử lý của họ, họ thường tìm đến một Đấng Trung Gian thiêng liêng và [6] một Đấng Trung Bảo sẽ biện hộ cho họ trước Thượng đế và mang lại sự cứu giúp. Họ tìm kiếm một Đấng Cứu Thế. Giáo lý về các Đấng Trung Gian, các Đấng Messiah, các Đức Christ và các Đấng Hoá Thân này có thể được tìm thấy như một sợi chỉ vàng xuyên suốt mọi tín ngưỡng và Kinh điển thế giới, và khi liên hệ các Kinh điển thế giới này với một nguồn xuất lộ trung tâm nào đó, người ta thấy chúng hiện diện phong phú ở khắp nơi. Ngay cả linh hồn con người cũng được xem như một đấng trung gian giữa con người và Thượng đế; Đức Christ được vô số triệu người tin là hành động như đấng trung gian thiêng liêng giữa nhân loại và thiên tính.
The whole system of spiritual revelation is based (and has always been based) on this doctrine of interdependence, of a planned and arranged conscious linking and of the transmission of energy from one aspect of divine manifestation to another—from God in the “secret Place of the Most High” to the humblest human being, living and struggling and sorrowing on earth. Everywhere this transmission is to be found; “I am come that they may have life” says the Christ, and the Scriptures of the world are full of the intervention of some Being, originating from some source higher than the strictly human. Always the appropriate mechanism is found through which divinity can reach and communicate with humanity, and it is with this communication and these Instruments of divine energy that the doctrine of Avatars or of divine “Coming Ones” has to do.
Toàn bộ hệ thống mặc khải tinh thần được đặt nền tảng (và luôn luôn đã được đặt nền tảng) trên giáo lý về sự tương thuộc này, về một sự liên kết hữu thức được hoạch định và sắp xếp, và về sự truyền dẫn năng lượng từ một phương diện của biểu hiện thiêng liêng sang một phương diện khác—từ Thượng đế trong “Nơi bí mật của Đấng Tối Cao” đến con người khiêm hạ nhất, đang sống, đang vật lộn và đang đau khổ trên trần thế. Sự truyền dẫn này có thể được tìm thấy ở khắp nơi; “Ta đến để họ có sự sống” Đức Christ nói, và Kinh điển của thế giới đầy dẫy sự can thiệp của một Đấng nào đó, phát xuất từ một nguồn cao hơn mức thuần túy nhân loại. Luôn luôn có thể tìm thấy bộ máy thích hợp qua đó thiên tính có thể vươn tới và giao tiếp với nhân loại, và chính với sự giao tiếp này cùng những Khí cụ của năng lượng thiêng liêng này mà giáo lý về các Đấng Hoá Thân hay các “Đấng Đang Đến” thiêng liêng có liên quan.
An Avatar is one Who has a peculiar capacity (besides a self-initiated task and a pre-ordained destiny) to transmit energy or divine power. This is necessarily a deep mystery and was demonstrated in a peculiar manner and in relation to cosmic energy by the Christ Who—for the first time in planetary history, as far as we know—transmitted the divine energy of love directly to our planet and in a most definite sense to humanity. Always [7] too these Avatars or divine Messengers are linked with the concept of some subjective spiritual Order or Hierarchy of spiritual Lives, Who are concerned with the developing welfare of humanity. All we really know is that, down the ages, great and divine Representatives of God embody divine purpose, and affect the entire world in such a manner that Their names and Their influence are known and felt thousands of years after They no longer walk among men. Again and again, They have come and have left a changed world and some new world religion behind Them; we know also that prophecy and faith have ever held out to mankind the promise of Their coming again amongst us in an hour of need. These statements are statements of fact, historically proven. Beyond this we know relatively few details.
Một Đấng Hoá Thân là Đấng có một năng lực đặc biệt (bên cạnh một nhiệm vụ do chính mình khởi xướng và một định mệnh đã được tiền định) để truyền dẫn năng lượng hay quyền năng thiêng liêng. Điều này tất yếu là một huyền nhiệm sâu xa, và đã được Đức Christ biểu lộ theo một cách đặc biệt và trong mối liên hệ với năng lượng vũ trụ, Đấng—lần đầu tiên trong lịch sử hành tinh, theo như chúng ta biết—đã truyền trực tiếp năng lượng thiêng liêng của bác ái đến hành tinh chúng ta và theo một ý nghĩa rất xác định là đến nhân loại. Luôn luôn [7] nữa, các Đấng Hoá Thân hay các Sứ Giả thiêng liêng này được liên kết với khái niệm về một Trật Tự tinh thần chủ quan nào đó hay một Huyền Giai của các Sự Sống tinh thần, những Đấng quan tâm đến phúc lợi đang phát triển của nhân loại. Tất cả những gì chúng ta thực sự biết là, suốt các thời đại, những Đấng Đại Diện vĩ đại và thiêng liêng của Thượng đế hiện thân cho mục đích thiêng liêng, và tác động đến toàn thế giới theo cách mà danh xưng và ảnh hưởng của Các Ngài vẫn được biết đến và cảm nhận hàng ngàn năm sau khi Các Ngài không còn bước đi giữa những người nam và nữ nữa. Hết lần này đến lần khác, Các Ngài đã đến và để lại phía sau một thế giới đã đổi thay cùng một tôn giáo thế giới mới; chúng ta cũng biết rằng lời tiên tri và đức tin luôn luôn trao cho nhân loại lời hứa về việc Các Ngài sẽ trở lại giữa chúng ta trong giờ phút cần thiết. Những phát biểu này là những phát biểu về sự kiện, đã được lịch sử chứng minh. Ngoài điều đó ra, chúng ta biết tương đối ít chi tiết.
The word “Avatar” is a Sanskrit word, meaning literally “coming down from far away.” Ava (as prefix to verbs and verbal nouns) expresses the idea of “off, away, down.” Avataram (comparative) farther away. The root AV seems at all times to denote the idea of protection from above, and is used in compounds, in words referring to protections by kings or rulers; in regard to the gods, it means accepted favourably when a sacrifice is offered. With the result that the root word can be said to mean “Coming down with the approval of the higher source from which it came and with benefit to the place at which it arrives.” (From Monier-Williams’ Sanskrit Dictionary.)
Từ “Avatar” là một từ Sanskrit, nghĩa đen là “đi xuống từ nơi rất xa.” Ava (như tiền tố của động từ và danh từ động tính) diễn đạt ý niệm “ra khỏi, xa khỏi, đi xuống.” Avataram (so sánh hơn) xa hơn nữa. Gốc AV dường như vào mọi thời đều biểu thị ý niệm về sự bảo hộ từ bên trên, và được dùng trong các từ ghép, trong những từ chỉ sự bảo hộ của các vua chúa hay người cai trị; đối với các vị thần, nó có nghĩa là được chấp nhận thuận lợi khi một lễ hiến tế được dâng lên. Kết quả là, có thể nói từ gốc này có nghĩa là “Đi xuống với sự chuẩn thuận của nguồn cao hơn mà từ đó nó đến, và với lợi ích cho nơi mà nó đến.” (Trích từ Từ điển Sanskrit của Monier-Williams.)
All the world Avatars or Saviours, however, express two basic incentives: the need of God to contact humanity and to have relationship with men and the need of humanity for divine contact, help and understanding. Subject to those incentives, all true Avatars are therefore divine Intermediaries. They can act in this fashion because They [8] have completely divorced Themselves from every limitation, from all sense of self hood and separativeness and are no longer—by ordinary human standards—the dramatic centre of Their lives, as are most of us. When They have reached that stage of spiritual decentralisation, They Themselves can then become events in the life of our planet; toward Them every eye can look and all men can be affected. Therefore, an Avatar or a Christ comes forth for two reasons: one, the inscrutable and unknown Cause prompts Him so to do, and the other is the demand or the invocation of humanity itself. An Avatar is consequently a spiritual event, coming to us to bring about great changes or major restorations, to inaugurate a new civilisation or to restore the “ancient landmarks” and lead man nearer to the divine. They have been defined as “extraordinary men Who from time to time appear to change the face of the world and inaugurate a new era in the destinies of humanity.” They come in times of crisis; They frequently create crises in order to bring to an end the old and the undesirable and make way for new and more suitable forms for the evolving life of God Immanent in Nature. They come when evil is rampant. For this reason, if for no other, an Avatar may be looked for today. The necessary stage is set for the reappearance of the Christ.
Tuy nhiên, tất cả các Đấng Hoá Thân hay Đấng Cứu Thế của thế giới đều biểu lộ hai động lực căn bản: nhu cầu của Thượng đế muốn tiếp xúc với nhân loại và có mối liên hệ với những người nam và nữ, và nhu cầu của nhân loại đối với sự tiếp xúc, trợ giúp và thấu hiểu thiêng liêng. Tùy thuộc vào những động lực đó, mọi Đấng Hoá Thân chân chính vì thế đều là những Đấng Trung Gian thiêng liêng. Các Ngài có thể hành động theo cách này bởi vì Các Ngài [8] đã hoàn toàn tách rời Chính Mình khỏi mọi giới hạn, khỏi mọi cảm thức về bản ngã và tính biệt lập, và không còn—theo tiêu chuẩn nhân loại thông thường—là trung tâm kịch tính của đời sống Các Ngài, như hầu hết chúng ta. Khi Các Ngài đã đạt đến giai đoạn không còn lấy bản thân làm trung tâm về mặt tinh thần đó, thì chính Các Ngài có thể trở thành những sự kiện trong đời sống của hành tinh chúng ta; về phía Các Ngài, mọi con mắt đều có thể hướng nhìn và mọi người đều có thể bị tác động. Vì vậy, một Đấng Hoá Thân hay một Đức Christ xuất hiện vì hai lý do: một là Nguyên Nhân huyền nhiệm và bất khả tri thúc đẩy Ngài làm như vậy, và lý do kia là nhu cầu hay sự khẩn cầu của chính nhân loại. Do đó, một Đấng Hoá Thân là một sự kiện tinh thần, đến với chúng ta để mang lại những thay đổi lớn hay những sự phục hồi trọng đại, để khai mở một nền văn minh mới hay để phục hồi “những cột mốc cổ xưa” và dẫn dắt con người đến gần hơn với thiêng liêng. Các Ngài đã được định nghĩa là “những con người phi thường thỉnh thoảng xuất hiện để thay đổi bộ mặt thế giới và khai mở một kỷ nguyên mới trong vận mệnh của nhân loại.” Các Ngài đến trong những thời kỳ khủng hoảng; Các Ngài thường tạo ra khủng hoảng để chấm dứt cái cũ và cái không mong muốn, và dọn đường cho những hình tướng mới thích hợp hơn đối với sự sống đang tiến hoá của Thượng đế Nội Tại trong Thiên Nhiên. Các Ngài đến khi điều ác lan tràn. Vì lý do này, nếu không vì lý do nào khác, ngày nay người ta có thể trông đợi một Đấng Hoá Thân. Sân khấu cần thiết đã được chuẩn bị cho sự tái xuất hiện của Đức Christ.
Avatars are of all degrees and kinds; some of them are of great planetary importance because They express whole cycles of future development within Themselves and strike the note and give the teaching which will bring in a new age and a new civilisation; They embody great truths towards which the masses of men must work and which still constitute an objective to the greatest minds of the age, even though as yet unrealised. Certain Avatars also express in Themselves the sum total of human achievement [9] and of racial perfection, and thus become the “ideal men” of the ages. Others, greater still, are permitted to be the custodians of some divine principle or some divine quality which needs fresh presentation and expression upon Earth; this They can be because They have achieved perfection and have attained to the highest possible initiations. They have the gift of being these embodied spiritual qualities, and because They have in fullness expressed such a specific principle or quality They can act as channels for its transmission from the centre of all spiritual Life. This is the basis for the doctrine of Avatars or Divine Messengers.
