← Thư Chân sư Gởi các Đệ tử Nhóm Glamours

I.B.S

Trích nội dung chương

The past six months have seen you subjected to much outer change; you have passed through difficulties of various kinds and many adjustments and re-adjustments; you have known physical suffering and pain, accompanied, at times by bewilderment. Is this not so? But none of these things have held you or destroyed you, nor have they succeeded in tarnishing the white shield of your fiery faith. This you have held ever before you. Such conditions of difficulty must be expected by all aspirants who have reached the point in their evolution when they can find their way into these groups. All of your group brothers have experienced a hard time and…


August 1936—Tháng 8 năm 1936

MY BROTHER AND FRIEND:

HUYNH ĐỆ VÀ NGƯỜI BẠN CỦA TÔI:

The past six months have seen you subjected to much outer change; you have passed through difficulties of various kinds and many adjustments and re-adjustments; you have known physical suffering and pain, accompanied, at times by bewilderment. Is this not so? But none of these things have held you or destroyed you, nor have they succeeded in tarnishing the white shield of your fiery faith. This you have held ever before you. Such conditions of difficulty must be expected by all aspirants who have reached the point in their evolution when they can find their way into these groups. All of your group brothers have experienced a hard time and, without exception, have been tested and tried, or are being tested and tried. They are wrestling with glamour, apparently bewildered and held back by physical liability; their usefulness is apparently curtailed through financial stringency; re-adjustments through loss of some kind is apparently crippling the endeavour of others, even [395] to the point of producing a temporary inertia. Such is the group history at this particular time.

Sáu tháng qua em đã phải chịu nhiều thay đổi bên ngoài; em đã trải qua đủ loại khó khăn, nhiều sự điều chỉnh và tái điều chỉnh lại; em đã biết những đau khổ và đau đớn về thể xác, đôi khi kèm theo sự hoang mang. Không phải như thế sao? Nhưng không cái nào trong những điều này có thể giữ chân em hay tiêu diệt em, chúng cũng không thành công trong việc làm hoen ố tấm khiên trắng của đức tin rực lửa của em. Điều này em luôn giữ phía trước em. Tất cả những người chí nguyện, đã đạt đến mức tiến hóa khi họ có thể tìm được đường vào những nhóm này, đều phải dự kiến đối mặt những điều kiện khó khăn như vậy. Tất cả huynh đệ trong nhóm của em đều đã trải qua một thời gian khó khăn và không có ngoại lệ, đã được kiểm tra và thử thách, hoặc đang được kiểm tra và thử thách. Họ đang đấu tranh với ảo cảm, dường như đang bối rối và bị kìm hãm bởi nợ nần trần gian; tính hữu dụng của họ dường như bị hạn chế do sự khó khăn về tài chính; sự tái điều chỉnh do một số loại mất mát có vẻ đang làm tê liệt nỗ lực của những người khác, thậm chí [395] đến mức tạo ra một sự trì trệ tạm thời. Đó là lịch sử nhóm tại thời điểm cụ thể này.

Let me put this still more clearly so that the group need and problem (which is formed by the sum total of the needs and the problems of all its members) may stand revealed and thus spur you all on to a closer cooperation with each other and a more loving understanding. Let us look at the situation, as I see it, of the various members.

Hãy để tôi trình bày điều này rõ ràng hơn để nhu cầu và vấn đề của nhóm (được hình thành bởi tổng số nhu cầu và vấn đề của tất cả các thành viên) có thể được bộc lộ, và do đó thúc đẩy tất cả các em hợp tác chặt chẽ hơn với nhau và có một sự hiểu biết yêu thương hơn. Chúng ta hãy xem xét tình hình, như tôi thấy, của các thành viên khác nhau.

Several have had re-adjustments to make of a very drastic nature in their daily life. The entire rhythm of ordinary existence has been changed. This I foretold many months ago, and time has proved the exactness of my foretelling. The difficulties have been real, but service to others has increased.

Một số đã có những điều chỉnh lại để tạo ra bản chất rất quyết liệt trong cuộc sống hàng ngày của họ. Toàn bộ nhịp điệu của sự hiện tồn bình thường đã bị thay đổi. Điều này tôi đã dự đoán từ nhiều tháng trước, và thời gian đã chứng minh tính chính xác của lời tiên đoán của tôi. Những khó khăn là có thật, nhưng sự phụng sự cho những người khác đã gia tăng.

One of your co-disciples, as her correspondence shews, has had deeper inner problems to solve, based on her immediate point of view and the fact that she is swinging more potently on to mental levels, as a result of her concentrated work with me. This has brought about an inevitable reaction to the rhythm and tendency of the mental plane to produce a sense of isolation (which can be enjoyed in the earlier stages). All this has been complicated by financial anxiety, with its power to cloud the vision. She is on her way out, but her mental stress is definitely affecting the group life. It will enrich the group life if she achieves the grace of standing steady until she has time to clarify her vision in either direction, and until she realises that no one achieves anything of reality by the laying down of any assumed responsibility.

Một đệ tử đồng môn của em, như thư từ của cô ấy cho thấy, đã có những vấn đề nội tâm sâu xa hơn cần giải quyết, dựa trên quan điểm hiện tại của cô ấy và sự kiện rằng cô ấy đang chuyển mạnh mẽ hơn lên các cấp độ trí tuệ, như một kết quả của công việc tập trung của cô ấy với tôi. Điều này đã đưa đến một phản ứng tất yếu đối với nhịp điệu và khuynh hướng của cõi trí vốn tạo ra một cảm giác cô lập (một điều có thể được vui thích trong những giai đoạn đầu). Tất cả điều này lại bị làm phức tạp thêm bởi sự lo âu tài chính, với quyền năng che mờ tầm nhìn. Cô ấy đang trên đường thoát ra khỏi tình trạng ấy, nhưng sự căng thẳng trí tuệ của cô ấy rõ ràng đang ảnh hưởng đến đời sống nhóm. Đời sống nhóm sẽ được làm phong phú nếu cô ấy đạt được ân sủng của việc đứng vững cho đến khi có thời gian làm sáng tỏ tầm nhìn của mình theo bất cứ hướng nào, và cho đến khi cô ấy nhận ra rằng không ai đạt được điều gì có thực tại bằng việc từ bỏ bất kỳ trách nhiệm nào mà mình đã nhận lấy.

Another has been subjected to the strain of constant and, at times, serious ill health, with its consequent reactions on the thought life and on the emotional life. The struggle with sickness and with fatigue, plus an equally constant urge to serve and to help, constitute no simple problem. This problem, she complicates by an undue analysis of circumstances and people.

Một người khác đã phải chịu sự căng thẳng của sức khỏe liên tục và đôi khi bị bệnh nặng, với những phản ứng hậu quả của nó đối với đời sống tư tưởng và đời sống tình cảm. Cuộc đấu tranh với bệnh tật và sự mệt mỏi, cộng với sự thôi thúc không ngừng để phụng sự và giúp đỡ, không phải là vấn đề đơn giản. Cô ấy làm phức tạp thêm vấn đề này bằng cách phân tích quá mức về hoàn cảnh và con người.

One of my disciples, close to all of you, has had a long period (extending over many years) of strain, incident to environing conditions, much monotony in his life outline and certain deep disappointments. He is dealing with them as one might expect.

Một trong những đệ tử của tôi, rất gần gũi với tất cả các em, đã trải qua một thời gian dài (kéo dài trong nhiều năm) căng thẳng, gặp phải những điều kiện xung quanh, rất nhiều sự đơn điệu trong phác thảo cuộc sống của em ấy và những thất vọng sâu sắc nhất định. Em ấy đang đối phó với chúng như người ta có thể mong đợi.

You, my brother, know to what you have had to rise, as the months have slipped away. You have met this with wisdom, [396] good intention and self-sacrifice. May I say (and I say it with a twinkle in my eye and with love) that you have not yet learnt to enjoy them.

Em, huynh đệ của tôi, biết những gì em đã phải vươn lên, khi tháng ngày trôi qua. Em đã đáp ứng điều này với sự minh triết, [396] ý định tốt và sự hy sinh bản thân. Tôi có thể nói (và tôi nói điều đó với ánh mắt lấp lánh và với tình yêu) rằng em vẫn chưa học cách thưởng thức chúng.

D.H.B. has been through the fire. His tests and difficulties have been greater, fiercer and deeper than any that have come to the other group members. Pressure incident to his home karma, frustrations coming from his environment, misunderstandings of differing kinds, basic bad health at all times, plus the serious accident of the immediate past, loneliness, pain and clouds of recognised glamour have sought to engulf him. They cannot do so. This he also knows and is coming through.

DHB đã đi qua lửa. Những thử thách và khó khăn của em ấy lớn hơn, khốc liệt hơn và sâu sắc hơn bất kỳ thử thách nào đã đến với các thành viên khác trong nhóm. Áp lực liên quan đến nghiệp quả gia đình, sự thất vọng đến từ môi trường của em ấy, những hiểu lầm đủ loại, sức khỏe cơ bản luôn không tốt, cộng với tai nạn nghiêm trọng trong quá khứ trước mắt, sự cô đơn, đau đớn và những đám mây ảo cảm được nhận ra đã tìm cách nhấn chìm em ấy. Chúng không thể làm như vậy. Điều này em ấy cũng biết và đang trải qua.

A member of your group of co-disciples has been through deep sorrow, as all of you know. The processes of re-adjusting the rhythm of her life, becoming accustomed definitely to changed conditions, to loneliness and loss is weighing heavily upon her. She must realise that she is on her way to a greatly enriched life of service, and that her only present need is to stand steady and to give herself time to stabilise into her new rhythm.

Như tất cả các em đều biết, một thành viên trong nhóm đồng môn của em đã trải qua nỗi buồn sâu sắc. Quá trình điều chỉnh lại nhịp điệu đời sống của cô ấy, chắc chắn đã quen với những điều kiện thay đổi, với sự cô đơn và mất mát đang đè nặng lên cô ấy. Cô ấy phải nhận ra rằng cô ấy đang trên đường đến với một cuộc sống phụng sự vô cùng phong phú và nhu cầu duy nhất hiện tại của cô ấy là đứng vững và cho bản thân thời gian để ổn định với nhịp điệu mới của mình.

Still another brother is fighting deep discouragement, and the glamour of futility (after so many years as a disciple) is seeking to swing him off the Path. His characteristic life tendency of pushing unemotionally straight ahead will save him here, for he will penetrate the glamour in time and come out into the light of the “Lighted Way,” but the clouds at times and at present seem to him very thick.

Vẫn còn một huynh đệ khác đang chiến đấu với sự chán nản sâu sắc, và ảo cảm về sự vô dụng (sau rất nhiều năm làm đệ tử) đang tìm cách khiến em ấy lạc hướng ra khỏi Con đường. Khuynh hướng sống đặc trưng của em ấy là thẳng tiến về phía trước một cách không cảm xúc sẽ cứu em ấy ở đây, vì em ấy sẽ xuyên qua ảo cảm đúng lúc và bước ra vào ánh sáng của “Con đường được soi sáng”, nhưng những đám mây đôi khi, và hiện tại, đối với bạn ấy dường như rất dày.

L.T.S-K. is experiencing a new opportunity to “come clear,” but the trial, testing and bewilderment are severe. He feels alone. He believes himself misunderstood and underrated. There can be many close to one and watching over one in a fog, and yet they can remain unrecognised.

LTS-K. đang trải qua một cơ hội mới để “trở nên rõ ràng”, nhưng quá trình thử thách, trắc nghiệm và hoang mang là rất nghiêm trọng. Em ấy cảm thấy cô đơn. Em ấy tin rằng mình đã bị hiểu lầm và đánh giá thấp. Có thể có nhiều người ở gần bên và theo dõi một người trong sương mù, nhưng họ vẫn có thể không được nhận ra.

The point I am seeking to make as I give you all this brief résumé of the immediate and basic problems which confront each of you is that these conditions do have a potent effect upon the group life and the group integration, and that the quicker they are handled and ended the better for the group. They are to be handled by the assuming of a right inner attitude and not by the changing of outer circumstances. When an individual is occupied and preoccupied with a particular and [397] peculiar problem, he is necessarily introverted. The life of the group then necessarily suffers and becomes starved, limited and curtailed. When the group members realise this fact more clearly, then they will endeavour to go through their experiences together (which prevents the development of an unwholesome and selfish introversion) and the problems of one will become the problems of all. Not idly have you all been brought together into this close relation with each other. Therefore give to each other more freely, but without criticism and enquiry; love and steady each other as you go through the needed fusing and testing. This has to be undergone and more rightly handled before I can give you any definite world work to do along the line of breaking up the world illusion. How can you destroy (on a large scale) that which you do not understand, handle and disperse (on a small scale) in your own lives? This future work should be possible some day.

