Trích nội dung chương
The world today is more spiritually inclined than ever before. This is said with a full realisation of the generally accepted idea that the world of men is on the rocks spiritually, and that at no time has the spiritual life of the race been at such a low ebb. This idea is largely due to the fact that humanity is not excessively interested in the orthodox presentation of truth, and that our churches are relatively empty and are under public indictment as having failed to teach humanity to live rightly. These affirmations are distressingly true, but the fact still remains that human beings everywhere are searching for spiritual release and…
CHAPTER SIX - THE NEW WORLD RELIGION — CHƯƠNG SÁU - TÔN GIÁO THẾ GIỚI MỚI
[137]
[137]
The world today is more spiritually inclined than ever before. This is said with a full realisation of the generally accepted idea that the world of men is on the rocks spiritually, and that at no time has the spiritual life of the race been at such a low ebb. This idea is largely due to the fact that humanity is not excessively interested in the orthodox presentation of truth, and that our churches are relatively empty and are under public indictment as having failed to teach humanity to live rightly. These affirmations are distressingly true, but the fact still remains that human beings everywhere are searching for spiritual release and truth, and that the truly religious spirit is more fundamentally alive than at any previous time. This is especially true of those countries which have suffered the most in the late world war (1914-1945). Countries, such as the United States and the neutral countries show, as yet, no sign of any real spiritual revival. The other countries are spiritually alive—not along orthodox lines but in a true search and a vital demand for light.
Ngày nay thế giới có khuynh hướng tinh thần hơn bao giờ hết. Điều này được nói ra với sự nhận biết đầy đủ về ý tưởng được chấp nhận rộng rãi rằng thế giới loài người đang lâm vào khủng hoảng về mặt tinh thần, và chưa bao giờ đời sống tinh thần của nhân loại lại suy giảm đến mức như thế. Ý tưởng này phần lớn là do sự kiện rằng nhân loại không quá quan tâm đến cách trình bày chân lý theo chính thống, và rằng các giáo hội của chúng ta tương đối trống vắng và đang bị công chúng kết tội là đã thất bại trong việc dạy nhân loại sống đúng đắn. Những khẳng định này đau lòng thay đều đúng, nhưng sự kiện vẫn còn đó là con người ở khắp nơi đang tìm kiếm sự giải thoát tinh thần và chân lý, và tinh thần tôn giáo chân chính sống động một cách căn bản hơn bất kỳ thời nào trước đây. Điều này đặc biệt đúng ở những quốc gia đã chịu đau khổ nhiều nhất trong cuộc thế chiến vừa qua (1914-1945). Những quốc gia như Hoa Kỳ và các nước trung lập cho đến nay vẫn chưa cho thấy dấu hiệu nào của một sự phục hưng tinh thần thực sự. Các quốc gia khác thì sống động về mặt tinh thần—không theo đường lối chính thống mà trong một cuộc tìm kiếm chân thực và một nhu cầu sống động đối với ánh sáng.
The religious spirit of humanity is today more definitely focussed upon Reality than has ever before been the case. The orthodox world religions are rapidly falling into the background of men’s minds even whilst we are undoubtedly approaching nearer to the central spiritual Reality. The theologies now taught by the ecclesiastical organisation (both in the East and in the West) are [138] crystallised and of relatively little use. Priests and churchmen, orthodox instructors and fundamentalists (fanatical though sincere) are seeking to perpetuate that which is old and which sufficed in the past to satisfy the enquirer, but which now fails to do so. Sincere but unenlightened religious men are deploring the revolt of youth from doctrinal attitudes. At the same time, along with all seekers, they are demanding a new revelation. They seek something new and arresting by which to attract the masses back to God; they fear that something must be relinquished, that new interpretations of old truths must be found, but fail to realise that a new outlook upon the truth (as it is in Christ) must be attained; they sense the approach of new, impending spiritual revelations but are apt to shrink back from their revolutionary effects. They ask themselves many questions and are assailed by deep and disturbing doubts. It is interesting here to note that the answers to these questions come (and will increasingly come), from two sources: the thinking masses, whose growing intellectual perception is the cause of the revolt from orthodox religion, and from that overshadowing source of truth and light which has unfailingly brought revelation down the ages. The answers will not come, as far as one can see, from any religious organisation, whether Asiatic or Western.
Tinh thần tôn giáo của nhân loại ngày nay được tập trung vào Thực Tại một cách xác định hơn bao giờ hết. Các tôn giáo thế giới chính thống đang nhanh chóng lùi vào hậu cảnh trong tâm trí con người ngay cả khi chúng ta chắc chắn đang tiến gần hơn đến Thực Tại tinh thần trung tâm. Những thần học hiện được giảng dạy bởi tổ chức giáo hội (cả ở Đông phương lẫn Tây phương) đều [138] đã kết tinh và tương đối ít hữu ích. Các giáo sĩ và người của giáo hội, các huấn sư chính thống và những người theo chủ nghĩa căn bản (cuồng tín nhưng chân thành) đang tìm cách duy trì điều cũ kỹ và điều đã từng đủ để làm thỏa mãn người tìm hỏi trong quá khứ, nhưng nay không còn làm được như vậy nữa. Những người tôn giáo chân thành nhưng chưa được soi sáng đang than phiền về sự nổi loạn của giới trẻ đối với các thái độ giáo điều. Đồng thời, cùng với mọi người tìm kiếm, họ đang đòi hỏi một sự mặc khải mới. Họ tìm kiếm một điều gì đó mới mẻ và mạnh mẽ để lôi cuốn quần chúng trở lại với Thượng đế; họ sợ rằng phải từ bỏ một điều gì đó, rằng phải tìm ra những cách diễn giải mới cho các chân lý cũ, nhưng lại không nhận ra rằng phải đạt được một nhãn quan mới về chân lý (như nó ở trong Đức Christ); họ cảm nhận sự tiếp cận của những mặc khải tinh thần mới đang sắp đến nhưng lại có khuynh hướng lùi bước trước những tác động mang tính cách mạng của chúng. Họ tự đặt cho mình nhiều câu hỏi và bị tấn công bởi những nghi ngờ sâu xa và xáo động. Ở đây thật thú vị khi lưu ý rằng câu trả lời cho những câu hỏi này đến (và sẽ ngày càng đến) từ hai nguồn: quần chúng biết suy nghĩ, mà sự nhận thức trí tuệ ngày càng tăng của họ là nguyên nhân của cuộc nổi loạn chống lại tôn giáo chính thống, và từ nguồn chân lý và ánh sáng phủ bóng ấy, nguồn đã không hề sai sót trong việc mang sự mặc khải xuống qua các thời đại. Theo như người ta có thể thấy, các câu trả lời sẽ không đến từ bất kỳ tổ chức tôn giáo nào, dù là châu Á hay phương Tây.
Some of these questions can be expressed as follows:
Một số câu hỏi này có thể được nêu ra như sau:
Why has the church been unable to arrest the overpowering expression of evil, as evidenced in the late world war?
Tại sao giáo hội đã không thể ngăn chặn sự biểu lộ áp đảo của điều ác, như đã được chứng minh trong cuộc thế chiến vừa qua?
Why has religion proved inadequate to the need of humanity?
Tại sao tôn giáo lại tỏ ra không đủ đáp ứng nhu cầu của nhân loại?
Why have the so-called spiritual leaders of the religious world proved themselves incompetent to aid in the solution of the world problems?
Tại sao những người được gọi là lãnh đạo tinh thần của thế giới tôn giáo lại tỏ ra bất lực trong việc trợ giúp giải quyết các vấn đề thế giới?
[139]
[139]
Why, as exponents of the God of Love, have Christian teachers been unable to arrest the unparalleled growth of hate in the world today?
Tại sao, với tư cách là những người diễn giải Thượng đế của Bác ái, các huấn sư Cơ Đốc lại không thể ngăn chặn sự tăng trưởng chưa từng có của hận thù trong thế giới ngày nay?
Why are the majority of such teachers so sectarian, separative and denominational in their approaches to truth? There is, however, a spiritual, open-minded minority.
Tại sao đa số những huấn sư như thế lại quá bè phái, chia rẽ và giáo phái trong cách tiếp cận chân lý của họ? Tuy nhiên, vẫn có một thiểu số tinh thần, cởi mở.
Why do the young people refuse to go to church and lack interest to accept the doctrines presented for their belief?
Tại sao giới trẻ từ chối đến nhà thờ và thiếu quan tâm trong việc chấp nhận các giáo lý được trình bày để họ tin theo?
Why is death and not life stalking the world today?
Tại sao ngày nay cái chết chứ không phải sự sống đang rình rập thế giới?
Why do so many new cults arise and sidetrack the people away from orthodox organisations of a religious nature?
Tại sao quá nhiều giáo phái mới lại xuất hiện và kéo dân chúng đi chệch khỏi các tổ chức chính thống có tính chất tôn giáo?
Why does Mental Science, the Unity Movement and the New Thought presentation attract people away from the better established organisations? Note the use of the word “organisations”; it holds the key to the problem.
Tại sao Khoa Học Tinh Thần, Phong Trào Unity và cách trình bày của Tân Tư Tưởng lại lôi cuốn con người rời khỏi các tổ chức đã được thiết lập vững chắc hơn? Hãy lưu ý việc dùng từ “các tổ chức”; nó nắm giữ chìa khóa của vấn đề.
Why is there a growing emphasis upon the Eastern theologies, upon the various yogas, upon Buddhistic teachings and oriental faiths?
Tại sao ngày càng nhấn mạnh đến các thần học Đông phương, đến các yoga khác nhau, đến giáo huấn Phật giáo và các tín ngưỡng phương Đông?
Why do such teachings as astrology, numerology and various magical rituals find so many adherents whilst the churches remain empty or are only attended by old people, the conservatives and reactionaries or by those who go there by force of habit, or desperate unhappiness?
Tại sao những giáo huấn như chiêm tinh học, thần số học và các nghi thức huyền thuật khác nhau lại tìm được nhiều người theo đến thế trong khi các giáo hội vẫn trống vắng hoặc chỉ được những người già, những người bảo thủ và phản động, hay những người đến đó do thói quen, hoặc do bất hạnh tuyệt vọng, lui tới?
What is wrong, finally, with our presentation of the spiritual realities and the truths of the ages?
Sau cùng, điều gì là sai lầm trong cách trình bày của chúng ta về các thực tại tinh thần và các chân lý của các thời đại?
Many answers can be given. The most important one is that the presentation of divine truth, as given by the churches in the West and by the teachers in the East, has not kept pace with the unfolding intellect of the human spirit. The same old forms of words and of ideas are still handed out to the enquirer and they do not satisfy [140] his mind nor do they meet his practical need in a most difficult world. He is asked to give unquestioning belief but not to understand; he is told that it is not possible for him to comprehend and yet he is asked to accept the interpretations and the affirmations of other human minds who claim that they do understand and that they have the truth. He does not believe that their minds and their interpretations are any better than his. The same old formulas, the same old theologies and the same old interpretations are deemed adequate to meet man’s modern needs and enquiries. They are not.
Có thể đưa ra nhiều câu trả lời. Câu trả lời quan trọng nhất là rằng cách trình bày chân lý thiêng liêng, như được các giáo hội ở phương Tây và các huấn sư ở phương Đông đưa ra, đã không theo kịp trí tuệ đang khai mở của tinh thần con người. Những hình thức ngôn từ và ý tưởng cũ kỹ ấy vẫn còn được trao cho người tìm hỏi và chúng không làm thỏa mãn [140] trí tuệ của y cũng không đáp ứng nhu cầu thực tiễn của y trong một thế giới vô cùng khó khăn. Y được yêu cầu phải tin mà không chất vấn chứ không phải thấu hiểu; y được bảo rằng y không thể hiểu được, nhưng lại được yêu cầu chấp nhận những cách diễn giải và những khẳng định của những trí tuệ con người khác, những người tự nhận là họ hiểu và họ có chân lý. Y không tin rằng trí tuệ của họ và những cách diễn giải của họ tốt hơn của y. Những công thức cũ, những thần học cũ và những cách diễn giải cũ vẫn được xem là đầy đủ để đáp ứng các nhu cầu và những câu hỏi hiện đại của con người. Chúng không đủ.
The church today is the tomb of the Christ and the stone of theology has been rolled to the door of the sepulchre.
Ngày nay giáo hội là ngôi mộ của Đức Christ và tảng đá của thần học đã được lăn đến cửa mộ.
There is, however, no point in attacking Christianity. Christianity cannot be attacked; it is an expression—in essence, if not yet entirely factual—of the love of God, immanent in His created universe. Churchianity has, however, laid itself wide open to attack, and the mass of thinking people are aware of this; unfortunately, these thinking people are still a small minority. Nevertheless, it is this thinking minority which (when it is a majority and it is today a rapidly growing one) will spell the doom of the churches and endorse the spread of the true teaching of the Christ. It is not possible that He has any pleasure in the great stone temples which churchmen have built, whilst His people are left without guidance or reasonable light upon world affairs; surely, He must feel (with an aching heart) that the simplicity which He taught and the simple way to God which He emphasised have disappeared into the fogs of theology (initiated by St. Paul) and in the discussions of churchmen throughout the centuries. Men have travelled far from the simplicity of thought and from the simple, spiritual life which the early [141] Christians lived. Is it not possible that the Christ may regard the separative life of the churches and the arrogance of the theologians as wrong and undesirable—dividing (as they have) the world into believer and unbeliever, into Christian and heathen, into the so-called enlightened and the so-called benighted—and as contrary to all that He Himself held and believed when He said, “Other sheep I have which are not of this fold.” (John X.16.)
Tuy nhiên, không có ích gì khi công kích Cơ Đốc giáo. Cơ Đốc giáo không thể bị công kích; về bản chất, dù chưa hoàn toàn là một thực tại, nó là một biểu hiện của tình thương của Thượng đế, nội tại trong vũ trụ do Ngài sáng tạo. Tuy nhiên, giáo hội tính đã tự phơi bày mình ra cho sự công kích, và đại đa số những người biết suy nghĩ đều nhận thức được điều này; tiếc thay, những người biết suy nghĩ ấy vẫn còn là một thiểu số nhỏ. Dẫu vậy, chính thiểu số biết suy nghĩ này—khi trở thành đa số, và ngày nay họ đang tăng trưởng rất nhanh—sẽ báo hiệu sự cáo chung của các giáo hội và tán thành sự truyền bá giáo huấn chân chính của Đức Christ. Không thể nào Ngài lại vui thích trước những đền thờ bằng đá đồ sộ mà giới giáo sĩ đã xây dựng, trong khi dân của Ngài bị bỏ mặc không có sự hướng dẫn hay ánh sáng hợp lý nào về các vấn đề thế giới; hẳn nhiên, Ngài phải cảm thấy (với một trái tim đau nhói) rằng sự đơn giản mà Ngài đã dạy và con đường đơn giản đến với Thượng đế mà Ngài đã nhấn mạnh đã biến mất trong màn sương của thần học (do Thánh Paul khởi xướng) và trong những cuộc tranh luận của giới giáo sĩ suốt bao thế kỷ. Con người đã đi rất xa khỏi sự đơn giản trong tư tưởng và khỏi đời sống tinh thần đơn giản mà các tín đồ Cơ Đốc tiên khởi [141] đã sống. Chẳng lẽ không thể nào Đức Christ xem đời sống chia rẽ của các giáo hội và sự kiêu ngạo của các nhà thần học là sai lầm và không đáng mong muốn—vì họ đã chia thế giới thành kẻ tin và kẻ không tin, thành tín đồ Cơ Đốc và dân ngoại, thành những người được gọi là khai sáng và những người bị gọi là tăm tối—và là trái ngược với tất cả những gì chính Ngài đã giữ vững và tin tưởng khi Ngài nói: “Ta còn có những chiên khác không thuộc về chuồng này.” (John X.16.)
It is not the evil rampant in the world today which is hindering the revelation and hindering the unfoldment of the spiritual life. That evil is the result of the misapprehension and the wrong orientation of the human mind, of the emphasis upon material things which ages of competitive activity have brought about; it rests upon the failure of the religious organizations throughout the world to preserve the truth in its purity and to avoid the fanatical idea that anyone’s individual interpretation of truth must necessarily be the only and correct one. Theologians have fought (and with sincerity of intention) for forms of words which they believed were the only true and correct formulation of the divine idea, but Christ was forgotten behind the words; churchmen have expended effort and executive ability in raising funds for the building of stone edifices whilst God’s children everywhere went hungry and unclothed and so lost their belief in divine love.
