← Thông Thiên Học đến với tôi như thế nào – Song ngữ

I. CHƯƠNG 1

I. CHƯƠNG 1

In Ancient Greece—Ở Hi Lạp Cổ Đại

My first touch with anything that could definitely be called Theosophy was in the year 504 b.c., when I had the wonderful honour and pleasure of visiting the great philosopher Pythagoras. I had taken birth in one of the families of the Eupatridæ at Athens—a family in fairly good circumstances and offering favourable opportunities for progress. This visit was the most important event in my youth, and it came about in this manner. A relation of mine offered to take me, along with a brother a year or two younger, for a voyage in a ship of which he was part owner. It was a trading voyage among the Greek islands and over to the Asiatic shore, and with the leisurely methods of those days it occupied nearly a year, during which we visited many places and saw not only much beautiful scenery but many marvellous temples adorned with exquisite sculpture.

Among other islands we called at Samos, and it was there that we found the great Pythagoras, who was then a man of advanced age and very near his death. Some historians have thought that this sage perished when his school at Krotona was wrecked by popular prejudice; others, recognizing that he survived that catastrophe, believe that he died much later at Metapontum. Neither of these ideas seems to be correct; when very old, he left his schools in Magna Græcia, and returned to his patrimony in Samos to end his days where he had begun them, and so it happened that we had this very great privilege of seeing him in the course of our voyage.

His principal disciple at that time was Kleineas (now the Master Djwal Kul); and Kleineas was exceedingly kind to us, and patiently answered all our eager questions, explaining to us the system of the Pythagorean philosophy. We were at once most strongly attracted towards the teaching expounded to us, and were anxious to join the school. Kleineas told us that a branch of it would presently be opened in Athens; and meantime he gave us much instruction in ethics, in the doctrine of reincarnation and the mystery of numbers. All too soon our vessel was ready for sea (it had fortunately required refitting) and we had regretfully to take leave of Pythagoras and Kleineas. To our great and awed delight, when we called to bid him adieu, the aged philosopher blessed us and said with marked emphasis: “πάλιν συναντήσομεθα—we shall meet again.” Within a year or two we heard of his death, and so we often wondered in what sense he could have meant those words; but when in this present incarnation I had for the first time the privilege of meeting the Master Kuthumi, He recalled to my memory that scene of long ago, and said: “Did I not tell you that we should meet again?”

Soon after the death of Pythagoras, Kleineas fulfilled his promise to come and establish a school of the philosophy in Athens, and naturally my brother and I were among his first pupils. Large numbers were attracted by his teaching, and the philosophy took a very high place in the thought of the time. Except for what was actually necessary for the management of the family estate, I devoted practically the whole of my time to the study and teaching of this philosophy, and indeed succeeded to the position of Kleineas when he passed away.

Lần đầu tiên tôi tiếp xúc với điều gì đó có thể dứt khoát được gọi là Thông Thiên Học vào năm 504 trước Công Nguyên, khi tôi có vinh dự và thích thú kỳ lạ đến viếng thăm triết gia vĩ đại Pythagore. Tôi sinh ra ở một trong những gia đình Eupatridæ tại Athens—một gia đình có hoàn cảnh rất thuận lợi và hiến ra những cơ hội thuận tiện để tiến bộ. Cuộc viếng thăm này là diễn biến quan trọng nhất vào thời tôi còn trai trẻ và nó xảy ra như sau. Một quyến thuộc của tôi đề nghị dắt tôi cùng với một đứa em nhỏ hơn một hai tuổi đi du hành trên một chuyến tàu mà ông ta là một thành viên sở hữu. Đó là chuyến du hành đi buôn bán trong số các đảo của Hi Lạp qua tới tận bờ biển Á Châu và với những phương pháp an nhàn thời đó thì nó phải mất tới gần một năm, trong thời gian ấy chúng tôi viếng thăm nhiều nơi, thưởng ngoạn chẳng những nhiều phong cảnh đẹp đẽ mà còn nhiều đền thờ lộng lẫy được trang hoàng với đồ kiến trúc tuyệt vời.

Trong số những đảo khác mà chúng tôi gọi là Samos thì ở đó chúng tôi thấy triết gia Pythagore vĩ đại, lúc bấy giờ là người cao tuổi và rất gần đất xa trời. Một số sử gia nghĩ rằng bậc hiền triết này chết khi trường Krotona của ông bị thành kiến của dân chúng phá hoại; còn những người khác công nhận rằng ông sống sót sau thảm họa này và tin rằng mãi về sau ông mới chết ở Metapontum. Chẳng có ý tưởng nào có vẻ là chính xác; khi quá già ông rời bỏ trường ở Magna Græcia rồi quay về quê hương bản quán ở Samos để chấm dứt cuộc đời nơi ông đã sinh ra, thế là xảy ra việc chúng tôi có rất nhiều đặc quyền khi gặp ông trong cuộc hành trình của mình.

Lúc bấy giờ đệ tử chính của ông là Kleineas (giờ đây là Chơn sư Djwal Kul); Kleineas vô cùng tử tế đối với chúng tôi, kiên nhẫn trả lời mọi thắc mắc tha thiết của chúng tôi, giải thích cho chúng tôi hệ thống triết học của Pythagore. Chúng tôi ngay tức khắc bị thu hút mạnh mẽ nhất hướng tới giáo huấn được xiển dương và nôn nóng muốn được gia nhập trường. Kleineas bảo chúng tôi rằng một chi nhánh của trường chẳng bao lâu nữa sẽ khai trương ở Athens; trong thời gian chờ đợi ông giáo huấn chúng tôi khá nhiều về luân lý, về thuyết luân hồi và bí nhiệm của những con số. Chẳng bao lâu sau thì tàu bè của chúng tôi đã sẵn sàng vượt biển (may mắn thay nó cần phải sửa chữa) và chúng tôi tiếc nuối cáo từ Pythagore và Kleineas. Chúng tôi hết sức vui sướng và nễ sợ khi được triệu tập từ biệt ông; triết gia già nua ban phước cho chúng tôi và nói một cách rất nhấn mạnh: “Chúng ta sẽ gặp lại nhau”. Chỉ trong vòng một hai năm sau chúng tôi nghe tin ông đã chết, thế là chúng tôi thường thắc mắc liệu ông nói như vậy ngụ ý là gì, nhưng trong kiếp này khi lần đầu tiên tôi có đặc quyền được gặp Chơn sư Kuthumi thì Ngài gợi cho ký ức của tôi nhớ lại cái cảnh tượng đã lâu rồi đó và bảo rằng: “Chẳng phải ta đã cho con biết chúng ta sẽ gặp lại nhau hay sao?”

Ngay sau khi Pythgore chết, Kleineas đã hoàn thành lời hứa là đến lập nên một trường triết học ở Athens và tự nhiên là tôi cùng với em tôi ở trong số những học trò đầu tiên của ông. Một số lớn học trò bị cuốn hút bởi giáo huấn của ông, và triết lý này chiếm một địa vị rất cao trong tư tưởng đương thời. Ngoại trừ điều thực sự cần thiết để quản lý bất động sản của gia đình, tôi hầu như dành hết trọn thời giờ của mình để nghiên cứu và giảng dạy triết lý ấy, và quả thật đã kế nghiệp khi ông Kleineas qua đời.

My Early Attitude— Thái độ buổi đầu của tôi

It may have been owing to this exclusive devotion to this higher thought that I had a very unusually long period in the heaven-world—just over 2,300 years. To what extent that fact affected my present life I cannot say; but I arrived in this incarnation without any definite memory of all that I had learnt at the cost of so much time and trouble. In my early life I knew nothing whatever of these matters, but in looking back now upon that period, I can see that I found myself in possession of a set of convictions which I had evidently brought over from that other life.

The middle of last century was a time of widespread materialism, of disbelief or at least uncertainty as to religious matters, and scornful denial of the possibility of any kind of non-physical manifestation. Even as a child I was aware that men were arguing hotly as to the existence of God and the possibility that there might be something in man which survives death; but when I heard such discussions I wondered silently how people could be so foolish, for I myself had an unshakable interior certainty on these points, though I could not argue in defence of my belief, or indeed bring forth any reason to support it.

But I knew that there was a God, that He was good, and that death was not the end of life. Even at that age I was able to deduce from these certainties that all must somehow be well, although so often things appeared to be going ill. I remember well how horrified I was (and I am afraid very angry as well) when a small playfellow introduced to my notice the theory of hell. I promptly contradicted him, but he insisted that it must be true because his father had said so. I went home in great indignation to consult my own father on this incredible abomination; but he only smiled tolerantly and said: “Well, my boy, I don’t for a moment believe it myself, but a great many people think so, and it is no use trying to convince them; you will just have to put up with it.” So by degrees I learnt that one’s own interior conviction, however strong, was ineffective as an argument against orthodox opinion.

One other curious little fragment of half-recollection I seem to have brought over from that Greek incarnation. As a child I used frequently to dream of a certain house, quite unlike any with which I was at that time familiar on the physical plane, for it was built round a central courtyard (with fountains and statues and shrubs) into which all the rooms looked. I used to dream of this perhaps three times a week, and I knew every room of it and all the people who lived in it; I used constantly to describe it to my mother, and to make ground-plans of it. We called it my dream-house. As I grew older I dreamt of it less and less frequently, until at last it faded from my memory altogether. But one day, much later in life, to illustrate some point my Master showed me a picture of the house in which I had lived in my last incarnation, and I recognized it immediately.

Although, as I have already said, I had the most absolute interior conviction with regard to the life after death, I soon came to recognize that in discussing the matter with others it would be an immense advantage to have something of the nature of physical-plane evidence to produce. It occurred to me that such evidence ought to be discoverable if one were disposed to give a certain amount of time and trouble to searching for it. I remembered when I was quite a boy coming across a copy of Mrs. Crowe’s Night Side of Nature, which I read with the greatest interest; and it seemed to me that if I could have the opportunity of investigating at first hand cases similar to those which she described I should surely in process of time be able to arrive at something definite which I could quote in answer to inquiries.

Có thể do dành độc quyền cho tư tưởng cao siêu này, nên tôi đã có một thời kỳ dài rất bất thường ở cõi trời tới hơn 2.300 năm. Tôi không thể nói sự kiện đó ảnh hưởng tới kiếp này của tôi đến mức nào, nhưng tôi nhập thể kiếp này mà dứt khoát không nhớ gì về tất cả những điều tôi đã học được qua việc trả giá biết bao nhiêu thời gian và công sức. Trong thời thơ ấu, tôi thật tuyệt nhiên chẳng biết gì về những đề tài này, nhưng giờ đây khi nhìn lại thời kỳ đó tôi có thể thấy rằng bản thân tôi có một loạt những niềm xác tín mà hiển nhiên là tôi đã mang theo từ kiếp trước.

Vào khoảng giữa thế kỷ vừa qua, đó là một thời kỳ duy vật phổ biến, không tin tưởng hoặc ít ra cũng không chắc chắn về những vấn đề tôn giáo, khinh bỉ chối bỏ khả năng có bất kỳ loại biểu lộ phi vật lý nào. Ngay cả khi còn tấm bé tôi đã biết rằng người ta tranh cãi kịch liệt với nhau về sự tồn tại của Thượng Đế và khả năng có thể có một điều gì đó nơi con người còn sống sót sau khi chết. Nhưng khi tôi nghe người ta tranh luận như vậy, tôi âm thầm tự hỏi làm sao mà thiên hạ lại có thể điên rồ đến như thế, bởi vì bản thân tôi có một niềm xác tín nội tâm không lay chuyển về những vấn đề này, mặc dù tôi không thể cãi lý để bảo vệ đức tin của mình hay quả thật đưa ra được bất cứ lý lẽ nào để hậu thuẫn cho nó.

Nhưng tôi biết rằng có Thượng Đế, Ngài rất nhân từ và sự chết không phải là hết. Ngay cả từ tuổi đó, tôi đã có thể suy diễn ra từ những niềm xác tín này rằng dù sao đi nữa mọi chuyện phải tốt, mặc dù rất thường khi thì sự việc đang xấu đi. Tôi còn nhớ rất rõ tôi đã khiếp đảm xiết bao (và tôi e rằng mình cũng hết sức giận dữ) khi một đứa trẻ bạn chơi đùa của tôi giới thiệu với tôi để ý tới thuyết địa ngục. Tôi mau mắn cãi lại nó, nhưng nó cứ khăng khăng cho rằng điều này ắt phải đúng vì cha nó bảo như vậy. Tôi về nhà mà rất công phẩn, hỏi ý kiến chính cha tôi về cái điều dễ sợ không thể tin được này; nhưng ông chỉ mỉm cười khoan dung và bảo rằng: “Được thôi con ơi, bản thân ta cũng chẳng lúc nào tin vào điều đó, nhưng có nhiều người nghĩ như vậy và chẳng hơi đâu ra sức thuyết phục họ; con phải chịu đựng điều đó thôi”. Thế là từng bước tôi học biết được rằng cho dù mạnh mẽ đến đâu đi chăng nữa, niềm xác tín nội tâm của chính mình cũng bất lực để tranh cãi lại ý kiến chính thống.

Một mẩu nhỏ kỳ diệu khác về việc hồi tưởng lại một phần mà tôi dường như đã mang theo từ cái kiếp trước ở Hy Lạp. Khi còn nhỏ tôi thường nằm mơ thấy một căn nhà nào đó, hoàn toàn không giống như bất kỳ căn nhà nào mà tôi quen thuộc vào lúc ấy trên cõi vật lý, bởi vì nó được xây dựng xung quanh một vườn trung tâm (có những vòi nước, pho tượng và bụi cây) còn mọi căn phòng đều nhìn ra vườn. Có lẽ tôi thường nằm mơ thấy nó một tuần hết ba lần và tôi biết mọi căn phòng trong đó cũng như mọi người sống ở đó. Tôi thường xuyên mô tả điều này cho mẹ tôi và còn vẽ ra họa đồ về nó nữa. Chúng tôi gọi nó là căn nhà mơ ước của tôi. Khi tôi lớn lên thì càng ngày tôi càng ít nằm mơ thấy nó, cho đến khi cuối cùng nó hoàn toàn mờ nhạt đi khỏi ký ức của tôi.

Nhưng có một ngày mãi về sau này để minh họa cho một điều gì đó, Sư phụ của tôi chỉ cho tôi một bức hình căn nhà mà tôi đã sống ở đó trong kiếp trước và tôi ngay tức khắc nhận ra được nó. Mặc dù như tôi có nói, tôi có niềm xác tín nội tâm hoàn toàn về sinh hoạt sau khi chết, chẳng bao lâu sau tôi đã nhận ra rằng muốn tranh luận vấn đề này với những người khác thì ắt có lợi thế rất nhiều nếu ta có được một điều gì đó về bản chất của những bằng chứng trên cõi vật lý mà ta tạo ra được. Tôi thấy rằng bằng chứng đó có thể tìm ra được nếu ta sẵn lòng dành một số lượng thời gian và công sức nào đấy để đi tìm nó. Tôi còn nhớ khi tôi rất nhỏ, tôi có đọc qua một bản sao tác phẩm Khía cạnh U minh của Thiên nhiên của bà Crove và tôi đọc một cách rất hứng thú; tôi thấy có vẻ là nếu tôi có cơ hội khảo cứu trực tiếp những trường hợp giống như trường hợp mà bà mô tả thì chắc chắn là theo thời gian tôi có thể đạt tới một điều gì đó xác định mà tôi có thể trích dẫn để đáp ứng được những thắc mắc.

Personal Investigations—Những Cuộc Khảo cứu Cá Nhân

Occasionally there would appear in some newspaper an account of the appearance of a ghost, or of curious happenings in a haunted house; and whenever anything of that sort came to my notice, I promptly travelled down to the scene of action, interrogated any witnesses that I could find, and spent a good deal of time and trouble in endeavouring personally to encounter the spectral visitant. Of course in a large number of instances I drew a blank; either there was no evidence worth mentioning, or the ghost declined to appear when he was wanted. Even when there was a witness to be found who had a reasonably credible story to tell, it seemed that the ghost did not stay long enough to say or do anything of special interest; or, perhaps, it was the witness who did not stay long enough!

Still, among the wearisome monotony of many failures there came sometimes a bright oasis of definite success, and I presently collected an amount of direct evidence which would have absolutely convinced me, if I had needed convincing. At the same time I also investigated a number of cases of what is called “second sight”, chiefly in the Highlands; and there again I found that it was easy for any unprejudiced person who was willing to take a little trouble to satisfy himself as to the genuineness of the phenomena.

Thỉnh thoảng trong một tờ báo nào đó có ra mắt một bài tường trình về ma xuất hiện hoặc những diễn biến kỳ lạ trong một căn nhà bị ma ám và bất cứ khi nào tôi chú ý tới một điều gì đó thuộc loại này tôi bèn nhanh chóng đi tới nơi tác động, phỏng vấn bất cứ nhân chứng nào mà tôi tìm thấy được, và dành nhiều thời gian công sức để cố gắng tự thân mình gặp gỡ con ma hiện ra đó. Dĩ nhiên phần lớn cơ hội thì tôi đều trắng tay hoặc là không có bằng chứng nào có giá trị hoặc là con ma từ chối không xuất hiện theo ý ta muốn. Ngay cả khi có nhân chứng mà tôi thấy một câu chuyện đáng tin cậy một cách phải chăng để y kể lại thì dường như con ma không ở lại đủ lâu để nói hoặc làm điều gì đó đặc biệt đáng chú ý; hay có lẽ chính nhân chứng cũng không ở lại đủ lâu chỗ ấy.

Thế nhưng trong cái sự tẻ nhạt đáng chán của nhiều sự thất bại đó, thỉnh thoảng cũng có một ốc đảo sáng ngời dứt khoát là thành công, và chẳng bao lâu sau tôi thu thập được một số bằng chứng trực tiếp hoàn toàn thuyết phục được mình nếu tôi cần thuyết phục. Đồng thời tôi cũng khảo cứu một số trường hợp được gọi là”thấu thị”, chủ yếu của đám dân miền sơn cước; và ở đó tôi cũng lại thấy rằng rất dễ cho bất cứ người nào không có thành kiến mà sẵn lòng bỏ chút ít công sức thì sẽ thỏa mãn về tính chân thực của những hiện tượng lạ.

Spiritualism—Thần Linh Học

Unfortunately I was at that time quite ignorant that there was another line of possible inquiry—that of spiritualism. The first time that, so far as I can recollect, I ever heard of such a thing was in connection with the séances held by Mr. D. D. Home with the Emperor Napoleon III. A series of articles describing them was written by the Rev. Maurice Davies in The Daily Telegraph; but the statements which he made seemed to me at that time quite incredible, and when reading one of the articles aloud to my mother one evening I expressed strong doubts as to whether the description could possibly be accurate.

The article ended, however, with the remark that anyone who felt unable to credit the story might readily convince himself of its possibility by bringing together a few of his friends, and inducing them to sit quietly round a small table, either in darkness or in dim light, with the palms of their hands resting lightly upon the surface of the table. It was stated that a still easier plan was to place an ordinary silk hat upon the table, brim upwards, and let two or three people rest their hands lightly upon the brim. It was asserted that the hat or table would presently begin to turn, and in this way the existence of a force not under the control of anyone present would be demonstrated.

This sounded fairly simple, and my mother suggested that, as it was just growing dusk and the time seemed appropriate, we should make the experiment forthwith. Accordingly I took a small round table with a central leg, the normal vocation of which was to support a flower-pot containing a great arum lily. I brought in my own silk hat from the stand in the hall, and placed it on the table, and we put our hands upon its brim as prescribed. The only person present besides my mother and myself was a small boy of twelve, who, as we afterwards discovered, was a powerful physical medium but I knew nothing about mediums then. I do not think that any of us expected any result whatever, and I know that I was immensely surprised when the hat gave a gentle but decided half-turn on the polished surface of the table.

Each of us thought the other must have moved it unconsciously, but it soon settled that question for us, for it twirled and gyrated so vigorously that it was difficult for us to keep our hands upon it. At my suggestion we raised our hands; the hat came up under them, as though attached to them, and remained suspended a couple of inches from the table for a few moments before falling back upon it. This new development astonished me still more, and I endeavoured to obtain the same result again. For a few minutes the hat declined to respond, but when at last it did come up as before, it brought the table with it! Here was my own familiar silk hat, which I had never before suspected of any occult qualities, suspending itself mysteriously in the air from the tips of our fingers, and, not content with that defiance of the laws of gravity on its own account, attaching a table to its crown and lifting that also! I looked down to the feet of the table; they were about six inches from the carpet, and no human foot was touching them or near them! I passed my own foot underneath, but there was certainly nothing there—nothing physically perceptible, at any rate.

Of course when the hat first moved it had crossed my mind that the small boy must somehow be playing a trick upon us; but in the first place he obviously was not doing so, and in the second he could not possibly have produced this result unobserved. After about two minutes the table dropped away from the hat, and almost immediately the latter fell back to its companion, but the experiment was repeated several times at intervals of a few minutes. Then the table began to rock violently, and threw the hat off—a plain hint to us, if any of us had known enough to take it. But none of us had any idea of what to do next, though we were keenly interested in these extraordinary movements. I was not myself thinking of the phenomenon in the least as a manifestation from the dead, but only as the discovery of some strange new force.

This rather frivolous beginning led me to make further inquiries, and I soon found that there was a considerable literature devoted to this subject, and that I might carry my investigations much further by séances with regular mediums. Of course I encountered a certain amount of fraud, and still more stupidity, but I was presently able to satisfy myself beyond all doubt that some at least of the manifestations were due to the action, of those whom we call the dead.

There is practically ho phenomenon of which I read in spiritualistic books, or hear in spiritualistic circles, which I have not myself witnessed under definite test conditions. Any reader who wishes for a fuller account of my investigations and their result will find it in my book The Other Side of Death, or in that small part of the same book which is published separately under the title of Spiritualism and Theosophy.

I have related in considerable detail some of these events of my early life in order to make clear to my readers the attitude of mind in which I was when Theosophy eventually came before me, which I think explains the way in which I instantaneously reacted to it. I ought perhaps just to mention one other incident of my pre-Theosophy life which, insignificant though it was in itself, predisposed me to the acceptance of much that I might otherwise have doubted.

Tiếc thay vào thời kỳ đó tôi hoàn toàn không biết có một đường lối điều tra khả hữu khác—đó là thần linh học. Theo như tôi còn nhớ được thì lần đầu tiên tôi nghe nói chuyện như vậy có liên quan tới những buổi lên đồng do ông D. D. Home thực hiện với Hoàng đế Napoleon Đệ Tam. Một loạt những bài báo mô tả hiện tượng này được Đại đức Maurice Davies viết cho tờ báo Điện tín Hàng ngày; nhưng những phát biểu mà ông đưa ra vào lúc đó dường như không thể tin được đối với tôi và khi đọc to một trong những bài báo đó cho mẹ tôi nghe vào một buổi chiều tối, tôi phát biểu ý kiến rất nghi ngờ liệu sự mô tả như vậy có thể chính xác hay chăng.

Tuy nhiên bài báo chấm dứt bằng nhận xét rằng, bất cứ ai cảm thấy không thể tin được câu chuyện này có thể dễ dàng tự thuyết phục mình về khả năng đó bằng cách tụ tập một đám bạn lại rồi dẫn dụ họ ngồi im quanh một cái bàn nhỏ hoặc là trong bóng tối hoặc là trong ánh sáng lờ mờ, lòng bàn tay dựa nhẹ trên mặt bàn. Người ta còn bảo rằng có một kế hoạch dễ hơn nữa là đặt trên bàn một cái nón thông thường làm bằng lụa, vành nón ngữa lên trên, rồi để cho hai ba người đặt nhẹ bàn tay lên trên vành nón. Người ta quả quyết rằng cái nón hoặc cái bàn chẳng bao lâu sau sẽ bắt đầu quay và bằng cách đó chứng minh được sự tồn tại của một lực không chịu sự kiểm soát của bất cứ người nào có mặt.

