← The Reappearance of the Christ

CONCLUSION — KẾT LUẬN

Trích nội dung chương

The problem is, therefore, a peculiarly hard one, for the spiritual workers of the world have not only to train people to give (according to their means) but, in many cases, they have—first of all—to provide them with a motive so magnetic in its appeal that they must perforce give. They have also to provide the trust, foundation or organisation through which the given money may be administered. This presents them with a most impressively difficult task. The impasse which at present exists is not based only upon the novelty of raising funds in preparation for the return of the Christ, but it is based also upon the trained selfishness of the…


The problem is, therefore, a peculiarly hard one, for the spiritual workers of the world have not only to train people to give (according to their means) but, in many cases, they have—first of all—to provide them with a motive so magnetic in its appeal that they must perforce give. They have also to provide the trust, foundation or organisation through which the given money may be administered. This presents them with a most impressively difficult task. The impasse which at present exists is not based only upon the novelty of raising funds in preparation for the return of the Christ, but it is based also upon the trained selfishness of the majority who own the world’s wealth and who—even if they do give—do so because it fosters prestige and indicates financial success. Necessarily, there are exceptions to this but they are relatively few.

Vì vậy, vấn đề này đặc biệt khó khăn, vì những người hoạt động tinh thần của thế giới không những phải huấn luyện con người biết cho đi (tùy theo khả năng của họ) mà trong nhiều trường hợp, trước hết họ còn phải cung cấp cho họ một động cơ có sức hút từ tính đến mức họ buộc phải cho đi. Họ cũng phải cung cấp quỹ tín thác, quỹ tài trợ hay tổ chức mà qua đó số tiền được hiến tặng có thể được quản trị. Điều này đặt trước họ một nhiệm vụ vô cùng khó khăn và đầy ấn tượng. Tình trạng bế tắc hiện đang tồn tại không chỉ dựa trên tính mới mẻ của việc gây quỹ để chuẩn bị cho sự trở lại của Đức Christ, mà còn dựa trên tính ích kỷ đã được rèn luyện của đa số những người nắm giữ của cải thế giới và là những người—ngay cả khi họ có cho đi—cũng làm như vậy vì điều đó nuôi dưỡng uy tín và biểu thị thành công tài chính. Dĩ nhiên, vẫn có những ngoại lệ, nhưng tương đối ít.

Generalising, therefore, and over-simplifying the subject, we can assume that money finds its way into four main channels of expenditure:

Vì vậy, khi khái quát hóa và đơn giản hóa quá mức chủ đề này, chúng ta có thể giả định rằng tiền bạc tìm đường đi vào bốn kênh chi tiêu chính:

1. Into the myriad homes in the world in the form of wages, salaries or inherited wealth. All this is at present most unevenly balanced, producing extreme riches or extreme poverty.

1. Vào vô số gia đình trên thế giới dưới hình thức tiền công, lương bổng hoặc của cải thừa kế. Tất cả điều này hiện nay được cân bằng hết sức bất đồng đều, tạo ra sự giàu có cực độ hoặc nghèo khổ cực độ.

2. Into great capitalistic systems and monopolies which are found as towering structures in most lands. Whether this capital is owned by the government, or by a municipality, or by a handful of wealthy men or by the great labour unions matters not. Little of it is spent in the betterment of human living or for the inculcation of those values which lead to right human relations. [173]

2. Vào những hệ thống tư bản lớn và những độc quyền được thấy như những cơ cấu đồ sộ ở hầu hết các quốc gia. Dù tư bản này thuộc sở hữu của chính phủ, của một đô thị, của một nhóm nhỏ những người giàu có hay của các công đoàn lao động lớn thì cũng không quan trọng. Chỉ có rất ít trong số đó được chi dùng để cải thiện đời sống con người hoặc để truyền dạy những giá trị dẫn đến những tương quan nhân loại đúng đắn. [173]

3. Into the churches and religious groups throughout the world. Here (again speaking in general terms and at the same time recognising the existence of a spiritually-minded minority) the money is deflected into the material aspects of the work, into the multiplying and preservation of ecclesiastical structures, into salaries and general overhead, and only a percentage of it really goes into the teaching of the people, into a living demonstration of the simplicity “as it is in Christ,” and into the spreading of the fact of His return—for centuries a definite doctrine of the churches. That return has been anticipated down the ages, and might have occurred ere now had the churches and religious organisations everywhere done their duty.

3. Vào các giáo hội và các nhóm tôn giáo trên khắp thế giới. Ở đây (một lần nữa, nói theo nghĩa khái quát và đồng thời thừa nhận sự hiện hữu của một thiểu số có tinh thần) tiền bạc bị chuyển hướng vào các phương diện vật chất của công việc, vào việc gia tăng và duy trì các cơ cấu giáo hội, vào lương bổng và chi phí chung, và chỉ một phần của số tiền ấy thực sự đi vào việc giáo huấn con người, vào sự biểu hiện sống động của tính đơn giản “như trong Đức Christ,” và vào việc truyền bá sự kiện về sự trở lại của Ngài—trong nhiều thế kỷ là một giáo lý xác định của các giáo hội. Sự trở lại đó đã được mong đợi qua các thời đại, và có thể đã xảy ra từ lâu nếu các giáo hội và các tổ chức tôn giáo ở khắp nơi đã làm tròn bổn phận của mình.

4. Into philanthropic, educational and medical work. All of this has been exceedingly good and greatly needed and the debt of the world to the public-spirited men who have made these institutions possible is great indeed. All of this has been a step in the right direction and an expression of the divine will-to-good. It is, however, frequently money misused and misdirected and the values developed have been largely institutional and concrete. They have been limited by the separative tenets of the donors, or the religious prejudices of those who control the disbursement of the funds. In the quarrelling over ideas, religious theories and ideologies, the true assistance of the One Humanity is overlooked.

4. Vào công việc từ thiện, giáo dục và y tế. Tất cả điều này đều vô cùng tốt đẹp và rất cần thiết, và món nợ của thế giới đối với những người có tinh thần công ích đã làm cho các định chế này trở nên khả hữu quả thật là rất lớn. Tất cả điều này là một bước đi đúng hướng và là một biểu hiện của Ý Chí-hướng Thiện thiêng liêng. Tuy nhiên, đó thường là tiền bạc bị sử dụng sai và định hướng sai, và những giá trị được phát triển phần lớn mang tính định chế và cụ thể. Chúng đã bị giới hạn bởi các giáo điều chia rẽ của những người hiến tặng, hoặc bởi các thành kiến tôn giáo của những người kiểm soát việc phân phối các quỹ. Trong sự tranh cãi về các ý tưởng, các lý thuyết tôn giáo và các hệ tư tưởng, sự trợ giúp chân chính dành cho Nhân Loại Duy Nhất bị bỏ quên.

The fact remains that had the directing agencies (through whose hands the money of the world is channelled) any true vision of the spiritual realities, of the [174] one humanity and the one world, and had their objective been the stimulation of right human relations, the mass of men everywhere would be responding to a future possibility very different from the present one; we would not be faced as we are today with the expenditures—running into countless billions—necessitated by the need to restore physically, not only the physical bodies of countless millions of men, but entire cities, transportation systems and centres responsible for the reorganisation of human living.

Sự thật vẫn là: nếu các cơ quan chỉ đạo (qua tay họ mà tiền bạc của thế giới được dẫn truyền) có bất kỳ tầm nhìn chân chính nào về các thực tại tinh thần, về [174] nhân loại duy nhất và thế giới duy nhất, và nếu mục tiêu của họ là kích thích những tương quan nhân loại đúng đắn, thì quần chúng ở khắp nơi hẳn đã đáp ứng với một khả năng tương lai rất khác với hiện tại; chúng ta hẳn đã không phải đối diện như ngày nay với những khoản chi tiêu—lên đến vô số hàng tỷ—do nhu cầu phải phục hồi về mặt vật chất, không chỉ các thể xác của vô số hàng triệu người, mà cả toàn bộ các thành phố, các hệ thống giao thông và các trung tâm chịu trách nhiệm cho việc tái tổ chức đời sống nhân loại.

Equally, it can be said that if the spiritual values and the spiritual responsibilities attached to money (in large quantities or in small) had been properly appreciated and taught in homes and schools, we would not have had the appalling statistics of the money spent, prior to the war in every country in the world (and spent today in the Western Hemisphere) on candy, liquor, cigarettes, recreation, unnecessary clothes and luxuries. These statistics run into hundreds of millions of dollars every year. A fraction of this money, necessitating the minimum of sacrifice, would enable the disciples of the Christ and the New Group of World Servers to prepare the way for His coming and to educate the minds and hearts of men in every land in right human relations.