Không phải điều ác đang lan tràn trong thế giới ngày nay là cái đang cản trở sự mặc khải và cản trở sự khai mở của đời sống tinh thần. Điều ác ấy là kết quả của sự hiểu sai và sự định hướng sai lạc của trí tuệ con người, của sự nhấn mạnh vào những điều vật chất mà bao thời đại hoạt động cạnh tranh đã tạo ra; nó dựa trên sự thất bại của các tổ chức tôn giáo trên khắp thế giới trong việc gìn giữ chân lý trong sự tinh tuyền của nó và tránh ý tưởng cuồng tín rằng cách diễn giải chân lý của riêng bất kỳ ai nhất thiết phải là cách duy nhất và đúng đắn. Các nhà thần học đã chiến đấu (và với sự chân thành trong ý định) cho những hình thức ngôn từ mà họ tin là sự phát biểu duy nhất chân thật và đúng đắn của ý tưởng thiêng liêng, nhưng Đức Christ đã bị quên lãng đằng sau những lời lẽ ấy; giới giáo sĩ đã dốc công sức và khả năng điều hành vào việc gây quỹ để xây dựng những công trình bằng đá trong khi con cái của Thượng đế ở khắp nơi bị đói khát và thiếu áo mặc, và vì thế đã đánh mất niềm tin vào tình thương thiêng liêng.
How can the need of humanity for spiritual guidance be met when the leaders of the churches are occupied with temporal concerns, when the emphasis is laid in the Roman Catholic, the Greek Orthodox and the Protestant Churches upon pomp and ceremonies, on great churches and stone cathedrals, upon gold and silver communion sets, on scarlet birettas, on jewelled vestments, and upon all the paraphernalia so cherished by the ecclesiastically minded? How [142] can the starving children of the world—and of Europe in particular—be salvaged when pleas go out from Popes and Bishops for money to build cathedrals and erect more churches when the existent churches now stand empty? How can light shine again in the minds of men when churchmen keep the people in a state of fear unless they accept the old theological interpretations and the old ways of approaching God? How can the spiritual and intellectual needs of the people be met when the theological seminaries teach nothing new or appropriate to the day and age, but send out young men to guide humanity who are grounded only in the past interpretations. These young men enter upon their religious training and preparation for the ministry with high hopes and vision; they emerge with little hope, not much faith, but with a determination to “make good” and rise to prominence in the church.
Làm sao nhu cầu của nhân loại về sự hướng dẫn tinh thần có thể được đáp ứng khi các nhà lãnh đạo của các giáo hội bận rộn với những mối quan tâm thế tục, khi sự nhấn mạnh trong Giáo hội Công giáo La Mã, Chính Thống giáo Hy Lạp và các Giáo hội Tin Lành lại đặt vào sự phô trương và nghi lễ, vào những nhà thờ lớn và những thánh đường bằng đá, vào các bộ đồ thánh bằng vàng bạc, vào những mũ biretta đỏ thắm, vào những phẩm phục đính ngọc, và vào toàn bộ những vật dụng phụ thuộc được giới đầu óc giáo hội quý chuộng đến thế? Làm sao [142] những trẻ em đói khát của thế giới—và đặc biệt là của châu Âu—có thể được cứu giúp khi các lời kêu gọi từ các Giáo hoàng và Giám mục vẫn vang lên để xin tiền xây các thánh đường và dựng thêm nhiều nhà thờ nữa trong khi các nhà thờ hiện có nay đang trống rỗng? Làm sao ánh sáng có thể lại chiếu rọi trong trí tuệ con người khi giới giáo sĩ giữ dân chúng trong trạng thái sợ hãi trừ phi họ chấp nhận những cách diễn giải thần học cũ và những lối tiếp cận Thượng đế cũ? Làm sao các nhu cầu tinh thần và trí tuệ của dân chúng có thể được đáp ứng khi các chủng viện thần học không dạy điều gì mới mẻ hay thích hợp với thời đại, mà lại gửi ra những người trẻ để hướng dẫn nhân loại, những người chỉ được đặt nền trên các cách diễn giải của quá khứ. Những người trẻ này bước vào sự huấn luyện tôn giáo và sự chuẩn bị cho chức vụ mục sư với niềm hy vọng cao cả và tầm nhìn; họ bước ra với ít hy vọng, không nhiều đức tin, nhưng với quyết tâm phải “thành công” và vươn lên địa vị nổi bật trong giáo hội.
The question arises whether Christ would be at home in the churches if He walked again among men. The rituals and the ceremonies, the pomp and the vestments, the candles and the gold and silver, the graded order of popes, cardinals, archbishops, canons and ordinary rectors, pastors and clergy would seemingly have small interest for the simple Son of God, Who—when on Earth—had not where to lay His head.
Câu hỏi được đặt ra là liệu Đức Christ có cảm thấy như ở nhà trong các giáo hội nếu Ngài lại bước đi giữa loài người hay không. Các nghi thức và lễ nghi, sự phô trương và phẩm phục, nến, vàng và bạc, trật tự phẩm cấp từ giáo hoàng, hồng y, tổng giám mục, kinh sĩ và các cha xứ thường, mục sư và hàng giáo sĩ dường như sẽ ít có sức hấp dẫn đối với Con đơn sơ của Thượng đế, Đấng—khi ở trên Trái Đất—đã không có nơi nào để gối đầu.
The presentation of religious truth in the past has blocked the growth of the religious spirit; theology has brought mankind to the very gates of despair; the delicate flower of the Christ life has been stunted and arrested in the dark caves of man’s thinking; fanatical adherence to human interpretations has taken the place of Christian living; millions of books have obliterated the living words of Christ; the arguments and discussions of priests have put out the light which the Buddha brought, and the love of God as revealed by the life of Christ has been forgotten [143] whilst men have quarrelled over meanings, over phrases and words. In the meantime, men have agonised, starved, suffered, demanded help and instruction and, unsatisfied, have lost faith.
Sự trình bày chân lý tôn giáo trong quá khứ đã ngăn chặn sự tăng trưởng của tinh thần tôn giáo; thần học đã đưa nhân loại đến tận cổng tuyệt vọng; đóa hoa mong manh của đời sống Christ đã bị còi cọc và đình trệ trong những hang tối của tư tưởng con người; sự bám chấp cuồng tín vào các cách diễn giải của con người đã thay thế cho đời sống Cơ Đốc; hàng triệu cuốn sách đã xóa mờ những lời sống động của Đức Christ; các cuộc tranh luận và thảo luận của giới tăng lữ đã dập tắt ánh sáng mà Đức Phật mang đến, và tình thương của Thượng đế như được mặc khải qua đời sống của Đức Christ đã bị lãng quên [143] trong khi con người cãi cọ về ý nghĩa, về cụm từ và ngôn từ. Trong khi đó, con người đã quằn quại, đói khát, đau khổ, đòi hỏi sự giúp đỡ và chỉ dẫn, và vì không được thỏa mãn nên đã đánh mất đức tin.
Today everywhere people are ready for the light; they are expectant of a new revelation and of a new dispensation, and humanity has advanced so far on the way of evolution that these demands and expectations are not couched in terms of material betterment only, but in terms of a spiritual vision, true values and right human relations. They are demanding teaching and spiritual help along with the necessary requests for food, clothes and the opportunity to work and live in freedom; they face famine in large areas of the world and yet are registering (with equal dismay) the famine of the soul.
Ngày nay, ở khắp nơi, con người đã sẵn sàng cho ánh sáng; họ mong đợi một sự mặc khải mới và một thời kỳ tôn giáo mới, và nhân loại đã tiến xa đến mức những đòi hỏi và kỳ vọng này không còn chỉ được diễn đạt bằng những điều kiện cải thiện vật chất, mà bằng một linh thị tinh thần, những giá trị chân chính và những tương quan nhân loại đúng đắn. Họ đòi hỏi giáo huấn và sự trợ giúp tinh thần cùng với những yêu cầu cần thiết về thực phẩm, quần áo và cơ hội làm việc và sống trong tự do; họ đang đối diện nạn đói trên những vùng rộng lớn của thế giới, nhưng đồng thời cũng đang ghi nhận (với cùng nỗi kinh hoàng) nạn đói của linh hồn.
We are surely not in error if we conclude that this spiritual dismay and this spiritual demand have assumed a paramount place in the consciousness of the Christ. When He reappears and when His Church, hitherto invisible, appears with Him, what can They do to meet this demanding cry and this intensified attitude of spiritual perception with which They will be greeted. They see the picture whole. The cry of the Christian for spiritual help, the cry of the Buddhist for spiritual enlightenment, and the cry of the Hindu for spiritual understanding—along with the cries of all those who have faith or have no faith—must be met. The demands of humanity are rising to Their ears and the Christ and His disciples have no sectarian scruples, of that we may be sure. It is impossible to believe that They are interested in the views of the Fundamentalists or in the theories of the theologians upon the Virgin Birth, the Vicarious Atonement or the Infallibility of the Pope. Humanity is in desperate need and that need must be met; only great and fundamental [144] principles of living, covering the past and the present and providing a platform for the future, will really meet that human invocation. The Christ and the spiritual Hierarchy will not come to destroy all that humanity has hitherto found “necessary to salvation,” and all that has met its spiritual demand. When the Christ reappears, the non-essentials will surely disappear; the fundamentals of faith will remain, upon which He can build that new world religion for which all men wait. That new world religion must be based upon those truths which have stood the test of ages and which have brought assurance and comfort to men everywhere. These surely are:
Chắc chắn chúng ta không sai nếu kết luận rằng nỗi kinh hoàng tinh thần này và nhu cầu tinh thần này đã chiếm một vị trí tối thượng trong tâm thức của Đức Christ. Khi Ngài tái lâm và khi Giáo hội của Ngài, từ trước đến nay vẫn vô hình, xuất hiện cùng Ngài, Các Ngài có thể làm gì để đáp ứng tiếng kêu đòi hỏi này và thái độ tri giác tinh thần được tăng cường này mà Các Ngài sẽ được đón nhận. Các Ngài nhìn thấy toàn cảnh. Tiếng kêu của tín đồ Cơ Đốc đòi hỏi sự trợ giúp tinh thần, tiếng kêu của tín đồ Phật giáo đòi hỏi sự giác ngộ tinh thần, và tiếng kêu của tín đồ Ấn giáo đòi hỏi sự thấu hiểu tinh thần—cùng với tiếng kêu của tất cả những ai có đức tin hoặc không có đức tin—đều phải được đáp ứng. Những đòi hỏi của nhân loại đang dâng lên tai Các Ngài, và Đức Christ cùng các đệ tử của Ngài không có những dè dặt bè phái, điều đó chúng ta có thể chắc chắn. Không thể tin rằng Các Ngài quan tâm đến các quan điểm của những người theo chủ nghĩa Căn bản hay các lý thuyết của các nhà thần học về Sự Giáng Sinh Đồng Trinh, Sự Chuộc Tội Thế Mạng hay Tính Bất Khả Ngộ của Giáo hoàng. Nhân loại đang ở trong nhu cầu tuyệt vọng và nhu cầu ấy phải được đáp ứng; chỉ những nguyên lý sống lớn lao và căn bản [144], bao quát quá khứ và hiện tại và cung cấp một nền tảng cho tương lai, mới thực sự đáp ứng được lời Khẩn Cầu đó của nhân loại. Đức Christ và Thánh đoàn tinh thần sẽ không đến để phá hủy tất cả những gì mà cho đến nay nhân loại đã thấy là “cần thiết cho sự cứu rỗi,” và tất cả những gì đã đáp ứng nhu cầu tinh thần của họ. Khi Đức Christ tái lâm, những điều không cốt yếu chắc chắn sẽ biến mất; những nền tảng của đức tin sẽ còn lại, trên đó Ngài có thể xây dựng tôn giáo thế giới mới mà mọi người đang chờ đợi. Tôn giáo thế giới mới ấy phải được đặt nền trên những chân lý đã đứng vững trước thử thách của các thời đại và đã mang lại sự bảo đảm và an ủi cho con người ở khắp nơi. Chắc chắn đó là:
1. The Fact of God.
1. Sự Kiện về Thượng đế.
First and foremost, there must be recognition of the fact of God. That central Reality can be called by any name that man may choose according to his mental or emotional bent, racial tradition and heritage, for it cannot be defined or conditioned by names. Human beings perforce always use names in order to express that which they sense, feel and know, both of the phenomenal and also of the intangible. Consciously or unconsciously, all men recognise God Transcendent and God Immanent. They sense God to be the Creator and the Inspiration of all that is.
Trước hết và trên hết, phải có sự công nhận sự kiện về Thượng đế. Thực Tại trung tâm ấy có thể được gọi bằng bất kỳ danh xưng nào mà con người chọn theo khuynh hướng trí tuệ hay cảm xúc của mình, theo truyền thống và di sản chủng tộc của mình, vì nó không thể được định nghĩa hay bị quy định bởi tên gọi. Con người tất nhiên luôn dùng tên gọi để diễn đạt điều mà họ cảm nhận, cảm thấy và biết, cả về hiện tượng giới lẫn về cái vô hình. Một cách hữu thức hay vô thức, mọi người đều công nhận Thượng đế Siêu Việt và Thượng đế Nội Tại. Họ cảm nhận Thượng đế là Đấng Sáng Tạo và là Nguồn Cảm Hứng của tất cả những gì hiện hữu.
The Eastern faiths have ever emphasised God Immanent, deep within the human heart, “nearer than hands and feet,” the Self, the One, the Atma, smaller than the small, yet all-comprehensive. The Western faiths have presented God Transcendent, outside His universe, an Onlooker. God transcendent, first of all, conditioned men’s concept of Deity, for the action of this transcendent God appeared in the processes of nature; later, in the Jewish [145] dispensation, God appeared as the tribal Jehovah, as the soul (the rather unpleasant soul) of a nation. Next, God was seen as a perfected man, and the divine God-man walked the Earth in the Person of Christ. Today we have a rapidly growing emphasis upon God immanent in every human being and in every created form. Today, we should have the churches presenting a synthesis of these two ideas which have been summed up for us in the statement of Shri Krishna in The Bhagavad Gita: “Having pervaded this whole Universe with a fragment of Myself, I remain.” God, greater than the created whole, yet God present also in the part; God Transcendent guarantees the plan for our world and is the Purpose, conditioning all lives from the minutest atom, up through all the kingdoms of nature, to man.
Các tín ngưỡng phương Đông từ lâu luôn nhấn mạnh Thượng đế Nội Tại, sâu trong trái tim con người, “gần hơn tay và chân,” là Bản Ngã, là Đấng Duy Nhất, là Atma, nhỏ hơn cái nhỏ nhất mà vẫn bao trùm tất cả. Các tín ngưỡng phương Tây đã trình bày Thượng đế Siêu Việt, ở bên ngoài vũ trụ của Ngài, như một Đấng Quan Sát. Trước hết, Thượng đế siêu việt đã quy định quan niệm của con người về Thượng đế, vì hành động của Thượng đế siêu việt này xuất hiện trong các tiến trình của thiên nhiên; về sau, trong thời kỳ [145] Do Thái giáo, Thượng đế xuất hiện như Jehovah của bộ tộc, như linh hồn (một linh hồn khá khó chịu) của một dân tộc. Tiếp đó, Thượng đế được nhìn như một con người hoàn hảo, và Thượng đế-người thiêng liêng đã bước đi trên Trái Đất trong Nhân vị của Đức Christ. Ngày nay, sự nhấn mạnh vào Thượng đế nội tại trong mỗi con người và trong mọi hình tướng được tạo thành đang tăng trưởng rất nhanh. Ngày nay, các giáo hội lẽ ra phải trình bày một tổng hợp của hai ý tưởng này, vốn đã được tóm kết cho chúng ta trong lời tuyên bố của Shri Krishna trong The Bhagavad Gita: “Sau khi thấm nhuần toàn thể Vũ Trụ này bằng một mảnh của Chính Ta, Ta vẫn còn đó.” Thượng đế lớn hơn toàn thể được tạo thành, nhưng đồng thời Thượng đế cũng hiện diện trong từng phần; Thượng đế Siêu Việt bảo đảm Thiên Cơ cho thế giới chúng ta và là Mục Đích, quy định mọi sự sống từ nguyên tử nhỏ bé nhất, xuyên qua mọi giới trong thiên nhiên, cho đến con người.