Các Đấng Hoá Thân thuộc mọi cấp độ và mọi loại; một số trong Các Ngài có tầm quan trọng hành tinh lớn lao vì Các Ngài biểu lộ trong Chính Mình toàn bộ các chu kỳ phát triển tương lai và xướng lên chủ âm cùng ban ra giáo huấn sẽ đưa vào một kỷ nguyên mới và một nền văn minh mới; Các Ngài hiện thân cho những chân lý lớn lao mà quần chúng nhân loại phải hướng đến và những chân lý ấy vẫn còn là mục tiêu đối với những trí tuệ vĩ đại nhất của thời đại, dù cho đến nay vẫn chưa được thực hiện. Một số Đấng Hoá Thân nào đó cũng biểu lộ trong Chính Mình tổng thể thành tựu của con người [9] và sự hoàn thiện của nhân loại, và như thế trở thành “con người lý tưởng” của các thời đại. Những Đấng khác, còn vĩ đại hơn nữa, được cho phép trở thành những vị gìn giữ một nguyên khí thiêng liêng hay một phẩm tính thiêng liêng nào đó cần được trình bày và biểu lộ mới mẻ trên Trái Đất; Các Ngài có thể làm được điều này vì Các Ngài đã đạt đến sự hoàn thiện và đã đạt tới những cuộc điểm đạo cao nhất có thể. Các Ngài có ân huệ là chính những phẩm tính tinh thần hiện thân này, và bởi vì Các Ngài đã biểu lộ trọn vẹn một nguyên khí hay phẩm tính đặc thù như thế, Các Ngài có thể hành động như những kênh truyền dẫn nó từ trung tâm của mọi Sự sống tinh thần. Đây là nền tảng của giáo lý về các Đấng Hoá Thân hay các Sứ Giả thiêng liêng.
Such an one was the Christ; He was twice an Avatar because He not only struck the keynote of the new age (over two thousand years ago) but He also, in some mysterious and incomprehensible manner, embodied in Himself the divine Principle of Love; He was the first to reveal to men the true nature of God. The invocative cry of humanity (the second of the incentives producing a divine Emergence) is potent in effect because the souls of men, particularly in concerted action, have in them something which is akin to the divine nature of the Avatar. We are all Gods, all the children of the One Father, as the latest of the Avatars, the Christ, has told us. It is that divine centre in every human heart which, when awakened into activity, can call forth response from the high Place where the Coming One awaits His hour of appearance. It is only the united demand of humanity, its “massed intent,” which can precipitate the descent (as it is called) of an Avatar.
Đức Christ là một Đấng như vậy; Ngài là Đấng Hoá Thân hai lần bởi vì Ngài không những đã xướng lên chủ âm của kỷ nguyên mới (hơn hai ngàn năm trước) mà còn, theo một cách huyền nhiệm và không thể hiểu nổi nào đó, hiện thân trong Chính Mình nguyên khí thiêng liêng của Bác ái; Ngài là Đấng đầu tiên mặc khải cho những người nam và nữ bản chất chân thật của Thượng đế. Tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại (động lực thứ hai tạo ra một sự Xuất lộ thiêng liêng) có hiệu quả mạnh mẽ bởi vì linh hồn của những người nam và nữ, đặc biệt khi hành động đồng tâm, có trong mình một điều gì đó tương cận với bản chất thiêng liêng của Đấng Hoá Thân. Tất cả chúng ta đều là các Thượng đế, đều là con cái của một Người Cha duy nhất, như Đấng Hoá Thân mới nhất, Đức Christ, đã nói với chúng ta. Chính trung tâm thiêng liêng đó trong mỗi trái tim con người, khi được đánh thức vào hoạt động, có thể khơi dậy sự đáp ứng từ Chốn cao nơi Đấng Đang Đến đang chờ đợi giờ xuất hiện của Ngài. Chỉ có nhu cầu hợp nhất của nhân loại, “ý định tập thể” của nó, mới có thể làm ngưng tụ sự giáng hạ (như người ta gọi) của một Đấng Hoá Thân.
To sum up, therefore: the doctrine of Avatars is paralleled by the doctrine of the continuity of revelation. Ever down the ages, and at every great human crisis, always in the hours of necessity, at the founding of a new [10] race, or in the awakening of a prepared humanity to a new and wider vision, the Heart of God—impelled by the Law of Compassion—sends forth a Teacher, a world Saviour, an Illuminator, an Avatar, a transmitting Intermediary, a Christ. He gives the message which will heal, which will indicate the next step to be taken by the race of men, which will illumine a dark world problem and give to man an expression of some hitherto unrealised aspect of divinity. Upon this fact of the continuity of revelation and upon the sequence of this progressive manifestation of the divine Nature, is based the doctrine of Avatars, divine Messengers, divine Appearances and Saviours. To Them all, history unmistakenly testifies. It is upon the fact of this continuity, this sequence of Messengers and Avatars, and upon the dire and dreadful need of humanity at this time, that the worldwide expectancy of the reappearance of the Christ is based. It is the innate recognition of all these facts that has led to the steadily mounting invocative cry of humanity in every land for some form of divine relief or divine intervention; it is the recognition of these facts which also prompts the order which has gone forth from “the centre where the will of God is known” that the Avatar should come again; it is the knowledge of both these demands which has led the Christ to let His disciples in every land know that He will re-appear when they have done the needed preparatory work.
Vì vậy, để tóm lược: giáo lý về các Đấng Hoá Thân song hành với giáo lý về tính liên tục của mặc khải. Luôn luôn suốt các thời đại, và trong mọi cuộc khủng hoảng lớn của nhân loại, luôn luôn trong những giờ phút cần thiết, vào lúc khai sinh một [10] giống dân mới, hay trong sự thức tỉnh của một nhân loại đã được chuẩn bị để đón nhận một tầm nhìn mới và rộng lớn hơn, Trái Tim của Thượng đế—được thúc đẩy bởi Định luật Từ Bi—đã gửi đến một Huấn sư, một Đấng Cứu Thế của thế gian, một Đấng Soi Sáng, một Đấng Hoá Thân, một Đấng Trung Gian truyền dẫn, một Đức Christ. Ngài ban ra thông điệp sẽ chữa lành, sẽ chỉ ra bước kế tiếp mà nhân loại phải thực hiện, sẽ soi sáng một vấn đề đen tối của thế giới và trao cho con người một sự biểu đạt của một phương diện thiên tính nào đó trước đây chưa được chứng nghiệm. Trên sự kiện về tính liên tục của mặc khải này, và trên chuỗi biểu hiện tiến bộ của Bản Chất thiêng liêng này, giáo lý về các Đấng Hoá Thân, các Sứ Giả thiêng liêng, các Sự Xuất Hiện thiêng liêng và các Đấng Cứu Thế được đặt nền tảng. Lịch sử làm chứng cho tất cả Các Ngài một cách không thể nhầm lẫn. Chính trên sự kiện về tính liên tục này, chuỗi tiếp nối của các Sứ Giả và các Đấng Hoá Thân này, và trên nhu cầu khẩn thiết cùng khủng khiếp của nhân loại vào lúc này, mà niềm mong đợi trên toàn thế giới về sự tái xuất hiện của Đức Christ được đặt nền tảng. Chính sự nhận biết bẩm sinh về tất cả những sự kiện này đã dẫn đến tiếng kêu khẩn cầu ngày càng dâng cao của nhân loại ở mọi xứ sở đòi hỏi một hình thức cứu trợ thiêng liêng hay sự can thiệp thiêng liêng nào đó; chính sự nhận biết các sự kiện này cũng thúc đẩy mệnh lệnh đã phát ra từ “Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế” rằng Đấng Hoá Thân phải đến lần nữa; chính tri thức về cả hai nhu cầu này đã khiến Đức Christ cho các đệ tử của Ngài ở mọi xứ sở biết rằng Ngài sẽ tái xuất hiện khi họ đã hoàn thành công việc chuẩn bị cần thiết.
The Avatars most easily known and recognised are the Buddha in the East and the Christ in the West. Their messages are familiar to all, and the fruits of Their lives and words have conditioned the thinking and civilisations of both hemispheres. Because They are human-divine Avatars, They represent what humanity can easily understand; because They are of like nature to us, “flesh of [11] our flesh and spirit of our spirit,” we know and trust Them and They mean more to us than other divine Emergences. They are known, trusted and loved by countless millions. The nucleus of spiritual energy which each of Them set up is beyond our measuring; the establishing of a nucleus of persistent energy, spiritually positive, is the constant task of an Avatar; He focusses or anchors a dynamic truth, a potent thoughtform or a vortex of magnetic energy in the world of human living. This focal point acts increasingly as a transmitter of spiritual energy; it enables humanity to express some divine idea and this in time produces a civilisation with its accompanying culture, religions, policies, governments and educational processes. Thus is history made. History is after all only the record of humanity’s cyclic reaction to some inflowing divine energy, to some inspired leader, or to some Avatar.
Những Đấng Hoá Thân dễ được biết đến và nhận ra nhất là Đức Phật ở phương Đông và Đức Christ ở phương Tây. Thông điệp của Các Ngài quen thuộc với mọi người, và hoa trái của đời sống cùng lời nói của Các Ngài đã tác động lên tư tưởng và các nền văn minh của cả hai bán cầu. Bởi vì Các Ngài là những Đấng Hoá Thân nhân-thần, Các Ngài đại diện cho điều mà nhân loại có thể dễ dàng hiểu được; bởi vì Các Ngài có cùng bản chất với chúng ta, “xương thịt của [11] xương thịt chúng ta và tinh thần của tinh thần chúng ta,” chúng ta biết và tin cậy Các Ngài, và Các Ngài có ý nghĩa với chúng ta hơn những sự Xuất lộ thiêng liêng khác. Các Ngài được vô số triệu người biết đến, tin cậy và yêu mến. Hạt nhân năng lượng tinh thần mà mỗi Đấng trong Các Ngài đã thiết lập vượt ngoài khả năng đo lường của chúng ta; việc thiết lập một hạt nhân năng lượng bền vững, tích cực về mặt tinh thần, là nhiệm vụ thường hằng của một Đấng Hoá Thân; Ngài tập trung hay neo giữ một chân lý năng động, một hình tư tưởng mạnh mẽ hay một xoáy năng lượng từ tính trong thế giới đời sống nhân loại. Điểm tập trung này ngày càng hành động như một tác nhân truyền dẫn năng lượng tinh thần; nó giúp nhân loại biểu lộ một ý tưởng thiêng liêng nào đó và điều này theo thời gian tạo ra một nền văn minh với nền văn hóa, tôn giáo, chính sách, chính quyền và các tiến trình giáo dục đi kèm. Như thế lịch sử được tạo nên. Rốt cuộc, lịch sử chỉ là biên niên về phản ứng theo chu kỳ của nhân loại đối với một năng lượng thiêng liêng đang tuôn vào, đối với một nhà lãnh đạo được cảm hứng, hay đối với một Đấng Hoá Thân.
An Avatar is at present usually a Representative of the second divine aspect, that of Love-Wisdom, the Love of God. He will manifest as the Saviour, the Builder, the Preserver; humanity is not yet sufficiently developed or adequately oriented to the life of the Spirit to bear easily the impact of an Avatar Who would express the dynamic will of God. For us as yet (and this is our limitation) an Avatar is one Who preserves, develops, builds, protects, shields and succours the spiritual impulses by which men live; that which brings Him into manifestation is man’s need and man’s demand for preservation and help. Humanity needs love, understanding and right human relations as an expression of attained divinity. It was this need which brought the Christ to us before as the Avatar of Love. The Christ, that great human-divine Messenger, because of His stupendous achievement—along the line of understanding—transmitted to [12] humanity an aspect and a potency of the nature of God Himself, the love Principle of Deity. Light, aspiration, and the recognition of God Transcendent had been the flickering expression of the human attitude to God, prior to the advent of the Buddha, the Avatar of Illumination. Then the Buddha came and demonstrated in His Own life the fact of God Immanent as well as God Transcendent, of God in the universe and of God within humanity. The Selfhood of Deity and the Self in the heart of individual man became a factor in human consciousness. It was a relatively new truth to man.
