← Thông Thiên Học đến với tôi như thế nào – Song ngữ

She Knew Arabic—Bà Biết Tiếng Á Rập

We saw many strange things, and it was of course an enormous advantage to us to have with us one who understood so well the Oriental customs, and could explain the meaning of much that without her we could not have comprehended. I remember one day we were looking out of the window of the hotel, when we saw a number of men, obviously Muhammadans, gather together in a circle in the garden of the Square, all facing inwards. After some preliminary mutterings they all began to go through a sort of exercise of extraordinary violence, raising their hands above their heads as high as they could reach, bending backwards as far as possible, and then swinging forwards until with the tips of their fingers they touched the ground in front of them; and each time they made that convulsive swing they all shouted in unison the name of God— “Al-lah-ha!”

This remarkable performance went on for about half-an-hour and then quite suddenly they all executed a left turn, so that, although still standing in a ring, they were one behind the other. Then each put his hands on the shoulders of the man in front of him, and they began to run round in that ring, all barking in unison exactly like dogs. This continued for perhaps five minutes, and then one of the men fell out of the circle and sank to the ground in a fit, struggling horribly and foaming at the mouth. In a few moments all the rest were in the same condition, and the scene was most hideous. After a little while one by one they seemed to recover, and sat up looking round in a dazed sort of way, and presently they helped one another to their feet and staggered away.

But the extraordinary thing was that all the passers-by in that crowded street took the whole thing as a matter of course, and no one even stopped to watch these men—still less to offer any assistance. Madame Blavatsky told us that they belonged to a certain sect which made a practice of such a performance, and that by means of it they believed themselves to become possessed by certain spirits from whom, while in that condition, they could obtain all sorts of useful information—such as, for example, where a buried treasure might be found—or that they could receive advice as to any difficulty in which they might happen to find themselves. She also described to us in the most gruesome manner the peculiarly ghastly and evil elemental creatures which they gathered round themselves by this abominable ceremony.

Chúng tôi chứng kiến nhiều điều kỳ lạ và dĩ nhiên chúng tôi được lợi ích rất nhiều vì có bên mình một người hiểu rất rõ phong tục Đông phương, và có thể giải thích ý nghĩa của nhiều điều mà nếu không có bà thì chúng tôi không thể hiểu được. Tôi nhớ có một ngày chúng tôi nhìn ra ngoài cửa sổ khách sạn thì thấy một số người gọi là tín đồ Hồi giáo tụ tập lại thành vòng tròn trong khu vườn của quãng trường, tất cả đều quay mặt vào bên trong. Sau khi thốt lên một vài lời lẩm bẩm mào đầu, tất cả những người này bắt đầu trải qua một loại thao tác bạo động phi thường, giơ tay lên trên đầu cao hết mức, uốn người ra phía sau tối đa, rồi lại nghiêng mình về phía trước cho đến khi đầu ngón tay chạm vào mặt đất trước mặt họ. Mỗi khi họ thực hiện sự uốn éo co giật ấy thì họ đều đồng thanh hô vang danh xưng của Thượng Đế—“Al-lah-ha!”. Màn trình diễn đáng chú ý này tiếp tục trong khoảng nửa tiếng đồng hồ, thế rồi hoàn toàn đột ngột tất cả lại xoay sang bên trái sao cho mặc dù vẫn còn đứng thành một vòng họ đã người này đứng sau người kia. Rồi mỗi người lại đặt tay lên vai của người trước mặt và họ bắt đầu chạy vòng vòng, tất cả đều đồng thanh sủa như những con chó. Điều này có lẽ tiếp tục trong vòng năm phút, thế rồi một trong những người ấy ngã lăn quay ra khỏi vòng, rớt xuống đất trong một cơn vật lộn khủng khiếp sùi bọt mép. Chỉ ít lâu sau tất cả những người còn lại cũng ở tình trạng giống như vậy và phong cảnh thật là dễ sợ, sau đó không lâu thì hết người này tới người kia có vẻ phục hồi, ngồi phắt lên nhìn quanh với một vẻ ngây dại và chẳng bao lâu sau họ giúp nhau đứng lên rồi lảo đảo đi mất.

Nhưng cái chuyện lạ thường là ở chỗ mọi người khách đi ngang qua đường phố đông đúc ấy đều coi toàn thể chuyện này là đương nhiên, thậm chí chẳng có ai ngừng lại để quan sát những người ấy chứ đừng nói chi tới việc đề nghị giúp đỡ. Bà Blavatsky bảo chúng tôi rằng, họ thuộc về một giáo phái nào đấy vốn đang thực hành một màn trình diễn như vậy và nhờ vào đó họ tin rằng mình sẽ được nhập xác bởi một vài tinh linh mà trong tình huống đó có thể thu thập được từ đám tinh linh ấy đủ thứ thông tin hữu ích—chẳng hạn như có thể tìm được một kho báu bị chôn giấu—hoặc họ có thể nhận được những lời khuyên về bất kỳ khó khăn nào mà họ ngẫu nhiên gặp phải. Bà cũng mô tả cho chúng tôi một cách ghê tởm nhất những tinh linh ngũ hành đặc biệt ma quái và gian tà tụ tập xung quanh qua cái nghi lễ dễ sợ ấy.

She Knew Arabic—Bà Biết Tiếng Á Rập

Madame Blavatsky understood Arabic, and she used to amuse us greatly by translating for our benefit the private remarks which were being made by the grave and dignified Arab merchants, as they sat talking to one another in the bazaar. After they had for some time been calling us Christian dogs, and speaking disrespectfully of our female relatives for many generations, she blandly asked them in their own language whether they thought that was the way in which a good son of the Prophet should speak of those from whom he hoped to gain much in the way of business. The men were always covered with confusion, not having expected that any European could possibly understand them.

Arabic, however, seems to have been the only Oriental language with which she was acquainted; she did not know Sanskrit, and many of the difficulties of our Theosophical terminology arise from the fact that in those days she would describe what she saw or knew, and then ask any Indian who happened to be near what was the Sanskrit name for it. Very often the gentleman who provided her with the term had not clearly understood what she meant; and even when he did, we must remember that she asked adherents of different schools of philosophy, and that each answered according to the shade of meaning applied to the term in his teaching.

Bà Blavatsky biết tiếng Ả Rập và bà thường làm cho chúng tôi vui vẻ rất nhiều bằng cách giúp cho chúng tôi những lời nhận xét riêng tư của đám thương nhân Ả Rập nghiêm trang và uy nghi khi họ ngồi tán gẫu với nhau ở chợ. Sau khi họ đã có lúc gọi chúng tôi là những con chó Kitô hữu, rồi nói bất kính về người quen thuộc trong nhiều thế hệ của chúng tôi đang mang xác nữ, thì bà nhã nhặn yêu cầu họ xem trong ngôn ngữ của chính họ liệu họ nghĩ ra sao đây có phải là cách thức của đứa con ngoan ngoãn của bậc đạo sư nói về những người mà y hi vọng thu lợi được nhiều qua việc buôn bán. Những người này luôn luôn tỏ ra lúng túng vì không trông mong rằng bất cứ người Âu Tây nào có thể hiểu được mình. Song le tiếng Ả Rập dường như là ngôn ngữ Đông Phương duy nhất mà bà quen biết. Bà không biết tiếng Bắc phạn và nhiều khó khăn trong kho thuật ngữ Thông Thiên Học của chúng ta bắt nguồn từ sự kiện vào thời đó bà muốn mô tả điều mà bà nhìn thấy hoặc biết, rồi kế đó hỏi bất cứ người Ấn Độ nào ngẫu nhiên ở gần bà xem y gọi cái đó bằng danh xưng Bắc phạn nào. Rất thường khi nhà quí tộc ấy cung cấp cho bà cái thuật ngữ mà không hiểu rõ lắm bà ngụ ý muốn nói gì; và ngay cả khi hiểu thì ta phải nhớ rằng bà hỏi những tín đồ thuộc các trường phái triết học khác nhau và mỗi người trả lời theo cái sắc thái ý nghĩa được áp dụng cho thuật ngữ này trong giáo huấn của mình.

Phenomena— Những Hiện Tượng Lạ.

Many curious phenomena were constantly taking place around her at this period. First, she was herself the most striking of all the phenomena, for her changes were protean. Sometimes the Masters Themselves used her body, and wrote or spoke directly through her. At other times when her ego was elsewhere engaged, one or other of two pupils of lower degree than herself would take the body, and there were even certain occasions when another woman used to be in charge—I think a Tibetan. I have myself frequently seen all these changes take place, and I have seen the new man who entered the body looking round to discover the condition of affairs into which he had come—trying to take up the thread of a conversation, for example. Yet with all this, she was in no sense of the word like an ordinary medium, for the true owner of the body stood more or less within reach all the time in full consciousness, and thoroughly understood what was going on.

These amazing changes led sometimes to the most extraordinary complications. The chela who was suddenly called in to occupy the body was of course ignorant of what had been said a few minutes before, and so was occasionally betrayed into what seemed bare-faced contradictions. I remember a story told to me later by a member of the Avenue Road household, which gives a good illustration of the difficulties we had to encounter. The narrator was a man of some legal experience, and was consequently usually deputed to act as representative of the household, or of Madame Blavatsky, when there was any business to be done with the lawyers.

Vào thời kỳ ấy có nhiều hiện tượng kỳ lạ thường xuyên diễn ra xung quanh bà. Trước hết bản thân bà là một điều nổi bật nhất trong mọi hiện tượng lạ vì bà cứ thay đổi liên tục. Có khi chính các Chơn sư mượn xác của bà, nói hoặc viết trực tiếp thông qua bà, cũng có khi chơn ngã của bà đang dấn thân nơi nào khác thì một hai đệ tử ở trình độ thấp hơn bà lại mượn xác bà, thậm chí có một số trường hợp có một phụ nữ khác thường phụ trách việc này mà tôi nghĩ đó là một người Tây Tạng. Bản thân tôi thường thấy mọi sự thay đổi này diễn ra và tôi đã chứng kiến cái người mới nhập vào xác bà ngó quanh quất để khám phá ra tình hình sự việc mà y vừa mới xen vào, chẳng hạn như cố gắng bắt kịp mạch lạc của câu chuyện. Thế nhưng cho dù mọi điều đó xảy ra, bà tuyệt nhiên không giống như một đồng từ thông thường theo nghĩa của từ này, vì chủ nhân ông thật sự của thể xác ít nhiều lúc này cũng có đầy đủ ý thức ở trong phạm vi gần đó và hoàn toàn hiểu rõ điều gì đang xảy ra. Những thay đổi kỳ diệu này thỉnh thoảng gây ra những điều phiền phức lạ thường nhất. Người đệ tử đột ngột được kêu gọi mượn xác bà dĩ nhiên chẳng biết gì về điều được nói ra trước đó vài phút, cho nên thỉnh thoảng lại bộc lộ điều có vẻ là trắng trợn nói ngược lại. Tôi còn nhớ một câu chuyện mà sau này một hội viên ở chủ hộ Đường Avenue kể lại cho tôi minh họa những khó khăn mà chúng tôi gặp phải. Người kể chuyện là người có kinh nghiệm về pháp lý và do đó thường là đại biểu thay mặt cho chủ hộ hoặc cho bà Blavatsky khi có bất cứ chuyện gì giao tiếp với các luật sư.

A Characteristic Experience— Một Trải Nghiệm Đặc Trưng

On a certain day some such business arose; I do not know its precise nature, but it involved the signing by Madame Blavatsky of several documents. Our member laid these documents before her, and endeavoured with a true legal sense of responsibility to explain them to her, but she did not seem to comprehend at all clearly, and indeed pushed the papers aside somewhat impatiently. Having, as he supposed, obtained all the necessary signatures, he withdrew and was about to start on his journey to the city; but, finding the weather colder than he expected, he decided to wear an overcoat, and ran upstairs to his room to fetch it.

Changing his papers from one pocket to another, he ran through them mechanically to see that all were there, and fortunately noticed that one of them was unsigned; so on his way downstairs he entered Madame Blavatsky’s room once more, saying:

“O, H. P. B., here is one of these papers which I have overlooked; will you please sign it?”

“What papers?” demanded Madame Blavatsky.

“Only one more of those which you signed a few minutes ago.”

“What do you mean? I have signed no papers,” she returned indignantly.

“But, H. P. B., here they are!” protested the mystified member; and he spread them out before her.

“O, I see!” she said, apparently mollified; “but what is their purport?”

Our friend repeated his explanations; and not only were they fully understood this time, but this Madame Blavatsky was a better man of business than he was, and asked him questions which he was unable to answer!

No wonder that strangers did not always quite grasp the situation!

I remember an occasion on which she bought in the scent-bazaar at Cairo a tiny bottle of attar of roses, for use in the shrine-room at Adyar, paying £2 for it. When we were sitting at lunch in the hotel half-an-hour afterwards, at a small table reserved for our party in an alcove, two English sovereigns fell out of space upon the table, and Madame Blavatsky explained that she had been told that she ought not to spend money upon Them in this way, as we should need every shilling that we had before we reached Adyar—a statement which certainly proved true.

At one time and another I have seen a good many of the phenomena which were so closely associated with Madame Blavatsky. I have seen her precipitate drawings and writings, and I have also seen her find a missing object by occult power. On several occasions I have seen letters fall out of the air in her presence; and I must also state that I have seen such a letter fall at the Headquarters at Adyar when she was six thousand miles away in England, and again that I myself have several times had the privilege of being employed by the Master to deliver just such letters after her departure from the physical plane.

In those early days of the Society messages and instructions from the Masters were frequent, and we lived at a level of splendid enthusiasm which those who have joined since Madame Blavatsky’s death can hardly imagine. Those of us who have had the inestimable privilege of direct touch with the Masters have naturally retained that enthusiasm, but it is not easy for us, whose powers are so much less than hers, fully to impart it to newer members. I have sometimes wondered, however, how many of our present-day members would have found themselves able to endure the somewhat severe but remarkably effective training through which she put her pupils; I can testify to certain radical changes which her drastic methods produced in me in a very short space of time—also to the fact that they have been permanent!

When I came into her hands I was just an ordinary lawn-tennis-playing curate—well-meaning and conscientious, I believe, but incredibly shy and retiring, with all the average Englishman’s horror of making himself conspicuous in any way or occupying a ridiculous position. After a few weeks of her treatment I had reached a stage in which I was absolutely hardened to ridicule, and did not care in the slightest degree what anybody thought of me. I mean that quite literally; it was not that I had learnt to endure disapproval stoically, in spite of internal anguish, but that I actually did not care what people thought or said of me, and indeed never considered that matter at all. And I have never cared since! I admit that her methods were drastic and distinctly unpleasant at the time, but there was no question as to their effectiveness.

Apart from the great Masters of Wisdom, I have never known any person from whom power so visibly radiated. Clever she certainly was; not a scholar in the ordinary sense of the word, yet, as I have already said, possessed of apparently inexhaustible stores of unusual knowledge on all sorts of out-of-the-way unexpected subjects. She was an indefatigable worker from early in the morning until late at night, and she expected everyone around her to share her enthusiasm and her marvellous endurance. She was always ready to sacrifice herself—and, for the matter of that, others also—for the sake of the cause, of the great work upon which she was engaged. Utter devotion to her Master and to His work was the dominant note of her life, and though now she wears a different body, that note still sounds out unchanged, and if she should ever be directed to come forth from her retirement and to take charge once more of the Society which she founded, we shall find it ringing in our ears as a clarion to call around her old friends and new, so that through all the ages that work shall still go on.

Vào một ngày nào đó có xuất hiện một doanh nghiệp giống như thế, tôi không biết bản chất chính xác của nó nhưng nó đòi hỏi bà Blavatsky phải ký nhiều tài liệu. Hội viên của chúng ta đặt những tài liệu này trước mặt bà và với một ý thức trách nhiệm pháp luật chân chính. Y cố gắng giải thích chúng cho bà nhưng bà có vẻ hoàn toàn không hiểu rõ và đẩy đám tài liệu sang bên một cách khá sốt ruột. Sau khi giả định rằng đã có được những chữ ký cần thiết, y rút lui và sắp sửa khởi hành đi lên thị trấn; nhưng vì thấy thời tiết lạnh hơn mức trông đợi cho nên y quyết định mặc một chiếc áo khoác ngoài và chạy lên cầu thang tới phòng mình để lấy áo.

Trong khi chuyển tài liệu từ túi này sang túi kia, y máy móc dở xem tất cả những gì có trong đó, và may mắn thay y chú ý thấy rằng có một tài liệu chưa được ký. Thế là trên đường xuống cầu thang y rẽ vào phòng bà Blavatsky, một lần nữa y bảo rằng:

“Ôi, H. P. B., đây là một tài liệu mà tôi đã bỏ sót, xin bà vui lòng ký vào nó?”

Bà Blavatsky hỏi: “Tài liệu gì?”

Y đáp: “Chỉ một tài liệu nữa mà bà vừa mới ký cách đây vài phút’.

Bà trả lại một cách công phẩn: “Ông muốn nói gì? Tôi đâu có ký tên tài liệu nào”.

Người hội viên bối rối phản đối: “Nhưng H. P. B., chúng đây này” và y trải những tài liệu ra trước mắt bà.

Bà nói và có vẻ là đã nguôi giận: “Ồ! Tôi hiểu rồi! Nhưng chúng có ý nghĩa gì?” Người bạn của chúng ta lập lại lời giải thích và chẳng những chúng được hiểu đầy đủ lần này, mà lần này bà còn là một doanh nhân giỏi hơn cả hội viên và hỏi y những câu y không thể trả lời được.

Chẳng lấy gì làm lạ là những người xa lạ đâu phải lúc nào cũng lĩnh hội được trọn cả tình hình.

Tôi nhớ có một dịp mà bà mua tại chợ hương liệu ở Cairo một bình nhỏ xíu chứa tinh dầu hoa hồng để dùng cho phòng thờ phụng ở Adyar và phải trả hai bảng Anh. Khi chúng tôi ngồi ăn trưa ở khách sạn, sau đó nửa tiếng đồng hồ nơi một bàn nhỏ dành cho nhóm chúng tôi ở góc tường thì hai đồng tiền vàng bảng Anh từ trên không rơi xuống bàn và bà Blavatsky giải thích rằng bà được cho biết bà không nên tiêu xài tiền bạc cho các ngài như thế này, vì chúng tôi cần mỗi xu Anh mà mình có được trước khi tới Adyar—đây là một phát biểu chắc chắn là tỏ ra đúng đắn.

Vào dịp này hay dịp khác, tôi có chứng kiến nhiều hiện tượng lạ có liên quan mật thiết tới bà Blavatsky. Tôi đã thấy bà phóng hiện những bức tranh và tài liệu viết tay, tôi cũng đã thấy bà dùng thần thông để tìm một vật bị mất. Có nhiều dịp tôi đã thấy những bức thư từ trên không rơi xuống khi có mặt bà, và tôi cũng phải xác nhận rằng tôi đã thấy một bức thư như thế rơi ở Tổng hành dinh Adyar khi bà đang ở nước Anh cách đó 6.000 dặm; và lại nữa, bản thân tôi nhiều lần có đặc quyền được sử dụng để giao những bức thư giống như thế sau khi bà từ trần.

Vào buổi ban đầu của Hội thì thường có các thông điệp và giáo huấn của các Chơn sư, chúng tôi sinh hoạt ở một mức nhiệt thành rực rỡ mà những người đã gia nhập Hội từ khi bà qua đời khó lòng có thể tưởng tượng được. Những người trong chúng tôi có đặc quyền vô giá là tiếp xúc trực tiếp với các Chơn sư, tự nhiên là còn giữ lại cái lòng nhiệt thành ấy, nhưng chúng tôi không có quyền năng được như bà cho nên không dễ gì truyền đạt nó cho các hội viên mới gia nhập. Thỉnh thoảng, song le tôi cũng thắc mắc chẳng biết có bao nhiêu hội viên ngày nay thấy mình có thể chịu đựng được sự rèn luyện khá nghiêm khắc nhưng rất hữu hiệu mà bà đặt ra cho các đệ tử; tôi xin chứng nhận một vài sự thay đổi triệt để mà những phương pháp khắc nghiệt của bà tạo ra nơi tôi trong một thời khoản rất ngắn cũng như sự thật là chúng có tác dụng lâu dài!

Khi tôi đến gặp bà, tôi chỉ là một cha xứ bình thường biết chơi quần vợt trên sân cỏ, có hảo ý và tôi tin là có lương tâm, nhưng vô cùng rụt rè e thẹn với mọi sự khiếp hãi của người Anh bình thường trước việc muốn cho mình nổi bật lên bằng bất cứ cách nào hoặc giữ một địa vị lố bịch. Sau vài tuần chịu sự đối xử của bà, tôi đã đạt tới trình độ hoàn toàn chai đá trước sự chế nhạo và tuyệt nhiên không bàn tới việc bất cứ ai nghĩ gì về mình. Tôi ngụ ý điều đó hoàn toàn theo xác nghĩa, không phải là tôi đã học được cách chịu đựng sự bất đồng một cách khắc kỷ bất chấp nỗi đau trong nội tâm, mà là tôi thật sự không màng tới điều người ta suy nghĩ hoặc nói về mình, và quả thật tuyệt nhiên chẳng bao giờ xét tới vấn đề đó. Và tôi chưa bao giờ màng tới nó từ đó trở đi. Tôi thừa nhận rằng phương pháp của bà rất quyết liệt và rõ rệt là khó chịu vào thời ấy, nhưng tính hữu hiệu của nó thì khỏi bàn.

