← The Soul and Its Mechanism

CHAPTER VI — SEVEN CENTRES OF FORCE—CHƯƠNG VI — BẢY TRUNG TÂM MÃNH LỰC

Trích nội dung chương

“All the energy of animals is nervous energy till it leaves the muscles and acts on outside objects. This nervous energy is called Prana. Western Science has for a hundred years unsuccessfully tried to explain nervous energy as a form of mechanical motion; Eastern Philosophy reverses the process and derives mechanical [105] motion from Prana, or energy accompanied by consciousness. “Mọi năng lượng của động vật đều là năng lượng thần kinh cho đến khi nó rời khỏi các cơ bắp và tác động lên các đối tượng bên ngoài. Năng lượng thần kinh này được gọi là Prana. Khoa học phương Tây trong một trăm năm qua đã cố gắng giải thích năng lượng thần kinh…


“All the energy of animals is nervous energy till it leaves the muscles and acts on outside objects. This nervous energy is called Prana. Western Science has for a hundred years unsuccessfully tried to explain nervous energy as a form of mechanical motion; Eastern Philosophy reverses the process and derives mechanical [105] motion from Prana, or energy accompanied by consciousness.

“Mọi năng lượng của động vật đều là năng lượng thần kinh cho đến khi nó rời khỏi các cơ bắp và tác động lên các đối tượng bên ngoài. Năng lượng thần kinh này được gọi là Prana. Khoa học phương Tây trong một trăm năm qua đã cố gắng giải thích năng lượng thần kinh như một dạng chuyển động cơ học nhưng không thành công; Triết học phương Đông đảo ngược quy trình và dẫn xuất chuyển động cơ học [105] từ Prana, hay năng lượng đi kèm với tâm thức.

“Prana corresponds to the Psychikon pneuma, animal spirits, of Greek philosophy, a category which is intermediate between spirit and matter, and brings them into relation with each other.” (P.T. Srinivasa Iyengar, Outlines of Indian Philosophy, pp. 58. 59.)

“Prana tương ứng với Psychikon pneuma, các tinh thần động vật, của triết học Hy Lạp, một phạm trù trung gian giữa tinh thần và vật chất, và đưa chúng vào mối quan hệ với nhau.” (P.T. Srinivasa Iyengar, Outlines of Indian Philosophy, tr. 58. 59.)

Arthur Avalon says:

Arthur Avalon nói:

“Various people have in antiquity assigned to various parts of the body the ‘seat of the soul’ or life, such as the blood, the heart, and the breath. Generally the brain was not so regarded. The Vaidik system posits the heart as the chief centre of Consciousness—a relic of which notion we also still preserve in such phrases as ‘take it to heart’ and to ‘learn by heart.’ Sadhaka, which is one of the five functions of Pitta, and which is situated in the heart, indirectly assists in the performance of cognitive functions by keeping up the rhythmic cardiac contractions, and it has been suggested that it was perhaps this view of the heart’s construction which predisposed Indian physiologists to hold it to be the seat of cognition. According to the Tantras, however, the chief centres of consciousness are to be found in the Chakras of the cerebro-spinal system and in the upper brain (Sahasrara), which they describe, though the heart is also recognized as a seat of the Jivatma, or embodied spirit, in its aspect as Prana.” (Arthur Avalon (Sir John Woodroffe), The Serpent Power, p. 3)

“Trong thời cổ đại, nhiều người khác nhau đã gán cho các bộ phận khác nhau của cơ thể là ‘chỗ ngự của linh hồn’ hay sự sống, chẳng hạn như máu, tim, và hơi thở. Nhìn chung não bộ không được coi như vậy. Hệ thống Veda xác định tim là trung tâm chính của Tâm thức—một di tích của quan niệm này chúng ta vẫn còn giữ lại trong các cụm từ như ‘để tâm’ (take it to heart) và ‘học thuộc lòng’ (learn by heart). Sadhaka, vốn là một trong năm chức năng của Pitta, và nằm ở trong tim, gián tiếp hỗ trợ việc thực hiện các chức năng nhận thức bằng cách duy trì các co bóp tim nhịp nhàng, và người ta cho rằng có lẽ chính quan điểm về cấu tạo của tim này đã khiến các nhà sinh lý học Ấn Độ thiên về việc coi nó là chỗ ngự của nhận thức. Tuy nhiên, theo các bộ Tantra, các trung tâm chính của tâm thức được tìm thấy trong các Chakra của hệ não-tủy và trong phần não trên (Sahasrara), mà họ mô tả, mặc dù tim cũng được công nhận là một chỗ ngự của Jivatma, hay tinh thần đã nhập thể, trong phương diện Prana của nó.” (Arthur Avalon (Sir John Woodroffe), The Serpent Power, tr. 3)

These two points of view account probably for the phenomenon of the human being. As evolution proceeds it may be found and demonstrated that the positive centre or nucleus for the life of [106] the material form is located at the base of the spine, that the positive centre for the life of the sentient conscious man is in the heart, whilst the positive centre for the mind and the spiritual life principles is in the head.

Hai quan điểm này có lẽ giải thích cho hiện tượng con người. Khi tiến hoá tiếp diễn, có thể sẽ tìm thấy và chứng minh được rằng trung tâm dương hay hạt nhân cho sự sống của [106] hình tướng vật chất nằm ở đáy cột sống, rằng trung tâm dương cho sự sống của con người có ý thức và cảm giác nằm ở tim, trong khi trung tâm dương cho trí tuệ và các nguyên khí sự sống tinh thần nằm ở trong đầu.

The whole scheme and technique of the Oriental teaching as to the centres in man have in view the increasing display of prana or life-soul energy. Through an understanding of this a man can demonstrate (through the automaton of the physical body) those soul powers and spiritual qualities which are the inheritance of the spiritual man, the Soul.

Toàn bộ hệ thống và kỹ thuật của giáo lý phương Đông về các trung tâm trong con người đều nhằm vào việc gia tăng sự hiển lộ của prana hay năng lượng sự sống-linh hồn. Thông qua sự thấu hiểu điều này, một người có thể thể hiện (thông qua bộ máy tự động của thể xác) những quyền năng linh hồn và những phẩm tính tinh thần vốn là di sản của con người tinh thần, Linh hồn.

The object, therefore, of all methods and practices is to bring about conscious union with the soul, and produce the subordination of the two lower energies, those of matter and those of the sentient mental nature, to the highest of the three energies, the spiritual life. When this is accomplished, the spiritual life principle animates a soul which knows no barriers and limitations because it has brought its mechanism to the highest state of perfection. Matter has been raised into heaven, and hence the Hindu teaching that the Kundalini fire, the energy of matter (sometimes called the mother) has eventually to be raised from its position at the base of the spine up into the head. This is a correspondence to the Roman Catholic teaching as to the Assumption of the Virgin-Mother into Heaven to take her place by the side of her Son, the Christ, the Soul. This has to be brought about [107] consciously by the soul or self, seated in the mind and brain consciousness, and from there assuming control of the energies of the entire natural man. This is Yoga or union, which is not only a mystical experience, but a vital or physical one also. This is the at-one-ment of the Christian. It is an integration of the entire man, physical, sentient, and mental, and then a conscious unification with the universal soul. Dr. Rele says:

Vì vậy, mục tiêu của mọi phương pháp và thực hành là mang lại sự hợp nhất có ý thức với linh hồn, và tạo ra sự phục tùng của hai năng lượng thấp hơn, năng lượng của vật chất và năng lượng của bản chất trí tuệ cảm giác, đối với năng lượng cao nhất trong ba năng lượng, là sự sống tinh thần. Khi điều này được hoàn thành, nguyên khí sự sống tinh thần làm sinh động một linh hồn vốn không biết đến rào cản và giới hạn nào bởi vì nó đã đưa bộ máy của mình đến trạng thái hoàn hảo cao nhất. Vật chất đã được nâng lên thiên đàng, và do đó giáo lý Hindu dạy rằng lửa Kundalini, năng lượng của vật chất (đôi khi được gọi là người mẹ) cuối cùng phải được nâng lên từ vị trí của nó tại đáy cột sống lên trong đầu. Điều này tương ứng với giáo lý Công giáo La Mã về việc Đức Mẹ Đồng Trinh được đưa cả hồn lẫn xác lên Trời để nhận lấy vị trí của bà bên cạnh Con trai bà, Đức Christ, Linh hồn. Điều này phải được thực hiện [107] một cách có ý thức bởi linh hồn hay bản ngã, ngự trong tâm thức của trí tuệ và não bộ, và từ đó nắm quyền kiểm soát các năng lượng của toàn bộ con người tự nhiên. Đây là Yoga hay sự hợp nhất, vốn không chỉ là một trải nghiệm thần bí, mà còn là một trải nghiệm về sinh lực hay về thể xác. Đây là sự hợp nhất (at-one-ment) của người Kitô giáo. Nó là một sự tích hợp của toàn bộ con người, vật lý, cảm giác, và trí tuệ, và sau đó là một sự thống nhất có ý thức với linh hồn vũ trụ. Tiến sĩ Rele nói:

“The word ‘Yoga’ is derived from the root ‘Yuga’ to join or to weld together. Just as in welding, two pieces of the same metal are made to become one by the process of heating and hammering, so also in the Yoga of Indian Philosophy, the embodied spirit ‘Jivatma,’ which is a part of the universal spirit ‘Paramatma,’ is made to become one with the Universal Spirit by certain physical and mental exercises.

“Từ ‘Yoga’ bắt nguồn từ gốc ‘Yuga’ nghĩa là nối hoặc hàn lại với nhau. Cũng giống như trong việc hàn, hai mảnh của cùng một kim loại được làm cho trở thành một bằng quy trình nung nóng và đập búa, cũng vậy trong Yoga của Triết học Ấn Độ, tinh thần đã nhập thể ‘Jivatma,’ vốn là một phần của tinh thần vũ trụ ‘Paramatma,’ được làm cho trở thành một với Tinh thần Vũ trụ bằng những bài tập thể xác và trí tuệ nhất định.

“Yoga is the science which raises the capacity of the human mind to respond to higher vibrations, and to perceive, catch, and assimilate the infinite conscious movements going on around us in the universe.” (Rele Vasant G., The Mysterious Kundalini, pp. 13, 14.)

“Yoga là khoa học nâng cao khả năng của tâm trí con người để đáp ứng với các rung động cao hơn, và để nhận thức, nắm bắt, và đồng hóa những chuyển động hữu thức vô hạn đang diễn ra xung quanh chúng ta trong vũ trụ.” (Rele Vasant G., The Mysterious Kundalini, tr. 13, 14.)

René Guénon sums up the result of this union in the following terms:

René Guénon tóm tắt kết quả của sự hợp nhất này bằng những thuật ngữ sau:

“Deliverance or Union, which is one and the same thing, involves, as we have already stated, ‘over and above,’ the possession of all states, since it is the perfect realization (sadhana) and totalization of the being; it is moreover of little import whether these states are or are not actually manifested, since it is only as permanent and immutable possibilities that they are to be metaphysically considered. ‘Lord of many states by [108] the simple effect of his will, the Yogi only concerns himself with one, leaving the others void of the animating breath (prana), as so many unused instruments, he can animate more than one form in the same way that a single lamp may supply more than one wick.’ ‘The Yogi,’ says Aniruddha, ‘is in direct connexion with the primordial principle of the Universe, and in consequence (secondarily) with the whole of space, of time and of things,’ that is to say, with manifestation, and, more particularly, with the human state in all its modifications.” (Réné Guénon, Man and His Becoming, p. 238.)

“Sự Giải thoát hay Hợp nhất, vốn là một và cùng một thứ, bao hàm, như chúng tôi đã nêu, ‘vượt lên trên,’ việc sở hữu tất cả các trạng thái, vì nó là sự thực chứng (sadhana) hoàn hảo và sự toàn thể hóa của bản thể; hơn nữa, việc các trạng thái này có thực sự biểu hiện hay không cũng ít quan trọng, vì chỉ khi là những khả năng vĩnh cửu và bất biến thì chúng mới được xem xét về mặt siêu hình. ‘Là Chúa tể của nhiều trạng thái bằng [108] hiệu quả đơn giản của ý chí mình, Yogi chỉ quan tâm đến một trạng thái, để những trạng thái khác trống rỗng không có hơi thở sinh động (prana), như rất nhiều công cụ không được sử dụng, y có thể làm sinh động nhiều hơn một hình tướng theo cùng cách mà một ngọn đèn đơn lẻ có thể cung cấp cho nhiều hơn một bấc đèn.’ ‘Yogi,’ Aniruddha nói, ‘có mối liên hệ trực tiếp với nguyên khí nguyên sơ của Vũ trụ, và do đó (thứ cấp) với toàn bộ không gian, thời gian và sự vật,’ nghĩa là, với sự biểu hiện, và, cụ thể hơn, với trạng thái con người trong tất cả các biến thái của nó.” (Réné Guénon, Man and His Becoming, tr. 238.)

