← Thư Chân sư Gởi các Đệ tử Nhóm Glamours

D. P. R.

Trích nội dung chương

As a Master studies His chelas year by year, He arrives at certain definite knowledges anent them which are very different to those arrived at by even the dearest or closest earthly friends. The latter are apt to fail in grasping life essentials, because the detail and the minute aspects of the daily expression attract attention and the surface is confounded with the depth. It is the depth which the Master sees; the essential quality which He grasps, and the major need which emerges. [756] Khi một Chân sư nghiên cứu các đệ tử của Ngài hàng năm, Ngài đạt được một số kiến thức nhất định liên quan đến họ, những kiến thức này rất khác với những…


September 1943—Tháng 9 năm 1943

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

As a Master studies His chelas year by year, He arrives at certain definite knowledges anent them which are very different to those arrived at by even the dearest or closest earthly friends. The latter are apt to fail in grasping life essentials, because the detail and the minute aspects of the daily expression attract attention and the surface is confounded with the depth. It is the depth which the Master sees; the essential quality which He grasps, and the major need which emerges. [756]

Khi một Chân sư nghiên cứu các đệ tử của Ngài hàng năm, Ngài đạt được một số kiến thức nhất định liên quan đến họ, những kiến thức này rất khác với những kiến thức mà ngay cả những người bạn thân nhất hoặc thân thiết nhất trên trần thế đạt được. Những người sau thường thất bại trong việc nắm bắt những điều cốt yếu của cuộc sống, bởi vì các chi tiết và khía cạnh nhỏ nhặt của biểu hiện hàng ngày thu hút sự chú ý và bề mặt bị nhầm lẫn với chiều sâu. Chính chiều sâu là điều mà Chân sư nhìn thấy; phẩm chất thiết yếu mà Ngài nắm bắt, và nhu cầu chính xuất hiện. [756]

What, my brother, lies at the very depth of your personality in this life? I refer not here to the deeps of the soul, but to the particular hidden thing which is and has been struggling for expression throughout this entire incarnation. What is your essential quality? Here I refer to the outstanding quality which, given due process of experience, will radiate from your life and thus constitute your major working asset. What is your predominant need this life? Reduce all this to the requirements for initiation (for which you are being prepared) and you come to three fundamental things which must be manifested, prior to that tremendous step forward upon the Path. You will note that I am not preoccupied with your mistakes or failures. These are inevitable and are relatively unimportant, because a disciple at your point of development is ever aware of them and can be trusted to take the needed steps toward adjustment.

Huynh đệ của tôi, điều gì ẩn sâu trong phàm ngã của em trong kiếp sống này? Ở đây, tôi không đề cập đến những điều sâu thẳm của linh hồn, mà nói đến điều ẩn giấu đặc biệt đang và đã đấu tranh để thể hiện trong suốt quá trình tái sinh này. Phẩm chất thiết yếu của em là gì? Ở đây tôi đề cập đến phẩm chất vượt trội, với quá trình trải nghiệm phù hợp, sẽ tỏa ra từ cuộc sống của em và do đó tạo thành tài sản làm việc chính của em. Nhu cầu chủ yếu của em trong kiếp sống này là gì? Hãy rút gọn tất cả những điều này thành những yêu cầu để điểm đạo (mà em đang được chuẩn bị) và em đi đến ba điều cơ bản cần phải được biểu lộ, trước bước tiến vĩ đại đó trên Thánh đạo. Em sẽ lưu ý rằng tôi không bận tâm đến những lỗi lầm hay thất bại của em. Đây là những điều không thể tránh khỏi và tương đối không quan trọng, bởi vì một đệ tử ở trình độ phát triển của em luôn nhận thức được chúng và có thể được tin cậy để thực hiện các bước cần thiết để điều chỉnh.

For years I have watched you. You have made steady progress in all directions but have reached a point which it is necessary that all disciples reach, where a supreme effort, based on clear perception and insight, is essential. To aid you in making this supreme life effort, I would like to touch upon these three points. I must touch upon them in such a way that only you will comprehend the implications. There is no need for your group brothers, or any one else who may come across and read your papers, to grasp my meaning. Two factors of interest emerge here. In veiling (from the point of definite personal application) the truths I seek to have you grasp, I present to you a compromise between the Eastern method of hinting and the Western method of plain speaking! I am, at the same time, endeavouring to convey to you the attitude of all disciples in training for initiation. This attitude is one of extreme personal reticence and of withdrawing from those verbal contacts which reveal too much of individual soul growth. This is one of the first lessons in the silence which initiation entails. It is also one of the first steps towards comprehension of that “isolated unity” which is distinctive of the Master. In the Hierarchy there is complete unity, based upon a recognised isolation of spirit from matter. [757] This thought should provide you with a theme for much profound thinking.

Trong nhiều năm tôi đã dõi theo em. Em đã tiến bộ đều đặn theo mọi hướng, nhưng em đã đạt đến một điểm mà tất cả các đệ tử đều phải đạt tới, nơi một nỗ lực tối thượng, dựa trên nhận thức và tuệ kiến sáng tỏ, là điều thiết yếu. Để giúp em thực hiện nỗ lực tối thượng của đời mình này, tôi muốn đề cập đến ba điểm. Tôi phải nói về chúng theo cách mà chỉ riêng em mới hiểu được những hàm ý. Không cần các huynh đệ trong nhóm của em, hay bất cứ ai khác có thể đọc những trang giấy của em, phải nắm bắt ý tôi. Ở đây xuất hiện hai yếu tố đáng quan tâm. Khi che phủ (từ quan điểm áp dụng cá nhân rõ rệt) những chân lý mà tôi muốn em nắm bắt, tôi trình bày với em một sự dung hoà giữa phương pháp ám chỉ của phương Đông và phương pháp nói thẳng của phương Tây! Đồng thời, tôi cũng đang cố gắng truyền đạt cho em thái độ của mọi đệ tử đang được huấn luyện cho điểm đạo. Thái độ này là sự dè dặt cá nhân ở mức độ cao và sự rút lui khỏi những tiếp xúc bằng lời nói vốn bộc lộ quá nhiều về sự tăng trưởng linh hồn cá nhân. Đây là một trong những bài học đầu tiên về sự im lặng mà điểm đạo đòi hỏi. Nó cũng là một trong những bước đầu tiên hướng đến sự hiểu biết về “Hợp Nhất Cô Lập” vốn là đặc trưng của Chân sư. Trong Thánh đoàn có sự hợp nhất hoàn toàn, được đặt nền trên một sự cô lập được nhận biết của tinh thần khỏi vật chất. [757] Tư tưởng này phải cung cấp cho em một chủ đề để suy nghĩ sâu xa.

What, therefore, brother of mine, should be the unique realisation which this particular incarnation should help you to express? What lies at the depths of your being, seeking revelation? What is the essential quality which you should radiate? What is your outstanding need? I will tell you the truth as I see it, reminding you however that it is the truth as you see it which changes and conditions your life. You must therefore regard my suggestions as valuable, but regard them primarily as the subject of a defined spiritual investigation—to be carried forward with an open mind and a willingness to recognise them as correct and just when your own conclusions and your intuitive response justify your agreeing. Here are my conclusions:

Do đó, huynh đệ của tôi, điều gì sẽ là nhận thức độc đáo mà kiếp tái sinh đặc biệt này sẽ giúp em thể hiện? Điều gì ẩn sâu trong con người em, đang tìm kiếm sự tiết lộ? Phẩm chất thiết yếu mà em nên lan tỏa ra là gì? Nhu cầu nổi bật của em là gì? Tôi sẽ nói cho em biết sự thật như tôi nhìn thấy nó, tuy nhiên nhắc nhở em rằng chính sự thật như em nhìn thấy nó sẽ thay đổi và tạo điều kiện cho cuộc sống của em. Do đó, em phải coi những gợi ý của tôi là có giá trị, nhưng chủ yếu coi chúng là chủ đề của một cuộc khảo sát tinh thần xác định—được tiến hành với một thể trí cởi mở và sẵn sàng công nhận chúng là đúng và chỉ khi những kết luận và phản ứng trực giác của em biện minh cho những gì em đồng ý. Đây là kết luận của tôi:

1. The hidden beauty seeking expression in your life is the power to use words to arrest others and to put them, as a consequence, upon the Path of Return. This will undoubtedly surprise you, but your apparent inability to write, for instance, a fluent letter or an eloquent appeal, or to evoke the words of arresting power which you feel seething within you, are only indicative of a pronounced personality inhibition which you can overcome, if you so wish. Words are the expression of the soul, when rightly employed. You do not use those words. You can, if you determine to do so. The art of spiritual letter writing will release this inner beauty and enhance your service.

1. Vẻ đẹp ẩn giấu đang tìm cách biểu lộ trong đời em chính là quyền năng sử dụng ngôn từ để đánh thức người khác và, do đó, đặt họ lên Con Đường Trở Về. Điều này hẳn sẽ làm em ngạc nhiên, nhưng sự bất lực bề ngoài của em trong việc viết, chẳng hạn, một lá thư trôi chảy hay một lời kêu gọi hùng biện, hoặc trong việc gợi lên những lời lẽ đầy sức mạnh mà em cảm thấy đang sôi sục bên trong mình, chỉ là dấu hiệu của một sự ức chế rõ rệt nơi phàm ngã mà em có thể vượt qua nếu em thực sự muốn. Ngôn từ là sự biểu lộ của linh hồn khi được sử dụng đúng cách. Em không sử dụng những lời ấy. Em có thể làm được, nếu em quyết tâm. Nghệ thuật viết thư tinh thần sẽ giải phóng vẻ đẹp nội tại này và tăng cường sự phụng sự của em.

2. The essential quality which you should radiate is an understanding holding of those for whom you are responsible. I said “holding,” brother of mine. A.A.B. has called my attention to the interesting fact that it is the rarest thing for you to lose a student out of your secretarial group, yet at the same time you write less and (apparently) upon the outer plane, do less, than the other secretaries. Why is this so? It is indicative of the quality which you radiate. This quality is in the [758] nature of a potency. It is the power to hold others steady by the nature of your understanding; this they feel, even if you do not consciously express it. It remains still basically subjective. A quality such as this—binding, forceful and enduring—carries its limitations as well as its benedictions. People can be held too closely to you for their own good, and it is ever the weaker who are thus held and the less advanced. People in this way can become dependent upon the one who holds, and thus fail to express themselves, and thus again their weaknesses are developed and a tendency to negativity. You can develop this theme yourself. But the beneficent aspect of this radiation is predominant in you and must be increased and this deliberately.

2. Phẩm tính thiết yếu mà em nên toả chiếu là sự nâng đỡ đầy thấu hiểu đối với những người mà em chịu trách nhiệm. Tôi đã nói “nâng đỡ”, hỡi huynh đệ của tôi. A.A.B. đã lưu ý cho tôi một sự kiện thú vị rằng hiếm khi em mất một học viên nào trong nhóm thư ký của mình, thế nhưng đồng thời em lại viết ít hơn và (bề ngoài) làm ít hơn trên cõi hồng trần so với các thư ký khác. Vì sao lại như vậy? Điều đó cho thấy phẩm tính mà em đang toả chiếu. Phẩm tính này mang bản chất của một quyền năng. Đó là quyền năng giữ cho người khác được vững vàng bằng chính bản chất thấu hiểu của em; họ cảm nhận được điều đó, ngay cả khi em không biểu lộ nó một cách hữu thức. Tuy nhiên, về căn bản, nó vẫn còn mang tính chủ quan. Một phẩm tính như thế—gắn kết, mạnh mẽ và bền bỉ—vừa có những giới hạn vừa có những ân phúc của nó. Người ta có thể bị giữ quá chặt bên em đến mức không còn lợi ích cho chính họ; và chính những người yếu hơn, kém tiến bộ hơn, lại thường bị giữ như vậy. Theo cách này, họ có thể trở nên lệ thuộc vào người đang giữ họ, và do đó không thể tự biểu lộ mình; vì thế, những yếu điểm của họ lại phát triển thêm cùng với khuynh hướng tiêu cực. Em có thể tự mình khai triển chủ đề này. Nhưng nơi em, phương diện thiện lành của sự toả chiếu này vẫn chiếm ưu thế và cần phải được gia tăng—một cách có chủ ý.

3. Your major need (and this you know) is freedom, is liberation. I do not mean freedom from incarnation or liberation from the pressures of life, but the freedom which the sannyasin knows as he roams free in the three worlds—unsupervised or unintruded upon by aught but his own soul. It is the freedom which gives mental help, emotional response and physical time as and when the disciple chooses. These are not evoked by habit or by the demand of others, but are the free contribution of the soul to a current need. Your response is not always to need, is it, my brother? Ponder on this.

3. Nhu cầu chính của em (và điều này em biết) là tự do, là sự giải thoát. Ý tôi không phải là tự do khỏi luân hồi hay giải thoát khỏi những áp lực của cuộc sống, mà là sự tự do mà một sannyasin biết được khi y lang thang tự do trong tam giới – không bị giám sát hay xâm phạm bởi bất cứ thứ gì ngoại trừ linh hồn của chính y. Chính sự tự do mang lại sự trợ giúp về mặt trí tuệ, phản ứng cảm xúc và thời gian vật lý tùy theo lựa chọn của người đệ tử. Những điều này không được gợi lên bởi thói quen hay nhu cầu của người khác, mà là sự đóng góp tự do của linh hồn cho một nhu cầu hiện tại. Đáp ứng của em không phải lúc nào cũng cần, phải không, huynh đệ của tôi? Hãy suy ngẫm về điều này.

In the six seed thoughts which I gave you a year ago, this theme of liberation, of a desirable divine loneliness, and of a search for a note that could bring freedom was a dominant one. They still should be the major subject of all your meditation work. I would suggest that for the coming year you take them as the seed thoughts for your definitely planned morning meditation. I am leaving you to do the planning, but would make one suggestion. These six thoughts will need to be taken one each month for six months, and then repeated for another six. For the first six months reflect upon them from the angle of your subjective realisation as a soul; [759] for the second six months study them from the angle of practical expression in your daily life.

