← The Reappearance of the Christ

CHAPTER FIVE - THE TEACHINGS OF THE CHRIST — CHƯƠNG NĂM - CÁC GIÁO HUẤN CỦA ĐỨC CHRIST

Trích nội dung chương

It might be useful to make a few opening remarks upon the general subject of the teaching given (down the ages) by the Sons of God Who have come forth in the hour of humanity’s need, in order to present to the consciousness of the men of Their time certain required ideas and concepts of truth. When They come, Their aim is to meet the immediate need in such a fashion that the ideas presented may become ideals to which eventually the life of mankind would later conform and bring about a better civilisation. There has been a great continuity of such teaching down the ages. Có lẽ sẽ hữu ích nếu đưa ra một vài nhận xét mở đầu về chủ đề tổng quát…


CHAPTER FIVE - THE TEACHINGS OF THE CHRIST — CHƯƠNG NĂM - CÁC GIÁO HUẤN CỦA ĐỨC CHRIST

The Establishing of Right Human Relations

Sự Thiết Lập Những Tương Quan Nhân Loại Đúng Đắn

The Law of Rebirth

Định luật Tái Sinh

Revelation of the Mystery of Initiation

Sự Mặc Khải Huyền Nhiệm của Điểm Đạo

The Dispelling of Glamour

Sự Làm Tiêu Tan Ảo Cảm

[102]

[102]

It might be useful to make a few opening remarks upon the general subject of the teaching given (down the ages) by the Sons of God Who have come forth in the hour of humanity’s need, in order to present to the consciousness of the men of Their time certain required ideas and concepts of truth. When They come, Their aim is to meet the immediate need in such a fashion that the ideas presented may become ideals to which eventually the life of mankind would later conform and bring about a better civilisation. There has been a great continuity of such teaching down the ages.

Có lẽ sẽ hữu ích nếu đưa ra một vài nhận xét mở đầu về chủ đề tổng quát là giáo huấn được ban ra (qua các thời đại) bởi các Con của Thượng đế, những Đấng đã xuất hiện vào giờ phút nhân loại cần đến, nhằm trình bày cho tâm thức của con người trong thời đại của Các Ngài một số ý tưởng và khái niệm chân lý cần thiết. Khi Các Ngài đến, mục đích của Các Ngài là đáp ứng nhu cầu trước mắt theo cách sao cho những ý tưởng được trình bày có thể trở thành những lý tưởng mà cuối cùng đời sống nhân loại về sau sẽ phù hợp theo, và nhờ đó tạo ra một nền văn minh tốt đẹp hơn. Đã có một sự liên tục lớn lao của loại giáo huấn như thế qua các thời đại.

There is not the time to write or the time to read a complete analysis or statement as to the progressive revelation of ideas which great and illumined minds, authorised by the spiritual Hierarchy of the planet, have brought to humanity. All the cyclic Teachers (to differentiate Them from the many lesser Teachers) have mastered life for Themselves in the three worlds of human evolution—physical, emotional and mental—have achieved control of the physical level of consciousness, of Their emotional-feeling nature, and have attained mental understanding and finally enlightenment.

Không có đủ thời gian để viết hay để đọc một phân tích hay trình bày đầy đủ về sự mặc khải tiến bộ của các ý tưởng mà những trí tuệ vĩ đại và được soi sáng, được Thánh đoàn tinh thần của hành tinh ủy nhiệm, đã mang đến cho nhân loại. Tất cả các Huấn sư theo chu kỳ (để phân biệt Các Ngài với nhiều huấn sư ở cấp thấp hơn) đều đã tự mình làm chủ sự sống trong ba cõi của tiến hoá nhân loại—hồng trần, cảm dục và trí—đã đạt được sự kiểm soát cấp độ tâm thức hồng trần, bản chất cảm xúc-cảm nhận của Các Ngài, và đã đạt đến sự thấu hiểu trí tuệ và cuối cùng là sự soi sáng.

The problem of the Hierarchy has been (and still is) how much exact truth humanity can comprehend, and to [103] what extent absolute truth can be presented to their awakening minds; They have to decide which aspect of universal truth will enable man to emerge out of his difficulties and thus move forward on the Path of Return to God; They have to know, therefore, at what point on the ladder of evolution humanity stands at any given period. This in itself presents a field of research to Them.

Vấn đề của Thánh Đoàn đã là (và vẫn là) nhân loại có thể hiểu được bao nhiêu chân lý chính xác, và [103] chân lý tuyệt đối có thể được trình bày đến mức nào cho trí tuệ đang thức tỉnh của họ; Các Ngài phải quyết định phương diện nào của chân lý phổ quát sẽ giúp con người thoát ra khỏi những khó khăn của mình và nhờ đó tiến bước trên Con Đường Trở Về với Thượng đế; vì vậy Các Ngài phải biết nhân loại đang đứng ở điểm nào trên chiếc thang tiến hoá trong bất kỳ thời kỳ nào. Bản thân điều này đã tạo nên một lĩnh vực nghiên cứu cho Các Ngài.

The method hitherto followed has been to decide what is the major factor lacking in man’s perception of reality (at any given time), and what recognised divine truth has in it the seeds of a living activity for a humanity in a particular condition, necessitating a certain type of help. They have also to determine how that help can best be presented, so that its results will be lasting, cultural and effective. Hitherto, the presented concepts have been formulated by the world Teachers of the period, and presented to a picked and chosen few whose task it has been to take the newly presented idea and promulgate it among those men who are enlightened enough to accept it, to spread it, to live it and to make it popular. This they have done for ages with more or less success.

Phương pháp từ trước đến nay là quyết định yếu tố chủ yếu nào đang thiếu trong sự nhận thức thực tại của con người (vào bất kỳ thời điểm nào), và chân lý thiêng liêng nào đã được công nhận có chứa những hạt giống của một hoạt động sống động cho một nhân loại trong một tình trạng đặc biệt, đòi hỏi một loại trợ giúp nhất định. Các Ngài cũng phải xác định sự trợ giúp ấy có thể được trình bày tốt nhất như thế nào, để kết quả của nó được bền vững, có tính văn hóa và hữu hiệu. Từ trước đến nay, các khái niệm được trình bày đã được các Đức Chưởng Giáo thế giới của thời kỳ ấy hình thành, và trao cho một số ít người được tuyển chọn, mà nhiệm vụ của họ là tiếp nhận ý tưởng mới được trình bày và truyền bá nó giữa những người đủ được soi sáng để chấp nhận nó, phổ biến nó, sống theo nó và làm cho nó trở nên phổ biến. Họ đã làm điều này qua nhiều thời đại với thành công nhiều hay ít.

It is also not possible here to give the relatively few truths which guided the development of humanity in old Atlantis; these, however, form the firm foundation of all later teaching. We can study (as a background to our consideration of the teachings which Christ will give after His reappearance) several of the minor concepts which today underlie the teaching of all the world religions, and which modern religious teachers should be presenting to the public mind.

Ở đây cũng không thể trình bày số ít chân lý đã hướng dẫn sự phát triển của nhân loại trong Atlantis cổ xưa; tuy nhiên, chúng tạo thành nền tảng vững chắc cho mọi giáo huấn về sau. Chúng ta có thể nghiên cứu (như một bối cảnh cho việc xem xét các giáo huấn mà Đức Christ sẽ ban ra sau khi Ngài tái xuất hiện) một số khái niệm nhỏ hơn mà ngày nay làm nền cho giáo huấn của mọi tôn giáo thế giới, và mà những người giảng dạy tôn giáo hiện đại nên trình bày cho tâm trí công chúng.

The first such Teacher is of such ancient date that it is not possible to say when He truly lived; even His name is a modernised one, given to an ancient hero-teacher. His name is Hercules. He presented to the world, through [104] the form of a pictorial and world drama (symbolic in nature) the concept of a great objective, only to be reached as the result of struggle and difficulty. He pointed to a goal toward which men must make their way, no matter what the obstacles; these obstacles He portrayed in the Twelve Labours of Hercules which were dramas and not factual occurrences. He thus pictured for those who had eyes to see and hearts to understand the nature of the problem to be solved upon the Path of Return to God; He depicted the Prodigal Son’s journey back to the Father’s house, and the tests and trials which all disciples, aspirants and initiates have to face and which all Those Who today compose the spiritual Hierarchy have already faced. When this statement is considered, it must include also the Christ Who, we are told, “was in all points tempted like as we are” (Heb. IV.15), but also passed triumphantly the tests and trials.

Vị Huấn sư đầu tiên như thế thuộc về một niên đại cổ xưa đến mức không thể nói Ngài thật sự sống vào lúc nào; ngay cả tên của Ngài cũng là một dạng hiện đại hóa, được đặt cho một vị anh hùng-huấn sư cổ đại. Tên Ngài là Hercules. Ngài đã trình bày cho thế giới, qua [104] hình thức của một vở kịch bằng hình ảnh và mang tính thế giới (có bản chất biểu tượng), khái niệm về một mục tiêu lớn lao, chỉ có thể đạt đến như kết quả của đấu tranh và khó khăn. Ngài đã chỉ ra một mục tiêu mà con người phải tìm đường đến, bất kể chướng ngại là gì; những chướng ngại này Ngài đã mô tả trong Mười Hai Công Lao của Hercules, vốn là những vở kịch chứ không phải những sự kiện thực tế. Như vậy, Ngài đã phác họa cho những ai có mắt để thấy và tim để thấu hiểu bản chất của vấn đề phải được giải quyết trên Con Đường Trở Về với Thượng đế; Ngài đã mô tả cuộc hành trình trở về nhà Cha của Người Con Hoang Đàng, cùng những thử thách và khảo nghiệm mà mọi đệ tử, người chí nguyện và điểm đạo đồ đều phải đối diện, và mà tất cả những Đấng ngày nay cấu thành Thánh đoàn tinh thần đều đã từng đối diện. Khi xem xét phát biểu này, phải bao gồm cả Đức Christ, Đấng mà chúng ta được bảo rằng “đã bị cám dỗ trong mọi phương diện như chúng ta” (Heb. IV.15), nhưng cũng đã vượt qua các thử thách và khảo nghiệm một cách khải hoàn.

At some also unknown date Hermes came and, so the records say, was the first to proclaim Himself as “the Light of the World.” Later the great Teacher, Vyasa, appeared. He gave one simple and needed message that death is not the end. From His time, the thinking of humanity about the possible immortality of the soul can be seen to stem. Vaguely and instinctively, men had hoped and sensed that the discarding of the physical vehicle was not the final consummation to all human struggle, loving and aspiration; in those early days, feeling dominated and instinct led; thought was not found among the masses of men as it is today. In this period of culmination in which we now live, the work of the spiritualistic movement, in its many forms, is in reality the emergence of that stream of thought-energy and of the idea which Vyasa, thousands of years ago, implanted in the human consciousness. The effort of the intellectuals [105] to prove the scientific possibility of immortality is part also of this great stream, carried onto intellectual levels, thus salvaging Vyasa’s work from the mists and glamours and the psychic dishonesty with which it is now surrounded. The fact of immortality is today on the verge of scientific proof; the fact of the survival of some factor has already been proved, though what has been demonstrated as surviving is apparently not in itself intrinsically immortal. The factual nature of the soul, and the fact of soul survival and of its eternal livingness, go hand in hand and have not yet been scientifically proven; they are, however, known and recognised as truths today by such countless millions and by so many intellectuals that—unless mass hysteria and mass deception is posited—their existence is already correctly surmised.

Vào một thời điểm cũng không rõ, Hermes đã đến và, theo các ghi chép, là người đầu tiên tự xưng là “Ánh Sáng của Thế Gian.” Về sau, vị Huấn sư vĩ đại Vyasa xuất hiện. Ngài đã trao một thông điệp đơn giản và cần thiết rằng cái chết không phải là kết thúc. Từ thời của Ngài, có thể thấy tư tưởng của nhân loại về khả năng bất tử của linh hồn bắt nguồn từ đó. Một cách mơ hồ và theo bản năng, con người đã hy vọng và cảm nhận rằng việc bỏ lại vận cụ hồng trần không phải là sự hoàn tất cuối cùng của mọi đấu tranh, yêu thương và khát vọng của con người; trong những ngày đầu ấy, cảm xúc chi phối và bản năng dẫn dắt; tư tưởng không hiện diện nơi quần chúng như ngày nay. Trong thời kỳ cao điểm mà hiện nay chúng ta đang sống, công việc của phong trào thần linh học, dưới nhiều hình thức của nó, thật ra là sự xuất hiện của dòng năng lượng tư tưởng và của ý tưởng mà Vyasa, hàng ngàn năm trước, đã cấy vào tâm thức nhân loại. Nỗ lực của giới trí thức [105] nhằm chứng minh khả năng khoa học của sự bất tử cũng là một phần của dòng lớn lao này, được đưa lên các cấp độ trí tuệ, nhờ đó cứu vãn công việc của Vyasa khỏi những màn sương và ảo cảm cùng sự thiếu trung thực thông linh hiện đang bao quanh nó. Sự kiện về tính bất tử ngày nay đang ở ngưỡng cửa của sự chứng minh khoa học; sự kiện về sự tồn tại tiếp tục của một yếu tố nào đó đã được chứng minh, dù điều đã được chứng minh là còn tồn tại ấy dường như tự nó không mang tính bất tử nội tại. Bản chất thực sự của linh hồn, và sự kiện linh hồn tiếp tục tồn tại cùng sự sống vĩnh cửu của nó, đi đôi với nhau và vẫn chưa được chứng minh một cách khoa học; tuy nhiên, ngày nay chúng được vô số triệu người và rất nhiều giới trí thức biết đến và công nhận là chân lý đến mức—trừ phi người ta giả định có chứng cuồng loạn tập thể và sự lừa dối tập thể—sự hiện hữu của chúng đã được phỏng đoán đúng đắn.

Buddha is the next Teacher to Whom we should refer, though there were many between His time and that of Vyasa. During those centuries wherein history is relatively dim and faint in its outlines, the intelligence of men had been rapidly growing, and the enquiring perception of mankind came into increasingly active use. The asking of questions, to which there seem no apparent or easy answers, focussed itself in a group of thinkers in India and they represented thinking men in every land. They asked the ancient questions as to why there is sorrow and misery in every land and in every life; they asked what caused these things and what must be done to change these circumstances of life; they demanded to know what was the integrating principle in man, and what was the soul and was there a self. The Buddha came forth to give the answer and to lay the foundation for a more enlightened approach to life, giving the teaching which [106] would open the door to the work of the Christ Who would, He knew, follow in His steps.

Đức Phật là vị Huấn sư kế tiếp mà chúng ta nên nhắc đến, mặc dù giữa thời của Ngài và thời của Vyasa còn có nhiều vị khác. Trong những thế kỷ mà lịch sử còn tương đối mờ nhạt và không rõ nét ấy, trí tuệ của con người đã tăng trưởng nhanh chóng, và năng lực nhận thức truy vấn của nhân loại ngày càng được sử dụng tích cực hơn. Việc đặt ra những câu hỏi dường như không có câu trả lời hiển nhiên hay dễ dàng đã tập trung nơi một nhóm tư tưởng gia ở Ấn Độ, và họ đại diện cho những người biết suy tư ở mọi xứ sở. Họ nêu lên những câu hỏi cổ xưa về lý do tại sao ở mọi xứ sở và trong mọi đời sống lại có đau khổ và bất hạnh; họ hỏi điều gì gây ra những điều ấy và phải làm gì để thay đổi các hoàn cảnh sống này; họ đòi biết nguyên khí tích hợp trong con người là gì, linh hồn là gì và có một bản ngã hay không. Đức Phật đã xuất hiện để đưa ra câu trả lời và đặt nền móng cho một cách tiếp cận đời sống được soi sáng hơn, trao ban giáo huấn mà [106] Ngài biết sẽ mở cánh cửa cho công việc của Đức Christ, Đấng sẽ tiếp bước Ngài.