Cũng có thể nói tương tự rằng nếu các giá trị tinh thần và các trách nhiệm tinh thần gắn liền với tiền bạc (dù nhiều hay ít) đã được đánh giá đúng và được dạy dỗ trong gia đình và trường học, thì chúng ta đã không có những thống kê kinh hoàng về số tiền được chi tiêu, trước chiến tranh ở mọi quốc gia trên thế giới (và ngày nay được chi tiêu ở Tây Bán Cầu) cho kẹo bánh, rượu, thuốc lá, giải trí, quần áo không cần thiết và xa xỉ phẩm. Những thống kê này lên đến hàng trăm triệu đô-la mỗi năm. Chỉ một phần nhỏ của số tiền này, đòi hỏi mức hy sinh tối thiểu, cũng sẽ giúp các đệ tử của Đức Christ và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian chuẩn bị con đường cho sự quang lâm của Ngài và giáo dục tâm trí cùng trái tim con người ở mọi xứ sở về những tương quan nhân loại đúng đắn.

Money—as with all else in human living—has been tainted by selfishness and grabbed for selfish individual or national ends. Of this, the World War (1914-1945) is the proof, for, although there was much talk of “saving the world for democracy” and “fighting a war to end war,” the main motive was self-protection and self-preservation, the hope of gain and the satisfaction of ancient hatreds, and the regaining of territory. The years which have elapsed since the war have proved this to be so. The United Nations is unfortunately perforce occupied with rapacious demands from all sides, with the angling [175] of the nations for position and power, and for the possession of the natural resources of the earth—coal, oil, etc., and also with the underground activities of the great Powers and of the capitalists which they all create.

Tiền bạc—cũng như mọi điều khác trong đời sống nhân loại—đã bị nhuốm bẩn bởi tính ích kỷ và bị chộp lấy cho những mục đích ích kỷ của cá nhân hay quốc gia. Chiến tranh Thế giới (1914-1945) là bằng chứng cho điều này, vì mặc dù đã có nhiều lời nói về việc “cứu thế giới cho nền dân chủ” và “chiến đấu trong một cuộc chiến để chấm dứt chiến tranh,” động cơ chính vẫn là tự bảo vệ và tự tồn, hy vọng thu lợi, thỏa mãn những hận thù cổ xưa, và giành lại lãnh thổ. Những năm đã trôi qua kể từ sau chiến tranh đã chứng minh điều đó là đúng. Liên Hiệp Quốc, thật đáng tiếc, buộc phải bận rộn với những đòi hỏi tham lam từ mọi phía, với sự tranh giành [175] vị thế và quyền lực của các quốc gia, và với việc chiếm hữu các tài nguyên thiên nhiên của trái đất—than, dầu, v.v.—cũng như với các hoạt động ngầm của các Cường quốc và của các nhà tư bản mà tất cả họ đều tạo ra.

Yet all the time, the one humanity—no matter what the place of residence, what the colour of the skin, or what the religious belief—is clamouring for peace, justice and a sense of security. This, the right use of money and a realisation on the part of many of their financial responsibility (a responsibility based on the spiritual values) would rapidly give them. With the exception of a few great far-sighted philanthropists and of a mere handful of enlightened statesmen, churchmen and educators, this sense of financial responsibility is to be found nowhere.

Tuy nhiên, trong suốt thời gian đó, nhân loại duy nhất—bất kể nơi cư trú, màu da, hay tín ngưỡng tôn giáo nào—đều đang kêu đòi hòa bình, công lý và một cảm thức an toàn. Điều này, việc sử dụng tiền bạc đúng đắn và sự nhận biết nơi nhiều người về trách nhiệm tài chính của họ (một trách nhiệm dựa trên các giá trị tinh thần), sẽ nhanh chóng mang lại cho họ. Ngoại trừ một vài nhà từ thiện vĩ đại có tầm nhìn xa và chỉ một nhúm rất nhỏ những chính khách, giáo sĩ và nhà giáo dục được soi sáng, cảm thức trách nhiệm tài chính này không thể tìm thấy ở đâu cả.

The time has now come when money must be revaluated and its usefulness channelled into new directions. The voice of the people must prevail, but it must be a people educated in the true values, in the significances of a right culture and in the need for right human relations. It is, therefore, essentially a question of right education and correct training in world citizenship—a thing that has not yet been undertaken. Who can give this training? Russia would gladly train the world in the ideals of communism, and would gather all the money in the world into the coffers of the proletariat, eventually producing the greatest capitalistic system the world has ever seen; Great Britain would gladly train the world in the British concepts of justice and fair play and world trade, and would do it more correctly than any other nation because of vast experience but always too with an eye to profit. The United States would also gladly undertake to force the American brand of democracy upon the world, using her vast capital and resources in so doing, and gathering into her banks the financial results of her widespread financial [176] dealings, preserving them safely by the threat of the atomic bomb and the shaking of the mailed fist over the rest of the world. France will keep Europe in a state of unrest as she seeks to regain her lost prestige and garner all she can from the victory of the other allied nations. Thus the story goes—each nation fighting for itself, and all rating each other in terms of resources and finance. In the meantime, humanity starves, remains uneducated, and is brought up on false values and the wrong use of money. Until these things are in process of being righted, the return of the Christ is not possible.

Giờ đây đã đến lúc tiền bạc phải được tái định giá và tính hữu dụng của nó phải được dẫn vào những hướng mới. Tiếng nói của nhân dân phải thắng thế, nhưng đó phải là một dân chúng được giáo dục về các giá trị chân chính, về thâm nghĩa của một nền văn hóa đúng đắn và về nhu cầu của những tương quan nhân loại đúng đắn. Vì vậy, về bản chất, đây là vấn đề giáo dục đúng đắn và huấn luyện chính xác về tư cách công dân thế giới—một điều vẫn chưa được đảm nhận. Ai có thể trao sự huấn luyện này? Nga sẽ sẵn lòng huấn luyện thế giới theo các lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản, và sẽ gom toàn bộ tiền bạc của thế giới vào kho bạc của giai cấp vô sản, cuối cùng tạo ra hệ thống tư bản lớn nhất mà thế giới từng thấy; Anh quốc sẽ sẵn lòng huấn luyện thế giới theo các quan niệm của Anh về công lý, tinh thần thượng võ và thương mại thế giới, và sẽ làm điều đó đúng đắn hơn bất kỳ quốc gia nào khác nhờ kinh nghiệm rộng lớn, nhưng luôn luôn cũng với con mắt hướng về lợi nhuận. Hoa Kỳ cũng sẽ sẵn lòng đảm nhận việc áp đặt kiểu dân chủ Mỹ lên thế giới, sử dụng nguồn vốn và tài nguyên khổng lồ của mình để làm như vậy, và thu gom vào các ngân hàng của mình những kết quả tài chính từ các giao dịch tài chính rộng khắp [176] của mình, giữ chúng an toàn bằng sự đe dọa của bom nguyên tử và cái lắc nắm đấm bọc sắt trước phần còn lại của thế giới. Pháp sẽ giữ châu Âu trong tình trạng bất an khi nước này tìm cách lấy lại uy tín đã mất và thu vén mọi thứ có thể từ chiến thắng của các quốc gia đồng minh khác. Câu chuyện cứ thế tiếp diễn—mỗi quốc gia chiến đấu cho chính mình, và tất cả đều đánh giá lẫn nhau theo tài nguyên và tài chính. Trong khi đó, nhân loại bị đói khát, vẫn không được giáo dục, và được nuôi dưỡng bằng những giá trị sai lầm cùng việc sử dụng tiền bạc sai lạc. Chừng nào những điều này còn chưa được bắt đầu sửa chữa, sự trở lại của Đức Christ vẫn chưa thể xảy ra.

In the face of this disturbing financial situation—what is the answer to the problem? There are men and women to be found in every land, every government, every church and religion, and every educational foundation who have the answer. What hope is there for them and for the work with which they have been entrusted? How can the people of the world, the men of goodwill and of spiritual vision help? Is there anything they can do to change the thinking of the world in regard to money, thus deflecting it into channels where it will be more correctly used? The answer must be found.

Trước tình trạng tài chính đầy xáo trộn này—đâu là lời giải cho vấn đề? Có những người nam và nữ ở mọi quốc gia, mọi chính phủ, mọi giáo hội và tôn giáo, và mọi quỹ giáo dục, là những người có câu trả lời. Có hy vọng nào cho họ và cho công việc đã được giao phó cho họ? Dân chúng thế giới, những người thiện chí và có tầm nhìn tinh thần, có thể giúp như thế nào? Có điều gì họ có thể làm để thay đổi tư duy của thế giới về tiền bạc, nhờ đó chuyển hướng nó vào những kênh mà ở đó nó sẽ được sử dụng đúng đắn hơn không? Câu trả lời phải được tìm ra.