Trong sáu suy nghĩ hạt giống mà tôi đã đưa cho em một năm trước, chủ đề về sự giải thoát, về sự cô đơn thiêng liêng đáng mơ ước, và về việc tìm kiếm một âm điệu (note) có thể mang lại tự do là chủ đề nổi bật. Chúng vẫn nên là chủ đề chính trong tất cả công việc tham thiền của em. Tôi đề nghị rằng trong năm tới, em hãy coi chúng như những tư tưởng hạt giống cho việc tham thiền buổi sáng đã được lên kế hoạch rõ ràng của em. Tôi để em lập kế hoạch, nhưng sẽ đưa ra một gợi ý. Sáu suy nghĩ này sẽ cần được thực hiện mỗi tháng một lần trong sáu tháng, và sau đó lặp lại trong sáu tháng nữa. Trong sáu tháng đầu tiên, hãy suy ngẫm về chúng từ góc độ nhận thức chủ quan của em với tư cách là một linh hồn; [759] trong sáu tháng thứ hai, hãy nghiên cứu chúng từ góc độ biểu hiện thực tế trong cuộc sống hàng ngày của em.

I am anxious for you to make the grade this life, my brother, and here I am speaking technically. I am anxious for you to take the initiation planned by your own soul, and to take it this life, so that you can enter into your next incarnation with the initiate consciousness (of the grade desired), and thus start with greatly increased assets for service. I would remind you that initiation is taken alone; hence my emphasis to you during the past few years upon the need for you to travel alone—spiritually and mentally speaking. From other angles you travel not alone. The spiritual life is full of paradoxes. We set out to develop a sense of unity and of oneness with all beings, yet at times we must learn the lessons of loneliness and of isolation. A great “aloneness” is the supreme test of the fourth initiation. Remember this. Yet never, my brother, will you be alone, and this too you must have in mind. It is, in the last analysis, a question of recognitions. Let me assure you: I recognise you and, my brother and close friend on the inner side, I know you and love you.

Em thân mến, tôi đang lo lắng cho em “tốt nghiệp” trong kiếp sống này, và ở đây tôi đang nói về mặt kỹ thuật. Tôi lo lắng cho em thực hiện cuộc điểm đạo do chính linh hồn em lên kế hoạch, và thực hiện nó trong kiếp này, để em có thể bước vào kiếp sau với tâm thức điểm đạo đồ (của cấp độ mong muốn), và do đó bắt đầu với tài sản gia tăng đáng kể cho việc phụng sự. Tôi xin nhắc em rằng việc điểm đạo chỉ được thực hiện một mình; do đó, tôi nhấn mạnh với em trong vài năm qua về nhu cầu em phải đi một mình—nói về mặt tinh thần và trí tuệ. Từ những góc độ khác, em không đi một mình. Đời sống tinh thần đầy nghịch lý. Chúng ta bắt đầu phát triển cảm giác hợp nhất và đồng nhất với tất cả chúng sinh, nhưng đôi khi chúng ta phải học những bài học về sự cô đơn và cô lập. Một “sự cô đơn” lớn là bài kiểm tra tối cao của cuộc điểm đạo thứ tư. Hãy nhớ lấy điều này. Tuy nhiên, huynh đệ của tôi, em sẽ không bao giờ một mình, và em cũng phải ghi nhớ điều này. Trong phân tích cuối cùng, đó là vấn đề của nhận biết. Hãy để tôi đảm bảo với em: Tôi nhận ra em và, huynh đệ và người bạn thân ở phương diện nội giới của tôi, tôi biết em và yêu em.

November 1944—Tháng 11 năm 1944

BROTHER OF MINE:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

In what sense do I call you this? For this appellation conveys no idle statement but is of deep significance. It is particularly so in your case and in reference to your individual relation to me. My last instruction should have indicated to you how deep is my comprehension of you and your nature, and how well I understand your problems, your limitations and your assets. Every Master needs to have such an understanding and to know infallibly what is in a disciple’s heart and mind; He must understand what motivates his action. When also there is a karmic tie as well as a spiritual one, when there is a recognition of unity of purpose, plus a past history of close relationship when the Master was also only a disciple and the disciple was only an aspirant, then the words “Brother of mine” take on a deeper meaning. They [Page 760] might indicate a steady moving forward, side by side, of a younger and an older brother, resulting in a consequent close relationship, easy contact and a deep comprehension. In this sense, therefore, my mode of addressing some of you is not simply significant of an occult truth but of an existent fact in the three worlds. There are four of you in this group who have such a relationship to me. It is—between us—an old story. Others in this group, as you know, are temporarily under my instruction until such time as they have fitted themselves to fill vacancies in other Ashrams; still others are, for the first time, making contact with me in my Ashram, having had no previous contact with any Ashram. I bring these points to your attention because I would have you utilise a possibility which remains as yet a hoped-for event in your case—the possibility of a realised, easy contact with me. It has always been possible for you to contact me with facility but you have seldom realised it. I want you now to realise it and to develop into outer expression what has always interiorly existed.

Tôi gọi em như vậy theo nghĩa nào? Đối với cách gọi này, nó không truyền đạt một phát biểu vu vơ, mà có ý nghĩa sâu sắc. Nó đặc biệt như vậy trong trường hợp của em và liên quan đến mối quan hệ cá nhân của em với tôi. Bức thư cuối cùng của tôi lẽ ra phải cho em biết mức độ hiểu biết của tôi về em và bản chất của em sâu sắc như thế nào, và tôi hiểu rõ các vấn đề, giới hạn và tài sản của em ra sao. Mỗi Chân sư cần phải có một sự hiểu biết như vậy, biết chắc chắn những gì trong trái tim và trong trí của đệ tử; Ngài phải hiểu điều gì thúc đẩy đệ tử hành động. Khi có sự ràng buộc thêm về nghiệp quả cũng như về tinh thần, khi có sự thừa nhận về mục đích thống nhất, cộng với quá khứ có quan hệ mật thiết khi Chân sư chỉ là một đệ tử và vị đệ tử chỉ là người chí nguyện, thì câu nói “Huynh đệ của tôi” mang một ý nghĩa sâu sắc hơn. [760] Chúng có thể chỉ ra một bước tiến vững chắc về phía trước, bên cạnh nhau, của một người anh và một người em, dẫn đến một mối quan hệ thân thiết, tiếp xúc dễ dàng và hiểu biết sâu sắc. Do đó, theo nghĩa này, cách tôi xưng hô với một số em không chỉ đơn giản là có ý nghĩa về một sự thật huyền linh mà còn về một sự thật tồn tại trong tam giới. Có bốn em trong nhóm này có mối quan hệ như vậy với tôi. Đó là một câu chuyện cũ giữa chúng ta. Những người khác trong nhóm này, như em biết, tạm thời dưới sự hướng dẫn của tôi cho đến khi họ tự trang bị cho mình thích hợp để lấp chỗ trống trong các Ashram khác; vẫn còn những người khác, lần đầu tiên, tiếp xúc với tôi trong Ashram của tôi, chưa từng liên lạc với bất kỳ Ashram nào trước đó. Tôi lưu ý em những điểm này bởi vì tôi muốn em sử dụng một khả năng vẫn còn là một sự kiện được kỳ vọng trong trường hợp của em—khả năng có sự tiếp xúc dễ dàng, hiện thực với tôi. Em luôn có thể tiếp xúc với tôi thuận lợi nhưng em hiếm khi nhận ra điều đó. Bây giờ tôi muốn em nhận ra nó và phát triển thành biểu hiện bên ngoài những gì luôn tồn tại bên trong.

How, brother of mine, can you do this? One definite means of intensifying this inner recognition would be to avail yourself more fully of the period of the Full Moon approach. For years you have all been utilising this monthly opportunity but with relatively little results; this has somewhat surprised me for, on the side of the Ashram, there has been a great readiness for such an approach and an eagerness to stimulate “the process of absorption,” as it is called. This is a process which serves to integrate the disciple regularly and cyclically into the consciousness of the Ashram, with subsequent and consequent results to the disciple.

Huynh đệ của tôi, làm thế nào em có thể thực hiện điều này? Một phương tiện rõ ràng để tăng cường sự nhận biết bên trong này là em hãy tận dụng đầy đủ hơn khoảng thời gian Trăng tròn đang đến gần. Trong nhiều năm, tất cả các em đã tận dụng cơ hội hàng tháng này nhưng với kết quả tương đối ít; điều này làm tôi hơi ngạc nhiên vì về phía Ashram, đã có sự sẵn sàng lớn đối với cách tiếp cận như vậy và sự háo hức để kích thích “quá trình hấp thụ,” như nó được gọi. Đây là một tiến trình phụng sự cho việc tích hợp đệ tử một cách thường xuyên và theo chu kỳ vào tâm thức của Ashram, với những kết quả tiếp theo và hệ quả đối với đệ tử.

I would ask you, therefore, each month and for the rest of your life to follow for three days a definite procedure.... I ask this because I believe you have that persistent staying power which is characteristic of all those whose personalities are on the ray which is yours. The procedure will involve putting yourself en rapport with my Ashram and to register it in your physical brain consciousness. You may not and probably will not succeed in this endeavour immediately, but in due course of time and with persistent effort you [761] inevitably will. Think of me as you know me to be; let not your sixth ray devotional nature play any part in this process or contact. Bear in mind that first ray disciples are in my Ashram, and that there are aspects of my nature which are of first ray origin, but when you remember this, bear also in mind that the aspect to which I refer is Triadal.

Do đó, tôi yêu cầu em, mỗi tháng và trong suốt phần đời còn lại của em, hãy tuân theo một quy trình nhất định trong ba ngày.... Tôi yêu cầu điều này bởi vì tôi tin rằng em có sức mạnh bền bỉ, đó là đặc điểm của tất cả những người có phàm ngã trên cung của em. Quy trình sẽ liên quan đến việc đặt em trong mối quan hệ với Ashram của tôi và ghi nó vào ý thức não bộ của em. Em có thể không và có thể sẽ không thành công trong nỗ lực này ngay lập tức, nhưng trong thời gian thích hợp và với nỗ lực bền bỉ, em [761] chắc chắn sẽ thành công. Hãy nghĩ về tôi như em biết về tôi; đừng để bản chất sùng đạo thuộc cung sáu của em đóng bất kỳ vai trò nào trong quá trình hoặc liên hệ này. Hãy nhớ rằng các đệ tử thuộc cung một đang ở trong Ashram của tôi, và có những phương diện trong bản chất của tôi có nguồn gốc từ cung một, nhưng khi em nhớ điều này, em cũng nên nhớ rằng khía cạnh mà tôi đề cập đến là Tam nguyên.

The Masters have no personalities as you understand personality. Their conditioning factors are the three aspects of the Spiritual Triad, and these aspects, being creative, build the phenomenal apparatus or mechanism by means of which a Master makes contact with the three worlds. This means, consequently, that disciples will need to study with greater attention the teaching on the antahkarana, for it is via the antahkarana that they make contact with the Ashram and with the Master. Forget not that I have assured you that such a contact is relatively easy for you; the implications of this statement are clear. Let your reflection be upon the purpose of such a contact. Realise also that the intention of this work is to facilitate a great possibility which confronts you, that the urgency of the time demands “accomplished servers” and wise disciples, and that this urgency warrants an intensified training given disciples such as you. The contact with the Ashram will serve to emphasise in your mind the concept of yourself as the serving disciple. You are strong and able to take what the process requires; you can rest back on your own strength when it is implemented by an increasing clarity of vision. You see people and life more truly than you did when you were first affiliated with my group, and the last two years have brought about much change in this connection. Count on yourself and on your soul with greater confidence; move forward with surety towards the consummation of this life’s effort.

Các Chân sư không có phàm ngã như em hiểu về phàm ngã. Các yếu tố hạn định của chúng [ND: các phàm ngã] là ba khía cạnh của Tam nguyên Tinh thần, và những khía cạnh này, mang tính sáng tạo, xây dựng bộ máy hay cơ chế hiện tượng mà nhờ đó một Chân sư tiếp xúc với tam giới. Do đó, điều này có nghĩa là các đệ tử sẽ cần phải nghiên cứu kỹ hơn giáo lý về antahkarana, vì chính nhờ antahkarana mà họ tiếp xúc với Ashram và với Chân sư. Đừng quên rằng tôi đã đảm bảo với em rằng một liên hệ như vậy tương đối dễ dàng đối với em; ý nghĩa của tuyên bố này là rõ ràng. Hãy để sự suy ngẫm của em dựa trên mục đích của một cuộc tiếp xúc như vậy. Cũng hãy nhận ra rằng mục đích của công việc này là tạo điều kiện thuận lợi cho một khả năng lớn mà em phải đối mặt, rằng thời gian cấp bách đòi hỏi “những người phụng sự xuất sắc” và các đệ tử thông thái, và rằng tính cấp bách này đảm bảo một sự đào tạo tăng cường cho các đệ tử như em. Sự tiếp xúc với Ashram sẽ phục vụ để nhấn mạnh trong thể trí của em khái niệm về chính em như một đệ tử phụng sự. Em mạnh mẽ và có khả năng thực hiện những gì quá trình yêu cầu; em có thể dựa vào sức mạnh của chính mình khi nó được thực hiện bằng tầm nhìn ngày càng rõ ràng. Em nhìn con người và cuộc sống chân thực hơn so với khi em lần đầu tiên tham gia nhóm của tôi, và hai năm qua đã mang lại nhiều thay đổi trong mối quan hệ này. Dựa vào chính bản thân và linh hồn của em với sự tự tin hơn; tiến về phía trước một cách chắc chắn hướng tới sự viên mãn của nỗ lực trong kiếp sống này.

I would call to your attention that in the instructions I gave you last year and in this one, you have a complete unit of teaching which can suffice you for the remainder of this life. Read both these instructions over once every month regularly, thus renewing your interest and your enthusiasm. It is interesting to observe that initiation is often taken (I might say it is usually taken) after passing the milestone of [762] half a century. The reason is that if the disciple can produce the needed staying power and the required enthusiasm—by which I mean dynamic purpose—he can then be trusted to handle the powers conferred with wisdom, to display the needed poise, and to proceed upon his outward way with humility and caution.