Điều này nghe ra rất đơn giản cho nên mẹ tôi gợi ý rằng vì trời vừa chập tối và thời gian này có vẻ thích hợp, chúng tôi nên làm thí nghiệm ngay. Theo lời bà, tôi lấy một cái bàn nhỏ hình tròn, có một cái chân bàn ở giữa mà công dụng thông thường của nó là để đỡ một bình hoa có cắm một cây hoa huệ tây lớn. Tôi mang vào đó một cái nón bằng lụa của chính mình lấy từ trên cái kệ trong phòng rồi đặt nó lên trên bàn, và chúng tôi đặt tay lên trên vành nón theo như qui định. Ngoài mẹ tôi và chính tôi ra, người duy nhất có mặt là một bé trai 12 tuổi mà sau này chúng tôi mới phát hiện đó là một đồng tử có khả năng rất nhiều, nhưng lúc bấy giờ tôi chẳng biết gì về đồng tử. Tôi chẳng nghĩ rằng bất cứ ai trong chúng tôi trông mong có một kết quả nào nữa và tôi biết rằng mình vô cùng kinh ngạc khi cái nón quay một cách dứt khoát nhưng nhẹ nhàng trên bề mặt nhẵn bóng của cái bàn.

Mỗi người trong chúng tôi đều nghĩ rằng người kia chắc hẳn đã vô thức di chuyển nó, nhưng chẳng bao lâu sau điều đó đã tự giải đáp cho chúng tôi, vì chiếc mũ xoay tròn và chuyển động mạnh mẽ đến mức chúng tôi khó mà giữ tay trên nó. Theo đề nghị của tôi, chúng tôi nhấc tay lên; chiếc mũ trồi lên dưới tay chúng tôi, như thể dính vào đó, và lơ lửng cách mặt bàn vài inch trong vài khoảnh khắc trước khi rơi trở lại. Sự phát triển mới này khiến tôi càng ngạc nhiên hơn, và tôi cố gắng đạt được kết quả tương tự một lần nữa. Trong vài phút, chiếc mũ từ chối phản ứng, nhưng cuối cùng khi nó trồi lên như trước, nó kéo cả bàn lên cùng! Đây là chiếc mũ lụa quen thuộc của tôi, thứ mà trước đây tôi chưa bao giờ nghi ngờ có bất kỳ đặc tính huyền bí nào, giờ lại tự lơ lửng một cách bí ẩn trong không khí từ đầu ngón tay của chúng tôi, và không chỉ thách thức các định luật trọng lực theo cách của nó, mà còn gắn cả cái bàn vào và nâng nó lên! Tôi nhìn xuống chân bàn; chúng cách mặt thảm khoảng sáu inch, và không có bàn chân nào của con người chạm vào hoặc ở gần đó! Tôi đưa chân mình qua dưới nó, nhưng chắc chắn là không có gì ở đó—ít nhất là không có gì có thể cảm nhận được bằng thể chất.

Tất nhiên, khi chiếc mũ lần đầu tiên di chuyển, trong đầu tôi đã thoáng qua suy nghĩ rằng cậu bé nhỏ có thể đang chơi khăm chúng tôi bằng cách nào đó; nhưng trước hết, rõ ràng cậu bé không làm vậy, và thứ hai, cậu không thể nào tạo ra kết quả này mà không bị phát hiện. Sau khoảng hai phút, chiếc bàn rời khỏi chiếc mũ, và gần như ngay lập tức, chiếc mũ rơi trở lại lên bàn. Tuy nhiên, thí nghiệm đã được lặp lại nhiều lần, mỗi lần cách nhau vài phút. Sau đó, chiếc bàn bắt đầu rung lắc dữ dội và hất chiếc mũ ra—một dấu hiệu rõ ràng cho chúng tôi, nếu như có ai trong chúng tôi hiểu đủ để nhận ra. Nhưng không ai trong chúng tôi biết phải làm gì tiếp theo, dù chúng tôi rất quan tâm đến những chuyển động phi thường này. Cá nhân tôi không nghĩ đến hiện tượng này như một sự biểu hiện từ người chết, mà chỉ là khám phá một loại lực mới kỳ lạ nào đó.

Sự khởi đầu có phần hời hợt này đã dẫn tôi đến việc tìm hiểu thêm, và chẳng bao lâu tôi phát hiện ra rằng có một lượng lớn tài liệu được dành riêng cho chủ đề này, và rằng tôi có thể tiến xa hơn trong các cuộc điều tra của mình bằng cách tham gia các buổi cầu hồn với những đồng tử chuyên nghiệp. Tất nhiên, tôi đã gặp phải một số trò gian lận, và thậm chí còn nhiều sự ngu ngốc hơn, nhưng chẳng bao lâu sau tôi đã có thể tự thỏa mãn bản thân mình, không chút nghi ngờ, rằng ít nhất một số hiện tượng này là do hành động của những người mà chúng ta gọi là người chết gây ra.

Hầu như không có một hiện tượng nào mà tôi từng đọc thấy trong sách vở thần linh học hoặc nghe thấy trong giới thần linh học mà bản thân tôi không chứng kiến trong những điều kiện dứt khoát là trắc nghiệm. Bất cứ bạn đọc nào muốn có một bài tường trình đầy đủ hơn về công trình khảo cứu của tôi cùng với những kết quả của nó ắt tìm thấy điều đó trong quyển sách Bên Kia Của Tử của tôi hoặc trong một phần nhỏ của quyển sách này được xuất bản riêng rẽ với tựa đề Thần linh học và Thông Thiên Học.

Tôi đã tường thuật khá tỉ mỉ một số diễn biến trong khi tôi còn trẻ để xác minh cho bạn đọc cái thái độ tâm trí đó của tôi khi Thông Thiên Học cuối cùng đến với tôi mà tôi thiết tưởng rằng nó giải thích được cái cách thức mà ngay tức khắc tôi phản ứng với Thông Thiên Học. Có lẽ tôi nên đề cập tới một diễn biến khác nữa trong sinh hoạt tiềnThông Thiên Học của tôi; mặc dù diễn biến này tự thân nó không quan trọng nhưng nó tiền định tôi chấp nhận nhiều điều mà bằng không tôi có thể nghi ngờ.

A Story of Madame Blavatsky— Một câu chuyện kể về bà Blavatsky

The very first news that I ever heard of our great Founder, Madame Blavatsky, was curious and characteristic, and the hearing of it was a most important event in my life, though I did not know it then. A staunch friend of my school-days took up the sea-life as his profession, and about the year 1879 he was second officer on board one of the coasting vessels of the British India Steam Navigation Co. On her voyage from Bombay to Colombo Madame Blavatsky happened to travel by that steamer, and thus my friend was brought into contact with that marvellous personality.

He told me two very curious stories about her. It seems that one evening he was on the bridge trying vainly to light a pipe in a high wind. Being on duty he could not leave the bridge, so he struck match after match only to see the flame instantly extinguished by the gale. Finally, with an expression of impatience, he abandoned the attempt. As he straightened himself he saw just below him a dark form closely wrapped in a cloak, and Madame Blavatsky’s clear voice called to him:

“Cannot you light it, then?”

“No,” he replied, “I do not believe that anyone could keep a match alight in such a wind as this.”

“Try once more,” said Madame Blavatsky.

He laughed, but he struck another match, and he assures me that, in the midst of that gale and quite unprotected from it, that match burnt with a steady flame clear down to the fingers that held it. He was so astounded that he quite forgot to light his pipe after all, but H. P. B. only laughed and turned away.

On another occasion during the voyage the first officer made, in Madame Blavatsky’s presence, some casual reference to what he would do on the return voyage from Calcutta. (The steamers used to go round the coast from Bombay to Calcutta and back again.) She interrupted him, saying:

“No, you will not do that, for you will not make the return voyage at all. When you reach Calcutta you will be appointed captain of another steamer, and you will go in quite a different direction.”

“Madame,” said the first officer, “I wish with all my heart you might be right, but it is impossible. It is true I hold a master’s certificate, but there are many before me on the list for promotion. Besides, I have signed an agreement to serve on the coasting run for five years.”

“All that does not matter”, replied Madame Blavatsky; “you will find it will happen as I tell you.”

And it did; for when that steamer reached Calcutta it was found that an unexpected vacancy had occurred (I think through the sudden death of a captain), and there was no one at hand who could fill it but that same first officer. So the prophecy which had seemed so impossible was literally fulfilled.

Years afterwards, when I was on my way from Java to India with Mr. van Manen, I travelled on a steamer the captain of which was that very same man who had been the first officer of my friend’s story, and he told us the tale from his point of view, exactly corroborating the original version.

These were points of no great importance in themselves, but they implied a good deal, and their influence on me was in an indirect manner considerable. For in less than a year after that conversation Mr. A. P. Sinnett’s book The Occult World fell into my hands, and as soon as I saw Madame Blavatsky’s name mentioned in it I at once recalled the stories related to me by my friend. Naturally the strong first-hand evidence which I had already had of her phenomenal powers predisposed me to admit the possibility of these other strange new things of which Mr. Sinnett wrote, and thus those two little stories played no unimportant part in my life, since they prepared me for the instant and eager acceptance of Theosophical truths.

Chính cái tin tức đầu tiên mà tôi đã từng nghe nói tới vị sáng lập vĩ đại của chúng ta, bà Blavatsky, đó là tin kỳ diệu và đặc trưng mà việc nghe tới nó là một diễn biến quan trọng nhất trong đời tôi, mặc dù lúc bấy giờ tôi chưa biết. Một người bạn lực lưỡng thời tôi còn đi học, lấy nghề đi biển làm chuyên nghiệp và vào khoảng năm 1879, y là thuyền phó trên một chiếc tàu duyên hải thuộc Công ty Hàng hải Tàu thủy Anh Ấn. Trong chuyến du hành từ Bombay tới Colombo, bà Blavatsky ngẫu nhiên đi trên tàu thủy ấy, thế là bạn tôi được tiếp xúc với nhân cách kỳ diệu này.

Y kể cho tôi hai câu chuyện rất lý thú về bà. Dường như có một buổi chiều tối, y ở trên cầu tàu cố gắng vô vọng để châm lửa cho một tẩu thuốc trong cơn gió lộng. Vì đang trực nên y không thể rời cầu tàu, do đó y quẹt hết que diêm này tới que diêm khác để rồi chỉ thấy ngọn lửa ngay tức khắc tắt phụt trước cơn gió lốc. Cuối cùng với biểu lộ sốt ruột y từ bỏ toan tính ấy. Khi đứng thẳng người lên thì y thấy ngay phía dưới mình có một hình tướng đen đúa được quấn chặt trong một chiếc áo khoác và bà Blavatsky cao giọng gọi y:

“Vậy là ông không thể châm lửa được phải không?

Y trả lời: “Không, Tôi chẳng tin rằng có bất cứ ai giữ cho que diêm vẫn cháy lửa dưới cơn gió như thế này”.

Bà Blavatsky bảo: “Cứ thử một lần nữa xem sao?”

Y cười phá lên, nhưng lại quẹt một que diêm khác và y đoan chắc với tôi rằng giữa cơn gió lốc mà không được che chở, que diêm bốc cháy với một ngọn lửa ổn định soi sáng tới những ngón tay giữ nó. Y sửng sốt đến nỗi rốt cuộc y quên bén đi việc chăm lửa cho tẩu thuốc, nhưng bà Blavatsky chỉ cười phá lên rồi quay đi.

Có một dịp khác trong chuyến du hành, khi có mặt bà Blavatsky, thuyền phó nhất ngẫu nhiên đề cập tới điều mình sẽ làm trong chuyến du hành trở về từ Calcutta. (Tàu thủy thường đi vòng bờ biển từ Bombay tới Calcutta rồi trở lại). Bà ngắt lời y và bảo rằng:

“Không, ông sẽ không làm điều đó đâu vì ông sẽ không du hành trở lại. Khi ông đến Calcutta ông sẽ được bổ nhiệm làm thuyền trưởng một tàu thủy khác, và ông sẽ đi theo một hướng khác hẳn”. Viên thuyền phó nhất trả lời:

“Thưa bà, tôi hết lòng mong ước là bà nói đúng, nhưng chuyện này không thể được. Quả thật tôi có chứng chỉ thuyền trưởng, nhưng còn có nhiều người xếp hàng trước tôi trong danh sách được thăng chức. Vả lại tôi đã ký một giao kèo phục vụ chạy đường duyên hải trong 5 năm”.

Bà Blavatsky trả lời: “Nói chuyện đó không quan trọng, ông ắt thấy mọi chuyện sẽ xảy ra đúng như tôi nói”.

Và nó xảy ra thật, vì khi tàu thủy tới Calcutta thì người ta phát hiện thấy rằng bất ngờ có chỗ trống (Tôi thiết tưởng do sự đột tử của một thuyền trưởng) và không có ai trong tầm tay ngoại trừ viên thuyền phó nhất ấy để lấp vào chỗ trống đó. Thế là lời tiên tri có vẻ không thể được, lại được hoàn tất theo sát nghĩa.

Nhiều năm về sau, khi tôi trên đường từ Java tới Ấn Độ cùng với ông van Manen, thì tôi đi trên tàu thủy mà thuyền trưởng của nó chính là người đã từng là viên thuyền phó nhất trong chuyện kể của bạn tôi, và y kể cho tôi câu chuyện này theo quan điểm của y bổ sung chính xác cho nguyên bản.

Đây là những điều tự thân chúng không quan trọng lắm nhưng chúng hàm ý nhiều điều và ảnh hưởng gián tiếp của chúng đối với tôi thật là đáng kể. Ấy là vì trong vòng chưa đầy một năm sau cuộc đàm thoại đó, quyển sách Thế giới Huyền bí của ông A. P. Sinnett đã lọt vào tay tôi và ngay khi tôi thấy tên tuổi bà Blavatsky được đề cập trong quyển sách này thì tôi tức khác nhớ lại những câu chuyện mà người bạn đã kể cho tôi nghe. Tự nhiên là cái bằng chứng trực tiếp mạnh mẽ mà tôi đã có được về thần thông của bà tiền định tới công nhận khả năng có những sự việc mới mẻ kỳ lạ khác mà ông Sinnett có viết ra; thế là hai chuyện nho nhỏ này đóng vai trò quan trọng trong cuộc đời của tôi vì chúng chuẩn bị cho tôi háo hức ngay tức khắc chấp nhận những chân lý của Thông Thiên Học.

CHAPTER II

“The Occult World” —“Thế Giới Huyền bí”

I have already mentioned that the first Theosophical book which fell into my hands was Mr. A. P. Sinnett’s The Occult World. I saw it advertised in a catalogue of second-hand books, and was much attracted by the title, so I sent for it immediately, and was fortunate enough to secure it. Naturally the stories which it contains interested me deeply, but its real fascination lay in the glimpses which it gave of a wonderful system of philosophy and of a kind of inner science which really seemed to explain life rationally and to account for many phenomena which I had observed.

I was of course eager to learn very much more of this, but I was so entirely unused to the ways of the literary world that I did not know in the least how to set about obtaining further information. With the benefit of later experience, I can see now that it would have been simple to write a note to the author and send it to the care of his publishers; but such a solution of the difficulty did not occur to me. At the end of his book Mr. Sinnett remarks:

Some readers who are interested, but slow to perceive what practical action they can take, may ask what they can do to show appreciation of this opportunity. My reply will be modelled on the famous injunction of Sir Robert Peel: “Register, register, register!” Take the first step towards making a response to the offer which emanates from the occult world—register, register, register; in other words, join the Theosophical Society—the one and only association which at present is linked by any recognized bond of union with the Brotherhood of Adepts in Thibet.

I was most anxious to follow this advice, but found it by no means easy to do so. The author mentioned that there was a Theosophical Society in London, but did not give its address, and I sought for it in vain in the Post Office Directory. I made many enquiries among friends, but did not happen to find anyone who could help me in my quest.

Shortly after that, however, I was in Scotland enquiring into the evidence for second-sight in the Highlands, and apparently by the merest chance (but I doubt whether anything ever happens by chance) I found on the table in the reading-room of a hotel a copy of a tiny spiritualistic magazine—hardly more than a leaflet; I think it was called Rays of Light, or some name like that. In it was an announcement referring to Dr. Anna Kingsford, President of the London Lodge of the Theosophical Society, and stating that she was the wife of the rector or vicar of some West-country village or town—I think the name was Atcham. Naturally I seized upon this clue, and at once wrote to her at that vicarage, asking for further information. It was some time before I received a reply, for, as it transpired afterwards, Dr. Kingsford was away on the Continent for a holiday; and even when it arrived it proved to be only a printed circular—very beautifully printed, however, with much of silver about it. But it gave me the information which I wanted—the address of the Secretary in London, and it further told me that in order to join the Society I must be proposed and seconded by two members.

Tôi đã bảo rằng quyển sách Thông Thiên Học đầu tiên lọt vào tay tôi là quyển Thế giới Huyền bí của ông A. P. Sinnett. Tôi thấy nó được quảng cáo trong một danh mục những quyển sách đã qua sử dụng, và bị thu hút rất nhiều bởi tựa đề đó, vì vậy tôi tức khắc đặt mua nó và cũng đủ may mắn để có được nó. Tự nhiên là những câu chuyện chứa trong đó làm tôi quan tâm sâu sắc, nhưng sự quyến rũ thực sự của nó là ở nơi những thoáng thấy do nó cung cấp cho ta một hệ thống triết lý kỳ diệu và một loại khoa học nội giới dường như thực sự giải thích được cuộc đời một cách thuần lý và giải thích được nhiều hiện tượng lạ mà tôi đã quan sát thấy.

Dĩ nhiên tôi nôn nóng muốn học rất nhiều điều hơn nữa về vấn đề này, nhưng tôi hoàn toàn bất ngờ với những đường lối của thế giới văn học, cho nên tôi tuyệt nhiên chẳng biết làm sao để bắt đầu thu thập thêm thông tin. Nhờ trải nghiệm sau này, giờ đây tôi có thể thấy rằng thật đơn giản khi viết một bức thư ngắn cho tác giả rồi gửi tới nhà xuất bản để nhờ chuyển dùm, nhưng một giải pháp như thế về điều khó khăn này không xảy ra với tôi. Vào cuối quyển sách ông Sinnett có nhận xét rằng:

Một số bạn đọc quan tâm nhưng không nhanh chóng nhận thức được mình có thể hành động thực tế ra sao, ắt có thể thắc mắc liệu mình có thể làm được gì để chứng tỏ lòng trân trọng đối với cơ hội này. Tôi xin trả lời dựa theo mô hình huấn lệnh nổi tiếng của ngài Robert Peel: “Hãy đăng ký, đăng ký, đăng ký!”. Hãy tiến bước đầu tiên hướng về việc đáp ứng với lời đề nghị xuất phát từ thế giới huyền bí—đăng ký, đăng ký, đăng ký; nói cách khác, hãy gia nhập Hội Thông Thiên Học—đây là hiệp hội duy nhất hiện nay được liên kết bởi bất kỳ mối liên kết duy nhất nào đã được công nhận với Hội đoàn Huynh Đệ Chơn sư ở Tây Tạng.

Tôi rất nôn nóng muốn theo lời khuyên ấy, nhưng lại thấy tuyệt nhiên không dễ làm như vậy. Tác giả bảo rằng có một Hội ở Luân Đôn, nhưng không cung cấp địa chỉ và tôi hoài công tìm địa chỉ trong sách Địa chỉ Vàng của Bưu điện. Tôi dò hỏi nhiều người bạn nhưng ngẫu nhiên chẳng thấy ai có thể giúp tôi tìm kiếm được điều đó. Tuy nhiên sau đấy, tôi ở Tô Cách Lan điều tra về bằng chứng của thuật thấu thị nơi vùng sơn cước và theo biểu kiến chỉ nhờ may mắn nhất (nhưng tôi nghi ngờ liệu có điều gì đã từng xảy ra do may mắn chăng) tôi thấy trên bàn trong phòng đọc sách của một khách sạn có một bảng của tạp chí thần linh học nhỏ xíu hầu như chẳng lớn hơn một tờ bướm; tôi thiết tưởng nó tên là Các Tia Ánh Sáng hoặc một tên gì đó giống như vậy. Trong ấy có lời loan báo đề cập tới Tiến sĩ Anna Kingsford, Chi trưởng của Chi bộ Luân Đôn Hội Thông Thiên Học, cùng với việc xác định rằng bà là vợ của vị mục sư giám quản một vùng nào đó ở vùng phía Tây hay một thị trấn mà tôi thiết tưởng tên là Atcham. Tự nhiên là tôi chụp lấy manh mối đó và ngay tức khắc viết thư cho bà, gửi theo địa chỉ địa phận giám quản đó để hỏi thêm thông tin. Phải mất một thời gian trước khi tôi nhận được hồi âm bởi vì sau này tôi mới biết Tiến sĩ Kingsford đi vắng khỏi lục địa để nghỉ lễ; và ngay cả khi có thông tin hồi âm, thì đó tỏ ra chỉ là một bản thông tin in sẵn—tuy nhiên rất đẹp với nhiều hùng biện. Nhưng nó cũng cung cấp được thông tin mà tôi muốn biết, đó là địa chỉ của Thư ký ở Luân Đôn, nó còn cho tôi biết thêm rằng để gia nhập Hội tôi phải được hai hội viên đề cử và bảo lãnh.

How I Joined— Tôi gia nhập Hội như thế nào

The Secretary was Mr. Kirby (not the Mr. Kirby so well known in later years in connection with the Society’s work in Italy, but the Kirby of Kirby and Spence’s Entomology, a book which I had studied in my boyhood). I promptly wrote to him, pointing out that I wished to join, but had not the pleasure of the acquaintance of any of the existing members; what was I to do? Again I had to wait a long time for an answer, for Mr. Kirby also was abroad—I think climbing peaks in Switzerland; but at length he replied austerely that the rules were inviolable, and that no exception could be made, but suggested as an afterthought that I might call upon either Mr. A. P. Sinnett or Mr. G. B. Finch.

I adopted this suggestion and wrote a note to Mr. Sinnett, hardly daring, however, to hope that he could really be the author of the book which had impressed me so deeply. His reply soon set that point at rest, and invited me to come up to London to see him. He had only recently returned from India, and was then staying temporarily at the house of his mother-in-law, Mrs. Edensor, in Royal Crescent, Notting Hill. He received me with the greatest kindness and cordiality, and of course we talked much of his books (for by that time I had found Esoteric Buddhism also) and the wonderful revelation which they contained. The more I heard of Theosophy the more anxious I became to learn all that could be told to me; but when I spoke of joining the Theosophical Society Mr. Sinnett became very grave and opined that that would hardly do, seeing that I was a clergyman!

I wondered rather why the Society should discriminate against members of the cloth; and at last I ventured timidly to put the question. Mr. Sinnett replied:

“Well, you see, we are in the habit of discussing every subject and every belief from the beginning, without any preconceptions whatever; and I am afraid that at our meetings you would be likely to hear a great deal that would shock you profoundly.”

I had already, years previously, attended some of Mrs. Besant’s lectures at the Hall of Science in Old Street, off the City Road, and I thought that, after that, nothing that the members of the Theosophical Society could say would be likely to offend me very seriously; so I smilingly assured Mr. Sinnett that I hoped I was not that kind of clergyman and that I should be quite prepared to join in any discussion that might arise, irrespective of the beliefs of the debaters. At this Mr. Sinnett partially thawed, and even said that, if that were really the case, he should have peculiar pleasure in admitting a clergyman; but that before finally taking so decided a step he must consult his Council. So we had to leave it at that, and I returned to my country curacy fifty miles away in Hampshire.