CHAPTER VI — SEVEN CENTRES OF FORCE—CHƯƠNG VI — BẢY TRUNG TÂM MÃNH LỰC

[109] In the previous chapter we have seen that, according to the Eastern teaching, the vital or etheric body is constituted of ether and acts as the conductor of prana which is the life principle and energises matter and produces form. The vital body also embodies that sentient principle in nature called the soul, or rather the vital body is the expression and vehicle of the soul.

[109] Trong chương trước, chúng ta đã thấy rằng, theo giáo lý phương Đông, thể sinh lực hay thể dĩ thái được cấu tạo từ chất dĩ thái và hoạt động như vật dẫn của prana, vốn là nguyên khí sự sống và tiếp năng lượng cho vật chất và tạo ra hình tướng. Thể sinh lực cũng hiện thân cho nguyên khí cảm giác đó trong tự nhiên được gọi là linh hồn, hay đúng hơn thể sinh lực là sự biểu hiện và vận cụ của linh hồn.

The main characteristic of the soul is consciousness. The soul as life is “seated in the heart,” and as rational spiritual consciousness is “seated on the throne between the eyebrows.” René Guénon expresses this as follows:

Đặc điểm chính của linh hồn là tâm thức. Linh hồn xét như sự sống thì “ngự trong tim,” và xét như tâm thức tinh thần duy lý thì “ngự trên ngai giữa hai chân mày.” René Guénon diễn đạt điều này như sau:

“Thus, what dwells in the vital centre, from the physical point of view, is ether; from the psychic point of view, it is the ‘living soul,’ and so far we are not transcending the realm of individual possibilities; but also, and above all, from the metaphysical point of view, it is the principal and unconditioned ‘Self.’ It is, therefore, truly the ‘Universal Spirit’ (Atma), which is, in reality, Brahma Itself, the ‘Supreme Ruler’; and thus the designation of this centre as Brahma-pura is found to be fully justified. But Brahma, considered in this manner as within man (and one might consider it in like manner in relation to every state of being) is called Purusha, because It rests or dwells in the individuality [110]... as in a town (puri-shaya) for pura, in its proper and literal sense, signifies town’.” (Réné Guénon, Man and His Becoming, pp. 44, 45.)

“Vì vậy, cái cư ngụ trong trung tâm sinh lực, theo quan điểm vật lý, là dĩ thái; theo quan điểm thông linh, là ‘linh hồn sống,’ và cho đến đây chúng ta vẫn chưa vượt ra khỏi vương quốc của các khả năng cá nhân; nhưng cũng vậy, và trên hết thảy, theo quan điểm siêu hình, nó là ‘Tự ngã’ chính yếu và vô điều kiện. Do đó, nó thực sự là ‘Tinh thần Vũ trụ’ (Atma), cái mà, trên thực tế, chính là Brahma, ‘Đấng Cai Trị Tối Cao’; và vì thế việc gọi tên trung tâm này là Brahma-pura được thấy là hoàn toàn chính xác. Nhưng Brahma, được xem xét theo cách này như là ở bên trong con người (và người ta cũng có thể xem xét nó theo cách tương tự trong mối quan hệ với mọi trạng thái của bản thể) được gọi là Purusha, bởi vì Nó nghỉ ngơi hay cư ngụ trong cá tính [110]... như trong một thành phố (puri-shaya) vì từ pura, theo nghĩa đúng và nghĩa đen của nó, biểu thị thành phố’.” (Réné Guénon, Man and His Becoming, tr. 44, 45.)

The life force has seven main points of contact with the physical body, called the seven centres.

Mãnh lực sự sống có bảy điểm tiếp xúc chính với thể xác, được gọi là bảy trung tâm.

These seven force centres transmit the life force, and are the agents of the soul. They maintain bodily existence and produce its activity.

Bảy trung tâm mãnh lực này truyền tải mãnh lực sự sống, và là các tác nhân của linh hồn. Chúng duy trì sự tồn tại của cơ thể và tạo ra hoạt động của nó.

The Dreamer in his book, says:

The Dreamer trong cuốn sách của mình, nói:

“What then are the centres of man? They are the reflections in the respective nuclei of the upadhi of the one Self. If we study the workings of the impregnation of matter by Divine Energy, sometimes spoken of as the life waves, we shall see how, from the projection of the Self into the limits of objectivity called matter, certain qualities are imparted to matter developing into what are called tattvas. Each tattva has got for its ensouled life a tanmatra, or a modification of the Divine consciousness. In each tattva, therefore, we have the Divine consciousness as the central life, while the idea of resistance forms the outer wall.”

“Vậy thì các trung tâm của con người là gì? Chúng là những phản chiếu trong các hạt nhân tương ứng thuộc upadhi của Tự ngã duy nhất. Nếu chúng ta nghiên cứu các hoạt động của sự thấm nhuần vật chất bởi Năng Lượng Thiêng Liêng, đôi khi được gọi là các làn sóng sự sống, chúng ta sẽ thấy cách mà, từ sự phóng chiếu của Tự ngã vào các giới hạn của sự biểu hiện ngoại giới được gọi là vật chất, những phẩm tính nhất định được truyền cho vật chất phát triển thành cái gọi là các tattva. Do đó, mỗi tattva đều có một tanmatra, hay một sự biến đổi của tâm thức Thiêng liêng, làm sự sống phú linh cho nó. Do đó, trong mỗi tattva, chúng ta có tâm thức Thiêng liêng như là sự sống trung tâm, trong khi ý niệm về sự kháng cự hình thành nên bức tường bên ngoài.”

“We have seen that the Self, in virtue of its power of manifestation, reflects itself in the various upadhis, developing in them artificial centres which form, so to say, at one and the same time the nucleus of the upadhis as well as the representatives of the Self in the respective planes.” (The Dreamer, Studies in the Bhagavad Gita, pp. 37, 40, 107.)

“Chúng ta đã thấy rằng Tự ngã, nhờ quyền năng biểu hiện của nó, phản chiếu chính nó trong các upadhi khác nhau, phát triển trong chúng các trung tâm nhân tạo, có thể nói, cùng lúc hình thành nên hạt nhân của các upadhi cũng như các đại diện của Tự ngã trong các cõi tương ứng.” (The Dreamer, Studies in the Bhagavad Gita, tr. 37, 40, 107.)

The Indian name of a force centre is “chakra.” The location of the seven centres of force (with their complete Indian names) are as follows, from the head downwards: [111]

Tên Ấn Độ của một trung tâm mãnh lực là “chakra.” Vị trí của bảy trung tâm mãnh lực (với tên gọi tiếng Ấn đầy đủ của chúng) như sau, từ đầu xuống dưới: [111]

1. Head centre — sahasrara chakra

1. Trung tâm đầu — sahasrara chakra

2. Centre between eyebrows — ajna chakra

2. Trung tâm giữa hai lông mày — ajna chakra

3. Throat centre — vishuddha chakra

3. Trung tâm cổ họng — vishuddha chakra

4. Heart or cardiac centre — anahata chakra

4. Trung tâm tim hay trung tâm thuộc tim — anahata chakra

5. Solar plexus centre — manipura chakra

5. Trung tâm tùng thái dương — manipura chakra

6. Sacral or sexual centre — svadhisthana chakra

6. Trung tâm xương cùng hay trung tâm tình dục — svadhisthana chakra

7. Centre at base of spine — muladhara chakra

7. Trung tâm tại đáy cột sống — muladhara chakra

It will be noted that there are four centres above the diaphragm and three below.

Cần lưu ý rằng có bốn trung tâm ở trên cơ hoành và ba trung tâm ở dưới.

Much has been written and more could be said, about these force centres or chakras, but the following will serve as an introductory summary.

Nhiều điều đã được viết và còn có thể nói nhiều hơn nữa về các trung tâm mãnh lực hay chakra này, nhưng những điều sau đây sẽ đóng vai trò như một tóm tắt giới thiệu.

The force centres carry pranic energy for every part of the body and are in close relation to the nervous system in its three divisions, namely: the cerebro-spinal, sympathetic and peripheral.

Các trung tâm mãnh lực mang năng lượng prana cho mọi bộ phận của cơ thể và có mối quan hệ chặt chẽ với hệ thần kinh trong ba phân khu của nó, cụ thể là: não-tủy, giao cảm và ngoại biên.

From the force centres the vital or pranic energy is distributed along subtle lines of direction. These lines are called “nadis” and are closely related to the nerves and at the same time to the arteries; they apparently underlie the corporeal nervous system. In Man and His Becoming we read:

Từ các trung tâm mãnh lực, năng lượng sinh lực hay prana được phân phối dọc theo những đường dẫn vi tế. Những đường này được gọi là “các nadi” và có liên hệ chặt chẽ với các dây thần kinh và đồng thời với các động mạch; chúng dường như nằm bên dưới hệ thần kinh thể xác. Trong Man and His Becoming chúng ta đọc thấy:

“As regards the nadis or arteries of the subtle form, they must not be confounded with the corporeal arteries through which the circulation of the blood is effected, and, physiologically, they correspond rather to the ramifications of the nervous system, for they are [112] expressly described as luminous; but as fire is in some sort polarized into heat and light, the subtle state is linked to the corporeal state in two different and complementary ways, by the blood as to the caloric quality, and by the nervous system as to the luminous quality. However, it must be clearly understood that, between the nadis and the nerves, there is still only a simple correspondence and not an identification, since the former are not corporeal, and that we are dealing in reality with two different realms in the integral individuality. Similarly, when a relation is affirmed between the function of these nadis and respiration, because this is essential to the maintenance of life and corresponds truly with the principal vital activity, it must by no means be concluded on this account that they can be conceived as a kind of channel in which the air circulates; this would be to confuse the ‘vital breath’ (prana), which properly belongs to the subtle manifestation, with a corporeal element.

“Về các nadi hay động mạch của hình tướng vi tế, chúng không được nhầm lẫn với các động mạch thể xác mà qua đó sự tuần hoàn của máu được thực hiện, và, về mặt sinh lý, chúng tương ứng đúng hơn với các nhánh của hệ thần kinh, vì chúng được [112] mô tả rõ ràng là phát sáng; nhưng vì lửa theo một cách nào đó được phân cực thành nhiệt và ánh sáng, trạng thái vi tế được liên kết với trạng thái thể xác theo hai cách khác nhau và bổ sung cho nhau, bởi máu đối với đặc tính nhiệt, và bởi hệ thần kinh đối với đặc tính quang. Tuy nhiên, phải hiểu rõ rằng, giữa các nadi và các dây thần kinh, vẫn chỉ có một sự tương ứng đơn giản chứ không phải là một sự đồng nhất, vì những cái trước không thuộc về thể xác, và rằng chúng ta đang thực sự đối phó với hai lĩnh vực khác nhau trong cá tính toàn vẹn. Tương tự, khi một mối quan hệ được khẳng định giữa chức năng của các nadi này và sự hô hấp, bởi vì điều này là thiết yếu cho việc duy trì sự sống và tương ứng thực sự với hoạt động sống chính yếu, thì không được vì lý do này mà kết luận rằng chúng có thể được hình dung như một loại kênh dẫn trong đó không khí lưu thông; điều này sẽ là nhầm lẫn ‘hơi thở sinh lực’ (prana), vốn thuộc về biểu hiện vi tế một cách đúng đắn, với một yếu tố thuộc về thể xác.

It is stated that the total number of nadis is seventy-two thousand; according to other texts, however, it should be seven hundred and twenty millions; but the difference here is more apparent than real, since, as always holds good in such cases, these numbers must be taken symbolically, not literally.” (René Guénon, Man and His Becoming, pp. 136, 137.)

Người ta nói rằng tổng số các nadi là bảy mươi hai ngàn; tuy nhiên, theo các văn bản khác, nó phải là bảy trăm hai mươi triệu; nhưng sự khác biệt ở đây mang tính hình thức hơn là thực tế, bởi vì, như luôn đúng trong những trường hợp như vậy, những con số này phải được hiểu theo nghĩa biểu tượng, chứ không phải nghĩa đen.” (René Guénon, Man and His Becoming, tr. 136, 137.)