Hiện nay, một Đấng Hoá Thân thường là một Đấng Đại Diện của phương diện thiêng liêng thứ hai, tức Bác Ái – Minh Triết, Bác ái của Thượng đế. Ngài sẽ biểu hiện như Đấng Cứu Thế, Đấng Kiến Tạo, Đấng Bảo Tồn; nhân loại vẫn chưa phát triển đầy đủ hay định hướng thích đáng đối với đời sống của tinh thần để có thể dễ dàng chịu đựng sự va chạm của một Đấng Hoá Thân biểu lộ ý chí năng động của Thượng đế. Đối với chúng ta hiện nay (và đây là giới hạn của chúng ta), một Đấng Hoá Thân là Đấng bảo tồn, phát triển, kiến tạo, che chở, bảo vệ và cứu giúp những xung lực tinh thần mà nhờ đó những người nam và nữ sống; điều đưa Ngài vào biểu hiện là nhu cầu của con người và đòi hỏi của con người về sự bảo tồn và trợ giúp. Nhân loại cần bác ái, sự thấu hiểu và những tương quan nhân loại đúng đắn như một biểu hiện của thiên tính đã đạt được. Chính nhu cầu này đã đưa Đức Christ đến với chúng ta trước đây như Đấng Hoá Thân của Bác ái. Đức Christ, Sứ Giả nhân-thần vĩ đại ấy, do thành tựu phi thường của Ngài—trên đường lối thấu hiểu—đã truyền cho [12] nhân loại một phương diện và một tiềm lực của chính bản chất Thượng đế, nguyên khí bác ái của Thượng đế. Ánh sáng, khát vọng và sự nhận biết Thượng đế Siêu Việt đã là biểu hiện chập chờn của thái độ con người đối với Thượng đế trước khi Đức Phật, Đấng Hoá Thân của Soi Sáng, giáng lâm. Rồi Đức Phật đến và chứng minh trong chính đời sống của Ngài sự kiện về Thượng đế Nội Tại cũng như Thượng đế Siêu Việt, về Thượng đế trong vũ trụ và về Thượng đế trong lòng nhân loại. Bản Ngã của Thượng đế và cái Ngã trong trái tim của từng con người trở thành một yếu tố trong tâm thức con người. Đó là một chân lý tương đối mới đối với con người.
However, until Christ came and lived a life of love and service and gave men the new command to love one another, there had been very little emphasis upon God as Love in any of the world Scriptures. After He had come as the Avatar of Love, then God became known as love supernal, love as the goal and objective of creation, love as the basic principle of relationship and love as working throughout all manifestation towards a Plan motivated by love. This divine quality, Christ revealed and emphasised and thus altered all human living, goals and values.
Tuy nhiên, cho đến khi Đức Christ đến và sống một đời sống bác ái và phụng sự, và ban cho những người nam và nữ giới răn mới là hãy yêu thương nhau, thì trong bất kỳ Kinh điển thế giới nào cũng có rất ít sự nhấn mạnh về Thượng đế như là Bác ái. Sau khi Ngài đến như Đấng Hoá Thân của Bác ái, khi ấy Thượng đế được biết đến như bác ái thiên thượng, bác ái như mục tiêu và cứu cánh của sáng tạo, bác ái như nguyên lý căn bản của tương quan và bác ái như đang hoạt động xuyên suốt mọi biểu hiện hướng tới một Thiên Cơ được thúc đẩy bởi bác ái. Phẩm tính thiêng liêng này, Đức Christ đã mặc khải và nhấn mạnh, và như thế đã làm thay đổi toàn bộ đời sống, mục tiêu và giá trị của con người.
The reason He has not come again is that the needed work has not been done by His followers in all countries. His coming is largely dependent, as we shall later see, upon the establishing of right human relations. This the church has hindered down the centuries, and has not helped because of its fanatical zeal to make “Christians” of all peoples and not followers of the Christ. It has emphasised theological doctrine, and not love and loving understanding as Christ exemplified it. The Church has preached the fiery Saul of Tarsus and not the gentle Carpenter of Galilee. And so, He has waited. But His hour has now come, because of the people’s need in every [13] land and because of the invocative cry of the masses everywhere and the advice of His disciples of all faiths and of all world religions.
Lý do Ngài chưa trở lại là vì công việc cần thiết vẫn chưa được những người theo Ngài ở mọi quốc gia thực hiện. Như chúng ta sẽ thấy về sau, sự quang lâm của Ngài phần lớn tùy thuộc vào việc thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn. Điều này giáo hội đã cản trở suốt nhiều thế kỷ, và đã không trợ giúp vì lòng nhiệt thành cuồng tín của nó trong việc biến mọi dân tộc thành “Cơ Đốc nhân” chứ không phải thành những người theo Đức Christ. Nó đã nhấn mạnh giáo điều thần học, chứ không phải bác ái và sự thấu hiểu đầy yêu thương như Đức Christ đã nêu gương. Giáo hội đã rao giảng Saul xứ Tarsus đầy nhiệt huyết chứ không phải Người Thợ Mộc hiền hòa xứ Galilee. Và vì thế, Ngài đã chờ đợi. Nhưng giờ của Ngài nay đã đến, vì nhu cầu của con người ở mọi [13] xứ sở và vì tiếng kêu khẩn cầu của quần chúng ở khắp nơi cùng lời khuyên của các đệ tử của Ngài thuộc mọi tín ngưỡng và mọi tôn giáo thế giới.
It is not for us yet to know the date or the hour of the reappearance of the Christ. His coming is dependent upon the appeal (the often voiceless appeal) of all who stand with massed intent; it is dependent also upon the better establishment of right human relations and upon certain work being done at this time by senior Members of the Kingdom of God, the Church Invisible, the spiritual Hierarchy of our planet; it is dependent also upon the steadfastness of the Christ’s disciples in the world at this time and His initiate-workers—all working in the many groups, religious, political and economic. To the above must be added what Christians like to call “the inscrutable Will of God,” that unrecognised purpose of the Lord of the World, the Ancient of Days (as He is called in The Old Testament) Who “knows His own Mind, radiates the highest quality of love and focusses His Will in His Own high Place within the centre where the Will of God is known.”
Chúng ta chưa thể biết ngày tháng hay giờ giấc Đức Christ tái lâm. Sự đến của Ngài tùy thuộc vào lời kêu gọi—thường là lời kêu gọi không thành tiếng—của tất cả những ai đang đứng vững với ý hướng hợp nhất; cũng tùy thuộc vào việc thiết lập tốt đẹp hơn những tương quan nhân loại đúng đắn và vào một số công việc hiện đang được các Thành viên cao cấp của Thiên Giới, Giáo hội Vô hình, Thánh đoàn tinh thần của hành tinh chúng ta thực hiện; cũng tùy thuộc vào sự kiên định của các đệ tử của Đức Christ trên thế giới hiện nay và các điểm đạo đồ-người hoạt động của Ngài—tất cả đều đang làm việc trong nhiều nhóm tôn giáo, chính trị và kinh tế. Vào những điều trên còn phải thêm vào điều mà các tín đồ Cơ Đốc thích gọi là “Ý Chí khôn dò của Thượng đế,” mục đích chưa được nhận biết ấy của Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng Thái Cổ (như Ngài được gọi trong Cựu Ước), Đấng “biết Trí của chính Ngài, phát xạ phẩm tính cao nhất của bác ái và tập trung Ý Chí của Ngài tại Chốn cao cả của riêng Ngài bên trong Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế.”
When the Christ, the Avatar of Love, makes His reappearance then will the
Khi Đức Christ, Đấng Hoá Thân của Bác Ái, tái lâm thì
“Sons of men who are now the Sons of God withdraw Their faces from the shining light and radiate that light upon the sons of men who know not yet they are the Sons of God. Then shall the Coming One appear, His footsteps hastened through the valley of the shadow by the One of awful power Who stands upon the mountain top, breathing out love eternal, light supernal and peaceful, silent Will.
“những người con của nhân loại nay là Các Con của Thượng đế sẽ quay mặt khỏi ánh sáng rực chói và phát tỏa ánh sáng ấy lên những người con của nhân loại chưa biết rằng họ là Các Con của Thượng đế. Khi ấy Đấng Đang Đến sẽ xuất hiện, bước chân của Ngài được thúc nhanh qua thung lũng của bóng tối bởi Đấng quyền năng đáng sợ đang đứng trên đỉnh núi, thở ra tình thương vĩnh cửu, ánh sáng thiên thượng và Ý Chí an bình, tĩnh lặng.
“Then will the sons of men respond. Then will a newer light shine forth into the dismal, weary vale of earth. Then will new life course through the veins of [14] men, and then will their vision compass all the ways of what may be.
“Khi ấy những người con của nhân loại sẽ đáp ứng. Khi ấy một ánh sáng mới hơn sẽ chiếu rọi vào thung lũng u ám, mệt mỏi của địa cầu. Khi ấy sự sống mới sẽ chảy qua huyết quản của [14] con người, và khi ấy tầm nhìn của họ sẽ bao quát mọi con đường của điều có thể thành tựu.
“So peace will come again on earth, but a peace unlike aught known before. Then will the will-to-good flower forth as understanding, and understanding blossom as goodwill in men.”
“Vì vậy hòa bình sẽ lại đến trên Trái Đất, nhưng là một nền hòa bình không giống bất cứ điều gì từng được biết trước đây. Khi ấy Ý Chí-hướng Thiện sẽ nở hoa thành thấu hiểu, và sự thấu hiểu sẽ trổ bông thành thiện chí nơi con người.”
CHAPTER TWO - CHRIST’S UNIQUE OCCASION — CHƯƠNG HAI - CƠ HỘI ĐỘC NHẤT CỦA ĐỨC CHRIST
The World Today
Thế Giới Ngày Nay
[15]
[15]
In any acceptance of the teaching that Christ will come, one of the difficulties today is the feeling that the teaching has been given for many centuries and nothing has ever happened. That is a statement of fact, and here lies a great deal of our trouble. The expectancy of His coming is nothing new; in it lies nothing unique or different; those who still hold to the idea are regarded tolerantly, or with amusement or pity, as the case may be. A study of times and seasons, of significances, of divine intention or of the will of God, plus a consideration of the world situation, may lead us, however, to believe that the present time is unique in more ways than one, and that the Christ is confronted with an unique occasion. This unique opportunity with which He is presented is brought about by certain world conditions which themselves are unique; there are factors present in the world today, and happenings have taken place within the past century which have never before occurred; it might profit us if we considered these matters and so gained a better perspective. The world to which He will come is a new world, if not yet a better world; new ideas are occupying people’s minds and new problems await solution. Let us look at this uniqueness and gain some knowledge of the situation into which the Christ will be precipitated. Let us be realistic in our approach to this theme and avoid mystical and vague thinking. If it is true that He plans to reappear, if [16] it is a fact that He will bring His disciples, the Masters of the Wisdom, with Him, and if this coming is imminent, what are some of the factors which He and they must take into consideration?
Trong bất kỳ sự chấp nhận nào đối với giáo huấn rằng Đức Christ sẽ đến, một trong những khó khăn ngày nay là cảm giác rằng giáo huấn ấy đã được ban ra từ nhiều thế kỷ mà chưa từng có điều gì xảy ra. Đó là một phát biểu sự kiện, và chính trong đó có rất nhiều rắc rối của chúng ta. Sự mong đợi việc Ngài đến không có gì mới; trong đó không có gì độc nhất hay khác biệt; những ai vẫn giữ ý niệm ấy thì được nhìn bằng sự khoan dung, hoặc bằng sự thích thú hay thương hại, tùy trường hợp. Tuy nhiên, một sự nghiên cứu về thời kỳ và mùa kỳ, về các thâm nghĩa, về ý định thiêng liêng hay về Ý Chí của Thượng Đế, cộng với việc xem xét tình hình thế giới, có thể khiến chúng ta tin rằng thời điểm hiện nay là độc nhất theo nhiều cách, và rằng Đức Christ đang đối diện với một cơ hội độc nhất. Cơ hội độc nhất này mà Ngài được trao cho được tạo nên bởi một số điều kiện thế giới vốn tự chúng cũng độc nhất; ngày nay có những yếu tố hiện diện trong thế giới, và trong thế kỷ vừa qua đã xảy ra những biến cố chưa từng xảy ra trước đây; sẽ có ích cho chúng ta nếu xem xét những vấn đề này để nhờ đó có được một viễn cảnh tốt hơn. Thế giới mà Ngài sẽ đến là một thế giới mới, dù chưa hẳn là một thế giới tốt đẹp hơn; những ý tưởng mới đang chiếm lĩnh tâm trí con người và những vấn đề mới đang chờ được giải quyết. Chúng ta hãy nhìn vào tính độc nhất này và đạt được một ít hiểu biết về hoàn cảnh mà trong đó Đức Christ sẽ được đưa vào. Chúng ta hãy thực tế trong cách tiếp cận chủ đề này và tránh lối suy nghĩ thần bí và mơ hồ. Nếu đúng là Ngài dự định tái lâm, nếu [16] quả thật Ngài sẽ mang theo các đệ tử của Ngài, các Chân sư Minh Triết, và nếu sự đến này đã gần kề, thì đâu là một số yếu tố mà Ngài và Các Ngài phải lưu ý?
