← The Soul and Its Mechanism

APPENDIX—PHỤ LỤC

Trích nội dung chương

It has been frequently noticed that cats and dogs and low-grade human beings can frequently see and hear that which the normal and more intelligent person fails to register. This faculty is, however, unconscious, and the man is frequently an hallucinated victim. The saint and seer likewise see and hear, but their powers are utilised at will and are entirely under their control. A large field for investigation in these matters lies open to all psychical investigators, and when the hypothesis of the vital body and the centres is admitted, much real knowledge may come. Người ta thường nhận thấy rằng mèo và chó và những con người thấp kém…


It has been frequently noticed that cats and dogs and low-grade human beings can frequently see and hear that which the normal and more intelligent person fails to register. This faculty is, however, unconscious, and the man is frequently an hallucinated victim. The saint and seer likewise see and hear, but their powers are utilised at will and are entirely under their control. A large field for investigation in these matters lies open to all psychical investigators, and when the hypothesis of the vital body and the centres is admitted, much real knowledge may come.

Người ta thường nhận thấy rằng mèo và chó và những con người thấp kém thường có thể nhìn thấy và nghe thấy những điều mà người bình thường và thông minh hơn không ghi nhận được. Tuy nhiên, khả năng này là vô thức, và con người thường là nạn nhân bị ảo giác. Vị thánh và nhà thông nhãn cũng nhìn thấy và nghe thấy, nhưng quyền năng của họ được sử dụng theo ý muốn và hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của họ. Một lĩnh vực lớn cho sự điều tra về những vấn đề này đang mở ra cho tất cả các nhà điều tra thông linh, và khi giả thuyết về thể sinh lực và các trung tâm được thừa nhận, nhiều kiến thức thực sự có thể đến.

It is claimed by the teachers of the Eastern science of the soul that the awakening of the various centres reveals states of subtler matter than the physical. It is mainly, however, with the centres above the diaphragm that the spiritual man concerns himself, conferring, as they do, such powers as spiritual perception, correct understanding and interpretation of one’s fellowmen, so that, like Christ, we know what is in man, and can grasp why [139] a man is what he is, and acts as he does. The force of inspiration, the highest power of them all, works out as the inspiring of creative work through the medium of the throat centre, and of humanitarian enterprises through the medium of the heart centre.

Các giảng sư của khoa học phương Đông về linh hồn khẳng định rằng sự thức tỉnh của các trung tâm khác nhau tiết lộ các trạng thái vật chất vi tế hơn vật lý. Tuy nhiên, chủ yếu là với các trung tâm bên trên cơ hoành mà con người tinh thần quan tâm, vì chúng mang lại những quyền năng như tri giác tinh thần, thấu hiểu đúng đắn và giải thích về đồng loại của mình, để giống như Đức Christ, chúng ta biết những gì có trong con người, và có thể nắm bắt tại sao [139] một người lại như vậy, và hành động như y làm. Mãnh lực của cảm hứng, quyền năng cao nhất trong tất cả, tác động như là việc truyền cảm hứng cho công việc sáng tạo thông qua trung gian của trung tâm cổ họng, và cho các công cuộc nhân đạo thông qua trung gian của trung tâm tim.

The second effect claimed by this group is the transference of the force below the diaphragm to the centres above. Through evolution and the effect of meditation work a man is able to function consciously through his three major centres, (head, heart and throat) leaving the three lower centres, (the base of the spine, sacral centre and solar plexus) to carry on their normal function of energising the body automatically, so that the digestive apparatus and the reproductive system and certain aspects of the nervous mechanism can carry forward their work. According to this theory, the majority of people live “below the diaphragm” and the life force is centred in the purely animal and sensory life; the sex life and the emotional life are dominant, and all the force flowing into and through the sacral centre and the solar plexus go to the stimulation of certain physiological and lower psychical processes. As man evolves, however, the direction of the force changes. We have seen that the force is dual, being partially life force and partially soul force, one expressing itself through the blood and the other through the nervous system. The life force aspect continues to carry forward its function of vitalising and empowering all [140] the organs and structures of the body, but the soul force, hitherto relatively quiescent, begins to turn upwards. The soul force in the centre at the base of the spine is carried to the head via the spinal canal, passing through each centre in turn, gathering increasing soul energy at each point.

Hiệu quả thứ hai được nhóm này khẳng định là sự chuyển dịch của mãnh lực từ bên dưới cơ hoành lên các trung tâm bên trên. Thông qua tiến hóa và hiệu quả của công việc tham thiền, một người có thể hoạt động một cách có ý thức thông qua ba trung tâm chính của mình (đầu, tim và cổ họng), để lại ba trung tâm thấp hơn (đáy cột sống, trung tâm xương cùng và tùng thái dương) tiếp tục chức năng bình thường của chúng là tiếp sinh lực cho cơ thể một cách tự động, để bộ máy tiêu hóa và hệ thống sinh sản cùng một số phương diện nhất định của cơ chế thần kinh có thể xúc tiến công việc của chúng. Theo lý thuyết này, đa số mọi người sống “bên dưới cơ hoành” và mãnh lực sự sống tập trung hoàn toàn vào đời sống thú vật và giác quan; đời sống tình dục và đời sống cảm xúc chiếm ưu thế, và tất cả mãnh lực tuôn chảy vào và qua trung tâm xương cùng và tùng thái dương đều đi đến việc kích thích các quá trình sinh lý và thông linh thấp nhất định. Tuy nhiên, khi con người tiến hóa, hướng của mãnh lực thay đổi. Chúng ta đã thấy rằng mãnh lực là kép, một phần là mãnh lực sự sống và một phần là mãnh lực linh hồn, cái này biểu lộ qua máu và cái kia qua hệ thống thần kinh. Phương diện mãnh lực sự sống tiếp tục xúc tiến chức năng tiếp sinh lực và truyền năng lực cho tất cả [140] các cơ quan và cấu trúc của cơ thể, nhưng mãnh lực linh hồn, cho đến nay tương đối tĩnh lặng, bắt đầu hướng lên trên. Mãnh lực linh hồn tại trung tâm ở đáy cột sống được đưa lên đầu qua kênh tủy sống, đi qua lần lượt từng trung tâm, thu thập năng lượng linh hồn ngày càng tăng tại mỗi điểm.

The psychological effects of this transfer of consciousness are interesting. When the soul is “enthroned” (as the scientific Oriental books put it) in the head, it attracts upward to itself, through the power of its magnetism, the force latent at the base of the spine. Thus is produced the complete blending of spiritual energy and the force in matter itself through the attractive energy of the soul. This is what is meant by the arousing of the Kundalini power and it should be done by the magnetism of the dominant soul, and not by meditation on any specific centre or by conscious action on the force of matter.

Những hiệu quả tâm lý của sự chuyển dịch tâm thức này rất thú vị. Khi linh hồn “ngự trị” (như các sách khoa học Phương Đông diễn tả) trong đầu, nó thu hút lên về phía mình, thông qua quyền năng từ tính của nó, mãnh lực tiềm tàng tại đáy cột sống. Do đó tạo ra sự dung hợp hoàn toàn của năng lượng tinh thần và mãnh lực trong chính vật chất thông qua năng lượng thu hút của linh hồn. Đây là điều được hàm ý bởi sự khơi hoạt quyền năng Kundalini và nó nên được thực hiện bởi từ tính của linh hồn đang chiếm ưu thế, chứ không phải bằng việc tham thiền trên bất kỳ trung tâm cụ thể nào hay bằng tác động có ý thức lên mãnh lực của vật chất.

The soul energy of the sacral centre must be carried to the highest creative centre, the throat. The emphasis will then be laid on creative work carried forward for the sake of the group and not on the active sex life of the man concerned.

Năng lượng linh hồn của trung tâm xương cùng phải được đưa lên trung tâm sáng tạo cao nhất, cổ họng. Khi đó sự nhấn mạnh sẽ được đặt vào công việc sáng tạo được xúc tiến vì lợi ích của nhóm chứ không phải vào đời sống tình dục hoạt động mạnh của người liên quan.

The energy of the solar plexus centre has, equally, to be transferred and carried to the heart, and the consciousness then is no longer self-centred and purely selfish, but the man becomes group-conscious and inclusive in his attitude to people and to life. He is no longer antagonistic and exclusive. He knows and understands. He pities, [141] loves and serves. There is a wide field for research once this relationship between centre and centre, and between centre and glands, is grasped; the effects, physiological as well as psychical, will warrant close study.

Năng lượng của trung tâm tùng thái dương, cũng vậy, phải được chuyển dịch và đưa lên tim, và khi đó tâm thức không còn tập trung vào bản thân và thuần túy ích kỷ nữa, mà con người trở nên có ý thức nhóm và bao quát trong thái độ của y đối với mọi người và với cuộc sống. Y không còn đối kháng và loại trừ. Y biết và thấu hiểu. Y thương xót, [141] yêu thương và phụng sự. Có một lĩnh vực rộng lớn cho việc nghiên cứu một khi mối quan hệ này giữa trung tâm với trung tâm, và giữa trung tâm với các tuyến, được nắm bắt; các hiệu quả, về sinh lý cũng như về thông linh, sẽ xứng đáng được nghiên cứu kỹ lưỡng.