Rama Prasad, who uses the Indian word lotus for chakra or force centre, makes an interesting comment in this connection:

Rama Prasad, người sử dụng từ Ấn Độ là hoa sen cho chakra hay trung tâm mãnh lực, đưa ra một bình luận thú vị trong liên hệ này:

“The nervous plexuses of the modern anatomists coincide with these centres. From what has been said above it will appear that the centres are constituted by bloodvessels. But the only difference between the nerves and the bloodvessels is the difference between [113] the vehicles of the positive and negative Pranas. The nerves are the positive, the bloodvessels the negative system of the body. Wherever there are nerves there are corresponding bloodvessels. Both of them are indiscriminately called Nadis. One set has for its centre the lotus of the Heart, the other the thousand-petalled lotus of the brain. The system of bloodvessels is an exact picture of the nervous system, is, in fact, only its shadow. Like the heart, the brain has its upper and lower divisions—the cerebrum and the cerebellum—and, as well, its right and left divisions.” (Rama Prasad, Nature's Finer Forces, pp. 45-46)

“Các đám rối thần kinh của các nhà giải phẫu học hiện đại trùng khớp với các trung tâm này. Từ những điều đã nói ở trên, có vẻ như các trung tâm được cấu tạo bởi các mạch máu. Nhưng sự khác biệt duy nhất giữa các dây thần kinh và các mạch máu là sự khác biệt giữa [113] các vận cụ của Prana dương và âm. Các dây thần kinh là hệ thống dương, các mạch máu là hệ thống âm của cơ thể. Bất cứ nơi nào có dây thần kinh đều có các mạch máu tương ứng. Cả hai đều được gọi một cách không phân biệt là Nadi. Một bộ có trung tâm của nó là hoa sen của Tim, bộ kia là hoa sen ngàn cánh của bộ não. Hệ thống mạch máu là một hình ảnh chính xác của hệ thần kinh, thực tế, chỉ là cái bóng của nó. Giống như tim, não có các phân khu trên và dưới của nó—đại não và tiểu não—và, cũng như vậy, các phân khu bên phải và bên trái của nó.” (Rama Prasad, Nature's Finer Forces, tr. 45-46)

The force centres are situated up the spinal column and in the head. Arthur Avalon says:

Các trung tâm mãnh lực nằm dọc theo cột sống và ở trong đầu. Arthur Avalon nói:

“A description of the Chakras involves, in the first place, an account of the Western anatomy and physiology of the central and sympathetic nervous systems; secondly, an account of the Tantrik nervous system and Chakras; and, lastly, the correlation, so far as that is possible, of the two systems on the anatomical and physiological side, for the rest is in general peculiar to Tantrik Occultism.

“Một mô tả về các Chakra liên quan đến, trước hết, một sự tường thuật về giải phẫu học và sinh lý học phương Tây của hệ thần kinh trung ương và giao cảm; thứ hai, một sự tường thuật về hệ thần kinh và các Chakra Tantra; và, cuối cùng, sự tương quan, trong chừng mực có thể, của hai hệ thống về mặt giải phẫu và sinh lý, vì phần còn lại nói chung là riêng biệt đối với Huyền bí học Tantra.

The Tantrik theory regarding the Chakras and Sahasrara is concerned on the physiological side... with the central spinal system, comprising the brain or encephalon, contained within the skull, and the spinal cord, contained within the vertebral column (Merudanda). It is to be noted that, just as there are five centres (Chakras) hereinafter described, the vertebral column itself is divided into five regions, which, commencing from the lowest, are the coccygeal, consisting of four imperfect vertebrae, often united together into one bone called the coccyx; the sacral region, consisting of five vertebrae united together to form a single [114] bone, the sacrum; the lumbar region, or region of the loins, consisting of five vertebrae; the dorsal region, or region of the back, consisting of twelve vertebrae; and the cervical region, or region of the neck, consisting of seven vertebrae. As exhibited by segments, the cord shows different characteristics in different regions. Roughly speaking these correspond to the regions which are assigned to the governing control of the Muladhara, Svadhishthana, Manipura, Anahata, and Vishuddha centres, or Chakras. (These regions are the base of the spine, sacral centre, solar plexus centre, heart centre and throat centre.) The central system has relation with the periphery through the thirty-one spinal and twelve cranial nerves, which are both afferent and efferent or sensory and motor, arousing sensation or stimulating action. Of the cranial nerves, the last six arise from the spinal bulb (medulla), and the other six, except the olfactory and optic nerves, from the parts of the brain just in front of the bulb. Writers of the Yoga and Tantra schools use the term Nadi, by preference, for nerves. They also, it has been said, mean cranial nerves when they speak of Shiras, never using the latter for arteries, as is done in the medical literature. It must, however, be noted that the Yoga Nadis are not the ordinary material nerves, but subtler lines of direction along which the vital forces go. The spinal nerves, after their exit from the inter-vertebral foramina, enter into communication with the gangliated cords of the sympathetic nervous system which lie on each side of the vertebral column. The spinal cord extends in the case of man from the upper border of the atlas, below the cerebellum, passing into the medulla, and finally opening into the fourth ventricle of the brain, and descends to the second lumbar vertebra, where it tapers to a point, called the filum terminale.” (Arthur Avalon, The Serpent Power, pp. 123-125.)

Lý thuyết Tantra liên quan đến các Chakra và Sahasrara quan tâm về mặt sinh lý... đến hệ thống tủy trung tâm, bao gồm não bộ hay encephalon, chứa bên trong hộp sọ, và tủy sống, chứa bên trong cột sống (Merudanda). Cần lưu ý rằng, cũng như có năm trung tâm (Chakra) được mô tả sau đây, bản thân cột sống được chia thành năm vùng, bắt đầu từ thấp nhất, là vùng xương cụt, bao gồm bốn đốt sống không hoàn hảo, thường hợp lại với nhau thành một xương gọi là xương cụt; vùng xương cùng, bao gồm năm đốt sống hợp lại với nhau để tạo thành một xương [114] đơn lẻ, xương cùng; vùng thắt lưng, hay vùng của hông, bao gồm năm đốt sống; vùng lưng, hay vùng của lưng, bao gồm mười hai đốt sống; và vùng cổ, hay vùng của cổ, bao gồm bảy đốt sống. Như được thể hiện bởi các đoạn, tủy sống cho thấy các đặc điểm khác nhau ở các vùng khác nhau. Nói một cách đại khái, những vùng này tương ứng với các vùng được gán cho sự kiểm soát cai quản của các trung tâm, hay Chakra: Muladhara, Svadhishthana, Manipura, Anahata, và Vishuddha. (Các vùng này là đáy cột sống, trung tâm xương cùng, trung tâm tùng thái dương, trung tâm tim và trung tâm cổ họng.) Hệ thống trung tâm có quan hệ với ngoại biên thông qua ba mươi mốt dây thần kinh tủy và mười hai dây thần kinh sọ, vốn vừa hướng tâm và ly tâm hay cảm giác và vận động, khơi dậy cảm giác hoặc kích thích hành động. Trong các dây thần kinh sọ, sáu dây cuối cùng phát sinh từ hành tủy (medulla), và sáu dây kia, ngoại trừ dây thần kinh khứu giác và thị giác, từ các phần của não ngay phía trước hành tủy. Các tác giả của trường phái Yoga và Tantra ưu tiên sử dụng thuật ngữ Nadi cho các dây thần kinh. Người ta cũng nói rằng, họ ngụ ý các dây thần kinh sọ khi nói về Shiras, không bao giờ sử dụng từ sau cho các động mạch, như được thực hiện trong y văn. Tuy nhiên, phải lưu ý rằng các Nadi Yoga không phải là các dây thần kinh vật chất thông thường, mà là các đường dẫn vi tế hơn mà các mãnh lực sinh lực đi qua. Các dây thần kinh tủy, sau khi thoát ra khỏi các lỗ gian đốt sống, đi vào giao tiếp với các dây hạch của hệ thần kinh giao cảm nằm ở mỗi bên của cột sống. Tủy sống mở rộng trong trường hợp của con người từ bờ trên của đốt sống cổ thứ nhất (atlas), bên dưới tiểu não, đi vào hành tủy, và cuối cùng mở vào não thất tư của não, và đi xuống đến đốt sống thắt lưng thứ hai, nơi nó thon lại thành một điểm, gọi là dây tận cùng (filum terminale).” (Arthur Avalon, The Serpent Power, tr. 123-125.)

[115] As the foregoing quotation refers to the Tantrik system, it should be noted that reference is made to an Indian system of energy control safe only for those of the highest moral character and purity of life and thought. Certain degraded practices and schools, occurring both in the East and the West, teaching so-called Tantrik practices cannot be too severely condemned.

[115] Vì đoạn trích dẫn trên đề cập đến hệ thống Tantra, cần lưu ý rằng sự tham chiếu được thực hiện đối với một hệ thống kiểm soát năng lượng của Ấn Độ chỉ an toàn cho những người có tư cách đạo đức và sự trong sạch của đời sống và tư tưởng cao nhất. Một số thực hành và trường phái suy đồi, xuất hiện cả ở phương Đông và phương Tây, giảng dạy cái gọi là các thực hành Tantra có bị lên án nghiêm khắc đến đâu cũng không quá mức.

These force centres are not merely situated up the spinal column and in the head as we have just shown, but they are related to one another through the medium of the spinal column—a relationship too intricate to be detailed here.

Các trung tâm mãnh lực này không chỉ nằm dọc theo cột sống và trong đầu như chúng ta vừa chỉ ra, mà chúng còn liên quan đến nhau thông qua phương tiện của cột sống—một mối quan hệ quá phức tạp để được chi tiết hóa ở đây.

Of the seven centres, two are in the head and five in the spinal column. The two centres in the head have a direct relation to the faculties of mind and motion. The sahasrara centre (head centre) called usually the thousand-petalled lotus, is the embodiment of spiritual energy, demonstrating as Will, as the abstract or spiritual mind, and as the intuition. The ajna centre, or the centre between the eyebrows, concerns the lower mind and psychic nature of that integrated organism we call man, the personality.

Trong bảy trung tâm, hai trung tâm nằm trong đầu và năm trung tâm nằm trong cột sống. Hai trung tâm trong đầu có mối quan hệ trực tiếp với các năng lực của trí tuệ và vận động. Trung tâm sahasrara (trung tâm đầu) thường được gọi là hoa sen ngàn cánh, là hiện thân của năng lượng tinh thần, biểu hiện như là Ý chí, như là trí trừu tượng hay trí tuệ tinh thần, và như là trực giác. Trung tâm ajna, hay trung tâm giữa hai lông mày, liên quan đến hạ trí và bản chất thông linh của sinh vật tích hợp đó mà chúng ta gọi là con người, phàm ngã.

The five centres in the spinal column concern the varying activities of the organism as the man demonstrates his animal instinct, his emotional reactions and his life intention. They are largely directed by the force pouring into and issuing from the head centres.

Năm trung tâm trong cột sống liên quan đến các hoạt động khác nhau của sinh vật khi con người biểu lộ bản năng động vật, các phản ứng cảm xúc và chủ đích cuộc sống của y. Chúng phần lớn được chỉ đạo bởi mãnh lực tuôn đổ vào và phát ra từ các trung tâm đầu.

In The Serpent Power it is stated that: [116]

Trong The Serpent Power có nêu rằng: [116]

“The centres influence not only the muscular combinations concerned in volitional movements, but also the functions of vascular innervation, secretion, and the like, which have their proximate centres in the spinal cord. The cerebral centres are said, however, to control these functions only in relation with the manifestations of volition, feeling, and emotion; whereas the spinal centres with the subordinate sympathetic system are said to constitute the mechanism of unconscious adaptation, in accordance with the varying conditions of stimuli which are essential to the continued existence of the organism. The Medulla, again, is also both a path of communication between the higher centres and the periphery and an independent centre regulating functions of the greatest importance in the system. It is to be noted that the nerve fibres which carry motor impulses descending from the brain to the spinal cord cross over rather suddenly from one side to the other on their way through the spinal bulb (medulla), a fact which has been noted in the Tantras in the description of the Mukta Triveni. The latter is connected by numerous afferent and efferent tracts with the cerebellum and cerebral ganglia. Above the cerebellum is the cerebrum, the activity of which is ordinarily associated with conscious volition and ideation and the origination of voluntary movements. The notion of Consciousness, which is the introspective subject-matter of psychology, must not, however, be confused with that of physiological function. There is therefore no organ of consciousness, simply because ‘Consciousness’ is not an organic conception, and has nothing to do with the physiological conception of energy, whose inner introspective side it presents. Consciousness in itself is the Atma. Both mind and body, of which latter the brain is a part, are imperfect or veiled expressions of Consciousness, which in the case of body is so veiled [117] that it has the appearance of unconsciousness. The living brain is constituted of gross sensible matter (Mahabhuta) infused by Prana. Its material has been worked up so as to constitute a suitable vehicle for the expression of consciousness in the form of mind (Antahkarana). As consciousness is not a property of the body, neither is it a mere function of the brain. The fact that mental consciousness is affected or disappears with disorder of the brain proves the necessity of the latter for the expression of such consciousness, and not that consciousness is inherent alone in brain or that it is the property of the same. On each side of the vertebral column there is a chain of ganglia connected with nerve fibre, called the sympathetic cord (Ida and Pingala), extending all the way from the base of the skull to the coccyx. This is in communication with the spinal cord. It is noteworthy that there is in the thoracic and lumbar regions a ganglion of each chain corresponding with great regularity to each spinal nerve, though in the cervical region many of them appear to be missing; and that extra large clusters of nervous structure are to be found in the region of the heart, stomach, and lungs, the regions governed by the Anahata, Manipura, and Vishuddha, respectively, the three upper of the five Chakras hereinafter described. From the sympathetic chain on each side nerve fibres pass to the viscera of the abdomen and thorax. From these, nerves are also given off which pass back into the spinal nerves, and others which pass into some of the cranial nerves; these are thus distributed to the blood vessels of the limbs, trunk, and other parts to which the spinal or cranial nerves go. The sympathetic nerves chiefly carry impulses which govern the muscular tissue of the viscera and the muscular coat of the small arteries of the various tissues. It is through the sympathetic that the tone of the [118] bloodvessels is kept up by the action of the vaso-motor centre in the spinal bulb. The sympathetic, however, derives the impulses which it distributes from the central nervous system; these do not arise in the sympathetic self. The impulses issue from the spinal cord by the anterior roots of the spinal nerves, and pass through short branches into the sympathetic chains. The work of the sympathetic systems controls and influences the circulation, digestion, and respiration.