There are two groups who can do much: those already using the financial resources of the world, if they will catch the new vision and also see the handwriting on the wall which is bringing the old order down in destruction, and, secondly, the mass of the good, kindly, people in all classes and spheres of influence.

Có hai nhóm có thể làm được nhiều việc: thứ nhất, những người hiện đang sử dụng các nguồn tài chính của thế giới, nếu họ nắm bắt được tầm nhìn mới và cũng thấy được dấu hiệu báo trước sự sụp đổ của trật tự cũ; và thứ hai, khối đông những người tốt lành, tử tế trong mọi giai cấp và mọi phạm vi ảnh hưởng.

Men of goodwill and of spiritual inclination must reject the thought of their relative uselessness, insignificance and futility, and realise that now (in the critical and crucial moment that has come) they can work potently. The Forces of Evil are defeated, though not yet “sealed” behind the door where humanity can put them [177] and which The New Testament foretold would happen. Evil is seeking every avenue available for a new approach but—and this we can say with confidence and insistence—the little people of the world, enlightened and selfless in their viewpoint, exist in sufficient numbers to make their power felt—if they will. There are millions of spiritually-minded men and women in every country who, when they come to the point of approaching in mass formation this question of money, can permanently re-channel it. There are writers and thinkers in all lands who can add their powerful help, and who will, if correctly approached. There are esoteric students and devoted church people to whom appeal can be made for aid in preparing the way for the return of Christ, particularly if the aid required is the expenditure of money and time for the establishing of right human relations and the growth and spread of goodwill.

Những người thiện chí và có khuynh hướng tinh thần phải bác bỏ ý nghĩ về sự tương đối vô dụng, không đáng kể và vô hiệu của mình, và phải nhận ra rằng giờ đây (trong thời khắc nguy cấp và quyết định đã đến) họ có thể hoạt động một cách mạnh mẽ. Các Mãnh Lực của Điều Ác đã bị đánh bại, dù chưa bị “niêm phong” sau cánh cửa nơi nhân loại có thể đặt chúng [177] vào và điều mà Tân Ước đã tiên báo sẽ xảy ra. Điều ác đang tìm kiếm mọi lối đi khả dụng cho một cách tiếp cận mới nhưng—và điều này chúng ta có thể nói với sự tin tưởng và quả quyết—những người dân bình thường trên thế giới, được soi sáng và vô kỷ trong quan điểm của mình, hiện hữu với số lượng đủ để làm cho quyền năng của họ được cảm nhận—nếu họ muốn. Có hàng triệu người nam và nữ có tinh thần ở mọi quốc gia, những người mà khi đi đến chỗ tiếp cận vấn đề tiền bạc này trong đội hình quần chúng, có thể vĩnh viễn chuyển hướng dòng chảy của nó. Có những nhà văn và nhà tư tưởng ở mọi xứ sở có thể thêm vào sự trợ giúp mạnh mẽ của họ, và họ sẽ làm như vậy nếu được tiếp cận đúng cách. Có những đạo sinh nội môn và những tín đồ giáo hội tận tụy mà người ta có thể kêu gọi giúp đỡ trong việc chuẩn bị con đường cho sự trở lại của Đức Christ, đặc biệt nếu sự trợ giúp cần thiết là việc chi dùng tiền bạc và thời gian để thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn và sự tăng trưởng cùng lan rộng của thiện chí.

A great campaign to raise money is not demanded, but the selfless work of thousands of apparently unimportant people is required. I would say that the most needed quality is courage; it takes courage to put aside diffidence, shyness and the dislike of presenting a point of view, particularly a point of view connected with money. It is here that the majority fail. It is relatively easy today to raise money for the Red Cross, for hospitals and for educational institutions. It is exceedingly difficult to raise money for the spread of goodwill, or to secure the right use of money for forward looking ideas, such as the return of the Christ. Therefore, I say that the first prerequisite is Courage.

Không đòi hỏi một chiến dịch lớn để gây quỹ, nhưng cần đến công việc vô kỷ của hàng ngàn người dường như không quan trọng. Tôi muốn nói rằng phẩm tính cần thiết nhất là can đảm; cần có can đảm để gạt sang một bên sự rụt rè, nhút nhát và sự không thích trình bày một quan điểm, đặc biệt là một quan điểm liên quan đến tiền bạc. Chính ở đây mà đa số thất bại. Ngày nay, việc gây quỹ cho Hội Hồng Thập Tự, cho các bệnh viện và cho các cơ sở giáo dục tương đối dễ dàng. Việc gây quỹ cho sự lan truyền thiện chí, hoặc bảo đảm việc sử dụng tiền bạc đúng đắn cho những ý tưởng hướng về tương lai, như sự trở lại của Đức Christ, thì vô cùng khó khăn. Vì vậy, tôi nói rằng điều kiện tiên quyết thứ nhất là Can Đảm.

The second requirement for the workers of the Christ is to make those sacrifices and arrangements which will enable them to give to the limit of their capacity; there must not be simply a trained ability to present the subject, [178] but each worker must practise what he preaches. If, for instance, the millions of people who love the Christ and seek to serve His cause gave at least a tiny sum of money each year, there would be adequate funds for His work; the needed trusts and spiritually-minded trustees would then automatically appear. The difficulty is not with the organising of the money and work; it lies with the seeming inability of people to give. For one reason or another, they give little or nothing, even when interested in such a cause as that of the return of Christ; fear of the future or the love of purchasing, or the desire to give presents, or failure to realise that many small sums mount up into very large sums—all these things militate against financial generosity and the reason always seems adequate. Therefore, the second prerequisite is for everyone to give as they can.

Yêu cầu thứ hai đối với những người hoạt động của Đức Christ là thực hiện những hy sinh và sắp xếp cần thiết để giúp họ có thể cho đi đến giới hạn khả năng của mình; không được chỉ đơn thuần có khả năng đã được rèn luyện trong việc trình bày chủ đề, [178] mà mỗi người hoạt động phải thực hành điều mình rao giảng. Chẳng hạn, nếu hàng triệu người yêu mến Đức Christ và tìm cách phụng sự chính nghĩa của Ngài mỗi năm hiến tặng ít nhất một khoản tiền nhỏ, thì sẽ có đủ quỹ cho công việc của Ngài; các quỹ tín thác cần thiết và những người quản thác có tinh thần rồi sẽ tự động xuất hiện. Khó khăn không nằm ở việc tổ chức tiền bạc và công việc; nó nằm ở sự dường như bất lực của con người trong việc cho đi. Vì lý do này hay lý do khác, họ cho rất ít hoặc không cho gì cả, ngay cả khi quan tâm đến một chính nghĩa như sự trở lại của Đức Christ; nỗi sợ tương lai hoặc lòng ham mua sắm, hoặc mong muốn tặng quà, hoặc không nhận ra rằng nhiều khoản nhỏ cộng lại thành những khoản rất lớn—tất cả những điều này đều chống lại sự rộng lượng tài chính, và lý do dường như lúc nào cũng thích đáng. Vì vậy, điều kiện tiên quyết thứ hai là mọi người hãy cho đi tùy theo khả năng của mình.

Thirdly, the metaphysical schools and the esoteric groups have given much thought to this business of directing money into channels which appeal to them. The question is often asked: Why do the Unity School of thought, the Christian Science Church, and many New Thought movements always manage to accumulate the required funds whilst other groups, and particularly the esoteric groups, do not? Why do truly spiritual workers seem unable to materialise what they need? The answer is a simple one. Those groups and workers who are the closest to the spiritual ideal are as a house divided against itself. Their main interest is on abstract, spiritual levels and they have not apparently grasped the fact that the physical plane, when motivated from the spiritual levels, is of equal importance. The large metaphysical schools are focussed on making a material demonstration, and so great is their emphasis and so one-pointed is their approach that they get what they demand; they have to learn that [179] the demand and its answer must be the result of spiritual purpose, and that that which is demanded must not be for the use of the separated self or for a separative organisation or church. In the new age which is upon us, prior to the return of the Christ, the demand for financial support must be for the bringing about of right human relations and goodwill, and not for the growth of any particular organisation. The organisations so demanding must work with the minimum of overhead and central plant, and the workers for the minimum yet reasonable salary. Not many such organisations exist today, but the few now functioning can set an example which will be rapidly followed, as the desire for the return of Christ grows. Therefore the third prerequisite is the service of the one humanity.

