Trích nội dung chương
2. That He is today and has been actively working—through the medium of the spiritual Hierarchy of our planet, of which He is the Head—for the welfare of humanity. 2. Rằng ngày nay Ngài đang và đã tích cực làm việc—qua trung gian của Thánh đoàn tinh thần của hành tinh chúng ta, mà Ngài là vị đứng đầu—vì phúc lợi của nhân loại.
Our study of the future work of the Christ is necessarily based upon three assumptions:
Việc chúng ta nghiên cứu công việc tương lai của Đức Christ tất yếu dựa trên ba giả định:
1. That the reappearance of the Christ is inevitable and assured.
1. Rằng sự tái xuất hiện của Đức Christ là điều không thể tránh khỏi và được bảo đảm.
2. That He is today and has been actively working—through the medium of the spiritual Hierarchy of our planet, of which He is the Head—for the welfare of humanity.
2. Rằng ngày nay Ngài đang và đã tích cực làm việc—qua trung gian của Thánh đoàn tinh thần của hành tinh chúng ta, mà Ngài là vị đứng đầu—vì phúc lợi của nhân loại.
3. That certain teachings will be given and certain energies will be released by Him in the routine of His work and coming. People are apt to forget that the coming of the Christ necessitates a period of intensive preparation by Him; He, too, works under law and is subject to control from various sources—just as are all human beings, but in a much lesser degree.
3. Rằng một số giáo huấn sẽ được Ngài ban ra và một số năng lượng sẽ được Ngài giải phóng trong tiến trình công việc và sự xuất hiện của Ngài. Người ta thường quên rằng sự xuất hiện của Đức Christ đòi hỏi một giai đoạn chuẩn bị chuyên sâu bởi chính Ngài; Ngài cũng làm việc dưới định luật và chịu sự kiểm soát từ nhiều nguồn khác nhau—cũng như mọi con người, nhưng ở mức độ ít hơn rất nhiều.
His reappearance is conditioned and determined by the reaction of humanity itself; by that reaction He must abide. His work is subject also to certain phases of spiritual [67] and cyclic timing and to impressions from sources to be found on higher levels than those upon which He normally works. Just as human affairs have effects upon His action, so great “determinations” and “profound settlements within the will of God” also have their effects. The human side or nature of the Christ, perfected and sensitive, responds to the invocation and to the appeal of men; His divine side or nature is equally responsive to the impact of energies, issuing from “the centre where the will of God is known.” Between these two, He has to make adjustment and bring about right timing. The bringing of good out of human so-called evil is no easy task; the vision of the Christ is so vast and His grasp of the Law of Cause and Effect, of Action and Reaction is such that the arriving at right decision as to activity and time is no simple one. Human beings are apt to look at all that happens, or that could happen, from the purely human and immediate angle; they have little understanding of the problems, decisions and implications with which Christ is today faced. In these, His pledged disciples share. Their task is to develop “the mind that is in Christ” and as they do so, they will help make clear the way for “the coming of His feet,” as the Bible puts it (Heb. XII.13). Seeing life and events in the light of the spiritual values, as He does, will facilitate the giving out of the new teaching and will provide the skeleton structure of the new world religion, thus giving us a fresh view of divine intention and a living insight into the minds of Those Who implement the divine will and are the engineers of humanity’s future. Let us, therefore, try and appreciate not only the opportunity which Christ has to help us (which is the usual presentation), but let us look also at the crises and problems with which He is confronted as He faces the work which He must do.
Sự tái xuất hiện của Ngài được tác động và quyết định bởi phản ứng của chính nhân loại; Ngài phải tuân theo phản ứng ấy. Công việc của Ngài cũng tùy thuộc vào những giai đoạn nhất định của thời điểm tinh thần [67] và chu kỳ và vào những cảm ứng từ các nguồn được tìm thấy trên những cấp độ cao hơn những cấp độ mà Ngài thường làm việc. Cũng như các công việc của con người có ảnh hưởng lên hành động của Ngài, thì những “quyết định” lớn lao và những “sự an định sâu xa trong ý chí của Thượng đế” cũng có ảnh hưởng của chúng. Phía nhân bản hay bản chất nhân bản của Đức Christ, đã được hoàn thiện và nhạy bén, đáp ứng với sự khẩn cầu và lời kêu gọi của con người; phía thiêng liêng hay bản chất thiêng liêng của Ngài cũng đáp ứng tương đương với tác động của các năng lượng phát ra từ “Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế.” Giữa hai điều này, Ngài phải thực hiện sự điều chỉnh và đem lại đúng thời điểm. Việc rút ra điều thiện từ cái gọi là điều ác của con người không phải là một nhiệm vụ dễ dàng; tầm nhìn của Đức Christ rộng lớn đến mức và sự nắm bắt của Ngài về Định luật Nhân Quả, của Hành Động và Phản Ứng sâu sắc đến mức việc đi đến quyết định đúng về hoạt động và thời gian không hề đơn giản. Con người thường nhìn mọi điều xảy ra, hoặc có thể xảy ra, từ góc độ thuần túy nhân loại và trước mắt; họ ít thấu hiểu những vấn đề, quyết định và hệ quả mà Đức Christ đang đối diện ngày nay. Trong những điều này, các đệ tử đã cam kết của Ngài cùng chia sẻ. Nhiệm vụ của họ là phát triển “tâm trí ở trong Đức Christ” và khi làm như vậy, họ sẽ giúp làm sáng tỏ con đường cho “sự đến của bước chân Ngài,” như Kinh Thánh nói (Heb. XII.13). Nhìn đời sống và các biến cố dưới ánh sáng của các giá trị tinh thần, như Ngài nhìn, sẽ tạo điều kiện cho việc ban ra giáo huấn mới và sẽ cung cấp bộ khung xương của tôn giáo thế giới mới, nhờ đó đem lại cho chúng ta một cái nhìn mới mẻ về ý định thiêng liêng và một linh thị sống động vào tâm trí của Những Đấng thực hiện ý chí thiêng liêng và là những kỹ sư của tương lai nhân loại. Vì vậy, chúng ta hãy cố gắng đánh giá không chỉ cơ hội mà Đức Christ có để giúp chúng ta (đó là cách trình bày thông thường), mà còn hãy nhìn vào những khủng hoảng và vấn đề mà Ngài đang đối diện khi Ngài đương đầu với công việc mà Ngài phải làm.
I. The Crises of the Christ
I. Những Khủng Hoảng của Đức Christ
[68]
[68]
In the life of every disciple, particularly of those who face certain great expansions of consciousness, a point of crisis will come about. In that point of crisis, decisions are voluntarily or involuntarily made; having made them, the disciple then stands at a point of tension, with the decision behind him and the next step to be taken becoming clearer to his mental perception, and influencing his attitude to the future. When the work is done in the period of tension, then there comes what we might call the point of emergence. This is both an emergence from and also an emergence into a field of experience.
Trong đời sống của mỗi đệ tử, đặc biệt là của những người đang đối diện với những sự mở rộng lớn lao nào đó của tâm thức, sẽ xuất hiện một điểm khủng hoảng. Tại điểm khủng hoảng ấy, các quyết định được đưa ra một cách tự nguyện hoặc không tự nguyện; sau khi đã đưa ra chúng, đệ tử khi ấy đứng tại một điểm tập trung nhất tâm, với quyết định ở phía sau y và bước kế tiếp cần được thực hiện trở nên rõ ràng hơn đối với tri giác trí tuệ của y, đồng thời ảnh hưởng đến thái độ của y đối với tương lai. Khi công việc được hoàn tất trong giai đoạn nhất tâm, thì điều mà chúng ta có thể gọi là điểm xuất hiện sẽ đến. Đây vừa là một sự xuất hiện ra khỏi, vừa là một sự xuất hiện đi vào một lĩnh vực kinh nghiệm.
The Christ Himself is no exception to this threefold experience and—in order that we may understand more fully—let us apply these three phrases (inappropriate as they basically are) to the actions and the reactions of the Christ.
Chính Đức Christ cũng không phải là ngoại lệ đối với kinh nghiệm tam phân này và—để chúng ta có thể thấu hiểu đầy đủ hơn—chúng ta hãy áp dụng ba cụm từ này (vốn về căn bản là không thích hợp) vào các hành động và phản ứng của Đức Christ.
There is no crisis for Him in the sense that crises exist for us; there is no strain or stress attached to His point of tension; the parallel is, however, good enough to convey something to you of what has transpired within that state of awareness which distinguishes the spiritual Hierarchy; to this state of consciousness we can give the name of “spiritual perception,” in contradistinction to the mental perception which is the human counterpart. It must be remembered that the point of crisis, producing the point of tension to which the Christ may be regarded as voluntarily subjecting Himself is a hierarchical matter or event, because the entire Hierarchy is involved in the crisis. The reason for this is simple: the Christ and His workers know only the experience of group consciousness. A separative participation and attitude is unknown to [69] Them, for Their state of awareness is inclusive and in no way exclusive.
Đối với Ngài không có khủng hoảng theo nghĩa mà khủng hoảng tồn tại đối với chúng ta; không có sự căng thẳng hay áp lực nào gắn liền với điểm nhất tâm của Ngài; tuy nhiên, sự song hành này đủ tốt để truyền đạt cho bạn đôi điều về những gì đã diễn ra trong trạng thái nhận biết vốn là đặc trưng của Thánh đoàn tinh thần; đối với trạng thái tâm thức này chúng ta có thể đặt tên là “tri giác tinh thần,” đối lập với tri giác trí tuệ là đối phần nhân loại của nó. Cần nhớ rằng điểm khủng hoảng, tạo ra điểm nhất tâm mà Đức Christ có thể được xem là tự nguyện đặt mình vào, là một vấn đề hay biến cố của Thánh Đoàn, bởi vì toàn bộ Thánh Đoàn đều liên quan trong cuộc khủng hoảng ấy. Lý do của điều này rất đơn giản: Đức Christ và các cộng sự của Ngài chỉ biết đến kinh nghiệm của tâm thức nhóm. Sự tham dự và thái độ phân ly là điều không được biết đến đối với [69] Các Ngài, vì trạng thái nhận biết của Các Ngài là bao gồm và tuyệt nhiên không loại trừ.
Using, therefore, human terminology in order to interpret the divine reactions of the Christ and His disciples, it must be realised that the point of crisis which is responsible for hierarchical tension and for the eventual appearance or the emergence of the Christ, lies behind the Christ; it is in the field of long past experience. The consequent point of tension is now controlling the affairs of the spiritual Hierarchy and its many groups of workers. The “point of decision,” as it is called in all hierarchical circles, was reached during the period between the Full Moon of June, 1936, and the Full Moon of June, 1945. The point of decision covered, therefore, nine years (a relatively brief time); it resulted in the decision arrived at by the Christ to re-appear or return to visible Presence on Earth as soon as possible, and considerably earlier than had been planned.
Vì vậy, khi dùng thuật ngữ của con người để diễn giải các phản ứng thiêng liêng của Đức Christ và các đệ tử của Ngài, cần nhận ra rằng điểm khủng hoảng chịu trách nhiệm cho sự nhất tâm của Thánh Đoàn và cho sự xuất hiện hay sự hiển lộ cuối cùng của Đức Christ nằm phía sau Đức Christ; nó thuộc lĩnh vực của kinh nghiệm đã qua từ lâu. Điểm nhất tâm hệ quả hiện đang kiểm soát các công việc của Thánh đoàn tinh thần và nhiều nhóm người hoạt động của nó. “Điểm quyết định,” như nó được gọi trong mọi giới trong Thánh Đoàn, đã đạt tới trong giai đoạn giữa Kỳ Trăng Tròn tháng Sáu năm 1936 và Kỳ Trăng Tròn tháng Sáu năm 1945. Vì vậy, điểm quyết định kéo dài chín năm (một thời gian tương đối ngắn); nó dẫn đến quyết định mà Đức Christ đã đi đến là tái xuất hiện hay trở lại trong Sự Hiện Diện hữu hình trên Trái Đất càng sớm càng tốt, và sớm hơn đáng kể so với dự định.
This decision was necessarily made in consultation with the Lord of the World, the “Ancient of Days” of The Old Testament, and the “One in Whom we live and move and have our being” of The New Testament. He is the Custodian of the Will of God. It was also made with the full understanding and cooperation of the Masters and the senior initiates. This was inevitably so, because Their participation and help were imperative. They also necessarily had to be with Him in thought, and cooperating mentally, because His reappearance connotes a great hierarchical approach to humanity and a great spiritual event.
Quyết định này tất yếu đã được đưa ra sau khi tham khảo với Đức Chúa Tể Thế Giới, “Đấng Thái Cổ” của Cựu Ước, và “Đấng trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu” của Tân Ước. Ngài là Đấng Gìn Giữ Ý Chí của Thượng đế. Quyết định ấy cũng được đưa ra với sự thấu hiểu đầy đủ và sự hợp tác của các Chân sư và các điểm đạo đồ cao cấp. Điều này tất nhiên là như vậy, bởi vì sự tham dự và trợ giúp của Các Ngài là điều bắt buộc. Các Ngài cũng tất yếu phải ở cùng Ngài trong tư tưởng, và hợp tác về mặt trí tuệ, bởi vì sự tái xuất hiện của Ngài hàm ý một sự tiếp cận lớn lao của Thánh Đoàn đối với nhân loại và một biến cố tinh thần vĩ đại.
The decision was, nevertheless, the decision of the Christ and marked not only a point of crisis in His experience but a point of climax in His expression of divinity. With all reverence and within the bounds of our human [70] understanding, it must be remembered that there is nothing static in the entire evolutionary process of our planet or of the cosmos; there is naught but process and progress, a moving on, an increasing attainment and a mounting achievement. To this great law of the universe, even the Christ Himself is subject. In all reverence again, let it here be pointed out that He too has moved on in His experience of divinity and is (if it may be so expressed) closer to the Father and to the One Universal Life than ever before. His comprehension and His apprehension of the Will of God is deeper and His fulfilment of that Will is more in line with the divine Purpose than it was in Palestine two thousand years ago. There has necessarily been (on the part of Christ) a growing perception of the intention of the divine Mind, as it is embodied in that Identity to Whom we give the name of God.
Tuy nhiên, quyết định ấy vẫn là quyết định của Đức Christ và không chỉ đánh dấu một điểm khủng hoảng trong kinh nghiệm của Ngài mà còn là một điểm cực đỉnh trong sự biểu lộ thiên tính của Ngài. Với tất cả lòng tôn kính và trong giới hạn của sự thấu hiểu nhân loại [70] của chúng ta, cần nhớ rằng không có gì tĩnh tại trong toàn bộ tiến trình tiến hoá của hành tinh chúng ta hay của vũ trụ; không có gì ngoài tiến trình và tiến bộ, một sự tiến lên, một sự thành tựu ngày càng tăng và một sự đạt được ngày càng cao. Ngay cả chính Đức Christ cũng phải tuân theo định luật vĩ đại này của vũ trụ. Một lần nữa, với tất cả lòng tôn kính, cần chỉ ra ở đây rằng chính Ngài cũng đã tiến lên trong kinh nghiệm về thiên tính của mình và đang (nếu có thể diễn đạt như vậy) gần Cha và gần Sự sống Vũ Trụ Duy Nhất hơn bao giờ hết. Sự thấu hiểu và sự lĩnh hội của Ngài về Ý Chí của Thượng Đế sâu sắc hơn và sự hoàn thành Ý Chí ấy của Ngài phù hợp với Thiên Ý hơn so với thời Ngài ở Palestine hai ngàn năm trước. Tất yếu đã có (về phía Đức Christ) một tri giác ngày càng tăng về ý định của Trí của Thượng đế, như nó được hiện thân trong Bản Sắc mà chúng ta gọi là Thượng đế.
No longer need Christ, in agony say “Father, not my will but Thine be done”; He has today no personal will but only the will of His Father animates Him and the ability to make decisions which are a full expression of that divine Will. It is difficult to express His achievement in other words. Commentators have sought to explain away and gloss over the Gethsemane experience of the Christ, and to attribute what appears as weakness to an upsurging of Christ’s humanity and, consequently, to a temporary submergence of His divine nature. They have been forced into this position because of the prevalent theological dictum as to Christ’s divine perfection—an absolute, sovereign and ultimate perfection to which He Himself never made the slightest claim. He is today nearer that perfection than He ever was when before on Earth. It was this divine unfoldment which made it possible for Him to make right choice, not only for Himself [71] but also for the spiritual Hierarchy, during the years of decision, prior to June, 1945.