“Các trung tâm ảnh hưởng không chỉ đến các tổ hợp cơ bắp liên quan đến các chuyển động theo ý muốn, mà còn đến các chức năng phân bố thần kinh mạch máu, bài tiết, và những thứ tương tự, vốn có các trung tâm gần nhất của chúng trong tủy sống. Tuy nhiên, các trung tâm não được cho là kiểm soát các chức năng này chỉ trong mối quan hệ với các biểu hiện của ý chí, cảm giác, và cảm xúc; trong khi các trung tâm tủy sống với hệ thống giao cảm phụ thuộc được cho là cấu thành cơ chế thích nghi vô thức, phù hợp với các điều kiện kích thích thay đổi vốn thiết yếu cho sự tồn tại liên tục của sinh vật. Một lần nữa, Hành tủy cũng vừa là một con đường giao tiếp giữa các trung tâm cao hơn và ngoại biên, vừa là một trung tâm độc lập điều chỉnh các chức năng có tầm quan trọng lớn nhất trong hệ thống. Cần lưu ý rằng các sợi thần kinh mang các xung động vận động đi xuống từ não đến tủy sống bắt chéo qua khá đột ngột từ bên này sang bên kia trên đường đi của chúng qua hành tủy (medulla), một thực tế đã được ghi nhận trong các Tantra trong mô tả về Mukta Triveni. Cái sau được kết nối bởi vô số đường hướng tâm và ly tâm với tiểu não và các hạch não. Bên trên tiểu não là đại não, hoạt động của nó thường gắn liền với ý chí và ý niệm có ý thức và sự khởi đầu của các chuyển động tự nguyện. Tuy nhiên, khái niệm về Tâm thức, vốn là chủ đề nội quan của tâm lý học, không được nhầm lẫn với khái niệm về chức năng sinh lý. Do đó, không có cơ quan của tâm thức, đơn giản vì ‘Tâm thức’ không phải là một quan niệm hữu cơ, và không liên quan gì đến quan niệm sinh lý về năng lượng, mà tâm thức là phương diện nội quan bên trong của năng lượng ấy. Tâm thức trong chính nó là Atma. Cả trí tuệ và cơ thể, mà não bộ là một phần của cái sau, đều là những biểu hiện không hoàn hảo hay bị che phủ của Tâm thức, mà trong trường hợp của cơ thể thì bị che phủ [117] đến mức nó có vẻ bề ngoài là vô thức. Bộ não sống được cấu tạo bởi vật chất khả giác thô trược (Mahabhuta) được truyền Prana. Vật liệu của nó đã được gia công để cấu thành một vận cụ phù hợp cho sự biểu hiện của tâm thức dưới hình thức của trí tuệ (Antahkarana). Vì tâm thức không phải là một thuộc tính của cơ thể, nó cũng không phải là một chức năng đơn thuần của não bộ. Thực tế là tâm thức trí tuệ bị ảnh hưởng hoặc biến mất khi não bộ bị rối loạn chứng minh sự cần thiết của não bộ cho sự biểu hiện của tâm thức như vậy, chứ không phải là tâm thức vốn chỉ có trong não hay là thuộc tính của não. Ở mỗi bên của cột sống có một chuỗi các hạch được kết nối với sợi thần kinh, gọi là dây giao cảm (Ida và Pingala), kéo dài suốt từ đáy hộp sọ đến xương cụt. Cái này giao tiếp với tủy sống. Đáng chú ý là trong các vùng ngực và thắt lưng có một hạch của mỗi chuỗi tương ứng với mức độ đều đặn lớn đối với mỗi dây thần kinh tủy, mặc dù trong vùng cổ nhiều hạch có vẻ bị thiếu; và rằng các cụm cấu trúc thần kinh cực lớn được tìm thấy trong vùng tim, dạ dày, và phổi, các vùng được cai quản bởi Anahata, Manipura, và Vishuddha, tương ứng, là ba trung tâm trên của năm Chakra được mô tả sau đây. Từ chuỗi giao cảm ở mỗi bên, các sợi thần kinh đi đến nội tạng của bụng và lồng ngực. Từ những cái này, các dây thần kinh cũng được phát ra đi ngược lại vào các dây thần kinh tủy, và những dây khác đi vào một số dây thần kinh sọ; do đó chúng được phân bố đến các mạch máu của tay chân, thân mình, và các bộ phận khác mà các dây thần kinh tủy hoặc sọ đi đến. Các dây thần kinh giao cảm chủ yếu mang các xung động cai quản mô cơ của nội tạng và lớp cơ của các động mạch nhỏ của các mô khác nhau. Chính thông qua hệ giao cảm mà trương lực của [118] các mạch máu được duy trì bởi hoạt động của trung tâm vận mạch trong hành tủy. Tuy nhiên, hệ giao cảm nhận được các xung động mà nó phân phối từ hệ thần kinh trung ương; những xung động này không phát sinh trong bản thân hệ giao cảm. Các xung động phát ra từ tủy sống bởi các rễ trước của các dây thần kinh tủy, và đi qua các nhánh ngắn vào các chuỗi giao cảm. Công việc của các hệ thống giao cảm kiểm soát và ảnh hưởng đến sự tuần hoàn, tiêu hóa, và hô hấp.

The anatomical arrangement of the central nervous system is excessively intricate, and the events which take place in that tangle of fibre, cell and fibril, are, on the other hand, even now almost unknown. And so it has been admitted that in the description of the physiology of the central nervous system we can as yet do little more than trace the paths by which impulses may pass between one portion of the system and another, and from the anatomical connections deduce, with more or less probability, the nature of the physiological nexus which its parts form with each other and the rest of the body. In a general way, however, there may (it is said) be reasons to suppose that there are nervous centres in the central system related in a special way to special mechanisms, sensory, secretory, or motor, and that centres, such as the alleged genito-spinal centre, for a given physiological action exist in a definite portion of the spinal cord. It is the subtle aspect of such centres as expressions of consciousness (Chaitanya) embodied in various forms of Maya Shakti which is here called Chakra. These are related through intermediate conductors with the gross organs of generation, micturition, digestion, cardiac action, and respiration in ultimate relation with the Muladhara, Svadhishthana, Manipura, Anahata, and Vishuddha Chakras respectively, just as tracts have been assigned in special, even if not exclusive, relation with [119] various perceptive, volitional, and ideative processes.” (Arthur Avalon, The Serpent power, pp. 126-129)

Sự sắp xếp giải phẫu của hệ thần kinh trung ương là cực kỳ phức tạp, và các sự kiện diễn ra trong mớ hỗn độn của sợi, tế bào và sợi nhỏ đó, mặt khác, thậm chí cho đến nay vẫn gần như chưa được biết đến. Do đó, người ta thừa nhận rằng trong việc mô tả sinh lý học của hệ thần kinh trung ương, chúng ta chưa thể làm gì nhiều hơn ngoài việc vạch ra các con đường mà xung lực có thể đi qua giữa phần này và phần khác của hệ thống, và từ các kết nối giải phẫu suy ra, với xác suất ít nhiều, bản chất của mối liên kết sinh lý mà các bộ phận của nó hình thành với nhau và với phần còn lại của cơ thể. Tuy nhiên, theo một cách tổng quát, (người ta nói rằng) có thể có những lý do để giả định rằng có các trung tâm thần kinh trong hệ thống trung ương liên quan theo một cách đặc biệt với các cơ chế đặc biệt, về cảm giác, tiết ra, hoặc vận động, và rằng các trung tâm, chẳng hạn như trung tâm sinh dục-cột sống được cho là tồn tại ở một phần xác định của tủy sống. Chính phương diện vi tế của các trung tâm như vậy, với tư cách là những biểu hiện của tâm thức (Chaitanya) thể hiện trong các hình thức khác nhau của Maya Shakti, là cái được gọi ở đây là Chakra. Những Chakra này liên quan thông qua các dây dẫn trung gian với các cơ quan thô trược của sự sinh sản, tiểu tiện, tiêu hóa, hoạt động tim, và hô hấp trong mối quan hệ tối hậu tương ứng với các Luân xa Muladhara, Svadhishthana, Manipura, Anahata, và Vishuddha, cũng giống như các vùng đã được ấn định trong mối quan hệ đặc biệt, ngay cả khi không độc quyền, với [119] các quy trình nhận thức, ý chí và tạo ý khác nhau.” (Arthur Avalon, The Serpent power, tr. 126-129)

These centres vary in activity according to the evolutionary status of the individual. In some people certain centres are “awake” and in others the same centres may be relatively quiescent. In certain types, the solar plexus centre will be active or dominant, in others the heart, in still others the throat. In very few as yet, is the head centre active. Speaking largely, in savage people and the little evolved, the three centres below the diaphragm—the centre at the base of the spine, the sacral centre and the solar plexus centre—are alive and dominant, but the centres above the diaphragm are “asleep.” In average humanity the throat centre is beginning to make itself felt with the head and heart centres still asleep. In the highly evolved human being, the race leader, the intuitive philosopher and the scientist, and in the great saints, both the head and heart centres are making their vibrations felt, priority between head and heart being determined by type, and the quality of the emotional and mental consciousness.

Các trung tâm này thay đổi hoạt động tùy theo trạng thái tiến hóa của cá nhân. Ở một số người, các trung tâm nhất định đã “thức tỉnh” và ở những người khác, chính các trung tâm đó có thể tương đối tĩnh tại. Ở một số kiểu người nhất định, trung tâm tùng thái dương sẽ hoạt động hoặc chiếm ưu thế, ở những người khác là tim, và ở những người khác nữa là cổ họng. Cho đến nay, ở rất ít người trung tâm đầu hoạt động. Nói một cách rộng rãi, ở những người dã man và kém tiến hóa, ba trung tâm bên dưới cơ hoành—trung tâm tại đáy cột sống, trung tâm xương cùng và trung tâm tùng thái dương—đang sống động và chiếm ưu thế, nhưng các trung tâm bên trên cơ hoành đang “ngủ”. Ở nhân loại trung bình, trung tâm cổ họng đang bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm thấy với các trung tâm đầu và tim vẫn đang ngủ. Ở con người đã tiến hóa cao, vị lãnh tụ chủng tộc, triết gia trực giác và nhà khoa học, và ở các vị thánh vĩ đại, cả hai trung tâm đầu và tim đều đang làm cho những rung động của chúng được cảm thấy, sự ưu tiên giữa đầu và tim được xác định bởi kiểu loại, và phẩm tính của tâm thức cảm xúc và trí tuệ.

According, then, to the development of the man these force centres become alive and dominant, and according to their aliveness various types of activity make their presence felt. The centres below the diaphragm govern the physical life of the material form and the animal psychic life, found both [120] in man and in the animal. Those above the diaphragm concern the intellectual and spiritual life and bring about those activities in which man demonstrates that his status is different to, and higher than that of the animal, and that he is climbing upward on the ladder of evolution.

Vậy thì, tùy theo sự phát triển của con người mà các trung tâm mãnh lực này trở nên sống động và chiếm ưu thế, và tùy theo sự sống động của chúng mà các loại hoạt động khác nhau làm cho sự hiện diện của chúng được cảm thấy. Các trung tâm bên dưới cơ hoành cai quản đời sống vật lý của hình tướng vật chất và đời sống thông linh thú tính, được tìm thấy cả [120] ở con người và ở động vật. Những trung tâm bên trên cơ hoành liên quan đến đời sống trí năng và tinh thần, và mang lại những hoạt động mà trong đó con người chứng tỏ rằng địa vị của y khác với, và cao hơn địa vị của động vật, và rằng y đang leo lên trên nấc thang tiến hóa.

Such in brief is the teaching of the East with regard to the seven centres of force or chakras.

Tóm lại, đó là giáo huấn của phương Đông liên quan đến bảy trung tâm mãnh lực hay các luân xa.

When we compare the Eastern Doctrine of the seven centres with the Western doctrine of glands, we find first of all a striking fact with regard to locality. The seven centres of force are to be found in the same region where the glands are located, and each centre of force might well be (and according to Indian teaching is) the source of power and of life for the corresponding gland. The following comparative table shows this identity of location.

Khi chúng ta so sánh Giáo lý phương Đông về bảy trung tâm với giáo lý phương Tây về các tuyến, trước hết chúng ta tìm thấy một sự thật nổi bật liên quan đến vị trí. Bảy trung tâm mãnh lực được tìm thấy ở cùng vùng nơi các tuyến tọa lạc, và mỗi trung tâm mãnh lực rất có thể là (và theo giáo huấn Ấn Độ thì đúng là) nguồn quyền năng và sự sống cho tuyến tương ứng. Bảng so sánh sau đây cho thấy sự đồng nhất về vị trí này.