It is interesting to remember that when the Buddha came, approximately five hundred years before Christ (for the exact date of Christ’s birth remains debatable), the first dim influences of the Piscean Age could be felt, impinging upon the powerful quality of the age of Aries, the Scapegoat or the Ram. It was the influence of this age—persisting throughout the Jewish dispensation—which led eventually to the distortion of the simple teaching of the Christ when He came. He was erroneously presented to the world as the living Scapegoat, bearing away the sins of the people, and thus originating the doctrine of the vicarious at-one-ment. It was St. Paul who was responsible for this emphasis. A paralleling instance of a similar distortion was also of Jewish origin and appeared in the early stages of the cycle of Aries, the Ram. We are told that the Children of Israel fell down and worshipped the golden calf, the symbol of Taurus, the Bull; this was the preceding astronomical cycle. These are astronomical cycles and not a presented astrology. In the early stages of Aries, the teaching reverted to that of Taurus and in the early stages of Pisces, it reverted to that of Aries and thus set the seal of retrogression upon the teaching which now controls so many orthodox Christians.

Thật thú vị khi nhớ rằng khi Đức Phật xuất hiện, khoảng năm trăm năm trước Đức Christ (vì niên đại chính xác của sự giáng sinh của Đức Christ vẫn còn gây tranh luận), những ảnh hưởng mờ nhạt đầu tiên của Kỷ Nguyên Song Ngư đã có thể được cảm nhận, tác động lên phẩm tính mạnh mẽ của kỷ nguyên Bạch Dương, Con Dê Gánh Tội hay Con Cừu Đực. Chính ảnh hưởng của kỷ nguyên này—kéo dài suốt thời kỳ Do Thái giáo—cuối cùng đã dẫn đến sự bóp méo giáo huấn đơn giản của Đức Christ khi Ngài đến. Ngài đã bị trình bày sai lạc trước thế giới như Con Dê Gánh Tội sống động, mang đi tội lỗi của dân chúng, và như thế khởi sinh giáo lý chuộc tội thay. Chính Thánh Paul là người chịu trách nhiệm cho sự nhấn mạnh này. Một trường hợp tương tự của một sự bóp méo cùng loại cũng có nguồn gốc Do Thái và xuất hiện trong những giai đoạn đầu của chu kỳ Bạch Dương, Con Cừu Đực. Chúng ta được kể rằng Con cái Israel đã sấp mình xuống và thờ lạy con bê vàng, biểu tượng của Kim Ngưu, Con Bò Đực; đó là chu kỳ thiên văn trước đó. Đây là các chu kỳ thiên văn chứ không phải một hệ chiêm tinh được trình bày. Trong những giai đoạn đầu của Bạch Dương, giáo huấn đã quay trở lại với Kim Ngưu, và trong những giai đoạn đầu của Song Ngư, nó quay trở lại với Bạch Dương, và như thế đóng dấu sự thoái bộ lên giáo huấn hiện đang chi phối rất nhiều tín đồ Cơ Đốc chính thống.

Buddha answered the questions posited in His time by giving out the Four Noble Truths, which satisfactorily and eternally answer man’s demand of why. These Truths can be summarised as follows: the Buddha taught that misery and suffering were of man’s own making and that the focussing of human desire upon the undesirable, the ephemeral and the material was the cause of all despair, all hatred and competition, and the reason why [107] man found himself living in the realm of death—the realm of physical living, which is the true death of the spirit. He made a unique contribution to the teaching given by Hercules and Vyasa, and added to the structure of truth which They had erected. Thus He prepared the way for Christ. Between the times of these two great Teachers, the Buddha and the Christ, lesser teachers appeared to amplify and add to the already given basic truths; of these Sankaracharya was one of the most important, giving, as He did, deep instruction upon the nature of the Self. Also the teacher in The Bhagavad Gita, Shri Krishna, must be noted, for many believe Him to be a previous incarnation of the Christ.

Đức Phật đã trả lời những câu hỏi được nêu ra trong thời của Ngài bằng cách ban ra Tứ Diệu Đế, những chân lý trả lời một cách thỏa đáng và vĩnh cửu cho đòi hỏi của con người về câu hỏi tại sao. Những Chân Lý này có thể được tóm tắt như sau: Đức Phật dạy rằng khổ đau và đau đớn là do chính con người tạo ra, và rằng việc tập trung dục vọng của con người vào cái không đáng mong muốn, cái phù du và cái vật chất là nguyên nhân của mọi tuyệt vọng, mọi hận thù và cạnh tranh, và là lý do tại sao [107] con người thấy mình đang sống trong cõi chết—cõi của đời sống hồng trần, vốn là cái chết thật sự của tinh thần. Ngài đã đóng góp một phần độc đáo vào giáo huấn do Hercules và Vyasa trao ra, và thêm vào cấu trúc chân lý mà Các Ngài đã dựng nên. Như vậy Ngài đã chuẩn bị con đường cho Đức Christ. Giữa thời của hai vị Huấn sư vĩ đại này, Đức Phật và Đức Christ, những huấn sư ở cấp thấp hơn đã xuất hiện để khai triển và bổ sung cho các chân lý căn bản đã được trao ra; trong số đó Sankaracharya là một trong những vị quan trọng nhất, vì Ngài đã ban giáo huấn sâu sắc về bản chất của Bản Ngã. Ngoài ra, vị huấn sư trong Bhagavad Gita, Shri Krishna, cũng phải được lưu ý, vì nhiều người tin rằng Ngài là một lần lâm phàm trước đây của Đức Christ.

Thus the fundamental truths upon which relation to God (and, therefore, relation to our fellowmen) is founded are always given out by the Son of God, Who—in any particular world period—is the teaching Head of the spiritual Hierarchy.

Như vậy, những chân lý nền tảng mà trên đó mối liên hệ với Thượng đế (và do đó, mối liên hệ với đồng loại) được xây dựng, luôn luôn được ban ra bởi Con của Thượng đế, Đấng—trong bất kỳ thời kỳ thế giới nào—là vị đứng đầu giáo huấn của Thánh đoàn tinh thần.

In due time, Christ came and gave out to the world (mainly through His disciples) two major truths: the fact of the existence of the human soul and, secondly, the system of service (this phrase is used advisedly) as a mode of establishing right human relations—to God and to one’s fellowmen. He told men that they were all the Sons of God in the same sense that He was; He told them in many symbolic ways who and what He was and assured them that they could do even greater things than He had done, because they were divine as He was. These greater things, humanity has already accomplished upon the physical plane and in its control of nature, as Christ knew men would, because He knew the workings of the Law of Evolution. He taught them that service was the key to the life of liberation, teaching them the technique of service through His own life as He went [108] about doing good, healing the sick, as well as preaching and teaching the things of the Kingdom of God and feeding the hungry, both physically and spiritually. He made the life of every day a divine sphere of spiritual livingness, thus emphasising the teaching of the Buddha, through desiring nothing for the separated self. Thus the Christ taught, loved, and lived, carrying forward the great continuity of revelation and of hierarchical teaching; then He entered for us within the veil, leaving us an example that we should follow His steps (1 Pet. II.21)—follow Him in His belief in divinity, in His service and in ability to penetrate into that area of consciousness and that field of activity which we call the true Church of Christ, the spiritual (at present invisible) Hierarchy of our planet, the true Kingdom of God. The veil that hides that real church from us is now in process of disappearing and Christ is on the verge of reappearing.

Đến đúng thời điểm, Đức Christ đã đến và ban ra cho thế giới (chủ yếu qua các đệ tử của Ngài) hai chân lý lớn: sự kiện về sự hiện hữu của linh hồn con người và, thứ hai, hệ thống phụng sự (cụm từ này được dùng có chủ ý) như một phương thức thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn—với Thượng đế và với đồng loại. Ngài nói với con người rằng tất cả họ đều là Con của Thượng đế theo cùng ý nghĩa như Ngài; Ngài nói với họ bằng nhiều cách biểu tượng rằng Ngài là ai và là gì, và bảo đảm với họ rằng họ có thể làm những việc còn lớn hơn cả điều Ngài đã làm, bởi vì họ thiêng liêng như Ngài. Những việc lớn hơn này, nhân loại đã thực hiện được trên cõi hồng trần và trong việc kiểm soát thiên nhiên, như Đức Christ đã biết con người sẽ làm, bởi vì Ngài biết sự vận hành của Định luật Tiến hoá. Ngài dạy họ rằng phụng sự là chìa khóa của đời sống giải thoát, dạy họ kỹ thuật phụng sự qua chính đời sống của Ngài khi Ngài [108] đi khắp nơi làm điều lành, chữa lành người bệnh, cũng như giảng dạy những điều thuộc Thiên Giới và cho kẻ đói ăn, cả về thể xác lẫn tinh thần. Ngài đã biến đời sống hằng ngày thành một lĩnh vực thiêng liêng của sự sống tinh thần, nhờ đó nhấn mạnh giáo huấn của Đức Phật, bằng cách không mong cầu gì cho bản ngã biệt lập. Như vậy Đức Christ đã dạy dỗ, yêu thương và sống, tiếp nối sự liên tục lớn lao của mặc khải và giáo huấn của Thánh Đoàn; rồi Ngài đã đi vào phía trong bức màn vì chúng ta, để lại cho chúng ta một tấm gương hầu chúng ta noi theo bước chân Ngài (1 Pet. II.21)—noi theo Ngài trong niềm tin của Ngài vào thiên tính, trong sự phụng sự của Ngài và trong khả năng thâm nhập vào khu vực tâm thức và lĩnh vực hoạt động mà chúng ta gọi là Giáo Hội chân thực của Đức Christ, Thánh đoàn tinh thần (hiện nay vô hình) của hành tinh chúng ta, Thiên Giới chân thực. Bức màn che giấu giáo hội chân thực ấy khỏi chúng ta hiện đang trong tiến trình biến mất và Đức Christ đang ở ngưỡng tái xuất hiện.

In the light of the past, therefore, and of humanity’s present need, which Christ and the Hierarchy must meet, what will be the teaching which He will this time give? Such is the question which His disciples are now asking. The probability is that His teaching will fall into four parts; we would do well to consider each of them and do our best to understand and prepare the human mind for the reception of what He has to give.

Vì vậy, dưới ánh sáng của quá khứ và của nhu cầu hiện tại của nhân loại, nhu cầu mà Đức Christ và Thánh Đoàn phải đáp ứng, giáo huấn mà lần này Ngài sẽ ban ra là gì? Đó là câu hỏi mà các đệ tử của Ngài hiện đang nêu lên. Có khả năng là giáo huấn của Ngài sẽ gồm bốn phần; chúng ta nên xem xét từng phần và cố gắng hết sức để thấu hiểu cũng như chuẩn bị trí tuệ con người đón nhận điều Ngài phải ban ra.

I. The Establishing of Right Human Relations

I. Sự Thiết Lập Những Tương Quan Đúng Đắn của Con Người

The phrase “right human relations” is one that is today being much discussed; it is being increasingly realised that it is a major human need, and the only hope of a peaceful and secure future. Wrong human relations have reached such a stage of difficulty that every phase of human life is in a state of chaotic turmoil; every aspect [109] of daily living is involved—family life, communal living, business relations, religious and political contacts, governmental action and the habitual life of all peoples, including the entire field of international relations. Everywhere there is hate, competition, mal-adjustment, strife between parties, the vilest kind of muck raking and scandal making, deep distrust between men and nations, between capital and labour and among the many sects, churches and religions. The difference between a sect and a church is, after all, only one of degree and historical inception; it is one of interpretation, of fanatical adherence to some pet truth and always—exclusiveness, which is contrary to Christian teaching. Nowhere is there peace today or understanding; only a small minority in relation to the Earth’s population are struggling for those conditions which will lead to peaceful and happy relationships.

Cụm từ “những tương quan đúng đắn của con người” hiện nay đang được bàn luận rất nhiều; ngày càng nhận ra rằng đó là một nhu cầu lớn của nhân loại, và là niềm hy vọng duy nhất cho một tương lai hòa bình và an toàn. Những tương quan sai lạc của con người đã đạt đến một mức độ khó khăn đến nỗi mọi phương diện của đời sống nhân loại đều ở trong tình trạng hỗn loạn rối ren; mọi phương diện [109] của sinh hoạt hằng ngày đều bị cuốn vào—đời sống gia đình, đời sống cộng đồng, các quan hệ kinh doanh, các tiếp xúc tôn giáo và chính trị, hành động của chính quyền và đời sống thường nhật của mọi dân tộc, kể cả toàn bộ lĩnh vực quan hệ quốc tế. Khắp nơi đều có hận thù, cạnh tranh, mất điều chỉnh, xung đột giữa các phe phái, kiểu bới móc và tạo scandal đê tiện nhất, sự ngờ vực sâu sắc giữa người với người và giữa các quốc gia, giữa tư bản và lao động, và giữa nhiều giáo phái, giáo hội và tôn giáo. Rốt cuộc, sự khác biệt giữa một giáo phái và một giáo hội chỉ là khác biệt về mức độ và về nguồn gốc lịch sử; đó là vấn đề diễn giải, của sự bám chấp cuồng tín vào một chân lý được mình đặc biệt ưa thích, và luôn luôn là tính loại trừ, điều trái ngược với giáo huấn của Đức Christ. Ngày nay không nơi nào có hòa bình hay thấu hiểu; chỉ có một thiểu số nhỏ so với dân số Trái Đất đang đấu tranh cho những điều kiện sẽ dẫn đến các mối quan hệ hòa bình và hạnh phúc.

The strength of this fighting minority, struggling for peace and right relations, consists in the fact that the work they are attempting to do is in line with divine intention and purpose. Into this chaos of conflicting, competitive and fighting interests, Christ plans to reappear. I would ask you to contemplate the very real horror of what He has to face, and the necessity for some measure of order to be brought about in the world, for certain basic principles to be enunciated and partially, at least, accepted, before He can usefully work amongst men. If He were to come immediately, His voice would not be heard, for the noise of men’s quarrelling is too great; if He sought to attract human attention, even through the prophesied sound of the trumpet (Matt. XXIV.31), He would be classed simply as one who advertised himself; if He preached and taught, He would attract primarily those who think naturally in unison with His message, or the gullible and the credulous would flock to Him, as they [110] do to all new teachers—no matter what they teach. The bulk of human beings are still too hungry, too devastated psychically, too bewildered and distressed, and too unsure of their future, their freedom and their security to be in any condition to listen to Him.

Sức mạnh của thiểu số chiến đấu này, đang đấu tranh cho hòa bình và những tương quan đúng đắn, nằm ở chỗ công việc họ đang cố gắng thực hiện phù hợp với ý định và mục đích thiêng liêng. Chính vào trong tình trạng hỗn loạn của những quyền lợi xung đột, cạnh tranh và đối kháng này mà Đức Christ dự định tái lâm. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về nỗi kinh hoàng rất thực mà Ngài phải đối diện, và sự cần thiết phải đem lại một mức độ trật tự nào đó cho thế giới, phải công bố một số nguyên tắc căn bản và ít nhất cũng được chấp nhận phần nào, trước khi Ngài có thể hoạt động hữu ích giữa loài người. Nếu Ngài đến ngay lập tức, tiếng nói của Ngài sẽ không được nghe thấy, vì tiếng ồn của những cuộc cãi vã của con người quá lớn; nếu Ngài tìm cách thu hút sự chú ý của nhân loại, ngay cả qua tiếng kèn được tiên tri báo trước (Matt. XXIV.31), Ngài đơn giản sẽ bị xếp vào loại một kẻ tự quảng bá mình; nếu Ngài giảng dạy, Ngài trước hết sẽ thu hút những người vốn tự nhiên suy nghĩ hòa điệu với thông điệp của Ngài, hoặc những kẻ nhẹ dạ và cả tin sẽ đổ xô đến với Ngài, như họ [110] vẫn làm với mọi huấn sư mới—bất kể họ dạy điều gì. Đại đa số nhân loại vẫn còn quá đói khổ, quá tan nát về mặt tâm lý, quá hoang mang và đau khổ, và quá bất an về tương lai, tự do và sự an toàn của mình để có thể ở trong tình trạng lắng nghe Ngài.