It is interesting also to note another claim made by students of the Ageless Wisdom. When man has reached a fairly high state of evolution the throat centre is functioning and he is beginning to take his place in the work of the world; he has a definite output in some field of world activity. His personality then may be regarded as organised, and he can be deemed to have reached his maturity. The psychologists tell us that the pituitary body is the seat of the emotional and mental characteristics. In one lobe the reasoning mind has its seat, whilst the other is responsible for the imaginative emotional faculties, and the power to visualise. In man, with creative power, and, therefore, with a developed personality, the two lobes of the pituitary body are equal to the demand, and from them can be deduced the status of the material aspect, the mechanism through which the soul moves and expresses itself. This gland is concerned with the centre between the eyebrows. This centre is negative to the centre in the head which is responsive to the energy of the Soul. When through conformity to the outlined technique, the soul assumes control, energises the head centre and brings the pineal gland from an atrophied to a functioning condition as in the days of childhood, the positive aspect [142] begins to play its part. A relationship is set up between the negative centre and its counterpart, the pituitary body, and the positive centre and its counterpart, the pineal gland. As time proceeds, it is claimed, a magnetic field is set up, soul and body meet, the father and mother come into relationship and the soul is brought to the birth in the consciousness of man. This is the birth of the Christ in the House of God, and the coming into being of the true man; of this the sex organs and their reproductive activities on the physical plane are the outer concretised symbol. The perversions of sex magic so widely prevalent are a distortion of this true spiritual union or fusion between the two centres of energy in the head, which are, in their turn, figurative of the relation between soul and body. Sex magic relegates the process to the centre below the diaphragm and to a relation between two persons on the physical plane. The true process is carried forward within a man’s own nature, centred in the head and the relation is between the soul and the body, instead of between man and woman.

Cũng thật thú vị khi lưu ý một khẳng định khác được đưa ra bởi các môn sinh của Minh Triết Ngàn Đời. Khi con người đã đạt đến một trạng thái tiến hóa khá cao, trung tâm cổ họng đang hoạt động và y bắt đầu chiếm vị trí của mình trong công việc của thế gian; y có những thành quả rõ rệt trong một lĩnh vực hoạt động nào đó của thế giới. Phàm ngã của y khi đó có thể được xem là đã được tổ chức, và y có thể được coi là đã đạt đến sự trưởng thành của mình. Các nhà tâm lý học bảo chúng ta rằng tuyến yên là chỗ trú đóng của các đặc điểm cảm xúc và trí tuệ. Trong một thùy, trí tuệ suy luận có chỗ trú đóng của nó, trong khi thùy kia chịu trách nhiệm về các năng lực cảm xúc tưởng tượng, và quyền năng hình dung. Ở con người, với quyền năng sáng tạo, và do đó, với một phàm ngã đã phát triển, hai thùy của tuyến yên đáp ứng được yêu cầu, và từ chúng có thể suy ra trạng thái của phương diện vật chất, bộ máy mà qua đó linh hồn di chuyển và tự biểu lộ. Tuyến này liên quan đến trung tâm giữa hai lông mày. Trung tâm này là âm đối với trung tâm trong đầu vốn đáp ứng với năng lượng của Linh hồn. Khi nhờ sự tuân thủ kỹ thuật đã được vạch ra, linh hồn nắm quyền kiểm soát, tiếp năng lượng cho trung tâm đầu và đưa tuyến tùng từ tình trạng teo đi sang tình trạng hoạt động như trong những ngày thơ ấu, phương diện dương [142] bắt đầu đóng vai trò của nó. Một mối quan hệ được thiết lập giữa trung tâm âm và đối phần của nó, tuyến yên, và trung tâm dương và đối phần của nó, tuyến tùng. Người ta khẳng định rằng, khi thời gian trôi qua, một từ trường được thiết lập, linh hồn và thân thể gặp gỡ, cha và mẹ đi vào mối quan hệ và linh hồn được đưa đến sự sinh hạ trong tâm thức của con người. Đây là sự ra đời của Đức Christ trong Ngôi Nhà của Thượng Đế, và sự hình thành của con người chân thực; về điều này, các cơ quan sinh dục và hoạt động sinh sản của chúng trên cõi hồng trần là biểu tượng cụ thể hóa bên ngoài. Những sự biến thái của ma thuật tình dục đang phổ biến rộng rãi là một sự méo mó của sự hợp nhất hoặc dung hợp tinh thần chân thực này giữa hai trung tâm năng lượng trong đầu, mà đến lượt chúng, là hình ảnh biểu trưng cho mối quan hệ giữa linh hồn và thân thể. Ma thuật tình dục đẩy quy trình này xuống trung tâm bên dưới cơ hoành và vào một mối quan hệ giữa hai người trên cõi hồng trần. Quy trình chân thực được xúc tiến bên trong bản chất của chính con người, tập trung trong đầu và mối quan hệ là giữa linh hồn và thân thể, thay vì giữa người nam và người nữ.

Another effect claimed for this relationship between the two head centres and their corresponding glands is that the interplay between the two produces the shining forth of a light. There is much corroborative evidence in this connection in the Scriptures of the world, including Christ’s injunction to His followers to “let their light shine.” There is cumulative evidence also in the lives of [143] the mystics, who again and again in their writings bear testimony to a light that has been seen. I sent out a letter to a group of students (who have been studying meditation for several years) asking if they were aware of any phenomena of interest as the result of their work. The letter was not sent to neurotics and visionary types, but to men and women of good standing in the business, artistic and literary fields, and with accomplishment to their credit. Seventy-five per cent testified to seeing a light in the head. Were they hallucinated? Were they the victims of their imaginations? What was it they saw? and constantly see?

Một hiệu quả khác được khẳng định đối với mối quan hệ này giữa hai trung tâm đầu và các tuyến tương ứng của chúng là sự tương tác giữa cả hai tạo ra sự tỏa rạng của một ánh sáng. Có nhiều bằng chứng xác thực về mối liên hệ này trong các Kinh điển của thế giới, bao gồm lời răn dạy của Đức Christ đối với các tín đồ của Ngài là hãy “để ánh sáng của họ tỏa chiếu”. Cũng có bằng chứng tích lũy trong cuộc đời của [143] các nhà thần bí, những người lặp đi lặp lại trong các tác phẩm của họ làm chứng về một ánh sáng đã được nhìn thấy. Tôi đã gửi một lá thư cho một nhóm đạo sinh (những người đã nghiên cứu tham thiền trong vài năm) hỏi xem họ có nhận thức được bất kỳ hiện tượng thú vị nào là kết quả công việc của họ không. Lá thư không được gửi đến những người loạn thần kinh và những kiểu người hay thấy linh ảnh, mà gửi đến những người nam và nữ có địa vị tốt trong các lĩnh vực kinh doanh, nghệ thuật và văn học, và đã đạt được những thành tựu. Bảy mươi lăm phần trăm đã làm chứng về việc nhìn thấy một ánh sáng trong đầu. Họ có bị ảo giác không? Họ có phải là nạn nhân của sự tưởng tượng của mình không? Điều họ đã thấy là gì? và thường xuyên thấy là gì?

An interesting field for investigation lies here also, and the results may have a basis in the fact, now recognised by science, that light is matter, and matter is light. When the soul is functioning and the man has achieved conscious union with that soul, he may then, through the extra stimulation involved, become aware of the light of the etheric body at its main point of junction with the physical body at the most important centre in the body, the head centre. Professor Bazzoni says:

Một lĩnh vực thú vị cho việc điều tra cũng nằm ở đây, và các kết quả có thể có cơ sở trong thực tế, hiện nay đã được khoa học công nhận, rằng ánh sáng là vật chất, và vật chất là ánh sáng. Khi linh hồn đang hoạt động và con người đã đạt được sự hợp nhất có ý thức với linh hồn đó, y có thể, thông qua sự kích thích gia tăng liên quan, trở nên nhận biết về ánh sáng của thể dĩ thái tại điểm giao nhau chính của nó với thể xác tại trung tâm quan trọng nhất trong cơ thể, trung tâm đầu. Giáo sư Bazzoni nói:

“We have seen that all forms of matter on the earth are made up of 92 different kinds of atoms grouped into molecules which, taken together in countless millions, form all of the bodies which we see about us and indeed for that matter, our own bodies. Now, any one of these 92 kinds of atoms when stimulated in certain ways well known to science can be made to give off light—generally coloured light—and the nature of [144] this light is peculiar and characteristic for each of the 92 atoms.” (C. B. Bazzoni, Kernels of the Universe, P. 31)4

“Chúng ta đã thấy rằng tất cả các dạng vật chất trên trái đất đều được tạo thành từ 92 loại nguyên tử khác nhau được nhóm lại thành các phân tử, mà khi kết hợp cùng nhau với số lượng hàng triệu vô kể, tạo thành tất cả các vật thể mà chúng ta thấy quanh mình và cả chính thân thể của chúng ta nữa. Nay, bất kỳ loại nào trong số 92 loại nguyên tử này khi được kích thích theo những cách nhất định mà khoa học đã biết rõ đều có thể được làm cho phát ra ánh sáng—thường là ánh sáng màu—và bản chất của [144] ánh sáng này là đặc biệt và đặc trưng cho mỗi loại trong số 92 nguyên tử.” (C. B. Bazzoni, Kernels of the Universe, Tr. 31)4

Does this throw any light on our problem, provided the hypothesis of an etheric body is admitted? Is the halo around the heads of saints and of deity in all the ancient pictures of both hemispheres an indication that the artists knew they were painting illuminated men in the physical as well as in the spiritual sense? These things should be investigated, and either proved or disproved.