Thư ký là ông Kirby (không phải là ông Kirby nổi tiếng sau này liên quan tới công việc ở Ý, mà là đồng tác giả của quyển Côn trùng học của Kirby và Spence, một quyển sách mà tôi đã nghiên cứu thời còn thơ ấu). Tôi nhanh chóng viết thư cho ông, nêu rõ ràng tôi muốn gia nhập Hội, nhưng chẳng may không quen biết bất cứ hội viên có sẵn nào, vậy tôi phải làm sao bây giờ? Tôi lại phải chờ một thời gian dài mới có thơ hồi âm, bởi vì ông cũng xuất ngoại (tôi thiết tưởng đi leo núi ở Thụy Sĩ) nhưng sau cùng, ông trả lời một cách nghiêm khắc rằng qui tắc không thể vi phạm và cũng không phải có ngoại lệ; nhưng sau khi nghĩ lại ông gợi ý rằng tôi có thể gọi điện thoại hoặc là cho ông A. P. Sinnett hay là ông G. B. Finch.

Tôi chọn theo gợi ý này và viết một bức thư ngắn cho ông Sinnett, tuy nhiên hầu như cũng chẳng dám hi vọng rằng ông có thật sự là tác giả đã gây ấn tượng rất sâu sắc đối với tôi. Câu trả lời của ông ngay tức khắc xác định điều này rõ ràng, ông mời tôi đến Luân Đôn để gặp ông. Chỉ mới gần đây ông từ Ấn Độ trở về và lúc bấy giờ ông đang tạm trú ở nhà bà mẹ vợ là bà Edensor ở Royal Crescent, Notting Hill. Ông tiếp đãi tôi một cách tử tế và thân mật hết sức, và dĩ nhiên chúng tôi nói chuyện nhiều về sách ở của ông (bởi vì lúc bấy giờ tôi cũng đã tìm thấy quyển Phật giáo Bí truyền) và sự khai thị kỳ diệu chứa trong đó. Tôi càng nghe nói về Thông Thiên Học thì tôi càng háo hức muốn học hết mọi điều có thể nói cho tôi biết được; nhưng khi tôi đề cập tới việc gia nhập Hội Thông Thiên Học, thì ông Sinnett trở nên rất nghiêm trang và phát biểu ý kiến rằng, coi vậy chứ khó, xét vì tôi là một giáo sĩ.

Tôi lấy làm lạ tại sao Hội lại phân biệt đối xử các hội viên dựa theo lớp áo; và rốt cuộc tôi rụt rè đánh bạo nêu thắc mắc ấy. Ông Sinnett trả lời:

“Được thôi, bạn thấy đấy, chúng tôi có thói quen bàn luận mọi đề tài và mọi tín ngưỡng ngay từ đầu không có tiên kiến nào hết; và tôi e rằng trong buổi họp của chúng tôi bạn rất có thể nghe thấy nhiều điều làm cho bạn bị kích động sâu sắc”.

Nhiều năm trước tôi cũng đã từng tham dự một số bài thuyết trình của bà Besant ở Sảnh đường Khoa học tại Khu phố cổ đường City và tôi thiết tưởng rằng sau đó thì không một điều gì các hội viên Hội Thông Thiên Học nói mà lại có thể xúc phạm tôi rất nặng nề. Vì vậy tôi mỉm cười trấn an ông rằng tôi hi vọng mình không phải là cái loại giáo sĩ ấy, và tôi hoàn toàn sẵn sàng tham dự vào bất kỳ cuộc thảo luận nào có thể xuất hiện bất chấp đức tin của người bàn luận. Nghe như vậy ông Sinnett mới phần nào thư giãn và thậm chí bảo rằng nếu thật sự như vậy thì ông rất thích thú khi tiếp nhận một giáo sĩ; nhưng trước khi cuối cùng tiến một bước quyết định như thế ông phải tham khảo ý kiến của Hội đồng. Thế là chúng tôi phải bỏ lửng vấn đề ở đó và tôi phải quay về giáo xứ miền quê của tôi ở Hampshire cách đó 50 dặm.

Mr. A. P. Sinnett—Ông Sinnett

Within a week, however, I had a letter from Mr. Sinnett saying that the majority of the Council had agreed to my admission, and that if I would fill up the necessary forms he would be glad to propose me himself; and he further advised me to call upon Mr. G. B. Finch, who would probably second my application if I impressed him favourably. Mr. Finch proved to be just as kindly as Mr. Sinnett, and I was presently notified that I was at last accepted as a member of the Society, and that if I would call at his house on a certain evening I might be initiated. By that time Mr. Sinnett had moved into a house of his own in Ladbroke Gardens, and thither I duly repaired at the appointed time.

I found that I was to be initiated into the mysteries of the Society along with two other applicants, Professor and Mrs. Crookes. Even then I realized the honour of being admitted along with so distinguished a scientist, for though Professor Crookes was not yet Sir William, I knew of him as the discoverer of thallium, the inventor of the radiometer, and the apostle of radiant matter. To join the Theosophical Society was in those days a somewhat formidable undertaking. We found Mrs. Sinnett’s large drawing-room crowded to excess, the assembly in fact overflowing on to the landing and a little way up the staircase. I suppose there may have been some two hundred people present, including some who bore very distinguished names—such as Professor Myers, C. C. Massey, Stainton Moses and others. We three were planted together upon a sofa in the midst of the crowd, and Mr. Sinnett, after delivering a homily upon the objects and work of the Society, duly communicated to us a series of signs and passwords by means of which we were to be able to recognize our fellow-members in any part of the world. These signs and words have since dropped into abeyance in most countries, though I think that our President still gives them to any candidates whom she receives in India.

After this I missed very few of the Lodge meetings, coming up to London nearly every week. In fact, Mr. Sinnett was so hospitable as to give me a standing invitation to dine and spend the night at his house on these occasions, as I lived fifty miles away. At those dinners and at the meetings which followed them I met many well-known people, and heard many most interesting and instructive conversations. It must be remembered that all the teaching was at that time quite new to us, that there were many points on which our information was very imperfect, and that consequently there was much room for discussion. The planetary chains, the different planes of nature and the conditions of consciousness upon each of them—all these things came to us as a fresh revelation, and we had no small difficulty in harmonizing the scattered statements made in the replies which had been received to Mr. Sinnett’s multifarious questions. The sun of our present President had not then risen above the Theosophical horizon, so we had no one to disentangle the knotted skeins or to bring the apparently conflicting statements into harmony.

I remember creating a small sensation at the dinner-table by announcing that it seemed to me the obvious course that each of us should set before himself the definite intention of becoming a pupil of one of the great Adept Masters. The suggestion was apparently somewhat of a shock to those present, for it was received in dead silence; and it was only after an appreciable pause that Mr. Sinnett remarked that he supposed that Europeans could hardly hope for anything of that sort at the present stage of our knowledge—which was true enough, but I thought that we might at least set our faces determinedly in that direction.

These meetings of the London Lodge were almost our only sources of Theosophical information in those days. I think we were an exceptionally keen set of students, but there was really not very much for us to study. In addition to those two books of Mr. Sinnett’s we had Madame Blavatsky’s monumental work Isis Unveiled and also a fine book by Dr. Anna Kingsford called The Perfect Way or The Finding of Christ. This latter book contained a great deal of information, but it was given from a point of view entirely different from that of Mr. Sinnett’s books and for most of us much more difficult to follow. Isis Unveiled is a vast chaos of most interesting matter, but we found it very difficult to deduce from it anything that could be called a coherent or definite system. But we struggled along as best we could, and a little later we had the very great encouragement of hearing that the Master Kuthumi was pleased with the efforts that we had made, and would send over from India one of His own disciples to help us in our work.

Tuy nhiên chỉ nội trong một tuần, tôi đã nhận được một bức thư của ông Sinnett bảo rằng đa số Hội đồng đã đồng ý nhận tôi vào Hội, và nếu tôi muốn chu toàn những hình thức cần thiết thì ông vui lòng đề nghị tôi nhận ông làm người giới thiệu và bảo lãnh, ông còn khuyên tôi thêm nữa hãy gọi điện thoại cho ông G. B. Finch, có lẽ ông sẽ bảo lãnh cho đơn gia nhập của tôi nếu tôi gây ấn tượng thuận lợi đối với ông. Ông Finch cũng tỏ ra tử tế như ông Sinnett, và chẳng bao lâu sau tôi được cho biết rằng cuối cùng tôi được nhận là hội viên của Hội Thông Thiên Học và nếu tôi có mặt ở nhà ông vào một buổi tối nào đó thì tôi có thể được khai tâm. Vào lúc đó ông Sinnett đã dọn nhà về nhà riêng của mình ở Vườn Ladbroke, và tôi đã đi đúng tới đó, chỉnh lại cái giờ đã qui định theo đúng mức. Tôi thấy rằng mình được khai tâm vào những bí nhiệm của Hội cùng với hai ứng viên khác là vợ chồng giáo sư Crookes. Ngay cả lúc bây giờ tôi cũng lấy làm vinh hạnh khi được nhận vào Hội cùng với một khoa học gia lỗi lạc như thế, bởi vì mặc dù giáo sư Crookes chưa phải là Ngài William, thì tôi cũng biết tiếng ông là người khám phá ra thallium, phát minh ra phóng xạ kế và là cha đẻ của chất phóng xạ. Gia nhập Hội vào thời đó là một công trình khá dễ sợ. Chúng tôi thấy căn phòng khách rộng lớn ở nhà ông Sinnett đặc nghẹt người quá mức, quả thật đám đông người tràn ngập ra tới chỗ đậu xe và lấn lên một chút tới cầu thang. Tôi giả định có thể có tới chừng 200 người có mặt, bao gồm một số người có danh tiếng rất lẫy lừng như Giáo sư Myers, C. C. Massey, Stainton Moses và những người khác. Ba chúng tôi ngồi trên một chiếc ghế trường kỷ giữa đám đông, còn ông Sinnett sau khi thuyết trình mục tiêu và công việc của Hội một cách thân mật đều truyền thụ đúng đắn cho chúng tôi một loạt những dấu hiệu và mật khẩu, nhờ đó chúng tôi có thể nhận ra các hội viên đồng tu của mình ở bất cứ nơi đâu trên thế giới. Từ đó trở đi những dấu hiệu và mật khẩu này đã không còn được sử dụng ở hầu hết mọi nước, mặc dù tôi nghĩ rằng bà Hội trưởng của chúng ta vẫn còn truyền thụ chúng cho bất kỳ ứng viên nào mà bà tiếp nhận ở Ấn Độ. Sau buổi đó thì tôi rất ít vắng mặt ở những buổi họp của Chi bộ, hầu như tuần nào cũng lên Luân Đôn. Quả thật ông Sinnett hiếu khách đến nỗi mời tôi thường trực tới ăn tối và nghỉ qua đêm ở nhà ông vào những dịp đó, vì tôi sống cách xa Luân Đôn tới 50 dặm. Vào những buổi ăn tối và những phiên họp diễn ra sau đó, tôi gặp gỡ nhiều người nổi tiếng, nghe thấy nhiều cuộc đàm thoại thú vị và mang nhiều thông tin hữu ích nhất. Phải nhớ rằng vào lúc đó thì toàn thể giáo huấn đều mới tinh đối với chúng tôi, có nhiều vấn đề mà thông tin của chúng tôi rất bất toàn, vì vậy có nhiều chỗ rộng rãi để thảo luận. Các dãy hành tinh, các cõi khác nhau trong thiên nhiên và tình trạng tâm thức trên mỗi cõi đó, tất cả những chuyện này đến với chúng tôi là một sự khai thị mới mẻ và chúng tôi rất khó khăn khi làm hài hòa những phát biểu rải rác có trong những câu trả lời mà nhiều câu hỏi đã được ông Sinnett tiếp nhận. Lúc bấy giờ vầng mặt trời là bà Hội trưởng hiện nay chưa ló dạng trên đường chân trời của Thông Thiên Học, cho nên chúng tôi chẳng có ai gỡ rối những nút thắt loằng ngoằng hay khiến cho những phát biểu xét theo biểu kiến là mâu thuẫn trở nên hài hòa. Tôi còn nhớ mình đã tạo ra một sự giựt gân nho nhỏ trong buổi ăn tối khi loan báo rằng tôi thấy dường như lộ trình hiển nhiên mà mỗi người trong chúng ta nên đặt ra trước mắt mình là dứt khoát có ý định trở thành đệ tử của một trong các đại Chơn sư. Xét về biểu kiến thì lời gợi ý ấy gây ra cú sốc khá mạnh đối với những người có mặt, cho nên người ta lặng thinh tiếp thu nó; và chỉ sau khi có sự tạm ngưng khá lâu thì ông Sinnett mới nhận xét rằng, ông giả định rằng người Âu Tây khó lòng có hi vọng về bất cứ điều gì thuộc loại đó ở tình trạng kiến thức hiện nay của chúng ta—điều này cũng đúng thôi, nhưng tôi thiết tưởng chúng ta ít nhất cũng có thể dứt khoát quay mặt về hướng đó. Những buổi họp ở Chi bộ Luân Đôn vào thời đó, hầu như là nguồn thông tin duy nhất của chúng tôi về Thông Thiên Học. Tôi nghĩ rằng chúng tôi là một nhóm học viên hăm hở ngoại lệ, nhưng thật ra không thật sự có rất nhiều điều để cho chúng tôi nghiên cứu. Ngoài hai quyển sách của ông Sinnett, chúng tôi có tác phẩm đồ sộ của bà Blavatsky là bộ Vén Màn Bí Mật Nữ thần Isis, cùng với một quyển sách rất hay của Tiến sĩ Anna Kingsford tên là Con đường Hoàn hảo tức Tìm thấy Chúa Kitô. Quyển sách vừa nêu có nhiều thông tin nhưng nó được trình bày theo một quan điểm khác hẳn quan điểm trong sách của ông Sinnett, và đối với hầu hết chúng tôi thì khó theo đuổi hơn nhiều. Bộ Vén Màn Bí Mật Nữ thần Isis là một mớ hỗ lốn những vấn đề thú vị nhất, nhưng chúng tôi thấy rất khó để suy diễn từ đó bất cứ điều gì có thể được gọi là một hệ thống mạch lạc và xác định. Nhưng chúng tôi phấn đấu đến mức tối đa và một ít lâu sau chúng tôi rất phấn khởi khi nghe tin rằng Chơn sư Kuthumi rất hài lòng với sự tinh tấn của chúng tôi, cho nên sẽ biệt phái từ Ấn Độ một trong những đệ tử của Ngài để giúp chúng tôi làm việc.

Mr. M. M. Chatterji—Ông M. M. Chatterji

This pupil was Mr. Mohini Mohun Chatterji, a young lawyer from Calcutta, and he reached London along with Colonel Olcott early in 1884. I must say that he proved exceedingly helpful to us, and it was from his addresses that we first gained a clear idea of the Path of Initiation and its requirements. A statement of these in his wording appears in the first of the celebrated Transactions of the London Lodge.

I remember well the occasion of his first appearance at one of Mr. Sinnett’s evening receptions. Colonel Olcott and Mohini stood on the hearthrug in front of the grate and some two hundred people were brought and introduced to them one by one. Among these was the notorious Mr. Oscar Wilde, who always gave one the impression of wishing to be distinctive (not to say bizarre) both in manners and in dress. On that occasion, I remember, he was habited in black velvet, with knee breeches and white stockings. He came up to Mohini, was introduced, bowed gracefully and in retiring said in a very audible stage-whisper to Mrs. Sinnett: “I never realized before what a mistake we make in being white!” Mohini, being a Brahman, was quite unversed in Western customs, and I believe that it caused him acute discomfort to allow that crowd of wine-drinking Mlechhas to seize him by the hand. He looked very sick, but he endured it nobly, and of course none of us had the least idea what was the matter. He answered patiently a vast number of what must have seemed to him very foolish and incredibly ignorant questions, and came off with flying colours as the hero of the evening, most of the old ladies regarding him with reverential awe.

Đệ tử này là ông Mohini Mohun Chatterji, một luật sư còn trẻ ở Calcutta, ông tới Luân Đôn cùng với Đại tá Olcott vào đầu năm 1884. Tôi phải nói rằng ông tỏ ra rất hữu ích đối với chúng tôi và chính từ những bài thuyết trình của ông mà lần đầu tiên chúng tôi có được một ý niệm rõ ràng về Con đường Điểm đạo và những yêu cầu của nó. Một phát biểu về những vấn đề này qua lời của ông xuất hiện trong phần đầu tiên của tác phẩm nổi tiếng Văn kiện của Chi bộ Luân Đôn. Tôi còn nhớ rõ cái dịp ông lần đầu tiên xuất hiện ở một trong những buổi tiếp tân chiều tối của ông Sinnett. Đại tá Olcott và Mohini đứng trên tấm thảm trước lò sưởi ngay đối diện với vĩ lò, còn vào khoảng chừng 200 người được tiếp đón và giới thiệu với họ từng người một. Trong số khách mời có ông Oscar Wilde nổi tiếng, ông luôn luôn gây ấn tượng là muốn mình phải đặc sắc (nếu không phải là dị hợm) cả về phong cách lẫn y phục. Vào dịp đó, tôi còn nhớ ông mặc áo nhung đen, quần ống túm lên tới tận đầu gối và đi vớ trắng. Ông tiến tới chỗ Mohini khi được giới thiệu, bèn lịch sự cúi đầu và khi cáo từ nói bằng một giọng thì thào như đóng tuồng trên sân khấu cố ý cho người khác nghe, nhất là với bà Sinnett: “Tôi chưa bao giờ vỡ lẽ ra trước đó, rằng thật là lầm lỗi xiết bao khi chúng ta sinh ra là người da trắng”. Mohini vốn là người dòng dõi Bà La Môn hoàn toàn không quen với phong tục Âu Tây và tôi tin rằng ông tỏ ra rất khó chịu khi để cho cái đám đông lũ Tây dương uống rượu bắt tay mình. Ông trông có vẻ rất ốm yếu nhưng chịu đựng nó một cách rất cao cả, và dĩ nhiên không ai trong chúng tôi có được ý niệm nào đó xem vấn đề này là thế nào. Ông kiên nhẫn trả lời rất nhiều điều đối với ông dường như là những thắc mắc rất ngu xuẩn và vô minh không thể tin được. Rồi rút lui với dáng vẻ bay bổng như vị anh hùng vào buổi chiều tối, hầu hết các bà mệnh phụ già đều nhìn ông với vẻ kính sợ.

Mr. Eglinton—Ông Eglinton

In the course of my inquiries into spiritualism I had come into contact with most of the prominent mediums of that day, and had (as I have said before) seen every ordinary phenomena about which one reads in books upon that subject. One medium with whom I had much to do was Mr. Eglinton; and although I have heard stories told against him, I must bear witness that in all my own dealings with him I found him most straightforward, reasonable and courteous. He had various so-called controls—one a Red Indian girl who called herself Daisy, and chattered volubly on all occasions, appropriate or inappropriate. Another was a tall Arab, named Abdullah, considerably over six feet, who never said anything, but produced remarkable phenomena, and often exhibited feats showing great strength. I have seen him simultaneously lift two heavy men, one in each hand.

A third control who frequently put in an appearance was Ernest; he comparatively rarely materialized, but frequently spoke with direct voice, and wrote a characteristic and well-educated hand. One day in conversation with him something was said in reference to the Masters of the Wisdom; Ernest spoke of Them with the most profound reverence, and said that he had on various occasions had the privilege of seeing Them. I at once enquired whether he was prepared to take charge of any message or letter for Them, and he said that he would willingly do so, and would deliver it when opportunity offered, but he could not say exactly when that would be.

I may mention here that in connection with this I had later a good example of the unreliability of all such communications. Some considerable time afterwards some spiritualist wrote to Light explaining that there could not possibly be such persons as the Masters, because Ernest had positively told him that there were not. I wrote to the same newspaper to say that I had it on precisely the same valueless authority that there were Masters, and that Ernest knew Them well. In each case Ernest had evidently reflected the thought of the questioner, as such entities so often do.

To return to my story, I at once provisionally accepted Ernest’s offer. I said that I would write a letter to one of these Great Masters, and would confide it to him if my friend and teacher, Mr. Sinnett, approved. At the mention of this name the “spirits” were much perturbed; Daisy especially was very angry, and declared that she would have nothing to do with Mr. Sinnett under any circumstances; “Why, he calls us spooks!” she said, with great indignation. However, I blandly stuck to my point that all I knew of Theosophy had come to me through Mr. Sinnett, and that I therefore did not feel justified in going behind his back in any way, or trying to find some other means of communication without first consulting him.

Finally, though with a very bad grace, the spirits consented to this, and the séance presently terminated. When Mr. Eglinton came out of his trance, I asked him how I could send a letter to Ernest, and he said at once that if I would let him have the letter he would put it in a certain box which hung against the wall, from which Ernest would take it when he wished. I then posted off to Mr. Sinnett, and asked his opinion of all this. He was at once eagerly interested, and advised me promptly to accept the offer and see what happened.

Trong quá trình điều tra về thần linh học, tôi đã được tiếp xúc với hầu hết những đồng tử lỗi lạc nhất thời đó và (như tôi có nói trước) đã chứng kiến mọi hiện tượng lạ thông thường mà người ta có thể đọc thấy trong sách vở viết về đề tài này. Một đồng tử mà tôi giao tiếp nhiều nhất là ông Eglinton, và mặc dù tôi có nghe nhiều chuyện kể chống lại ông nhưng tôi phải chứng nhận rằng trong mọi cuộc giao tiếp của chính ông với tôi, tôi thấy ông là người thẳng thắn nhất, biết điều và lịch sự. Ông có nhiều cái gọi là vong linh kiểm soát—một vong linh là cô gái da đỏ tự xưng là Daisy, nói liếng thoắng vào đủ mọi dịp dù thích hợp hay không. Một vong linh khác là một người Ả Rập cao lớn, tên là Abdullah, cao hơn 6 bộ Anh nhiều, y chẳng nói chẳng rằng mà chỉ tạo ra những hiện tượng lạ đáng chú ý và thường phô diễn thành tích chứng tỏ mình rất mạnh. Tôi đã chứng kiến y cùng một lúc nhấc bổng hai người nặng, mỗi người trên mỗi bàn tay. Vong linh kiểm soát thứ ba thường xuất hiện là Ernest, y tương đối hiếm khi hiện hình nhưng thường nói bằng một giọng trực tiếp và viết một thủ bút đặc trưng là có giáo dục. Một ngày kia trong khi đàm đạo với y, tôi nghe nói một điều gì đó đề cập tới các Chơn sư Minh Triết, Ernest nói về các Ngài với sự kính cẩn sâu sắc nhất và bảo rằng y có nhiều dịp được đặc quyền nhìn thấy các Ngài. Tôi ngay tức khắc hỏi xem liệu y có sẵn lòng đảm nhiệm việc chuyển bất kỳ thông điệp hoặc bức thư nào cho các Ngài hay chăng, và y bảo rằng y sẵn lòng làm như thế và sẽ chuyển thư khi có cơ hội, nhưng y không thể nói chính xác khi nào mới có cơ hội. Ở đây tôi có thể nói đến việc liên quan tới vấn đề đó, là sau này tôi có ví dụ nổi bật về tính không đáng tin cậy của mọi sự giao tiếp như thế. Một thời gian dài sau đấy có một nhà thần linh học viết thư cho Tạp chí Ánh sáng giải thích rằng, không thể có những người như các Chơn sư, bởi vì Ernest dứt khoát bảo rằng không có Chơn sư. Tôi viết thư cũng cho tờ báo ấy bảo rằng cũng chính cái thẩm quyền vô giá này đã cho tôi biết rằng có các Chơn sư và Ernest đã phản ánh tư tưởng của người thắc mắc vì những thực thể như vậy thường làm như thế. Trở lại với câu chuyện của mình, tôi ngay tức khắc tạm thời chấp nhận đề xuất của Ernest. Tôi bảo rằng tôi sẽ viết một bức thư cho một trong các Chơn sư rồi giao nó cho y, nếu người bạn và người thầy của tôi là ông Sinnett tán thành. Khi nghe nói tới danh xưng này thì các “vong linh” hết sức bối rối. Daisy đặc biệt rất giận dữ và tuyên bố rằng cô chẳng dính dáng gì tới ông Sinnett trong bất kỳ tình huống nào; cô hết sức công phẩn bảo rằng: “Tại sao ư, bởi vì ông gọi chúng tôi là âm ma!” Song le tôi nhã nhặn bám lấy lập trường của mình cho rằng mọi điều mà tôi biết về Thông Thiên Học đều đến với tôi thông qua ông Sinnett và vì thế cho nên tôi thấy mình không có lý do chính đáng khi đi lòn sau lưng ông bằng bất cứ cách nào hoặc ra sức tìm một phương tiện giao tiếp nào khác mà trước hết không tham khảo ý kiến của ông. Cuối cùng mặc dù hết sức miễn cưỡng các vong linh cũng đồng ý với chuyện này và buổi lên đồng chẳng bao lâu sau đó kết thúc. Khi ông Eglinton ra khỏi cơn xuất thần thì tôi hỏi ông làm sao tôi có thể gửi một bức thư cho Ernest được, và ông nói ngay tức khắc rằng nếu tôi giao cho ông bức thư thì ông sẽ bỏ nó vào trong một cái hộp nào đó, treo lủng lẳng dựa vào bức vách mà Ernest sẽ lấy thư ra khỏi hộp khi nào y muốn. Thế rồi tôi điện thoại cho ông Sinnett hỏi ý kiến ông về mọi điều này. Ông ngay tức khắc háo hức quan tâm tới nó và khuyên tôi hãy nhanh chóng chấp nhận lời đề xuất để xem chuyện gì sẽ xảy ra.