2. Man’s Relationship to God.
2. Mối Liên Hệ của Con Người với Thượng đế.
The second truth to which all give allegiance—no matter what the faith—is that of man’s essential relationship to God. Inherent in the human consciousness—inchoate often and undefined—is a sense of divinity. “We are all the children of God” (Gal. III.26); “One is our Father, even God,” says the Christ and so say all the world Teachers and Avatars down the ages. “As He is, so are we in this world” (1 John IV.17) is another Biblical statement. “Closer is He than breathing, nearer than hands and feet,” chants the Hindu. “Christ in us, the hope of glory” is the triumphant affirmation of St. Paul.
Chân lý thứ hai mà mọi người đều trung thành—bất kể tín ngưỡng nào—là mối liên hệ cốt yếu của con người với Thượng đế. Nội tại trong tâm thức con người—thường còn mơ hồ và chưa được xác định—là một cảm thức về thiên tính. “Chúng ta đều là con cái của Thượng đế” (Gal. III.26); “Cha của chúng ta là một, tức là Thượng đế,” Đức Christ nói như vậy và tất cả các Đức Chưởng Giáo cùng các Đấng Hoá Thân qua các thời đại cũng nói như vậy. “Ngài thế nào, chúng ta cũng như vậy trong thế gian này” (1 John IV.17) là một lời tuyên bố khác trong Kinh Thánh. “Ngài gần hơn hơi thở, gần hơn tay và chân,” người Ấn giáo xướng lên. “Đức Christ ở trong chúng ta, niềm hy vọng của vinh quang” là lời khẳng định đắc thắng của Thánh Paul.
3. The Fact of Immortality and of Eternal Persistence.
3. Sự Kiện về Tính Bất Tử và về Sự Tồn Tại Vĩnh Cửu.
Third, is the sense of persistence, of eternal life or of immortality. From this recognition, there seems to be [146] no escape; it is as much a part of humanity’s reaction as is the instinct of self-preservation. With that inner conviction, we face death and we know that we shall live again, that we come and we go and that we persist because we are divine and the controllers of our own destiny. We know that we have set ourselves a goal and that the goal is “Life more abundantly”—somewhere, here, there, and eventually everywhere.
Thứ ba là cảm thức về sự tồn tại bền bỉ, về sự sống vĩnh cửu hay tính bất tử. Dường như không có [146] lối thoát nào khỏi sự công nhận này; nó cũng là một phần trong phản ứng của nhân loại như bản năng tự bảo tồn. Với niềm xác tín nội tâm ấy, chúng ta đối diện cái chết và biết rằng chúng ta sẽ sống lại, rằng chúng ta đến rồi đi và vẫn tồn tại vì chúng ta là thiêng liêng và là những kẻ điều khiển định mệnh của chính mình. Chúng ta biết rằng mình đã đặt ra cho mình một mục tiêu và mục tiêu ấy là “Sự sống dồi dào hơn”—ở đâu đó, ở đây, ở kia, và cuối cùng ở khắp nơi.
The spirit in man is undying; it forever endures, progressing from point to point and stage to stage upon the Path of Evolution, unfolding steadily and sequentially the divine attributes and aspects. This truth involves necessarily the recognition of two great natural laws; the Law of Rebirth and the Law of Cause and Effect. The churches in the West have refused officially to recognise the Law of Rebirth and have thereby wandered into a theological impasse and into a cul-de-sac from which there is no possible exit. The churches in the East have over-emphasised these laws so that a negative, acquiescent attitude to life and its processes, based on continuously renewed opportunity, controls the people. Christianity has emphasised immortality but has made eternal happiness dependent upon the acceptance of a theological dogma: Be a true professing Christian and live in a somewhat fatuous heaven or refuse to be an accepting Christian, or a negative professional Christian, and go to an impossible hell—a hell growing out of the theology of The Old Testament and its presentation of a God, full of hate and jealousy. Both concepts are today repudiated by all sane, sincere, thinking people. No one of any true reasoning power or with any true belief in a God of love accepts the heaven of the churchmen or has any desire to go there. Still less do they accept the “lake that burneth with fire and brimstone” (Rev. XIX.20) or the everlasting [147] torture to which a God of love is supposed to condemn all who do not believe in the theological interpretations of the Middle Ages, of the modern fundamentalists or of the unreasoning churchmen who seek—through doctrine, fear and threat—to keep people in line with the obsolete old teaching. The essential truth lies elsewhere. “Whatsoever a man soweth that shall he also reap” (Gal. VI.7) is a truth which needs re-emphasising. In these words, St. Paul phrases for us the ancient and true teaching of the Law of Cause and Effect, called in the Orient the Law of Karma.
Tinh thần trong con người là bất diệt; nó tồn tại mãi mãi, tiến từ điểm này sang điểm khác và từ giai đoạn này sang giai đoạn khác trên Con đường Tiến Hóa, khai mở một cách đều đặn và tuần tự các thuộc tính và phương diện thiêng liêng. Chân lý này tất yếu bao hàm sự công nhận hai định luật tự nhiên lớn; Định luật Tái Sinh và Định luật Nhân Quả. Các giáo hội ở phương Tây đã chính thức từ chối công nhận Định luật Tái Sinh và do đó đã lang thang vào một ngõ cụt thần học, một lối cụt không thể nào thoát ra được. Các giáo hội ở phương Đông đã nhấn mạnh quá mức các định luật này đến nỗi một thái độ thụ động, cam chịu đối với đời sống và các tiến trình của nó, dựa trên cơ hội liên tục được đổi mới, đã chi phối dân chúng. Cơ Đốc giáo đã nhấn mạnh tính bất tử nhưng lại làm cho hạnh phúc vĩnh cửu phụ thuộc vào việc chấp nhận một giáo điều thần học: hãy là một tín đồ Cơ Đốc chân chính công khai và sống trong một thiên đường có phần ngớ ngẩn, hoặc từ chối làm một tín đồ Cơ Đốc chấp nhận, hay một tín đồ Cơ Đốc chuyên nghiệp tiêu cực, và đi vào một địa ngục không thể có—một địa ngục phát sinh từ thần học của Cựu Ước và cách nó trình bày một Thượng đế đầy hận thù và ghen tuông. Cả hai quan niệm ấy ngày nay đều bị mọi người tỉnh táo, chân thành và biết suy nghĩ bác bỏ. Không ai có năng lực lý luận chân chính hay có niềm tin chân chính vào một Thượng đế của tình thương lại chấp nhận thiên đường của giới giáo sĩ hoặc có bất kỳ mong muốn nào được đến đó. Càng không ai chấp nhận “hồ lửa và diêm sinh cháy bừng” (Rev. XIX.20) hay sự tra tấn vĩnh viễn [147] mà một Thượng đế của tình thương được cho là sẽ kết án tất cả những ai không tin vào các cách diễn giải thần học của thời Trung Cổ, của những người theo chủ nghĩa Căn bản hiện đại, hay của những giáo sĩ phi lý trí đang tìm cách—qua giáo lý, nỗi sợ và sự đe dọa—giữ dân chúng đi theo giáo huấn cũ đã lỗi thời. Chân lý cốt yếu nằm ở nơi khác. “Ai gieo gì thì sẽ gặt nấy” (Gal. VI.7) là một chân lý cần được nhấn mạnh lại. Trong những lời này, Thánh Paul đã phát biểu cho chúng ta giáo huấn cổ xưa và chân thật của Định luật Nhân Quả, được phương Đông gọi là Định luật Karma.
The immortality of the human soul, and the innate ability of the spiritual, inner man to work out his own salvation under the Law of Rebirth, in response to the Law of Cause and Effect, are the underlying factors governing all human conduct and all human aspiration. These two laws no man can evade. They condition him at all times until he has achieved the desired and the designed perfection and can manifest on earth as a rightly functioning son of God.
Tính bất tử của linh hồn con người, và khả năng bẩm sinh của con người tinh thần bên trong trong việc tự hoàn thành sự cứu rỗi của mình dưới Định luật Tái Sinh, để đáp ứng với Định luật Nhân Quả, là những yếu tố nền tảng chi phối mọi hành vi và mọi khát vọng của con người. Không ai có thể né tránh hai định luật này. Chúng quy định y vào mọi lúc cho đến khi y đạt được sự hoàn hảo được mong muốn và được hoạch định, và có thể biểu hiện trên trần gian như một người con của Thượng đế đang hoạt động đúng đắn.
4. The Continuity of Revelation and the Divine Approaches.
4. Tính Liên Tục của Sự Mặc Khải và Những Sự Tiếp Cận Thiêng Liêng.
A fourth essential truth and one which clarifies all the planned work of the Christ is tied in with spiritual revelation and the need of man for God and of God for man. Never has Deity left Itself at any time without witness. Never has man demanded light that the light has not been forthcoming. Never has there been a time, cycle or world period when there was not the giving out of the teaching and spiritual help which human need demanded. Never did the hearts and minds of men go out towards God, but that divinity itself came nearer to [148] man. The history of mankind is, in reality, the history of man’s demand for light and for contact with God, and then the giving of light and the approach of God to man. Always the Saviour, the Avatar or the World Teacher issued forth from the secret place of the Most High and brought to man fresh revelation, fresh hope and a fresh incentive towards fuller spiritual living.
Chân lý cốt yếu thứ tư, và là chân lý làm sáng tỏ toàn bộ công việc đã được hoạch định của Đức Christ, gắn liền với sự mặc khải tinh thần và nhu cầu của con người đối với Thượng đế cũng như của Thượng đế đối với con người. Chưa bao giờ Thượng đế tính lại để chính Nó không có chứng nhân vào bất kỳ lúc nào. Chưa bao giờ con người đòi hỏi ánh sáng mà ánh sáng lại không đến. Chưa bao giờ có một thời kỳ, chu kỳ hay giai đoạn thế giới nào mà giáo huấn và sự trợ giúp tinh thần do nhu cầu con người đòi hỏi lại không được ban ra. Chưa bao giờ trái tim và trí tuệ con người hướng về Thượng đế mà thiên tính lại không đến gần [148] con người hơn. Lịch sử nhân loại, trên thực tế, là lịch sử về sự đòi hỏi ánh sáng và tiếp xúc với Thượng đế của con người, rồi sau đó là sự ban phát ánh sáng và sự tiếp cận của Thượng đế với con người. Luôn luôn Đấng Cứu Thế, Đấng Hoá Thân hay Đức Chưởng Giáo xuất hiện từ nơi bí mật của Đấng Tối Cao và mang đến cho con người sự mặc khải mới, niềm hy vọng mới và một động lực mới hướng tới đời sống tinh thần viên mãn hơn.
Some of these Approaches have been of a major nature, affecting humanity as a whole and some of them are of less importance, affecting only a relatively small part of mankind—a nation or a group. Those Who come as the Revealers of the love of God come from that spiritual centre to which the Christ gave the name “the Kingdom of God” (Matt. VI.33). Here dwell the “spirits of just men made perfect” (Heb. XII.23); here the spiritual Guides of the race are to be found and here the spiritual Executives of God’s plan live and work and oversee human and planetary affairs. It is called by many names by many people. It is spoken of as the Spiritual Hierarchy, as the Abode of Light, as the Centre where the Masters of the Wisdom are to be found, as the Great White Lodge. From it come those who act as Messengers of the Wisdom of God, Custodians of the truth as it is in Christ, and Those Whose task is to save the world, to impart the next revelation, and to demonstrate divinity. All the world Scriptures bear witness to the existence of this centre of spiritual energy. This spiritual Hierarchy has been steadily drawing nearer to humanity as men have become more conscious of divinity and more fitted for contact with the divine.
Một số Sự Tiếp Cận này có tính chất lớn lao, ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại, và một số khác ít quan trọng hơn, chỉ ảnh hưởng đến một phần tương đối nhỏ của loài người—một quốc gia hay một nhóm. Những Đấng đến như các Đấng Mặc Khải tình thương của Thượng đế đến từ trung tâm tinh thần mà Đức Christ đã gọi là “Thiên Giới” (Matt. VI.33). Ở đây cư ngụ “linh hồn của những người công chính đã được làm cho trọn lành” (Heb. XII.23); ở đây có thể tìm thấy các Đấng Hướng Dẫn tinh thần của nhân loại, và ở đây các Đấng Điều Hành tinh thần của Thiên Cơ của Thượng đế sống, làm việc và giám sát các công việc của nhân loại và hành tinh. Trung tâm này được nhiều người gọi bằng nhiều tên. Nó được nói đến như Thánh đoàn tinh thần, như Cõi Ánh Sáng, như Trung Tâm nơi các Chân sư Minh Triết hiện diện, như Thánh đoàn. Từ đó đi ra những Đấng hành động như các Sứ Giả của Minh Triết của Thượng đế, những Đấng Gìn Giữ chân lý như nó hiện hữu trong Đức Christ, và những Đấng có nhiệm vụ cứu thế giới, truyền đạt sự mặc khải kế tiếp, và biểu lộ thiên tính. Tất cả các kinh điển thế giới đều làm chứng cho sự hiện hữu của trung tâm năng lượng tinh thần này. Thánh đoàn tinh thần này đã đều đặn tiến gần hơn đến nhân loại khi con người trở nên ý thức hơn về thiên tính và thích hợp hơn cho sự tiếp xúc với thiêng liêng.
Another great Approach of divinity and another spiritual revelation are now possible. A new revelation is hovering over mankind and the One Who will bring it and implement it is drawing steadily nearer to us. What [149] this great approach will bring to mankind, we do not yet know. It will surely bring us as definite results as did all the earlier revelations and the missions of Those Who came in response to humanity’s earlier demands. The World War has purified mankind. A new heaven and a new earth are on their way. What does the orthodox theologian and churchman mean when he uses the words “a new heaven”? May these words not signify something entirely new and a new conception as to the world of spiritual realities? May not the Coming One bring us a new revelation as to the very nature of God Himself? Do we yet know all that can be known about God? If so, God is very limited. May it not be possible that our present ideas of God, as the Universal Mind, as Love and as Will may be enriched by some new idea or quality for which we have as yet no name or word, and of which we have no slightest understanding. Each of the three present concepts of divinity—of the Trinity—were entirely new when first sequentially presented to the mind or consciousness of man.
Một Sự Tiếp Cận lớn lao khác của thiên tính và một sự mặc khải tinh thần khác hiện nay đang có thể xảy ra. Một sự mặc khải mới đang lơ lửng trên nhân loại, và Đấng sẽ mang nó đến và thực hiện nó đang đều đặn tiến gần chúng ta hơn. Điều [149] mà sự tiếp cận lớn lao này sẽ mang đến cho nhân loại, chúng ta chưa biết. Chắc chắn nó sẽ mang đến cho chúng ta những kết quả xác định như các sự mặc khải trước đây và các sứ mệnh của những Đấng đã đến để đáp ứng những đòi hỏi trước kia của nhân loại. Thế chiến đã thanh lọc nhân loại. Một trời mới và một đất mới đang trên đường đến. Nhà thần học chính thống và giáo sĩ muốn nói gì khi dùng những lời “một trời mới”? Chẳng lẽ những lời ấy không thể hàm ý một điều gì hoàn toàn mới và một quan niệm mới về thế giới của các thực tại tinh thần sao? Chẳng lẽ Đấng Đang Đến không thể mang đến cho chúng ta một sự mặc khải mới về chính bản chất của Thượng đế sao? Chúng ta đã biết hết mọi điều có thể biết về Thượng đế chưa? Nếu rồi, thì Thượng đế rất hữu hạn. Chẳng lẽ không thể nào những ý tưởng hiện nay của chúng ta về Thượng đế, như Vũ Trụ Trí, như Tình thương và như Ý Chí, lại được làm phong phú thêm bởi một ý tưởng hay phẩm tính mới nào đó mà hiện nay chúng ta chưa có tên hay từ để gọi, và về điều đó chúng ta chưa có chút hiểu biết nào sao. Mỗi một trong ba quan niệm hiện tại về thiên tính—về Tam Vị—đều hoàn toàn mới mẻ khi lần đầu tiên được trình bày tuần tự cho trí tuệ hay tâm thức con người.
For some years now the spiritual Hierarchy of our planet has been drawing nearer to humanity and its approach is responsible for the great concepts of freedom which are so close to the hearts of men everywhere. The dream of brotherhood, of fellowship, of world cooperation and of a peace, based on right human relations, is becoming clearer in our minds. We are also visioning a new and vital world religion, a universal faith which will have its roots in the past, but which will make clear the new dawning beauty and the coming vital revelation.