Ngoại trừ các Chơn sư Minh triết, tôi chưa bao giờ biết tới ai có quyền năng rõ rệt tỏa ra như thế. Bà chắc chắn là khéo léo không phải theo nghĩa của một học giả bình thường, thế nhưng tôi đã từng nói rằng bà sở hữu một kho kiến thức hiển nhiên là vô tận và phi thường, và đủ thứ đề tài bất ngờ ngoài luồng. Bà là một người làm việc không mệt mỏi từ sáng tinh mơ cho tới đêm khuya; bà trông mong mọi người xung quanh mình cùng chia xẻ lòng nhiệt thành và sự nhẫn nhục tuyệt vời của mình. Bà hoàn toàn tận tụy, sùng tín với Sư phụ và công việc của Ngài, đó là nốt chủ âm của cuộc đời bà và mặc dù giờ đây bà đã khoác lấy một thân xác khác, nhưng nốt chủ âm ấy vẫn trổi lên không thay đổi, và nếu bà được lệnh ra khỏi nơi ẩn cư của mình để một lần nữa chịu trách nhiệm về cái Hội mà bà đã sáng lập, thì chúng ta ắt thấy vang lên trong tai mình tiếng kèn hiệu triệu những người bạn cũ và mới của bà sao cho công việc vẫn tiếp tục trải qua suốt mọi thời đại.

CHAPTER VII

Our Voyage to India— Chúng Tôi Du Hành Tới Ấn Độ.

Our interesting stay in Cairo was brought to an end by the news that our steamer, the British India s.s. Navarino, was due at Port Said on a certain date. Thither I was despatched as a kind of avant-courier, to make arrangements in advance for some special comforts for Madame Blavatsky who, with the rest of our little party, wished to avoid the canal, to have an extra day in Cairo, and to embark at Suez. This small errand I duly accomplished, and I think our Leader was fairly well satisfied with the accommodation provided, though of course it fell far short of the luxury of the larger modern vessels.

We had a full complement of passengers, and I suppose that both they and the officers were about the average crowd that one expects to meet on board an Eastern-bound boat. The Captain was perhaps a trifle unusual, for he was a very religious man, narrow and puritanical, and he not unnaturally regarded Madame with a stern disapproval which seemed strongly tinged with horror. His attitude towards our party was one of icy reserve, and during the whole voyage none of us exchanged more than a very few words with him. His officers, however, were more amenable, and I remember that Mrs. Oakley, who was an indefatigable propagandist, made friends with the third mate, Mr. Wadge, and succeeded in interesting him in Theosophy to some small extent, at any rate sufficiently to induce him to read one or two books, to attend one of our meetings at Adyar, and I think to correspond with her later.

Among the passengers were several missionaries, and they, with one exception, seemed distinctly disposed to regard us as emissaries of the Prince of Darkness. The exception was a young Wesleyan minister named Restorick, with whom I used to play deck-tennis; I found him quite friendly and reasonable, and willing to discuss without acrimony all kinds of religious matters. A very different type was an earnest but quite uneducated missionary from America, named Daniel Smith, who made no secret of the fact that he had been a bricklayer, but found the hard work and the exposure too severe for his health, and so, as he put it, the Lord had called him to preach the gospel to the heathen.

Perhaps because of his ignorance, he was apt to be aggressive, and used frequently to engage in arguments with Madame Blavatsky which were a source of great amusement to the passengers. I am afraid that our Leader took a kind of impish pleasure in entangling him in his talk and inducing him to commit himself to the most impossible theological statements. She knew the Bible far better than he did, and would constantly quote unexpected and little-known texts which drew from him the indignant protest: “That’s not in the Bible! I’m sure that’s not in the Bible!”

Then Madame Blavatsky would turn to me with deadly composure:

“Leadbeater, fetch my Bible from my cabin!” and would proceed to confound him with chapter and verse. Once he was so ill-advised as to rejoin: “Well, anyhow, I’m sure it’s not in my copy!” But the ripple of amusement which ran round among the audience warned him to avoid such a rash assertion in the future.

As we were crossing the Indian Ocean I remember walking the deck with Madame Blavatsky early one morning in all the glory of a tropical sunrise, when this worthy missionary appeared at the top of the staircase, and she at once hailed him with the words:

“Now, Mr. Smith! Look round you! See the calm shining sea, and the lovely colours! See how good your God is! Surely on such a glorious morning as this you can’t tell me that I am going to be burnt in hell for ever and ever!”

I must do the Rev. Daniel the justice to admit that he blushed deeply and looked very uncomfortable, but he stuck manfully to his guns, and replied with an evident effort:

“Well, I’m very sorry, ma’am, but I guess you will!”

Naturally Madame Blavatsky’s brilliant and powerful personality impressed itself upon the whole company, officers and passengers alike (always excepting the Captain) and whenever she chose to show herself upon deck in good weather she speedily gathered round her a kind of court of interested auditors, who asked her questions upon all sorts of subjects, and listened fascinated to her stories of experience and adventure in out-of-the-way corners of the world. At night especially they asked always for tales of the weird and supernatural, which she told so well and with such gruesome realism that her audience shuddered with delightful thrills of horror—but I noticed that they had a distinct tendency to herd together afterwards, and that none would adventure into a dark passage alone!

The Navarino was not exactly an ocean greyhound, but at long last we reached Colombo, where Colonel Olcott met us and introduced me to the leading members of the Buddhist Theosophical Society there. It was a previous generation of workers, and I suppose hardly any of the Sinhalese gentlemen who were prominent among us then are still upholding the Society’s flag on the physical plane. I remember especially the old Mohandiram (an important city official), Mr. William de Abrew (father of the well-known Mr. Peter de Abrew, who has worked so loyally for us for so many years), Mr. Don Carolis of Mutwal, Mr. J. R. de Silva (whom for some reason the Colonel always nick-named the Doctor, though that was not his profession), Mr. C. P. Gunawardana (then the Secretary of our Colombo Branch), Mr. N. S. Fernando, Mr. Wijiasekara, Mr. Hendrik de Silva, and others whose names elude me now, though their faces are still clear in my mind’s eye. After all, it is forty-six years ago, more than half of a long life-time!

Việc chúng tôi lưu ngụ lại một cách thú vị ở Cairo đã chấm dứt khi có tin chiếc tàu thủy của chúng tôi là chiếc Navarino của hãng Anh Ấn vào một ngày nào đấy sẽ cập bến Port Said. Tôi được biệt phái tới đó là một loại tiền trạm để thu xếp trước một số tiện nghi đặc biệt cho bà Blavatsky; cùng với những người còn lại trong nhóm nho nhỏ chúng tôi; bà muốn tránh đi đường kênh đào để có thêm ngày giờ ở Cairo và cặp bến ở Suez. Tôi đã hoàn thành cái chuyến đi lang thang nhỏ này và tôi thiết tưởng vị Thủ lãnh của chúng ta ắt rất hài lòng với tiện nghi được cung cấp, mặc dù dĩ nhiên nó còn kém xa phương tiện xa xỉ trên những chiếc tàu lớn hiện đại.

Chúng tôi được bổ sung hành khách cho đầy tàu và tôi giả định rằng cả hành khách lẫn thuyền viên đều là cái đám đông bình thường mà người ta trông mong gặp gỡ trên bong một chuyến tàu Đông Phương. Thuyền trưởng có lẽ hơi bất thường, vì y là một người rất mộ đạo có đầu óc hẹp hòi theo thanh giáo cho nên tự nhiên là coi bà nghiêm khắc, không đồng ý với bà và có vẻ nhuốm nhiều màu sắc sợ hãi. Thái độ của y đối với nhóm chúng tôi rất dè dặt và lạnh lùng, trong trọn cả chuyến du hành thì không ai trong chúng tôi trao đổi với y nhiều hơn vài lời, song le đám thuyền viên thì dễ chịu hơn và tôi còn nhớ rằng bà Oakley vốn là nhà tuyên truyền không mệt mỏi đã kết bạn với thuyền phó thứ ba là ông Wadge và thành công khiến cho ông ta chú ý tới Thông Thiên Học trong một chừng mực nho nhỏ, dù sao đi nữa cũng đủ khiến cho ông đọc một hai quyển sách, đến dự một buổi họp của chúng tôi ở Adyar và tôi thiết tưởng sau này có thư từ qua lại với bà.

Trong đám hành khách có nhiều nhà truyền giáo và chỉ trừ một ngoại lệ, thì họ dường như rõ rệt có xu hướng coi chúng tôi là sứ giả của ông Hoàng Bóng Tối. Ngoại lệ này là một mục sư trẻ Wasley tên là Restorick mà tôi thường chơi quần vợt trên bong với ông; tôi thấy ông rất thân thiện và hợp lý phải chăng, sẵn lòng thảo luận một cách cay đắng về đủ loại vấn đề tôn giáo. Còn một loại hình khác hẳn là một nhà truyền giáo đầy tâm huyết nhưng hoàn toàn vô học, xuất phát từ nước Mỹ tên là Daniel Smith, ông này không giấu giếm sự thật ông đã từng là thợ hồ nhưng vì thấy công việc vất vả quá và công việc dãi nắng dầm mưa gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe của mình cho nên theo lời ông Chúa đã gọi ông đi rao giảng phúc âm cho dân ngoại.

Có lẽ vì dốt nát cho nên ông thường ưa hung hăng, thường dấn thân vào những cuộc cãi lý với bà Blavatsky, đây là một nguồn giải trí hấp dẫn cho đám hành khách. Tôi e rằng thủ lĩnh của chúng ta lấy làm khoái trí tinh nghịch khi dấn thân vào cuộc chuyện trò đó, và dẫn dụ ông ta phạm phải những phát biểu không thể có về mặt thần học. Bà biết rõ Kinh thánh nhiều hơn ông, cho nên thường xuyên trích dẫn những đoạn văn bất ngờ và ít ai biết khiến cho ông công phần phản đối: “Điều đó không có trong Kinh thánh! Tôi đoan chắc rằng nó không có trong Kình thánh!”.

Thế rồi bà Blavatsky quay sang tôi với một vẻ bình thản chết người: “Leadbeater, bạn đi vào phòng tôi lấy cuốn Kinh thánh của tôi ra đây”; thế rồi bà tiến hành làm cho ông ta rối mắt lên với các chương và câu kinh. Có một lần ông ta dại dột đến nỗi quặt lại rằng: “Được thôi! Dù sao đi nữa tôi cũng tin chắc rằng câu này không có trong bản Kinh thánh của tôi!” Nhưng đợt cười phá lên lan tràn khắp thính giả đã cảnh báo ông ta trong tương lai nên tránh một lời quả quyết táo bạo như vậy.

Khi chúng tôi băng qua Ấn Độ Dương, thì tôi còn nhớ vào một buổi sáng sớm tôi đang dạo bước trên bong tàu với bà Blavatsky trong buổi bình minh huy hoàng ở vùng nhiệt đới, thì nhà truyền giáo có giá trị ấy lại xuất hiện ngay trên cầu thang, thế là bà ngay tức khắc hoan nghênh ông ta bằng lời lẽ:

“Xem này ông Smith! Hãy nhìn quanh mình xem, hãy thưởng thức biển chói sáng bình minh với màu sắc dễ thương. Hãy xem Thiên Chúa của bạn tốt lành xiết bao. Chắc chắn vào một buổi sáng huy hoàng như thế này thì bạn không thể bảo tôi rằng tôi sắp bị đọa hỏa ngục đời đời!”

Tôi phải nói công bằng về vị giáo sĩ Daniel khi thừa nhận rằng ông ta đỏ bừng mặt và trông có vẻ rất bối rối, nhưng ông dũng cảm giữ vững lập trường và trả lời rõ rệt là cố gắng:

“Được thôi! Tôi xin lỗi bà, nhưng tôi đoán rằng bà sẽ bị đọa hỏa ngục đời đời”.

Tự nhiên là nhân cách chói sáng và huy dũng của bà Blavatsky gây ấn tượng cho toàn thể mọi người thuyền viên cũng như hành khách (luôn luôn là ngoại trừ ông thuyền trưởng) và bất cứ khi nào bà tự ý xuất hiện trên bong tàu vào lúc thời tiết tốt, thì ba nhanh chóng tụ tập xung quanh mình một đám đông thính giả quan tâm, hỏi bà nhiều thắc mắc về đủ thứ đề tài và say mê lắng nghe bà kể chuyện mình đã trải nghiệm và phiêu lưu ở những xó xỉnh ngoài luồng trên thế giới. Nhất là vào ban đêm, họ luôn luôn yêu cầu kể chuyện ma quái siêu nhiên, bà kể chuyện hay và sống động, hãi hùng thật sự đến nỗi thính giả rùng mình thích thú, vừa hồi hộp vừa lo sợ, nhưng tôi chú ý thấy họ rõ rệt có khuynh hướng sau đó tụ tập lại với nhau và chẳng ai dám đi một mình qua hành lang tối om. Tàu Navarino chính xác không phải là tàu đi đại dương, nhưng cuối cùng thì chúng tôi cũng tới Colombo, nơi Đại tá Olcott gặp chúng tôi và giới thiệu tôi với những hội viên lãnh đạo Hội Thông Thiên Học Phật giáo ở đó. Đấy là một thế hệ tiên phong những người làm việc và tôi giả định rằng hầu như không có bất kỳ nhà quí tộc Tích lan nào nổi bật trong chúng ta vào lúc ấy mà vẫn còn phất cao ngọn cờ của Hội trên cõi vật lý. Tôi còn nhớ đặc biệt là ông già Mohandiram (một viên chức đô thị quan trọng), ông William de Abrew (cha của ông Peter de Abrew nổi tiếng, vốn làm việc rất trung thành với chúng ta trong biết bao nhiêu năm), ông Don Carolis ở Mutwal, ông J. R. de Silva (vì một lý do nào đó Đại tá Olcott đặt cho ông biệt danh là bác sĩ, mặc dù nghề nghiệp của ông không phải như vậy), ông C. P. Gunawardana (lúc bây giờ là Thư ký ở Chi nhánh Colombo của chúng ta), ông N. S. Fernando, ông Wijiasekara, ông Hendrik de Silva và những người khác mà bây giờ tôi cũng chẳng nhớ tên, mặc dù tôi vẫn còn nhớ rõ khuôn mặt của họ. Xét cho cùng thì đã 46 năm rồi, hơn một nửa đời người dài dằng dặc còn gì nữa!

I Become a Buddhist— Tôi trở thành Phật tử.

Most important of all, I was presented to the great Buddhist leader and scholar, Hikkaduwe Sumangala Thero, High Priest of The Peak and of Galle, and Principal of the Widyodaya Monks’ College at Maradana—the most learned and highly respected of the leaders of the Southern Church of Buddhism.

On an earlier visit to the lovely island of Ceylon, both Colonel Olcott and Madame Blavatsky had made public profession of the Buddhist faith and been formally received into that religion; and now Madame Blavatsky asked me whether I was willing to follow their example in that respect. She strongly impressed upon me that if I took that step it must be entirely of my own motion and on my own responsibility, and that she had no wish to persuade me in the matter; but she thought that, as I was a Christian Priest, the open acceptance of a great Oriental religion would go far to convince both Hindus and Buddhists of my bona fides, and would enable me to be far more useful in working among them for our Masters.

I replied that I felt the very greatest reverence for the Lord Buddha and whole-heartedly accepted His teaching, and that I should feel it a great honour to enrol myself among His followers if I could do so without abjuring the Christian faith into which I had been baptized. She assured me that no such repudiation would be asked of me, and that there was no incompatibility between Buddhism and true Christianity, though no enlightened Buddhist would be likely to credit the crude theological dogmas which were usually preached by the missionaries. Buddhism, she said, was not a question of creed, but of life; I was not asked to accept any article of faith, but to try to live according to the precepts of the Lord.

To this I was of course entirely agreeable, so it was arranged that I should be presented to the High Priest for admission.

That very title of High Priest is something of a misnomer, though it was universally employed among us in speaking of Sumangala. In strict accuracy some such title as Chief Abbot would come nearer to the truth. There is in reality nothing like a Priesthood in Buddhism; there is no sacrifice to be offered, no public service to be led. The Brethren of the Yellow Robe, who are so picturesque a feature in the life of all Buddhist countries, are best described as monks, and the nearest that they come to leading a public service is when they “give pansil”, as it is called, to such of their people as ask for it; that is to say, they recite in Pali the sacred formula of the Three Refuges and the Five Precepts, by which all Buddhists are supposed to govern their lives, and the people obediently repeat the pledges which are dictated to them.

It is the recitation of this very same formula which constitutes the solemn admission to the Buddhist religion; it was this, therefore, that I had to repeat after the High Priest that day in the garden of his College. It is straightforward and simple, but far-reaching. We may say that it opens with an ascription of praise to the Lord Buddha:

I reverence the Blessed One, the Holy One, the Perfect in Wisdom.

Quan trọng hơn hết là tôi được giới thiệu với vị lãnh tụ và học giả vĩ đại Phật giáo Hikkaduwe Sumangala Thero, Hòa thượng ở Peak và Galle, Hiệu trưởng Trường Tu sĩ Widyodaya—đây là vị lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Nam truyền bác học nhất và được kính trọng nhiều nhất.

Và cuộc viếng thăm trước kia ở hòn đảo dễ thương là Tích lan, cả Đại tá Olcott lẫn bà Blavatsky đều công khai tuyên cáo đức tin Phật giáo và đã được chính thức cho gia nhập tôn giáo này, giờ đây bà Blavatsky hỏi tôi xem liệu tôi có sẵn lòng noi gương họ về phương diện ấy không. Bà nhấn mạnh với tôi rằng nếu tôi tiếp theo bước đó thì ấy là bước tiến và trách nhiệm hoàn toàn của chính tôi chứ bà không muốn thuyết phục tôi về vấn đề này; nhưng bà thiết tưởng rằng vì tôi là tu sĩ Kitô giáo cho nên việc công khai chấp nhận một tôn giáo lớn Á Đông ắt tiến xa tới mức thuyết phục cả tín đồ Ẩn Giáo lẫn tín đồ Phật giáo về lòng thành của tôi; và điều đó khiến cho tôi có thể hữu ích hơn nhiều khi làm việc cho các Chơn sư trong hàng ngũ tín đồ Ấn giáo và Phật giáo.

Tôi trả lời rằng tôi cảm thấy rất tôn kính Đức Phật và toàn tâm toàn ý chấp nhận giáo huấn của Ngài; tôi cảm thấy rất vinh hạnh được đăng ký làm tín đồ của Ngài nếu việc đó không khiến tôi phản bội đức tin Kitô giáo mà tôi đã từng được rửa tội nhập đạo. Bà quả quyết với tôi rằng, không yêu cầu tôi phải chối bỏ Kitô giáo và không có sự tương kỵ nào giữa Phật giáo với Kitô giáo chân chính, mặc dù không một Phật tử sáng suốt nào lại có thể tin vào những tín điều thần học thô thiển mà các nhà truyền giáo thường rao giảng. Bà bảo rằng Phật tử không phải là vấn đề tín điều mà là sinh hoạt; người ta không yêu cầu tôi chấp nhận bất cứ tín điều nào mà phải cố gắng sống theo những huấn điều của Đức Phật.

Dĩ nhiên tôi cảm thấy hoàn toàn dễ chịu, cho nên tôi dàn xếp để mình được giới thiệu với Hòa thượng cho nhập đạo.

Chính cái tước hiệu Hòa thượng ấy là việc gọi không đúng, mặc dù trong đám chúng tôi thường sử dụng tước hiệu này để nói về Sumangala. Nói cho thật chính xác thì một số tước hiệu như thế chẳng hạn như Tu viện trưởng có vẻ gần với sự thật hơn. Thực ra trong Phật giáo không có điều gì giống như tu sĩ, không cần phải hiến tế, không cần phải phụng sự công khai. Các Huynh đệ áo vàng vốn là một đặc điểm thi vị xiết bao trong sinh hoạt của mọi xứ Phật giáo được miêu tả tốt nhất là những tăng sĩ, và điều gần nhất khi họ phụng sự công khai chính cái gọi là truyền giới cho những người có nhu cầu; điều này có nghĩa là họ tụng đọc bằng tiếng Nam phạn công thức thiêng liêng về Tam qui và Ngũ giới mà mọi Phật Tử giả định phải tuân theo trong sinh hoạt, thế rồi thiên hạ ngoan ngoãn lập lại những lời thệ nguyện mà người ta đọc cho họ nghe.

Chính việc tuyên đọc cùng cái công thức đó tạo thành nghi lễ thiêng liêng để gia nhập Phật giáo; vì vậy tôi phải lập lại theo vị Hòa thượng công thức đó vào ngày lễ tại vườn của trường học của ông. Nó vốn thẳng thắn và đơn giản nhưng có tầm mức xa rộng. Chúng ta có thể nói rằng nó mở đầu bằng lời tán dương Đức Phật:

Con xin tôn kính Đức Thế Tôn, Đấng Thánh thiện, Toàn giác.

The Three Refuges—Tam Quy

This is repeated thrice, and then follows the Tisarana—commonly rendered “The Three Refuges”. That expression is however not an exact equivalent of the Pali word, which seems to mean much more nearly “a guide”. The nearest that we can come in English to the true meaning of this declaration is:

I take the Lord Buddha as my guide.

I take His Law as my guide.

I take His Order as my guide.

The word Dhamma (Sanskrit Dharma) which is usually translated “law”, really bears a much wider signification than that English term. It is not in the least a law or series of commandments ordained by the Lord Buddha; it is His statement of the universal laws under which the Universe exists, and consequently of the duties of men as part of that mighty scheme. It is in this sense that the expressions quoted above are employed by the Buddhist. In pronouncing the Tisarana he expresses his acceptance of Lord Buddha as his guide and teacher; his adherence to the doctrine which the Buddha taught and his recognition of the great order of Buddhist monks as the practised interpreters of the meaning of that doctrine.

This does not in the least imply the acceptance of the interpretation of any particular monk, but only that of the Order in the most catholic sense; he believes that interpretation to be accurate which is held by the entire Brotherhood in all places and at all times—thus closely approximating to the great Catholic declaration that that only should be believed which has been accepted semper, ubique et ab omnibus—always, everywhere and by everyone. But it would seem that in some cases at least a much wider connotation is attached to this idea of the Brotherhood, so that it is taken to include not only the Order as now existing on the physical plane, but the whole Order from the beginning, corresponding to the Christian theory of the Communion of Saints—perhaps even to the Great White Brotherhood itself.

Câu này được lặp lại ba lần, rồi sau đó là Tam qui (Tisarana) thường được gọi là “ba lần qui y”. Tuy nhiên dịch như vậy không tương đương chính xác với từ ngữ Nam phạn, dường như ngụ ý nhiều hơn mức là “hướng dẫn”. Cách dịch gần đúng nhất trong tiếng Anh và ý nghĩa chân chính của tuyên cáo này là như sau:

Con xin qui y Phật.