Đức Christ không còn cần phải đau đớn mà nói “Lạy Cha, xin đừng theo ý con mà theo ý Cha”; ngày nay Ngài không còn ý chí cá nhân nào nữa mà chỉ có ý chí của Cha Ngài làm sinh động Ngài và khả năng đưa ra những quyết định là sự biểu lộ trọn vẹn của Ý Chí thiêng liêng ấy. Thật khó diễn đạt thành tựu của Ngài bằng những lời khác. Các nhà chú giải đã tìm cách giải thích giảm nhẹ và che lấp kinh nghiệm Gethsemane của Đức Christ, và quy điều có vẻ như là yếu đuối cho một sự trỗi dậy của nhân tính nơi Đức Christ và do đó cho một sự chìm lấp tạm thời của bản chất thiêng liêng của Ngài. Họ đã bị buộc vào lập trường này vì giáo điều thần học phổ biến về sự toàn hảo thiêng liêng của Đức Christ—một sự toàn hảo tuyệt đối, tối thượng và tối hậu mà chính Ngài chưa bao giờ đưa ra dù chỉ là lời khẳng định nhỏ nhất. Ngày nay Ngài gần với sự toàn hảo ấy hơn bao giờ hết so với khi trước đây ở trên Trái Đất. Chính sự khai mở thiêng liêng này đã khiến Ngài có thể đưa ra lựa chọn đúng, không chỉ cho chính Ngài [71] mà còn cho Thánh đoàn tinh thần, trong những năm quyết định trước tháng Sáu năm 1945.
Under the divine will, He had to reappear on Earth in visible Presence. He had to preside over the materialisation of the Kingdom of God on Earth, and He had to re-institute the Mysteries of Initiation in such a form that they would prove the basis of the new world religion. Above all, He had to reveal the nature of the will of God. That will is often regarded as a power by means of which things are done, situations are brought about, activities are instituted and plans are worked out, and often ruthlessly worked out. This general definition is the easiest for men to formulate, because it is understood by them in terms of their own self-will, the will to individual self-betterment. This type of will is selfish and misunderstood at first, but tends eventually to selflessness, as evolution carries out its beneficent task. Then the will is interpreted in terms of the hierarchical plan and the effort of the individual man becomes that of negating his original self-will, and seeking then to merge his will with that of the group—the group being itself an aspect of hierarchical effort. This is a great step onward in orientation and will lead eventually to a change in consciousness.
Dưới ý chí thiêng liêng, Ngài phải tái xuất hiện trên Trái Đất trong Sự Hiện Diện hữu hình. Ngài phải chủ trì việc hiện thực hóa Thiên Giới trên Trái Đất, và Ngài phải tái lập các Mầu Nhiệm Điểm đạo dưới một hình thức sao cho chúng chứng tỏ là nền tảng của tôn giáo thế giới mới. Trên hết, Ngài phải mặc khải bản chất của ý chí Thượng đế. Ý chí ấy thường được xem như một quyền năng nhờ đó mọi việc được thực hiện, các hoàn cảnh được tạo ra, các hoạt động được thiết lập và các kế hoạch được triển khai, và thường được triển khai một cách tàn nhẫn. Định nghĩa chung này là điều dễ nhất để con người hình thành, bởi vì họ hiểu nó theo ý chí riêng của họ, ý chí hướng đến sự cải thiện bản thân cá nhân. Loại ý chí này lúc đầu là ích kỷ và bị hiểu sai, nhưng cuối cùng có xu hướng trở nên vô kỷ, khi tiến hoá thực hiện nhiệm vụ đầy ân phúc của nó. Khi ấy ý chí được diễn giải theo Thiên Cơ của Thánh Đoàn và nỗ lực của cá nhân trở thành việc phủ nhận ý chí riêng ban đầu của mình, rồi tìm cách dung hợp ý chí của mình với ý chí của nhóm—mà bản thân nhóm là một phương diện của nỗ lực của Thánh Đoàn. Đây là một bước tiến lớn trong sự định hướng và cuối cùng sẽ dẫn đến một sự thay đổi trong tâm thức.
It is at this stage that most aspirants today find themselves. However, the will is in reality something very different to these expressions of it which exist in the human consciousness as men attempt to interpret the divine Will in terms of their present point in evolution. The clue to understanding is to be found in the words, “blotting out all form.” When the lure of substance is overcome and desire dies, then the attractive power of the soul becomes dominant, and the emphasis (so long laid upon [72] individual form and individual living and activity) gives place to group form and group purpose. Then the attractive power of the Hierarchy and of the Masters’ groups of disciples supersedes the lower attractions and the lesser focal points of interest. When these then assume their rightful place in consciousness, then the dynamic pull of the Will Aspect of divinity can be felt—entirely unrelated to form or forms, or to groups or a group.
Chính ở giai đoạn này mà phần lớn những người chí nguyện ngày nay đang ở. Tuy nhiên, trên thực tế ý chí là một điều rất khác với những biểu hiện của nó đang tồn tại trong tâm thức con người khi con người cố gắng diễn giải Ý Chí thiêng liêng theo điểm tiến hoá hiện tại của mình. Chìa khóa để thấu hiểu được tìm thấy trong những lời, “xóa bỏ mọi hình tướng.” Khi sức quyến rũ của chất liệu được vượt qua và dục vọng chết đi, thì quyền năng hấp dẫn của linh hồn trở nên trội hơn, và sự nhấn mạnh (đã được đặt quá lâu lên [72] hình tướng cá nhân và đời sống cùng hoạt động cá nhân) nhường chỗ cho hình tướng nhóm và mục đích nhóm. Khi ấy quyền năng hấp dẫn của Thánh Đoàn và của các nhóm đệ tử của các Chân sư thay thế những sức hút thấp hơn và những tiêu điểm quan tâm nhỏ hơn. Khi những điều này đảm nhận vị trí chính đáng của chúng trong tâm thức, thì sức kéo năng động của Phương diện Ý Chí của thiên tính có thể được cảm nhận—hoàn toàn không liên hệ với hình tướng hay các hình tướng, hoặc với các nhóm hay một nhóm.
In the light of the Will of God, Christ made certain basic decisions and determined to carry them out in the relatively immediate future—the exact date of His coming being known only to Him and a few of His senior workers; yet all of these future events lie hid in a certain fundamental decision of humanity itself. This decision is being arrived at through certain new trends in human thinking, and will be the result of a subjective human reaction to the decision already arrived at by the Christ and the spiritual Hierarchy, the Church invisible.
Dưới ánh sáng của Ý Chí của Thượng Đế, Đức Christ đã đưa ra một số quyết định căn bản và quyết tâm thực hiện chúng trong tương lai tương đối gần—ngày chính xác của sự xuất hiện của Ngài chỉ được biết bởi chính Ngài và một vài cộng sự cao cấp của Ngài; tuy nhiên tất cả những biến cố tương lai này đều ẩn giấu trong một quyết định căn bản nào đó của chính nhân loại. Quyết định này đang được hình thành qua một số xu hướng mới trong tư tưởng nhân loại, và sẽ là kết quả của một phản ứng nội giới của con người đối với quyết định mà Đức Christ và Thánh đoàn tinh thần, Giáo hội vô hình, đã đi đến.
The motivation for this reappearance is complete and settled. It is clearly perceived by the Christ. The work initiated by Him two thousand years ago must be completed; the new world religion must be inaugurated; the needs of a demanding, invocative humanity cannot be ignored; those steps which precede a stupendous hierarchical initiation in which the Christ is the leading Participant must be taken; the events which are symptomatic of the “time of the end” may not be delayed.
Động cơ cho sự tái xuất hiện này là trọn vẹn và đã được an định. Nó được Đức Christ nhận biết rõ ràng. Công việc do Ngài khởi xướng hai ngàn năm trước phải được hoàn tất; tôn giáo thế giới mới phải được khai mở; những nhu cầu của một nhân loại đang khẩn cầu và kêu gọi không thể bị bỏ qua; những bước đi đi trước một cuộc điểm đạo vĩ đại của Thánh Đoàn mà trong đó Đức Christ là Người Tham Dự hàng đầu phải được thực hiện; những biến cố là triệu chứng của “thời kỳ cuối cùng” không thể bị trì hoãn.
If one may venture to speak in such terms (reverent and symbolical), the reward accorded to the Christ, as He announced His decision as final and irrevocable, was the permission or rather the right to use a certain great Invocation—never before granted—and to use it in two ways: [73]
Nếu người ta có thể mạo muội nói bằng những thuật ngữ như vậy (đầy tôn kính và mang tính biểu tượng), thì phần thưởng được ban cho Đức Christ, khi Ngài tuyên bố quyết định của mình là tối hậu và không thể đảo ngược, là sự cho phép hay đúng hơn là quyền được sử dụng một Đại Khấn Nguyện nào đó—chưa từng được ban trước đây—và sử dụng nó theo hai cách: [73]
1. As a hierarchical invocation, directed towards the “centre where the will of God is known.”
1. Như một lời khẩn cầu của Thánh Đoàn, hướng về “Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế.”
2. As a world prayer, expressed in such phraseology that all humanity could intelligently use it.
2. Như một lời cầu nguyện của thế giới, được diễn đạt bằng ngôn từ sao cho toàn thể nhân loại có thể sử dụng một cách thông minh.
The right to use certain great Words of Power or “Stanzas of Direction” is never lightly accorded. The decision of Christ to appear again among men, bringing His disciples with Him, drew forth this permission from the Lord of the World, the Ancient of Days.
Quyền được sử dụng một số Quyền năng từ hay “Các Bài Kệ Chỉ Đạo” vĩ đại nào đó không bao giờ được ban một cách dễ dàng. Quyết định của Đức Christ tái xuất hiện giữa loài người, mang theo các đệ tử của Ngài, đã rút ra sự cho phép này từ Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng Thái Cổ.
After this climaxing point of spiritual crisis and its consequent decision, a point of tension was reached and it is in this state of spiritual tension that the Church invisible is now working and planning, swinging the disciples of the Christ, active on Earth, into the same condition of spiritual tension. The success of Christ’s return to visible Presence, as well as other factors (related to His reappearance), are dependent upon happenings and contacts which are now taking place within this period of tension. In any point of tension—no matter what the time factor may be—energy is being generated, held for future use, and focussed in such a manner or condition that its force can be directed wherever needed and whenever called for. This is necessarily a statement hard to understand. A point of tension is, symbolically, a storehouse of power. Today the energies which will be uniquely distinctive of the Kingdom of God are gathering momentum and assuming direction through the agency of the Masters of the Wisdom, in cooperation with the will of Christ.
Sau điểm cực đỉnh của khủng hoảng tinh thần này và quyết định hệ quả của nó, một điểm nhất tâm đã đạt tới và chính trong trạng thái nhất tâm tinh thần này mà Giáo hội vô hình hiện đang làm việc và hoạch định, đưa các đệ tử của Đức Christ đang hoạt động trên Trái Đất vào cùng một tình trạng nhất tâm tinh thần. Sự thành công của việc Đức Christ trở lại trong Sự Hiện Diện hữu hình, cũng như các yếu tố khác (liên quan đến sự tái xuất hiện của Ngài), tùy thuộc vào những biến cố và những tiếp xúc hiện đang diễn ra trong giai đoạn nhất tâm này. Trong bất kỳ điểm nhất tâm nào—bất kể yếu tố thời gian là gì—năng lượng đang được tạo ra, được giữ lại để sử dụng trong tương lai, và được tập trung trong một cách thức hay tình trạng sao cho mãnh lực của nó có thể được định hướng đến bất cứ nơi nào cần và bất cứ khi nào được kêu gọi. Đây tất yếu là một phát biểu khó hiểu. Một điểm nhất tâm, về mặt biểu tượng, là một kho chứa quyền năng. Ngày nay, những năng lượng sẽ mang tính đặc trưng độc nhất của Thiên Giới đang tích lũy đà và nhận lấy định hướng qua tác nhân của các Chân sư của Minh triết, trong sự hợp tác với ý chí của Đức Christ.
Whilst this energy has been accumulating or mounting in potency ever since the Full Moon of June 1945, three events of great moment in the living experience of Christ (and, therefore, of the Hierarchy) have taken place and [74] their effects are in process of consolidation. I can only make reference to them, for it is not possible to prove the factual nature of what is here said; only possibility, probability and the Law of Correspondences can indicate the rightness of these events. Their effects will be noted, especially after the moment of emergence. These three events can be described as follows:
Trong khi năng lượng này đã tích lũy hay gia tăng tiềm lực kể từ Kỳ Trăng Tròn tháng Sáu năm 1945, thì ba biến cố có tầm quan trọng lớn trong kinh nghiệm sống của Đức Christ (và do đó của Thánh Đoàn) đã diễn ra và [74] các hiệu quả của chúng đang trong tiến trình được củng cố. Tôi chỉ có thể nhắc đến chúng, vì không thể chứng minh bản chất thực tế của điều đang được nói ở đây; chỉ có khả năng, xác suất và định luật tương ứng mới có thể chỉ ra tính đúng đắn của những biến cố này. Các hiệu quả của chúng sẽ được ghi nhận, đặc biệt sau thời điểm xuất hiện. Ba biến cố này có thể được mô tả như sau:
1. The Spirit of Peace descended upon Christ. The New Testament bears witness to a somewhat similar event when, at the Baptism, we read that “he saw the Spirit of God, descending like a dove and alighting upon Him.” (St. Matt. III.16.) This Spirit is a Being of tremendous cosmic potency and is today overshadowing the Christ in much the same manner as Christ (two thousand years ago) overshadowed or worked through the Master Jesus. This Spirit of Peace is not the sum total of an emotional and static calm, bringing to an end the turmoil on the Earth and instituting an era of peace. He is, in a mysterious sense, the Spirit of Equilibrium; He works with the Law of Action and Reaction and the inevitability of His activity will be recognised. His work will demonstrate in two ways—fully when the Christ appears among men and slowly and gradually until that time:
1. Đấng Tinh thần Hòa Bình đã giáng xuống trên Đức Christ. Tân Ước làm chứng cho một biến cố phần nào tương tự khi, vào lúc Lễ Rửa Tội, chúng ta đọc rằng “ông thấy Thánh Linh của Thượng đế giáng xuống như chim bồ câu và đậu trên Ngài.” (Thánh Matt. III.16.) Đấng Tinh thần này là một Hữu thể có tiềm lực vũ trụ to lớn và ngày nay đang phủ bóng Đức Christ theo cách gần giống như Đức Christ (hai ngàn năm trước) đã phủ bóng hay làm việc qua Chân sư Jesus. Đấng Tinh thần Hòa Bình này không phải là tổng số của một sự bình lặng cảm xúc và tĩnh tại, chấm dứt sự hỗn loạn trên Trái Đất và thiết lập một kỷ nguyên hòa bình. Theo một nghĩa huyền nhiệm, Ngài là Đấng Tinh thần của Sự Quân Bình; Ngài làm việc với Định luật Hành Động và Phản Ứng và tính tất yếu của hoạt động của Ngài sẽ được nhận ra. Công việc của Ngài sẽ biểu lộ theo hai cách—trọn vẹn khi Đức Christ xuất hiện giữa loài người và chậm rãi, dần dần cho đến thời điểm đó:
a. The chaos, turmoil, emotional disturbance and mental unbalance found in the world today will be (under this Law) balanced by a corresponding cycle of calm, emotional quiet and mental poise, thus releasing humanity into a new phase and experience of freedom. The adjusted peace will be commensurate to the experienced disturbance.
a. Sự hỗn loạn, náo động, xáo trộn cảm xúc và mất quân bình trí tuệ được tìm thấy trong thế giới ngày nay sẽ (dưới Định luật này) được quân bình bởi một chu kỳ tương ứng của sự bình an, yên tĩnh cảm xúc và quân bình trí tuệ, nhờ đó giải phóng nhân loại vào một giai đoạn và kinh nghiệm mới của tự do. Sự bình an được điều chỉnh sẽ tương xứng với sự xáo trộn đã trải qua.
b. The hate which is so dominant in the world today will—through the life of the Spirit of Peace, working through the Christ, the Embodiment of the [75] love of God—be balanced by an expressed goodwill. The guarantee of the appearance of that goodwill is the excessive expression of hate—a hate which has been slowly mounting in the minds of men since the beginning of the 19th century, and which is reaching a new high at this time. A proportionate measure of the energy of love will demonstrate later as the result of the activity of the Spirit of Peace, working through the Prince of Peace, as Christ has sometimes been called. (Is. IX.6.) This spiritual Being will not descend from the high place whereon He works and from whence His energy is directed, but the Christ will act and serve as the channel for His directed potency. The inflow of His divine energy (extra-planetary energy) is destined to bring peace eventually upon Earth, through the expression of goodwill. This goodwill will bring about right human relations. Humanity registered (unconsciously, of course) the first impact of this energy in May, 1936, and again in June, 1945.
b. Sự thù hận đang quá trội trong thế giới ngày nay sẽ—qua sự sống của Đấng Tinh thần Hòa Bình, làm việc qua Đức Christ, Đấng Hiện Thân của [75] bác ái của Thượng đế—được quân bình bởi một thiện chí được biểu lộ. Sự bảo đảm cho sự xuất hiện của thiện chí ấy là sự biểu lộ quá mức của thù hận—một sự thù hận đã tăng dần trong tâm trí con người kể từ đầu thế kỷ 19, và đang đạt đến một đỉnh cao mới vào lúc này. Một mức năng lượng bác ái tương xứng sẽ biểu lộ về sau như kết quả của hoạt động của Đấng Tinh thần Hòa Bình, làm việc qua Hoàng Tử Hòa Bình, như Đức Christ đôi khi được gọi như vậy. (Is. IX.6.) Hữu thể tinh thần này sẽ không giáng xuống từ chốn cao nơi Ngài làm việc và từ đó năng lượng của Ngài được định hướng, nhưng Đức Christ sẽ hành động và phụng sự như kênh dẫn cho tiềm lực được định hướng của Ngài. Dòng tuôn vào của năng lượng thiêng liêng của Ngài (năng lượng ngoài hành tinh) được định sẵn sẽ cuối cùng mang lại hòa bình trên Trái Đất, qua sự biểu lộ của thiện chí. Thiện chí này sẽ đem lại những tương quan đúng đắn giữa con người. Nhân loại đã ghi nhận (dĩ nhiên là vô thức) tác động đầu tiên của năng lượng này vào tháng Năm năm 1936, và một lần nữa vào tháng Sáu năm 1945.