He will not come, we may be sure, as a conquering hero, as the interpretations of the theological teachers have led man to believe, for that would certainly fail to identify Him and He would be simply classed as another military figure; of them we have had a plethora; He will not come as the Messiah of the Jews to save the so-called Holy Land and the city of Jerusalem for the Jews, because He belongs to the whole world and no Jews nor any other people have special rights or unique privileges or may claim Him as their own; He will not come to convert the “heathen” world for, in the eyes of the Christ and of His true disciples, no such world exists and the so-called heathen have demonstrated historically less of the evil of vicious conflict than has the militant Christian world. The history of the Christian nations and of the Christian church has been one of an aggressive militancy—the last thing desired by the Christ when He sought to establish the church on earth.

Chúng ta có thể chắc chắn rằng Ngài sẽ không đến như một anh hùng chinh phục, như những cách diễn giải của các nhà thần học đã khiến con người tin tưởng, vì điều đó chắc chắn sẽ không giúp nhận ra Ngài và Ngài đơn giản sẽ bị xếp vào loại một nhân vật quân sự khác; mà chúng ta đã có quá nhiều những người như thế; Ngài sẽ không đến như Đấng Messiah của người Do Thái để cứu cái gọi là Thánh Địa và thành Jerusalem cho người Do Thái, bởi vì Ngài thuộc về toàn thế giới và không người Do Thái nào hay bất kỳ dân tộc nào khác có những quyền đặc biệt hay đặc ân độc nhất, hoặc có thể đòi nhận Ngài là của riêng họ; Ngài sẽ không đến để cải đạo thế giới “ngoại giáo”, vì trong mắt Đức Christ và các đệ tử chân chính của Ngài, không hề có một thế giới như thế, và những người bị gọi là ngoại giáo trong lịch sử đã biểu lộ ít điều ác của xung đột hung bạo hơn thế giới Cơ Đốc giáo hiếu chiến. Lịch sử của các quốc gia Cơ Đốc giáo và của giáo hội Cơ Đốc giáo là lịch sử của một tính hiếu chiến xâm lấn—điều mà Đức Christ không hề mong muốn khi Ngài tìm cách thiết lập giáo hội trên Trái Đất.

When He came before He said (and the words have been sadly misread): “I come not to bring peace but a sword” (Matt. X.34). This will be true especially during the early days of His advent. The sword which He wields is the sword of the Spirit; it is that sword which produces cleavage between a true spirituality and an habitual materialism. The major effect of His appearance will surely be to demonstrate in every land the effects of a spirit of inclusiveness—an inclusiveness which will be channelled or expressed through Him. All who seek right human relations will be gathered automatically to Him, [111] whether they are in one of the great world religions or not; all who see no true or basic difference between religion and religion or between man and man or nation and nation will rally around Him; those who embody the spirit of exclusiveness and separativeness will stand automatically and equally revealed and all men will know them for what they are. The cleaving sword of the spirit will—without wounding—bring revelation and indicate the first needed step towards human regeneration.

Khi trước kia Ngài đến, Ngài đã nói (và những lời ấy đã bị hiểu sai một cách đáng buồn): “Ta đến không phải để đem hòa bình mà là gươm giáo” (Matt. X.34). Điều này sẽ đặc biệt đúng trong những ngày đầu của cuộc quang lâm của Ngài. Thanh gươm mà Ngài sử dụng là thanh gươm của tinh thần; chính thanh gươm ấy tạo ra sự phân rẽ giữa một tinh thần tính chân chính và một chủ nghĩa duy vật cố hữu. Hiệu quả chính của sự xuất hiện của Ngài chắc chắn sẽ là chứng minh tại mọi quốc gia những tác động của một tinh thần bao gồm—một tính bao gồm sẽ được dẫn truyền hay biểu lộ qua Ngài. Tất cả những ai tìm kiếm những tương quan đúng đắn của con người sẽ tự động được tập hợp về phía Ngài, [111] dù họ có ở trong một trong những tôn giáo lớn của thế giới hay không; tất cả những ai không thấy có sự khác biệt chân thực hay căn bản giữa tôn giáo này với tôn giáo khác, giữa người này với người khác, hay giữa quốc gia này với quốc gia khác sẽ tập hợp quanh Ngài; những ai hiện thân cho tinh thần loại trừ và chia rẽ sẽ cũng tự động bị phơi bày, và mọi người sẽ biết họ đúng như họ là. Thanh gươm phân cắt của tinh thần sẽ—không gây thương tích—mang lại sự mặc khải và chỉ ra bước đầu tiên cần thiết hướng tới sự tái sinh của nhân loại.

Standing as the focal point of the inner Triangle—of the Buddha, of the Spirit of Peace and of the Avatar of Synthesis—the consequent outpouring potency of the Christ will be so great that the distinction between love and hate, between aggression and freedom, and between greed and sharing will be made lucidly clear to the eyes and minds of all men and, therefore, the distinction between good and evil will be made equally clear. The invocative prayer, “From the point of love within the heart of God, let love stream forth into the hearts of men” will meet with fulfilment. Christ will let loose into the world of men the potency and the distinctive energy of intuitive love. The results of the distribution of this energy of love will be twofold:

Đứng như tiêu điểm của Tam Giác nội tại—của Đức Phật, của Đấng Tinh thần Hòa Bình và của Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp—mãnh lực tuôn đổ tiếp theo của Đức Christ sẽ lớn lao đến nỗi sự phân biệt giữa tình thương và hận thù, giữa xâm lấn và tự do, và giữa tham lam và chia sẻ sẽ được làm sáng tỏ rõ ràng trước mắt và trí tuệ của mọi người; và vì vậy, sự phân biệt giữa thiện và ác cũng sẽ được làm sáng tỏ tương tự. Lời khẩn cầu, “Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế, Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người” sẽ được ứng nghiệm. Đức Christ sẽ giải phóng vào thế giới loài người mãnh lực và năng lượng đặc thù của tình thương trực giác. Kết quả của việc phân phối năng lượng tình thương này sẽ có hai mặt:

1. Countless men and women in every land will form themselves into groups for the promotion of goodwill and for the production of right human relations. So great will be their numbers that from being a small and relatively unimportant minority, they will be the largest and the most influential force in the world. Through them, the New Group of World Servers will be able to work successfully.

1. Vô số những người nam và nữ ở mọi quốc gia sẽ tự tổ chức thành các nhóm để thúc đẩy thiện chí và tạo ra những tương quan đúng đắn của con người. Số lượng của họ sẽ lớn đến nỗi từ chỗ là một thiểu số nhỏ và tương đối không quan trọng, họ sẽ trở thành lực lượng lớn nhất và có ảnh hưởng nhất trên thế giới. Qua họ, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ có thể hoạt động thành công.

2. This active energy of loving understanding will mobilise a tremendous reaction against the potency [112] of hate. To hate, to be separate, and to be exclusive will come to be regarded as the only sin, for it will be recognised that all the sins—as listed and now regarded as wrong—only stem from hate or from its product, the anti-social consciousness. Hate and its dependent consequences are the true sin against the Holy Ghost, about which commentators have so long debated, overlooking (in their silliness) the simplicity and the appropriateness of the true definition.

2. Năng lượng tích cực của sự thấu hiểu đầy bác ái này sẽ huy động một phản ứng to lớn chống lại mãnh lực [112] của hận thù. Hận thù, chia rẽ và loại trừ sẽ bị xem là tội lỗi duy nhất, vì người ta sẽ nhận ra rằng mọi tội lỗi—như hiện được liệt kê và xem là sai trái—đều chỉ phát sinh từ hận thù hoặc từ sản phẩm của nó là tâm thức phản xã hội. Hận thù và những hậu quả phụ thuộc của nó mới là tội lỗi thật sự chống lại Chúa Thánh Thần, điều mà các nhà chú giải đã tranh luận quá lâu, trong khi bỏ qua (trong sự ngớ ngẩn của họ) tính đơn giản và thích đáng của định nghĩa chân thực.

The power of the hierarchical spiritual impact, focussed through Christ and His working disciples, will be so great that the usefulness, the practicality and the naturalness of right human relations will become so evident that world affairs will rapidly be adjusted and the new era of goodwill and of peace on earth will be inaugurated. The new culture and the new civilisation will then be possible.

Quyền năng của sự tác động tinh thần từ Thánh đoàn, được tập trung qua Đức Christ và các đệ tử đang hoạt động của Ngài, sẽ lớn lao đến nỗi tính hữu ích, tính thực tiễn và tính tự nhiên của những tương quan đúng đắn của con người sẽ trở nên hiển nhiên đến mức các công việc thế giới sẽ nhanh chóng được điều chỉnh và kỷ nguyên mới của thiện chí và hòa bình trên Trái Đất sẽ được khai mở. Khi đó nền văn hóa mới và nền văn minh mới sẽ trở nên khả hữu.

This is the picture of no optimistic, mystical and impossible event. It is not based upon wishful thinking or upon a blind hope. Already today, the disciples of the Christ are preaching the doctrine of right human relations; men and women of goodwill are endeavouring to show that only through goodwill can true peace be brought about in the arena of international life. In the presentation of true “livingness” which the Christ will demonstrate to the world of thinking men, there is necessarily no room for exclusiveness or for separativeness, because that “life more abundantly” (which He seeks to channel to us) is a free and flowing current, sweeping away obstructions and barriers, and establishing an unimpeded circulation of truth and life itself—the essential quality of both being love.

Đây không phải là bức tranh của một biến cố lạc quan, thần bí và bất khả thi. Nó không dựa trên sự mong ước viển vông hay một hy vọng mù quáng. Ngay hôm nay, các đệ tử của Đức Christ đã và đang giảng dạy giáo lý về những tương quan đúng đắn của con người; những người nam và nữ thiện chí đang nỗ lực chứng tỏ rằng chỉ qua thiện chí mà hòa bình chân thực mới có thể được mang lại trong đấu trường đời sống quốc tế. Trong sự trình bày về “tính sống động” chân thực mà Đức Christ sẽ chứng minh cho thế giới của những người biết suy nghĩ, tất yếu không có chỗ cho tính loại trừ hay chia rẽ, bởi vì “sự sống dồi dào hơn” ấy (mà Ngài tìm cách dẫn truyền đến chúng ta) là một dòng chảy tự do và tuôn trào, quét sạch những chướng ngại và rào cản, và thiết lập một sự lưu thông không bị cản trở của chân lý và chính sự sống—mà phẩm tính cốt yếu của cả hai là tình thương.

[113]

[113]

All the world religions have posited the fact that God is Love essentially and that God is life essentially as well as intelligence. That life carries within itself the essential quality of the will of God, as well as the love of God. Both are equally important because that will is qualified by love. Hitherto, men have known nothing of the factual nature of the quality of livingness, energised by love and will, except through a vague theoretical conception. The reappearance of Christ will establish the fact of this divine livingness; the work which He will accomplish—with the aid of His disciples—will demonstrate the love and the divine purpose which lie behind all phenomenal experience.

Mọi tôn giáo trên thế giới đều đã khẳng định sự kiện rằng Thượng đế về bản chất là Tình thương và Thượng đế về bản chất là sự sống cũng như trí tuệ. Sự sống ấy mang trong chính nó phẩm tính cốt yếu của Ý Chí của Thượng Đế, cũng như tình thương của Thượng đế. Cả hai đều quan trọng như nhau vì ý chí ấy được tình thương định tính. Cho đến nay, con người chưa biết gì về bản chất thực sự của phẩm tính sống động, được tiếp sinh lực bởi tình thương và ý chí, ngoại trừ qua một quan niệm lý thuyết mơ hồ. Sự tái lâm của Đức Christ sẽ xác lập sự kiện về tính sống thiêng liêng này; công việc mà Ngài sẽ hoàn thành—với sự trợ giúp của các đệ tử của Ngài—sẽ chứng minh tình thương và mục đích thiêng liêng nằm sau mọi kinh nghiệm hiện tượng.

The establishing of right human relations is an aspect of the divine will for humanity and the next facet of the divine expression to manifest itself in human affairs—individual, communal, national, and international. Nothing has ever finally impeded this divine expression, except the time factor, and that time factor is determined by humanity and is an expression of divine freewill. The intended, divine expression can move rapidly or slowly into manifestation, according as man decides; hitherto, man has decided upon a slow—a very slow—manifestation. It is here that the freedom of the human will shows itself. Because divinity is immanent or present in all forms and, therefore, in all human beings, that will must eventually be fulfilled; because of the tremendously material intention (esoterically speaking) of all forms at present, that Will has hitherto been retarded in its expression; it has not been the will of man to establish right human relations. Hence the discipline of war, the torture of the forms, and the misery in human living today.

Việc thiết lập những tương quan đúng đắn của con người là một phương diện của ý chí thiêng liêng dành cho nhân loại và là diện mạo kế tiếp của biểu lộ thiêng liêng sẽ tự biểu hiện trong các công việc của con người—cá nhân, cộng đồng, quốc gia và quốc tế. Chưa từng có điều gì cuối cùng ngăn trở được biểu lộ thiêng liêng này, ngoại trừ yếu tố thời gian, và yếu tố thời gian ấy do nhân loại quyết định và là một biểu hiện của tự do ý chí thiêng liêng. Biểu lộ thiêng liêng đã được dự định có thể tiến vào sự biểu hiện nhanh hay chậm, tùy theo con người quyết định; cho đến nay, con người đã quyết định cho một sự biểu hiện chậm—rất chậm. Chính ở đây mà sự tự do của ý chí con người tự bộc lộ. Bởi vì thiên tính là nội tại hay hiện diện trong mọi hình tướng và, do đó, trong mọi con người, nên ý chí ấy cuối cùng phải được hoàn thành; bởi vì hiện nay ý định duy vật cực mạnh (nói theo nội môn) của mọi hình tướng, nên Ý Chí ấy cho đến nay đã bị trì hoãn trong sự biểu lộ của nó; không phải là ý chí của con người muốn thiết lập những tương quan đúng đắn của con người. Do đó mới có kỷ luật của chiến tranh, sự tra tấn các hình tướng, và nỗi khốn khổ trong đời sống nhân loại ngày nay.

These factors are bringing about a great and general transformation; the indications of this is easily to be [114] seen by spiritually minded people. Such people are constantly saying (as Christ did in the Garden of Gethsemane), “Let the will of God be done.” (Matt. XXVI.39.) They say it ignorantly and often hopelessly; nevertheless, it indicates a general process of spiritual re-orientation, of submission and of acquiescence. Christ demonstrated this submission when He said, “I came not to do my own will but the will of Him Who sent me.” (John VI.38.) He proved His acquiescence when He cried, “Father, not my will but Thine be done.” Submission has in it the elements of conquest by circumstances and of a recognition which may not understand but which submits to that which is imposed. Acquiescence has in it the element of an understanding intelligence, and this marks a great step forward. Both admit the fact of a divine over-shadowing will in the life of mankind today; both are preparatory to a recognition of Christ’s work in bringing about right human relations. At present, the submission of mankind to the divine will is a negative submission; the true submission is a positive attitude of spiritual expectancy, leading eventually to a positive acquiescence.

Những yếu tố này đang mang lại một sự chuyển đổi lớn lao và phổ quát; các dấu hiệu của điều này rất dễ [114] được nhìn thấy bởi những người có khuynh hướng tinh thần. Những người như thế luôn luôn nói (như Đức Christ đã nói trong Vườn Gethsemane), “Xin cho ý muốn của Thượng đế được nên.” (Matt. XXVI.39.) Họ nói điều đó trong vô minh và thường là trong tuyệt vọng; tuy nhiên, điều đó cho thấy một tiến trình tái định hướng tinh thần phổ quát, của sự quy phục và của sự thuận phục. Đức Christ đã chứng minh sự quy phục này khi Ngài nói, “Ta đến không phải để làm theo ý riêng Ta mà theo ý của Đấng đã sai Ta.” (John VI.38.) Ngài đã chứng tỏ sự thuận phục của mình khi kêu lên, “Lạy Cha, xin đừng theo ý con mà theo ý Cha.” Sự quy phục chứa trong nó những yếu tố của việc bị hoàn cảnh chinh phục và của một sự nhìn nhận có thể không hiểu nhưng vẫn quy phục điều được áp đặt. Sự thuận phục chứa trong nó yếu tố của một trí tuệ thấu hiểu, và điều này đánh dấu một bước tiến lớn. Cả hai đều thừa nhận sự kiện về một ý chí phủ bóng thiêng liêng trong đời sống nhân loại ngày nay; cả hai đều là sự chuẩn bị cho việc nhận ra công việc của Đức Christ trong việc mang lại những tương quan đúng đắn của con người. Hiện nay, sự quy phục của nhân loại đối với ý chí thiêng liêng là một sự quy phục thụ động; sự quy phục chân chính là một thái độ tích cực của sự mong đợi tinh thần, cuối cùng dẫn đến một sự thuận phục tích cực.