Con xin qui y Pháp.

Con xin qui y Tăng.

Từ ngữ Dhamma (tiếng Bắc phạn là Dharma) thường được dịch là “pháp”. Thực sự có một ý nghĩa riêng lớn hơn nhiều so với tục ngữ bằng tiếng Anh (law). Đó tuyệt nhiên không phải là một luật lệ hoặc một loạt những điều răn theo qui định của Đức Phật; đó là việc Ngài phát biểu về những định luật phổ quát mà Vũ trụ tồn tại theo đó; vì thế cho nên con người có những bổn phận là một phần của cơ cấu tổ chức hùng mạnh này. Chính theo ý nghĩa ấy mà những thành ngữ nêu trên được Phật tử sử dụng. Khi tuyên cáo Tam qui, Phật tử sẵn sàng chấp nhận Đức Phật là người hướng dẫn và dạy dỗ mình; y tuân theo giáo lý mà Đức Phật đã dạy dỗ và y công nhận dòng tu vĩ đại gồm các tăng sĩ Phật giáo là những người thực hành thuyết giải ý nghĩa của giáo lý.

Điều này tuyệt nhiên không hàm ý chấp nhận bất kỳ tăng sĩ đặc thù nào mà chỉ là chấp nhận Dòng tu theo ý nghĩa phổ quát nhất. Y tin rằng sự thuyết giải chỉ chính xác khi được chấp nhận bởi toàn thể tăng sĩ ở mọi lúc mọi nơi—như vậy bám rất sát với lời tuyên bố vĩ đại của Công giáo theo đó ta chỉ nên tin những gì đã được chấp nhận semper, ubique et ab omnibus—ở bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu và bởi bất cứ ai. Nhưng dường như là trong một số trường hợp ít ra cũng có một hàm ý rộng lớn hơn gắn liền với ý tưởng về Tình Huynh Đệ, tạo thành cộng đồng huynh đệ sao cho nó không chỉ bao hàm Dòng tu hiện nay đang tồn tại trên cõi vật lý, mà là trọn cả Dòng tu ngay từ đầu tương ứng với thuyết của Kitô giáo về sự Hiệp thông của các Thánh—có lẽ ngay cả Hiệp thông với chính Quần Tiên Hội nữa.

The Five Precepts—Ngũ Giới

Following immediately upon this declaration the Pancha Sila, commonly called “The Five Precepts”, are recited. Again “precepts” is hardly the right word, although it is a possible translation of sila; “pledges” comes much nearer the fact, though hardly permissible as a translation. These are often compared to the Ten Commandments of Judaism; but in reality they differ greatly in character and, though fewer in number, are much more comprehensive. They are as follows:

(1) I observe the precept to refrain from destruction of life.

(2) I observe the precept to refrain from taking that which is not mine.

(3) I observe the precept to refrain from unlawful sexual intercourse.

(4) I observe the precept to refrain from falsehood.

(5) I observe the precept to refrain from using intoxicating liquors or stupefying drugs.

It can hardly fail to strike the intelligent person that, as Colonel Olcott writes:

One who observes these strictly must escape from every cause productive of human misery, for if we study history we shall find that it has all sprung from one or another of these causes. The far-seeing wisdom of the Lord Buddha is most plainly shown in the first, third, and fifth, for the taking of life, sensuality and the use of intoxicants cause at least ninety-five per cent of the suffering among men.

It is interesting to notice how each of these precepts goes further than the corresponding Jewish commandment. Instead of being told to do no murder, we find ourselves enjoined to take no life whatever; instead of being commanded not to steal, we have the more far-reaching precept not to take that which does not belong to us, which would obviously cover the acceptance of praise not honestly due to us, and many another case quite outside of what is commonly called stealing. It will be observed also that the third of these precepts includes a great deal more than the seventh of the commandments of Moses, forbidding not only one particular type of unlawful intercourse, but all types. Instead of being forbidden to bear false witness in a court of law, we are enjoined to avoid falsehood altogether. I have often thought what a .good thing it would have been for all these European countries which have taken up the teachings of Christ if the legendary Moses had included in his decalogue the fifth of the Buddhist precepts—the instruction to touch no intoxicating liquor nor stupefying drugs. How much simpler would be all our essential problems if that commandment were observed in England and America as it is observed in Buddhist countries!

It is also very characteristic of the Buddhist faith that there is here no commandment “Thou shalt not do this or that”—no order given by a Deity or a teacher, but simply the quiet promise made by each man that he will refrain from certain actions which are obviously undesirable.

Tiếp ngay sau lời tuyên bố này là Ngũ giới (Pancha Sila), thường được gọi là “Năm Huấn điều được tụng đọc”. Lại nữa “huấn điều” hầu như cũng không đúng, mặc dù ta có thể dùng nó để dịch từ ngữ Sila; “lời thệ nguyện” gần đúng với sự thật hơn mặc dù hầu như không ai cho phép nó được dùng để dịch. Chúng thường được so sánh với Mười điều răn trong Do Thái giáo, nhưng thật ra chúng khác hẳn về tính cách và mặc dù có số lượng ít hơn nhưng lại bao quát hơn nhiều. Ngũ giới như sau:

(1) Tôi nguyện không sát sinh.

(2) Tôi nguyện không lấy cái gì không phải của mình.

(3) Tôi nguyện không tà dâm.

(4) Tôi nguyện không vọng ngữ.

(5) Tôi nguyện không sử dụng rượu gây say hoặc thuốc ma túy.

Hầu như là bất cứ người thông minh nào cũng chịu ấn tượng của nó, theo lời Đại tá Olcott viết:

Kẻ nào tuân theo những điều này nghiêm nhặt ắt thoát khỏi mọi nguyên nhân gây ra khốn khổ cho con người, bởi vì nếu chịu khó nghiên cứu lịch sử, chúng ta ắt thấy rằng sự Khốn Khổ của con người bắt nguồn từ một trong những nguyên nhân nêu trên. Minh triết nhìn xa trông rộng của Đức Phật được biểu hiện rành rành nhất qua giới điều thứ nhất, thứ ba và thứ năm, bởi vì sát sinh, tà dâm và dùng rượu hoặc thuốc gây say ít ra cũng là 95% nguyên nhân gây đau khổ cho loài người.

Thật thú vị mà lưu ý thấy rằng mỗi một trong những giới điều này tiến xa hơn điều răn tương ứng trong Do Thái giáo. Thay vì được bảo rằng không nên giết người, ta thấy mình được lệnh không sát sinh bất cứ sinh mệnh nào; thay vì được bảo không trôm cắp, chúng ta có giới điều có tầm mức xa rộng hơn là không lấy điều không thuộc về mình, đây rõ ràng là bao hàm cả sự chấp nhận lời khen đúng ra không dành cho ta và còn nhiều trường hợp khác nữa nằm ngoài tầm cái được gọi là trộm cắp. Ta cũng quan sát thấy rằng giới điều thứ ba bao gồm nhiều thứ hơn điều răn thứ bảy của Moise, chẳng những cấm một loại quan hệ bất hợp pháp đặc thù mà còn là mọi loại. Thay vì cấm làm chứng gian trước tòa án, ta được lệnh tránh hoàn toàn nói dối. Tôi thường nghĩ rắng thật là điều tốt nếu mọi xứ sở Âu Mỹ đã chấp nhận giáo huấn của đấng Kitô, nếu thánh Moise theo huyền thoại bao gồm trong mười điều răn của mình với điều thứ năm của Phật tử là huấn lệnh không được uống rượu gây say hoặc hút thuốc ma túy. Mọi vấn đề cốt lõi của ta rất đơn giản hơn nhiều nếu điều răn này được tuân thủ ở Anh và Mỹ giống như nó được tuân thủ ở các nước theo Phật giáo!

Đức tin của Phật giáo cũng có điều rất đặc trưng là ở đây không có điều răn “Con không được làm điều này điều kia”—không có mệnh lệnh của một Đấng thiêng liêng hoặc một đạo sư, mà chỉ là lời hứa âm thầm của mỗi người rằng mình sẽ không chọn theo một vài hành động rõ ràng là không đáng mong muốn.

The Chief Abbot Sumangala— Tu Viện Trưởng Sumangala

This, then, as I have said, is the formula which I had to recite after the High Priest Sumangala; and at the same time he gave me a short explanation of it and of what it implied. I remember also that before admitting me he asked me whether I fully understood the religion into which I had been born, pointing out that such birth was not by chance, and that I ought to be sure that I had duly learnt such lessons as it had to teach.

Even on this occasion of my first introduction to him was much impressed by the nobility, the courtesy and the obvious fairness of the High Priest; one felt at once that one was in the presence of a truly great man. I came to know much more of him later, as I was engaged for some years in educational work in Ceylon; and I always found him erudite, able and kindly, and not without a saving sense of humour.

Though it does not belong at this stage of my story, but to a period perhaps two years later, I will include at this point a little incident which seemed somewhat characteristic of him. As the Widyodaya College was not very far from what was then the principal railway station in Colombo and well within reach of the stream of sightseers who landed from the great mail steamers, the High-Priest had quite a number of European visitors, and more especially those who were interested in Oriental religions made a point of calling upon him.

I remember, for instance, that on one occasion the Professor of Sanskrit from a great European University appeared on the scene, and Sumangala joyously hailed him with a speech of welcome in Sanskrit, but was much surprised to find that the learned professor could not understand a word of it, since he had apparently never regarded Sanskrit as a spoken language at all! On the other hand when Sir Edwin Arnold came to Colombo he received a princely ovation; and in that case there was no disappointment, for he was not only able to understand and appreciate the loving welcome extended to him, but to reply to it in a long and fluent Sanskrit speech!

The special incident to which I have referred was of a slightly different character. In this case the visitor was a French scientist of considerable eminence, who came to see the Chief Abbot perhaps mainly out of curiosity, or perhaps to show courtesy to a learned man of whom he had heard something in Europe. This gentleman spoke with respect of the philosophy of the Lord Buddha, but deplored the fact that He had sometimes made indefensible statements on scientific subjects. The High Priest asked him to give an instance, and the Frenchman quoted an assertion that the earth rested upon water, the water in turn upon air, and the air upon empty space. Sumangala listened most politely, and said that he was of course fully aware of the wonderful discoveries of Western science, and was always very glad to learn anything that he could of them. And then he quite innocently enquired from the scientist what were the latest conclusions on that subject from the European point of view. He said:

“Now, if it were possible for us to bore straight down under our feet as we sit here, clear through to the other side of the earth, what should we find at the other end of that hole?”

The scientist considered for a few moments, and replied:

“Calculating roughly, I think we should come out in the Pacific Ocean.”

“Yes,” said the Chief Abbot with keen interest,

“and if we carried on through the ocean, what should we find next?”

“Well,” said the scientist, “of course we should come out into the atmosphere.”

“And if we pushed on through the atmosphere?”

“Well, then naturally we should arrive in interplanetary space.”

“Then,” said Sumangala meekly, “it seems that the conclusions of modern science do not after all differ greatly from those of the Lord Buddha!”

Như tôi có nói, thế rồi tới công thức mà tôi phải lập lại theo Hòa thượng Sumangala; đồng thời ngài giải thích ngắn gọn cho tôi về điều đó và hàm ý của nó. Tôi cũng nhớ rằng trước khi thu nhận tôi ngài có hỏi tôi liệu tôi có hiểu rõ cái tôn giáo mà tôi đã được sinh ra. nhập đạo, nêu rõ ràng việc sinh ra như vậy không phải là ngẫu nhiên và tôi phải tin chắc rằng tôi đã học những bài học như thế theo đúng như nó phải dạy cho tôi.

Ngay cả cái lần đầu tiên mà tôi có dịp được tiến cử cho ngài thì tôi chịu ấn tượng rất nhiều về tính cao thượng, nhã nhặn và hiển nhiên là công bằng của Hòa thượng; người ta cảm thấy ngay rằng hiện diện trước mắt mình quả thật là một vĩ nhân. Sau này tôi còn biết về ngài nhiều hơn nữa, khi tôi dấn thân học tập ở Tích lan trong vài năm, thì tôi luôn luôn thấy ngài bác học, có năng lực và tử tế, chưa kể có một óc hài hước giúp cứu chuộc người khác.

Mặc dù trong giai đoạn này thuộc câu chuyện của tôi, đó không phải là giai đoạn mà có lẽ phải hai năm sau mới xảy ra chuyện, nhưng ở chỗ này tôi cũng xin kể thêm một diễn biến nho nhỏ dường như khá đặc trưng đối với ngài. Bởi vì trường Widyodaya không ở cách quá xa so với trạm xe lửa chính lúc đó ở Colombo, và cũng trong tầm viếng thăm của những người khách đi viếng cảnh đổ bộ xuống từ chiếc tàu lớn chở thư, cho nên Hòa thượng có khá nhiều khách viếng thăm người Âu Mỹ, đặc biệt là những người chú ý tới tôn giáo Á Đông đều khiến ngài phải quan tâm.

Tôi còn nhớ chẳng hạn như có một dịp, vị giáo sư tiếng Bắc phạn ở một Đại học lớn ở Âu châu xuất hiện trên diễn đàn thì ngài Sumangala vui vẻ hoan nghênh ông bằng một diễn từ chào đón bằng tiếng Bắc phạn, nhưng ngài rất ngạc nhiên khi thấy rằng vị giáo sư học giả ấy không hiểu nổi một từ bằng tiếng Bắc phạn, bởi vì xét theo biểu kiến ông ta chưa bao giờ coi tiếng Bắc phạn là một ngôn ngữ nói. Mặt khác khi ngài Edwin Arnold tới Colombo, ngài được tán dương như một ông hoàng và trong trường hợp đó không có sự thất vọng vì ngài chẳng những có thể hiểu và trân trọng sự hoan nghênh ái hữu dành cho mình mà còn đáp từ bằng một bài tiếng Bắc phạn dài dòng và lưu loát.

Diễn biến đặc biệt mà tôi đề cập tới có tính cách hơi khác một chút. Trong trường hợp này thì khách viếng thăm là một nhà khoa học Pháp lỗi lạc, ông đến gặp Tu viện trưởng có lẽ chủ yếu là do tò mò hoặc có lẽ để bày tỏ sự nhã nhặn đối với một người có học mà ông đã từng nghe tiếng ở Âu châu. Nhà quí tộc này nói về triết lý của Đức Phật một cách tôn kính, nhưng phàn nàn sự thật là đôi khi Ngài có phát biểu về những đề tài khoa học mà người ta không thể biện hộ được. Hòa thượng yêu cầu ông đưa ra một ví dụ và người Pháp có trích dẫn một lời khẳng định cho rằng đất dựa trên nước, đến lượt nước dựa trên gió và gió dựa trên không gian trống rỗng. Sumangala lắng nghe một cách lịch sự nhất và bảo rằng dĩ nhiên ông biết rõ những phát minh kỳ diệu của khoa học Âu Mỹ và luôn luôn rất vui mừng học hỏi bất cứ điều gì có thể được. Thế rồi ông hoàn toàn ngây thơ hỏi nhà khoa học xem đâu là những kết luận mới nhất về đề tài này xét theo quan điểm Âu Mỹ. Ông bảo rằng:

“Bây giờ nếu chúng ta có thể đào thẳng xuống dưới chân mình ngay chỗ ta ngồi ở đây, xuyên suốt qua phía bên kia trái đất thì liệu ta ắt tìm thấy gì ở đầu bên kia cái lỗ đó?”.

Nhà khoa học suy nghĩ trong một lúc rồi trả lời:

“Nếu tính toán một cách thô thiển thì tôi thiết tưởng ta sẽ ra tới Thái Bình Dương”.

Tu viện trưởng trả lời một cách rất chú ý:

“Đúng vậy, và nếu ta tiếp tục đào xuyên qua đại dương thì liệu kế tiếp ta sẽ tìm thấy gì?”

Nhà khoa học trả lời:

“Được thôi, dĩ nhiên ta sẽ ra tới tận bầu khí quyển”.

Tu viện trưởng hỏi tiếp:

“Và nếu ta tiếp tục đi xuyên qua bầu khí quyển?”

Nhà khoa học trả lời: “Được thôi, lúc bấy giờ tự nhiên ta sẽ đi tới không gian liên hành tinh”

Sumangala ôn tồn bảo: “Thế thì dường như những kết luận của khoa học hiện đại xét cho cùng không khác bao nhiêu với những kết luận của Đức Phật!”.

Landing at Madras— Đặt Chân Tới Madras

After a day or two in Colombo we resumed our voyage on the Navarino, and duly arrived at Madras, to find an uncomfortably heavy swell, which made our landing a distinctly unpleasant and even somewhat hazardous business. A breakwater had been erected some years previously, but had not proved strong enough to resist the seas raised by the monsoon, so that all that was left of it were a few scattered heaps of stone. Consequently we had to be taken off the ship in enormous boats of a very unusual type. The planks of which they were constructed seemed to be not nailed together in the ordinary way, but as it were stitched together with rope, so that there was a curious collapsibility about the sides; and we were told that this method of construction enabled them to resist the impact of the tremendous surf better than if they had been more rigid.

The boats were of great depth, and the rowers with their long paddles perched themselves somehow on the sides, the very gunwale of the boat, while the unfortunate passengers were dumped into the central hollow far below the feet of the rowers, in what would have been the hold of the craft if it had been decked. It will perhaps be understood that to descend into such a craft from a steamer which was rolling heavily in the open roads (for of course there was then nothing like a harbour) required great agility, and was indeed a decidedly dangerous feat, as the boat was sometimes level for a moment with the ship’s bulwarks and directly afterwards twenty or thirty feet below, for the seas were positively mountainous.

One had to jump at exactly the right moment, and one by one most of the passengers achieved it, though with a good deal of trepidation, mostly bundling ungracefully and ignominiously into the bottom of the boat. Obviously gymnastics of this sort were impossible for Madame Blavatsky, and the only alternative was to tie her carefully into a chair, and lower her by means of the ordinary cargo winch. I need hardly say that she did not appreciate this operation, and I think that her language on the occasion rather surprised even the hardened officers. She was, however, lowered and received with perfect safety, and though the process may have appeared undignified, I think some of the rest of us rather envied her.

Presently we were all safely in the boat, very wet but otherwise uninjured. We have to remember that Madame Blavatsky was returning to India to meet a mass of most wicked and slanderous charges which had been brought against her by the Madras Christian College missionaries, that these so-called missionaries had confidently predicted that she could never return to face these charges, and that consequently the Indian population regarded her as a hero and a martyr, and came down in their thousands to give her such an ovation as might have been accorded to a victorious general.

Sau một hai ngày ở Colombo, chúng tôi lại tiếp tục du hành trên tàu Navarino và đi thẳng tới Madras, thấy ở đó có một chỗ phình ra nặng nề khó chịu khiến cho việc đổ bộ của chúng tôi rõ rệt là không dễ chịu và thậm chí công việc khá phiêu lưu. Cách đây vài năm về trước, người ta đã dựng nên một cái đê chắn sóng nhưng nó tỏ ra không đủ mạnh để chống lại việc nước biển dâng lên do gió mùa, khiến cho mọi thứ còn lại chỉ là một vài đống đá rải rác. Vì thế cho nên chúng tôi phải ra khỏi tàu trong những chiếc thuyền khổng lồ thuộc một loại rất bất bình thường. Chúng được kiến tạo bằng những tấm ván dường như không được đóng đinh lại với nhau theo kiểu thông thường, mà có thể nói là được dây thừng khâu lại với nhau sao cho hai bên mạn sườn do rất dễ bị bung ra một cách kỳ lạ. Người ta bảo chúng tôi rằng cái phương pháp kiến tạo này khiến cho chúng tôi có thể chống lại tác động của đợt sóng ghê gớm tốt hơn mức nếu chúng quá cứng rắn.

Những chiếc thuyền có chiều sâu rất lớn và những người chèo thuyền có những mái chèo dài tụ tập ở một cách nào đó hai bên mạn sườn vốn là chủ yếu của con thuyền, trong khi những người hành khách bất hạnh bị nhồi nhét vào khoảng lõm ở trung tâm sâu bên dưới chân của người chèo thuyền nơi cái ắt là chỗ trước của con thuyền nếu nó có bong. Có lẽ ta phải hiểu rằng việc từ tàu thủy đi xuống một cái thuyền như thế vốn phải lăn nặng nề qua những con đường mở ngõ (bởi vì dĩ nhiên lúc đó không có gì giống như một hải cảng) đòi hỏi người ta phải rất nhanh nhẹn, và quả thật là một thành tích nguy hiểm vì đôi khi con thuyền ở mức nhất thời trên cầu tàu rồi trực tiếp sau đó dưới 20—30 bộ Anh vì biển cả rõ ràng là gập ghềnh như núi.

Người ta phải nhảy đúng lúc và từng người một thì hành khách đều nhảy được mặc dù rất sợ hãi; hầu hết co cụm lại một cách khó thương và nhục nhã ở dưới đáy thuyền. Hiển nhiên là bà Blavatsky không thể chơi trò thể thao thuộc loại này và phương án duy nhất là cột kỹ lưỡng bà vào một chiếc ghế dựa rồi dùng một cái tời vận chuyển hàng thông thường hạ thấp bà xuống thuyền. Tôi hầu như khỏi cần nói rằng bà không đánh giá cao thao tác này và tôi thiết tưởng rằng ngôn ngữ của bà trong dịp này gây ngạc nhiên khá nhiều ngay cả đối với những thuyền viên chai đá. Tuy nhiên bà cũng được hạ thấp xuống và đón tiếp một cách hoàn toàn an toàn, mặc dù qui trình này đã là không được đàng hoàng lắm, song tôi thiết tưởng một số những người còn lại trong chúng tôi khá ganh tị với bà.