[table]

CÁC LUÂN XA

Các tuyến

CENTRES

GLANDS

Luân xa đầu

Tuyến tùng

Head centre

Pineal gland

Trung tâm giữa hai lông mày

Tuyến yên

Centre between eyebrows

Pituitary body

Luân xa cổ họng

Tuyến giáp

Throat centre

Thyroid gland

Luân xa tim

Tuyến ức

Heart centre

Thymus gland

Luân xa tùng thái dương

Tuyến tụy

Solar plexus centre

Pancreas

Luân xa xương cùng

Các tuyến sinh dục

Sacral centre

The gonads

Luân xa ở đáy cột sống

Các tuyến thượng thận

Centre at base of spine

Adrenal glands

A second fact, even more striking than the first, is that the force centres which are awake conform to the glands whose functions are known and of [121] which most of the secretions or hormones, have been discovered. The centres that are asleep or awakening in advanced members of the race, conform to the glands whose functions are relatively unknown and whose secretions in the main have not been isolated. It will be noted for example that Dr. Berman states that the secretion of the pineal gland, one of the two in the pituitary body and the thymus gland, are listed as unknown, as is the secretion of the cortex adrenal gland. These conform to the sleeping or awakening heart centre, throat centre, centre in the head, and at the base of the spine.

Một sự thật thứ hai, thậm chí còn nổi bật hơn sự thật thứ nhất, là các trung tâm mãnh lực đang thức tỉnh phù hợp với các tuyến mà chức năng đã được biết đến và [121] hầu hết các chất tiết hoặc hóc-môn của chúng đã được khám phá. Các trung tâm đang ngủ hoặc đang thức tỉnh ở các thành viên tiên tiến của giống dân, phù hợp với các tuyến mà chức năng tương đối chưa được biết đến và các chất tiết của chúng về cơ bản chưa được tách chiết. Ví dụ, cần lưu ý rằng Tiến sĩ Berman tuyên bố rằng chất tiết của tuyến tùng, một trong hai tuyến trong thể yên và tuyến ức, được liệt kê là chưa biết, cũng như chất tiết của vỏ tuyến thượng thận. Những tuyến này phù hợp với trung tâm tim, trung tâm cổ họng, trung tâm trong đầu và tại đáy cột sống đang ngủ hoặc đang thức tỉnh.

Is this an interesting coincidence? Or are we faced with the fact that in each case these glands with the undiscovered hormones, are allied to a centre which is asleep, not yet awakened in average humanity?

Đây có phải là một sự trùng hợp thú vị không? Hay chúng ta đang đối mặt với sự thật rằng trong mỗi trường hợp, các tuyến với những hóc-môn chưa được khám phá này, đều liên kết với một trung tâm đang ngủ, chưa được đánh thức ở nhân loại trung bình?

I believe it will eventually be established that the glands have been brought into being through the energy of the centres, for those centres which, in average humanity, are awake and functioning seem to be related to glands, whose peculiar secretion has been isolated, and its action in relation to the bloodstream known, whilst those centres which are as yet asleep and undeveloped seem to be allied to glands whose secretion is only partially known or totally unknown. It is in any case worthy of consideration.

Tôi tin rằng cuối cùng sẽ xác lập được rằng các tuyến đã được đưa vào hiện hữu thông qua năng lượng của các trung tâm, vì những trung tâm nào, ở nhân loại trung bình, đang thức tỉnh và hoạt động dường như liên quan đến các tuyến mà chất tiết đặc biệt của chúng đã được tách chiết, và tác động của nó liên quan đến dòng máu đã được biết đến, trong khi những trung tâm nào cho đến nay vẫn đang ngủ và chưa phát triển dường như liên kết với các tuyến mà chất tiết chỉ được biết một phần hoặc hoàn toàn chưa biết. Dù sao đi nữa, điều này cũng đáng để xem xét.

The Occidental psychologists are consequently right when they state that a man is what his glands [122] make him, and that we are no better or worse than our peculiar endocrine system. But the reason for this may lie in the correctness of the Oriental theory as to the force centres. The condition of the glands and their super-activity or sub-normality, and their right or wrong functioning may be determined by the state of those centres. The glands are only outer symbols, the visible, material aspect of a far greater and more intricate system. They are determined by the character of the soul life which plays through them, and the soul which controls and dominates all.

Do đó, các nhà tâm lý học phương Tây đã đúng khi họ tuyên bố rằng một người là những gì mà các tuyến của y [122] tạo nên y, và rằng chúng ta không tốt hơn hay tệ hơn hệ nội tiết đặc biệt của mình. Nhưng lý do cho điều này có thể nằm ở sự chính xác của lý thuyết phương Đông về các trung tâm mãnh lực. Tình trạng của các tuyến và sự hoạt động thái quá hay dưới mức bình thường của chúng, và sự vận hành đúng hay sai của chúng có thể được xác định bởi trạng thái của các trung tâm đó. Các tuyến chỉ là những biểu tượng bên ngoài, khía cạnh vật chất hữu hình của một hệ thống vĩ đại hơn và phức tạp hơn nhiều. Chúng được xác định bởi tính chất của đời sống linh hồn tuôn chảy qua chúng, và bởi linh hồn, cái kiểm soát và chi phối tất cả.

The state of the centres, then, is dependent upon the type and quality of soul force vibrating through them. In the undeveloped person it is simply the life force, prana, which is active and registers. This nurtures the animal life and brings the lower centres (the centre at the base of the spine and the sacral centre) into activity. Later, as man develops, the consciousness, soul-aspect, gradually makes its presence felt and brings the solar plexus centre into activity. This centre is the seat of the lower psychic sentient life both in man and in the animal, and is often referred to as the instinctual brain. Bhagavan Das teaches us that:

Vậy thì, trạng thái của các trung tâm phụ thuộc vào loại và phẩm tính của mãnh lực linh hồn đang rung động qua chúng. Ở người chưa phát triển, đơn giản chỉ là sinh lực, prana, đang hoạt động và ghi nhận. Mãnh lực này nuôi dưỡng đời sống thú tính và đưa các trung tâm thấp (trung tâm tại đáy cột sống và trung tâm xương cùng) vào hoạt động. Sau này, khi con người phát triển, tâm thức, phương diện linh hồn, dần dần làm cho sự hiện diện của nó được cảm thấy và đưa trung tâm tùng thái dương vào hoạt động. Trung tâm này là chỗ trú đóng của đời sống cảm giác thông linh thấp ở cả con người và động vật, và thường được gọi là bộ não bản năng. Bhagavan Das dạy chúng ta rằng:

“It is worth noting that in Sanskrit literature the navel is often treated as more central and almost more essential to the organism than the heart. Indications of the importance of the heart are not wanting, it is true,... but it is probable that physiologically the ‘navel’ was the more vital organ in the earlier stages [123] of evolution, and is even at the present stage more essentially connected with desire proper than the heart which may perhaps be regarded as connected with the actional sub-division of desire.” (Bhagavan Das, The Science of the Sacred word, Vol. I, p. 82)

“Điều đáng chú ý là trong văn học Sanskrit, lỗ rốn thường được coi là trung tâm hơn và gần như thiết yếu hơn đối với sinh vật so với tim. Đúng là không thiếu các chỉ dấu về tầm quan trọng của tim... nhưng có lẽ về mặt sinh lý, ‘lỗ rốn’ là cơ quan quan trọng hơn trong các giai đoạn sớm hơn [123] của tiến hóa, và thậm chí ở giai đoạn hiện tại còn kết nối thiết yếu hơn với dục vọng đúng nghĩa so với tim, vốn có lẽ có thể được coi là kết nối với phân bộ hành động của dục vọng.” (Bhagavan Das, The Science of the Sacred word, Vol. I, tr. 82)

He quotes Mrs. Besant also in the following paragraph:

Ông cũng trích dẫn bà Besant trong đoạn sau:

“The ‘navel’ represents the solar plexus, perhaps the most important plexus of the sympathetic system; it controls the digestive tract, and sends its branches to liver, spleen, stomach, as well as to the alimentary canal and generative organs. Nor is it unconnected with the lungs and heart. It may he regarded as the brain of the sympathetic system, and responds with dangerous facility to thought; concentration on it, often rashly undertaken, is apt to result in a peculiarly intractable form of nervous disease. Emotions set up in it violent disturbances, and the feeling of a nausea, which often follows an emotional shock, is due to its excited action.” (Bhagavan Das, The Science of the Sacred word, Vol. I, p. 83)

“‘Lỗ rốn’ đại diện cho tùng thái dương, có lẽ là đám rối quan trọng nhất của hệ giao cảm; nó kiểm soát đường tiêu hóa, và gửi các nhánh của nó đến gan, lá lách, dạ dày, cũng như đến ống tiêu hóa và các cơ quan sinh dục. Nó cũng không phải là không kết nối với phổi và tim. Nó có thể được coi là bộ não của hệ giao cảm, và đáp ứng với tư tưởng bằng một sự dễ dàng nguy hiểm; việc tập trung vào nó, thường được thực hiện một cách hấp tấp, dễ dẫn đến một dạng bệnh thần kinh đặc biệt khó chữa. Những cảm xúc gây ra trong nó những xáo trộn dữ dội, và cảm giác buồn nôn, thường theo sau một cú sốc tình cảm, là do hoạt động bị kích thích của nó.” (Bhagavan Das, The Science of the Sacred word, Vol. I, tr. 83)

Man functions today through the medium of these three centres for the most part. The forces of the body serve to feed and stimulate the sex life through the gonads, they create the urge to combat and to evolve through the adrenal glands, the glands of combat, and of struggle; they govern the psychic instinctual life through the solar plexus. Thus the personal man is mobilised and becomes a conscious sentient human being. As his evolution proceeds, the self or soul becomes more and more [124] active and dominant in man and in his corporeal existence, and little by little all parts of the etheric structure become vitally awake. Gradually the higher centres come into increased activity, and the emphasis of the force pouring through the body shifts to the centres above the diaphragm. The throat centre awakens and becomes the organ of creative work; the heart centre is vivified and the man becomes aware of his soul relationships, his group responsibilities and the inclusiveness of the life-soul. Finally the head centres awaken and another range of perceptions enters into his consciousness. He becomes aware of himself as a soul, integrated as a personality, and later still he becomes aware of the world of spirit, of divine life, of the unseen world of spirits, and of that “cloud of witnesses” who testify to the reality of the soul life.

Ngày nay, con người vận hành phần lớn thông qua trung gian của ba trung tâm này. Các mãnh lực của thân thể phục vụ việc nuôi dưỡng và kích thích đời sống tình dục thông qua các tuyến sinh dục, chúng tạo ra sự thôi thúc chiến đấu và tiến hóa thông qua các tuyến thượng thận, những tuyến của chiến đấu, và của đấu tranh; chúng cai quản đời sống bản năng thông linh thông qua tùng thái dương. Do đó, con người phàm ngã được huy động và trở thành một con người hữu tình có ý thức. Khi sự tiến hóa của y tiến triển, cái tôi hay linh hồn ngày càng trở nên [124] hoạt động và chi phối trong con người và trong sự tồn tại xác thân của y, và từng chút một, tất cả các phần của cấu trúc dĩ thái trở nên thức tỉnh đầy sức sống. Dần dần, các trung tâm cao hơn đi vào hoạt động gia tăng, và trọng tâm của mãnh lực tuôn đổ qua thân thể chuyển sang các trung tâm bên trên cơ hoành. Trung tâm cổ họng thức tỉnh và trở thành cơ quan của công việc sáng tạo; trung tâm tim được làm cho sống động và con người trở nên nhận biết các mối quan hệ linh hồn của mình, các trách nhiệm nhóm và tính bao quát của sự sống-linh hồn. Cuối cùng, các trung tâm đầu thức tỉnh và một phạm vi nhận thức khác đi vào tâm thức của y. Y trở nên nhận biết bản thân mình là một linh hồn, được tích hợp như một phàm ngã, và trễ hơn nữa, y trở nên nhận biết thế giới của tinh thần, của sự sống thiêng liêng, của thế giới vô hình của các thần linh, và của “đám mây nhân chứng” đó, những người làm chứng cho thực tại của đời sống linh hồn.

One of the objectives of human evolution is to accomplish this. The centre at the base of the spine, the heart and head centres, must come into full functioning activity and thus, through a blending of the energy latent in matter itself and stored up in the centre at the base of the spine, of the energy of the soul, which has its seat in the heart, and of the energy of the spirit, centred in the head, bring the human being to the highest point of perfection. Through this fusion of energies he becomes an active expression of God—spirit, soul, body, blended and united so that the body is indeed the vehicle for the soul, and that soul is indeed the expression of the will and purpose of the spirit.