A spiritual expectancy is also to be seen; it is part of the work of the New Group of World Servers to intensify this. They have also to foster spiritual submission and intelligent acquiescence in the masses, who normally divide themselves into the two classes, expressing these two attitudes; these factors of submission, acquiescence and expectancy are latent in every man. It is these three divine potentialities which will enable men to respond to the message of the Christ and, therefore, the selfless sacrifice, the understanding compromise and the comprehension of the many and diverse points of view (necessary [115] to the establishing of right human relations) will be far easier to bring about.

Một sự mong đợi tinh thần cũng có thể được nhìn thấy; việc tăng cường điều này là một phần công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Họ cũng phải nuôi dưỡng sự quy phục tinh thần và sự thuận phục thông tuệ trong quần chúng, những người thường tự chia thành hai loại, biểu lộ hai thái độ này; những yếu tố quy phục, thuận phục và mong đợi này đều tiềm ẩn trong mỗi con người. Chính ba tiềm năng thiêng liêng này sẽ giúp con người đáp ứng với thông điệp của Đức Christ và, do đó, sự hy sinh vô kỷ, sự thỏa hiệp đầy thấu hiểu và sự lĩnh hội nhiều quan điểm đa dạng khác nhau (cần thiết [115] cho việc thiết lập những tương quan đúng đắn của con người) sẽ dễ dàng được mang lại hơn nhiều.

We would all find it helpful to reflect upon what are the factors recognised in submission and acquiescence. In establishing right human relations, relinquishment, renunciation, submission to existent facts, and obedient acquiescence to divine law are all involved. These are the things which Christ earlier demonstrated on Earth, and they are the things which He will help humanity to accept with enthusiasm and understanding. This will produce happiness. Happiness is a difficult lesson to learn; it is for mankind a totally new experience and Christ will have to teach men how to handle happiness correctly, to overcome the ancient habits of misery, and thus to know the meaning of true joy. Christ, however, is not coming simply to teach men the need for right human relations; He is coming to teach them how to establish it successfully themselves.

Tất cả chúng ta sẽ thấy hữu ích nếu suy ngẫm về những yếu tố được nhận ra trong sự quy phục và thuận phục. Trong việc thiết lập những tương quan đúng đắn của con người, sự buông bỏ, Sự từ bỏ, sự quy phục trước các sự kiện hiện hữu, và sự thuận phục vâng lời đối với định luật thiêng liêng đều được bao hàm. Đó là những điều mà trước kia Đức Christ đã chứng minh trên Trái Đất, và đó là những điều mà Ngài sẽ giúp nhân loại chấp nhận với nhiệt tâm và thấu hiểu. Điều này sẽ tạo ra hạnh phúc. Hạnh phúc là một bài học khó học; đối với nhân loại, đó là một kinh nghiệm hoàn toàn mới và Đức Christ sẽ phải dạy con người cách xử lý hạnh phúc một cách đúng đắn, vượt qua những thói quen cổ xưa của khổ đau, và nhờ đó biết được ý nghĩa của niềm vui chân thực. Tuy nhiên, Đức Christ không đến chỉ để dạy con người nhu cầu về những tương quan đúng đắn của con người; Ngài đến để dạy họ cách tự mình thiết lập điều đó một cách thành công.

II. Christ Will Teach the Law of Rebirth

II. Đức Christ Sẽ Dạy Định luật Tái Sinh

This Law is the major corollary of the Law of Evolution. It has never been grasped or properly understood in the West and, in the East, where it is acknowledged as a governing principle of life, it has not proved useful because it has been soporific in its effect, and a detriment to progress. The Eastern student regards it as giving him plenty of time; this has negated the driving effort to achieve a goal. The average Christian confuses the Law of Rebirth with what he calls “the transmigration of souls” and frequently believes that the Law of Rebirth signifies the passing of human beings into the bodies of animals or of lower forms of life. Such is by no means the case. As the life of God progresses onwards through [116] form after form, that life in the subhuman kingdoms of nature proceeds progressively from mineral forms into vegetable forms, and from these vegetable forms into animal forms; from the animal form stage, the life of God passes into the human kingdom, and becomes subject to the Law of Rebirth and not the law of Transmigration. To those who know something of the Law of Rebirth or of Reincarnation, the mistake seems ridiculous.

Định luật này là hệ quả tất yếu chủ yếu của Định luật Tiến hoá. Nó chưa bao giờ được nắm bắt hay thấu hiểu đúng đắn ở phương Tây, và ở phương Đông, nơi nó được thừa nhận như một nguyên lý chi phối đời sống, nó đã không chứng tỏ được tính hữu ích vì tác động gây mê ngủ của nó, và là một trở ngại cho tiến bộ. Đạo sinh phương Đông xem nó như cho y rất nhiều thời gian; điều này đã triệt tiêu sự nỗ lực tích cực để đạt đến một mục tiêu. Người Cơ Đốc giáo trung bình nhầm lẫn Định luật Tái Sinh với điều ông gọi là “sự luân chuyển của các linh hồn” và thường tin rằng Định luật Tái Sinh có nghĩa là con người đi vào các thân thể của động vật hay các hình thức sống thấp hơn. Hoàn toàn không phải như vậy. Khi sự sống của Thượng đế tiến bước qua [116] hình tướng này đến hình tướng khác, sự sống ấy trong các giới dưới nhân loại trong thiên nhiên tiến triển dần từ các hình thức khoáng vật sang các hình thức thực vật, và từ các hình thức thực vật ấy sang các hình thức động vật; từ giai đoạn hình thức động vật, sự sống của Thượng đế đi vào giới nhân loại, và trở thành đối tượng của Định luật Tái Sinh chứ không phải định luật Luân chuyển. Đối với những ai biết đôi điều về Định luật Tái Sinh hay Tái Nhập Thể, sai lầm này có vẻ lố bịch.

The doctrine or theory of reincarnation strikes the orthodox Christian with horror; yet if one asks him the question which the disciples asked Christ about the blind man, “Master, did this man sin or his fathers that he was born blind?” (John IX.2), they refuse the implications; or they express amusement or dismay as the case may be. The presentation to the world of the thought by the average occult or theosophical exponent has been, on the whole, deplorable. It has been deplorable because it has been so unintelligently presented. The best that can be said is that they have familiarised the general public with the theory; had it, however, been more intelligently presented, it might have been more generally accepted in the West.

Giáo lý hay lý thuyết tái nhập thể khiến người Cơ Đốc giáo chính thống kinh hoàng; tuy nhiên nếu người ta hỏi ông câu hỏi mà các đệ tử đã hỏi Đức Christ về người mù, “Thưa Thầy, người này phạm tội hay cha mẹ người mà người sinh ra đã mù?” (John IX.2), họ từ chối những hàm ý của nó; hoặc họ bày tỏ sự thích thú hay kinh ngạc tùy trường hợp. Việc trình bày tư tưởng này cho thế giới bởi nhà huyền bí học hay nhà Thông Thiên Học trung bình nhìn chung là đáng tiếc. Nó đáng tiếc vì đã được trình bày quá thiếu thông tuệ. Điều tốt nhất có thể nói là họ đã làm cho công chúng quen thuộc với lý thuyết ấy; tuy nhiên, nếu nó được trình bày thông tuệ hơn, có lẽ nó đã được chấp nhận rộng rãi hơn ở phương Tây.

If the goal of right human relations will be taught universally by the Christ, the emphasis of His teaching must be laid upon the Law of Rebirth. This is inevitably so, because in the recognition of this law will be found the solution of all the problems of humanity, and the answer to much of human questioning.

Nếu mục tiêu của những tương quan đúng đắn của con người sẽ được Đức Christ giảng dạy một cách phổ quát, thì trọng tâm giáo huấn của Ngài phải được đặt trên Định luật Tái Sinh. Điều này tất yếu là như vậy, bởi vì trong sự thừa nhận định luật này sẽ tìm thấy lời giải cho mọi vấn đề của nhân loại, và câu trả lời cho phần lớn những thắc mắc của con người.

This doctrine will be one of the keynotes of the new world religion, as well as the clarifying agent for a better understanding of world affairs. When Christ was here, in person, before, He emphasised the fact of the soul and the value of the individual. He told men that they could be saved by the life of the soul, and of the Christ within [117] the human heart. He said also that “except a man be born again, he cannot see the Kingdom of God.” (John III.3.) Only souls can function as citizens of that kingdom, and it was this privileged functioning that He held, for the first time, before humanity, thus giving men a vision of a divine possibility and an unalterable conclusion to experience. He told them to “Be ye, therefore, perfect, even as your Father which is in Heaven is perfect.” (Matt. V.48.)

Giáo lý này sẽ là một trong những chủ âm của tôn giáo thế giới mới, cũng như là tác nhân làm sáng tỏ cho một sự thấu hiểu tốt hơn về các công việc thế giới. Khi Đức Christ hiện diện nơi đây, trong thân xác, trước kia, Ngài đã nhấn mạnh sự kiện về linh hồn và giá trị của cá nhân. Ngài nói với con người rằng họ có thể được cứu rỗi nhờ đời sống của linh hồn, và của Đức Christ bên trong [117] trái tim con người. Ngài cũng nói rằng “nếu một người không được sinh lại, người ấy không thể thấy Thiên Giới.” (John III.3.) Chỉ có các linh hồn mới có thể hoạt động như công dân của giới ấy, và chính sự hoạt động đặc ân này mà lần đầu tiên Ngài đã đặt trước nhân loại, nhờ đó ban cho con người một linh ảnh về một khả năng thiêng liêng và một kết quả cuối cùng bất biến của kinh nghiệm. Ngài bảo họ “Vậy các ngươi hãy nên trọn lành, như Cha các ngươi ở trên trời là trọn lành.” (Matt. V.48.)

This time, He will teach men the method whereby this possibility can become accomplished fact—through the constant return of the incarnating soul to the school of life on Earth, there to undergo the perfecting process of which He was the outstanding example. That is the meaning and teaching of reincarnation. Dane Rudhyar, in his book New Mansions for New Men, page 123, gives a satisfying definition of this mysterious cosmic and human process. He says that “The individual structure of the new manifestation is necessarily conditioned by the unfulfillment of the past; by the remains, the failures of the past—preserved in the records of nature in the memory of universal substance.” The whole story—yours and mine and that of everyone—is covered in those few words.

Lần này, Ngài sẽ dạy con người phương pháp nhờ đó khả năng này có thể trở thành sự kiện đã hoàn thành—qua sự trở lại liên tục của linh hồn đang nhập thể đến trường học của đời sống trên Trái Đất, ở đó trải qua tiến trình hoàn thiện mà chính Ngài là tấm gương nổi bật. Đó là ý nghĩa và giáo huấn của tái nhập thể. Dane Rudhyar, trong cuốn sách New Mansions for New Men, trang 123, đã đưa ra một định nghĩa thỏa đáng về tiến trình vũ trụ và nhân loại huyền nhiệm này. Ông nói rằng “Cấu trúc cá nhân của biểu hiện mới tất yếu bị điều kiện hóa bởi sự không hoàn tất của quá khứ; bởi những tàn dư, những thất bại của quá khứ—được lưu giữ trong hồ sơ của thiên nhiên trong ký ức của chất liệu vũ trụ.” Toàn bộ câu chuyện—của bạn và của tôi và của mọi người—đều được bao hàm trong vài lời ấy.

It should be remembered that practically all the occult groups and writings have foolishly laid the emphasis upon past incarnations and upon their recovery; this recovery is incapable of any reasonable checking—anyone can say and claim anything they like; the teaching has been laid upon imaginary rules, supposed to govern the time equation and the interval between lives, forgetting that time is a faculty of the brain-consciousness and that, divorced from the brain, time is non-existent; the emphasis has always been laid upon a fictional presentation of relationships. The teaching (hitherto given out on reincarnation) [118] has done more harm than good. Only one factor remains of value: the existence of a Law of Rebirth is now discussed by many and accepted by thousands.

Cần nhớ rằng hầu như mọi nhóm và trước tác huyền bí học đều đã ngu xuẩn đặt trọng tâm vào các lần nhập thể quá khứ và vào việc phục hồi chúng; sự phục hồi này không thể được kiểm chứng hợp lý—bất cứ ai cũng có thể nói và khẳng định bất cứ điều gì họ thích; giáo huấn đã được đặt trên những quy luật tưởng tượng, được cho là chi phối phương trình thời gian và khoảng cách giữa các kiếp sống, quên rằng thời gian là một khả năng của tâm thức não bộ và rằng, tách khỏi bộ não, thời gian không tồn tại; trọng tâm luôn luôn được đặt trên một sự trình bày hư cấu về các mối quan hệ. Giáo huấn (cho đến nay được truyền ra về tái nhập thể) [118] đã gây hại nhiều hơn lợi. Chỉ còn một yếu tố có giá trị: sự tồn tại của một Định luật Tái Sinh hiện nay được nhiều người bàn luận và được hàng ngàn người chấp nhận.

Beyond the fact that there is such a law, we know little and those who know from experience the factual nature of this return reject earnestly the foolish and improbable details, given out as fact by the theosophical and occult bodies. The Law exists; of the details of its working we know as yet nothing. Only a few things can be said with accuracy about it and these few warrant no contradiction:

Ngoài sự kiện rằng có một định luật như thế, chúng ta biết rất ít, và những ai biết từ kinh nghiệm bản chất thực sự của sự trở lại này đều tha thiết bác bỏ những chi tiết ngu xuẩn và khó tin được các tổ chức Thông Thiên Học và huyền bí học đưa ra như là sự kiện. Định luật ấy tồn tại; còn về các chi tiết vận hành của nó thì hiện nay chúng ta chưa biết gì cả. Chỉ có thể nói chính xác vài điều về nó, và những điều ấy không thể bị bác bỏ:

1. The Law of Rebirth is a great natural law upon our planet.

1. Định luật Tái Sinh là một định luật tự nhiên lớn trên hành tinh chúng ta.

2. It is a process, instituted and carried forward under the Law of Evolution.

2. Nó là một tiến trình, được thiết lập và được tiếp tục dưới Định luật Tiến hoá.

3. It is closely related to and conditioned by the Law of Cause and Effect.

3. Nó liên hệ chặt chẽ với và bị điều kiện hóa bởi Định luật Nhân Quả.

4. It is a process of progressive development, enabling men to move forward from the grossest forms of unthinking materialism to a spiritual perfection and an intelligent perception which will enable a man to become a member of the Kingdom of God.

4. Nó là một tiến trình phát triển tiến bộ, giúp con người tiến lên từ những hình thức duy vật vô tri thô thiển nhất đến một sự hoàn thiện tinh thần và một nhận thức thông tuệ, điều sẽ giúp một người trở thành thành viên của Thiên Giới.

5. It accounts for the differences among men and—in connection with the Law of Cause and Effect (called the Law of Karma in the East)—it accounts for differences in circumstances and attitudes to life.

5. Nó giải thích những khác biệt giữa con người và—kết hợp với Định luật Nhân Quả (được gọi là Định luật Karma ở phương Đông)—nó giải thích những khác biệt về hoàn cảnh và thái độ đối với đời sống.

6. It is the expression of the will aspect of the soul and is not the result of any form decision; it is the soul in all forms which reincarnates, choosing and building suitable physical, emotional and [119] mental vehicles through which to learn the next needed lessons.

6. Nó là biểu hiện của phương diện ý chí của linh hồn và không phải là kết quả của bất kỳ quyết định nào của hình tướng; chính linh hồn trong mọi hình tướng tái nhập thể, chọn lựa và kiến tạo những vận cụ hồng trần, cảm dục và [119] trí thích hợp để học những bài học kế tiếp cần thiết.

7. The Law of Rebirth (as far as humanity is concerned) comes into activity upon the soul plane. Incarnation is motivated and directed from the soul level, upon the mental plane.