A Letter to the Master—Một lá thư từ Chân sư

Thereupon I went home and wrote three letters. The first was to the Master K. H., telling Him with all reverence that ever since I had first heard of Theosophy my one desire had been to place myself under Him as a pupil. I told Him of my circumstances at the time, and asked whether it was necessary that the seven years of probation of which I had heard should be passed in India. I put this letter in a small envelope and sealed it carefully with my own seal. Then I enclosed it in a letter to Ernest in which I reminded him of his promise, and asked him to deliver this letter for me, and to bring back an answer if there should be one. That second letter I sealed in the same manner as the first, and then I enclosed that in turn with a short note to Eglinton, asking him to put it in his box, and let me know whether any notice was taken of it. I had asked a friend who was staying with me to examine the seals of both the letters with a microscope, so that if we should see them again we might know whether anyone had been tampering with them. By return of post I received a note from Mr. Eglinton, saying that he had duly put the note for Ernest into his box, and that it had already vanished, and further that if any reply should come to him he would at once forward it.

A few days later I received a letter directed in a hand which was unknown to me, and on opening it I discovered my own letter to Ernest apparently unopened, the name “Ernest” on the envelope being crossed out, and my own written underneath it in pencil. My friend and I once more examined the seal with a microscope, and were unable to detect any indication whatever that any one had tampered with the letter, and we both agreed that it was quite impossible that it could have been opened; yet on cutting it open I discovered that the letter which I had written to the Master had disappeared. All that I found inside was my own letter to Ernest, with a few words in the well-known handwriting of the latter written on its blank page, to the effect that my letter had been duly handed to the Great Master, and that if in the future I should ever be thought worthy to receive an answer Ernest would gladly bring it to me.

I waited for some months, but no reply came, and whenever I went to Eglinton’s séances and happened to encounter Ernest, I always asked him when I might expect my answer. He invariably said that my letter had been duly delivered, but that nothing had yet been said about an answer, and that he could do no more. Six months later I did receive a reply, but not through Ernest, and in it the Master said that though He had not received the letter (nor, as He remarked, was it likely that He should, considering the nature of the messenger) He was aware of what I had written and He now proceeded to answer it.

It will be necessary presently to explain what His answer was, and what steps I took in consequence of it; but before I can make that intelligible, I must turn aside to describe some other incidents which had occurred in the meantime while I was waiting in hope of receiving that reply.

Vì thế cho nên tôi về nhà và viết ba bức thư. Bức thứ nhất gửi Chơn sư K. H. hết sức kính cẩn cho Ngài biết rằng kể từ khi lần đầu tiên nghe nói tới Thông Thiên Học, thì tôi chỉ có một ước muốn duy nhất là xin làm đệ tử của Ngài. Tôi cho Ngài biết hoàn cảnh của tôi vào lúc ấy và thắc mắc xem liệu thời gian cần thiết bảy năm dự bị mà tôi có nghe nói phải diễn ra ở Ấn Độ hay chăng. Tôi bỏ bức thư này vào một phong bì nhỏ và dùng dấu niêm phong riêng của mình để niêm phong kỹ nó lại. Thế rồi tôi lại đút nó vào trong những bức thư gửi Ernest, trong bức thư này tôi nhắc y nhớ lại lời hứa của mình và yêu cầu y chuyển giao bức thư này dùm tôi, rồi chuyển lại thư hồi âm nếu có. Bức thư thứ nhì tôi cũng niêm phong giống như bức thư đầu tiên và đến lượt tôi bỏ tất cả vào trong một bức thư ngắn gửi Eglinton, yêu cầu ông ta bỏ nó vào cái hộp của mình rồi cho tôi biết liệu có bất cứ sự chú ý nào liên quan tới nó hay chăng. Qua đường bưu điện, tôi nhận được một bức thư ngắn hồi âm của ông Eglinton bảo rằng ông đã bỏ bức thư ngắn gửi Ernest vào trong cái hộp của mình và nó đã biến mất rồi, hơn nữa nếu có thư hồi âm nào đến thì ông sẽ ngay tức khắc chuyển cho tôi. Vài ngày sau, tôi nhận được một bức thư chuyển bằng tay do một người tôi không quen biết, và khi nhận thư mở nó ra thì tôi phát hiện được, xét theo biểu kiến, thư riêng của tôi gửi cho Ernest chưa được mở ra, danh xưng “Ernest” trên phong bì bị gạt đi và tên của chính tôi được viết bên dưới đó bằng bút chì. Bạn tôi và tôi ngay tức khắc khảo sát dấu niêm phong bằng kính hiển vi và không thể dò ra được bất cứ chỉ dẫn nào cho thấy có ai đó đã can thiệp vào bức thư, và cả hai chúng tôi đồng ý rằng bức thư hoàn toàn không thể được mở ra; thế nhưng khi cắt phong bì mở nó ra thì tôi phát hiện được rằng bức thư tôi gửi Chơn sư đã biến mất. Mọi thứ tôi tìm thấy bên trong là bức thư riêng của tôi gửi Ernest cùng với một vài lời lẽ bằng thủ bút nổi tiếng của Ernest viết trên trang bỏ trắng với nội dung rằng bức thư của tôi đã được chuyển giao tới tận Chơn sư Vĩ đại, và nếu trong tương lai người ta nghĩ rằng tôi xứng đáng nhận được hồi âm thì Ernest sẽ vui lòng chuyển lại cho tôi Tôi đợi trong vài tháng, nhưng chẳng có thư hồi âm và bất cứ khi nào tôi đến dự buổi lên đồng của Eglinton mà ngẫu nhiên gặp Ernest thì tôi luôn luôn hỏi y xem liệu đến bao giờ tôi mới trông mong có được hồi âm. Y luôn luôn bảo rằng đã chuyển giao thư tôi rồi, nhưng chẳng nói gì tới thư hồi âm và thế nên y chẳng thể làm được gì hơn nữa. Sáu tháng sau tôi có nhận được một hồi âm, nhưng không phải thông qua Ernest và trong bức thư hồi âm Chơn sư bảo rằng mặc dù Ngài không nhận được thư của tôi (Ngài cũng nhận xét rằng, xét vì bản thân của người giao thư thì rất có thể là Ngài không nhận được), nhưng Ngài vẫn biết điều tôi đã viết trong đó và bây giờ Ngài tiến hành trả lời. Chẳng bao lâu nữa, tôi mới cần phải giải thích Ngài hồi âm ra sao và do đó tôi phải tiến những bước như thế nào; nhưng trước khi tôi có thể giải thích vấn đề này thì tôi phải quay sang việc miêu tả một số diễn tiến khác đã xảy ra trong thời gian ấy khi tôi đang chờ đợi hi vọng nhận được hồi âm.

CHAPTER III

Practical Work—Công việc Thực tiển

Naturally, as soon as I had the main principles of Theosophy, as we knew it then, established in my mind, and had definitely set before myself the idea of aiming, at however great a distance in the future, at drawing nearer to the Feet of the Master, I became anxious to know whether there was not something that I could do to help in the practical work of the Society. I propounded this question to Mr. Sinnett, and in reply he opened a large drawer completely filled with letters, and said:

“All these are inquiries about Theosophy; every day they come pouring in upon me from all parts of the world; I struggle with them in a feeble sort of way, and answer a few each day; but I am entirely unable to cope with the torrent. I am already behindhand to this extent, and I shall obviously never overtake the accumulation, for the pile of arrears is increasing steadily day by day. If you are willing to take charge of this little assortment, and answer them as well as you can, you will really be doing an important service to a large number of people."

I of course objected that I did not know nearly enough yet to take upon myself the office of expounder of the doctrine; but he replied:

“You have read all the books, you have attended nearly all the meetings; I am sure that you know as much of the teaching as I do myself. And besides, it is clearly a case of that or nothing. With all the other work that I have to do, I shall never be able to deal with them; whereas you may manage, in the seclusion of your country parish, to work through some of them at least; and after all, we can always consult upon any knotty points that arise.”

He was right in saying that I had done all in my power to familiarize myself with this wonderful new teaching. I had read both his books, not once but many times, each time, I think, appreciating their value more and more, and gaining a firmer grip of the ideas promulgated in them. So I filled a suit-case with those letters (there were 437 of them) and took them down into Hampshire. I tackled the job with enthusiasm—I remember that I allowed myself only four hours’ sleep each night—and eventually I actually did work my way through them. It was quite a heavy task, for there were no typewriters in those days, so that every word of those many thousands had to be written laboriously by hand.

Some of the questions were easy, and some were difficult; in many cases long explanations were necessary, because the inquirer seemed to have taken hold of the instruction in quite a wrong way; but I think I did my best with them. Of course I received a host of replies, so that that drawer-full of letters occupied most of my leisure time for many months. I may say that quite a number of new recruits joined the Society in consequence of that correspondence, and I also added largely to my list of friends—likewise to my own stock of Theosophical knowledge, for there is no better way of learning a subject thoroughly than trying to teach it to someone else.

Tự nhiên là ngay khi tôi có được những nguyên lý chủ yếu của Thông Thiên Học theo như chúng tôi biết lúc bấy giờ vốn đã xác lập trong tâm trí tôi, thì tôi dứt khoát đặt ra mục tiêu trước mắt mình là cho dù tương lai có kéo dài đi xa đến đâu chăng nữa thì tôi vẫn phải tiến tới gần Dưới Chơn Đức Thầy. Tôi đâm ra háo hức muốn biết liệu tôi có thể làm một điều gì đó để giúp vào công việc thực tiễn của Hội hay chăng. Tôi trình bày thắc mắc này với ông Sinnett và để trả lời thì ông mở một cái ngăn kéo lớn ra chứa chật ních những bức thư, rồi bảo rằng: “Những bức thư này đều thắc mắc về Thông Thiên Học, hằng ngày chúng cứ tuôn đổ tới tôi từ khắp nơi trên thế giới; tôi vật lộn với chúng một cách yếu ớt và mỗi ngày chỉ trả lời được vài thư,nhưng tôi hoàn toàn không thể đối phó được với dòng thác thư này. Tôi đã bị trễ hẹn trả lời tới mức này rồi và hiển nhiên là tôi chẳng bao giờ khắc phục được cái đống thư tích lũy ấy, vì cứ mỗi ngày trôi qua là chồng thư bị trễ hẹn trả lời lại càng ngày càng tăng lên. Nếu bạn sẵn lòng đảm nhiệm cái việc sắp xếp nho nhỏ này lại, rồi trả lời thư bằng hết sức mình thì bạn quả thật đang phục vụ một cách quan trọng cho một số lớn người”. Dĩ nhiên tôi phản đối điều đó do hầu như tôi chưa biết đủ để đảm đương cái chức vụ xiển dương giáo lý, nhưng ôngSinnett trả lời rằng: “Bạn đã đọc hết sách vở rồi, bạn đã tham dự hầu hết những phiên họp; tôi chắc chắn rằng bạn biết về giáo huấn chẳng kém gì chính tôi, vả lại đây là trường hợp được ăn cả ngã về không. Do còn phải làm nhiều công việc khác nữa, cho nên tôi chẳng bao giờ xử trí được đống thư này; trong khi đó ở cái nơi ẩn dật trong giáo xứ miền quê của bạn, bạn có thể xoay sở để ít ra cũng xử trí được một số thư, và nói cho cùng thì chúng ta có thể luôn luôn tham khảo ý kiến nhau về bất kỳ vấn đề gai góc nào xuất hiện.” Ông đã nói đúng ở chỗ tôi đã dùng hết sức bình sinh để làm quen với cái giáo huấn kỳ diệu này. Tôi đã đọc hết cả hai quyển sách của ông, không phải một lần mà nhiều lần; tôi thiết tưởng mỗi lần đọc tôi lại càng trân trọng giá trị của chúng hơn và lĩnh hội được minh bạch hơn những ý tưởng truyền bá trong đó. Thế là tôi nhét những bức thư này (có 437 bức thư) vào đầy một cái vali rồi đem chúng về Hampshire. Tôi tiến hành công việc một cách hăm hở—tôi còn nhớ mỗi đêm mình được phép ngủ có bốn tiếng đồng hồ—và rốt cuộc tôi đã thật sự đọc hết chúng rồi trả lời. Đây là một nhiệm vụ rất nặng nề, bởi vì thời đó không có máy đánh chữ, cho nên mỗi chữ trong hàng ngàn bức thư trả lời phải được cặm cuội viết bằng tay. Một số thắc mắc dễ trả lời, còn một số khó trả lời; trong nhiều trường hợp cần phải giải thích dài dòng bởi vì người thắc mắc có vẻ lĩnh hội giáo huấn theo một cách hoàn toàn sai lạc; nhưng tôi thiết tưởng tôi đã làm hết sức mình. Cố nhiên tôi lại nhận được cả đống thư trả lời khiến cho cái đống thư trong ngăn kéo đã chiếm hết thời giờ của tôi trong nhiều tháng. Tôi có thể bảo rằng một số lớn những tân hội viên đều là do kết quả của việc thư từ qua lại này và tôi cũng thêm vào phần lớn danh sách bạn bè của tôi cũng như chính kho dự trữ của riêng tôi về kiến thức Thông Thiên Học được phong phú lên, bởi vì không có cách nào học một chủ đề rốt ráo hơn là việc cố gắng dạy chủ đề này cho người khác.

Dr. Kingsford—Tiến sĩ Kingsford

Let me pass on from these comparative trifles to an incident of real importance—my first meeting with Madame Blavatsky. But even before I can describe that, I must give a few words of preliminary explanation. Although Dr. Anna Kingsford was the President of the London Lodge, she was by no means entirely in accord with the teachings which its members were studying. Mr. Sinnett’s information came to him in Oriental form from Oriental Teachers and in answer to a series of more or less haphazard questions which he had formulated; whereas what Dr. Kingsford taught, she knew from her own recollection of what she had learnt in a previous life.

The agreement in essentials was most remarkable, but the form in which the teaching was cast was widely different, and each form had its own set of terms, which were by no means always interchangeable. Usually at our meetings Mr. Sinnett would deliver an address or make a statement; but before we were allowed to discuss it or to ask for further information on doubtful points, Dr. Kingsford would always insist upon restating the whole matter in her terms and from her point of view. To almost all of us the Oriental statement was far more comprehensible than the Hermetic; and to our eager minds this unnecessary complication appeared intolerable, so that Dr. Kingsford’s long disquisitions were received with a certain amount of impatience. Not content with stating her own case, she sometimes came perilously near to casting animadversions upon Mr. Sinnett’s presentation, and even upon the Masters from Whom it came. It will be readily understood that that tended to arouse considerable indignation in the minds of the members.

On one occasion the Lodge passed a resolution regretting the attitude adopted in a paper which she wrote; and the whole affair created a most undesirable feeling of tension. We even went so far as the publication of certain pamphlets in which the opposing cases were stated; and even Swami T. Subba Rao, far away in India, took part in the discussion. These conditions were still in evidence when Colonel Olcott and Mr. Mohini Mohun Chatterji arrived from India, and the Lodge practically divided itself into two very unequal parties, for Dr. Kingsford’s only supporters were her uncle Mr. Maitland and a few personal friends whom she had brought in when she joined. If Madame Blavatsky herself had been with us she would probably have settled the dispute off-hand; but although she had left India along with Colonel Olcott, she had fallen very seriously ill in Paris, and was even supposed to be in considerable danger.

Presently we came to the end of our financial year, and the question arose of the election of a President for the next twelve months. It was, I think, the almost unanimous desire of the Lodge that Mr. Sinnett himself should be its nominal as well as its actual leader; but he was unwilling to accept the position, because in the pamphleteering he had expressed himself somewhat strongly against Dr. Kingsford, and he did not wish to carry this almost personal animosity into the politics of the Lodge. When the night of election came Mr. Maitland proposed the reappointment of Dr. Kingsford, but found only one or two members to support him, at which Dr. Kingsford showed most undignified annoyance. Mr. Sinnett then rose and proposed Mr. G. B. Finch, a barrister of Lincoln’s Inn, who in his time had been Senior Wrangler at Cambridge. Being an able and kindly man, he was very popular with the members, and in fact that very meeting was being held in a long room in his chambers in Lincoln’s Inn. He was at once elected by an overwhelming majority, and we then appointed Mr. Sinnett as Secretary and proceeded to the work of the evening.

Dr. Kingsford, however, was obviously ill pleased with the result of the election, and her continual interruptions were more exasperating than ever. The President-Founder himself was in the Chair, but did not seem quite to know how to deal with the lady, and the meeting was dragging along in a dreary and fruitless manner. The room, as I have said, was long, and the door by which we entered was in one side of it, but near the end remote from the platform. The room was filled with benches which were hired temporarily for the purpose of the meeting. Now, it happened that my friend Mr. Varley and I had been a few minutes late, entering the room just after the proceedings had begun. So we slipped into an empty bench just opposite that door, and there were only two or three members in our immediate neighbourhood, although the upper end of the room was crowded. Colonel Olcott and Mohini were trying their best to extract something sensible and useful from a very wearisome and unprofitable discussion, and I suppose that we at the other end of the room were not paying any very close attention to the proceedings; when suddenly and sharply the door opposite to us opened, and a stout lady in black came quickly in and seated herself at the outer end of our bench.

Tôi xin chuyển từ những chuyện tương đối lặt vặt này sang một diễn tiến có tầm quan trọng thật sự, tức là lần đầu tiên tôi gặp bà Blavatsky. Nhưng ngay cả trước khi tôi có thể mô tả việc đó thì tôi phải nói vài lời giải thích sơ bộ. Mặc dù Tiến sĩ Kingsford là Chi trưởng Chi bộ Luân Đôn, bà tuyệt nhiên không hoàn toàn đồng ý với sự giáo huấn mà các hội viên đang nghiên cứu. Thông tin của ông Sinnett đến với ông từ các Đạo sư Phương Đông dưới dạng Á Đông, và để trả lời cho một loạt ít nhiều những câu hỏi ngẫu nhiên mà ông đã nêu ra; trong khi đó điều mà Tiến sĩ Kingsford giảng dạy thì bà biết từ sự hồi tưởng của chính mình về điều bà đã học được trong kiếp trước. Sự tương đồng về những điều cốt tủy thật đáng chú ý, nhưng hình thức về giáo huấn lại khác hẳn và mỗi hình thức lại có một tập hợp thuật ngữ riêng của nó tuyệt nhiên không luôn luôn thay thế lẫn cho nhau được. Thông thường thì trong những buổi họp của chúng tôi, ông Sinnett thuyết trình hoặc phát biểu, nhưng trước khi chúng tôi được phép thảo luận hoặc thắc mắc muốn có thêm thông tin nữa về những vấn đề nghi vấn thì Tiến sĩ Kingsford luôn luôn khăng khăng phát biểu lại toàn bộ vấn đề bằng những thuật ngữ của mình và theo quan điểm của mình. Đối với hầu hết chúng tôi thì phát biểu theo Á Đông dễ hiểu hơn nhiều so với phát biểu theo Hermes; và đối với những đầu óc đang háo hức của chúng tôi thì cái chuyện rắc rối không cần thiết này có vẻ không tha thứ được, vì vậy những biện luận dài dòng của Tiến sĩ Kingsford được tiếp thu với sự sốt ruột nào đấy. Không bằng lòng với việc phát biểu theo kiểu của riêng mình, thỉnh thoảng bà còn tiến gần một cách nguy hiểm tới việc đả kích cách trình bày của ông

Sinnett và thậm chí các Chơn sư là nguồn xuất phát ra cách đó. Ta dễ dàng hiểu được điều này có khuynh hướng khơi dậy sự công phẩn đáng kể trong tâm trí của hội viên. Có một dịp Chi bộ thông qua một nghị quyết lấy làm tiếc về cái thái độ được chọn dùng trong một tài liệu mà bà đã viết ra; toàn bộ vụ việc này tạo ra một xúc cảm không đáng mong muốn nhất và gây căng thẳng. Thậm chí chúng tôi đi xa đến mức cho xuất bản một tập sách trong đó phát biểu những trường hợp đối nghịch nhau và thậm chí Swami T. Subba Rao ở xa mãi tận bên Ấn Độ cũng tham gia vào việc tranh luận này. Tình hình ấy vẫn rành rành ra đó khi Đại tá Olcott và ông Mohini Mohun Chatterji từ Ấn Độ đến Luân Đôn và Chi bộ hầu như đã chia ra thành hai phe rất không đều, bởi vì những người duy nhất ủng hộ Tiến sĩ Kingsford chỉ có chú của bà là ông Maitland và một số người bạn riêng mà bà mang theo khi bà tham gia Chi bộ. Nếu chính bà Blavatsky mà bà ở đây với chúng tôi, thì có lẽ bà đã dàn xếp được cái cuộc tranh cãi bất tận này rồi; mặc dù bà đã rời Ấn Độ cùng với Đại tá Olcott, nhưng khi đến Paris bà lại bị đau nặng và thậm chí người ta giả định rằng tính mạng bà đang lâm nguy ghê gớm. Chẳng bao lâu sau chúng tôi đã đến lúc kết thúc năm tài chính và xuất hiện vấn đề bầu cử Chi trưởng cho 12 tháng kế tiếp. Tôi thiết tưởng hầu như người ta đồng lòng muốn Chi bộ này phải được bổ nhiệm người lãnh đạo thực sự nên là chính ông Sinnett; nhưng ông không sẵn lòng chấp nhận địa vị ấy, bởi vì trong một tập sách ông đã công khai phát biểu khá mạnh mẽ chống lại Tiến sĩ Kingsford và ông chẳng muốn đưa cái mối hiềm khích hầu như cá nhân này vào trong chính sách của Chi bộ. Khi đến đêm bầu cử thì ông Maitland đề nghị tái bổ nhiệm Tiến sĩ Kingsford, nhưng chỉ thấy có một hai hội viên ủng hộ điều này khiến cho Tiến sĩ Kingsford tỏ ra khó chịu mất tư cách. Thế rồi ông Sinnett đứng lên đề cử ông G. B. Finch, một luật sư biện hộ ở Nhà trọ Lincoln, thời đó là luật sư thầy cãi chính ở Cambridge. Vốn là một người có năng lực và tử tế, ông rất được lòng hội viên và quả thật là buổi họp ấy được tổ chức trong căn phòng dài thuộc dãy phòng ở nhà trọ Linclon của ông.