Chẳng bao lâu sau tất cả chúng tôi đều xuống thuyền an toàn, ướt sũng,nhưng dù sao cũng không bị thương. Chúng ta phải nhớ rằng bà Blavatsky trở về Ấn Độ để gặp gỡ đương đầu với cả đám những lời buộc tội nói xấu và độc ác nhất mà những nhà truyền giáo Trường Kitô Madras nêu ra chống lại bà. Cái gọi là những nhà truyền giáo này đã tự tin tiên đoán rằng bà chẳng bao giờ có thể trở về để đương đầu với những lời buộc tội đó, vì thế cho nên dân Ấn Độ coi bà là một anh hùng và thánh tử vì đạo, ngàn người đã ùa xuống tung hô bà như thể nghi lễ dành cho một vị tướng khải hoàn.

Our Reception— Cuộc Đón Tiếp Chúng Tôi

The students of Pachiappa’s College were taking a very prominent part in the reception, apparently as a demonstration against the rival Madras Christian College; and it may have been they who were responsible for the appearance of a band of performers upon various weird Indian musical instruments, mostly, so far as I can remember, of the flute or flageolet order, though there were also some drums. Whoever was in charge of the proceedings made the fatal mistake of sending this band out to the ship in that terrible masuli boat, and as they were tossing about for at least twenty minutes in that boat in a very heavy sea while arrangements were being made to put Madame Blavatsky and other passengers on board, they were absolutely prostrate with sea-sickness, and instead of receiving our Leader with joyous strains as her chair swung down, they were simply lying groaning and helpless in the bottom of the boat.

We were brought alongside a pier on which we landed only with very great difficulty—in fact, some members of the band had to be lifted on shore by their friends. Along that pier ran a tramway-line, and there was a single and rather primitive car, which under ordinary circumstances was drawn by a horse; but about a dozen of the most enthusiastic students had harnessed themselves to this car, and insisted on drawing Madame Blavatsky to the shore in triumph amidst a huge cheering crowd. Quite a number of Europeans had also come down to see the fun, and were seated in their carriages at the end of the pier. I think that the Oakleys felt distinctly conspicuous and uncomfortable, and I must admit that I was a little embarrassed myself, as the whole proceeding was, to say the least of it, unconventional; but Madame Blavatsky accepted all this homage with great dignity as a matter of course, and indeed seemed rather to enjoy it.

A comical touch was added to the scene by the fact that the unhappy bandsmen, still desperately in the throes of mal-de-mer, were marshalled in front of the car and instructed to walk backwards before it, not only playing hard all the time, but bowing towards the car as they walked. Words fail me to describe that amazing pageant; if the reader’s imagination is sufficiently powerful he can perhaps make a mental picture of those heroic bandsmen, still green and staggering from seasickness, walking or rather stumbling backwards, bowing profoundly and constantly, but struggling nobly to bring out a few notes from their various instruments between the spasms of acute discomfort, and this weird procession tunnelling its way through a closely packed and wildly uproarious crowd, all waving flags and yelling at the top of their voices. That pier seemed very, very long, but at last we reached the shoreward end, and found that some sympathetic Maharaja had sent down a carriage to meet Madame, and to carry her off to Pachiappa’s Hall, where she was to receive an address of welcome from the students.

Học sinh Trường Pachiappa đóng vai trò rất nổi bật trong lễ đón tiếp, xét theo biểu kiến là biểu tình chống lại Trường đối lập Kitô Madras; có thể chính họ chịu trách nhiệm về sự xuất hiện của một đoàn người trình diễn đủ thứ nhạc cụ kỳ quặc của Ấn Độ, mà theo chỗ tôi nhớ thì hầu hết là sáo thổi ngang hoặc thổi dọc, mặc dù cũng có một số trống. Bất cứ ai chịu trách nhiệm về cuộc diễu hành này ắt phạm sai lầm chết người khi gửi đoàn người này ra tận tàu trong cái thuyền masuli khủng khiếp và vì họ bị quăng lên quật xuống ít nhất cũng 20 phút trên thuyền khi biển động trong khi người ta dàn xếp để đưa bà Blavatsky và những hành khách khác lên bờ, cho nên họ hoàn toàn bị mệt lả vì say sóng, thay vì tiếp đón người Lãnh đạo bằng thái độ vui vẻ khi ghế dựa của bà được đưa xuống thì họ chỉ biết nằm bò rên rỉ bơ vơ ở đáy thuyền.

Chúng tôi được đưa dọc theo một cầu tàu mà chúng tôi chỉ đổ bộ lên đó một cách rất khó khăn—thật vậy, một số thành viên của ban nhạc phải được bạn bè nhấc lên bờ. Dọc theo cầu tàu có một đường xe điện và có một xe cổ lỗ một toa trong hoàn cảnh bình thường được kéo bằng ngựa; nhưng vào khoảng một tá những học sinh nhiệt thành nhất đã bu lấy xe rồi khăng khăng kéo bà lên bờ trong sự hoan hô nồng nhiệt đắc thắng của đám đông. Có cả đám người Âu châu cũng xuống xem đám vui và ngồi trong xe ngựa của mình ở cuối cầu tàu. Tôi thiết tưởng rằng ông bà Oakley cảm thấy mình rõ rệt đang nổi bật và khó chịu. Tôi phải thừa nhận rằng bản thân tôi cũng hơi bối rối, bởi vì toàn thể đám rước ít ra cũng có thể nói là không theo qui ước, nhưng bà Blavatsky đón nhận sự vinh danh này với đầy đủ tư cách coi đó là vấn đề phẩm giá dĩ nhiên và quả thật có vẻ khá thú vị về nó.

Còn một nét hài hước thêm vào cho cảnh tượng đó, là ban nhạc bất hạnh vẫn còn tuyệt vọng vì bị say sóng phải xếp hàng trước cái xe và được lệnh đi lùi lại trước nó, chẳng những lúc nào cũng biểu diễn khó khăn mà còn phải cúi đầu hướng về cái xe khi bước đi. Tôi không tìm được lời lẽ để mô tả cái đám rước kỳ diệu ấy; nếu bạn đọc có óc tưởng tượng phong phú thì có lẽ y có thể hình dung ra ban nhạc dũng cảm này vẫn còn xanh mét và đi loạng choạng vì say sóng, mà lại bước đi hoặc nói cho đúng hơn là đi loạng choạng về phía sau, thường xuyên cúi đầu sâu xuống nhưng lại cao thượng phấn đấu trổi lên một vài nốt nhạc từ đủ thứ nhạc cụ giữa những cơn co giật khó chịu cấp tính; cái đám rước quái đản này đi xuyên qua một đám đông đặc nghẹt người hò reo như điên dại, tất cả đều phất cờ và rú lên hết mức. Cái cầu tàu có vẻ rất dài nhưng cuối cùng chúng tôi cũng tới đầu mút ở bờ biển và thấy một số vị Đại vương có thiện cảm đã gửi tới một xe ngựa để đón bà Blavatsky, rồi chở bà tới Sảnh đường Pachiappa nơi bà được học sinh đọc bài diễn văn chào mừng.

At Pachiappa’s Hall— Ở Sảnh Đường Pachiappa

We were hustled on to a platform, where Colonel Olcott and Madame Blavatsky were accommodated with two big arm-chairs. The hall was crowded to excess, and the tumultuous cheering made it quite impossible to speak for many minutes. Of course we were all loaded with garlands according to the kindly and picturesque Indian custom; and an attempt was made to read the address of welcome, though irrepressible outbursts of cheering made it difficult to follow it. Then the Colonel rose to reply on Madame Blavatsky’s behalf, and one might have hoped that his speech would be allowed to terminate the proceedings; but there were many other Indian brothers who wished to express their sympathy, and their flaming indignation at the atrocious wickedness of the missionaries.

There was an insistent demand for a speech from Madame Blavatsky herself, and though she did not usually speak in public she at last consented to do so on this especial occasion. Naturally she was received with thunders of applause, which lasted so long that she had to sit down again and wait until it was over. When at last she was allowed to speak, she began very well by saying how touched she was by this enthusiastic reception, and how it showed her what she had always known, that the people of India would not accept tamely these vile, cowardly, loathsome and utterly abominable slanders, circulated by these unspeakable—but here she became so vigorously adjectival that the Colonel hurriedly intervened, and somehow persuaded her to resume her seat, while he called upon an Indian member to offer a few remarks.

I remember especially .an exceedingly brilliant speech made by a young lawyer, Mr. Gyanendranath Chakravarti; I had had previously no idea whatever of the eloquence and faultless diction of the highly-educated Indian speaker. The proceedings at Pachiappa’s Hall seemed to me almost interminable, but eventually we were allowed to depart for Adyar, and I had my first glimpse of the Headquarters which I afterwards came to know so well, which even now seems to me more truly home than any other spot in the world. Here of course was yet another reception for Madame Blavatsky, and I think that even her iron determination must by this time have been approaching its limit, for the rest of us were almost too exhausted to be able to appreciate the wonderful scene.

Chúng tôi chen lấn nhau xuống tận cái bục nơi Đại tá Olcott và bà Blavatsky đã ngồi chễm chệ trong hai chiếc ghế bành có tay dài. Sảnh đường đặc nghẹt người quá mức và tiếng hoan hô ồn ào khiến cho người ta hoàn toàn không thể nói được trong nhiều phút. Dĩ nhiên là chúng tôi được choàng những vòng hoa theo phong tục tử tế và hoa hòe hoa sói của Ấn Độ, và người ta toan tính đọc diễn văn chào mừng mặc dù những đợt hò reo không ai kềm chế nỗi, khiến cho người ta khó lòng theo dõi được nó. Thế rồi Đại tá đứng lên trả lời nhân danh bà Blavatsky và người ta có thể hi vọng rằng diễn từ của ông được phép kết thúc buổi hội, nhưng có nhiều huynh đệ Ấn Độ khác muốn bày tỏ sự đồng cảm của mình và lòng căm phẫn bùng cháy của họ trước sự độc ác tàn bạo của đám người truyền giáo.

Người ta khăng khăng đòi hỏi chính bà Blavatsky đáp từ và mặc dù bà thường không nói trước công chúng, nhưng cuối cùng bà cũng đồng ý làm như vậy trong cái dịp đặc biệt này. Tự nhiên là bà Blavatsky được đón tiếp bằng những đợt vỗ tay vang như sấm kéo dài đến nỗi bà phải ngồi xuống trở lại chờ cho đến khi thiên hạ hết vỗ tay. Khi cuối cùng bà được phép ngỏ lời thì bà bắt đầu rất khéo bằng cách bảo rằng bà thật sự xúc động xiết bao trước sự đón tiếp nhiệt thành này, và điều đó cho thấy cái mà bà đã luôn luôn biết đó là nhân dân Ấn Độ không ngoan ngoãn chấp nhận những lời nói xấu hèn hạ, hèn nhát, ghê tởm và cực kỳ đáng khinh bỉ được lưu hành bởi những kẻ không biết nói làm sao. Nhưng ở đây bà dùng những hình dung từ mạnh mẽ đến nỗi Đại tá phải vội vã can thiệp, và bằng cách nào đấy thuyết phục bà ngồi xuống, trong khi ông yêu cầu một hội viên Ấn Độ đưa ra một vài nhận xét.

Tôi đặc biệt còn nhớ một diễn từ cực kỳ xuất sắc của một luật gia trẻ, ông Gyanendranath Chakravarti; trước đó tôi không hề có ý niệm gì về sự lưu loát và cách đọc tuyệt vời của diễn giả Ấn Độ có trình độ giáo dục cao. Cuộc họp ở Sảnh đường Pachiappa có vẻ hầu như là vô tận, nhưng rốt cuộc chúng tôi cũng được phép khởi hành đi Adyar, và lần đầu tiên tôi thoáng thấy được Tổng hành dinh mà sau này tôi biết rất rõ, thậm chí giờ đây đối với tôi còn có vẻ là ngôi nhà có thực hơn bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Ở đây dĩ nhiên còn có một buổi đón tiếp khác dành cho bà Blavatsky, và tôi thiết tưởng rằng ngay cả quyết tâm sắt đá của bà cho đến lúc này cũng gần đạt tới giới hạn,vì những người còn lại trong chúng tôi hầu như quá kiệt sức cho nên không thể trân trọng cái cảnh tượng quá kỳ diệu ấy.

CHAPTER VIII

Adyar at Last— Cuối cùng tới Adyar

The Headquarters at which I arrived in the month of December, 1884, was very different from the palatial suite of buildings which now meets the view of the visitor as he drives in over the Elphinstone Bridge from Madras. Colonel Olcott had bought the property just two years before that, and had not yet begun the series of alterations and extensions which were presently so entirely to transform the buildings. The estate then comprised twenty-seven acres, and the house was of the ordinary Anglo-Indian type—not large, but well built and commodious. It was flanked by two small octagonal garden pavilions of two rooms each, and it had the usual stables and outbuildings—supplemented, however, by a swimming-bath. We have, unfortunately, no good photographs of the house as it was then, though there exists a small print cut out of some old magazine which gives a partial view, and some of the early Convention photographs show little bits of the building.

When I first saw it, it possessed on the ground floor a square central hall, on each side of which were two comfortable rooms. At the back of the hall was a sort of ante-room, and then a large chamber, evidently intended to be the main drawing-room, which ran almost the whole length of the house and opened out on to a broad terrace overlooking the Adyar River. That room was being used as the office for the Recording Secretary of the Society and the Manager of The Theosophist, and we also kept there our little store of books for sale, the nucleus out of which has grown the extensive business of The Theosophical Publishing House of the present day.

As is usual in India, the whole of the house was covered by a flat cemented roof. Upon this roof, when the house came into possession of the Society, there was one large room (now divided into two bedrooms), and on the way down the stairs a very small one in which Damodar lived—a sort of eyrie, with a window looking west towards the great bridge. Madame Blavatsky had at first occupied the large room upon the roof, but was not altogether satisfied with it, so during her absence in Europe in 1884 another room was erected for her at the north-east corner of the roof, and it was in this latter that she took up her residence when we arrived there at the end of 1888. Colonel Olcott was at that time living in one of the garden pavilions—that on the eastern side of the main building; Dr. Franz Hartmann occupied the octagonal room, and Colonel Olcott had established himself in the oblong room just behind it. On our arrival from Europe we found all the available accommodation occupied, and indeed overcrowded; so that for a night or two I was honoured by being allowed to sleep upon a settee in the Colonel’s room.

I remember waking in the middle of one night and seeing a tall figure carrying a lantern standing by the Colonel’s bedside, which surprised me somewhat, as I knew that the door had been locked. I half raised myself in bed, but as I saw that the visitor had aroused the Colonel, who apparently recognized him, I sank back reassured. After a few moments of earnest conversation the figure suddenly vanished—which was the first intimation to me that he was not an ordinary physical-plane visitant. As the Colonel, who had raised himself in bed, promptly lay down and went to sleep again, it occurred to me that I had better do likewise; but in the morning I ventured respectfully to tell the Colonel what I had seen. He informed me that the messenger was Djwal Kul—now a member of the Great Brotherhood, but then the principal pupil and lieutenant of the Master Kuthumi—the same whom I had already seen in the Hotel d’Orient at Cairo, though in this case the light was not strong enough to enable me to recognize him.

A little later in the year, when Madame Blavatsky left for Europe, Colonel Olcott, by her desire, took possession of the new room which had been built for her at the corner of the roof, and it has ever since been occupied by the President of the Society. The alterations which have since been made in the Headquarters building are of so radical a character that it is practically impossible for the visitor at the present time to reconstruct in his mind the house as it used to be; and even those of us who knew it in those earlier days find it difficult to trace the old landmarks.

Tổng hành dinh mà tôi đến đó vào tháng 12 năm 1884, khác hẳn chuỗi dinh thự mà giờ đây du khách đến nhìn thấy khi băng ngang qua Cầu Elphinstone từ phía Madras. Đại tá Olcott đã mua bất động sản này chỉ hai năm trước thời điểm ấy và còn chưa khởi sự hàng loạt cải tạo và mở rộng, chẳng bao lâu sau sẽ biến đổi hoàn toàn như dinh thự này. Lúc bấy giờ bất động sản bao gồm 37 mẫu Anh và căn nhà này thuộc loại hình Anh Ấn thông thường—không lớn, nhưng được xây dựng tử tế và khoáng đảng, hai bên sườn nó có hai khu nhà vườn nhỏ hình bát giác, mỗi khu có hai buồng cùng với khu chuồng ngựa thông thường và khu dinh thự ở ngoài, tuy nhiên được bổ sung bằng một hồ bơi. Tiếc thay chúng tôi không có những hình chụp rõ nét về tòa nhà ấy vào lúc đó, mặc dù có một ảnh in nhỏ được cắt ra từ một tạp chí cũ nào đấy chỉ chụp được một phần, và một số những ảnh chụp các đại hội thời kỳ đầu cũng cho thấy một phần khu dinh thự.

Khi lần đầu tiên tôi nhìn thấy nó thì trên tầng trệt có một sảnh đường trung tâm hình vuông, mỗi bên là hai phòng có tiện nghi. Ở phía sau lưng sảnh đường là một loại tiền phòng, thế rồi lại có một buồng lớn hiển nhiên được dự tính là phòng khách chính yếu, nó chạy hầu hết dọc theo bề dài của dinh thự và mở ra tới tận một sân thượng rộng nhìn ra sông Adyar. Phòng này được dùng làm văn phòng của Thư ký Ghi chép của Hội và Ban quản lý Tạp chí nhà Thông Thiên Học, chúng tôi cũng duy trì ở đó cửa hàng nhỏ bán sách mà hạt nhân của nó đã phát triển thành doanh nghiệp rộng lớn là Nhà Xuất bản Thông thiên học ngày nay.

Theo thông lệ ở Ấn Độ, toàn thể toà nhà được che phủ bằng một mái che xi măn. Phía trên mái che này khi tòa nhà thuộc quyền sở hữu của Hội thì có một căn phòng lớn (giờ đây chia thành hai phòng ngủ) và trên đường đi xuống cầu thang có một căn phòng nhỏ nơi Damodar sinh sống—đây là một loại chỗ ở riêng có cửa sổ nhìn ra phía Tây hướng về cầu lớn. Bà Blavatsky thoạt đầu ở căn phòng lớn trên nóc, nhưng không hoàn toàn thỏa mãn với nó cho nên khi bà vắng mặt đi Âu châu năm 1884 thì người ta dựng lên cho bà một căn phòng khác ở góc Đông Bắc trên nóc; bà tiếp thu chỗ ở của mình nơi phòng này khi chúng tôi tới đó vào cuối năm 1888. Vào lúc ấy Đại tá Olcott sống ở một trong các tòa nhà phụ ở vườn nơi phía Đông tòa nhà chính. Tiến sĩ Franz Hartmann ở trong căn phòng bát giác, còn Đại tá Olcott ở căn phòng hình chữ nhật ngay phía sau phòng nêu trên. Khi chúng tôi từ Âu châu tới Adyar, một hai đêm tôi vinh hạnh được phép ngủ trên ghế trường kỷ trong phòng Đại tá.

Tôi còn nhớ vào nửa đêm hôm đó, khi thức dậy tôi thấy một hình bóng người cao cao, tay cầm chiếc đèn lồng đứng bên cạnh giường Đại tá, điều này làm tôi khá ngạc nhiên vì tôi biết rằng cửa đã khóa. Tôi nhỏm dậy khỏi giường nhưng khi tôi thấy rằng khách viếng thăm đã đánh thức Đại tá dậy, xét theo biểu kiến thì Đại tá nhận ra khách cho nên tôi an tâm nằm xuống. Sau một vài cuộc chuyện trò đầy tâm huyết thì hình bóng đó đột nhiên biến mất; đây là gợi ý đầu tiên cho tôi biết rằng đó không phải là khách viếng thăm bình thường trên cõi vật lý. Vì Đại tá đã nhỏm dậy khỏi giường lại nhanh chóng nằm xuống và tiếp tục ngủ trở lại, cho nên tôi thấy rằng tốt hơn mình cũng làm như thế; nhưng đến buổi sáng thì tôi đánh bạo kính cẩn nói cho Đại tá biết rằng tôi đã nhìn thấy điều gì. Ông cho tôi biết rằng sứ giả là Chơn sư Djwal Kul—bây giờ là thành viên của Quần Tiên Hội, nhưng vào lúc đó là đệ tử chính yếu phụ tá Chơn sư Kuthumi—đó cũng chính là đấng mà tôi đã từng nhìn thấy nơi khách sạn Phương Đông ở Cairo, mặc dù trong trường hợp này ánh sáng không đủ mạnh khiến cho tôi có thể nhận ra ngài.

Ít lâu sau trong năm, khi bà Blavatsky rời Adyar đi Âu châu thì thể theo nguyện vọng của bà, Đại tá Olcott chiếm dụng căn phòng mới được xây cho bà ở góc của nóc nhà và từ đó trở đi Hội trưởng ở đó—những thay đổi từ đó trở đi trong tòa nhà Tổng hành dinh có tính cách triệt để đến nỗi khách viếng thăm hiện nay hầu như không thể tái tạo trong trí mình cái tòa nhà xưa kia ra sao và ngay cả những người trong chúng tôi vốn biết rõ nó vào thời kỳ đầu cũng thấy khó mà truy nguyên được những cột mốc xưa cũ.

The Headquarters Hall— Sảnh đường của Tổng hành dinh

It was in the next year, 1885, that Colonel Olcott made his first great alteration, for the purpose of providing a permanent hall in which the Convention meetings could be held. The Convention of 1884, which was just about to commence when I arrived, was held in what is called a pandal—a huge temporary hall with walls and roof of palm-leaves; and it was the many inconveniences attached to this, as well as the expense of it, which had determined the Committee of the Society to sanction the construction of a more durable erection. As is usual in the Theosophical Society, the great difficulty that confronted us was the everlasting financial problem. To build a hall at all adequate for our purposes would even in those days of long ago have cost at least £1000, and nothing like that sum was forthcoming.