7. Định luật Tái Sinh (xét theo nhân loại) đi vào hoạt động trên cõi linh hồn. Sự nhập thể được thúc đẩy và chỉ đạo từ cấp độ linh hồn, trên cõi trí.

8. Souls incarnate in groups, cyclically, under law and in order to achieve right relations with God and with their fellowmen.

8. Các linh hồn nhập thể theo nhóm, theo chu kỳ, dưới định luật và nhằm đạt được những tương quan đúng đắn với Thượng đế và với những người đồng loại của mình.

9. Progressive unfoldment, under the Law of Rebirth, is largely conditioned by the mental principle for “as a man thinketh in his heart, so is he.” These few brief words need most careful consideration.

9. Sự khai mở tiến bộ, dưới Định luật Tái Sinh, phần lớn bị điều kiện hóa bởi nguyên khí trí tuệ vì “con người nghĩ thế nào trong lòng mình, thì y là thế ấy.” Những lời ngắn gọn này cần được suy xét hết sức cẩn trọng.

10. Under the Law of Rebirth, man slowly develops mind, then mind begins to control the feeling, emotional nature, and finally reveals the soul and its nature and environment to man.

10. Dưới Định luật Tái Sinh, con người chậm rãi phát triển trí tuệ, rồi trí tuệ bắt đầu kiểm soát bản chất cảm xúc, cảm dục, và cuối cùng mặc khải linh hồn cùng bản chất và môi trường của nó cho con người.

11. At that point in his development, the man begins to tread the Path of Return, and orients himself gradually (after many lives) to the Kingdom of God.

11. Ở điểm đó trong sự phát triển của mình, con người bắt đầu bước đi trên Con Đường Trở Về, và dần dần định hướng mình (sau nhiều kiếp sống) về Thiên Giới.

12. When—through a developed mentality, wisdom, practical service and understanding—a man has learnt to ask nothing for the separated self, he then renounces desire for life in the three worlds and is freed from the Law of Rebirth.

12. Khi—nhờ một trí tuệ phát triển, minh triết, phụng sự thực tiễn và thấu hiểu—một người đã học được cách không đòi hỏi gì cho bản ngã biệt lập, thì y từ bỏ ham muốn sống trong ba cõi giới và được giải thoát khỏi Định luật Tái Sinh.

13. He is now group conscious, is aware of his soul group and of the soul in all forms and has attained—as Christ had requested—a stage of Christlike perfection reaching unto the “Measure of the stature of the fullness of the Christ.” (Eph. IV.13.)

13. Giờ đây y có tâm thức nhóm, nhận biết nhóm linh hồn của mình và linh hồn trong mọi hình tướng, và đã đạt đến—như Đức Christ đã yêu cầu—một giai đoạn hoàn thiện giống Đức Christ, đạt tới “tầm vóc viên mãn của Đức Christ.” (Eph. IV.13.)

[120]

[120]

Beyond this generalisation, no intelligent person will attempt to go. When Christ reappears, our knowledge will become more true and realistic; we shall know that we are eternally related to the souls of all men, and that we have a definite relationship to those who reincarnate with us, who are learning with us the same lessons and who are experiencing and experimenting with us. This proven and accepted knowledge will regenerate the very sources of our human living. We shall know that all our difficulties and all our problems are caused by our failure to recognise this fundamental Law, with its responsibilities and obligations; we shall then gradually learn to govern our activities by its just and restraining power. The Law of Rebirth embodies the practical knowledge which men need today to conduct rightly and correctly their religious, political, economic, communal and private lives and thus establish right relations with the divine life in all forms.

Ngoài sự khái quát này, không người thông tuệ nào sẽ cố đi xa hơn. Khi Đức Christ tái lâm, tri thức của chúng ta sẽ trở nên chân thực và thực tế hơn; chúng ta sẽ biết rằng mình vĩnh viễn liên hệ với các linh hồn của mọi người, và rằng chúng ta có một mối liên hệ xác định với những ai tái nhập thể cùng chúng ta, những người đang học cùng chúng ta những bài học giống nhau và đang trải nghiệm và thử nghiệm cùng chúng ta. Tri thức đã được chứng minh và chấp nhận này sẽ tái sinh chính những nguồn mạch của đời sống nhân loại chúng ta. Chúng ta sẽ biết rằng mọi khó khăn và mọi vấn đề của mình đều do sự thất bại của chúng ta trong việc nhận ra Định luật căn bản này, cùng với các trách nhiệm và nghĩa vụ của nó; khi đó chúng ta sẽ dần dần học cách điều hành các hoạt động của mình bằng quyền năng công chính và kiềm chế của nó. Định luật Tái Sinh bao hàm tri thức thực tiễn mà con người ngày nay cần để điều hành đúng đắn và chính xác đời sống tôn giáo, chính trị, kinh tế, cộng đồng và riêng tư của mình, và nhờ đó thiết lập những tương quan đúng đắn với sự sống thiêng liêng trong mọi hình tướng.

III. Revelation of the Mysteries of Initiation

III. Sự Mặc Khải các Huyền Nhiệm của Điểm Đạo

Much that is here written and which is conveyed in these pages is in reality concerned with the appearance of the Kingdom of God—an appearance which can now take place because of three factors:

Phần lớn những gì được viết ở đây và được truyền đạt trong những trang này thực ra liên quan đến sự xuất hiện của Thiên Giới—một sự xuất hiện hiện nay có thể diễn ra vì ba yếu tố:

1. The growth of that Kingdom on Earth, and the thousands of people who recognise its laws and endeavour to live in accordance with its rules and spirit.

1. Sự tăng trưởng của giới ấy trên Trái Đất, và hàng ngàn người nhận ra các định luật của nó và nỗ lực sống phù hợp với các quy luật và tinh thần của nó.

2. The fact that the signs of the time and the wide-spread need of humanity have evoked the Christ, and that He has decided to reappear. [121]

2. Sự kiện rằng các dấu hiệu của thời đại và nhu cầu lan rộng của nhân loại đã gợi lên sự đáp ứng của Đức Christ, và rằng Ngài đã quyết định tái lâm. [121]

3. The invocative cry of humanity is ascending hourly to “the secret place of the Most High” and the Hierarchy plans to emerge when Christ appears and restores the rule of the Spirit on Earth. The hour for the restoration of the ancient Mysteries has arrived.

3. Tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại đang dâng lên từng giờ tới “nơi bí mật của Đấng Tối Cao” và Thánh Đoàn dự định ngoại hiện khi Đức Christ xuất hiện và phục hồi quyền cai quản của tinh thần trên Trái Đất. Giờ phục hồi các Huyền Nhiệm cổ xưa đã đến.

These facts have been widely given out, during the past two years, as the result of the cleansing of the Earth through the medium of the world war (1914-1945) and through the suffering to which humanity has been subjected (with an equally potent purifying effect, which will demonstrate later). It will then be possible for the Hierarchy, the Church of Christ hitherto invisible, to externalise itself and to function openly upon the physical plane. This will indicate a return to the situation which existed in Atlantean days when (to use Biblical symbology, Genesis Chaps. 2 and 3) God Himself walked among men; He talked with them and there was no barrier between the Kingdom of men and the Kingdom of God. Divinity was then present in physical form and the Members of the spiritual Hierarchy were openly guiding and directing the affairs of humanity as far as man’s innate freedom permitted. Now, in the immediate future, and on a higher turn of the spiral of life, this will again happen. The Masters will walk openly among men; the Christ will reappear in physical Presence. Another thing that will happen will be that the ancient Mysteries will be restored, the ancient landmarks will again be recognised—those landmarks which Masonry has so earnestly preserved and which have been hitherto securely embalmed in the Masonic rituals, waiting the day of restoration and of resurrection.

Những sự kiện này đã được công bố rộng rãi trong hai năm qua, như là kết quả của sự thanh tẩy Trái Đất qua trung gian của cuộc thế chiến (1914-1945) và qua nỗi đau khổ mà nhân loại đã phải chịu đựng (với một hiệu quả thanh lọc mạnh mẽ tương đương, sẽ được chứng minh về sau). Khi đó Thánh Đoàn, Giáo hội của Đức Christ từ trước đến nay vẫn vô hình, sẽ có thể ngoại hiện và hoạt động công khai trên cõi hồng trần. Điều này sẽ cho thấy sự trở lại của tình trạng đã tồn tại trong thời Atlantis khi (dùng biểu tượng Kinh Thánh, Sáng Thế Ký chương 2 và 3) chính Thượng đế đi lại giữa loài người; Ngài nói chuyện với họ và không có rào cản nào giữa giới loài người và Thiên Giới. Khi ấy thiên tính hiện diện trong hình tướng hồng trần và các Thành viên của Thánh đoàn tinh thần công khai hướng dẫn và chỉ đạo các công việc của nhân loại trong chừng mực mà tự do bẩm sinh của con người cho phép. Giờ đây, trong tương lai gần, và ở một vòng xoắn cao hơn của sự sống, điều này sẽ lại xảy ra. Các Chân sư sẽ công khai đi lại giữa loài người; Đức Christ sẽ tái lâm trong Hiện Diện hồng trần. Một điều khác cũng sẽ xảy ra là các Huyền Nhiệm cổ xưa sẽ được phục hồi, các cột mốc cổ xưa sẽ lại được nhận ra—những cột mốc mà Hội Tam Điểm đã hết sức gìn giữ và cho đến nay vẫn được ướp giữ an toàn trong các nghi lễ Tam Điểm, chờ đợi ngày phục hồi và phục sinh.

[122]

[122]

These ancient Mysteries were originally given to humanity by the Hierarchy and contain the entire clue to the evolutionary process, hidden in numbers, in ritual, in words and in symbology; these veil the secret of man’s origin and destiny, picturing to him, in rite and ritual, the long, long path which he must tread, back into the light. They provide also (when rightly interpreted and correctly represented) the teaching which humanity needs in order to pass from darkness to Light, from the unreal to the Real and from death to Immortality. Any true Mason who understands, even if only to a slight degree, the significance of the three degrees of the Blue Lodge, and the implications of that in which he participates, will recognise the above three phrases for what they are, and will recognise the significance of the three degrees. I mention it here with Masonic purpose because it is closely related to the restoration of the Mysteries and has held the clue (down the ages) to that long awaited restoration, to the platform upon which the required teaching can be based and the structure which can express (when freed of its Jewish names and nomenclature, which are long out of date, though right three thousand years ago) the history of man’s moving forward upon the Path of Return.

Những Huyền Nhiệm cổ xưa này nguyên thủy đã được Thánh Đoàn ban cho nhân loại và chứa toàn bộ đầu mối của tiến trình tiến hoá, được che giấu trong các con số, trong nghi lễ, trong ngôn từ và trong biểu tượng; những điều này che phủ bí mật về nguồn gốc và định mệnh của con người, phác họa cho y, trong lễ thức và nghi lễ, con đường dài, rất dài mà y phải bước đi để trở về ánh sáng. Chúng cũng cung cấp (khi được diễn giải đúng và trình bày chính xác) giáo huấn mà nhân loại cần để đi từ bóng tối đến Ánh sáng, từ cái không thực đến cái Thực và từ cái chết đến Bất tử. Bất kỳ một hội viên Tam Điểm chân chính nào hiểu, dù chỉ ở mức độ nhỏ, ý nghĩa của ba cấp độ của Blue Lodge, và những hàm ý của điều mà y tham dự, sẽ nhận ra ba cụm từ trên đúng như chúng là, và sẽ nhận ra ý nghĩa của ba cấp độ ấy. Tôi đề cập điều này ở đây với mục đích Tam Điểm vì nó liên hệ chặt chẽ với sự phục hồi các Huyền Nhiệm và đã nắm giữ đầu mối (qua các thời đại) cho sự phục hồi được chờ đợi từ lâu ấy, cho nền tảng mà trên đó giáo huấn cần thiết có thể được đặt cơ sở và cho cấu trúc có thể biểu lộ (khi được giải thoát khỏi các tên gọi và thuật ngữ Do Thái, vốn đã lỗi thời từ lâu, dù ba ngàn năm trước là đúng đắn) lịch sử về sự tiến bước của con người trên Con Đường Trở Về.

It is these Mysteries which Christ will restore upon His reappearance, thus reviving the churches in a new form, and restoring the hidden Mystery which they long have lost through their materialism. Masonry has also lost the true livingness it once possessed but, in its forms and rituals, the truth is preserved and can be recovered. This Christ will do. He will also revive these Mysteries in other ways; not all will seek the church or Masonry for the revitalising of their spiritual life. The true Mysteries will also reveal themselves through science and [123] the incentive to search for them there will be given by the Christ. The Mysteries contain, within their formulas and teachings, the key to the science which will unlock the mystery of electricity—the greatest spiritual science and area of divine knowledge in the world, the fringes of which have only just been touched. Only when the Hierarchy is present visibly on Earth and the Mysteries of which the disciples of the Christ are the Custodians are given openly to the world, will the true secret and nature of electrical phenomena be revealed.

Chính những Huyền Nhiệm này mà Đức Christ sẽ phục hồi khi Ngài tái lâm, nhờ đó làm sống lại các giáo hội trong một hình thức mới, và phục hồi Huyền Nhiệm ẩn giấu mà từ lâu họ đã đánh mất vì chủ nghĩa duy vật của mình. Hội Tam Điểm cũng đã đánh mất tính sống động chân thực mà nó từng sở hữu nhưng, trong các hình thức và nghi lễ của nó, chân lý vẫn được bảo tồn và có thể được phục hồi. Điều này Đức Christ sẽ làm. Ngài cũng sẽ phục hồi các Huyền Nhiệm này theo những cách khác; không phải ai cũng sẽ tìm đến giáo hội hay Hội Tam Điểm để tiếp sinh lực cho đời sống tinh thần của mình. Các Huyền Nhiệm chân thực cũng sẽ tự mặc khải qua khoa học và [123] động lực tìm kiếm chúng ở đó sẽ được Đức Christ ban ra. Các Huyền Nhiệm chứa đựng, trong các công thức và giáo huấn của chúng, chìa khóa cho khoa học sẽ mở khóa huyền nhiệm của điện—khoa học tinh thần vĩ đại nhất và lĩnh vực tri thức thiêng liêng lớn nhất trên thế giới, mà rìa mép của nó mới chỉ vừa được chạm tới. Chỉ khi Thánh Đoàn hiện diện hữu hình trên Trái Đất và các Huyền Nhiệm mà các đệ tử của Đức Christ là những Người Gìn Giữ được công khai ban ra cho thế giới, thì bí mật và bản chất chân thực của các hiện tượng điện mới được mặc khải.

The Mysteries are, in the last analysis, the true source of revelation; it can only be when the mind and the will-to-good are closely fused and blended and are thus conditioning human behaviour that the extent of the coming revelation can be safely grasped. There are planetary energies and forces which men as yet cannot and do not control; they know nothing of them and yet upon them the life of the planet is dependent; they are also closely related to the despised psychic powers (today so stupidly approached and ignorantly used), yet these powers (when correctly assessed and used) will prove of enormous usefulness in the sciences which the Mysteries will reveal.

Các Huyền Nhiệm, xét đến cùng, là nguồn gốc chân thực của sự mặc khải; chỉ khi trí tuệ và Ý Chí-hướng Thiện được dung hợp và hòa trộn chặt chẽ, và nhờ đó đang tác động lên hành vi con người, thì mức độ của sự mặc khải sắp đến mới có thể được nắm bắt một cách an toàn. Có những năng lượng và mãnh lực hành tinh mà con người hiện chưa thể và không kiểm soát được; họ không biết gì về chúng, vậy mà sự sống của hành tinh lại phụ thuộc vào chúng; chúng cũng liên hệ chặt chẽ với các năng lực thông linh bị khinh miệt (ngày nay bị tiếp cận một cách ngu xuẩn và sử dụng một cách vô minh), tuy nhiên các năng lực này (khi được đánh giá và sử dụng đúng đắn) sẽ chứng tỏ vô cùng hữu ích trong các khoa học mà các Huyền Nhiệm sẽ mặc khải.