2. The evolutionary force to which we give the name “the Christ consciousness” (a term largely used by the metaphysical groups in the world today) focussed itself in the person of the Christ in a manner hitherto unknown. This is the potency, latent in every human heart which was described by St. Paul as “Christ in you, the hope of glory” (Col. I.27), and is that which, under evolutionary law, brings a man eventually into the Kingdom of God and “unto the measure of the stature of the fullness of Christ.” (Eph. IV.13.) Of this potency and glory, Christ has ever been the symbol. During the [76] present period of hierarchical tension and as a result of His decision to reappear, Christ became the Embodiment of this energy and thus entered into a closer relation to humanity. Other great Sons of God are channels for this energy in relation to the subhuman kingdoms, but the Christ holds a unique place in relation to humanity. To express the idea symbolically, this energy creates a living bridge from the human kingdom to the Kingdom of God, from the fourth kingdom in nature to the fifth. The Christ is the custodian of this energy, but only temporarily and for the period of this human crisis. He can, because of this, stimulate the responsive factor in the hearts of men, enabling them to recognise and know Him for Who and what He is, when He reappears. This channelling of energy began at the close of the world war and is still going on; it is responsible for the trend towards betterment everywhere to be sensed, for the growth of the principle of sharing, and for the undeniable soundness of men’s hearts and thinking today—the soundness of the masses (when informed), far more than of their leaders.
2. Mãnh lực tiến hoá mà chúng ta gọi là “tâm thức Christ” (một thuật ngữ được các nhóm siêu hình học trên thế giới ngày nay sử dụng rộng rãi) đã tự tập trung trong con người của Đức Christ theo một cách chưa từng được biết đến trước đây. Đây là tiềm lực, tiềm ẩn trong mỗi trái tim con người, mà Thánh Paul đã mô tả là “Đức Christ ở trong anh em, niềm hy vọng của vinh quang” (Col. I.27), và là điều mà, dưới định luật tiến hoá, cuối cùng đưa con người vào Thiên Giới và “đến tầm vóc viên mãn của Đức Christ.” (Eph. IV.13.) Đức Christ từ lâu vẫn là biểu tượng của tiềm lực và vinh quang này. Trong [76] giai đoạn nhất tâm của Thánh Đoàn hiện nay và như kết quả của quyết định tái xuất hiện của Ngài, Đức Christ đã trở thành Đấng Hiện Thân của năng lượng này và nhờ đó đi vào một mối liên hệ gần gũi hơn với nhân loại. Những Con của Thượng đế vĩ đại khác là những kênh dẫn cho năng lượng này trong mối liên hệ với các giới dưới nhân loại, nhưng Đức Christ giữ một vị trí độc nhất trong mối liên hệ với nhân loại. Để diễn đạt ý tưởng một cách biểu tượng, năng lượng này tạo ra một cây cầu sống động từ giới nhân loại đến Thiên Giới, từ giới thứ tư trong thiên nhiên đến giới thứ năm. Đức Christ là Đấng gìn giữ năng lượng này, nhưng chỉ tạm thời và trong giai đoạn khủng hoảng nhân loại này. Vì điều đó, Ngài có thể kích thích yếu tố đáp ứng trong trái tim con người, giúp họ nhận ra và biết Ngài là Ai và là gì khi Ngài tái xuất hiện. Sự dẫn truyền năng lượng này đã bắt đầu vào cuối cuộc thế chiến và vẫn đang tiếp diễn; nó chịu trách nhiệm cho xu hướng hướng đến cải thiện được cảm nhận ở khắp nơi, cho sự tăng trưởng của nguyên tắc chia sẻ, và cho sự lành mạnh không thể phủ nhận của trái tim và tư tưởng con người ngày nay—sự lành mạnh của quần chúng (khi được thông tin), còn hơn của các nhà lãnh đạo của họ.
3. As you are well aware, human history has been essentially the history of great spiritual Messengers Who—from time to time, in the hours of human crisis—have come forth from the secret place of the Most High to aid, inspire, reveal, lead and direct. It is the history of the presentation of ideas, brought to the attention of humanity and gradually developed into civilisations and cultures. Such is the urgency of human need at this time, and such is the opportunity, that one such Son of God is—during this cycle of tension—seeking to cooperate with the Christ. As a result of Christ’s decision and His “spiritual fusion” with the Will of God, the Avatar of Synthesis has become, for the time being, His close Associate. [77] This is an event of supreme and planetary importance. His relationship and planned help date from the time of the pronouncing of the great Invocation and its use by men everywhere. Owing to the stupendous task confronting Christ, the Avatar of Synthesis will fortify Him, and He will be buttressed by this “Silent Avatar” Who (to speak symbolically) will “keep His eye upon Him, His hand beneath Him and His heart in unison with His.”
3. Như các bạn đã biết rõ, lịch sử nhân loại về căn bản là lịch sử của các Đấng Sứ Giả tinh thần vĩ đại, Những Đấng—thỉnh thoảng, trong những giờ phút khủng hoảng của nhân loại—đã xuất hiện từ nơi bí mật của Đấng Tối Cao để trợ giúp, truyền cảm hứng, mặc khải, dẫn dắt và chỉ đạo. Đó là lịch sử của sự trình bày các ý tưởng, được đưa đến sự chú ý của nhân loại và dần dần được phát triển thành các nền văn minh và văn hóa. Nhu cầu của nhân loại vào lúc này cấp bách đến thế, và cơ hội cũng lớn lao đến thế, đến nỗi một Con của Thượng đế như vậy đang—trong chu kỳ tập trung nhất tâm này—tìm cách hợp tác với Đức Christ. Do quyết định của Đức Christ và sự “dung hợp tinh thần” của Ngài với Ý Chí của Thượng Đế, Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp đã trở thành, trong một thời gian, Đấng Cộng Sự thân cận của Ngài. [77] Đây là một biến cố có tầm quan trọng tối cao và mang tính hành tinh. Mối liên hệ của Ngài và sự trợ giúp đã được hoạch định của Ngài bắt đầu từ lúc Đại Khấn Nguyện được xướng lên và được con người ở khắp nơi sử dụng. Do nhiệm vụ phi thường đang đặt ra trước Đức Christ, Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp sẽ tăng cường cho Ngài, và Ngài sẽ được nâng đỡ bởi “Đấng Hoá Thân Thầm Lặng” này, Đấng (nói theo biểu tượng) sẽ “đặt mắt Ngài trên Ngài, tay Ngài dưới Ngài và trái tim Ngài hòa nhịp với trái tim của Ngài.”
This Being is closely related to the Will Aspect of divinity, and His cooperation has been made possible through Christ’s Own attainment along the line of the highest, spiritual will. He works under the great natural Law of Synthesis, producing at-one-ment, unification and fusion. His function (in unison with the energy of Christ) is to generate spiritual will in humanity, the will-to-good; His potency works in three fields of activity at this time:
Đấng này có liên hệ mật thiết với Phương diện Ý Chí của thiên tính, và sự hợp tác của Ngài đã trở nên khả hữu nhờ chính sự thành tựu của Đức Christ trên đường lối của ý chí tinh thần cao nhất. Ngài hoạt động dưới Định luật tự nhiên vĩ đại của Tổng Hợp, tạo ra sự hợp nhất, thống nhất và dung hợp. Chức năng của Ngài (hòa cùng năng lượng của Đức Christ) là phát sinh ý chí tinh thần trong nhân loại, ý chí-hướng thiện; mãnh lực của Ngài hiện đang hoạt động trong ba lĩnh vực:
a. Within the spiritual Hierarchy itself, revealing the nature of the divine will-to-good which the Kingdom of God must express, and the nature also of divine Purpose.
a. Trong chính Thánh đoàn tinh thần, mặc khải bản chất của ý chí-hướng thiện thiêng liêng mà Thiên Giới phải biểu lộ, và cả bản chất của Thiên Ý.
b. Within the Assembly of the United Nations, though not within the Security Council; He is there generating a slowly growing will-to-unity.
b. Trong Đại hội của Liên Hiệp Quốc, tuy không ở trong Hội đồng Bảo an; tại đó Ngài đang phát sinh một ý chí-hướng đến hợp nhất đang tăng trưởng chậm rãi.
c. Within the masses of men everywhere, fostering the urge to a general betterment.
c. Trong quần chúng ở khắp nơi, nuôi dưỡng xung lực hướng đến một sự cải thiện tổng quát.
His activity is necessarily a mass activity, for He can only channel His energies through the mass consciousness or through a group conscious entity, such as the Hierarchy, the United Nations or Humanity. The focal point of His effort and the Agent through which distribution of His energy can be made is the New Group of World Servers; [78] this group is uniquely related to this Avatar of Synthesis. The bringing together of all the agents of goodwill (who are responsive to the energy of the divine will-to-good) constitutes the major objective of the New Group of World Servers and always has been. Their work can now be constructively and creatively intensified through the association of the Avatar of Synthesis with the Christ. Their task is to usher in the New Age; in that New Age, the five Kingdoms in Nature will begin to function as one creative whole. Their work falls into the following parts, functions or activities:
Hoạt động của Ngài tất yếu là một hoạt động quần chúng, vì Ngài chỉ có thể dẫn truyền các năng lượng của Ngài qua tâm thức quần chúng hoặc qua một thực thể có tâm thức nhóm, như Thánh Đoàn, Liên Hiệp Quốc hay Nhân loại. Tiêu điểm nỗ lực của Ngài và Tác Nhân qua đó sự phân phối năng lượng của Ngài có thể được thực hiện là Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian; [78] nhóm này có liên hệ độc đáo với Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp này. Việc quy tụ tất cả các tác nhân của thiện chí (những người đáp ứng với năng lượng của ý chí-hướng thiện thiêng liêng) tạo thành mục tiêu chính yếu của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và luôn luôn là như vậy. Công việc của họ giờ đây có thể được tăng cường một cách xây dựng và sáng tạo nhờ sự liên kết của Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp với Đức Christ. Nhiệm vụ của họ là mở đường cho Kỷ Nguyên Mới; trong Kỷ Nguyên Mới đó, năm giới trong Thiên Nhiên sẽ bắt đầu hoạt động như một toàn thể sáng tạo duy nhất. Công việc của họ gồm các phần, chức năng hay hoạt động sau đây:
a. The production of a human synthesis or unity which will lead to an universal recognition of the one humanity, brought about through right human relations.
a. Tạo ra một sự tổng hợp hay hợp nhất của nhân loại, điều sẽ dẫn đến sự công nhận phổ quát về một nhân loại, được mang lại qua các tương quan nhân loại đúng đắn.
b. The establishing of right relations with the subhuman kingdoms in nature, leading to the universal recognition that there is One World.
b. Thiết lập các tương quan đúng đắn với các giới dưới nhân loại trong thiên nhiên, dẫn đến sự công nhận phổ quát rằng có Một Thế Giới.
c. The anchoring of the Kingdom of God, the spiritual Hierarchy of our planet, in open expression on Earth, thus leading to the universal recognition that the sons of men are one.
c. Neo giữ Thiên Giới, Thánh đoàn tinh thần của hành tinh chúng ta, trong sự biểu lộ công khai trên Trái Đất, nhờ đó dẫn đến sự công nhận phổ quát rằng những người con của nhân loại là một.
These objectives the Avatar of Synthesis will foster and aid and for this purpose He has associated Himself with the Christ, working through the Hierarchy, under instruction from the “centre where the will of God is known.” These three related events and distributing points of energy have all come into activity during the point of tension in which Christ and the Hierarchy are at this time held. They all serve to re-direct and focus energy in relation to humanity, for all are the result of the decision made by Christ after His point of crisis, and are all connected [79] with the hierarchical preparation for Christ’s reappearance.
Những mục tiêu này sẽ được Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp nuôi dưỡng và trợ giúp, và vì mục đích đó Ngài đã liên kết chính mình với Đức Christ, hoạt động qua Thánh Đoàn, dưới sự chỉ thị từ “Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế.” Ba biến cố liên hệ với nhau này và các điểm phân phối năng lượng này đều đã đi vào hoạt động trong điểm tập trung nhất tâm mà Đức Christ và Thánh Đoàn hiện đang được giữ trong đó. Tất cả đều nhằm tái định hướng và hội tụ năng lượng liên quan đến nhân loại, vì tất cả đều là kết quả của quyết định do Đức Christ đưa ra sau điểm khủng hoảng của Ngài, và tất cả đều liên hệ [79] với sự chuẩn bị của Thánh Đoàn cho sự tái xuất hiện của Đức Christ.
II. Christ as the Forerunner of the Aquarian Age
II. Đức Christ như Đấng Tiền Phong của Kỷ Nguyên Bảo Bình
People are very apt to overlook the fact that though Christ recognised His function as Teacher and spiritual Leader of humanity during the age which is so rapidly drawing to a close, He also recognised the work which He would do when that age came to an end and the new astronomical cycle came into existence.
Con người rất dễ bỏ qua sự kiện rằng tuy Đức Christ đã nhận ra chức năng của Ngài là Huấn sư và Nhà Lãnh Đạo tinh thần của nhân loại trong thời đại đang rất nhanh chóng đi đến chỗ kết thúc, Ngài cũng nhận ra công việc mà Ngài sẽ thực hiện khi thời đại đó chấm dứt và chu kỳ thiên văn mới xuất hiện.
The average Christian is singularly unaware of the times and cycles through which our planet passes, under influence of solar progression. The at present dubious science of astrology has sidetracked the legitimate interest of humanity in the astronomical teaching and its spiritual interpretation of the passage of the Sun through the signs of the zodiac. Yet, in The New Testament, that recognition is clearly revealed and colours the presentation of the entire Gospel story. It is found also in The Old Testament. What was the sin of the Children of Israel in the desert but a reversion to the old Mithraic worship which distinguished the time when the sun was “in the sign of Taurus, the Bull,” as it is technically called. They fell down and worshipped the golden calf and forgot the new teaching of the age of Aries, the Ram, into which they were entering, the teaching of the Scapegoat which colours Jewish history.
Người Ki-tô hữu trung bình đặc biệt không nhận biết các thời kỳ và chu kỳ mà hành tinh chúng ta đi qua dưới ảnh hưởng của tiến trình thái dương. Khoa học chiêm tinh hiện còn đáng ngờ vào lúc này đã làm chệch hướng mối quan tâm chính đáng của nhân loại đối với giáo huấn thiên văn và sự giải thích tinh thần của nó về sự đi qua của Mặt Trời qua các dấu hiệu hoàng đạo. Tuy nhiên, trong Tân Ước, sự nhận biết đó được mặc khải rõ ràng và nhuốm màu cho toàn bộ câu chuyện Phúc Âm. Điều đó cũng được thấy trong Cựu Ước. Tội lỗi của Con cái Israel trong sa mạc là gì nếu không phải là sự quay trở lại với sự thờ phụng Mithra cổ xưa, vốn đặc trưng cho thời kỳ khi mặt trời “ở trong dấu hiệu Kim Ngưu, Con Bò Đực,” như cách gọi kỹ thuật. Họ sấp mình xuống thờ con bê vàng và quên mất giáo huấn mới của thời đại Bạch Dương, Con Cừu Đực, mà họ đang bước vào, giáo huấn về Con Dê Gánh Tội vốn nhuốm màu lịch sử Do Thái.