Thứ ba, các trường phái siêu hình học và các nhóm nội môn đã suy nghĩ nhiều về công việc chuyển hướng tiền bạc vào những kênh hấp dẫn đối với họ. Câu hỏi thường được đặt ra là: Tại sao Trường phái tư tưởng Unity, Giáo hội Christian Science, và nhiều phong trào Tư tưởng Mới luôn xoay xở để tích lũy được những quỹ cần thiết trong khi các nhóm khác, đặc biệt là các nhóm nội môn, thì không? Tại sao những người hoạt động thực sự tinh thần dường như không thể tạo ra những gì họ cần trên cõi hồng trần? Câu trả lời rất đơn giản. Những nhóm và những người hoạt động gần với lý tưởng tinh thần nhất lại giống như một ngôi nhà tự chia rẽ chống lại chính nó. Mối quan tâm chính của họ nằm trên các cấp độ trừu tượng, tinh thần, và dường như họ chưa nắm được sự kiện rằng cõi hồng trần, khi được thúc đẩy từ các cấp độ tinh thần, cũng quan trọng ngang nhau. Các trường phái siêu hình học lớn tập trung vào việc tạo ra một sự biểu hiện vật chất, và sự nhấn mạnh của họ lớn đến mức, cách tiếp cận của họ nhất tâm đến mức, họ đạt được điều họ đòi hỏi; họ phải học rằng [179] sự đòi hỏi và câu trả lời của nó phải là kết quả của mục đích tinh thần, và điều được đòi hỏi không được nhằm cho việc sử dụng của bản ngã tách biệt hay cho một tổ chức hoặc giáo hội chia rẽ. Trong kỷ nguyên mới đang đến với chúng ta, trước sự trở lại của Đức Christ, sự đòi hỏi hỗ trợ tài chính phải nhằm mang lại những tương quan nhân loại đúng đắn và thiện chí, chứ không phải cho sự phát triển của bất kỳ tổ chức riêng biệt nào. Những tổ chức đưa ra sự đòi hỏi như vậy phải hoạt động với mức chi phí chung và cơ sở trung tâm tối thiểu, và những người hoạt động với mức lương tối thiểu nhưng hợp lý. Ngày nay không có nhiều tổ chức như thế tồn tại, nhưng số ít hiện đang hoạt động có thể nêu gương, và sẽ nhanh chóng được noi theo khi khát vọng về sự trở lại của Đức Christ tăng trưởng. Vì vậy điều kiện tiên quyết thứ ba là phụng sự nhân loại duy nhất.

The fourth prerequisite must be the careful presentation of the cause for which the financial support is required. People may have the courage to speak, but an intelligent presentation is of equal importance. The major point to be emphasised in the preparatory work for the return of Christ is the establishing of right human relations. This has already been started by men of goodwill all over the world, under their many names.

Điều kiện tiên quyết thứ tư phải là sự trình bày cẩn trọng về chính nghĩa mà vì đó sự hỗ trợ tài chính được yêu cầu. Con người có thể có can đảm để nói ra, nhưng một sự trình bày thông minh cũng quan trọng không kém. Điểm chính cần được nhấn mạnh trong công việc chuẩn bị cho sự trở lại của Đức Christ là việc thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn. Điều này đã được khởi sự bởi những người thiện chí trên khắp thế giới, dưới nhiều tên gọi khác nhau của họ.

We come now to the fifth prerequisite: a vital and sure belief in humanity as a whole. There must be no pessimism as to the future of mankind or distress over the disappearance of the old order. “The good, the true and the beautiful” is on its way, and for it mankind is responsible, and not some outer divine intervention. Humanity is sound and rapidly awakening. We are passing through the stage where everything is being proclaimed from the housetops—as Christ stated would be the case—and as we listen to or read of the flood of filth, crime, and sensual pleasure or luxury buying, we are [180] apt to be discouraged; it is wise to remember that it is wholesome for all this to come to the surface and for us all to know about it. It is like the psychological cleansing of the subconscious to which individuals submit themselves; it presages the inauguration of a new and better day.

Giờ đây chúng ta đến với điều kiện tiên quyết thứ năm: một niềm tin sống động và vững chắc vào toàn thể nhân loại. Không được có sự bi quan về tương lai của nhân loại hay đau buồn về sự biến mất của trật tự cũ. “Điều thiện, điều chân và điều mỹ” đang trên đường đến, và nhân loại chịu trách nhiệm về điều đó, chứ không phải một sự can thiệp thiêng liêng bên ngoài nào đó. Nhân loại lành mạnh và đang nhanh chóng thức tỉnh. Chúng ta đang đi qua giai đoạn mà mọi sự đều được công bố từ trên mái nhà—như Đức Christ đã nói sẽ là như vậy—và khi chúng ta lắng nghe hoặc đọc về dòng thác của sự nhơ bẩn, tội ác, và khoái lạc nhục dục hay việc mua sắm xa xỉ, chúng ta [180] dễ nản lòng; thật khôn ngoan khi nhớ rằng việc tất cả những điều này nổi lên bề mặt và để tất cả chúng ta đều biết về chúng là điều lành mạnh. Nó giống như sự thanh tẩy tâm lý của tiềm thức mà các cá nhân tự đặt mình vào; nó báo trước việc khai mở một ngày mới và tốt đẹp hơn.

There is work to do and the men of goodwill, of spiritual instinct, and of truly Christian training must do it. They must inaugurate the era of the use of money for the spiritual Hierarchy, and carry that need into the realms of invocation. Invocation is the highest type of prayer there is, and a new form of divine appeal which a knowledge of meditation has now made possible.

Có công việc phải làm, và những người thiện chí, có bản năng tinh thần, và được huấn luyện thực sự theo tinh thần Cơ Đốc phải làm công việc đó. Họ phải khai mở kỷ nguyên sử dụng tiền bạc cho Thánh Đoàn tinh thần, và đưa nhu cầu đó vào các lĩnh vực của khẩn cầu. Khẩn Cầu là loại cầu nguyện cao nhất hiện có, và là một hình thức khẩn cầu thiêng liêng mới mà tri thức về tham thiền nay đã làm cho trở nên khả hữu.

There is naught to add in the way of an appeal for funds, courage or understanding. If the courage of the Christ, as He faces return to this physical, outer world, if the need of humanity for right human relations and the sacrificing work of the disciples of the Christ are not enough to fire you and to energise you and those whom you can reach, there is nothing that can be said which will be of any use.

Không còn gì để thêm vào như một lời kêu gọi về quỹ, về can đảm hay về sự thấu hiểu. Nếu lòng can đảm của Đức Christ, khi Ngài đối diện với sự trở lại thế giới hồng trần, bên ngoài này, nếu nhu cầu của nhân loại về những tương quan nhân loại đúng đắn và công việc hy sinh của các đệ tử của Đức Christ vẫn chưa đủ để nung cháy bạn và tiếp sinh lực cho bạn cùng những người mà bạn có thể tiếp cận, thì không có điều gì có thể được nói ra mà sẽ hữu ích.

We have considered the need of preparation for the coming of the Christ and some of the basic requirements which will arise as people brace themselves for the needed activity, including the raising of the necessary finances to carry forward the preparatory work. The individual worker has, first of all, to decide if his incentive and spiritual expectancy is adequate to the task ahead. Only that is of importance which provides a needed momentum for action, and only that worker will be equal to the task who has a vision of sufficient clarity to enable him to work with understanding and sincerity. He must discover that it is possible for him to play his part in the furthering of the divine Plan. The fact of Christ and the genuine [181] possibility of His reappearance must become important motivating factors in his consciousness. He looks around for those with whom he may work, and who have the same spiritual objectives as he has. In this way and in due time, he finds that there exists on Earth a well organised and integrated group to which can be given the name of the New Group of World Servers. He finds that they are everywhere, and are functioning in every country and in all the organised religious groups and all other groups, dedicated to the well-being of humanity and to preparing the way for the return of the Christ.

