Trích nội dung chương
First, the general public will regard it as a prayer to God Transcendent. They will not recognise Him yet as immanent in His creation; they will send it forth on the wings of hope—hope for light and love and peace, for which they ceaselessly long. They will also regard it as a prayer for the enlightenment of all rulers and leaders in all groups who are handling world matters; as a prayer for the inflow of love and understanding among men, so that they may live in peace with one another; as a demand for the working out of the will of God—a will of which they can know nothing and which ever seems to them so inscrutable and so all-inclusive…
First, the general public will regard it as a prayer to God Transcendent. They will not recognise Him yet as immanent in His creation; they will send it forth on the wings of hope—hope for light and love and peace, for which they ceaselessly long. They will also regard it as a prayer for the enlightenment of all rulers and leaders in all groups who are handling world matters; as a prayer for the inflow of love and understanding among men, so that they may live in peace with one another; as a demand for the working out of the will of God—a will of which they can know nothing and which ever seems to them so inscrutable and so all-inclusive that their normal reaction is patience and a willingness to refrain from questioning; as a prayer for the strengthening of human responsibility in order that the recognised evils of today—which so distress and [33] trouble mankind—may be done away with and some vague source of evil may be harnessed. They will regard it finally as a prayer that some equally vague primeval condition of blissful happiness may be restored and all unhappiness and pain disappear from the earth. This is, for them, entirely good and helpful and all that is immediately possible.
Thứ nhất, công chúng nói chung sẽ xem đó như một lời cầu nguyện dâng lên Thượng đế Siêu Việt. Họ chưa nhận ra Ngài là Đấng nội tại trong tạo vật của Ngài; họ sẽ gửi nó đi trên đôi cánh của hy vọng—hy vọng về ánh sáng, bác ái và hòa bình, những điều mà họ không ngừng khát khao. Họ cũng sẽ xem đó như một lời cầu nguyện cho sự soi sáng của mọi nhà cai trị và lãnh đạo trong mọi nhóm đang xử lý các vấn đề thế giới; như một lời cầu nguyện cho dòng tuôn đổ của bác ái và thấu hiểu giữa người với người, để họ có thể sống hòa bình với nhau; như một lời yêu cầu cho việc thực hiện ý chí của Thượng đế—một ý chí mà họ không thể biết gì và luôn dường như đối với họ quá khó dò và quá bao gồm đến nỗi phản ứng bình thường của họ là kiên nhẫn và sẵn lòng không chất vấn; như một lời cầu nguyện cho sự tăng cường trách nhiệm của con người để những điều ác đã được nhìn nhận của ngày nay—những điều đang làm nhân loại đau đớn và [33] khổ sở—có thể bị loại bỏ và một nguồn gốc mơ hồ nào đó của điều ác có thể bị chế ngự. Cuối cùng, họ sẽ xem đó như một lời cầu nguyện để một trạng thái nguyên sơ mơ hồ nhưng hạnh phúc chí phúc nào đó có thể được phục hồi và mọi bất hạnh cùng đau đớn biến mất khỏi trái đất. Đối với họ, điều này hoàn toàn tốt đẹp, hữu ích và là tất cả những gì có thể ngay lúc này.
Secondly, esotericists, aspirants and spiritually minded people will have a deeper and more understanding approach. To them it will convey the recognition of the world of causes and of Those Who stand subjectively behind world affairs, the spiritual Directors of our life. They stand ready to strengthen those with true vision, ready to indicate not only the reason for events in the various departments of human living, but also to make those revelations which will enable humanity to move forward out of darkness into light. With this fundamental attitude, the necessity for a widespread expression of these underlying facts will be apparent and an era of spiritual propaganda, engineered by disciples and carried forward by esotericists, will mature. This era began in 1875 when the fact of the existence of the Masters of the Wisdom was proclaimed. It has been carried forward in spite of misrepresentation, attack upon the concept, and scorn. Recognition of the substantial nature of the available evidence and the appearance of an intuitive response by occult students and many of the intelligentsia throughout the world has been helpful.
Thứ hai, các nhà bí truyền học, những người chí nguyện và những người có khuynh hướng tinh thần sẽ có một cách tiếp cận sâu sắc hơn và thấu hiểu hơn. Đối với họ, nó sẽ chuyển tải sự nhìn nhận về thế giới của các nguyên nhân và về những Đấng đứng phía sau các sự vụ thế giới một cách chủ quan, các Đấng Chỉ Đạo tinh thần của đời sống chúng ta. Các Ngài sẵn sàng tăng cường cho những ai có tầm nhìn chân chính, sẵn sàng chỉ ra không chỉ lý do của các biến cố trong những lĩnh vực khác nhau của đời sống con người, mà còn đưa ra những mặc khải giúp nhân loại tiến lên từ bóng tối vào ánh sáng. Với thái độ căn bản này, sự cần thiết của một sự biểu đạt rộng rãi các sự kiện nền tảng ấy sẽ trở nên hiển nhiên và một kỷ nguyên tuyên truyền tinh thần, do các đệ tử điều động và được các nhà bí truyền học tiếp tục, sẽ chín muồi. Kỷ nguyên này bắt đầu vào năm 1875 khi sự kiện về sự hiện hữu của các Chân sư Minh Triết được công bố. Nó đã được tiếp tục bất chấp sự xuyên tạc, sự công kích vào khái niệm ấy, và sự khinh miệt. Việc nhìn nhận tính vững chắc của bằng chứng sẵn có và sự xuất hiện của một đáp ứng trực giác nơi các đạo sinh huyền bí học cùng nhiều người trí thức trên khắp thế giới đã là điều hữu ích.
A new type of mystic is coming to be recognised; he differs from the mystics of the past by his practical interest in current world affairs and not in religious and church matters only; he is distinguished by his lack of interest in his own personal development, by his ability to see God immanent in all faiths and not just in his own [34] particular brand of religious belief, and also by his capacity to live his life in the light of the divine Presence. All mystics have been able to do this to a greater or less degree, but the modern mystic differs from those in the past in that he is able clearly to indicate to others the techniques of the Path; he combines both head and heart, intelligence and feeling, plus an intuitive perception, hitherto lacking. The clear light of the Spiritual Hierarchy now illumines the way of the modern mystic, and not simply the light of his own soul; this will be increasingly the case.
Một loại nhà thần bí mới đang được nhìn nhận; y khác với các nhà thần bí trong quá khứ bởi mối quan tâm thực tiễn của y đối với các sự vụ thế giới hiện tại chứ không chỉ đối với các vấn đề tôn giáo và giáo hội; y nổi bật bởi sự thiếu quan tâm đến sự phát triển cá nhân của chính mình, bởi khả năng thấy Thượng đế nội tại trong mọi đức tin chứ không chỉ trong [34] dạng tín ngưỡng tôn giáo riêng của mình, và cũng bởi năng lực sống cuộc đời mình trong ánh sáng của Hiện Diện thiêng liêng. Mọi nhà thần bí đều đã có thể làm điều này ở mức độ nhiều hay ít, nhưng nhà thần bí hiện đại khác với những người trong quá khứ ở chỗ y có thể chỉ ra rõ ràng cho người khác các kỹ thuật của Con Đường; y kết hợp cả đầu óc lẫn trái tim, trí tuệ và cảm xúc, cộng thêm một linh thị trực giác vốn trước đây còn thiếu. Ánh sáng rõ ràng của Thánh đoàn tinh thần hiện nay soi sáng con đường của nhà thần bí hiện đại, chứ không chỉ đơn thuần là ánh sáng của linh hồn riêng y; điều này sẽ ngày càng đúng hơn.
Thirdly, both of these groups—the general public and the world aspirants in their varying degrees—have, among them those who stand out from the general average as possessing a deeper insight and understanding; they occupy a no-man’s-land, intermediate on the one hand between the masses and the esotericists and, on the other, between the esotericists and the Members of the Hierarchy. Forget not, They also use this great Invocation and that not a day goes by that the Christ Himself does not sound it forth.
Thứ ba, cả hai nhóm này—công chúng nói chung và những người chí nguyện của thế giới ở các cấp độ khác nhau—đều có trong số họ những người nổi bật hơn mức trung bình chung vì sở hữu sự thấu suốt và thấu hiểu sâu sắc hơn; họ chiếm một vùng đất không thuộc về ai, ở vị trí trung gian một mặt giữa quần chúng và các nhà bí truyền học, và mặt khác giữa các nhà bí truyền học và các Thành Viên của Thánh Đoàn. Đừng quên rằng Các Ngài cũng sử dụng Đại Khấn Nguyện này và rằng không một ngày nào trôi qua mà chính Đức Christ lại không xướng nó lên.
On the surface, the beauty and the strength of this Invocation lie in its simplicity and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that, behind all outer seeming, the motivating power of the universe is love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the will of God, and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the divine Plan work out.
Xét bề ngoài, vẻ đẹp và sức mạnh của Khấn Nguyện này nằm ở tính đơn giản của nó và ở sự biểu đạt một số chân lý trung tâm mà mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự hiện hữu của một Trí Tuệ căn bản mà chúng ta mơ hồ gọi là Thượng đế; chân lý rằng, đằng sau mọi vẻ bề ngoài, động lực thúc đẩy của vũ trụ là bác ái; chân lý rằng một Cá Thể vĩ đại đã đến trái đất, được các tín đồ Cơ Đốc gọi là Đức Christ, và đã hiện thân bác ái ấy để chúng ta có thể hiểu được; chân lý rằng cả bác ái lẫn trí tuệ đều là những hiệu quả của điều được gọi là ý chí của Thượng đế, và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua nhân loại mà thôi Thiên Cơ thiêng liêng mới có thể được thực hiện.
[35]
[35]
This Plan calls mankind to the expression of Love and challenges men to “let their light shine.” Then comes the final solemn demand that this Plan of Love and Light, working through mankind, may “seal the door where evil dwells.” The final line then contains the idea of restoration, indicating the keynote for the future and that the day will come when God’s original idea and His initial intention will no longer be frustrated by human free will and evil—pure materialism and selfishness; the divine purpose will then, through the changed hearts and goals of humanity, be achieved.
Thiên Cơ này kêu gọi nhân loại biểu lộ Bác ái và thách thức con người “hãy để ánh sáng của mình chiếu soi.” Rồi đến lời yêu cầu long trọng cuối cùng rằng Thiên Cơ của Bác ái và Ánh sáng này, hoạt động qua nhân loại, có thể “đóng kín cửa vào nẻo ác.” Dòng cuối cùng khi ấy chứa đựng ý tưởng về sự phục hồi, chỉ ra chủ âm cho tương lai và rằng ngày sẽ đến khi ý tưởng nguyên thủy của Thượng đế và ý định ban đầu của Ngài không còn bị ý chí tự do của con người và điều ác—chủ nghĩa duy vật thuần túy và tính ích kỷ—làm cản trở nữa; khi ấy mục đích thiêng liêng sẽ được hoàn thành qua những trái tim và mục tiêu đã đổi thay của nhân loại.
This is the obvious and simple meaning and it ties in with the spiritual aspiration of all men everywhere.
Đó là ý nghĩa hiển nhiên và đơn giản, và nó hòa hợp với khát vọng tinh thần của mọi người ở khắp nơi.
The use of this Invocation or Prayer and the rising expectancy of the coming of the Christ hold out the greatest hope for mankind today. If this is not so, then prayer is no use and only an hallucination, and the Scriptures of the world, with their proved forecasting. are useless and deceiving. The testimony of the ages proves that none of this is so. Prayer always is answered and always has been; great Sons of God have ever come on humanity’s demand and always will, and He for Whom all men wait today is on His way.
Việc sử dụng Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện này và niềm mong đợi ngày càng dâng cao về sự quang lâm của Đức Christ đem lại niềm hy vọng lớn lao nhất cho nhân loại ngày nay. Nếu không phải vậy, thì lời cầu nguyện là vô ích và chỉ là một ảo giác, còn các Thánh Kinh của thế giới, với khả năng tiên báo đã được chứng minh của chúng, đều vô dụng và lừa dối. Chứng từ của các thời đại chứng minh rằng không điều nào trong số đó là đúng. Lời cầu nguyện luôn luôn được đáp ứng và xưa nay vẫn vậy; các Con vĩ đại của Thượng đế luôn luôn xuất hiện theo lời kêu gọi của nhân loại và sẽ luôn như thế, và Đấng mà mọi người ngày nay đang chờ đợi đang trên đường đến.
CHAPTER THREE - THE REAPPEARANCE OF THE CHRIST — CHƯƠNG BA - SỰ TÁI XUẤT HIỆN CỦA ĐỨC CHRIST
World Expectancy
Sự Mong Đợi của Thế Giới
[36]
[36]
God Transcendent, greater, vaster and more inclusive than His created world, is universally recognised and has been generally emphasised; all faiths can say with Shri Krishna (speaking as God, the Creator) that “having pervaded the whole universe with a fragment of Myself, I remain.” This God Transcendent has dominated the religious thinking of millions of simple and spiritually minded people down the centuries which have elapsed since humanity began to press forward towards divinity.
Thượng đế Siêu Việt, vĩ đại hơn, bao la hơn và bao gồm hơn thế giới do Ngài tạo ra, được nhìn nhận một cách phổ quát và thường được nhấn mạnh; mọi đức tin đều có thể nói cùng Shri Krishna (nói với tư cách là Thượng đế, Đấng Sáng Tạo) rằng “sau khi thấm nhuần toàn thể vũ trụ bằng một mảnh của Chính Ta, Ta vẫn tồn tại.” Thượng đế Siêu Việt này đã chi phối tư tưởng tôn giáo của hàng triệu người đơn sơ và có khuynh hướng tinh thần qua những thế kỷ đã trôi qua kể từ khi nhân loại bắt đầu thúc đẩy tiến về thiên tính.
Slowly, there is dawning upon the awakening consciousness of humanity, the great paralleling truth of God Immanent—divinely “pervading” all forms, conditioning from within all kingdoms in nature, expressing innate divinity through human beings and—two thousand years ago—portraying the nature of that divine Immanence in the Person of the Christ. Today, as an outcome of this unfolding divine Presence, there is entering into the minds of men everywhere a new concept: that of “Christ in us, the hope of glory.” (Col. 1.27.) There is a growing and developing belief that Christ is in us, as He was in the Master Jesus, and this belief will alter world affairs and mankind’s entire attitude to life.
Chậm rãi, chân lý song hành vĩ đại về Thượng đế Nội Tại đang ló rạng trong tâm thức đang thức tỉnh của nhân loại—Ngài “thấm nhuần” một cách thiêng liêng mọi hình tướng, tác động từ bên trong lên mọi giới trong thiên nhiên, biểu lộ thiên tính bẩm sinh qua con người và—hai ngàn năm trước—khắc họa bản chất của sự Nội Tại thiêng liêng ấy trong Con Người của Đức Christ. Ngày nay, như một kết quả của Hiện Diện thiêng liêng đang khai mở này, một khái niệm mới đang đi vào tâm trí con người ở khắp nơi: đó là “Đức Christ trong chúng ta, niềm hy vọng của vinh quang.” (Col. 1.27.) Một niềm tin đang lớn mạnh và phát triển rằng Đức Christ ở trong chúng ta, như Ngài đã ở trong Chân sư Jesus, và niềm tin này sẽ làm thay đổi các sự vụ thế giới cùng toàn bộ thái độ của nhân loại đối với cuộc sống.
The wonder of that life, lived two thousand years ago, is still with us and has lost none of its freshness; it is an eternal inspiration, hope, encouragement and example. The love He demonstrated still holds the thinking world [37] in thrall, even though relatively few have really attempted to demonstrate the same quality of love as He did—a love that leads unerringly to world service, to complete self-forgetfulness and to radiant, magnetic living. The words He spoke were few and simple and all men can understand them, but their significance has been largely lost in the intricate legalities and discussions of St. Paul, and in the lengthy disputation of theological commentators since Christ lived and left us—or apparently left us.