Điều tôi muốn nhấn mạnh khi trao cho em bản tóm lược ngắn gọn này về những vấn đề cấp thời và căn bản đang đối diện mỗi người là: các điều kiện ấy thực sự có một ảnh hưởng mạnh mẽ lên đời sống nhóm và sự tích hợp của nhóm, và chúng càng được xử lý và kết thúc nhanh bao nhiêu thì càng tốt cho nhóm bấy nhiêu. Chúng phải được xử lý bằng việc đảm nhận một thái độ nội tâm đúng đắn, chứ không phải bằng cách thay đổi hoàn cảnh bên ngoài. Khi một cá nhân bị chi phối và ám ảnh bởi một vấn đề riêng biệt và [397] đặc thù, y tất nhiên trở nên hướng nội. Khi đó đời sống nhóm tất nhiên bị tổn hại và trở nên thiếu hụt, hạn chế và bị thu hẹp. Khi các thành viên trong nhóm nhận ra sự kiện này rõ ràng hơn, họ sẽ cố gắng cùng nhau đi qua các kinh nghiệm của mình (điều này ngăn chặn sự phát triển của một sự hướng nội không lành mạnh và ích kỷ), và vấn đề của một người sẽ trở thành vấn đề của tất cả. Không phải ngẫu nhiên mà tất cả các em đã được đưa đến gần nhau trong mối liên hệ mật thiết này. Vì vậy hãy cho nhau nhiều hơn, nhưng không phê phán và tra hỏi; hãy yêu thương và nâng đỡ nhau khi các em đi qua tiến trình dung hợp và thử thách cần thiết. Điều này phải được trải qua và được xử lý đúng đắn hơn trước khi tôi có thể trao cho em bất kỳ công việc thế giới rõ ràng nào theo đường lối phá tan ảo tưởng của thế gian. Làm sao em có thể hủy diệt (trên quy mô lớn) điều mà em chưa hiểu, chưa xử lý và chưa làm tiêu tan (trên quy mô nhỏ) trong chính đời sống của mình? Công việc tương lai này một ngày nào đó sẽ trở nên khả thi.

I seek not to change your meditation, except to alter its monthly theme. These monthly themes should, during the next six months, be as follows:

Tôi không muốn thay đổi cách tham thiền của em, ngoại trừ thay đổi chủ đề hàng tháng của nó. Các chủ đề hàng tháng trong sáu tháng tới nên như sau:

1st month—Why is happiness needed in order to:

Tháng 1—Vì sao hạnh phúc lại cần thiết để:

a. Tread the Path of Revelation.

a. Bước đi trên Con Đường Mặc Khải.

b. Meet the needs of others.

b. Đáp ứng nhu cầu của người khác.

c. Clear away the obstacles I find?

c. Dọn sạch những chướng ngại mà tôi tìm thấy?

2nd month—What is the relation of happiness to joy?

Tháng 2—Mối liên hệ giữa hạnh phúc và hoan hỉ là gì?

a. What do I know of each?

a. Tôi biết gì về mỗi trạng thái ấy?

b. Which is characteristic of the soul?

b. Trạng thái nào là đặc tính của linh hồn?

3rd month—How can the words and the understanding of “the joy of the Lord is your strength” affect my daily life?

Tháng 3—Làm thế nào những lời và sự thấu hiểu về câu “niềm hoan hỉ của Chúa là sức mạnh của bạn” có thể ảnh hưởng đến đời sống hằng ngày của tôi?

a. In what ways can I demonstrate joy?

a. Bằng những cách nào tôi có thể biểu lộ sự hoan hỉ?

b. How can I shew forth happiness?

b. Làm thế nào tôi có thể thể hiện hạnh phúc?

c. What are the differences in these two?

c. Những khác biệt giữa hai trạng thái này là gì?

4th month—In what way can joy and happiness undermine fear, and liberate me from fears?

Tháng 4—Bằng cách nào hoan hỉ và hạnh phúc có thể làm suy yếu nỗi sợ hãi và giải phóng tôi khỏi các sợ hãi?

5th month—How can I enter into the joy which the Masters know?

Tháng 5—Làm thế nào tôi có thể bước vào niềm hoan hỉ mà các Chân sư biết đến?

a. Upon what is this joy based?

a. Niềm hoan hỉ ấy được đặt nền trên điều gì?

b. What effect can joy have upon the world of illusion?

b. Hoan hỉ có thể tạo ra ảnh hưởng gì đối với thế giới của ảo tưởng?

[398]

[398]

6th month—Why must I bring joy to my group brothers?

Tháng 6—Vì sao tôi phải mang hoan hỉ đến cho các huynh đệ trong nhóm của mình?

a. How can I do this in each specific case, for each case differs?

a. Tôi có thể làm điều này trong từng trường hợp cụ thể như thế nào, vì mỗi trường hợp đều khác nhau?

b. What are the major hindrances to my own joyfulness?

b. Những chướng ngại chính đối với niềm hoan hỉ của chính tôi là gì?

Thus, my brother, you can train yourself to build in that quality of joy which is the characteristic of a personality which is consciously anchored in the soul realm.

Như vậy, huynh đệ của tôi, em có thể tự rèn luyện để xây dựng trong mình phẩm tính hoan hỉ — phẩm tính đặc trưng của một phàm ngã được neo giữ một cách có ý thức trong cõi linh hồn.

February 1937—Tháng 2 năm 1937

I have only the briefest of words for you, my brother of old and trusted friend. It is not the length of a message, however, but its quality which is of importance, is it not? I seek to say to you that you have, during the past seven months, made more definite inner progress than in the previous three years, and that my heart, as I watch your steps upon the Way, goes out to you with understanding and with joy. It is not often that I thus write.

Tôi chỉ có những lời ngắn gọn nhất dành cho em, huynh đệ ngày xưa và người bạn đáng tin cậy của tôi. Tuy nhiên, độ dài của một thông điệp không quan trọng, mà phẩm chất của nó mới là điều quan trọng, phải không? Tôi muốn nói với em rằng trong bảy tháng qua, em đã đạt được những tiến bộ nội tâm rõ ràng hơn so với ba năm trước đó, và trái tim tôi, khi tôi dõi theo những bước chân của em trên Con Đường, hướng về em với sự hiểu biết và bằng niềm hoan hỉ. Tôi không thường xuyên viết như vậy.

I have watched you stand amidst the wrecking of much that you have built, and I have seen you relinquish desire with a light in your eyes—the light of perception of the higher values.

Tôi đã chứng kiến em đứng giữa đống đổ nát của nhiều thứ mà em đã xây dựng, và tôi đã thấy em từ bỏ ham muốn với một tia sáng trong mắt em—ánh sáng của nhận thức về những giá trị cao hơn.

The group meditation will give you much during the next six months, and the Review on Joy will stabilise the work you have sought to accomplish since my last instructions to you. That is all I have to say, my brother. My blessing rests upon you.

Tham thiền nhóm sẽ mang lại cho em nhiều điều trong sáu tháng tới, và sự quán chiếu lại về sự hoan hỉ (review of Joy) sẽ ổn định công việc mà em đã tìm cách hoàn thành kể từ những chỉ dẫn cuối cùng của tôi dành cho em. Đó là tất cả những gì tôi phải nói, em thân mến. Ơn phước của tôi ở trên em.

ON JOY

VỀ SỰ HOAN HỈ

1. What constitutes a review?

1. Điều gì cấu thành một sự ôn xét?

a. Am I confusing a reviewing with a re-doing or with a re-experiencing?

a. Tôi có đang nhầm lẫn giữa việc ôn xét với việc làm lại hay tái trải nghiệm không?

b. Am I asked to re-experience, or am I simply asked to observe as a detached onlooker?

b. Tôi có được yêu cầu tái trải nghiệm không, hay chỉ đơn giản được yêu cầu quan sát như một người đứng ngoài tách rời?

2. Am I capable of detaching myself emotionally from any registration of joy?

2. Tôi có khả năng tách mình ra về mặt cảm xúc khỏi bất kỳ sự ghi nhận nào về niềm hoan hỉ không?

3. Can I see myself mentally, unbiased by any reaction from the emotional, personal self? Am I personally capable of this? [399]

3. Tôi có thể nhìn chính mình bằng thể trí, không bị thiên lệch bởi bất kỳ phản ứng nào từ phàm ngã cảm xúc không? Cá nhân tôi có thực sự làm được điều này không? [399]

4. If I use this review on joy as it should be used, what will be the effect in my life, and what will be the effect in the life of the group I seek to serve?

4. Nếu tôi sử dụng phương pháp ôn xét về hoan hỉ đúng như nó cần được sử dụng, thì hiệu quả sẽ là gì trong đời sống của tôi, và sẽ là gì trong đời sống của nhóm mà tôi tìm cách phụng sự?

5. Can I honestly say that I serve joyously?

5. Tôi có thể thành thật nói rằng tôi phụng sự trong hoan hỉ không?

6. Which do I desire the most, to serve joyously or to serve intelligently? Do I know my reasons?

6. Tôi khao khát điều nào hơn: phụng sự trong hoan hỉ hay phụng sự một cách thông minh? Tôi có biết lý do của mình không?

7. If this review work is a definitely scientific method of development, have I ever given the method of joy a fair trial? Or the work of the review a fair trial?

7. Nếu công việc ôn xét này là một phương pháp phát triển thực sự mang tính khoa học, tôi đã bao giờ cho phương pháp hoan hỉ một cơ hội thử nghiệm công bằng chưa? Hoặc đã bao giờ cho công việc ôn xét một cơ hội thử nghiệm công bằng chưa?

8. What basis can I find in my study that this method of reviewing is the way for me, and that it will intensify my capacity for increased usefulness in service and thus speed my progress on the Path?

8. Trong sự học hỏi của mình, tôi có thể tìm thấy cơ sở nào để xác nhận rằng phương pháp ôn xét này là con đường dành cho tôi, và rằng nó sẽ làm tăng cường khả năng hữu ích hơn trong phụng sự và nhờ đó đẩy nhanh bước tiến của tôi trên Con Đường?

9. Is my progress on the Path of importance? Why?

9. Sự tiến bộ của tôi trên Con Đường có quan trọng không? Vì sao?

10. If it is true that the blind must advance by touching, and by keeping hold, but that those with sight move by seeing and by keeping free and unattached, why then (having sight) do I close my eyes and hold on, and feel my way instead of seeing it? Those who can see are full of joy, and can be messengers and helpers. Those who touch have simply to be led. Of which of these two groups am I a member?

10. Nếu quả thật người mù phải tiến lên bằng cách sờ mó và bám chặt, còn người có thị lực thì tiến bước bằng cách thấy và giữ mình tự do, không dính mắc, thì vì sao (khi đã có thị lực) tôi lại nhắm mắt, bám víu và lần mò thay vì nhìn thấy? Những người có thể thấy thì đầy hoan hỉ, và có thể trở thành sứ giả và người trợ giúp. Những người chỉ sờ mó thì đơn giản phải được dẫn dắt. Tôi thuộc về nhóm nào trong hai nhóm ấy?

11. Is my mind the organ of vision for the spiritual man? Am I offering this organ to the higher self to use?

11. Thể trí của tôi có phải là cơ quan thị kiến của con người tinh thần không? Tôi có đang dâng hiến cơ quan ấy cho chân ngã sử dụng không?

12. Can I hold the mind steady in the light of the soul?

12. Tôi có thể giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng của linh hồn không?

13. As I review my day, what part has joy played?

13. Khi tôi ôn xét một ngày của mình, hoan hỉ đã giữ vai trò gì?

14. How do I define the word joy?

14. Tôi định nghĩa từ hoan hỉ như thế nào?

15. Have I been ruled by joy, and has it dominated my day?

15. Tôi có được hoan hỉ chi phối không, và nó có làm chủ ngày sống của tôi không?

16. Joy is the quality which grows out of self-realisation. Am I able to forget the fragmentary personal self? Can I recognise the One Self in all selves?

16. Hoan hỉ là phẩm tính phát sinh từ sự chứng nghiệm chân ngã. Tôi có thể quên đi phàm ngã phân mảnh của mình không? Tôi có thể nhận ra Đại Ngã Duy Nhất trong mọi bản ngã không?

17. We are told that there is an archetype, a pattern, a way, a goal, and a light which shines upon the Path. But, realising this, do I know anything of the joy which should irradiate my way?

17. Người ta bảo rằng có một nguyên mẫu, một mô hình, một con đường, một mục tiêu và một ánh sáng chiếu rọi trên Con Đường. Nhưng khi nhận thức điều này, tôi có biết gì về niềm hoan hỉ lẽ ra phải chiếu sáng con đường của mình không?

18. How is the archetypal pattern of joy (which is bliss) reflected in my life?

18. Mô hình nguyên mẫu của hoan hỉ (chính là chí phúc) được phản ánh trong đời sống tôi như thế nào?

19. Do I recognise my fellow pilgrims on the Way of Joy?

19. Tôi có nhận ra các bạn đồng hành của mình trên Con Đường Hoan Hỉ không?

20. Is the objective of joy always before me? [400]

20. Mục tiêu của hoan hỉ có luôn ở trước mắt tôi không? [400]

21. Can I draw upon the Joy and Bliss of the Path when others need it?

21. Tôi có thể rút lấy Hoan Hỉ và Chí Phúc của Con Đường khi người khác cần đến không?

22. I am the redeemer of the lower nature. In what way does joy redeem?

22. Tôi là người cứu chuộc bản chất thấp. Hoan hỉ cứu chuộc bằng cách nào?

23. Does redeeming joyous force flow through me?

23. Mãnh lực cứu chuộc đầy hoan hỉ có tuôn chảy qua tôi không?

24. My nature is in truth joy, or bliss. In what fashion does this joy manifest itself? Does it manifest at all?

24. Bản chất thật của tôi là hoan hỉ, hay chí phúc. Hoan hỉ ấy biểu lộ ra sao? Nó có biểu lộ không?

25. In which body do I most easily express my joy?

25. Trong thể nào tôi biểu lộ hoan hỉ của mình dễ dàng nhất?

26. If I demonstrated joy, was it a task, or did I find it easy?

26. Nếu tôi thể hiện hoan hỉ, đó có phải là một nỗ lực gượng ép không, hay tôi thấy điều đó tự nhiên?

27. What activities and qualities of my lower nature need to be eliminated if I seek to serve more joyously?

27. Những hoạt động và phẩm tính nào của bản chất thấp nơi tôi cần được loại bỏ nếu tôi muốn phụng sự trong hoan hỉ hơn nữa?