Tôi muốn lưu ý em rằng trong những hướng dẫn tôi đã đưa cho em năm ngoái và trong hướng dẫn này, em có một đơn vị giảng dạy hoàn chỉnh, có thể đủ cho em trong phần còn lại của cuộc đời này. Đọc đều đặn cả hai hướng dẫn này mỗi tháng một lần, như vậy sẽ làm mới lại mối quan tâm và lòng nhiệt tình của em. Thật thú vị khi quan sát thấy rằng việc điểm đạo thường được thực hiện (tôi có thể nói là thông thường được thực hiện) sau khi vượt qua cột mốc [762] nửa thế kỷ. Lý do là nếu người đệ tử có thể tạo ra sức mạnh bền bỉ cần thiết và sự nhiệt tình cần thiết—tôi muốn nói đến mục đích năng động—thì anh ta có thể được tin tưởng để xử lý những năng lực được ban cho bằng minh triết, để thể hiện sự đĩnh đạc cần thiết, và tiến bước ra bên ngoài với sự khiêm tốn và thận trọng.

I have told you much in these last two instructions; they consummate the teaching which I have given you since 1933. Ponder on them. Act upon them and then strengthen the Ashram and present to the Masters a wise server and a trained companion on the Way.

Tôi đã nói với em nhiều điều trong hai hướng dẫn cuối cùng này; chúng hoàn thành giáo lý mà tôi đã trao cho em từ năm 1933. Hãy suy ngẫm về chúng. Hành động theo chúng và sau đó gia tăng sức mạnh Ashram và trình bày cho các Chân sư một người phụng sự khôn ngoan và một người bạn đồng hành được đào tạo trên Con đường.

August 1946—Tháng 8 năm 1946

MY DISCIPLE:

ĐỆ TỬ CỦA TÔI:

I would have you note the change in the manner in which I am addressing you. It has significance and my word to you in this instruction is simply this: Give to the years ahead a deep study in order to ascertain the implications and the opportunities that this word—given you at this particular time—implies; study the consequent effectiveness in contact (upward, inward, and outward, if one may use such inadequate terms!) that will result.

Tôi muốn em lưu ý sự thay đổi trong cách tôi xưng hô với em. Nó có ý nghĩa, và lời của tôi với em trong hướng dẫn này chỉ đơn giản là thế này: Hãy nghiên cứu sâu về những năm sắp tới để xác định những hàm ý và cơ hội mà từ này—dành cho em vào thời điểm cụ thể này—hàm ý; nghiên cứu hiệu quả tiếp theo trong tiếp xúc (hướng lên, hướng vào trong và hướng ra ngoài, nếu người ta có thể sử dụng những thuật ngữ không thỏa đáng như vậy!) sẽ dẫn đến.

Occultly speaking, you stand alone; you lead a lonely life, for there is no single person in your environment who shares with you the same quality or grade of spiritual perception. This you may deny, for your life is very full. Life has its constant points of revelation, some of which we recognise, and others pass by unnoted. The revelation of a certain type of spiritual loneliness is one through which all disciples have to pass; it is a test of that occult detachment which every disciple has to master.

Nói một cách huyền bí, em đứng một mình; em sống một cuộc đời cô đơn, vì không có một người nào trong môi trường của em chia sẻ với em cùng phẩm chất hoặc cấp độ nhận thức tinh thần. Em có thể phủ nhận điều này, vì cuộc sống của em rất đầy đủ. Cuộc sống luôn có những điểm mặc khải liên tục, một số trong đó chúng ta nhận ra và những điểm khác trôi qua không được chú ý. Sự mặc khải về một loại cô đơn tinh thần nào đó là một loại mà tất cả các đệ tử đều phải trải qua; đó là một bài kiểm tra về sự tách rời huyền bí (occult detachment) mà mỗi đệ tử phải thành thạo.

This solitariness has to be faced and understood, and it results in two realisations: first of all, a realisation of your exact point on the ladder of evolution, or on the Path; and secondly, an intuitive perception of the point in evolution of those we contact along the way of life. For quite a long time every disciple refuses to do either of these two things. A false humility, which in reality borders on a lack of truthfulness, [763] keeps him from clear-eyed recognition of status—a recognition which necessarily involves more intelligence and sounds out no call to pride. Few too dare trust themselves to see their fellowmen as they really are, for fear of a critical spirit—so hard it is to develop the true practice of loving understanding which leads to the seeing of all people in truth, with their faults and their virtues, their pettiness and their grandeurs, and still to love them as before and even more.

Sự đơn độc này phải được đối mặt và hiểu rõ, và nó dẫn đến hai nhận thức: trước hết, nhận thức về điểm chính xác của em trên nấc thang tiến hóa, hay trên Thánh đạo; và thứ hai, một nhận thức trực giác về điểm tiến hóa của những người chúng ta tiếp xúc trên đường đời. Trong một thời gian khá dài, mọi đệ tử đều từ chối làm một trong hai điều này. Một sự khiêm tốn giả tạo, mà trên thực tế gần như sự thiếu trung thực, [763] khiến anh ta không thể nhìn nhận rõ ràng địa vị của mình—một sự thừa nhận nhất thiết liên quan đến trí thông minh hơn và không có vẻ gì là kiêu ngạo. Rất ít người dám tự tin nhìn nhận đồng loại đúng như con người thật của họ, vì sợ tinh thần chỉ trích—thật khó để phát triển thực hành hiểu biết yêu thương chân chính, điều dẫn đến việc nhìn thấy tất cả mọi người trong sự thật, với lỗi lầm và đức tính của họ, sự nhỏ nhen và vĩ đại của họ, thế nhưng vẫn yêu họ như trước đây và thậm chí còn hơn thế nữa.

This occult solitariness must be consciously developed by you, and not left to circumstances. It is a solitariness which rests on soul attainment and upon no spirit of separateness; it is a solitariness which boasts of many friends and many interruptions, but of these many, few—if any—are admitted to the point of sacred peace; it is a solitariness that shuts none out, but which withholds the secrets of the Ashram from those who seek to penetrate. It is, finally, a solitariness which opens wide the door into the Ashram.

Sự đơn độc huyền bí này phải được em phát triển một cách có ý thức, và không được phó mặc cho hoàn cảnh. Đó là một sự đơn độc dựa trên sự thành đạt của linh hồn và không có tinh thần chia rẽ; đó là một sự đơn độc tự hào về nhiều bạn bè và nhiều sự gián đoạn, nhưng trong số này, rất ít—nếu có—được thừa nhận đến điểm bình yên thiêng liêng; đó là sự đơn độc không ngăn cản ai, nhưng giữ lại những bí mật của Ashram đối với những ai muốn thâm nhập. Cuối cùng, chính sự đơn độc mở rộng cánh cửa vào Ashram.

This is the factor you need the most to cultivate at this time. It will necessitate a conscious and definite withdrawal of yourself, and at the same time will lead to a still warmer expression of love upon the outer plane of life.

Đây là yếu tố em cần trau dồi nhất vào lúc này. Nó sẽ đòi hỏi em phải rút lui một cách có ý thức và rõ ràng, đồng thời sẽ dẫn đến một biểu hiện yêu thương còn nồng nhiệt hơn ở cõi bên ngoài của cuộc sống.

The closing of this outer group may enable you the more easily to do this, and may deepen your inner life immeasurably. Welcome, therefore, this opportunity. As regards the outer group, I would ask you to keep in close touch, however, through correspondence, with J.S.P.; she is a group brother who sorely needs your strength and knowledge. She has suffered far more than any of you and sorely needs lifting into a sense of security and peace. I commend her to you, and she will be good for you as you for her.

Việc kết thúc nhóm bên ngoài này có thể giúp em thực hiện điều này dễ dàng hơn và có thể đào sâu đời sống nội tâm của em một cách vô cùng. Do đó, hãy chào mừng cơ hội này. Tuy nhiên, đối với nhóm bên ngoài, tôi yêu cầu em giữ liên lạc chặt chẽ, thông qua thư từ, với JSP; em [cô] ấy là một huynh đệ cùng nhóm rất cần sức mạnh và kiến thức của em. Cô ấy đã phải chịu đựng nhiều hơn bất kỳ ai trong số các em và rất cần được nâng đỡ để có được cảm giác an toàn và bình yên. Tôi khen ngợi em ấy với em, và em ấy sẽ tốt cho em như em cho em ấy.

As for your meditation work, my brother, I would have you adhere to the Full Moon procedure outlined earlier by me, and I would ask you to keep this practice up for the remainder of your life. I would have you add to this monthly work a daily practice, founded upon the theme of a chosen solitariness. Note the word “chosen.” It is wiser to cultivate the quality of spiritual solitude than to have it forced upon you—as so often happens to so many. I will suggest only the themes for your meditation, leaving you to work out the form[764] or procedure to suit yourself, or to do without any form if it seems better to you.

Đối với công việc tham thiền của em, huynh đệ của tôi, tôi muốn em tuân thủ quy trình Trăng tròn mà tôi đã vạch ra trước đó, và tôi sẽ yêu cầu em duy trì thực hành này cho đến cuối đời. Tôi muốn em thêm vào công việc hàng tháng này một thói quen hàng ngày, được thành lập dựa trên chủ đề về sự đơn độc được chọn. Lưu ý từ “được chọn”. Sẽ khôn ngoan hơn nếu trau dồi phẩm chất của sự cô độc tinh thần hơn là để nó bắt buộc em—điều thường xảy ra với rất nhiều người. Tôi sẽ chỉ gợi ý các chủ đề cho việc tham thiền của em, để em tự tìm ra hình thức [764] hoặc quy trình phù hợp với bản thân, hoặc thực hiện mà không cần bất kỳ hình thức nào nếu em thấy tốt hơn.

Themes For Meditation. One for each month, to be reviewed year by year.

Các Chủ Đề Cho Tham Thiền. Mỗi tháng một chủ đề, được xem xét lại từng năm.

1. The nature of solitude.

1. Bản chất của sự cô tịch.

2. The difference between solitude, loneliness, separateness and isolation. I would refer you to Patanjali [xxi]* who speaks of “isolated unity.”

2. Sự khác biệt giữa cô tịch, cô đơn, sự tách biệt và sự cô lập. Tôi muốn giới thiệu em đến Patanjali [xxi], người đã nói về “Hợp Nhất Cô Lập.”

3. Solitude and the daily life.

3. Cô tịch và đời sống hằng ngày.

4. Solitude and the soul.

4. Cô tịch và linh hồn.

5. Solitude as a quality of the interior life of an Ashram.

5. Cô tịch như một phẩm tính của đời sống nội tại trong một Ashram.

6. The solitude of spiritual perception.

6. Cô tịch của nhận thức tinh thần.

7. The solitude necessitated by the service of the Plan.

7. Cô tịch cần thiết do sự phụng sự Thiên Cơ.

8. Solitude as the background of a radiant life.

8. Cô tịch như hậu cảnh của một đời sống toả chiếu.

9. Solitude and contact with the Master.

9. Cô tịch và sự tiếp xúc với Chân sư.

10. The rewards of solitude.

10. Phần thưởng của sự cô tịch.

11. The voices heard in the silence of solitude.

11. Những tiếng nói được nghe trong sự im lặng của cô tịch.

12. The silence of the Spheres.

12. Sự im lặng của các Thiên Cầu.

In this solitude there is no morbidness, there is no harsh withdrawing, and there is no aspect of separateness. There is only the “place where the disciple stands, detached and unafraid, and in that place of utter quiet the Master comes and solitude is not.” [767]

Trong sự cô tịch này không có tính u uất bệnh hoạn, không có sự rút lui khắc nghiệt, và không có bất kỳ khía cạnh nào của sự tách biệt. Chỉ có “nơi mà người đệ tử đứng, tách rời và không sợ hãi, và trong nơi hoàn toàn tĩnh lặng ấy, Chân sư đến và không còn cô tịch nữa.” [767]

D. P. R.

Edna Kruse (DPR.) DNA vol. 1. p.382: vol. 2. p. 642.

Quality Name: Detachment (386), Peace, Relaxation. Rays: I-V, 423. Country. USA. Sun Sign: Pisces. Rising Sign: Taurus. Birth: March 15, 1872.

Công thức phát triển: Tách rời, Bình An, Thư Giãn.

Cấu trúc cung: I-V 423

Dấu hiệu mặt trời: Song Ngư, dấu hiệu mọc: Kim Ngưu. Sinh ngày 15-3-1872

Đây là hai trích đoạn Chân sư nói về ông:

Có giá trị để lưu ý một điểm đáng quan trọng nhất: Tất cả những người đã đi qua cửa tử đều có mối quan hệ [Trang 93] chắc chắn gần gũi hơn; họ đã giành được phần thưởng này và đã tận dụng những gì tôi đã dạy họ. Như các em đã biết, họ là C.D.P., K.E.S., D.P.R. Hai em khác ngày nay đang nhanh chóng thích nghi để theo ba đệ tử này vào Ashram. Họ là: B.S.W., người đã tạm thời chệch bước trong vài năm trước khi qua đời, và G.S.S., người mà các thể phàm ngã không thể tiếp nhận sự kích thích đã đến với cô ấy thông qua nhóm. Sự nhạy cảm với kích thích quá mức này là một vấn đề dễ dàng được khắc phục ngay bây giờ; nó không phải là một lỗi lầm, mà chỉ là một món nợ nghiệp quả. DINAI 93

Do đó, tôi đã chọn tham gia vào công việc này một số người chí nguyện có xu hướng bị khuất phục bởi ảo cảm, mặc dù hai trong số họ ít có khuynh hướng đó hơn những người khác. Sự tự do tương đối của họ đối với nó là một trong những lý do tại sao tôi chọn họ. Hai người này là D.L.R. và D.P.R. Hãy để hai người này giữ cuộc sống của họ không có bất kỳ xu hướng ảo cảm nào nếu họ phục vụ huynh đệ của họ đúng cách như tôi mong muốn. Tôi sẽ đưa ra chỉ dẫn về xu hướng của họ theo hướng đó trong hướng dẫn cá nhân của họ. Các thành viên khác trong nhóm nhanh chóng có xu hướng bị ảo cảm, điều này khiến họ đau buồn. Tuy nhiên, nó có thể nhanh chóng biến thành một tài sản. Làm sao ảo cảm thế gian có thể bị tan biến nếu không có những người nhận ra nó đúng như bản chất của nó và những người đã vật lộn với nó trong cuộc sống hàng ngày của họ? GAW 98

Về chủ âm Tách rời (detachment), có lẽ do dấu hiệu mặt trời Song Ngư nên ông dễ dính mắc với những người ông giúp đỡ, và đó chủ âm chính của ông trong kiếp sống này. Chân sư nói như sau:

Những điều đó dành cho em nhưng là các tác dụng phụ. Bài học dự định của em là Sự tách rời, và khi em giải phóng bản thân khỏi xiềng xích bám chấp vào nơi chốn hoặc con người, nhận thức trực giác của em sẽ được giải phóng, và em sẽ thấy bằng thực tại chứ không phải bằng hình tướng—bất kể cao hay tinh khiết thế nào

Đừng quên yêu thương với sự tách rời. Đó là bài học chính của em, em thân mến, và em chỉ hiểu được tầm quan trọng thực sự của nó khi phần dài hơn của cuộc đời đã qua đi. Những mối ràng buộc thông qua sự bám chấp trong nhiều năm giữ vững, và trên cõi trần, chúng không được, không thể bị cắt đứt, nhưng luôn luôn trong em chúng cũng phải bị cắt đứt hoàn toàn. Điều này có thể được thực hiện trước khi giai đoạn cuộc đời này kết thúc, do đó em được tự do trong chu kỳ đời sống tiếp theo để phụng sự, một sự phụng sự sẽ được thực hiện với sự chú tâm không bị chia tách.