Ngay tức khắc ông được đa số áp đảo bầu cho, thế rồi chúng tôi bổ nhiệm ông Sinnett làm thư ký và tiến hành công việc buổi chiều. Tuy nhiên Tiến sĩ Kingsford hiển nhiên là rất bất bình với kết quả của việc bầu cử, cho nên bà liên tục ngắt lời càng ngày càng hung hăng hơn bao giờ hết. Ông Hội trưởng Sáng lập viên bản thân ngồi trên ghế Chủ tọa, nhưng có vẻ hoàn toàn chẳng biết làm sao để xử trí mệnh phụ này; thế là phiên họp cứ kéo dài lê thê một cách tẻ nhạt và vô ích. Như tôi có nói căn phòng dài và cánh cửa ra vào ở một bên nhưng ở phía gần đầu mút xa so với diễn đàn. Căn phòng chất đầy những băng ghế dài được thuê mướn tạm bợ để phục vụ cho buổi họp. Thế mà ngẫu nhiên là bạn tôi, ông Varley cùng với tôi lại đi trễ vài phút nên vào phòng ngay sau khi phiên họp đã bắt đầu. Vậy là chúng tôi chuồn vào một băng ghế dài còn trống ngay phía đối diện cửa ra vào và gần kề ngay sát chúng tôi chỉ có hai ba hội viên, mặc dù ở đầu mút phía trên của căn phòng ken đặc người. Đại tá Olcott và Mohini làm hết sức mình để rút ra được một điều gì đó có ý nghĩa và có ích từ một cuộc tranh luận gây rất nhiều mệt mỏi và chẳng có ích lợi gì hết. Tôi giả định rằng ở đầu bên kia của căn phòng chúng tôi cũng chẳng chú ý gì cho lắm tới phiên họp. Thình lình cửa ra vào phía đối diện chúng tôi mở toang ra và một bà đẩy đà mặc y phục màu đen nhanh chóng bước vào ngồi xuống đầu bên kia ghế dài của chúng tôi.

I Meet Our Founder— Tôi găp vị Sáng lập ra Hội chúng ta

She sat listening to the wrangling on the platform for a few minutes, and then began to exhibit distinct signs of impatience. As there seemed to be no improvement in sight, she then jumped up from her seat, shouted in a tone of military command the one word “Mohini!” and then walked straight out of the door into the passage. The stately and dignified Mohini came rushing down that long room at his highest speed, and as soon as he reached the passage threw himself incontinently flat on his face on the floor at the feet of the lady in black. Many people arose in confusion, not knowing what was happening; but a moment later Mr. Sinnett himself also came running to the door, went out and exchanged a few words, and then, re-entering the room, he stood up on the end of our bench and spoke in a ringing voice the fateful words: “Let me introduce to the London Lodge as a whole—Madame Blavatsky!”

The scene was indescribable; the members, wildly delighted and yet half-awed at the same time, clustered round our great Founder, some kissing her hand, several kneeling before her, and two or three weeping hysterically. After a few minutes, however, she shook them off impatiently, and was led up to the platform by Colonel Olcott, and after answering a few questions she demanded from him an explanation of the unsatisfactory character of the meeting upon which she had descended so abruptly. The Colonel and Mr. Sinnett explained as well as they could; but she summarily ordered them to close the meeting, and called upon the officials to meet her at once in conference. The members departed in a condition of wild excitement and the officials waited upon Madame Blavatsky in one of the adjacent living rooms.

Now, as I had been invited to spend the night at Mr. Sinnett’s, I, though a new and insignificant member, had to stay behind along with the greater people; and so it happened that I was a witness of the very remarkable scene which followed. Madame Blavatsky demanded a full account of the condition of the Lodge, and of the differences between Mr. Sinnett and Dr. Kingsford; and having received it, she proceeded to rate both of them exactly as if they had been a pair of naughty schoolboys, and finally actually made them both shake hands before us all as a token that their differences were amicably settled! Nevertheless, she ordered that Dr. Kingsford should form a Lodge of her own, in which doctrines could be discussed exclusively from her point of view. This order was carried out in a few days, the new branch taking the title of the Hermetic Lodge. So far as I remember, I do not think that it ever had more than a very small number of members, and I fancy that it soon faded into extinction.

Madame Blavatsky and Colonel Olcott both accompanied our party to Mr. Sinnett’s house, and stayed there until a late hour, Madame Blavatsky expressing vigorous condemnation of the inefficiency of the officials in not managing the meeting better. I was of course presented to her, and Mr. Sinnett took occasion to tell her of my letter to the spiritualistic journal Light on the subject of the spirit Ernest’s disavowal of our Masters. When she heard that little story she looked at me very searchingly and remarked:

“I don’t think much of the clergy, for I find most of them hypocritical, bigoted and stupid; but that was a brave action, and I thank you for it. You have made a good beginning; perhaps you may do something yet.”

You may be very sure that after that I missed no opportunity of attending any meeting at which she was present; and though I was far too shy to push myself forward and ask questions, I nevertheless listened eagerly to every word that fell from her lips, and I think that in that way I learnt a very great deal.

I wish I could convey to my readers some adequate conception of what she was to me and to all of us who were so highly favoured as to come into close touch with her—of the truly tremendous impression that she made upon us, of the deep affection and the intense enthusiasm which she evoked.

Only a few of us who knew her in her physical body are now left, and I think it is at once our duty and our privilege to try to pass on to our younger brethren at least a few ideas round which they can build their mental image of our great Founder, since their karma was not such as to permit them to see her in the flesh.

Bà ngồi lắng nghe cuộc cãi cọ trên diễn đàn trong vài phút, thế rồi bắt đầu rõ rệt tỏ vẻ là sốt ruột. Bởi vì dường như trước mắt chẳng có chuyện cải thiện nào, cho nên bà bèn nhảy bật ra khỏi ghế ngồi, hét lên bằng một giọng như người chỉ huy quân đội gọi một tiếng thôi “Mohini!”, thế rồi bà bước thẳng ra khỏi cửa ra vào đi qua hành lang. Mohini vốn uy nghiêm và đầy tư cách co giò chạy hết tốc lực xuống dọc căn phòng, rồi ngay khi tới chỗ hành lang bèn không kiềm chế được phủ phục dưới thềm ở ngay chân của mệnh phụ mặc y phục đen. Nhiều người đứng dậy nháo nhác chẳng biết chuyện gì đang xảy ra, nhưng một lúc sau thì chính ông Sinnett cũng chạy xuống cửa ra vào, bước ra trao đổi một vài lời, thế rồi lại bước vào phòng. Ông đứng ngay đầu bên kia ghế dài chúng tôi và nói bằng một giọng rõ ràng những lời lẽ định mệnh: “Tôi xin giới thiệu với toàn thể Chi bộ Luân Đôn—đây là bà Blavatsky”. Phong cảnh thật là khôn tả, các hội viên bừng bừng vui vẻ, thế nhưng đồng thời cũng nễ sợ; bu quanh bà Sáng lập viên vĩ đại của chúng ta; một vài người hôn tay bà, nhiều người quì gối trước mặt bà, có hai ba người khóc sướt mướt như bị cơn cuồng thần kinh. Tuy nhiên chỉ sau vài phút, bà đã sốt ruột cáo biệt họ để rồi được Đại tá Olcott dẫn lên diễn đàn. Sau khi trả lời vài thắc mắc, bà đòi hỏi ông Olcott hãy giải thích cho bà về tính cách không thỏa đáng của phiên họp mà bà đã chiếu cố đến một cách bất ngờ như vậy. Đại tá Olcott và ông Sinnett ra sức giải thích, nhưng bà ra lệnh ngắn gọn cho họ kết thúc phiên họp, rồi triệu tập các chức sắc đến hội kiến bà ngay tức khắc. Các hội viên ra về trong tình trạng kích thích như điên dại, còn các chức sắc chờ đợi bà ở một trong những phòng khách kế cận. Thế mà vì tôi được mời ngủ lại đêm ở nhà ông Sinnett và mặc dù là một hội viên mới chưa quan trọng, tôi vẫn phải ở lại cùng với những người quan trọng hơn, vậy là ngẫu nhiên tôi được chứng kiến phong cách rất đáng chú ý tiếp sau. Bà Blavatsky yêu cầu có tường trình đầy đủ về tình trạng của Chi bộ, về những sự khác nhau giữa ông Sinnett và

Tiến sĩ Kingsford. Sau khi đã tiếp thu được vấn đề và tiến hành đánh giá cả hai người này y như thể đó là một cặp học trò hư đốn, rồi cuối cùng thực sự yêu cầu cả hai phải bắt tay nhau trước mặt chúng tôi như thể đó là dấu hiệu những sự khác nhau của họ đã được giải quyết trong tình thân hữu; song le bà ra lệnh là Tiến sĩ Kingsford nên tạo ra một Chi bộ của riêng mình, trong đó giáo lý có thể được bàn luận độc quyền theo quan điểm của riêng bà. Lệnh này được thi hành trong vòng vài ngày, và Chi bộ mới mang tên Chi bộ Hermes. Theo như tôi còn nhớ thì tôi thiết tưởng nó chưa bao giờ có nhiều hơn một số rất nhỏ hội viên, và tôi tưởng tượng rằng chẳng bao lâu nữa nó sẽ bốc hơi biến mất luôn. Bà Blavatsky và Đại tá Olcott đều đi kèm với nhóm chúng tôi về nhà ông Sinnett, rồi ở lại cho tới khuya, bà Blavatsky mạnh mẽ lên án sự không hữu hiệu của các quan chức không điều hành được phiên họp tốt hơn. Cố nhiên tôi được giới thiệu với bà và ông Sinnett nhân cơ hội đó kể cho bà nghe bức thư của tôi gửi Tạp chí thần linh học là Tạp chí Ánh sáng nói về đề tài vong linh Ernest phủ nhận các Chơn sư. Khi bà nghe cái chuyện lặt vặt ấy thì bà nhìn tôi với vẻ rất dò xét rồi nhận xét rằng: “Tôi không nghĩ gì nhiều tới giới tu sĩ, nhưng tôi thấy hầu hết họ đều đạo đức giả, ngu tín và ngu đần, nhưng đây là một hành động dũng cảm và tôi cám ơn bạn về điều đó. Bạn đã khởi đầu rất tốt, có lẽ bạn còn làm được một điều gì đó”. Các bạn có thể chắc mẩm rằng sau buổi ấy, tôi không bỏ lỡ một cơ hội nào để tham dự bất kỳ phiên họp nào mà bà có mặt, mặc dù tôi quá rụt rè để dấn tới và nêu thắc mắc, song le tôi vẫn háo hức lắng nghe mọi lời lẽ thốt ra từ miệng bà và tôi thiết tưởng rằng bằng cách ấy tôi đã học được rất nhiều điều. Ước gì tôi có thể truyền đạt cho các bạn đọc quan niệm thỏa đáng nào đó xem bà là gì đối với tôi và đối với tất cả chúng ta vốn có được đặc ân là tiếp xúc mật thiết với bà—ấn tượng quả thật là ghê gớm mà bà đã tác động lên chúng ta, khơi dậy lòng thương yêu sâu sắc và sự phấn khởi nhiệt thành của chúng ta. Chỉ một vài người có biết bà bằng xương bằng thịt giờ đây còn sống, và tôi thiết tưởng chúng ta có bổn phận và đặc quyền ngay tức khắc cố gắng trao truyền cho các huynh đệ non trẻ hơn ít ra là một vài ý tưởng để cho họ có thể kiến tạo xung quanh đó hình ảnh trong tâm trí của mình về bà Sáng lập viên vĩ đại, bởi vì nghiệp quả của họ không cho phép họ thấy bà bằng xương bằng thịt.

CHAPTER IV

Madame Blavatsky

Let me try for a moment to look at her as an outsider might have looked, if that be possible for me. Frankly, I do not think I can do that, because I love her with the deepest love, I reverence her more than anyone else, except her great Masters and mine. So perhaps I cannot look at her dispassionately from outside, but at least I am trying to do so. I have seen many strangers approach her. I will try to tell you what I have seen reflected in their faces and their minds. The first thing that strikes them all, the first thing that always struck me, was the tremendous power that she radiated. The moment one came into Madame Blavatsky’s presence, one felt that here was some one who counted—some one who could do things, emphatically one of the great ones of the world; and I think that none of us ever lost that feeling.

There were assuredly many people who disagreed with various things that she said; there were others of us who followed her enthusiastically. She was so strong a person that I have never seen anyone among the thousands who met her who was indifferent to her. Some of them absolutely hated her, but more were immensely impressed by her. Many were almost awed by her; but those who knew her best loved her with a never-failing emotion, and love her still. I have recently seen some of those who knew her well, and it does seem that in every one of them the memory of her is just as green as it is in my own heart, and we have never ceased to love her. The impression that she made was indescribable. I can well understand that some people were afraid of her. She looked straight through one; she obviously saw everything there was in one—and there are men who do not like that. I have heard her make sometimes very disconcerting revelations about those to whom she spoke.

I say that that overwhelming sense of power was the first thing that was borne in upon one; and then it is difficult to say what came next, but there was a sense of dauntless courage about her which was very refreshing, outspokenness to the verge of—one could not quite say rudeness, but she spoke out exactly what she thought and exactly what she felt; there, again, there are people who do not like that, who find it rather a shock to meet naked truth; but that was what she gave them. Prodigious force was the first impression, and perhaps courage, outspokenness, and straightforwardness were the second.

I suppose most of us have heard that she was often accused of deception by those who disliked or feared her. Enemies thought her guilty of fraud, of forgery, of all kinds of extraordinary things. Those who repeat such slanders in the present day are all people who have never seen her, and I venture to say that if any of those who talk about her now could have been in her presence for an hour they would have realized the futility of their aspersions. I can understand that certain other things might have been said against her—for example, that she rode a little roughshod over people’s prejudices sometimes; perhaps it is a good thing for people to have their prejudices exposed occasionally; but to accuse her of forgery or deception was utter folly to any of us who knew her. It was even said that she was a Russian spy. (There was a great scare at the time that Russia had designs on India.) If there ever was on this earth a person who was absolutely unsuited for the work of a spy, that person was Madame Blavatsky. She could not have kept up the necessary deception for ten minutes; she would have given it all away by her almost savage outspokenness. The very idea of deception of any sort in connection with Madame Blavatsky is unthinkable to anyone who knew her, who had lived in the same house with her, and knew how she spoke straight out exactly what she thought and felt. Her absolute genuineness was one of the most prominent features of her marvellously complex character.

I think the next thing which must have impressed the outsider was the brilliance of her intellect. She was without exception the finest conversationalist that I have ever met—and I have seen many. She had the most wonderful gift for repartee; she had it almost to excess, perhaps. She was full, too, of knowledge on all sorts of out-of-the-way subjects; I mean subjects more or less connected with our line of thought—but then it is difficult to realize how very wide is the range of thought which we include under the head of Theosophy. It involves knowing something at any rate along quite a large number of totally different lines. Madame Blavatsky had that knowledge. Whatever might turn up in the course of conversation, Madame Blavatsky always had something to say about it, and it was always something distinctly out of the common.

Whatever else she may have been, she was never commonplace. She always had something new, striking, interesting, unusual to tell us. She had travelled widely, chiefly in little-known parts of the world, and she remembered everything, apparently, even the slightest incident that ever occurred to her. She was full of all kinds of sparkling anecdotes, a wonderful raconteuse, one who could tell her story well and make her point effective. She was a remarkable person in that respect, as in so many others.

Soon, with a little more intimate talk, one encountered the great central pivot of her life—her intense devotion to her Master. She spoke of Him with a reverence that was beautiful—all the more beautiful from the fact that one could not describe Madame Blavatsky as exactly of a reverent nature. On the contrary, she always saw the humorous side of anything and everything. Apart from this one great central fact, she would sometimes make a joke about things that some of us would have considered sacred; but that was because her utter straight-forwardness made her detest anything in the nature of a sham or pretence, and there is a great deal of what passes for reverence which is really only empty-mindedness, though well akin perhaps to respectability.

What she called bourgeois respectability was rather in the nature of a red rag to Madame Blavatsky, because often there is so much hypocrisy in the keeping up of outer appearances while inside there are thoughts and feelings which are not respectable at all. In such cases she tore away the veil and exposed the things underneath, which did not please the unfortunate victim; because of that characteristic one would not have called her a reverential person. But the moment she spoke of her Master her voice fell into a tone of loving awe, and one could see that her feeling towards Him was the very life of her. Her utter trust in Him, and her love and reverence for Him, by contrast with the fact that she was not ordinarily reverent, were very beautiful to see.

I think those were the most prominent facts that a stranger would have seen in her. Our younger members, when they grow up and have read her books and realized a little of what we owe her, may quote her and say what a wonderful person she was; and then, quite possibly, they may meet people who will tell them that she was exposed, and was found to have acted fraudulently. Let them ask such slanderers:

“Did you know her?”

“O no”, they will reply, “of course I did not.”

You who have read this can rejoin:

“I have read an account written by one who did know her, who knew her exceedingly well; and he said that all such stories were absolutely and utterly untrue—that it was quite impossible that she could have performed any of those fraudulent actions; she could not have deceived people in the way that was stated.”

I could give you many instances in which she was accused of deception, and I can tell you exactly what it was that really happened, and can assure you that there was no fraud whatever in the matter. That much I do know for myself. You may hear much of a certain report made by a Commissioner of the Society for Psychical Research, who went out to India to investigate her case. If anyone quotes that to you, you can tell them that I, who am still living, was in Adyar when that young man (a very conceited young man he was, I am sorry to say), came out to make his report, and I can tell you certain things about that report which show how unreliable it was, though I am sure that he was honest in his intention. I am told that many years later he acknowledged to our present President that if he had known as much about psychic matters in 1884 as he knew at the time of speaking, his report would have been very different.

He decided against H. P. B. in regard to the letters which came from the Masters, saying that she had written them herself. I have myself received such letters when she was thousands of miles away. I have seen them come in her presence, and I have seen them come when she was far away, and I know by irrefutable evidence that she did not write those letters. I tell you this because I think it is valuable for you to be able to say that you have seen or known of someone who is willing to bear personal testimony that there was no fraud about such things. The testimony of one eye-witness outweighs the prejudice of many people who, not being present, hear these things only at third or thirteenth hand.

Remember that, humanly speaking, without Madame Blavatsky there would have been no Theosophical Society, there would have been no presentation of all this glorious teaching to the people of the West. Perhaps there I am saying a little more than I should, because the Great Ones who stand behind made simultaneous efforts through two channels, Madame Blavatsky being one, and Dr. Anna Kingsford the other. I knew both of them. I can only say that while Dr. Kingsford’s presentation was wonderful and interesting, it has not made much impression, has not taken hold of the world to any appreciable extent; whereas the existence of the Theosophical Society shows what Madame Blavatsky’s presentation did.

Even the Theosophical Society shows only a small part of her work; for, for every member of this Society there may well be ten, twelve, or twenty non-members who have read the books and acquired much Theosophical knowledge. So her teaching has spread out of all proportion to the size of her Society. That is what Madame Blavatsky has done for us, and for the world, and for that we owe her our love and our gratitude. She told us always:

“These are the facts; but do not believe them because I say so. Use your own reason and common-sense; give life to the teaching, and prove it for yourselves. Don’t carp or grumble or criticize; work.”

We who accepted her challenge, we who followed her advice, soon found that her statements were justified, that her teachings were true. So to you, her followers of the present day, I would say: “Go you, and do likewise.”

See to it, all of you, that we never forget her—that on White Lotus Day every year, as she desired, we commemorate the occasion. She did not ask that anyone should speak of her, though our love and reverence lead us always to do that. She did not even ask that her own books should be read; but she did ask that something should be read from the Bhagavad-Gita and from The Light of Asia, and that is always done in every Theosophical Lodge unto this day, and I hope that it always will be, and that we shall never allow the memory of our Founder to pass from our minds. I should like you to realize the fact, and to keep it ever in your minds, that all that we have and all that we have learnt, through whatever form it may now be coming to us, we really owe to Madame Blavatsky.

Tôi xin nhất thời quan sát bà như một kẻ bàng quan nếu có thể được. Nói thành thực ra thì tôi chẳng nghĩ mình có thể làm được như vậy, vì tôi yêu thương bà một cách sâu sắc nhất và kính trọng bà hơn bất cứ ai khác ngoài các Chơn sư vĩ đại của bà và của tôi. Như vậy có lẽ tôi không thể quan sát bà một cách vô tư từ bên ngoài, nhưng ít ra tôi cũng cố gắng làm như thế. Tôi đã thấy có nhiều người lạ xáp vô bà, tôi sẽ cố gắng nói cho các bạn biết tôi đã nhìn thấy điều gì được phản ánh trên khuôn mặt và trong tâm trí họ. Điều đầu tiên gây ấn tượng cho tất cả những người này cũng như luôn luôn gây ấn tượng cho tôi, đó là quyền năng ghê gớm mà bà tỏa ra. Cái lúc người ta đến thấy mặt bà Blavatsky thì người ta cảm nhận được rằng đây là một người nào đó mà người ta trông cậy được, một người nào đó có thể làm việc được, đặc biệt là một trong những vĩ nhân trên thế giới, và tôi thiết tưởng rằng không ai trong chúng tôi lại không cảm nhận như vậy.

Chắc chắn có nhiều người không đồng ý với nhiều điều mà bà nói; có những người khác trong chúng tôi lại nhiệt thành đi theo bà. Bà là người có cá tính mạnh mẽ đến nỗi tôi chưa bao giờ thấy ai trong số hàng ngàn người đã gặp thấy bà mà lại thờ ơ với bà. Một số người ghét cay ghét đắng bà, nhưng nhiều người hơn nữa chịu ấn tượng sâu sắc của bà. Nhiều người hầu như nễ sợ bà, nhưng những người biết bà nhiều nhất lại yêu thương bà với một xúc động không bao giờ phai nhạt và còn yêu thương bà mãi mãi. Mới gần đây tôi có thấy một số người biết rõ bà H. P. BLAVATSKY và dường như nơi mỗi người ấy ký ức về bà vẫn còn tươi thắm như ký ức trong tâm hồn chính tôi, và chúng tôi chưa bao giờ ngừng yêu thương bà. Cái ấn tượng mà bà tạo ra thật là khôn tả. Tôi có thể hiểu rõ là một số người sợ bà, bà nhìn người suốt qua người ta, hiển nhiên là bà thấy rõ mọi điều có nơi người ta—và có lẽ những người không thích như vậy. Tôi đã từng nghe bà thỉnh thoảng lại tiết lộ các điều gây lúng túng về những người mà bà tiếp chuyện.