The fact that Christ was the Teacher of the new period into which the Sun was entering, the period of Pisces, is forgotten, but is clearly evidenced in the fish symbology which runs consistently through all four Gospels; the symbol of the Fish is the astrological symbol for the sign Pisces, and has been for untold ages. But Christ also [80] looked ahead to the work He would have to do in the Aquarian Age, in the next sign into which the sun would enter. Prior to His “disappearance,” He referred to the symbol of the Aquarian Age and to the task He would then perform. With His twelve disciples, He enacted a dramatic episode which epitomises the work which He would later undertake when the two thousand years of the Piscean era would have passed away. He told His disciples to go into the city and that there they would meet a man, carrying a pitcher of water, that they should follow him to the upper room and there make ready the communion feast in which He and they would share. (Luke XXII.10.) This they did and the Last Supper took place. The ancient symbol for the sign Aquarius (into which our Sun is now entering) is that of the Water-carrier, the man with a pitcher of water. This passing of the Sun into the sign Aquarius is an astronomical fact, as any one can ascertain by writing to any observatory; it is not an astrological prognostication. The great spiritual achievement and evolutionary event of that age will be the communion and human relationships established among all peoples, enabling men everywhere to sit down together in the Presence of the Christ and share the bread and wine (symbols of nourishment). Preparations for that shared feast (symbolically speaking) are on their way, and those preparations are being made by the masses of men themselves, as they fight and struggle and legislate for the economic sustenance of their nations, and as the theme of food occupies the attention of legislators everywhere. This sharing, beginning on the physical plane, will prove equally true of all human relations and this will be the great gift of the Aquarian Age to humanity. This the church has ignored and yet their ecclesiastics cannot explain away the fact that the Jews demonstrated [81] their liking for the Taurian worship of the Bull in the golden calf, that the Jewish dispensation used the symbol of the scapegoat or ram in the age of Aries, the Ram, and that the Christian emphasises the fish in the Piscean era, the Christian era.
Sự kiện rằng Đức Christ là Huấn sư của thời kỳ mới mà Mặt Trời đang đi vào, thời kỳ Song Ngư, đã bị quên lãng, nhưng được chứng minh rõ ràng trong biểu tượng con cá xuyên suốt nhất quán cả bốn sách Phúc Âm; biểu tượng Con Cá là biểu tượng chiêm tinh của dấu hiệu Song Ngư, và đã là như vậy từ những thời đại không thể tính đếm. Nhưng Đức Christ cũng [80] nhìn về phía trước đến công việc Ngài sẽ phải làm trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, trong dấu hiệu kế tiếp mà mặt trời sẽ đi vào. Trước khi Ngài “biến mất,” Ngài đã nhắc đến biểu tượng của Kỷ Nguyên Bảo Bình và nhiệm vụ mà khi ấy Ngài sẽ thực hiện. Cùng với mười hai đệ tử của Ngài, Ngài đã diễn một cảnh tượng đầy kịch tính, tóm lược công việc mà về sau Ngài sẽ đảm nhận khi hai ngàn năm của kỷ nguyên Song Ngư đã trôi qua. Ngài bảo các đệ tử đi vào thành phố và ở đó họ sẽ gặp một người đàn ông mang một bình nước, họ phải theo ông ấy lên phòng cao và tại đó chuẩn bị bữa tiệc hiệp thông mà Ngài và họ sẽ cùng chia sẻ. (Luke XXII.10.) Họ đã làm như vậy và Bữa Tiệc Ly đã diễn ra. Biểu tượng cổ xưa của dấu hiệu Bảo Bình (mà Mặt Trời chúng ta hiện đang đi vào) là Người Mang Nước, người đàn ông với bình nước. Việc Mặt Trời đi vào dấu hiệu Bảo Bình này là một sự kiện thiên văn, như bất cứ ai cũng có thể xác minh bằng cách viết thư cho bất kỳ đài thiên văn nào; đó không phải là một tiên đoán chiêm tinh. Thành tựu tinh thần vĩ đại và biến cố tiến hoá của thời đại đó sẽ là sự hiệp thông và các tương quan nhân loại được thiết lập giữa mọi dân tộc, giúp con người ở khắp nơi có thể cùng ngồi xuống trong Hiện Diện của Đức Christ và chia sẻ bánh và rượu vang (những biểu tượng của sự nuôi dưỡng). Những chuẩn bị cho bữa tiệc được chia sẻ đó (nói theo biểu tượng) đang được tiến hành, và những chuẩn bị ấy đang được chính quần chúng thực hiện, khi họ chiến đấu, vật lộn và lập pháp cho sự nuôi dưỡng kinh tế của các quốc gia mình, và khi chủ đề lương thực chiếm sự chú ý của các nhà lập pháp ở khắp nơi. Sự chia sẻ này, bắt đầu trên cõi hồng trần, sẽ chứng tỏ cũng đúng như vậy đối với mọi tương quan nhân loại và đây sẽ là món quà lớn lao của Kỷ Nguyên Bảo Bình dành cho nhân loại. Điều này giáo hội đã phớt lờ, vậy mà các giáo sĩ của họ không thể giải thích đi sự kiện rằng người Do Thái đã chứng tỏ [81] sự ưa thích của họ đối với sự thờ phụng Kim Ngưu là Con Bò Đực trong con bê vàng, rằng giáo pháp Do Thái đã dùng biểu tượng con dê gánh tội hay con cừu đực trong thời đại Bạch Dương, Con Cừu Đực, và rằng người Ki-tô hữu nhấn mạnh con cá trong kỷ nguyên Song Ngư, kỷ nguyên Ki-tô giáo.
Christ came to bring to an end the Jewish dispensation which should have climaxed and passed away as a religion with the movement of the sun out of Aries into Pisces. He, therefore, presented Himself to them as their Messiah, manifesting through the Jewish race. In the rejection of the Christ as the Messiah, the Jewish race has remained symbolically and practically in the sign Aries, the Scapegoat; they have to pass—again speaking symbolically—into the sign, Pisces, the Fishes, and recognise their Messiah when He comes again in the sign Aquarius. Otherwise, they will repeat their ancient sin of non-response to the evolutionary process. They rejected that which was new and spiritual in the desert; they did it again in Palestine two thousand years ago; will they do it again, as opportunity is offered to them? The difficulty with the Jew is that he remains satisfied with the religion of nearly five thousand years ago and shows as yet little desire to change.
Đức Christ đã đến để chấm dứt giáo pháp Do Thái, vốn lẽ ra phải đạt đến đỉnh điểm và qua đi như một tôn giáo cùng với sự chuyển động của mặt trời ra khỏi Bạch Dương để vào Song Ngư. Vì vậy, Ngài đã tự trình diện với họ như Đấng Messiah của họ, biểu lộ qua chủng tộc Do Thái. Trong việc từ chối Đức Christ như Đấng Messiah, chủng tộc Do Thái đã ở lại một cách biểu tượng và thực tế trong dấu hiệu Bạch Dương, Con Dê Gánh Tội; họ phải đi qua—một lần nữa nói theo biểu tượng—vào dấu hiệu Song Ngư, Hai Con Cá, và nhận ra Đấng Messiah của họ khi Ngài đến lần nữa trong dấu hiệu Bảo Bình. Nếu không, họ sẽ lặp lại tội lỗi cổ xưa của mình là không đáp ứng với tiến trình tiến hoá. Họ đã từ chối điều mới mẻ và tinh thần trong sa mạc; họ lại làm điều đó ở Palestine hai ngàn năm trước; liệu họ có làm điều đó lần nữa, khi cơ hội được trao cho họ không? Khó khăn với người Do Thái là y vẫn thỏa mãn với tôn giáo của gần năm ngàn năm trước và cho đến nay vẫn ít bộc lộ mong muốn thay đổi.
The coming in of the Aquarian Age, Christ foresaw and reduced to pictorial form for us, thus preserving for us—down the centuries—a prophetic episode, the interpretation of which is possible of demonstration only in our time and age. Astronomically, we are not yet functioning fully within the influence of Aquarius; we are only just emerging from the Piscean influence, and the full impact of the energies which Aquarius will set loose has not yet been felt. Nevertheless, each year carries us closer to the centre of power, the major effect of which will be to induce recognition of man’s essential unity, [82] of the processes of sharing and of cooperation and of the emergence of that new world religion whose keynote will be universality and initiation. If the word “initiation” signifies the processes of “entering into,” then it is indeed true today that humanity is undergoing a true initiation as it enters into the new age of Aquarius; it will then be subjected to those energies and forces which will break down the barriers of separation, and which will blend and fuse the consciousness of all men into that unity which is distinctive of the Christ consciousness.
Sự xuất hiện của Kỷ Nguyên Bảo Bình đã được Đức Christ thấy trước và chuyển thành hình thức biểu tượng cho chúng ta, nhờ đó gìn giữ cho chúng ta—qua bao thế kỷ—một cảnh tượng tiên tri, mà sự giải thích của nó chỉ có thể được chứng minh trong chính thời đại và kỷ nguyên của chúng ta. Về mặt thiên văn, chúng ta vẫn chưa hoạt động hoàn toàn trong ảnh hưởng của Bảo Bình; chúng ta chỉ vừa mới thoát ra khỏi ảnh hưởng Song Ngư, và tác động trọn vẹn của các năng lượng mà Bảo Bình sẽ giải phóng vẫn chưa được cảm nhận. Tuy nhiên, mỗi năm đều đưa chúng ta đến gần hơn trung tâm quyền năng, mà hiệu quả chính của nó sẽ là khơi dậy sự công nhận về tính hợp nhất cốt yếu của con người, [82] về các tiến trình chia sẻ và hợp tác, và về sự xuất hiện của tôn giáo thế giới mới mà chủ âm của nó sẽ là tính phổ quát và điểm đạo. Nếu từ “điểm đạo” hàm ý các tiến trình “đi vào trong,” thì quả thật ngày nay đúng là nhân loại đang trải qua một cuộc điểm đạo thực sự khi đi vào kỷ nguyên mới của Bảo Bình; khi ấy nhân loại sẽ chịu tác động của những năng lượng và mãnh lực sẽ phá vỡ các rào cản chia cách, và sẽ hòa trộn và dung hợp tâm thức của mọi người vào sự hợp nhất vốn là đặc trưng của tâm thức Christ.
In June, 1945, at the time of the full moon (so significant a day in the spiritual experience of the Christ), He definitely and consciously took over His duties and responsibilities as the Teacher and Leader during the Aquarian solar cycle. He is the first of the great world Teachers to cover two zodiacal cycles—the Piscean and the Aquarian. This is a statement easily made and written down, but again it involves the three modes or techniques of appearance to which I have already referred. His outpouring love and spiritual vitality (augmented by the energies of the Spirit of Peace, the Avatar of Synthesis and the Buddha) were refocussed and channelled into a great stream, pulled through into expression (if I may word it so inadequately) by the words of the Invocation, “Let love stream forth into the hearts of men.... Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.”
Vào tháng Sáu năm 1945, vào lúc trăng tròn (một ngày có ý nghĩa sâu xa trong kinh nghiệm tinh thần của Đức Christ), Ngài đã dứt khoát và có ý thức đảm nhận các nhiệm vụ và trách nhiệm của Ngài như Huấn sư và Nhà Lãnh Đạo trong chu kỳ thái dương Bảo Bình. Ngài là vị đầu tiên trong các Huấn sư thế giới vĩ đại bao trùm hai chu kỳ hoàng đạo—Song Ngư và Bảo Bình. Đây là một phát biểu dễ nói và dễ viết ra, nhưng một lần nữa nó bao hàm ba phương thức hay kỹ thuật xuất hiện mà tôi đã nhắc đến. Tình thương tuôn đổ và sinh lực tinh thần của Ngài (được tăng cường bởi các năng lượng của Đấng Tinh thần Hòa Bình, Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp và Đức Phật) đã được tái hội tụ và dẫn vào một dòng chảy lớn, được kéo vào biểu lộ (nếu tôi có thể diễn đạt một cách quá không đầy đủ như vậy) bởi những lời của Đại Khấn Nguyện, “Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người.... Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian.”
In those three words—light, love and power—the energies of His three Associates (the great Triangle of Force which stands in power behind Him) are described: the energy of the Buddha: Light, for the light ever comes from the East; the energy of the Spirit of Peace: Love, establishing right human relations; the energy of the Avatar of Synthesis: Power, implementing both light and love. At the centre of this Triangle the Christ took His [83] stand; from that point His Aquarian work began, and it will continue for two thousand five hundred years. Thus He inaugurated the new era and, upon the inner spiritual planes, the new world religion began to take form. The word “religion” concerns relationship, and the era of right human relations and of a right relation to the Kingdom of God began. Such a statement as this is easily made but its implications are far-reaching and stupendous.
Trong ba từ ấy—ánh sáng, tình thương và quyền năng—các năng lượng của ba Đấng Cộng Sự của Ngài (Tam Giác Mãnh Lực vĩ đại đứng đầy quyền năng phía sau Ngài) được mô tả: năng lượng của Đức Phật: Ánh sáng, vì ánh sáng luôn đến từ phương Đông; năng lượng của Đấng Tinh thần Hòa Bình: Tình thương, thiết lập các tương quan nhân loại đúng đắn; năng lượng của Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp: Quyền năng, thực thi cả ánh sáng lẫn tình thương. Ở trung tâm của Tam Giác này, Đức Christ đã đứng [83] vững; từ điểm đó công việc Bảo Bình của Ngài bắt đầu, và sẽ tiếp tục trong hai ngàn năm trăm năm. Như vậy Ngài đã khai mở kỷ nguyên mới và, trên các cõi tinh thần bên trong, tôn giáo thế giới mới bắt đầu thành hình. Từ “tôn giáo” liên quan đến tương quan, và kỷ nguyên của các tương quan nhân loại đúng đắn và của mối tương quan đúng đắn với Thiên Giới đã bắt đầu. Một phát biểu như thế này thì dễ nói ra, nhưng các hàm ý của nó thì sâu rộng và phi thường.
At that time also, the Christ assumed two new functions: one is connected with the second mode of His physical appearance and the other with the mode of over-shadowing. Over the masses, light, love and power are being poured forth and the growth of the Christ-consciousness is, therefore, being constantly stimulated. By His physical Presence, He will become the “Dispenser of the Water of Life”; through the over-shadowing of those sensitive to His impression and of His focussed Mind, He becomes what is technically known as the “Nourisher of the little ones.”
Vào lúc đó cũng vậy, Đức Christ đã đảm nhận hai chức năng mới: một chức năng liên hệ với phương thức thứ hai của sự xuất hiện hồng trần của Ngài và chức năng kia liên hệ với phương thức phủ bóng. Trên quần chúng, ánh sáng, tình thương và quyền năng đang được tuôn đổ xuống và vì thế sự tăng trưởng của tâm thức Christ đang liên tục được kích thích. Bằng Hiện Diện hồng trần của Ngài, Ngài sẽ trở thành “Đấng Phân Phát Nước của Sự Sống”; qua sự phủ bóng lên những người nhạy cảm với ấn tượng của Ngài và với Trí của Ngài đã được hội tụ, Ngài trở thành điều mà về mặt kỹ thuật được gọi là “Đấng Nuôi Dưỡng những kẻ bé nhỏ.”
As Dispenser of the Water of Life and as Nourisher of the Little Ones, He enters upon His duties in the Aquarian Age, whilst as the centre of the Triangle above mentioned, He influences, enlightens, and produces right relations in the masses of men. In the coming era, He will, therefore, be known as
Là Đấng Phân Phát Nước của Sự Sống và là Đấng Nuôi Dưỡng những Kẻ Bé Nhỏ, Ngài bước vào các nhiệm vụ của mình trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, trong khi với tư cách là trung tâm của Tam Giác đã nói ở trên, Ngài ảnh hưởng, soi sáng và tạo ra các tương quan đúng đắn trong quần chúng. Vì vậy, trong kỷ nguyên sắp đến, Ngài sẽ được biết đến như là
1. The Point within the Triangle.
1. Điểm ở trong Tam Giác.
2. The Dispenser of the Water of Life.
2. Đấng Phân Phát Nước của Sự Sống.