Liệu điều này có soi sáng chút nào cho vấn đề của chúng ta, miễn là giả thuyết về một thể dĩ thái được thừa nhận? Phải chăng hào quang quanh đầu các vị thánh và của thượng đế trong tất cả các bức tranh cổ xưa của cả hai bán cầu là một dấu hiệu cho thấy các họa sĩ biết họ đang vẽ những con người được soi sáng theo nghĩa vật lý cũng như nghĩa tinh thần? Những điều này nên được điều tra, và hoặc được chứng minh hoặc bị bác bỏ.

The possibility of unifying the two great schools of thought which seek to account for the unit man in terms of Western achievement and of Eastern philosophy based on a technique of soul control is therefore in the nature of an experiment. Given the willingness to accept what the Western student regards as hypothetical and given an open mind, what can be done of specific and practical import to demonstrate as truth or to reject as false the arguments put forward in this book?

Do đó, khả năng thống nhất hai trường phái tư tưởng lớn tìm cách giải thích đơn vị con người theo các thuật ngữ của thành tựu Phương Tây và của triết học Phương Đông dựa trên một kỹ thuật để linh hồn kiểm soát, mang bản chất của một cuộc thử nghiệm. Với sự sẵn lòng chấp nhận những gì môn sinh Phương Tây coi là giả thuyết và với một tâm trí cởi mở, điều gì có ý nghĩa cụ thể và thực tiễn có thể được thực hiện để chứng minh là sự thật hoặc bác bỏ là sai lầm các lập luận được đưa ra trong cuốn sách này?

Maeterlinck quotes Herbert Spencer to the effect that:

Maeterlinck trích dẫn Herbert Spencer với đại ý như sau:

“Perpetually to construct ideas requiring the utmost stretch of our faculties and perpetually to find that such ideas must be abandoned as futile imaginations, may realize to us more fully than any other course the greatness of that which we vainly strive to grasp.... By continually seeking to know and being continually thrown back with a deepened conviction of the impossibility of knowing, we may keep alive the consciousness [145] that it is alike our highest wisdom and our highest duty to regard that through which all things exist as the Unknowable.” Maurice Maeterlinck, The Light beyond p. 95)

“Việc liên tục xây dựng các ý tưởng đòi hỏi sự căng ra tối đa của các năng lực của chúng ta và liên tục nhận thấy rằng những ý tưởng như vậy phải bị từ bỏ như những tưởng tượng vô ích, có thể giúp chúng ta nhận ra đầy đủ hơn bất kỳ cách nào khác sự vĩ đại của cái mà chúng ta cố gắng nắm bắt trong vô vọng.... Bằng cách liên tục tìm kiếm sự hiểu biết và liên tục bị đẩy lùi với một niềm tin sâu sắc hơn về sự bất khả thi của việc hiểu biết, chúng ta có thể giữ cho tâm thức sống động [145] rằng đó cũng là sự minh triết cao nhất và bổn phận cao nhất của chúng ta khi xem cái mà qua đó vạn vật tồn tại là Bất Khả Tri.” Maurice Maeterlinck, The Light beyond tr. 95)

But may it not be possible, however, to clear our vision somewhat and “deepening our conviction,” arrive at a better understanding of the forms and aspects which veil that unknowable Essential Reality in whose Body we “live and move and have our being?”

Tuy nhiên, liệu có thể nào, để làm sáng tỏ phần nào tầm nhìn của chúng ta và “làm sâu sắc thêm niềm tin của chúng ta”, đi đến một sự thấu hiểu tốt hơn về các hình tướng và phương diện che khuất Thực Tại Cốt Yếu bất khả tri đó mà trong Thân Thể của Nó chúng ta “sống và hoạt động và hiện hữu”?

Granted that it is the phenomenal world, whether it is the human family we are considering, or the forms visioned and contacted in the Kingdom of the Soul, it may be eventually proved true that, progressively, the forms (as they mount in the scale of being) may reveal to us expanding truths about that Essential Life. As the mechanism develops and improves so may our concepts of Divinity. Edward Carpenter expresses this idea in the following words:

Giả sử rằng đó là thế giới hiện tượng, dù là gia đình nhân loại mà chúng ta đang xem xét, hay các hình tướng được thấy trong linh ảnh và được tiếp xúc trong Vương Quốc của Linh Hồn, cuối cùng có thể được chứng minh là đúng rằng, dần dần, các hình tướng (khi chúng leo lên thang bậc của sự hiện hữu) có thể tiết lộ cho chúng ta những chân lý mở rộng về Sự Sống Cốt Yếu đó. Khi cơ chế phát triển và cải thiện thì các khái niệm của chúng ta về Thiên tính cũng vậy. Edward Carpenter diễn đạt ý tưởng này qua những lời sau:

“Dr. Frazer, in the conclusion of his great work, The Golden Bough, bids farewell to his readers with the following words: ‘The laws of Nature are merely hypotheses devised to explain that ever-shifting phantasmagoria of thought which we dignify with the high-sounding names of the World and the Universe. In the last analysis magic, religion and science are nothing but theories (of thought); and as science has supplanted its predecessors, so it may hereafter itself be superseded by some more perfect hypothesis, perhaps by some perfectly different way of looking at phenomena, of registering the shadows on the screen—of [146] which we in this generation can form no idea.’ I imagine Dr. Frazer is right in thinking that ‘a way of looking at phenomena’ different from the way of science, may some day prevail. But I think this change will come, not so much by the growth of Science itself or the extension of its ‘hypotheses,’ as by a growth and expansion of the human heart and a change in its psychology and powers of perception.” (Edward Carpenter, Pagan and Chrisitan Creeds; Their Origin and Meaning, p. 278)

“Tiến sĩ Frazer, trong phần kết luận của tác phẩm vĩ đại của ông, The Golden Bough, chào tạm biệt độc giả của mình với những lời sau: ‘Các quy luật của Tự nhiên chỉ là những giả thuyết được đặt ra để giải thích ảo ảnh biến đổi không ngừng của tư tưởng mà chúng ta tôn vinh bằng những cái tên kêu vang là Thế Giới và Vũ Trụ. Xét đến cùng, ma thuật, tôn giáo và khoa học không là gì khác ngoài những lý thuyết (của tư tưởng); và cũng như khoa học đã thay thế các tiền nhiệm của nó, thì sau này chính nó cũng có thể bị thay thế bởi một giả thuyết hoàn hảo hơn nào đó, có lẽ bởi một cách nhìn hoàn toàn khác về các hiện tượng, về việc ghi nhận những cái bóng trên màn hình—về [146] cái mà chúng ta trong thế hệ này không thể hình thành ý niệm nào.’ Tôi cho rằng Tiến sĩ Frazer đã đúng khi nghĩ rằng ‘một cách nhìn về các hiện tượng’ khác với cách của khoa học, một ngày nào đó có thể chiếm ưu thế. Nhưng tôi nghĩ sự thay đổi này sẽ đến, không chủ yếu do sự phát triển của chính Khoa học hay sự mở rộng các ‘giả thuyết’ của nó, mà bởi sự trưởng thành và mở rộng của trái tim con người và một sự thay đổi trong tâm lý và các năng lực nhận thức của nó.” (Edward Carpenter, Pagan and Chrisitan Creeds; Their Origin and Meaning, tr. 278)

Maeterlinck sums this up very succinctly when he says: “It behooves us therefore to clear away conceptions that emanate only from our body, even as the mists that veil the daylight from our sight emanate only from the lowlands. Pascal has said, once and for all: ‘The narrow limits of our being conceal infinity from our view.’” (Maurice Maeterlinck, The Light beyond p. 73)

Maeterlinck tóm tắt điều này rất súc tích khi ông nói: “Do đó, chúng ta cần phải xóa bỏ những quan niệm chỉ phát xuất từ thân thể của mình, cũng như những màn sương che khuất ánh sáng ban ngày khỏi tầm nhìn của chúng ta chỉ bốc lên từ các vùng đất thấp. Pascal đã nói, dứt khoát một lần: ‘Những giới hạn chật hẹp của con người chúng ta che giấu sự vô hạn khỏi tầm nhìn của chúng ta.’” (Maurice Maeterlinck, The Light beyond tr. 73)