Điều kỳ diệu của cuộc đời ấy, đã được sống cách đây hai ngàn năm, vẫn còn ở với chúng ta và không mất đi chút tươi mới nào; đó là một nguồn cảm hứng, hy vọng, khích lệ và gương mẫu vĩnh cửu. Bác ái mà Ngài biểu lộ vẫn còn giữ thế giới những người biết suy nghĩ [37] trong sự say mê, dù tương đối ít người thực sự cố gắng biểu lộ cùng phẩm tính bác ái như Ngài đã làm—một bác ái dẫn một cách không sai lầm đến phụng sự thế giới, đến sự hoàn toàn quên mình và đến đời sống rạng ngời, từ tính. Những lời Ngài nói thì ít và đơn giản và mọi người đều có thể hiểu, nhưng thâm nghĩa của chúng phần lớn đã bị đánh mất trong những pháp lý phức tạp và các cuộc bàn luận của Thánh Paul, và trong những cuộc tranh biện dài dòng của các nhà chú giải thần học kể từ khi Đức Christ sống và rời bỏ chúng ta—hay dường như đã rời bỏ chúng ta.
Yet—today Christ is nearer to humanity than at any other time in human history; He is closer than the most aspiring and hopeful disciple knows, and can draw closer still if what is here written is understood and brought to the attention of men everywhere. For Christ belongs to humanity, to the world of men, and not alone to the churches and religious faiths throughout the world.
Tuy nhiên—ngày nay Đức Christ gần nhân loại hơn bất cứ thời điểm nào khác trong lịch sử loài người; Ngài gần hơn điều mà đệ tử chí nguyện và đầy hy vọng nhất biết, và còn có thể đến gần hơn nữa nếu điều được viết ở đây được thấu hiểu và được đưa đến sự chú ý của con người ở khắp nơi. Vì Đức Christ thuộc về nhân loại, thuộc về thế giới loài người, chứ không chỉ riêng các giáo hội và các đức tin tôn giáo trên khắp thế giới.
Around Him—in that High Place on Earth where He has His abiding place—are gathered today all His great Disciples, the Masters of the Wisdom, and all Those liberated Sons of God Who, down the ages, have passed from darkness to Light, from the unreal to the Real, and from death to Immortality. They stand ready to carry out His bidding and to obey Him, the Master of all the Masters and the Teacher alike of Angels and of men. The Exponents and the Representatives of all the world faiths are there waiting, under His guidance, to reveal to all those who today struggle in the maelstrom of world affairs, and who seek to solve the world crisis, that they are not alone. God Transcendent is working through the Christ and the Spiritual Hierarchy to bring relief; God Immanent in all men is standing on the verge of certain stupendous Recognitions.
Quanh Ngài—tại Nơi Chốn Cao Cả ấy trên Trái Đất nơi Ngài có chỗ cư ngụ thường trực—ngày nay đang quy tụ tất cả các Đệ Tử Vĩ Đại của Ngài, các Chân sư Minh Triết, và tất cả những Con của Thượng đế đã được giải thoát, những Đấng qua các thời đại đã đi từ bóng tối đến Ánh sáng, từ cái không thực đến cái Thực, và từ cái chết đến Bất Tử. Các Ngài đứng sẵn để thi hành mệnh lệnh của Ngài và vâng phục Ngài, Chân sư của mọi Chân sư và là Huấn sư của cả Thiên thần lẫn loài người. Những Đấng Xiển Dương và Đại Diện của mọi đức tin trên thế giới đều ở đó chờ đợi, dưới sự hướng dẫn của Ngài, để mặc khải cho tất cả những ai ngày nay đang vật lộn trong cơn xoáy của các sự vụ thế giới, và đang tìm cách giải quyết cuộc khủng hoảng thế giới, rằng họ không đơn độc. Thượng đế Siêu Việt đang hoạt động qua Đức Christ và Thánh đoàn tinh thần để mang lại sự cứu trợ; Thượng đế Nội Tại trong mọi người đang đứng trên ngưỡng cửa của một số Nhận Thức vĩ đại.
The great Apostolic Succession of the Knowers of God is poised today for renewed activity—a succession [38] of Those Who have lived on Earth, accepted the fact of God Transcendent, discovered the reality of God Immanent, portrayed in Their own lives the divine characteristics of the Christ life and (because They lived on Earth as He did and does) have “entered for us within the veil, leaving us an example that we too should follow His steps” and Theirs. We too belong eventually in that great succession.
Dòng Kế Thừa Tông Truyền vĩ đại của các thức giả về Thượng đế ngày nay đang sẵn sàng cho hoạt động mới—một dòng kế thừa [38] của những Đấng đã sống trên Trái Đất, chấp nhận sự kiện về Thượng đế Siêu Việt, khám phá thực tại của Thượng đế Nội Tại, khắc họa trong chính đời sống của Các Ngài những đặc tính thiêng liêng của đời sống Christ và (bởi vì Các Ngài đã sống trên Trái Đất như Ngài đã và đang sống) đã “vào bên trong bức màn vì chúng ta, để lại cho chúng ta một tấm gương rằng chính chúng ta cũng nên bước theo dấu chân của Ngài” và của Các Ngài. Rốt cuộc, chính chúng ta cũng thuộc về dòng kế thừa vĩ đại ấy.
The Buddha Himself is standing behind the Christ in humble recognition of the divine task which He is on the verge of consummating, and because of the imminence of that spiritual accomplishment. Not only are all those who are functioning consciously in the Kingdom of God aware of His Plans, but those great spiritual Beings Who live and dwell in the “Father’s House,” in the “centre where the will of God is known,” are also mobilised and organised to assist His work. The spiritual line of succession from the throne of the Ancient of Days down to the humblest disciple (gathered with others at the feet of the Christ) is today focussed on the task of helping humanity.
Chính Đức Phật đang đứng phía sau Đức Christ trong sự nhìn nhận khiêm cung đối với nhiệm vụ thiêng liêng mà Ngài sắp hoàn tất, và vì sự cận kề của thành tựu tinh thần ấy. Không chỉ tất cả những ai đang hoạt động một cách hữu thức trong Thiên Giới đều biết các Kế Hoạch của Ngài, mà cả những Đấng tinh thần vĩ đại sống và cư ngụ trong “Nhà Cha,” trong “Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế,” cũng đang được huy động và tổ chức để trợ giúp công việc của Ngài. Dòng kế thừa tinh thần từ ngai của Đấng Thái Cổ xuống đến người đệ tử khiêm tốn nhất (đang cùng những người khác tụ họp dưới chân Đức Christ) ngày nay đều tập trung vào nhiệm vụ giúp đỡ nhân loại.
The great moment for which He has so patiently waited has almost arrived; the “end of the age” to which He referred when speaking to His small group of disciples: “Lo! I am with you all the days even unto the end of the age” has come. Today He stands and waits, knowing that the hour has come when He will “see of the travail of His soul and be satisfied.” (Is. LIII.11.)
Khoảnh khắc lớn lao mà Ngài đã kiên nhẫn chờ đợi gần như đã đến; “sự tận cùng của thời đại” mà Ngài đã nói đến khi nói với nhóm đệ tử nhỏ của mình: “Này! Ta ở cùng các con mọi ngày cho đến tận cùng thời đại” nay đã đến. Ngày nay Ngài đứng và chờ đợi, biết rằng giờ đã đến khi Ngài sẽ “thấy công lao của linh hồn mình và được thỏa nguyện.” (Is. LIII.11.)
Right through the spiritual succession of the Sons of God, there is naught to be seen and felt but expectancy and preparation. “The Hierarchy waits.” It has done all that is possible from the angle of the present opportunity. The Christ stands in patient silence, attentive to the effort that will make His work materialise on Earth [39] and enable Him to consummate the effort He made 2000 years ago in Palestine. The Buddha hovers over the planet, ready to play His part if the opportunity is offered to Him by mankind. Everything now depends upon the right action of the men of goodwill.
Suốt toàn bộ dòng kế thừa tinh thần của các Con của Thượng đế, không thấy và không cảm được gì ngoài sự mong đợi và chuẩn bị. “Thánh Đoàn đang chờ đợi.” Thánh Đoàn đã làm tất cả những gì có thể từ góc độ của cơ hội hiện tại. Đức Christ đứng trong im lặng kiên nhẫn, chú tâm đến nỗ lực sẽ làm cho công việc của Ngài hiện hình trên Trái Đất [39] và giúp Ngài hoàn tất nỗ lực mà Ngài đã thực hiện 2000 năm trước tại Palestine. Đức Phật lơ lửng trên hành tinh, sẵn sàng đóng vai trò của Ngài nếu cơ hội được nhân loại trao cho Ngài. Mọi sự giờ đây tùy thuộc vào hành động đúng đắn của những người thiện chí.
From the Father’s House (the “centre where the will of God is known” or Shamballa of the esotericist) the fiat has gone forth: The hour has come. From the Kingdom of God where reigns the Christ, the answer has been flung back: “Father, Thy will be done.” Down in our struggling, bewildered, unhappy world of men, the cry is ceaselessly rising: “May Christ return to Earth.” For the three great spiritual centres: the Father’s House, the Kingdom of God, and awakening Humanity, there is but one purpose, one idea and one united expectancy.
Từ Nhà Cha (tức “Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế” hay Shamballa của nhà bí truyền học), mệnh lệnh đã được ban ra: Giờ đã đến. Từ Thiên Giới nơi Đức Christ ngự trị, câu trả lời đã được tung trở lại: “Lạy Cha, xin cho ý Cha được nên.” Dưới đây trong thế giới loài người đang đấu tranh, hoang mang và bất hạnh của chúng ta, tiếng kêu không ngừng dâng lên: “Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian.” Đối với ba trung tâm tinh thần lớn: Nhà Cha, Thiên Giới, và Nhân Loại đang thức tỉnh, chỉ có một mục đích, một ý tưởng và một niềm mong đợi hợp nhất.
It is essential that today there should be a measure of fuller knowledge concerning the “centre where the will of God is known.” The public should possess some understanding of this highest spiritual centre to which—if we believe the Gospel story—Christ Himself was always attentive. Frequently we read in The New Testament that “the Father spoke to Him” or that “He heard a Voice,” unheard by others, or that the words were heard, “this is my beloved Son.” Several times, we read, the seal of affirmation (as it is spiritually called) was given to Him. Only the Father, the planetary Logos, the “One in Whom we live and move and have our being” (Acts XVII.28), the Lord of the World, the Ancient of Days (Dan. VII.9) can speak this final affirmative word. There are, as well we know, five crises or initiations which concern the Master Jesus—the Birth at Bethlehem, the Baptism, the Transfiguration, the Crucifixion and the Resurrection—but lying behind this obvious and practical teaching, lies an undercurrent or thought of something much higher [40] and of greater importance—the affirmative Voice of the Father, recognising that which the Christ has done.
Điều thiết yếu là ngày nay phải có một mức độ hiểu biết đầy đủ hơn về “Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế.” Công chúng nên có một số hiểu biết về trung tâm tinh thần tối cao này mà—nếu chúng ta tin câu chuyện Phúc Âm—chính Đức Christ luôn luôn chú tâm đến. Chúng ta thường đọc trong Tân Ước rằng “Đức Cha đã phán với Ngài” hoặc rằng “Ngài nghe một Tiếng Nói,” không ai khác nghe được, hoặc rằng những lời này đã được nghe thấy, “đây là Con yêu dấu của Ta.” Nhiều lần, như chúng ta đọc thấy, ấn tín xác nhận (như cách gọi về mặt tinh thần) đã được ban cho Ngài. Chỉ có Đức Cha, Hành Tinh Thượng Đế, “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu” (Acts XVII.28), Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng Thái Cổ (Dan. VII.9) mới có thể phán lời xác nhận tối hậu này. Như chúng ta đều biết rõ, có năm cuộc khủng hoảng hay điểm đạo liên quan đến Chân sư Jesus—Giáng Sinh tại Bethlehem, Phép Rửa, Biến Hình, Đóng Đinh và Phục Sinh—nhưng nằm phía sau giáo huấn hiển nhiên và thực tiễn này là một dòng tư tưởng ngầm về điều gì đó cao hơn nhiều [40] và quan trọng hơn—Tiếng Nói xác nhận của Đức Cha, nhìn nhận điều mà Đức Christ đã làm.
When Christ completes the work during the next two thousand years which He inaugurated two thousand years ago, that affirmative Voice will surely again be heard and divine recognition of His coming will be accorded. Then the Christ will take that stupendous initiation of which we know nothing except that two divine aspects will blend and fuse in Him (love-wisdom in full manifestation, motivated by divine will or power). Then the Buddha and the Christ will together pass before the Father, the Lord of the World, will together see the glory of the Lord and eventually pass to higher service of a nature and a calibre unknown to us.
Khi Đức Christ hoàn tất công việc trong hai ngàn năm tới mà Ngài đã khai mở hai ngàn năm trước, Tiếng Nói xác nhận ấy chắc chắn sẽ lại được nghe thấy và sự nhìn nhận thiêng liêng đối với sự quang lâm của Ngài sẽ được ban cho. Khi ấy Đức Christ sẽ nhận cuộc điểm đạo vĩ đại ấy mà chúng ta không biết gì ngoài việc hai phương diện thiêng liêng sẽ hòa trộn và dung hợp trong Ngài (Bác Ái – Minh Triết trong sự biểu lộ trọn vẹn, được thúc đẩy bởi ý chí hay quyền năng thiêng liêng). Khi ấy Đức Phật và Đức Christ sẽ cùng nhau đi qua trước Đức Cha, Đức Chúa Tể Thế Giới, sẽ cùng nhau thấy vinh quang của Chúa và cuối cùng sẽ chuyển sang phụng sự cao hơn, có bản chất và tầm mức mà chúng ta không biết.
I write here in no fanatical or adventist spirit; I speak not as a speculative theologian or an exponent of one phase of religious, wishful thinking. I speak because many know that the time is ripe and that the appeal of simple, faithful hearts has penetrated to the highest spiritual sphere and set in motion energies and forces which cannot now be stopped. The invocative cry of distressed humanity is today of such a volume and sound that—united to the wisdom and the knowledge of the Spiritual Hierarchy—it has given rise to certain activities in the Father’s House. These will result in the glory of God, in the transformation of the divine will-to-good into human goodwill, and resultant peace on Earth.
Tôi viết ở đây không phải trong tinh thần cuồng tín hay chờ đợi ngày tái lâm; tôi không nói như một nhà thần học suy đoán hay một người xiển dương một phương diện của lối suy nghĩ tôn giáo chỉ dựa vào điều mình mong muốn. Tôi nói vì nhiều người biết rằng thời cơ đã chín muồi và rằng lời kêu cầu của những trái tim đơn sơ, trung tín đã thấu đến cảnh giới tinh thần cao nhất và đã khởi động những năng lượng và mãnh lực mà nay không thể ngăn lại. Tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại đau khổ ngày nay có âm lượng và âm thanh lớn đến mức—khi hợp nhất với minh triết và tri thức của Thánh đoàn tinh thần—nó đã làm phát sinh những hoạt động nhất định trong Nhà Cha. Những hoạt động này sẽ dẫn đến vinh quang của Thượng đế, đến sự chuyển đổi Ý Chí-hướng Thiện thiêng liêng thành thiện chí của con người, và kết quả là hòa bình trên Trái Đất.
A new chapter in the great book of spiritual living is about to be written; a new expansion of consciousness is an imminent happening; a fresh recognition of divine attentiveness is now possible to humanity and a revealing expectancy will prove the accuracy of the Biblical statement, “every eye shall see Him.” (Rev. 1.7.) The religious livingness or spiritual history of mankind can be [41] summarised for us by a series of recognitions—recognition of Those Who, down the ages, have constituted the Apostolic Succession, culminating for us in the great religious leaders who have come out among us since 700 B.C. and founded the great modern world faiths, and—above all else—in the Christ Himself Who embodied the perfection of God Immanent, plus awareness of God Transcendent; recognition of those major spiritual concepts of love, life and relationship which have hovered ever in the background of man’s thinking and which are now on the verge of right expression; recognition of the true brotherhood of man, based on the one divine life, working through the one soul and expressing itself through the one humanity; recognition, therefore, of relationship both to the divine life throughout the world and to mankind itself. It is this developing spiritual attitude which will lead to right human relations and eventual world peace.