Chúng ta đã xem xét nhu cầu chuẩn bị cho sự quang lâm của Đức Christ và một số đòi hỏi căn bản sẽ phát sinh khi con người tự củng cố mình cho hoạt động cần thiết, kể cả việc gây quỹ tài chính cần thiết để xúc tiến công việc chuẩn bị. Trước hết, người hoạt động cá nhân phải quyết định xem động lực và sự mong đợi tinh thần của mình có đủ cho nhiệm vụ phía trước hay không. Chỉ điều gì cung cấp một động lượng cần thiết cho hành động mới là quan trọng, và chỉ người hoạt động nào có một tầm nhìn đủ sáng tỏ để giúp y làm việc với sự thấu hiểu và chân thành mới xứng với nhiệm vụ. Y phải khám phá rằng đối với y, việc đóng vai trò của mình trong việc thúc đẩy Thiên Cơ thiêng liêng là điều khả hữu. Sự kiện về Đức Christ và khả năng chân thực [181] về sự tái xuất hiện của Ngài phải trở thành những yếu tố thúc đẩy quan trọng trong tâm thức của y. Y nhìn quanh để tìm những người mà y có thể cùng làm việc, và là những người có cùng mục tiêu tinh thần như y. Bằng cách này và theo thời gian thích hợp, y nhận ra rằng trên Trái Đất hiện hữu một nhóm được tổ chức tốt và tích hợp chặt chẽ, có thể được gọi là Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Y thấy rằng họ ở khắp nơi, và đang hoạt động trong mọi quốc gia và trong tất cả các nhóm tôn giáo có tổ chức cùng mọi nhóm khác, hiến mình cho phúc lợi của nhân loại và cho việc chuẩn bị con đường cho sự trở lại của Đức Christ.

This is primarily a group which, while working on the outer plane of daily, physical living, yet preserves a close, inner, spiritual integration with the centre of energy from which it can draw all that is needed for active, spiritual work. The group provides a field of service for all who are seeking service-expression; it also provides a rallying point for all who are willing to be tried out, and a place where their motives and persistence can be tested, prior to a steady unfoldment of spiritual opportunity. He is thus freed for ever enlarging areas of service.

Đây chủ yếu là một nhóm mà, trong khi hoạt động trên cõi bên ngoài của đời sống hồng trần hằng ngày, vẫn duy trì một sự tích hợp tinh thần bên trong mật thiết với trung tâm năng lượng mà từ đó nhóm có thể rút ra mọi điều cần thiết cho công việc tinh thần tích cực. Nhóm cung cấp một cánh đồng phụng sự cho tất cả những ai đang tìm kiếm sự biểu lộ phụng sự; nó cũng cung cấp một điểm tập hợp cho tất cả những ai sẵn lòng được thử luyện, và một nơi mà các động cơ và sự kiên trì của họ có thể được kiểm nghiệm, trước khi có sự khai mở đều đặn của cơ hội tinh thần. Nhờ vậy y được giải phóng cho những phạm vi phụng sự ngày càng mở rộng.

The New Group of World Servers provides essentially a training ground and a field of experience for those who hope to grow in spiritual stature and to fit themselves to be the active, directed disciples of the Christ. The appearance of this group on Earth at this time is one of the indications of the success of the evolutionary process, as applied to humanity. This method of work—the use of human beings as agents to carry forward the work of salvation and of world uplift—was initiated by the Christ Himself; He worked with men very frequently through others, reaching humanity through the medium of His twelve Apostles, regarding Paul as substituting for Judas Iscariot. The Buddha tried the same system but the [182] relation of His group was, in the first instance, to Him and not so much to the world of men. Christ sent His Apostles out into the world to feed the sheep, to seek, to guide and to become “fishers of men.” The relation of the disciples of the Christ was only secondarily to their Master but primarily to a demanding world; that attitude still controls the Hierarchy, yet with no loss of devotion to the Christ. What the Buddha had instituted symbolically and in embryo became factual and existent under the demands of the Piscean Age.

Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian về bản chất cung cấp một bãi huấn luyện và một cánh đồng kinh nghiệm cho những ai hy vọng tăng trưởng về tầm vóc tinh thần và tự làm cho mình thích hợp để trở thành những đệ tử tích cực, có định hướng của Đức Christ. Sự xuất hiện của nhóm này trên Trái Đất vào lúc này là một trong những dấu hiệu cho thấy sự thành công của tiến trình tiến hoá khi được áp dụng cho nhân loại. Phương pháp làm việc này—việc sử dụng con người như những tác nhân để xúc tiến công việc cứu rỗi và nâng cao thế giới—đã được chính Đức Christ khởi xướng; Ngài rất thường làm việc với con người qua những người khác, tiếp cận nhân loại qua trung gian của mười hai Tông đồ của Ngài, xem Paul là người thay thế cho Judas Iscariot. Đức Phật đã thử cùng một hệ thống nhưng [182] mối liên hệ của nhóm Ngài trước hết là với Ngài chứ không nhiều với thế giới loài người. Đức Christ đã sai các Tông đồ của Ngài đi vào thế giới để chăn dắt đàn chiên, để tìm kiếm, để hướng dẫn và để trở thành “những kẻ đánh cá người.” Mối liên hệ của các đệ tử của Đức Christ chỉ là thứ yếu đối với Chân sư của họ nhưng chủ yếu là đối với một thế giới đang đòi hỏi; thái độ đó vẫn còn chi phối Thánh Đoàn, nhưng không hề làm mất đi lòng sùng kính đối với Đức Christ. Điều mà Đức Phật đã thiết lập một cách biểu tượng và ở dạng phôi thai đã trở thành sự kiện và hiện hữu dưới những đòi hỏi của Kỷ nguyên Song Ngư.

In the age into which we are now emerging, the Aquarian Age, this mode of group work will reach a very high point of development, and the world will be saved and reconstructed by groups far more than by individuals. In the past we have had world saviours—Sons of God Who have given to men a message which brought an increase of light to the people. Now, in the fullness of time, and through the processes of evolution, there is emerging a group who will bring salvation to the world and who (embodying group ideas and emphasising the true meaning of the Church of Christ) will so stimulate and energise the minds and souls of men that the new age will be ushered in by an outpouring of the Love, Knowledge and Harmony of God Himself, as well as by the reappearance of the Christ in Whom all these three faculties of divinity will be embodied.

Trong kỷ nguyên mà hiện nay chúng ta đang bước vào, Kỷ nguyên Bảo Bình, phương thức công việc nhóm này sẽ đạt đến một điểm phát triển rất cao, và thế giới sẽ được cứu vớt và tái thiết bởi các nhóm nhiều hơn là bởi các cá nhân. Trong quá khứ, chúng ta đã có những Đấng cứu thế giới—Các Con của Thượng đế, những Đấng đã trao cho con người một thông điệp mang lại sự gia tăng ánh sáng cho nhân loại. Giờ đây, trong thời điểm viên mãn, và qua các tiến trình tiến hoá, đang xuất hiện một nhóm sẽ mang sự cứu rỗi đến cho thế giới và là nhóm mà (thể hiện các ý tưởng nhóm và nhấn mạnh ý nghĩa chân chính của Giáo hội của Đức Christ) sẽ kích thích và tiếp sinh lực cho tâm trí và linh hồn con người đến mức kỷ nguyên mới sẽ được khai mở bởi một lần tuôn đổ của Tình thương, Tri thức và Hài hòa của chính Thượng đế, cũng như bởi sự tái xuất hiện của Đức Christ, nơi Ngài cả ba năng lực thiên tính này sẽ được thể hiện.

Religions in the past have been founded by a great soul, by an Avatar, and by an outstanding spiritual personality. The stamp of their lives and words and teaching has been set upon the race and has persisted for many centuries. What will be the effect of the message of a group Avatar or world Saviour? What will be the potency of the work of a group of knowers of God, enunciating truth and banded together subjectively in the great work [183] of saving the world? What will be the effect of the mission of a group of world Saviours, all Knowers of God in some degree, who supplement each other’s efforts, reinforce each other’s message, and constitute an organism through which the spiritual energy and principle of spiritual life can make their presence felt in the world, under the direction of the Christ in Visible Presence?

Các tôn giáo trong quá khứ đã được sáng lập bởi một linh hồn vĩ đại, bởi một Đấng Hoá Thân, và bởi một phàm ngã tinh thần xuất chúng. Dấu ấn của đời sống, lời nói và giáo huấn của các Ngài đã được in lên nhân loại và đã tồn tại trong nhiều thế kỷ. Thông điệp của một Đấng Hoá Thân nhóm hay một Đấng cứu thế giới theo nhóm sẽ có hiệu quả ra sao? Công việc của một nhóm những thức giả về Thượng đế, tuyên xướng chân lý và liên kết với nhau trong nội giới trong công việc vĩ đại [183] cứu thế giới, sẽ có mãnh lực như thế nào? Sứ mệnh của một nhóm những Đấng cứu thế giới, tất cả đều là những thức giả về Thượng đế ở một mức độ nào đó, bổ sung cho nỗ lực của nhau, tăng cường thông điệp của nhau, và tạo thành một cơ thể mà qua đó năng lượng tinh thần và nguyên khí của sự sống tinh thần có thể làm cho sự hiện diện của chúng được cảm nhận trong thế giới, dưới sự chỉ đạo của Đức Christ trong Hiện Diện Hữu Hình, sẽ có tác động ra sao?