Phụng sự nhưng không dính mắc, phụng sự nhưng hãy để người được giúp đỡ học được bài học cần thiết của họ, chứ không phải bao biện làm mọi thứ cho họ:

Đừng nâng quá nhiều, huynh đệ của tôi. Linh hồn của họ có quyền học những bài học giống như em đã phải học, và một trái tim quá thương hại không phải lúc nào cũng là thứ hữu ích nhất trong số các tài sản. Một trái tim yêu thương luôn hữu ích. Em đã học được nhiều điều trong kiếp trước của mình theo con đường này, và đã học được một cách thỏa đáng. Đừng lấy đi của người khác quyền được đứng một mình bằng cách thể hiện tình yêu thương che chở quá vĩ đại mà thể cảm dục mạnh mẽ của em có thể thể hiện một cách dễ dàng và vô vị lợi như vậy. Hãy để họ đứng vững trước những vấn đề của linh hồn, được mang đến cho họ thông qua phương tiện là [405] bài học vật chất, và nhờ đó giúp họ bước vào kiếp sống tiếp theo, được trang bị tốt hơn để yêu thương, làm việc và sống một cách vị tha.

Chủ âm cuối cùng của ông, là thư giãn, vì ông có sự tinh thần làm việc lao về phía trước của cung 1, và một điều nữa là tuổi ông khá cao (ông sinh năm 1872, vào thời điểm Chân sư bắt đầu viết thư cho ông là năm 1933, ông đã 61 tuổi, và ông mất năm 1947, khi ông được 75 tuổi). Với một người bình thường, mỗi kiếp sống có một “mốc cao” của sự phát triển, và từ mà Ngài thường dùng ở đây trong thư cho các đệ tử là “high water mark” để chỉ mốc phát triển cao nhất của một kiếp sống, và từ này liên quan đến mực nước lên xuống tại một vùng đất cụ thế theo năm tháng, nhưng mốc nước lên cao nhất được gọi là “high water mark”. Khi con người đạt đến mốc đó, sự phát triển ngừng lại, và như Chân sư DK nói, tuổi mà điều này xảy ra biến thiên từ 55 tuổi đến 70. Sau đó, con người tĩnh tại, sự phát triển dừng lại, và “rơi xuống dưới mốc nước này”. Nhưng ông là một ngoại lệ, Ngài nói, ông vẫn có thể phát triển nếu ông muốn, có lẽ do ông là một linh hồn cung 1, mạnh mẽ, có ý chí:

Đầu tiên, trong mỗi kiếp sống, con người đều đạt đến cái mà tôi có thể gọi là một mốc cao thành tựu nhất định, và tuổi đạt được điều này thay đổi gần như vô tận. Khi đạt đến nó, lúc đó sẽ có một khuynh hướng ổn định hướng tới sự kết tinh, hướng tới việc thừa nhận hình tư tưởng của đời sống (đây là tổng thể của tất cả các ý tưởng được hình thành đã chi phối sự tiến bộ) và con người dần trượt xuống dưới sự thống trị của hình tư tưởng đó. Điều này cản trở sự tiến bộ hơn nữa. Khi đạt đến mực nước cao sau độ tuổi 55-70, khó khăn sẽ tăng lên nhiều do sự trì trệ thể chất hoàn toàn bình thường. Phần lớn cuộc sống vào thời điểm đó bận tâm với các quá trình duy trì tình trạng thể chất sao cho có thể hoàn thành các nhiệm vụ cần thiết của một cuộc sống đầy đủ. Em đã đạt đến mốc nước cao này theo nghĩa thông thường và theo quy luật phát triển bình thường. Đối với em, nó có thể tạo thành chính xác như nó là, và em không cần phải cảm thấy xấu hổ về thành tích của mình vì nó đã tốt. Mục đích cuộc sống của em đã được định hướng đúng đắn và kiếp sau em sẽ gặt hái thành quả của sự kỷ luật cả đời mình.

Nhưng đối với em, với tư cách là một linh hồn và là một đệ tử đang được huấn luyện, không cần phải kìm hãm quá trình phát triển. Mốc nước cao nhất trong vòng đời của em (theo nghĩa rộng lớn hơn) sẽ chưa đạt được trong nhiều kiếp, và như thế em không cần phải có khoảng lặng xen kẽ, và không cần biểu hiện tình trạng tĩnh tại. Em có thể đi từ điểm này sang điểm khác trên Con đường, cả bây giờ và sau này. Quyết định và nỗ lực phải đến từ em, em thân mến, và nó hoàn toàn nằm trong tay em [388]. Hãy tiến bước trên Con Đường với toàn bộ sức sống linh hồn của em, đó là đời sống của một người chí nguyện trưởng thành và có kinh nghiệm. Sức mạnh của linh hồn cung một của em có thể khích lệ phàm ngã tiếp tục hành động và khát vọng, tiếp tục kiểm soát trí tuệ; do đó, đối với em, không cần ngừng hoạt động và không quay trở lại trì trệ cho đến khi hoạt động cuối cùng của quá trình chuyển tiếp thu hút sự chú ý kép của linh hồn và phàm ngã của em, và sự tách rời cuối cùng diễn ra. Nhưng để vượt qua mốc nước cao bình thường, cần phải áp đặt áp lực nội tại vốn từ chối để cơ thể và thể trí mệt mỏi quay trở lại quá khứ. Cần có sự khuyến khích của một ý chí tập trung phát huy năng lượng năng động của nó thông qua phàm ngã tam phân; cần phải có một thể trí phân biện, được thanh lọc (vì lợi ích của linh hồn) sẽ tách biệt điều thiết yếu khỏi điều không thiết yếu, và do đó cho phép em làm phong phú thêm công việc của mình thông qua việc loại bỏ một cách khôn ngoan những yếu tố tạo ra sự tiêu hao năng lượng và sức lực của em một cách vô ích, và việc sử dụng thời gian của em cho những kết quả không đáng kể.

Sự Hiện Diện

Chúng ta cũng thấy Ngài bắt đầu huấn luyện DPR về Kỹ Thuật của Đấng Hiện Diện, bài thiền về Sự Hiện Diện, do đó chúng ta có thể suy đoán trình độ phát triển của DPR phần nào, nằm giữa lần điểm đạo thứ 2 và 3. Ngoài ra, cách xưng hô “Brother of Old”, cũng giống như các đệ tử DLR, có lẽ củng cố thêm nhận định này.

Trong đoạn nói về Sự Hiện Diện, các bạn lưu ý Ngài dùng từ “the seer”, “người thấy, kiến giả” chỉ người theo con đường thần bí, con đường “nhãn pháp”, và “knower”, “thức giả, người biết”, người theo con đường huyền linh học, huyền bí gia, con đường “tâm pháp”.

Tôi nghĩ, đoạn Chân sư giải thích cho DPR thế nào “Sự Hiện Diện” rất đáng cho chúng ta nghiền ngẫm và ghi nhớ:

Nhà thần bí luôn nhận thức được tính hai mặt; của con người thấp kém và linh hồn nội tại; của người đệ tử mệt mỏi và Thiên thần; của tiểu ngã và chân ngã; của biểu hiện đời sống con người và biểu hiện đời sống tinh thần. Nhiều phẩm chất khác đại diện cho cùng một biểu hiện của thực tại. Tuy nhiên, đằng sau tất cả chúng đều hiện ra lờ mờ—nội tại, kỳ diệu và vinh quang—cái mà những tính nhị nguyên này chỉ là những khía cạnh: Sự Hiện diện, nội tại nhưng siêu việt, của Thượng đế. Trong bản chất của Đấng Duy Nhất này, mọi nhị nguyên đều được hấp thụ và mọi sự phân biệt và khác biệt đều mất đi ý nghĩa của chúng.

Khi em được yêu cầu phát triển tâm thức về Sự Hiện diện, trước hết, điều đó cho thấy rằng vào thời điểm này, em đã phần nào nhận thức được Thiên thần và bây giờ có thể bắt đầu phản ứng, lờ mờ và yếu ớt, với Tổng thể vĩ đại nằm đằng sau thế giới chủ quan của sự tồn tại, vì thế giới đó nằm sau thế giới vật chất, hữu hình của cuộc sống hàng ngày.

Cách Ngài dạy DPR thực hiện sự phụng sự bằng những việc gần gũi nhất, trong môi trường thân cận nhất, đáng cho đệ tử chúng ta học hỏi:

Hãy tập hợp xung quanh em một lần nữa những người đang tìm kiếm Con đường được thắp sáng như vậy và học cách trao cho họ minh triết của em và chia sẻ với họ những gì em sở hữu. Đây là nhiệm vụ của em trong những tháng tới. Điều này sẽ không dễ dàng cho em nhưng sẽ thúc đẩy quá trình tách rời. Hãy bắt đầu với những người em có trong tay và những người biết và yêu mến em và cùng nhau mở hé cánh cửa để những người tìm kiếm có thể tìm thấy con đường của họ và thông qua sự phụng sự của em, họ có thể tìm được đường đến với chúng tôi.

Joy—Niềm Hoan hỉ:

Ngài cũng khuyên DPR trau dồi Joy (Sự Hoan Hỉ), và đặt ra 30 câu hỏi để DPR suy ngẫm và trả lời về Sự Hoan Hỉ, theo cách Ngài sử dụng từ này:

Làm thế nào để định nghĩa từ Sự Hoan Hỉ?

Tôi có bị Sự Hoan Hỉ chi phối không, và nó có chi phối cả ngày của tôi không?

…

Và sự phân biệt happy (vui vẻ), joy, và bliss là như thế nào (theo cách Ngài sử dụng)

Nếu chúng ta ở vị trí của DPR, để trả lời 30 câu hỏi là khá vất vả, phải suy ngẫm, phản tỉnh, và tìm trong các sách Ngài viết. Trong quyển DINAI trang 227, Ngài định nghĩa rõ ràng về ba từ này như sau:

Bạn có nhớ những gì tôi đã chỉ ra ở nơi khác, rằng:

1. Hạnh phúc là mục tiêu mong muốn của phàm ngã và phản ứng tình cảm được mong muốn nhất của nó.

2. Hoan Hỉ là phẩm chất của đời sống linh hồn và phẩm chất đó có thể được áp đặt lên phàm ngã, do đó thay thế cho hạnh phúc và truyền đạt món quà chân lý. [Trang 558]

3. Chí phúc là bản chất của Thực thể tinh thần, và đến lượt nó và vào thời điểm thích hợp, được áp đặt lên nhịp điệu của linh hồn. Đó là món quà của sự tổng hợp.

Về Hào quang

Trong quyển Ảo Cảm Một Vấn đề Thế Giới trang 34-35, Chân sư có yêu cầu các đệ tử trong nhóm tập hợp tất cả những gì Ngài nói về hào quang (aura) và trả lời các câu hỏi của Ngài về hào quang:

Tôi muốn đền nghị các em nên tìm hiểu tất cả những gì mà các em có thể, liên quan đến chủ đề bị hiểu lầm nhiều là về hào quang: tìm kiếm những gì được nói trong sách của tôi và trong các bài viết hiện có trong bất kỳ thư viện huyền linh tốt nào. Tôi không muốn các em tìm cách sao chép các đoạn văn, mà hãy tìm cách trình bày kiến thức của các em để các em [Trang 35] có thể trả lời rõ ràng các câu hỏi có thể được đặt ra. Ba câu hỏi sau đây là cơ bản:

1. Hào quang là gì và nó hình thành như thế nào?

2. Làm thế nào hào quang có thể trở thành môi trường của ánh sáng, và ánh sáng chiếu qua nó có thể được tăng cường như thế nào?

3. Các em có nhận thấy hiệu ứng mà hào quang cá nhân của các em đang tạo ra đối với môi trường của các em là gì không, và các em có thể cải thiện hiệu ứng đó như thế nào?

Điều này sẽ cho phép các em đem áp dụng một cách thực tiễn những gì mà tôi tìm cách giảng dạy cho các em. Đừng quên rằng khi các em nhìn ra thế giới và môi trường trực tiếp quanh các em, là các em nhìn xuyên qua hào quang của mình, và do đó phải đối phó với ảo cảm và ảo tưởng.