Một chương mới trong cuốn sách lớn của đời sống tinh thần sắp được viết ra; một sự mở rộng tâm thức mới sắp xảy ra; một sự nhìn nhận mới mẻ về sự chú tâm thiêng liêng nay đã có thể đối với nhân loại và một niềm mong đợi đầy mặc khải sẽ chứng minh tính chính xác của lời Kinh Thánh, “mọi mắt sẽ thấy Ngài.” (Rev. 1.7.) Đời sống tôn giáo hay lịch sử tinh thần của nhân loại có thể được [41] tóm lược cho chúng ta bằng một chuỗi những sự nhìn nhận—sự nhìn nhận những Đấng, qua các thời đại, đã tạo thành Dòng Kế Thừa Tông Truyền, đạt đỉnh đối với chúng ta nơi các vị lãnh đạo tôn giáo lớn đã xuất hiện giữa chúng ta từ năm 700 T.C. và sáng lập các đức tin lớn hiện đại của thế giới, và—trên hết mọi sự—nơi chính Đức Christ, Đấng đã hiện thân sự hoàn hảo của Thượng đế Nội Tại, cộng với sự nhận biết về Thượng đế Siêu Việt; sự nhìn nhận những khái niệm tinh thần chủ yếu về bác ái, sự sống và tương quan vốn luôn lơ lửng ở hậu cảnh tư tưởng của con người và nay đang ở ngưỡng cửa của sự biểu đạt đúng đắn; sự nhìn nhận tình huynh đệ chân chính của con người, được đặt nền trên một sự sống thiêng liêng duy nhất, hoạt động qua một linh hồn duy nhất và biểu lộ qua một nhân loại duy nhất; do đó, sự nhìn nhận về tương quan vừa với sự sống thiêng liêng khắp thế giới vừa với chính nhân loại. Chính thái độ tinh thần đang phát triển này sẽ dẫn đến các mối tương quan đúng đắn giữa người với người và cuối cùng là hòa bình thế giới.
Today, another recognition is becoming possible. It is the recognition everywhere of the imminent return of Christ (if such a phrase can be true of someone Who has never left us!) and of the new spiritual opportunities which this event will make possible.
Ngày nay, một sự nhìn nhận khác đang trở nên khả hữu. Đó là sự nhìn nhận ở khắp nơi về sự trở lại cận kề của Đức Christ (nếu một cụm từ như vậy có thể đúng đối với Đấng chưa bao giờ rời bỏ chúng ta!) và về những cơ hội tinh thần mới mà biến cố này sẽ làm cho trở nên khả hữu.
The basis for this recognition lies in the deep-seated conviction, innate in the human consciousness, that some great Teacher, some Saviour, Revealer, Lawgiver or divine Representative must come forth from the world of spiritual realities, because of human need and human demand. Always down the centuries, at the hour of man’s greatest need and in response to his voiced demand, a divine Son of God has come forth and under many different names. Then the Christ came and apparently left us, with His work unfinished and His vision for mankind not yet consummated. For two thousand years it has seemed as if all His work had been blocked, frustrated, [42] and of no avail, for the growth of the churches during the centuries is no guarantee of the spiritual success at which He aimed. It needed more than theological interpretations and the numerical growth of the world religions (including Christianity and Buddhism) to prove His world mission successfully carried forward. It all seemed impossible, necessitating three conditions; under these a test of His work could be attempted; today these three conditions are proven facts. First, as we have seen, a general planetary condition which has unfortunately (owing to man’s selfishness) proved to be so catastrophic in nature that humanity has been forced to recognise the cause and source of the disaster; secondly, a spiritual awakening which would have its impulse in the deepest depths of man’s consciousness and such is the case today as a result of the World War (1914-1945); thirdly, a steadily mounting invocative cry, prayer or demand, directed toward high spiritual sources, no matter by what name such sources may be called.
Cơ sở cho sự nhìn nhận này nằm trong niềm xác tín ăn sâu, bẩm sinh trong tâm thức con người, rằng một Huấn sư vĩ đại nào đó, một Đấng Cứu Thế, Đấng Mặc Khải, Đấng Ban Luật hay Đại Diện thiêng liêng nào đó phải xuất hiện từ thế giới của các thực tại tinh thần, vì nhu cầu và lời kêu gọi của con người. Luôn luôn qua các thế kỷ, vào giờ phút nhu cầu lớn nhất của con người và để đáp lại lời kêu gọi được cất lên của y, một Con thiêng liêng của Thượng đế đã xuất hiện dưới nhiều danh xưng khác nhau. Rồi Đức Christ đến và dường như đã rời bỏ chúng ta, với công việc của Ngài chưa hoàn tất và linh ảnh của Ngài cho nhân loại chưa được thành tựu. Trong hai ngàn năm, dường như toàn bộ công việc của Ngài đã bị ngăn trở, làm thất bại, [42] và không có kết quả, vì sự phát triển của các giáo hội qua các thế kỷ không bảo đảm cho thành công tinh thần mà Ngài nhắm đến. Cần nhiều hơn những giải thích thần học và sự tăng trưởng về số lượng của các tôn giáo thế giới (bao gồm Cơ Đốc giáo và Phật giáo) mới có thể chứng minh sứ mệnh thế giới của Ngài đã được tiếp tục thành công. Tất cả dường như là bất khả, đòi hỏi ba điều kiện; dưới những điều kiện này, một sự thử nghiệm công việc của Ngài có thể được thực hiện; ngày nay ba điều kiện ấy đã là những sự kiện được chứng minh. Thứ nhất, như chúng ta đã thấy, một tình trạng hành tinh chung mà thật không may (do tính ích kỷ của con người) đã chứng tỏ có bản chất thảm họa đến mức nhân loại bị buộc phải nhìn nhận nguyên nhân và nguồn gốc của tai họa; thứ hai, một sự thức tỉnh tinh thần có xung lực từ những tầng sâu nhất của tâm thức con người và ngày nay đúng là như vậy do kết quả của Thế Chiến (1914-1945); thứ ba, một tiếng kêu khẩn cầu, lời cầu nguyện hay lời yêu cầu ngày càng tăng, hướng về các nguồn tinh thần cao cả, bất kể những nguồn ấy được gọi bằng tên gì.
Today, these three conditions have been fulfilled and humanity faces renewed opportunity. The disaster which has overtaken mankind is universal and widespread; no one has escaped and all men are involved in some way or another—physically, economically or socially. The spiritual awakening of men everywhere (within or without the world faiths, and largely outside of them) is general and complete and a turning to God is to be seen on every hand. Finally these two causes have aroused—as never before—the invocative cry of humanity; it is clearer, purer and more selfless than at any other time in human history because it is based on clearer thinking and a common distress. True religion is again emerging in the hearts of men in every land; this recognition of a divine hope and background may possibly take people back [43] into the church and into the world faiths, but it will most certainly take them back to God.
Ngày nay, ba điều kiện này đã được hoàn tất và nhân loại đang đối diện với cơ hội mới. Tai họa đã giáng xuống nhân loại là phổ quát và lan rộng; không ai thoát khỏi và mọi người đều bị liên lụy theo cách này hay cách khác—về thể xác, kinh tế hay xã hội. Sự thức tỉnh tinh thần của con người ở khắp nơi (trong hay ngoài các đức tin thế giới, và phần lớn ở ngoài chúng) là phổ biến và trọn vẹn, và ở khắp nơi đều có thể thấy sự quay về với Thượng đế. Cuối cùng, hai nguyên nhân này đã khơi dậy—chưa từng có trước đây—tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại; nó rõ ràng hơn, tinh khiết hơn và vô kỷ hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong lịch sử loài người vì nó dựa trên tư duy sáng tỏ hơn và một nỗi khổ chung. Tôn giáo chân chính đang lại xuất hiện trong trái tim con người ở mọi miền; sự nhìn nhận này về một hy vọng và hậu cảnh thiêng liêng có thể sẽ đưa con người trở lại [43] với giáo hội và với các đức tin thế giới, nhưng chắc chắn nhất nó sẽ đưa họ trở lại với Thượng đế.
Religion is the name, surely, which we give to the invocative appeal of humanity which leads to the evocative response of the Spirit of God. This Spirit works in every human heart and in all groups. It works also through the Spiritual Hierarchy of the planet. It impels the Head of the Hierarchy, the Christ, to take action and the action which He is taking will lead to His return with His disciples.
Tôn giáo chắc hẳn là tên gọi mà chúng ta dành cho lời kêu gọi khẩn cầu của nhân loại, lời kêu gọi dẫn đến sự đáp ứng gợi lên của Tinh thần của Thượng đế. Tinh thần này hoạt động trong mọi trái tim con người và trong mọi nhóm. Nó cũng hoạt động qua Thánh đoàn tinh thần của hành tinh. Nó thúc đẩy Đấng Đứng Đầu Thánh Đoàn, Đức Christ, hành động và hành động mà Ngài đang thực hiện sẽ dẫn đến sự trở lại của Ngài cùng với các đệ tử của Ngài.
The idea of the return of Christ is a most familiar one, and the concept of the Son of God returning in response to human need has its place in the teaching of the majority of the world faiths. Ever since He apparently departed to the sphere where the faithful have put Him, little groups of these people have reasoned themselves into the belief that on such and such a date He will come back, and ever their prophecies and expectancies have been doomed to failure. He has not come. Such people have been laughed at by the crowd and rebuked by the intelligent. Their eyes have not seen Him and there has been no tangible indication of His Presence. Today, thousands know that He will come; that plans for His coming are already set on foot, but they set no date or hour. The time is known only to the two or three, but “in such an hour as ye think not, He will come.” (Matt. XXIV.44.)
Ý tưởng về sự trở lại của Đức Christ là một ý tưởng hết sức quen thuộc, và khái niệm về Con của Thượng đế trở lại để đáp ứng nhu cầu của con người có vị trí của nó trong giáo huấn của đa số các đức tin thế giới. Kể từ khi Ngài dường như ra đi đến cảnh giới mà những người trung tín đã đặt Ngài vào đó, những nhóm nhỏ trong số họ đã tự suy luận để tin rằng vào ngày này hay ngày kia Ngài sẽ trở lại, và những lời tiên đoán cùng mong đợi của họ luôn luôn bị định sẵn là thất bại. Ngài đã không đến. Những người như thế đã bị đám đông cười nhạo và bị người trí thức quở trách. Mắt họ đã không thấy Ngài và không có dấu hiệu hữu hình nào về Hiện Diện của Ngài. Ngày nay, hàng ngàn người biết rằng Ngài sẽ đến; rằng các kế hoạch cho sự quang lâm của Ngài đã được khởi sự, nhưng họ không ấn định ngày hay giờ. Thời điểm chỉ được biết bởi hai hay ba người, nhưng “vào giờ các ngươi không ngờ, Ngài sẽ đến.” (Matt. XXIV.44.)
A truth hard for the orthodox thinker of any faith to accept is the fact that Christ cannot return because He has always been here upon our Earth, watching over the spiritual destiny of humanity; He has never left us but, in physical body and securely concealed (though not hidden), He has guided the affairs of the Spiritual Hierarchy, of His disciples and workers Who are unitedly pledged with Him to Earth service. He can only re-appear. [44] It is a spiritual fact that those who have passed from the cave of the tomb into the fullness of the resurrection life can be seen and at the same time evade the vision of the believer. Seeing and recognition are two very different things, and one of the great recognitions of mankind in the near future is the recognition that always He has been with us, sharing with us the familiar usefulness and peculiar characteristics of our civilisation and its many gifts to man.
Một chân lý khó cho nhà tư tưởng chính thống của bất kỳ đức tin nào chấp nhận là sự kiện rằng Đức Christ không thể trở lại vì Ngài luôn luôn ở đây trên Trái Đất của chúng ta, trông nom vận mệnh tinh thần của nhân loại; Ngài chưa bao giờ rời bỏ chúng ta mà, trong thể xác và được che giấu an toàn (dù không ẩn kín), Ngài đã hướng dẫn các công việc của Thánh đoàn tinh thần, của các đệ tử và những người hoạt động của Ngài, những người cùng nhau cam kết với Ngài trong việc phụng sự Trái Đất. Ngài chỉ có thể tái xuất hiện. [44] Đó là một sự kiện tinh thần rằng những ai đã đi từ hang mộ vào sự viên mãn của đời sống phục sinh có thể được nhìn thấy mà đồng thời vẫn tránh khỏi tầm nhìn của người tín đồ. Sự thấy và sự nhìn nhận là hai điều rất khác nhau, và một trong những sự nhìn nhận lớn của nhân loại trong tương lai gần là sự nhìn nhận rằng Ngài luôn luôn ở cùng chúng ta, chia sẻ với chúng ta tính hữu dụng quen thuộc và những đặc điểm đặc thù của nền văn minh chúng ta cùng nhiều tặng phẩm của nó cho con người.
The early signs of His approach with His disciples can already be discerned by those who note and rightly interpret the signs of the times. There is (among these signs) the coming together spiritually of those who love their fellowmen. This is in reality the organising of the outer physical army of the Lord—an army which has no weapons but those of love, of right speech and right human relations. This unknown organisation has proceeded with phenomenal speed during the aftermath of war, because humanity is sick of hate and controversy.
Những dấu hiệu đầu tiên về sự tiếp cận của Ngài cùng các đệ tử của Ngài đã có thể được phân biện bởi những ai lưu ý và giải thích đúng các dấu hiệu của thời đại. Có một dấu hiệu (trong số những dấu hiệu ấy) là sự quy tụ về mặt tinh thần của những người yêu thương đồng loại của mình. Thực ra đây là sự tổ chức đạo quân hồng trần bên ngoài của Chúa—một đạo quân không có vũ khí nào ngoài những vũ khí của bác ái, lời nói đúng đắn và các mối tương quan đúng đắn giữa người với người. Tổ chức vô danh này đã tiến triển với tốc độ phi thường trong thời kỳ hậu chiến, vì nhân loại đã chán ghét hận thù và tranh chấp.
The general staff of the Christ is already active in the form of the New Group of World Servers; they are as potent a body of forerunners as has ever preceded a great world Figure into the arena of mankind’s living. Their work and influence is already seen and felt in every land, and nothing can destroy that which they have accomplished. The spiritual and organising effect of expressed and voiced invocation has been also attempted since 1935, and the energy of the invocative cry of humanity has been directed into those channels which reach from Earth to that High Place where dwells the Christ. From there, it has been transmitted to those still higher spheres where the attention of the Lord of the World, the Ancient of Days, the Father of all, plus the Creative Energies and Living Beings Who dwell there with Him, [45] can be focussed on humanity and those steps can be taken which will embody more rapidly the Purposes of God.
Bộ tham mưu của Đức Christ đã hoạt động dưới hình thức Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian; họ là một tập thể tiền phong mạnh mẽ như bất kỳ tập thể nào từng đi trước một Nhân Vật thế giới vĩ đại vào đấu trường của đời sống nhân loại. Công việc và ảnh hưởng của họ đã được thấy và cảm nhận ở mọi miền, và không gì có thể phá hủy điều họ đã hoàn thành. Hiệu quả tinh thần và tổ chức của sự khẩn cầu được biểu đạt và cất lên cũng đã được cố gắng thực hiện từ năm 1935, và năng lượng của tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại đã được hướng vào những kênh dẫn từ Trái Đất đến Nơi Chốn Cao Cả nơi Đức Christ cư ngụ. Từ đó, nó đã được chuyển đến những cảnh giới còn cao hơn, nơi sự chú tâm của Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng Thái Cổ, Cha của muôn loài, cùng với các Năng Lượng Sáng Tạo và các Sinh Mệnh đang cư ngụ ở đó với Ngài, [45] có thể được tập trung vào nhân loại và những bước đi có thể được thực hiện để hiện thân nhanh hơn các Thiên Ý của Thượng đế.
For the first time in human history, the demand of the people of the Earth is so potent and so in line with divine direction, in time and space, that the end is inevitably sure; the looked-for spiritual Representative must come forth; this time He will not come alone but will be accompanied by Those Whose lives and words will evoke recognition in every department of human thinking. The symbolic prophecies found in all the world Scriptures anent this imminent event will prove their veracity; their symbolism will nevertheless elicit re-interpretation; circumstances and happenings will not necessarily be exactly as the Scriptures would appear to indicate. For instance, He will come indeed in the “clouds of the air” (Matt. XXVI.64), as the Christian Scriptures say, but of what great interest is that when millions come and go in the clouds, each hour of the day and of the night? I mention this as one of the outstanding prophecies and one of the most familiar; it is, however, one which means little in our modern civilisation. The fact of importance is that He will come.
Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, đòi hỏi của người dân trên Trái Đất mạnh mẽ đến thế và phù hợp với định hướng thiêng liêng trong thời gian và không gian đến thế, đến nỗi kết quả tất yếu là chắc chắn; Đấng Đại Diện tinh thần được mong đợi phải xuất hiện; lần này Ngài sẽ không đến một mình mà sẽ đi cùng với Những Đấng mà đời sống và lời nói của Các Ngài sẽ gợi lên sự nhận biết trong mọi lĩnh vực của tư tưởng nhân loại. Những lời tiên tri biểu tượng được tìm thấy trong tất cả các Kinh điển thế giới liên quan đến biến cố sắp xảy ra này sẽ chứng minh tính chân thực của chúng; tuy nhiên, tính biểu tượng của chúng sẽ đòi hỏi được diễn giải lại; hoàn cảnh và biến cố sẽ không nhất thiết chính xác như Kinh điển dường như chỉ ra. Thí dụ, quả thật Ngài sẽ đến trong “mây trời” (Matt. XXVI.64), như Kinh điển Cơ Đốc giáo nói, nhưng điều đó còn có gì đáng quan tâm lớn lao khi hàng triệu người đi và đến trong mây, mỗi giờ của ngày và đêm? Tôi nêu điều này như một trong những lời tiên tri nổi bật và quen thuộc nhất; tuy nhiên, đó lại là điều có ít ý nghĩa trong nền văn minh hiện đại của chúng ta. Sự kiện quan trọng là Ngài sẽ đến.
The Wesak Festival has been held down the centuries in the well-known valley in the Himalayas (if the faithful would only believe it) in order:
Lễ Hội Wesak đã được cử hành qua nhiều thế kỷ trong thung lũng quen thuộc ở Hy Mã Lạp Sơn (nếu những người trung tín chịu tin điều đó) nhằm:
1. To substantiate the fact of Christ’s physical existence among us ever since His so-called departure.
1. Xác chứng sự kiện về sự hiện hữu thể xác của Đức Christ giữa chúng ta kể từ sau cuộc ra đi được gọi như thế của Ngài.
2. To prove (on the physical plane) the factual solidarity of the Eastern and Western approaches to God. Both the Christ and the Buddha are present.
2. Chứng minh (trên cõi hồng trần) sự hợp nhất thực tế của hai cách tiếp cận Thượng đế từ phương Đông và phương Tây. Cả Đức Christ lẫn Đức Phật đều hiện diện.
3. To form a rallying-point and a meeting-place for those who annually—in synthesis and symbolically—link up and represent the Father’s House, the Kingdom of God and Humanity. [46]
3. Tạo thành một điểm quy tụ và một nơi gặp gỡ cho những ai hằng năm—trong tổng hợp và một cách biểu tượng—liên kết và đại diện cho Nhà của Cha, Thiên Giới và Nhân loại. [46]
4. To demonstrate the nature of the work of Christ as the great and chosen Intermediary, standing as the Representative of the Spiritual Hierarchy and as the Leader of the New Group of World Servers. In His Person, He voices their demand for the recognition of the factual existence of the Kingdom of God here and now.
4. Minh chứng bản chất công việc của Đức Christ với tư cách là Đấng Trung Gian vĩ đại và được tuyển chọn, đứng như Đấng Đại Diện của Thánh đoàn tinh thần và như Vị Lãnh Đạo của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Trong chính Con Người của Ngài, Ngài cất lên đòi hỏi của họ về sự công nhận sự hiện hữu thực tế của Thiên Giới ở đây và ngay bây giờ.
Perhaps one of the major messages for all of us who read these words is this great truth and fact of the physical Presence on Earth at this time of the Christ, of His group of disciples and executives, of Their representative activities on behalf of mankind and of Their close relationship. This relationship comes out at certain of the great spiritual festivals where the relationship demonstrated includes not only the Kingdom of God but also the Father and the Father’s Home. There is the Festival of Easter, the Festival of the Buddha Who in physical Presence expresses the spiritual solidarity of our planet, and the Festival in June, peculiarly the Festival of the Christ, when He—as leader of the New Group of World Servers—employs the new Invocation on behalf of all men of goodwill in all lands; at the same time, He gathers up the inchoate and unexpressed demands of those masses who seek a new and better way of life. They want love in daily living, right human relations and an understanding of the underlying Plan.
Có lẽ một trong những thông điệp lớn lao dành cho tất cả chúng ta, những người đọc các lời này, là chân lý và sự kiện lớn lao này về Sự Hiện Diện thể xác trên Trái Đất vào lúc này của Đức Christ, của nhóm đệ tử và các vị điều hành của Ngài, của các hoạt động đại diện của Các Ngài thay mặt nhân loại và của mối liên hệ mật thiết của Các Ngài. Mối liên hệ này được biểu lộ tại một số đại lễ tinh thần, nơi mối liên hệ được minh chứng không chỉ bao gồm Thiên Giới mà còn cả Đức Cha và Nhà của Cha. Có Lễ Phục Sinh, Lễ của Đức Phật, Đấng trong Sự Hiện Diện thể xác biểu lộ sự hợp nhất tinh thần của hành tinh chúng ta, và Lễ vào tháng Sáu, đặc biệt là Lễ của Đức Christ, khi Ngài—với tư cách là vị lãnh đạo của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian—sử dụng Khấn Nguyện mới thay mặt cho tất cả những người thiện chí ở mọi xứ sở; đồng thời, Ngài thu nhận những đòi hỏi còn phôi thai và chưa được diễn đạt của những quần chúng đang tìm kiếm một lối sống mới và tốt đẹp hơn. Họ muốn có tình thương trong đời sống hằng ngày, những tương quan nhân loại đúng đắn và một sự thấu hiểu về Thiên Cơ nền tảng.
It is these physical happenings which are of moment and not the vague hopes and promises of the theological faiths. It is the physical Presence upon our planet of such recognised spiritual figures as the Lord of the World, the Ancient of Days; the seven Spirits Who are before the throne of God; the Buddha, the spiritual leader of the East, and the Christ, the spiritual leader of the West—all of Whom are brought at this climaxing time to our attention. The vague belief in Their existence, the dreamy [47] speculations as to Their work and Their interest in human welfare, and the unconvinced, yet hopeful, wishful thinking of believers (and also unbelievers), will soon give place to certain knowledge, to visual recognition, to provable signs of executive work and to the reorganisation (by men of unusual potency) of the political, religious, economic and social life of humanity.
Chính những sự kiện thể chất này mới là điều quan trọng, chứ không phải những hy vọng và lời hứa mơ hồ của các tín ngưỡng thần học. Điều được nhấn mạnh vào lúc cao điểm này là Sự Hiện Diện thể xác trên hành tinh chúng ta của những Nhân Vật tinh thần đã được công nhận như Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng Thái Cổ; Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai của Thượng đế; Đức Phật, vị lãnh đạo tinh thần của phương Đông, và Đức Christ, vị lãnh đạo tinh thần của phương Tây—tất cả Các Ngài. Niềm tin mơ hồ vào sự hiện hữu của Các Ngài, những suy đoán mộng tưởng [47] về công việc của Các Ngài và sự quan tâm của Các Ngài đối với phúc lợi nhân loại, cùng lối suy nghĩ mong ước nhưng chưa xác tín của những người tin (và cả những người không tin), chẳng bao lâu nữa sẽ nhường chỗ cho tri thức chắc chắn, cho sự nhận biết bằng mắt thấy, cho những dấu hiệu có thể chứng minh được của công việc điều hành và cho sự tái tổ chức (do những người có mãnh lực khác thường thực hiện) đời sống chính trị, tôn giáo, kinh tế và xã hội của nhân loại.
All this will not come as the result of some proclamation or some stupendous planetary event which will force human beings everywhere to say: “Lo: He is there! Lo: Here are the signs of His divinity!” for that would evoke only antagonism and laughter, resistance or fanatical credulity.
Tất cả điều này sẽ không đến như kết quả của một lời tuyên bố nào đó hay một biến cố hành tinh phi thường nào đó buộc con người ở khắp nơi phải nói: “Kìa: Ngài ở đó! Kìa: Đây là những dấu hiệu của thiên tính của Ngài!” vì điều đó chỉ gợi lên sự đối kháng và chế giễu, sự kháng cự hoặc lòng cả tin cuồng tín.
It will come as a recognition of potency in leadership, through dynamic but logical changes in world affairs, and through action taken by the masses of the people from the depths of their own consciousness.
Nó sẽ đến như một sự công nhận quyền năng trong lãnh đạo, qua những thay đổi năng động nhưng hợp lý trong các công việc thế giới, và qua hành động do quần chúng nhân dân thực hiện từ tận đáy tâm thức của chính họ.
Many years ago, I indicated that the Christ would come in three ways, or rather, that the fact of His Presence could be proved in three distinctive phases.
Nhiều năm trước, tôi đã chỉ ra rằng Đức Christ sẽ đến theo ba cách, hay đúng hơn, rằng sự kiện về Sự Hiện Diện của Ngài có thể được chứng minh trong ba giai đoạn phân biệt.
It was pointed out then that the first move which the Christ would make would be the stimulation of the spiritual consciousness in man, the evocation of humanity’s spiritual demands on a large scale and the nurturing—on a worldwide scale—of the Christ consciousness in the human heart. This has already been done and with most effective results. Of the factual nature of this process, the vociferous demands of men of goodwill, of welfare workers and of those pledged to international cooperation, to the relief of the world distress and to the establishment of right human relations, are the undeniable expression. That phase of the preparatory work which is indicative of His coming has now reached a stage where nothing can arrest its progress or slow down its momentum. In [48] spite of appearances, this uprising of the Christ consciousness has been successful and what may appear as reverse activity is of no importance in the long run, but is only of a temporary nature.
Khi ấy đã được nêu rõ rằng bước đi đầu tiên mà Đức Christ sẽ thực hiện là kích thích tâm thức tinh thần trong con người, gợi lên những đòi hỏi tinh thần của nhân loại trên quy mô lớn và nuôi dưỡng—trên quy mô toàn cầu—tâm thức Christ trong trái tim con người. Điều này đã được thực hiện rồi và với những kết quả rất hữu hiệu. Bản chất thực tế của tiến trình này được biểu lộ không thể phủ nhận qua những đòi hỏi mạnh mẽ của những người thiện chí, của những người hoạt động vì phúc lợi và của những ai đã cam kết với sự hợp tác quốc tế, với việc làm vơi nỗi khốn khổ của thế giới và với việc thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn. Giai đoạn công việc chuẩn bị này, vốn là dấu hiệu cho sự đến của Ngài, nay đã đạt đến một mức mà không gì có thể ngăn chặn sự tiến triển của nó hay làm chậm đà xung lực của nó. Mặc cho [48] bề ngoài, sự trỗi dậy này của tâm thức Christ đã thành công, và điều có thể dường như là hoạt động thoái lui thì về lâu dài không quan trọng, mà chỉ có tính tạm thời.
The second indicated move of the Hierarchy would be the impressing of the minds of enlightened men everywhere by spiritual ideas embodying the new truths, by the “descent” (if I may so call it) of the new concepts which will govern human living and by the overshadowing of all world disciples and the New Group of World Servers by the Christ Himself. This planned move of the Hierarchy is progressing well; men and women everywhere and in every department of life are enunciating those new truths which should in the future guide human living; they are building those new organisations, movements and groups—large or small—which will familiarise the mass of men with the reality of the need and the mode of meeting it. This they are doing because they are driven thereto by the warmth of their hearts and by their loving response to human distress; without formulating it thus to themselves, they are, nevertheless, working to bring into visibility the Kingdom of God on Earth. No denial of these facts is possible, in view of the multiplicity of organisations, books and speeches.
Bước đi thứ hai đã được chỉ ra của Thánh đoàn sẽ là gây ấn tượng lên trí tuệ của những người giác ngộ ở khắp nơi bằng những ý tưởng tinh thần hàm chứa các chân lý mới, bằng “sự giáng xuống” (nếu tôi có thể gọi như vậy) của những khái niệm mới sẽ chi phối đời sống con người, và bằng sự phủ bóng của chính Đức Christ lên tất cả các đệ tử thế giới và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Bước đi có kế hoạch này của Thánh đoàn đang tiến triển tốt đẹp; những người nam và nữ ở khắp nơi và trong mọi lĩnh vực của đời sống đang tuyên xướng những chân lý mới ấy, những chân lý trong tương lai sẽ hướng dẫn đời sống con người; họ đang xây dựng những tổ chức, phong trào và nhóm mới—lớn hay nhỏ—những tổ chức sẽ làm cho quần chúng quen thuộc với thực tại của nhu cầu và phương thức đáp ứng nhu cầu ấy. Họ làm điều này vì được thúc đẩy bởi sự ấm áp của trái tim họ và bởi sự đáp ứng đầy bác ái của họ trước nỗi khổ của nhân loại; dù không tự diễn đạt điều đó với chính mình như thế, tuy nhiên họ vẫn đang làm việc để đưa Thiên Giới trên Trái Đất vào tầm thấy được. Không thể phủ nhận các sự kiện này, xét đến vô số tổ chức, sách vở và bài diễn thuyết.
Thirdly we are told that Christ might come in Person and walk among men as He did before. This has not yet taken place but plans are being laid which will enable Him to do so. Those plans do not involve the birth of some nice child in some nice home on Earth; they will not produce the wild claims and the credulous recognition of the well-meaning and the unintelligent as is so frequently the case today, nor will someone appear and say: “This is the Christ. He is here or He is there.” I would point out to you, however, that the widespread appearance [49] of such tales and claims, though undesirable, misleading and wrong, nevertheless demonstrates human expectancy of the imminence of His coming. Belief in His coming is basic in the human consciousness. How He will come and in what manner is not yet stated. The exact moment has not yet arrived nor has the method of His appearance been determined. The factual nature of the two earlier and preparatory moves, already made by the Hierarchy under His direction, are the guarantee that He will come and that when He does, mankind will be ready.
Thứ ba, chúng ta được cho biết rằng Đức Christ có thể đích thân đến và đi lại giữa loài người như Ngài đã từng làm trước đây. Điều này vẫn chưa xảy ra nhưng các kế hoạch đang được đặt ra để giúp Ngài có thể làm như vậy. Những kế hoạch ấy không liên quan đến việc sinh ra một đứa trẻ dễ thương nào đó trong một mái nhà dễ thương nào đó trên Trái Đất; chúng sẽ không tạo ra những lời tuyên bố cuồng nhiệt và sự công nhận cả tin của những người thiện ý nhưng thiếu trí tuệ như thường xảy ra ngày nay, cũng sẽ không có ai xuất hiện và nói: “Đây là Đức Christ. Ngài ở đây hay Ngài ở kia.” Tuy nhiên, tôi muốn chỉ ra với các bạn rằng sự xuất hiện lan rộng [49] của những câu chuyện và lời tuyên bố như thế, dù không đáng mong muốn, gây lầm lạc và sai lầm, vẫn chứng tỏ sự mong đợi của nhân loại về tính cận kề của sự đến của Ngài. Niềm tin vào sự đến của Ngài là nền tảng trong tâm thức nhân loại. Ngài sẽ đến như thế nào và theo cách nào thì vẫn chưa được nói ra. Thời điểm chính xác vẫn chưa đến và phương pháp xuất hiện của Ngài vẫn chưa được quyết định. Bản chất thực tế của hai bước đi chuẩn bị trước đó, vốn đã được Thánh đoàn thực hiện dưới sự chỉ đạo của Ngài, là bảo chứng rằng Ngài sẽ đến và rằng khi Ngài đến, nhân loại sẽ sẵn sàng.
Let us summarise certain aspects of the work He set in motion two thousand years ago, because they hold the clue to His future work. Some of it is well known to you, for it has been emphasised by the world faiths and particularly by teachers of the Christian faith. But all of them have made His work appear difficult for man to grasp, and the undue emphasis laid upon His divinity (an emphasis which He Himself never made) has made it appear that He and He only and no one else could possibly do the same works. Theologians have forgotten that He Himself stated that “greater things shall ye do, because I go unto my Father.” (John XIV.12.) He here indicates that this passing to the Father’s House would result in such an inflow of spiritual strength, insight and creative accomplishment for man, that their deeds would surpass His; because of the distortion of His teaching and its remote relation to man, we have not yet done those “greater things.” Some day, we assuredly will and—along certain lines—we already have. Let me relate some of the things He did which we can do, and which He will aid.