Tôi có bảo rằng cái cảm thức quyền lực áp đảo là điều đầu tiên mà người ta cảm nhận được; thế rồi thật khó nói kế tiếp là cái gì nhưng có một cảm thức về lòng dũng cảm không nao núng khi bà đã nói huỵch toẹt ra một cách mới mẻ thẳng thắn—người ta không thể nói như vậy là lỗ mãn, nhưng bà nói ra đúng cái điều mà bà nghĩ và đúng cái điều mà bà cảm nhận; lại nữa có những người không thích như vậy, họ thấy mình khá bị sốc khi phải đụng đầu vào sự thật trần trụi, nhưng đó chính là điều mà bà tặng cho họ. Ấn tượng đầu tiên là sức mạnh cuồn cuộn chảy ra và có lẽ là lòng dũng cảm, việc nói bộc trực, sự thẳng thắn là ấn tượng thứ nhì.

Tôi giả định rằng hầu hết chúng ta đã nghe nói là bà thường bị kết tội lừa đảo bởi những kẻ không thích hoặc sợ bà, kẻ thù nghĩ rằng bà phạm tội lừa đảo, giả mạo và đủ thứ chuyện phi thường. Ngày nay những kẻ lập lại lời nói xấu đó đều là những người chưa bao giờ thấy bà và tôi dám bảo rằng nếu bất kỳ kẻ nào giờ đây nói tới bà mà có dịp gặp mặt bà trong một tiếng đồng hồ thì họ ắt vỡ lẽ ra được sự tào lao trong lời phỉ báng của mình.Tôi có thể hiểu được việc người ta đã nói chống lại bà về một số chuyện khác, chẳng hạn như đôi khi bà không đếm xỉa gì tới thành kiến của người khác, có lẽ thỉnh thoảng cũng là điều tốt cho thiên hạ khi thấy người ta lật tẩy thành kiến của mình, nhưng buộc tội bà là lừa đảo hoặc giả mạo thì hoàn toàn điên rồ đối với bất kỳ người nào trong chúng tôi đã từng biết bà. Thậm chí người ta còn bảo rằng bà là một gián điệp của Nga (thời đó người ta rất sợ Nga âm mưu gì đó ở Ấn Độ). Nếu trên trần thế này mà có một người nào đó hoàn toàn không thích hợp với việc làm gián điệp thì người ấy chính là bà Blavatsky. Bà không thể giữ bí mật được sự lừa gạt cần thiết chỉ trong vòng 10 phút, bà luôn luôn để lộ nó ra bởi cái sự ăn nói bộc trực hầu như man dại này của mình. Bất cứ ai từng biết bà và đã từng sống chung nhà với bà đều không thể nghĩ tới cái ý tưởng lừa gạt thuộc bất cứ kiểu gì liên quan tới bà Blavatsky, vì họ đã biết rõ bà nói huỵch toẹt ra chính cái điều mà bà nghĩ và cảm nhận. Sự tuyệt đối chân thực của bà là một trong những đặc điểm nổi bật nhất của cái tính tình kỳ diệu phức tạp của bà.

Tôi nghĩ điều kế tiếp gây ấn tượng cho kẻ bàng quan đó là cái trí bà rất sắc sảo. Không có ngoại lệ nào, bà là người đàm đạo thú vị nhất mà tôi đã từng gặp và tôi đã gặp nhiều người rồi. Bà có cái năng khiếu đối đáp kỳ lạ nhất, có lẽ bà quá thừa cái năng khiếu ấy. Bà cũng có quá nhiều kiến thức về đủ thứ đề tài ngoài luồng—ở đây tôi ngụ ý những đề tài ít nhiều liên quan tới đường lối tư tưởng của chúng ta—nhưng thế thì cũng khó vỡ lẽ ra được cái phạm vi tư tưởng mà chúng ta bao trùm trong tựa đề Thông Thiên Học rộng lớn đến cỡ nào. Dù sao đi nữa thì điều này cũng liên quan tới việc biết một điều gì đó hoàn toàn theo một số lớn những đường lối khác hẳn. Bà Blavatsky có chính cái kiến thức ấy.

Cho dù cuộc đàm đạo xoay chuyển theo đường lối nào đi chăng nữa thì bà Blavatsky luôn luôn có một điều gì đó để nói về chuyện ấy và đó luôn luôn là một điều gì đấy rõ rệt không thông thường. Cho dù bà có ra sao đi chăng nữa thì bà cũng chẳng bao giờ giống như bình thường. Bà luôn luôn có một điều gì đó mới mẻ, nổi bật, thú vị, không bình thường để kể cho chúng tôi. Bà đã đi du hành khắp thế giới chủ yếu ở những nơi trên thế giới ít ai biết tới, và bà nhớ mọi thứ, xét theo biểu kiến, ngay cả những diễn biến nhỏ nhất đã từng xảy ra cho bà. Bà có đủ loại giai thoại huy hoàng, bà là một người kể chuyện kỳ diệu có thể kể chuyện đời mình rất hay và nêu rõ quan điểm của mình. Xét về phương diện ấy cũng như biết bao nhiêu phương diện khác, bà là một người đáng chú ý. Chẳng bao lâu sau, chỉ cần trò chuyện thân mật một chút nữa người ta cũng đụng phải cái trục lớn trung tâm trong cuộc đời bà là lòng tận tụy sùng tín nhiệt thành đối với Sư phụ. Bà nói về Ngài với một sự tôn kính thật đẹp đẽ—lại càng đẹp hơn do sự kiện người ta không thể mô tả bà Blavatsky chính xác là có bản chất kính cẩn. Ngược lại, bà luôn luôn nhìn thấy khía cạnh hài hước của bất cứ điều gì và mọi thứ. Ngoài cái sự kiện lớn trung tâm ấy ra đôi khi bà đùa giỡn về một số những điều mà một số chúng tôi coi là linh thiêng; nhưng đó là vì bà cực kỳ thắng thắn khiến cho bà rất ghét bất cứ điều gì có bản chất vờ vịt và có nhiều điều được người ta tôn kính thì thực ra chỉ là rỗng tuếch, mặc dù có vẻ tương cận với sự khả kính.

Cái bà gọi là sự khả kính tư sản, nói cho đúng hơn có bản chất vô giá trị đối với bà Blavatsky, bởi vì thường thường có quá nhiều sự đạo đức giả trong việc duy trì thể diện còn bên trong có những tư tưởng và xúc cảm chẳng khả kính chút nào hết. Trong những trường hợp như thế, bà bèn xé toạc bức màn che, lột trần sự thật ở bên dưới làm cho nạn nhân khốn khổ, không được hài lòng, vì đặc trưng ấy người ta không thể gọi bà là người kính cẩn. Nhưng cái lúc bà nói về Sư phụ mình thì giống như bà chuyển sang cung bậc nễ sợ yêu thương và người ta có thể thấy rằng tình cảm của bà đối với Ngài chính là cuộc sống của bà đối với Ngài. Việc bà hoàn toàn tin cậy Ngài, yêu thương và kính trọng Ngài tương phản với sự kiện bà thông thường không biết tôn kính cái gì, ắt là một sự kiện rất đẹp mà ta chứng kiến.

Tôi thiết tưởng đây là những sự kiện nổi bật nhất mà một người xa lạ ắt nhìn thấy nơi bà. Các hội viên còn trẻ khi lớn lên mà đọc sách của bà và vỡ lẽ ra một chút công ơn của bà đối với chúng ta thì những hội viên ấy có thể trích dẫn bà và bảo rằng bà là một người kỳ diệu xiết bao. Thế rồi rất có thể họ gặp những người bảo họ rằng bà đã bị lật tẩy và bị phát hiện là hành động lừa đảo. Mong sao những hội viên ấy sẽ hỏi kẻ nói xấu: “Bạn có biết bà không?” Họ ắt trả lời: “Ồ không, dĩ nhiên tôi không biết”. Những người nào có đọc bài này có thể đối đáp lại như sau: “Tôi đã đọc một bài tường trình do một người có biết bà rất nhiều; ông ấy bảo rằng mọi chuyện bịa đặt đó hoàn toàn không đúng sự thật—bà hoàn toàn không thể thực thi bất cứ hành động lừa đảo nào, bà không thể lừa gạt người ta theo cái cách thức được mô tả”.

Tôi có thể cung cấp cho bạn nhiều ví dụ trong đó bà bị buộc tội là lừa gạt, và tôi có thể nói chính xác với bạn điều gì đã thực sự xảy ra và tôi có thể đoan chắc với bạn rằng trong vấn đề đó tuyệt nhiên không có sự lừa đảo. Bản thân tôi có biết nhiều chuyện. Bạn có thể nghe nói nhiều về một phúc trình nào đó của một Ủy viên trong Hội Khảo cứu Tâm linh, ông ta đi sang tận Ấn Độ để khảo cứu về trường hợp của bà. Nếu có ai trích dẫn điều này cho bạn thì bạn có thể bảo họ rằng tôi vẫn đang còn sống, lúc đó tôi ở Adyar khi cái người thanh niên ấy (tôi lấy làm tiếc mà bảo rằng y là một thanh niên rất kiêu ngạo) đến Ấn Độ để phúc trình và tôi có thể nói với bạn một vài điều về bản phúc trình ấy cho thấy nó không đáng tin cậy đến chừng nào, mặc dù tôi tin chắc rằng y có ý định trung thực. Tôi được biết rằng nhiều năm sau này, y công nhận với bà Hội trưởng của chúng ta hiện nay là nếu y đã biết nhiều về vấn đề tâm linh vào năm 1884 như y đã biết vào lúc phát biểu ý kiến thì bản phúc trình của y ắt đã khác hẳn.

Y dứt khoát chống lại H. P. B. ở chỗ những bức thư xuất phát từ các Chơn sư, khi y bảo rằng chính bà đã viết ra những bức thư ấy. Bản thân tôi có nhận được những bức thư như thế khi bà ở cách xa hàng ngàn dặm. Tôi đã chứng kiến chúng xuất hiện khi bà có mặt và cũng đã nhìn thấy chúng xuất hiện khi bà ở nghìn trùng xa cách, và tôi biết qua bằng chứng không thể bác bỏ được rằng bà không viết ra những bức thư ấy. Tôi nói ra điều này vì tôi thiết tưởng thật có giá trị khi bạn có thể bảo rằng bạn đã tiếp kiến và biết một người nào đó sẵn sàng chứng nhận bằng cá nhân là không có sự lừa đảo về những điều như thế, chứng nhận của một nhân chứng đã tận mắt chứng kiến ắt có giá trị hơn thành kiến của nhiều người vốn không có mặt mà chỉ nghe những chuyện ấy qua lời người thứ ba hoặc thứ mười ba Nên nhớ rằng nói về mặt con người thì nếu không có bà Blavatsky ắt không có Hội Thông Thiên Học, không có sự trình bày đủ mọi giáo huấn huy hoàng cho dân chúng ở Âu Mỹ. Có lẽ tôi phải nói một chút nhiều hơn lẽ ra nên nói, bởi vì các Đấng Cao Cả đứng đằng sau, cùng một lúc nỗ lực qua hai kênh tiếp dẫn, một là bà Blavatsky và hai là Tiến sĩ Anna Kingsford. Tôi biết cả hai người này, tôi chỉ có thể nói rằng trong khi cách trình bày của Tiến sĩ Kingsford thật là kỳ diệu và thú vị thì nó không gây nhiều ấn tượng, không nắm bắt được thế giới trong một chừng mực đáng kể nào đấy. Còn sự tồn tại của Hội Thông Thiên Học cho thấy rằng cách trình bày của bà Blavatsky đạt được mục đích nêu trên.

Ngay cả Hội Thông Thiên Học cũng chỉ trình bày một phần nhỏ trong công trình của bà; ấy là vì đối với mọi hội viên thì lại có thể có mươi hoặc mười hai người không phải hội viên cũng đã đọc sách của bà và thu thập được nhiều kiến thức Thông Thiên Học. Như vậy giáo huấn của bà đã vượt ra ngoài qui mô của Hội Thông Thiên Học. Đó là điều mà bà Blavatsky đã làm cho chúng ta, vì vậy ta biết ơn bà bằng tình thương yêu và sự tưởng nhớ ân đức. Bà luôn luôn bảo cho ta biết rằng:

“Đây là những sự kiện, nhưng đừng tin chúng bởi vì tôi nói như thế. Hãy sử dụng lý trí và cảm thức phân biệt phải trái thông thường của mình, hãy khiến cho giáo huấn được sống động và tự mình chứng tỏ được nó. Đừng bới móc, cằn nhằn hoặc chỉ trích mà hãy làm việc”.

Chúng tôi chấp nhận thách đố của bà, nghe theo lời khuyên của bà thì chẳng bao lâu thấy rằng những phát biểu của bà được chứng minh và giáo huấn của bà là đúng thật. Vì vậy đối với các bạn, là những kẻ đi theo bà hiện nay, thì tôi xin bảo rằng: “Hãy đi và làm giống như vậy”. Tất cả các bạn phải biết chắc rằng chúng tôi chẳng bao giờ quên bà, hàng năm vào Ngày Hoa Sen Trắng, thể theo nguyện vọng của bà chúng tôi làm lễ tưởng niệm bà. Bà không yêu cầu bất cứ ai nói về bà, mặc dù tình thương và sự tôn kính của chúng tôi luôn luôn khiến chúng tôi làm như thế. Thậm chí bà cũng không yêu cầu người ta đọc sách của bà nhưng mà yêu cầu người ta đọc một điều gì đó trong Chí Tôn Ca và Ánh Đạo Phương Đông. Mãi tới nay điều này luôn luôn được thực hiện trong mọi Chi bộ Thông Thiên Học và tôi hi vọng rằng nó luôn luôn như thế và chúng ta sẽ chẳng bao giờ để cho ký ức về người Sáng lập mờ nhạt đi trong tâm trí của ta. Tôi muốn bạn vỡ lẽ ra sự thật ấy và luôn luôn nhớ kỹ nó là mọi điều mà chúng ta có và đã học hỏi được dưới bất cứ hình thức nào có thể đến với chúng ta hiện nay thì đó thật sự là do công ơn của bà Blavatsky.

CHAPTER V

The Letter Answered—Lá Thư Được Trả Lời

it will be remembered that in a previous chapter I mentioned a letter which I had addressed to the Master Kuthumi, confiding it to a spirit named Ernest for delivery. I received a reply eventually—but not through Ernest and not until the very eve of Madame Blavatsky’s departure for India. The text of the Master’s letter to me will be found in Mr. Jinarājadāsa's book Letters from the Masters of the Wisdom, p. 27. He told me that it was not necessary to be in India during the seven years of probation—that a chela could pass them anywhere. He warned me that as a Priest of the Christian Church I had a certain share in the collective karma of that body, and He distinctly intimated that there was much in that karma which was terribly evil. He suggested that I might go to Adyar for a few months, to see whether I could work with the Headquarters staff, and added the significant remark: “He who would shorten the years of probation has to make sacrifices for Theosophy.” His letter concluded with the words:

You ask me what rules you must observe during this time of probation, and how soon you might venture to hope that it could begin I answer: You have the making of your own future in your own hands, as shown above, and every day you may be weaving its woof. If I were to demand that you should do one thing or the other, instead of simply advising, I should be responsible for every effect that might flow from the step, and you acquire but a secondary merit. Think, and you will see that this is true. So cast the lot yourself into the lap of Justice, never fearing but that its response will be absolutely true. Chelaship is an educational as well as a probationary stage, and the chela alone can determine whether it shall end in adeptship or failure. Chelas, from a mistaken idea of our system, too often watch and wait for orders, wasting precious time which should be taken up with personal effort. Our cause needs missionaries, devotees, agents, even martyrs perhaps. But it cannot demand of any man to make himself either. So now choose and grasp your own destiny—and may our Lord’s the Tathagata’s memory aid you to decide for the best.1

I wished to say in answer to this that my circumstances were such that it would be impossible for me to come to Adyar for three months, and then return to the work in which I was then engaged; but that I was perfectly ready to throw up that work altogether, and to devote my life absolutely to His service. Ernest having so conspicuously failed me, I knew of no way to send this message to the Master but to take it to Madame Blavatsky, and as she was to leave England on the following day for India, I hastened up to London to see her.

It was with difficulty that I induced her to read the letter, as she said very decidedly that such communications were intended only for the recipient. I was obliged to insist, however, and at last she read it and asked me what I wished to say in reply. I answered to the above effect, and asked her how this information could be conveyed to the Master. She replied that He knew it already, referring of course to the exceedingly close relation in which she stood with Him, so that whatever was within her consciousness was also within His when He wished it.

She then told me to wait by her, and not to leave her on any account. She adhered absolutely to this condition, even making me accompany her into her bedroom when she went to put on her hat and, when a cab was required, declining to allow me to leave the room and go to the door to whistle for it. I could not at all understand the purpose of this at the time, but afterwards I realized that she wished me to be able to say that she had never been out of my sight for a moment between the time when she read my letter from the Master and my receipt of the reply to it. I remember as vividly as if it were yesterday how I rode with her in that hansom cab, and the bashful embarrassment that I felt, caused partly by the honour of doing so, and partly by my fear that I must be inconveniencing her horribly, for I was crushed side ways into a tiny corner of the seat, while her huge bulk weighed down her side of the vehicle, so that the springs were grinding all through the journey. Mr. and Mrs. Cooper-Oakley were to accompany her on the voyage to India, and it was to their house that I went with her very late that night—in fact, I believe it was after mid-night, so I really ought to say very early the next morning.

Các bạn ắt hẳn nhớ rằng trong một chương trước kia, tôi có đề cập tới một bức thư mà tôi gửi cho Chơn sư Kuthumi rồi giao nó cho một vong linh tên là Ernest chuyển dùm. Rốt cuộc tôi cũng nhận được thư hồi âm nhưng không phải thông qua Ernest mà chỉ mãi tới tận một ngày trước khi bà Blavatsky lên đường đi Ấn Độ. Nguyên bản bức thư của Chơn sư gửi cho tôi có ở trang 27 quyển sách Thư của các Chơn sư Minh Triết mà tác giả là ông Jinarajadasa. Chơn sư cho tôi biết rằng tôi không cần ở Ấn Độ trong vòng bảy năm dự bị và giai đoạn đó có thể diễn ra ở bất cứ nơi đâu. Ngài cảnh báo tôi rằng trên cương vị là một linh mục của Giáo hội Kitô, tôi có một phần chia nào đấy trong cộng nghiệp của đoàn thể đó và Ngài tiết lộ rõ rệt rằng nghiệp ấy có nhiều điều xấu ác ghê gớm. Ngài gợi ý rằng tôi có thể đi Adyar trong vòng vài tháng để xem liệu tôi có thể làm việc với giới chức sắc ở Tổng hành dinh hay chăng và Ngài còn nêu thêm một nhận xét có ý nghĩa: “Kẻ nào muốn rút ngắn thời gian dự bị thì phải hi sinh cho Thông Thiên Học”. Bức thư của Ngài kết thúc bằng những lời lẽ như sau: Con hỏi ta phải tuân theo những qui tắc nào trong thời gian dự bị và liệu con có dám hi vọng rằng chẳng bao lâu nữa nó sẽ bắt đầu; ta xin trả lời là con nắm giữ tương lai mình trong tay mình và trên kia ta có nói rằng mỗi ngày con sẽ dệt nên số phận của mình. Nếu ta đòi hỏi rằng con phải làm điều này điều kia thay vì chỉ khuyến cáo, thì ta ắt chịu trách nhiệm về mọi hậu quả có thể bắt nguồn từ bước đi đó, còn con chỉ được một công trạng thứ yếu thôi. Vậy con hãy suy nghĩ để xem đâu là điều chân thực. Con hãy đặt số phận của chính mình vào trong lòng Công lý, đừng bao giờ e sợ vì đáp ứng của Công lý hoàn toàn chân thực. Muốn làm đệ tử thì cũng mang tính giáo dục như giai đoạn làm đệ tử dự bị và chỉ có đệ tử thực thụ thôi mới quyết định liệu giai đoạn này chấm dứt bằng quả vị Chơn sư hay thất bại. Do một ý niệm sai lầm về hệ thống của chúng tôi, đệ tử thực thụ rất thường khi chực chờ mệnh lệnh, phí phạm thời gian quí báu lẽ ra nên được dùng cho sự tinh tấn cá nhân. Chính nghĩa của chúng tôi cần có những người truyền giáo, kẻ sùng tín, tác nhân đại diện, có lẽ ngay cả thánh tử vì đạo nữa. Nhưng nó không thể đòi hỏi bất cứ ai làm điều ấy. Vậy thì giờ đây con hãy chọn lựa và nắm vững số phận của chính mình—mong sao việc nhớ tới Đức Thế Tôn Như Lai sẽ giúp cho con quyết định được điều tốt nhất. 12 Tôi muốn nói để trả lời cho điều này là hoàn cảnh của tôi khiến tôi không thể tới Adyar lưu ngụ trong vòng ba tháng rồi trở lại làm việc ở cái chỗ mà lúc ấy tôi đã dấn thân vào; nhưng tôi hoàn toàn sẵn lòng vứt bỏ hết cái công việc đó và tận hiến trọn cả đời tôi để phụng sự Ngài. Ernest hiển nhiên là đã không đáp ứng được tôi, cho nên tôi không còn cách nào khác là gửi thông điệp cho Chơn sư phải nhờ bà Blavatsky chuyển dùm; và vì bà sắp phải rời nước Anh để rồi hôm sau lên đường đi Ấn Độ cho nên tôi vội vã tới Luân Đôn để gặp bà. Tôi thật khó khăn để dẫn dụ bà đọc bức thư, vì bà nói rất dứt khoát rằng việc giao tiếp như thế chỉ dự định dành cho người nhận thư. Song le, tôi bắt buộc phải năn nỉ và cuối cùng bà cũng đọc, rồi hỏi tôi xem tôi muốn được hồi âm ra sao. Tôi trả lời với nội dung nêu trên và hỏi bà xem thông tin như vậy có thể được chuyển tới Chơn sư như thế nào. Bà trả lời rằng Chơn sư đã biết nó rồi, dĩ nhiên bà đề cập tới mối quan hệ vô cùng mật thiết của bà đối với Ngài sao cho bất cứ điều gì có trong tâm thức bà cũng ở trong tâm thức Ngài khi Ngài muốn. Thế rồi bà bảo tôi hãy chờ bà, đừng bỏ mặc bà vì bất cứ lý do gì. Bà bám cứng lấy điều kiện đó, thậm chí bảo tôi đi theo bà vào tận phòng ngủ khi bà đi cất cái mũ và khi cần có một xe ngựa thì bà từ chối không để cho tôi rời phòng đi ra cửa huýt còi gọi xe. Vào lúc ấy tôi tự nhiên không thể hiểu được mục đích của điều này, nhưng sau đó tôi vỡ lẽ ra rằng bà muốn tôi có thể nói rằng bà chưa bao giờ ở ngoài tầm nhìn của tôi trong một lúc từ cái khi bà đọc thư của tôi cho đến khi tôi nhận được thư hồi âm của Chơn sư. Tôi còn nhớ như in trong óc rằng chuyện giống như mới ngày hôm qua việc tôi cùng với bà đi trên cái xe ngựa đó và tôi cảm thấy e thẹn bối rối, một phần là vì có vinh hạnh được đi với bà và một phần vì tôi e rằng mình gây nhiều điều bất tiện cho bà; ấy là vì tôi phải nép mình vào một cái góc nhỏ xíu, ngồi thu lu trong đó còn cái thân hình đồ sộ của bà ép phía bên kia thân của bà đè vào chiếc xe sao cho suốt cuộc hành trình lò xo cứ kêu kẻo kẹt mãi. Ông bà Coper Oakley cũng đi kèm theo bà trong cuộc hành trình tới Ấn Độ và chính là tôi phải đi với bà quả thật vào đêm rất khuya tới tận nhà của ông bà—tôi tin rằng đã sau nửa đêm—do đó tôi sẽ nói tới chuyện xảy ra rất sớm vào buổi sáng hôm sau.