But Colonel Olcott’s ingenuity was equal to the occasion; he devised a plan by which we obtained a fine and convenient hall, quite sufficient for our needs, for about one-sixth of that estimate. Along the front of the house—in front of the square hall previously described and of the rooms on each side of it—ran the usual wide Indian veranda, perhaps a hundred feet long and about fourteen feet in width. In the centre of that projected a porte-cochère under which ran the drive leading up to the house. The floor of this veranda was some feet above the level of the drive, and Colonel Olcott carried out that raised floor to the edge of the portico, and then extended it along in both directions until he had doubled the width of his veranda. He raised the roof about six feet, built a wall on the other side of his extended veranda, and then made a new porch and deflected the carriage-drive to meet it.

In this way he provided us with a hall shaped like the letter T—the double-width veranda forming the cross piece, and the original square hall, with the ante-room thrown into it, forming the central stroke. The platform for speakers was placed in the centre of the long arm, facing into the old square hall, so that the speakers had that hall in front of them and the new extension on each side of them. This hall was for many years used for our public meetings; it is supposed to seat 1500 people comfortably, but on several occasions 2300 have been squeezed into it; and even then so many people had to be turned away that for some years now we have given up the endeavour to accommodate the crowd in-doors and have held our public meetings under the branches of the big banyan tree at Blavatsky Gardens.

Vào năm sau tức năm 1885, Đại tá Olcott đã tiến hành cuộc cải tạo lớn đầu tiên với mục đích cung cấp một sảnh đường trường tồn, trong đó ta có thể cử hành việc họp Đại hội. Khi tôi đến nơi thì Đại hội năm 1884 sắp sửa khai mạc; nó được cử hành trong cái gọi là pandal, một sảnh đường lớn tạm bợ, có những bức vách và mái bằng lá cây cọ; sảnh đường này có rất nhiều điều bất tiện cũng như phải được chi tiêu hằng đại hội một, cho nên Ủy ban điều hành Hội đã quyết định phê chuẩn việc xây dựng một tòa nhà trường cữu hơn. Theo thông lệ trong Hội Thông Thiên Học thì khó khăn lớn mà chúng tôi phải đương đầu vẫn dài dài là vấn đề tài chính. Ngay cả vào cái thời cách đây rất lâu, việc xây dựng một sảnh đường đáp ứng trọn vẹn mục đích của chúng tôi, cũng phải tiêu tốn mất ít ra là 1000 bảng Anh và số tiền như vậy hầu như không sẵn có.

Nhưng sự tài khéo của Đại tá Olcott đáp ứng được cơ hội này; ông nghĩ ra một kế hoạch khiến cho chúng tôi có được một sảnh đường đẹp đẽ và thuận tiện hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu của chúng tôi mà chỉ tiêu tốn mất khoảng một phần sáu dự toán. Dọc theo mặt tiền của căn nhà—phía trước sảnh đường hình vuông mà ta mô tả trước kia cùng với những căn phòng ở hai bên—có một hàng hiên rộng lớn theo thông lệ Ấn Độ có lẽ dài 100 bộ Anh và rộng 14 bộ Anh. Ở trung tâm cái cổng cho xe đi vào nhô ra đó bên dưới nó có một đường đi dẫn chúng tôi vào tòa nhà. Sàn của hàng hiên này cao hơn mức đường đi chừng vài bộ Anh và Đại tá Olcott tiến hành nâng sàn lên tới mép của cổng vòm rồi mở rộng nó theo cả hai hướng cho đến khi tăng gấp đôi được chiều rộng của hàng hiên. Ông nâng nóc nhà lên chừng sáu bộ Anh, xây một bức tường ở mỗi bên cửa hàng hiên đã được mở rộng, thế rồi làm một cổng ra vào mới hình vòm và chuyển hướng đường xe chạy để đến đúng vào nó.

Bằng cách này ông cung ứng cho chúng tôi một sảnh đường theo hình chữ T—hàng hiên có chiều rộng tăng gấp đôi tạo thành phần băng ngang, còn sảnh đường vuông nguyên thủy với tiền phòng đâm vào đó tạo thành nét đi xuống ở trung tâm. Diễn đàn dành cho diễn giả được đặt ở trung tâm của cái cánh chữ T dài quay mặt vào sảnh đường vuông xưa cũ sao cho diễn giả thấy sảnh đường ở trước mắt mình, còn phần mở rộng mới ở hai bên mình. Trong nhiều năm sảnh đường này được dùng cho chúng tôi họp công khai, người ta giả định rằng nó chứa được 1500 người ngồi thoải mái, nhưng có nhiều dịp người ta đã nhét vào đó tới 2.300 người; và ngay cả lúc bấy giờ có quá nhiều người vẫn phải bị ở ngoài, cho nên cách đây một số năm chúng tôi đã từ bỏ nỗ lực để cho đám đông ngồi thoải mái trong sảnh đường mà lại tiến hành họp công khai ở dưới những nhánh cây đa lớn tại Vườn Blavatsky.

My First Convention— Đại Hội Đầu Tiên Mà Tôi Dự

It may be imagined with what enormous enthusiasm I entered upon my first Theosophical Convention—what it was to me to find myself at last upon the sacred soil of India, among the dark-skinned brothers of whom I had heard so much—any one of whom might, for all I knew, be a pupil of one of our holy Masters—all of whom, I thought, must at any rate have been from childhood students of the Sacred Lore, knowing far more about it all than we Westerns could know. I was fully prepared to see the best in everybody and to make the best of everything; I met with the most kindly welcome from everyone with whom I came in contact, and consequently enjoyed myself immensely. The number and the variety of the new impressions which I received were so great as to be somewhat overwhelming; indeed, I recollect but vaguely the lectures which were delivered and the then unknown brethren who delivered them. The principal subject of discussion was the unspeakably shameful attack upon Madame Blavatsky which had been made by some people calling themselves Christian missionaries—though nothing could possibly have been more utterly un-Christian than the campaign of falsehood and slander upon which they so eagerly and maliciously entered.

I soon found that there was much difference of opinion as to the best way of meeting these loathsome libels. Madame Blavatsky herself was full of vivid indignation and was most anxious to prosecute her slanderers for libel. Many of her friends and admirers heartily agreed with her in this; but it happened that among our most prominent Indian members we had a large number of judges, of eminent lawyers and of statesmen belonging to the various semi-independent Indian kingdoms; and all these men with one accord advised her strongly against taking any such course. They knew well the extreme bitterness of Anglo-Indian feeling against the Theosophical Society, and they declared that it was absolutely impossible that Madame Blavatsky could obtain justice or that the trial would be conducted with ordinary fairness. I was myself in no position to offer an opinion in this matter, so I need say nothing further about it here, but I should like to refer my readers to the third volume of Colonel Olcott’s Old Diary Leaves, pp. 190-195, where they will find full reasons given for the conclusions at which the Committee of Councillors arrived.

Another consideration which I think weighed very heavily in this decision was that it would be quite impossible to prevent the enemy from bringing up in court the whole question of the existence of our holy Masters, so that Their names would be exposed to the coarse ribaldry of utterly unscrupulous slanderers, whose only object would be to cause as much pain as possible to those who loved and followed Them. It was felt that such sacrilegious comment would arouse such widespread horror and indignation among all decent Hindus that it would be better to endure any amount of vilification than to set in motion so terrible a stream of filth. Colonel Olcott (having himself been a lawyer) threw the weight of his influence strongly on the side of this more sagacious party, and finally Madame Blavatsky very reluctantly consented to abide by their decision.

Many of those whose names stand forth most prominently in my memories of that 1884 Convention have now passed away from among us, and to mention them here would be merely to compile a list of names, most of them little known to the present generation of Theosophists. They appear in our President-Founder’s Old Diary Leaves, and photographs of many of them are to be seen in the series of memoirs of “Theosophical Worthies” which appeared some years ago in The Theosophist, and also in Mr. C. Jinarājadāsa’s monumental work The Golden Book of The Theosophical Society. Many of them were men of high station and noble reputation, and I esteem it an honour to have known them even slightly. The Recording Secretary at that time was a young Mahratta Brahman, Damodar Keshub Mavalankar, and as far as I remember he and a certain southern Brahman were the only young men who took any prominent part in the work, though many hundreds of students attended the public meetings.

This young southern Brahman was something of a mystery; I understand that his real name was M. Krishnamachari, but at the period of which I am writing he was commonly known as Babaji (or Bawaji) Darbhagiri Nath. Now, that is a northern name and not a southern; and it would seem from a reference in one of Mr. Sinnett’s books that there really was a Babaji Darbhagiri Nath in the north of India who had some part in the earlier history of the Society; but he was certainly not the same person whom I saw at Adyar, for he is described as a large and portly person, whereas this young man was almost a dwarf. He seemed then deeply devoted to Madame Blavatsky, and when she went to Europe a little later he was one of those who accompanied her; but afterwards he turned against her for some unknown reason and attacked her in the grossest manner. I remember that Madame Blavatsky wrote a letter to me in which she complained bitterly of the wickedness and malignity of his action; and the Master Kuthumi annotated that letter in the course of its transmission through the post (as They often used to do in those days), and spoke of the little man as having failed.

For some reason or other both this young man and Damodar wore during that 1884 Convention a very curious costume, consisting chiefly of a sort of long coat of silk, slashed in alternate gores of blue and white. Naturally the rumour went round that this was some kind of uniform prescribed for the chelas of the Masters! But I have never seen anybody wearing it since.

Người ta có thể tưởng tượng rằng tôi nhiệt thành xiết bao khi bước vào Đại hội Thông Thiên Học đầu tiên—đối với tôi đó là thấy mình cuối cùng cũng ở nơi đất thánh Ấn Độ, xen lẫn với những huynh đệ da đen mà tôi đã từng nghe nói rất nhiều—theo chỗ tôi biết thì bất cứ ai trong đám đó cũng có thể là một đệ tử Chơn sư—tôi thiết tưởng tất cả những người này dù sao đi nữa từ khi còn tấm bé cũng đã học được Kho kiến thức Linh thiêng, cho nên biết về nó nhiều hơn hẳn so với mức những người Âu Mỹ chúng tôi biết được. Tôi hoàn toàn chuẩn bị để thấy điều tốt đẹp nhất nơi mọi người và tận tụy được điều tốt đẹp nhất nơi mọi việc; tôi gặp được sự hoan nghênh tử tế nhất nơi mọi người mà tôi tiếp xúc và vì vậy bản thân tôi vô cùng vui thích. Số lượng và số chủng loại ấn tượng mới mẻ tôi tiếp nhận được lớn đến nỗi tôi bị áp đảo phần nào; thật vậy tôi chỉ còn nhớ mơ hồ những bài thuyết trình được nêu ra cùng với những huynh đệ thuyết trình lúc bấy giờ chưa ai biết tới. Đề tài thảo luận chính yếu là sự đả kích bà Blavatsky một cách đáng xấu hổ hết nói của một số người tự xưng là nhà truyền giáo Kitô—mặc dù không điều gì có thể cực kỳ phi Kitô giáo hơn là cái chiến dịch giả dối và nói xấu mà họ đã bước vào một cách háo hức đầy ác ý.

Chẳng bao lâu sau, tôi thấy có quá nhiều sự khác nhau về ý kiến làm cách nào tốt nhất để đương đầu với những lời phỉ báng ghê tởm này. Bản thân bà Balvatsky tràn đầy lòng căm phẫn và rất nôn nóng chống trả lại những lời nói xấu phỉ báng bà. Nhiều bạn bè và người hâm mộ bà toàn tâm toàn ý đồng thuận với bà về điều này; nhưng trong số những hội viên Ấn Độ lỗi lạc nhất cũng có một số lớn thẩm phán, luật sư xuất sắc và chính khách thuộc về đủ thứ giới trong Ấn Độ có qui chế bán độc lập; và tất cả những người này đều nhất tề khuyên bà đừng đi theo một lộ trình như thế. Họ biết rõ sự cực kỳ cay đắng trong tình cảm của người Anh Ấn chống lại Hội Thông Thiên Học, và họ tuyên bố rằng bà Blavatsky hoàn toàn không thể có được công lý và phiên tòa xử ắt không được điều hành theo sự công bằng thông thường. Bản thân tôi không ở vị thế đưa ra một ý kiến về vấn đề này, cho nên tôi không cần nói thêm nữa về nó ở đây, nhưng tôi xin bạn đọc hãy tham chiếu quyển 3 trong Hồi ký của Đại tá Olcott có từ trang 190-195, trong đó thấy có đầy đủ lý do đưa tới kết luận mà Ủy ban Cố vấn đạt được.

Còn một nhận xét khác mà tôi thiết tưởng đã được cân nhắc rất nặng nề trong quyết định này, đó là hoàn toàn không thể ngăn cản kẻ thù nêu ra ở tòa án toàn bộ thắc mắc về sự tồn tại của các Chơn sư, sao cho tên tuổi của các ngài bị phơi bày trước sự thô tục của những kẻ nói xấu táng tận lương tâm, với mục tiêu duy nhất là gây ra càng nhiều đau khổ càng tốt cho những người yêu thương và tin theo các Chơn sư Người ta cảm thấy rằng một sự bình luận phạm thượng như thế ắt khơi dậy sự khủng khiếp và công phẩn rộng rãi trong đám mọi người Ấn Độ đàng hoàng, đến nỗi mà tốt hơn nên nhẫn nhục trước bất kỳ số lượng phỉ báng nào so với việc tác động một luồng dơ dáy dễ sợ như thế. Đại tá Olcott (bản thân ông là luật sư) nghiêng ảnh hưởng mạnh mẽ của mình về phía đám người sáng suốt hơn, cho nên cuối cùng bà Blavatsky hết sức miễn cưỡng đồng ý tuân theo quyết định của họ.

Nhiều người có tên tuổi nổi bật nhất trong trí nhớ của tôi về Đại hội năm 1884 này, bây giờ đã qua đời và ở đây mà đề cập tới họ thì chỉ là biên tập một danh mục hầu hết đều ít ai biết tới đối với thế hệ các nhà Thông Thiên Học hiện nay. Họ xuất hiện trong quyển Hồi ký của Đại tá Olcott và hình chụp của nhiều người còn được thấy trong một loạt những hồi ký về những người xứng đáng nhất trong Hội Thông Thiên Học đã xuất hiện cách đây vài năm trong Tạp chí nhà Thông Thiên Học cũng như trong tác phẩm đồ sộ của ông C. Jinarajadasa tức là Quyển sách Vàng về Hội Thông Thiên Học. Nhiều người trong số đó có địa vị cao và danh tiếng cao cả, tôi thấy rằng thật vinh hạnh mà được biết họ cho dù là chỉ sơ sài. Thư ký Ghi chép vào thời đó là một thanh niên Mahratta Bà la môn, tên là Damodar Keshud Mavalankar, và theo chỗ tôi còn nhớ thì y và một người Bà la môn nào đó ở phía Nam, là những người thanh niên duy nhất đóng vai trò nổi bật trong công việc, mặc dù có nhiều trăm học viên tham dự những buổi họp công khai.

Thanh niên Bà la môn ở phía Nam này là một điều gì đó thật bí mật; tôi biết rằng tên thật của y là M. Krishnamachari, nhưng vào thời kỳ mà tôi đang viết sách thì người ta thường gọi y là Babaji (tức Bawaji) Darbhagiri Nath. Thế mà là một tên gọi miền Bắc chứ không phải miền Nam và dường như khi tham chiếu một trong những quyển sách của ông Sinnett thì quả thật có một Babaji Darbhagiri Nath ở miền Bắc Ấn Độ vốn đóng một vai trò nào đấy trong lịch sử buổi sơ thời của Hội; nhưng ông này chắc chắn không phải là chính cái người mà tôi đã thấy ở Adyar, bởi vì người ta mô tả ông là một người cao lớn lực lưỡng trong khi thanh niên này hầu như là lùn tịt. Lúc bấy giờ y có vẻ tận tụy, sùng tín sâu sắc với bà Balvatsky và khi ít lâu sau bà đi Âu châu thì y cũng là một trong những người hộ tống bà; nhưng về sau y quay sang chống lại bà vì một lý do nào đó mà chẳng ai biết và đả kích bà một cách thô tục nhất. Tôi còn nhớ rằng bà Blavatsky có viết một bức thư cho tôi trong đó bà phàn nàn cay đắng về hành động độc ác và đầy ác ý của y; trên đường bức thư được chuyển tiếp qua bưu điện (thời đó thường như vậy) nó được Chơn sư Kuthumi chú thích vào đó, bảo rằng cái người lùn tịt này đã thất bại.

Vì một lý do nào đấy, thanh niên này và Damodar trong Đại hội năm 1884 có mặc một bộ quần áo rất kỳ lạ, chủ yếu gồm một loại áo khoác dài bằng lụa, có gạch chéo đan xen nhau, những đường xéo màu xanh lơ và màu trắng. Tự nhiên là người ta đồn rằng đây là một loại đồng phục được qui định cho các đệ tử Chơn sư. Nhưng kể từ đó trở đi tôi chưa bao giờ thấy ai mặc bộ y phục này.

A Visit to Burma— Thăm Viếng Miến Điện

Soon after the Convention was over Colonel Olcott asked me to accompany him on an expedition to introduce Theosophy to Burma. I believe that he had received a message of invitation from King Theebaw, or at any rate an intimation that the King was curious to see a white man who had become a Buddhist, and that a visit from him would be welcome. We therefore engaged a passage on the British India steamer Asia to Rangoon. The British India steamers of that period were not what they are to-day, and the Asia was a boat of some 1200 or 1300 tons only. In those days they did not run directly to Rangoon, but called on the way at Masulipatam, Cocanada, Vizagapatam and Bimlipatam, turning only at this last place to run straight across the bay.

The Captain of the Asia at that time was an old school-fellow of mine, (the same from whom I first heard of Madame Blavatsky), and I was glad to have the opportunity of sailing with him. I remember that he told us that the best cabin on the ship was No. 11, and he advised us to book that for ourselves, which we did.

Chẳng bao lâu sau khi Đại hội qua rồi, thì Đại tá Olcott yêu cầu tôi tháp tùng ông đi giới thiệu Thông Thiên Học ở Miến Điện. Tôi tin rằng ông đã nhận được một thông điệp do vua Theebaw mời hoặc dù sao đi nữa gợi ý rằng nhà vua rất tò mò muốn tiếp kiến một người da trắng đã trở thành Phật tử và ông sẽ hoan nghênh cuộc viếng thăm. Vì thế cho nên chúng tôi lên tàu thủy Á châu của hãng Anh Ấn đi Rangoon. Tàu thủy của hãng Anh Ấn vào thời đó không giống như ngày nay và tàu Á Châu chỉ có vận tải 1200 tấn tới 1300 tấn. Vào thời đó thì tàu thủy không chạy thẳng tới Rangoon mà ghé qua Masulipatam, Cocanada, Vizagapatam và Bimlipatam ở chỗ cuối cùng này nó mới chạy thẳng qua vịnh.

Thuyền trưởng tàu Á Châu vào thời đó là một bạn học cũ của tôi (chính cái người mà lần đầu tiên tôi nghe nói về bà Blavatsky) và tôi vui mừng có cơ hội được đi tàu với y. Tôi còn nhớ rằng y cho chúng tôi biết cái buồng tốt nhất trên tàu là số 11 và y khuyên chúng tôi hãy đặt chỗ cho bản thân và chúng tôi đã làm như thế.

A Curious Little Fact— Một Sự Kiện Nhỏ Kỳ Diệu

But here came in an instance of a trifling but curious little phenomenon, which seemed to haunt the Colonel. His discussions with Indian pandits had immensely impressed him with the importance of the sacred number seven; and the result was that he was always watching for the occurrence of this number in all sorts of small matters of daily life. One might have smiled at it as a harmless little superstition, but for the fact that the number in question really did haunt him in the most extraordinary way. In The Theosophist for March, 1892, he writes about Madame Blavatsky:

I notice in Mr. Sinnett’s book the coincidence that she arrived at New York on the 7th July, 1873, that is to say on the seventh day of the seventh month of her forty-second year (6x7), and that our meeting was postponed until I attained my forty-second year. And it must also be remarked that she died in the seventh month of the seventeenth year of our Theosophical relationship. Add to this the further fact that Mrs. Annie Besant came to H. P. B. as an applicant for membership in the seventh month of the seventeenth year after her final withdrawal from Christian communion (and when Mrs. Besant herself was forty-two) and we have here a pretty set of coincidences to bear in mind. My own death when it comes will no doubt occur on a day that will accentuate the fatefulness of the number seven in the history of our Society and of its two founders.

His prophecy was accurately fulfilled, for he died at seventeen minutes past seven on the morning of February 17th, 1907.

But, as I have already said, the number absolutely haunted him in ordinary life in a quite amusing way. I have travelled with him frequently, and it’s an actual fact that he could hardly ever take a railway ticket or even a tramway ticket which did not contain the number seven; and if by some strange chance the number itself did not appear, then the digits of the number would add up to seven or to a multiple of seven. In the case to which I have just referred we applied for cabin number 11, and it was duly entered on our tickets; but when we came down to the ship on the day of sailing my friend the Captain met us with profuse apologies that by some mistake Cabin 11 had been booked twice over, and that consequently we had been transferred to—number seven!

Again I remember that on that same expedition we lost our way one day when out walking in the suburbs of Rangoon, and presently, coming in sight of a policeman standing at a junction where two roads crossed, the Colonel remarked that we would ask for a direction from him. But as we came up to the man the Colonel whispered aside to me “Regardez le numero”; I looked at the number on the man’s cap, and laughed to see that it was 77. I do not in the least know what this curious little phenomenon meant or how it was arranged; but I can certainly testify that it was a fact; and the Colonel, although he laughed at it, yet half believed in it as an indication of good fortune. For when we jumped into a tramcar bearing this mystic number or some repetition of it, he would say: “Ha! now I know we are going to have a good meeting!”