Chúng ta hãy tóm lược một số phương diện của công việc mà Ngài đã khởi xướng cách đây hai ngàn năm, vì chúng nắm giữ đầu mối cho công việc tương lai của Ngài. Một phần trong đó các bạn đã biết rõ, vì đã được các tín ngưỡng thế giới và đặc biệt là những người giảng dạy đức tin Cơ Đốc nhấn mạnh. Nhưng tất cả họ đã làm cho công việc của Ngài dường như khó để con người nắm bắt, và sự nhấn mạnh quá mức vào thiên tính của Ngài (một sự nhấn mạnh mà chính Ngài chưa bao giờ thực hiện) đã khiến có vẻ như chỉ riêng Ngài và không ai khác có thể làm được những công việc ấy. Các nhà thần học đã quên rằng chính Ngài đã nói: “Các ngươi sẽ làm những việc lớn hơn nữa, vì Ta đi về cùng Cha Ta.” (John XIV.12.) Ở đây Ngài chỉ ra rằng việc đi về Nhà của Cha này sẽ dẫn đến một sự tuôn đổ mãnh lực tinh thần, linh thị và thành tựu sáng tạo cho con người đến mức các việc làm của họ sẽ vượt hơn việc làm của Ngài; vì giáo huấn của Ngài đã bị bóp méo và vì mối liên hệ xa cách của nó với con người, chúng ta vẫn chưa làm được những “việc lớn hơn” ấy. Một ngày nào đó, chắc chắn chúng ta sẽ làm được và—trên một số phương diện—chúng ta đã làm rồi. Hãy để tôi kể ra một số điều Ngài đã làm mà chúng ta có thể làm, và Ngài sẽ trợ giúp.
1. For the first time in human history, the love of God was embodied in a man and Christ inaugurated the era of love. That expression of divine love is still in the [50] making; the world is not yet full of love and few there are who understand the true meaning of the word. But—speaking symbolically—when the United Nations has emerged into factual and actual power, the welfare of the world will then be assured. What is that welfare but love in action? What is international cooperation but love on a world scale? Those are the things which the love of God in Christ expressed and those are the things which we are working here today to bring into being. We are attempting to do it on a vast scale and this in spite of opposition—an opposition which can only temporarily succeed, such is the potency of the awakened spirit of man. These are the things which the Hierarchy, in its already successful procedures, is aiding and will continue to aid.
1. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, tình thương của Thượng đế đã được thể hiện trong một con người và Đức Christ đã khai mở kỷ nguyên của tình thương. Sự biểu lộ tình thương thiêng liêng ấy vẫn còn đang [50] được hình thành; thế giới vẫn chưa tràn đầy tình thương và có rất ít người hiểu được ý nghĩa chân thực của từ này. Nhưng—nói một cách biểu tượng—khi Liên Hiệp Quốc vươn lên thành quyền lực thực tế và hiện thực, thì phúc lợi của thế giới sẽ được bảo đảm. Phúc lợi ấy là gì nếu không phải là tình thương trong hành động? Hợp tác quốc tế là gì nếu không phải là tình thương trên quy mô thế giới? Đó là những điều mà tình thương của Thượng đế trong Đức Christ đã biểu lộ và đó là những điều mà ngày nay chúng ta đang làm việc để đưa vào hiện hữu. Chúng ta đang cố gắng thực hiện điều đó trên một quy mô rộng lớn, bất chấp sự chống đối—một sự chống đối chỉ có thể tạm thời thành công, vì tinh thần đã thức tỉnh của con người có mãnh lực như thế. Đó là những điều mà Thánh đoàn, trong các thủ tục đã thành công của mình, đang trợ giúp và sẽ tiếp tục trợ giúp.
2. Christ taught also that the Kingdom of God was on Earth and told us to seek that Kingdom first and let all things be of secondary importance for its sake. That Kingdom has ever been with us, composed of all those who down the ages, have sought spiritual goals, liberated themselves from the limitations of the physical body, emotional controls and the obstructive mind. Its citizens are those who today (unknown to the majority) live in physical bodies, work for the welfare of humanity, use love instead of emotion as their general technique, and compose that great body of “illumined Minds” which guides the destiny of the world. The Kingdom of God is not something which will descend on Earth when man is good enough! It is something which is functioning efficiently today and demanding recognition. It is an organised body which is already evoking recognition from those people who do seek first the Kingdom of God, and discover thereby that the Kingdom they seek is already here. Christ and His disciples are known by many to be [51] physically present on Earth and the Kingdom which They rule, with its laws and modes of activity, is familiar to many and has been throughout the centuries.
2. Đức Christ cũng dạy rằng Thiên Giới ở trên Trái Đất và bảo chúng ta hãy tìm kiếm Thiên Giới ấy trước hết, còn mọi điều khác hãy để ở tầm quan trọng thứ yếu vì lợi ích của nó. Thiên Giới ấy luôn ở cùng chúng ta, gồm tất cả những ai qua các thời đại đã tìm kiếm các mục tiêu tinh thần, tự giải thoát mình khỏi những giới hạn của thể xác, những sự kiểm soát của cảm xúc và thể trí gây cản trở. Công dân của giới ấy là những người ngày nay (không được đa số biết đến) đang sống trong các thể xác, làm việc vì phúc lợi của nhân loại, dùng bác ái thay cho cảm xúc như kỹ thuật chung của họ, và hợp thành tập thể vĩ đại gồm những “Trí Tuệ được Soi Sáng” đang hướng dẫn vận mệnh thế giới. Thiên Giới không phải là điều gì đó sẽ giáng xuống Trái Đất khi con người đủ tốt! Đó là điều gì đó đang hoạt động hữu hiệu ngày nay và đang đòi hỏi được công nhận. Đó là một cơ cấu có tổ chức đang gợi lên sự công nhận từ những người thật sự tìm kiếm Thiên Giới trước hết, và nhờ đó khám phá rằng Thiên Giới mà họ tìm kiếm đã ở đây rồi. Đức Christ và các đệ tử của Ngài được nhiều người biết là đang [51] hiện diện thể xác trên Trái Đất, và Thiên Giới mà Các Ngài cai quản, cùng các quy luật và phương thức hoạt động của nó, đã quen thuộc với nhiều người và đã như vậy suốt nhiều thế kỷ.
Christ is the world Healer and Saviour. He works because He is the embodied soul of all Reality. He works today, as He worked in Palestine two thousand years ago, through groups. There He worked through the three beloved disciples, through the twelve apostles, through the chosen seventy, and the interested five hundred.... Now He works through His Masters and Their groups, and thereby greatly intensifies His efforts. He can and will work through all groups just insofar as they fit themselves for planned service, for the distribution of love, and come into conscious alignment with the great potency of the inner groups.
Đức Christ là Đấng Chữa Lành và Cứu Rỗi của thế giới. Ngài hoạt động vì Ngài là linh hồn nhập thể của toàn bộ Thực Tại. Ngài hoạt động ngày nay, cũng như Ngài đã hoạt động ở Palestine hai ngàn năm trước, thông qua các nhóm. Khi ấy Ngài hoạt động qua ba đệ tử yêu dấu, qua mười hai tông đồ, qua bảy mươi người được chọn, và qua năm trăm người quan tâm.... Giờ đây Ngài hoạt động qua các Chân sư của Ngài và các nhóm của Các Ngài, và nhờ đó tăng cường rất lớn các nỗ lực của Ngài. Ngài có thể và sẽ hoạt động qua mọi nhóm trong chừng mực họ tự làm cho mình thích hợp với sự phụng sự có kế hoạch, với việc phân phối tình thương, và đi vào sự chỉnh hợp có ý thức với mãnh lực lớn lao của các nhóm bên trong.
Those groups who have always proclaimed the physical Presence of the Christ have so distorted the teaching by dogmatic assertions on unimportant details and by ridiculous claims that they have evoked little recognition of the underlying truth, nor have they portrayed a kingdom which is attractive. That Kingdom exists but is not a place of disciplines or golden harps, peopled by unintelligent fanatics, but a field of service and a place where every man has full scope for the exercise of his divinity in human service.
Những nhóm luôn luôn công bố Sự Hiện Diện thể xác của Đức Christ đã bóp méo giáo huấn đến mức, bằng những khẳng định giáo điều về các chi tiết không quan trọng và bằng những tuyên bố lố bịch, họ chỉ gợi lên rất ít sự công nhận chân lý nền tảng, cũng không mô tả một vương quốc hấp dẫn. Vương quốc ấy có tồn tại nhưng không phải là một nơi của kỷ luật hay đàn hạc vàng, đầy những kẻ cuồng tín thiếu trí tuệ, mà là một cánh đồng phụng sự và một nơi mà mỗi người đều có đầy đủ phạm vi để thực thi thiên tính của mình trong sự phụng sự nhân loại.
3. At the Transfiguration, Christ revealed the glory which is innate in all men. The triple lower nature—physical, emotional and mental—is there shown as prostrate before the glory which was revealed. In that moment, wherein Christ Immanent was in incarnation, wherein humanity was represented by the three apostles, a voice came from the Father’s Home in recognition of the revealed divinity and the Sonship of the Transfigured Christ. On this innate divinity, upon this recognised [52] Sonship, is the brotherhood of all men based—one life, one glory which shall be revealed, and one divine relationship. Today, on a large scale (even when by-passing the implications of divinity), the glory of man and his fundamental relationships are already a fact in the human consciousness. Accompanying those characteristics which as yet remain deplorable and which would appear to negate all claims to divinity, is the wonder of man’s achievement, of his triumph over nature. The glory of scientific attainment and the magnificent evidence of creative art—both modern and ancient—leave no room to question man’s divinity. Here then are the “greater things” of which Christ spoke and here again is the triumph of the Christ within the human heart.
3. Trong cuộc Biến hình, Đức Christ đã mặc khải vinh quang vốn bẩm sinh trong mọi người. Bản chất thấp tam phân—hồng trần, cảm xúc và trí tuệ—được cho thấy là phủ phục trước vinh quang đã được mặc khải. Trong khoảnh khắc ấy, khi Đức Christ Nội Tại đang lâm phàm, khi nhân loại được đại diện bởi ba tông đồ, một tiếng nói từ Nhà của Cha vang ra để công nhận thiên tính được mặc khải và tư cách Con của Đức Christ Biến hình. Trên thiên tính bẩm sinh này, trên tư cách [52] Con được công nhận này, tình huynh đệ của toàn thể nhân loại được đặt nền—một sự sống, một vinh quang sẽ được mặc khải, và một mối liên hệ thiêng liêng. Ngày nay, trên quy mô lớn (ngay cả khi bỏ qua các hàm ý của thiên tính), vinh quang của con người và các mối liên hệ căn bản của y đã là một sự kiện trong tâm thức nhân loại. Đi kèm với những đặc tính vẫn còn đáng buồn và dường như phủ nhận mọi tuyên bố về thiên tính, là điều kỳ diệu trong thành tựu của con người, trong chiến thắng của y trước thiên nhiên. Vinh quang của thành tựu khoa học và bằng chứng tráng lệ của nghệ thuật sáng tạo—cả hiện đại lẫn cổ xưa—không để lại chỗ nào cho việc nghi ngờ thiên tính của con người. Ở đây, vậy, là những “việc lớn hơn” mà Đức Christ đã nói đến, và ở đây một lần nữa là chiến thắng của Đức Christ trong trái tim con người.
Why this triumph of the Christ consciousness must always be spoken of in terms of religion, of church-going and of orthodox belief is one of the incredible triumphs of the forces of evil. To be a citizen of the Kingdom of God does not mean that one must necessarily be a member of some one of the orthodox churches. The divine Christ in the human heart can be expressed in many different departments of human living—in politics, in the arts, in economic expression and in true social living, in science and in religion. It might be wise here to remember that the only time it is recorded that Christ (as an adult) visited the Temple of the Jews, He created a disturbance! Humanity is passing from glory to glory and, in the long panorama of history, this is strikingly observable. That glory is today revealed in every department of human activity, and the Transfiguration of those who are on the crest of the human wave of civilisation is very close at hand.
Vì sao chiến thắng này của tâm thức Christ luôn luôn phải được nói đến bằng ngôn ngữ của tôn giáo, của việc đi nhà thờ và của niềm tin chính thống, là một trong những chiến thắng khó tin của các mãnh lực ác. Là công dân của Thiên Giới không có nghĩa là nhất thiết phải là thành viên của một trong các giáo hội chính thống. Đức Christ thiêng liêng trong trái tim con người có thể được biểu lộ trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống nhân loại—trong chính trị, trong nghệ thuật, trong biểu hiện kinh tế và trong đời sống xã hội chân chính, trong khoa học và trong tôn giáo. Có lẽ ở đây nên nhớ rằng lần duy nhất được ghi lại khi Đức Christ (với tư cách người trưởng thành) viếng Đền Thờ của người Do Thái, Ngài đã gây ra một sự xáo trộn! Nhân loại đang đi từ vinh quang này sang vinh quang khác và, trong toàn cảnh dài của lịch sử, điều này có thể thấy rõ một cách nổi bật. Vinh quang ấy ngày nay được mặc khải trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người, và cuộc Biến hình của những ai đang ở trên đỉnh làn sóng văn minh nhân loại đã rất gần kề.
4. Finally, in the triumph of the Crucifixion or (as it is more accurately called in the East) the Great Renunciation, [53] Christ, for the first time, anchored on Earth a tenuous thread of the divine Will as it issued from the Father’s House (Shamballa), passed into the understanding custody of the Kingdom of God and, through the medium of the Christ, was brought to the attention of mankind. Through the instrumentality of certain great Sons of God, the three divine aspects or characteristics of the divine Trinity—will, love and intelligence—have become a part of human thinking and aspiration. Christians are apt to forget that the crisis in the final hours of the Christ was not that spent upon the Cross, but those spent in the Garden of Gethsemane. Then His will—in agony and almost despair—was submerged in that of the Father. “Father,” He said, “not My will but Thine be done.” (Luke XXII.42.)
4. Sau cùng, trong chiến thắng của cuộc Đóng Đinh hay (như ở phương Đông gọi chính xác hơn) Sự Từ Bỏ Vĩ Đại, [53] lần đầu tiên Đức Christ đã neo trên Trái Đất một sợi chỉ mong manh của Ý Chí thiêng liêng khi nó phát ra từ Nhà của Cha (Shamballa), đi vào sự gìn giữ đầy thấu hiểu của Thiên Giới và, qua trung gian của Đức Christ, được đưa đến sự chú ý của nhân loại. Thông qua tác động của một số người Con vĩ đại của Thượng đế, ba phương diện hay đặc tính thiêng liêng của Tam Vị thiêng liêng—ý chí, tình thương và trí tuệ—đã trở thành một phần của tư tưởng và khát vọng nhân loại. Những người Cơ Đốc thường quên rằng cơn khủng hoảng trong những giờ cuối cùng của Đức Christ không phải là thời gian trên Thập Giá, mà là những giờ trong Vườn Gethsemane. Khi ấy ý chí của Ngài—trong đau đớn và gần như tuyệt vọng—đã chìm vào ý chí của Đức Cha. “Lạy Cha,” Ngài nói, “xin đừng theo ý Con, mà theo ý Cha.” (Luke XXII.42.)
Something new, yet planned for from the very depth of time, happened then in that quiet garden; Christ, representing mankind, anchored or established the Father’s Will on Earth and made it possible for intelligent humanity to carry it out. Hitherto, that Will had been known in the Father’s House; it had been recognised and adapted to world need by the Spiritual Hierarchy, working under the Christ, and thus took shape as the divine Plan. Today, because of what Christ did in His moment of crisis hundreds of years ago, humanity can add its efforts to the working out of that Plan. The will-to-good of the Father’s House can become the goodwill of the Kingdom of God and be transformed into right human relations by intelligent humanity. Thus the direct line or thread of God’s will reaches now from the highest place to the lowest point, and can in due time become a cable of ascension for the sons of men and of descent for the loving, living spirit of God.