My First Phenomenon— Hiện Tượng Lạ Đầu Tiên Của Tôi.

Even at that hour a number of devoted friends were gathered in Mrs. Oakley’s drawing-room to say farewell to Madame Blavatsky, who seated herself in an easy-chair by the fireside. She was talking brilliantly to those who were present, and rolling one of her eternal cigarettes, when suddenly her right hand was jerked out towards the fire in a very peculiar fashion, and lay palm upwards. She looked down at it in surprise, as I did myself, for I was standing close to her, leaning with an elbow on the mantel-piece: and several of us saw quite clearly a sort of whitish mist form in the palm of her hand and then condense into a piece of folded paper, which she at once handed to me, saying: “There is your answer.” Every one in the room crowded round, of course, but she sent me away outside to read it, saying that I must not let anyone see its contents. It was a very short note and ran as follows:

Since your intuition led you in the right direction and made you understand that it was my desire you should go to Adyar immediately, I may say more. The sooner you go the better. Do not lose one day more than you can help. Sail on the 5th, if possible. Join Upasika3 at Alexandria. Let no one know that you are going, and may the blessing of our Lord and my poor blessing shield you from every evil in your new life.

Greeting to you, my new chela.

K. H.

Ngay cả vào cái giờ rất sớm ấy cũng có một số người bạn tận tụy tụ tập trong phòng khách của bà Oakley để tạm biệt bà Blavatsky, bản thân bà ngồi chễm chệ trong một chiếc ghế bành gần lò sưởi. Bà đang nói chuyện linh hoạt với những người có mặt và đang cuộn một điếu thuốc lá; thế rồi thình lình bàn tay phải của bà bị giật giật hướng về lò sưởi một cách rất đặc thù, lòng bàn tay ngửa lên. Bà kinh ngạc nhìn xuống, và cả tôi nữa vì tôi đang đứng gần kề bà, cùi tay dựa vào tấm che lò sưởi, nhiều người trong chúng tôi thấy rất rõ một loại hình dạng trắng mờ mờ như sương mù trong lòng bàn tay bà rồi nó ngưng tụ thành một mẩu giấy gấp lại; bà tức khắc đưa nó cho tôi bảo rằng: “Đây là thư hồi âm của bạn”. Dĩ nhiên mọi người trong phòng bu đông xúm lại, nhưng bà đẩy tôi ra bên ngoài đọc thơ và bảo rằng tôi không được cho bất cứ ai nhìn thấy nội dung của nó. Đó là một bức thư rất ngắn với nội dung như sau:

“Bởi vì trực giác của con đã đưa con đi đúng hướng và khiến con hiểu rằng chinh ta muốn con đi Adyar ngay tức khắc, cho nên ta có thể nói thêm nữa. Con càng đi sớm bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Đừng để lỡ một ngày nhiều hơn mức con có thể chịu được. Nếu có thể được con nên lên tàu ngày thứ năm. Con sẽ gặp Upasika ở Alexandria [1]. Đừng để cho ai biết con lên đường và mong sao phước lành của Chúa và phước lành khiêm tốn của ta có thể che chở cho con tránh khỏi mọi điều xấu ác trong cuộc sống mới của con.

Thân chào, đệ tử mới của ta.

Marching Orders— Lệnh Lên Đường.

In occult matters to hear is to obey. Madame Blavatsky left London later on in the same day for Liverpool, where she boarded the s.s. Clan Drummond. Meantime I was bustling round to steamer offices trying to obtain a passage for myself. The P. and O. steamer which was to leave on the 5th had absolutely not a single vacant berth in any class, so I was reluctantly compelled to seek elsewhere. After many inquiries the only opportunity that offered itself was to take the Messageries Mari-times s.s. Erymanthe from Marseilles to Alexandria, and in order to do that I had to leave London on the night of the 4th. I hurried down to Hampshire to pack my goods and chattels and to make my final arrangements; and I may say that I did not go to bed until after I had left England! Mohini and Miss Francesca Arundale were at Charing Cross Station to see me depart and give me their earnest good wishes for the strange new life which was opening before me.

Trong những vấn đề huyền bí thì nghe lệnh là phải tuân lệnh. Bà Blavatsky sau này rời Luân Đôn vào cùng ngày ấy để đi Liverpool nơi bà đáp tàu thủy Clan Drummond. Trong khi đó tôi tíu tít quanh những phòng bán vé tàu thủy để ra sức có được chuyến đi cho chính mình. Tàu thủy P. và O. phải lên đường vào thứ năm không còn một chỗ trống nào ở bất cứ hạng nào, cho nên tôi miễn cưỡng bắt buộc phải tìm chỗ khác. Sau khi tôi dọ hỏi nhiều lần thì cơ hội duy nhất là phải đi tàu thủy Chuyển tin vào thời Maritimes tên là Erymanthe từ Marseiile tới Alexandria, và muốn làm như vậy tôi phải rời Luân Đôn vào đêm ngày mùng bốn. Tôi hối hả về Hampshire để chuẩn bị hành lý và dàn xếp cuối cùng, tôi có thể nói rằng tôi không đi ngủ cho đến tận khi tôi đã rời nước Anh! Mohini và cô Francesca Arundale tới tận Trạm Charing Cross để tiển tôi và tha thiết chúc lành cho tôi thượng lộ bình an với một cuộc sống mới kỳ lạ đang mở ra trước mắt mình.

In Quarantine— Bị Cách Ly.

I reached Marseilles in the ordinary course, only to find that there was supposed to be cholera in the town. I embarked upon the Erymanthe, and I remember that our voyage through the Mediterranean was rather rough. On that voyage I read Esoteric Buddhism for the tenth time; we were fairly thorough in our studies in those days. When we reached Alexandria I found, to my immense disgust, that because of that rumour of cholera at Marseilles the Egyptian authorities proposed to put us all in quarantine for five days. You may imagine my impatience, and my fear that the delay might cause me to miss Madame Blavatsky altogether. They would not allow us to stay in the town, but carried us off to some barracks at Ramleh, where they charged us £1 a day for very unsatisfactory accommodation. Of course we were all of us perfectly well, and we were fully persuaded that the whole affair was a farce, played simply in order to extract money from us; and the broad smiles of the Egyptian officials showed that they thoroughly appreciated the situation.

At our only point of communication with the outer world there was a very heavy double fence, the component parts of which were perhaps five yards apart. A sort of little wooden railway ran across from one of these fences to the other, and a box with a rope attached to each end of it was hauled backwards and forwards to bring in supplies from without or to deliver our letters and any articles which we might wish to buy. A large bowl of water was placed in the box and we were ordered to throw into it any coins with which we wanted to pay for our purchases, while letters which we sent out to be posted were stabbed in two or three places and rigorously fumigated. The proceedings were more than ridiculous, and we kept up an attitude of feebly joking with the attendants, insisting that when any change had to be sent across to us, it also should be thrown into the water!

By means of one of the mutilated letters I communicated with the British Consul and learnt from him that Madame Blavatsky and her party had duly arrived, but had gone on to Port Said, where they were awaiting me. As soon as we were released from durance vile I posted off to the Hotel Abbat to have a real bath and some decent food, and then proceeded to inquire as to transit to Port Said. There was no railway in those days, and I found that my next opportunity was again to take the steamer Erymanthe, which had also been detained in quarantine just as we had. We should certainly have been far more comfortable if they had had the sense to leave us on board her, but as we were passengers for Alexandria they would not do that; besides, in that case, the steamer instead of the Egyptian Government would have had our £1 a day!

Tôi tới Marseille theo lộ trình bình thường, chỉ có điều phát hiện ra rằng người ta giả định rằng ở thị trấn này đang có bệnh dịch tả. Tôi lên tàu Erymanthe và tôi còn nhớ hành trình vượt qua Địa trung hải khá gay go. Trong cuộc hành trình ấy, tôi đọc quyển Phật giáo Bí truyền đến lần thứ mười; chúng tôi đã nghiên cứu nó rất tỉ mỉ vào thời đó. Khi tới Alexandria tôi vô cùng kinh tởm khi phát hiện ra rằng vì có tin đồn Marseille có bệnh dịch tả, cho nên nhà cầm quyền Ai Cập có lệnh cách ly chúng tôi trong vòng năm ngày. Bạn có thể tưởng tượng tôi sốt ruột đến chừng nào vì e rằng sự chậm trễ có thể khiến tôi không gặp bà Blavatsky. Người ta không để cho chúng tôi ở thị trấn Alexandria mà đưa chúng tôi tới tận một vài trại lính ở Ramlech, nơi đó họ tính tiền chúng tôi một bảng Anh một ngày và cung cấp tiện nghi rất không thỏa đáng. Cố nhiên tất cả chúng tôi đều đang khỏe mạnh và tin chắc rằng toàn bộ vụ việc này chỉ là một trò hề được dàn dựng để móc túi chúng tôi, và nụ cười toe toét của các quan chức Ai Cập cho thấy rằng họ hoàn toàn lợi dụng tình huống đó. Ở cái nơi duy nhất mà chúng tôi có thể giao tiếp được với thế giới bên ngoài có một hàng rào kép mà bộ phận của nó có lẽ cách nhau năm thước Anh. Có một loại đường rầy nhỏ bằng gỗ chạy từ hàng rào này sang hàng rào kia với một cái hộp có một dây thừng cột vào mỗi bên để được kéo lên kéo xuống mang theo đồ tương tế từ bên ngoài, chuyển giao thư của chúng tôi và bất cứ đồ đạc nào mà chúng tôi muốn mua. Trong hộp có một bát nước lớn, chúng tôi được lệnh quẳng vào đó bất kỳ đồng tiền nào chúng tôi muốn trả để mua đồ, còn thư từ mà chúng tôi gửi ra cho bưu điện bị chọc thủng hai ba chỗ và bị xông khói tỉ mỉ. Chuyện như vậy thật quá lố bịch và chúng tôi cứ giữ một thái độ hơi diễu cợt với kẻ tham dự khi khăng khăng bảo rằng bất cứ lúc nào có sự thay đổi đến với chúng tôi thì hãy quẳng nó vào nước!

Nhờ vào một trong những bức thư bị cắt xén, tôi giao tiếp được với tòa lãnh sự Anh và được cho biết rằng bà Blavatsky cùng với đoàn tùy tùng đã đến rồi, nhưng lại đi tới Port Said và chờ chúng tôi ở đó. Ngay khi chúng tôi được phóng thích thì tôi bèn đi ngay tới khách sạn Abbat để tắm rửa thỏa thích và ăn uống thoải mái rồi mới tiến hành dò hỏi việc quá cảnh tới Port Said. Thời đó không có đường rầy xe lửa và tôi thấy cơ hội kế tiếp của mình lại là phải đi tàu thủy Erymanthe, nó cũng bị giữ lại cách ly giống như chúng tôi. Chúng tôi chắc chắn có được thoải mái hơn nhiều nếu người ta có ý thức để cho chúng tôi ở trên tàu, nhưng vì chúng tôi là hành khách đi tới Alexandria cho nên người ta không làm như vậy; vả lại nếu làm như thế thì trong trường hợp này tàu thủy—thay vì nhà cầm quyền Ai Cập—ắt thu được của chúng tôi mỗi ngày một bảng Anh.

We Meet Again— Chúng Tôi Gặp Lại Nhau

We sailed the same evening, and reached Port Said on the following morning, where Mr. A. J. Cooper-Oakley came off to meet me, and took me ashore to a hotel where I found Madame Blavatsky and Mrs. Oakley sitting on the veranda. Madame Blavatsky’s last word to me in London had been: “See that you do not fail me”; and now her greeting was: “Well, Leadbeater, so you have really come in spite of all difficulties.” I replied that of course I had come, and that when I made a promise I also made a point of keeping it; to which she answered only: “Good for you!” and then plunged into an animated discussion—all discussions in which Madame Blavatsky took part were invariably animated—which had evidently been interrupted by my arrival. Though she said no more than this, she was clearly pleased that I had come, and seemed to regard my presence in her retinue as a kind of card in the game which she had to play. She was returning to India expressly in order to refute the wicked slanders of the Christian College missionaries, and she appeared to consider that to bring back with her a clergyman of the Established Church who had abandoned a good position in that Church to become her enthusiastic pupil and follower was somehow an argument in her favour.

Cũng chiều hôm đó, chúng tôi lên đường và tới Port Said vào sáng ngày hôm sau, ông A. J. Cooper Oakley đến gặp tôi, đưa tôi lên bờ tới một khách sạn nơi tôi thấy bà Blavatsky và bà Oakley ngồi ở hàng hiên. Lời dặn dò cuối cùng của bà đối với tôi ở Luân Đôn là:

“Mong sao bạn không phụ lòng tôi” và bây giờ bà chào đón tôi như sau: “Tốt thôi! Leadbeater, vậy là bất chấp mọi khó khăn bạn đã thực sự đến đây”. Tôi trả lời rằng cố nhiên là tôi đến vì tôi đã hứa là tôi phải giữ lời; bà chỉ trả lời như sau: “Tốt cho bạn thôi!”; rồi lại đắm chìm vào cuộc thảo luận sinh động—bất cứ sự thảo luận nào có bà Blavatsky tham gia đều luôn luôn là sinh động—cuộc thảo luận này hiển nhiên là bị cắt đứt khi tôi tới. Mặc dù bà không nói gì nhiều hơn, thế nhưng rõ ràng là bà bằng lòng vì tôi đã tới và có vẻ coi sự có mặt của tôi tháp tùng bà là một loại quân bài trong ván bài mà bà phải chơi. Bà đang cấp tốc phải trở về Ấn Độ để bác bỏ những lời nói xấu độc ác của các nhà truyền giáo thuộc Trường Kitô giáo và bà có vẻ xét thấy việc mang theo một giáo sĩ thuộc Giáo hội đã xác lập—giáo sĩ này đã từ bỏ một địa vị bảnh chọe trong Giáo hội ấy để trở thành kẻ nhiệt tình theo học với bà—dù sao đi nữa việc đó cũng là một lập luận bênh vực cho bà.

1 Mr. Jinarājadāsa adds the following note: “Our Lord’s the Tathagata’s memory,” is a most striking phrase, understood only many long years after the receipt of the letter. It refers to incidents in past lives of long ago, when C. W. L. had seen the Great Lord face to face. It is as if the Master tried in this manner to go behind the personality of C. W. L. direct to the Ego, in whose consciousness the great truths existed as matters of direct knowledge.

2 Ông Jinarajadasa có thêm Chú thích sau đây: “Nhớ tới Đức Thế Tôn Như Lai” là một cụm từ nổi bật nhất mà chỉ nhiều năm dài sau khi nhận được bức thư, C. W. L. mới hiểu được nó. Nó đề cập tới những diễn biến trong các kiếp đã qua từ lâu rồi khi C. W. L. diện kiến Đức Thế Tôn mặt đối mặt. Dường như thể bằng cách này Chơn sư cố gắng đi lòn đằng sau phàm ngã của C. W. L. lên thẳng tới chơn ngã, trong đó tâm thức về những sự thật vĩ đại tồn tại dưới dạng kiến thức trực tiếp.

3 Upasika means a disciple in a female body; our Masters often spoke of Madame Blavatsky by this title.

CHAPTER VI

An Abrupt Change— Một Sự Thay Đổi Đột Ngột

Our last chapter ended with my meeting with Madame Blavatsky at a hotel at Port Said, where I fondly expected that we might wait in peace until our steamer arrived. I did not know Madame Blavatsky as well then as I came to do later, or I should probably have felt less sanguine. I engaged a bedroom and hunted out a few score mosquitoes from inside the curtains of its bed, and was already looking forward with pleasure to the idea of settling down for the night. Soon after darkness fell, however, Madame Blavatsky had one of those sudden flashes of inspiration which so frequently came to her from the inner side of things. She usually attributed them to one or other of those whom she called the Brothers—a term under which she included not only some of the Masters but also a number of Their disciples. In this case the hint which she received completely upset all our plans, for she was instructed that instead of waiting quietly for our steamer we were to post off immediately to Cairo, where we should obtain some information that would be of great use to her in dealing with her treacherous servants, the Coulombs.

Chương vừa qua kết thúc với việc tôi gặp bà Blavatsky ở một khách sạn tại Port Said, ở đó tôi rất trông mong rằng chúng tôi có thể yên bình chờ đợi cho đến khi tàu thủy tới. Lúc bấy giờ tôi chưa biết rõ bà Blavatsky như sau này, cho nên có lẽ tôi đã chẳng cảm thấy lạc quan hơn. Tôi rút vào phòng ngủ rồi đuổi ra mấy chục con muỗi vo ve bên trong cái màn che giường của tôi và đã nhìn thấy phía trước khoái chí với ý tưởng đêm nay sẽ được ngủ yên. Song le, chẳng bao lâu sau khi trời tối sẩm thì bà Blavatsky lại có một tia chớp lóe đột ngột cảm hứng đến với bà từ nội giới. Bà thường gán chúng cho một trong các đấng mà bà gọi là các Huynh đệ—thuật ngữ bà dùng bao hàm chẳng những một số các Chơn sư mà còn là một số đệ tử Chơn sư nữa. Trong trường hợp này lời bóng gió mà bà nhận được làm đảo lộn hoàn toàn kế hoạch của chúng tôi, vì bà nhận được lệnh rằng thay vì im lặng chờ đợi tàu thủy, chúng tôi phải đi ngay tới Cairo nơi chúng tôi có được một thông tin nào đấy rất có ích lợi cho bà để đối phó với những kẻ giúp việc phản bội là Coulombs.

The Khedive’s Packet-Boat— Tàu Chở Thư Khedive.

In those days there was no railway running from Port Said, and the only way in which we could reach Cairo was by travelling down the Suez Canal as far as Ismailia, whence we could take train to the capital. The journey down the canal was performed in a tiny little steamer somewhat like a tug-boat, which was dignified with the name of the Khedive’s packet-boat. Every night it left Port Said at midnight and reached Ismailia in the early morning. In spite of its high-sounding name it was perhaps the dirtiest and least convenient craft which I have encountered; but of course we had to make the best of it. In the stern there was a little hutch about ten feet square which was called the general cabin, and out of that at the back opened a kind of cupboard which was labelled as the ladies' room. It was, however, windowless, so that when the door was shut it was in perfect darkness. This we resigned to Madame Blavatsky.

Mr. Oakley, who was much fatigued and, I think, somewhat upset by the sudden change in our plans, threw himself down on a hard wooden seat at one side of the general cabin; while Mrs. Oakley and I, having regard to the army of enormous cockroaches which was already in full possession of both cabins, preferred to spend the night in walking up and down the few yards of open deck, which gave us about six steps each way as the limit of our promenade. We paused occasionally to glance in at Mr. Oakley, but he slept on peacefully, although absolutely covered by the loathsome creatures already mentioned—and others. Mrs. Oakley, who was a particularly fastidious person in ordinary life, was somewhat depressed—perhaps not unnaturally; so I did my best to comfort her with glowing pictures of the glory and beauty which I hoped were awaiting us in India.

This went on for some hours until the monotony was suddenly broken by pitiable cries from Madame Blavatsky in her cupboard. Mrs. Oakley at once dashed in bravely, facing the insect plague with only a momentary shudder; but she found Madame Blavatsky very ill. and in great pain, and vehemently demanding conveniences which on that squalid little tug-boat simply did not exist. Fortunately our next stop was at the village of Kantara—the place where the pilgrim-track from Cairo to Jerusalem crosses the canal; and we prevailed on the captain of our funereal craft to wait for us there for a few minutes. There was of course nothing in the nature of a gangway, nor even a wharf; but they produced from somewhere a plank—an ordinary builder’s plank, perhaps a foot in width, and Mr. Oakley and I had to carry our unfortunate leader ashore by that means. (Madame Blavatsky at that time weighed 245 pounds; I know because I weighed her myself on the butcher’s steel-yard on board the s.s. Navarino a few days later.)

You may imagine that it was nervous work, and Madame Blavatsky’s language on the occasion was more conspicuous for strength than suavity. But somehow or other the feat was achieved; we conveyed her safely ashore, and back again on board a little later—which was even a more serious undertaking, because of the pronounced upward slope of the plank. She was restored to her cubby-hole, and the heroic Mrs. Oakley sat beside her until she sank to sleep. I believe Mr. Oakley went to sleep again; but his wife, as soon as she could leave our leader, came and paced the deck with me until in the pale gold of the Egyptian morning we moored beside the wharf at Ismailia.

Vào thời đó không có đường rầy xe lửa xuất phát từ Port Said, và cách duy nhất mà chúng tôi có thể đi tới Cairo là đi xuống kinh đào Suez xa mãi tới tận Ismailia, rồi từ đó chúng tôi có thể đáp xe lửa đi về thủ đô. Cuộc hành trình đi xuống kinh đào được thực hiện trong một chiếc tàu thủy nhỏ xíu hơi giống như tàu kéo được vinh danh là tàu chở thư Khedive. Mỗi đêm nó rời Port Said vào lúc nửa đêm rồi tới Ismailia vào sáng sớm. Mặc dù có tên đao to búa lớn nhưng có lẽ nó là cái tàu dơ dáy nhất mà tôi đã từng gặp, nhưng cố nhiên chúng tôi phải tận dụng nó. Ở nơi trang nghiêm nhất có một cái lều nho nhỏ vào khoảng 10 bộ vuông mà chúng tôi gọi là cái phòng chính, rồi từ đó mở ra phía sau có một loại tủ đứng được gọi tên là căn phòng dành cho quí bà. Tuy nhiên nó không có cửa sổ, cho nên khi cửa ra vào đóng lại thì nó tối đen như mực. Chúng tôi dành phòng này cho bà Blavatsky.

Ông Oakley vốn quá mệt mỏi và tôi thiết tưởng là ông khá bị xáo trộn bởi việc đột nhiên thay đổi kế hoạch, cho nên buông mình xuống một cái ghế làm bằng gỗ cứng ở một bên của phòng chính, trong khi đó bà Oakley và tôi vì đã nhìn thấy đội quân khổng lồ những con gián đã chiếm đầy cả hai phòng cho nên đi đi lại lại qua đêm chỉ một vài thước Anh trên cái bong tàu lộ thiên, nó chỉ dành cho chúng tôi mỗi bước đi được sáu bước ở mỗi phía thì đã hết giới hạn của việc đi lại. Thỉnh thoảng chúng tôi ngừng lại liếc nhìn ông Oakley, nhưng ông vẫn ngủ ngon lành, mặc dù hoàn toàn bị bu kín bởi những con gián dễ sợ mà chúng tôi đã nói tới cũng như những con vật khác. Bà Oakley là một người đặc biệt khó tính trong sinh hoạt thường nhật khá nản chí, có lẽ cũng tự nhiên thôi; vì vậy tôi làm hết sức mình để an ủi bà bằng những bức tranh sáng lạn về sự huy hoàng và đẹp đẽ mà tôi hi vọng đang chờ đón chúng tôi ở Ấn Độ.