28. What truthfully hinders my being full of joy?

28. Điều gì thực sự ngăn cản tôi tràn đầy hoan hỉ?

29. How does a joyous spirit affect my fellowmen?

29. Tinh thần hoan hỉ ảnh hưởng đến đồng loại của tôi như thế nào?

30. In what way can I most joyously serve my fellowmen?

30. Bằng cách nào tôi có thể phụng sự đồng loại của mình một cách hoan hỉ nhất?

September 1937—Tháng 9 năm 1937

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

The difficulties and the trials which the disciple experiences upon the Way are, as you have discovered, only relative; they are oft offset by the pouring in of a sense of inner release. The compensations on the Way are not so often considered as are the difficulties. In the human being there is ever a tendency towards sorrow and suffering which has eventually to be negated; this tendency is one of the problems which the Hierarchy has to face, as it seeks strenuously, at this time, to lift mankind out of the morass in which it finds itself. This “tendency to misery,” founded as it is on an attitude of mind, is of such ancient habit that it seems inconceivable to man that a different point of view and a totally different reaction to life affairs could ever be possible. I am referring to this because (in the midst of problems and tests) you are discovering the Way of Compensation. Do you think, my brother, that you could write a paper on this theme, “Compensations on the Way,” for the helping of your fellowmen and for the stabilising of your own inner attitude?

Những khó khăn và thử thách mà người đệ tử trải qua trên Đường Đạo, như em đã khám phá ra, chỉ là tương đối; chúng thường được hoá giải bằng tuôn đổ vào một cảm giác giải phóng nội tâm. Những sự bù đắp trên Đường Đạo thường không được xem xét giống như các các khó khăn được xem xét. Trong con người luôn luôn có một khuynh hướng hướng tới buồn phiền và đau khổ mà cuối cùng phải bị triệt tiêu; xu hướng này là một trong những vấn đề mà Thánh đoàn phải đối mặt, khi vào lúc này, các Ngài đang nỗ lực tìm cách để nâng nhân loại ra khỏi vũng lầy mà họ đang ở trong đó. “Khuynh hướng đau khổ” này, được hình thành dựa trên thái độ của tâm trí, là một thói quen cổ xưa đến mức con người dường như không thể tưởng tượng được rằng có một quan điểm khác và một phản ứng hoàn toàn khác đối với các vấn đề trong cuộc sống lại có thể xảy ra. Tôi đang đề cập đến điều này bởi vì (giữa các vấn đề và thử thách) em đang khám phá ra Con đường Bù Đắp. huynh đệ của tôi, em có nghĩ rằng em có thể viết một bài viết về chủ đề này, “Những bù đắp trên đường đạo,” để giúp đỡ đồng bào của em và để ổn định thái độ bên trong của chính em không?

I have given you much about which to think in my instruction; may it not be possible that, before long, through the release from the load of business cares, there may come for you a time of widened service? This could be through the use of [401] your pen, for you have knowledge of that which should be said, and words flow with ease from your pen, even if you realise it not. I commend this to you for your consideration. You have been much occupied for many years with the cares of a great business organisation and your imposed (and rightly imposed) preoccupations were with the more material aspects of life. Such was your dharma. Within that sphere of activity, you have preserved an inner orientation to the spiritual values and a fixed determination to tread the Way which naught has been able to alter.

Tôi đã trao cho em nhiều điều để suy ngẫm trong huấn thị của tôi; liệu có thể nào rằng, không bao lâu nữa, nhờ được giải thoát khỏi gánh nặng những lo toan kinh doanh, một thời kỳ phụng sự mở rộng hơn sẽ đến với em chăng? Điều này có thể thực hiện qua việc sử dụng [401] ngòi bút của em, vì em có kiến thức về những điều cần được nói ra, và lời lẽ tuôn chảy dễ dàng từ ngòi bút của em, dù em có nhận ra hay không. Tôi giao điều này cho em để em cân nhắc. Trong nhiều năm, em đã bận rộn với những mối quan tâm của một tổ chức kinh doanh lớn, và những bận tâm được áp đặt lên em (và đúng là cần phải như vậy) đã hướng về các phương diện vật chất hơn của đời sống. Đó là bổn phận của em. Trong phạm vi hoạt động ấy, em đã giữ được một định hướng nội tâm hướng về các giá trị tinh thần và một quyết tâm vững chắc bước đi trên Đường Đạo mà không điều gì có thể làm thay đổi.

Much preoccupation, however, with little things and the demands of the many clamouring personalities who surround you have slowed the pace. You might, perhaps, have travelled faster had you been able, more efficient, to separate the essential from the non-essential. This I think you know. Having realised this, a future of constructive beauty lies ahead, if so you will, or the more ordinary life of one whose vehicle is not young and who submits to the imperative voice of physical fatigue and the liabilities of a physical body which has been used for many years. I say to you, therefore: Face the future with joy and know that it holds for you renewed opportunity, and later a re-adjustment of your time and interests which will permit you the leisure for deepened understanding and an increased usefulness in service. There is much that you can do and much in which you can assist me. Time will show you the ways and means. Have patience.

Tuy nhiên, quá nhiều mối bận tâm với những điều nhỏ nhặt và nhu cầu của nhiều phàm ngã ồn ào xung quanh em đã làm chậm bước chân của em. Em có thể đã đi nhanh hơn, nếu em có thể tách những gì thiết yếu khỏi những gì không cần thiết hiệu quả hơn. Điều này tôi nghĩ em biết. Khi nhận ra điều này, một tương lai của vẻ đẹp mang tính xây dựng sẽ ở phía trước, nếu em muốn, hoặc cuộc sống bình thường hơn của một người có vận cụ không còn trẻ và phải tuân theo tiếng nói mệnh lệnh của sự mệt mỏi về thể chất và trách nhiệm của một cơ thể vật chất đã qua sử dụng trong nhiều năm. Do đó, tôi nói với em: Hãy đối mặt với tương lai với niềm vui và biết rằng nó mang đến cho em cơ hội mới, và sau đó là sự điều chỉnh lại thời gian và sở thích của em, điều này sẽ cho em sự nhãn rỗi để hiểu sâu hơn và ngày càng hữu ích hơn trong việc phụng sự. Có nhiều điều em có thể làm và nhiều điều em có thể giúp tôi. Thời gian sẽ chỉ cho em cách thức và phương tiện. Hãy kiên nhẫn.

It will, I believe, aid you in the relinquishing process and help you to readjust your life to time and circumstance if you will ponder upon the five energies which are dominant in your life expression during this incarnation.

Tôi tin rằng nó sẽ hỗ trợ em trong quá trình từ bỏ và giúp em điều chỉnh lại cuộc sống của mình đối với thời gian và hoàn cảnh nếu em suy ngẫm về năm năng lượng chi phối biểu hiện cuộc sống của em trong lần tái sinh này.

As you know, your rays—soul and personality—are the first and fifth; this in itself presents a problem, for it produces a preponderance of force upon the line of the major first ray. Fortunately for you, it was the aspect of organisation and the tendency to the occult life which were expressed through these energies and not the destroyer aspect or the over-critical mind, as might have been the case. You are not destructive; your outstanding qualities, if I might so express it, have been the power to organise and rule, and also love of the hidden realities. [402]

Như em đã biết, các cung của em—cung linh hồn và phàm ngã—là cung một và cung năm; điều này tự nó gây ra một vấn đề, vì nó tạo ra một mãnh lực vượt trội trên đường lối của cung chính đầu tiên. May mắn cho em, chính khía cạnh tổ chức và xu hướng đối với cuộc sống huyền linh được thể hiện thông qua những năng lượng này, chứ không phải khía cạnh hủy diệt hoặc thể trí quá phê phán, như có thể đã xảy ra. Em không tàn phá; những phẩm chất nổi bật của em, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, là khả năng tổ chức và cai quản, cũng như tình yêu đối với những thực tại ẩn giấu. [402]

Your mental body has been outstandingly a fourth-ray one, giving you a love of harmony which has aided you in organisation rule, a love of beauty which enabled you to see the real, and a discrimination which has enabled you to gather around yourself that which unfolded beauty to you—books and beautiful things. But it also gave you, as it ever does, a spirit of conflict, urging you forward to fresh victories in the cause of harmony.

Thể trí của em thật nổi trội trên cung 4, mang đến cho em lòng yêu thích sự hài hòa vốn đã hỗ trợ em trong việc điều hành tổ chức, tình yêu cái đẹp giúp em nhìn thấy sự thật, và khả năng phân biện đã giúp em tập hợp xung quanh mình những điều giúp khai mở vẻ đẹp cho em—sách và những gì đẹp đẽ. Nhưng nó cũng mang lại cho em, như nó đã từng, một tinh thần xung đột, thôi thúc em tiến tới những chiến thắng mới vì sự hài hòa.

Your astral body has been governed by the second ray, and, from certain points of view, this has been the most powerful influence in your personality equipment; it has been the balancing factor to the first-ray line energy, expressed by your soul and personality rays. It has linked you powerfully (and this should interest and cheer you) with the Masters M. and K.H. Who together form a definite “unit of service” in the work of the Hierarchy at this time.

Thể cảm dục của em được cai quản bởi cung hai, và từ một số quan điểm, đây là ảnh hưởng mạnh mẽ nhất trong trang bị phàm ngã của em; nó là yếu tố cân bằng năng lượng của đường lối cung một, được thể hiện bởi các cung linh hồn và phàm ngã của em. Nó đã liên kết em một cách mạnh mẽ (và điều này sẽ khiến em thích thú và vui mừng) với các Chân sư M. và KH. Các Đấng cùng nhau tạo thành một “đơn vị phụng sự” nhất định trong công việc của Thánh Đoàn vào lúc này.

Your physical body is on the third Ray of Active Intelligence. This has given you your capacity to work upon the physical plane, to handle money (though not in your own interests) and has tied you in closely with the material life of your environment, in a curiously symbolic manner. Ponder on this.

Thể vật lý của em nằm trên Cung ba của Trí thông tuệ Linh Hoạt. Điều này đã cho em khả năng làm việc trên cõi trần, xử lý tiền bạc (mặc dù không phải vì lợi ích của riêng em) và đã ràng buộc em chặt chẽ với đời sống vật chất trong môi trường của em, theo một cách biểu tượng kỳ lạ. Hãy suy ngẫm về điều này.

You will be able to enlarge upon these ideas yourself from your knowledge of the ray tendencies and qualities, and you will find it of real interest to study the problem. My suggestion would be that you study the effect of this ray equipment upon your immediate environment. Later we will go into this matter in greater detail. Your rays, therefore, are:

Em sẽ có thể tự mình mở rộng những ý tưởng này từ kiến thức của em về các khuynh hướng và phẩm chất của cung, và em sẽ thấy việc nghiên cứu vấn đề thực sự thú vị. Đề xuất của tôi là em nên nghiên cứu ảnh hưởng của trang bị cung này đối với môi trường gần gũi của em. Sau này chúng ta sẽ đi vào vấn đề này chi tiết hơn. Do đó, các cung của em là:

1. The soul ray—the first Ray of Will or Power.

1. Cung linh hồn—Cung một, Ý chí hay Quyền Năng.

2. The personality ray—the fifth Ray of Concrete Science.

2. Cung phàm ngã – Cung 5, Khoa học cụ thể.

3. The ray of the mental body—the fourth Ray of Harmony through Conflict.

3. Cung của thể trí – Cung bốn của Sự Hài Hòa thông qua Xung đột.

4. The ray of the astral body—the second Ray of Love-Wisdom.

4. Cung của thể cảm dục - Cung hai của Bác Ái – Minh Triết.

5. The ray of the physical body—the third Ray of Active Intelligence.

5. Cung của cơ thể vật lý – Cung ba Thông Tuệ Linh Hoạt.

February 1938—Tháng 2 năm 1938

BROTHER OF OLD:

HUYNH ĐỆ CỦA NGÀY XƯA:

You have lately been given work which will constitute for you an integrating point. Much can be done by you through [403] quiet thought, the pouring out of love and of the first ray strength which you are so capable of giving, through the medium of your soul ray. On this opportunity to serve I would have you ponder deeply and reflect. The way of service is opening up to you, as I indicated to you in my last instructions, and your cooperation is welcome and needed. Adjustments are going on with rapidity in your life and the processes of living will steadily simplify for you, if you so choose and if you mould the future by the impress of your soul.

Gần đây, em đã được giao công việc sẽ tạo nên điểm tích hợp cho em. [403] Em có thể làm được nhiều việc thông qua tư tưởng yên tĩnh, sự tuôn trào tình yêu thương và sức mạnh của cung một mà em có khả năng ban cho, thông qua trung gian là cung linh hồn của em. Về cơ hội phụng sự này, tôi muốn em suy ngẫm sâu sắc. Cách thức phụng sự đang mở ra cho em, như tôi đã chỉ ra cho em trong những hướng dẫn cuối cùng của tôi, và sự hợp tác của em được hoan nghênh và cần thiết. Những điều chỉnh đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng trong cuộc sống của em, và các quá trình của đời sống sẽ dần dần đơn giản hóa đối với em, nếu em chọn như vậy, và nếu em định hình tương lai bằng ấn tượng của linh hồn mình.

It has been interesting to note how, in your case, the fourth ray mental body (which is a part of your equipment) has used its force in harmony far more often than in conflict, as is the effect in the majority of your brothers’ lives. This is due to the first ray activity of your soul which has resolved the conflict in harmony. Most of the conflict in your life has been the result of the activity of your astral body (working under second ray influence) with a reaction upon your third ray physical body. A close relation between the second and the third rays often works out in difficulty, for they express two different ways of building. This I will take up in greater detail later.