Trong một số năm nay, Thánh đoàn tinh thần của hành tinh chúng ta đã tiến gần hơn đến nhân loại, và sự tiếp cận của nó chịu trách nhiệm cho những quan niệm lớn lao về tự do đang rất gần gũi với trái tim con người ở khắp nơi. Giấc mơ về tình huynh đệ, về tình bằng hữu, về sự hợp tác thế giới và về một nền hòa bình dựa trên những tương quan nhân loại đúng đắn đang trở nên rõ ràng hơn trong trí tuệ chúng ta. Chúng ta cũng đang hình dung một tôn giáo thế giới mới và sống động, một đức tin phổ quát sẽ có cội rễ trong quá khứ, nhưng sẽ làm sáng tỏ vẻ đẹp mới đang ló rạng và sự mặc khải sống động sắp đến.
Of one thing we can be sure, this approach will, in some way—deeply spiritual, yet wholly factual—prove the truth of the immanence of God. The churches have emphasised and exploited the extra-territoriality of Deity [150] and have posited the presence of a God Who is creating, sustaining and creatively active, but at the same time outside His Creation—an inscrutable onlooker. This type of transcendent Creator must be shown to be false and this doctrine must be countered by the manifestation of God in man, the hope of glory. It is this surely that the expected Approach will demonstrate; it will prove also the close relationship between God Transcendent and that in “Him we live and move and have our being,” because, “having pervaded this entire Universe with a fragment of Himself, He remains.” God is immanent in the forms of all created things; the glory which shall be revealed is the expression of that innate divinity in all its attributes and aspects, its qualities and powers, through the medium of humanity.
Có một điều chúng ta có thể chắc chắn, đó là sự tiếp cận này, bằng một cách nào đó—sâu sắc về tinh thần nhưng hoàn toàn thực tế—sẽ chứng minh chân lý về tính nội tại của Thượng đế. Các giáo hội đã nhấn mạnh và khai thác tính siêu ngoại của Thượng đế [150] và đã đặt định sự hiện diện của một Thượng đế đang sáng tạo, duy trì và hoạt động sáng tạo, nhưng đồng thời lại ở bên ngoài Sáng Tạo của Ngài—một Đấng quan sát bất khả tri. Kiểu Đấng Sáng Tạo siêu việt này phải được chứng minh là sai lầm và giáo lý này phải được đối trị bằng sự biểu lộ của Thượng đế trong con người, niềm hy vọng của vinh quang. Chắc chắn chính điều này mà Sự Tiếp Cận được mong đợi sẽ chứng minh; nó cũng sẽ chứng minh mối liên hệ mật thiết giữa Thượng đế Siêu Việt và điều rằng “trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu,” bởi vì, “sau khi thấm nhuần toàn thể Vũ Trụ này bằng một mảnh của Chính Ngài, Ngài vẫn còn đó.” Thượng đế nội tại trong các hình tướng của mọi vật được tạo thành; vinh quang sẽ được mặc khải là sự biểu lộ của thiên tính bẩm sinh ấy trong mọi thuộc tính và phương diện, mọi phẩm tính và quyền năng của nó, qua trung gian của nhân loại.
On the fact of God and of man’s relation to the divine, on the fact of immortality and of the continuity of divine revelation, and upon the fact of the constant emergence of Messengers from the divine centre, the new world religion will be based. To these facts must be added man’s assured, instinctive knowledge of the existence of the Path to God and of his ability to tread it, when the evolutionary process has brought him to the point of a fresh orientation to divinity and to the acceptance of the fact of God Transcendent and of God Immanent within every form of life.
Trên sự kiện về Thượng đế và về mối liên hệ của con người với thiêng liêng, trên sự kiện về tính bất tử và tính liên tục của sự mặc khải thiêng liêng, và trên sự kiện về sự xuất hiện không ngừng của các Sứ Giả từ trung tâm thiêng liêng, tôn giáo thế giới mới sẽ được xây dựng. Vào những sự kiện này phải được thêm vào tri thức chắc chắn, bản năng của con người về sự hiện hữu của Con Đường đến với Thượng đế và về khả năng bước đi trên đó của y, khi tiến trình tiến hoá đã đưa y đến điểm có một sự định hướng mới đối với thiên tính và đến sự chấp nhận sự kiện về Thượng đế Siêu Việt và Thượng đế Nội Tại trong mọi hình tướng sự sống.
These are the foundational truths upon which the world religion of the future will rest. Its keynote will be Divine Approach. “Draw near to Him and He will draw near to you” (James IV.8) is the great injunction, emanating in new and clear tones from Christ and the spiritual Hierarchy at this time.
Đó là những chân lý nền tảng mà tôn giáo thế giới tương lai sẽ dựa vào. Chủ âm của nó sẽ là Sự Tiếp Cận Thiêng Liêng. “Hãy đến gần Ngài và Ngài sẽ đến gần bạn” (James IV.8) là lời huấn thị lớn lao, đang phát ra bằng những âm điệu mới mẻ và rõ ràng từ Đức Christ và Thánh đoàn tinh thần vào lúc này.
The great theme of the new world religion will be the recognition of the many divine approaches and the continuity of revelation which each of them conveyed; the [151] task ahead of the spiritually minded people of the world today is to prepare humanity for the imminent and (perhaps) the greatest of all the Approaches. The method employed will be the scientific and intelligent use of Invocation and Evocation and the recognition of their tremendous potency.
Chủ đề lớn của tôn giáo thế giới mới sẽ là sự công nhận nhiều sự tiếp cận thiêng liêng và tính liên tục của sự mặc khải mà mỗi sự tiếp cận ấy đã chuyển tải; [151] nhiệm vụ trước mắt của những người có đầu óc tinh thần trên thế giới ngày nay là chuẩn bị nhân loại cho Sự Tiếp Cận sắp xảy ra và (có lẽ) lớn lao nhất trong tất cả các Sự Tiếp Cận. Phương pháp được sử dụng sẽ là việc dùng một cách khoa học và thông minh Khẩn Cầu và Gợi Lên, cùng với sự công nhận tiềm năng to lớn của chúng.
Man invokes divine Approach in various ways: by means of the inchoate, voiceless appeal or invocative cry of the masses and also by the planned, defined invocation of the spiritually oriented aspirants, the intelligently convinced worker, disciple and initiate—by all, in fact, who form the New Group of World Servers.
Con người khẩn cầu Sự Tiếp Cận thiêng liêng bằng nhiều cách khác nhau: bằng lời kêu gọi còn mơ hồ, không lời, hay tiếng kêu khẩn cầu của quần chúng, và cũng bằng sự khẩn cầu có kế hoạch, xác định của những người chí nguyện được định hướng tinh thần, của người hoạt động được thuyết phục bằng trí tuệ, của đệ tử và điểm đạo đồ—thực ra là của tất cả những ai tạo thành Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.
The science of invocation and evocation will take the place of what we now call “prayer” and “worship.” Be not disturbed by the use of the word “science.” It is not the cold and heartless intellectual thing so oft depicted. It is in reality the intelligent organisation of spiritual energy and of the forces of love, and these, when effective, will evoke the response of spiritual Beings Who can again walk openly among men, and thus establish a close relation and a constant communication between humanity and the spiritual Hierarchy.
Khoa học về khẩn cầu và gợi lên sẽ thay thế điều mà hiện nay chúng ta gọi là “cầu nguyện” và “thờ phụng.” Đừng bối rối vì việc dùng từ “khoa học.” Nó không phải là điều lạnh lùng và vô cảm của trí tuệ như thường được mô tả. Thực ra, nó là sự tổ chức thông minh của năng lượng tinh thần và của các mãnh lực của tình thương, và những điều này, khi hữu hiệu, sẽ gợi lên sự đáp ứng của các Đấng tinh thần có thể lại công khai bước đi giữa loài người, và như thế thiết lập một mối liên hệ mật thiết và một sự giao tiếp thường xuyên giữa nhân loại và Thánh đoàn tinh thần.
In order to clarify, it might be said that Invocation is of three kinds: there is, as stated above, the massed demand, unconsciously voiced, and the crying appeal, wrung from the hearts of men in all times of crisis such as the present. This invocative cry rises ceaselessly from all men living in the midst of disaster; it is addressed to that power outside themselves which they feel can and should come to their help in their moment of extremity. This great and wordless invocation is rising everywhere today. Then there is the invocational spirit, evidenced by sincere men as they participate in the rites of their religion and take advantage of the opportunity of united worship [152] and prayer to lay their demands for help before God. This group, added to the mass of men, creates a huge body of invocative applicants and at this time, their massed intent is in great evidence and their invocation is rising to the Most High. Then, lastly there are the trained disciples and aspirants of the world who use certain forms of words, certain carefully defined invocations and who—as they do this—focus the invocative cry and the invocative appeal of the other two groups, giving it right direction and power. All these three groups are, consciously or unconsciously, swinging into activity at this time and their united effort guarantees a resultant evocation.
Để làm sáng tỏ, có thể nói rằng Khẩn Cầu có ba loại: như đã nói ở trên, có sự đòi hỏi tập thể, được phát ra một cách vô thức, và lời kêu cứu bật ra từ trái tim con người trong mọi thời kỳ khủng hoảng như hiện nay. Tiếng kêu khẩn cầu này không ngừng dâng lên từ tất cả những ai đang sống giữa tai họa; nó được hướng đến quyền năng ở ngoài chính họ mà họ cảm thấy có thể và nên đến giúp họ trong lúc cùng cực. Sự khẩn cầu lớn lao và không lời này ngày nay đang dâng lên ở khắp nơi. Kế đó là tinh thần khẩn cầu, được biểu lộ bởi những người chân thành khi họ tham dự các nghi lễ tôn giáo của mình và tận dụng cơ hội thờ phụng [152] và cầu nguyện chung để đặt những yêu cầu xin trợ giúp của họ trước Thượng đế. Nhóm này, cộng thêm vào quần chúng, tạo nên một khối lượng to lớn những người khẩn cầu, và vào lúc này, ý hướng tập thể của họ đang biểu lộ rất mạnh mẽ và sự khẩn cầu của họ đang dâng lên Đấng Tối Cao. Sau cùng là các đệ tử và người chí nguyện đã được huấn luyện của thế giới, những người sử dụng những hình thức ngôn từ nhất định, những lời khẩn cầu được xác định cẩn thận, và khi làm như vậy, họ tập trung tiếng kêu khẩn cầu và lời cầu xin khẩn cầu của hai nhóm kia, ban cho nó đúng hướng và quyền năng. Cả ba nhóm này, một cách hữu thức hay vô thức, đều đang chuyển vào hoạt động trong lúc này và nỗ lực hợp nhất của họ bảo đảm sự gợi lên đáp ứng như kết quả.
This new invocative work will be the keynote of the coming world religion and will fall into two parts. There will be the invocative work of the masses of the people, everywhere, trained by the spiritually minded people of the world (working in the churches whenever possible under an enlightened clergy) to accept the fact of the approaching spiritual energies, focussed through Christ and His spiritual Hierarchy, and trained also to voice their demand for light, liberation and understanding. There will also be the skilled work of invocation as practised by those who have trained their minds through right meditation, who know the potency of formulas, mantrams and invocations and who work consciously. They will increasingly use certain great formulas of words which will later be given to the race, just as the Lord’s Prayer was given by the Christ, and as the New Invocation has been given out for use at this time by the Hierarchy.
Công việc khẩn cầu mới này sẽ là chủ âm của tôn giáo thế giới sắp đến và sẽ chia thành hai phần. Sẽ có công việc khẩn cầu của quần chúng ở khắp nơi, được những người có đầu óc tinh thần trên thế giới huấn luyện (làm việc trong các giáo hội bất cứ khi nào có thể dưới sự hướng dẫn của hàng giáo sĩ được soi sáng) để chấp nhận sự kiện về các năng lượng tinh thần đang tiếp cận, được tập trung qua Đức Christ và Thánh đoàn tinh thần của Ngài, và cũng được huấn luyện để cất lên yêu cầu của họ về ánh sáng, giải thoát và thấu hiểu. Cũng sẽ có công việc khẩn cầu thành thạo như được thực hành bởi những người đã huấn luyện trí tuệ mình qua tham thiền đúng đắn, những người biết tiềm năng của các công thức, mantram và lời khẩn cầu, và làm việc một cách hữu thức. Họ sẽ ngày càng sử dụng một số công thức ngôn từ lớn lao mà về sau sẽ được ban cho nhân loại, cũng như Kinh Lạy Cha đã được Đức Christ ban ra, và như Đại Khấn Nguyện đã được Thánh đoàn ban ra để sử dụng vào lúc này.
This new religious science for which prayer, meditation and ritual have prepared humanity, will train its people to present—at stated periods throughout the year—the voiced demand of the people of the world for relationship [153] with God and for a closer spiritual relation to each other. This work, when rightly carried forward, will evoke response from the waiting Hierarchy and from its Head, the Christ. Through this response, the belief of the masses will gradually be changed into the conviction of the knowers. In this way, the mass of men will be transformed and spiritualised, and the two great divine centres of energy or groups—the Hierarchy and Humanity itself—will begin to work in complete at-one-ment and unity. Then the Kingdom of God will indeed and in truth be functioning on earth.
Khoa học tôn giáo mới này, mà cầu nguyện, tham thiền và nghi lễ đã chuẩn bị cho nhân loại, sẽ huấn luyện con người của nó trình bày—vào những thời kỳ nhất định trong năm—yêu cầu được cất thành lời của dân chúng thế giới về mối liên hệ [153] với Thượng đế và về một mối liên hệ tinh thần gần gũi hơn với nhau. Công việc này, khi được tiến hành đúng đắn, sẽ gợi lên sự đáp ứng từ Thánh đoàn đang chờ đợi và từ Đấng Đứng Đầu của Thánh đoàn, Đức Christ. Qua sự đáp ứng này, niềm tin của quần chúng sẽ dần dần được chuyển thành sự xác tín của các thức giả. Theo cách đó, quần chúng sẽ được chuyển đổi và tinh thần hóa, và hai trung tâm năng lượng thiêng liêng lớn lao hay hai nhóm—Thánh đoàn và chính Nhân loại—sẽ bắt đầu làm việc trong sự hợp nhất và nhất thể hoàn toàn. Khi ấy Thiên Giới quả thật và thực sự sẽ hoạt động trên trần gian.
It will be apparent to you that it is only possible to indicate the broad general outlines of the new world religion. The expansion of the human consciousness which will take place as a result of the coming Great Approach will enable humanity to grasp not only its relation to the spiritual life of our planet, the “One in Whom we live and move and have our being,” but will also give a glimpse of the relation of our planet to the circle of planetary lives, moving within the orbit of the Sun and the still greater circle of spiritual influences which contact our system as it pursues its orbit in the Heavens (the twelve constellations of the zodiac). Astronomical and astrological investigation has demonstrated this relationship and the influences exerted but there is still speculation and much foolish claiming and interpretation. Yet the churches have ever recognized this and the Bible has testified to it. “The stars in their courses fought against Sisera” (Judges V.20). “Who can withstand the sweet influences of the Pleiades?” (Job XXXVIII.31). Many other passages bear out this contention of the Knowers. Many church festivals are fixed by reference to the moon or a zodiacal constellation. Investigation will prove this to be the case and when the ritual of the new world religion is universally [154] established, this will be one of the important factors considered.
Bạn sẽ thấy rõ rằng chỉ có thể phác họa những nét đại cương rộng lớn của tôn giáo thế giới mới. Sự mở rộng của tâm thức con người sẽ diễn ra như một kết quả của Sự Tiếp Cận Vĩ Đại sắp đến sẽ giúp nhân loại nắm bắt không chỉ mối liên hệ của mình với đời sống tinh thần của hành tinh chúng ta, “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu,” mà còn cho một thoáng thấy về mối liên hệ của hành tinh chúng ta với vòng tròn các sự sống hành tinh, đang chuyển động trong quỹ đạo của Mặt Trời, và với vòng tròn còn lớn hơn của các ảnh hưởng tinh thần tiếp xúc với thái dương hệ của chúng ta khi nó di chuyển theo quỹ đạo của mình trong các cõi Trời (mười hai chòm sao hoàng đạo). Nghiên cứu thiên văn và chiêm tinh đã chứng minh mối liên hệ này và các ảnh hưởng được tác động, nhưng vẫn còn sự suy đoán và nhiều lời khẳng định cùng diễn giải ngu xuẩn. Tuy nhiên, các giáo hội từ lâu vẫn đã công nhận điều này và Kinh Thánh đã làm chứng cho nó. “Các ngôi sao trong đường đi của chúng đã chiến đấu chống Sisera” (Judges V.20). “Ai có thể chống lại những ảnh hưởng dịu ngọt của chòm Pleiades?” (Job XXXVIII.31). Nhiều đoạn khác cũng xác nhận lập luận này của các thức giả. Nhiều lễ hội của giáo hội được ấn định theo Mặt Trăng hay một chòm sao hoàng đạo. Sự khảo cứu sẽ chứng minh điều này là đúng, và khi nghi lễ của tôn giáo thế giới mới được thiết lập [154] một cách phổ quát, đây sẽ là một trong những yếu tố quan trọng được xét đến.