Practical suggestions must be made in the attempt to disprove the supernatural (if it might be so expressed) and prove that the subjective states to which the mystic and seer testify are simply demonstrations of natural forces and powers. These powers man has failed as yet to recognise and control, just as he failed centuries ago to cognise those forces which he is now able, to some extent at least, to understand and use, and which are the glory of our present civilisation. Let us prove one of these soul powers to be a fact in nature and the portals of a new world will open before humanity. Dr. Leary appreciates this when he says: [147]

Những gợi ý thực tiễn phải được đưa ra trong nỗ lực bác bỏ cái siêu nhiên (nếu có thể diễn đạt như vậy) và chứng minh rằng các trạng thái nội giới mà nhà thần bí và nhà thông nhãn làm chứng chỉ đơn giản là những biểu hiện của các mãnh lực và quyền năng tự nhiên. Những quyền năng này con người cho đến nay vẫn chưa nhận biết và kiểm soát được, cũng như y đã thất bại cách đây nhiều thế kỷ trong việc nhận thức những mãnh lực mà giờ đây y đã có thể, ít nhất là ở một mức độ nào đó, thấu hiểu và sử dụng, và vốn là vinh quang của nền văn minh hiện tại của chúng ta. Chúng ta hãy chứng minh một trong những quyền năng linh hồn này là một sự thật trong tự nhiên và các cánh cổng của một thế giới mới sẽ mở ra trước nhân loại. Tiến sĩ Leary nhận thức được điều này khi ông nói: [147]

“It is somehow felt that there are some qualities, some traits at least of some personalities, which cannot be accounted for in terms of the activity of any physical structure. Nor is this an unimportant point which can be summarily dismissed as mere superstition; it is too widespread, too highly charged with emotion, too much shared in even by some psychologists to be ignored. And it is worth while once more mentioning, if there be any such traits, spiritual or what not, which by definition or assumption are not based on structure, the admission of even the smallest and seemingly most unimportant of these will inevitably and completely negative the whole field of science, for determinism to be true determinism must be completely so.” (Daniel H Leary, Ph.D., Modern Psychology: Normal and Abnormal, pp. 191, 192.)

“Người ta cảm thấy bằng cách nào đó rằng có một số phẩm chất, ít nhất là một số nét của một vài phàm ngã, không thể được giải thích theo các thuật ngữ hoạt động của bất kỳ cấu trúc vật lý nào. Đây cũng không phải là một điểm không quan trọng có thể bị bác bỏ ngay lập tức như là sự mê tín thuần túy; nó quá phổ biến, chứa quá nhiều cảm xúc, được chia sẻ quá nhiều ngay cả bởi một số nhà tâm lý học để có thể bị phớt lờ. Và thật đáng để nhắc lại một lần nữa, nếu có bất kỳ nét nào như vậy, mang tính tinh thần hay gì đi nữa, mà theo định nghĩa hoặc giả định không dựa trên cấu trúc, thì việc thừa nhận ngay cả cái nhỏ nhất và dường như không quan trọng nhất trong số này cũng sẽ phủ định hoàn toàn và triệt để toàn bộ lĩnh vực khoa học, vì thuyết quyết định để là thuyết quyết định đúng đắn thì phải hoàn toàn như vậy.” (Daniel H Leary, Ph.D., Modern Psychology: Normal and Abnormal, các trang 191, 192.)

First it should be possible to found a laboratory where the claims of the student of the Oriental philosophy in connection with the vitalising soul can be substantiated or proved false. The phenomena of death can be studied from the angle of the withdrawal of the soul. The radiations from the human body have, of course, received attention, but specific investigation of the spine and its relation to the centres is as yet a new field of study, though Dr. Baraduc of the Sorbonne, Paris, did some interesting work in this connection forty-five years ago. His book, L’Ame Vitale, is suggestive, though conjectural, and his contentions need substantiating.

Đầu tiên, nên có thể thành lập một phòng thí nghiệm nơi các khẳng định của môn sinh triết học Phương Đông liên quan đến linh hồn tiếp sinh lực có thể được chứng minh là đúng hoặc sai. Các hiện tượng của cái chết có thể được nghiên cứu từ góc độ sự rút lui của linh hồn. Các bức xạ từ thân thể con người, dĩ nhiên, đã nhận được sự chú ý, nhưng việc điều tra cụ thể về cột sống và mối quan hệ của nó với các trung tâm vẫn là một lĩnh vực nghiên cứu mới mẻ, mặc dù Tiến sĩ Baraduc của Sorbonne, Paris, đã thực hiện một số công việc thú vị trong mối liên hệ này bốn mươi lăm năm trước. Cuốn sách của ông, L’Ame Vitale, mang tính gợi mở, mặc dù phỏng đoán, và các luận điểm của ông cần được chứng minh.

The whole subject of the vital body and its effects on the nervous system and the glands open up an immense field for study; whilst the relationship [148] of the ether-body of man not only to his nerve apparatus but to the planetary etheric body or the ether in which he, as an organism, has his place, is yet an untouched field.

Toàn bộ chủ đề về thể sinh lực và các hiệu quả của nó lên hệ thống thần kinh và các tuyến mở ra một lĩnh vực nghiên cứu bao la; trong khi mối quan hệ [148] của thể dĩ thái của con người không chỉ với bộ máy thần kinh của y mà còn với thể dĩ thái hành tinh hay dĩ thái trong đó y, như một sinh vật, có vị trí của mình, vẫn là một lĩnh vực chưa được chạm tới.

Secondly it should be possible to gather testimony as to the fact and nature of the light in the head to which so many testify.

Thứ hai, nên có thể thu thập lời chứng về sự thật và bản chất của ánh sáng trong đầu mà rất nhiều người làm chứng.

The recent spectacular experiments into the nature of telepathy are tending in the right direction, but this technique of telepathy is as yet in its infancy; much will be revealed when a distinction is made between communication from mind to mind, which is mental telepathy, and that much rarer form of communication between soul and soul and between soul and brain. This latter form has been called inspiration and has brought into being the Scriptures and the so-called “inspired” writings of the world, and has guided the mental processes of the great inventors and scientists, poets and artists.

Những thí nghiệm ngoạn mục gần đây về bản chất của viễn cảm đang hướng đi đúng, nhưng kỹ thuật viễn cảm này vẫn còn trong giai đoạn trứng nước; nhiều điều sẽ được tiết lộ khi có sự phân biệt giữa sự giao tiếp từ trí tuệ đến trí tuệ, vốn là viễn cảm trí tuệ, và dạng giao tiếp hiếm hơn nhiều đó giữa linh hồn và linh hồn và giữa linh hồn và bộ não. Dạng sau này đã được gọi là cảm hứng và đã mang lại sự ra đời của các Kinh điển và những tác phẩm được gọi là “được truyền cảm hứng” của thế giới, và đã dẫn dắt các tiến trình trí tuệ của những nhà phát minh và khoa học, thi sĩ và nghệ sĩ vĩ đại.

Telepathy and inspiration are as dependent upon the individual human etheric body and its relation to the universal ether as is light itself or the radio. They bear witness to this subtler world of spirit and of soul.

Viễn cảm và cảm hứng cũng phụ thuộc vào thể dĩ thái của cá nhân con người và mối quan hệ của nó với dĩ thái vũ trụ giống như chính ánh sáng hay vô tuyến điện vậy. Chúng làm chứng cho thế giới vi tế hơn này của tinh thần và của linh hồn.

Pupin in the epilogue to The New Reformation says:

Pupin trong phần lời bạt cho cuốn The New Reformation nói:

“The creative power of the soul is the only guide in our attempts to decipher the meaning of this ultra-material substance. It furnishes the most reliable standard of comparing the soul of one man with the soul of another man and with that of lower animals. [149] This comparison, resembling, to some extent, the scientific methods of quantitative measurement, has been going on ever since civilization began. The procedure of this inquiry is in many ways equivalent to the scientific method of inquiry by observation, experiment and calculation; what it lacks in precision it makes up by its vast number of trials and errors extending over many centuries of qualitative measurements by careful comparison. It resulted in the universal verdict, that not only is the soul of man far superior to the animal soul, but that this difference is immeasurably greater than the difference in their bodily structures. The comparison revealed also an element in this difference which towers high above all the other differentiating elements; it is the spiritual element. The creative power of the human soul has created a new world in human consciousness; it is the spiritual world.” (Michael Pupin, The New Reformation, pp. 264, 265.)