Thật thú vị khi lưu ý rằng, trong trường hợp của em, thể trí cung 4 (vốn là một phần trong trang bị của em) đã sử dụng sức mạnh của nó một cách hài hòa thường xuyên hơn nhiều so với sự xung đột, như hiệu quả trong phần lớn đời sống của các huynh đệ của em. Điều này là do hoạt động của cung một trong linh hồn của em đã giải quyết xung đột một cách hài hòa. Hầu hết xung đột trong cuộc sống của em là kết quả của hoạt động của thể cảm dục của em (hoạt động dưới ảnh hưởng của cung hai) với một phản ứng lên cơ thể vật lý thuộc cung ba của em. Mối quan hệ chặt chẽ giữa cung hai và cung ba thường gây ra khó khăn, vì chúng thể hiện hai cách xây dựng khác nhau. Điều này tôi sẽ đề cập chi tiết hơn sau.

I would like to call attention to the fact that many of your co-disciples are functioning with fourth ray mental bodies. This provides a most interesting reason why you were all chosen to work at the dissipation of glamour. The astral plane is the plane of duality, of the pairs of opposites, and it is the interplay of these opposites, plus the energies released by the individual, which has, during the ages, built up the world glamour. Harmony through Conflict is the characteristic and result of fourth ray activity. It expresses itself in fullness on the fourth plane where the major duality of the Spiritual Triad and the threefold personality meet, blend and resolve into a unity. I would commend this thought to you for pondering and reflection; it has a definite bearing upon group activity in connection with group dispelling of world glamour. The fourth ray mental bodies of the members will facilitate this task.

Tôi muốn lưu ý đến sự kiện là nhiều đệ tử đồng môn của em đang hoạt động với thể trí thuộc cung 4. Điều này cung cấp một lý do thú vị nhất giải thích tại sao tất cả các em được chọn để làm việc nhằm xua tan ảo cảm. Cõi cảm dục là cõi của nhị nguyên, của các cặp đối lập, và chính sự tương tác của những đối cực này, cộng với các năng lượng do cá nhân giải phóng qua các thời đại, đã tạo nên ảo cảm thế gian. Hòa hợp thông qua Xung đột là đặc tính và kết quả của hoạt động cung bốn. Nó tự biểu lộ một cách trọn vẹn trên cõi thứ tư, nơi mà nhị nguyên chính là Tam nguyên Tinh thần và phàm ngã tam phân gặp gỡ, hòa trộn và hoá giải thành một thể thống nhất. Tôi đề xuất tư tưởng này để em cân nhắc và suy ngẫm; nó có một ảnh hưởng nhất định đối với hoạt động của nhóm liên quan đến việc xua tan ảo cảm thế gian của nhóm. Các thể trí cung 4 của các thành viên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nhiệm vụ này.

You, having rays one, four and five active in your equipment, can see where your work dovetails into the picture.

Với các cung một, bốn và năm đang hoạt động trong thiết bị của mình, có thể thấy công việc của em phù hợp với bức tranh ở đâu.

I have not much in the way of personal instruction to give you at this time. The production of a creative adjustment of [404] the imminent changes in your life and the establishing of yourself as a renewed centre of force in whatever environment claims your soul’s attention will be adequate for your full spiritual employment, will it not, my brother?

Tôi không có nhiều hướng dẫn cá nhân để cung cấp cho em vào lúc này. [404] Việc tạo ra một sự điều chỉnh sáng tạo đối với những thay đổi sắp xảy ra trong cuộc sống của em, và thiết lập bản thân em như một trung tâm sức mạnh mới trong bất kỳ môi trường nào, đòi hỏi sự chú ý của linh hồn em, nó sẽ đủ cho công việc tinh thần trọn vẹn của em, phải không, huynh đệ của tôi?

I would have you, however, ponder on the following facts.

Tuy nhiên, tôi muốn em suy ngẫm về những sự thật sau đây.

1. Soul energy is, for you, focussed in the astral body.

1. Đối với em, năng lượng linh hồn tập trung trong thể cảm dục.

2. Personality force is focussed in the mental body.

2. Mãnh lực phàm ngã tập trung trong thể trí.

We will leave the work of meditation as it is at present along with the continuance of the review of Joy. May Joy, indeed, rest upon you and enable you to go in peace.

Chúng ta sẽ duy trì công việc tham thiền như hiện nay cùng với việc tiếp tục xem xét Sự Hoan Hỉ. Mong Niềm Hoan Hỉ sẽ đến với em và giúp em bước đi trong bình an.

February 1939—Tháng 2 năm 1939

MY BROTHER AND FELLOW WORKER:

HUYNH ĐỆ VÀ ĐỒNG NGHIỆP CỦA TÔI:

I am not analysing your personality forces, particularly your astral force as I had suggested doing, because I gave you a sufficiently complete analysis in my last instruction. What I there indicated is all you need at this time. Later, I may perhaps elaborate, but at present you have all you need to know in order to carry on satisfactorily. In humility and in strength to love lies your release, my brother, and this I know you realise.

Tôi không phân tích các mãnh lực phàm ngã của em, đặc biệt là mãnh lực thể cảm dục của em như tôi đã đề nghị làm, bởi vì tôi đã phân tích đầy đủ cho em trong hướng dẫn cuối cùng của tôi. Những gì tôi đã chỉ ra ở đó là tất cả những gì em cần vào lúc này. Sau này, có lẽ tôi có thể giải thích thêm, nhưng hiện tại em có tất cả những gì em cần biết để tiếp tục một cách thỏa đáng. Trong sự khiêm tốn và sức mạnh để yêu thương là sự giải thoát của em, em thân mến, và điều này tôi biết em nhận ra.

This year has been one of supreme difficulty, has it not, and the end is not immediate. One of the major lessons which all disciples have to master before initiation becomes possible, is that of steady persistence in the face of all that seeks to produce difficulty. Your personal problem is enhanced and becomes exceedingly complex because of the reactions of your immediate associates and your strenuous endeavour to lift all that you possibly can off their shoulders. It becomes, therefore, a lesson in group activity and hence most valuable. Lift not too much, my brother. It is the right of their souls to learn the same lessons as you have had to learn and an over-pitiful heart is not always the most helpful of possessions. A loving heart is always helpful. You learnt much in your past incarnation along this line and learnt satisfactorily. Take not away from others this right to stand alone by too great a display of that shielding love which your powerful astral body so easily and so selflessly can express. Let them stand up to the issues of the soul which are brought to their attention through the medium of the material [405] lesson, and thus enable them to enter upon their next life better equipped to love, to work and to live unselfishly.

Năm nay là một năm cực kỳ khó khăn, phải không, và sự kết thúc không phải là ngay lập tức. Một trong những bài học quan trọng mà tất cả các đệ tử phải nắm vững trước khi có thể được điểm đạo, đó là sự kiên trì bền bỉ khi đối mặt với tất cả những gì tìm cách gây khó khăn. Vấn đề cá nhân của em gia tăng và trở nên cực kỳ phức tạp do phản ứng của các cộng sự trực tiếp của em, và nỗ lực vất vả của em để nâng tất cả những gì em có thể khỏi vai họ. Do đó, nó trở thành một bài học trong hoạt động nhóm, và do đó có giá trị nhất. Đừng nâng quá nhiều, huynh đệ của tôi. Linh hồn của họ có quyền học những bài học giống như em đã phải học, và một trái tim quá thương hại không phải lúc nào cũng là thứ hữu ích nhất trong số các tài sản. Một trái tim yêu thương luôn hữu ích. Em đã học được nhiều điều trong kiếp trước của mình theo con đường này, và đã học được một cách thỏa đáng. Đừng lấy đi của người khác quyền được đứng một mình bằng cách thể hiện tình yêu thương che chở quá vĩ đại mà thể cảm dục mạnh mẽ của em có thể thể hiện một cách dễ dàng và vô vị lợi như vậy. Hãy để họ đứng vững trước những vấn đề của linh hồn, được mang đến cho họ thông qua phương tiện là [405] bài học vật chất, và nhờ đó giúp họ bước vào kiếp sống tiếp theo, được trang bị tốt hơn để yêu thương, làm việc và sống một cách vị tha.

Your one way out is to be focussed constantly in the soul, remembering that, as you achieve this alignment and contact, the soul has its major point of contact with your personality, via your astral body. This is for you a blessing, even when it constitutes a problem. Perhaps you will grasp what I am seeking to convey to you if I say that this relation was established by the intelligent will of your soul in order to stiffen your astral reactions with first ray energy and colour them with that detached and isolated strength which is the main characteristic of the first ray. The intent was to make you strong in what had been your weakest point. Detachment, strongly felt in love (for forget not that the first ray is only the first sub-ray of the great cosmic ray of Love) is the factor which will bring release and understanding, not only to you but to all around you. The aspect of devotion which the astral body so easily expresses must be transmuted into detached but selfless love. Remember that true love has sometimes to stand aside and look on peacefully whilst others learn their lessons—a thing hard indeed for you to do, brother of mine.

Lối thoát duy nhất của em là liên tục tập trung vào linh hồn, hãy nhớ rằng, khi em đạt được sự chỉnh hợp và tiếp xúc này, linh hồn có điểm tiếp xúc chính với phàm ngã của em thông qua thể cảm dục của em. Đây là một phước lành cho em, ngay cả khi nó tạo thành một vấn đề. Có lẽ em sẽ nắm bắt được điều tôi đang tìm cách truyền đạt cho em nếu tôi nói rằng mối quan hệ này được thiết lập bởi ý chí sáng suốt của linh hồn em nhằm làm cứng các phản ứng của thể cảm dục em bằng năng lượng cung một, và tô điểm cho chúng bằng sức mạnh tách biệt và biệt lập vốn là đặc điểm chính của cung một. Mục đích là làm cho em mạnh mẽ trong những điểm yếu nhất của em. Sự Tách rời, được cảm nhận mạnh mẽ trong tình yêu thương (vì đừng quên rằng cung một chỉ là cung phụ đầu tiên của cung vũ trụ vĩ đại là Bác Ái) là nhân tố sẽ mang lại sự giải thoát và hiểu biết, không chỉ cho em mà còn cho tất cả những người xung quanh em. Khía cạnh của lòng tận tụy mà thể cảm dục thể hiện rất dễ dàng phải được chuyển hóa thành tình yêu thương tách rời nhưng vị tha. Hãy nhớ rằng tình yêu thương đích thực đôi khi phải đứng sang một bên, và bình thản nhìn khi những người khác học bài học của họ—một điều thực sự khó khăn đối với em, em thân mến.

All I would ask you to do along the line of meditation is a simple voiced act of consecration to the service of the soul which is, in the last analysis, the service of humanity and of the Hierarchy. Such is the sequence. Do this prior to participating in the group meditation. Let the personality identify itself with the soul, detaching itself deliberately from all other contacts, by an act of the will and (from that point on) let the soul respond by sounding the O.M. three times as it “takes possession” of the personality for service.

Tất cả những gì tôi yêu cầu em thực hiện theo con đường tham thiền là một hành động dâng hiến có tiếng nói đơn giản để phụng sự linh hồn, mà xét cho cùng, đó là phụng sự nhân loại và Thánh Đoàn. Đó là trình tự. Làm điều này trước khi tham gia tham thiền nhóm. Hãy để phàm ngã tự đồng hóa mình với linh hồn, dứt khoát tách nó khỏi mọi tiếp xúc khác bằng một hành động của ý chí, và (từ thời điểm đó trở đi) hãy để linh hồn đáp lại bằng cách xướng linh từ OM ba lần khi nó “chiếm hữu” phàm ngã để phụng sự.

You think with clarity, my brother, when the emotions of others do not overwhelm you and sweep your astral body into unison with theirs. Refuse then to be overwhelmed and regard not yourself as failing in some respect when others fail to meet the issues as they should. The reactions of others are not your responsibility. It is your responsibility to give them strength and detachment. Shoulder not, therefore, responsibilities which are not yours. This is one of the hardest lessons an initiate has to learn before he can be admitted as an active worker into the Hierarchy of Love. [406]

Em thân mến, em suy nghĩ sáng suốt khi cảm xúc của người khác không lấn át em và cuốn thể cảm dục của em vào trạng thái đồng nhất với thể cảm dục của họ. Khi đó, hãy từ chối để không bị choáng ngợp và không coi mình là người thất bại ở một khía cạnh nào đó, khi những người khác không đáp ứng được các vấn đề như họ nên làm. Phản ứng của người khác không phải là trách nhiệm của em. Em có trách nhiệm cung cấp cho họ sức mạnh và sự tách rời. Do đó, đừng gánh vác những trách nhiệm không phải của em. Đây là một trong những bài học khó nhất mà một điểm đạo đồ phải học trước khi y có thể được thừa nhận là một người hoạt động tích cực trong Thánh Đoàn của Tình Yêu. [406]

Life holds for you fresh changes. Be not dismayed, for those changes indicate an open door and a wider field for loving service.

Cuộc sống giữ cho em những thay đổi mới. Đừng nản lòng, vì những thay đổi đó cho thấy một cánh cửa rộng mở và một lĩnh vực rộng lớn hơn để phụng sự đầy yêu thương.

NOTE: This disciple stands steady in the Tibetan’s Ashram.

LƯU Ý: Vị đệ tử này đứng vững vàng trong Ashram của Chân sư Tây Tạng.

Quyển II

January 1940—Tháng 1 năm 1940

Life has been so difficult for you, brother of mine, that I hesitate (because I have an understanding of much that you are enduring) to lay upon you any further burden of self-discipline or more of the life of introspection. You have stood in the midst of your world and watched it come down, crashing around you; you have stood as a tower of strength to those who are tied to you in the closest links and have not [643] failed them; you have preserved your values clear whilst seeing the material values dissolve into thin air. That you still have a few personal glamours and are still taken in by your own high grade reactions to circumstance and people is of course true but I question whether anything is to be gained through your focussing your attention upon them at this time.