Ở đây lại có một ví dụ về hiện tượng lạ vặt vãnh nhưng kỳ lạ vốn có vẻ ám ảnh Đại tá. Việc ông thảo luận với các học giả Ấn Độ đã gây ấn tượng cho ông rất nhiều về tầm quan trọng của con số 7 linh thiêng; kết quả là ông luôn luôn rình mò cơ hội có được con số này nơi đủ thứ vấn đề lặt vặt trong sinh hoạt hàng ngày. Người ta có thể mỉm cười về việc này, coi đó là điều mê tín dị đoan nho nhỏ vô hại, nhưng sự thật là con số nêu trên quả thật ám ảnh ông một cách bất bình thường nhất. Trong Tạp chí nhà Thông Thiên Học số ra tháng 3 năm 1892, ông có viết về bà Blavatsky như sau:

Trong quyển sách của ông Sinnett tôi chú ý có thấy sự trùng hợp là bà đến New York vào ngày mùng 7 tháng 7 năm 1873, nghĩa là vào ngày thứ 7 thuộc tháng thứ 7 của năm sinh thứ 42 của bà (42=6x7) và cuộc gặp gỡ của chúng tôi bị trì hoãn cho đến khi tôi đủ 42 tuổi. Ta cũng phải nhận xét rằng bà từ trần vào tháng thứ 7 thuộc năm thứ 17 trong mối quan hệ Thông Thiên Học với chúng ta. Thêm vào điều này còn có sự kiện khác nữa là bà Annie Besant đến xin bà Blavatsky nhận làm hội viên vào tháng thứ 7 thuộc năm thứ 17 sau khi rốt cuộc bà không giữ phép thông công của Kitô giáo (khi đó bản thân bà Besant được 42 tuổi) và ở đây chúng ta có một loạt những sự trùng hợp kỳ diệu cần phải nhớ. Chắc chắn tôi sẽ chết vào cái ngày làm gia trọng tính định mệnh của con số 7 trong lịch sử của Hội ta cùng với hai người sáng lập.

Lời tiên tri của ông đã được nghiệm đúng vì ông qua đời lúc 7 giờ 17 phút sáng ngày 17 tháng 2 năm 1907.

Nhưng như tôi có nói, con số này hoàn toàn ám ảnh ông trong sinh hoạt đời thường một cách rất thú vị. Tôi thường đi du hành với ông và sự thật là ông hầu như không lấy vé xe lửa hoặc thậm chí vé xe điện nếu vé đó không có con số 7; và do một sự may mắn kỳ lạ nào đấy nếu chính số 7 không xuất hiện thì những chữ cái của con số ắt cộng lại thành 7 hoặc bội số của 7. Trong trường hợp tôi vừa đề cập tới, chúng tôi đặt phòng số 11 và nó đã được ghi đúng vào óc của chúng tôi; nhưng khi chúng tôi xuống tàu vào ngày ra khơi thì anh bạn thuyền trưởng của tôi đến gặp tôi rối rít xin lỗi vì do một sự nhầm lẫn nào đó phòng số 11 đã được đặt trước hai lần và vì vậy chúng tôi được chuyển sang phòng số 7.

Lại nữa, tôi còn nhớ rằng cũng vào chuyến đi ấy, chúng tôi lạc đường mất một ngày khi đi tản bộ ở ngoại ô Rangoon, và chẳng bao lâu sau chúng tôi thấy có một người cảnh sát đứng ở giao lộ của hai con đường, Đại tá nhận xét rằng chúng tôi nên gặp y để hỏi đường. Nhưng khi chúng tôi đến gặp người ấy thì Đại tá thì thào nói với tôi: “Hãy xem con số này”; tôi nhìn vào con số trên mũ người ấy và bật cười khi thấy đó là số 77. Tôi tuyệt nhiên chẳng biết cái hiện tượng lạ nho nhỏ kỳ diệu này ngụ ý là gì hoặc nó được dàn xếp ra sao; nhưng tôi có thể chắc chắn chứng nhận rằng đó là sự thật; còn Đại tá mặc dù cười nhạo nó, thế nhưng nửa tin nửa ngờ coi đó là dấu hiệu của sự may mắn. Ấy là vì khi chúng tôi nhảy vào một xe điện mang cái con số thần bí ấy hoặc lập đi lập lại số đó thì ông bảo rằng: “À! Bây giờ tôi biết mình đang đi tới chỗ họp suôn sẻ”

Our Life in Burma— Sinh Hoạt Của Chúng Tôi Ở Miến Điện

The charm operated in the case of our voyage to Burma, for it was very pleasant, and our stay in the country was interesting and successful. Rangoon was a very different city then from what it is to-day; practically the entire town consisted of wooden houses. We stayed, I remember, with a certain Moung Htoon Oung, who lived at what was then the top of Phayre Street, and I used to go long walks through the jungle to the suburbs of Kemmendine and Insein, on one of which I had the curious experience of coming face to face with an animal of the leopard tribe, who looked at me with blazing eyes for what seemed many minutes, although it was probably really about thirty seconds, before he decided that I was harmless and went peaceably on his way.

We found that a great deal of interest was aroused by the Colonel’s exposition of Buddhism. Quite a number of Burmese gentlemen gathered each evening at the rooms of our host, and we frequently had useful and entertaining discussions. The interest exhibited, however, was not confined to the natives of the country. There was also a considerable Tamil population; and just as the Colonel could talk fluently and instructively to the Burmese about Buddhism, so could he speak equally well to the Tamil population about Hinduism; in just the same way I have heard him descant by the hour to a Parsi audience about Zoroastrianism; and as it was quite obvious that he was by no means a scholar, in the ordinary sense of the word, with regard to any of the Oriental Scriptures, I once asked him how it was that, without that detailed knowledge, he was nevertheless so well able to expound the doctrines of these various faiths, and in every case to throw new light upon them, which their own instructors had not given to them.

He replied: “My dear boy, of course I do not know the detail of all these religions; but I do know my Theosophy, and I find that that always fits in and explains everything, They propound their various problems; I listen carefully and then use my commonsense.” I can certainly testify that the plan worked.

The Colonel also made the acquaintance of some European and Eurasian gentlemen who were deeply interested in the phenomena of mesmerism; and as the Colonel himself was a powerful mesmerist, he was soon able to form a little group of students along that line. But just as all this work was opening up so well in these various directions, there came a telegram from Damodar to the Colonel begging him to return at once, as Madame Blavatsky was dangerously ill. Of course he took the next steamer back to Madras, leaving me behind in Rangoon to try to hold these various elements together—rather a serious undertaking for a man who was quite new to this particular sort of work. However, I did the best I could, though I am afraid that I entirely lack the Colonel’s ready wit and his facility of exposition.

On his arrival at Madras he found Madame Blavatsky in a most serious condition; indeed, I think that for three or four days he was quite uncertain as to her recovery; but at the end of that time her Master paid her one of those visits in which He offered her the choice of resigning her terribly enfeebled body or carrying it on for awhile, to do yet another piece of work before casting it finally aside. This seems to have happened several times in the course of her career, and each time she chose the more arduous path and received from Him strength to carry on yet a little longer. In this case she became quite suddenly so much better that she was willing to consent to the Colonel’s return to Burma, so he came back again on the return voyage of the same steamer which had carried him to India—the s.s. Oriental. I need hardly say how glad I was to welcome him, and to hear that Madame Blavatsky had made so wonderful a recovery.

He took up his work again with the utmost enthusiasm and formed no less than three separate Branches of the Society—the Shwe Dagon Branch for the Burmese for the study of Buddhism, the Rangoon Theosophical Society for the Tamil members, and the Irrawaddy Theosophical Society for the European and Eurasian students of mesmerism. The Shwe Dagon is the magnificent golden pagoda which stands on a spur of the hills just outside the town, and is said to contain relics not only of the Lord Gautama Buddha, but also of the three Buddhas who preceded Him in this world—a wonderful bell-shaped dome rising 370 feet above its platform, which is itself 166 feet above the surrounding country. The whole of that great dome is covered with gold leaf, which is constantly being renewed, so it may well be imagined that the effect is splendid and that the dagoba is a landmark visible for many miles around.

The platform measures 900 feet by 700 and contains numerous little temples, shrines and rest-houses in which are hundreds of images of the Lord Buddha, presented by countless devotees since the year 588 b.c., when the erection of this dagoba was begun, although it is stated that the spot had been sacred for centuries before. I remember the wonderfully artistic effect produced when, immediately after sunrise one morning. “Colonel Olcott delivered a lecture on that platform, he himself standing at the top of a small flight of steps, and his audience seated in their peculiar way upon the vast stone platform. The festive dress of the Burmese is more brightly-coloured than any other in the world; and sitting at the feet of the Colonel and looking out over his audience, I can compare it only to a vast field of the most brilliantly-coloured flowers—something like those that one sees from the railway train in Holland at the season when the narcissi and the daffodils or the tulips are in flower. Years later I have myself spoken on that same platform, and have even given the Pansil to a huge crowd there; and always one finds the same wonderful effect.

In the course of many lengthy conversations with our host and other Burmese friends, all of them elders and men of importance in the Buddhist community of Rangoon, the Colonel had come to doubt very seriously the wisdom and the utility of the proposed visit to King Theebaw at his capital, Mandalay, in Upper Burma. Colonel Olcott tells us in his Old Diary Leaves that our advisers gave this monarch an exceedingly bad character, regretfully admitting that he was a debauched tyrant, a monster of vice and cruelty, and that his motive in inviting a visit was merely curiosity to see a white Buddhist, and not enthusiasm for the Buddhist religion, of which the ruler himself was so unworthy an exponent. It was also stated that the King’s arrogant and unjust conduct in his dealings with certain English merchants was almost certain to lead speedily to an outbreak of war, which would assuredly render nugatory any attempt to introduce Theosophy into his dominions. So the Colonel, decided to cancel our proposed northern journey, and substitute for it a tour through Lower Burma, Assam, and Bengal. Even this plan, however, was not destined to be realized at that period, for we were hurriedly recalled by the news that Madame Blavatsky had had an alarming relapse.

Trong trường hợp chúng tôi đi Miến Điện thì thật là hấp dẫn, vì rất dễ chịu và việc chúng tôi lưu ngụ ở xứ này đã thành công thú vị. Lúc bấy giờ Rangoon là một đô thị khác hẳn thời nay, hầu như toàn bộ thị trấn này đều bao gồm bằng những căn nhà bằng gỗ. Tôi còn nhớ chúng tôi ở với một ông Moung Htoon Oung nào đấy, ông sống ở chỗ lúc bấy giờ là đỉnh cao của Phố Phayre, và tôi thường đi tản bộ lâu dài xuyên qua rừng rậm tới vùng ngoại ô Kemmendine và Insein, ở một trong những vùng đó tôi có một trải nghiệm kỳ diệu là giáp mặt với một con thú thuộc loại báo, nó nhìn tôi bằng cặp mắt rực lửa dường như kéo dài nhiều phút mặc dù có lẽ thật ra chỉ vào khoảng 30 giây, trước khi nó quyết định rằng tôi vô hại rồi bình an đi con đường riêng của mình.

Chúng tôi thấy có nhiều điều thú vị qua việc Đại tá thuyết trình về Phật giáo. Mỗi buổi chiều có một số nhà quí tộc Miến Điện tụ tập ở buồng tiếp khách của chúng tôi và chúng tôi thường thảo luận một cách thoải mái và hữu ích. Tuy nhiên thú vị không chỉ hạn chế vào những người bản địa của nước này. Ở đây cũng có một số dân đáng kể người Tamil và cũng giống như Đại tá, họ có thể nói lưu loát với nhiều thông tin về Phật giáo cho người Miến Điện thì ông cũng nói lưu loát về Ấn giáo đối với số dân người Tamil. Cũng giống như vậy, tôi có nghe ông thuyết trình hàng giờ về Bái hỏa giáo với thính giả theo đạo này; và vì hoàn toàn hiển nhiên rằng ông tuyệt nhiên không phải là học giả đối với bất kỳ Kinh điển Á Đông nào theo nghĩa bình thường về học giả, cho nên tôi đã có lần hỏi ông làm thế nào mà ông biết tỉ mỉ, song le ông lại có thể xiễn dương giáo lý của đủ thứ tín ngưỡng, và trong trường hợp nào ông cũng soi sáng thêm cho chúng với những điều mà chính các giảng sư của từng tín ngưỡng ấy đều không đưa ra.

Đại tá trả lời: “Con ơi! dĩ nhiên ta không biết tỉ mỉ về mọi tôn giáo này, nhưng ta có biết Thông Thiên Học và ta thấy rằng nó luôn luôn ăn khớp giải thích được mọi chuyện khi thiên hạ nêu ra đủ thứ vấn đề của mình, ta lắng nghe cẩn thận rồi mới dùng tới óc phân biệt phải trái bình thường của mình”. Tôi có thể chứng nhận chắc chắn rằng kế hoạch này hữu hiệu.

Đại tá cũng làm quen với một số nhà quí tộc Âu Mỹ và Âu Á, họ quan tâm sâu sắc tới hiện tượng lạ thuật thôi miên mesmer; và vì bản thân Đại tá lại là một nhà thôi miên mesmer có thần lực, cho nên chẳng bao lâu sau ông có thể hình thành nhóm học viên nhỏ theo đường lối đó. Nhưng ngay khi mọi công việc này đang khuếch trương theo đủ thứ hướng thì có một điện tín của Damodar gửi Đại tá, khẩn khoản kêu gọi ông về ngay tức khắc vì bà Blavatsky đang bị bệnh rất nguy hiểm. Dĩ nhiên ông đáp chuyến tàu thủy kế tiếp đi tới Madras, bỏ tôi lại Rangoon để cố gắng tập hợp đủ thứ yếu tố này lại—nói cho đúng hơn là một nhiệm vụ nghiêm trọng đối với một người lính mới về cái loại công việc đặc thù này. Tuy nhiên tôi đã làm hết sức bình sinh mặc dù tôi e rằng mình hoàn toàn thiếu cái sự nhanh trí và ứng đáp dễ dàng của Đại tá.

Khi về tới Madras thì Đại tá thấy bà Blavatsky ở một tình trạng rất nghiêm trọng; quả thật tôi thiết tưởng rằng trong vòng ba bốn ngày ông hoàn toàn không chắc chắn là bà có phục hồi hay chăng; nhưng vào lúc kết thúc thời gian đó thì Sư phụ bà đến thăm bà, trong đó Ngài để cho bà được quyền chọn lựa hoặc là cam chịu cái tình trạng yếu đuối khủng khiếp ấy trong một thời gian để làm nốt một phần việc nữa, trước khi cuối cùng vứt bỏ nó hoặc là vứt bỏ nó ngay. Điều này dường như đã xảy ra nhiều lần trong đời sinh hoạt của bà và mỗi khi bà chọn con đường khó khăn hơn thì bà lại tiếp nhận từ Ngài sức mạnh để tiến hành công việc thêm một chút thời gian nữa. Trong trường hợp này, bà trở nên hoàn toàn đột ngột khá hơn, đến nỗi bà sẵn lòng đồng ý để cho Đại tá trở lại Miến Điện sao cho ông trở về trong cùng chuyến tàu thủy đó (cái tàu thủy đã đưa ông về Ấn Độ) tức tàu thủy Á Đông. Tôi hầu như không thể nói gì hơn là rất vui mừng khi đón tiếp ông và nghe nói rằng bà Blavatsky đã phục hồi một cách kỳ diệu.

Ông lại tiếp tục công việc một cách nhiệt tình nhất và hình thành ít ra là ba Chi nhánh riêng biệt của Hội Thông Thiên Học Miến Điện:

Chi nhánh Shwe Dagon dành cho người Miến Điện nghiên cứu Phật giáo, Hội Thông Thiên Học Rangoon dành cho hội viên người Tamil và Hội Thông Thiên Học Irrawaddy dành cho học viên thôi miên mesmer người Âu Mỹ và Âu Á. Shwe Dagon là một ngôi chùa nguy nga bằng vàng ở trên chỗ lồi ra của những khu đồi ngay bên ngoài thị trấn, và nghe đâu nó có những di tích chẳng những của Đức Phật Thích Ca mà còn của ba vị Phật tiền nhiệm của Ngài trong kiếp này—đó là một mái vòm hình cái chuông rất kỳ diệu vượt cao 370 bộ Anh trên bục nền; bục nền này bản thân nó đã cao 166 bộ Anh vượt trên vùng xung quanh. Toàn thể mái vòm lớn ấy được bao phủ bằng lá vàng thường xuyên được đổi mới sao cho ta có thể tưởng tượng rằng hiệu quả thật là rực rỡ và ngôi chùa ấy là một cột mốc mà đứng ở nhiều dặm xung quanh vẫn nhìn thấy rõ. Bục nền dài 900 bộ Anh, rộng 700 bộ Anh có nhiều đền thờ nhỏ, phòng thờ cúng và nhà nghỉ, trong đó có hàng trăm hình ảnh của Đức Phật được vô số tín đồ trình bày từ năm 588 trước Công Nguyên, khi bắt đầu dựng ngôi chùa này mặc dù người ta cho rằng địa điểm này đã linh thiêng nhiều thế kỷ trước đó. Tôi còn nhớ tác dụng nghệ thuật kỳ diệu diễn ra ngay sau khi mặt trời mọc vào buổi sáng. Đại tá thuyết trình trên bục giảng, bản thân ông đứng trên chóp đỉnh của cầu thang nhỏ còn thính giả ngồi một cách kỳ lạ trên một cái bục nền lớn bằng đá. Lễ phục của người Miến Điện sặc sỡ hơn bất kỳ ai khác trên thế giới và khi ngồi dưới chân Đại tá nhìn ra quan sát thính giả, tôi có thể chỉ so sánh nó được với một cánh đồng lớn gồm những đóa hoa màu rực rỡ nhất, giống như khi người ta nhìn thấy từ trên xe lửa ở Hòa Lan vào cái mùa mà hoa thủy tiên và hoa tulip đang nở rộ. Nhiều năm sau này bản thân tôi cũng thuyết trình trên cái bục giảng ấy, và thậm chí thuyết pháp cho một đám đông người ở đấy và lúc nào người ta cũng thấy cái tác dụng kỳ diệu đó.

Trong suốt nhiều cuộc trò chuyện dài với chủ nhà và các bạn bè người Miến khác, tất cả đều là những bậc trưởng lão và nhân vật quan trọng trong cộng đồng Phật giáo của Rangoon, Đại tá đã bắt đầu nghi ngờ rất nghiêm trọng về sự khôn ngoan và lợi ích của chuyến thăm được đề xuất tới Vua Theebaw tại kinh đô Mandalay, ở miền Thượng Miến Điện. Đại tá Olcott kể lại trong cuốn *Old Diary Leaves* rằng những người cố vấn của chúng tôi đã mô tả vị vua này với một nhân cách vô cùng tệ hại, tiếc nuối thừa nhận rằng ông là một bạo chúa sa đọa, một con quái vật của thói xấu và sự tàn ác, và rằng động cơ của ông trong việc mời thăm chỉ là sự tò mò muốn gặp một người Phật tử da trắng, chứ không phải là sự nhiệt tình với tôn giáo Phật giáo, mà chính vị vua này là một đại diện vô cùng bất xứng. Cũng có thông tin rằng hành vi kiêu căng và bất công của nhà vua trong các giao dịch với một số thương nhân người Anh gần như chắc chắn sẽ nhanh chóng dẫn đến một cuộc chiến tranh, điều này chắc chắn sẽ làm vô hiệu bất kỳ nỗ lực nào nhằm giới thiệu Thông Thiên Học vào lãnh thổ của ông ta. Vì vậy, Đại tá đã quyết định hủy bỏ chuyến đi về phía bắc đã được đề xuất, và thay thế bằng một chuyến du hành qua vùng Hạ Miến Điện, Assam, và Bengal. Tuy nhiên, ngay cả kế hoạch này cũng không được thực hiện vào thời điểm đó, vì chúng tôi đã vội vàng được triệu hồi bởi tin tức rằng bà Blavatsky đã có một cơn tái phát đáng lo ngại.

Two Religious Leaders— Hai Nhà Lãnh Đạo Tôn Giáo.

Before I refer to our return voyage I must not forget to chronicle two very interesting interviews. The first was with the Tha-tha-na-baing, or Chief Abbot of Mandalay, a sort of Burmese Archbishop of Canterbury, who visited Rangoon during our stay and was good enough to give us an audience. I remember having to sit for three hours in a most uncomfortable and cramped position, out of respect for this ecclesiastical dignitary, while he carried on a keen discussion with Colonel Olcott on various points of Buddhist doctrine. Of course, he spoke no English, so every sentence had to be interpreted, and it was often difficult to arrive at a mutual understanding. I think, however, that the exceedingly able and somewhat sceptical old gentleman was eventually fully satisfied that we really were genuine Buddhists!

The other interview was also with an ecclesiastical dignitary, but a man of very different type—the gentle and saintly Roman Catholic Bishop Bigandet, then Vicar Apostolic of Southern Burma. During his long tenure of that office he had become intensely interested in the religion of the country, and had written a very valuable and sympathetic book. The Legend of Gaudama, which was published in two volumes in Trubner’s Oriental Series. So we felt sure that when calling on him we should find that we had many points in common, and we were not disappointed. He received us most graciously, complimenting Colonel Olcott on his Buddhist Catechism, than which, he said, there was no more useful book on the religion of Sakyamuni. He assured us emphatically that he had no more doubt as to the salvation of his good Buddhist friends and neighbours than he had of his own, and he spoke very highly of their probity, kindliness and general good character. The Colonel was deeply impressed in his favour and, being unaccustomed to dealing with those of episcopal rank, would persist in addressing him as “Your Right Reverence” instead of the customary “My Lord”!

Trước khi đề cập đến chuyến hành trình trở về, tôi không thể quên ghi lại hai cuộc phỏng vấn rất thú vị. Cuộc phỏng vấn đầu tiên là với Tha-tha-na-baing, hoặc Trưởng Lão của Mandalay, một dạng như Tổng Giám mục của Canterbury ở Miến Điện, người đã đến thăm Rangoon trong thời gian chúng tôi lưu lại và đã vui lòng tiếp kiến chúng tôi. Tôi nhớ rằng mình đã phải ngồi trong suốt ba tiếng đồng hồ ở một tư thế vô cùng khó chịu và gò bó, vì sự tôn trọng dành cho vị chức sắc tôn giáo này, trong khi ông tham gia vào một cuộc thảo luận sôi nổi với Đại tá Olcott về nhiều điểm khác nhau của giáo lý Phật giáo. Tất nhiên, ông không nói được tiếng Anh, nên mỗi câu nói đều phải được thông dịch, và đôi khi rất khó để đạt được sự hiểu biết lẫn nhau. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng, cuối cùng vị lão trượng vô cùng thông minh và có phần hoài nghi đó đã hoàn toàn tin tưởng rằng chúng tôi thực sự là những Phật tử chân chính!