“Quyền năng sáng tạo của linh hồn là người dẫn đường duy nhất trong những nỗ lực của chúng ta nhằm giải mã ý nghĩa của chất liệu siêu vật chất này. Nó cung cấp tiêu chuẩn đáng tin cậy nhất để so sánh linh hồn của người này với linh hồn của người khác và với linh hồn của các loài động vật thấp hơn. [149] Sự so sánh này, giống ở một mức độ nào đó với các phương pháp đo lường định lượng khoa học, đã diễn ra kể từ khi nền văn minh bắt đầu. Quy trình của cuộc điều tra này theo nhiều cách tương đương với phương pháp điều tra khoa học bằng quan sát, thử nghiệm và tính toán; những gì nó thiếu về độ chính xác thì nó bù đắp bằng số lượng lớn các lần thử và sai kéo dài qua nhiều thế kỷ đo lường định tính bằng sự so sánh cẩn thận. Nó dẫn đến phán quyết phổ quát, rằng linh hồn con người không chỉ vượt trội xa so với hồn thú vật, mà sự khác biệt này còn lớn hơn vô cùng so với sự khác biệt trong cấu trúc cơ thể của chúng. Sự so sánh cũng tiết lộ một yếu tố trong sự khác biệt này vốn vượt cao hơn tất cả các yếu tố phân biệt khác; đó là yếu tố tinh thần. Quyền năng sáng tạo của linh hồn con người đã tạo ra một thế giới mới trong tâm thức nhân loại; đó là thế giới tinh thần.” (Michael Pupin, The New Reformation, các trang 264, 265.)

Among other possible avenues of research is the carrying forward of the work of Dr. Kilner with the human aura, which he has embodied in his book, The Human Atmosphere. Still further lines of investigation into the supernormal powers have been well summed up for us in a recent statement from an Australian periodical called The Federal Independent, and from which two paragraphs are here quoted:

Trong số những con đường nghiên cứu khả thi khác là việc xúc tiến công trình của Tiến sĩ Kilner với hào quang con người, mà ông đã trình bày trong cuốn sách của mình, The Human Atmosphere. Những hướng điều tra xa hơn nữa về các quyền năng siêu bình thường đã được tóm tắt rõ ràng cho chúng ta trong một tuyên bố gần đây từ một tạp chí Úc có tên là The Federal Independent, và từ đó hai đoạn văn được trích dẫn ở đây:

“New light on Christ’s walking on the waters was thrown recently by a scientist who has been making a special study of Einstein’s newest theory of relativity. As a result of his investigations Professor H.H. Sheldon says that he may find it possible to assert that the Biblical narrative at which the sceptics have so long [150] mocked is a fact explicable by scientific laws. ‘The miracle can be accepted by the most sceptical minds as soon as they recognize the fact that the basic laws of relativistic mechanics and of electricity can be reduced to one formula, and that the power of electromagnetism can influence and completely control gravitation,’ said Professor Sheldon. According to Einstein’s latest mathematical theory there is only one substance and one universal law containing electric and gravitational components, both of which are united into a single formula, and each of which influences the other. Dr. Sheldon now believes that as a result of this discovery such things as keeping aeroplanes aloft without engines or material support, and stepping out of a window into the air without fear of falling, are avenues of investigation easily suggested. ‘If this theory stands up as a proof that electricity and gravitation are virtually the same, we can actually isolate ourselves from the force of gravitation,’ he declared. In actual proof of these seemingly incredible possibilities, Dr. Sheldon showed how a bar of permalloy, which is usually sensitive to magnetism, will remain suspended seemingly by air alone, if a magnet is placed underneath it.

“Ánh sáng mới về việc Đức Christ đi trên mặt nước đã được soi rọi gần đây bởi một nhà khoa học, người đang thực hiện một nghiên cứu đặc biệt về thuyết tương đối mới nhất của Einstein. Là kết quả của những cuộc điều tra của mình, Giáo sư H.H. Sheldon nói rằng ông có thể thấy có khả năng khẳng định rằng câu chuyện trong Kinh Thánh mà những người hoài nghi đã chế giễu bấy lâu nay [150] là một sự thật có thể giải thích được bằng các định luật khoa học. ‘Phép lạ có thể được chấp nhận bởi những tâm trí hoài nghi nhất ngay khi họ nhận ra sự thật rằng các định luật cơ bản của cơ học tương đối tính và của điện học có thể được quy về một công thức, và rằng sức mạnh của điện từ trường có thể ảnh hưởng và kiểm soát hoàn toàn lực hấp dẫn,’ Giáo sư Sheldon nói. Theo lý thuyết toán học mới nhất của Einstein, chỉ có một chất liệu và một quy luật vũ trụ chứa đựng các thành phần điện và hấp dẫn, cả hai đều được hợp nhất thành một công thức duy nhất, và mỗi cái ảnh hưởng đến cái kia. Tiến sĩ Sheldon nay tin rằng là kết quả của khám phá này, những việc như giữ máy bay trên cao mà không cần động cơ hay sự hỗ trợ vật chất, và bước ra khỏi cửa sổ vào không trung mà không sợ rơi, là những con đường điều tra dễ dàng được gợi ý. ‘Nếu lý thuyết này đứng vững như một bằng chứng rằng điện và lực hấp dẫn hầu như là như nhau, chúng ta thực sự có thể cô lập bản thân khỏi lực hấp dẫn,’ ông tuyên bố. Để chứng minh thực tế những khả năng dường như khó tin này, Tiến sĩ Sheldon đã chỉ ra cách một thanh permalloy, thường nhạy cảm với từ tính, sẽ lơ lửng dường như chỉ nhờ không khí, nếu một nam châm được đặt bên dưới nó.

In the light of Einstein’s new theory, therefore, it may be that Christ’s freedom from the accepted laws of gravitation, which would have forced Him to sink as soon as His feet touched the surface of the sea, was due to a prodigious amount of electro-magnetism in His own body, and from a force springing from the strength of His personality and vitality. In all the paintings of Christ He is shown with a halo about His head. Once this halo was regarded as the product of His disciples’ overwrought imaginations. But during the last few years science, along with many students of psychic phenomena, has shown by means of actual experiments that every human being has an aura which [151] strongly resembles that refulgence emanating from any powerful electric machine.

Do đó, dưới ánh sáng của lý thuyết mới của Einstein, có thể là sự tự do của Đức Christ khỏi các định luật hấp dẫn đã được chấp nhận, vốn sẽ buộc Ngài phải chìm xuống ngay khi chân Ngài chạm vào mặt biển, là do một lượng điện từ trường phi thường trong chính cơ thể Ngài, và từ một lực phát sinh từ sức mạnh của phàm ngã và sinh lực của Ngài. Trong tất cả các bức tranh về Đức Christ, Ngài được thể hiện với một hào quang quanh đầu. Hào quang này từng được coi là sản phẩm của trí tưởng tượng quá khích của các môn đồ Ngài. Nhưng trong vài năm qua, khoa học, cùng với nhiều người nghiên cứu các hiện tượng thông linh, đã chỉ ra bằng các thí nghiệm thực tế rằng mỗi con người đều có một hào quang mà [151] rất giống với sự rực rỡ phát ra từ bất kỳ máy điện mạnh mẽ nào.

Such a statement is a further proof that science is rapidly crossing the border-line separating things material from things spiritual. Once we realize that the knowledge of higher laws can overcome the resistance of lower laws, then we shall enter our true spiritual heritage.”

Một tuyên bố như vậy là bằng chứng thêm nữa cho thấy khoa học đang nhanh chóng vượt qua ranh giới ngăn cách những điều vật chất với những điều tinh thần. Một khi chúng ta nhận ra rằng kiến thức về các quy luật cao hơn có thể vượt qua sự kháng cự của các quy luật thấp hơn, thì chúng ta sẽ bước vào di sản tinh thần chân thực của mình.”

We stand expectantly awaiting the dawn of that day when religion will stand upon a scientific basis and the truths to which the ages bear witness will be substantiated and proven, for, as Dr. Pupin further tells us:

Chúng ta đứng chờ đợi trong sự mong đợi bình minh của ngày đó khi tôn giáo sẽ đứng trên một nền tảng khoa học và những chân lý mà các thời đại làm chứng sẽ được xác minh và chứng minh, vì, như Tiến sĩ Pupin nói thêm với chúng ta:

“Yes, God’s spiritual realities are invisible, but they are illustrated and made intelligible by the physical realities revealed in the physical things which are made. According to this interpretation of the Apostle’s words the physical and the spiritual realities supplement each other. They are the two terminals of the same realities, one terminal residing in the human soul, and the other in the things of the external world. Here is one of the fundamental reasons why Science and Religion supplement each other. They are the two pillars of the portal through which the human soul enters the world where the divinity resides.” (Michael Pupin, The New Reformation, p. 272.)

“Vâng, các thực tại tinh thần của Thượng Đế là vô hình, nhưng chúng được minh họa và làm cho dễ hiểu bởi các thực tại vật lý được tiết lộ trong những vật thể vật lý được tạo ra. Theo cách giải thích này về lời của Tông Đồ, các thực tại vật lý và tinh thần bổ sung cho nhau. Chúng là hai cực của cùng những thực tại, một cực cư trú trong linh hồn con người, và cực kia trong các sự vật của thế giới bên ngoài. Đây là một trong những lý do cơ bản tại sao Khoa học và Tôn giáo bổ sung cho nhau. Chúng là hai trụ cột của cánh cổng mà qua đó linh hồn con người bước vào thế giới nơi thiên tính cư ngụ.” (Michael Pupin, The New Reformation, tr. 272.)