First of all, He will come to a world which is essentially one world. His reappearance and His consequent work cannot be confined to one small locality or domain unheard of by the great majority, as was the case when He was here before. The radio, the press and the dissemination of news will make His coming different to that of any previous Messenger; the swift modes of transportation will make Him available to countless millions, and by boat, rail and plane they can reach Him: through television, His face can be made familiar to all, and verily “every eye shall see Him.” Even if there is no general recognition of His spiritual status and His message, there must necessarily be an universal interest, for today even the many false Christs and Messengers are finding this universal curiosity and cannot be hidden. This creates an unique condition in which to work, and one which no salvaging, energising Son of God has ever before had to face.
Trước hết, Ngài sẽ đến với một thế giới về bản chất là một thế giới duy nhất. Sự tái lâm của Ngài và công việc tiếp theo của Ngài không thể bị giới hạn trong một địa phương hay lãnh vực nhỏ bé mà đại đa số không hề biết đến, như trường hợp khi Ngài hiện diện trước đây. Radio, báo chí và sự phổ biến tin tức sẽ làm cho sự đến của Ngài khác với bất kỳ Sứ Giả nào trước đó; các phương tiện vận chuyển nhanh chóng sẽ khiến Ngài trở nên có thể tiếp cận với vô số triệu người, và bằng tàu thủy, đường sắt và máy bay họ có thể đến với Ngài: qua truyền hình, gương mặt Ngài có thể trở nên quen thuộc với tất cả, và quả thật “mọi mắt sẽ thấy Ngài.” Dù không có sự công nhận chung nào về địa vị tinh thần của Ngài và thông điệp của Ngài, ắt hẳn vẫn sẽ có một sự quan tâm phổ quát, vì ngày nay ngay cả nhiều Christ giả và Sứ Giả giả cũng đang gặp phải sự tò mò phổ quát này và không thể bị che giấu. Điều này tạo nên một điều kiện độc nhất để làm việc, và là điều mà chưa một Con của Thượng đế nào đến để cứu vớt và tiếp sinh lực từng phải đối diện trước đây.
The sensitivity of the people of the world to what is new or needed is also uniquely different; man has progressed far in his reaction to both good and evil and possesses a far more sensitive response apparatus than did humanity in those earlier times. If there was a quick response to the Messenger when He came before, it will be more general and quicker now, both in rejection and in acceptance. Men are more enquiring, better educated, more intuitive and more expectant of the unusual and the unique than at any other time in history. Their intellectual perception is keener, their sense of values more acute, their ability to discriminate and choose is fast developing, [17] and they penetrate more quickly into significances. These facts will condition the reappearance of the Christ and tend to a more rapid spreading of the news of His coming and the contents of His message.
Sự nhạy cảm của người dân thế giới đối với điều mới mẻ hay điều cần thiết cũng khác biệt một cách độc nhất; con người đã tiến bộ rất xa trong phản ứng của mình đối với cả thiện lẫn ác và sở hữu một bộ máy đáp ứng nhạy bén hơn nhiều so với nhân loại trong những thời kỳ trước kia. Nếu đã từng có một sự đáp ứng nhanh chóng đối với Sứ Giả khi Ngài đến trước đây, thì nay nó sẽ phổ biến hơn và nhanh hơn, cả trong sự khước từ lẫn chấp nhận. Con người ngày nay ham tìm hiểu hơn, được giáo dục tốt hơn, trực giác hơn và mong đợi điều khác thường và độc nhất hơn bất kỳ thời nào khác trong lịch sử. Tri giác trí tuệ của họ sắc bén hơn, ý thức về giá trị của họ sâu sắc hơn, khả năng phân biện và chọn lựa của họ đang phát triển nhanh chóng, [17] và họ thâm nhập vào các thâm nghĩa nhanh hơn. Những sự kiện này sẽ tác động lên sự tái lâm của Đức Christ và có khuynh hướng làm cho tin tức về sự đến của Ngài và nội dung thông điệp của Ngài lan truyền nhanh hơn.
Today, when He comes, He will find a world uniquely free from the grip and hold of ecclesiasticism; when He came before, Palestine was held in the vicious grasp of the Jewish religious leaders, and the Pharisees and the Sadducees were to the people of that land what the potentates of the church are to the people in the world today. But—there has been a useful and wholesome swing away from Churchianity and from orthodox religion during the past century, and this will present a unique opportunity for the restoration of true religion and the presentation of a simple return to the ways of spiritual living. The priests, the Levites, the Pharisees and the Sadducees were not the ones who recognised Him when He came before. They feared Him. And it is highly improbable that the reactionary churchmen will be the ones to recognise Him today. He may reappear in a totally unexpected guise; who is to say whether He will come as a politician, an economist, a leader of the people (arising from the midst of them), a scientist or an artist?
Ngày nay, khi Ngài đến, Ngài sẽ thấy một thế giới độc nhất ở chỗ thoát khỏi sự kềm giữ và chi phối của giáo quyền; khi Ngài đến trước đây, Palestine bị nắm chặt trong bàn tay độc hại của các lãnh tụ tôn giáo Do Thái, và những người Pharisee cùng Sadducee đối với dân chúng xứ ấy cũng giống như những người nắm quyền trong giáo hội đối với dân chúng thế giới ngày nay. Nhưng—trong thế kỷ vừa qua đã có một sự chuyển hướng hữu ích và lành mạnh rời khỏi chủ nghĩa giáo hội và khỏi tôn giáo chính thống, và điều này sẽ tạo nên một cơ hội độc nhất cho việc phục hồi tôn giáo chân chính và trình bày một sự trở về giản dị với những con đường của đời sống tinh thần. Các tư tế, người Levite, Pharisee và Sadducee không phải là những người đã nhận ra Ngài khi Ngài đến trước đây. Họ sợ Ngài. Và rất khó có thể những giáo sĩ phản động sẽ là những người nhận ra Ngài ngày nay. Ngài có thể tái lâm trong một dáng vẻ hoàn toàn không ngờ; ai có thể nói liệu Ngài sẽ đến như một chính khách, một nhà kinh tế, một lãnh tụ của quần chúng (xuất thân từ chính giữa họ), một nhà khoa học hay một nghệ sĩ?
It is a fallacy to believe, as some do, that the main trend of Christ’s work will be through the medium of the churches or the world religions. He necessarily will work through them when conditions permit and there is a living nucleus of true spirituality within them, or when their invocative appeal is potent enough to reach Him. He will use all possible channels whereby the consciousness of man may be enlarged and right orientation be brought about. It is, however, truer to say that it is as World Teacher that He will consistently work, and that the churches are but one of the teaching avenues He will [18] employ. All that enlightens the minds of men, all propaganda that tends to bring about right human relations, all modes of acquiring real knowledge, all methods of transmuting knowledge into wisdom and understanding, all that expands the consciousness of humanity and of all subhuman states of awareness and sensitivity, all that dispels glamour and illusion and that disrupts crystallisation and disturbs static conditions will come under the realistic activities of the Hierarchy which He supervises. He will be limited by the quality and the calibre of the invocative appeal of humanity and that, in its turn, is conditioned by the attained point in evolution.
Thật sai lầm khi tin, như một số người tin, rằng xu hướng chính trong công việc của Đức Christ sẽ là thông qua các giáo hội hay các tôn giáo thế giới. Tất nhiên Ngài sẽ làm việc qua họ khi điều kiện cho phép và khi bên trong họ có một hạt nhân sống động của tinh thần chân chính, hoặc khi lời khẩn cầu của họ đủ mạnh để vươn tới Ngài. Ngài sẽ sử dụng mọi kênh có thể có nhờ đó tâm thức con người có thể được mở rộng và sự định hướng đúng đắn có thể được mang lại. Tuy nhiên, nói rằng Ngài sẽ luôn luôn làm việc với tư cách là Đức Chưởng Giáo thì đúng hơn, và rằng các giáo hội chỉ là một trong những con đường giáo huấn mà Ngài sẽ [18] sử dụng. Tất cả những gì soi sáng tâm trí con người, mọi sự tuyên truyền có xu hướng mang lại những tương quan nhân loại đúng đắn, mọi phương thức đạt được tri thức chân thực, mọi phương pháp chuyển hoá tri thức thành minh triết và thấu hiểu, tất cả những gì mở rộng tâm thức của nhân loại và của mọi trạng thái nhận biết và nhạy cảm dưới nhân loại, tất cả những gì làm tiêu tan ảo cảm và ảo tưởng và phá vỡ sự kết tinh cũng như khuấy động các điều kiện tĩnh tại, đều sẽ thuộc về các hoạt động thực tiễn của Thánh đoàn mà Ngài giám sát. Ngài sẽ bị giới hạn bởi phẩm tính và tầm mức của lời khẩn cầu từ nhân loại, và điều đó đến lượt nó lại bị tác động bởi điểm tiến hoá đã đạt được.
In the Middle Ages of history and earlier, it was the churches and the schools of philosophy which provided the major avenues for His subjective activity, but it will not be so when He is objectively and actually here. This is a point which the churches and organised religions would do well to remember. There is now a shift of His emphasis and attention into two new fields of endeavour: first, into the field of world-wide education, and secondly, into the sphere of implementing intelligently those activities which come under the department of government in its three aspects of statesmanship, of politics and of legislation. The common people are today awakening to the importance and responsibility of government; it is, therefore, realised by the Hierarchy that before the cycle of true democracy (as it essentially exists and will eventually demonstrate) can come into being, the education of the masses in cooperative statesmanship, in economic stabilisation through right sharing, and in clean, political interplay is imperatively necessary. The long divorce between religion and politics must be ended and this can now come about because of the high level of the human mass intelligence and the fact that science has made all men so close [19] that what happens in some remote area of the earth’s surface is a matter of general interest within a few minutes. This makes it uniquely possible for Him to work in the future.
Trong thời Trung Cổ và trước đó nữa, các giáo hội và các trường phái triết học là những con đường chủ yếu cho hoạt động chủ quan của Ngài, nhưng sẽ không còn như vậy khi Ngài hiện diện một cách khách quan và thực sự nơi đây. Đây là một điểm mà các giáo hội và các tôn giáo có tổ chức nên ghi nhớ. Hiện nay có một sự chuyển dịch trong trọng tâm và sự chú ý của Ngài sang hai lĩnh vực nỗ lực mới: thứ nhất, vào lĩnh vực giáo dục toàn cầu, và thứ hai, vào phạm vi thực hiện một cách thông minh những hoạt động thuộc về ngành chính quyền trong ba phương diện là nghệ thuật trị quốc, chính trị và lập pháp. Dân chúng ngày nay đang thức tỉnh trước tầm quan trọng và trách nhiệm của chính quyền; vì vậy, Thánh đoàn nhận ra rằng trước khi chu kỳ dân chủ chân chính (như nó vốn hiện hữu về bản chất và cuối cùng sẽ biểu lộ) có thể xuất hiện, thì việc giáo dục quần chúng về nghệ thuật trị quốc hợp tác, về ổn định kinh tế thông qua chia sẻ đúng đắn, và về sự tương tác chính trị trong sạch là điều tuyệt đối cần thiết. Sự ly dị kéo dài giữa tôn giáo và chính trị phải chấm dứt, và điều này nay có thể xảy ra nhờ trình độ trí tuệ đại chúng cao của nhân loại và sự kiện rằng khoa học đã khiến mọi người trở nên gần gũi đến mức [19] điều gì xảy ra tại một vùng xa xôi nào đó trên bề mặt địa cầu cũng trở thành mối quan tâm chung chỉ trong vài phút. Điều này khiến cho việc Ngài làm việc trong tương lai trở nên khả thi theo một cách chưa từng có.
The development of spiritual recognition is the great need today in preparation for His reappearance; no one knows in what nation He will come; He may appear as an Englishman, a Russian, a Negro, a Latin, a Turk, a Hindu, or any other nationality. Who can say which? He may be a Christian or a Hindu by faith, a Buddhist or of no particular faith at all; He will not come as the restorer of any of the ancient religions, including Christianity, but He will come to restore man’s faith in the Father’s love, in the fact of the livingness of the Christ and in the close, subjective and unbreakable relationship of all men everywhere. The facilities of the entire world of contact and relation will be at His disposal; that will be part of the uniqueness of His opportunity and—for this He too must prepare.