Cuộc phỏng vấn khác cũng diễn ra với một chức sắc Giáo hội, nhưng là người thuộc loại khác hẳn, đó là Giám mục Công giáo La Mã Bigandet rất dịu dàng và thánh thiện, lúc bấy giờ là Giám quản Tông tòa ở Nam Miến Điện. Trong khi giữ chức vụ này lâu dài ở đó, ông đã vô cùng quan tâm tới tôn giáo của nước này và đã viết một cuốn sách đồng cảm rất có giá trị là quyển Huyền thoại về Phật Thích Ca được xuất bản thành hai quyển trong Tủ sách Á Đông của Trubner. Thế là cũng đã cảm thấy chắc chắn rằng khi ghé thăm ông chúng tôi thấy có nhiều điểm chung và không thất vọng. Ông tiếp đón chúng tôi một cách dễ thương nhất, ca ngợi quyền Vấn đáp giáo lý Phật giáo của Đại tá Olcott mà ông bảo rằng không có quyển sách nào về tôn giáo của Phật Thích Ca Mâu Ni lại hữu ích hơn quyển này. Ông nhấn mạnh đoan chắc với chúng tôi rằng ông không nghi ngờ gì về sự cứu chuộc của những người bạn và người láng giềng Phật tử thuần thành của mình so với sự cứu độ của chính ông và ông đánh giá rất cao tính liêm khiết tự tế và nói chung là đức hạnh của họ. Đại tá chịu ấn tượng sâu sắc về ân huệ của ông và vì không quen ứng xử với những người thuộc đẳng cấp giáo sĩ cho nên cứ khăng khăng gọi ông này là “Thượng tọa” thay vì quen gọi là “Ngài!”

Our Return Voyage

We left Rangoon on the British India steamer Himalaya, and a most remarkable voyage we had. We must have started under unfavourable astrological auspices, for every day as we crossed the Bay of Bengal in perfect weather, some curious little misfortune occurred to us. We had some missionaries on board and, as is well known, sailors of most countries consider them as birds of ill omen, certain to bring bad luck; so that before we reached Bimlipatam our Lascar crew was in a condition of terror and almost on the verge of mutiny.

On the first day out the engines failed; but in those days many steamers carried sails as well, and we were brig-rigged, so we sailed along like a yacht for several hours at a pace of two knots or so, until repairs were effected. Next day a Hindu deck passenger fell overboard, and the ship had to stop, put out a boat to rescue him, and steam round in a circle to pick him up. A curious point was that the Colonel, told us that five months before in Paris a clairvoyant had described this scene, saying that he saw him (the Colonel) sailing in a steamer on a far-off sea, a man falling overboard, the vessel stopped, a boat put out, and the steamer moving in a circle. As a steamer does not usually move in a circle unless she is swinging her compasses, this struck the Colonel as odd, and he made a note of it, little expecting that the vision would prove to be prophetic of an event which would take place nearly half a year later on the other side of the world.

The passenger was saved; the incident had no serious consequences, but still the crew began to grumble; and their nervousness was pardonably intensified when next an unexplained fire was discovered burning among the cargo. That was soon extinguished, and but little harm was done, but the feeling of unrest continued; and it culminated the day after when a case of smallpox declared itself among the steerage passengers! Perhaps it was just as well that we sighted the Indian coast early on the next day, before there was time for another stroke of misfortune to descend upon us!

Chúng tôi rời Rangoon trên tàu thủy Himalaya của hãng tàu thủy Anh Ấn, đó là cuộc du hành đáng chú ý nhất. Chúng tôi ắt đã phải khởi hành với những điềm báo tử vì không thuận lợi, bởi hàng ngày khi chúng tôi băng qua Vịnh Bengal thời tiết tốt đẹp thì có một số điều rủi ro kỳ lạ nho nhỏ lại xảy ra cho chúng tôi. Trên bong tàu có một số nhà truyền giáo và thủy thủ ở hầu hết mọi nước đều thừa biết và coi họ là những con chim báo điềm xấu, chắc chắn mang lại nhiều rủi ro sao cho trước khi chúng tôi tới Bimlipatam thì thủy thủ đoàn Laskar đã ở tình trạng khiếp đảm và hầu như sắp nổi loạn. Mới ngày đầu tiên là máy tàu bị hỏng; nhưng vào thời đó nhiều tàu thủy cũng có buồm và tàu chúng tôi biến thành tàu hai buồm, do đó vẫn đi biển như một du thuyền nhiều giờ với tốc độ khoảng hai hải lý một tiếng đồng hồ cho đến khi sửa máy xong. Ngày hôm sau lại có một hành khách trên bong tàu rơi từ trên bong tàu xuống biển, khiến cho tàu phải ngừng lại, thả xuồng cứu hộ xuống rồi chạy vòng vòng để vớt hành khách lên. Có một điều kỳ lạ là Đại tá cho chúng tôi biết rằng năm tháng trước ở Paris có một nhà thần nhãn đã mô tả cảnh tượng này, bảo rằng mình thấy Đại tá đi trên tàu thủy ở một miền xa xôi, có một người rớt từ bong tàu xuống khiến cho tàu phải ngừng lại, thả xuồng cứu hộ và tàu thủy cứ chạy vòng vòng. Vì tàu thủy thường không chạy vòng vòng trừ phi la bàn nghiêng ngả, cho nên điều này gây ấn tượng cho Đại tá thật là kỳ lạ, và ông có ghi chép nó cũng chẳng mấy trông mong là linh ảnh này ắt tỏ ra tiên tri được một diễn biến xảy ra gần nửa năm sau ở phía bên kia trái đất. Sau khi cứu được hành khách thì diễn biến này không có hậu quả nghiêm trọng, nhưng thủy thủ đoàn vẫn còn bắt đầu cằn nhằn và sự căng thẳng thần kinh của họ gia tăng một cách đáng tha thứ khi kế đó người ta phát hiện thấy một ngọn lửa không ai giải thích được cháy bùng trong chỗ chứa hàng hóa. Chẳng bao lâu sau lửa bị dập tắt mà không thiệt hại bao nhiêu, nhưng cảm giác bất ổn vẫn tiếp tục và nó đạt tột đỉnh vào ngày hôm sau nữa khi có trường hợp đậu mùa được tuyên bố trong đám hành khách đi vé hạng chót. Có lẽ cũng đúng lúc chúng tôi thấy bờ biển Ấn Độ vào tờ mờ sáng ngày hôm sau, thì mới không còn dịp nào để một cơn bất hạnh khác giáng xuống đầu chúng tôi.

CHAPTER IX

Unrest at Adyar— Bất ổn ở Adyar.

When we arrived at Adyar we found very unsatisfactory conditions prevailing there. The Headquarters was by no means the haven of rest and peace which it should be, but was instead full of mistrust and disquiet. In spite of the decision of the Convention the household was still divided on the question as to whether Madame Blavatsky should prosecute her missionary slanderers for libel. There were many who held that it was only by a successful lawsuit that she could ever rehabilitate herself in the eyes of the world; and she herself was strongly disposed to agree with them, while others held that such a course could end in nothing but disaster.

The European element at Headquarters at that time was much dissatisfied with Colonel Olcott’s management of the Society’s affairs, and wished him to hand over the control of them to a committee composed, if I remember rightly, of themselves with one Indian gentleman as collaborator. To me personally this seemed a monstrously unfair suggestion, and I refused to take any part in the agitation, and naturally enough Colonel Olcott did not feel that he could hand over his responsibilities as President to the malcontents. During the Colonel’s absence these people had won a reluctant half-assent to their plan from Madame Blavatsky when she was too ill fully to understand the scope of their suggestion—they having alarmed her by Cassandra-like prophecies of the imminent disintegration and collapse of the Society if their remedy was not instantly adopted. But as soon as she recovered and Colonel Olcott explained to her the full inwardness of their modest demand, she at once withdrew her grudging consent and vigorously repudiated the cabal.

Khi chúng tôi đến Adyar, chúng tôi nhận thấy tình hình ở đó rất không thỏa đáng. Trụ sở không phải là nơi yên bình và nghỉ ngơi như lẽ ra phải thế, mà thay vào đó đầy sự nghi ngờ và lo lắng. Mặc dù đã có quyết định của Hội đồng, nhưng gia đình vẫn chia rẽ về việc liệu bà Blavatsky có nên khởi kiện những kẻ vu khống truyền giáo bà về tội phỉ báng hay không. Có nhiều người cho rằng chỉ bằng một vụ kiện thành công, bà mới có thể khôi phục danh tiếng của mình trong mắt thế giới; và bản thân bà cũng nghiêng về việc đồng ý với họ, trong khi những người khác lại cho rằng hành động như vậy chỉ có thể dẫn đến thảm họa.

Thành phần người châu Âu tại Trụ sở vào thời điểm đó rất không hài lòng với cách Đại tá Olcott quản lý các công việc của Hội và muốn ông trao quyền kiểm soát cho một ủy ban, nếu tôi nhớ không nhầm, bao gồm chính họ cùng với một quý ông người Ấn Độ làm cộng sự. Đối với cá nhân tôi, đề xuất này dường như vô cùng bất công, và tôi từ chối tham gia vào phong trào này. Tự nhiên, Đại tá Olcott cũng cảm thấy rằng ông không thể trao lại trách nhiệm của mình với tư cách Chủ tịch cho những kẻ bất mãn. Trong thời gian Đại tá vắng mặt, những người này đã giành được sự đồng ý miễn cưỡng một nửa từ bà Blavatsky khi bà quá ốm để có thể hiểu đầy đủ phạm vi của đề xuất—họ đã khiến bà lo sợ bằng những lời tiên tri giống như Cassandra về sự tan rã và sụp đổ sắp xảy ra của Hội nếu phương thuốc của họ không được chấp nhận ngay lập tức. Nhưng ngay khi bà hồi phục và Đại tá Olcott giải thích rõ cho bà về ý nghĩa thực sự của yêu cầu khiêm tốn của họ, bà lập tức rút lại sự đồng ý miễn cưỡng và mạnh mẽ bác bỏ âm mưu này.

Madame Blavatsky’s Departure— Bà Blavatsky lên đường.

Under the constant harassment of these various complications Madame Blavatsky seemed quite unable, to recover her health, and the distress which was caused to her by this continuous chain of annoyances was so great that at last her doctor flatly declared that her illness must very shortly terminate fatally unless she could escape altogether from her present environment. With great difficulty we at last obtained her assent to a temporary residence in Europe, and towards the end of March she actually departed by the s.s. Tibre, accompanied by Dr. Franz Hartmann, Miss Mary Flynn and the self-styled Babaji Darbhagiri Nath. Damodar Keshub Mavalankar had already left Adyar on the 23rd February, before our return from Burma, and now that the bid for domination made by the European clique had failed they also speedily left; and the Headquarters and Adyar seemed empty and deserted.

Not long after this Colonel Olcott departed upon one of his frequent tours; but before he left he offered me the choice of two lines of work; either I might go down to Galle and take charge of the Theosophical school recently established there, or remain at the headquarters and hold the position of Recording Secretary of the Society. I chose the latter, principally because it allowed me to stay in the centre of the movement where I knew that our Masters frequently showed Themselves in materialized forms.

Although the Recording Secretary was expected also to perform the functions of the manager of the Theosophist Office and of the book concern, the work was still of the lightest description in those early days. I did my best, but I am afraid that I was not a shining success in any of these capacities, because I was entirely inexperienced in business matters, and had little idea which books would sell well, and which would not. My predecessor in the office had been the aforesaid Damodar, and while I knew little of business I think he must have known even less, for I found everything connected with the office in a state of chaos, with huge piles of unanswered and even unopened letters stacked on the floor in heaps. The fact was, I think, that Damodar lived so entirely on higher planes that he actually had no time for the physical, and I fancy that he even regarded it with a strong distaste. He wrote articles and letters with great power and with tireless assiduity, and mundane considerations such as filling book orders and acknowledging subscriptions simply did not enter into his world of thought at all. Our office at that time was the long central room with a large veranda looking out upon the river, opposite the platform and facing the statues of the founders. It is now used as a kind of reading-room, an annex to the library.

Dưới sự quấy rối liên tục của những rắc rối này, bà Blavatsky dường như hoàn toàn không thể hồi phục sức khỏe, và nỗi đau khổ mà chuỗi phiền toái liên miên này gây ra cho bà quá lớn đến mức cuối cùng bác sĩ của bà tuyên bố thẳng thừng rằng căn bệnh của bà sẽ sớm dẫn đến tử vong nếu bà không thể thoát khỏi hoàn cảnh hiện tại. Sau rất nhiều khó khăn, cuối cùng chúng tôi cũng nhận được sự đồng ý của bà cho một thời gian cư trú tạm thời tại châu Âu, và vào cuối tháng Ba, bà thực sự đã khởi hành bằng tàu s.s. Tibre, đi cùng với bác sĩ Franz Hartmann, cô Mary Flynn, và người tự xưng là Babaji Darbhagiri Nath. Damodar Keshub Mavalankar đã rời Adyar vào ngày 23 tháng Hai, trước khi chúng tôi trở về từ Miến Điện, và giờ đây, sau khi âm mưu thống trị của phe châu Âu thất bại, họ cũng nhanh chóng rời đi; và Trụ sở cùng Adyar dường như trống rỗng và hoang vắng.

Không lâu sau đó, Đại tá Olcott lên đường cho một trong những chuyến du hành thường xuyên của mình; nhưng trước khi đi, ông đã đưa ra cho tôi hai lựa chọn công việc: hoặc tôi có thể xuống Galle và tiếp nhận trường Thông Thiên Học vừa mới được thành lập ở đó, hoặc ở lại trụ sở và giữ vị trí Thư ký Ghi chép của Hội. Tôi đã chọn phương án sau, chủ yếu vì nó cho phép tôi ở lại trung tâm của phong trào, nơi tôi biết rằng các Chân Sư của chúng tôi thường hiện ra dưới hình dạng hiện hình.

Mặc dù chức Thư ký Ghi chép được trông mong là cũng thực thi chức năng quản lý Văn phòng Tạp chí nhà Thông Thiên Học cùng với những công việc về sách vở, nhưng vào thời sơ khai thì công việc này vẫn còn nhẹ nhất. Tôi làm hết sức bình sinh nhưng e rằng mình không thành công rực rỡ về bất kỳ năng lực nào, bởi vì tôi hoàn toàn thiếu kinh nghiệm về vấn đề kinh doanh và ít có ý niệm về việc sách nào bán chạy hoặc bán không chạy. Người tiền nhiệm của tôi là Damodar như nêu trên, và trong khi tôi chẳng biết bao nhiêu về kinh doanh thì tôi thiết tưởng y thậm chí còn biết ít hơn tôi nữa, vì tôi thấy mọi thứ liên quan tới văn phòng này đều ở tình trạng hỗn độn, những bức thư chưa được trả lời thậm chí chưa được mở ra xem chất đống trên sàn nhà. Tôi thiết tưởng sự thật là Damodar sinh hoạt hoàn toàn trên các cõi cao đến nỗi y thực ra không có thời gian dành cho cõi vật lý, và tôi tưởng tượng rằng y thậm chí còn rất ghê tởm cõi này nữa. Y viết những bài báo và những bức thư rất hùng hồn và cần mẫn không mệt mỏi, còn những cân nhắc chuyện trần tục như việc điền vào đơn đặt hàng sách và công nhận sự thuê bao đơn giản là không lọt vào tư tưởng của y. Thời đó văn phòng của chúng tôi là một phòng dài ở trung tâm, có một hàng hiên rộng lớn nhìn ra sông, đối diện với bục nền và quay ra những pho tượng của các vị sáng lập. Giờ đây, nó được dùng làm một phòng đọc sách phụ trợ cho thư viện.

The Masters Materialize— Các Chơn Sư Hiện Hình

I spoke just now of the occasional materialization of our Masters in those days. It should be remembered that at that time no one among us except Madame Blavatsky herself (and to a certain extent Damodar) had developed astral sight while still awake in the physical body. Nor could any one else bring through communications from the higher planes with the requisite certainty. So when, our Masters wished to convey anything definitely to us they had either to announce it through Madame Blavatsky, to write it as a letter to be delivered by phenomenal means, or to show Themselves in materialized form and speak by word of mouth.

It was in such a materialized form that I first saw both of the Masters who have been most closely associated with the Theosophical Society. My own Master, whom we now know as the Chohan Kuthumi, I first met (on the physical plane) on the square of roof outside the door of our President’s room, then occupied by Madame Blavatsky. The additions since made have so changed the appearance of that roof that it is not now easy to follow exactly the lines of the older building; but there was at that time a sort of balustrade running along the front of the house at the edge of the roof, and I happened to be looking towards that when the Master materialized in the very act of stepping over that balustrade, as though He had previously been floating through the air.

Naturally I rushed forward and prostrated myself before Him; He raised me with a kindly smile, saying that though such demonstrations of reverence were the custom among the Indian peoples, He did not expect them from His European devotees, and He thought that perhaps there would be less possibility of any feeling of embarrassment if each nation confined itself to its own methods of salutation.

The first time that I had the honour of seeing the Master Morya was on one of those occasions to which I have already referred, when He visited Madame Blavatsky and endowed her with renewed strength to support the burden of her arduous work.

Those who are familiar with the configuration of the President’s rooms as they were in the year 1885 will understand what I mean when I say that three of us—a European lady, a distinguished Indian brother and myself—were seated in the ante-room from which Madame Blavatsky’s bedroom branched off at a right angle. (The square room now occupied by our President had not then been added.) The lady was seated on a cushion just inside the outer door to the right, leaning against the rail which protects the stairway running down to the bathroom below. The Indian brother and I were seated on the floor at the opposite corner of the little ante-room, leaning our backs against the edge of a sofa, which stood just to the right of the door leading into Madame Blavatsky’s bedroom.

Tôi vừa nhắc đến sự hiện hình thỉnh thoảng của các Chân Sư trong những ngày đó. Cần nhớ rằng vào thời điểm đó, không ai trong chúng tôi, ngoại trừ bà Blavatsky (và ở một mức độ nào đó là Damodar), đã phát triển khả năng nhìn cảm dục trong khi vẫn còn tỉnh táo trong cơ thể vật lý. Cũng không ai khác có thể truyền đạt thông tin từ các cõi cao hơn với độ chắc chắn cần thiết. Vì vậy, khi các Chân Sư của chúng tôi muốn truyền đạt điều gì cụ thể cho chúng tôi, họ phải công bố thông qua bà Blavatsky, viết nó thành một bức thư được chuyển đến bằng những phương tiện hiện tượng học, hoặc hiện ra trong hình dạng hiện hình và nói chuyện trực tiếp.

Chính trong một hình dạng hiện hình như vậy mà tôi lần đầu tiên nhìn thấy cả hai Chân Sư có liên hệ mật thiết nhất với Hội Thông Thiên Học. Chân Sư của tôi, người mà chúng ta hiện nay biết đến là Chohan Kuthumi, lần đầu tiên tôi gặp (trên cõi vật lý) tại khoảng sân trên mái nhà bên ngoài cửa phòng của vị Chủ tịch của chúng tôi, khi đó do bà Blavatsky chiếm giữ. Những thay đổi sau này đã làm thay đổi diện mạo của mái nhà đó đến mức bây giờ không dễ để theo đúng cấu trúc của tòa nhà cũ; nhưng lúc đó có một loại lan can chạy dọc phía trước của ngôi nhà tại mép mái nhà, và tôi tình cờ đang nhìn về phía đó khi Chân Sư hiện hình, ngay lúc Ngài đang bước qua lan can, như thể trước đó Ngài đang lơ lửng trong không trung.

Tự nhiên, tôi vội vã chạy tới và phủ phục trước Ngài; Ngài nâng tôi dậy với một nụ cười nhân từ, nói rằng mặc dù những biểu hiện tôn kính như vậy là phong tục trong số các dân tộc Ấn Độ, Ngài không mong đợi điều đó từ những đệ tử châu Âu của Ngài, và Ngài nghĩ rằng có lẽ sẽ ít khả năng gây cảm giác bối rối hơn nếu mỗi dân tộc giữ nguyên cách chào hỏi của riêng mình.

Còn lần đầu tiên tôi được hân hạnh nhìn thấy Chơn sư Morya là vào một trong những dịp mà tôi chỉ có liên quan thôi khi Ngài đến thăm bà Blavatsky và ban cho bà sự phục hồi sức khỏe để chịu đựng gánh nặng công việc gian khổ của bà.

Những người quen thuộc với sự sắp xếp thành hình thể đặc biệt của phòng Hội trưởng khi họ đến ở vào năm 1885 sẽ hiểu ý nghĩa khi tôi nói rằng ba người trong chúng tôi gồm một phụ nữ Âu châu, một huynh trưởng Ấn độ lỗi lạc và tôi – chúng tôi ngồi trong phòng khách vốn do phòng ngủ của bà Blavatsky được phân nhánh ở một góc phải. (Phòng vuông hiện nay vị Hội trưởng chúng ta ở chưa được thêm vào lúc ấy). Người phụ nữ ngồi trên một cái đệm ngay phía bên phải cửa ra vào, dựa vào tay vịn lan can để bảo vệ cầu thang chạy dài xuống phòng tắm phía dưới. Huynh trưởng Ấn độ và tôi ngồi trên sàn nhà ở góc đối diện của phòng khách nhỏ, lưng dựa vào bờ rìa ghế dài, dựng ngay bên phải cửa cái dẫn ra phòng ngủ của bà Blavatsky.