Cuộc sống đối với em quá khó khăn, em thân mến, đến nỗi tôi ngần ngại (vì tôi hiểu rất nhiều điều mà em đang phải chịu đựng) đặt lên vai em thêm bất kỳ gánh nặng nào về kỷ luật tự giác, hoặc nhiều hơn nữa về cuộc sống nội tâm. Em đã đứng giữa thế giới của mình và chứng kiến nó đổ sập xuống xung quanh em; em đã đứng như một tòa tháp của sức mạnh cho những người gắn bó với em trong những liên kết gần gũi nhất, và đã không làm họ thất vọng; [643] em đã bảo tồn các giá trị của mình rõ ràng trong khi nhìn thấy các giá trị vật chất tan thành mây khói. Việc em vẫn còn một vài ảo cảm cá nhân và vẫn bị thu hút bởi những phản ứng cao cấp của chính em đối với hoàn cảnh và con người tất nhiên là đúng, nhưng tôi đặt câu hỏi liệu em có đạt được điều gì khi tập trung sự chú ý của mình vào chúng vào lúc này hay không.

Stand steady, therefore, and be not unduly distressed. Avoid at least one glamour and that is the glamour that it is your task to shoulder all responsibilities and make all final decisions. Leave people, brother of old, the opportunity which you yourself so much welcome, of learning the needed lessons. Seek not unduly to lift and shield, for the shielding mother-complex is in itself a glamour.

Do đó, hãy đứng vững và đừng quá đau khổ. Hãy tránh ít nhất một ảo cảm, và đó là ảo cảm rằng nhiệm vụ của em là gánh vác mọi trách nhiệm và đưa ra mọi quyết định cuối cùng. Huynh đệ của ngày xưa, hãy để lại cho mọi người cơ hội, việc mà bản thân em rất hoan nghênh, để học những bài học cần thiết. Đừng tìm cách nâng và che chắn quá mức, vì phức cảm của người mẹ che chắn chính là một ảo cảm.

My love and strength is at your service.

Tình yêu và sức mạnh của tôi dành cho việc phụng sự của em.

August 1940—Tháng 8 năm 1940

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

One of the outstanding characteristics of the pledged disciple is that he learns to stand steady and unmoving no matter what may be happening to him or around him. Much is happening to disciples these days for they bear the brunt of the world’s cataclysm. You may perhaps find this an astonishing statement but I would ask you to remember that they meet the prevalent conditions on all three planes simultaneously and are at the same time endeavouring to live as souls. The accuracy of my statement is, therefore, apparent if you will ponder for a few minutes on the implications. There is appalling suffering everywhere. Physically and emotionally, people throughout the world are handling the maximum of pain. The accepted disciple, however, is suffering also mentally and to this must be added his capacity to identify himself with the whole; his trained imagination also presents special difficulty for he can include possibilities which others may not envisage, and his sweep or grasp of the plan is presumably greater; he is also endeavouring to apply his knowledge of this plan to the immediate environing [644] situation and is strenuously attempting to understand and at the same time to interpret to others, no matter what he may be undergoing in his own personal life.

Một trong những đặc điểm nổi bật của đệ tử thệ nguyện là y học cách đứng vững vàng và không xao động cho dù điều gì có thể xảy ra với y hoặc xung quanh y. Nhiều điều đang xảy ra với các đệ tử ngày nay vì họ phải gánh chịu gánh nặng của cơn đại hồng thủy của thế giới. Có lẽ em thấy đây là một phát biểu đáng kinh ngạc nhưng tôi yêu cầu em nhớ rằng họ đáp ứng với những điều kiện phổ biến trên cả ba cõi đồng thời, và cùng lúc nỗ lực để sống như những linh hồn. Do đó, tính chính xác trong tuyên bố của tôi là hiển nhiên nếu em chịu suy ngẫm trong vài phút về những hàm ý. Có đau khổ kinh hoàng ở khắp mọi nơi. Về thể chất và tình cảm, mọi người trên khắp thế giới đang phải đối mặt với nỗi khổ đau tối đa. Tuy nhiên, người đệ tử chính thức cũng đang đau khổ về mặt thể trí, và thêm vào điều này là khả năng của y để tự đồng hoá với tổng thể; trí tưởng tượng được rèn luyện của y cũng gây ra khó khăn đặc biệt vì y có thể bao gồm những khả năng mà những người khác có thể không hình dung ra, và khả năng nắm bắt Thiên Cơ của y có lẽ là lớn hơn; [644] y cũng đang cố gắng áp dụng kiến thức của mình về Thiên Cơ này vào hoàn cảnh kế cận, và đang cố gắng hết sức để hiểu và đồng thời diễn giải cho người khác, dù cho y có thể đang trải qua điều gì trong cuộc sống cá nhân của mình.

In many cases, such as yours, environing conditions and chosen associates tend to complicate matters and you are, therefore, today facing your major life crisis and, I would add, you are facing it satisfactorily.

Trong nhiều trường hợp, chẳng hạn như trường hợp của em, các điều kiện xung quanh và các cộng sự được chọn có xu hướng làm phức tạp hóa vấn đề,và do đó, hôm nay em đang đối mặt với cuộc khủng hoảng lớn trong cuộc đời mình, và tôi muốn nói thêm, em đang đối mặt với nó một cách thỏa đáng.

There are many types of crisis in the lives of all aspirants, but in the case of those who are pledged disciples there are always two major crises in their lives: There is first of all the crisis of opportunity and its wise recognition. At some time, every disciple is faced with some determining choice which leads eventually to the distinctive nature of his life service. This usually takes place between the ages of twenty-five and forty, usually around the age of thirty-five. I refer not here to the choice which every able bodied and sane man has to take when he determines his life work, his place of living and his life associates. I refer to a free choice made when these other lesser choices have been made. Such a choice came to you in your earlier years. This crisis of opportunity relates ever to life service. This is true in spite of karma or environing conditions. It is not a choice of the personality, based upon expedient or earthly motives, necessity or anything else. It is a choice based upon the relation of the soul to the personality and only confronts disciples.

Có nhiều loại khủng hoảng trong cuộc sống của tất cả những người chí nguyện, nhưng trong trường hợp của những đệ tử đã thệ nguyện thì luôn có hai cuộc khủng hoảng lớn trong cuộc đời họ: Trước hết là cuộc khủng hoảng về cơ hội và sự nhận biết khôn ngoan về nó. Vào một lúc nào đó, mỗi đệ tử phải đối mặt với một sự lựa chọn quyết định nào đó mà cuối cùng dẫn đến bản chất đặc biệt của sự phụng sự suốt đời của mình. Điều này thường diễn ra trong độ tuổi từ hai mươi lăm đến bốn mươi, thường là khoảng ba mươi lăm tuổi. Ở đây tôi không đề cập đến sự lựa chọn mà mọi người khỏe mạnh và lành mạnh phải thực hiện khi anh ta xác định công việc cuộc đời mình, nơi sinh sống và những người cộng tác với anh ta. Tôi đề cập đến một lựa chọn tự do được thực hiện khi những lựa chọn nhỏ hơn khác đã được thực hiện. Một sự lựa chọn như vậy đã đến với em trong những năm đầu của em. Cuộc khủng hoảng cơ hội này bao giờ cũng liên quan đến phụng sự đời sống. Điều này đúng bất chấp nghiệp quả hay điều kiện môi trường. Nó không phải là sự lựa chọn của cá nhân, dựa trên những động cơ thích hợp hoặc trần gian, sự cần thiết hay bất cứ điều gì khác. Đó là một sự lựa chọn dựa trên mối quan hệ của linh hồn với phàm ngã và chỉ đối diện với các đệ tử.

The second crisis is the crisis of expression. This usually comes towards the later years of a disciple’s life. It concerns his stabilised life tendency and puts to the test all that he believes and for which he has stood and fought throughout his life experience. It is ever a hard and bitter test, going to the very roots of his life, and for those in preparation for initiation it is peculiarly acute. The conditions of the test may apparently seem no worse than the tests and difficulties which assault other people but, as I have pointed out above, they have to be met on all planes at once. Soul energy is ever involved thereby and this intensifies the response of each individual body in the lower man and also the personality as a whole, the integrated man. The stage of responsiveness which every disciple has achieved in relation to his environment, [645] his associates and his service greatly aggravates his difficulties. I am explaining this somewhat in detail as I am anxious to have you comprehend the nature of your problem and so be able to handle it with increased poise, understanding and triumph. Behind you lies a crisis of opportunity; you met it well. Today you face your crisis of expression and you will come through; true triumph is dependent upon specific achievement upon the inner planes and upon wresting the true values out of any situation, and of these, values based upon the physical plane are by far the least important.

Cuộc khủng hoảng thứ hai là cuộc khủng hoảng thể hiện. Điều này thường xảy ra vào những năm cuối đời của một đệ tử. Nó liên quan đến xu hướng sống ổn định của y và thử thách tất cả những gì y y tin tưởng cũng như những gì y y đã đứng vững và chiến đấu trong suốt cuộc đời mình. Đó luôn là một thử thách khó khăn và cay đắng, đi đến tận gốc rễ của cuộc đời họ, và đối với những người chuẩn bị điểm đạo thì nó đặc biệt gay gắt. Các điều kiện của bài kiểm tra dường như không tệ hại hơn các bài kiểm tra và khó khăn tấn công những người khác, nhưng, như tôi đã chỉ ra ở trên, chúng phải được đáp ứng trên tất cả các cõi giới cùng lúc. Do đó, năng lượng của linh hồn luôn được có liên quan, và điều này tăng cường sự đáp ứng của mỗi thể trong phàm ngã và cả phàm ngã như một tổng thể, con người tích hợp. Mức độ đáp ứng mà mỗi đệ tử đã đạt được trong mối quan hệ với môi trường của mình, [645] với những người cộng sự và sự phụng sự của y làm trầm trọng thêm những khó khăn của y. Tôi đang giải thích điều này một cách chi tiết vì tôi nóng lòng muốn em hiểu được bản chất vấn đề của mình, và để có thể xử lý nó với tư thế đĩnh đạc, hiểu biết và thành công hơn. Phía sau em là cuộc khủng hoảng về cơ hội và em đã đáp ứng nó tốt. Hôm nay em phải đối mặt với cuộc khủng hoảng thể hiện và em sẽ vượt qua; chiến thắng thực sự phụ thuộc vào thành tựu cụ thể trên các cõi bên trong và vào việc giành lấy các giá trị đích thực từ bất kỳ tình huống nào, và trong số này, các giá trị dựa trên cõi vật lý cho đến nay là ít quan trọng nhất.

If you will, all of you, study the instructions given by me to the individual members of the group and to the group itself, you will find that I am giving you definite instructions in the Way of Initiation. Your response and your search lies, however, in the field of esoteric recognition more than in the field of the reception of new facts. So much has been given out in the past few years and decades anent initiation; it has largely been made exoterically, and received exoterically and the true import of the teaching has been veiled. My task with you is not so much the impartation of new facts, truths, points of view and interest, but the awakening into reality of that which your mind already has received as theory and hypothesis.

Nếu em, tất cả các em, chịu nghiên cứu những chỉ dẫn do tôi ban cho từng thành viên trong nhóm và cho chính nhóm, các em sẽ thấy rằng tôi đang ban cho các em những chỉ dẫn rõ ràng về Con đường Điểm đạo. Tuy nhiên, câu trả lời của em và sự tìm kiếm của em nằm trong lĩnh vực nhận thức bí truyền nhiều hơn là trong lĩnh vực tiếp nhận các sự kiện mới. Rất nhiều thứ đã được đưa ra trong vài năm và nhiều thập kỷ gần đây về điểm đạo; phần lớn nó đã được biến thành công truyền, được tiếp nhận một cách công truyền và ý nghĩa thực sự của giáo huấn đã bị che đậy. Nhiệm vụ của tôi với em không phải là truyền đạt những sự kiện, sự thật, quan điểm và mối quan tâm mới, mà là đánh thức trở thành hiện thực những gì mà tâm trí em đã tiếp nhận dưới dạng lý thuyết và giả thuyết.

You stand today, my brother, at a major point of crisis and you stand alone. Those in your immediate environment are of no special service to you for they are not yet upon the path of discipleship. They are in the earliest stages of the path of probation and are unaware of it also. You have, therefore, only three sources of strength:

Huynh đệ của tôi, hôm nay em đứng trước thời điểm khủng hoảng nghiêm trọng và em đứng một mình. Những người trong môi trường gần gũi của em không phụng sự gì đặc biệt cho em vì họ chưa bước trên Con Đường Đệ Tử. Họ đang ở giai đoạn đầu tiên của Con Đường Dự Bị và cũng không biết về điều đó. Do đó, em chỉ có ba nguồn sức mạnh:

1. First and foremost, your contact with your own soul through meditation, reflection and joy.

1. Đầu tiên và quan trọng nhất là sự tiếp xúc của em với linh hồn của chính mình thông qua tham thiền, suy ngẫm và niềm vui.

2. Your contact with me, your Master, because through me some of the strength of the world of souls and of the Hierarchy can reach you.

2. Sự tiếp xúc của em với tôi, Chân sư của em, bởi vì thông qua tôi, một số sức mạnh của thế giới linh hồn và của Thánh đoàn có thể đến được với em.