Một trong những mục tiêu của tiến hóa nhân loại là hoàn thành điều này. Trung tâm tại đáy cột sống, các trung tâm tim và đầu, phải đi vào hoạt động chức năng trọn vẹn và do đó, thông qua sự pha trộn của năng lượng tiềm tàng trong chính vật chất và được tích trữ trong trung tâm tại đáy cột sống, của năng lượng linh hồn, vốn có chỗ trú đóng trong tim, và của năng lượng tinh thần, tập trung trong đầu, đưa con người đến điểm hoàn hảo cao nhất. Thông qua sự dung hợp các năng lượng này, y trở thành một biểu hiện năng động của Thượng đế—tinh thần, linh hồn, thân thể, được pha trộn và hợp nhất sao cho thân thể thực sự là vận cụ cho linh hồn, và linh hồn đó thực sự là biểu hiện của ý chí và mục đích của tinh thần.

[125] What did Christ say when on earth? “He that hath seen me hath seen the Father.” (John XIV: 9). He said also, “He that believeth on Me, the works that I do shall he do also; and greater works than these shall he do; because I go unto My Father” (John XIV: 12). He was the Soul incarnate in the body, revealing the Father, the Spirit, and through the mechanism of the body, demonstrating the powers of the soul, which, the Hindus claim, follow upon the awakening of the centres, and which they list as follows:

[125] Đức Christ đã nói gì khi còn ở trần gian? “Ai thấy Ta là thấy Cha.” (John XIV: 9). Ngài cũng nói, “Kẻ nào tin Ta, thì việc Ta làm, kẻ ấy cũng sẽ làm; và họ sẽ làm những việc lớn hơn nữa; vì Ta đi về cùng Cha Ta” (John XIV: 12). Ngài là Linh hồn lâm phàm trong thân thể, hiển lộ Cha, Tinh thần, và thông qua bộ máy của thân thể, thể hiện các quyền năng của linh hồn, những quyền năng mà người Hindu khẳng định là sẽ theo sau sự thức tỉnh của các trung tâm, và họ liệt kê như sau:

1. Anima... the power to penetrate all bodies, and to bring the dead to life. Christ could pass unseen into rooms, and could raise the dead. (See Luke 24:36, Mark 16:14, John 20:19, John 11.)

1. Anima... quyền năng thâm nhập vào mọi thân thể, và làm cho kẻ chết sống lại. Đức Christ có thể đi vào các căn phòng mà không bị nhìn thấy, và có thể làm cho kẻ chết sống lại. (Xem Luke 24:36, Mark 16:14, John 20:19, John 11.)

2. Mahima... the power to include or make oneself large or to comprehend the universe. Christ knew all things. (Matt. 12:25, John 2:24, John 6:64.)

2. Mahima... quyền năng bao gồm hoặc làm cho bản thân trở nên to lớn hoặc thấu hiểu vũ trụ. Đức Christ biết mọi sự. (Matt. 12:25, John 2:24, John 6:64.)

3. Laghima... the power to make oneself light so that one could float in the air or walk on the water. Christ walked on the water. (Matt. 14:25, 26, Mark 6:48.)

3. Laghima... quyền năng làm cho bản thân trở nên nhẹ để có thể lơ lửng trong không khí hoặc đi trên mặt nước. Đức Christ đã đi trên mặt nước. (Matt. 14:25, 26, Mark 6:48.)

4. Garima... the power to make oneself heavy. There is no record in the Christian Scripture of Christ exercising this power.

4. Garima... quyền năng làm cho bản thân trở nên nặng. Không có ghi chép nào trong Kinh Thánh Cơ Đốc giáo về việc Đức Christ thực thi quyền năng này.

5. Prapti... the predicting of events (Christ foretold his crucifixion Matt. 26:2, Luke 24:7) and of the power to cure diseases (Christ healed hundreds, Matt. 12:15, 14:15), and of clairvoyance [126] and clairaudience. (Christ was both clairvoyant, John 1:48, and clairaudient, John 12:29.)

5. Prapti... việc tiên đoán các sự kiện (Đức Christ đã báo trước sự đóng đinh của mình Matt. 26:2, Luke 24:7) và quyền năng chữa bệnh (Đức Christ đã chữa lành hàng trăm người, Matt. 12:15, 14:15), và về thông nhãn [126] và thông nhĩ. (Đức Christ vừa có thông nhãn, John 1:48, vừa có thông nhĩ, John 12:29.)

6. Prakamega... the power to preserve the body. Christ reappeared to His disciples after death with the same body, apparently, that they knew. (John 20:20-27.)

6. Prakamega... quyền năng bảo tồn thân thể. Đức Christ đã tái xuất hiện trước các môn đồ sau khi chết với cùng một thân thể, dường như, mà họ đã biết. (John 20:20-27.)

7. Visitvan... the power of self control, the power to control animals, and people. All these Christ demonstrated, even to the control of the demon-possessed persons, and of the hogs who ran down a steep place into the sea. (Matt. 8, Mark 5, Mark 9.)

7. Visitvan... quyền năng tự chủ, quyền năng kiểm soát động vật, và con người. Tất cả những điều này Đức Christ đã biểu lộ, thậm chí đến việc kiểm soát những người bị quỷ ám, và đàn heo chạy xuống dốc lao vào biển. (Matt. 8, Mark 5, Mark 9.)

8. Ishatvan... the power of universal dominion. This is everywhere claimed for Christ, and is indicated by his being seated on the right hand of God.

8. Ishatvan... quyền năng thống trị phổ quát. Điều này được tuyên bố khắp nơi cho Đức Christ, và được biểu thị bằng việc Ngài ngồi bên hữu Thượng đế.

And is the possession of these powers and the fulfilment of Christ’s prophecy that we shall do these greater things, so contrary to what the West calls common sense? In the radio, we broadcast waves of sound and we time and amplify them, but after all we merely re-enforce the sound waves which in their original subtle form, are pouring in upon us. What more natural than this, that man, who has constructed mechanical re-enforcements, should himself become so sensitive as to pick up the sound waves unaided, and thus be termed clairaudient? And is not thought transference (which even the most sceptical must recognise) none other than a special kind of broadcasting? And so with other “miracles,” is not the material world controlled [127] by subtler forces and powers, and may not man learn in time to operate in the subtler field and thereby acquire dominance over the merely physical and material?

Và việc sở hữu những quyền năng này cùng sự hoàn thành lời tiên tri của Đức Christ rằng chúng ta sẽ làm những việc lớn hơn này, có quá trái ngược với những gì phương Tây gọi là lẽ thường không? Trong vô tuyến điện, chúng ta phát sóng âm thanh và chúng ta định thời gian cũng như khuếch đại chúng, nhưng suy cho cùng chúng ta chỉ củng cố các sóng âm thanh vốn đang tuôn chảy vào chúng ta trong hình thức vi tế ban đầu của chúng. Còn gì tự nhiên hơn điều này, rằng con người, kẻ đã xây dựng các công cụ củng cố cơ học, chính y sẽ trở nên nhạy cảm đến mức thu được các sóng âm thanh mà không cần hỗ trợ, và do đó được gọi là có thông nhĩ? Và chẳng phải sự chuyển tư tưởng (điều mà ngay cả những người hoài nghi nhất cũng phải công nhận) không gì khác hơn là một loại phát thanh đặc biệt sao? Và cũng vậy với các “phép lạ” khác, chẳng phải thế giới vật chất được kiểm soát [127] bởi các mãnh lực và quyền năng vi tế hơn sao, và chẳng phải con người có thể học theo thời gian để vận hành trong lĩnh vực vi tế hơn và qua đó đạt được sự thống trị đối với cái thuần túy vật lý và vật chất sao?

Such is the age-long belief of India—that through the development of the soul and spirit, through the awakening of all the centres, man comes to his maturity and his glory.

Đó là niềm tin lâu đời của Ấn Độ—rằng thông qua sự phát triển của linh hồn và tinh thần, thông qua sự thức tỉnh của tất cả các trung tâm, con người đi đến sự trưởng thành và vinh quang của mình.

CHAPTER VII — CONCLUSION—CHƯƠNG VII — KẾT LUẬN

[128] In this book we have considered the two systems of psychology, the Eastern and the Western. Taken together we have a complete picture of man as a living soul, functioning through a certain mechanism. Part of this, the etheric body with its centres, is subtle, unseen and beyond the reach of our five senses, and another part is in the dense physical realm, namely the endocrine glands and the nervous system, which control the rest of the dense physical manifestation. These two parts, we believe, form one whole.

[128] Trong cuốn sách này, chúng ta đã xem xét hai hệ thống tâm lý học, phương Đông và phương Tây. Khi kết hợp lại, chúng ta có một bức tranh hoàn chỉnh về con người như một linh hồn sống động, vận hành thông qua một cơ chế nhất định. Một phần của cơ chế này, thể dĩ thái với các trung tâm của nó, là vi tế, vô hình và vượt ra ngoài tầm với của năm giác quan của chúng ta, và một phần khác nằm trong cõi hồng trần đậm đặc, cụ thể là các tuyến nội tiết và hệ thần kinh, vốn kiểm soát phần còn lại của biểu hiện vật lý đậm đặc. Chúng tôi tin rằng hai phần này tạo thành một tổng thể nhất quán.

The soul is always the great reality, the expression of the one life, which is made up of the etheric and dense bodies. It is the soul force playing upon and functioning through the etheric body which evolves the specialised centres in that body, and which in turn acts upon the dense physical.

Linh hồn luôn là thực tại vĩ đại, biểu hiện của sự sống duy nhất, vốn được tạo thành từ các thể dĩ thái và đậm đặc. Chính mãnh lực linh hồn tác động lên và vận hành thông qua thể dĩ thái làm phát triển các trung tâm chuyên biệt trong thể đó, và đến lượt nó lại tác động lên thể xác đậm đặc.

The question which appeals most strongly to the Western mind is how to achieve greater efficiency in operation. Man, the soul, is limited in his operating efficiency by the condition of his instrument. If the glands, nervous system and the etheric body with its centres are out of adjustment and not functioning properly, man, the soul, must repair or heal them. It is only because man is essentially [129] a living soul that we can even conceive of his glands as not functioning properly, much less proceed to study, correct and perfect them.

Câu hỏi hấp dẫn nhất đối với trí tuệ phương Tây là làm thế nào để đạt được hiệu quả cao hơn trong vận hành. Con người, linh hồn, bị giới hạn trong hiệu quả vận hành của mình bởi tình trạng công cụ của y. Nếu các tuyến, hệ thần kinh và thể dĩ thái với các trung tâm của nó bị lệch lạc và không hoạt động đúng cách, con người, linh hồn, phải sửa chữa hoặc chữa lành chúng. Chỉ vì con người về bản chất [129] là một linh hồn sống động nên chúng ta mới có thể quan niệm rằng các tuyến của y không hoạt động đúng cách, chưa nói đến việc tiến hành nghiên cứu, sửa chữa và hoàn thiện chúng.

Work directly upon the glands and the nerve centres through the use of medicines and by other means is essentially repair work, and is limited to the highest state of those particular glands and nerve centres originally created by the particular man in question. The same is equally, and if anything, more emphatically true of the centres in the etheric body which can be affected by certain Oriental practices of breathing, mantras and posture. Such practices are most dangerous, often, indeed, leading to insanity. Eventually, it is to be hoped, we shall have sufficient knowledge and experience to work with intelligence directly upon the centres and thus he able to control more effectively the neuroses and glands of the physical body.

Làm việc trực tiếp lên các tuyến và các trung tâm thần kinh thông qua việc sử dụng thuốc men và bằng các phương tiện khác về cơ bản là công việc sửa chữa, và bị giới hạn ở trạng thái cao nhất của những tuyến và trung tâm thần kinh cụ thể đó vốn được tạo ra ban đầu bởi con người cụ thể đang được đề cập. Điều tương tự cũng đúng, và nếu có gì khác thì còn đúng một cách dứt khoát hơn, đối với các trung tâm trong thể dĩ thái vốn có thể bị ảnh hưởng bởi các thực hành phương Đông nào đó về hô hấp, mantram và tư thế. Những thực hành như vậy rất nguy hiểm, thực sự thường dẫn đến điên loạn. Hy vọng rằng cuối cùng chúng ta sẽ có đủ kiến thức và kinh nghiệm để tác động trực tiếp một cách thông minh lên các trung tâm và do đó có thể kiểm soát hiệu quả hơn các chứng loạn thần kinh và các tuyến của thể xác.

Three theories apparently emerge as the result of our investigation, and form a triple hypothesis to account for man as an organism, demonstrating life, self-consciousness and intelligent purpose.

Ba lý thuyết dường như nổi lên như là kết quả của cuộc điều tra của chúng tôi, và hình thành nên một giả thuyết tam phân để giải thích con người như một sinh vật, biểu lộ sự sống, ngã thức và mục đích thông tuệ.

The first is: As a man’s glands and nervous system, so is he. His temperament, natural qualities and intelligent handling of his life experiences and of his environment are determined by his endocrine system. So says the West.