A Marvellous Change— Một Sự Thay Đổi Nhiệm Mầu

Our Founder herself lay in bed inside in a condition of extreme weakness, but she had just sunk to sleep, so that the lady who was nursing her had thought it safe to steal a few moments of respite, and had come out to sit with us. She was describing to us tearfully Madame’s exceeding weakness when she suddenly checked herself to say: “Who can that be?” for we all heard a firm quick step approaching along what was then the open roof, beyond the bedroom. The footsteps came down from that higher level and passed quickly before the window which faced us as we sat, and then—the Master Morya entered the room; but the lady did not see Him, for as He entered the startled look left her face, and she sank back upon her cushion as though in sleep. The Indian and I sprang to our feet and prostrated ourselves; but the Master Morya walked quickly past us with a bright smile and a benedictory wave of His hand turned in to Madame Blavatsky’s bedroom.

We heard an exclamation from her, a few words in His. voice and then some reply from her, and in a few minutes He came out again with the same quick step, once more smilingly acknowledged our salutations and passed out again by the way that He came. Only after He had left the room did the lady start up from her corner with the exclamation:

“O, who was that?”

Before we had any time to discuss the matter our attention was distracted by a call for the nurse from Madame Blavatsky, in surprisingly loud and firm tones:

“Where are my clothes? I want to dress.”

The nurse looked at us despairingly (for the doctor had prescribed the most absolute rest); but Madame Blavatsky was very much “She who must be obeyed,” and of course she was dressed accordingly, and came forth looking much more like her old self. Her Master had asked her whether she would pass away then—she was very near to passing away, and she had had terrible suffering—or whether she would keep her physical body for some years longer, in order to write that great book The Secret Doctrine. She choose to stay. I do not think I exaggerate when I say that from that time onward she had scarcely an hour free from pain, but she fought it down splendidly. She wrote the book, and there it remains, as a monument which will stand all through the ages. She can never, I think, be forgotten while that and her other books remain to speak of her and for her.

Nhà sáng lập của chúng tôi, chính bà nằm trên giường trong tình trạng đau yếu cực kỳ, nhưng bà vừa đắm chìm trong giấc ngủ, vì thế người phụ nữ đang chăm sóc nghĩ rằng cần dành một ít thời gian để thư giản và đã ra ngoài phòng ngồi với chúng tôi. Bà đã buồn rầu mô tả cho chúng tôi về sự đau yếu nghiêm trọng của bà Blavatsky khi bà ấy thình lình tự trách mình và nói: “Ai có thể làm điều đó?”, tất cả chúng tôi đều nghe một bước đi chắc chắn, nhanh lẹ tiến tới gần và rồi mái nhà mở toang phía bên ngoài phòng ngủ. Những bước chân đi xuống từ trên cao lướt nhanh qua trước cửa sổ đối diện chúng tôi khi chúng tôi đang ngồi, và rồi – Chơn sư Morya đi vào phòng, nhưng người phụ nữ không nhìn thấy Ngài, vì khi Ngài bước vào, sự giật mình còn để lại trên gương mặt bà và bà chìm đắm trở lại trên chiếc đệm dường như đang trong giấc ngủ. Huynh người Ấn và tôi bật dậy trên đôi chân và chúng tôi cúi rạp mình nằm sấp xuống, nhưng Chơn sư Morya đi nhanh ngang qua chúng tôi với một nụ cười rạng rỡ và Ngài vẫy tay ban ân huệ về phía phòng ngủ của bà Blavatsky.

Chúng tôi nghe sự than thở của bà, vài lời của Ngài nói và rồi vài lời yêu cầu bà, và trong ít phút Ngài xuất hiện lại, cũng với bước đi nhanh lẹ, mỉm cười thấu hiểu sự chào đón của chúng tôi và đi qua lần nữa bằng lối đi mà Ngài đã đến. Chỉ ngay sau khi Ngài đã rời khỏi phòng, người phụ nữ ngồi bật dậy từ góc phòng của mình với lời than:

“Ôi, người ấy là ai?”

Trước khi chúng tôi có bất cứ thời gian nào để bàn bạc vấn đề, sự chú ý của chúng tôi bị xao lãng bởi tiếng kêu người y tá từ nơi bà Blavatsky trong giọng điệu lớn đến ngạc nhiên và chắc nịch:

“Quần áo tôi đâu? Tôi muốn mặc quần áo”.

Bà y tá nhìn chúng tôi một cách thất vọng (vì bác sĩ đã yêu cầu phải tuyệt đối nghỉ ngơi) nhưng bà Blavatsky lại rất ư là “một người phải nghe lời”, và dĩ nhiên người ta mặc quần áo cho bà theo cách phù hợp để cho bà trông giống như chính bà ngày cũ. Chơn sư lúc đó đã hỏi bà liệu bà có thể từ trần được chưa – bà rất gần tới mức qua đời và bà đang đau đớn khủng khiếp – hoặc là liệu bà nên giữ xác thân vật chất thêm vài năm nữa, để viết cho xong bộ sách vĩ đại Giáo Lý Bí Truyền. Bà đã chọn lựa sự ở lại. Tôi không nghĩ mình quá đáng khi nói rằng từ lúc này trở đi, hiếm khi bà có được một giờ thoát khỏi cơn đau đớn, nhưng bà phải chiến đấu đè nén nỗi đau xuống một cách tuyệt vời. Bà đã viết sách và đó là điều bà phải lưu lại như một đài tưởng niệm sẽ phải đứng vững qua mọi thời đại. Tôi nghĩ bà không bao giờ có thể lãng quên trong khi làm việc đó và những quyển sách khác của bà còn lưu lại sẽ nói về bà và cho bà.

A Lonely Life— Một Sinh Hoạt Trong Cô Tịch

I have said that when Colonel Olcott left us on his tour Adyar remained empty; and unfortunately its treasury was in the same condition, so that the very few of us who remained had instructions to observe the strictest economy. Mr. Cooper-Oakley and I were for a long time the only Europeans; and as he lived up on the roof in one of the further rooms (later occupied by Dr. English) and I was in the Eastern octagon room, I saw almost nothing of him, except for a short morning visit of greeting each day. We lived an almost ascetic life, there being practically no servants except two gardeners and Manikam the office-boy. I am not quite sure how Mr. Oakley managed his household arrangements; for myself, every morning as soon as I rose I put a large supply of crushed wheat into a double saucepan, so arranged that it could not burn. Then I swam in the Adyar River (it was cleaner in those days) for half-an-hour or so, and then returned to find my wheat nicely cooked. Then the aforesaid office-boy led a cow round to my veranda and milked her on the spot into my own vessel, bringing me also a bunch of bananas from the estate when there happened to be any. I then consumed half of the wheat, leaving the other half for a second meal at about four o’clock in the afternoon or when the cow came round, and then I warmed up the wheat for a few minutes and dined sumptuously thereon. The Adyar budget was probably simpler at that period than it has ever been since!

Như tôi đã nói, khi Đại tá Olcott lìa bỏ chúng tôi trên đường du hành, còn lại Adyar trống vắng; và bất hạnh thay ngân sách cũng cùng tình trạng trống không, vì thế số ít người trong chúng tôi ở lại được chỉ thị phải tuân thủ sự tiết kiệm nghiêm nhặt nhất. Ông Cooper– Oakley và tôi là những người Âu châu duy nhất đã ở lại một thời gian lâu và bởi vì ông sống trên tầng sát mái nhà nơi một trong những phòng xa hơn (sau đó một bác sĩ người Anh trú ngụ) và tôi thì ở trong phòng hình bát giác phía Đông, tôi hầu như không biết gì về ông, ngoại trừ một sự chào hỏi, thăm viếng ngắn ngủi vào buổi sáng hằng ngày. Chúng tôi sống một cuộc đời hoàn toàn khổ hạnh, không người giúp việc thực sự, ngoại trừ hai người làm vườn và Manikam, một cậu bé để sai vặt. Tôi hoàn toàn không biết chắc ông Oakley xoay sở để thu xếp công việc nhà như thế nào; vì chính tôi mỗi buổi sáng khi thức dậy, tôi đặt vào chiếc chảo một lượng lớn món bột mì nghiền nát, ráng sắp xếp không để nó cháy khét. Kế đến tôi đi bơi ở sông Adyar (vào những ngày đó sông rất trong lành) khoảng nửa giờ hoặc hơn và rồi quay về tìm món bột mì tôi nấu ngon lành. Sau đó cậu bé giúp việc đã nói trên đây, dắt con bò đi quanh mái hiên chỗ tôi và vắt sữa vào đúng nơi chiếc bình riêng của tôi; cậu cũng mang một mớ chuối từ trong Trang trại đến cho tôi khi có bất kỳ trái cây nào. Thế là tôi tiêu thụ phân nửa bột mì, để dành lại một nửa kia cho bữa ăn thứ nhì vào khoảng bốn giờ chiều hay lúc con bò đến đi loanh quanh, và rồi tôi hâm nóng bột mì trong vài phút, dùng bữa ngay sau đó một cách xa xỉ. Ngân sách Adyar có lẽ vào thời kỳ đó ắt là đơn giản hơn mức từ trước đến nay!

Unexpected Development— Diễn Biến Phát Triển Bất Ngờ

It should be understood that in those days I possessed no clairvoyant faculty, nor had I ever regarded myself as at all sensitive. I remember that I had a conviction that a man must be born with some psychic powers and with a sensitive body before he could do anything in the way of that kind of development, so that I had never thought of progress of that sort as possible for me in this incarnation, but had some hope that if I worked as well as I knew how in this life I might be born next time with vehicles more suitable to that particular line of advancement.

One day, however, when the Master Kuthumi honoured me with a visit, He asked me whether I had ever attempted a certain kind of meditation connected with the development of the mysterious power called kundalini. I had of course heard of that power, but knew very little about it, and at any rate supposed it to be absolutely out of reach for Western people. However, He recommended me to make a few efforts along certain lines, which He pledged me not to divulge to anyone else except with His direct authorization, and told me that He would Himself watch over those efforts to see that no danger should ensue.

Naturally I took the hint, and worked away steadily, and I think I may say intensely, at that particular kind of meditation day after day. I must admit that it was very hard work and sometimes distinctly painful, but of course I persevered, and in due course began to achieve the results that I had been led to expect. Certain channels had to be opened and certain partitions broken down; I was told that forty days was a fair estimate of the average time required if the effort was really energetic and persevering. I worked at it for forty-two days, and seemed to myself to be on the brink of the final victory, when the Master Himself intervened and performed the final act of breaking through which completed the process, and enabled me thereafter to use astral sight while still retaining full consciousness in the physical body—which is equivalent to saying that the astral consciousness and memory became continuous whether the physical body was awake or asleep. I was given to understand that my own effort would have enabled me to break through in twenty-four hours longer, but that the Master interfered because He wished to employ me at once in a certain piece of work.

Cần phải hiểu rằng trong thời gian đó tôi không có được khả năng linh thị và cũng chẳng bao giờ tự cho rằng mình có được sự nhạy cảm nào. Tôi nhớ lại đã có niềm tin vững chắc rằng một người phải được sinh ra với vài khả năng tâm linh và một cơ thể nhạy cảm trước khi y có thể làm bất cứ việc gì để phát triển được trong chiều hướng đó, vì thế tôi không bao giờ nghĩ rằng sự phát triển như vậy có thể đến với tôi trong kiếp này. Tuy nhiên tôi có vài hi vọng rằng, nếu trong kiếp này tôi có những hoạt động tốt lành thì được biết có thể tôi sẽ được sinh ra ở kiếp tới với các khí thể phù hợp hơn theo hướng phát triển đặc biệt đó.

Tuy vậy, một ngày nọ khi Chơn sư Kuthumi, trong một cuộc viếng thăm, đã đem vinh hạnh đến cho tôi; Ngài hỏi tôi có khi nào đã áp dụng một vài cách tham thiền liên quan đến sự phát triển một năng lực thần bí gọi là luồng hỏa hầu (kundalini) chưa? Dĩ nhiên là tôi có nghe nói đến năng lực ấy nhưng sự hiểu biết rất thô thiển và với bất cứ giá nào tôi cũng cho rằng nó tuyệt đối vượt quá khả năng của người phương Tây. Tuy nhiên Ngài đề nghị tôi hãy cố gắng theo một chiều hướng nào đó mà Ngài căn dặn tôi không được tiết lộ cho bất kỳ ai ngoại trừ khi Ngài trực tiếp cho phép, và Ngài nói với tôi sẽ đích thân quan sát sự nỗ lực đó để không một nguy hiểm nào xảy ra.

Đương nhiên là tôi vâng lời và trong sự làm việc đều đặn, mà tôi nghĩ tôi có thể nói là một cách mãnh liệt, với phương pháp tham thiền đặc biệt ấy ngày này qua ngày khác. Tôi phải thừa nhận rằng công việc rất cực nhọc và đôi khi lại rõ ràng là đau đớn nữa, nhưng dĩ nhiên tôi vẫn kiên trì, và cuối cùng thì bắt đầu đạt được những kết quả mà tôi đã từng mong ước. Vài đường vận hà cần phải khai thông và vài vách ngăn cần phá bỏ; tôi được cho biết 40 ngày là con số ước lượng hợp lý của thời hạn trung bình để đạt kết quả nếu sự cố gắng thật sự mãnh liệt và kiên trì. Tôi đã nỗ lực đến 42 ngày và cảm thấy mình sắp đến mức thành công cuối cùng, thì đích thân Chơn sư đến can thiệp giúp tôi vượt qua giai đoạn chót để hoàn tất công phu. Nó cho phép tôi sử dụng được khả năng linh thị cõi Trung giới trong lúc vẫn giữ tâm thức hoàn toàn thức tỉnh ở xác thân – sự việc ấy cũng cùng ý nghĩa khi cho rằng tâm thức và trí nhớ cõi Trung giới vẫn liên tục hoạt động dù xác thân tỉnh thức hay ngủ nghỉ. Tôi được cho biết rằng với khả năng riêng của mình, tôi có thể vượt qua giai đoạn cuối lâu hơn 24 giờ, nhưng Chơn sư đã can thiệp vì Ngài muốn sử dụng tôi ngay trong một vài công việc nào đó.

Psychic Training— Rèn luyện Khả Năng THông Linh

It must not for a moment be supposed, however, that the attainment of this particular power was the end of the occult training. On the contrary, it proved to be only the beginning of a year of the hardest work that I have ever known. It will be understood that I lived there in the octagonal room by the river-side alone for many long hours every day, and practically secure from any interruption except at the meal-times which I have mentioned. Several Masters were so gracious as to visit me during that period and to offer me various hints; but it was the Master Djwal Kul who gave most of the necessary instruction. It may be that He was moved to this act of kindness because of my close association with Him in my last life, when I studied under Him in the Pythagorean school which He established in Athens, and even had the honour of managing it after His death. I know not how to thank Him for the enormous amount of care and trouble which He took in my psychic education; patiently and over and over again He would make a vivid thought-form, and say to me: “What do you see?” And when I described it to the best of my ability, would come again and again the comment: “No, no, you are not seeing true; you are not seeing all; dig deeper into yourself, use your mental vision as well as your astral; press just a little further, a little higher.”

This process often had to be many times repeated before my mentor was satisfied. The pupil has to be tested in all sorts of ways and under all conceivable conditions; indeed, towards the end of the tuition sportive nature-spirits are specially called in and ordered in every way possible to endeavour to confuse or mislead the seer. Unquestionably it is hard work, and the strain which it imposes is, I suppose, about as great as a human being can safely endure; but the result achieved is assuredly far more than worth while, for it leads directly up to the union of the lower and the higher self and produces an utter certainty of knowledge based upon experience which no future happenings can ever shake.

On the physical plane our great pandit Swami T. Subba Rao often did me the honour of driving over to the Headquarters in order to take part in the instruction and testing, and I feel that I can never be grateful enough for all the help that these two great people gave me at this critical stage of my life. When once the way has thus been opened there is no end to the possibility of unfoldment, and I think I may say without any fear of exaggeration that no day has passed in the forty-five years since then in which I have not learnt some new fact. The yoga of the Initiate consists, as does all other yoga, of a steady upward pressure towards union with the Divine at ever higher and higher levels; one has to work the consciousness steadily onward from sub-plane to sub-plane of the buddhic world and then afterwards through the nirvanic; and even beyond all that, other and uncounted worlds are still to be conquered, for the Power, the Wisdom and the Love of the Infinite are as some great mine of jewels, into which one may probe ever more and more deeply without exhausting its capacity; nay, rather, they constitute a shoreless sea into which our dewdrop slips and yet is not lost therein, but feels rather as though it had absorbed the whole ocean into itself.

Thus would I live—yet now

Not I, but He

In all His Power and Love

Henceforth alive in me.

Here then I must end this fragment of autobiography, for this is “How Theosophy came to me”—first through our great founder Madame Blavatsky on the physical plane, and then more fully and on the higher levels through other members of the Great White Brotherhood to which she introduced me. May all my brethren find in Theosophy the peace and happiness which I have found!

Peace to all Beings

Tuy nhiên ta không thể nào nghĩ rằng sự đạt tới khả năng đặc biệt này là đã kết thúc việc huấn luyện huyền môn. Trái lại, đó chỉ là mới khởi đầu của một năm cố gắng làm việc khó nhọc nhất mà tôi chưa bao giờ được biết. Các bạn cũng hiểu là tôi sống nơi đây, trong căn phòng hình bát giác cạnh bờ sông, mỗi ngày trong cô đơn, trải qua nhiều giờ dài dằng dặc và hầu như được giữ an toàn đối với mọi sự quấy rầy, ngoại trừ giờ cơm mà tôi đã đề cập. Vài vị Chơn sư ưu ái đến thăm tôi trong thời gian đó và khuyên nhủ tôi đôi lời; nhưng chính Chơn sư Djwal Kul dạy tôi nhiều giáo huấn quan trọng nhất. Có lẽ lý do chính của sự ưu ái ấy là vì tôi đã có sự hợp tác khá chặt chẽ với Ngài trong kiếp trước, khi tôi được học với Ngài ở đạo viện Pythagore do Ngài sáng lập tại Athens và thậm chí tôi còn được vinh dự điều khiển đạo viện ấy khi Ngài qua đời. Tôi thật không biết phải làm gì để tạ ơn Ngài vì công lao chăm sóc to lớn cùng với những khó khăn mà Ngài phải chịu để huấn luyện tâm linh cho tôi; luôn kiên trì và lập đi lập lại nhiều lần, Ngài tạo ra hình tư tưởng sống động và hỏi tôi: “Anh thấy gì? Và khi tôi cố gắng mô tả với khả năng tối đa của mình thì lời phê bình sau đây được lập lại nhiều lần: —“Không, không phải, anh thấy không đúng, anh thấy chưa trọn vẹn, hãy đào sâu hơn trong anh, hãy dùng khả năng linh thị của cõi trí cũng như của cõi trung giới, hãy tiến xa hơn chút nữa, cao hơn chút nữa”.

Phương thức ấy luôn luôn được lập lại nhiều lần trước khi Ngài hài lòng. Sinh viên huyền môn phải được thử nghiệm bằng mọi cách và dưới mọi điều kiện có thể tưởng tượng được; thực vậy, vào giai đoạn cuối, các tinh linh được đặc biệt gọi đến và nhận chỉ thị bằng mọi cố gắng làm cho sinh viên bối rối hay lầm lẫn. Và không còn nghi ngờ gì nữa, đó là một công việc hết sức khó nhọc và áp lực tinh thần thật tối đa mà một con người tuyệt vời có thể đủ khả năng chịu đựng một cách an toàn. Nhưng kết quả đạt được thật hết sức xứng đáng, vì nó dẫn đường trực tiếp đến sự phối hợp giữa chơn nhơn và phàm nhơn, đồng thời tạo sự hiểu biết hoàn toàn chắc chắn dựa trên thực nghiệm mà không gì có thể lung lạc được trong tương lai.

Nơi cõi trần, nhà trí thức lỗi lạc Ấn độ Swami T. Subba Rao thường cho tôi vinh dự lái xe đến Tổng Hành Dinh để tham dự vào việc giảng dạy và kiểm chứng; tôi cảm nhận rằng không bao giờ có thể hiểu hết công ơn cùng mọi sự giúp đỡ mà hai vị cao cả dành cho tôi trong giai đoạn quyết định của đời mình. Một khi con đường đạo mở ra như thế thì khả năng phát triển không ngừng và tôi nghĩ tôi có thể nói không sợ bất kỳ sự phóng đại nào rằng không ngày nào trôi qua trong 45 năm kể từ đó mà tôi không học được vài sự kiện mới mẻ. Môn yoga của người Sơ cơ, cũng như tất cả mọi yoga khác là một sự hướng thượng kiên trì tiến đến sự hợp nhất với Thượng Đế mãi mãi vươn cao, và ở các mức độ thấp hơn, một người phải hoạt động với tâm thức kiên trì hướng thượng từ cảnh này đến cảnh kia của cõi giới Bồ đề để rồi sau đó, xuyên qua cõi Niết bàn và thậm chí ngoài tất cả mọi điều đó, còn có cõi khác và vô số cõi giới vẫn cần được chinh phục vì Quyền Năng, Minh Triết và Bác Ái của Đấng Vô Cùng là những châu báu vô giá của tôi hầu như người ta có thể thám hiểm ngày càng thâm sâu mà không hề cạn kiệt khả năng của chính mình; không những thế, đúng hơn là chúng còn cấu thành một biển khơi không bờ bến mà giọt sương của ta khi rớt vào đấy không hề biến mất luôn trong đó; mà cảm thấy đúng ra như thể nước hấp thu trọn cả đại dương vào chính nó.

Vậy là giờ đây tôi đang sống

Không phải là tôi, mà là chính Ngài V

ới mọi quyền năng và lòng bác ái

Từ đó trở đi sống động nơi tôi.

Đến đây tôi phải kết thúc mẩu tiểu sử này, vì đây là “Thông Thiên Học đến với tôi như thế nào” – trước hết xuyên qua bà Blavatsky, vị sáng lập vĩ đại của chúng ta nơi cõi trần, và rồi đầy đủ hơn ở mức độ cao hơn xuyên qua các thành viên khác của Đại Đoàn Huynh Đệ Bạch Đạo (Quần Tiên Hội) mà bà đã giới thiệu cho tôi. Cầu xin tất cả Huynh đệ của tôi tìm thấy nơi Thông Thiên Học sự an bình và hạnh phúc mà tôi đã tìm gặp.

VẠN VẬT THÁI BÌNH