Sự phát triển của nhận thức tinh thần là nhu cầu lớn lao ngày nay để chuẩn bị cho sự tái lâm của Ngài; không ai biết Ngài sẽ đến trong quốc gia nào; Ngài có thể xuất hiện như một người Anh, một người Nga, một người da đen, một người Latin, một người Thổ, một người Hindu, hay bất kỳ quốc tịch nào khác. Ai có thể nói được? Ngài có thể là một tín đồ Cơ Đốc hay Hindu, một Phật tử hay hoàn toàn không thuộc một tín ngưỡng riêng biệt nào; Ngài sẽ không đến như người phục hồi bất kỳ tôn giáo cổ xưa nào, kể cả Cơ Đốc giáo, nhưng Ngài sẽ đến để phục hồi đức tin của con người vào tình thương của Đức Cha, vào sự kiện về tính sống động của Đức Christ và vào mối liên hệ chủ quan gần gũi và bất khả phân ly của mọi người ở khắp nơi. Các phương tiện của toàn bộ thế giới tiếp xúc và liên hệ sẽ sẵn có cho Ngài sử dụng; đó sẽ là một phần trong tính độc nhất của cơ hội của Ngài và—vì điều này—chính Ngài cũng phải chuẩn bị.
Another unique factor which will distinguish His coming will be not only the general expectancy but also the fact that much is today known and taught about the Kingdom of God, or the Spiritual Hierarchy of the planet. Everywhere, in all countries, there are thousands who are interested in the fact of that Hierarchy, who believe in the Masters of the Wisdom, the disciples of the Christ, and who will not be surprised when this group of Sons of God, surrounding their great Leader, the Christ, makes its appearance on Earth. The churches in all countries have familiarised the public with the phrase “the Kingdom of God”; the esotericists and occultists everywhere have publicised the fact of the Hierarchy during the past century; the spiritualists have laid the emphasis upon the [20] aliveness of those who have passed over into the hidden world of being, and their Guides have also borne testimony to the existence of an inner, spiritual world. All this creates a unique preparedness which presents the Christ with unique opportunities and unique problems. All these spiritual forces and many others, both within and without the world religions and the philosophical and humanitarian groups, are working at this time under direction, are closely related and their activities most intimately synchronised. They are all working together (even if this is not physically apparent) because in the human family there are those at every stage of responsiveness. The forces of regeneration, of reconstruction, of restoration and of resurrection are making their presence felt in all the many groups which are seeking to aid and lift humanity, to rebuild the world, to restore stability and the sense of security and thus (consciously or unconsciously) prepare the way for the coming of the Christ.
Một yếu tố độc nhất khác sẽ phân biệt sự đến của Ngài không chỉ là sự mong đợi chung mà còn là sự kiện rằng ngày nay người ta biết và dạy nhiều về Thiên Giới, hay Thánh đoàn Tinh thần của hành tinh. Ở khắp nơi, trong mọi quốc gia, có hàng ngàn người quan tâm đến sự kiện về Thánh đoàn ấy, tin vào các Chân sư Minh Triết, các đệ tử của Đức Christ, và sẽ không ngạc nhiên khi nhóm Các Con của Thượng đế này, vây quanh Vị Lãnh Đạo vĩ đại của các Ngài là Đức Christ, xuất hiện trên Trái Đất. Các giáo hội ở mọi quốc gia đã làm cho công chúng quen thuộc với cụm từ “Thiên Giới”; các nhà bí truyền học và các nhà huyền bí học ở khắp nơi đã công bố rộng rãi sự kiện về Thánh đoàn trong thế kỷ vừa qua; các nhà thần linh học đã nhấn mạnh đến [20] tính sống động của những người đã đi qua vào thế giới ẩn kín của bản thể, và các Đấng Hướng Dẫn của họ cũng đã làm chứng cho sự hiện hữu của một thế giới nội tại, tinh thần. Tất cả điều này tạo nên một sự chuẩn bị độc nhất, đặt trước Đức Christ những cơ hội độc nhất và những vấn đề độc nhất. Tất cả các mãnh lực tinh thần này và nhiều mãnh lực khác nữa, cả bên trong lẫn bên ngoài các tôn giáo thế giới và các nhóm triết học và nhân đạo, hiện đang làm việc dưới sự chỉ đạo, có liên hệ chặt chẽ với nhau và các hoạt động của họ được đồng bộ hóa hết sức mật thiết. Tất cả họ đều đang làm việc cùng nhau (dù điều này không biểu hiện rõ trên cõi hồng trần) bởi vì trong gia đình nhân loại có những người ở mọi giai đoạn đáp ứng. Các mãnh lực tái sinh, tái thiết, phục hồi và phục sinh đang làm cho sự hiện diện của chúng được cảm nhận trong tất cả nhiều nhóm đang tìm cách trợ giúp và nâng đỡ nhân loại, tái thiết thế giới, phục hồi sự ổn định và ý thức an toàn, và nhờ đó (một cách hữu thức hay vô thức) chuẩn bị con đường cho sự đến của Đức Christ.
There is also a unique revival of the ancient teaching of the Buddha and it is penetrating into the Western countries and finding devoted adherents in every land. The Buddha is the symbol of enlightenment and there is everywhere today a unique emphasis upon light. Countless millions down the ages have recognised the Buddha as the Light Bearer from on high. His Four Noble Truths exposed the causes of human trouble and pointed to the cure. He taught: Cease to identify yourselves with material things or with your desires; gain a proper sense of value; cease regarding possessions and earthly existence as of major importance; follow the Noble Eightfold Path which is the Path of right relations—right relations to God, and right relations to your fellowmen—and thus be happy. The steps on this Path are: [21]
Cũng có một sự phục hưng độc nhất của giáo huấn cổ xưa của Đức Phật và nó đang thâm nhập vào các nước phương Tây và tìm được những tín đồ tận tụy ở mọi miền. Đức Phật là biểu tượng của sự soi sáng và ngày nay ở khắp nơi có một sự nhấn mạnh độc nhất vào ánh sáng. Vô số triệu người qua các thời đại đã nhìn nhận Đức Phật là Đấng Mang Ánh Sáng từ cõi cao. Tứ Diệu Đế của Ngài đã phơi bày các nguyên nhân của khổ đau nhân loại và chỉ ra phương thuốc chữa trị. Ngài dạy: Hãy ngừng đồng hoá với các sự vật vật chất hay với những ham muốn của các bạn; hãy đạt được một ý thức đúng đắn về giá trị; hãy ngừng xem của cải và sự tồn tại trần thế là điều quan trọng hàng đầu; hãy theo Bát Chánh Đạo, tức là Con Đường của những tương quan đúng đắn—tương quan đúng đắn với Thượng đế, và tương quan đúng đắn với đồng loại của các bạn—và nhờ đó được hạnh phúc. Các bước trên Con Đường này là: [21]
Chánh Kiến.
Chánh Tư Duy.
Right Values.
Right Aspiration.
Chánh Ngữ.
Chánh Nghiệp.
Right Speech.
Right Conduct.
Chánh Mạng.
Chánh Tinh Tấn.
Right Modes of Living.
Right Effort.
Chánh Niệm.
Chánh Định hay Hạnh Phúc.
Right Thinking.
Right Rapture or Happiness.
This message is uniquely needed today in a world in which most of these right steps to happiness have been consistently ignored. It is on the foundation of this teaching that Christ will raise the superstructure of the brotherhood of man, for right human relations are an expression of the love of God; they will constitute man’s major and next demonstration of divinity. Today, in the midst of this devastated, chaotic and unhappy world, mankind has a fresh opportunity to reject selfish materialistic living and to begin to tread the Lighted Way. The moment that humanity shows its willingness to do this, thenthe Christ will come, and there is every evidence at this time that men are learning this lesson and making their first faltering steps along that Lighted Way of right relationships.
Thông điệp này đặc biệt cần thiết ngày nay trong một thế giới mà hầu hết các bước đúng đắn dẫn đến hạnh phúc ấy đã liên tục bị bỏ qua. Chính trên nền tảng của giáo huấn này mà Đức Christ sẽ dựng lên thượng tầng của tình huynh đệ nhân loại, vì những tương quan nhân loại đúng đắn là một biểu hiện của tình thương của Thượng đế; chúng sẽ cấu thành sự biểu lộ lớn lao kế tiếp của thiên tính nơi con người. Ngày nay, giữa thế giới bị tàn phá, hỗn loạn và bất hạnh này, nhân loại có một cơ hội mới để từ chối lối sống ích kỷ duy vật và bắt đầu bước đi trên Con Đường được Soi Sáng. Ngay khi nhân loại cho thấy sự sẵn lòng làm điều này, thì Đức Christ sẽ đến, và hiện nay có mọi bằng chứng cho thấy con người đang học bài học này và đang thực hiện những bước đầu chập chững trên Con Đường được Soi Sáng của những tương quan đúng đắn ấy.
The present time is unique in that it is (as never before) a cycle or period of conferences—communal, national and international—and of men getting together. Clubs, forums, committees, conferences, and leagues are forming everywhere for the discussion and study of human welfare and liberation; this phenomenon is one of the strongest indications that the Christ is on His way. He is the embodiment of freedom, and the Messenger of Liberation. He stimulates the group spirit and the group consciousness, and His spiritual energy is the attractive force, binding men together for the common good. His reappearance will knit and bind together all men and women of goodwill throughout the world, irrespective of religion or nationality. His coming will evoke among men a widespread and mutual recognition of the [22] good in all. This is part of the uniqueness of His coming and for it we are already preparing. A study of the daily press will prove this. It is the invocative appeal of the many groups working on behalf of humanity (consciously or unconsciously made) which will bring Him forth. Those who carry out this great act of invocation are the spiritually minded people, the enlightened statesmen, the religious leaders and the men and women whose hearts are full of goodwill. They will evoke Him if they can stand with massed intent, with hope and with expectancy. This preparatory work must be focussed through and implemented by the world intelligentsia and leading lovers of humanity, by groups dedicated to human betterment and by representative unselfish people. The success of the effort now being planned by Christ and the spiritual Hierarchy is dependent upon the ability of mankind to use what light it already has in order to establish right relations in their families, their community, in their nation and in the world.
Thời điểm hiện nay là độc nhất ở chỗ nó là (chưa từng có trước đây) một chu kỳ hay thời kỳ của các hội nghị—cộng đồng, quốc gia và quốc tế—và của việc con người tụ họp với nhau. Các câu lạc bộ, diễn đàn, ủy ban, hội nghị và liên minh đang hình thành khắp nơi để thảo luận và nghiên cứu về phúc lợi và sự giải phóng của con người; hiện tượng này là một trong những dấu hiệu mạnh mẽ nhất cho thấy Đức Christ đang trên đường đến. Ngài là hiện thân của tự do, và là Sứ Giả của Giải Thoát. Ngài kích thích tinh thần nhóm và tâm thức nhóm, và năng lượng tinh thần của Ngài là mãnh lực hấp dẫn, gắn kết con người lại với nhau vì thiện ích chung. Sự tái lâm của Ngài sẽ kết nối và liên kết tất cả những người nam và nữ thiện chí trên khắp thế giới, bất kể tôn giáo hay quốc tịch. Sự đến của Ngài sẽ gợi lên nơi con người một sự nhìn nhận rộng khắp và hỗ tương về [22] điều thiện nơi mọi người. Đây là một phần trong tính độc nhất của sự đến của Ngài và cho điều đó chúng ta đã đang chuẩn bị. Chỉ cần nghiên cứu báo chí hằng ngày là sẽ thấy điều này. Chính lời khẩn cầu của nhiều nhóm đang làm việc vì nhân loại (được thực hiện một cách hữu thức hay vô thức) sẽ đưa Ngài xuất hiện. Những người thực hiện hành động khẩn cầu vĩ đại này là những người có tâm trí hướng thượng, các chính khách được soi sáng, các nhà lãnh đạo tôn giáo và những người nam và nữ có trái tim tràn đầy thiện chí. Họ sẽ gợi lên Ngài nếu họ có thể đứng vững với ý hướng hợp nhất, với hy vọng và với sự mong đợi. Công việc chuẩn bị này phải được tập trung thông qua và được thực hiện bởi giới trí thức thế giới và những người yêu thương nhân loại hàng đầu, bởi các nhóm tận hiến cho sự cải thiện con người và bởi những người đại diện vô tư lợi. Sự thành công của nỗ lực hiện đang được Đức Christ và Thánh đoàn tinh thần hoạch định tùy thuộc vào khả năng của nhân loại trong việc sử dụng ánh sáng mà họ đã có để thiết lập những tương quan đúng đắn trong gia đình họ, cộng đồng của họ, quốc gia của họ và trên thế giới.