Khi ấy, trong khu vườn tĩnh lặng ấy, một điều mới mẻ, tuy đã được hoạch định từ tận chiều sâu của thời gian, đã xảy ra; Đức Christ, đại diện cho nhân loại, đã neo hay thiết lập Ý Chí của Cha trên Trái Đất và làm cho nhân loại có trí tuệ có thể thực hiện nó. Trước đó, Ý Chí ấy đã được biết trong Nhà của Cha; nó đã được Thánh đoàn tinh thần, hoạt động dưới quyền Đức Christ, công nhận và thích ứng với nhu cầu thế giới, và do đó mang hình thức như Thiên Cơ. Ngày nay, nhờ điều Đức Christ đã làm trong khoảnh khắc khủng hoảng của Ngài hàng trăm năm trước, nhân loại có thể thêm nỗ lực của mình vào việc triển khai Thiên Cơ ấy. Ý Chí-hướng Thiện của Nhà của Cha có thể trở thành thiện chí của Thiên Giới và được chuyển hóa thành những tương quan nhân loại đúng đắn bởi nhân loại có trí tuệ. Như vậy, đường thẳng hay sợi chỉ của ý chí Thượng đế nay vươn từ nơi cao nhất đến điểm thấp nhất, và đến đúng lúc có thể trở thành một sợi cáp thăng lên cho những người con của nhân loại và giáng xuống cho tinh thần sống động đầy bác ái của Thượng đế.
[54]
[54]
Let us forget distance, remoteness and vagueness and realise that we are talking of exact and literal happenings on our planet. We are dealing with recognitions and occurrences and with factual events which are the conscious possession of many. The Christ of history and the Christ in the human heart are planetary facts.
Chúng ta hãy quên đi khoảng cách, sự xa xôi và tính mơ hồ, và nhận ra rằng chúng ta đang nói về những sự kiện chính xác và theo nghĩa đen trên hành tinh của chúng ta. Chúng ta đang đề cập đến những sự công nhận và những biến cố, và đến những sự kiện thực tế mà nhiều người nắm rõ trong tâm thức. Đức Christ của lịch sử và Đức Christ trong trái tim con người là những sự kiện hành tinh.
There is one aspect of this return of the Christ which is never touched upon and to which no reference is ever made. It is the factor of what this coming out again among men, this return to outer everyday activity will mean to the Christ as He faces it. How will He feel when the hour of His appearance arrives?
Có một phương diện của sự trở lại này của Đức Christ mà không bao giờ được đề cập đến và không hề được nhắc tới. Đó là yếu tố liên quan đến việc sự xuất hiện trở lại giữa loài người này, sự trở về với hoạt động thường nhật bên ngoài này sẽ có ý nghĩa gì đối với chính Đức Christ khi Ngài đối diện với nó. Ngài sẽ cảm thấy thế nào khi giờ xuất hiện của Ngài đến?
There is a great initiation spoken of in The New Testament to which we have given the name of the Ascension. Of it we know nothing. Only a few items of information are brought to us in the Gospel story; the fact of the mountain top, of attendant watchers, and of the words of Christ, assuring them that He was not leaving them. Then a cloud received Him out of their sight. (Acts I.9.) There were none present who could go further with Him. Their consciousness could not penetrate to the place where He had chosen to go; they even misinterpreted His words and only in a vague and mystical sense has humanity ever understood His disappearance, or the significance of His persistent but unobserved Presence. The watchers were assured by two of the Knowers of God Who were also present that He would come again in like manner. He ascended. The cloud received Him; today the clouds which cover our planet are waiting to reveal Him.
Có một cuộc điểm đạo lớn được nói đến trong Tân Ước mà chúng ta đã đặt tên là Thăng Thiên. Về điều đó chúng ta không biết gì cả. Chỉ có vài chi tiết thông tin được đưa đến cho chúng ta trong câu chuyện Phúc Âm; sự kiện về đỉnh núi, về những người quan sát đi cùng, và về những lời của Đức Christ, trấn an họ rằng Ngài không rời bỏ họ. Rồi một đám mây đón Ngài khuất khỏi tầm mắt họ. (Acts I.9.) Không ai hiện diện ở đó có thể đi xa hơn cùng Ngài. Tâm thức của họ không thể xuyên thấu đến nơi mà Ngài đã chọn để đi đến; họ thậm chí còn hiểu sai lời Ngài và chỉ trong một ý nghĩa mơ hồ và thần bí mà nhân loại từng hiểu sự biến mất của Ngài, hay ý nghĩa của Sự Hiện Diện bền bỉ nhưng không được nhận thấy của Ngài. Những người quan sát được hai thức giả của Thượng đế, cũng hiện diện ở đó, bảo đảm rằng Ngài sẽ trở lại theo cùng cách thức. Ngài đã thăng lên. Đám mây đã đón Ngài; ngày nay những đám mây bao phủ hành tinh chúng ta đang chờ để mặc khải Ngài.
He is now waiting to descend. This descent into our unhappy world of men can present Him with no alluring picture. From the quiet mountain retreat where He has waited, guided and watched over humanity and where [55] He has trained His disciples, initiates and the New Group of World Servers, He must come forth and take His place prominently on the world stage; take His part in the great drama which is there being played. This time, He will play His part, not in obscurity as He previously did but before the eyes of the entire world. Because of the smallness of our little planet, and because of the prevalence of the radio, of television and the rapidity of communication, His part will be watched by all and the prospect must surely, for Him, hold certain horror, must present its tests and major adjustments, plus painful and unavoidable experience. He does not come as the omnipotent God of man’s ignorant creation, but as the Christ, the Founder of the Kingdom of God on Earth, to complete the work He started, and again to demonstrate divinity in far more difficult circumstances.
Hiện nay Ngài đang chờ để giáng xuống. Sự giáng xuống này vào thế giới bất hạnh của loài người chúng ta hẳn không thể trình ra trước Ngài một bức tranh hấp dẫn nào. Từ nơi ẩn cư yên tĩnh trên núi, nơi Ngài đã chờ đợi, hướng dẫn và trông nom nhân loại, và nơi [55] Ngài đã huấn luyện các đệ tử, các điểm đạo đồ và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian của Ngài, Ngài phải bước ra và đảm nhận vị trí nổi bật của mình trên sân khấu thế giới; đảm nhận phần việc của Ngài trong vở kịch lớn đang được diễn ra ở đó. Lần này, Ngài sẽ đóng vai của mình không phải trong âm thầm như trước kia mà trước mắt toàn thế giới. Vì hành tinh nhỏ bé của chúng ta quá nhỏ, và vì sự phổ biến của radio, truyền hình và tốc độ truyền thông, phần việc của Ngài sẽ được mọi người theo dõi, và viễn cảnh ấy hẳn đối với Ngài chứa đựng một nỗi kinh hoàng nào đó, hẳn sẽ đặt ra những thử thách và những điều chỉnh lớn lao, cộng thêm những kinh nghiệm đau đớn và không thể tránh khỏi. Ngài không đến như vị Thượng đế toàn năng do sự ngu dốt của con người tạo dựng, mà đến như Đức Christ, Đấng Sáng Lập Thiên Giới trên Trái Đất, để hoàn tất công việc Ngài đã khởi sự, và một lần nữa minh chứng thiên tính trong những hoàn cảnh khó khăn hơn nhiều.
The Christ suffers, however, far more from those in His Own household than from those in the outer world; His work is more impeded by the advanced aspirant than by the intelligent thinker. It was not the cruelty of the outer world of men which caused the depths of sorrow to the Christ; it was His Own disciples, plus the massed sorrow—spread over the entire cycle of living—past, present and future—of humanity.
Tuy nhiên, Đức Christ chịu đau khổ nhiều hơn từ những người trong chính gia đình của Ngài hơn là từ những người ở thế giới bên ngoài; công việc của Ngài bị cản trở nhiều hơn bởi người chí nguyện tiến bộ hơn là bởi nhà tư tưởng thông minh. Không phải sự tàn nhẫn của thế giới bên ngoài của loài người đã gây nên chiều sâu đau buồn cho Đức Christ; mà là chính các đệ tử của Ngài, cộng với nỗi buồn khổ tích tụ của nhân loại—trải rộng trên toàn bộ chu kỳ sống—quá khứ, hiện tại và tương lai.
He comes to correct the mistakes and the misrepresentations of those who have dared to interpret His simple words in terms of their own ignorance, and to recognise those whose faithful service has made His return possible. He too is facing a major test, preparatory to a great initiation and when He has passed the test and fulfilled His task, He will pass to a still more exalted position in the Father’s House or to some distant place of service where only the most exalted can follow Him; [56] His present position will then be taken by the One Whom He has prepared and trained.
Ngài đến để sửa chữa những sai lầm và những sự xuyên tạc của những kẻ đã dám diễn giải những lời đơn giản của Ngài theo sự ngu dốt của riêng họ, và để công nhận những ai mà sự phụng sự trung tín của họ đã làm cho sự trở lại của Ngài trở nên khả hữu. Chính Ngài cũng đang đối diện với một thử thách lớn, chuẩn bị cho một cuộc điểm đạo vĩ đại, và khi Ngài đã vượt qua thử thách và hoàn thành nhiệm vụ của mình, Ngài sẽ chuyển sang một vị trí còn cao cả hơn trong Nhà của Cha hoặc đến một nơi phụng sự xa xôi nào đó mà chỉ những Đấng cao cả nhất mới có thể theo Ngài; [56] khi ấy vị trí hiện tại của Ngài sẽ được đảm nhận bởi Đấng mà Ngài đã chuẩn bị và huấn luyện.
But before all this can happen, He must again enter the public arena, play His part in world affairs, and prove the scope of His mission. He will gather round Him, in the flesh, His chosen associates and advisors; these will not be the ones who gathered around in those earlier simpler days but those members of our human family who today recognise Him and are preparing to work with Him as far as in them lies. It is a different world to which He is now planning to return and this is largely due to the intellectual development of the mass of men. This presents Him with stupendous difficulties, for the intellects of men must now be reached and not just their hearts (as in the earlier days) if the Will of God is to be intelligently carried out on Earth. His major task is surely the establishing of right human relations in every department of human living. I would ask you to use your imagination and endeavour to think out what must be the implications of the task which confronts Him; I would ask you to ponder on the difficulties which He must inevitably face—the difficulty, above all, of mass intellectual wrong emphasis.
Nhưng trước khi tất cả điều này có thể xảy ra, Ngài phải một lần nữa bước vào đấu trường công khai, đảm nhận phần việc của Ngài trong các công việc thế giới, và chứng minh tầm mức sứ mệnh của Ngài. Ngài sẽ quy tụ quanh mình, trong xác thân, những cộng sự viên và cố vấn được tuyển chọn; họ sẽ không phải là những người đã tụ họp quanh Ngài trong những ngày đơn giản trước kia mà là những thành viên của gia đình nhân loại chúng ta, những người ngày nay nhận biết Ngài và đang chuẩn bị làm việc với Ngài trong khả năng của họ. Đó là một thế giới khác mà Ngài nay đang dự định trở lại, và điều này phần lớn là do sự phát triển trí tuệ của quần chúng. Điều này đặt ra cho Ngài những khó khăn to lớn, vì giờ đây trí tuệ của con người phải được tiếp cận chứ không chỉ trái tim họ (như trong những ngày trước kia), nếu Ý Chí của Thượng đế phải được thực hiện một cách thông minh trên Trái Đất. Nhiệm vụ chính yếu của Ngài chắc chắn là thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn trong mọi lĩnh vực của đời sống con người. Tôi muốn yêu cầu các bạn dùng sự tưởng tượng của mình và cố gắng suy nghĩ xem những hàm ý của nhiệm vụ đang đối diện Ngài phải là gì; tôi muốn yêu cầu các bạn suy ngẫm về những khó khăn mà Ngài tất yếu phải đối diện—trên hết là khó khăn của sự nhấn mạnh sai lầm về trí tuệ nơi quần chúng.
He, the Representative of the love of God, is asked to work again in the world arena wherein His earlier message has been negated, forgotten or misinterpreted for two thousand years, and wherein hate and separativeness have distinguished all men everywhere. This will plunge Him into a foreign atmosphere and into a situation wherein all His divine resources will be needed, and will have to be tried out to the uttermost. The generally accepted idea that He will return as a triumphant warrior, omnipotent and irresistible, has surely no basis in fact. That He will ultimately lead His people, humanity, [57] into Jerusalem is a fact, founded on a secure foundation, but it will not be into a Jewish city called Jerusalem but into “the place of peace” (as the word “Jerusalem” means). A careful consideration of the world situation today and a dedicated use of the imagination will reveal to the sincere thinker how appalling is the task which He has undertaken. But He has again “set His face to go to Jerusalem.” (Luke IX.51.) He will re-appear and guide mankind into a civilisation and a state of consciousness in which right human relations and worldwide cooperation for the good of all will be the universal keynote. He will—through the New Group of World Servers and the men of goodwill—complete His association with the Will of God (His Father’s business) in such a manner that the eternal will-to-good will be translated by humanity into goodwill and right relations. Then His task will be done; He will be free again to leave us, but this time not to return but to leave the world of men in the hands of that great spiritual Server Who will be the new Head of the Hierarchy, the Church Invisible.
Ngài, Đấng Đại Diện cho tình thương của Thượng đế, được yêu cầu lại làm việc trong đấu trường thế giới, nơi thông điệp trước kia của Ngài đã bị phủ nhận, bị lãng quên hoặc bị diễn giải sai trong suốt hai ngàn năm, và nơi hận thù cùng tính chia rẽ đã là dấu ấn của mọi người ở khắp nơi. Điều này sẽ đưa Ngài vào một bầu khí xa lạ và vào một tình huống trong đó mọi nguồn lực thiêng liêng của Ngài sẽ cần đến, và sẽ phải được thử thách đến mức tối đa. Ý tưởng được chấp nhận rộng rãi rằng Ngài sẽ trở lại như một chiến binh chiến thắng, toàn năng và không thể cưỡng lại, hẳn không có cơ sở nào trong thực tế. Rằng cuối cùng Ngài sẽ dẫn dắt dân của Ngài, nhân loại, [57] vào Jerusalem là một sự kiện, được đặt trên một nền tảng vững chắc, nhưng đó sẽ không phải là vào một thành phố Do Thái gọi là Jerusalem mà là vào “nơi chốn của hòa bình” (như từ “Jerusalem” có nghĩa). Một sự xem xét cẩn trọng tình hình thế giới ngày nay và một sự sử dụng tận hiến đối với sự tưởng tượng sẽ cho nhà tư tưởng chân thành thấy nhiệm vụ mà Ngài đã đảm nhận đáng sợ đến mức nào. Nhưng Ngài lại một lần nữa “quyết tâm đi lên Jerusalem.” (Luke IX.51.) Ngài sẽ tái xuất hiện và dẫn dắt nhân loại vào một nền văn minh và một trạng thái tâm thức trong đó những tương quan nhân loại đúng đắn và sự hợp tác toàn cầu vì lợi ích của tất cả sẽ là chủ âm phổ quát. Ngài sẽ—thông qua Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và những người thiện chí—hoàn tất sự liên kết của Ngài với Ý Chí của Thượng đế (công việc của Cha Ngài) theo cách mà Ý Chí-hướng Thiện vĩnh cửu sẽ được nhân loại chuyển dịch thành thiện chí và những tương quan đúng đắn. Khi ấy nhiệm vụ của Ngài sẽ hoàn tất; Ngài sẽ lại được tự do rời chúng ta, nhưng lần này không phải để trở lại mà để trao thế giới loài người vào tay Đấng Phụng Sự tinh thần vĩ đại sẽ là vị Tân Thủ Lãnh của Thánh đoàn, Giáo Hội Vô Hình.
The question now arises: In what way can we be of service? How can we aid during this preparatory stage?
Câu hỏi nay được đặt ra là: Chúng ta có thể phụng sự bằng cách nào? Chúng ta có thể trợ giúp ra sao trong giai đoạn chuẩn bị này?