Và ở đây, trong thư của Chân sư DK, Ngài có giải thích cho DPR về hào quang, và tác động tế vi của nó với môi trường xung quanh, mà các đệ tử như DPR có thể dùng để phụng sự:

Tính hữu ích chính của em bao gồm sức mạnh của hào quang của em—trường từ tính của sự sống bao quanh mọi người ở mọi phía, và trong trường hợp của em là ở mức độ khác thường. Người ta biết rất ít về hào quang. Tôi định nghĩa nó đơn giản là tổng của các mãnh lực thu hút dẫn trong lĩnh vực hoạt động của cá nhân. Chính nhờ hào quang mà một hiệu ứng cá nhân được cảm nhận được trong môi trường xung quanh của một người. Do đó, thông điệp của tôi gửi đến em là hãy sử dụng ảnh hưởng hào quang của em một cách thông minh hơn, để trở nên hiệu quả hơn về mặt tinh thần và ít hấp dẫn cá nhân hơn. Tôi nói bằng các biểu tượng và yêu cầu sự hiểu biết. Hãy suy ngẫm về điều này, em thân mến, vì lĩnh vực hữu ích của em sẽ phát triển khi em tách mình ra khỏi các hình tướng, bất kể nhịp điệu mà chúng nắm giữ em có thân thương hay cổ xưa đến đâu. Thay vào đó, hãy hướng ra bên ngoài để nỗ lực giúp đỡ đồng bào của em. Giúp đỡ mọi người bằng cách sử dụng con người của em, thứ phải thể hiện chính nó thông qua phương tiện là hào quang. [387]

Tóm lại, DPR là một đệ tử lớn, đã thành công trong kiếp sống này, như những lời tổng kết của Ngài trong lá thư cuối cùng:

Chính vì em mà tôi nói với em điều này, vì những đau khổ mà em phải chịu đựng một cách không ích kỷ, đã mang lại cho em quyền được công nhận. [656] Con đường được thắp sáng trải dài phía trước với độ sáng còn lớn hơn, và em có thể bước vào ánh sáng với sự tự tin và chắc chắn.

Đây là tổng số từ ngắn gọn của tôi hôm nay dành cho em; tôi biết, nó sẽ đủ. Hãy hiểu chính xác những gì tôi đã nói và ý nghĩa chính xác của từng từ, và biết rằng tôi, Chân sư của em và người bạn nhiều kiếp của em, hài lòng.

+++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Edna Kruse (DPR.) DNA vol. 1. p.382: vol. 2. p. 642.

Quality Name: Detachment (386), Peace, Relaxation. Rays: I-V, 423. Country. USA. Sun Sign: Pisces. Rising Sign: Taurus. Birth: March 15, 1872.

It is valuable to note a most significant point of interest: All those who passed through the gates of death passed to a [Page 93] definitely closer relationship; they had earned this reward and have availed themselves of that which I had taught them. They are, as you know, C.D.P., K.E.S., D.P.R. Two others are today rapidly fitting themselves to follow these three disciples into the Ashram. They are: B.S.W., who was temporarily side-tracked for a few years prior to his death, and G.S.S., whose personality vehicles could not carry the stimulation which reached her via the group. This sensitivity to undue stimulation is a matter easily rectified now; it does not constitute a fault, but only a karmic liability. DINAI 93

Có giá trị để lưu ý là một điểm đáng lưu ý quan trọng nhất: Tất cả những người đã đi qua cửa tử đều có mối quan hệ [Trang 93] chắc chắn gần gũi hơn; họ đã giành được phần thưởng này và đã tận dụng những gì tôi đã dạy họ. Như các em đã biết, họ là C.D.P., K.E.S., D.P.R. Hai em khác ngày nay đang nhanh chóng thích nghi để theo ba đệ tử này vào Ashram. Họ là: B.S.W., người đã tạm thời lệch bước trong vài năm trước khi qua đời, và G.S.S., người mà các thể phàm ngã không thể tiếp nhận sự kích thích đã đến với cô ấy thông qua nhóm. Sự nhạy cảm với kích thích quá mức này là một vấn đề dễ dàng được khắc phục ngay bây giờ; nó không phải là một lỗi lầm, mà chỉ là một món nở nghiệp quả. DINAI 93

I have, therefore, chosen for participation in this work several aspirants whose tendency is to succumb to glamour, though two of them are less prone to it than are the others. Their relative freedom from it was one of the reasons why I chose them. These two are D.L.R. and D.P.R. Let these two keep their lives free from any tendency to glamour if they are rightly to serve their brothers as desired by me. I will give indication of their tendency in that direction in their personal instructions. The other group members are quickly prone to glamour, but this is a grief to them. It can, however, be as quickly turned into an asset. How can the world glamour be dissipated except by those who recognise it for what it is and who have wrestled with it in their daily lives? GAW 98

Do đó, tôi đã chọn tham gia vào công việc này một số người chí nguyện có xu hướng bị khuất phục bởi ảo cảm, mặc dù hai trong số họ ít có khuynh hướng đó hơn những người khác. Sự tự do tương đối của họ đối với nó là một trong những lý do tại sao tôi chọn họ. Hai người này là D.L.R. và D.P.R. Hãy để hai người này giữ cuộc sống của họ không có bất kỳ xu hướng ảo cảm nào nếu họ có quyền phục vụ huynh đệ của họ như tôi mong muốn. Tôi sẽ đưa ra dấu hiệu về xu hướng của họ theo hướng đó trong hướng dẫn cá nhân của họ. Các thành viên khác trong nhóm nhanh chóng có xu hướng bị ảo cảm, nhưng điều này khiến họ đau buồn. Tuy nhiên, nó có thể nhanh chóng biến thành một tài sản. Làm sao ảo cảm thế gian có thể bị tan biến nếu không có những người nhận ra nó đúng như bản chất của nó và những người đã vật lộn với nó trong cuộc sống hàng ngày của họ? GAW 98

Quyển I

January 1933—Tháng 1 năm 1933

BROTHER OF MINE:

EM THÂN MẾN:

For years you have been working with steadfastness and with a certain amount of ebb and flow. When an aspirant for discipleship has worked with persistency for years, his life tendency becomes oriented towards the light and this becomes a steady and fixed habit. This fact should prove a solace in [383] moments of discouragement that all aspirants at times experience.

Trong nhiều năm, em đã làm việc với sự kiên định và với một sự trồi sụt nhất định. Khi một người có chí nguyện trở thành đệ tử đã kiên trì làm việc trong nhiều năm, khuynh hướng sống của y sẽ hướng về ánh sáng và điều này trở thành một thói quen ổn định và cố định. Thực tế này sẽ chứng tỏ là một niềm an ủi trong [383] những khoảnh khắc nản lòng mà tất cả những người chí nguyện đôi khi đều trải qua.

It is because of this steadfastness that it now becomes possible to train your intuition so that when again your path is trodden in a return incarnation, your earthly life will start with that aligned attitude which will permit of early illumination.

Chính vì sự kiên định này mà giờ đây em có thể rèn luyện trực giác của mình để khi một lần nữa em bước chân vào con đường của em trong một kiếp tái sinh, cuộc sống trần thế của em sẽ bắt đầu với thái độ phù hợp đó sẽ cho phép em được soi sáng sớm.

You are experienced in the Way and even though your physical body is no longer young, the remainder of your life expression holds much for you, if the coming years are taken joyously and with high expectancy.

Em đã có kinh nghiệm trong Đường Đạo và mặc dù cơ thể vật lý của em không còn trẻ nữa, nhưng biểu hiện còn lại của cuộc đời em sẽ có nhiều ý nghĩa đối với em, nếu những năm sắp tới được đón nhận một cách vui vẻ và với nhiều kỳ vọng.

You have sought with diligence to follow my directions and I think you realise that much has been achieved. You have a greater clarity of insight (a thing you needed) and a freer and more rapid detachment. Much remains, however, to be done (and this again you know). Follow the instructions given to you earlier, but when you retire to your room at the stated intervals to carry forward your ten minutes’ relaxation and thoughts on life and love, begin with the following exercise....

Em đã siêng năng tìm cách làm theo chỉ dẫn của tôi và tôi nghĩ em nhận ra rằng em đã đạt được nhiều điều. Em có cái nhìn sâu sắc rõ ràng hơn (điều em cần) và một sự tách rời tự do hơn và nhanh chóng hơn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều việc phải làm (và điều này một lần nữa em biết). Thực hiện theo các hướng dẫn được cung cấp cho em trước đó, nhưng khi em lui về phòng theo những khoảng thời gian đã định để tiếp tục mười phút thư giãn và suy nghĩ về cuộc sống và tình yêu thương, hãy bắt đầu với bài tập sau đây....

July 1933—Tháng 7 năm 1933

BROTHER OF MINE:

EM THÂN MẾN:

Forget not to love with detachment. That is your main lesson, my brother, and you have only grasped its true importance when the lengthier part of life has gone. The ties through attachment over many years hold firm and on the physical plane they must not, may not, be severed but ever within yourself they must be completely snapped. This can be done before this life episode closes, leaving you thus free in your next life cycle for service, a service to be rendered with undivided attention. This breaking can be done almost instantaneously if your first ray soul power is brought into play, or it can be accomplished more slowly if you work through the medium of your fifth ray personality force. Ponder on this.

Đừng quên yêu thương với sự tách rời. Đó là bài học chính của em, em thân mến, và em chỉ hiểu được tầm quan trọng thực sự của nó khi phần dài hơn của cuộc đời đã qua đi. Những mối ràng buộc do sự quyến luyến qua nhiều năm tháng vẫn giữ chặt; trên cõi hồng trần chúng không được, và cũng không thể, bị cắt đứt, nhưng trong nội tâm em chúng phải hoàn toàn được bẻ gãy. Điều này có thể được thực hiện trước khi giai đoạn đời sống này khép lại, để nhờ đó em được tự do trong chu kỳ sống kế tiếp cho sự phụng sự — một sự phụng sự được thực hiện với sự chú tâm không phân chia. Sự bẻ gãy này có thể được thực hiện gần như tức khắc nếu mãnh lực linh hồn cung một của em được vận dụng, hoặc có thể được hoàn tất chậm rãi hơn nếu em làm việc qua trung gian của mãnh lực phàm ngã cung năm của mình. Hãy suy ngẫm về điều này.

As an exercise of needed discipline, I would suggest that three times a day—morning, high noon and evening—you sit quiet for ten minutes. Relax physically; permit no emotional distraction; refuse the entry of thought or feeling. Ponder then [384] on the idea of Life and Love as they exist apart from form. Keep the consciousness centred as high in the head as is possible.

Để rèn luyện tính kỷ luật cần thiết, tôi đề nghị mỗi ngày ba lần—sáng, trưa và tối—em ngồi yên lặng trong mười phút. Thư giãn thể chất; không cho phép phân tán cảm xúc; từ chối sự xâm nhập của suy nghĩ hoặc cảm giác. Sau đó, hãy suy ngẫm [384] về ý tưởng về Sự sống và Tình yêu thương khi chúng tồn tại ngoài hình tướng. Giữ ý thức tập trung càng cao trên đầu càng tốt.

See the significance of all events and look upon them as symbolic indications of spiritual, mental, or emotional causes. Your life is so full of detail and of duty that the soul is oft irked thereby. Give it time to prove itself. It is not the length of time that is given to the right accomplishment of these duties that counts but the poise you bring to them, the energy you evoke in their fulfilment and the intensity of your mental application.

Hãy thấy thâm nghĩa của mọi biến cố và nhìn chúng như những chỉ dấu biểu tượng của các nguyên nhân tinh thần, trí tuệ hoặc cảm xúc. Đời sống của em quá đầy ắp những chi tiết và bổn phận đến nỗi linh hồn thường vì thế mà bị phiền nhiễu. Hãy cho linh hồn thời gian để tự chứng tỏ chính nó. Điều đáng kể không phải là khoảng thời gian được dành cho việc hoàn tất đúng đắn những bổn phận ấy, mà là sự quân bình nội tâm em mang đến cho chúng, năng lượng em gợi lên trong khi hoàn thành chúng, và cường độ của sự tập trung trí tuệ của em.

Let us, my brother, go forward on the Way. Let us together serve.

Em thân mến, chúng ta hãy tiến bước trên Đường Đạo. Chúng ta hãy cùng nhau phụng sự.

January 1934—Tháng giêng năm 1934

BROTHER OF OLD:

HUYNH ĐỆ CỦA NGÀY XƯA:

Like other disciples and like all true aspirants, you have had much to discipline you lately, and many opportunities have been offered to you wherein you may demonstrate endurance. The particular group test has touched you not. It did not and would not constitute for you a test, but your test has been the holding of the attitude of steadfast endeavour in the face of circumstance, and of demonstrating not only endurance but loving detachment and joy. What happens to the personality is, in the last analysis, of small moment. The attitude assumed towards all happenings and the methods employed in handling them is that which is of moment. Skill in action is always needed, my brother, and for you in this life it must ever be the demonstration of skill in emotional reaction, and not so much the expression of efficient dealing upon the physical plane. The achievement of physical efficiency is not for you a problem. The achievement of emotional detachment and consequent right use of subjective force is still a problem to you.

Giống như các đệ tử khác và như tất cả những người chí nguyện chân chính, gần đây em đã có nhiều điều để tự rèn luyện, và nhiều cơ hội đã được trao cho em để em có thể biểu lộ sức chịu đựng. Bài thử thách đặc thù của nhóm đã không chạm đến em. Nó đã không và cũng sẽ không cấu thành một thử thách đối với em; nhưng thử thách của em lại là việc giữ vững thái độ nỗ lực kiên định trước hoàn cảnh, và thể hiện không chỉ sự chịu đựng mà còn cả sự tách rời đầy yêu thương và niềm hoan hỉ. Điều xảy đến với phàm ngã, rốt cuộc, chỉ có tầm quan trọng nhỏ bé. Chính thái độ được giữ trước mọi biến cố và phương pháp được sử dụng để xử lý chúng mới là điều quan trọng. Huynh đệ của tôi, kỹ năng trong hành động luôn luôn cần thiết, và đối với em trong kiếp này, đó phải luôn là sự biểu lộ khéo léo trong phản ứng cảm xúc, chứ không phải quá nhiều là sự thể hiện khả năng xử lý hiệu quả trên cõi hồng trần. Việc đạt được hiệu quả trên phương diện hồng trần không phải là vấn đề đối với em. Việc đạt được sự tách rời cảm xúc và do đó sử dụng đúng đắn mãnh lực chủ quan vẫn còn là một vấn đề đối với em.

There is no hurry or rush, my brother. Progress is being made and you will know the joy of eventual liberation from this limitation. One day at a time, perfectly lived, with each hour beautifully rounded out, is your sole responsibility.

Không có gì phải vội vàng hay hối hả, em thân mến. Tiến bộ đang được thực hiện và em sẽ biết được niềm vui cuối cùng được giải thoát khỏi hạn chế này. Trách nhiệm duy nhất của em là sống hoàn hảo từng ngày một, với mỗi giờ tròn đầy đẹp đẽ.