There is, therefore, this unique difference between the expected coming of the Christ and the time when He came before: the world is full of groups working for human welfare. This effort, in the light of past aeons of human history, is a relatively new thing and for it the Christ must prepare and with this trend He will have to work. The “cycle of conferences” which is now swinging into full tide is part of the unique condition with which the Christ is faced.
Vì vậy, có sự khác biệt độc nhất này giữa sự đến được mong đợi của Đức Christ và thời điểm Ngài đến trước đây: thế giới đầy những nhóm đang làm việc cho phúc lợi nhân loại. Nỗ lực này, dưới ánh sáng của các đại kiếp lịch sử nhân loại trong quá khứ, là một điều tương đối mới và vì nó Đức Christ phải chuẩn bị, và với xu hướng này Ngài sẽ phải làm việc. “Chu kỳ hội nghị” hiện đang dâng lên đến đỉnh triều là một phần của điều kiện độc nhất mà Đức Christ đang đối diện.
Before, however, Christ could come with His disciples, our present civilisation had to die. During the coming century, we shall begin to learn the meaning of the word “resurrection,” and the new age will begin to reveal its deep purpose and intention. The first step will be the emergence of humanity from the death of its civilisation, [23] of its old ideas and modes of living, the relinquishing of its materialistic goals and its damning selfishness, and its moving forward into the clear light of the resurrection. These are not symbolical or mystical words but part of the general setting which will surround the period of Christ’s reappearance; it is a cycle as real as the cycle of conferences now so busily organising. Christ taught us when He came before the true meaning of Renunciation or of the Crucifixion; this time His message will be concerned with the resurrection life. The present cycle of conferences is preparing men everywhere for relationships, even though today they may seem widely divergent in nature; the important factor is the general human interest and thought about establishing the need, the objectives involved, the means to be employed. The resurrection period which the Christ will inaugurate and which will constitute His unique work—within which all His other activities will have their place—will be the outcome of the fermentation and the germination going on in the world of men at this time, of which the many conferences are the outer evidence.
Tuy nhiên, trước khi Đức Christ có thể đến cùng các đệ tử của Ngài, nền văn minh hiện tại của chúng ta phải chết đi. Trong thế kỷ sắp tới, chúng ta sẽ bắt đầu học ý nghĩa của từ “phục sinh,” và kỷ nguyên mới sẽ bắt đầu bộc lộ mục đích và ý hướng sâu xa của nó. Bước đầu tiên sẽ là sự xuất hiện của nhân loại ra khỏi cái chết của nền văn minh mình, [23] của những ý tưởng cũ và những lối sống cũ, sự từ bỏ các mục tiêu duy vật và tính ích kỷ đáng nguyền rủa của mình, và sự tiến bước vào ánh sáng trong trẻo của phục sinh. Đây không phải là những lời biểu tượng hay thần bí mà là một phần của bối cảnh chung sẽ bao quanh thời kỳ Đức Christ tái lâm; đó là một chu kỳ thực tế cũng như chu kỳ hội nghị hiện đang được tổ chức bận rộn kia. Đức Christ đã dạy chúng ta khi Ngài đến trước đây ý nghĩa chân thực của Sự từ bỏ hay của sự Đóng Đinh; lần này thông điệp của Ngài sẽ liên quan đến sự sống phục sinh. Chu kỳ hội nghị hiện nay đang chuẩn bị con người ở khắp nơi cho những tương quan, dù ngày nay chúng có vẻ rất khác biệt về bản chất; yếu tố quan trọng là mối quan tâm và suy nghĩ chung của con người về việc xác lập nhu cầu, các mục tiêu liên hệ và các phương tiện sẽ được sử dụng. Thời kỳ phục sinh mà Đức Christ sẽ khai mở và sẽ cấu thành công việc độc nhất của Ngài—trong đó mọi hoạt động khác của Ngài sẽ có chỗ đứng—sẽ là kết quả của sự lên men và nảy mầm đang diễn ra trong thế giới loài người hiện nay, mà nhiều hội nghị là bằng chứng bên ngoài.
It was these various unique conditions which the Christ faced during the years of war when the need of humanity forced Him to decide to hasten His coming. The unhappy state of the world as the result of centuries of selfishness and of the world war, the unique sensitivity which men everywhere were showing (as a result of the evolutionary process), the unique spread of knowledge about the spiritual Hierarchy and the unique development of group consciousness, showing itself on every hand in the multiplicity of conferences, confronted Christ with His unique occasion and presented Him with a decision which He could not avoid.
Chính những điều kiện độc nhất khác nhau này mà Đức Christ đã đối diện trong những năm chiến tranh khi nhu cầu của nhân loại buộc Ngài phải quyết định thúc đẩy nhanh sự đến của mình. Tình trạng bất hạnh của thế giới do hậu quả của nhiều thế kỷ ích kỷ và của chiến tranh thế giới, sự nhạy cảm độc nhất mà con người ở khắp nơi đang biểu lộ (do tiến trình tiến hoá), sự lan rộng độc nhất của tri thức về Thánh đoàn tinh thần và sự phát triển độc nhất của tâm thức nhóm, đang biểu lộ khắp nơi trong vô số hội nghị, đã đặt trước Đức Christ cơ hội độc nhất của Ngài và trình ra cho Ngài một quyết định mà Ngài không thể tránh né.
[24]
[24]
Reverently we might say that in this “occasion” of the Christ’s, two facts were involved and that both of them are difficult for man to understand. The fact of the synchronisation of His will with that of the Father, and the fact that this synchronisation led to a basic decision, must be recognised by us. It is not easy for the average Christian to realise that the Christ passes on steadily to increasingly potent experiences, and that in His divine experience there is nothing static or permanent—except His unalterable love for humanity.
Với lòng tôn kính, chúng ta có thể nói rằng trong “cơ hội” này của Đức Christ có hai sự kiện liên quan, và cả hai đều khó cho con người hiểu được. Chúng ta phải nhận ra sự kiện về sự đồng bộ hóa ý chí của Ngài với ý chí của Đức Cha, và sự kiện rằng sự đồng bộ hóa này đã dẫn đến một quyết định căn bản. Người Cơ Đốc trung bình không dễ nhận ra rằng Đức Christ vẫn đều đặn tiến tới những kinh nghiệm ngày càng mãnh liệt hơn, và rằng trong kinh nghiệm thiêng liêng của Ngài không có gì tĩnh tại hay thường tồn—ngoại trừ tình thương bất biến của Ngài đối với nhân loại.
A close study of the Gospel story, unimpeded by orthodox interpretations, reveals certain things. The usual interpretations, if men would but recognise them in their true meaning, are simply some man’s understanding of a series of Aramaic, Greek or Latin words. The fact that the majority of accepted commentators lived many hundreds of years ago seems to have given such words a totally unwarranted value. The words of a commentator or of an interpreter today are apparently of no value in comparison with those of ancient date; yet the modern commentator is probably more intelligent and better educated than the ancient one and has, also, the benefit of the many recognised translations and a precise science. We are suffering theologically from the ignorance of the past; it is a peculiar thing that an ancient commentator is supposed to carry greater weight than the modern, more educated and intelligent man. If The New Testament is true in its presentation of the Christ, if it is true in its repetition of His words, that we can do “greater things” than He did, and if it is true in that He told us to “be perfect even as our Father in Heaven is perfect,” what is there wrong in our recognising the capacity of a human being to keep pace with the mind of Christ and to know what He intends us to know? Christ said that “if any [25] man will do the will of God, he shall know”; that was how the Christ Himself learnt and that is the mode He assures us will be successful for each of us.
Một sự nghiên cứu kỹ lưỡng câu chuyện Phúc Âm, không bị cản trở bởi các diễn giải chính thống, sẽ cho thấy một số điều. Những diễn giải thông thường, nếu con người chịu nhận ra ý nghĩa thật của chúng, chỉ đơn giản là sự hiểu biết của một ai đó về một chuỗi từ ngữ Aramaic, Hy Lạp hay Latin. Sự kiện rằng đa số các nhà chú giải được chấp nhận đã sống từ nhiều trăm năm trước dường như đã khiến cho những từ ngữ ấy có một giá trị hoàn toàn không chính đáng. Những lời của một nhà chú giải hay một người diễn giải ngày nay dường như không có giá trị gì so với những lời có niên đại cổ xưa; tuy nhiên nhà chú giải hiện đại có lẽ thông minh hơn và được giáo dục tốt hơn nhà chú giải cổ xưa, và cũng có lợi thế của nhiều bản dịch đã được công nhận cùng một khoa học chính xác. Về mặt thần học, chúng ta đang chịu khổ vì sự vô minh của quá khứ; thật là một điều kỳ lạ khi một nhà chú giải cổ xưa lại được cho là có trọng lượng hơn con người hiện đại, được giáo dục tốt hơn và thông minh hơn. Nếu Tân Ước là chân thật trong cách trình bày về Đức Christ, nếu nó chân thật trong việc lặp lại lời Ngài rằng chúng ta có thể làm “những việc lớn hơn” Ngài đã làm, và nếu nó chân thật ở chỗ Ngài bảo chúng ta “hãy nên trọn lành như Cha các con ở trên Trời là trọn lành,” thì có gì sai trong việc chúng ta nhìn nhận năng lực của một con người có thể theo kịp trí của Đức Christ và biết điều Ngài muốn chúng ta biết? Đức Christ đã nói rằng “nếu ai [25] làm theo ý muốn của Thượng đế, người ấy sẽ biết”; đó là cách chính Đức Christ đã học, và đó là phương thức mà Ngài bảo đảm với chúng ta sẽ thành công cho mỗi người chúng ta.
It was the dawning of this significance of the will of God upon the consciousness of the Christ which led Him to certain great decisions, and which forced Him to cry out: “Father, not my will but Thine be done.” These words definitely indicate conflict and do not indicate the synchronisation of the two wills; they indicate the determination on the part of the Christ that there should be no opposition between His will and that of God. Suddenly, He received a vision of the emerging, divine intention for humanity and—through humanity—for the planet as a whole. At the particular stage of spiritual development which Christ had then attained and which had made Him the Head of the spiritual Hierarchy, the One who engineered the emergence of the Kingdom of God and established Him as the Master of all the Masters and the Teacher of angels and of men, His consciousness was absolutely at one with the divine Plan; its application on Earth and its goal of establishing the Kingdom of God and the appearance of the fifth kingdom in nature was simply for Him the fulfilling of the law and to that fulfilment His entire life was and had been geared.
Chính sự ló rạng của thâm nghĩa này về Ý Chí của Thượng Đế trên tâm thức của Đức Christ đã dẫn Ngài đến một số quyết định lớn lao, và đã buộc Ngài phải kêu lên: “Lạy Cha, xin đừng theo ý con mà theo Ý Cha.” Những lời này rõ ràng cho thấy xung đột và không cho thấy sự đồng bộ hóa của hai ý chí; chúng cho thấy quyết tâm nơi Đức Christ rằng sẽ không có sự đối kháng nào giữa ý chí của Ngài và ý chí của Thượng đế. Đột nhiên, Ngài nhận được một linh ảnh về ý định thiêng liêng đang xuất hiện dành cho nhân loại và—thông qua nhân loại—dành cho toàn thể hành tinh. Ở giai đoạn phát triển tinh thần đặc biệt mà Đức Christ khi ấy đã đạt tới và đã khiến Ngài trở thành Đầu của Thánh đoàn tinh thần, Đấng đã điều hành sự xuất hiện của Thiên Giới và thiết lập Ngài thành Chân sư của mọi Chân sư và Huấn sư của thiên thần và loài người, tâm thức của Ngài hoàn toàn là một với Thiên Cơ; việc áp dụng Thiên Cơ ấy trên Trái Đất và mục tiêu của nó là thiết lập Thiên Giới và sự xuất hiện của giới thứ năm trong thiên nhiên đối với Ngài đơn giản chỉ là sự hoàn tất quy luật, và toàn bộ đời sống của Ngài đã và đang được điều chỉnh hướng về sự hoàn tất ấy.