The establishing of certain major festivals in relation to the Moon and in a lesser degree to the zodiac will bring about a strengthening of the spirit of invocation and the resultant inflow of evoked influences. The truth lying behind all invocation is based upon the power of thought, particularly in its telepathic nature, rapport and aspect. The unified, invocative thought of the masses and the focussed, directed thought of the New Group of World Servers constitute an outgoing stream of energy. This will reach telepathically those spiritual Beings Who are sensitive and responsive to such impacts. Their evoked response, sent out as spiritual energy, will in turn reach humanity after having been stepped down into thought energy and in that form will make its due impact upon the minds of men, convincing them and carrying inspiration and revelation. Thus has it ever been in the history of the spiritual unfoldment of the world and the procedure followed in writing the world Scriptures.
Việc thiết lập một số lễ hội chính yếu liên hệ với Mặt Trăng và ở mức độ thấp hơn với hoàng đạo sẽ mang lại sự tăng cường tinh thần khẩn cầu và dòng tuôn vào của các ảnh hưởng được gợi lên như kết quả. Chân lý nằm sau mọi sự khẩn cầu được đặt nền trên quyền năng của tư tưởng, đặc biệt trong bản chất, sự tương giao và phương diện viễn cảm của nó. Tư tưởng khẩn cầu hợp nhất của quần chúng và tư tưởng tập trung, có định hướng của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian tạo thành một dòng năng lượng tuôn ra. Dòng này sẽ tiếp cận bằng viễn cảm những Đấng tinh thần nhạy cảm và đáp ứng với những tác động như thế. Sự đáp ứng được gợi lên của Các Ngài, được gửi ra như năng lượng tinh thần, đến lượt nó sẽ đến với nhân loại sau khi đã được hạ xuống thành năng lượng tư tưởng, và dưới hình thức đó sẽ tạo tác động thích đáng lên trí tuệ con người, thuyết phục họ và mang đến cảm hứng cùng sự mặc khải. Trong lịch sử sự khai mở tinh thần của thế giới luôn luôn là như vậy, và đó là tiến trình đã được theo trong việc viết nên các kinh điển thế giới.
Secondly, the establishing of a certain uniformity in the world religious rituals will aid men everywhere to strengthen each other’s work and enhance powerfully the thought currents directed to the waiting spiritual Lives. At present, the Christian religion has its great festivals, the Buddhist keeps his different set spiritual events, and the Hindu has still another list of holy days. In the future world, when organised, all men of spiritual inclination and intention everywhere will keep the same holy days. This will bring about a pooling of spiritual resources, and a united spiritual effort, plus a simultaneous spiritual invocation. The potency of this will be apparent.
Thứ hai, việc thiết lập một mức độ đồng nhất nào đó trong các nghi lễ tôn giáo thế giới sẽ giúp con người ở khắp nơi tăng cường công việc của nhau và làm mạnh lên một cách đầy quyền năng các dòng tư tưởng hướng đến các Sự Sống tinh thần đang chờ đợi. Hiện nay, tôn giáo Cơ Đốc có các lễ hội lớn của mình, Phật giáo giữ một hệ thống biến cố tinh thần khác, và Ấn giáo lại có một danh sách ngày thánh khác nữa. Trong thế giới tương lai, khi đã được tổ chức, tất cả những người có khuynh hướng và ý hướng tinh thần ở khắp nơi sẽ giữ cùng những ngày thánh như nhau. Điều này sẽ mang lại sự gom chung các nguồn lực tinh thần, một nỗ lực tinh thần hợp nhất, cộng với một sự khẩn cầu tinh thần đồng thời. Tiềm năng của điều này sẽ hiển nhiên.
Let me indicate the possibilities of such spiritual events, and attempt to prophesy the nature of the coming worldwide [155] Festivals. There will be three such major Festivals each year, concentrated in three consecutive months and leading, therefore, to a prolonged annual spiritual effort which will affect the remainder of the year. These will be:
Hãy để tôi chỉ ra những khả năng của các biến cố tinh thần như thế, và thử tiên đoán bản chất của các Lễ Hội [155] toàn cầu sắp đến. Mỗi năm sẽ có ba Lễ Hội chính yếu như vậy, tập trung trong ba tháng liên tiếp và do đó dẫn đến một nỗ lực tinh thần hằng năm kéo dài, sẽ ảnh hưởng đến phần còn lại của năm. Đó sẽ là:
1. The Festival of Easter. This is the Festival of the risen, living Christ, the Teacher of all men and the Head of the Spiritual Hierarchy. He is the Expression of the love of God. On this day the spiritual Hierarchy, which He guides and directs, will be recognised and the nature of God’s love will be emphasised. This Festival is determined always by the date of the first Full Moon of spring and is the great Western and Christian Festival.
1. Lễ Hội Phục Sinh. Đây là Lễ Hội của Đức Christ phục sinh và hằng sống, Huấn sư của mọi người và là Đấng Đứng Đầu của Thánh đoàn tinh thần. Ngài là Biểu Hiện của tình thương của Thượng đế. Vào ngày này, Thánh đoàn tinh thần mà Ngài hướng dẫn và chỉ đạo sẽ được công nhận, và bản chất của tình thương của Thượng đế sẽ được nhấn mạnh. Lễ Hội này luôn luôn được xác định theo ngày của kỳ Trăng Tròn đầu tiên của mùa xuân và là Lễ Hội lớn của phương Tây và của Cơ Đốc giáo.
2. The Festival of Wesak. This is the Festival of the Buddha, the spiritual Intermediary between the highest spiritual centre, Shamballa, and the Hierarchy. The Buddha is the expression of the wisdom of God, the Embodiment of Light and the Indicator of the divine purpose. This will be fixed annually in relation to the Full Moon of May, as is at present the case. It is the great Eastern Festival.
2. Lễ Hội Wesak. Đây là Lễ Hội của Đức Phật, Đấng Trung Gian tinh thần giữa trung tâm tinh thần cao nhất, Shamballa, và Thánh đoàn. Đức Phật là biểu hiện của minh triết của Thượng đế, là Hiện Thân của Ánh Sáng và là Đấng Chỉ Báo Thiên Ý. Lễ Hội này sẽ được ấn định hằng năm theo kỳ Trăng Tròn tháng Năm, như hiện nay vẫn vậy. Đây là Lễ Hội lớn của phương Đông.
3. The Festival of Goodwill. This will be the Festival of the spirit of humanity—aspiring towards God, seeking conformity with the will of God and dedicated to the expression of right human relation. This will be fixed annually in relation to the Full Moon of June. It will be a day whereon the spiritual and divine nature of mankind will be recognised. On this Festival for two thousand years the Christ has represented humanity and has [156] stood before the Hierarchy and in the sight of Shamballa as the God-Man, the leader of His people and “the Eldest in a great family of brothers” (Romans VIII.29). Each year at that time He has preached the last sermon of the Buddha, before the assembled Hierarchy. This will, therefore, be a festival of deep invocation and appeal, of a basic aspiration towards fellowship, of human and spiritual unity, and will represent the effect in the human consciousness of the work of the Buddha and of the Christ.
3. Lễ Hội Thiện Chí. Đây sẽ là Lễ Hội của tinh thần nhân loại—khát vọng hướng về Thượng đế, tìm cách phù hợp với Ý Chí của Thượng Đế và hiến mình cho sự biểu lộ những tương quan nhân loại đúng đắn. Lễ Hội này sẽ được ấn định hằng năm theo Trăng Tròn tháng Sáu. Đây sẽ là ngày mà bản chất tinh thần và thiêng liêng của nhân loại sẽ được nhìn nhận. Trong Lễ Hội này suốt hai ngàn năm, Đức Christ đã đại diện cho nhân loại và đã [156] đứng trước Thánh Đoàn và trước mắt Shamballa như Thượng Đế-Người, vị lãnh đạo dân của Ngài và “Người Anh Cả trong một đại gia đình huynh đệ” (La Mã VIII.29). Mỗi năm vào thời điểm đó, Ngài đã thuyết bài pháp cuối cùng của Đức Phật trước Thánh Đoàn tề tựu. Vì vậy, đây sẽ là một lễ hội của sự khẩn cầu và thỉnh nguyện sâu xa, của một khát vọng căn bản hướng tới tình huynh đệ, của sự hợp nhất nhân loại và tinh thần, và sẽ biểu thị hiệu quả trong tâm thức nhân loại của công việc của Đức Phật và của Đức Christ.
These three Festivals are already being kept throughout the world, though they are not as yet related to each other and are a part of the unified spiritual Approach of humanity. The time is coming when all three Festivals will be kept throughout the world and by their means a great spiritual unity will be achieved and the effects of the Great Approach, so close to us at this time, will be stabilised by the united invocation of humanity throughout the planet.
Ba Lễ Hội này đã được cử hành trên khắp thế giới, dù chúng chưa liên hệ với nhau, chúng vẫn là một phần của sự Tiếp Cận tinh thần hợp nhất của nhân loại. Thời điểm đang đến khi cả ba Lễ Hội sẽ được cử hành trên khắp thế giới và nhờ đó một sự hợp nhất tinh thần vĩ đại sẽ được thành tựu, và các hiệu quả của Sự Tiếp Cận Vĩ Đại, hiện đang rất gần chúng ta vào lúc này, sẽ được ổn định nhờ sự khẩn cầu hợp nhất của nhân loại trên khắp hành tinh.
The remaining full moons will constitute lesser festivals but will be recognised to be also of vital importance. They will establish the divine attributes in the consciousness of man, just as the major festivals establish the three divine aspects. These aspects and qualities will be arrived at and determined by a close study of the nature of a particular constellation or constellations influencing those months. For instance, Capricorn will call attention to the first initiation, the birth of the Christ in the cave of the heart, and indicate the training needed to bring about that great spiritual event in the life of the individual man. I give this one instance to you in order to indicate the possibilities for spiritual unfoldment that [157] could be given through an understanding of these influences and in order to revivify the ancient faiths by expanding them into their larger undying relationships.
Những kỳ trăng tròn còn lại sẽ tạo thành các lễ hội nhỏ hơn nhưng cũng sẽ được nhìn nhận là có tầm quan trọng thiết yếu. Chúng sẽ thiết lập các thuộc tính thiêng liêng trong tâm thức con người, cũng như các lễ hội lớn thiết lập ba phương diện thiêng liêng. Những phương diện và phẩm tính này sẽ đạt tới và được xác định nhờ sự nghiên cứu kỹ lưỡng bản chất của một chòm sao hay các chòm sao đặc biệt ảnh hưởng đến những tháng đó. Chẳng hạn, Ma Kết sẽ hướng sự chú ý đến lần điểm đạo thứ nhất, sự giáng sinh của Đức Christ trong hang động của tim, và chỉ ra sự huấn luyện cần thiết để đem lại biến cố tinh thần lớn lao ấy trong đời sống của con người cá nhân. Tôi đưa ra ví dụ này cho bạn để chỉ ra những khả năng khai mở tinh thần mà [157] có thể được trao ban qua sự thấu hiểu các ảnh hưởng này và để làm sống lại các tín ngưỡng cổ xưa bằng cách mở rộng chúng vào những tương quan lớn lao bất diệt của chúng.
Thus, the twelve annual festivals will constitute a revelation of divinity. They will present a means of bringing about relationship, first of all, during three months with the three great spiritual Centres, the three expressions of the divine Trinity. The minor festivals will emphasise the inter-relation of the Whole, thus lifting the divine presentation out of the individual and the personal, into that of the universal divine Purpose; the relationship of the Whole to the part and of the part to that Whole will be thereby fully expressed.
Như vậy, mười hai lễ hội hằng năm sẽ tạo thành một sự mặc khải về thiên tính. Chúng sẽ trình bày một phương tiện để tạo ra tương quan, trước hết, trong ba tháng với ba Trung Tâm tinh thần vĩ đại, ba biểu hiện của Tam Vị thiêng liêng. Các lễ hội nhỏ sẽ nhấn mạnh sự tương liên của Toàn Thể, nhờ đó nâng sự trình bày thiêng liêng ra khỏi cái cá nhân và riêng tư, vào trong Thiên Ý phổ quát; tương quan của Toàn Thể với bộ phận và của bộ phận với Toàn Thể ấy nhờ đó sẽ được biểu lộ đầy đủ.
Humanity will, therefore, invoke the spiritual power of the Kingdom of God, the Hierarchy; the Hierarchy will respond, and God’s plans will then be worked out on earth. The Hierarchy, on a higher turn of the spiral will invoke the “Centre where the Will of God is known,” thus invoking the Purpose of God. Thus will the Will of God be implemented by Love and manifested intelligently; for this mankind is ready, and for this the Earth waits.
Vì vậy, nhân loại sẽ khẩn cầu mãnh lực tinh thần của Thiên Giới, Thánh Đoàn; Thánh Đoàn sẽ đáp ứng, và các kế hoạch của Thượng đế khi đó sẽ được thực hiện trên Trái Đất. Thánh Đoàn, trên một vòng xoắn cao hơn, sẽ khẩn cầu “Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế,” nhờ đó khẩn cầu Thiên Ý của Thượng đế. Như vậy Ý Chí của Thượng Đế sẽ được thực thi bằng Tình thương và được biểu lộ một cách thông minh; nhân loại đã sẵn sàng cho điều này, và Trái Đất đang chờ đợi điều này.
To sum up therefore: on the basis of the fundamental truth already recognised the new world religion will be built.
Vì vậy, để tóm lại: trên cơ sở chân lý căn bản đã được nhìn nhận, tôn giáo thế giới mới sẽ được xây dựng.
The definition of religion which will in the future prove of greater accuracy than any yet formulated by the theologians might be expressed as follows:
Định nghĩa về tôn giáo mà trong tương lai sẽ chứng tỏ chính xác hơn bất kỳ định nghĩa nào mà các nhà thần học từng nêu ra có thể được diễn đạt như sau:
Religion is the name given to the invocative appeal of humanity and the evocative response of the greater Life to that cry.
Tôn giáo là tên gọi dành cho lời kêu cầu khẩn nguyện của nhân loại và sự đáp ứng được gợi lên từ Sự sống lớn lao hơn đối với tiếng kêu ấy.
It is, in fact, the recognition by the part of its relationship [158] to the Whole, plus a constantly growing demand for increased awareness of that relation; it draws forth the recognition of the Whole that the demand has been made. It is the impact of the vibration of humanity—oriented specifically to the Great Life of which it feels itself a part—upon that Life and the responsive impact of that “All-surrounding Love” upon the lesser vibration. It is only now that the impact of the human vibration can dimly be sensed in Shamballa; hitherto its most potent activity has only reached the Hierarchy. Religion, the science of invocation and evocation as far as humanity is concerned, is the approach (in the coming New Age) of a mentally polarised humanity. In the past, religion has had an entirely emotional appeal. It concerned the relation of the individual to the world of reality, of the seeking aspirant to the sought-for divinity. Its technique was the process of fitting oneself for the revelation of that divinity, of achieving a perfection which would warrant that revelation, and of developing a sensitivity and a loving response to the ideal Man, summarised, for present day humanity, in the Christ. Christ came to end the cycle of this emotional approach which had existed since Atlantean days; He demonstrated in Himself the visioned perfection and then presented to humanity an example—in full manifestation—of every possibility latent in man up to that time. The achieving of the perfection of the Christ-consciousness became the emphasised goal of humanity.