Then there will emerge a new race, with new capacities, new ideals, new concepts about God and matter, about life and spirit. Through that race and through the humanity of the future there will be seen not only a mechanism and a structure, but a soul, an entity, who, using the mechanism, will [152] manifest its own nature, which is love, wisdom and intelligence.

Khi đó sẽ xuất hiện một giống dân mới, với những năng lực mới, những lý tưởng mới, những khái niệm mới về Thượng Đế và vật chất, về sự sống và tinh thần. Thông qua giống dân đó và thông qua nhân loại của tương lai, sẽ được nhìn thấy không chỉ một cơ chế và một cấu trúc, mà là một linh hồn, một thực thể, người mà, khi sử dụng cơ chế, sẽ [152] biểu lộ bản chất của chính mình, vốn là tình thương, minh triết và trí thông minh.

Science has even recognised this ultimate possibility and noted that the trend of the evolutionary process is towards a more perfect adaptation between the form and the life. Everywhere throughout creation a purpose is working out, a will towards perfection is manifesting. That purpose and that will are controlled by love and wisdom and those two types of energy—the purpose of spirit and the attractive force of the soul—are intelligently applied to the perfecting of the matter aspect. Spirit, soul and body—a divine triplicity—manifest in the world and will carry all forward towards a consummation that is pictured for us in the Scriptures of the world in a wealth of imagery, of colour and of form. Browning’s vision of this truth and his expression of it will sum up for us the results of our study and will be a fitting close for this essay:

Khoa học thậm chí đã công nhận khả năng tối hậu này và lưu ý rằng xu hướng của tiến trình tiến hóa là hướng tới một sự thích nghi hoàn hảo hơn giữa hình tướng và sự sống. Ở mọi nơi trong khắp tạo vật, một mục đích đang thực hiện, một ý chí hướng tới sự hoàn hảo đang biểu lộ. Mục đích đó và ý chí đó được kiểm soát bởi tình thương và minh triết và hai loại năng lượng đó—mục đích của tinh thần và mãnh lực thu hút của linh hồn—đang được áp dụng một cách thông minh vào việc hoàn thiện phương diện vật chất. Tinh thần, linh hồn và thân thể—một bộ ba thiêng liêng—biểu lộ trong thế giới và sẽ đưa tất cả tiến về phía trước tới một sự thành tựu vốn được hình dung cho chúng ta trong các Kinh điển của thế giới bằng vô vàn hình ảnh, màu sắc và hình tướng. Tầm nhìn của Browning về chân lý này và cách diễn đạt của ông về nó sẽ tóm tắt cho chúng ta các kết quả nghiên cứu của mình và sẽ là một cái kết phù hợp cho bài tiểu luận này:

“—and God renews

“—và Thượng Đế đổi mới

His ancient rapture. Thus He dwells in all,

Niềm hoan lạc cổ xưa của Ngài. Như thế Ngài ngự trong tất cả,

From life’s minute beginnings, up at last

Từ những khởi đầu nhỏ nhoi của sự sống, cuối cùng lên

To man—the consummation of this scheme

Đến con người—sự thành tựu của kế hoạch

Of being, the completion of this sphere

Hiện hữu này, sự hoàn thành của khối cầu

Of life; whose attributes had here and there

Sự sống này; mà các thuộc tính đã ở đây và ở đó

Been scattered o’er the visible world before,

Rải rác khắp thế giới hữu hình trước kia,

Asking to be combined, dim fragments meant

Đòi hỏi được kết hợp, những mảnh mờ nhạt vốn được định

To be united in some wondrous whole,

Để được hợp nhất trong một tổng thể kỳ diệu nào đó,

Imperfect qualities throughout creation,

Những phẩm chất không hoàn hảo trong khắp tạo vật,

Suggesting some one creature yet to make,

Gợi ý về một sinh vật nào đó chưa được tạo ra,

Some point where all these scattered rays should meet [153]

Một điểm nơi tất cả những tia phân tán này sẽ gặp gỡ [153]

Convergent in the faculties of man....

Hội tụ trong các năng lực của con người....

When all the race is perfected alike

Khi tất cả giống dân đều được hoàn thiện như nhau

As man, that is; all tended to mankind,

Là con người, nghĩa là vậy; tất cả đều hướng đến nhân loại,

And, man produced, all has its end thus far;

Và, con người được tạo ra, tất cả đều có đích đến của nó cho đến nay;

But in completed man begins anew

Nhưng trong con người hoàn thiện bắt đầu lại

A tendency to God. Prognostics told

Một khuynh hướng hướng về Thượng Đế. Những điềm báo đã kể

Man’s near approach; so in man’s self arise

Về sự tiếp cận gần kề của con người; vì vậy trong chính con người nảy sinh

August anticipations, symbols, types

Những dự cảm uy nghi, những biểu tượng, những kiểu mẫu

Of a dim splendour ever on before

Về một sự huy hoàng mờ nhạt mãi ở phía trước

In that eternal circle life pursues.

Trong vòng tròn vĩnh cửu đó mà sự sống theo đuổi.

For men begin to pass their nature’s bound,

Vì con người bắt đầu vượt qua giới hạn bản chất của họ,

And find new hopes and cares which fast supplant

Và tìm thấy những hy vọng và mối quan tâm mới nhanh chóng thay thế

Their proper joys and griefs; they grow too great

Những niềm vui và nỗi buồn riêng của họ; họ trở nên quá vĩ đại

For narrow creeds of right and wrong, which fade

Cho những tín điều hẹp hòi về đúng và sai, vốn phai nhạt

Before the unmeasured thirst for good; while peace

Trước cơn khát khao điều thiện không thể đong đếm; trong khi sự an bình

Rises within them ever more and more.

Dâng lên trong họ mãi nhiều hơn và nhiều hơn.

Such men are even now upon the earth,

Những người như thế ngay cả bây giờ đang ở trên trái đất,

Serene amid the half-formed creatures round.”

Thanh thản giữa những sinh vật chưa hoàn thiện xung quanh.”

(Robert Browning, Paracelsus)

(Robert Browning, Paracelsus)

PHỤ LỤC

APPENDIX—PHỤ LỤC

NOTE I (ON CHAPTER IV)

GHI CHÚ I (VỀ CHƯƠNG IV)

[154] The following extract from a recent publication puts the question of the soul in another way, and perhaps, will give us some idea of the trend of modern Western thought regarding it.

[154] Đoạn trích sau đây từ một ấn phẩm gần đây đặt vấn đề về linh hồn theo một cách khác, và có lẽ, sẽ cho chúng ta một vài ý niệm về xu hướng của tư tưởng Phương Tây hiện đại liên quan đến nó.

The phrase religious insight is in itself vague. Is it not possible to give the phrase a definite content without departing from the critical attitude? One may be helped to such a definition by asking oneself what element has tended to fall out of the life of the modern man with the decline of the traditional disciplines. According to Mr. Walter Lippmann, the conviction the modern man has lost is that “there is an immortal essence presiding like a king over his appetites.” But why abandon the affirmation of such an “essence” or higher will, to the mere traditionalist? Why not affirm it first of all as a psychological fact, one of the immediate data of consciousness, a perception so primordial that, compared with it, the deterministic denials of man’s moral freedom are only a metaphysical dream? One would thus be in a position to perform a swift flanking movement on the behaviourists and other naturalistic psychologists who are to be regarded at present as among the chief enemies of human nature. One might at the same time be in a fair way to escape from the modernist dilemma and become a thorough-going and complete modern. [155]

Cụm từ tuệ giác tôn giáo tự nó vốn mơ hồ. Liệu có thể mang lại cho cụm từ này một nội dung xác định mà không từ bỏ thái độ phê phán không? Người ta có thể được giúp đỡ để có một định nghĩa như vậy bằng cách tự hỏi yếu tố nào đã có xu hướng rơi rụng khỏi cuộc sống của con người hiện đại với sự suy tàn của các kỷ luật truyền thống. Theo ông Walter Lippmann, niềm tin mà con người hiện đại đã đánh mất là rằng “có một bản chất bất tử đang chủ tọa như một vị vua trên các thèm muốn của y.” Nhưng tại sao lại nhường việc khẳng định một “bản chất” hay ý chí cao hơn như vậy cho những người theo chủ nghĩa truyền thống thuần túy? Tại sao không khẳng định nó trước hết như một thực tế tâm lý, một trong những dữ kiện tức thời của tâm thức, một nhận thức quá nguyên sơ đến mức, so với nó, những sự phủ nhận mang tính quyết định luận về tự do đạo đức của con người chỉ là một giấc mơ siêu hình? Như thế người ta sẽ ở vào một vị trí để thực hiện một cuộc tạt sườn nhanh chóng vào các nhà hành vi học và những nhà tâm lý học theo chủ nghĩa tự nhiên khác, những người hiện được coi là nằm trong số những kẻ thù chính của bản chất con người. Đồng thời, người ta có thể đang trên đường thoát khỏi tình thế tiến thoái lưỡng nan của người theo chủ nghĩa hiện đại và trở thành một người hiện đại triệt để và trọn vẹn. [155]