The Mystery of the Ages is, through the reappearance of the Christ, on the verge of revelation. Through the revelation of the soul that Mystery (which soul knowledge veils) will stand revealed. The Scriptures of the world have ever prophesied that, at the end of the age, we shall see the revelation of that which is secret and the emergence of that which has hitherto been concealed, into the light of day. As we know, our present cycle marks the end of the Piscean age; the next two hundred years will see the abolition of death or rather of our misconceptions as to death and the firm establishing of the fact of the soul’s existence; the soul will then be [124] known to be an entity and the motivating impulse and the spiritual force behind all manifested forms. The work of the Christ (two thousand years ago) was to proclaim certain great possibilities and the existence of great powers. His work when He reappears will be to prove the fact of these possibilities and to reveal the true nature and potency of man. The proclamation He made that we were all sons of God and own one universal Father will, in the near future, no longer be regarded as a beautiful, mystical and symbolic statement, but will be regarded as a proved scientific pronouncement. Our universal brotherhood and our essential immortality will be proven to be facts in nature.

Huyền Nhiệm của Muôn Thời, qua sự tái lâm của Đức Christ, đang ở bên bờ của sự mặc khải. Qua sự mặc khải của linh hồn, Huyền Nhiệm ấy (mà tri thức linh hồn che phủ) sẽ được phơi bày. Kinh điển của thế giới từ lâu đã tiên tri rằng, vào cuối thời đại, chúng ta sẽ thấy sự mặc khải của điều bí mật và sự xuất hiện ra ánh sáng ban ngày của điều từ trước đến nay vẫn bị che giấu. Như chúng ta biết, chu kỳ hiện tại của chúng ta đánh dấu sự kết thúc của thời đại Song Ngư; hai trăm năm tới sẽ chứng kiến sự bãi bỏ cái chết hay đúng hơn là sự bãi bỏ những ngộ nhận của chúng ta về cái chết và sự xác lập vững chắc sự kiện về sự tồn tại của linh hồn; khi đó linh hồn sẽ [124] được biết là một thực thể và là xung lực thúc đẩy cùng mãnh lực tinh thần đứng sau mọi hình tướng biểu hiện. Công việc của Đức Christ (hai ngàn năm trước) là công bố một số khả năng lớn lao và sự tồn tại của những quyền năng lớn lao. Công việc của Ngài khi Ngài tái lâm sẽ là chứng minh sự kiện của những khả năng này và mặc khải bản chất cùng quyền năng chân thực của con người. Lời công bố của Ngài rằng tất cả chúng ta đều là con của Thượng đế và cùng có một Người Cha phổ quát sẽ, trong tương lai gần, không còn bị xem là một phát biểu đẹp đẽ, thần bí và biểu tượng nữa, mà sẽ được xem là một tuyên bố khoa học đã được chứng minh. Tình huynh đệ phổ quát của chúng ta và sự bất tử cốt yếu của chúng ta sẽ được chứng minh là những sự kiện trong thiên nhiên.

The ground is being prepared at this time for the great restoration which the Christ will engineer. The world religions (including Christianity) and Masonry are today before the judgment seat of humanity’s critical mind; the word has gone forth almost unanimously that both of them have failed in their divinely assigned tasks. It is realised everywhere that new life must be poured in, but this will take a new vision and a new approach to living conditions and this only the appearance of the Christ can teach and help us bring about. As an ancient Scripture says:

Hiện nay nền móng đang được chuẩn bị cho cuộc phục hưng vĩ đại mà Đức Christ sẽ chủ trì. Các tôn giáo thế giới (kể cả Cơ Đốc giáo) và Hội Tam Điểm ngày nay đang ở trước tòa phán xét của trí tuệ phê phán của nhân loại; lời phán gần như đồng thanh đã được đưa ra rằng cả hai đều đã thất bại trong những nhiệm vụ được giao phó một cách thiêng liêng. Khắp nơi người ta đều nhận ra rằng phải có một sự sống mới được tuôn đổ vào, nhưng điều này sẽ đòi hỏi một tầm nhìn mới và một cách tiếp cận mới đối với các điều kiện sống, và chỉ sự xuất hiện của Đức Christ mới có thể dạy và giúp chúng ta thực hiện điều đó. Như một Thánh thư cổ xưa đã nói:

“That which has been a mystery shall no longer be so, and that which has been veiled will now be revealed; that which has been withdrawn will emerge into the light and will then enhance that light and all men will see and together will rejoice. The time will come when destruction will have wrought its beneficent work; then men, through suffering, will seek that which they have discarded. In vain pursuit, they sought that which was near at hand and easy of attainment. [125] Possessed, they found that it proved an agency of death. Yet all the time, they sought for life, not death.”

“Điều từng là một huyền nhiệm sẽ không còn như thế nữa, và điều từng bị che phủ nay sẽ được mặc khải; điều từng bị rút lui sẽ xuất hiện trong ánh sáng và rồi sẽ làm tăng thêm ánh sáng ấy, và mọi người sẽ thấy và cùng nhau hoan hỉ. Thời gian sẽ đến khi sự hủy diệt đã hoàn thành công việc mang lại lợi ích của nó; khi ấy con người, qua đau khổ, sẽ tìm kiếm điều mà họ đã vứt bỏ. Trong sự theo đuổi vô ích, họ đã tìm kiếm điều ở ngay gần bên và dễ đạt được. [125] Khi chiếm hữu được nó, họ nhận ra rằng nó hóa ra là một tác nhân của cái chết. Tuy nhiên, suốt mọi lúc, họ tìm kiếm sự sống chứ không phải cái chết.”

And the Christ will bring them life and life abundantly.

Và Đức Christ sẽ mang đến cho họ sự sống, và sự sống dồi dào.

There is much talk these days concerning the mysteries of initiation. Every country is full of spurious teachers, teaching the so-called Mysteries, offering spurious initiations (usually at a cost and with a diploma) and misleading the people. Christ Himself taught that just before He came, this state of affairs would be found and that everywhere the false and the spurious would be proclaiming themselves. All this is, however, but indicative of His coming. The counterfeit ever guarantees the true. The talk, the discussions, the silly claim-making, the pseudo-occultism and the futile efforts to “take an initiation” (that undistinguished phrase which ignorant theosophical teachers have coined to express a deep spiritual experience) have been distinctive of the esoteric teaching ever since its modern inception in 1875. Then H.P. Blavatsky brought to the attention of the Western world the fact that great disciples and Masters of the Wisdom were present on the Earth, obedient to the guidance of the Christ. Later she deeply regretted doing this, as some of her papers, issued to her Esoteric Section, proclaimed. Yet what she did was all a part of the great plan and was no mistake. The interpretations and the excited reactions of the theosophists of her time were the mistake—a mistake which they have not yet acknowledged. This stupid reaction was aided and helped by the inquisitive nature of humanity itself, as well as by its aspiration which was undoubtedly aroused thereby. Men also, full of cupidity and commercial greed, exploited the theme and are still doing so.

Ngày nay có rất nhiều lời bàn về các huyền nhiệm của điểm đạo. Mọi quốc gia đều đầy rẫy những huấn sư giả mạo, giảng dạy những cái gọi là Huyền Nhiệm, đưa ra những cuộc điểm đạo giả tạo (thường có thu phí và cấp bằng), và dẫn dắt dân chúng đi lạc hướng. Chính Đức Christ đã dạy rằng ngay trước khi Ngài đến, tình trạng này sẽ xuất hiện và ở khắp nơi những gì giả dối và ngụy tạo sẽ tự xưng mình. Tuy nhiên, tất cả điều này chỉ là dấu hiệu về sự đến của Ngài. Hàng giả luôn luôn bảo đảm cho hàng thật. Những lời bàn luận, những cuộc thảo luận, những lời tự xưng ngớ ngẩn, thứ huyền bí học giả hiệu và những nỗ lực vô ích nhằm “nhận một cuộc điểm đạo” (cụm từ tầm thường mà các huấn sư Thông Thiên Học thiếu hiểu biết đã đặt ra để diễn tả một kinh nghiệm tinh thần sâu xa) đã là nét đặc trưng của giáo huấn nội môn kể từ khi nó khởi đầu trong thời hiện đại vào năm 1875. Khi ấy H.P. Blavatsky đã đưa đến sự chú ý của thế giới phương Tây sự kiện rằng những đệ tử vĩ đại và các Chân sư Minh triết hiện diện trên Trái Đất, vâng phục sự hướng dẫn của Đức Christ. Về sau bà vô cùng hối tiếc vì đã làm điều này, như một số tài liệu của bà gửi cho Ban Nội Môn của bà đã công bố. Tuy nhiên, điều bà đã làm hoàn toàn là một phần của đại kế hoạch và không phải là một sai lầm. Những cách diễn giải và những phản ứng kích động của các nhà Thông Thiên Học cùng thời với bà mới là sai lầm—một sai lầm mà họ vẫn chưa thừa nhận. Phản ứng ngu xuẩn này còn được hỗ trợ và tiếp tay bởi bản chất hiếu kỳ của chính nhân loại, cũng như bởi khát vọng của họ, vốn chắc chắn đã được khơi dậy nhờ đó. Con người cũng vậy, đầy lòng tham và sự tham lam thương mại, đã khai thác đề tài này và vẫn còn đang làm như thế.

[126]

[126]

The total effect of all these stupidities and errors of presentation has nevertheless been good. In all lands, men today are aware of the existence of the Masters and of the possibility offered and the opportunity presented to make scientific spiritual progress and thus become members of the Kingdom of God. This the churches had ignored and had—in the Victorian age particularly—looked upon science as an arch enemy.

Tuy nhiên, tổng thể ảnh hưởng của tất cả những điều ngu xuẩn và những sai lầm trong cách trình bày này lại là tốt. Ở mọi xứ sở, ngày nay con người đều biết đến sự hiện hữu của các Chân sư và về khả năng được trao cùng cơ hội được mở ra để đạt tiến bộ tinh thần một cách khoa học và nhờ đó trở thành thành viên của Thiên Giới. Điều này các giáo hội đã phớt lờ và—đặc biệt trong thời Victoria—đã xem khoa học như một kẻ thù lớn.

All this flood of information about the mysteries of initiation—some of it indicative of a hidden truth, some of it the fabrications of an aspirational imagination and some commercially instigated—has definitely prepared humanity for the teaching it is believed Christ will give when again here with us in physical Presence.

Toàn bộ dòng thác thông tin này về các huyền nhiệm của điểm đạo—một phần trong đó chỉ ra một chân lý ẩn giấu, một phần là sản phẩm bịa đặt của sự tưởng tượng đầy khát vọng và một phần do động cơ thương mại thúc đẩy—đã rõ ràng chuẩn bị nhân loại cho giáo huấn mà người ta tin rằng Đức Christ sẽ ban ra khi một lần nữa hiện diện cùng chúng ta trong Sự Hiện Diện hồng trần.

Little as the orthodox Christian may care to admit it, the entire Gospel story in its four forms or presentations, contains little else except symbolic details about the Mysteries which are (as far as humanity is concerned) five in all. These Mysteries indicate, in reality, five important points in the spiritual history of an aspirant; they indicate also five important stages in the progress of human consciousness. This advance will become definite and clear in a manner not understood today, at some point during the Aquarian Age. Humanity, the world disciple (through its various groups all at various stages of unfoldment) will “enter into” new states of awareness and into new realms or spheres of mental and spiritual consciousness, during the next two thousand years.

Dù tín đồ Cơ Đốc chính thống có ít muốn thừa nhận đến đâu, toàn bộ câu chuyện Phúc Âm trong bốn hình thức hay bốn cách trình bày của nó hầu như không chứa gì khác ngoài những chi tiết biểu tượng về các Huyền Nhiệm mà (xét theo phương diện nhân loại) có tất cả năm. Những Huyền Nhiệm này thực ra chỉ ra năm điểm quan trọng trong lịch sử tinh thần của một người chí nguyện; chúng cũng chỉ ra năm giai đoạn quan trọng trong sự tiến bộ của tâm thức nhân loại. Sự tiến bộ này sẽ trở nên xác định và rõ ràng theo một cách mà ngày nay chưa được thấu hiểu, vào một thời điểm nào đó trong Kỷ Nguyên Bảo Bình. Nhân loại, đệ tử thế gian (thông qua các nhóm khác nhau của mình, tất cả đều ở những giai đoạn khai mở khác nhau) sẽ “đi vào” những trạng thái nhận biết mới và những lĩnh vực hay cảnh giới mới của tâm thức trí tuệ và tinh thần trong hai ngàn năm tới.

Each age has left a reflection of a modern fivefold development upon it. Four ages have just passed away, astronomically speaking: Gemini, Taurus, Aries, and Pisces. Today Aquarius, the fifth age, is coming into power. In Gemini, its symbolical sign of the two pillars set its seal upon the Masonic Fraternity of the time [127] and the two pillars of Jachin and Boaz—to give them their Jewish names which are, of course, not their real names—came into being approximately eight thousand years ago. Then came Taurus, the Bull, wherein Mithra came as the world Teacher and instituted the Mysteries of Mithras with an (apparent) worship of the Bull. Next followed Aries the Ram, which saw the start of the Jewish Dispensation which is of importance to the Jews and unfortunately of importance to the Christian religion, but of no importance to the untold millions in the other parts of the world; during this cycle came the Buddha, Shri Krishna and Sankaracharya; finally we have the age of Pisces the Fishes, which brought to us the Christ. The sequence of the Mysteries which each of the signs of the Zodiac embodies will be clarified for us by the Christ, because the public consciousness today demands something more definite and spiritually real than modern astrology, or all the pseudo-occultism so widely extant.

Mỗi thời đại đều để lại trên nó một phản ánh của một sự phát triển hiện đại ngũ phân. Bốn thời đại vừa mới qua đi, xét theo thiên văn học: Song Tử, Kim Ngưu, Bạch Dương và Song Ngư. Ngày nay Bảo Bình, thời đại thứ năm, đang đi vào quyền lực. Trong Song Tử, dấu hiệu biểu tượng của nó là hai cột trụ đã đóng ấn lên Hội Tam Điểm của thời đó [127] và hai cột Jachin và Boaz—để gọi chúng bằng tên Do Thái của chúng, dĩ nhiên đó không phải là tên thật của chúng—đã xuất hiện cách đây khoảng tám ngàn năm. Sau đó đến Kim Ngưu, Con Bò, trong đó Mithra xuất hiện như Đức Chưởng Giáo thế gian và thiết lập các Huyền Nhiệm Mithras với một sự thờ phụng (bề ngoài) đối với Con Bò. Tiếp theo là Bạch Dương, Con Cừu Đực, chứng kiến sự khởi đầu của Kỷ Nguyên Do Thái, điều có tầm quan trọng đối với người Do Thái và đáng tiếc là cũng có tầm quan trọng đối với tôn giáo Cơ Đốc, nhưng không có tầm quan trọng gì đối với vô số triệu người ở những nơi khác trên thế giới; trong chu kỳ này đã xuất hiện Đức Phật, Shri Krishna và Sankaracharya; cuối cùng chúng ta có thời đại Song Ngư, Hai Con Cá, đã mang Đức Christ đến cho chúng ta. Trình tự các Huyền Nhiệm mà mỗi dấu hiệu hoàng đạo hàm chứa sẽ được Đức Christ làm sáng tỏ cho chúng ta, bởi vì tâm thức công chúng ngày nay đòi hỏi một điều gì đó xác định hơn và có thực tính tinh thần hơn là chiêm tinh học hiện đại, hay toàn bộ thứ huyền bí học giả hiệu đang lan tràn rộng khắp.

In the era which lies ahead, after the reappearance of the Christ, hundreds of thousands of men and women everywhere will pass through some one or other of the great expansions of consciousness, but the mass reflection will be that of the renunciation (though this does not mean that the masses will by any means take the fourth initiation); they will renounce the materialistic standards which today control in every layer of the human family. One of the lessons to be learnt by humanity at the present time (a time which is the ante-chamber to the new age) is how few material things are really necessary to life and happiness. The lesson is not yet learnt. It is, however, essentially one of the values to be extracted out of this period of appalling deprivations through which men are every day passing. The real tragedy is that the [128] Western Hemisphere, particularly the United States, will not share in this definite spiritual and vitalising process; they are at present too selfish to permit it to happen.