Thực ra, đó là sự nhìn nhận của bộ phận về tương quan [158] của nó với Toàn Thể, cộng với một đòi hỏi không ngừng tăng trưởng về sự nhận biết sâu hơn đối với tương quan ấy; nó rút ra sự nhìn nhận của Toàn Thể rằng đòi hỏi đó đã được đưa ra. Đó là sự tác động của rung động của nhân loại—được định hướng đặc biệt tới Sự Sống Vĩ Đại mà nhân loại cảm thấy mình là một phần—lên Sự Sống ấy và sự tác động đáp ứng của “Tình Thương Bao Trùm Tất Cả” ấy lên rung động nhỏ hơn. Chỉ đến nay sự tác động của rung động nhân loại mới có thể được cảm nhận mơ hồ tại Shamballa; cho đến nay hoạt động mãnh liệt nhất của nó chỉ mới vươn tới Thánh Đoàn. Tôn giáo, khoa học về Khẩn Cầu và Gợi Lên xét theo phương diện nhân loại, là sự tiếp cận (trong Kỷ Nguyên Mới đang đến) của một nhân loại phân cực trí tuệ. Trong quá khứ, tôn giáo đã có một sức kêu gọi hoàn toàn cảm xúc. Nó liên quan đến tương quan của cá nhân với thế giới thực tại, của người chí nguyện đang tìm kiếm với thiên tính được tìm cầu. Kỹ thuật của nó là tiến trình tự làm cho mình thích hợp với sự mặc khải của thiên tính ấy, đạt tới một sự hoàn thiện có thể bảo đảm cho sự mặc khải đó, và phát triển một sự nhạy cảm cùng một đáp ứng đầy bác ái đối với Con Người lý tưởng, được tóm kết, đối với nhân loại ngày nay, trong Đức Christ. Đức Christ đã đến để chấm dứt chu kỳ của lối tiếp cận cảm xúc này vốn đã tồn tại từ thời Atlantis; trong chính Ngài, Ngài đã chứng minh sự hoàn thiện được linh thị và rồi trình bày cho nhân loại một tấm gương—trong sự biểu lộ trọn vẹn—về mọi khả năng tiềm tàng trong con người cho đến thời điểm đó. Việc đạt được sự hoàn thiện của tâm thức Christ đã trở thành mục tiêu được nhấn mạnh của nhân loại.
Today, slowly, the concept of a world religion and the need for its emergence are widely desired and worked for. The fusion of faiths is now a field for discussion. Workers in the field of religion will formulate the universal platform of the new world religion. It is a work of loving synthesis and will emphasise the unity and the fellowship of the spirit. This group is, in a pronounced sense, a [159] channel for the activities of the Christ, the world Teacher. The platform of the new world religion will be built by many groups, working under the inspiration of the Christ.
Ngày nay, chậm rãi, khái niệm về một tôn giáo thế giới và nhu cầu cho sự xuất hiện của nó đang được mong muốn rộng rãi và được nỗ lực thực hiện. Sự dung hợp các tín ngưỡng hiện là một lĩnh vực thảo luận. Những người hoạt động trong lĩnh vực tôn giáo sẽ hình thành nền tảng phổ quát của tôn giáo thế giới mới. Đây là một công việc của sự tổng hợp đầy bác ái và sẽ nhấn mạnh sự hợp nhất và tình huynh đệ của tinh thần. Nhóm này, theo một ý nghĩa rõ rệt, là một [159] kênh cho các hoạt động của Đức Christ, Đức Chưởng Giáo. Nền tảng của tôn giáo thế giới mới sẽ được xây dựng bởi nhiều nhóm, hoạt động dưới cảm hứng của Đức Christ.
Churchmen need to remember that the human spirit is greater than all the churches and greater than their teaching. In the long run, that human spirit will defeat them and proceed triumphantly into the Kingdom of God, leaving them far behind unless they enter as a humble part of the mass of men. Nothing under heaven can arrest the progress of the human soul on its long pilgrimage from darkness to light, from the unreal to the real, from death to immortality and from ignorance to wisdom. If the great organised religious groups of churches in every land, and composing all faiths do not offer spiritual guidance and help, humanity will find another way. Nothing can keep the spirit of man from God.
Những người trong giáo hội cần nhớ rằng tinh thần con người lớn lao hơn mọi giáo hội và lớn lao hơn giáo huấn của họ. Rốt cuộc, tinh thần con người ấy sẽ vượt thắng họ và tiến bước khải hoàn vào Thiên Giới, bỏ họ lại rất xa phía sau trừ phi họ bước vào như một phần khiêm nhường của quần chúng nhân loại. Không gì dưới bầu trời có thể ngăn chặn sự tiến bộ của linh hồn con người trên cuộc hành hương dài của nó từ bóng tối đến ánh sáng, từ cái không thực đến cái thực, từ cái chết đến sự bất tử và từ vô minh đến minh triết. Nếu các nhóm tôn giáo có tổ chức lớn của các giáo hội ở mọi quốc gia, bao gồm mọi tín ngưỡng, không cống hiến sự hướng dẫn và trợ giúp tinh thần, nhân loại sẽ tìm ra một con đường khác. Không gì có thể giữ tinh thần con người xa khỏi Thượng đế.
The churches in the West need also to realise that basically there is only one Church, but it is not necessarily only the orthodox Christian institution. God works in many ways, through many faiths and religious agencies; this is one reason for the elimination of non-essential doctrines. By the emphasising of the essential doctrines and in their union will the fullness of truth be revealed. This, the new world religion will do and its implementation will proceed apace, after the reappearance of the Christ.
Các giáo hội ở phương Tây cũng cần nhận ra rằng về căn bản chỉ có một Giáo Hội duy nhất, nhưng không nhất thiết chỉ là định chế Cơ Đốc giáo chính thống. Thượng đế hoạt động theo nhiều cách, qua nhiều tín ngưỡng và cơ quan tôn giáo; đây là một lý do cho việc loại bỏ các giáo điều không thiết yếu. Chính bằng cách nhấn mạnh các giáo lý cốt yếu và trong sự hợp nhất của chúng mà sự viên mãn của chân lý sẽ được mặc khải. Tôn giáo thế giới mới sẽ làm điều này và việc thực hiện nó sẽ tiến triển nhanh chóng sau sự tái lâm của Đức Christ.
CHAPTER SEVEN - PREPARATION FOR THE REAPPEARANCE OF THE CHRIST — CHƯƠNG BẢY - CHUẨN BỊ CHO SỰ TÁI LÂM CỦA ĐỨC CHRIST
The Needed Preparation
Sự Chuẩn Bị Cần Thiết
The Work of the New Group of World Servers
Công Việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian
[160]
[160]
If the general premise and theme of all that has been here written is accepted, the question necessarily arises: What should be done to hasten this reappearance of the Christ? and also: Is there anything that the individual can do, in the place where he is and with the equipment, opportunities and assets of which he stands possessed? The opportunity is so great and the need for definite and explicit spiritual help is so demanding that—whether we like it or not—we are faced with a challenge. We are confronted with the choice of acceptance and consequent responsibility, or with rejection of the idea and the consequent realisation that we are not concerned. What we decide, however, in this time and period, will definitely affect the remainder of our life activity, for we shall either throw what weight or aid we can on the side of the invocation of the Christ and in preparation for His return, or we shall join the ranks of those who regard the whole proposition as an appeal to the gullible and the credulous, and possibly work to prevent men being deceived and taken in by what we have decided is a fraud. Herein lies our challenge. It will take all that we have of a sense of values and all that we can give to a specialised intuitive research to meet it. We may then realise that this promised reappearance is in line with general religious [161] belief and the major hope left in the minds of men which can bring true relief to suffering humanity.
Nếu tiền đề và chủ đề tổng quát của tất cả những gì đã được viết ở đây được chấp nhận, thì tất yếu nảy sinh câu hỏi: Cần phải làm gì để thúc đẩy sự tái lâm này của Đức Christ? và thêm nữa: Có điều gì mà cá nhân có thể làm, tại nơi y đang ở và với các phương tiện, cơ hội và tài sản mà y đang có không? Cơ hội lớn lao đến mức và nhu cầu về sự trợ giúp tinh thần rõ rệt và minh xác lại cấp bách đến mức—dù chúng ta thích hay không—chúng ta đang đối diện với một thách thức. Chúng ta đang đứng trước sự lựa chọn giữa chấp nhận và trách nhiệm kéo theo, hoặc bác bỏ ý tưởng ấy và sự nhận ra kéo theo rằng chúng ta không liên quan. Tuy nhiên, điều chúng ta quyết định trong thời gian và giai đoạn này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến phần còn lại của hoạt động đời sống của chúng ta, vì hoặc chúng ta sẽ đặt bất cứ sức nặng hay sự trợ giúp nào có thể của mình về phía sự khẩn cầu Đức Christ và sự chuẩn bị cho sự trở lại của Ngài, hoặc chúng ta sẽ gia nhập hàng ngũ những người xem toàn bộ đề nghị này như một lời kêu gọi đối với những kẻ nhẹ dạ và cả tin, và có thể còn hoạt động để ngăn con người bị lừa dối và mắc bẫy bởi điều mà chúng ta đã quyết định là một sự giả trá. Chính trong đó có thách thức của chúng ta. Để đáp ứng nó sẽ cần đến toàn bộ ý thức về giá trị mà chúng ta có và tất cả những gì chúng ta có thể cống hiến cho một sự nghiên cứu trực giác chuyên biệt. Khi đó, chúng ta có thể nhận ra rằng sự tái lâm đã được hứa hẹn này phù hợp với niềm tin tôn giáo phổ quát [161] và với niềm hy vọng lớn lao còn lại trong tâm trí con người, điều có thể đem lại sự giải thoát chân thực cho nhân loại đang đau khổ.
To those who accept the possibility of His reappearance and who are willing to admit that history can again repeat itself, there are three questions which can be asked—the answers to which are strictly individual. These are:
Đối với những ai chấp nhận khả năng tái lâm của Ngài và sẵn lòng thừa nhận rằng lịch sử có thể một lần nữa lặp lại, có ba câu hỏi có thể được nêu ra—mà câu trả lời hoàn toàn mang tính cá nhân. Đó là:
1. How can I personally meet this challenge?
1. Cá nhân tôi có thể đáp ứng thách thức này như thế nào?
2. What can I specifically do?
2. Cụ thể tôi có thể làm gì?
3. What are the steps which I should take and where are those who will take them with me?
3. Những bước mà tôi nên thực hiện là gì và những ai sẽ cùng tôi thực hiện chúng ở đâu?
What is written here and in the following pages is essentially for those who accept the fact of Christ, recognise the continuity of revelation and are willing to admit the possibility of His return.
Điều được viết ở đây và trong những trang tiếp theo chủ yếu dành cho những ai chấp nhận sự kiện về Đức Christ, nhìn nhận tính liên tục của sự mặc khải và sẵn lòng thừa nhận khả năng Ngài trở lại.
The complexities and the difficulties of this post-war period are very great. The closer a man may be to the source of spiritual light and power, the more difficult is his problem, for human affairs at this time seem so far away from this divine possibility. He will need all that he has of patience, understanding and goodwill. At the same time, the clearer will be his recognition of the facts. There are inner and outer problems which must be solved; there are inner and outer possibilities which can be made factual. As the spiritually-minded man faces both these inner and outer possibilities and events, it is easy to register a sense of complete frustration; he longs to help but knows not what to do; his grasp of the menacing difficulties, his analysis of his resources and of those with whom he will have to work, and his clarity of perception as to the forces [162] ranged against him (and on a much larger scale against the Christ) will make him inclined to ask: “What is the use of any effort which I can make? Why not let the forces of good and evil fight it out alone? Why not permit the pressure of the evolutionary current—eventually and at long last—to bring cessation to the world fight and usher in the triumph of the good? Why attempt anything now?
Những phức tạp và khó khăn của thời kỳ hậu chiến này là rất lớn. Con người càng gần nguồn ánh sáng và quyền năng tinh thần bao nhiêu thì vấn đề của y càng khó khăn bấy nhiêu, vì các công việc của nhân loại vào lúc này dường như quá xa vời khả năng thiêng liêng này. Y sẽ cần tất cả sự kiên nhẫn, thấu hiểu và thiện chí mà y có. Đồng thời, sự nhìn nhận của y về các sự kiện sẽ càng rõ ràng hơn. Có những vấn đề bên trong và bên ngoài phải được giải quyết; có những khả năng bên trong và bên ngoài có thể trở thành hiện thực. Khi người có khuynh hướng tinh thần đối diện với cả những khả năng và biến cố bên trong lẫn bên ngoài ấy, rất dễ ghi nhận một cảm giác hoàn toàn thất vọng; y khao khát giúp đỡ nhưng không biết phải làm gì; sự nắm bắt của y về những khó khăn đe dọa, sự phân tích của y về các nguồn lực của mình và của những người mà y sẽ phải cùng làm việc, và sự sáng rõ trong nhận thức của y về các mãnh lực [162] được bố trí chống lại y (và trên một quy mô lớn hơn nhiều là chống lại Đức Christ) sẽ khiến y có khuynh hướng hỏi: “Bất kỳ nỗ lực nào mà tôi có thể thực hiện thì có ích gì? Tại sao không để các mãnh lực thiện và ác tự chiến đấu với nhau? Tại sao không để áp lực của dòng tiến hoá—cuối cùng và sau một thời gian dài—mang lại sự chấm dứt cho cuộc chiến của thế giới và mở ra chiến thắng của điều thiện? Tại sao phải cố gắng bất cứ điều gì ngay bây giờ?”
These are natural and wholesome reactions. The poverty and starvation of the millions in Europe and elsewhere, the fear of Russia (warranted or unwarranted), the greed of the capitalistic forces of the world, the selfishness of labour, the aggressiveness of the Zionists, claiming as their own a land which has not been theirs for more than fifteen hundred years, the plight of the Jews in Europe, the desperation of the little man in every country who sees no security or hope anywhere, the work of the churches as they endeavour to restore the old order and rule which (over the centuries) has saved the world from little, and the lack of any clear voice or leadership in any country—all these things make the average man feel the futility of all effort. The problem seems too big, too terrible, and he himself seems too small and helpless.
Đó là những phản ứng tự nhiên và lành mạnh. Sự nghèo đói và nạn đói của hàng triệu người ở châu Âu và nơi khác, nỗi sợ Nga Sô (có căn cứ hay không), lòng tham của các thế lực tư bản trên thế giới, tính ích kỷ của lao động, tính hiếu chiến của những người Zionist, đòi làm của riêng một vùng đất vốn đã không thuộc về họ hơn một ngàn năm trăm năm, hoàn cảnh khốn cùng của người Do Thái ở châu Âu, sự tuyệt vọng của người dân nhỏ bé ở mọi quốc gia, kẻ không thấy sự an toàn hay hy vọng ở đâu cả, công việc của các giáo hội khi họ cố gắng khôi phục trật tự và quyền cai quản cũ vốn (qua nhiều thế kỷ) cứu thế giới được rất ít, và sự thiếu vắng bất kỳ tiếng nói hay sự lãnh đạo rõ ràng nào ở bất kỳ quốc gia nào—tất cả những điều này khiến con người trung bình cảm thấy mọi nỗ lực đều vô ích. Vấn đề dường như quá lớn, quá khủng khiếp, còn chính y thì dường như quá nhỏ bé và bất lực.
Nevertheless, the mass of straight goodness and vision in the world is enormous and the amount of clear, humanitarian thinking is unbounded; it is in the hands of the masses of good little men and the millions of right thinking people in every land that the salvation of the world lies and by them the preparatory work for the Coming of the Christ will be done. Numerically, they are adequate to the task and need only re-assurance and wise coordination to prepare them for the service required, [163] before the reappearance of the Christ becomes possible. The problems confronting us should be faced with courage, with truth and understanding; as well as with the willingness to speak factually, with simplicity and with love in the effort to expose the truth and clarify the problems which must be solved. The opposing forces of entrenched evil must be routed before He for Whom all men wait, the Christ, can come.
Tuy nhiên, khối lượng to lớn của thiện lành chân chính và tầm nhìn trong thế giới là vô cùng lớn, và mức độ tư duy nhân đạo sáng suốt là vô hạn; sự cứu rỗi của thế giới nằm trong tay quần chúng của những người dân bình thường tốt lành và hàng triệu người suy nghĩ đúng đắn ở mọi quốc gia, và chính bởi họ mà công việc chuẩn bị cho Sự Quang Lâm của Đức Christ sẽ được thực hiện. Về số lượng, họ đủ cho nhiệm vụ và chỉ cần được trấn an và phối hợp một cách khôn ngoan để chuẩn bị cho họ phụng sự theo yêu cầu, [163] trước khi sự tái lâm của Đức Christ có thể trở thành khả hữu. Những vấn đề đối diện chúng ta cần phải được đối mặt với lòng can đảm, với chân lý và sự thấu hiểu; cũng như với sự sẵn lòng nói ra sự thật một cách thực tế, đơn giản và với tình thương trong nỗ lực phơi bày chân lý và làm sáng tỏ những vấn đề phải được giải quyết. Các mãnh lực đối kháng của cái ác cố thủ phải bị đánh bại trước khi Đấng mà mọi người đang chờ đợi, Đức Christ, có thể đến.