3. Your group brothers in this new seed group.

3. Nhóm huynh đệ trong nhóm hạt giống mới này.

I would like to point out that in these three contacts you have the three aspects of divine expression appearing—from [646] the angle of stimulation and of vitalising power—and so three types of power are made available. Beginning with the lowest contact, your group brothers, you have the intelligent activity and consequent stimulation upon the physical plane of your contact with them; through your soul contact, the love aspect of divinity can be made manifest in you; and through your hierarchical contact, the will of God can pour into you. Thus all the three aspects of the divine nature can pour into you and meet with response from the three aspects of your lower manifested expression; thus you can become subservient to the divine. Ponder on this and seek to establish these contacts firmly and upon sound non-emotional lines.

Tôi muốn chỉ ra rằng trong ba tiếp xúc này, em có ba phương diện của biểu hiện thiêng liêng xuất hiện—từ góc độ kích thích và của quyền năng tiếp sinh lực—và vì thế ba loại năng lực có sẵn. [646] Bắt đầu với sự tiếp xúc thấp nhất, tức là những huynh đệ trong nhóm của em, em có hoạt động thông minh và kết quả là sự kích thích trên cõi trần khi em tiếp xúc với họ; thông qua sự tiếp xúc linh hồn của em, khía cạnh bác ái của Thiên Tính có thể được biểu lộ trong em; và qua sự tiếp xúc Huyền Giai của em, ý chí của Thượng Đế có thể tuôn đổ vào em. Như vậy, tất cả ba phương diện của bản chất thiêng liêng có thể tuôn đổ vào em, và được ba thể của phàm ngã em đáp ứng; do đó em có thể trở thành phục tùng Thiên Tính. Hãy suy ngẫm về điều này và tìm cách thiết lập những mối liên hệ này một cách chắc chắn và dựa trên những đường lối không cảm xúc lành mạnh.

You have a particularly interesting group of life forces or energies conditioning you, interesting because of the specific combination. The saving grace of your life expression has been your second ray astral body because the combination of a first ray soul, a fifth ray personality and a third ray physical expression might have resulted in a hard, concrete materialistic person. These rays are the ones which have produced what is called the Prussian type of mind. Incidentally, this ray combination produced your karmic relationships in this life. Fortunately for you, your past immediate incarnation as a personality was overwhelmingly second ray and of this you brought over a second ray astral nature and a fourth ray mental equipment. Hence the balancing in two directions and hence also the general trend of your life conditioning.

Em có một nhóm sinh lực hoặc năng lượng đặc biệt thú vị chi phối em, thú vị vì sự kết hợp cụ thể. Ân sủng cứu rỗi cho biểu hiện cuộc sống của em là thể cảm dục cung hai của em, bởi sự kết hợp của linh hồn cung một, phàm ngã cung năm và thể vật lý cung ba có thể đã dẫn đến một người duy vật cứng rắn, cụ thể. Những cung này là những cung đã tạo ra cái được gọi là loại “tâm trí Phổ”. Ngẫu nhiên, sự kết hợp cung này tạo ra các mối quan hệ nghiệp quả của em trong cuộc sống này. May mắn thay cho em, kiếp trước liền kề đây của em có một phàm ngã chủ yếu thuộc cung hai, và nhờ đó em đã mang lại thể cảm dục cung hai và một thể trí cung bốn [trong kiếp này]. Do đó, sự cân bằng theo hai hướng và do đó cũng là xu hướng chung của việc điều hòa cuộc sống của em.

It was your first ray lines of force which placed you in the particular locality in which you live and brought your life partner to you. It was your second ray background and its effects in your present life expression which hastened your affiliation with myself and brought to you your particular group of brothers in the new seed group. This information may prove of use to you even if it only serves to strengthen your faith and to indicate to you the reasonableness of the situation which your circumstances are forcing you to meet.

Chính các đường hướng sức mạnh thuộc cung một của em đã đặt em vào địa phương cụ thể nơi em sống, và mang người bạn đời của em đến với em. Chính bối cảnh cung hai của em và những ảnh hưởng của nó trong biểu hiện cuộc sống hiện tại của em đã thúc đẩy em nhanh chóng liên kết với tôi và mang đến cho em nhóm huynh đệ đặc biệt của em trong nhóm hạt giống mới. Thông tin này có thể hữu ích đối với em ngay cả khi nó chỉ giúp củng cố niềm tin của em và cho em thấy tính hợp lý của tình huống mà hoàn cảnh buộc em phải đối mặt.

Therefore, your major need is to strengthen and preserve the three contacts which form the background of your spiritual [647] life: your soul, your relation with me and your connection with your group brothers. By so doing, the sense of universality and of an expanded consciousness will grow and deepen and enable you to achieve that sense of proportion which will reveal the little self as an integral part of the great Self or Whole. By this statement I refer not only to your relation between the soul and the personality but to your relation—as a living entity—to the greater whole of which Humanity and the Hierarchy are integral parts. I would suggest, therefore, a line of thought or of meditation which will deepen and strengthen these attitudes. To this end I am going to suggest five points of recollection for you each day:

Do đó, nhu cầu chính yếu của em là củng cố và duy trì ba mối liên hệ tạo thành nền tảng cho đời sống tinh thần của em: [647] linh hồn em, mối quan hệ của em với tôi, và mối liên hệ của em với những huynh đệ trong nhóm của em. Bằng cách làm như vậy, ý thức về tính phổ quát và về một tâm thức mở rộng sẽ phát triển và sâu sắc hơn, cho phép em đạt được ý thức về tỷ lệ vốn sẽ tiết lộ cái tôi nhỏ bé như một phần không thể thiếu của Đại ngã hoặc Tổng thể. Bằng tuyên bố này, tôi không chỉ đề cập đến mối quan hệ của em giữa linh hồn và phàm ngã, mà còn đề cập đến mối quan hệ của em—với tư cách là một thực thể sống—với tổng thể vĩ đại hơn mà Nhân loại và Thánh đoàn là những bộ phận không thể tách rời. Do đó, tôi muốn đề xuất một đường hướng suy nghĩ hoặc tham thiền vốn sẽ đào sâu và củng cố những thái độ này. Để đạt được điều này, tôi sẽ gợi ý cho em năm điểm hồi ức mỗi ngày:

1. On awakening in the morning, before rising.

1. Khi thức dậy vào buổi sáng, trước khi thức dậy.

2. At noon.

2. Buổi trưa.

3. At sunset, whatever hour that may be.

3. Vào lúc hoàng hôn, bất kể giờ nào.

4. On retiring at night.

4. Vào lúc nghỉ ngơi ban đêm.

5. At the time of the group meditation, whenever you may decide to do it.

5. Vào thời điểm tham thiền nhóm, bất cứ khi nào em có thể quyết định thực hiện.

Thus a living continuity of sensed relationship will be established in your consciousness.

Do đó, sự liên tục sống động của mối quan hệ được cảm nhận sẽ được thiết lập trong tâm thức của em.

1. On awakening, sound the OM inaudibly and say: “I am one with the light which shines through my soul, my brothers and my Master.”

1. Khi thức dậy, hãy xướng linh từ OM không thành tiếng và nói: “Tôi là một với ánh sáng chiếu rọi qua linh hồn tôi, huynh đệ tôi và Chân sư của tôi.”

2. At noon, again sound the OM inaudibly and say with deep and slow reflection: “Naught separates me from my soul, my brothers and my Master. My life is theirs and theirs is mine.”

2. Vào buổi trưa, hãy xướng lần nữa âm thanh OM không thành tiếng và nói với sự suy tư sâu và chậm: “Không có gì ngăn cách tôi khỏi linh hồn tôi, các huynh đệ và Chân sư của tôi. Cuộc sống của tôi là của họ và của họ là của tôi.”

3. At sunset again sound the OM and say: “Naught can dim the love which flows between my soul and me, the little self. Naught can come between my brothers and my self. Naught can stop the flow of strength between me and my soul, between my brothers and my soul, between the Master of my life and me, His pledged disciple.” [648]

3. Vào lúc hoàng hôn, một lần nữa hãy xướng linh từ OM và nói: “Không gì có thể làm lu mờ tình yêu thương tuôn chảy giữa linh hồn tôi và tôi, cái tôi nhỏ bé. Không có gì có thể đến giữa huynh đệ tôi và bản ngã tôi. Không gì có thể ngăn được dòng sức mạnh giữa tôi và linh hồn tôi, giữa huynh đệ tôi và linh hồn tôi, giữa Chân sư của đời tôi và tôi, đệ tử thệ nguyện của Ngài.” [648]

4. On retiring, before you fall asleep, you again sound the OM and say: “From darkness lead us to light. I tread the way of life and light because I am a soul. With me there walk my brothers and my Master. Therefore within, without, and every side, there is light and love and strength.”

4. Khi đi ngủ, trước khi chìm vào giấc ngủ, em lại xướng linh từ OM và nói: “Từ bóng tối hãy dẫn chúng tôi đến ánh sáng. Tôi bước đi trên con đường của sự sống và ánh sáng bởi vì tôi là một linh hồn. Cùng tôi với tôi là các huynh đệ tôi, Chân sư của tôi. Vì vậy, bên trong, bên ngoài và mọi phía đều có ánh sáng, tình thương và sức mạnh.”

5. When doing the group meditation, begin to capitalise on this growing consciousness and before doing the work, link up with as much conscious realisation as possible with your soul, your brothers and myself, realising the indestructibility of the tie.

5. Khi thực hành tham thiền nhóm, hãy bắt đầu tận dụng tâm thức đang phát triển này, và trước khi thực hiện công việc, hãy kết nối, với sự nhận thức có ý thức càng nhiều càng tốt, với linh hồn của em, huynh đệ của em, và bản thân tôi, nhận ra tính không thể phá hủy của mối liên kết.

This work carried forward as a definite exercise will produce in you a deepened available strength and poise. It will only take a few seconds at each point or stated time, but those seconds will serve as points of crisis and of inpouring strength.

Công việc này được tiến hành như một bài tập xác định sẽ tạo ra trong em một sức mạnh sẵn có sâu sắc và sự đĩnh đạc. Sẽ chỉ mất vài giây tại mỗi thời điểm hoặc thời gian đã chỉ định, nhưng những giây đó sẽ đóng vai trò là điểm khủng hoảng và truyền sức mạnh.

August 1942—Tháng 8 năm 1942

1. I come to Thee, Lord of my Life, and from that point achieved, close at Thy feet I work.

1. Con đến với Ngài, Chúa tể của đời con, và từ điểm đạt được, con làm việc gần với chân Ngài.

2. Between me and the outer world there appears a haze of blue. That blue protects and hence I have no fear. Through it, I may not pass.

2. Giữa tôi và thế giới bên ngoài xuất hiện một làn khói xanh. Màu xanh đó bảo vệ và do đó tôi không sợ hãi. Thông qua nó, tôi không thể vượt qua.

3. And from this hour and henceforth upon the Way, I seek to Be. I seek no more to know, because this life has taught me how to know and with this knowledge gained, I now can serve by Being.

3. Và từ giờ này trở đi trên Con đường, tôi tìm cách Hiện hữu. Tôi không tìm kiếm để biết nữa, bởi vì cuộc sống này đã dạy tôi cách biết và với kiến thức này có được, giờ đây tôi có thể phụng sự bằng Bản thể.

4. Before me streams the Path of Light. I see the Way. Behind me lies the mountain path, with stones and cobbles on the way. Around me are the thorns. My feet are tired. But straight ahead stretches the Lighted Way and on that Way I walk.

4. Trước mặt tôi là Con Đường Ánh Sáng. Tôi thấy Con đường. Đằng sau tôi là con đường núi, với đá và sỏi trên đường đi. Xung quanh tôi là những gai nhọn. Chân tôi mỏi nhừ. Nhưng thẳng về phía trước là Con đường được thắp sáng trải dài, và trên Con đường đó tôi bước đi.

5. Pain comes from form-attachment. It takes two forms: Attachment to the forms of earth, of men and place; attachment to the truth. They both bring pain and pain must cease. Ask your soul how? [649]

5. Nỗi đau đến từ sự bám chấp hình tướng. Nó có hai hình thức: Gắn bó với các hình dạng của trần gian, của con người và nơi chốn; gắn bó với sự thật. Cả hai đều mang lại đau đớn và đau đớn phải chấm dứt. Hãy hỏi linh hồn em như thế nào? [649]

6. The threefold load, the blazing star, the path of light, the greater Star and through them all the throbbing of the heart of love, streaming from out the Ashram of D.K. enfolding all and thee.

6. Tải trọng tam phân, ngôi sao rực rỡ, con đường ánh sáng, Ngôi sao vĩ đại hơn và qua chúng tất cả nhịp đập của trái tim yêu thương, tuôn ra từ Ashram của Chân sư DK bao trùm tất cả và em.

September 1943—Tháng 9 năm 1943

MY BELOVED BROTHER:

HUYNH ĐỆ YÊU QUÝ CỦA TÔI:

A.A.B. has just called my attention to the six statements which I gave you to reflect upon more than a year ago. Knowing all that you had been through in the interim and are now passing through, she realised how extremely apposite and suitable they had proved to be. Pain has engulfed you and yours; anxiety along many lines, and all of them severely testing, has been your lot. Had you not been “close to the feet of the Lord of your Life,” you would have reached what might have been regarded as the valley of desperation.

AAB vừa nhắc tôi chú ý của tôi đến sáu phát biểu mà tôi đã đưa ra để em suy ngẫm hơn một năm trước. Khi biết tất cả những gì em đã trải qua trong thời gian tạm thời và hiện đang trải qua, bà nhận ra rằng chúng đã được chứng minh là vô cùng phù hợp. Nỗi đau đã nhấn chìm em và những gì của em; lo lắng dọc theo nhiều đường hương, và tất cả chúng đều là thử thách nghiêm trọng, đã là số phận của em. Nếu em không “gần với bàn chân Chúa của đời mình,” thì em đã đến nơi có thể được coi là thung lũng tuyệt vọng.