3. The Nourisher of the Little Ones.
3. Đấng Nuôi Dưỡng những Kẻ Bé Nhỏ.
These are descriptive of His threefold duties to mankind, and of the work which will be distinctive of His world service, throughout the Aquarian Age.
Đây là những mô tả về các nhiệm vụ tam phân của Ngài đối với nhân loại, và về công việc sẽ là nét đặc trưng của sự phụng sự thế giới của Ngài trong suốt Kỷ Nguyên Bảo Bình.
[84]
[84]
Let us look at these phases of His work and try to understand the significance of the responsibility which He has undertaken. Some understanding is necessary if the New Group of World Servers and the working disciples in the world are to prepare mankind adequately for His appearing. Much can be done if men will apply themselves to comprehension and to the needed subsequent activity.
Chúng ta hãy xem xét các phương diện này trong công việc của Ngài và cố gắng thấu hiểu thâm nghĩa của trách nhiệm mà Ngài đã đảm nhận. Một mức độ thấu hiểu nào đó là cần thiết nếu Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và các đệ tử đang hoạt động trong thế giới muốn chuẩn bị đầy đủ cho nhân loại đón sự xuất hiện của Ngài. Nhiều điều có thể được thực hiện nếu con người chịu chuyên tâm vào sự thấu hiểu và vào hoạt động tiếp theo cần thiết.
First, as the Point within the Triangle, Christ becomes the awakener of the hearts of men, and the one who institutes right human relations by being simply what He is and by standing unmoved where He is. This He accomplishes by transmitting the energies from the three points of the surrounding Triangle to humanity. This blended, impersonal energy, triple in nature, will be spread abroad universally, producing evolutionary growth, attracting people and nations magnetically to each other and automatically causing the unfoldment of the sense of synthesis, of provable unity and of a desirable fusion. Just as, during the Piscean Age, there was unfolded in humanity a mass responsiveness to knowledge and to the principle of intelligence, so in the Aquarian Age, a mass response to right relations will equally be evoked, and goodwill (as its expression) will be distinctive of the mass consciousness. It may be difficult to realise and appreciate this possibility but it was equally difficult for the mass of men in the first centuries of the Christian or Piscean era to realise the future growth of the educational systems of the world and the spread of that knowledge which is distinctive of our present civilisation and culture. Past attainment is ever the guarantee of future possibility.
Trước hết, với tư cách là Điểm ở trong Tam Giác, Đức Christ trở thành Đấng đánh thức trái tim của nhân loại, và là Đấng thiết lập các tương quan nhân loại đúng đắn chỉ bằng cách đơn giản là chính Ngài và đứng bất lay chuyển ở nơi Ngài đứng. Điều này Ngài hoàn thành bằng cách truyền các năng lượng từ ba điểm của Tam Giác bao quanh đến nhân loại. Năng lượng dung hợp, phi cá nhân, tam phân về bản chất này sẽ được lan tỏa khắp nơi, tạo ra sự tăng trưởng tiến hoá, thu hút con người và các quốc gia đến với nhau một cách từ tính và tự động gây ra sự khai mở của ý thức về tổng hợp, về sự hợp nhất có thể chứng minh được và về một sự dung hợp đáng mong muốn. Cũng như trong Kỷ Nguyên Song Ngư, nơi nhân loại đã khai mở một sự đáp ứng quần chúng đối với tri thức và đối với nguyên khí trí tuệ, thì trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, một sự đáp ứng quần chúng đối với các tương quan đúng đắn cũng sẽ được gợi lên tương tự, và thiện chí (như biểu hiện của nó) sẽ là nét đặc trưng của tâm thức quần chúng. Có thể khó nhận biết và đánh giá đúng khả năng này, nhưng điều đó cũng đã khó như vậy đối với quần chúng trong những thế kỷ đầu của kỷ nguyên Ki-tô giáo hay Song Ngư khi họ phải nhận biết sự phát triển tương lai của các hệ thống giáo dục trên thế giới và sự lan rộng của tri thức vốn là nét đặc trưng của nền văn minh và văn hóa hiện nay của chúng ta. Thành tựu trong quá khứ luôn là bảo chứng cho khả năng trong tương lai.
As Dispenser of the Water of Life, His work is most mysterious and not at all easy to comprehend. In His public work, two thousand years ago, He said: “I am come [85] that they may have life and that they may have it more abundantly.” (John X.10.) The Life Aspect—from the angle of the vision of Christ—expresses itself in three ways:
Là Đấng Phân Phát Nước của Sự Sống, công việc của Ngài vô cùng huyền nhiệm và hoàn toàn không dễ thấu hiểu. Trong công việc công khai của Ngài, hai ngàn năm trước, Ngài đã nói: “Ta đến [85] để họ có sự sống và có sự sống dồi dào hơn.” (John X.10.) Phương diện Sự Sống—xét từ góc độ tầm nhìn của Đức Christ—biểu lộ theo ba cách:
1. As physical life, nourishing the cells of the body. This life is found within each atom of substance as the central point of living light.
1. Như sự sống hồng trần, nuôi dưỡng các tế bào của thể xác. Sự sống này được tìm thấy trong mỗi nguyên tử của chất liệu như điểm trung tâm của ánh sáng sống động.
2. As livingness, seen as love and light within the heart. When this livingness is present and expressing itself, the human atom becomes a part of the spiritual Hierarchy.
2. Như tính sống động, được thấy như tình thương và ánh sáng trong trái tim. Khi tính sống động này hiện diện và đang biểu lộ, nguyên tử nhân loại trở thành một phần của Thánh đoàn tinh thần.
3. As Life more abundantly. This life can be known as light, love and power within and above the head of the disciple of the Christ. This abundant life enables him to cooperate, not only with humanity and with the spiritual Hierarchy, but also with Shamballa itself—the centre of life in its purest essence.
3. Như Sự Sống dồi dào hơn. Sự sống này có thể được biết như ánh sáng, tình thương và quyền năng bên trong và phía trên đầu của đệ tử của Đức Christ. Sự sống dồi dào này giúp y hợp tác không chỉ với nhân loại và với Thánh đoàn tinh thần, mà còn với chính Shamballa—trung tâm của sự sống trong tinh túy thuần khiết nhất của nó.
If we say that life is the livingness which enables, the words are relatively meaningless, are they not? If, however, the livingness is referred to the physical plane life, to the spiritual life of the disciple and to the living purpose of God, then some faint concept may come of the wonder of the work undertaken by the Christ in the past, and foreseen by Him as His future responsibility. Christ can draw upon the energies which are defined by the phrase “life more abundantly,” because they will set loose (in the Aquarian Age) in a new and dynamic manner the new energies needed in order to bring about restoration and resurrection. This new energy is the “implementing force of universality”; it concerns the future. This inflow of Aquarian energy is one of the factors which will enable [86] the Christ to complete His task as world Saviour and world Teacher. It was to the definite performance of His duties as Distributor, Nourisher and Dispenser that He pledged Himself in June, 1945, and entered upon His responsibilities as the Forerunner and the Teacher of the Aquarian Age.
Nếu chúng ta nói rằng sự sống là tính sống động làm cho có thể, thì những lời ấy tương đối vô nghĩa, phải không? Tuy nhiên, nếu tính sống động được liên hệ với sự sống cõi hồng trần, với sự sống tinh thần của đệ tử và với mục đích sống động của Thượng đế, thì một khái niệm mờ nhạt nào đó có thể xuất hiện về sự kỳ diệu của công việc mà Đức Christ đã đảm nhận trong quá khứ, và đã được Ngài thấy trước như trách nhiệm tương lai của mình. Đức Christ có thể rút từ các năng lượng được xác định bằng cụm từ “sự sống dồi dào hơn,” vì trong Kỷ Nguyên Bảo Bình chúng sẽ giải phóng theo một cách mới mẻ và năng động các năng lượng mới cần thiết để mang lại sự phục hồi và phục sinh. Năng lượng mới này là “mãnh lực thực thi của tính phổ quát”; nó liên quan đến tương lai. Dòng năng lượng Bảo Bình tuôn vào này là một trong những yếu tố sẽ giúp [86] Đức Christ hoàn tất nhiệm vụ của Ngài như Đấng Cứu Thế của thế giới và Huấn sư của thế giới. Chính đối với việc thực hiện dứt khoát các nhiệm vụ của Ngài như Đấng Phân Phối, Đấng Nuôi Dưỡng và Đấng Phân Phát mà Ngài đã cam kết vào tháng Sáu năm 1945, và bước vào các trách nhiệm của Ngài như Đấng Tiền Phong và Huấn sư của Kỷ Nguyên Bảo Bình.
As Nourisher of the Little Ones, we are dealing with an aspect of Christ’s work which involves the stimulation of the consciousnesses of His disciples as they prepare to undergo initiation or to enter into deeper phases of spiritual awareness. The result of His work in the Triangle with the masses of men will be the presentation of the first initiation—the Birth of the Christ in the cave of the Heart—as the basic ceremony in the new world religion. By means of this ceremony, the masses of men in all lands will be enabled to register consciously the “birth of the Christ” in the heart, and the “being born again” to which He Himself referred (John III.3) when here on Earth before. This new birth is what esotericists mean when they speak of the first initiation. It will not, in the future, be the experience of the occasional disciple but the general experience of countless thousands towards the close of the Aquarian Age. The purifying waters of the Baptism Initiation (the second initiation) will submerge hundreds of aspirants in many lands, and these two initiations (which are preparatory to true service, and the third initiation of the Transfiguration) will set the seal on Christ’s mission as the Agent of the great spiritual Triangle which He represents.
Là Đấng Nuôi Dưỡng những Kẻ Bé Nhỏ, chúng ta đang đề cập đến một phương diện trong công việc của Đức Christ, phương diện bao hàm sự kích thích các tâm thức của các đệ tử của Ngài khi họ chuẩn bị trải qua điểm đạo hoặc đi vào những giai đoạn sâu hơn của nhận biết tinh thần. Kết quả công việc của Ngài trong Tam Giác với quần chúng sẽ là việc trình bày lần điểm đạo thứ nhất—Sự Giáng Sinh của Đức Christ trong hang động của Trái Tim—như nghi lễ căn bản trong tôn giáo thế giới mới. Nhờ nghi lễ này, quần chúng ở mọi xứ sở sẽ có thể ghi nhận một cách hữu thức “sự giáng sinh của Đức Christ” trong trái tim, và việc “được sinh lại” mà chính Ngài đã nói đến (John III.3) khi trước đây còn ở trên Trái Đất. Sự sinh ra mới này là điều mà các nhà bí truyền học muốn nói đến khi họ nói về lần điểm đạo thứ nhất. Trong tương lai, đó sẽ không phải là kinh nghiệm của một vài đệ tử riêng lẻ mà là kinh nghiệm chung của vô số hàng ngàn người vào gần cuối Kỷ Nguyên Bảo Bình. Những làn nước thanh tẩy của Cuộc Điểm Đạo Rửa Tội (lần điểm đạo thứ hai) sẽ nhấn chìm hàng trăm người chí nguyện ở nhiều xứ sở, và hai lần điểm đạo này (vốn là sự chuẩn bị cho phụng sự chân chính, và cho lần điểm đạo thứ ba là Biến hình) sẽ đóng ấn lên sứ mệnh của Đức Christ như Tác Nhân của Tam Giác tinh thần vĩ đại mà Ngài đại diện.
The major work of Christ, however, as far as the disciples and the definitely spiritually-minded people of the world are concerned, plus the hundreds of thousands of advanced humanity, is so to “nourish” their spiritual consciousness and life that they will be enabled to take [87] the third and fourth initiations—those of the Transfiguration and the Renunciation (or Crucifixion).
Tuy nhiên, công việc chính yếu của Đức Christ, xét theo những gì liên quan đến các đệ tử và những người có khuynh hướng tinh thần rõ rệt trên thế giới, cộng với hàng trăm ngàn người thuộc nhân loại tiến bộ, là “nuôi dưỡng” tâm thức và sự sống tinh thần của họ sao cho họ có thể đảm nhận [87] lần điểm đạo thứ ba và thứ tư—Biến hình và Từ Bỏ (hay Đóng Đinh).
As esotericists know, the term “little ones” refers to those disciples who are “babes in Christ” (as The New Testament terms it) and who have taken the first two initiations of the Birth and the Baptism. They are aware of the spiritual aspiration which is indicative of the Christ life in their hearts, and they have subjected themselves to the processes of purification which culminate in the baptismal waters. Christ must prepare these aspirants for the higher initiations and so nourish and aid them that they can stand before the One Initiator and become pillars in the Temple of God (i.e., agents of the spiritual Hierarchy and, therefore, active, working disciples).
Như các nhà bí truyền học biết, thuật ngữ “những kẻ bé nhỏ” chỉ những đệ tử là “trẻ thơ trong Đức Christ” (như Tân Ước gọi) và đã trải qua hai lần điểm đạo đầu là Giáng Sinh và Rửa Tội. Họ nhận biết khát vọng tinh thần vốn là dấu hiệu của sự sống Christ trong trái tim họ, và họ đã tự đặt mình dưới các tiến trình thanh lọc đạt đến đỉnh điểm trong làn nước rửa tội. Đức Christ phải chuẩn bị những người chí nguyện này cho các lần điểm đạo cao hơn và nuôi dưỡng, trợ giúp họ sao cho họ có thể đứng trước Đấng Điểm đạo Duy Nhất và trở thành những cột trụ trong Đền thờ của Thượng đế (tức là các tác nhân của Thánh đoàn tinh thần và do đó là các đệ tử hoạt động, làm việc).
When He was in Palestine, centuries ago, He said, “no man cometh unto the Father but by me.” (John XIV.6.) This was a foretelling of the work which He would be called upon to do in the Aquarian era. In the first two initiations, aspirants (trained by senior disciples) find their way to Christ, Who administers the first two initiations; but—in these words—He is referring to still higher states of unfoldment. Through these initiations, administered by the Christ, the disciple becomes an agent of the love of God; the higher initiations enable him, however, to become, stage by stage, an agent of the will of God. The first group knows and understands the second stanza of the Invocation, “From the point of love within the heart of God, let love stream forth into the hearts of men”; the group which (in the Aquarian Age) the Christ Himself will “nourish” and prepare will know the meaning of the third stanza, “From the centre where the will of God is known, let purpose guide the little wills of men.”
Khi ở Palestine, nhiều thế kỷ trước, Ngài đã nói, “chẳng ai đến được với Cha mà không qua ta.” (John XIV.6.) Đây là một lời báo trước về công việc mà Ngài sẽ được kêu gọi thực hiện trong kỷ nguyên Bảo Bình. Trong hai lần điểm đạo đầu, những người chí nguyện (được các đệ tử cao cấp huấn luyện) tìm đường đến với Đức Christ, Đấng ban hai lần điểm đạo đầu; nhưng—trong những lời này—Ngài đang nói đến những trạng thái khai mở còn cao hơn nữa. Qua những lần điểm đạo do Đức Christ ban này, đệ tử trở thành một tác nhân của tình thương của Thượng đế; tuy nhiên, các lần điểm đạo cao hơn giúp y, từng giai đoạn một, trở thành một tác nhân của ý chí của Thượng đế. Nhóm thứ nhất biết và thấu hiểu bài kệ thứ hai của Đại Khấn Nguyện, “Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế, Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người”; nhóm mà chính Đức Christ sẽ “nuôi dưỡng” và chuẩn bị trong Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ biết ý nghĩa của bài kệ thứ ba, “Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế, Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người.”
[88]
[88]
The work of Christ, during the Piscean Age, was to relate humanity to the Hierarchy of the planet; in the Aquarian Age, His work will be to relate this rapidly growing group to that higher centre where the Father is contacted, where recognition of sonship is accorded and where the divine purpose can be known. Through the coming work of Christ, the three divine aspects, recognised by all the world religions (including the Christian religion)—Intelligence or the Universal Mind, Love and Will—will be consciously developed in mankind; humanity, the spiritual Hierarchy and the “centre where the will of God is known” will be brought into a more open and general relationship.
Công việc của Đức Christ trong Kỷ Nguyên Song Ngư là liên kết nhân loại với Thánh Đoàn của hành tinh; trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, công việc của Ngài sẽ là liên kết nhóm đang tăng trưởng nhanh chóng này với trung tâm cao hơn kia, nơi tiếp xúc được với Đức Cha, nơi sự công nhận thiên tử tính được ban cho và nơi thiên ý có thể được biết đến. Qua công việc sắp đến của Đức Christ, ba phương diện thiêng liêng, được mọi tôn giáo thế giới công nhận (kể cả Ki-tô giáo)—Trí tuệ hay Vũ Trụ Trí, Tình thương và Ý chí—sẽ được phát triển một cách hữu thức trong nhân loại; nhân loại, Thánh đoàn tinh thần và “Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế” sẽ được đưa vào một mối liên hệ cởi mở và phổ quát hơn.