Look not so much into the future with speculation or with [385] foreboding, nor even with hope, which is but a form of optimistic speculation. Live today as your soul dictates and the future will round out itself in fruitful service. You are stronger than you anticipate and have reserves upon which you can draw. These reserves will not fail you when you call upon them, nor will I, your brother and friend, nor will your group brothers. Forget not this, but relax and rest back on the strength which is in you and which surrounds you.

Đừng nhìn quá nhiều vào tương lai với suy đoán hay với [385] tiên tri, cũng không với hy vọng, vốn chỉ là một hình thức suy đoán lạc quan. Hãy sống hôm nay theo cách mà linh hồn em ra lệnh và tương lai sẽ tự hoàn thành trong sự phụng sự hiệu quả. Em mạnh mẽ hơn em dự đoán và có nguồn dự trữ mà em có thể rút ra. Những nguồn dự trữ này sẽ không làm em thất vọng khi em kêu gọi đến chúng, và tôi, người bạn và huynh đệ của em, cũng như những huynh đệ trong nhóm của em, cũng thế [cũng không thất vọng]. Đừng quên điều này, nhưng hãy thư giãn và nghỉ ngơi dựa vào sức mạnh trong em và xung quanh em.

I seek not to change your meditation, except to substitute a different visualisation exercise for the one now being followed.

Tôi không muốn thay đổi cách tham thiền của em, ngoại trừ việc thay thế một bài tập hình dung khác cho bài tập hiện đang được thực hành.

a. Visualise yourself as standing to one side of a vast field of closed lotus buds which rest on their broad green leaves. Above you is the blue of heaven and ahead of you—across the field of buds and leaves and on the far horizon—is a golden gate, with the two halves of its door closed.

a. Hãy tưởng tượng em đang đứng ở một bên của một cánh đồng rộng lớn với những búp sen khép kín nằm trên những chiếc lá xanh rộng của chúng. Phía trên em là màu xanh lơ của bầu trời, và phía trước em—bên kia cánh đồng của các búp và lá và ở phía chân trời xa—là một cánh cổng vàng, với hai nửa cánh cửa đã đóng lại.

b. Then picture yourself as watching the slow opening of the buds, until little by little, the field changes from green to gold, and all that can be seen is a mass of golden flowers, wide open in the sun.

b. Sau đó, hãy tưởng tượng em đang quan sát các nụ hoa chậm rãi hé nở, cho đến khi từng chút một, cánh đồng chuyển từ màu xanh lá sang màu vàng kim, và tất cả những gì có thể nhìn thấy là một khối hoa vàng rực, rộng mở dưới ánh mặt trời.

c. Then imagine yourself, my brother, putting a foot upon the field and finding, instead of the mud and water which had been anticipated, a firm Path which appears before you as you advance, dividing the field into two halves, and leading straight to the golden gates.

c. Sau đó, em thân mến, hãy tưởng tượng em đặt chân lên cánh đồng và tìm thấy, thay vì bùn và nước như đã được dự đoán, một Con đường vững chắc xuất hiện trước mặt em khi em tiến lên, chia cánh đồng thành hai nửa và dẫn thẳng đến cổng màu vàng kim.

d. As you advance along this path, imagine the two halves of the gate slowly opening as you go forward in confidence, looking at the gate and not at your feet.

d. Khi em tiến lên trên con đường này, hãy tưởng tượng hai nửa của cánh cổng đang từ từ mở ra khi em tự tin tiến về phía trước, nhìn vào cánh cổng chứ không phải dưới chân mình.

What you see within that portal and what interpretation you give to this symbolic work is for you to discover. You may ask: Of what use is this particular type of meditation to me? Two main uses, my brother. First, it trains you in the use of the creative imagination (which is an aspect of the intuition) and, secondly, it lifts you out of the rut of heavy mundane work with which you are of necessity so constantly occupied and brings to you refreshment and realisation of the subjective world. Leave care and worry behind you as you walk through your [386] field of lotuses and for a few minutes each morning, centre your consciousness outside your personality life. The effect upon your daily life and service if you can really accomplish this exercise will be far more potent than you can possibly anticipate.

Những gì em nhìn thấy bên trong cổng đó và cách giải thích mà em đưa ra cho công việc mang tính biểu tượng này là để em khám phá. Em có thể hỏi: Loại tham thiền đặc biệt này có ích lợi gì đối với tôi? Em thân mến, nó có hai công dụng chính. Thứ nhất, nó huấn luyện em cách sử sự trí tưởng tượng sáng tạo (là một khía cạnh của trực giác) và thứ hai, nó nâng em ra khỏi lối mòn của công việc trần tục nặng nhọc mà em thường xuyên phải bận rộn và mang lại cho em sự tươi mới và nhận thức về thế giới bên trong. Hãy bỏ lại sau lưng sự ưu tư và lo lắng khi em đi qua [386] cánh đồng hoa sen của mình, và trong vài phút mỗi sáng, hãy tập trung ý thức của em bên ngoài cuộc sống phàm ngã của em. Nếu em thực sự có thể hoàn thành bài tập này, hiệu quả của nó đối với cuộc sống và công việc hàng ngày của em sẽ mạnh mẽ hơn nhiều so với những gì em có thể dự đoán.

June 1934—Tháng 6 năm 1934

BROTHER OF MINE:

EM THÂN MẾN:

The buffeting of life has tried you in the past six months, and thereby you have grown in understanding. For you, the intent of this buffeting process has not been to make you sweeter or more able to withstand. These are for you but subsidiary effects. Your intended lesson is Detachment and, as you free yourself from the clinging chains of attachment to place or person, your intuitive perception will thereby be released, and you will see in terms of reality and not in terms of form—no matter how high or purified.

Sự vùi dập của cuộc sống đã thử thách em trong sáu tháng qua, và nhờ đó em đã trưởng thành trong sự hiểu biết. Đối với em, mục đích của quá trình dùi vập này không phải là làm cho em trở nên ngọt ngào hơn hay có khả năng chịu đựng tốt hơn. Những điều đó dành cho em nhưng là các tác dụng phụ. Bài học dự định của em là Sự tách rời, và khi em giải phóng bản thân khỏi xiềng xích bám chấp vào nơi chốn hoặc con người, nhận thức trực giác của em sẽ được giải phóng, và em sẽ thấy bằng thực tại chứ không phải bằng hình tướng—bất kể cao hay tinh khiết thế nào.

You may perhaps ask in this connection: What is my main usefulness to this group of disciples, should I gain this released perspective? You think ever in terms of service, my brother, which was one of the reasons (apart from karmic suitability) prompting my choice of you for work in this group. My answer may surprise you, for I give it in terms which are somewhat unusual. Your main usefulness consists in the potency of your aura—that field of magnetic life which surrounds everyone on all sides, and which in your case is of unusual extent. Little is known as yet anent the aura. I would define it simply as the sum total of the attractive forces in the field of individual activity. It is through the aura that an individual effect makes itself felt in a man’s surroundings. My message, therefore, to you is to use your auric influence more intelligently, to become more spiritually effective and less personally attractive. I speak in symbols and ask for understanding. Ponder on this, my brother, for your field of usefulness will grow as you detach yourself from forms, no matter how dear or how ancient the rhythm by which they hold you. Turn, instead, outwards in the effort to aid your fellowmen. Aid people by using what you are, which must express itself through the medium of the aura.

Trong mối liên hệ này, có lẽ em sẽ hỏi: Sự hữu ích chính yếu của tôi đối với nhóm đệ tử này là gì, nếu tôi đạt được viễn cảnh được giải thoát ấy? Huynh đệ của tôi, em luôn suy nghĩ theo thuật ngữ phụng sự, và đó là một trong những lý do (ngoài sự thích hợp về nghiệp quả) khiến tôi chọn em cho công việc trong nhóm này. Câu trả lời của tôi có thể làm em ngạc nhiên, vì tôi đưa ra nó theo những thuật ngữ phần nào khác thường. Sự hữu ích chính yếu của em nằm ở tiềm lực của hào quang em — trường sự sống từ tính bao quanh mỗi người ở mọi phía, và trong trường hợp của em, nó có phạm vi khác thường. Hiện nay người ta còn biết rất ít về hào quang. Tôi có thể định nghĩa đơn giản nó như là tổng thể các mãnh lực thu hút trong phạm vi hoạt động cá nhân. Chính qua hào quang mà hiệu quả cá nhân của một người tự biểu lộ và được cảm nhận trong môi trường chung quanh. Vì vậy, thông điệp của tôi gửi đến em là hãy sử dụng ảnh hưởng hào quang của mình một cách thông minh hơn, trở nên hữu hiệu về mặt tinh thần hơn và bớt thu hút về mặt cá nhân hơn. Tôi nói bằng biểu tượng và mong em thấu hiểu. Hãy suy ngẫm về điều này, huynh đệ của tôi, vì phạm vi hữu ích của em sẽ gia tăng khi em tách rời khỏi các hình tướng, dù chúng có thân yêu hay nhịp điệu đã giữ chặt em lâu đời đến đâu đi nữa. Thay vào đó, hãy hướng ra bên ngoài trong nỗ lực trợ giúp đồng loại của mình. Hãy giúp đỡ mọi người bằng chính con người em, điều vốn phải tự biểu lộ qua trung gian của hào quang.

[387]

Preserve your meditation as hitherto, but change the colour of your field of lotuses from yellow to a deep and vibrant rose. This will serve to stimulate the astral aura. This constitutes the third use or purpose of this meditation. The other two uses, I indicated in my last instruction.

Giữ nguyên sự tham thiền của em như đến nay, nhưng hãy thay đổi màu sắc của cánh đồng hoa sen của em từ màu vàng sang màu hồng đậm và rực rỡ. Điều này sẽ giúp kích thích hào quang thể cảm dục. Điều này tạo thành công dụng hay mục đích thứ ba của bài tham thiền này. Hai cách sử dụng khác, tôi đã chỉ ra trong hướng dẫn cuối cùng của mình.

August 1934—Tháng 8 năm 1934

BROTHER OF MINE:

EM THÂN MẾN:

May I at this time indicate to you two things, my brother, knowing that, as an old and experienced aspirant, you seek ever to see life truly as it is?

Em thân mến, liệu tôi có thể chỉ ra cho em hai điều vào lúc này, biết rằng, với tư cách là một người chí nguyện già dặn và kinh nghiệm, em luôn tìm cách nhìn thấy cuộc sống một cách thực sự như nó vốn là?

First, in each life there is reached what I might call a definite high water mark of achievement, and the age at which this is reached varies almost infinitely. When it is reached, there is then a settled tendency towards crystallisation, towards a recognition of the life’s thoughtform (this being the sum total of all the formulated ideas which have governed progress) and a gradual slipping under the dominance of that thoughtform. This inhibits further progress. When the high water mark is reached after the age of 55-70, the difficulty is much increased by a perfectly normal physical inertia. So much of the life at that time is occupied with the processes of keeping in such physical condition that there may be the accomplishment of the needed duties of a full life. This high water mark has been reached for you in the ordinary sense and under the law of normal development. It can constitute for you exactly what it is, and you need feel no shame over your accomplishment for it has been good. Your life purpose has been rightly oriented and in the next life you will reap the results of your life-long discipline.

Đầu tiên, trong mỗi kiếp sống, con người đều đạt đến cái mà tôi có thể gọi là một mốc cao thành tựu nhất định, và tuổi đạt được điều này thay đổi gần như vô tận. Khi đạt đến nó, lúc đó sẽ có một khuynh hướng ổn định hướng tới sự kết tinh, hướng tới việc thừa nhận hình tư tưởng của đời sống (đây là tổng thể của tất cả các ý tưởng được hình thành đã chi phối sự tiến bộ) và con người dần trượt xuống dưới sự thống trị của hình tư tưởng đó. Điều này cản trở sự tiến bộ hơn nữa. Khi đạt đến mực nước cao sau độ tuổi 55-70, khó khăn sẽ tăng lên nhiều do sự trì trệ thể chất hoàn toàn bình thường. Phần lớn cuộc sống vào thời điểm đó bận tâm với các quá trình duy trì tình trạng thể chất sao cho có thể hoàn thành các nhiệm vụ cần thiết của một cuộc sống đầy đủ. Mức đỉnh cao này đã được em đạt tới theo ý nghĩa thông thường và dưới định luật của sự phát triển bình thường. Đối với em nó có thể đúng như chính nó vốn là, và em không cần cảm thấy xấu hổ về thành tựu của mình, vì nó đã là điều tốt đẹp. Mục đích đời sống của em đã được định hướng đúng đắn, và trong kiếp sống kế tiếp em sẽ gặt hái những kết quả của sự kỷ luật suốt đời mình.

But for you, as a soul and as a disciple under training, there need be no arresting of the process of development. The high water mark of your life cycle (in the broader and wider sense) will not be reached yet for many lives and, therefore, there need be for you no interlude of inertia and no demonstration of a static condition. You may go on from point to point upon the Way, both now and hereafter. The decision and effort must come from you, my brother, and it lies entirely in your[388] hands. Go forward along the Way in the full vigour of your soul life, which is that of a mature and experienced aspirant. The power of your first ray soul can galvanise the personality into continued action and aspiration, into continued mental control; for you, therefore, there need be no cessation of activity and no settling back into inertia until the final activity of transition engrosses the dual attention of your soul and your personality, and the final detachment takes place. But to transcend the normal high water mark, there will be necessitated the imposition of that inner pressure which will refuse to let the tired body and mind rest back upon the past. There is needed the incentive of a focussed will that plays its dynamic energy through the lower threefold man; there is required that purified, discriminative mind which (in the interests of the soul) will separate the essential from the non-essential and so enable you to enrich your service through the wise elimination of those factors which produce a useless dissipation of your energy and the use of your time for that which is negligible in results.