The knowledge that He is ready and anxious publicly to appear to His loved Humanity only adds to the sense of general frustration, and another very vital question arises: For what period of time must we endure, struggle and fight? The reply comes with clarity: He will come unfailingly when a measure of peace has been restored, when the principle of sharing is at least in process of controlling economic affairs, and when churches and political groups have begun to clean house. Then He can and will come; then the Kingdom of God will be publicly recognised and will no longer be a thing of dreams and of wishful thinking and orthodox hope.
Sự hiểu biết rằng Ngài đã sẵn sàng và tha thiết xuất hiện công khai trước Nhân Loại yêu dấu của Ngài chỉ càng làm tăng cảm giác thất vọng chung, và một câu hỏi rất thiết yếu khác nảy sinh: Chúng ta phải chịu đựng, đấu tranh và chiến đấu trong bao lâu? Câu trả lời đến một cách rõ ràng: Ngài chắc chắn sẽ đến khi một mức độ hòa bình nào đó đã được phục hồi, khi nguyên tắc chia sẻ ít nhất đang trong tiến trình kiểm soát các công việc kinh tế, và khi các giáo hội cùng các nhóm chính trị đã bắt đầu tự thanh lọc. Khi đó Ngài có thể và sẽ đến; khi đó Thiên Giới sẽ được công khai nhìn nhận và sẽ không còn là một điều của mộng tưởng, của ước muốn viển vông và của hy vọng chính thống nữa.
People are prone to ask the question as to why the Christ does not come—in the pomp and ceremony which the churches ascribe to the event—and, by His coming, demonstrate His divine power, prove convincingly the authority and the potency of God, and thus end the cycle of agony and distress. The answers to this are many. It must be remembered that the main objective of the Christ will not be to demonstrate power but to make public the already existent Kingdom of God. Again, when He came before He was unrecognised, and is there any guarantee that this time it would be different? You may ask why would He not be recognised? Because men’s eyes are blinded with the tears of self-pity and not of contrition; because the hearts of men are still corroded with [164] a selfishness which the agony of war has not cured; because the standards of value are the same as in the corrupt Roman Empire which saw His first appearance, only then these standards were localised and not universal as they are today; because those who could recognise Him and who hope and long for His coming are not willing to make the needed sacrifices, and thus ensure the success of His advent.
Con người thường có khuynh hướng đặt câu hỏi tại sao Đức Christ không đến—trong sự huy hoàng và nghi lễ mà các giáo hội gán cho biến cố ấy—và, bằng sự đến của Ngài, chứng minh quyền năng thiêng liêng của Ngài, chứng tỏ một cách thuyết phục thẩm quyền và uy lực của Thượng đế, và như vậy chấm dứt chu kỳ đau đớn và khổ sở. Có nhiều câu trả lời cho điều này. Cần nhớ rằng mục tiêu chính của Đức Christ sẽ không phải là chứng minh quyền năng mà là công khai hóa Thiên Giới vốn đã hiện hữu. Hơn nữa, khi Ngài đến trước đây, Ngài đã không được nhận ra, và có gì bảo đảm rằng lần này sẽ khác? Bạn có thể hỏi tại sao Ngài lại không được nhận ra? Bởi vì mắt người ta bị che mờ bởi những giọt nước mắt tự thương hại chứ không phải của sự ăn năn; bởi vì trái tim con người vẫn còn bị ăn mòn bởi [164] một tính ích kỷ mà nỗi đau chiến tranh chưa chữa lành; bởi vì các tiêu chuẩn giá trị vẫn y như trong Đế quốc La Mã suy đồi đã chứng kiến lần xuất hiện đầu tiên của Ngài, chỉ khác là khi ấy các tiêu chuẩn này mang tính địa phương chứ không phổ quát như ngày nay; bởi vì những ai có thể nhận ra Ngài và những ai hy vọng, khát khao sự đến của Ngài lại không sẵn lòng thực hiện những hy sinh cần thiết, và như vậy bảo đảm thành công cho sự giáng lâm của Ngài.
The advanced thinking, the success of the many esoteric movements and above all, the marvels of science and the wonder of the many humanitarian movements, indicate no divine frustration but growth of spiritual understanding; the forces of the spirit are unconquered. These aspects of human behaviour indicate the wonder of the divinity which is in man and the success of the divine plan for humanity. Divinity, however, awaits the expression of man’s free will; his intelligence and his growth in goodwill are already being expressed.
Tư tưởng tiến bộ, thành công của nhiều phong trào nội môn và trên hết là những kỳ công của khoa học cùng điều kỳ diệu của nhiều phong trào nhân đạo, không cho thấy sự thất bại thiêng liêng nào mà cho thấy sự tăng trưởng của sự thấu hiểu tinh thần; các mãnh lực của tinh thần là bất khả chinh phục. Những phương diện này của hành vi con người cho thấy điều kỳ diệu của thiên tính ở trong con người và sự thành công của Thiên Cơ thiêng liêng dành cho nhân loại. Tuy nhiên, thiên tính đang chờ đợi sự biểu lộ của ý chí tự do của con người; trí tuệ và sự tăng trưởng trong thiện chí của y thì đã đang được biểu lộ.
Therefore, another answer to the question posited is that Christ and the spiritual Hierarchy never—no matter how great the need or important the incentive—infringe upon the divine right of men to make their own decisions, to exert their own free will and to achieve freedom by fighting for freedom—individually, nationally and internationally. When true freedom covers the earth, we shall see the end of tyranny—politically, religiously and economically. I am not here referring to modern democracy as a condition which meets the need, for democracy is at present a philosophy of wishful thinking and an unachieved ideal. I refer to that period which will surely come in which an enlightened people will rule; these people will not tolerate authoritarianism in any church or totalitarianism in any political system; they will not accept or permit the rule of any body of men who undertake [165] to tell them what they must believe in order to be saved or what government they must accept. When the people are told the truth and when they can freely judge and decide for themselves, we shall then see a much better world.
Vì vậy, một câu trả lời khác cho câu hỏi đã được nêu ra là Đức Christ và Thánh đoàn tinh thần không bao giờ—dù nhu cầu lớn đến đâu hay động lực quan trọng đến mức nào—xâm phạm quyền thiêng liêng của con người trong việc tự đưa ra quyết định của mình, vận dụng ý chí tự do của mình và đạt được tự do bằng cách chiến đấu cho tự do—trên bình diện cá nhân, quốc gia và quốc tế. Khi tự do chân chính bao phủ Trái Đất, chúng ta sẽ thấy sự chấm dứt của bạo quyền—về chính trị, tôn giáo và kinh tế. Ở đây tôi không nói đến nền dân chủ hiện đại như một tình trạng đáp ứng nhu cầu, vì hiện nay dân chủ là một triết lý của ước muốn viển vông và một lý tưởng chưa đạt được. Tôi nói đến thời kỳ chắc chắn sẽ đến khi một dân chúng được giác ngộ sẽ cai quản; những người này sẽ không dung thứ chủ nghĩa độc đoán trong bất kỳ giáo hội nào hay chủ nghĩa toàn trị trong bất kỳ hệ thống chính trị nào; họ sẽ không chấp nhận hay cho phép sự cai trị của bất kỳ nhóm người nào tự nhận [165] quyền bảo họ phải tin điều gì để được cứu rỗi hay phải chấp nhận chính quyền nào. Khi con người được nói cho biết sự thật và khi họ có thể tự do phán đoán và quyết định cho chính mình, khi đó chúng ta sẽ thấy một thế giới tốt đẹp hơn nhiều.
It is not essential or necessary that all these desirable objectives should be accomplished facts upon Earth before Christ again moves amongst us. It is, however, necessary that this attitude to religion and politics is generally regarded as desirable and that steps have been successfully taken in the direction of right human relations. It is along these lines that the New Group of World Servers and all men of goodwill are working, and their first effort must be to offset the widespread sense of frustration and individual futility.
Không thiết yếu hay cần thiết rằng tất cả những mục tiêu đáng mong muốn này phải trở thành sự kiện đã hoàn tất trên Trái Đất trước khi Đức Christ lại đi lại giữa chúng ta. Tuy nhiên, điều cần thiết là thái độ này đối với tôn giáo và chính trị phải được nhìn nhận rộng rãi là đáng mong muốn và những bước đi theo hướng những tương quan nhân loại đúng đắn phải đã được thực hiện thành công. Chính theo những đường hướng này mà Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và mọi người thiện chí đang hoạt động, và nỗ lực đầu tiên của họ phải là hóa giải cảm giác thất vọng lan rộng và sự vô dụng của cá nhân.
That which will offset the sense of frustration and futility and provide likewise the needed incentive towards the re-building of the new world will be the belief in the essential divinity of humanity, in the evolutionary proof (which a little study quickly provides) that mankind has steadily moved onward in wisdom and knowledge, and a wide inclusiveness, plus the development of that state of mind which will base itself upon belief in the veracity of the historical records which bear witness to the many advents at crucial times in human affairs, and to the many world Saviours—of Whom the Christ was the greatest. A right and constructive attitude must also be based on an innate recognition of the existence of the Christ and of His Presence with us at all times; it must be grounded in the knowledge that the war—with all its unspeakable horrors, its cruelties and its cataclysmic disasters—was but the broom of the Father of all, sweeping away all obstructions in the path of His returning Son. It would have been well-nigh impossible to prepare [166] for the coming in the face of the pre-war conditions. Upon these facts the New Group of World Servers must, today, take their stand. They must recognise the obstructing factors, but must also refuse to be frustrated by them; they must be aware of the hindrances (many of them financial and based on material greed, on ancient tradition and national prejudices). They must then employ such skill in action and such business acumen that these hindrances will be overcome; they must walk clear-eyed through world difficulties and pass unscathed and successful through the midst of all frustrating factors.
Điều sẽ hóa giải cảm giác thất vọng và vô dụng, đồng thời cũng cung cấp động lực cần thiết hướng tới việc tái thiết thế giới mới, sẽ là niềm tin vào thiên tính cốt yếu của nhân loại, vào bằng chứng tiến hoá (mà chỉ cần một ít nghiên cứu là nhanh chóng có được) rằng nhân loại đã không ngừng tiến lên trong minh triết và tri thức, và một tính bao gồm rộng lớn, cộng với sự phát triển của trạng thái trí tuệ sẽ đặt nền trên niềm tin vào tính chân thực của các ghi chép lịch sử làm chứng cho nhiều lần giáng lâm vào những thời điểm then chốt trong các công việc của nhân loại, và cho nhiều Đấng Cứu Thế của thế giới—mà Đức Christ là vĩ đại nhất. Một thái độ đúng đắn và xây dựng cũng phải dựa trên sự nhìn nhận bẩm sinh về sự hiện hữu của Đức Christ và về Hiện Diện của Ngài với chúng ta mọi lúc; nó phải được đặt nền trên tri thức rằng cuộc chiến—với tất cả những kinh hoàng không thể diễn tả, những tàn bạo và những thảm họa dữ dội của nó—chỉ là cây chổi của Cha của muôn loài, đang quét sạch mọi chướng ngại trên con đường của Người Con đang trở lại của Ngài. Hầu như không thể nào chuẩn bị [166] cho sự đến trong bối cảnh những điều kiện trước chiến tranh. Trên những sự kiện này, hôm nay Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phải đứng vững. Họ phải nhận ra các yếu tố cản trở, nhưng cũng phải từ chối để bị chúng làm cho thất vọng; họ phải ý thức các trở ngại (nhiều trong số đó là tài chính và dựa trên lòng tham vật chất, trên truyền thống cổ xưa và thành kiến quốc gia). Sau đó họ phải vận dụng kỹ năng trong hành động và sự nhạy bén trong kinh doanh đến mức những trở ngại này sẽ được vượt qua; họ phải bước đi với đôi mắt sáng rõ xuyên qua những khó khăn của thế giới và đi qua giữa mọi yếu tố gây thất vọng mà không hề hấn gì và thành công.
There are two major factors which condition the present opportunity; these can be regarded as so completely hindering that unless they are removed, there will be a long delay before Christ can return. They are:
Có hai yếu tố lớn đang tác động lên cơ hội hiện tại; chúng có thể được xem là cản trở hoàn toàn đến mức nếu không được loại bỏ, sẽ có một sự trì hoãn lâu dài trước khi Đức Christ có thể trở lại. Đó là:
1. The inertia of the average Christian or spiritually-minded man in every country—Eastern or Western.
1. Tính trì trệ của người Cơ Đốc giáo trung bình hay người có khuynh hướng tinh thần ở mọi quốc gia—Đông phương hay Tây phương.
2. The lack of money for the work of preparation.
2. Sự thiếu tiền cho công việc chuẩn bị.
We will keep these themes simple and down on the level at which most people work and think today. Let us be intensely practical and force ourselves to look at conditions as they are, thus arriving at a better knowledge of ourselves and of our motives.
Chúng ta sẽ giữ những chủ đề này đơn giản và ở ngay cấp độ mà phần lớn mọi người ngày nay làm việc và suy nghĩ. Hãy hết sức thực tế và buộc mình nhìn vào các điều kiện đúng như chúng là, nhờ đó đạt đến một tri thức tốt hơn về chính mình và về các động cơ của mình.
1. The Inertia of the Average Spiritually-Minded Man.
1. Tính Trì Trệ của Người Có Khuynh Hướng Tinh Thần Trung Bình.
The average spiritually-minded person, man of goodwill, or disciple is constantly aware of the challenge of the times and the opportunity which spiritual events may offer. The desire to do good and to accomplish spiritual ends are ceaselessly gnawing away within his consciousness. No one who loves his fellowmen, who has a dream [167] of seeing the Kingdom of God materialise on earth, or who is conscious of the awakening—slow though it may be—of the masses to the higher spiritual values but is thoroughly dissatisfied. He realises that what he contributed of help to these desirable objectives is little indeed. He knows that his spiritual life is a side issue; it is something which he keeps carefully to himself and which he is frequently afraid to mention to his nearest and his dearest; he tries to dovetail his spiritual efforts into his ordinary, outer life, struggling to find time and opportunity for it in a gentle, futile and innocuous manner. He finds himself helpless before the task of organising and rearranging his affairs so that the spiritual way of living may dominate; he searches for alibis for himself and eventually rationalises himself so successfully that he ends by deciding that he is doing the best he can in the given circumstances. The truth is that he is doing so little that probably one hour out of the twenty-four (or perhaps two) would cover the time given to the Master’s work; he hides behind the alibi that his home obligations prevent his doing more and does not realise that—given tact and loving understanding—his home environment can and must be the field in which he triumphs; he forgets that there exist no circumstances in which the spirit of man can be defeated or in which the aspirant cannot meditate, think, talk and prepare the way for the coming of the Christ, provided he cares enough and knows the meaning of sacrifice and silence. Circumstances and environment offer no true obstacle to the spiritual life.
Người có khuynh hướng tinh thần trung bình, người thiện chí, hay đệ tử luôn luôn ý thức về thách thức của thời đại và cơ hội mà các biến cố tinh thần có thể mang lại. Ước muốn làm điều thiện và hoàn thành các mục tiêu tinh thần không ngừng gặm nhấm trong tâm thức của y. Không ai yêu thương đồng loại của mình, có giấc mơ [167] thấy Thiên Giới được hiện thực hóa trên Trái Đất, hay ý thức được sự thức tỉnh—dù chậm đến đâu—của quần chúng đối với các giá trị tinh thần cao hơn mà lại không hoàn toàn bất mãn. Y nhận ra rằng điều y đóng góp để trợ giúp cho những mục tiêu đáng mong muốn này quả thật rất ít. Y biết rằng đời sống tinh thần của mình là một vấn đề phụ; đó là điều y cẩn thận giữ cho riêng mình và thường sợ nhắc đến với những người gần gũi và thân yêu nhất; y cố gắng lồng ghép những nỗ lực tinh thần của mình vào đời sống bên ngoài thông thường, vật lộn để tìm thời gian và cơ hội cho nó theo một cách nhẹ nhàng, vô ích và vô hại. Y thấy mình bất lực trước nhiệm vụ tổ chức và sắp xếp lại công việc của mình để lối sống tinh thần có thể chi phối; y tìm kiếm những lời bào chữa cho bản thân và cuối cùng hợp lý hóa mình thành công đến mức kết thúc bằng việc quyết định rằng y đang làm hết sức mình trong hoàn cảnh đã cho. Sự thật là y làm quá ít đến mức có lẽ một giờ trong hai mươi bốn giờ (hoặc có thể hai giờ) là đủ bao trùm thời gian dành cho công việc của Chân sư; y ẩn sau lời bào chữa rằng các nghĩa vụ gia đình ngăn cản y làm nhiều hơn và không nhận ra rằng—nếu có sự khéo léo và thấu hiểu đầy bác ái—môi trường gia đình của y có thể và phải là lĩnh vực trong đó y chiến thắng; y quên rằng không có hoàn cảnh nào mà trong đó tinh thần con người có thể bị đánh bại hay trong đó người chí nguyện không thể tham thiền, suy nghĩ, nói năng và chuẩn bị con đường cho sự đến của Đức Christ, miễn là y đủ quan tâm và biết ý nghĩa của hy sinh và im lặng. Hoàn cảnh và môi trường không tạo ra chướng ngại thực sự nào cho đời sống tinh thần.