Such a body now exists, with its members in every land. Relatively they are few and far between, but steadily their numbers are increasing, and increasingly their message will be felt. In them is vested a spirit of construction; they are the builders of the new age; to them is given the work of preserving the spirit of truth, and the reorganising of the thoughts of men so that the racial mind is controlled and brought into that meditative and reflective condition which will permit it to recognise the next unfoldment of divinity, which Christ will inaugurate.

Một tập thể như vậy hiện đang tồn tại, với các thành viên của nó ở mọi quốc gia. Tương đối mà nói, họ ít và thưa thớt, nhưng số lượng của họ đang tăng lên đều đặn, và thông điệp của họ sẽ ngày càng được cảm nhận. Trong họ được ký thác một tinh thần kiến tạo; họ là những đấng kiến tạo của kỷ nguyên mới; cho họ được giao công việc bảo tồn tinh thần của chân lý, và tái tổ chức tư tưởng của con người để tâm trí chủng tộc được kiểm soát và được đưa vào tình trạng tham thiền và phản tỉnh, điều sẽ cho phép nó nhận ra sự khai mở kế tiếp của thiên tính mà Đức Christ sẽ khai mở.

For the last ten years, this New Group of World Servers has been reorganised and revitalised; the knowledge of its existence is spreading all over the world. It is today a group of men and women of every nation and race and of all religious organisations and humanitarian movements who are fundamentally oriented towards the Kingdom of God or who are in process of thus orienting themselves. They are disciples of the Christ, working consciously and frequently unconsciously for His reappearance; they are spiritual aspirants, seeking to serve and make real the Kingdom of God on Earth; they are men of goodwill and intelligence who are trying to increase understanding and right human relations among men. This group is divided into two major divisions:

Trong mười năm qua, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian này đã được tái tổ chức và tiếp sinh lực; tri thức về sự hiện hữu của nó đang lan rộng khắp thế giới. Ngày nay, đó là một nhóm những người nam và nữ thuộc mọi quốc gia và giống dân, và thuộc mọi tổ chức tôn giáo cùng các phong trào nhân đạo, những người về căn bản được định hướng về Thiên Giới hoặc đang trong tiến trình tự định hướng như vậy. Họ là các đệ tử của Đức Christ, đang hoạt động một cách hữu thức và thường là vô thức cho sự tái xuất hiện của Ngài; họ là những người chí nguyện tinh thần, tìm cách phụng sự và làm cho Thiên Giới trở thành hiện thực trên Trái Đất; họ là những người thiện chí và thông tuệ đang cố gắng gia tăng sự thấu hiểu và những tương quan nhân loại đúng đắn giữa con người. Nhóm này được chia thành hai bộ phận chính:

1. A group composed of the disciples of the Christ who are consciously working with His plans, and [184] of those who, instructed by them, are consciously and voluntarily cooperating. In this latter category we can find ourselves if we so desire, and if we are willing to make the necessary sacrifices.

1. Một nhóm gồm các đệ tử của Đức Christ đang hữu thức làm việc với các kế hoạch của Ngài, và [184] những người, được họ chỉ dạy, đang hữu thức và tự nguyện hợp tác. Trong loại sau này, chúng ta có thể tìm thấy chính mình nếu muốn, và nếu sẵn lòng thực hiện những hy sinh cần thiết.

2. A group composed of aspirants and world conscious men and women, who are working unconsciously under the guidance of the spiritual Hierarchy. There are many such, particularly in high places today, who are fulfilling the part of destroyers of the old form or of builders of the new. They are not conscious of any inner synthetic plan, but are selflessly occupied in meeting world need as best they may, with playing parts of importance in national dramas, or with working persistently in the field of education.

2. Một nhóm gồm những người chí nguyện và những người nam và nữ có tâm thức thế giới, đang hoạt động một cách vô thức dưới sự hướng dẫn của Thánh Đoàn tinh thần. Có nhiều người như vậy, đặc biệt ở những vị trí cao ngày nay, đang hoàn thành vai trò của những người phá hủy hình tướng cũ hoặc những người kiến tạo hình tướng mới. Họ không ý thức về bất kỳ kế hoạch tổng hợp nội tại nào, nhưng đang vô kỷ tận tâm đáp ứng nhu cầu thế giới theo cách tốt nhất có thể, đóng những vai trò quan trọng trong các vở kịch quốc gia, hoặc kiên trì hoạt động trong lĩnh vực giáo dục.

The first group is in touch with the spiritual Hierarchy to some extent and to a large extent where true disciples are concerned; its members work under spiritual inspiration. The second group is in closer touch with the masses of men; it works more definitely under the inspiration of ideas. The first group is occupied with the Plan of the Christ as far as its members can grasp its essentiality, whilst the second group works with the new concepts and hopes which are emerging in the consciousness of mankind, as men begin subjectively and often unconsciously to respond to the preparations for the coming of the Christ. Steadily and as a result of the work of the New Group of World Servers, humanity is awakening to the possibilities ahead.

Nhóm thứ nhất tiếp xúc với Thánh Đoàn tinh thần ở một mức độ nào đó và ở mức độ lớn đối với các đệ tử chân chính; các thành viên của nhóm hoạt động dưới cảm hứng tinh thần. Nhóm thứ hai tiếp xúc gần gũi hơn với quần chúng; nhóm này hoạt động rõ rệt hơn dưới cảm hứng của các ý tưởng. Nhóm thứ nhất bận tâm với Thiên Cơ của Đức Christ trong chừng mực các thành viên của nó có thể nắm bắt được tính cốt yếu của Thiên Cơ ấy, trong khi nhóm thứ hai hoạt động với những quan niệm và hy vọng mới đang xuất hiện trong tâm thức nhân loại, khi con người bắt đầu trong nội giới và thường là vô thức đáp ứng với những chuẩn bị cho sự quang lâm của Đức Christ. Đều đặn, và như một kết quả của công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, nhân loại đang thức tỉnh trước những khả năng ở phía trước.

The awakening of the intelligentsia in all countries to the recognition of humanity is a prelude to the establishment of brotherhood. The unity of the human family is recognised by man, but before that unity can take [185] form in constructive measures, it is essential that more and more of the thinking men and women throughout the world should break down the mental barriers existing between races, nations and types; it is essential that the New Group of World Servers should itself repeat in the outer world that type of activity which the Hierarchy expressed when it developed and materialised the New Group of World Servers. Through the impression and expression of certain great ideas, men everywhere must be brought to the understanding of the fundamental ideals which will govern the new age. This is the major task of the New Group of World Servers.

Sự thức tỉnh của giới trí thức ở mọi quốc gia đối với việc nhận ra nhân loại là khúc dạo đầu cho việc thiết lập tình huynh đệ. Sự hợp nhất của gia đình nhân loại được con người nhận ra, nhưng trước khi sự hợp nhất đó có thể [185] thành hình trong những biện pháp kiến tạo, điều thiết yếu là ngày càng nhiều những người nam và nữ biết suy tư trên khắp thế giới phải phá bỏ những rào cản trí tuệ đang tồn tại giữa các giống dân, các quốc gia và các loại người; điều thiết yếu là chính Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phải lặp lại trong thế giới bên ngoài kiểu hoạt động mà Thánh Đoàn đã biểu lộ khi phát triển và đưa Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian vào hoạt động trên cõi hồng trần. Qua sự cảm ứng và biểu lộ của một số ý tưởng lớn, con người ở khắp nơi phải được đưa đến chỗ thấu hiểu những lý tưởng căn bản sẽ chi phối kỷ nguyên mới. Đây là nhiệm vụ chính của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

As we study and learn to recognise the New Group of World Servers in all its branches and spheres of activity—scattered all over the world and embracing true and earnest workers and humanitarian people in every nation, every religion and every organisation of humanitarian intent—we shall awaken to the realisation that there is on Earth today a body of men and women whose numbers and range of activities are entirely adequate to bring about the changes which will enable the Christ to walk again amongst us. This will come about if they care enough, are ready enough to make the needed sacrifices and are willing to sink their national, religious and organisational differences in the carrying out of those forms of service which will reconstruct the world. They must educate the race of men in a few simple and basic essentials and familiarise humanity with the thought of the reappearance of the Christ and the externalisation of the Kingdom of God. Their work will be largely to summarise and make effective the work of the two Sons of God: the Buddha and the Christ.