The mystical approach to the Kingdom of God will gradually die out as the race achieves increasing intelligence and a more scientific approach will be favoured; the rules for admission into that Kingdom will become objective; the laws governing the highest centre of the divine will will also be revealed to those who are members of the Kingdom of God and all this will come about under the supervision of the Christ after His reappearance among men. The keynote of His mission then will be to evoke from humanity a response to spiritual influence and an unfoldment (on a large scale) of intuitive perception—a faculty which is, at present, rare indeed. When He came before, He evoked from humanity a gradual response to truth and mental understanding. That is why, at the end of the cycle which He inaugurated two thousand years ago, we have formulated doctrines and a widespread mental or intellectual development.
Cách tiếp cận thần bí đối với Thiên Giới sẽ dần dần mất đi khi nhân loại đạt được trí tuệ ngày càng tăng và một cách tiếp cận khoa học hơn sẽ được ưa chuộng; các quy luật để được thu nhận vào Thiên Giới sẽ được biểu lộ ra bên ngoài; các định luật chi phối trung tâm cao nhất của ý chí thiêng liêng cũng sẽ được mặc khải cho những ai là thành viên của Thiên Giới, và tất cả điều này sẽ diễn ra dưới sự giám sát của Đức Christ sau khi Ngài tái xuất hiện giữa nhân loại. Chủ âm của sứ mệnh Ngài khi ấy sẽ là gợi lên từ nhân loại một sự đáp ứng đối với ảnh hưởng tinh thần và một sự khai mở (trên quy mô lớn) của linh thị trực giác—một năng lực mà hiện nay quả thật còn rất hiếm. Khi Ngài đến trước đây, Ngài đã gợi lên từ nhân loại một sự đáp ứng dần dần đối với chân lý và sự thấu hiểu trí tuệ. Đó là lý do tại sao, vào cuối chu kỳ mà Ngài đã khai mở hai ngàn năm trước, chúng ta đã hình thành các giáo lý và một sự phát triển trí tuệ hay tri thức rộng khắp.
III. Christ as the Releaser of Energy
III. Đức Christ như Đấng Giải Phóng Năng Lượng
During the first three months of the period of crisis through which Christ and the Hierarchy passed and which [89] was ended by His announced decision, certain great Energies, or fundamental streams of force were made available to Christ and His disciples. Today, the fact that energy is the basic substance in the universe, that all forms of life are energy forms, living within greater energy forms, and that all such forms—great or small—use energy and act as distributors of energy is a well-known and generally accepted fact by thinking and intelligent people. Speech, the written word, and motivated activity are all expressions of energy, lead to the spread of energy and to activities which are all expressions of energy and the cause of energy distribution. Governments, churches, organisations and groups are all energy distributors, and also storehouses of energy. Humanity itself is a great centre of energy, affecting all the subhuman kingdoms, and forming likewise within itself a great system of inter-related energies. The same thing is true of the individual who, by his acts and words, employs energy, produces effects which are energy effects and acts as a distributor of energy. Where the undeveloped individual is concerned, he realises none of this and the energy which he manipulates is of relatively small importance. As evolution proceeds, and individual men and women achieve power and expression, their use of energy is frequently of major importance; they become dynamic centres of energy distribution and their words (spoken or written), plus their activities, produce wide effects and momentous results. The Hierarchy is a great energy centre and, through the Christ, its energy reaches humanity; this is the significance of His words “I am come that they might have life.” Life and energy are synonymous terms.
Trong ba tháng đầu của thời kỳ khủng hoảng mà Đức Christ và Thánh Đoàn đã trải qua và vốn [89] kết thúc bằng quyết định được Ngài công bố, một số Năng Lượng vĩ đại, hay những dòng mãnh lực căn bản, đã được dành sẵn cho Đức Christ và các đệ tử của Ngài. Ngày nay, sự kiện rằng năng lượng là chất liệu căn bản trong vũ trụ, rằng mọi hình tướng sự sống đều là những hình tướng năng lượng, sống bên trong những hình tướng năng lượng lớn hơn, và rằng mọi hình tướng như thế—lớn hay nhỏ—đều sử dụng năng lượng và hoạt động như những nhà phân phối năng lượng, là một sự kiện đã được biết rõ và được những người suy tư và thông minh chấp nhận rộng rãi. Lời nói, chữ viết, và hoạt động có động cơ đều là những biểu hiện của năng lượng, dẫn đến sự lan truyền năng lượng và đến những hoạt động vốn đều là biểu hiện của năng lượng và là nguyên nhân của sự phân phối năng lượng. Các chính phủ, giáo hội, tổ chức và nhóm đều là những nhà phân phối năng lượng, đồng thời cũng là những kho chứa năng lượng. Bản thân nhân loại là một trung tâm năng lượng lớn, ảnh hưởng đến tất cả các giới dưới nhân loại, và cũng hình thành trong chính mình một hệ thống lớn các năng lượng liên hệ với nhau. Điều tương tự cũng đúng với cá nhân, là người bằng hành vi và lời nói của mình sử dụng năng lượng, tạo ra những hiệu quả là hiệu quả năng lượng và hoạt động như một nhà phân phối năng lượng. Khi liên quan đến cá nhân chưa phát triển, ông không nhận ra điều nào trong số này và năng lượng mà ông thao tác có tầm quan trọng tương đối nhỏ. Khi tiến hoá tiếp diễn, và những người nam và nữ riêng lẻ đạt được quyền năng và biểu hiện, việc sử dụng năng lượng của họ thường có tầm quan trọng lớn lao; họ trở thành những trung tâm năng lượng năng động của sự phân phối, và lời nói của họ (nói ra hay viết ra), cộng với các hoạt động của họ, tạo ra những hiệu quả rộng lớn và những kết quả trọng đại. Thánh Đoàn là một trung tâm năng lượng lớn và, qua Đức Christ, năng lượng của nó đến với nhân loại; đây là ý nghĩa trong lời Ngài “Ta đến để họ có sự sống.” Sự sống và năng lượng là những thuật ngữ đồng nghĩa.
During the war (1914-1945), the Christ and the Hierarchy looked on at a dying world; men and forms were dying on every hand; old ideals, organisations and [90] groups were passing away and the spectre of death stalked on every hand. Destruction characterised the phenomenal world, as well as the subtler worlds of feeling and of thought; life was withdrawn and death resulted. The problem of Christ and His disciples was to see that the old and the undesirable were not revivified. Their task was not the resuscitation of the dead and the useless; the directed inflow of life, carrying the capacity to build anew and the energy which could produce a new world and a new civilisation—there lay Their opportunity and Their responsibility.
Trong chiến tranh (1914-1945), Đức Christ và Thánh Đoàn đã nhìn vào một thế giới đang chết; con người và các hình tướng đang chết ở khắp nơi; các lý tưởng, tổ chức và [90] nhóm cũ đang qua đi và bóng ma của cái chết rình rập khắp nơi. Sự hủy diệt là đặc trưng của thế giới hiện tượng, cũng như của các thế giới vi tế hơn của cảm xúc và tư tưởng; sự sống bị rút đi và cái chết là kết quả. Vấn đề của Đức Christ và các đệ tử của Ngài là phải bảo đảm rằng cái cũ và cái không mong muốn không được hồi sinh. Nhiệm vụ của Các Ngài không phải là làm sống lại những gì đã chết và vô dụng; chính trong dòng sự sống được hướng dẫn, mang theo khả năng xây dựng lại và năng lượng có thể tạo ra một thế giới mới và một nền văn minh mới—ở đó có cơ hội và trách nhiệm của Các Ngài.
The reactionary forces of the world—political and religious—desired the resurrection of the old and dead forms; they threw their weight and their influence (which is only another name for energy) against all that was new. This, they are still doing. The progressive forces fight only for that which is new, and seek not the preservation of any of the old forms, even if they could serve a useful purpose. Their energetic denial of all that is of the past, and the destroying energy which they direct against anything which is of the old regime are likewise handicapping the efforts of the Hierarchy. In these progressive forces, hope does indeed lie, but they sadly lack skill in action and have too great a love for destruction. The New Group of World Servers holds steadily to the “Noble Middle Way” (as the Buddha called it) and seeks the decent burial of old forms, the implementation of that which is new and the restoration of that which has, in the past, proved useful and good and which could form the living germ of the new creation.
Các lực lượng phản động của thế giới—chính trị và tôn giáo—mong muốn sự phục sinh của các hình tướng cũ và đã chết; họ dồn sức nặng và ảnh hưởng của mình (mà chỉ là một tên gọi khác của năng lượng) chống lại mọi điều mới mẻ. Họ vẫn đang làm như vậy. Các lực lượng tiến bộ chỉ chiến đấu cho điều mới, và không tìm cách bảo tồn bất kỳ hình tướng cũ nào, ngay cả khi chúng có thể phục vụ một mục đích hữu ích. Sự phủ nhận đầy năng lượng của họ đối với tất cả những gì thuộc về quá khứ, và năng lượng hủy diệt mà họ hướng vào bất cứ điều gì thuộc chế độ cũ, cũng đang cản trở những nỗ lực của Thánh Đoàn. Trong các lực lượng tiến bộ này quả thật có hy vọng, nhưng họ đáng buồn thay lại thiếu kỹ năng trong hành động và có tình yêu quá lớn đối với sự hủy diệt. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian kiên định giữ “Con Đường Trung Đạo Cao Quý” (như Đức Phật đã gọi) và tìm cách chôn cất đàng hoàng các hình tướng cũ, thực thi điều mới và phục hồi điều trong quá khứ đã chứng tỏ là hữu ích và tốt đẹp và có thể tạo thành mầm sống của sáng tạo mới.
At the time of the Full Moon of April 1945, during the Easter season of that year and covering approximately a period of five weeks, the Forces of Restoration began their work, emerging first upon the subtler planes [91] of human experience. This type of energy is peculiarly creative in nature and carries the “life which produces the birth of forms.” It poured into the Hierarchy, via certain of the Masters and Their groups of disciples, and was immediately transmitted by Them to humanity as a whole. This energy is a mass energy and is related to the stimulation of the mass intelligence; it is not the energy which we have earlier considered when dealing with the Christ consciousness in man. This is the energy which makes men think, plan and take action; it produces neither bad nor good results but simply brings about the awakening of men’s minds so that they take intelligent action. That action is necessarily dependent upon the type of mind of the man who responds to the forces of restoration, conditioned by his point in evolution, his racial and national background, his tradition and his religious and civilised reactions. These forces are active now in every land, frequently producing increased initial difficulties but leading eventually to a definite reorganisation of the national or planetary life. Their effects will be primarily physical; they will bring about a new world in which the evidences of war will have disappeared, the physical health of men and animals will be bettered, and cities and villages will be rebuilt. Their objective is the production of the new Earth and all the outer evidences of an inflowing new life.
Vào lúc Trăng Tròn tháng Tư năm 1945, trong mùa Phục Sinh của năm đó và kéo dài khoảng năm tuần, các Mãnh Lực Phục Hồi bắt đầu công việc của mình, trước hết xuất hiện trên các cõi vi tế hơn [91] của kinh nghiệm nhân loại. Loại năng lượng này đặc biệt có bản chất sáng tạo và mang theo “sự sống tạo ra sự sinh thành của các hình tướng.” Nó tuôn vào Thánh Đoàn, qua một số Chân sư và các nhóm đệ tử của Các Ngài, và ngay lập tức được Các Ngài truyền đến toàn thể nhân loại. Năng lượng này là năng lượng quần chúng và liên hệ với sự kích thích trí tuệ quần chúng; đó không phải là năng lượng mà trước đây chúng ta đã xem xét khi bàn đến tâm thức Christ trong con người. Đây là năng lượng khiến con người suy nghĩ, hoạch định và hành động; nó không tạo ra kết quả xấu hay tốt mà chỉ đơn giản mang lại sự thức tỉnh của trí óc con người để họ hành động một cách thông minh. Hành động đó tất yếu tùy thuộc vào loại trí tuệ của người đáp ứng với các mãnh lực phục hồi, được tác động bởi điểm tiến hoá của y, bối cảnh chủng tộc và quốc gia của y, truyền thống của y và các phản ứng tôn giáo và văn minh của y. Các mãnh lực này hiện đang hoạt động ở mọi xứ sở, thường tạo ra những khó khăn ban đầu gia tăng nhưng cuối cùng dẫn đến một sự tái tổ chức rõ rệt của đời sống quốc gia hay hành tinh. Các hiệu quả của chúng trước hết sẽ là hồng trần; chúng sẽ mang lại một thế giới mới trong đó các dấu vết của chiến tranh sẽ biến mất, sức khỏe thể chất của người và thú vật sẽ được cải thiện, và các thành phố cùng làng mạc sẽ được tái thiết. Mục tiêu của chúng là tạo ra Trái Đất mới và mọi bằng chứng bên ngoài của một sự sống mới đang tuôn vào.
Following this inflow, at the time of the Full Moon of the Buddha in May 1945, the forces of enlightenment became active, and light began to stream into the minds of men. These are, in reality, the energies which initiate the new world education. Those first to be affected by them are the great educational movements, the forums of the people in all lands and the values which are now unfolding through the radio and the moving picture industry; [92] others deeply affected are the press, the publishers of world literature, speakers, writers, radio commentators, newspaper men and social workers. These effects may not yet be apparent for little time has as yet elapsed, but all these movements and people are the recipients today of the energies of enlightenment if they are prompt to recognise new emerging ideas; they are the custodians of this energy and its distributing agents, channelling it and directing it so that the masses of the people everywhere come under its influence. Progressive and liberal churchmen in all the world religions are also responsive to this energy, but their usefulness is greatly handicapped, owing to the reactionary nature of the setting or field in which they have to work; they are confronted with a well-nigh impossible task.
Tiếp theo dòng tuôn đổ này, vào lúc Trăng Tròn của Đức Phật tháng Năm năm 1945, các mãnh lực soi sáng trở nên hoạt động, và ánh sáng bắt đầu tuôn vào trí óc con người. Thực ra, đây là những năng lượng khởi xướng nền giáo dục thế giới mới. Những đối tượng đầu tiên bị ảnh hưởng bởi chúng là các phong trào giáo dục lớn, các diễn đàn của nhân dân ở mọi xứ sở và các giá trị hiện đang khai mở qua đài phát thanh và ngành điện ảnh; [92] những đối tượng khác bị ảnh hưởng sâu sắc là báo chí, các nhà xuất bản văn học thế giới, các diễn giả, nhà văn, bình luận viên phát thanh, nhà báo và nhân viên công tác xã hội. Những hiệu quả này có thể chưa rõ ràng vì cho đến nay vẫn còn ít thời gian trôi qua, nhưng tất cả các phong trào và những con người này ngày nay đều là những người tiếp nhận các năng lượng soi sáng nếu họ mau chóng nhận ra các ý tưởng mới đang xuất hiện; họ là những người gìn giữ năng lượng này và là các tác nhân phân phối của nó, dẫn truyền và định hướng nó để quần chúng ở khắp nơi chịu ảnh hưởng của nó. Các giáo sĩ tiến bộ và tự do trong mọi tôn giáo thế giới cũng đáp ứng với năng lượng này, nhưng tính hữu dụng của họ bị cản trở rất nhiều do bản chất phản động của bối cảnh hay lĩnh vực mà họ phải làm việc trong đó; họ đang đối diện với một nhiệm vụ gần như bất khả thi.
These energies of enlightenment reach humanity, via the New Group of World Servers who are very susceptible to their impact, and who are in a position to distribute them, because they are to be found working in all the fields of activity mentioned above.
Các năng lượng soi sáng này đến với nhân loại, thông qua Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, những người rất nhạy cảm với tác động của chúng, và ở vào vị thế có thể phân phối chúng, bởi vì họ hiện diện và hoạt động trong mọi lĩnh vực sinh hoạt đã được nhắc đến ở trên.
The forces of restoration are related to and emanate from the Mind of God and are connected with the intelligent principle in the divine nature; the intellect is that divine aspect which distinguishes man from all other forms in nature. The forces of enlightenment come from the Heart of God and are related to divine understanding and can, therefore, reach and strengthen all those who love and serve their fellowmen. This energy is related to the second aspect or principle of divinity, love-wisdom, of which the Buddha and the Christ are the two outstanding divine expressions. It is mainly through Them and Their disciples, or the Masters on the same line of divine expression, that these energies reach humanity, channelled by the New Group of World Servers.