Perhaps he hides behind the alibi of poor health and frequently behind that of imaginary ills. He gives so much time to the care of himself that the hours which could be given to the Master’s work are directly and [168] seriously curtailed; he is so pre-occupied with feeling tired, or tending a cold, or with fancied heart difficulties that his “body consciousness” steadily develops until it eventually dominates his life; it is then too late to do anything. This is particularly the case with people who have reached their fiftieth year or over. It is an alibi which it is hard not to use, for many feel tired and ailing and this, as the years go by, is apt to get worse.
Có lẽ y ẩn sau lời bào chữa về sức khỏe kém và thường là sau những bệnh tật tưởng tượng. Y dành quá nhiều thời gian để chăm sóc bản thân đến mức những giờ có thể dành cho công việc của Chân sư bị cắt giảm trực tiếp và [168] nghiêm trọng; y quá bận tâm đến việc cảm thấy mệt mỏi, hay chăm sóc một cơn cảm lạnh, hay những rối loạn tim tưởng tượng đến mức “tâm thức thể xác” của y phát triển đều đặn cho đến cuối cùng chi phối đời sống của y; khi đó thì đã quá muộn để làm bất cứ điều gì. Điều này đặc biệt đúng với những người đã đến tuổi năm mươi trở lên. Đây là một lời bào chữa khó mà không dùng đến, vì nhiều người cảm thấy mệt mỏi và đau yếu, và điều này, theo năm tháng, có khuynh hướng trở nên tệ hơn.
The only cure for this creeping inertia is to ignore the body and take your joy in the livingness of service. I speak here not of definite disease or of serious physical liabilities; to these right care and attention must be duly given; I speak to the thousands of ailing men and women who are pre-occupied with taking care of themselves, and so waste hours of the time which could be given to the service of humanity. Those who are seeking to tread the Path of Discipleship should release those many hours spent in needless self-care into the service of the Hierarchy.
Phương thuốc duy nhất cho tính trì trệ đang len lỏi này là phớt lờ thể xác và tìm niềm hoan hỉ của bạn trong sức sống của sự phụng sự. Ở đây tôi không nói đến bệnh tật rõ rệt hay những khiếm khuyết hồng trần nghiêm trọng; đối với những điều đó, sự chăm sóc và chú ý đúng đắn phải được dành cho đầy đủ; tôi nói với hàng ngàn những người nam và nữ đau yếu đang bận tâm chăm sóc bản thân, và như vậy lãng phí hàng giờ thời gian lẽ ra có thể dành cho việc phụng sự nhân loại. Những ai đang tìm cách bước đi trên Con Đường Đệ Tử nên giải phóng nhiều giờ đã tiêu tốn vào việc chăm sóc bản thân không cần thiết ấy để đưa vào việc phụng sự Thánh Đoàn.
Still another alibi, leading to inertia, is the fear people have of speaking about the things of the kingdom of God to others; they are afraid of being rebuffed, or of being thought peculiar, or of intruding. They, therefore, preserve silence, lose opportunity and never discover how ready people are for the discussion of realities, for the comfort and hope which the thought of Christ’s return can bring, or for the sharing of spiritual light. This is essentially a form of spiritual cowardice but is so widespread that it is responsible for the loss of millions of hours of world service.
Một lời bào chữa khác nữa, dẫn đến trì trệ, là nỗi sợ mà con người có khi nói với người khác về những điều thuộc Thiên Giới; họ sợ bị gạt đi, hay bị cho là kỳ quặc, hay bị xem là xâm phạm. Vì vậy, họ giữ im lặng, đánh mất cơ hội và không bao giờ khám phá ra con người sẵn sàng đến mức nào cho việc thảo luận về các thực tại, cho sự an ủi và hy vọng mà ý nghĩ về sự trở lại của Đức Christ có thể mang lại, hay cho việc chia sẻ ánh sáng tinh thần. Về bản chất, đây là một hình thức hèn nhát tinh thần nhưng lại phổ biến đến mức nó chịu trách nhiệm cho sự mất mát hàng triệu giờ phụng sự thế giới.
There are other alibis, but those above noted are the most common; the release of the majority of people from these hindering conditions would bring to the service of the Christ so many hours and so much overtime endeavour that the task of those who admit no alibis would [169] be greatly lightened and the coming of the Christ would be much nearer than it is today. To the rhythm of life under which the Christ and the spiritual Hierarchy operate, and which vibrates in harmony with human need and spiritual response, we are not called. We are, however, called to demonstrate the quality of spiritual activity and to refuse to hide behind alibis. It is essential that all spiritual people recognise that in the place where they now are, among the people who are their associates and with the psychological and physical equipment with which they are endowed, they can and must work. There is no possible coercion or undue pressure exerted in the service of the Hierarchy. The situation is clear and simple.
Còn có những lời bào chữa khác, nhưng những điều đã nêu trên là phổ biến nhất; việc giải thoát đa số con người khỏi những điều kiện cản trở này sẽ mang đến cho việc phụng sự Đức Christ rất nhiều giờ và rất nhiều nỗ lực ngoài giờ đến mức nhiệm vụ của những ai không chấp nhận lời bào chữa nào [169] sẽ được giảm nhẹ rất nhiều và sự đến của Đức Christ sẽ gần hơn nhiều so với ngày nay. Chúng ta không được kêu gọi theo nhịp điệu đời sống mà dưới đó Đức Christ và Thánh đoàn tinh thần vận hành, và vốn rung động hài hòa với nhu cầu nhân loại và sự đáp ứng tinh thần. Tuy nhiên, chúng ta được kêu gọi chứng minh phẩm tính của hoạt động tinh thần và từ chối ẩn sau những lời bào chữa. Điều thiết yếu là mọi người tinh thần phải nhận ra rằng tại chính nơi họ đang ở, giữa những người là cộng sự của họ và với trang bị tâm lý cùng hồng trần mà họ được phú cho, họ có thể và phải làm việc. Không có sự cưỡng bách hay áp lực quá mức nào được áp dụng trong việc phụng sự Thánh Đoàn. Tình hình rõ ràng và đơn giản.
There are, at the present time, three great activities going on:-
Hiện nay có ba hoạt động lớn đang diễn ra:-
First, the activity to be felt in the “centre where the will of God is known,” that will-to-good which has carried all creation on toward a greater glory and a steadily deepening, intelligent responsiveness. This today is creatively endeavouring to bring in the new world order, the order of the Kingdom of God under the physical supervision of the Christ. This might be regarded as the externalisation of the spiritual Hierarchy of our planet. Of this, the return of the Christ to visible activity will be the sign and the symbol.
Thứ nhất, hoạt động được cảm nhận trong “Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế,” ý chí-hướng thiện đã mang toàn thể sáng tạo tiến về một vinh quang lớn hơn và một sự đáp ứng ngày càng sâu sắc, thông minh hơn. Ngày nay, điều này đang nỗ lực một cách sáng tạo để mang vào trật tự thế giới mới, trật tự của Thiên Giới dưới sự giám sát hồng trần của Đức Christ. Điều này có thể được xem như sự ngoại hiện của Thánh đoàn tinh thần của hành tinh chúng ta. Dấu hiệu và biểu tượng của điều này sẽ là sự trở lại của Đức Christ vào hoạt động hữu hình.
Secondly, the critical activity which is conditioning the spiritual Hierarchy, from the Christ Himself down to the lowest aspirant to be found on the periphery of that “centre where the love of God” has full play. There, it is fully realised that (in the words of St. Paul) “the whole creation groaneth and travaileth in pain together until now, waiting for the manifestation of the Sons of God” (Romans VIII.22). It is for that manifestation They now prepare, these “Sons of God Who are the Sons [170] of Men;” it is for this coming forth to outer active service that They are already—one by one—entering into outer activity upon the physical plane. They are not recognised for what They are, but They go about the Father’s business, demonstrating goodwill, seeking to enlarge the horizon of humanity, and thus prepare the way for the One Whom They serve, the Christ, the Master of all the Masters and the Teacher alike of angels and of men.
Thứ hai, hoạt động có tính quyết định đang tác động lên Thánh đoàn tinh thần, từ chính Đức Christ xuống đến người chí nguyện thấp nhất có thể được tìm thấy ở chu vi của “trung tâm nơi tình thương của Thượng đế” được vận hành trọn vẹn. Tại đó, người ta hoàn toàn nhận ra rằng (theo lời Thánh Paul) “muôn vật thọ tạo cùng than thở và quặn đau cho đến nay, chờ đợi sự biểu lộ của các Con của Thượng đế” (La Mã VIII.22). Chính cho sự biểu lộ đó mà Các Ngài hiện đang chuẩn bị, những “Con của Thượng đế là những Con [170] của loài người” này; chính cho sự xuất hiện này vào phụng sự tích cực bên ngoài mà Các Ngài đã—từng vị một—đi vào hoạt động bên ngoài trên cõi hồng trần. Các Ngài không được nhận ra đúng như Các Ngài là, nhưng Các Ngài đang làm công việc của Cha, biểu lộ thiện chí, tìm cách mở rộng chân trời của nhân loại, và như vậy chuẩn bị con đường cho Đấng mà Các Ngài phụng sự, Đức Christ, Chân sư của mọi Chân sư và là Huấn sư của cả thiên thần lẫn loài người.
Thirdly, there is humanity itself, “the centre which we call the race of men”—a centre at present full of chaos, turmoil and confusion, a humanity full of pain, bewilderment, disturbance, yet mentally aware of infinite possibilities, emotionally fighting for that plan which seems to them to be the best, but with no sense of coherency or any realisation that it must be the “one world for the one humanity.” They desire simply emotional peace, security in which to live and work, and a vision of a future which will satisfy some inchoate sense of divine persistence. They are physically ill, deprived for the most part of the essentials of normal wholesome living, wracked with the sense of financial insecurity and—consciously or unconsciously—invoking the Father of all on behalf of themselves and of the rest of the world.
Thứ ba, có chính nhân loại, “trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người”—một trung tâm hiện đầy hỗn loạn, xáo trộn và rối ren, một nhân loại đầy đau khổ, hoang mang, bất an, nhưng về trí tuệ thì ý thức được những khả năng vô hạn, về cảm xúc thì chiến đấu cho kế hoạch dường như là tốt nhất đối với họ, nhưng không có ý thức về tính cố kết hay bất kỳ nhận thức nào rằng đó phải là “một thế giới cho một nhân loại.” Họ chỉ mong muốn sự bình an cảm xúc, sự an toàn để sống và làm việc, và một linh ảnh về tương lai sẽ thỏa mãn một cảm nhận mơ hồ nào đó về sự bền bỉ thiêng liêng. Về thể xác, họ đau yếu, phần lớn bị tước mất những điều thiết yếu của đời sống bình thường lành mạnh, bị giày vò bởi cảm giác bất an tài chính và—một cách hữu thức hay vô thức—đang khẩn cầu Cha của muôn loài thay cho chính họ và cho phần còn lại của thế giới.
The solution is to be found in the reappearance of the Christ. This is the ascertained will of God, and to it the Scriptures of the world testify; it is the desire of Christ Himself and of His disciples, the Masters of the Wisdom; it is the unrealised demand of peoples in all lands. Where there is this unification of purpose, this uniformity of spiritual intention and of realised demand, then there is only one thing which can arrest His reappearance and that is the failure of mankind to prepare the world stage for that stupendous event, to “prepare the Way of the Lord, make His paths straight” (Matthew III.3), to [171] familiarise the people everywhere with the idea of His coming, and bring about the required measure of peace on earth—a peace based upon right human relations.
Giải pháp được tìm thấy trong sự tái lâm của Đức Christ. Đây là Ý Chí đã được xác định của Thượng đế, và các Thánh Kinh của thế giới làm chứng cho điều đó; đó là ước muốn của chính Đức Christ và của các đệ tử của Ngài, các Chân sư Minh Triết; đó là đòi hỏi chưa được nhận ra của các dân tộc ở mọi quốc gia. Nơi nào có sự hợp nhất mục đích này, sự đồng nhất của ý định tinh thần và của đòi hỏi đã được nhận ra này, thì chỉ có một điều có thể ngăn cản sự tái lâm của Ngài, và đó là sự thất bại của nhân loại trong việc chuẩn bị sân khấu thế giới cho biến cố kỳ vĩ ấy, trong việc “chuẩn bị Con Đường của Chúa, làm thẳng các lối đi của Ngài” (Ma-thi-ơ III.3), [171] làm cho con người ở khắp nơi quen thuộc với ý tưởng về sự đến của Ngài, và đem lại mức độ hòa bình cần thiết trên Trái Đất—một nền hòa bình dựa trên những tương quan nhân loại đúng đắn.
It is surely needless here to deal with the theme of the preparation which the individual should make within himself as he prepares for the work to be done. Men have had the principles of right spiritual conduct presented to them for centuries, though largely because good conduct will lead them to a good heaven, the aim has been basically selfish. The little prayer which says, “Lord God Almighty! Let there be peace on earth and let it begin with me,” sums up all the requirements for those who seek to work in preparation for the coming of the Christ, if to it is added the development of a sound intelligence and the practice of an organised life. But today the motive shifts from the concept of personal salvation (which is assumed or taken for granted), and the preparation required is that of working, with strength and understanding, to bring about right human relations—a broader objective. There we have a motive which is not self-centred but which ranges each individual worker and humanitarian on the side of the spiritual Hierarchy, putting him in touch with all men of goodwill. We come now to the second of the major hindrances: the lack of financial support for the workers of the Christ.
Ở đây hẳn là không cần bàn đến chủ đề về sự chuẩn bị mà cá nhân nên thực hiện trong chính mình khi y chuẩn bị cho công việc phải làm. Trong nhiều thế kỷ, các nguyên tắc của hạnh kiểm tinh thần đúng đắn đã được trình bày cho con người, dù phần lớn là vì hạnh kiểm tốt sẽ dẫn họ đến một thiên đường tốt đẹp, nên mục tiêu về căn bản là ích kỷ. Lời cầu nguyện ngắn nói rằng: “Lạy Chúa là Thượng Đế Toàn Năng! Xin cho có hòa bình trên Trái Đất và xin cho nó bắt đầu từ nơi con,” tóm lược mọi yêu cầu đối với những ai tìm cách hoạt động để chuẩn bị cho sự đến của Đức Christ, nếu thêm vào đó là sự phát triển một trí tuệ lành mạnh và việc thực hành một đời sống có tổ chức. Nhưng ngày nay động cơ chuyển khỏi khái niệm cứu rỗi cá nhân (được giả định hay xem như đương nhiên), và sự chuẩn bị cần thiết là chuẩn bị để hoạt động, với sức mạnh và sự thấu hiểu, nhằm đem lại những tương quan nhân loại đúng đắn—một mục tiêu rộng lớn hơn. Ở đó chúng ta có một động cơ không tập trung vào bản thân mà đặt mỗi người hoạt động và mỗi nhà nhân đạo về phía Thánh đoàn tinh thần, đưa y vào tiếp xúc với mọi người thiện chí. Giờ đây chúng ta đến với chướng ngại lớn thứ hai: sự thiếu hỗ trợ tài chính cho những người hoạt động của Đức Christ.
2. Lack of Financial Support for the Work of the Christ.
2. Sự Thiếu Hỗ Trợ Tài Chính cho Công Việc của Đức Christ.
This is perhaps the major difficulty, and it appears to many at times to be an insuperable one. It involves the problem of true financial trusteeship and the deflection of adequate sums of money into channels which will definitely aid in the work of preparation for the return [172] of the Christ. It is closely tied up with the problem of right human relations.
Đây có lẽ là khó khăn lớn nhất, và đôi khi đối với nhiều người nó dường như là một điều không thể vượt qua. Nó bao hàm vấn đề về sự quản thác tài chính chân chính và việc chuyển hướng những khoản tiền thích đáng vào những kênh chắc chắn sẽ hỗ trợ công cuộc chuẩn bị cho sự trở lại [172] của Đức Christ. Nó gắn bó mật thiết với vấn đề về những tương quan nhân loại đúng đắn.