Khi chúng ta nghiên cứu và học cách nhận ra Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian trong mọi ngành nhánh và mọi lĩnh vực hoạt động của nó—rải rác khắp thế giới và bao gồm những người hoạt động chân thành, tha thiết cùng những người nhân đạo trong mọi quốc gia, mọi tôn giáo và mọi tổ chức có ý hướng nhân đạo—chúng ta sẽ thức tỉnh để nhận ra rằng ngày nay trên Trái Đất có một tập thể những người nam và nữ mà số lượng và phạm vi hoạt động của họ hoàn toàn đủ để mang lại những thay đổi sẽ giúp Đức Christ lại bước đi giữa chúng ta. Điều này sẽ xảy ra nếu họ đủ quan tâm, đủ sẵn sàng thực hiện những hy sinh cần thiết và sẵn lòng gạt sang một bên những khác biệt quốc gia, tôn giáo và tổ chức của mình trong việc thực hiện những hình thức phụng sự sẽ tái thiết thế giới. Họ phải giáo dục nhân loại về một vài điều cốt yếu đơn giản và căn bản, và làm cho nhân loại quen thuộc với tư tưởng về sự tái xuất hiện của Đức Christ và sự ngoại hiện của Thiên Giới. Công việc của họ phần lớn sẽ là tóm lược và làm cho hữu hiệu công việc của hai Con của Thượng đế: Đức Phật và Đức Christ.

The success of the work of the New Group of World Servers is inevitable; they have made much headway [186] during the past ten years; the inner integration of that part of the group which works in close touch with Christ and the spiritual Hierarchy is such that the outer success is guaranteed. They provide a channel through which the light, love and power of the Kingdom of God can reach the more exoteric workers.

Sự thành công của công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là điều không thể tránh khỏi; họ đã đạt được nhiều tiến bộ [186] trong mười năm qua; sự tích hợp nội tại của phần nhóm hoạt động trong sự tiếp xúc mật thiết với Đức Christ và Thánh Đoàn tinh thần đến mức thành công bên ngoài được bảo đảm. Họ cung cấp một kênh mà qua đó ánh sáng, tình thương và quyền năng của Thiên Giới có thể đến với những người hoạt động ngoại môn hơn.

Therefore, let us realise that all spiritually inclined men and women, all who seek and work for the establishing of right human relations, all who practise goodwill and truly endeavour to love their fellowmen are an integral part of the New Group of World Servers and that their major task at this time is to prepare the way for the reappearance of the Christ.

Vì vậy, chúng ta hãy nhận ra rằng tất cả những người nam và nữ có khuynh hướng tinh thần, tất cả những ai tìm kiếm và hoạt động cho việc thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn, tất cả những ai thực hành thiện chí và thực sự nỗ lực yêu thương đồng loại của mình đều là một phần không thể tách rời của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và rằng nhiệm vụ chính của họ vào lúc này là chuẩn bị con đường cho sự tái xuất hiện của Đức Christ.

Let me emphatically here state that the major method with which we can concern ourselves and the most potent instrument in the hands of the spiritual Hierarchy is the spreading of goodwill and its fusion into a united and working potency. I prefer that expression to the words “the organisation of goodwill.” Goodwill is today a dream, a theory, a negative force. It should be developed into a fact, a functioning ideal, and a positive energy. This is our work and again we are called to cooperate.

Hãy để tôi nhấn mạnh ở đây rằng phương pháp chính mà chúng ta có thể quan tâm đến và công cụ mạnh mẽ nhất trong tay Thánh Đoàn tinh thần là sự lan truyền thiện chí và sự dung hợp của nó thành một mãnh lực hợp nhất và hoạt động. Tôi thích cách diễn đạt đó hơn là những từ “sự tổ chức thiện chí.” Ngày nay thiện chí là một giấc mơ, một lý thuyết, một mãnh lực thụ động. Nó nên được phát triển thành một sự kiện, một lý tưởng đang hoạt động, và một năng lượng tích cực. Đây là công việc của chúng ta và một lần nữa chúng ta được kêu gọi hợp tác.

The task before the New Group of World Servers is great, but it is not an impossible task. It is engrossing, but as it constitutes an imposed life pattern, it can be worked out in every aspect of a man or woman’s normal, daily life. Yet at the same time, we are called to abnormal living, and to the shouldering of a definite responsibility.

Nhiệm vụ trước mắt của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là lớn lao, nhưng không phải là một nhiệm vụ bất khả thi. Nó cuốn hút trọn vẹn, nhưng vì nó tạo thành một mô hình đời sống được áp đặt, nó có thể được thực hiện trong mọi phương diện của đời sống bình thường hằng ngày của một người nam hay nữ. Tuy nhiên, đồng thời, chúng ta được kêu gọi sống một đời sống khác thường, và gánh vác một trách nhiệm xác định.

CONCLUSION — KẾT LUẬN

[187]

[187]

The call for preparation for the reappearance of the Christ has gone out; the call to world salvage has sounded forth, and today spiritually-minded men everywhere and disciples of the Christ are assembling all over the world. It is not an assembling upon the physical plane but a profound subjective and spiritual happening. Even those with only a faint glimmer of understanding as to what the call truly signifies are responding, and asking for the opportunity to help, and for guidance as to what they may do.

Lời kêu gọi chuẩn bị cho sự tái xuất hiện của Đức Christ đã được phát ra; lời kêu gọi cứu vớt thế giới đã vang lên, và ngày nay những người có tinh thần ở khắp nơi cùng các đệ tử của Đức Christ đang tập hợp trên toàn thế giới. Đây không phải là một sự tập hợp trên cõi hồng trần mà là một biến cố nội giới và tinh thần sâu xa. Ngay cả những người chỉ có một tia hiểu biết mờ nhạt về điều mà lời kêu gọi ấy thực sự hàm ý cũng đang đáp ứng, và đang xin cơ hội để giúp đỡ, cũng như xin được hướng dẫn về điều họ có thể làm.

Today, therefore, we wait for the new Appearing. The Christ is universally expected, and in this spirit of expectancy comes the antidote to the spirit of fear and horror which has descended upon our unhappy planet. Humanity today looks in two directions: towards the devastated Earth and the agonised hearts of men; it also looks towards the Place from whence the Christ will come, which they symbolically call “heaven.” Where there is the same expectancy, where there is uniformity of testimony and of prediction, and where all the indications of “the time of the end” are with us, is it not reasonable to believe that a great event is in process of taking place? If, in the midst of death and destruction, there is to be found a living faith (and there is such a faith everywhere) and a burning zeal which pierces through the darkness to the centre of light, does that not warrant the assumption that this faith and this zeal are founded on a deep intuitive knowledge. May it not be a divine fact that “faith is the substance of things hoped for, the evidence of things not seen?” (Hebrews XI.1.)

Ngày nay, vì vậy, chúng ta chờ đợi sự Tái Lâm mới. Đức Christ được mong đợi trên khắp thế giới, và trong tinh thần kỳ vọng này xuất hiện liều thuốc giải cho tinh thần sợ hãi và kinh hoàng đã giáng xuống hành tinh bất hạnh của chúng ta. Nhân loại ngày nay nhìn theo hai hướng: về phía Trái Đất bị tàn phá và những trái tim đau đớn của con người; đồng thời cũng hướng về Nơi mà từ đó Đức Christ sẽ đến, nơi họ gọi một cách biểu tượng là “thiên đàng.” Ở đâu có cùng một sự kỳ vọng, ở đâu có sự đồng nhất trong chứng ngôn và tiên đoán, và ở đâu mọi dấu hiệu của “thời kỳ tận cùng” đều hiện diện với chúng ta, thì chẳng phải là hợp lý sao khi tin rằng một biến cố lớn đang trong tiến trình diễn ra? Nếu, giữa cảnh chết chóc và tàn phá, có thể tìm thấy một đức tin sống động (và quả thật đức tin ấy hiện diện khắp nơi) cùng một nhiệt tâm rực cháy xuyên thủng bóng tối để đến trung tâm ánh sáng, thì điều đó chẳng biện minh cho giả định rằng đức tin và nhiệt tâm này được đặt nền trên một tri thức trực giác sâu xa sao. Chẳng phải đó có thể là một sự kiện thiêng liêng rằng “đức tin là chất liệu của những điều được hy vọng, là bằng chứng của những điều không thấy sao?” (Hebrews XI.1.)