Nhưng đối với em, với tư cách là một linh hồn và là một đệ tử đang được huấn luyện, không cần phải kìm hãm quá trình phát triển. Mốc nước cao nhất trong vòng đời của em (theo nghĩa rộng lớn hơn) sẽ chưa đạt được trong nhiều kiếp, và như thế em không cần phải có khoảng lặng xen kẽ, và không cần biểu hiện tình trạng tĩnh tại. Em có thể đi từ điểm này sang điểm khác trên Thánh đạo, cả bây giờ và sau này. Quyết định và nỗ lực phải đến từ em, em thân mến, và nó hoàn toàn nằm trong tay em [388]. Hãy tiến bước trên Thánh đạo với toàn bộ sức sống linh hồn của em, đó là đời sống của một người chí nguyện trưởng thành và có kinh nghiệm. Sức mạnh của linh hồn cung một của em có thể khích lệ phàm ngã tiếp tục hành động và khát vọng, tiếp tục kiểm soát trí tuệ; do đó, đối với em, không cần ngừng hoạt động và không quay trở lại trì trệ cho đến khi hoạt động cuối cùng của quá trình chuyển tiếp thu hút sự chú ý kép của linh hồn và phàm ngã của em, và sự tách rời cuối cùng diễn ra. Nhưng để vượt qua mốc nước cao bình thường, cần phải áp đặt áp lực nội tại vốn từ chối để cơ thể và thể trí mệt mỏi quay trở lại quá khứ. Cần có sự khuyến khích của một ý chí tập trung phát huy năng lượng năng động của nó thông qua phàm ngã tam phân; cần phải có một thể trí phân biện, được thanh lọc (vì lợi ích của linh hồn) sẽ tách biệt điều thiết yếu khỏi điều không thiết yếu, và do đó cho phép em làm phong phú thêm công việc của mình thông qua việc loại bỏ một cách khôn ngoan những yếu tố tạo ra sự tiêu hao năng lượng và sức lực của em một cách vô ích, và việc sử dụng thời gian của em cho những kết quả không đáng kể.

I know you will realise the reason for my remarks and that you will face this issue in the light of your soul and for the good of those who look to you for inspiration. As I told you earlier in your training, spiritual effectiveness is your goal and towards this all your effort should be bent. This will not negate the use of worldly wisdom and the right fulfilment of your many obligations, but it will aid you in the process of selection which is your main and self-chosen training ground.

Tôi biết em sẽ nhận ra lý do cho những nhận xét của tôi, và rằng em sẽ đối mặt với vấn đề này dưới ánh sáng của linh hồn em và vì lợi ích của những người tìm đến em để được truyền cảm hứng. Như tôi đã nói với em trước đó trong quá trình đào tạo của em, hiệu quả tinh thần là mục tiêu của em và tất cả nỗ lực của em nên hướng tới điều này. Điều này sẽ không phủ nhận việc sử dụng minh triết trần gian và thực hiện đúng đắn nhiều nghĩa vụ của em, nhưng nó sẽ hỗ trợ em trong quá trình lựa chọn vốn là nền tảng rèn luyện chính và do em tự chọn.

I seek today to change your meditation work entirely. The focus given by the visualisation work and exercise with colour and form has done much in the work of inner adjustment. I seek now to speed up the rhythm of your life so that a fuller tide of will and purpose may dynamically pour through you.

Hôm nay tôi tìm cách thay đổi hoàn toàn công việc tham thiền của em. Trọng tâm được đưa ra bởi công việc hình dung và bài tập với màu sắc và hình tướng đã giúp ích rất nhiều cho công việc điều chỉnh bên trong. Bây giờ tôi tìm cách đẩy nhanh nhịp điệu cuộc sống của em để một làn sóng ý chí và mục đích đầy đủ hơn có thể tự động tuôn trào trong em.

You may feel surprised at what I am setting you to do, and at my apparent omission to give you a set form at which to work. That I will do after you yourself have worked for a while at the problem.

Em có thể cảm thấy ngạc nhiên về những gì tôi sắp đặt cho em làm, và về sự thiếu sót bề ngoài của tôi trong việc cung cấp cho em một hình thức cố định để làm việc. Điều đó tôi sẽ làm sau khi bản thân em đã làm việc một thời gian với vấn đề.

Much has for ages been said and written anent the practice of the Presence of God and today one of the interesting events of the time is the emergence of various “techniques” for achieving [389] the realisation of this Presence, of inspiration, of light and of contact.

Nhiều thời đại đã được nói và viết liên quan đến việc thực hành Sự Hiện Diện của Thượng Đế và ngày nay một trong những sự kiện thú vị của thời đại là sự xuất hiện của nhiều “kỹ thuật” khác nhau để đạt được [389] sự chứng nghiệm Sự Hiện Diện này, của nguồn cảm hứng, của ánh sáng và của sự tiếp xúc.

I will put to you three questions, and in their answering, we will find indication of the meditation to be given to you later.

Tôi sẽ đặt cho em ba câu hỏi, và trong việc trả lời chúng, chúng tôi sẽ tìm thấy chỉ dẫn về việc tham thiền sẽ được trao cho em sau này.

1. What do you understand by the thought of the Presence? Of Whom and what is this Presence?

1. Em hiểu gì về tư tưởng của Sự Hiện diện? Của Ai và Sự Hiện Diện này là gì?

2. What is it that prevents contact with that Presence and hinders you from standing in its light?

2. Điều gì ngăn cản sự tiếp xúc với Sự Hiện Diện đó và cản trở em đứng trong ánh sáng của nó?

3. Can you draw up a technique of meditation which will be for you the way into the Presence?

3. Em có thể vạch ra một kỹ thuật tham thiền sẽ là con đường dẫn đến Sự Hiện diện cho em không?

Answer these three questions and realise that for you the contact with that Presence—consciously and with understanding of the process—is the goal for the remainder of your life experience in this particular body. I seek for no mystical understanding. That type of theoretical understanding is the heritage of most aspirants. They have the vision of this contact. I seek a definite comprehension and I give you the clue to the work in the following sentences which (if subjected to due thought) may induce revelation.

Hãy trả lời ba câu hỏi này và nhận ra rằng đối với em, việc tiếp xúc với Sự Hiện diện đó—một cách có ý thức và với sự hiểu biết về quá trình này—là mục tiêu cho phần còn lại của trải nghiệm cuộc sống của em trong cơ thể cụ thể này. Tôi không tìm kiếm sự hiểu biết thần bí. Loại hiểu biết lý thuyết đó là di sản của hầu hết những người chí nguyện. Họ có tầm nhìn của sự tiếp xúc này. Tôi tìm kiếm một sự hiểu biết chắc chắn và tôi cung cấp cho em manh mối về công việc trong những câu sau đây (nếu được suy nghĩ kỹ lưỡng) có thể dẫn đến sự mặc khải.

“Duality is visioned by the seer. He sees the Presence. He sees, and seeing knows that he exists and likewise that which is seen.

“Tính hai mặt được nhìn thấy bởi người thấy (‘kiến giả’). Y nhìn thấy Sự Hiện Diện. Y thấy, và qua cái thấy biết rằng y tồn tại và cái được thấy cũng vậy.

“The knower blends the two in one. He sees the Presence as himself. He merges with its light. Behind the Presence gleams that awful radiance which shrouds the One and Only. Before the Presence stands the aspirant. Within the Presence, through the merging process, is peace, is union, the end of fear, the end of difference, joy, love and light.”

“Người biết (‘tri giả’) pha trộn cả hai trong một. Y coi Sự hiện diện là chính mình. Y hợp nhất với ánh sáng của nó. Đằng sau Sự Hiện Diện lấp lánh ánh hào quang khủng khiếp bao phủ Đấng Duy Nhất. Người chí nguyện đứng trước Sự Hiện Diện. Trong Sự hiện diện, thông qua quá trình hợp nhất, là bình an, là sự hợp nhất, chấm dứt sợ hãi, chấm dứt sự khác biệt, niềm vui, tình yêu và ánh sáng.

Your meditation, therefore, is to be along these lines. The form you can draw up yourself during the next few months. The theme will emerge in your consciousness if you move slowly, ponder deeply and feel no sense of pressure. Revelation will come through quiet thought and daily brooding.

Do đó, việc tham thiền của em phải theo những đường lối này. Hình thức em có thể tự vạch ra trong vài tháng tới. Chủ đề sẽ xuất hiện trong tâm thức của em nếu em di chuyển chậm, suy ngẫm sâu sắc và không cảm thấy áp lực. Sự mặc khải sẽ đến qua sự suy nghĩ yên lặng và nghiền ngẫm hàng ngày.

May I close this message to you with the simple words: Please be happy, my brother. [390]

Tôi có thể kết thúc thông điệp này với em bằng những từ đơn giản: Hãy hạnh phúc, em thân mến. [390]

February 1935—Tháng 2 năm 1935

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

There has been in your mind much thought in these past months anent the practice of the Presence. This is well, for that is the objective that I had in mind for you.

Trong trí em đã có nhiều suy nghĩ trong những tháng vừa qua liên quan đến việc thực hành Sự Hiện diện. Điều này tốt, vì đó là mục tiêu mà tôi đã nghĩ đến cho em.

It is said that “thoughts are things” and produce tangible results. It is also said that “as a man thinketh in his heart, so is he” and that, therefore, these tangible thought manifestations definitely produce effects in him. In these ancient platitudes lie, for you, much instruction, much light and understanding and the clue to your immediate problem. What is the situation, my brother? You, a soul in incarnation, are consciously aware of the fact—subjectively and ofttimes dimly sensed—of your real Self, of the solar Angel, who is the Angel of the Presence. Your problem is to deepen this realisation, and to know yourself to be the Angel, standing between you, the physical plane man, and the Presence. It might elucidate matters if we considered for a moment what reality is represented by that word Presence.

Người ta nói rằng "tư tưởng là sự vật" và tạo ra kết quả hữu hình. Người ta cũng nói rằng “con người nghĩ thế nào trong trái tim thì sẽ như thế ấy” và do đó, những biểu hiện suy nghĩ hữu hình này chắc chắn tạo ra tác dụng trong y. Đối với em, trong những câu sáo ngữ cổ xưa này, có rất nhiều chỉ dẫn, nhiều ánh sáng và sự hiểu biết và manh mối cho vấn đề trước mắt của em. Huynh đệ của tôi, tình trạng là như thế nào? Em, một linh hồn đang luân hồi, nhận thức một cách có ý thức về sự thật—một cách chủ quan và đôi khi được cảm nhận lờ mờ—về Chân ngã thực sự của em, về Thái dương Thiên Thần, vốn là Thiên thần của Hiện diện. Vấn đề của em là đào sâu nhận thức này, và biết chính mình là Thiên thần, đứng giữa em, con người ở cõi trần và Đấng Hiện diện. Chúng ta có thể làm sáng tỏ vấn đề nếu chúng ta xem xét trong một lúc, thực tại nào được đại diện bởi từ Hiện diện đó.

The mystic is ever aware of duality; of the lower man and the indwelling soul; of the tired disciple and the Angel; of the little self and the real Self; of human life expression and of spiritual life expression. Many other qualities stand for the same expression of reality. But, behind them all looms—immanent, stupendous, and glorious—that of which these dualities are but the aspects: the Presence, immanent yet transcendent, of Deity. In the nature of this One, all dualities are absorbed and all distinctions and differences lose their meaning.

Nhà thần bí luôn nhận thức được tính hai mặt; của con người thấp kém và linh hồn nội tại; của người đệ tử mệt mỏi và Thiên thần; của tiểu ngã và chân ngã; của biểu hiện đời sống con người và biểu hiện đời sống tinh thần. Nhiều phẩm chất khác đại diện cho cùng một biểu hiện của thực tại. Tuy nhiên, đằng sau tất cả chúng đều hiện ra lờ mờ—nội tại, kỳ diệu và vinh quang—cái mà những tính nhị nguyên này chỉ là những khía cạnh: Sự Hiện diện, nội tại nhưng siêu việt, của Thượng đế. Trong bản chất của Đấng Duy Nhất này, mọi nhị nguyên đều được hấp thụ và mọi sự phân biệt và khác biệt đều mất đi ý nghĩa của chúng.

When you are told to develop the consciousness of the Presence, it indicates, first of all, that you are at this time somewhat aware of the Angel and can now begin to respond, dimly and faintly, to that great Whole which lies behind the subjective world of being, as that world lies behind the physical, tangible world of everyday life.

Khi em được yêu cầu phát triển tâm thức về Sự Hiện diện, trước hết, điều đó cho thấy rằng vào thời điểm này, em đã phần nào nhận thức được Thiên thần và bây giờ có thể bắt đầu phản ứng, lờ mờ và yếu ớt, với Tổng thể vĩ đại nằm đằng sau thế giới chủ quan của sự tồn tại, vì thế giới đó nằm sau thế giới vật chất, hữu hình của cuộc sống hàng ngày.

A symbol of this can be seen in the knowledge that the entire planet lies outside of the room in which you are pondering my words and is only separated from you by the window and the extent of your conscious awareness. The outer universe of the planet, the solar system and the starry heavens, lies revealed [391] to you through that sheet of glass which reveals, if clean and unveiled, but which acts as a barrier to vision, if soiled or hidden by a blind. This and your ability to project yourself into the immensity of the universe, governs the extent of your knowledge at any given time. Think this out, my brother, and look through the window of the mind to that Light which reveals the Angel which, in its turn, veils and hides the vast unknown, yet alive and vibrant, Deity.

Một biểu tượng của điều này có thể được nhìn thấy khi biết rằng toàn bộ hành tinh nằm bên ngoài căn phòng mà em đang suy ngẫm lời nói của tôi, và chỉ ngăn cách với em bằng cửa sổ và mức độ nhận thức có ý thức của em. Vũ trụ bên ngoài của hành tinh, hệ mặt trời và bầu trời đầy sao, [391] được tiết lộ cho em thông qua tấm gương, vốn sẽ tiết lộ nếu nó sạch sẽ và không bị che đậy, nhưng đóng vai trò như một rào cản đối với tầm nhìn nếu nó bị vấy bẩn hoặc bị che khuất bởi tấm rèm. Điều này, và khả năng phóng chiếu bản thân em vào sự bao la của vũ trụ, chi phối mức độ hiểu biết của em tại bất kỳ thời điểm nào. Hãy suy nghĩ kỹ điều này, em thân mến, và nhìn qua cửa sổ của tâm trí tới Ánh sáng vốn tiết lộ Thiên thần, và đến lượt nó, che phủ và che giấu đấng Thượng đế rộng lớn, chưa được biết đến, nhưng sống động và rực rỡ.