Thứ nhất là: Các tuyến và hệ thần kinh của một người thế nào, thì y thế ấy. Khí chất, các phẩm tính tự nhiên và cách xử lý thông minh các kinh nghiệm sống và môi trường của y được xác định bởi hệ nội tiết của y. Phương Tây nói như vậy.

The second is: As a man’s centres, so is he. The quiescence or the activity of certain focal points of energy in the human, etheric body, determine his character, his method of expression, his type and [130] also the tenure of his body. His activities on the physical plane are entirely dependent upon the qualities of force flowing through his centres. So says the East.

Thứ hai là: Các trung tâm của một người thế nào, thì y thế ấy. Sự tĩnh tại hay hoạt động của những tiêu điểm năng lượng nhất định trong thể dĩ thái của con người, xác định tính cách của y, phương thức biểu đạt của y, kiểu loại của y và [130] cả thời gian tồn tại của thân thể y. Các hoạt động của y trên cõi hồng trần hoàn toàn phụ thuộc vào các phẩm tính của mãnh lực tuôn chảy qua các trung tâm của y. Phương Đông nói như vậy.

The third is: The glands and neuroses as well as the centres are conditioned by the control or lack of control exerted by the soul.

Thứ ba là: Các tuyến và các chứng loạn thần kinh cũng như các trung tâm được quy định bởi sự kiểm soát hay thiếu kiểm soát do linh hồn thực thi.

It might be argued that we have only succeeded in pushing the whole matter back into the realms of the unseen and the unprovable. But is this really so? Have not many factors now accepted as realities emerged from the speculations and vague hypotheses of the past ages? Has not what was regarded as unprovable in the past been proved and demonstrated in the present age? Might it not be possible to apply a technique and employ a method which may in time suffice, through the mass of direct available evidence, to give us a clearer perception of the factors which are at present so obscure to us?

Có thể lập luận rằng chúng ta chỉ mới thành công trong việc đẩy toàn bộ vấn đề trở lại vào các lĩnh vực của cái vô hình và cái không thể chứng minh. Nhưng liệu điều này có thực sự như vậy không? Chẳng phải nhiều yếu tố hiện được chấp nhận là thực tại đã xuất hiện từ những suy đoán và giả thuyết mơ hồ của các thời đại quá khứ sao? Chẳng phải những gì được coi là không thể chứng minh trong quá khứ đã được chứng minh và minh chứng trong thời đại hiện tại sao? Liệu có thể nào áp dụng một kỹ thuật và sử dụng một phương pháp mà theo thời gian có thể đủ, thông qua khối lượng bằng chứng trực tiếp có sẵn, để cho chúng ta một nhận thức rõ ràng hơn về các yếu tố hiện đang quá mờ mịt đối với chúng ta không?

The West comes forward as we have seen with its facts concerning the structure. Man’s mechanism is determined by his endocrine system plus the nervous system, the response apparatus. Can we approach the subject from this standpoint and by a treatment of the human glands produce perfection of the human body and thus eventually lead man out into the full light of the soul? Can divinity be unfolded through physical means? Or, accepting the Eastern position that the centres are the mediums of expression for the soul, and responsible [131] for the building and control of the body, through the nervous system and the glands, can we investigate and apply a recognisably dangerous method and work directly on or through the centres?

Phương Tây bước tới như chúng ta đã thấy với các sự kiện của nó liên quan đến cấu trúc. Cơ chế của con người được xác định bởi hệ nội tiết cộng với hệ thần kinh, bộ máy phản ứng. Liệu chúng ta có thể tiếp cận chủ đề từ quan điểm này và bằng cách điều trị các tuyến của con người để tạo ra sự hoàn hảo của thân thể con người và do đó cuối cùng dẫn con người đi vào ánh sáng trọn vẹn của linh hồn không? Liệu thiên tính có thể được khai mở thông qua các phương tiện vật lý không? Hay, chấp nhận lập trường phương Đông rằng các trung tâm là các trung gian biểu đạt cho linh hồn, và chịu trách nhiệm [131] cho việc xây dựng và kiểm soát thân thể, thông qua hệ thần kinh và các tuyến, liệu chúng ta có thể điều tra và áp dụng một phương pháp rõ ràng là nguy hiểm và làm việc trực tiếp lên hoặc thông qua các trung tâm không?

Is there a third way by means of which we can avoid the purely physical approach and also the danger of awakening the centres prematurely? May it not be possible to arrive at a solution and a method which will give the soul the full use of its instrument, and produce that perfect interplay between soul and body which a right activity of the centres is claimed to bring about?

Liệu có cách thứ ba mà nhờ đó chúng ta có thể tránh được cách tiếp cận thuần túy vật lý và cả sự nguy hiểm của việc đánh thức các trung tâm một cách quá sớm không? Chẳng lẽ không thể đi đến một giải pháp và một phương pháp sẽ cung cấp cho linh hồn sự sử dụng trọn vẹn công cụ của nó, và tạo ra sự tương tác hoàn hảo giữa linh hồn và thân thể mà một hoạt động đúng đắn của các trung tâm được cho là sẽ mang lại sao?

There is a way whereby man can ascertain that he is really a soul, and therefore is able to control his instrument of expression, the threefold lower nature, the sum total of psychical and mental states. Through this method it is possible to bring about a union of the wisdom of the East and the knowledge of the West, so that the best aspects of each system can be available to mankind as a whole.

Có một cách mà nhờ đó con người có thể xác định rằng y thực sự là một linh hồn, và do đó có thể kiểm soát công cụ biểu đạt của mình, bản chất thấp tam phân, tổng thể của các trạng thái tâm lý và trí tuệ. Thông qua phương pháp này, có thể mang lại một sự hợp nhất giữa minh triết của phương Đông và kiến thức của phương Tây, để những khía cạnh tốt nhất của mỗi hệ thống có thể sẵn có cho toàn thể nhân loại.

In considering the possibility of man discovering his soul, there must be, to start with, a willingness to accept an hypothesis, for hypotheses have always been the starting point for knowledge. We assume then, as a working hypothesis that man is a soul and possesses a body, and that there is a unifying medium linking these two in the form of an energy body.

Khi xem xét khả năng con người khám phá ra linh hồn của mình, để bắt đầu, phải có sự sẵn lòng chấp nhận một giả thuyết, vì các giả thuyết luôn là điểm khởi đầu cho kiến thức. Vậy thì, chúng ta giả định như một giả thuyết làm việc rằng con người là một linh hồn và sở hữu một thân thể, và rằng có một trung gian hợp nhất liên kết hai thứ này dưới dạng một thể năng lượng.

[132] Those who have sought to ascertain the fact of the existence of the soul and of its vitalising apparatus hitherto can be divided into two groups. There are the mystics who have employed aspiration and emotion, plus physical means, and there are those who are more purely mental in calibre, and who have utilised the intellect and the mind, in order to arrive at spiritual knowledge. This long line of knowers of God have used different terminologies, but it is immaterial for our purpose whether they call the soul the self, the Beloved, the One, or God, or Christ. The mystic flagellated and misused his body through fasting and over-discipline. He thus reduced the claims of the fleshly appetites. To this he added an intense devotion for the Beloved and a longing for the Vision. At the close of years of strenuous exercise he found that which he sought, and was united with that Beloved.

[132] Những người đã tìm cách xác định sự thật về sự tồn tại của linh hồn và của bộ máy tiếp sinh lực của nó cho đến nay có thể được chia thành hai nhóm. Có những nhà thần bí đã sử dụng khát vọng và cảm xúc, cộng với các phương tiện vật lý, và có những người thuần túy trí tuệ hơn về năng lực, và đã sử dụng trí năng và trí tuệ, để đạt đến kiến thức tinh thần. Dòng dõi dài những người biết Thượng đế này đã sử dụng các thuật ngữ khác nhau, nhưng không quan trọng cho mục đích của chúng ta việc họ gọi linh hồn là cái tôi, là Đấng Dấu Yêu, là Đấng Duy Nhất, hay Thượng đế, hay Christ. Nhà thần bí đã tự hành xác và lạm dụng thân thể mình thông qua nhịn ăn và kỷ luật quá mức. Y do đó đã giảm bớt những đòi hỏi của ham muốn xác thịt. Vào điều này, y thêm một sự sùng tín mãnh liệt đối với Đấng Dấu Yêu và một sự khao khát Linh ảnh. Vào cuối những năm tháng rèn luyện vất vả, y đã tìm thấy cái mà y tìm kiếm, và được hợp nhất với Đấng Dấu Yêu đó.

The second group employed the reason and practised mind control, plus stern emotional and physical control. Through the one-pointedness of their search they, too, found reality and came into a wide consciousness of the eternal plan, arriving at union with the Universal Soul.

Nhóm thứ hai sử dụng lý trí và thực hành kiểm soát trí tuệ, cộng với kiểm soát nghiêm ngặt về cảm xúc và thể xác. Thông qua sự nhất tâm trong cuộc tìm kiếm của mình, họ cũng tìm thấy thực tại và đi vào một tâm thức rộng lớn về thiên cơ vĩnh cửu, đạt đến sự hợp nhất với Linh Hồn Vũ Trụ.

Both groups bear testimony to the truth of the existence of the Soul, but, limited by their peculiar bent and method, their testimony is one-sided. One is too visionary, mystical and emotional; the other too academic, intellectual and form-building. Now, through the wide dissemination of human [133] knowledge and the close intercourse existing between minds through the medium of literature, the spoken word and travel, the time has come when a fusion is, for the first time, generally possible, and, from the past conclusions of the philosophers and saints of both hemispheres, we should be able to work out a system and a method which will be for our day and generation the mode of spiritual achievement.

Cả hai nhóm đều làm chứng cho sự thật về sự tồn tại của Linh hồn, nhưng, bị giới hạn bởi khuynh hướng và phương pháp đặc biệt của họ, lời chứng của họ là phiến diện. Một bên quá mơ mộng, thần bí và cảm xúc; bên kia quá hàn lâm, trí thức và xây dựng hình tướng. Giờ đây, thông qua sự phổ biến rộng rãi của kiến thức [133] nhân loại và sự giao lưu chặt chẽ hiện hữu giữa các trí tuệ thông qua phương tiện văn học, lời nói và du lịch, đã đến lúc một sự dung hợp, lần đầu tiên, là khả thi một cách tổng quát, và từ những kết luận trong quá khứ của các triết gia và các vị thánh của cả hai bán cầu, chúng ta sẽ có thể tìm ra một hệ thống và một phương pháp vốn sẽ là phương thức thành tựu tinh thần cho thời đại và thế hệ của chúng ta.

It becomes therefore practical for certain initial steps to be taken and these might be summarised as follows:

Do đó, việc thực hiện một số bước ban đầu trở nên thực tế và những bước này có thể được tóm tắt như sau:

(a) A sane treatment of the physical body, utilising the knowledge of the West, particularly with reference to preventive medicine and the general health of the endocrine system.

(a) Một cách chăm sóc hợp lý đối với thể xác, sử dụng kiến thức của phương Tây, đặc biệt liên quan đến y học dự phòng và sức khỏe chung của hệ nội tiết.

(b) An intellectual understanding and application of the basic facts of modern psychology and a sane psycho-analysis, thus arriving at a knowledge of the mechanism, mental, emotional and physical, through which the soul seeks expression.

(b) Một sự thấu hiểu trí tuệ và ứng dụng các sự thật cơ bản của tâm lý học hiện đại và việc phân tâm hợp lý, qua đó đạt đến một kiến thức về cơ chế, trí tuệ, cảm xúc và vật lý, mà qua đó linh hồn tìm kiếm sự biểu hiện.

(c) A recognition of the fact that, as the physical body is an automaton, responsive to and controlled by the desires and the emotional nature, so these emotional states of consciousness (extending all the way from love of food to love of God) may be controlled by the reasoning mind.

(c) Một sự công nhận sự thật rằng, vì thể xác là một bộ máy tự động, đáp ứng và bị kiểm soát bởi các dục vọng và bản chất cảm xúc, nên các trạng thái cảm xúc của tâm thức (kéo dài từ sự ham thích thức ăn đến tình yêu Thượng đế) có thể bị kiểm soát bởi trí tuệ suy luận.

(d) Growing out of all this will come a study of the laws of mind, and thus the relationship between the mind and the brain may be understood and utilised.

(d) Nảy sinh từ tất cả những điều này sẽ đến một sự nghiên cứu về các định luật của trí tuệ, và do đó mối quan hệ giữa trí tuệ và bộ não có thể được thấu hiểu và sử dụng.

[134] When these four points are grasped and their effect is felt in man’s personality, we shall have the integrated and coordinated organism; the structure can then be regarded as ready for direction by the soul. The above stages must be understood, not as proceeding sequentially, but as going forward simultaneously. It is also apparent that perfect intellectual knowledge of the soul and of the world which that soul reveals is only possible to the man who has this outlined equipment. A sense of God, an appreciation of the true and beautiful, and a contact with the mystical vision is at all times possible to those whose heart centre is awake and functioning. Such Lovers of God have existed through the ages; they feel, sense, love and adore, but the link between soul, mind and brain is lacking. When to this mystical equipment there is added the intellectual, then the head centre is awakened, the pineal gland is no longer in an atrophied condition, but is known to be the seat of the soul and of the directing spiritual will. When both these centres are awakened we have the great outstanding spiritual personalities who work with consecrated heart and brain and set their seal on world thought. Hitherto the way of the mystic has been the way of the majority, and the way of the intellect has been for the few. But the race is now at the stage where, basing its hypothesis upon the mystical experiences of the many, it can go forward from feeling and adoration to knowledge, and from love of God into knowledge of God.