[188]

[188]

Humanity in all lands today awaits the Coming One—no matter by what name they may call Him. The Christ is sensed as on His way. The second coming is imminent and, from the lips of disciples, mystics, aspirants, spiritually-minded people and enlightened men and women, the cry goes up, “Let light and love and power and death fulfil the purpose of the Coming One.” These words are a demand, a consecration, a sacrifice, a statement of belief and a challenge to the Avatar, the Christ, Who waits in His high place until the demand is adequate and the cry clear enough to warrant His appearance.

Nhân loại ở mọi xứ sở ngày nay đang chờ đợi Đấng Đang Đến—dù họ có thể gọi Ngài bằng bất cứ danh xưng nào. Đức Christ được cảm nhận như đang trên đường đến. Sự tái lâm thứ hai đã gần kề, và từ môi miệng của các đệ tử, các nhà thần bí, những người chí nguyện, những người có khuynh hướng tinh thần và những người nam và nữ giác ngộ, tiếng kêu vang lên: “Cầu xin ánh sáng và tình thương và quyền năng và cái chết hoàn thành mục đích của Đấng Đang Đến.” Những lời này là một lời thỉnh cầu, một sự thánh hiến, một sự hi sinh, một lời tuyên xưng đức tin và một lời thách thức gửi đến Đấng Hoá Thân, Đức Christ, Đấng đang chờ đợi ở chốn cao siêu của Ngài cho đến khi lời thỉnh cầu đủ mạnh và tiếng kêu đủ rõ để bảo đảm cho sự xuất hiện của Ngài.

One thing it is most necessary to have in mind. It is not for us to set the date for the appearing of the Christ or to expect any spectacular aid or curious phenomena. If our work is rightly done, He will come at the set and appointed time. How, where or when He will come is none of our concern. Our work is to do our utmost and on as large a scale as possible to bring about right human relations, for His coming depends upon our work.

Có một điều hết sức cần phải ghi nhớ. Không phải việc của chúng ta là định ngày cho sự xuất hiện của Đức Christ hay mong đợi bất kỳ sự trợ giúp ngoạn mục nào hoặc những hiện tượng kỳ lạ nào. Nếu công việc của chúng ta được thực hiện đúng đắn, Ngài sẽ đến vào thời điểm đã được ấn định và chỉ định. Ngài sẽ đến như thế nào, ở đâu hay khi nào không phải là điều chúng ta cần quan tâm. Công việc của chúng ta là làm hết sức mình và trên quy mô rộng lớn nhất có thể để mang lại những tương quan nhân loại đúng đắn, vì sự đến của Ngài tùy thuộc vào công việc của chúng ta.

All of us can do something to bring the present terrible world situation to an end and to better conditions: the least of us can play our part in inaugurating the new era of goodwill and understanding. It must be realised, however, that it is no millennium for which we work but that our main objective is, at this time, twofold:

Tất cả chúng ta đều có thể làm điều gì đó để đưa tình hình thế giới khủng khiếp hiện nay đến chỗ chấm dứt và cải thiện các điều kiện: người ít có khả năng nhất trong chúng ta cũng có thể góp phần của mình vào việc khai mở kỷ nguyên mới của thiện chí và thấu hiểu. Tuy nhiên, cần phải nhận ra rằng điều chúng ta đang làm việc cho không phải là một thiên niên thái bình, mà mục tiêu chính của chúng ta, vào lúc này, có tính nhị phân:

1. To break the ancient and evil rhythms and establish a new and better one. It is here that time is a paramount factor. If we can delay the crystallisation of the ancient evils which produced the world war, and arrest the reactionary forces in every nation, we shall be making way for that which is new and opening the door to the activities [189] of the New Group of World Servers in every land—that group which is the agent of the Christ.

1. Phá vỡ những nhịp điệu cổ xưa và xấu ác, đồng thời thiết lập một nhịp điệu mới và tốt đẹp hơn. Chính ở đây yếu tố thời gian là tối quan trọng. Nếu chúng ta có thể trì hoãn sự kết tinh của những điều ác cổ xưa đã tạo ra cuộc chiến tranh thế giới, và ngăn chặn các lực lượng phản động trong mọi quốc gia, thì chúng ta sẽ mở đường cho điều mới mẻ và mở cánh cửa cho các hoạt động [189] của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian ở mọi xứ sở—nhóm vốn là tác nhân của Đức Christ.

2. To fuse and blend the united aspiration and longing of the people everywhere so that the sound of humanity’s demand may be strong enough to reach the spiritual Hierarchy.

2. Dung hợp và hòa trộn khát vọng và niềm mong mỏi hợp nhất của con người ở khắp nơi để âm thanh của lời thỉnh cầu của nhân loại có thể đủ mạnh để vươn tới Thánh đoàn tinh thần.

This will require sacrifice, understanding and a deep love of our fellowmen. It will also require intelligence and wisdom and a practical grasp of world affairs. As the work goes forward in the establishing of right human relations (which is the basic world need) and as the method of so doing—goodwill—is developed, the Christ and His disciples will steadily approach closer to mankind. If the initial premise is accepted that He is on His way, then all spiritually oriented people and the disciples and aspirants of the world will inevitably work—but the premise must be accepted if the incentive is to prove adequate. It is with this thought that we look into the future. The fiat of the Lord has gone forth; Christ stands attentive to the demand of humanity. That demand is rising and mounting every day and “in such an hour as you think not, He will come.”

Điều này sẽ đòi hỏi sự hi sinh, sự thấu hiểu và một tình thương sâu xa đối với đồng loại của chúng ta. Nó cũng sẽ đòi hỏi trí tuệ và minh triết cùng một sự nắm bắt thực tiễn về các vấn đề thế giới. Khi công việc tiến triển trong việc thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn (vốn là nhu cầu căn bản của thế giới), và khi phương pháp để thực hiện điều đó—thiện chí—được phát triển, thì Đức Christ và các đệ tử của Ngài sẽ đều đặn tiến đến gần nhân loại hơn. Nếu tiền đề ban đầu được chấp nhận rằng Ngài đang trên đường đến, thì tất cả những người có định hướng tinh thần cùng các đệ tử và người chí nguyện trên thế giới tất yếu sẽ làm việc—nhưng tiền đề ấy phải được chấp nhận nếu động lực muốn tỏ ra đầy đủ. Chính với ý nghĩ này mà chúng ta nhìn vào tương lai. Mệnh lệnh của Chúa đã được ban ra; Đức Christ đang chăm chú trước lời thỉnh cầu của nhân loại. Lời thỉnh cầu ấy đang dâng lên và tăng mạnh mỗi ngày, và “vào chính giờ các bạn không ngờ, Ngài sẽ đến.”

The sons of men are one, and I am one with them.

Những người con của nhân loại là một, và tôi là một với họ.

I seek to love, not hate;

Tôi tìm cách yêu thương mà không thù ghét;

I seek to serve and not exact due service;

Tôi tìm cách phụng sự và không đòi hỏi sự phục vụ đáp lại;

I seek to heal, not hurt.

Tôi tìm cách chữa lành, không gây tổn thương.

~

~

Let pain bring due reward of light and love.

Cầu xin sự khổ đau đem lại phần thưởng thích đáng của ánh sáng và tình thương.

Let the soul control the outer form,

Cầu xin linh hồn kiểm soát hình tướng bên ngoài,

And life, and all events,

Và sự sống, và mọi biến cố,

And bring to light the Love

Và làm hiển lộ Tình thương

That underlies the happenings of the time.

làm nền tảng cho những diễn biến của hiện thời.

~

~

Let vision come and insight.

Cầu xin tầm nhìn tinh thần đến cùng sự thông hiểu.

Let the future stand revealed.

Cầu xin tương lai tỏ rõ.

Let inner union demonstrate and outer cleavages be gone.

Cầu xin sự kết hợp nội tâm biểu dương và các chia rẽ bên ngoài tan biến.

Let love prevail.

Cầu xin tình thương chế ngự.

Let all men love.

Cầu xin mọi người yêu thương.

THE ARCANE SCHOOL — TRƯỜNG ARCANE

Training for new age discipleship

Sự huấn luyện cho địa vị đệ tử trong kỷ nguyên mới

is provided by the Arcane School.

được cung cấp bởi Trường Arcane.

The principles of the Ageless Wisdom

Các nguyên lý của Minh Triết Ngàn Đời

are presented through esoteric meditation,

được trình bày qua tham thiền nội môn,

study and service as a way of life.

học tập và phụng sự như một lối sống.

Contact the publishers for information.

Xin liên hệ với nhà xuất bản để biết thông tin.

www.lucistrust.org/arcaneschool

www.lucistrust.org/arcaneschool