Các mãnh lực phục hồi có liên hệ với và phát xuất từ Trí của Thượng đế, và gắn liền với nguyên khí trí tuệ trong bản chất thiêng liêng; trí năng là phương diện thiêng liêng phân biệt con người với mọi hình tướng khác trong thiên nhiên. Các mãnh lực soi sáng đến từ Tâm của Thượng đế và liên hệ với sự thấu hiểu thiêng liêng, vì thế có thể tiếp cận và tăng cường cho tất cả những ai yêu thương và phụng sự đồng loại của mình. Năng lượng này liên hệ với phương diện hay nguyên khí thứ hai của thiên tính, Bác Ái – Minh Triết, mà Đức Phật và Đức Christ là hai biểu hiện thiêng liêng nổi bật nhất. Chính chủ yếu qua Các Ngài và các đệ tử của Các Ngài, hay các Chân sư trên cùng đường lối biểu hiện thiêng liêng ấy, mà các năng lượng này đến với nhân loại, được dẫn truyền qua Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.
[93]
[93]
The Christ and the Buddha combined the Way of the Mind and the Way of the Heart in Their perfection, and towered above their fellowmen from the heights of Their achievement. They swayed hemispheres and centuries, whereas lesser sons of God sway countries and shorter periods of time. They still have some consummating work to carry through, though the indicated work lies not so much with the forms which embody Their enunciated divine principles—light and love—as with the souls who have evolved through the application of these principles.
Đức Christ và Đức Phật đã kết hợp Con đường của Trí Tuệ và Con đường của Tâm trong sự toàn thiện của Các Ngài, và vượt cao hơn đồng loại từ những đỉnh cao thành tựu của Các Ngài. Các Ngài đã chi phối cả những bán cầu và nhiều thế kỷ, trong khi những Con của Thượng đế ở cấp thấp hơn chỉ chi phối các quốc gia và những khoảng thời gian ngắn hơn. Các Ngài vẫn còn một số công việc hoàn tất phải thực hiện, mặc dù công việc được chỉ ra không nằm nhiều nơi các hình tướng hiện thân cho những nguyên khí thiêng liêng mà Các Ngài đã công bố—ánh sáng và tình thương—cho bằng nơi các linh hồn đã tiến hoá nhờ việc áp dụng các nguyên khí ấy.
In June 1945, Christ set in motion the forces of reconstruction which are related to the Will aspect of divinity and which remain as yet the least powerful of the three streams of energy, released during the three Full Moon Festivals in 1945. These forces of reconstruction are effective mainly in relation to those entities which we call nations. The Hierarchy is at this time attempting to channel them into the Assembly of the United Nations; the use made of these impersonal energies is dependent upon the quality and the nature of the recipient nation, on its measure of true enlightenment and on its point in evolution. Nations are the expression today of the massed self-centredness of a people and of their instinct to self-preservation. These energies can, therefore, increase that aspect of their lives. They can, however, and in spite of this, increase the potency of the objective which the United Nations (at present) theoretically hold before the eyes of men everywhere. The main object of the Hierarchy is so to distribute these constructive, synthesising energies that the theory of unity may slowly be turned into practice, and the word “United” may come to have a true significance and meaning. It is with this type of energy that the Avatar of Synthesis is peculiarly allied. He will convey to humanity, with the aid of the Christ, [94] something for which we have as yet no name. It is neither love nor will, as we understand them. Only a phrase of several words will bring to us something of the meaning. This phrase is “the principle of directed Purpose.” This principle involves three things:
Vào tháng Sáu năm 1945, Đức Christ đã khởi động các mãnh lực tái thiết, vốn liên hệ với phương diện Ý Chí của thiên tính và cho đến nay vẫn là dòng năng lượng kém mạnh nhất trong ba dòng năng lượng được giải phóng trong ba Lễ Hội Trăng Tròn năm 1945. Các mãnh lực tái thiết này chủ yếu có hiệu lực đối với những thực thể mà chúng ta gọi là các quốc gia. Hiện nay Thánh Đoàn đang cố gắng dẫn truyền chúng vào Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc; việc sử dụng các năng lượng phi cá nhân này tùy thuộc vào phẩm tính và bản chất của quốc gia tiếp nhận, vào mức độ soi sáng chân chính của quốc gia ấy và vào điểm tiến hoá của nó. Các quốc gia ngày nay là biểu hiện của sự tập trung vào bản thân tập thể của một dân tộc và của bản năng tự bảo tồn của họ. Vì thế, các năng lượng này có thể làm gia tăng phương diện ấy trong đời sống của họ. Tuy nhiên, bất chấp điều đó, chúng cũng có thể làm tăng hiệu lực của mục tiêu mà Liên Hiệp Quốc hiện nay về mặt lý thuyết đang đặt trước mắt con người ở khắp nơi. Mục tiêu chính của Thánh Đoàn là phân phối các năng lượng kiến tạo, tổng hợp này sao cho lý thuyết về sự hợp nhất có thể dần dần được chuyển thành thực hành, và từ “Liên Hiệp” có thể mang một thâm nghĩa và ý nghĩa chân thực. Chính với loại năng lượng này mà Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp có mối liên hệ đặc biệt. Ngài sẽ chuyển đến nhân loại, với sự trợ giúp của Đức Christ, [94] một điều mà hiện chúng ta vẫn chưa có tên gọi. Đó không phải là tình thương cũng không phải là ý chí như chúng ta hiểu chúng. Chỉ một cụm từ gồm nhiều từ mới có thể đem đến cho chúng ta phần nào ý nghĩa của nó. Cụm từ ấy là “nguyên khí của Thiên Ý có định hướng.” Nguyên khí này bao hàm ba điều:
1. Understanding—intuitive and spiritually instinctual, but intelligently interpreted—of the Plan, as it can be worked out in the immediate future by the Christ and His disciples.
1. Sự thấu hiểu—trực giác và theo bản năng tinh thần, nhưng được diễn giải một cách trí tuệ—về Thiên Cơ, như Thiên Cơ ấy có thể được Đức Christ và các đệ tử của Ngài triển khai trong tương lai gần.
2. Focussed intention, based upon the above and emphasising an aspect of the will, hitherto undeveloped in man.
2. Ý định tập trung, dựa trên điều nói trên và nhấn mạnh một phương diện của ý chí, từ trước đến nay chưa được phát triển nơi con người.
3. Capacity to direct energy (through understanding and intent) towards a recognised and desired end, overcoming all obstacles and destroying all that stands in its way. This is not the destruction of forms by force such as we have seen imposed upon the world, but a destruction brought about by the greatly strengthened life within the form.
3. Năng lực định hướng năng lượng (qua sự thấu hiểu và ý định) về một cứu cánh đã được nhận biết và mong muốn, vượt qua mọi chướng ngại và phá hủy tất cả những gì cản đường nó. Đây không phải là sự phá hủy các hình tướng bằng bạo lực như chúng ta đã thấy bị áp đặt lên thế giới, mà là một sự phá hủy được tạo ra bởi sự sống bên trong hình tướng đã được tăng cường rất mạnh.
The significance of these divine principles will make little sense to us today; we are dealing with major mysteries. A mystery remains a mystery only when ignorance or unbelief exist. There is no mystery where there is knowledge and faith. All we know at this time is that the Christ will fuse and blend within Himself three principles of divinity; when He appears “the light that always has been will be seen; the love that never ceases will be realised, and the radiance, deep concealed, will break forth into Being.” We shall then have a new world—one which will express the light, the love and the knowledge of God in a crescendo of revelation.
Thâm nghĩa của các nguyên khí thiêng liêng này ngày nay sẽ ít có ý nghĩa đối với chúng ta; chúng ta đang bàn đến những huyền nhiệm lớn lao. Một huyền nhiệm chỉ còn là huyền nhiệm khi còn có vô minh hay thiếu niềm tin. Không có huyền nhiệm ở nơi có tri thức và đức tin. Tất cả những gì chúng ta biết vào lúc này là Đức Christ sẽ dung hợp và hòa trộn trong chính Ngài ba nguyên khí của thiên tính; khi Ngài xuất hiện thì “ánh sáng vốn luôn hiện hữu sẽ được nhìn thấy; tình thương không bao giờ dứt sẽ được chứng nghiệm, và sự rạng ngời, vốn ẩn sâu, sẽ bừng phát thành hiện hữu.” Khi ấy chúng ta sẽ có một thế giới mới—một thế giới sẽ biểu lộ ánh sáng, tình thương và tri thức của Thượng đế trong một cao trào mặc khải.
[95]
[95]
The beauty of this synthesis which Christ will manifest, and the wonder of the presented opportunity, must surely be apparent to all of us. Great Forces, under potent spiritual Leadership, are standing ready to precipitate themselves into this world of chaos, of confusion, of aspiration, of hope and of bewilderment. These groups of energies are ready for focussing and distribution by the Hierarchy and that Hierarchy, under its Great Leader, the Christ, is closer to mankind than ever before in human history. The New Group of World Servers are also standing attentive to direction in every country in the world, united in their idealism, in their humanitarian objectives, in their sensitivity to spiritual impression, in their united, subjective purpose, in their love of their fellowmen and in their dedication to selfless service. The men and women of goodwill are also to be found everywhere, ready to be guided into constructive activity and to be the agents, gradually trained and educated, for the establishing of that which has never yet before truly existed—right human relations.
Vẻ đẹp của sự tổng hợp này mà Đức Christ sẽ biểu lộ, và điều kỳ diệu của cơ hội được trao ban, hẳn phải hiển nhiên đối với tất cả chúng ta. Những Mãnh Lực vĩ đại, dưới sự Lãnh Đạo tinh thần đầy quyền năng, đang sẵn sàng ngưng tụ vào thế giới hỗn loạn, rối ren, khát vọng, hy vọng và hoang mang này. Các nhóm năng lượng này đã sẵn sàng để được Thánh Đoàn tập trung và phân phối, và Thánh Đoàn ấy, dưới sự lãnh đạo của Vị Lãnh Đạo Vĩ Đại là Đức Christ, đang gần nhân loại hơn bao giờ hết trong lịch sử loài người. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian cũng đang đứng trong tư thế chú tâm chờ chỉ đạo tại mọi quốc gia trên thế giới, hợp nhất trong lý tưởng, trong các mục tiêu nhân đạo, trong sự nhạy cảm với ấn tượng tinh thần, trong mục đích nội giới hợp nhất, trong tình thương đối với đồng loại và trong sự hiến dâng cho phụng sự vô kỷ. Những người nam và nữ thiện chí cũng hiện diện ở khắp nơi, sẵn sàng được hướng dẫn vào hoạt động kiến tạo và trở thành những tác nhân, dần dần được huấn luyện và giáo dục, để thiết lập điều mà trước đây chưa bao giờ thật sự hiện hữu—những tương quan nhân loại đúng đắn.
Thus from the highest spiritual Being upon our planet, through the graded spiritual groups of enlightened and perfected men who work upon the inner side of life, on into the outer world of daily living where thinking, loving men and women serve, the tide of the new life sweeps. The Plan is ready for immediate application and intelligent implementing; the workers are there and the power to work is adequate to the need. Above all else, the Hierarchy stands and the Christ stands ready to issue forth and demonstrate reality.
Như vậy, từ Đấng Tinh thần cao nhất trên hành tinh chúng ta, xuyên qua các nhóm tinh thần theo từng cấp bậc của những con người được soi sáng và hoàn thiện đang hoạt động ở mặt nội tại của sự sống, rồi đi vào thế giới bên ngoài của đời sống hằng ngày nơi những người nam và nữ biết suy tư và yêu thương đang phụng sự, làn sóng của sự sống mới đang tràn qua. Thiên Cơ đã sẵn sàng để được áp dụng ngay tức khắc và được thực thi một cách trí tuệ; những người hoạt động đã có mặt và quyền năng để hoạt động quả thật tương xứng với nhu cầu. Trên hết mọi sự, Thánh Đoàn đang đứng đó và Đức Christ đang đứng đó, sẵn sàng xuất hiện và chứng minh thực tại.
IV. Christ, as the Unifier of East and West
IV. Đức Christ, như Đấng Hợp Nhất Đông và Tây
This is a hard saying for the orthodox and narrow Christian churchman to accept; it means primarily that [96] Christ will work in the closest cooperation with the Buddha until this fusion and reconstruction have truly taken place. The Buddha is closely allied with the Christ in this process of His reappearing, though He will not be involved or active during the entire period of Christ’s coming, active work on earth. As you know, He, too, has not relinquished His contact and relationship with humanity, though He relinquished His physical body centuries ago. He did this in order to accomplish certain assigned work which had in it (besides many things unknown to humanity) activities connected with the work of the Christ, with the immediacy of His coming and with certain plans for the coming civilisation of the Aquarian Age. As many millions in the world know, each year (at the time of the Wesak Festival at the May Full Moon) He communicates with humanity, via the Christ and the assembled, attentive Hierarchy. He acts in this way as an agent bringing about relationship between the “centre where the will of God is known” and the “centre which we call the race of men.” These two descriptive phrases are used advisedly because all the work now being done by these two great Sons of God is concerned with the distribution of energy—the energy of light and the energy of love. It is through the Triangle, earlier mentioned, that the energy of will eventually will be distributed and one of these divine distributors is the Buddha.
Đây là một lời khó chấp nhận đối với người tín đồ Cơ Đốc giáo chính thống và hẹp hòi; điều đó trước hết có nghĩa là [96] Đức Christ sẽ hoạt động trong sự hợp tác mật thiết nhất với Đức Phật cho đến khi sự dung hợp và tái thiết này thật sự diễn ra. Đức Phật có liên hệ mật thiết với Đức Christ trong tiến trình Ngài tái xuất hiện này, mặc dù Ngài sẽ không tham dự hay hoạt động trong suốt toàn bộ thời kỳ Đức Christ đến và hoạt động tích cực trên Trái Đất. Như bạn biết, Ngài cũng chưa từ bỏ sự tiếp xúc và mối liên hệ của Ngài với nhân loại, dù Ngài đã từ bỏ thể xác của mình từ nhiều thế kỷ trước. Ngài làm điều đó để hoàn thành một số công việc được giao, trong đó có (ngoài nhiều điều nhân loại chưa biết) những hoạt động liên hệ với công việc của Đức Christ, với tính cấp bách của sự quang lâm của Ngài, và với một số kế hoạch cho nền văn minh sắp đến của Kỷ Nguyên Bảo Bình. Như hàng triệu người trên thế giới đều biết, mỗi năm (vào dịp Lễ Wesak trong kỳ Trăng Tròn tháng Năm) Ngài giao tiếp với nhân loại, thông qua Đức Christ và Thánh Đoàn đang tập hợp, chú tâm. Theo cách này, Ngài hành động như một tác nhân tạo nên mối liên hệ giữa “Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế” và “trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người.” Hai cụm từ mô tả này được dùng một cách có chủ ý vì toàn bộ công việc hiện đang được hai Con của Thượng đế vĩ đại này thực hiện đều liên quan đến sự phân phối năng lượng—năng lượng ánh sáng và năng lượng tình thương. Chính qua Tam Giác đã được nhắc đến trước đây mà năng lượng ý chí cuối cùng sẽ được phân phối, và một trong những Đấng phân phối thiêng liêng này là Đức Phật.
Actually the work of the Buddha for humanity is nearly over, and His long alliance with the race of men has nearly come to an end. The moment that the appearance of the Christ is an accomplished fact, and the rule of right human relations is beginning definitely to condition human living, then the Buddha will pass to the work which awaits Him. One of the senior disciples of the Christ, ranking next to the Christ in hierarchical status, [97] will take His place and carry on the work, connected with mankind.
Thật ra, công việc của Đức Phật đối với nhân loại gần như đã hoàn tất, và mối liên minh lâu dài của Ngài với nhân loại gần như đã đi đến chấm dứt. Ngay khi sự xuất hiện của Đức Christ trở thành một sự kiện đã hoàn thành, và quy luật về những tương quan nhân loại đúng đắn bắt đầu rõ rệt tác động lên đời sống con người, thì Đức Phật sẽ chuyển sang công việc đang chờ Ngài. Một trong những đệ tử cao cấp của Đức Christ, đứng kế Đức Christ về địa vị trong Thánh Đoàn, [97] sẽ thay thế Ngài và tiếp tục công việc liên hệ với nhân loại.