[134] Khi bốn điểm này được nắm bắt và tác dụng của chúng được cảm thấy trong phàm ngã của con người, chúng ta sẽ có một sinh vật được tích hợp và phối hợp; cấu trúc khi đó có thể được coi là sẵn sàng cho sự chỉ đạo bởi linh hồn. Các giai đoạn trên phải được hiểu, không phải như tiến hành theo trình tự, mà là đi tới đồng thời. Cũng rõ ràng rằng kiến thức trí tuệ hoàn hảo về linh hồn và về thế giới mà linh hồn đó tiết lộ chỉ khả thi đối với người có trang bị được vạch ra này. Một ý thức về Thượng đế, một sự trân trọng cái chân và cái mỹ, và một sự tiếp xúc với linh ảnh thần bí luôn luôn khả thi đối với những người mà trung tâm tim đã thức tỉnh và hoạt động. Những Người Yêu Thượng đế như vậy đã tồn tại qua các thời đại; họ cảm thấy, cảm nhận, yêu thương và tôn thờ, nhưng mối liên kết giữa linh hồn, trí tuệ và bộ não bị thiếu. Khi thêm vào trang bị thần bí này trang bị trí tuệ, thì trung tâm đầu được đánh thức, tuyến tùng không còn ở trong tình trạng teo đi nữa, mà được biết đến là chỗ trú đóng của linh hồn và của ý chí tinh thần chỉ đạo. Khi cả hai trung tâm này được đánh thức, chúng ta có những phàm ngã tinh thần kiệt xuất vĩ đại, những người làm việc với trái tim và bộ não được thánh hiến và đặt dấu ấn của họ lên tư tưởng thế giới. Cho đến nay, con đường của nhà thần bí là con đường của đa số, và con đường của trí tuệ là dành cho số ít. Nhưng giống dân hiện đang ở giai đoạn mà, căn cứ giả thuyết của nó dựa trên các kinh nghiệm thần bí của số đông, nó có thể tiến tới từ cảm giác và sự tôn thờ đến kiến thức, và từ tình yêu Thượng đế đi vào kiến thức về Thượng đế.

[135] This will be the case when the wisdom of the East is added to the knowledge of the West and the technique of the science of the soul is imposed upon our Western intellectual types. It is impossible to enlarge at length upon this technique. It might, however, be briefly described as being divided into eight stages which can be listed as follows:

[135] Điều này sẽ xảy ra khi minh triết của phương Đông được thêm vào kiến thức của phương Tây và kỹ thuật của khoa học về linh hồn được áp đặt lên các kiểu người trí thức phương Tây của chúng ta. Không thể trình bày chi tiết về kỹ thuật này. Tuy nhiên, nó có thể được mô tả ngắn gọn là được chia thành tám giai đoạn có thể được liệt kê như sau:

1. Control of our relations to others, summed up under the word harmlessness which is defined in the East by the Five Commandments. These are: Harmlessness, truth to all beings, abstention from theft, from incontinence and from avarice. (Alice A. Bailey, The light of the Soul, p. 184)

1. Kiểm soát các mối quan hệ của chúng ta với người khác, được tóm tắt dưới từ tính vô tổn hại vốn được định nghĩa ở phương Đông bằng Năm Giới Răn. Đó là: Tính vô tổn hại, chân thật với mọi loài, không trộm cắp, không tà dâm và không tham lam. (Alice A. Bailey, The light of the Soul, tr. 184)

2. Purity of life as outlined in the Five Rules: Internal and external purification, contentment, fiery aspiration, spiritual reading and devotion to Ishvara (the divine Self). (Alice A. Bailey, The light of the Soul, p. 187)

2. Sự thanh khiết của đời sống như được vạch ra trong Năm Quy Tắc: Thanh lọc bên trong và bên ngoài, sự mãn nguyện, khát vọng mãnh liệt, đọc sách tinh thần và sùng tín đối với Ishvara (Chân ngã thiêng liêng). (Alice A. Bailey, The light of the Soul, tr. 187)

3. Poise.

3. Sự thăng bằng.

4. Right control of the life force and hence direct action by the soul upon the etheric body. This control of energy and therefore of the centres and of the physical body is only possible after a man has achieved purity and poise. He is not permitted knowledge of the laws governing energy until such time as he has learned, through discipline, the control of the animal nature, and has reached a point where he is no longer swayed by moods and selfishness.

4. Kiểm soát đúng đắn mãnh lực sự sống và do đó tác động trực tiếp bởi linh hồn lên thể dĩ thái. Sự kiểm soát năng lượng này và do đó kiểm soát các trung tâm và thể xác chỉ khả thi sau khi một người đã đạt được sự thanh khiết và thăng bằng. Y không được phép biết các định luật cai quản năng lượng cho đến khi y đã học được, thông qua kỷ luật, sự kiểm soát bản chất thú vật, và đã đạt đến một điểm nơi y không còn bị lay chuyển bởi tâm trạng và sự ích kỷ.

5. Abstraction. A term which covers the power to centre one’s consciousness in the head and there [136] to function as a soul, or to withdraw the outgoing consciousness front things objective and tangible, and so turn it within.

5. Sự thu rút. Một thuật ngữ bao hàm quyền năng tập trung tâm thức của một người vào trong đầu và ở đó [136] vận hành như một linh hồn, hoặc thu rút tâm thức đang hướng ngoại khỏi những sự vật ngoại giới và hữu hình, và xoay nó vào bên trong.

6. Attention or concentration. This is one-pointed living, and involves also the bringing the mind into activity in the place of the emotions. Thus the emotional and physical man are controlled by the focussed mind.

6. Sự chú ý hay tập trung. Đây là lối sống nhất tâm, và cũng bao hàm việc đưa trí tuệ vào hoạt động thay thế cho các cảm xúc. Do đó con người cảm xúc và vật lý được kiểm soát bởi trí tuệ tập trung.

7. Meditation is prolonged attention or concentration and gives the power to focus the mind upon the soul and its concerns. This produces radical changes in the organism and substantiates the truth of the statement that, “as a man thinketh, so is he.”

7. Tham thiền là sự chú ý hay tập trung kéo dài và mang lại quyền năng tập trung trí tuệ vào linh hồn và các mối quan tâm của nó. Điều này tạo ra những thay đổi căn bản trong cơ thể sinh học và chứng minh sự thật của câu nói rằng, “người ta nghĩ thế nào, thì y thế ấy.”

8. Contemplation is the act of the soul in its own realm as it looks out over the forms and contacts the energies found in the fifth or spiritual kingdom in nature. This act is followed by the pouring down into the brain (by way of the controlled mind) of soul knowledge and energy. This activity of the soul produces what has been called illumination: it brings about the energising of the entire man and awakens the centres in proper rhythm and progression.

8. Chiêm ngưỡng là hành động của linh hồn trong cõi riêng của nó khi nó nhìn ra các hình tướng và tiếp xúc với các năng lượng được tìm thấy trong giới thứ năm hay giới tinh thần trong tự nhiên. Hành động này được theo sau bởi sự tuôn đổ xuống bộ não (bằng con đường của trí tuệ được kiểm soát) kiến thức và năng lượng linh hồn. Hoạt động này của linh hồn tạo ra cái đã được gọi là sự soi sáng: nó mang lại sự tiếp sinh lực cho toàn bộ con người và đánh thức các trung tâm theo nhịp điệu và tiến độ thích hợp.

This consciously directed spiritual energy playing through the vital body and the centres should, it is claimed, bring physical man and the endocrine system eventually into such a condition that we should have perfect health and therefore a perfect apparatus for soul expression. In this way we are taught that man can arrive at a definite knowledge of the soul, and can know himself to be “the deeper [137] Being,” able to use his mechanism with definite purpose, and thus function as a soul.

Năng lượng tinh thần được chỉ đạo một cách có ý thức này tuôn chảy qua thể sinh lực và các trung tâm, theo khẳng định, cuối cùng sẽ đưa con người vật lý và hệ nội tiết vào một tình trạng sao cho chúng ta có được sức khỏe hoàn hảo và do đó là một bộ máy hoàn hảo cho sự biểu hiện của linh hồn. Theo cách này, chúng ta được dạy rằng con người có thể đi đến một kiến thức xác định về linh hồn, và có thể biết mình là “Bản Thể sâu xa hơn”, [137] có thể sử dụng cơ chế của mình với mục đích xác định, và do đó vận hành như một linh hồn.

A study of the lives of the great mystics, saints and adepts of both hemispheres will give much information about the phenomenal effects resulting from following the above method, even after we have eliminated much that savours of hallucination and psychopathic conditions. Forms of clairvoyance, of prevision and of telepathic communication, clairaudient faculties and the peculiar power to psychometrise are frequently seen. It should be remembered, however, that all these powers have their spiritual manifestations and also their lower. A. E. Powell says:

Một nghiên cứu về cuộc đời của các nhà thần bí, các vị thánh và các chân sư vĩ đại của cả hai bán cầu sẽ cung cấp nhiều thông tin về những tác động biểu hiện thành hiện tượng do việc tuân theo phương pháp trên mang lại, ngay cả sau khi chúng ta đã loại bỏ nhiều điều mang hơi hướng của ảo giác và các tình trạng tâm thần. Các dạng thông nhãn, tiên kiến và giao tiếp viễn cảm, các khả năng thông nhĩ và quyền năng đặc biệt để trắc tâm thường được thấy. Tuy nhiên, cần nhớ rằng tất cả các quyền năng này đều có các biểu hiện tinh thần của chúng và cũng có các biểu hiện thấp hơn. A. E. Powell nói:

“There are, roughly, two main kinds of clairvoyance, the lower and the higher. The lower variety appears sporadically in undeveloped people, such as the savages of Central Africa, and is a sort of massive sensation vaguely belonging to the whole etheric body, rather than an exact and definite sense-perception communicated through a specialized organ. It is practically beyond man’s control. The Etheric Double being in exceedingly close relationship with the nervous system, any action on one of them reacts speedily on the other. In the lower clairvoyance the corresponding nervous disturbance is almost entirely in the sympathetic system.

“Đại khái có hai loại thông nhãn chính, loại thấp và loại cao. Loại thấp hơn xuất hiện rải rác ở những người kém phát triển, chẳng hạn như những người man dã ở Trung Phi, và là một loại cảm giác tổng thể mơ hồ thuộc về toàn bộ thể dĩ thái, hơn là một tri giác giác quan chính xác và xác định được truyền đạt thông qua một cơ quan chuyên biệt. Nó thực tế nằm ngoài sự kiểm soát của con người. Bản sao Dĩ thái đang trong mối quan hệ cực kỳ chặt chẽ với hệ thần kinh, bất kỳ tác động nào lên một trong chúng đều phản ứng nhanh chóng lên cái kia. Trong thông nhãn thấp, sự xáo trộn thần kinh tương ứng gần như hoàn toàn nằm trong hệ giao cảm.

In more developed races the vague sensitiveness usually disappears as the mental faculties are developed. Later on, when the spiritual man begins to unfold, he regains clairvoyant power. This time, however, the faculty is precise and exact, under the control of the will, and exercised through a sense-organ. Any [138] nervous action set up is almost exclusively in the cerebro-spinal system.

Ở các giống dân phát triển hơn, sự nhạy cảm mơ hồ thường biến mất khi các năng lực trí tuệ được phát triển. Sau này, khi con người tinh thần bắt đầu khai mở, y lấy lại quyền năng thông nhãn. Tuy nhiên, lần này, khả năng là chính xác và xác định, dưới sự kiểm soát của ý chí, và được thực thi thông qua một giác quan. Bất kỳ [138] hoạt động thần kinh nào được thiết lập đều gần như chỉ nằm trong hệ não tủy.

The lower forms of psychism are most frequent in animals and very unintelligent human beings. Hysterical and ill-regulated psychism is due to the small development of the brain and the dominance of the sympathetic system, the large nucleated ganglionic cells in this system containing a very large proportion of etheric matter, and thus being easily affected by the coarser astral vibrations.” (A.E. Powell, The Etheric Double, pp. 102, 103)

Các dạng thông linh thấp thường gặp nhất ở động vật và những con người rất kém thông minh. Thông linh hysteria và vô kỷ luật là do sự phát triển ít ỏi của bộ não và sự thống trị của hệ giao cảm, các tế bào hạch có nhân lớn trong hệ thống này chứa một tỷ lệ rất lớn vật chất dĩ thái, và do đó dễ bị ảnh hưởng bởi các rung động cảm dục thô trược hơn.” (A.E. Powell, The Etheric Double, tr. 102, 103)