Trong kỷ nguyên đang ở phía trước, sau sự tái xuất hiện của Đức Christ, hàng trăm ngàn những người nam và nữ ở khắp nơi sẽ đi qua một trong những cuộc mở rộng tâm thức vĩ đại, nhưng phản ánh đại chúng sẽ là sự từ bỏ (dù điều này hoàn toàn không có nghĩa là quần chúng sẽ thực hiện lần điểm đạo thứ tư); họ sẽ từ bỏ những tiêu chuẩn duy vật hiện đang chi phối mọi tầng lớp trong gia đình nhân loại. Một trong những bài học mà nhân loại phải học vào lúc này (một thời kỳ là tiền sảnh của kỷ nguyên mới) là chỉ cần rất ít những thứ vật chất cho sự sống và hạnh phúc. Bài học ấy vẫn chưa được học. Tuy nhiên, về bản chất, đó là một trong những giá trị phải được rút ra từ giai đoạn thiếu thốn kinh hoàng này mà con người đang trải qua mỗi ngày. Bi kịch thực sự là [128] Tây Bán Cầu, đặc biệt là Hoa Kỳ, sẽ không tham dự vào tiến trình tinh thần và tiếp sinh lực rõ rệt này; hiện nay họ quá ích kỷ để cho phép điều đó xảy ra.

You can see, therefore, that initiation is not a ceremonial procedure, or an accolade, conferred upon a successful aspirant; neither is it a penetration into the Mysteries—of which the mysteries of Masonry are, as yet, only the pictorial presentation—but is simply the result of experiencing “livingness” on all three levels of awareness (physical, emotional and mental) and—through that livingness—bringing into activity those registering and those recording cells within the brain substance which have hitherto not been susceptible to the higher impression. Through this expanding area of registration or, if you prefer it, through the development of a finer recording instrument or responsive apparatus, the mind is enabled to become the transmitter of higher values and of spiritual understanding. Thus the individual becomes aware of areas of divine existence and of states of consciousness which are always eternally present but which the individual man was constitutionally unable to contact or to register; neither the mind, nor its recording agent, the brain, were able to from the angle of their evolutionary development.

Vì vậy bạn có thể thấy rằng điểm đạo không phải là một thủ tục nghi lễ, hay một sự phong tước, được ban cho một người chí nguyện thành công; nó cũng không phải là sự thâm nhập vào các Huyền Nhiệm—mà các huyền nhiệm của Hội Tam Điểm, cho đến nay, chỉ mới là sự trình bày bằng hình ảnh—mà đơn giản chỉ là kết quả của việc kinh nghiệm “tính sống động” trên cả ba cấp độ nhận biết (hồng trần, cảm xúc và trí tuệ) và—thông qua tính sống động đó—đưa vào hoạt động những tế bào ghi nhận và ghi chép trong chất liệu não bộ mà từ trước đến nay chưa tiếp nhận được ấn tượng cao hơn. Thông qua vùng ghi nhận đang mở rộng này, hay nếu bạn thích, thông qua sự phát triển của một khí cụ ghi chép tinh tế hơn hoặc một bộ máy đáp ứng nhạy bén hơn, thể trí được làm cho có khả năng trở thành kẻ truyền đạt những giá trị cao hơn và sự thấu hiểu tinh thần. Nhờ đó cá nhân trở nên nhận biết được những lĩnh vực của sự tồn tại thiêng liêng và những trạng thái tâm thức vốn luôn luôn hiện diện vĩnh cửu nhưng con người cá biệt, do cấu tạo của mình, đã không thể tiếp xúc hay ghi nhận; cả thể trí lẫn tác nhân ghi chép của nó là bộ não đều không thể làm được điều đó xét từ góc độ phát triển tiến hoá của chúng.

When the searchlight of the mind is penetrating slowly into hitherto unrecognised aspects of the divine mind, when the magnetic qualities of the heart are awakening and becoming sensitively responsive to both the other aspects, then the man becomes able to function in the new unfolding realms of light, love and service. He is initiate.

Khi luồng sáng tìm kiếm của thể trí đang từ từ xuyên nhập vào những phương diện của Trí của Thượng đế trước đây chưa được nhận biết, khi các phẩm tính từ tính của tim đang thức tỉnh và trở nên nhạy bén đáp ứng với cả hai phương diện kia, thì con người trở nên có khả năng hoạt động trong những lĩnh vực mới đang khai mở của ánh sáng, bác ái và phụng sự. Y là điểm đạo đồ.

These are the mysteries with which the Christ will deal; His acknowledged Presence with us and the presence of His disciples will make possible a far more rapid development than would otherwise be the case. The stimulation [129] of the objective Hierarchy will be increasingly potent and the Aquarian Age will see so many of the sons of men accepting the great Renunciation that world effort will be on the same scale as the mass education of mankind in the Piscean Age. Materialism as a mass principle will be rejected and the major spiritual values will assume greater control.

Đó là những huyền nhiệm mà Đức Christ sẽ đề cập đến; Sự Hiện Diện được thừa nhận của Ngài với chúng ta và sự hiện diện của các đệ tử của Ngài sẽ làm cho một sự phát triển nhanh hơn rất nhiều trở thành khả hữu so với trường hợp khác. Sự kích thích [129] của Thánh Đoàn đã ngoại hiện sẽ ngày càng mạnh mẽ và Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ chứng kiến rất nhiều những người con của nhân loại chấp nhận Sự từ bỏ vĩ đại đến mức nỗ lực thế giới sẽ ở cùng quy mô như nền giáo dục đại chúng của nhân loại trong Kỷ Nguyên Song Ngư. Chủ nghĩa duy vật như một nguyên lý đại chúng sẽ bị bác bỏ và các giá trị tinh thần chủ yếu sẽ nắm quyền kiểm soát lớn hơn.

The culmination of a civilisation, with its special note, quality and gifts to posterity, is significant of the reflection of the spiritual intent, and (through its massed populations) of one of the initiations. History will some day be based and written upon the record of the initiatory growth of humanity; prior to that, we must have a history which is constructed around the development of humanity under the influences of great and fundamental ideas. That is the next historical presentation.

Sự cực thịnh của một nền văn minh, với chủ âm, phẩm tính và những tặng phẩm riêng của nó cho hậu thế, là dấu hiệu có ý nghĩa về sự phản ánh của ý định tinh thần, và (thông qua quần thể dân cư đông đảo của nó) của một trong các cuộc điểm đạo. Một ngày nào đó lịch sử sẽ được đặt nền và được viết dựa trên biên niên về sự tăng trưởng điểm đạo của nhân loại; trước đó, chúng ta phải có một lịch sử được xây dựng xoay quanh sự phát triển của nhân loại dưới những ảnh hưởng của các ý tưởng lớn lao và căn bản. Đó là cách trình bày lịch sử kế tiếp.

The production of the culture of any given period is simply the reflection of the creative ability and the precise consciousness of the initiates of the time—those who knew they were initiate and were also conscious of admittance into direct relation with the Hierarchy. At present, we use neither of these two words, civilisation and culture, in their rightful sense or with their true meaning. Civilisation is the reflection in the mass of men of some particular cyclic influence, leading to an initiation. Culture is esoterically related to those within any era of civilisation who specifically, precisely and in full waking consciousness, through self-initiated effort, penetrate into those inner realms of thought activity which we call the creative world. These are the realms which are responsible for the outer civilisation.

Việc sản sinh ra nền văn hóa của bất kỳ thời kỳ nào đơn giản chỉ là sự phản ánh khả năng sáng tạo và tâm thức chính xác của các điểm đạo đồ thời đó—những người biết mình là điểm đạo đồ và cũng có ý thức về việc được tiếp nhận vào mối liên hệ trực tiếp với Thánh Đoàn. Hiện nay, chúng ta không dùng từ nào trong hai từ này, văn minh và văn hóa, theo đúng nghĩa của chúng hay với ý nghĩa chân thực của chúng. Văn minh là sự phản ánh trong quần chúng nhân loại của một ảnh hưởng chu kỳ đặc thù nào đó, dẫn đến một cuộc điểm đạo. Về mặt nội môn, văn hóa liên hệ với những người trong bất kỳ kỷ nguyên văn minh nào, những người một cách chuyên biệt, chính xác và trong tâm thức thức tỉnh trọn vẹn, bằng nỗ lực tự khởi xướng, xuyên nhập vào những lĩnh vực bên trong của hoạt động tư tưởng mà chúng ta gọi là thế giới sáng tạo. Đây là những lĩnh vực chịu trách nhiệm cho nền văn minh bên ngoài.

The reappearance of the Christ is indicative of a closer relation between the outer and the inner worlds of thought. The world of meaning and the world of experience will

Sự tái xuất hiện của Đức Christ là dấu hiệu của một mối liên hệ gần gũi hơn giữa các thế giới tư tưởng bên ngoài và bên trong. Thế giới của ý nghĩa và thế giới của kinh nghiệm sẽ

[130]

[130]

be obviously blended through the stimulation of the advent of the Hierarchy and of its Head, the Christ. A tremendous growth of understanding and of relationships will be the major result.

được hòa trộn một cách hiển nhiên nhờ sự kích thích của sự giáng lâm của Thánh Đoàn và của Đấng đứng đầu Thánh Đoàn, Đức Christ. Một sự tăng trưởng to lớn về thấu hiểu và về các mối liên hệ sẽ là kết quả chủ yếu.

IV. The Dispelling of Glamour

IV. Sự Làm Tiêu Tan Ảo Cảm

The word “glamour,” the outstanding characteristic of the astral plane, has never been correctly employed and it is a pity that it was ever used in the early days of the esoteric teachings. The so-called “astral plane” is simply the name given to that sumtotal of sentient reactions, of feeling-responsiveness, and of emotional substance which man has himself so powerfully created and so successfully projected that he is today the victim of that which he has made. Eighty per cent of the teaching given about the astral plane is a part itself of the great delusion and a part also of that unreal world to which we refer when we pray the ancient prayer: “Lead us from the unreal to the Real.” What is said about it has little basis in fact; it has, however, served a useful purpose as a field of experience in which we can learn to differentiate between the true and the untrue; it is an area also in which the aspirant can use the discriminating faculty of the mind—the great discloser of error and the eventual revealer of truth.

Từ “ảo cảm”, đặc tính nổi bật của cõi cảm dục, chưa bao giờ được dùng một cách đúng đắn và thật đáng tiếc là nó đã từng được dùng trong những ngày đầu của các giáo huấn nội môn. Cái gọi là “cõi cảm dục” chỉ đơn giản là tên gọi dành cho tổng thể những phản ứng cảm nhận, sự đáp ứng của cảm giác, và chất liệu cảm dục mà chính con người đã tạo ra mạnh mẽ đến thế và phóng chiếu thành công đến thế đến nỗi ngày nay y là nạn nhân của chính điều mình đã tạo ra. Tám mươi phần trăm giáo huấn được đưa ra về cõi cảm dục bản thân nó là một phần của đại ảo tưởng và cũng là một phần của thế giới không thực mà chúng ta nhắc đến khi cầu nguyện lời nguyện cổ xưa: “Xin dẫn chúng con từ cái không thực đến cái Thực.” Điều được nói về nó có rất ít nền tảng trong sự kiện; tuy nhiên, nó đã phục vụ một mục đích hữu ích như một lĩnh vực kinh nghiệm trong đó chúng ta có thể học cách phân biệt giữa cái thật và cái không thật; nó cũng là một khu vực trong đó người chí nguyện có thể sử dụng năng lực phân biện của thể trí—đấng vạch trần sai lầm vĩ đại và là kẻ mặc khải chân lý sau cùng.

Once that “mind is in us which is also in Christ” (Phil. II.5), we shall find that the control of this emotional nature and this sentient area of consciousness (the astral plane, if you prefer the term!) becomes complete. Then this past sentient control and its entire area of influence no longer exists. It has no reality, except as a field of service and a realm in which men wander in despair and bewilderment. The greatest service a man [131] can render his fellowmen is to free himself from the control of that plane by himself directing its energies through the power of the Christ within. He will then find that the self-centred forces and the energies of personal desire and of emotional love will be superseded by a living energy which can be sensed in a large way, though it cannot as yet be appropriated in its pure essence; this energy, we call the “love of God.” It is that free-flowing, outgoing, magnetically attractive force which leads each pilgrim back to the Father’s House. It is that force which stirs in the heart of humanity and finds expression through the medium of such great avatars as the Christ; which guides the mystical yearning found in each human being, and works through all movements that have for their objective the welfare of humanity, through philanthropic and educational tendencies of all kinds and through the instinctual motherhood found everywhere. But it is essentially a group sentiency, and only in the Aquarian Age, and as a result of the reappearance of the Christ, will its true nature reach correct understanding and the love of God be spread abroad in every human heart.

Một khi “trí tuệ ở trong chúng ta cũng là trí tuệ ở trong Đức Christ” (Phil. II.5), chúng ta sẽ thấy rằng sự kiểm soát bản chất cảm xúc này và khu vực cảm nhận này của tâm thức (cõi cảm dục, nếu bạn thích thuật ngữ ấy!) trở nên hoàn toàn. Khi đó sự kiểm soát cảm nhận trong quá khứ này và toàn bộ khu vực ảnh hưởng của nó không còn tồn tại nữa. Nó không có thực tại nào, ngoại trừ như một lĩnh vực phụng sự và một cõi trong đó con người lang thang trong tuyệt vọng và hoang mang. Sự phụng sự lớn lao nhất mà một người [131] có thể cống hiến cho đồng loại là tự giải thoát mình khỏi sự kiểm soát của cõi ấy bằng cách chính y định hướng các năng lượng của nó qua quyền năng của Đức Christ bên trong. Khi đó y sẽ thấy rằng các mãnh lực tập trung vào bản thân và các năng lượng của dục vọng cá nhân cùng tình yêu cảm xúc sẽ được thay thế bởi một năng lượng sống động có thể được cảm nhận một cách rộng lớn, dù chưa thể được chiếm hữu trong tinh chất thuần khiết của nó; năng lượng này, chúng ta gọi là “tình yêu của Thượng đế.” Đó là mãnh lực tuôn chảy tự do, hướng ngoại, hấp dẫn bằng từ tính, dẫn mỗi người hành hương trở về Nhà Cha. Đó là mãnh lực đang lay động trong trái tim nhân loại và tìm được sự biểu lộ qua trung gian của những Đấng Hoá Thân vĩ đại như Đức Christ; nó hướng dẫn nỗi khát khao thần bí được tìm thấy trong mỗi con người, và hoạt động qua mọi phong trào lấy phúc lợi của nhân loại làm mục tiêu, qua các xu hướng từ thiện và giáo dục thuộc mọi loại và qua bản năng làm mẹ hiện diện khắp nơi. Nhưng về bản chất, đó là một cảm nhận nhóm, và chỉ trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, và như là kết quả của sự tái xuất hiện của Đức Christ, bản chất chân thực của nó mới đạt đến sự thấu hiểu đúng đắn và tình yêu của Thượng đế mới được lan tỏa trong mọi trái tim con người.

Of this world of glamour and illusion, Christ knew much, and in Himself demonstrated that true love could control it. Part of the three great temptations of the Christ in the wilderness was based upon the three aspects of world glamour: the illusions which the mind creates, the glamour of the emotional plane of experience and the maze of earthly circumstances. These all threatened to bewilder Him; He met each of them in turn with the enunciation of a clear-cut principle and not with the wordy arguments of an analytical mind; from that field of threefold experience He went forth to love, to teach and to heal. Christ is the great dispeller of world glamour when [132] He comes, and in this work the Buddha has previously prepared the way. The possibility of such a dispelling and dissipation is therefore definitely centred in the two Avatars, the Buddha and the Christ. One of the essential things at this time is to bring home to humanity and to the nations of the world the nature of the work undertaken by the Buddha and the Christ, and to re-emphasise the truths projected by Them into the arena of world thought. The work of the Lord of Light and of the Lord of Love must be presented anew to a needy world. In this connection, it might be said that some nations need to grasp the teaching of the Buddha which He enunciated in the Four Noble Truths; they must be brought to the realisation that the cause of all sorrow and woe is the misuse of desire—desire for that which is material and transitory. The United Nations need to learn to apply the Law of Love as enunciated in the life of Christ and to express the vitality of the truth that “no man liveth unto himself” (Rom. XIV.7) and no nation either; the goal of all human effort is loving understanding, prompted by a programme of love and right human relations for all mankind.