Chuyện này diễn tiến được vài tiếng đồng hồ cho đến khi sự tẻ nhạt ấy đột ngột bị phá vỡ bởi những tiếng kêu thảm thương của bà Blavatsky trong phòng riêng của bà. Bà Oakley ngay tức khắc dũng cảm xông vào đương đầu với một đám côn trùng mà chỉ tạm thời nhún vai, nhưng bà thấy bà Blavatsky rất yếu và rất đau đớn lớn tiếng yêu sách về tiện nghi, mà trên cái tàu kéo nho nhỏ chết tiệt này thì ở đâu ra mà có. May mắn thay trạm dừng kế tiếp của chúng tôi là ở tại làng Kantara—nơi mà chuyến tàu chở khách hành hương từ Cairo tới Jerusalem băng ngang qua kênh đào; chúng tôi lợi dụng vị thuyền trưởng của cái tàu ma quái ấy đang chờ đợi chúng tôi ở đó trong vài phút. Dĩ nhiên chẳng có gì mang bản chất là một cầu tàu hoặc thậm chí là bến tàu, nhưng ở đâu đó cũng có một tấm ván để leo lên cầu tàu, đó là một tấm ván xây dựng thông thường có lẽ rộng một bộ Anh; ông Oakley và tôi phải khiêng vị lãnh đạo bất hạnh của chúng ta lên bờ bằng phương tiện ấy (vào lúc đó bà cân nặng tới 245 cân Anh; tôi biết điều này vì tôi có cân bà trên cái cân của người bán thịt trên bong tàu thủy Navarino vài ngày sau đó).

Các bạn hãy tưởng tượng rằng đây là một chuyện căng thẳng xiết bao, ngôn ngữ của bà Blavatsky vào dịp này rõ rệt là đầy sức mạnh hơn là sự ngọt ngào. Nhưng bằng một cách nào đấy chúng tôi cũng thành tựu được chiến tích này và đưa bà lên bờ an toàn rồi trở lại bong tàu sau đó một chút—thậm chí đây còn là một việc nghiêm trọng hơn bởi vì tấm ván rõ rệt là dốc lên. Bà được đưa thẳng vào cái chỗ thoải mái của mình, còn bà Oakley dũng cảm ngồi kế bên bà cho đến khi bà ngủ thiếp đi. Tôi tin rằng ông Oakley cũng lại ngủ tiếp, còn vợ ông ngay khi có thể rời chỗ vị lãnh đạo của chúng ta bèn đi lại bước trên bong tàu cùng với chúng tôi cho đến khi có ánh sáng vàng lợt của buổi sáng ở Ai Cập, thì chúng tôi mới bỏ neo tại bến tàu ở Ismailia.

Ismailia

There was an interval of some hours before our train started, so it seemed reasonable to go to a hotel and have some breakfast. There were at that time two hotels in the town, and their respective touts were vehemently pressing their claims on the wharf. Mr. Oakley, who was supposed to be the business man of the party, made some sort of a bargain with one of them. Madame Blavatsky, though still looking pale, was able to come on shore and to walk slowly up and down the wharf, but she did not seem anxious for companionship, and in fact rather repelled it. We saw her exchange a few words with one or two officials and with the men from the hotels; and when a little later a dilapidated carriage drove up and we wished to start for the hotel, the two porters at once engaged in a savage fight over our luggage.

When we called on the station-master to interfere, it transpired that while Mr. Oakley had made an arrangement with one of these men Madame Blavatsky had meantime engaged the other, and naturally, as she spoke in Arabic, we had no inkling of this proceeding on her part until the time came for our departure. So we had to go to the hotel which she had chosen, and to pacify the other unfortunate man as well as we could. Matters were sorted out eventually, of course by bribing both parties to the quarrel, and at last we were allowed to depart in peace and partake of our breakfast. Poor Madame Blavatsky still suffered somewhat, and was evidently not in the best of humours; but she indignantly scouted the timid suggestion that we should spend a day at Ismailia in order that she might recover her strength. So in due course we took our places in the train.

Có một thời khoảng vài tiếng đồng hồ trước khi xe lửa của chúng tôi khởi hành, vì vậy dường như là hợp lý khi chúng tôi đi tới khách sạn và dùng bữa sáng. Vào lúc đó ở thị trấn này có hai khách sạn và đám cò khách sạn liếng thoắng mời gọi trên bến tàu. Ông Oakley mà chúng tôi giả định là doanh nhân trong đám người chúng tôi tiến hành mặc cả với một trong đám cò khách sạn. Bà Blavatsky mặc dù vẫn còn xanh mét đã có thể xuống bãi biển đi lò dò lên xuống bến tàu, nhưng bà có vẻ chẳng màng kết bạn với ai và thật ra ai thấy bà cũng dội. Chúng tôi thấy bà trao đổi vài lời với một hai viên chức và nhân viên khách sạn, khi một ít lâu sau có một chiếc xe ngựa rách nát chạy tới và chúng tôi muốn khởi hành đến khách sạn thì hai người đánh xe ngay tức khắc dấn thân vào một cuộc ẩu đả dã man để giành giật hành lý chúng tôi. Khi chúng tôi gọi ông trưởng trạm tới can thiệp thì mới vỡ lẽ ra rằng trong khi ông Oakley dàn xếp với một trong hai người khuân vác thì bà Blavatsky lại bắt mối người khác, và tự nhiên là vì bà nói tiếng Ả Rập cho nên chúng tôi chẳng biết gì về cuộc mặc cả của bà cho tới giờ lên đường. Vì vậy chúng tôi phải đi đến khách sạn mà bà đã chọn và vuốt ve tên cò bất hạnh kia đến mức tối đa. Rốt cuộc mọi vấn đề đều được giải quyết, dĩ nhiên bằng cách đút tiền cho cả đôi bên cãi nhau và cuối cùng chúng tôi cũng được phép khởi hành bình an để đi ăn sáng. Tội nghiệp bà Blavatsky vẫn còn hơi đau yếu và rõ rệt là tâm trạng không khá thoải mái lắm, nhưng bà công phẩn gạt bỏ khinh bỉ cái lời gợi ý rụt rè theo đó chúng tôi nên ở lại một ngày tại Ismailia để cho bà có thể phục hồi sức khỏe. Thế là sớm muộn gì chúng tôi cũng có chỗ ngồi trong chiếc xe lửa.

A Message— Một Thông Điệp

As the journey continued Madame Blavatsky gradually recovered her strength, and a little conversation arose; but it was distinctly coloured by the influence of the previous night, for our leader favoured us with the most gloomy prognostications of our future fate:

“Ah! you Europeans”, she said, “you think you are going to enter upon the path of occultism and pass triumphantly through all its troubles; you little know what is before you; you have not counted the wrecks by the wayside as I have. The Indians know what to expect, and they have already passed through tests and trials such as have never entered into your wildest dreams; but you, poor feeble things, what can you do?”

She continued these Cassandralike prophecies with a maddening monotony, but her audience was far too reverential to try to change the subject. We sat in the four corners of the compartment, Madame Blavatsky facing the engine, and Mr. Oakley sitting opposite to her with the resigned expression of an early Christian martyr; while Mrs. Oakley, weeping profusely, and with a face of ever-increasing horror, sat opposite to me. For myself, I had a sort of feeling like putting up an umbrella against a heavy shower, but I reflected that after all a good many other men had entered upon that path and had reached its goal, and it seemed to me that even if I could not reach it in this life I could at any rate lay a good foundation for the work of the next incarnation. Che sara, sara!

In those prehistoric days trains were usually lit by smoky oil lamps, and in the centre of the roof of each compartment there was a large round hole into which porters inserted these lamps as they ran along the roofs of the carriages. This being a day train, however, there was no lamp, and one could see the blue sky through the hole. It happened that Mr. Oakley and I were both leaning back in our respective corners, so that we both saw a repetition of the phenomenon which I have previously described as occurring in England; we saw a kind of ball of whitish mist forming in that hole, and a moment later it had condensed into a piece of folded paper, which fell to the floor of our compartment. I started forward, picked it up, and handed it at once to Madame Blavatsky, taking it for granted that any communication of this nature must be intended for her. She at once unfolded it and read it, and I saw a red flush appear upon her face.

“Umph,” she said, “that’s what I get for trying to warn you people of the troubles that lie before you,” and “she” threw the paper to me.

“May I read it?” I said, and her only reply was: “Why do you think I gave it to you?”

I read it and found it to be a note signed by the Master Kuthumi, suggesting very gently but quite decidedly that it was perhaps a pity, when she had with her some earnest and enthusiastic candidates, to give them so very gloomy a view of a path which, however difficult it might be, was destined eventually to lead them to joy unspeakable. And then the message concluded with a few words of kindly commendation addressed to each of us by name. I am sorry that I cannot be quite certain of the exact wording of that message, though I am sure that I have correctly reproduced its general tenor. The little sentence addressed personally to me was: “Tell Leadbeater that I am satisfied with his zeal and devotion.”

Khi cuộc du hành tiếp diễn thì bà Blavatsky dần dần phục hồi sức khỏe và bắt đầu nói chuyện một chút; những câu chuyện rõ rệt nhuốm màu sắc chịu ảnh hưởng của đêm hôm trước bởi vì vị lãnh đạo của chúng tôi đã đưa cho chúng tôi những lời tiên đoán u ám nhất về số phận tương lai của chúng tôi.

Bà bảo rằng: “Ôi những người Âu Mỹ các bạn, các bạn cứ tưởng rằng mình sắp bước vào con đường Huyền bí học rồi đắc thắng vượt qua những rắc rối của nó; các bạn chẳng biết bao nhiêu về những gì ở phía trước mắt mình; các bạn đâu phải gặp những khốn khổ dọc đường mà tôi đã gặp. Người Ấn Độ biết mình phải trông mong gì và họ đã trải qua những trắc nghiệm và thử thách mà bạn có nằm mơ cũng chẳng bao giờ nghĩ tới; còn các bạn là những sinh vật khốn khổ yếu đuối liệu các bạn có thể làm được gì?”

Bà tiếp tục những lời tiên tri này với một vẻ đơn điệu làm người ta phát điên lên, nhưng kẻ lắng nghe bà quá kính cẩn cho nên không dám đổi đề tài. Chúng tôi ngồi ở bốn góc của toa xe, bà Blavatsky đối diện với đầu máy, còn ông Oakley ngồi đối diện bà với vẻ cam chịu của một thánh tử vì đạo của Kitô hữu thời sơ khai; trong khi đó bà Oakley khóc sướt mướt với khuôn mặt càng ngày càng khiếp sợ thì ngồi đối diện với tôi. Về phần mình, tôi có cảm tưởng đang phải giương dù lên chống lại một cơn mưa rào, nhưng tôi hi vọng rằng xét cho cùng thì nhiều người khác đã bước vào con đường đó và đã đạt tới mục tiêu, cho nên dường như dẫu tôi không thể đạt được mục tiêu trong kiếp này thì dù sao đi nữa tôi cũng xây dựng một nền móng tốt cho công việc của kiếp sau.

Biết ra sao ngày sau! Vào cái thời tiền sử đó thì xe lửa thường được thắp sáng bằng những ngọn đèn dầu ám khói và ở giữa mái của mỗi toa xe có một lỗ tròn lớn mà những người phu xe nhét vào đó những chiếc đèn khi họ chạy dọc trên mái của những toa xe. Song le đây là xe lửa đang chạy ban ngày cho nên không có đèn và người ta có thể nhìn thấy bầu trời xanh qua cái lỗ hổng đó. Ngẫu nhiên là cả ông Oakley lẫn tôi đều đang dựa người vào cái góc của mình, cho nên cả hai chúng tôi đều thấy lập lại cái hiện tượng lạ mà tôi đã mô tả trước kia có diễn ra ở nước Anh; chúng tôi thấy một loại quả banh sương mù trăng trắng được hình thành trong cái lỗ ấy và một lúc sau nó ngưng tụ thành một mẩu giấy gấp lại rồi rơi xuống sàn trong toa xe của chúng tôi. Tôi tiến tới nhặt nó lên rồi giao nó ngay cho bà Blavatsky, coi như đương nhiên là bất kỳ sự giao tiếp nào có bản chất như vậy ắt phải dự tính dành cho bà. Bà ngay tức khắc giở nó ra đọc và tôi thấy khuôn mặt bà có vẻ đỏ bừng lên.

Bà bảo: “Ôi! Đây chính là điều mà tôi đã cố gắng cảnh báo quí bạn về những rắc rối đang chờ đợi trước mặt quí bạn”, rồi bà bà quẳng tờ giấy cho tôi. Tôi hỏi: “Liệu tôi có được phép đọc nó không?” thì bà chỉ trả lời rằng: “Tại sao bạn lại nghĩ tôi đưa nó cho bạn?”

Tôi đọc tờ giấy và thấy rằng đó là một bức thư ngắn do Chơn sư Kuthumi ký tên, gợi ý rất nhã nhặn nhưng hoàn toàn dứt khoát rằng có lẽ thật tội nghiệp khi bà có những ứng viên đầy nhiệt huyết và nhiệt thành mà lại vẽ ra cho người ta một viễn cảnh u ám như vậy về đường đạo, cho dù nó có thể khó khăn đến đâu đi nữa thì rốt cuộc nó ắt phải đưa người ta tới niềm vui khôn tả. Thế rồi thông điệp kết thúc bằng một vài lời lẽ khen ngợi tử tế đích danh mỗi người chúng tôi. Rất tiếc là tôi không thể hoàn toàn chắc chắn về lời lẽ chính xác trong thông điệp ấy, nhưng tôi tin chắc rằng tôi đã mô phỏng chính xác nội dung cơ bản của nó. Câu chuyện ngắn gọn dành cho cá nhân tôi là như sau: “Hãy cho Leadbeater biết rằng ta rất bằng lòng với nhiệt tình và lòng tận tụy sùng tín của y”.

A Little Dust—Một Chút Bụi Đất

I need hardly say that we were all much comforted and uplifted and filled with gratitude; but, though no rebuke could possibly have been more gently worded, it was evident that Madame Blavatsky did not altogether appreciate it. Before our conversation began she had been reading some book which she wished to review for The Theosophist, and she was still sitting with the book open upon her knee and the paper-knife in her hand. She now resumed her reading, stroking the dust of the desert (which came pouring in at the open window) off the pages of the book with her paper-knife as she read. When an especially vicious puff came in Mr. Oakley started forward and made a motion as if to close the window; but Madame Blavatsky looked up at him balefully, and said with unmeasured scorn: “You don’t mind a little dust, do you?” Poor Mr. Oakley shrank back into his corner like a snail into its shell, and not another word did our leader utter until we steamed into the station at Cairo. The dust certainly was rather trying, but after that one remark we thought it best to suffer it in silence. I remember that poor Mrs. Oakley was wearing one of those curious contrivances which ladies call a feather boa; and before we reached Cairo the whole thing was just a solid rope of sand, the feathers being indistinguishable.

Tôi hầu như không cần nói rằng chúng tôi đều cảm thấy an ủi, phấn khởi và đầy lòng biết ơn; nhưng mặc dù không có lời quở trách nào nhẹ nhàng hơn nữa, song hiển nhiên là bà

Blavatsky hoàn toàn đánh giá cao điều đó. Trước khi câu chuyện bắt đầu, bà đã đọc một quyển sách nào đấy mà bà muốn duyệt lại cho Tạp chí Nhà Thông Thiên Học và bà vẫn còn ngồi mở quyển sách ra đặt trên đầu gối, tay lăm lăm cầm con dao rọc giấy, giờ đây bà lại tiếp tục đọc và trong khi đọc thì dùng con dao rọc giấy phủi cát bụi sa mạc (nó ùa vào qua cửa sổ mở) ra khỏi những trang sách. Khi có một luồng gió đặc biệt độc hại ùa vào thì ông

Oakley tiến lên làm ra vẻ muốn đóng cửa sổ; nhưng bà Blavatsky nhìn ông kinh hãi rồi bảo bằng một giọng khinh thường không kềm chế: “Chẳng lẽ ông lại quan tâm tới một chút cát bụi đó sao?”. Ông Oakley khốn khổ co lại vào trong góc toa giống như con ốc rút mình vào trong vỏ, còn vị lãnh đạo của chúng ta không nói lời nào nữa cho tới khi đoàn tàu chúng tôi lừng lững tiến vào trạm Cairo. Đất bụi chắc chắn là khá thử thách, nhưng sau đó khi có nhận xét như vậy thì chúng tôi nghĩ tốt nhất là hãy âm thầm chịu đựng nó. Tôi còn nhớ rằng bà Oakley khốn khổ có mặc một trong những loại hàng hiệu mà quí bà gọi là con trăn có lông vũ; trước khi chúng tôi tới Cairo thì toàn bộ cái thứ ấy chỉ còn là một sợi dây cát bẩn thỉu không phân biệt được đám lông vũ nữa.

Another Abrupt Change— Một Sự Thay Đổi Đột Ngột Khác Nữa

At Cairo we engaged a carriage and drove as a matter of course to Shepheard’s Hotel, that being the usual resort of English people. It would seem that some thirty or forty other people had the same idea, for we found the great entrance-hall crowded, and everything in dire confusion. Our luggage, of which we had a considerable amount, had been piled upon the floor in the middle of the hall; and Madame Blavatsky sat upon it, while Mr. Oakley was trying to fight his way through the crowd to the clerk’s desk in order to engage rooms for us. He had barely succeeded in doing this—in fact, he was still struggling in the crowd on his way back to us—when she jumped up from her seat and called to him excitedly, telling him that we were not to stay at Shepheard’s at all, but instead were to make our way to the Hotel d’Orient, which had been kept by the Coulombs during their stay in Egypt—the suggestion being that in that house we could acquire a good deal of information which would be of use to Madame Blavatsky when she came to deal with them later.

Of course this caused the usual confusion; poor Mr. Oakley had to go back and countermand the rooms which he had engaged, and we made our way to the other hotel, which, though certainly less fashionable, proved comfortable enough. It was in the Ezbekieh Square, and we had some pleasant rooms looking out over the garden. We stayed there for several days, and the suggestion which had been made to Madame Blavatsky bore much fruit, as she was able to obtain from the present host and hostess of the hotel, and from some servants who had worked in the house for some years, numerous evidential details of unreliable and discreditable conduct on the part of the previous occupants.

Ở Cairo chúng tôi leo lên xe ngựa rồi dĩ nhiên đi tới khách sạn Shepheard, đó là nơi nghỉ dưỡng thông thường của người Anh. Dường như có khoảng 30—40 người khác cũng nghĩ như vậy, vì chúng tôi thấy đại sảnh đường tiếp tân đặc nghẹt người, mọi thứ thật là hỗn độn. Hành lý của chúng tôi có khá nhiều—cũng được chất đống trên sàn ở giữa sảnh đường; bà Blavatsky ngồi trên đó, còn ông Oakley mở đường đi xuyên qua đám đông tới bàn làm việc của viên chức để thuê phòng cho chúng tôi. Ông chỉ vừa mới thành công khi làm được như vậy—thực ra ông vẫn còn đang chen lẫn trong đám đông để tìm đường về phía chúng tôi—thì bà lại nhảy dựng lên từ chỗ ngồi và rối rít gọi ông bảo rằng chúng ta tuyệt nhiên không được lưu ngụ ở Shepheard, thay vào đó phải tìm đường đi tới khách sạn Phương Đông mà đám người Coulombs đã lưu ngụ ở đấy trong khi ở Ai Cập—điều này gợi ý rằng ở căn nhà đó chúng tôi có thể thu thập được nhiều thông tin mà bà Blavatsky cần dùng tới khi bà phải đối phó với họ sau này. Dĩ nhiên điều này lại gây ra sự bối rối như thông lệ, ông Oakley khốn khổ phải trở lại hủy lệnh đặt phòng, rồi chúng tôi tìm đường đi tới khách sạn khác mặc dù không mang tính thời thượng lắm, nhưng vẫn tỏ ra đủ tiện nghi đúng mức. Nó tọa lạc ở Quảng trường Ezbekich và chúng tôi có một số phòng dễ chịu nhìn ra vườn. Chúng tôi ở lại đó trong nhiều ngày và lời gợi ý mà bà Blavatsky nêu ra cũng có nhiều kết quả, bởi vì bà có thể thu thập được từ ông bà chủ khách sạn hiện nay cũng như một số nhân viên phục vụ trong tòa nhà ấy vài năm có được nhiều chi tiết làm bằng chứng về hạnh kiểm không đáng tin cậy của những người đã lưu ngụ ở đó trước kia.

An Elder Brother— Một Huynh trưởng.

It was in Madame Blavatsky’s room in that hotel that I first saw one of the members of the Brotherhood. While sitting on the floor at her feet, sorting out some papers for her, I was startled to see standing between us a man who had certainly not entered by the door, which was straight before me the whole time, and had not opened. I jumped up uttering a sharp exclamation of surprise, which caused Madame to laugh inordinately. She said banteringly:

“You will not go far on the path of occultism if you are so easily startled at a little thing like that.”

Then she presented me to the visitor, who proved to be he who is now the Master Djwal Kul, although he had not then taken the Initiation which made him an Adept.

Our stay in Egypt was in many ways a most remarkable experience, as Madame Blavatsky constantly told us much of the inner side of what we saw there. She had been in Egypt before, and was well acquainted with some of the officials, including the Prime Minister, Nubar Pasha, who very kindly invited us all to dinner. She also seemed to know quite intimately the Russian Consul, Monsieur Hitrovo, who was exceedingly kind and attentive to her, sending her every morning a great bouquet of lovely flowers, and treating her in every way as a lady of the highest distinction, as of course she really was in her own country. Also she introduced us to Monsieur Maspero, the Curator of the Boulak Museum, as it was then. I remember particularly how we went through the Museum with this gentleman and how Madame Blavatsky was able to give him a great mass of most interesting information about the various curiosities that were under his care.

Chính trong căn phòng của bà Blavatsky ở khách sạn đó mà lần đầu tiên tôi đã thấy một trong những thành viên của Quần Tiên Hội. Trong khi đang ngồi bệt trên sàn cạnh chân bà để lọc lựa một số tài liệu cho bà, tôi giật mình khi thấy đứng giữa chúng tôi là một người chắc chắn không bước vào qua cửa ra vào, vì lúc nào cửa cũng ở ngay trước mắt tôi và nó chưa được mở ra. Tôi nhảy nhổm lên, thốt ra một tiếng kêu sửng sốt, điều này khiến bà cười ngặt nghẽo và ôn tồn bảo: “Bạn ắt không đi xa được trên con đường Huyền bí học nếu bạn dễ dàng giật mình như vậy trước một chuyện lặt vặt như thế”. Rồi bà giới thiệu tôi với khách viếng thăm, vị này tỏ ra là đấng bây giờ là Chơn sư Djwal Kul, mặc dù vào lúc ấy ngài chưa trải qua cuộc Điểm đạo khiến ngài trở thành Chơn sư. Xét về nhiều mặt, việc chúng tôi lưu ngụ ở Ai Cập là một trải nghiệm đáng chú ý nhất, vì bà Blavatsky thường xuyên cho chúng tôi biết nhiều điều về khía cạnh nội giới của những gì mà chúng tôi thấy ở đó. Trước kia bà có ở Ai Cập và quen thuộc rất nhiều với một số quan chức bao gồm cả Thủ tướng Nubar Pasha. Ông này rất tử tế, mời tất cả chúng tôi dùng bữa tối. Bà có vẻ cũng quen thân với lãnh sự Nga, ông Hitrovo, ông vô cùng tử tế và quan tâm tới bà, sáng nào cũng gửi cho bà một bó hoa lớn với những đóa hoa dễ thương và xét về mọi mặt đối xử với bà như một mệnh phụ đẳng cấp cao nhất. Lẽ dĩ nhiên bà quả thật như vậy ở xứ sở của chính bà. Bà cũng giới thiệu chúng tôi với ông Maspero, là vị Quản thủ Viện bảo tàng Boulak vào lúc bấy giờ. Tôi còn nhớ đặc biệt chúng tôi đi tham quan hết Viện bảo tàng cùng với nhà quí tộc này và bà Blavatsky đã có thể cung cấp cho ông rất nhiều thông tin đáng chú ý nhất về đủ thứ món quí hiếm đang được ông quản lý.

A Gruesome Ceremony— Một nghi lễ dễ sợ