The philosophers have often debated the question of the priority of will or intellect in man. The quality of will that I am discussing and that rightly deserves to be accounted super-rational, has, however, been associated in traditional Christianity not primarily with man’s will, but with God’s will in the form of grace. The theologians have indulged in many unprofitable subtleties apropos of grace. One cannot afford, however, as has been the modern tendency, to discard the psychological truth of the doctrine a long with these subtleties. The higher will must simply be accepted as a mystery that may be studied in its practical effects, but that, in its ultimate nature, is incapable of formulation. Herein the higher will is not peculiar. “All things,” according to the scholastic maxim, “end in a mystery.” The man of science is increasingly willing to grant that the reality behind the phenomena he is studying not only eludes him, but must in the nature of the case ever elude him. He no longer holds, for example, as his more dogmatic forbears of the nineteenth century incline to do, that the mechanistic hypothesis, valuable as it has proved itself to be as a laboratory technique, is absolutely true; its truth is, he admits, relative and provisional.

Các triết gia thường tranh luận về vấn đề sự ưu tiên của ý chí hay trí tuệ ở con người. Phẩm chất của ý chí mà tôi đang thảo luận và xứng đáng được coi là siêu lý trí, tuy nhiên, đã được liên kết trong Cơ đốc giáo truyền thống không phải chủ yếu với ý chí của con người, mà với ý chí của Thượng Đế dưới hình thức ân sủng. Các nhà thần học đã sa đà vào nhiều sự tinh tế vô ích liên quan đến ân sủng. Tuy nhiên, người ta không thể, như xu hướng hiện đại đã làm, vứt bỏ chân lý tâm lý của học thuyết cùng với những sự tinh tế này. Ý chí cao hơn phải đơn giản được chấp nhận như một bí nhiệm có thể được nghiên cứu trong các hiệu quả thực tiễn của nó, nhưng mà, trong bản chất tối hậu của nó, không thể hình thành công thức. Ở đây ý chí cao hơn không phải là cá biệt. “Vạn vật,” theo châm ngôn của trường phái kinh viện, “kết thúc trong một bí nhiệm.” Nhà khoa học ngày càng sẵn lòng thừa nhận rằng thực tại đằng sau các hiện tượng mà ông đang nghiên cứu không chỉ lẩn tránh ông, mà theo bản chất của trường hợp phải mãi mãi lẩn tránh ông. Ví dụ, ông không còn giữ quan điểm, như các bậc tiền bối giáo điều hơn của thế kỷ mười chín có khuynh hướng làm, rằng giả thuyết cơ giới, dù đã chứng tỏ là có giá trị như một kỹ thuật phòng thí nghiệm, là hoàn toàn đúng; ông thừa nhận chân lý của nó là tương đối và tạm thời.

The person who declines to turn the higher will to account until he is sure he has grasped its ultimate nature is very much on a level with the man who should refuse to make practical use of electrical energy until he is certain he has an impeccable theory of electricity. Negatively one may say of the higher will, without overstepping the critical attitude, that it is not the absolute, nor again the categorical imperative; not the organic and still less the mechanical; finally, not the “ideal” in the current sense of that term. Positively one may define it as the higher immediacy that is known in its relation to the lower immediacy—the merely temperamental [156] man with his impressions and emotions and expansive desires—as a power of vital control. Failure to exercise this control is the spiritual indolence that is for both Christian and Buddhist a chief source, if not the chief source, of evil. Though Aristotle, after the Greek fashion, gives the primacy not to will but to mind, the power of which I have been speaking is surely related to his “energy of soul,” the form of activity distinct from a mere outer working, deemed by him appropriate for the life of leisure that he proposes as the goal of a liberal education.... The energy of soul that has served on the humanistic level for mediation appears on the religious level in the form of meditation. Religion may of course mean a great deal more than meditation. At the same time humanistic mediation that has the support of meditation may correctly be said to have a religious background. Mediation and meditation are after all only different stages in the same ascending “path” and should not be arbitrarily separated.

Người từ chối sử dụng ý chí cao hơn cho đến khi y chắc chắn rằng mình đã nắm bắt được bản chất tối hậu của nó cũng giống như người từ chối sử dụng năng lượng điện trong thực tế cho đến khi y chắc chắn rằng mình có một lý thuyết hoàn hảo về điện. Xét theo cách phủ định, người ta có thể nói về ý chí cao hơn, mà không vượt quá thái độ phê phán, rằng nó không phải là cái tuyệt đối, cũng không phải là mệnh lệnh tuyệt đối; không phải là cái hữu cơ và càng không phải là cái cơ giới; cuối cùng, không phải là cái “lý tưởng” theo nghĩa hiện hành của thuật ngữ đó. Xét theo cách khẳng định, người ta có thể định nghĩa nó là sự trực tiếp cao hơn được biết đến trong mối quan hệ của nó với sự trực tiếp thấp hơn—con người [156] thuần túy khí chất với những ấn tượng, cảm xúc và những ham muốn bành trướng của y—như một quyền năng kiểm soát sự sống. Việc thất bại trong thực thi sự kiểm soát này là sự lười biếng tinh thần mà đối với cả người Cơ đốc giáo và Phật giáo là một nguồn gốc chính, nếu không muốn nói là nguồn gốc chính, của cái ác. Mặc dù Aristotle, theo kiểu Hy Lạp, dành sự ưu tiên không phải cho ý chí mà cho trí tuệ, quyền năng mà tôi đang nói đến chắc chắn có liên quan đến “năng lượng của linh hồn” của ông, hình thức hoạt động khác biệt với một công việc thuần túy bên ngoài, được ông coi là thích hợp cho cuộc sống nhàn hạ mà ông đề xuất như mục tiêu của một nền giáo dục tự do.... Năng lượng của linh hồn từng phục vụ ở cấp độ nhân văn cho sự điều hòa xuất hiện ở cấp độ tôn giáo dưới hình thức tham thiền. Tôn giáo tất nhiên có thể có nghĩa nhiều hơn là tham thiền. Đồng thời, sự điều hòa nhân văn có sự hỗ trợ của tham thiền có thể được nói một cách chính xác là có một nền tảng tôn giáo. Điều hòa và tham thiền xét cho cùng chỉ là những giai đoạn khác nhau trên cùng một “con đường” đi lên và không nên bị tách biệt một cách tùy tiện.

(Article: Humanism: An Essay on Definition by Irving Babbitt, pp. 39-41. From Humanism and America: Essays on the Outlook of Modern Civilization, edited by Norman Foerster.)

(Bài viết: Humanism: An Essay on Definition của Irving Babbitt, các trang 39-41. Từ Humanism and America: Essays on the Outlook of Modern Civilization, được biên tập bởi Norman Foerster.)

NOTE II (ON CHAPTER VII)

GHI CHÚ II (VỀ CHƯƠNG VII)

[157] It has been interesting to note the spread of hyperthyroidism at this time, and various troubles connected with the thyroid gland. May not these conditions be a substantiation of the Oriental theory? Many people from force of circumstances and strained economic conditions are leading an abnormal sex life, and are celibate. Others, from what may be a mistaken idea of spiritual demands, reject the normal marriage state, and pledge themselves to a life of celibacy. Owing to these conditions the force is raised to the centre which is its goal, and reaches the throat. The whole condition being abnormal and the man or woman being as yet emotionally centred, and the mental equipment (so necessary in true creative work) being relatively mediocre, there is no ability to use this creative power, and there ensues an over-stimulation of the thyroid gland. Several such cases have been noted by us and seem to substantiate this position. This is one direction in which investigation and use of the scientific method of massing evidence to prove or disprove an hypothesis would appear to be capable of application. In the aggregate of cases and of testimony, light on this matter may appear. When the transfer is normal and not premature the outcome is along the line of recognised creative work, literature, the drama, music and the arts in general. [158]

[157] Thật thú vị khi lưu ý sự gia tăng các trường hợp cường giáp vào thời điểm này, và các rắc rối khác nhau liên quan đến tuyến giáp. Liệu những tình trạng này có thể là một sự chứng minh cho lý thuyết Phương Đông không? Nhiều người do hoàn cảnh bắt buộc và điều kiện kinh tế căng thẳng đang có một đời sống tình dục bất thường, và sống độc thân. Những người khác, do những gì có thể là một ý tưởng sai lầm về các yêu cầu tinh thần, từ chối trạng thái hôn nhân bình thường, và cam kết sống độc thân. Do những điều kiện này, mãnh lực được nâng lên trung tâm vốn là mục tiêu của nó, và đến cổ họng. Toàn bộ tình trạng là bất thường và người nam hay nữ vẫn còn tập trung vào cảm xúc, và năng lực trí tuệ (rất cần thiết trong công việc sáng tạo thực sự) tương đối tầm thường, không có khả năng sử dụng quyền năng sáng tạo này, và dẫn đến sự kích thích quá mức của tuyến giáp. Một vài trường hợp như vậy đã được chúng tôi ghi nhận và dường như chứng minh cho lập trường này. Đây là một hướng mà trong đó sự điều tra và sử dụng phương pháp khoa học tập hợp bằng chứng để chứng minh hoặc bác bỏ một giả thuyết có vẻ như có khả năng áp dụng. Trong tổng thể các trường hợp và lời chứng, ánh sáng về vấn đề này có thể xuất hiện. Khi sự chuyển dịch là bình thường và không sớm trước thời hạn, kết quả sẽ nằm theo dòng của công việc sáng tạo được công nhận, văn học, kịch nghệ, âm nhạc và nghệ thuật nói chung. [158]

BIBLIOGRAPHY—THƯ MỤC

THE GLANDS:

CÁC TUYẾN:

The Glands of Destiny, Ivo G. Cobb, M.D.