What the members of the Spiritual Hierarchy are doing is much indeed; those disciples who are in conscious touch with the Masters of the Wisdom—or, if you prefer the term, with the senior disciples of the Christ—are working day and night in order to establish such confidence, correct attitudes and an understanding of the divine spiritual “push” or enterprise that His way will be made easier. They and their groups of lesser disciples, aspirants and students of the realities stand unitedly behind the Christ and can thus enable Him to accomplish His purpose. Their major realisation is that of a cyclic crisis in the spiritual life of our planet; it is one which [58] has been anticipated in the Father’s House (Shamballa) for thousands of years. They have registered the fact that, for the first time in human history, all the three spiritual centres or groups through which God works are unitedly focussed on the same objective. Shamballa, the Spiritual Hierarchy and Humanity (the Father’s House, the Kingdom of God and the World of Men) are all striving in one vast movement for an intensification of the Light of the World. This Light will irradiate (in a fashion unknown before) not only the Father’s House, which is the source of all our planetary light but also the spiritual centre from which have come all those Teachers and World Saviours Who have stood before men and said, as did Hermes, the Buddha and the Christ: “I am the Light of the World.” This light will now flood the world of men, bringing illumination to men’s minds and light into the dark places of human living.
Điều mà các thành viên của Thánh đoàn tinh thần đang làm quả thật rất nhiều; những đệ tử đang có tiếp xúc có ý thức với các Chân sư Minh Triết—hay, nếu bạn thích cách gọi ấy, với các đệ tử cao cấp của Đức Christ—đang làm việc ngày đêm để thiết lập niềm tin tưởng như thế, những thái độ đúng đắn như thế và một sự thấu hiểu như thế về “xung lực” hay công cuộc tinh thần thiêng liêng, để con đường của Ngài được dễ dàng hơn. Họ và các nhóm gồm những đệ tử ở cấp thấp hơn, những người chí nguyện và những đạo sinh của các thực tại cùng đứng phía sau Đức Christ, và nhờ đó có thể giúp Ngài hoàn thành mục đích của mình. Sự chứng nghiệm chính yếu của họ là về một cuộc khủng hoảng theo chu kỳ trong đời sống tinh thần của hành tinh chúng ta; đó là cuộc khủng hoảng [58] đã được dự liệu trong Nhà của Cha (Shamballa) từ hàng ngàn năm. Họ đã ghi nhận sự kiện rằng, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, cả ba trung tâm hay nhóm tinh thần mà qua đó Thượng đế hoạt động đều cùng tập trung vào một mục tiêu. Shamballa, Thánh đoàn tinh thần và Nhân loại (Nhà của Cha, Thiên Giới và Thế Giới của loài người) đều đang nỗ lực trong một vận động bao la duy nhất nhằm tăng cường Ánh Sáng của Thế Gian. Ánh Sáng này sẽ chiếu rọi (theo một cách chưa từng biết trước đây) không chỉ Nhà của Cha, vốn là nguồn của mọi ánh sáng hành tinh của chúng ta, mà còn cả trung tâm tinh thần từ đó đã xuất hiện tất cả những Huấn Sư và Đấng Cứu Rỗi Thế Gian đã đứng trước loài người và nói, như Hermes, Đức Phật và Đức Christ đã nói: “Ta là Ánh Sáng của Thế Gian.” Ánh sáng này giờ đây sẽ tràn ngập thế giới loài người, mang sự soi sáng đến trí tuệ con người và ánh sáng vào những nơi tối tăm của đời sống nhân loại.
It is light and—above all else—”life more abundantly” which Christ will bring, and until He brings it we know not what it signifies; we cannot realise the revelation which this will entail and the new possibilities which will open up before us. But through Him, light and life are on their way, to be interpreted and applied in terms of goodwill and of right human relations. For this the Spiritual Hierarchy is preparing. This time the Christ will not come alone for His co-workers will come with Him. His experience and Theirs will be the reverse of the previous one, for this time every eye will see Him, every ear will hear Him and every mind will pass judgment upon Him.
Chính ánh sáng và—trên hết mọi điều khác—“sự sống dồi dào hơn” mà Đức Christ sẽ mang đến, và cho đến khi Ngài mang nó đến, chúng ta không biết nó hàm ý gì; chúng ta không thể chứng nghiệm sự mặc khải mà điều này sẽ kéo theo và những khả năng mới sẽ mở ra trước mắt chúng ta. Nhưng qua Ngài, ánh sáng và sự sống đang trên đường đến, để được diễn giải và áp dụng theo tinh thần thiện chí và những tương quan nhân loại đúng đắn. Thánh đoàn tinh thần đang chuẩn bị cho điều này. Lần này Đức Christ sẽ không đến một mình vì các cộng sự viên của Ngài sẽ đi cùng Ngài. Kinh nghiệm của Ngài và của họ sẽ trái ngược với lần trước, vì lần này mọi mắt sẽ thấy Ngài, mọi tai sẽ nghe Ngài và mọi trí tuệ sẽ phán xét Ngài.
We can freely aid in the reconstruction work which the Christ proposes, if we will familiarise ourselves and all men whom we can contact with the following facts:
Chúng ta có thể tự do trợ giúp trong công cuộc tái thiết mà Đức Christ dự định, nếu chúng ta làm cho chính mình và tất cả những người mà chúng ta có thể tiếp xúc quen thuộc với các sự kiện sau đây:
1. That the reappearance of Christ is imminent. [59]
1. Rằng sự tái xuất hiện của Đức Christ đã cận kề. [59]
2. That the Christ, immanent in every human heart, can be evoked in recognition of His appearance.
2. Rằng Đức Christ, nội tại trong mỗi trái tim con người, có thể được gợi lên để nhận biết sự xuất hiện của Ngài.
3. That the circumstances of His return are only symbolically related in the world Scriptures; this may produce a vital change in the preconceived ideas of humanity.
3. Rằng các hoàn cảnh của sự trở lại của Ngài chỉ được thuật lại một cách biểu tượng trong các Kinh điển thế giới; điều này có thể tạo ra một thay đổi sống còn trong những ý niệm định sẵn của nhân loại.
4. That the major required preparation is a world at peace; however, that peace must be based on an educated goodwill, which will lead inevitably to right human relations, and, therefore, to the establishment (figuratively speaking) of lines of light between nation and nation, religion and religion, group and group and man and man.
4. Rằng sự chuẩn bị chính yếu cần thiết là một thế giới hòa bình; tuy nhiên, hòa bình ấy phải được đặt trên nền tảng của một thiện chí được giáo dục, điều tất yếu sẽ dẫn đến những tương quan nhân loại đúng đắn, và do đó, dẫn đến việc thiết lập (nói theo nghĩa bóng) những đường ánh sáng giữa quốc gia với quốc gia, tôn giáo với tôn giáo, nhóm với nhóm và người với người.
If we can succeed in presenting these four ideas to the world at large, and thus in overcoming the intelligent criticism that all that is said is too vague, prophetic, and visionary, we shall have done much. It is possible surely that the ancient truism that “the mind is the slayer of the real” may be fundamentally true where the mass of humanity is concerned and that the purely intellectual approach (which rejects the vision and refuses to accept the unprovable) may be far more at fault than the anticipation of the Knowers of God and the expectant multitude.
Nếu chúng ta có thể thành công trong việc trình bày bốn ý tưởng này cho thế giới nói chung, và nhờ đó vượt qua sự phê phán thông minh cho rằng tất cả những gì được nói ra đều quá mơ hồ, mang tính tiên tri và mơ mộng, thì chúng ta sẽ làm được rất nhiều. Chắc chắn có thể là chân lý cổ xưa rằng “trí tuệ là kẻ sát hại cái thực” có thể đúng một cách căn bản đối với quần chúng nhân loại, và rằng cách tiếp cận thuần trí tuệ (vốn bác bỏ linh ảnh và từ chối chấp nhận điều không thể chứng minh) có thể sai lầm nhiều hơn là sự dự liệu của các thức giả của Thượng đế và của đám đông đang mong đợi.
The intelligence of divinity is vested in the Spiritual Hierarchy, and that Hierarchy is today composed of Those Who have united in Themselves both the intellect and the intuition, the practical and the apparently impractical, the factual way of life and way of the man who sees a vision. There are also people who must be found in the market place of daily life; these are the people who must be trained in the divine recognitions which are essentially physical plane responses to the newer expansions of consciousness. The Christ Who will return will not be like the Christ Who (apparently) departed. He will not be a “man of sorrows”; He will not be a silent pensive figure; He will be the enunciator of spiritual statements which [60] will not necessitate interpretation and receive the wrong interpretation, because He will be present to indicate the true meaning.
Trí tuệ của thiên tính được ký thác trong Thánh đoàn tinh thần, và Thánh đoàn ấy ngày nay được cấu thành bởi Những Đấng đã hợp nhất trong chính mình cả trí tuệ lẫn trực giác, cái thực tiễn lẫn cái dường như không thực tiễn, lối sống thực tế và lối sống của con người thấy được linh ảnh. Cũng có những người phải được tìm thấy trong chợ đời hằng ngày; đây là những người phải được huấn luyện trong những sự nhận biết thiêng liêng vốn về bản chất là những đáp ứng trên cõi hồng trần đối với những sự mở rộng tâm thức mới hơn. Đức Christ sẽ trở lại sẽ không giống Đức Christ đã (dường như) ra đi. Ngài sẽ không là một “người của sầu khổ”; Ngài sẽ không là một hình ảnh trầm lặng, trầm tư; Ngài sẽ là Đấng tuyên xướng những mệnh đề tinh thần [60] không cần đến sự diễn giải và cũng không nhận lấy sự diễn giải sai lầm, vì chính Ngài sẽ hiện diện để chỉ ra ý nghĩa chân thực.
He has been for two thousand years the supreme Head of the Church Invisible, the Spiritual Hierarchy, composed of disciples of all faiths. He recognises and loves those who are not Christian but who retain their allegiance to Their Founders—the Buddha, Mohammed and others. He cares not what the faith is if the objective is love of God and of humanity. If men look for the Christ Who left His disciples centuries ago, they will fail to recognise the Christ Who is in process of returning. The Christ has no religious barriers in His consciousness. It matters not to Him of what faith a man may call himself.
Trong hai ngàn năm, Ngài đã là Thủ Lãnh tối cao của Giáo Hội Vô Hình, Thánh đoàn tinh thần, gồm các đệ tử của mọi tín ngưỡng. Ngài công nhận và yêu thương những ai không phải là Cơ Đốc nhân nhưng vẫn giữ lòng trung thành với các Đấng Sáng Lập của họ—Đức Phật, Mohammed và những vị khác. Ngài không quan tâm tín ngưỡng là gì nếu mục tiêu là tình thương đối với Thượng đế và nhân loại. Nếu con người tìm kiếm Đức Christ đã rời các đệ tử của Ngài nhiều thế kỷ trước, họ sẽ không nhận ra Đức Christ đang trong tiến trình trở lại. Đức Christ không có những rào cản tôn giáo trong tâm thức của Ngài. Đối với Ngài, một người tự gọi mình thuộc tín ngưỡng nào không quan trọng.
The Son of God is on His way and He cometh not alone. His advance guard is already here and the Plan which they must follow is already made and clear. Let recognition be the aim.
Con của Thượng đế đang trên đường đến và Ngài không đến một mình. Đội tiên phong của Ngài đã ở đây rồi và Thiên Cơ mà họ phải theo đã được lập ra và rõ ràng. Hãy lấy sự nhận biết làm mục tiêu.
CHAPTER FOUR - THE WORK OF THE CHRIST TODAY AND IN THE FUTURE — CHƯƠNG BỐN - CÔNG VIỆC CỦA ĐỨC CHRIST NGÀY NAY VÀ TRONG TƯƠNG LAI
[61]
[61]
We have seen that the doctrine of great Appearances and of the coming of Avatars or World Teachers or Saviours underlies all the world religions. Through Them, the continuity of revelation is implemented and humanity is enabled, each successive age, to take its next step forward along the Path of Evolution closer to God and that divine Centre in which the will of the One “in Whom we live and move and have our being” (as St. Paul expressed it in Acts XVII.28) is focussed, understood and directed. We have touched upon the mission of two of these Avatars—the Buddha, the Messenger of Light for the East, and the Christ, the Messenger of Love for the West—and Their work for the entire world; we have also considered the unique opportunity with which Christ is today faced and the response He made in 1945 when He signified His intention to reappear and gave the great Invocation to us as an aid in the preparatory work with which we are immediately confronted. It would seem appropriate at this point to consider the nature of the work which He will do and also the teaching which He will probably give. The fact of the continuity of the revelation and teaching given down the ages entitles us to a wise consideration and spiritual speculation upon the probable lines which His work will take.
Chúng ta đã thấy rằng giáo lý về những lần xuất hiện vĩ đại và về sự xuất hiện của các Đấng Hoá Thân hay các Đức Chưởng Giáo hoặc các Đấng Cứu Thế là nền tảng của mọi tôn giáo trên thế giới. Qua Các Ngài, tính liên tục của sự mặc khải được thực hiện, và nhân loại được tạo điều kiện, trong mỗi thời đại kế tiếp, tiến thêm bước kế tiếp của mình trên Con Đường tiến hoá, đến gần Thượng đế hơn và gần trung tâm thiêng liêng ấy hơn, nơi ý chí của Đấng “trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu” (như Thánh Paul đã diễn đạt trong Công Vụ XVII.28) được tập trung, được thấu hiểu và được định hướng. Chúng ta đã đề cập đến sứ mệnh của hai trong số các Đấng Hoá Thân này—Đức Phật, Sứ Giả của Ánh Sáng cho phương Đông, và Đức Christ, Sứ Giả của Bác ái cho phương Tây—và công việc của Các Ngài cho toàn thế giới; chúng ta cũng đã xem xét cơ hội độc nhất mà Đức Christ đang đối diện ngày nay và sự đáp ứng của Ngài vào năm 1945 khi Ngài biểu thị ý định tái xuất hiện và ban cho chúng ta Đại Khấn Nguyện như một trợ lực trong công việc chuẩn bị mà chúng ta đang trực tiếp đối diện. Ở điểm này, dường như thích hợp để xem xét bản chất của công việc mà Ngài sẽ làm và cả giáo huấn mà có lẽ Ngài sẽ ban ra. Sự kiện về tính liên tục của sự mặc khải và giáo huấn đã được truyền xuống qua các thời đại cho phép chúng ta suy xét một cách minh triết và suy đoán tinh thần về những đường hướng có thể có mà công việc của Ngài sẽ mang lấy.
Over the years, much has been given out from many sources, schools of thought and churches about the Christ, [62] the situation which He faces and the probabilities as to His reappearance. Disciples, aspirants, and men of goodwill have done much already to prepare the world for His so-called return. Today, the East and the West stand equally expectant. As we approach the theme of His work, it is essential that we remember that the Eastern Teacher embodied in Himself the Wisdom of God, of which human intelligence (the third aspect of divinity) is an expression; that through Christ, the second divine aspect was revealed in its perfection; and in Him two aspects, therefore, light and love, received full expression. It remains now for the highest of the divine aspects, the Will of God, to receive embodiment and for this the Christ is preparing. The continuity of revelation may not stop; and upon what other expressions of the divine nature may still later be revealed it is needless for us to speculate.
Qua nhiều năm, nhiều điều đã được công bố từ nhiều nguồn, nhiều trường phái tư tưởng và nhiều giáo hội về Đức Christ, [62] về hoàn cảnh mà Ngài đang đối diện và về những khả năng liên quan đến sự tái xuất hiện của Ngài. Các đệ tử, những người chí nguyện, và những người thiện chí đã làm được rất nhiều để chuẩn bị thế giới cho cái gọi là sự trở lại của Ngài. Ngày nay, phương Đông và phương Tây đều đứng trong cùng một sự mong đợi. Khi chúng ta tiến đến chủ đề về công việc của Ngài, điều thiết yếu là phải nhớ rằng Vị Huấn Sư phương Đông đã hiện thân trong chính Ngài Minh triết của Thượng đế, mà trí thông minh của con người (phương diện thứ ba của thiên tính) là một biểu hiện; rằng qua Đức Christ, phương diện thiêng liêng thứ hai đã được mặc khải trong sự toàn hảo của nó; và vì vậy trong Ngài, hai phương diện, ánh sáng và bác ái, đã nhận được sự biểu lộ trọn vẹn. Giờ đây còn lại phương diện cao nhất của thiên tính, Ý Chí của Thượng Đế, cần được hiện thân, và cho điều này Đức Christ đang chuẩn bị. Tính liên tục của sự mặc khải không thể dừng lại; và về những biểu hiện nào khác của bản chất thiêng liêng có thể còn được mặc khải về sau nữa thì chúng ta không cần suy đoán.