The Plan, its goal, its techniques and its laws, its energy (that of love) and the close and growing relation between the spiritual Hierarchy and humanity were known to him, and fully understood. At the highest point of this consummated knowledge and at the moment of His complete surrender to the necessary sacrifice of His life to the fulfilling of this Plan, suddenly a great expansion of consciousness took place. The significance, the intention, the purpose of it all, and the comprehensive divine Idea (as it existed in the mind of the Father) [26] dawned upon His soul—not on His mind, for the revelation was far greater than that. He saw still further into the meaning of divinity than had ever before seemed possible; the world of meaning and the world of phenomena faded out and—esoterically speaking—He lost His all. For the time being, neither the energy of the creative mind nor the energy of love were left to Him. He was bereft of all that had made life bearable and full of meaning. A new type of energy became available—the energy of life itself, imbued with purpose and actuated by intention. But it was new and unknown and hitherto unrealised. For the first time, the relation of the will which had hitherto expressed itself in His life through love and the creative work of inaugurating the new dispensation became clear to Him. At this point, He passed through the Gethsemane of renunciation. The greater, the larger and the more inclusive was revealed to Him and all that hitherto seemed so vital and important was lost to sight in the greater vision. It is this living realisation of Being and of identification with the divine intention of God Himself, the Father, the Lord of the World upon levels of awareness of which we know nothing (as yet) which constituted the unfolding awareness of the Christ upon the Way of the Higher Evolution. This Way He treads today and He began to tread it in Palestine two thousand years ago. He knew, in a sense hitherto unknown to Him, what God intended and what human destiny meant, and the part that He had to play in the working out of that destiny. We have paid little attention down the centuries of human thinking to Christ’s reaction to His own destiny, as it affected the human. We have paid small attention to the aspect of His reaction to knowledge, as it unfolded itself to [27] Him. We have been selfish and grasping in our reaction to His work and sacrifice.
Thiên Cơ, mục tiêu của nó, các kỹ thuật và các định luật của nó, năng lượng của nó (năng lượng của bác ái), và mối liên hệ gần gũi và ngày càng tăng giữa Thánh đoàn tinh thần và nhân loại đều đã được Ngài biết đến và hoàn toàn thấu hiểu. Ở điểm cao nhất của tri thức viên mãn này và vào lúc Ngài hoàn toàn hiến dâng cho sự hy sinh cần thiết của đời mình để hoàn tất Thiên Cơ này, đột nhiên một sự mở rộng lớn lao của tâm thức đã diễn ra. Thâm nghĩa, ý hướng, mục đích của toàn bộ điều đó, và Ý Tưởng thiêng liêng bao quát (như nó hiện hữu trong tâm trí của Đức Cha) [26] ló rạng trên linh hồn Ngài—không phải trên trí tuệ của Ngài, vì sự mặc khải còn lớn lao hơn thế nhiều. Ngài nhìn xa hơn nữa vào ý nghĩa của thiên tính so với bất cứ điều gì trước đây từng có vẻ khả hữu; thế giới của ý nghĩa và thế giới hiện tượng mờ dần đi và—nói theo nội môn—Ngài mất đi tất cả. Trong một thời gian, cả năng lượng của trí tuệ sáng tạo lẫn năng lượng của bác ái đều không còn lại cho Ngài. Ngài bị tước mất mọi điều đã làm cho đời sống có thể chịu đựng được và đầy ý nghĩa. Một loại năng lượng mới trở nên khả dụng—năng lượng của chính sự sống, được thấm nhuần mục đích và được thúc đẩy bởi ý hướng. Nhưng nó mới mẻ và chưa được biết đến, và từ trước đến nay chưa từng được chứng nghiệm. Lần đầu tiên, mối liên hệ của ý chí—vốn cho đến lúc ấy đã biểu lộ trong đời sống Ngài qua bác ái và công việc sáng tạo là khai mở kỷ nguyên mới—trở nên rõ ràng đối với Ngài. Tại điểm này, Ngài đã đi qua Gethsemane của sự từ bỏ. Điều lớn hơn, rộng hơn và bao gồm hơn đã được mặc khải cho Ngài, và tất cả những gì trước đây dường như quá sống còn và quan trọng đều mất hút trong linh thị lớn lao hơn. Chính sự chứng nghiệm sống động này về Bản Thể và về sự đồng hoá với ý định thiêng liêng của chính Thượng đế, Đức Cha, Đức Chúa Tể Thế Giới trên những cấp độ nhận biết mà chúng ta chưa biết gì (cho đến nay), đã cấu thành sự nhận biết đang khai mở của Đức Christ trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Con Đường này Ngài đang bước đi ngày nay và Ngài đã bắt đầu bước đi tại Palestine hai ngàn năm trước. Theo một ý nghĩa trước đây chưa từng được biết đến với Ngài, Ngài đã biết Thượng đế dự định điều gì và định mệnh nhân loại có nghĩa là gì, cũng như phần việc mà Ngài phải đảm nhận trong việc triển khai định mệnh ấy. Qua nhiều thế kỷ suy tưởng của nhân loại, chúng ta ít chú ý đến phản ứng của Đức Christ đối với chính định mệnh của Ngài, trong chừng mực nó ảnh hưởng đến con người. Chúng ta cũng ít chú ý đến phương diện phản ứng của Ngài trước tri thức, khi nó tự khai mở [27] cho Ngài. Chúng ta đã ích kỷ và tham cầu trong phản ứng của mình đối với công việc và sự hy sinh của Ngài.
The word to “know” (in relation to the initiate-consciousness of the Christ and of still lesser initiates) concerns the certainty of the knowledge the initiate has gained through experiment, experience and expression. The first faint tremor of reaction to monadic “destiny” and to the widespread universal influence a Son of God can exert makes itself felt in the consciousness of the Christ—as it will in the consciousness of all those who obey His injunction and arrive at the perfection which He pointed out as possible. The highest divine quality or aspect now makes itself felt in the life of the progressing Son of God; He knows the meaning of intelligence; He realises the significance of love and its attractive quality. Now—because of these two recognitions—He becomes aware of the potency of will and of the reality of the divine intention which that will must (at any cost) implement. This was the major crisis of the Christ.
Từ “biết” (liên hệ đến tâm thức của điểm đạo đồ nơi Đức Christ và nơi các điểm đạo đồ thấp hơn nhiều) liên quan đến sự chắc chắn của tri thức mà điểm đạo đồ đã đạt được qua thử nghiệm, kinh nghiệm và biểu lộ. Sự rung động mơ hồ đầu tiên của phản ứng đối với “định mệnh” chân thần và đối với ảnh hưởng phổ quát rộng lớn mà một Con của Thượng đế có thể tác động bắt đầu được cảm nhận trong tâm thức của Đức Christ—cũng như nó sẽ được cảm nhận trong tâm thức của tất cả những ai vâng theo lời huấn thị của Ngài và đạt đến sự toàn thiện mà Ngài đã chỉ ra là khả hữu. Phẩm tính hay phương diện thiêng liêng cao nhất nay bắt đầu được cảm nhận trong đời sống của Con của Thượng đế đang tiến bước; Ngài biết ý nghĩa của trí tuệ; Ngài chứng nghiệm thâm nghĩa của bác ái và phẩm tính hấp dẫn của nó. Giờ đây—do hai sự nhận biết này—Ngài trở nên ý thức được quyền năng của ý chí và thực tại của ý định thiêng liêng mà ý chí ấy phải (bằng bất cứ giá nào) thực hiện. Đây là cuộc khủng hoảng lớn của Đức Christ.
There are in the Gospel story (as testimony to this divinely progressing unfoldment) four recorded moments wherein this universal or monadic realisation showed itself. Let us look at each one of them for a moment:
Trong câu chuyện Phúc Âm có bốn thời điểm được ghi lại mà trong đó sự chứng nghiệm phổ quát hay chân thần này đã biểu lộ, như là bằng chứng cho sự khai mở tiến triển một cách thiêng liêng ấy. Chúng ta hãy xem xét từng điểm một trong chốc lát:
1. There is, first of all, His statement to His parents in the Temple, “Wist ye not that I must be about my Father’s business?” We should note here that He was twelve years old at the time and, therefore, the work with which He had been occupied (as a soul) was finished; twelve is the number of completed work, as witness the twelve labours of Hercules, another Son of God. The symbolism of His twelve years is now replaced by that of the twelve apostles, the symbol of service and sacrifice. He was also in the Temple of Solomon, which is the symbol [28] of the perfect life of the soul, just as the Tabernacle in the wilderness is the symbol of the imperfect ephemeral life of the transient personality; Christ was, therefore, speaking on soul levels and not only as the spiritual man on Earth. He was also serving, when He spoke these words, as a working Member of the Spiritual Hierarchy, for He was found by His parents teaching the priests, the Pharisees and the Sadducees. These points all indicate His recognition of His work as a World Teacher, becoming conscious, for the first time in His physical brain, of divine intention or of the divine will.
1. Trước hết là lời tuyên bố của Ngài với cha mẹ trong Đền Thờ: “Cha mẹ há chẳng biết rằng con phải lo việc của Cha con sao?” Ở đây chúng ta nên lưu ý rằng khi ấy Ngài mười hai tuổi và vì vậy công việc mà Ngài đã bận tâm (với tư cách linh hồn) đã hoàn tất; mười hai là con số của công việc hoàn thành, như được chứng thực qua mười hai kỳ công của Hercules, một Con của Thượng đế khác. Biểu tượng của mười hai năm đời Ngài nay được thay thế bằng biểu tượng của mười hai tông đồ, biểu tượng của phụng sự và hy sinh. Ngài cũng đang ở trong Đền Thờ Solomon, vốn là biểu tượng [28] của đời sống hoàn hảo của linh hồn, cũng như Nhà Tạm trong hoang địa là biểu tượng của đời sống bất toàn, phù du của phàm ngã thoáng qua; vì vậy Đức Christ đang nói trên các cấp độ linh hồn chứ không chỉ như con người tinh thần trên Trái Đất. Khi nói những lời ấy, Ngài cũng đang phụng sự với tư cách một Thành viên hoạt động của Thánh đoàn, vì cha mẹ Ngài đã thấy Ngài đang giảng dạy cho các tư tế, Pharisee và Sadducee. Tất cả những điểm này đều cho thấy sự nhận biết của Ngài về công việc của mình như Đức Chưởng Giáo, lần đầu tiên trở nên ý thức trong bộ não thể xác của Ngài về ý định thiêng liêng hay về Ý Chí thiêng liêng.
2. Next comes His statement to His disciples: “I must go up to Jerusalem,” after which we read that He “steadfastly set His face to go” to that city. This was the intimation to them that He now had a new objective. The only place of complete “peace” (which is the meaning of the name “Jerusalem”) is the “centre where the will of God is known.” The spiritual Hierarchy of our planet (the invisible Church of Christ) is not a centre of peace but a very vortex of loving activity, the meeting place of energies coming from the centre of the divine will, and from humanity, the centre of divine intelligence. Christ had oriented Himself to that divine centre which has, in the ancient Scriptures, been called the “place of serene determination and of poised, quiescent will.” This statement marked a point of crisis and of determination in the life of Christ, and proved His progress towards divine fulfilment.
2. Tiếp theo là lời tuyên bố của Ngài với các đệ tử: “Ta phải lên Jerusalem,” sau đó chúng ta đọc thấy rằng Ngài “quyết chí hướng mặt đi” đến thành ấy. Đây là dấu hiệu cho họ biết rằng nay Ngài có một mục tiêu mới. Nơi duy nhất của “bình an” trọn vẹn (đó là ý nghĩa của tên “Jerusalem”) là “Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế.” Thánh đoàn tinh thần của hành tinh chúng ta (Giáo hội vô hình của Đức Christ) không phải là một trung tâm bình an mà là một xoáy lốc của hoạt động bác ái, nơi gặp gỡ của các năng lượng đến từ trung tâm của ý chí thiêng liêng và từ nhân loại, trung tâm của trí tuệ thiêng liêng. Đức Christ đã chỉnh hợp chính mình với trung tâm thiêng liêng ấy, trung tâm mà trong các Kinh điển cổ xưa đã được gọi là “nơi của quyết tâm tĩnh lặng và của ý chí quân bình, an nhiên.” Lời tuyên bố này đánh dấu một điểm khủng hoảng và quyết tâm trong đời sống của Đức Christ, và chứng tỏ sự tiến bộ của Ngài hướng tới sự hoàn tất thiêng liêng.
3. Then in the Garden of Gethsemane He said, “Father, not My will but Thine be done,” thus indicating His realisation of divine destiny. The meaning of these words is not (as is so often stated by Christian [29] theologians) a statement of acceptance of pain and of an unpleasant future and of death. It was an exclamation, evoked surely by His realisation of the universal implications of His mission and the intense focussing of His life in a universal sense. The Gethsemane experience was an experience uniquely possible only to those Sons of God Who have reached His rare point in evolution; it had no real relation to the Crucifixion episode, as the orthodox commentators emphasise.