By the time this particular Master takes over His task, the intelligent principle or knowledge, which is the outstanding characteristic of humanity, will have been to a large extent transmuted into wisdom by the world intelligentsia, though not as yet by the masses of men. Wisdom is the predominant characteristic of the Buddha and the momentum of this wisdom energy will eventually be so strong that it will need no further distribution or control by the Buddha. He can then re-orient Himself to higher spheres of activity where His true work lies, and begin to work with an aspect of wisdom of which we know nothing but of which both knowledge and wisdom have been expressing themselves through the Christ and the Buddha; later, through the cooperation of the Avatar of Synthesis, Christ will be able to blend within Himself both of these major divine energies, and thus be a pure expression of love and wisdom, of right relationship and intuitive understanding.
Vào lúc Chân sư đặc biệt này tiếp nhận nhiệm vụ của Ngài, nguyên khí trí tuệ hay tri thức, vốn là đặc tính nổi bật của nhân loại, phần lớn sẽ được giới trí thức thế giới chuyển hoá thành minh triết, dù chưa phải nơi quần chúng. Minh triết là đặc tính nổi trội của Đức Phật, và động lượng của năng lượng minh triết này cuối cùng sẽ mạnh đến mức không còn cần Đức Phật tiếp tục phân phối hay kiểm soát nữa. Khi ấy Ngài có thể tự tái định hướng đến những lĩnh vực hoạt động cao hơn, nơi công việc đích thực của Ngài tọa lạc, và bắt đầu làm việc với một phương diện của minh triết mà chúng ta không biết gì, nhưng cả tri thức lẫn minh triết đều đã tự biểu lộ qua Đức Christ và Đức Phật; về sau, nhờ sự hợp tác của Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp, Đức Christ sẽ có thể hòa trộn trong chính Ngài cả hai năng lượng thiêng liêng lớn lao này, và như thế trở thành một biểu hiện thuần khiết của tình thương và minh triết, của tương quan đúng đắn và sự thấu hiểu trực giác.
In order to make this possible and thus release His spiritual Brother from the arduous task of relating humanity to the “centre where the will of God is known” (Shamballa), Christ is subjecting Himself at this time to an unique process of training. Of this training, His thirty years of work in the carpenter’s shop in Palestine has ever been the hitherto unrecognised symbol. The word “carpenter” is significant of building, of construction, and means (in its derivation) someone who is an artificer in timber or a builder of wooden houses. This is the true meaning of the Biblical story of Christ’s being crucified upon the cross of wood or the tree. It is related in reality to the decision made by Christ in the Garden of Gethsemane to take over the building or reconstruction [98] work in Aquarius, and thus complete the task which He attempted to do in the Piscean Age. He and His disciples and the New Group of World Servers are the pledged builders of the new civilisation, the new “house of humanity.” The preparatory work He is now doing will fit Him to demonstrate in wisdom (and not only through love) the nature of the hierarchical Plans, wise constructive measures, wise choice of builders and correct methods of construction.
Để làm cho điều này có thể xảy ra và nhờ đó giải thoát Người Anh Em tinh thần của Ngài khỏi nhiệm vụ gian lao là liên kết nhân loại với “Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế” (Shamballa), hiện nay Đức Christ đang tự đặt mình vào một tiến trình huấn luyện độc nhất vô nhị. Công việc ba mươi năm của Ngài trong xưởng thợ mộc tại Palestine từ lâu vẫn là biểu tượng chưa được nhận ra của sự huấn luyện này. Từ “thợ mộc” có ý nghĩa về xây dựng, kiến tạo, và theo nguyên nghĩa là một người thợ làm việc với gỗ hay một người xây nhà gỗ. Đây là ý nghĩa chân thực của câu chuyện Kinh Thánh về việc Đức Christ bị đóng đinh trên thập giá bằng gỗ hay trên cây. Thật ra điều này liên hệ đến quyết định mà Đức Christ đã đưa ra trong Vườn Gethsemane là đảm nhận công việc xây dựng hay tái thiết [98] trong Bảo Bình, và như thế hoàn tất nhiệm vụ mà Ngài đã cố thực hiện trong Kỷ Nguyên Song Ngư. Ngài cùng các đệ tử của Ngài và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là những đấng kiến tạo đã thệ nguyện của nền văn minh mới, của “ngôi nhà nhân loại” mới. Công việc chuẩn bị mà hiện nay Ngài đang thực hiện sẽ giúp Ngài thích hợp để biểu lộ bằng minh triết (chứ không chỉ qua tình thương) bản chất của các Thiên Cơ của Thánh Đoàn, các biện pháp kiến tạo minh triết, sự lựa chọn minh triết những đấng kiến tạo và các phương pháp xây dựng đúng đắn.
It is apparent, therefore, that this greatest of the Sons of God, the Christ, Representative of humanity and of the second divine aspect, will demonstrate within Himself, during the Aquarian Age and after His reappearance, certain major fused and blended dualities. It would profit us to study them and know which they are:
Vì thế, rõ ràng là Con của Thượng đế vĩ đại nhất này, Đức Christ, Đấng Đại Diện của nhân loại và của phương diện thiêng liêng thứ hai, sẽ biểu lộ trong chính Ngài, trong Kỷ Nguyên Bảo Bình và sau khi Ngài tái xuất hiện, một số nhị nguyên tính lớn lao đã được dung hợp và hòa trộn. Sẽ có ích cho chúng ta nếu nghiên cứu chúng và biết đó là những gì:
1. The fusion of the second divine aspect of Love and the first divine aspect of Will—the Will-to-good.
1. Sự dung hợp của phương diện thiêng liêng thứ hai là Tình thương và phương diện thiêng liêng thứ nhất là Ý Chí—Ý Chí-hướng Thiện.
2. The fusion of love and wisdom, enabling Him to be the Builder of the new age and civilisation.
2. Sự dung hợp của tình thương và minh triết, giúp Ngài trở thành Đấng Kiến Tạo của kỷ nguyên và nền văn minh mới.
3. The fusion of Piscean energy, generated during the past two thousand years of Christ’s spiritual activity and the Aquarian energies to be generated and active on Earth during the next two thousand years, or two thousand five hundred.
3. Sự dung hợp của năng lượng Song Ngư, được tạo ra trong hai ngàn năm hoạt động tinh thần vừa qua của Đức Christ, và các năng lượng Bảo Bình sẽ được tạo ra và hoạt động trên Trái Đất trong hai ngàn năm, hay hai ngàn năm trăm năm sắp tới.
It is for this process of fusion and all that it entails that He now subjects Himself to training. When this is completed, He can become in a sense hitherto unknown to Him the focal point and the transmitting Agent for all these five divine energies:
Chính vì tiến trình dung hợp này và tất cả những gì nó bao hàm mà hiện nay Ngài đang tự đặt mình vào sự huấn luyện. Khi điều này hoàn tất, theo một ý nghĩa mà trước đây Ngài chưa từng biết, Ngài có thể trở thành tiêu điểm và Tác Nhân truyền dẫn cho cả năm năng lượng thiêng liêng này:
1. The energy of Love.
1. Năng lượng Tình thương.
2. The energy of Will. [99]
2. Năng lượng Ý Chí. [99]
3. The energy of Wisdom.
3. Năng lượng Minh triết.
4. Piscean energy, generated during the Christian era.
4. Năng lượng Song Ngư, được tạo ra trong kỷ nguyên Cơ Đốc.
5. Aquarian energy, already generating upon the inner planes of thought and feeling, and to be generated during the centuries ahead of us.
5. Năng lượng Bảo Bình, hiện đã đang được tạo ra trên các cõi nội tại của tư tưởng và cảm xúc, và sẽ được tạo ra trong các thế kỷ phía trước chúng ta.
The lines which His training follows are known only to Christ, to the Buddha and to the Avatar of Synthesis. All esoteric or spiritual training has to be self-applied; this is as true of the Christ as it is of the humblest aspirant. Into the processes of Christ’s thinking, reactions and planning, it is not possible for us to enter.
Những đường lối mà sự huấn luyện của Ngài đang theo đuổi chỉ có Đức Christ, Đức Phật và Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp biết mà thôi. Mọi sự huấn luyện nội môn hay tinh thần đều phải do chính mình tự áp dụng; điều này đúng với Đức Christ cũng như với người chí nguyện khiêm tốn nhất. Chúng ta không thể đi vào các tiến trình suy tư, phản ứng và hoạch định của Đức Christ.
In Palestine, His appearance was mainly prophetic and His work primarily that of laying the foundation for the activities which will follow His reappearance, plus the sowing of the seed, the harvest of which He will garner in the new age. The tragedy of His appearance two thousand years ago has coloured the presentation of truth by the theologians and made them posit an unhappy story, producing a miserable and unhappy world. This tragedy was based on:
Tại Palestine, sự xuất hiện của Ngài chủ yếu mang tính tiên tri và công việc của Ngài trước hết là đặt nền móng cho những hoạt động sẽ tiếp theo sau sự tái xuất hiện của Ngài, cùng với việc gieo hạt giống mà mùa gặt của nó Ngài sẽ thu hoạch trong kỷ nguyên mới. Bi kịch của sự xuất hiện của Ngài cách đây hai ngàn năm đã nhuốm màu cách trình bày chân lý của các nhà thần học và khiến họ dựng nên một câu chuyện buồn thảm, tạo ra một thế giới khổ đau và bất hạnh. Bi kịch này dựa trên:
1. His discovery that humanity was not ready for that which He came to give and that for centuries much experience, teaching, trial and testing would be needed before His real work could begin.
1. Sự khám phá của Ngài rằng nhân loại chưa sẵn sàng cho điều mà Ngài đến để ban cho, và rằng trong nhiều thế kỷ sẽ cần rất nhiều kinh nghiệm, giáo huấn, thử thách và khảo nghiệm trước khi công việc thực sự của Ngài có thể bắt đầu.
2. His recognition that He Himself needed a deeper relation with that centre which He always referred to as “the Father’s House”; it was this realisation which led to His comment that His disciples could and would do “greater things” than He had done and that He had to go to His Father.
2. Sự nhận ra của Ngài rằng chính Ngài cần một mối liên hệ sâu xa hơn với trung tâm mà Ngài luôn gọi là “Nhà của Cha”; chính sự nhận biết này đã dẫn đến lời nhận xét của Ngài rằng các đệ tử của Ngài có thể và sẽ làm được “những việc lớn hơn” điều Ngài đã làm, và rằng Ngài phải đi về với Cha của Ngài.
3. His arriving at the conclusion that He must have more trained and dedicated workers and agents [100] than at that time was possible, or has proved possible since. Hence the gathering out and the training of the New Group of World Servers. When there are enough of these servers and enlightened workers, He will come and nothing can arrest His approach.
3. Việc Ngài đi đến kết luận rằng Ngài phải có nhiều người hoạt động và tác nhân được huấn luyện và hiến dâng hơn [100] so với điều khi đó có thể có, hay đã tỏ ra có thể có kể từ đó. Vì thế mới có việc tập hợp và huấn luyện Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Khi có đủ những người phụng sự và những người hoạt động được soi sáng này, Ngài sẽ đến và không gì có thể ngăn cản sự tiếp cận của Ngài.
4. He discovered also that men were not then desperate enough to “take the Kingdom of Heaven by violence”; it is only in desperation and when completely at the end of his tether that the disciple finds his way into that Kingdom and is ready to relinquish the old ways. What is true of the individual must also be true, on a larger scale, of humanity.
4. Ngài cũng khám phá ra rằng khi ấy con người chưa đủ tuyệt vọng để “chiếm lấy Thiên Giới bằng bạo lực”; chỉ trong tuyệt vọng và khi hoàn toàn đến tận cùng sức chịu đựng của mình thì đệ tử mới tìm được đường vào Thiên Giới ấy và sẵn sàng từ bỏ những lối cũ. Điều gì đúng với cá nhân thì trên quy mô lớn hơn cũng phải đúng với nhân loại.
It is to the whole world that Christ comes and not just to the Christian world. He comes to the East and to the West, and has foreseen this “time of the end,” with its planetary catastrophes, phenomenal disasters, despair and invocation—arising from both the East and West. He knew that in the time of final crisis and tension, humanity itself would force His emergence. The New Testament story is true and correct; it is only the man-made interpretations which have misled humanity.
Đức Christ đến với toàn thế giới chứ không chỉ với thế giới Cơ Đốc giáo. Ngài đến với Đông phương và Tây phương, và đã thấy trước “thời kỳ cuối cùng” này, với những thảm họa hành tinh, những tai biến phi thường, sự tuyệt vọng và khẩn cầu—phát sinh từ cả Đông lẫn Tây. Ngài biết rằng trong thời kỳ khủng hoảng và căng thẳng cuối cùng, chính nhân loại sẽ buộc sự xuất hiện của Ngài. Câu chuyện trong Tân Ước là chân thực và đúng đắn; chỉ có những diễn giải do con người tạo ra mới làm nhân loại lạc hướng.
In the East there is an ancient legend which has an application today and which holds the clue to the relation of the Christ and of the Buddha; it concerns a service which, the legend says, the Buddha will render Christ. In symbolic form, the legend runs that when the Buddha reached enlightenment, and experience on Earth could teach Him no more, He looked ahead to the time when His Brother, the Christ, would be active in the Great Service—as it is called. In order, therefore, to aid the Christ, He left behind Him (for His use) what are mysteriously called “His vestures.” He bequeathed and left [101] in some safe place the sum total of His emotional-intuitive nature, called by some the astral body and the sumtotal of His knowledge and His thought, called His mind or mental body. These, the legend says, will be assumed by the Coming One and prove of service, supplementing Christ’s Own emotional and mental equipment and providing Him with what He needs as the Teacher of the East as well as of the West. He can then with strength and success contemplate His future work and choose His workers. There is something of this same idea latent in the injunction given in The New Testament, “Let this mind be in you which was also in Christ.” (Phil. II:5.)
Ở phương Đông có một truyền thuyết cổ xưa có thể áp dụng cho ngày nay và nắm giữ chìa khóa cho mối liên hệ giữa Đức Christ và Đức Phật; nó nói về một sự phụng sự mà, theo truyền thuyết, Đức Phật sẽ thực hiện cho Đức Christ. Dưới hình thức biểu tượng, truyền thuyết kể rằng khi Đức Phật đạt đến giác ngộ, và kinh nghiệm trên Trái Đất không còn có thể dạy Ngài thêm điều gì nữa, Ngài đã nhìn về phía trước đến thời điểm mà Người Anh Em của Ngài là Đức Christ sẽ hoạt động trong Công Cuộc Phụng Sự Vĩ Đại—như cách gọi của truyền thuyết. Vì vậy, để trợ giúp Đức Christ, Ngài đã để lại phía sau (cho Ngài sử dụng) điều được gọi một cách huyền nhiệm là “những y bào của Ngài.” Ngài đã di tặng và để lại [101] ở một nơi an toàn tổng thể bản chất cảm xúc-trực giác của Ngài, được một số người gọi là thể cảm dục, và tổng thể tri thức cùng tư tưởng của Ngài, được gọi là trí tuệ hay thể trí của Ngài. Truyền thuyết nói rằng những điều này sẽ được Đấng Đang Đến tiếp nhận và sẽ hữu ích, bổ sung cho trang bị cảm xúc và trí tuệ riêng của Đức Christ, và cung cấp cho Ngài điều Ngài cần với tư cách là Huấn sư của Đông phương cũng như Tây phương. Khi ấy Ngài có thể với sức mạnh và thành công suy ngẫm về công việc tương lai của mình và chọn lựa những người hoạt động của Ngài. Có điều gì đó của cùng ý tưởng này tiềm ẩn trong lời khuyên được đưa ra trong Tân Ước: “Hãy để tâm trí này ở trong anh em, vốn cũng đã ở trong Đức Christ.” (Phil. II:5.)
Thus the Christ, with the fused energies of love and wisdom, with the aid of the Avatar of Synthesis and of the Buddha and under the influence of the Spirit of Peace and of Equilibrium, can implement and direct the energies which will produce the coming new civilisation. He will see, demonstrating before His eyes the true resurrection—the emergence of mankind from the imprisoning cave of materialism. Thus He will “see of the travail of His soul and shall be satisfied.” (Is. LIII.11.)
Như vậy, Đức Christ, với các năng lượng dung hợp của tình thương và minh triết, với sự trợ giúp của Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp và của Đức Phật, và dưới ảnh hưởng của Đấng Tinh thần Hòa Bình và của Quân Bình, có thể thực thi và định hướng các năng lượng sẽ tạo ra nền văn minh mới sắp đến. Ngài sẽ thấy, được biểu lộ trước mắt Ngài, sự phục sinh chân thực—sự xuất hiện của nhân loại ra khỏi hang động giam hãm của chủ nghĩa duy vật. Như thế Ngài sẽ “thấy công lao khổ nhọc của linh hồn mình và sẽ được thỏa lòng.” (Is. LIII.11.)