The uniqueness of the impending mission of the Christ and the uniqueness of His opportunity consist in the fact that He is able—in Himself—to give expression to two divine energies: the energy of love and the energy of will, the magnetic potency of love and the dynamic effectiveness of the divine will. Never before, in the long long history of humanity, has such a revelation been possible.
Tính độc nhất của sứ mệnh sắp đến của Đức Christ và tính độc nhất của cơ hội của Ngài nằm ở sự kiện rằng Ngài có thể—trong chính Ngài—biểu lộ hai năng lượng thiêng liêng: năng lượng bác ái và năng lượng ý chí, tiềm lực từ tính của bác ái và hiệu quả năng động của ý chí thiêng liêng. Chưa bao giờ trước đây, trong lịch sử rất dài rất dài của nhân loại, một sự mặc khải như thế lại có thể xảy ra.
The work and the teaching of the Christ will be hard for the Christian world to accept, though easier of assimilation in the East. Nevertheless, some hard blow or some difficult presentation of the truth is badly needed if the Christian world is to be awakened, and if Christian people are to recognise their place within a worldwide divine revelation and see Christ as representing all the faiths and taking His rightful place as World Teacher. He is the World Teacher and not a Christian teacher. He Himself told us that He had other folds and to them He has meant [63] as much as He has meant to the orthodox Christian. They may not call Him Christ, but they have their own name for Him and follow Him as truly and faithfully as their Western brethren.
Công việc và giáo huấn của Đức Christ sẽ khó được thế giới Cơ Đốc giáo chấp nhận, dù ở phương Đông sẽ dễ đồng hoá hơn. Tuy nhiên, một cú đánh mạnh nào đó hoặc một sự trình bày chân lý khó khăn nào đó lại rất cần thiết nếu thế giới Cơ Đốc giáo phải được đánh thức, và nếu những người Cơ Đốc giáo phải nhận ra vị trí của mình trong một sự mặc khải thiêng liêng toàn cầu và thấy Đức Christ như đại diện cho mọi đức tin và đảm nhận vị trí chính đáng của Ngài là Đức Chưởng Giáo. Ngài là Đức Chưởng Giáo của thế giới chứ không phải một huấn sư Cơ Đốc giáo. Chính Ngài đã nói với chúng ta rằng Ngài có những đàn chiên khác và đối với họ Ngài đã có ý nghĩa [63] nhiều như đối với người Cơ Đốc giáo chính thống. Có thể họ không gọi Ngài là Christ, nhưng họ có tên riêng của họ dành cho Ngài và đi theo Ngài chân thật và trung tín không kém gì những huynh đệ phương Tây của họ.
Let us look for a moment at the erroneous interpretations given to the Gospel story. The symbolism of that Gospel story—an ancient story-presentation often presented down the ages, prior to the coming of the Christ in Palestine—has been twisted and distorted by theologians until the crystalline purity of the early teaching and the unique simplicity of the Christ have disappeared in a travesty of errors and in a mummery of ritual, money and human ambitions. Christ is pictured today as having been born in an unnatural manner, as having taught and preached for three years and then as having been crucified and eventually resurrected, leaving humanity in order to “sit on the right hand of God,” in austere and distant pomp. Likewise, all the other approaches to God by any other people, at any time and in any country, are regarded by the orthodox Christian as wrong approaches, as being practised by so-called “heathen,” and as requiring Christian interference. Every possible effort has been made to force orthodox Christianity on those who accept the inspiration and the teachings of the Buddha or of others who have been responsible for preserving the divine continuity of revelation. The emphasis has been, as we all well know, upon the “blood sacrifice of the Christ” upon the Cross and upon a salvation dependent upon the recognition and acceptance of that sacrifice. The vicarious at-one-ment has been substituted for the reliance which Christ Himself enjoined us to place upon our own divinity; the Church of Christ has made itself famous and futile (as the world war proved) for its narrow creed, its wrong emphases, its clerical pomp, its spurious authority, [64] its material riches and its presentation of a dead Christ. His resurrection is accepted, but the major appeal of the churches has been upon His death.
Chúng ta hãy nhìn trong chốc lát vào những cách giải thích sai lầm đã được gán cho câu chuyện Phúc Âm. Tính biểu tượng của câu chuyện Phúc Âm ấy—một sự trình bày cổ xưa dưới hình thức câu chuyện, thường được trình bày qua các thời đại trước khi Đức Christ đến Palestine—đã bị các nhà thần học vặn xoắn và bóp méo cho đến khi sự tinh khiết trong suốt như pha lê của giáo huấn ban đầu và sự đơn giản độc nhất của Đức Christ đã biến mất trong một sự xuyên tạc đầy sai lầm và trong một trò diễn nghi lễ, tiền bạc và tham vọng của con người. Đức Christ ngày nay được mô tả như đã sinh ra theo một cách không tự nhiên, như đã dạy dỗ và thuyết giảng trong ba năm rồi bị đóng đinh và cuối cùng sống lại, rời bỏ nhân loại để “ngồi bên hữu Thượng đế,” trong vẻ uy nghiêm khắc khổ và xa cách. Tương tự như vậy, mọi cách tiếp cận khác đến Thượng đế của bất kỳ dân tộc nào khác, vào bất kỳ thời nào và ở bất kỳ quốc gia nào, đều bị người Cơ Đốc giáo chính thống xem là những cách tiếp cận sai lầm, là do những kẻ được gọi là “ngoại giáo” thực hành, và là điều cần có sự can thiệp của Cơ Đốc giáo. Mọi nỗ lực có thể đã được thực hiện để áp đặt Cơ Đốc giáo chính thống lên những người chấp nhận cảm hứng và giáo huấn của Đức Phật hoặc của những vị khác, những vị đã chịu trách nhiệm bảo tồn tính liên tục thiêng liêng của sự mặc khải. Như tất cả chúng ta đều biết rõ, trọng tâm đã được đặt vào “sự hi sinh bằng máu của Đức Christ” trên Thập giá và vào một sự cứu rỗi tùy thuộc vào việc thừa nhận và chấp nhận sự hi sinh ấy. Sự chuộc tội thay đã được đặt vào chỗ của sự nương cậy mà chính Đức Christ đã khuyên chúng ta đặt vào thiên tính của chính mình; Giáo hội của Đức Christ đã tự làm cho mình vừa nổi tiếng vừa vô ích (như chiến tranh thế giới đã chứng minh) bởi tín điều hẹp hòi, những chỗ nhấn mạnh sai lầm, vẻ huy hoàng giáo sĩ, thẩm quyền giả tạo, [64] sự giàu có vật chất và sự trình bày một Đức Christ đã chết. Sự phục sinh của Ngài được chấp nhận, nhưng sức kêu gọi chủ yếu của các giáo hội lại đặt trên cái chết của Ngài.
Christ has been for two thousand years a silent, passive Figure, hidden behind a multitude of words written by a multitude of men (commentators and preachers). The church has pointed us to the dying Christ upon the Cross and not to the living, working, active, present Christ Who has been with us in bodily Presence (according to His promise) for twenty centuries.
Trong hai ngàn năm, Đức Christ đã là một Hình Ảnh im lặng, thụ động, bị che khuất sau vô số lời lẽ do vô số người viết ra (các nhà chú giải và các nhà giảng đạo). Giáo hội đã chỉ cho chúng ta Đức Christ đang chết trên Thập giá chứ không phải Đức Christ sống động, đang làm việc, đang hoạt động, đang hiện diện, Đấng đã ở cùng chúng ta trong Sự Hiện Diện bằng thân thể (theo lời hứa của Ngài) suốt hai mươi thế kỷ.
Let us, therefore, endeavour to get a truer picture of Christ’s activities and life and—consequently—of our future hope. Let us try and realise the ever-present yet divine Person, laying His plans for the future helping of humanity, assessing His resources, influencing His disciples and organising the details which will attend His reappearance. We need to awaken faith in the factual nature of divine revelation, and galvanise the church of Christ into a truer appreciation of Him and of His work. It is the living, acting, thinking Christ with whom we must deal, remembering always that the Gospel story is eternally true and only needs re-interpreting in the light of its place in the long succession of divine revelations. His Mission on earth two thousand years ago is a part of that continuity and is not an extraordinary story, having no relation to the past, emphasising a period of only 33 years and presenting no clear hope for the future.
Vì vậy, chúng ta hãy cố gắng có được một bức tranh chân thực hơn về các hoạt động và đời sống của Đức Christ và—do đó—về niềm hy vọng tương lai của chúng ta. Chúng ta hãy cố gắng chứng nghiệm Con Người thiêng liêng nhưng luôn hiện diện ấy, đang đặt ra các kế hoạch của Ngài cho sự trợ giúp tương lai đối với nhân loại, đang lượng định các nguồn lực của Ngài, đang ảnh hưởng đến các đệ tử của Ngài và đang tổ chức những chi tiết sẽ đi kèm với sự tái xuất hiện của Ngài. Chúng ta cần đánh thức đức tin vào bản chất thực tế của sự mặc khải thiêng liêng, và làm rung chuyển giáo hội của Đức Christ để đi đến một sự đánh giá chân thực hơn về Ngài và về công việc của Ngài. Chính Đức Christ sống động, hành động, suy tư mà chúng ta phải đề cập đến, luôn luôn nhớ rằng câu chuyện Phúc Âm là vĩnh viễn chân thật và chỉ cần được diễn giải lại dưới ánh sáng vị trí của nó trong chuỗi dài những sự mặc khải thiêng liêng. Sứ mệnh của Ngài trên Trái Đất hai ngàn năm trước là một phần của tính liên tục ấy chứ không phải một câu chuyện phi thường, không liên hệ gì với quá khứ, chỉ nhấn mạnh một giai đoạn 33 năm và không đưa ra hy vọng rõ ràng nào cho tương lai.
What is the hope held out today by the orthodox and unimaginative theologians? That at some distant date, known only to the inscrutable will of God the Father, Christ will issue forth from His seat at the right hand of God, and (followed by His angels and by the Church invisible) descending upon the clouds of Heaven, to the sound of a trumpet, He will make an appearance in [65] Jerusalem. The battle raging at that time will then end, and He will enter the city of Jerusalem to rule for one thousand years. During this millennium, Satan or the principle of evil will be bound or imprisoned, and there will be a new heaven and new earth. Further than that, we are told nothing; humanity hopes for so much more that the picture presented does not intrigue them.
Ngày nay, niềm hy vọng nào đang được các nhà thần học chính thống và thiếu tưởng tượng đưa ra? Rằng vào một ngày xa xôi nào đó, chỉ được biết bởi ý chí bất khả tư nghị của Thượng đế Cha, Đức Christ sẽ rời khỏi chỗ ngồi của Ngài bên hữu Thượng đế, và (được theo sau bởi các thiên thần của Ngài và bởi Giáo hội vô hình) giáng xuống trên những đám mây của Thiên Đàng, giữa tiếng kèn, Ngài sẽ xuất hiện tại [65] Jerusalem. Trận chiến đang diễn ra vào lúc đó rồi sẽ chấm dứt, và Ngài sẽ vào thành Jerusalem để cai quản trong một ngàn năm. Trong thiên niên kỷ này, Satan hay nguyên lý của điều ác sẽ bị trói buộc hoặc giam cầm, và sẽ có một trời mới và một đất mới. Ngoài điều đó ra, chúng ta không được nói gì thêm; nhân loại hy vọng nhiều hơn thế rất nhiều nên bức tranh được trình bày không làm họ quan tâm.
Behind this portrayal, if rightly interpreted, stands the human, the loving and the divine Presence of the Christ, embodying divine love and wielding divine power, directing His Church and establishing the Kingdom of God on Earth. What is this church of Christ? It is constituted of the sum total of all those in whom the life of Christ or the Christ-consciousness is to be found or is in process of finding expression; it is the aggregation of all who love their fellowmen, because to love one’s fellowmen is the divine faculty which makes us full members of Christ’s community. It is not the accepting of any historical fact or theological creed which places us en rapport with Christ. The citizens of the Kingdom of God are all those who are deliberately seeking the light and attempting (through self-imposed discipline) to stand before the One Initiator; this worldwide group (whether in the body or out of it) accepts the teaching that “the sons of men are one”; they know that divine revelation is continuous and ever new, and that the divine Plan is working itself out on Earth.
Đằng sau sự mô tả này, nếu được diễn giải đúng, là Sự Hiện Diện nhân bản, đầy bác ái và thiêng liêng của Đức Christ, hiện thân cho bác ái thiêng liêng và vận dụng quyền năng thiêng liêng, đang hướng dẫn Giáo hội của Ngài và thiết lập Thiên Giới trên Trái Đất. Giáo hội của Đức Christ này là gì? Nó được cấu thành bởi tổng số tất cả những ai trong đó sự sống của Đức Christ hay tâm thức Christ được tìm thấy hoặc đang trong tiến trình tìm được sự biểu lộ; nó là sự tập hợp của tất cả những ai yêu thương đồng loại của mình, bởi vì yêu thương đồng loại là năng lực thiêng liêng khiến chúng ta trở thành những thành viên trọn vẹn của cộng đồng Đức Christ. Không phải việc chấp nhận một sự kiện lịch sử nào hay một tín điều thần học nào đặt chúng ta vào mối liên hệ với Đức Christ. Công dân của Thiên Giới là tất cả những ai đang có chủ ý tìm kiếm ánh sáng và cố gắng (qua kỷ luật do chính mình áp đặt) đứng trước Đấng Điểm đạo duy nhất; nhóm toàn cầu này (dù trong thân xác hay ngoài thân xác) chấp nhận giáo huấn rằng “những người con của nhân loại là một”; họ biết rằng sự mặc khải thiêng liêng là liên tục và luôn luôn mới, và rằng Thiên Cơ thiêng liêng đang tự triển khai trên Trái Đất.
There are those today on Earth who know that through the instrumentality, the inspiration and the instruction of those sons of men who have wrought out their divinity in the crucible of daily human living the Kingdom of God will come into being; these Knowers now work actively, under the direct impression of the Christ, in leading humanity [66] from darkness to light and from death to immortality.
Ngày nay có những người trên Trái Đất biết rằng qua sự tác động, cảm hứng và giáo huấn của những người con của nhân loại đã rèn luyện thiên tính của mình trong lò nung của đời sống nhân loại hằng ngày mà Thiên Giới sẽ xuất hiện; những thức giả này hiện đang hoạt động tích cực, dưới sự cảm ứng trực tiếp của Đức Christ, trong việc dẫn dắt nhân loại [66] từ bóng tối đến ánh sáng và từ cái chết đến sự bất tử.
These are the great underlying truths which are distinctive of the Christ, of the Buddha, and of the Church of God, as it expresses itself in the East and in the West; these are the only truths which matter. In the future, the eyes of humanity will be fixed upon Christ and not upon any such manmade institutions as the Church and its dignitaries; Christ will be seen as He is in reality, working through His disciples, through the Masters of the Wisdom and through His followers who toil unseen (and usually unrecognised) behind world affairs. The sphere of His activity will be known to be the human heart and also the crowded market places of the world, but not some stone edifice and not the pomp and ceremony of any ecclesiastical headquarters.
Đó là những chân lý nền tảng vĩ đại đặc trưng cho Đức Christ, cho Đức Phật, và cho Giáo hội của Thượng đế, như nó biểu lộ ở phương Đông và phương Tây; đó là những chân lý duy nhất quan trọng. Trong tương lai, mắt của nhân loại sẽ hướng vào Đức Christ chứ không hướng vào bất kỳ định chế do con người tạo ra nào như Giáo hội và các chức sắc của nó; Đức Christ sẽ được thấy như Ngài thực sự là, đang làm việc qua các đệ tử của Ngài, qua các Chân sư của Minh triết và qua những người theo Ngài đang lao động âm thầm (và thường không được nhận biết) phía sau các biến cố thế giới. Phạm vi hoạt động của Ngài sẽ được biết là trái tim con người và cả những chợ búa đông đúc của thế giới, chứ không phải một công trình bằng đá nào đó và cũng không phải vẻ huy hoàng cùng nghi lễ của bất kỳ trung tâm giáo hội nào.