Về thế giới ảo cảm và ảo tưởng này, Đức Christ biết rất nhiều, và trong chính Ngài đã chứng minh rằng tình yêu chân thật có thể kiểm soát nó. Một phần của ba cám dỗ lớn của Đức Christ trong hoang địa được đặt nền trên ba phương diện của ảo cảm thế gian: những ảo tưởng mà thể trí tạo ra, ảo cảm của cõi cảm dục của kinh nghiệm và mê cung của các hoàn cảnh trần thế. Tất cả những điều này đều đe dọa làm Ngài hoang mang; Ngài đã lần lượt đối diện từng điều bằng sự tuyên bố một nguyên lý rõ ràng dứt khoát chứ không phải bằng những lập luận dài dòng của một thể trí phân tích; từ lĩnh vực kinh nghiệm tam phân ấy, Ngài bước ra để yêu thương, giảng dạy và chữa lành. Đức Christ là Đấng làm tiêu tan ảo cảm thế gian vĩ đại khi [132] Ngài đến, và trong công việc này Đức Phật trước đó đã chuẩn bị con đường. Vì vậy khả năng của sự làm tiêu tan và làm tan biến như thế rõ ràng được tập trung nơi hai Đấng Hoá Thân, Đức Phật và Đức Christ. Một trong những điều thiết yếu vào lúc này là làm cho nhân loại và các quốc gia trên thế giới thấu hiểu bản chất của công việc do Đức Phật và Đức Christ đảm nhận, và tái nhấn mạnh những chân lý mà Các Ngài đã phóng chiếu vào đấu trường tư tưởng thế giới. Công việc của Chúa Tể của Ánh Sáng và của Chúa Tể của Bác Ái phải được trình bày lại cho một thế giới đang cần. Trong mối liên hệ này, có thể nói rằng một số quốc gia cần nắm bắt giáo huấn của Đức Phật mà Ngài đã tuyên thuyết trong Tứ Diệu Đế; họ phải được đưa đến chỗ nhận ra rằng nguyên nhân của mọi đau khổ và khốn cùng là sự lạm dụng dục vọng—dục vọng đối với điều vật chất và tạm bợ. Liên Hiệp Quốc cần học cách áp dụng Định luật Bác ái như đã được tuyên thuyết trong cuộc đời của Đức Christ và biểu lộ sức sống của chân lý rằng “không ai sống cho chính mình” (Rom. XIV.7) và không một quốc gia nào cũng vậy; mục tiêu của mọi nỗ lực nhân loại là sự thấu hiểu đầy bác ái, được thúc đẩy bởi một chương trình bác ái và những quan hệ đúng đắn giữa người với người cho toàn thể nhân loại.

If the lives of these two great Teachers can be comprehended and Their teachings be wrought out in the lives of men anew today, in the world of human affairs, in the realm of human thinking and in the arena of political and economic intercourse, the present world order (which is so largely disorder) can be so modified and changed that a new world order and a new race of men can gradually come into being. World glamour will be dissipated and world illusion be dispelled.

Nếu cuộc đời của hai Đấng Huấn Sư vĩ đại này có thể được thấu hiểu và giáo huấn của Các Ngài được thực hiện lại trong đời sống con người ngày nay, trong thế giới các công việc nhân loại, trong lĩnh vực tư tưởng nhân loại và trong đấu trường giao tiếp chính trị và kinh tế, thì trật tự thế giới hiện nay (vốn phần lớn là hỗn loạn) có thể được điều chỉnh và thay đổi đến mức một trật tự thế giới mới và một nhân loại mới có thể dần dần xuất hiện. Ảo cảm thế gian sẽ được làm tiêu tan và ảo tưởng thế gian sẽ được xua tan.

Within the world of glamour—the world of the astral plane and of the emotions—appeared, centuries ago, a point of light; the Lord of Light, the Buddha, undertook [133] to focus in Himself the illumination which would eventually make possible the dissipation of glamour. Within the world of illusion, the world of the mental plane, appeared the Christ, the Lord of Love Himself. He undertook to dispel illusion by drawing to Himself (by the attractive potency of love) the hearts of all men, and stated this determination in the words, “I, if I be lifted up, will draw all men unto Me.” (John XII.32.)

Trong thế giới ảo cảm—thế giới của cõi cảm dục và của cảm xúc—đã xuất hiện, từ nhiều thế kỷ trước, một điểm ánh sáng; Chúa Tể của Ánh Sáng, Đức Phật, đã đảm nhận [133] việc tập trung trong chính Ngài sự soi sáng mà cuối cùng sẽ làm cho việc làm tiêu tan ảo cảm trở nên khả hữu. Trong thế giới ảo tưởng, thế giới của cõi trí, đã xuất hiện chính Đức Christ, Chúa Tể của Bác Ái. Ngài đã đảm nhận việc xua tan ảo tưởng bằng cách kéo về phía mình (nhờ tiềm lực hấp dẫn của bác ái) trái tim của mọi người, và đã tuyên bố quyết tâm này bằng những lời: “Ta, nếu được nâng lên, sẽ kéo mọi người đến cùng Ta.” (John XII.32.)

The combined work of these two great Sons of God, concentrated through the world disciples and through Their initiates must and will inevitably shatter illusion and dispel glamour—the one by the intuitive recognition of reality by minds attuned to it, and the other by the pouring in of the light of the reason. The Buddha made the first planetary effort to dissipate world glamour; the Christ made the first planetary effort towards the dispelling of illusion. Their work must now be intelligently carried forward by a humanity wise enough to recognise its duty.

Công việc phối hợp của hai Con của Thượng đế vĩ đại này, được tập trung qua các đệ tử thế gian và qua các điểm đạo đồ của Các Ngài, phải và chắc chắn sẽ phá tan ảo tưởng và làm tiêu tan ảo cảm—một bên bằng sự nhận biết trực giác về thực tại bởi những thể trí được chỉnh hợp với nó, và bên kia bằng sự tuôn đổ của ánh sáng của lý trí. Đức Phật đã thực hiện nỗ lực hành tinh đầu tiên nhằm làm tiêu tan ảo cảm thế gian; Đức Christ đã thực hiện nỗ lực hành tinh đầu tiên hướng tới việc xua tan ảo tưởng. Công việc của Các Ngài giờ đây phải được một nhân loại đủ minh triết để nhận ra bổn phận của mình tiếp tục một cách thông minh.

Men are being rapidly disillusioned and will consequently see more clearly. World glamour is being steadily removed from the ways of men. Those two developments have been brought about by the incoming new ideas, focussed through the world intuitives and released to the general public by the world thinkers. It is also largely aided by the unconscious, but none the less real, recognition by the masses of the true meaning of these Four Noble Truths. Disillusioned and deglamoured (if I may use such a term) humanity awaits the coming revelation. This revelation will be brought about by the combined efforts of the Buddha and the Christ. All that we can foresee or foretell anent that revelation is that some potent and far-reaching results will be achieved by the merging of light and love, and by the reaction of “lighted [134] substance” to “the attractive power of love.” I have here given a clue to the true understanding of the work of these Avatars—a thing hitherto quite unrealised. It might be added that when an appreciation of the meaning of the words “transfiguration of a human being” is gained, the realisation will come that when “the body is full of light” (Luke XI.36) then “in Thy light shall we see light.” (Ps. XXXVI.9.) This means that when the personality has reached a point of purification, of dedication and of illumination, then the attractive power of the soul, whose nature is love and understanding, can function, and fusion of these two will take place. This is what the Christ proved and demonstrated.

Con người đang nhanh chóng được giải ảo tưởng và do đó sẽ thấy rõ hơn. Ảo cảm thế gian đang đều đặn được dời khỏi con đường của con người. Hai sự phát triển ấy đã được mang lại bởi những ý tưởng mới đang đi vào, được tập trung qua các nhà trực giác thế giới và được các nhà tư tưởng thế giới giải phóng cho công chúng nói chung. Nó cũng được hỗ trợ phần lớn bởi sự nhận biết vô thức, nhưng không vì thế mà kém thực, của quần chúng về ý nghĩa chân thực của Tứ Diệu Đế này. Đã được giải ảo tưởng và thoát ảo cảm (nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ như vậy), nhân loại đang chờ đợi sự mặc khải sắp đến. Sự mặc khải này sẽ được mang lại bởi những nỗ lực phối hợp của Đức Phật và Đức Christ. Tất cả những gì chúng ta có thể thấy trước hay báo trước liên quan đến sự mặc khải ấy là một số kết quả mạnh mẽ và sâu rộng sẽ đạt được nhờ sự hòa nhập của ánh sáng và bác ái, và nhờ phản ứng của “chất liệu [134] được soi sáng” đối với “quyền năng hấp dẫn của bác ái.” Ở đây tôi đã đưa ra một đầu mối cho sự thấu hiểu chân thực về công việc của các Đấng Hoá Thân này—một điều cho đến nay hoàn toàn chưa được nhận ra. Có thể nói thêm rằng khi đạt được sự cảm nhận về ý nghĩa của những lời “sự Biến hình của một con người”, thì sẽ nhận ra rằng khi “thân thể đầy ánh sáng” (Luke XI.36) thì “trong ánh sáng của Ngài chúng ta sẽ thấy ánh sáng.” (Ps. XXXVI.9.) Điều này có nghĩa là khi phàm ngã đã đạt đến một điểm thanh luyện, hiến dâng và soi sáng, thì quyền năng hấp dẫn của linh hồn, mà bản chất là bác ái và thấu hiểu, có thể hoạt động, và sự dung hợp của hai điều này sẽ diễn ra. Đây là điều Đức Christ đã chứng minh và biểu lộ.

When the work of the Buddha (or of the embodied wisdom principle) is consummated in the aspiring disciple and his integrated personality, then the full expression of the work of the Christ (the embodied principle of love) can also be consummated then both of these potencies—Light and Love—will find radiant expression in the transfigured disciple. What is true, therefore, of the individual is true also of humanity as a whole; today humanity (having reached maturity) can “enter into realisation” and consciously take part in the work of enlightenment and of spiritual, loving activity. The practical effects of this process will be the dissipation of glamour and the release of the human spirit from the thraldom of matter; it will produce also the dispelling of illusion and the recognition of the truth as it exists in the consciousness of those who are polarised in the awareness of the Christ.

Khi công việc của Đức Phật (hay của nguyên khí minh triết nhập thể) được hoàn tất trong người đệ tử chí nguyện và phàm ngã tích hợp của y, thì sự biểu lộ trọn vẹn của công việc của Đức Christ (nguyên khí bác ái nhập thể) cũng có thể được hoàn tất; khi đó cả hai tiềm lực này—Ánh Sáng và Bác Ái—sẽ tìm được sự biểu lộ rạng ngời trong người đệ tử đã biến hình. Vì vậy, điều đúng với cá nhân cũng đúng với toàn thể nhân loại; ngày nay nhân loại (đã đạt đến trưởng thành) có thể “đi vào chứng nghiệm” và có ý thức tham gia vào công việc soi sáng và hoạt động tinh thần đầy bác ái. Những hiệu quả thực tiễn của tiến trình này sẽ là sự làm tiêu tan ảo cảm và sự giải phóng tinh thần con người khỏi ách nô lệ của vật chất; nó cũng sẽ tạo ra sự xua tan ảo tưởng và sự nhận biết chân lý như nó hiện hữu trong tâm thức của những người được phân cực trong sự nhận biết về Đức Christ.

This is necessarily no rapid process; it is an ordered and regulated procedure, sure in its eventual success but relatively slow also in its establishment and sequential process. This process was initiated upon the astral plane [135] by the Buddha, and on the mental plane when Christ manifested on Earth. It indicated the approaching maturity of humanity. The process has been slowly gathering momentum as these two great Beings have gathered around Them Their disciples and initiates, during the past two thousand years. It has reached a point of intensive usefulness as the channel of communication between “the Centre where the Will of God is known,” and the Hierarchy where the Love of God demonstrates has been opened and enlarged, and the contact between these two great centres and humanity has been more firmly established.

Đây tất yếu không phải là một tiến trình nhanh chóng; đó là một thủ tục có trật tự và được điều hòa, chắc chắn trong thành công cuối cùng của nó nhưng cũng tương đối chậm trong sự thiết lập và tiến trình tuần tự của nó. Tiến trình này đã được khởi xướng trên cõi cảm dục [135] bởi Đức Phật, và trên cõi trí khi Đức Christ biểu lộ trên Trái Đất. Nó cho thấy sự trưởng thành đang đến gần của nhân loại. Tiến trình ấy đã từ từ tích lũy đà tiến khi hai Đấng Vĩ Đại này quy tụ quanh Các Ngài các đệ tử và điểm đạo đồ của Các Ngài trong suốt hai ngàn năm qua. Nó đã đạt đến một điểm hữu ích mãnh liệt khi kênh giao tiếp giữa “Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế” và Thánh Đoàn nơi Bác Ái của Thượng Đế biểu lộ đã được mở ra và mở rộng, và sự tiếp xúc giữa hai trung tâm vĩ đại này với nhân loại đã được thiết lập vững chắc hơn.

Thus thousands of intelligent men and women will be enabled to free themselves from all delusion and emotional control. The moment that the hearts of men are active, that moment sees the termination of emotional, solar plexus activity. That is a statement of fact; it is the hearts of men which respond to the call of Christ and it is those hearts which are becoming invocative today. The agonising emotional cycle through which humanity has passed during the past one hundred years, and the emotional tension in which men today live are also playing their part in fitting humanity to emerge into the realm of clear thought; this will mark a significant turning point in human history and will be one of the results of Christ’s future scientific work (if I may use this term) with the hearts of men, bringing them into rapport with the Heart of God.

Nhờ đó hàng ngàn những người nam và nữ thông minh sẽ có thể tự giải thoát khỏi mọi ảo tưởng và sự kiểm soát cảm xúc. Ngay khoảnh khắc mà trái tim con người hoạt động, khoảnh khắc ấy chứng kiến sự chấm dứt của hoạt động cảm xúc nơi tùng thái dương. Đó là một lời khẳng định sự kiện; chính trái tim con người đáp ứng lời kêu gọi của Đức Christ và chính những trái tim ấy ngày nay đang trở nên khẩn cầu. Chu kỳ cảm xúc đau đớn mà nhân loại đã trải qua trong một trăm năm qua, và sự căng thẳng cảm xúc mà con người đang sống trong đó ngày nay, cũng đang góp phần của chúng vào việc chuẩn bị cho nhân loại bước ra cõi của tư tưởng sáng tỏ; điều này sẽ đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử nhân loại và sẽ là một trong những kết quả của công việc khoa học tương lai của Đức Christ (nếu tôi có thể dùng thuật ngữ này) với trái tim con người, đưa chúng vào tương giao với Trái Tim của Thượng Đế.

Because of the magnitude of this theme and the wide extent of the psychological area in which the mass of men now live, I cannot further enlarge. This field of experience and of trial is well known to all aspirants and is the battlefield of millions. The Christ within, as the Controller of the individual life, can bring that battle to [136] an end; the aspirant can emerge clear sighted and unafraid. The appearance of the Christ among men will do the same thing for humanity as a whole, not in any vicarious sense but through the livingness of His Presence, stimulating the Christ principle in every human heart.

Vì tầm vóc của chủ đề này và phạm vi rộng lớn của khu vực tâm lý mà quần chúng nhân loại hiện đang sống trong đó, tôi không thể nói rộng thêm. Lĩnh vực kinh nghiệm và thử thách này được mọi người chí nguyện biết rõ và là chiến trường của hàng triệu người. Đức Christ bên trong, như Đấng Kiểm Soát đời sống cá nhân, có thể đưa trận chiến ấy đến [136] chỗ kết thúc; người chí nguyện có thể bước ra với cái nhìn sáng rõ và không sợ hãi. Sự xuất hiện của Đức Christ giữa loài người sẽ làm điều tương tự cho toàn thể nhân loại, không phải theo bất kỳ ý nghĩa thay thế nào mà thông qua tính sống động của Sự Hiện Diện của Ngài, kích thích nguyên khí Christ trong mọi trái tim con người.