Các Tuyến của Định Mệnh, Bác sĩ Ivo G. Cobb.

The Glands Regulating Personality, Louis Berman, M.D.

Các Tuyến Điều Chỉnh Phàm Ngã, Bác sĩ Louis Berman.

Our Glands and Our Evolvement, M.W. Kapp, M.D.

Các Tuyến của Chúng Ta và Sự Tiến Hóa của Chúng Ta, Bác sĩ M.W. Kapp.

The Pineal Gland, Frederick Tilney, M.D.

Tuyến Tùng, Bác sĩ Frederick Tilney.

The Third Eye. (Pineal and Pituitary Bodies.) T.P.C. Barnard, M.D.

Con Mắt Thứ Ba. (Tuyến Tùng và Tuyến Yên.) Bác sĩ T.P.C. Barnard.

Your Mysterious Glands, H.H. Rubin, M.D.

Các Tuyến Bí Ẩn của Bạn, Bác sĩ H.H. Rubin.

PSYCHOLOGY:

TÂM LÝ HỌC:

About Ourselves, H.A. Overstreet

Về Chính Chúng Ta, H.A. Overstreet

Behaviorism, John B. Watson

Thuyết Hành Vi, John B. Watson

History of Psychology, W.B. Pillsbury, Ph.D.

Lịch sử Tâm lý học, Tiến sĩ W.B. Pillsbury

Mind and Matter, C.E.M. Joad, B.A.

Trí Tuệ và Vật Chất, Cử nhân C.E.M. Joad

Modern Psychology, Normal and Abnormal, Daniel Bell Leary, Ph.D.

Tâm lý học Hiện đại, Bình thường và Bất thường, Tiến sĩ Daniel Bell Leary

Psychologies of 1925, Carl Murchison, Ed.

Tâm lý học năm 1925, Carl Murchison biên tập.

Why We Behave Like Human Beings, George A. Dorsey, Ph.D., LL.D.

Tại Sao Chúng Ta Cư Xử Như Con Người, Tiến sĩ George A. Dorsey

THE CENTRES:

CÁC TRUNG TÂM:

The Bhagavad-Gita

Chí Tôn Ca (Bhagavad-Gita)

The Chakras, C.W. Leadbeater

Các Luân Xa, C.W. Leadbeater

The Etheric Double, Maj. Arthur E. Powell

Bản Sao Dĩ Thái, Thiếu tá Arthur E. Powell

Hatha Yoga

Hatha Yoga

Hatha Yoga Pradipika

Hatha Yoga Pradipika

Indian Philosophy (2 Vols.), S. Radhakrishnan

Triết học Ấn Độ (2 Tập), S. Radhakrishnan

The Kathnopanishad

Katha Upanishad

The Kenopanishad

Kena Upanishad

The Light of the Soul, Alice A. Bailey [159]

Ánh Sáng của Linh Hồn, Alice A. Bailey [159]

The Mysterious Kundalini, Vesant G. Rele

Kundalini Bí Ẩn, Vesant G. Rele

Nature’s Finer Forces, Rama Prasad

Các Lực Tinh Vi Hơn của Tự Nhiên, Rama Prasad

Outlines of Indian Philosophy, P.T. Srinivasa Iyengar

Đại cương Triết học Ấn Độ, P.T. Srinivasa Iyengar

The Philosophy of the Upanishads, Paul Deussen

Triết học của các Upanishad, Paul Deussen

The Prashnopanishad

Prashnopanishad

Principles of Tantra (2 Vols.), Arthur Avalon (Sir John Woodroffe)

Các Nguyên Lý của Tantra (2 Tập), Arthur Avalon (Sir John Woodroffe)

Raja Yoga, Swami Vivekananda

Raja Yoga, Swami Vivekananda

The Serpent Power, Arthur Avalon (Sir John Woodroffe)

Quyền Năng Hỏa Xà, Arthur Avalon (Sir John Woodroffe)

Shakti and Shaktar Sir John Woodroffe (Arthur Avalon)

Shakti và Shaktar, Sir John Woodroffe (Arthur Avalon)

Shatchakra Nirupanamm

Shatchakra Nirupanamm

Shiv-Samhita

Shiva-Samhita

Yoga Sutras of Patanjali

Kinh Yoga của Patanjali

Yoga Vasitha

Yoga Vasitha

GENERAL:

TỔNG QUÁT:

Creative Understanding, Count Hermann Keyserling

Sự Thấu Hiểu Sáng Tạo, Bá tước Hermann Keyserling

Encyclopedia Britannica (13th Edition)

Bách khoa toàn thư Britannica (Ấn bản lần thứ 13)

Ether and Reality, Sir Oliver Lodge

Dĩ Thái và Thực Tại, Sir Oliver Lodge

The Garland of Letters, Sir John Woodroffe (Arthur Avalon)

Vòng Hoa Văn Tự, Sir John Woodroffe (Arthur Avalon)

The Human Atmosphere, Walter J. Kilner, B.A., M.B.

Bầu Không Khí của Con Người, Walter J. Kilner, B.A., M.B.

In Search of the Soul (2 Vols.), Bernard Hollander, M.D.

Đi Tìm Linh Hồn (2 Tập), Bernard Hollander, M.D.

Kernels of the Universe, C.B. Bazzoni

Hạt Nhân của Vũ Trụ, C.B. Bazzoni

The Light Beyond, Maurice Maeterlinck

Ánh Sáng Ở Phía Bên Kia, Maurice Maeterlinck

Man and His Becoming, René Guénon

Con Người và Sự Trở Thành của Y, René Guénon

The Mansions of Philosophy, Will Durant

Những Lâu Đài Triết Học, Will Durant

Metaphysical Foundations of Modern Physical Science, Edwin Arthur Burtt, Ph.D.

Các Nền Tảng Siêu Hình của Khoa Học Vật Lý Hiện Đại, Edwin Arthur Burtt, Ph.D.

Mysteries of the Soul, Richard Muller-Freienfels [160]

Những Bí Ẩn của Linh Hồn, Richard Muller-Freienfels [160]

The New Reformation, Michael Pupin

Cuộc Cải Cách Mới, Michael Pupin

On the Threshold of the Unseen, Sir William Barrett

Trước Ngưỡng Cửa Vô Hình, Sir William Barrett

Pagan and Christian Creeds, Edward Carpenter

Tín Điều Ngoại Giáo và Cơ Đốc Giáo, Edward Carpenter

Religion, Edward Scribner Ames

Tôn Giáo, Edward Scribner Ames

The Science of Peace, Bhagavan Das

Khoa Học của Sự Bình An, Bhagavan Das

The Science of the Sacred Word, Bhagavan Das

Khoa Học về Linh Từ Thiêng Liêng, Bhagavan Das

Self, Its Body and Freedom, William E. Hocking

Cái Tôi, Thân Thể của Nó và Sự Tự Do, William E. Hocking

The Strength of Religion as Shown by Science, E. de M. Sajous

Sức Mạnh của Tôn Giáo như được Khoa Học Chứng Minh, E. de M. Sajous

Studies in the Bhagavad-Gita, The Dreamer

Những Nghiên Cứu về Bhagavad-Gita, The Dreamer

THE ARCANE SCHOOL—TRƯỜNG ARCANE

Training for new age discipleship

Việc huấn luyện cho con đường đệ tử trong kỷ nguyên mới

is provided by the Arcane School.

được cung cấp bởi Trường Arcane.

The principles of the Ageless Wisdom

Các nguyên lý của Minh Triết Ngàn Đời

are presented through esoteric meditation,

được trình bày thông qua tham thiền huyền môn,

study and service as a way of life.

sự học tập và phụng sự như một lối sống.

Contact the publishers for information.

Hãy liên hệ với nhà xuất bản để biết thông tin.

www.lucistrust.org/arcaneschool