Yet you have not been truly desperate because the “haze of blue” has protected you, your group brothers have stood as a shield around you, and the strength of my Ashram has been at your disposal. People often fail to realise the nature and the potency of that strength—a strength that comes from a deep impersonal love and from the realisation that, in the light of the eternal verities, all pain is but temporary, all trouble and struggle ephemeral, and that we have passed oft this way before upon the unhappy little planet of suffering which we call the Earth. We come to know that we shall not pass this way so oft again. Did you grasp the significance of that sentence, my brother?

Tuy nhiên, em chưa thực sự tuyệt vọng vì “làn sương xanh” đã bảo vệ em, những huynh đệ trong nhóm của em đã đứng như một lá chắn xung quanh em, và sức mạnh của Ashram của tôi đã sẵn sàng cho em sử dụng. Người ta thường không nhận ra bản chất và tiềm năng của sức mạnh đó—một sức mạnh đến từ một tình thương vô ngã sâu sắc, và từ việc nhận ra rằng, dưới ánh sáng của những chân lý vĩnh cửu, mọi nỗi đau chỉ là tạm thời, mọi rắc rối và đấu tranh đều là phù du, và rằng trước đây chúng ta đã thường đi qua con đường này trên hành tinh nhỏ bất hạnh đầy đau khổ mà chúng ta gọi là Trái đất. Chúng ta biết rằng chúng tôi sẽ không đi qua con đường này quá thường xuyên nữa. Em có nắm được ý nghĩa của câu đó không, em thân mến?

Just as there are days in a year which seem to stand out because of their darkness and to be overcharged with blackness and agony, so there are lives which equally so stand out in a cycle of lives because of the varied experiences which they convey, the bitter piling up of pain and distress, and the handling of an accumulation of unhappy and oft agonising karma. But, my brother, all lives are not like this, and the fact that your present life has been for years so hard is the guarantee that you have worked off much karma, that you[650] stand infinitely freer and are less handicapped. The fruits of all this suffering you will reap as you enter your next incarnation.

Giống như có những ngày trong một năm dường như nổi bật vì sự tối tăm của chúng, và bị phủ đầy bóng tối và đau đớn, cũng vậy, có những cuộc đời cũng nổi bật không kém trong một chu kỳ của cuộc đời vì những trải nghiệm đa dạng mà chúng truyền tải, cay đắng chồng chất đau khổ, và xử lý sự tích lũy của nghiệp quả bất hạnh và thường là thống khổ. Nhưng, hỡi huynh đệ, tất cả kiếp sống không phải như vậy, và thực tế rằng cuộc sống hiện tại của em đã quá khó khăn trong nhiều năm là sự đảm bảo rằng em đã giải toả nhiều nghiệp quả, rằng em [650] đứng vô cùng tự do và ít trở ngại hơn. Thành quả của tất cả những đau khổ này em sẽ gặt hái được khi em bước vào kiếp sau.

So be of good cheer, and look forward and out towards a future of service and of joy, and this because you have endeavoured to live selflessly and to carry your load bravely, and because your life and deeds and your entire career have helped so many.

Vì vậy, hãy vui vẻ lên, hướng tới và hướng ra ngàoi đến một tương lai phụng sự và vui vẻ, và điều này bởi vì em đã nỗ lực sống vị tha và gánh vác gánh nặng của mình một cách dũng cảm, và bởi vì cuộc sống, hành động và toàn bộ sự nghiệp của em đã giúp đỡ rất nhiều người..

I would remind you that pain, when it is lived out mentally for others, is the worst kind of pain. This you know. But I would remind you that the capacity so to do and so to identify yourself with pain that is not specifically your own is something that all disciples have to master, because it is one of the first steps towards shouldering world pain and the agony of the human family, thus becoming a participant in the “fellowship of Christ’s sufferings” and a lifter of world burdens. We work and live on a planet of pain. Until a man is an initiate of high degree he cannot even begin to sense the reasons why this is so; he must perforce then take refuge in the trite platitudes that suffering humanity has evolved to account for things as they are. None of these in any way approximate the true reasons or give any real insight into the problem. Men must wait for understanding until they can no longer be hurt or limited by the pain of others. This follows when we have learnt to handle our own pain. Then and only then can they begin to lift the burden of humanity as a whole and do their responsible share in lightening it.

Tôi xin nhắc em rằng nỗi đau, khi nó được thể hiện một cách trí tuệ vì người khác, là nỗi đau tồi tệ nhất. Điều này em biết. Nhưng tôi muốn nhắc em rằng khả năng làm như vậy và do đó đồng hóa bản thân với nỗi đau không phải của riêng em là điều mà tất cả các đệ tử phải nắm vững, bởi vì đó là một trong những bước đầu tiên để gánh vác nỗi đau của thế giới, và nỗi thống khổ của gia đình nhân loại, do đó trở thành người tham gia vào “mối tương giao trong những đau khổ của Đức Christ” và là người nâng đỡ những gánh nặng của thế giới. Chúng ta làm việc và sống trên một hành tinh đau khổ. Cho đến khi một người là một điểm đạo đồ ở trình độ cao, y thậm chí không thể bắt đầu cảm nhận được những lý do tại sao điều này lại như vậy; sau đó y buộc phải nương tựa vào những điều tầm thường mà nhân loại đau khổ đã tiến hóa để giải thích cho mọi thứ như chúng vốn là. Không cái nào trong số này gần đúng với lý do thực sự hoặc đưa ra bất kỳ cái nhìn sâu sắc thực sự nào về vấn đề. Con người phải chờ đợi sự hiểu biết cho đến khi họ không còn có thể bị tổn thương hoặc bị giới hạn bởi nỗi đau của người khác. Điều này xảy ra sau khi chúng ta đã học cách xử lý nỗi đau của chính mình. Khi đó, và chỉ khi đó, họ mới có thể bắt đầu trút bỏ gánh nặng của nhân loại nói chung và thực hiện phần trách nhiệm của mình trong việc làm nhẹ gánh nặng đó.

We come again here to those contradictory and beautiful words: Isolated Unity. When one is isolated from form attachments and when one is freed for identification with the life aspect, then one can know the true meaning of unity, then one is released from pain and one is free to release others also.

Chúng ta lần nữa lại đến với những từ đẹp đẽ và mâu thuẫn đó: Sự Thống Nhất Biệt Lập. Khi một người được cô lập khỏi những ràng buộc về hình tướng và khi một người được tự do để đồng nhất với khía cạnh sự sống, thì người đó có thể biết được ý nghĩa thực sự của sự hợp nhất, khi đó người ta được giải thoát khỏi đau khổ và người ta cũng tự do giải thoát những người khác.

This you are learning, and it is the last great lesson for you this life. It takes some time to learn it, because it is one of the very few basic lessons, implicating principles which are inherent in the planetary life and requiring the implementing of the soul to arrive at true understanding. You have made much progress along this line during this life and [651] have no cause for self-depreciation or regrets. I tell you this for your assurance, and would ask you to rest back upon my words.

Điều này em đang học, và nó là bài học lớn cuối cùng cho em trong cuộc đời này. Phải mất một thời gian để học nó, bởi vì nó là một trong số rất ít bài học cơ bản, liên quan đến các nguyên lý vốn có trong sự sống hành tinh và đòi hỏi sự thực hiện của linh hồn để đạt được sự hiểu biết thực sự. Em đã đạt được nhiều tiến bộ trên con đường này trong kiếp sống này và [651] không có lý do gì để tự ti hay hối tiếc. Tôi nói với em điều này để đảm bảo với em, và mong em hãy dựa vào lời nói của tôi.

Keep busy with my work, my brother, for there is naught left for the true disciple but the work of the Ashram, which is the work of the Hierarchy, which is work for humanity. Such is the outgoing sequence. For you now, it is not so much the eager, active, outer service, of which you have done so much in the past years, but it is the standing steady, and so becoming a channel and a link. Remember with care the words I gave you last year: “I now can serve by Being.”

Hãy bận rộn với công việc của tôi, em thân mến, vì không còn gì cho người đệ tử chân chính ngoài công việc của Ashram, đó là công việc của Thánh Đoàn, là công việc cho nhân loại. Đó là trình tự. Đối với em bây giờ, đó không phải là phụng sự bên ngoài háo hức, tích cực, mà em đã làm rất nhiều trong những năm qua, nhưng mà là đứng vững chắc, và do đó trở thành một kênh và một liên kết. Hãy nhớ cẩn thận những lời tôi đã nói với em năm ngoái: “Bây giờ tôi có thể phụng sự bằng Hiện hữu.”

Do not strive so much, my brother. Accept life conditions as they are; acquiesce in the situation as it is; relax for the remainder of this incarnation, and exoterically rest from your labours and esoterically enter into light. Work not under such a sense of inner strain and effort. I refer not to the outer strains and stresses to which you are subjected for they exist and are hard and difficult. I refer to your own inner attitude of recognition and acquiescence, of Being and attainment.

Đừng phấn đấu nhiều như vậy, huynh đệ của tôi. Chấp nhận điều kiện cuộc sống như hiện tại; chấp nhận hoàn cảnh như hiện tại; thư giãn trong phần còn lại của kiếp sống này, và về mặt ngoại môn, nghỉ ngơi khỏi sự lao động của em và đi vào ánh sáng bí truyền. Đừng làm việc dưới cảm giác căng thẳng và nỗ lực bên trong như vậy. Tôi không đề cập đến những căng thẳng bên ngoài mà em phải chịu vì chúng tồn tại và khó khăn và khó khăn. Tôi đề cập đến thái độ bên trong của chính em về sự công nhận và bằng lòng, về Bản thể và sự đạt được.

Those are the four key thoughts for your personal reflection during the coming year. The year that is on its way will hold great changes for you but you are strong enough and experienced enough to carry through triumphantly. The coming months will hold for you revelation, and that revelation will enhance the light upon the Lighted Way which stretches out before you; they will hold opportunity for you also, if you learn the hard lesson of relinquishment, and when next year closes you may find yourself surprised at the distance you will find you have travelled, the enlightenment you may find you have gained, and the increased sphere of your subjective usefulness.

Đó là bốn suy nghĩ chính để em suy ngẫm trong năm tới. Một năm sắp tới sẽ có những thay đổi lớn đối với em nhưng em đủ mạnh mẽ và đủ kinh nghiệm để vượt qua một cách đắc thắng. Những tháng sắp tới sẽ mang đến cho em sự mặc khải, và sự mặc khải đó sẽ tăng cường ánh sáng trên Con đường được thắp sáng đang trải dài trước mặt em; chúng cũng sẽ nằm giữ cơ hội cho em, nếu em học được bài học khó khăn về sự từ bỏ, và khi năm tới kết thúc, em có thể thấy ngạc nhiên về khoảng cách mà em sẽ thấy mình đã đi, sự giác ngộ mà em có thể thấy mình đã đạt được và phạm vi tăng lên hữu ích chủ quan của em.

Remember—you are not alone. I stand by and carry you consciously within my aura.

Hãy nhớ rằng—em không đơn độc. Tôi sát cánh và mang em một cách có ý thức trong hào quang của tôi.

November 1944—Tháng 11 năm 1944

MY BELOVED FRIEND AND TRUSTED DISCIPLE:

NGƯỜI HUYNH ĐỆ YÊU THƯƠNG VÀ ĐỆ TỬ TIN CẬY CỦA TÔI:

My heart has gone out to you during the past year as you have struggled with fatigue, with loneliness, with foreboding [652] and with anxieties of many kinds. You have stood with constant steadiness and you must know by now how highly steadiness is regarded by the Hierarchy. These culminating years of your life have been years of great difficulty and much pain—not only for yourself but for others. They have been years wherein everything has been wrested from you, leaving you upon that “pinnacle of loneliness” about which I spoke to your brother, W.D.S., in my instruction to him last year. I would have you regard that pinnacle as an exalted place from which the new vision can be seen. That pinnacle can be turned into a mount of initiation.

Trái tim tôi đã hướng về em trong năm qua khi em phải vật lộn với sự mệt mỏi, với sự cô đơn, với những điềm báo [652] và với nhiều loại lo lắng. Em đã đứng với sự vững vàng liên tục, và bây giờ em phải biết rằng Thánh Đoàn đánh giá cao sự vững vàng như thế nào. Những năm đỉnh cao của cuộc đời em là những năm vô cùng khó khăn và nhiều đau đớn—không chỉ cho chính em mà còn cho những người khác. Đó là những năm mà mọi thứ đã bị tước đoạt khỏi tay em, khiến em rơi vào “đỉnh cao của sự cô đơn” mà tôi đã nói với huynh đệ của em, WDS, trong bài hướng dẫn của tôi cho em ấy vào năm ngoái. Tôi muốn em coi đỉnh cao đó là một nơi cao quý mà từ đó tầm nhìn mới có thể được nhìn thấy. Đỉnh cao đó có thể được biến thành đỉnh cao của điểm đạo.

You have passed the three score years and ten of ordinary living and you are privileged to look back upon a life of great usefulness and of much inner spiritual progress. You have disposed of much karma and are far freer than when you entered into incarnation.

Em đã vượt qua ba mươi lăm năm sống bình thường và em có vinh dự được nhìn lại một cuộc đời vô cùng hữu ích và có nhiều tiến bộ tinh thần bên trong. Em đã loại bỏ nhiều nghiệp quả và tự do hơn nhiều so với khi em nhập thế.