3. Rồi trong Vườn Gethsemane Ngài nói: “Lạy Cha, xin đừng theo ý Con mà theo Ý Cha,” qua đó cho thấy sự nhận biết của Ngài về định mệnh thiêng liêng. Ý nghĩa của những lời này không phải là (như các nhà thần học Cơ Đốc [29] thường nói) một lời chấp nhận đau đớn và một tương lai khó chịu cùng cái chết. Đó là một tiếng kêu, chắc chắn được gợi ra bởi sự nhận biết của Ngài về những hàm ý phổ quát của sứ mệnh mình và sự tập trung mãnh liệt của đời sống Ngài theo nghĩa phổ quát. Kinh nghiệm Gethsemane là một kinh nghiệm chỉ độc nhất khả hữu đối với những Con của Thượng đế đã đạt đến điểm tiến hoá hiếm có của Ngài; nó không có liên hệ thực sự nào với giai đoạn Đóng Đinh, như các nhà chú giải chính thống nhấn mạnh.
4. The final words of the Christ to His apostles were, “Lo, I am with you all the days, even unto the end of the age” or cycle. (Matt. 28.20.) The important word is “end.” The word used is the Greek “sun-teleia,” which means the end of the time period, with another immediately following after (what would be called the end of a cycle). In Greek the final end is another word “telos.” In Matt. 24.6, “but the end is not yet,” the other word telos is used for it means “the end of the first period has not yet been reached.” Here He was speaking as the Head of the spiritual Hierarchy and expressing His divine will (at-one now with the will of God) to inform and pervade continuously the world of men with His overshadowing consciousness. It was a tremendous affirmation, sent forth upon the energy of His developed will, His all-inclusive love and His intelligent mind. This affirmation has made all things possible.
4. Những lời cuối cùng của Đức Christ với các tông đồ là: “Này, Ta ở cùng các con mọi ngày cho đến cuối thời đại” hay cuối chu kỳ. (Matt. 28.20.) Từ quan trọng là “cuối.” Từ được dùng là tiếng Hy Lạp “sun-teleia,” có nghĩa là sự kết thúc của một thời kỳ, và ngay sau đó là một thời kỳ khác tiếp nối (điều sẽ được gọi là sự kết thúc của một chu kỳ). Trong tiếng Hy Lạp, sự chấm dứt cuối cùng là một từ khác, “telos.” Trong Matt. 24.6, “nhưng sự cuối cùng vẫn chưa đến,” từ kia là telos được dùng vì nó có nghĩa là “sự kết thúc của thời kỳ thứ nhất vẫn chưa đạt tới.” Ở đây Ngài đang nói với tư cách là Đầu của Thánh đoàn tinh thần và biểu lộ ý chí thiêng liêng của Ngài (nay đã là một với Ý Chí của Thượng Đế) để liên tục thấm nhuần và bao trùm thế giới loài người bằng tâm thức phủ bóng của Ngài. Đó là một sự khẳng định to lớn, được phát ra trên năng lượng của ý chí đã phát triển của Ngài, bác ái bao gồm tất cả của Ngài và trí tuệ thông minh của Ngài. Sự khẳng định này đã làm cho mọi sự trở nên khả hữu.
It was also to the magnetic power of the will that Christ referred when He said, “I, if I be lifted up, will draw all men unto Me.” This had no reference to the crucifixion but to the magnetic will of the Christ to draw all men, through the life of the indwelling Christ in every heart, out of the world of material values into the world of spiritual recognitions. It did not relate to death [30] but to life; it had no reference to the Cross but to the resurrection. In the past, the keynote of the Christian religion has been death, symbolised for us in the death of Christ and much distorted by St. Paul in his effort to blend the new religion which Christ brought with the old blood religion of the Jews. In the cycle which Christ will inaugurate after His reappearance, the goal of all the religious teaching in the world will be the resurrection of the spirit in mankind; the emphasis will be upon the livingness of the Christ nature in every human being, and upon the use of the will in bringing about this living transfiguration of the lower nature. The proof of it will be the risen Christ. This “Way of Resurrection” is the radiant Way, the lighted Way which leads from one great expression of divinity in man to another; it is the way which expresses the light of the intelligence, the radiant substance of true love, and the inflexible will which permits of no defeat or withdrawal. These are the characteristics which will be declarative of the Kingdom of God.
Điều mà Đức Christ cũng đã nói đến chính là quyền năng từ tính của ý chí khi Ngài phán: “Ta, nếu được nâng lên, sẽ kéo mọi người đến với Ta.” Điều này không hề ám chỉ sự đóng đinh trên thập giá mà ám chỉ ý chí từ tính của Đức Christ nhằm kéo mọi người, qua sự sống của Đức Christ nội tại trong mỗi trái tim, ra khỏi thế giới của các giá trị vật chất để đi vào thế giới của những nhận thức tinh thần. Điều ấy không liên hệ đến cái chết [30] mà đến sự sống; không liên hệ đến Thập Giá mà đến sự phục sinh. Trong quá khứ, chủ âm của tôn giáo Cơ Đốc là cái chết, được biểu tượng hóa cho chúng ta trong cái chết của Đức Christ và bị Thánh Paul làm sai lệch rất nhiều trong nỗ lực hòa trộn tôn giáo mới mà Đức Christ mang đến với tôn giáo máu huyết cũ của người Do Thái. Trong chu kỳ mà Đức Christ sẽ khai mở sau khi Ngài tái xuất hiện, mục tiêu của mọi giáo huấn tôn giáo trên thế giới sẽ là sự phục sinh của tinh thần trong nhân loại; trọng tâm sẽ đặt vào tính sống động của bản chất Christ trong mỗi con người, và vào việc sử dụng ý chí để mang lại sự Biến hình sống động này cho bản chất thấp. Bằng chứng của điều đó sẽ là Đức Christ phục sinh. “Con Đường Phục Sinh” này là Con Đường rạng ngời, Con Đường được Soi Sáng dẫn từ một biểu hiện lớn của thiên tính trong con người đến một biểu hiện khác; đó là con đường biểu lộ ánh sáng của trí tuệ, chất liệu rạng ngời của bác ái chân chính, và ý chí bất khuất không cho phép thất bại hay thoái lui. Đó là những đặc tính sẽ tuyên xưng Thiên Giới.
Today, humanity stands at a peculiar and unique middle point, between an unhappy past and a future which is full of promise if the reappearance of the Christ is recognised and preparation for His coming is undertaken. The present is full of promise and also full of difficulty; in the hands of human beings today and in the immediate present, lies the destiny of the world and—if it may be reverently said—the immediate activity of the Christ. The agony of the war, and the distress of the entire human family led Christ, in the year 1945, to come to a great decision—a decision which found expression in two most important statements. He announced to the assembled spiritual Hierarchy and to all His servants and disciples on Earth that He had decided to emerge again into physical contact with humanity, if they would bring [31] about the initial stages of establishing right human relations; secondly, He gave to the world (for the use of the “man in the street”) one of the oldest prayers ever known, but one which hitherto had not been permitted to be used except by the most exalted, spiritual Beings. He used it Himself for the first time, we are told, at the time of the Full Moon of June, 1945, which is recognised as the Full Moon of the Christ, just as the Full Moon of May is that of the Buddha. It was not easy to translate these ancient phrases (so ancient that they are without date or background of any kind) into modern words, but it has been done, and the great Invocation, which may eventually become the world prayer, was pronounced by Him and taken down by His disciples. It has been translated as follows:
Ngày nay, nhân loại đang đứng tại một điểm ở giữa đặc biệt và độc nhất, giữa một quá khứ bất hạnh và một tương lai đầy hứa hẹn nếu sự tái xuất hiện của Đức Christ được nhìn nhận và việc chuẩn bị cho sự quang lâm của Ngài được thực hiện. Hiện tại đầy hứa hẹn nhưng cũng đầy khó khăn; chính trong tay con người ngày nay và trong hiện tại trước mắt có vận mệnh của thế giới và—nếu có thể cung kính mà nói—cả hoạt động trước mắt của Đức Christ. Nỗi thống khổ của chiến tranh, và sự đau đớn của toàn thể gia đình nhân loại đã khiến Đức Christ, vào năm 1945, đi đến một quyết định lớn—một quyết định được biểu lộ trong hai tuyên bố hết sức quan trọng. Ngài công bố với Thánh Đoàn tinh thần đang hội họp và với tất cả các tôi tớ và đệ tử của Ngài trên Trái Đất rằng Ngài đã quyết định lại xuất hiện trong sự tiếp xúc hồng trần với nhân loại, nếu họ mang lại [31] những giai đoạn đầu của việc thiết lập các mối tương quan đúng đắn giữa người với người; thứ hai, Ngài ban cho thế giới (để “người bình thường” sử dụng) một trong những lời cầu nguyện cổ xưa nhất từng được biết đến, nhưng cho đến nay chưa được phép dùng ngoại trừ bởi các Đấng tinh thần cao cả nhất. Chính Ngài đã dùng nó lần đầu tiên, như chúng ta được biết, vào lúc Trăng Tròn tháng Sáu năm 1945, được nhìn nhận là Trăng Tròn của Đức Christ, cũng như Trăng Tròn tháng Năm là của Đức Phật. Không dễ gì chuyển những cụm từ cổ xưa này (cổ xưa đến mức không có niên đại hay bất kỳ bối cảnh nào) sang ngôn từ hiện đại, nhưng điều đó đã được thực hiện, và Đại Khấn Nguyện, vốn cuối cùng có thể trở thành lời cầu nguyện của thế giới, đã được Ngài xướng lên và được các đệ tử của Ngài ghi lại. Nó đã được dịch như sau:
From the point of Light within the Mind of God
Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế
Let light stream forth into the minds of men.
Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người
Let Light descend on Earth.
Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian
From the point of Love within the Heart of God
Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế
Let love stream forth into the hearts of men.
Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người
May Christ return to Earth.
Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian
From the centre where the Will of God is known
Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế
Let purpose guide the little wills of men—
Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người
The purpose which the Masters know and serve.
Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự
From the centre which we call the race of men
Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người
Let the Plan of Love and Light work out.
Cầu xin Thiên Cơ của Tình thương và Ánh sáng được thực thi
And may it seal the door where evil dwells.
Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác
Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.
Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian
Its extraordinary potency can be seen in the fact that hundreds of thousands of people are already using it day by day and many times a day; it is (1947) translated [32] into eighteen different languages and used by people in all those languages; in the jungles of Africa, groups of natives are using it and it can be seen on the desks of great executives in our major cities; it goes forth over the radio in Europe and in America and there is no country or island in the world where its use is unknown. All this has taken place in the space of eighteen months.
Hiệu lực phi thường của nó có thể thấy qua sự kiện là hàng trăm ngàn người đã dùng nó mỗi ngày và nhiều lần trong ngày; nó đã được (1947) dịch [32] sang mười tám ngôn ngữ khác nhau và được dùng bởi người nói tất cả những ngôn ngữ ấy; trong các khu rừng Phi Châu, những nhóm thổ dân đang dùng nó và người ta có thể thấy nó trên bàn làm việc của các nhà điều hành lớn trong những thành phố lớn của chúng ta; nó được phát qua đài phát thanh ở Âu Châu và Mỹ Châu, và không có quốc gia hay hòn đảo nào trên thế giới mà việc sử dụng nó lại không được biết đến. Tất cả điều này đã diễn ra trong vòng mười tám tháng.
This new Invocation, if given widespread distribution, can be to the new world religion what the Lord’s Prayer has been to Christianity and the 23rd Psalm has been to the spiritually minded Jew. There are three approaches to this great Prayer or Invocation:
Khấn Nguyện mới này, nếu được phổ biến rộng rãi, có thể đối với tôn giáo thế giới mới giống như Kinh Lạy Cha đối với Cơ Đốc giáo và Thánh Vịnh 23 đối với người Do Thái có khuynh hướng tinh thần. Có ba cách tiếp cận đối với Lời Cầu Nguyện hay Khấn Nguyện vĩ đại này:
1. That of the general public.
1. Cách tiếp cận của công chúng nói chung.
2. That of the esotericists, or of the aspirants and the disciples of the world.
2. Cách tiếp cận của các nhà bí truyền học, hay của những người chí nguyện và các đệ tử của thế giới.
3. That of the Members of the Hierarchy.
3. Cách tiếp cận của các Thành Viên của Thánh Đoàn.