This practice of the Presence can be dealt with in so many different ways and there are many techniques of contact. For you, the practice should connote simplicity, peace, and joy. Cultivate simplicity of thought and remember that bewilderment and undue concern as to conditions and people and a puzzled attitude towards life indicate mind activity but not soul understanding. It is soul activity towards which you should strive.

Thực hành về Sự Hiện diện này có thể được bàn đến theo nhiều cách khác nhau và có nhiều kỹ thuật tiếp xúc. Đối với em, thực hành nên bao hàm sự đơn giản, bình yên và niềm vui. Hãy trau dồi suy nghĩ đơn giản và nhớ rằng sự hoang mang và lo lắng thái quá về hoàn cảnh và con người, cũng như thái độ bối rối đối với cuộc sống cho thấy hoạt động của tâm trí chứ không phải sự hiểu biết linh hồn. Chính hoạt động của linh hồn mà em nên phấn đấu.

You are a sannyasin and as such must work towards an increasing release from ties of any kind, though (and herein lies a subtle distinction) not from release from environing conditions and responsibilities. What is required is an inner attitude of complete abandon to the will of your soul which is the Will of God, as far as any individual is concerned. This release will give you much that I have waited to see expressed in your life.

Tuy nhiên, em là một sannyasin, và do đó phải hướng tới việc ngày càng thoát khỏi mọi ràng buộc (và ở đây có một sự khác biệt tinh tế) chứ không phải thoát khỏi các điều kiện và trách nhiệm xung quanh. Điều cần thiết là một thái độ nội tâm hoàn toàn phó mặc cho ý muốn của linh hồn em, đó là Ý chí của Thượng đế, đối với bất kỳ cá nhân nào. Sự giải thoát này sẽ mang đến cho em nhiều điều mà tôi đã chờ đợi để thấy được thể hiện trong cuộc sống của em.

To assist you in the continuance of the theme upon which you have been engaged in the past months, I am going to ask you to ponder over and answer the following questions. You have a life tendency to over-emphasise detail and points of procedure with meticulous care and so sometimes lose sight of the synthesis of the whole. The questions are:

Để giúp em tiếp tục chủ đề mà em đã tham gia trong những tháng qua, tôi sẽ yêu cầu em suy ngẫm và trả lời những câu hỏi sau đây. Em có xu hướng sống quá chú trọng đến chi tiết và các điểm của thủ tục với sự cẩn thận tỉ mỉ, và vì vậy đôi khi đánh mất sự tổng hợp của tổng thể. Các câu hỏi là:

1. To recognise the Presence, I must stand free and unattached. To what and to whom am I now attached in such a way that I am prevented from clear vision and closer approach?

1. Để nhận ra Sự Hiện Diện, tôi phải đứng tự do và không ràng buộc. Bây giờ tôi gắn bó với cái gì và với ai theo cách mà tôi bị cản trở khỏi tầm nhìn rõ ràng và sự tiếp cận gần hơn?

2. To recognise the Presence, I must function as the solar Angel. Can I, at this time, discriminate between myself and that solar Angel?

2. Để nhận ra sự Hiện diện, tôi phải hoạt động như một Thái dương Thiên Thần. Vào lúc này, tôi có thể phân biệt giữa tôi và Thái dương Thiên Thần đó không?

3. To recognise the Presence means that I am preparing to pass, as a solar Angel, through the gate, on to the Path of Initiation. Can I, in view of this, state clearly to [392] myself what are my major assets and my major weaknesses?

3. Nhận ra sự Hiện diện có nghĩa là tôi đang chuẩn bị đi qua, với tư cách là một Thái dương Thiên Thần, qua cánh cổng để tiến tới Con đường Điểm đạo. Về vấn đề này, tôi có thể nói rõ ràng với [392] bản thân mình đâu là tài sản chính và điểm yếu chính của tôi không?

4. Can I define clearly within myself what I understand by

4. Tôi có thể xác định rõ ràng trong bản thân mình những gì tôi hiểu

a. Myself, the disciple.

a. Chính tôi, một đệ tử.

b. Myself, the Angel.

b. Chính tôi, Đấng Thiên thần.

c. The Presence.

c. Sự Hiện Diện.

The first three questions can be answered or not in writing exactly as you choose; you may find them too personal and confidential to commit to writing. If you find this to be so, then on the first day on which the Sun moves northward, answer these questions in my presence and to me, your brother and your teacher. Deal with them clearly and with truth, voicing your answers aloud so that you can hear your voice, and thus pay adequate attention to your position and attitude. The fourth and fifth questions please answer in writing and elucidate as clearly as may be.

Ba câu hỏi đầu tiên có thể được trả lời hoặc không bằng văn bản chính xác như em chọn; em có thể thấy chúng quá riêng tư và bí mật để cam kết viết. Nếu em thấy điều này là như vậy, thì vào ngày đầu tiên Mặt trời di chuyển về phía bắc, hãy trả lời những câu hỏi này trước mặt tôi và với tôi, huynh đệ và huấn sư của em. Hãy đề cập chúng một cách rõ ràng và trung thực, nói to câu trả lời của em để em có thể nghe thấy giọng nói của mình, từ đó chú ý đúng mức đến vị trí và thái độ của em. Câu hỏi thứ tư và thứ năm hãy trả lời bằng văn bản và giải thích rõ ràng nhất có thể.

5. Elucidate the following phrases, taken from a very ancient writing. I suggest that you ponder them with care.

5. Làm sáng tỏ các cụm từ sau đây, lấy từ một văn bản rất cổ xưa. Tôi đề nghị em nên suy ngẫm về chúng một cách cẩn thận.

“Before the throne of God, the angel, with all the other angels, stood and cried: `Lord of my life, grant me the strength to tread the path of revelation; to cross the sea of dark illusion, and face the lighted way of earth.’ God said: `Go forth and far away.’

“Trước ngai Thượng đế, thiên thần, cùng với tất cả các thiên thần khác, đứng kêu lên: ‘Hỡi Đức Chúa của đời con, xin ban cho con sức mạnh để bước trên con đường mặc khải; để vượt qua biển ảo tưởng đen tối, và đối mặt với con đường được chiếu sáng của trần gian’. Thượng đế nói: 'Tiến ra và đi ra xa.'

“Before the gate which opens on the lighted way to peace, the angel stood alone and said: `Lord of my life, the way of revelation is the way of manifested life: the path of dark illusion leads to the light which scatters every shadow. I seek to tread the lighted way which leads back to thy Presence. As yet that way is dark. What shall I do?’ God said, `Draw near and enter into thine own light, and in that light, see Light.’

“Trước cánh cổng mở ra con đường được chiếu sáng dẫn đến bình an, thiên thần đứng một mình và nói: ‘Hỡi Đức Chúa của cuộc đời con, con đường mặc khải là con đường của sự sống hiển hiện: con đường của bóng tối ảo tưởng dẫn đến ánh sáng xua tan mọi bóng tối. Con tìm cách bước đi trên con đường được soi sáng dẫn trở lại Sự hiện diện của Ngài. Tuy nhiên, con đường đó vẫn còn là bóng tối. Con nên làm gì?' Thượng đế phán, 'Hãy đến gần và bước vào ánh sáng của chính ngươi, và trong ánh sáng đó, hãy thấy Ánh sáng.'

“Before the gateway of each newborn day, which holds within its sealed hours ordered responsibility, each morn I stand. I cry aloud: `Lord of my life, how can I do the duty of this day yet seek detachment? Meet every need yet free myself from ties and bonds?’ God said: `The sun draws near and vivifies the earth. Naught can [393] it take from out the earth. Live likewise. Give and ask naught!’“

“Trước cổng vào của mỗi ngày mới được sinh ra, ngày đang giữ trách nhiệm được an bài trong những giờ niêm kín của nó, tôi đứng đó mỗi buổi sớm. Tôi kêu lớn: ‘Hỡi Đức Chúa Tể của đời con, làm sao con có thể hoàn thành bổn phận của ngày hôm nay mà vẫn tìm được sự tách rời? Làm sao đáp ứng mọi nhu cầu mà vẫn tự giải thoát khỏi những ràng buộc và dây trói?’ Thượng đế phán: ‘Mặt trời tiến gần và tiếp sinh lực cho Trái Đất. Nó chẳng thể [393] lấy đi điều gì từ Trái Đất. Hãy sống như vậy. Hãy cho đi và đừng đòi hỏi gì!’”

Brother of mine, gather around you afresh those who are seeking thus the lighted Way and learn to give them of your wisdom and to share with them that which you possess. This is for you a duty in the coming months. This will not be easy for you but will further the detaching process. Begin with those you have at hand and those who know and love you and together set ajar the door to which seekers may find their way and, through your rendered service, may find their way, perchance, to us.

Em thân mến, hãy tập hợp xung quanh em một lần nữa những người đang tìm kiếm Con đường được thắp sáng như vậy và học cách trao cho họ minh triết của em và chia sẻ với họ những gì em sở hữu. Đây là nhiệm vụ của em trong những tháng tới. Điều này sẽ không dễ dàng cho em nhưng sẽ thúc đẩy quá trình tách rời. Hãy bắt đầu với những người em có trong tay và những người biết và yêu mến em và cùng nhau mở hé cánh cửa để những người tìm kiếm có thể tìm thấy con đường của họ và thông qua sự phụng sự của em, họ có thể tìm được đường đến với chúng tôi.

February 1936—Tháng 2 năm 1936

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ TÔI:

You have had a year of strain and of much anxiety. But you have grown much thereby and there is a greater measure of freedom to be seen in you subjectively than ever before. You are learning to detach yourself from people and from the clinging hands of those demanding presences who are to be found clamouring for your attention in their lives. This freedom must increase as you endeavour to meet perfectly the need of those around you, yet at the same time you must go on with increasing power detaching yourself from their inner hold upon you. They must fail to reach you in the inner fortress of your soul. There you must learn to stand, detached and unafraid.

Em đã có một năm căng thẳng và nhiều lo lắng. Nhưng em đã trưởng thành hơn nhiều từ đó, và có một mức độ tự do lớn hơn được nhìn thấy ở em một cách chủ quan hơn bao giờ hết. Em đang học cách tách mình ra khỏi mọi người và khỏi bàn tay đeo bám của những sự hiện diện đòi hỏi khắt khe, những người được tìm thấy kêu gọi sự chú ý của em trong cuộc sống của họ. Sự tự do này phải tăng lên khi em cố gắng đáp ứng hoàn hảo nhu cầu của những người xung quanh, nhưng đồng thời em phải tiếp tục với sức mạnh ngày càng tăng, tách mình ra khỏi sự kìm kẹp bên trong của họ. Họ phải thất bại trong việc tiếp cận em trong pháo đài bên trong của linh hồn em. Ở đó em phải học cách đứng vững, tách rời và không sợ hãi.

I cannot too strongly urge this detachment on you and beg you to live henceforth more bravely the life of the sannyasin. Two years ago I could not have spoken thus, for you would not have understood; but you have advanced far since those days, my brother, and are beginning to enter into the realm of freedom, e’en though your freedom is as yet but relative and incomplete.

Tôi không thể thúc giục em quá mạnh mẽ về sự tách rời này, và mong em từ nay về sau hãy sống dũng cảm hơn cuộc đời của một sannyasin. Hai năm trước, tôi không thể nói như vậy, vì em sẽ không hiểu; nhưng, em thân mến, em đã tiến xa kể từ những ngày đó và đang bắt đầu bước vào lãnh vực của tự do, mặc dù sự tự do của em vẫn chỉ là tương đối và không đầy đủ.

I am now going to give you six themes for meditation during the next six months, gathered out of the paragraphs which I gave to you last time for your consideration. Let your meditation, therefore, follow the following lines.

Bây giờ tôi sẽ đưa ra cho em sáu chủ đề để thiền trong sáu tháng tới, được tập hợp từ những đoạn văn mà tôi đã đưa cho em lần trước để em xem xét. Do đó, hãy để sự tham thiền của em đi theo những hướng sau đây.

1st month—Why is strength needed to:

Tháng thứ nhất—Tại sao sức mạnh lại cần thiết để:

a. Tread the Path of Revelation. [394]

a. Bước đi trên Con đường Mặc khải. [394]

b. Cross the sea of dark illusion.

b. Băng qua biển ảo tưởng đen tối.

c. Face the lighted way of earth.

c. Đối mặt với con đường được soi sáng của trần gian.

2nd month—What should I do? I seek to tread the lighted Way which leads back to the Presence. What in my life obstructs that Way?

Tháng thứ 2—Tôi nên làm gì? Tôi tìm cách bước đi trên Con đường được thắp sáng dẫn trở lại Sự Hiện diện. Điều gì trong cuộc sống của tôi cản trở Con đường đó?

3rd month—How can I do the duty of this day, yet demonstrate detachment?

Tháng thứ 3—Làm thế nào tôi có thể thực hiện bổn phận của ngày hôm nay mà vẫn thể hiện sự tách rời?

4th month—How can I meet each rising need, yet stand apart and unafraid?

Tháng thứ 4—Làm thế nào tôi có thể đáp ứng từng nhu cầu ngày càng tăng mà vẫn đứng vững và không sợ hãi?

5th month—How can I enter into light and steadfast stand, seeing the truth on every hand?

Tháng thứ 5—Làm thế nào tôi có thể bước vào ánh sáng và vị thế kiên định, nhìn thấy sự thật trên mọi mặt?

6th month—How can I guide my brothers on the Way and with them find the secret of the dark light which reveals? How can I discover the agent which dispels illusion?

Tháng thứ 6—Làm thế nào tôi có thể hướng dẫn các huynh đệ của tôi trên Con đường và cùng họ tìm ra bí mật của ánh sáng tối tiết lộ? Làm thế nào tôi có thể khám phá tác nhân xua tan ảo tưởng?

Dedicate yourself and life and all you have to the service of the Plan and do this in full consciousness and not as a required duty. Stand with your group brothers in the light of the Presence. As a group, renew your dedication.

Hãy dâng hiến bản thân và cuộc sống cũng như tất cả những gì em có để phụng sự Thiên Cơ và thực hiện điều này với ý thức đầy đủ chứ không phải như một nghĩa vụ bắt buộc. Đứng với huynh đệ trong nhóm của em trong ánh sáng của Sự Hiện Diện. Như là một nhóm, hãy đổi mới sự cống hiến của em.