The crux of the lesson which you are now in process of learning is to refrain from expectation—from life, from people and from circumstances—except that expectation which concerns spiritual opportunity and your relation to my Ashram. Disciples need to regard the Ashram more definitely as a place of spiritual enveloping, if I may use so peculiar a phrase. They need to regard it as a circle of protection, remembering that if their consciousness can escape into the Ashram, they are in a place of complete security where naught can reach or hurt them. Neither pain nor anxiety can overwhelm the man who dwells in the consciousness of eternity; this sense of the eternal, coupled with the realisation of essential unity, marks all dwellers in an Ashram.

Mấu chốt của bài học mà em đang trong quá trình học tập là kiềm chế sự mong đợi—từ cuộc sống, con người và hoàn cảnh—ngoại trừ sự mong đợi liên quan đến cơ hội tinh thần và mối quan hệ của em với Ashram của tôi. Các đệ tử cần xem Ashram một cách chắc chắn hơn như một nơi bao bọc tinh thần, nếu tôi có thể sử dụng một cụm từ đặc biệt như vậy. Họ cần coi nó như một vòng tròn bảo vệ, nhớ rằng nếu tâm thức của họ có thể thoát vào Ashram, thì họ đang ở một nơi hoàn toàn an toàn, nơi không gì có thể tiếp cận hoặc làm hại họ. Nỗi đau hay sự lo lắng đều không thể lấn át con người sống trong tâm thức của vĩnh cửu; cảm giác vĩnh cửu này, cùng với việc nhận ra sự thống nhất thiết yếu, đánh dấu tất cả những người cư ngụ trong một Ashram.

Herein lies your safety in the vicissitudes of your life. I am not speaking idly or symbolically, nor am I referring to the usual platitudes expressed in the injunction “dwell in the eternal.” I refer definitely to the place of a disciple within an Ashram of one of the Masters, and in particular to your place within my Ashram. This place is a reality and not a dream or a figment of wishful thinking; it is a sphere of focussed awareness where the minds, the love, the aspiration and the spiritual consciousness of many meet, and meet in truth. Of this meeting you can—as many have and do—[653] become conscious. Avoid vagueness as you think of the Ashram with which you are affiliated. Oft I warn and urge disciples to concentrate upon their service and upon their outer contacts, and thus avoid concentration upon the Ashram and upon me, the Master of the Ashram. Knowing your circumstances and seeing into your future, I reverse the injunction in your case and urge you to make the Ashram a reality in your life and to count with greater definiteness and surety upon my presence there and my understanding welcome. Your natural diffidence and humility will permit this and protect me and the Ashram from any undue pressure on your part, even if—in the stress of circumstances—you were prompted to make it.

Đây là sự an toàn của em trong những thăng trầm của cuộc đời em. Tôi không nói một cách vu vơ hay tượng trưng, tôi cũng không đề cập đến những lời lẽ tầm thường thông thường được thể hiện trong mệnh lệnh “hãy ở trong vĩnh cửu”. Tôi đề cập dứt khoát đến vị trí của một đệ tử trong Ashram của một trong các Chân sư, và đặc biệt là vị trí của em trong Ashram của tôi. Nơi này là một thực tế và không phải là một giấc mơ hay một điều viển vông; đó là một lĩnh vực của nhận thức tập trung, nơi trí tuệ, tình thương, khát vọng và tâm thức tinh thần của nhiều người gặp nhau và gặp nhau trong sự thật. Về sự gặp gỡ này, em có thể—như nhiều người đã và đang làm— [653] trở nên ý thức. Tránh sự mơ hồ khi em nghĩ về Ashram mà em đang liên kết. Tôi thường cảnh báo và khuyến khích các đệ tử tập trung vào sự phụng sự của họ và các mối quan hệ bên ngoài của họ, và do đó tránh tập trung vào Ashram và vào tôi, Chân sư của Ashram. Biết hoàn cảnh của em và nhìn thấy tương lai của em, tôi đảo ngược lệnh trong trường hợp của em, và thúc giục em biến Ashram thành hiện thực trong cuộc sống của em, và tin tưởng một cách chắc chắn và chắc chắn hơn vào sự hiện diện của tôi ở đó, và sự chào đón hiểu biết của tôi. Sự tự tin và khiêm tốn bẩm sinh của em sẽ cho phép điều này và bảo vệ tôi và Ashram khỏi bất kỳ áp lực không đáng có nào từ phía em, ngay cả khi—trong hoàn cảnh căng thẳng—em được thúc giục phải làm điều đó.

I would outline for you a meditation which will suffice for your needs for a long time to come. I am not putting it in the ordinary form, for all of you in this group should now have reached the point at which you can formulate your own meditation and reflective approach. I only indicate to you the setting for certain seed thoughts.

Tôi sẽ vạch ra cho em một bài tham thiền đủ để đáp ứng nhu cầu của em trong một thời gian dài sắp tới. Tôi không đặt nó ở dạng thông thường, vì tất cả các em trong nhóm này bây giờ đã đạt đến điểm mà tại đó em có thể hình thành phương pháp tham thiền và suy ngẫm của riêng mình. Tôi chỉ chỉ ra cho em cách sắp đặt cho những tư tưởng hạt giống nhất định.

I suggest that you think, first of all, of the Ashram, my Ashram, as a great centre of energy with which you (in your place and in your own way) are privileged to establish contact. See the Ashram as a sphere of radiant, magnetic light; then see me, as you know me, at the centre of that sphere, both emitting and receiving light, via the Christ and via the Ashram of which I was at one time a part—the Ashram of the Master K.H. See yourself also as a soul in contact with first ray energy, and thus contributing some of this energy, reaching you via the Ashram of the Master M., to the light and power of my Ashram. Having thus served and been served, and having taken your group brothers into your consciousness and recognised them as within the ashramic light, you can proceed to take three ideas or symbolic sentences as your theme for reflection, during the next few years. They will suffice to meet your need and to evoke in you the necessary spiritual attitudes.

Tôi gợi ý rằng trước hết em hãy nghĩ về Ashram, Ashram của tôi, như một trung tâm năng lượng vĩ đại mà em (ở vị trí của em và theo cách riêng của em) có đặc quyền thiết lập liên hệ. Hãy xem Ashram như một quả cầu ánh sáng từ tính rạng rỡ; sau đó nhìn thấy tôi, như em biết tôi, ở trung tâm của quả cầu đó, vừa phát ra vừa nhận được ánh sáng, thông qua Đức Christ và thông qua Ashram mà tôi đã từng là một phần—Ashram của Chân sư KH. Hãy xem chính em như một linh hồn tiếp xúc với năng lượng của cung một, và do đó đóng góp một phần năng lượng này, đến với em qua Ashram của Chân sư M., cho ánh sáng và sức mạnh của Ashram của tôi. Do đó đã phụng sự và được phụng sự, và đã đưa những huynh đệ trong nhóm của em vào tâm thức của em và nhận ra họ như trong ánh sáng ashram, em có thể tiếp tục lấy ba ý tưởng hoặc câu biểu tượng làm chủ đề để suy ngẫm trong vài năm tới. Chúng sẽ đủ để đáp ứng nhu cầu của em và gợi lên trong em những thái độ tâm linh cần thiết.

I. The Cross, erected high, reaches from the pinnacle [654] upon which I stand into the place of light, where dwells my Master. Against that Cross there rests a ladder. The golden Cross and the ladder of pure light are one, and by their means I rise. Upward I look and see an outstretched hand. Downward I look and see the many hands demanding aid. With gladness and with hope, I recognise the purpose of the two hands I possess. I climb the ladder, hard as it may seem, with both my hands outstretched—the one above my head to find it clasped with strength, the other down below to find it full of power to lift.

I. Thập Giá, dựng cao, vươn từ đỉnh cao [654] nơi tôi đứng đến nơi ánh sáng, nơi Chân sư tôi ngự. Dựa vào Thập giá đó có một cái thang. Thập giá vàng kim và chiếc thang của ánh sáng thuần khiết là một, và nhờ chúng mà tôi vươn lên. Tôi nhìn lên trên và thấy một bàn tay dang ra. Tôi nhìn xuống và thấy nhiều bàn tay đang yêu cầu giúp đỡ. Với niềm vui và hy vọng, tôi nhận ra mục đích của hai bàn tay mà tôi sở hữu. Tôi leo lên thang, dù có vẻ khó khăn, với cả hai tay dang rộng—tay ở trên đầu tôi thấy nó được siết chặt bằng sức mạnh, tay kia ở bên dưới để thấy nó có đầy đủ sức mạnh để nhấc lên.

II. A burning sea of flame. Beyond, a radiant sun. Behind, a world of darkness, gloom and heavy rain—a rain of tears. There, in the centre of a fire I stand, my eyes upon the sun. The vortex of the fire, the flaming rays of heat cast outward by the sun, blend with my fire and lo! it disappears. The greater fire blends with and consumes the little one. I turn and pass back—out of the light and warmth—into the world of gloom and mist and, as I turn, I hear a voice crying aloud: “Well done. Pass through the gloom; enter the mist; dry up the rain and tears and find yourself upon the other side, and near my heart.”

II. Một biển lửa rực cháy. Ngoài kia, một mặt trời rạng rỡ. Đằng sau, một thế giới của bóng tối, u ám và mưa lớn—một cơn mưa nước mắt. Ở đó, ở giữa ngọn lửa tôi đứng, mắt nhìn lên mặt trời. Vòng xoáy của ngọn lửa, những tia nhiệt rực rỡ do mặt trời tỏa ra, hòa quyện với ngọn lửa của tôi và Kìa! Nó biến mất. Ngọn lửa lớn hơn hòa quyện và thiêu rụi ngọn lửa nhỏ. Tôi quay lại và quay trở lại—ra khỏi ánh sáng và hơi ấm—vào thế giới của bóng tối và sương mù, và khi quay lại, tôi nghe thấy một giọng nói lớn: “Làm tốt lắm. Đi qua bóng tối; đi vào sương mù; Hãy lau khô mưa và nước mắt và thấy mình ở phía bên kia, và gần trái tim tôi.

III. A garden full of flowers, of bees and glowing light and sun. I see a wall which separates the garden from the world of men. Beyond its gates I see the forms of those who long to enter. Into my heart there come the words, spoken I know not when: “The key is in your hands; open the gates and let the crowd in. This you can do, for the garden now is yours and yet is theirs, though you have entered first. Open the gate and welcome with a smile and words of love and cheer the sad, unwelcome, miserable crowd. The garden stands between the outer world and the inner sacred place you call my Ashram. Within the garden take your stand. There rest. Move forward to the gate at need, returning ever to the place of rest. Open the door when called upon, [655] but retain the key. The surging crowd will touch you not nor hurt the garden in its loveliness.”

III. Một khu vườn đầy hoa, đầy ong và ánh sáng và mặt trời rực rỡ. Tôi thấy một bức tường ngăn cách khu vườn với thế giới của con người. Bên ngoài cánh cổng của nó, tôi thấy hình dáng của những người mong muốn được vào. Trong tim tôi có những lời đã được thốt ra mà tôi không biết khi nào: “Chìa khóa nằm trong tay em; mở cổng và để đám đông vào. Em có thể làm điều này, vì khu vườn bây giờ là của em và cũng là của họ, mặc dù em đã bước vào trước. Hãy mở cổng và chào đón bằng một nụ cười và những lời yêu thương và cổ vũ đám đông buồn bã, không được chào đón và đau khổ. Khu vườn đứng giữa thế giới bên ngoài và nơi thiêng liêng bên trong mà em gọi là Ashram của tôi. Trong khu vườn có chỗ đứng của em. Ở đó nghỉ ngơi. Tiến tới cổng khi cần, trở về nơi an nghỉ. Hãy mở cửa khi được kêu gọi, [655] nhưng giữ lại chìa khóa. Đám đông đang dâng cao sẽ không chạm vào em cũng như không làm tổn thương khu vườn trong vẻ đẹp của nó.”

Behind these three symbolic stanzas, if I may so call them, are veiled three needed lessons which you must learn and master. I am not telling you what these lessons are, for the joy of discovery must be yours.

Đằng sau ba stanza mang tính biểu tượng này, nếu tôi có thể tạm gọi như vậy, ẩn chứa ba bài học cần thiết mà em phải học và nắm vững. Tôi không nói cho em biết những bài học này là gì, vì niềm vui khám phá phải là của em.

I do not need to tell you either that I send you with constancy thoughts of strength and sustaining understanding. Long years have taught you that my strength goes out to you when your own inner strength is called into play and is used by you consciously and rightly. I give not what you yourself can provide, but I can and do supplement your strength when need demands. Rest, therefore, brother of mine; be not unduly concerned at the plight of those you love. Trust their own souls and know that they, alone, must learn the needed lessons. Rest in peace.

Tôi cũng không cần phải nói với em rằng tôi gửi đến em những tư tưởng liên tục về sức mạnh và sự hiểu biết bền vững. Những năm dài đã dạy em rằng sức mạnh của tôi sẽ truyền cho em khi sức mạnh bên trong của chính em được phát huy và được em sử dụng một cách có ý thức và đúng đắn. Tôi không cho những gì em có thể cung cấp, nhưng tôi có thể và sẽ bổ sung sức mạnh cho em khi cần. Vì vậy, hãy yên nghỉ, em thân mến; không quan tâm quá mức đến hoàn cảnh của những người em yêu thương. Hãy tin tưởng vào linh hồn của chính họ và biết rằng họ, một mình, phải học những bài học cần thiết. Hãy An Nghỉ.

August 1946—Tháng 8 năm 1946

MY TRIED AND LOVED DISCIPLE:

ĐỆ TỬ ĐÃ ĐƯỢC THỬ THÁCH VÀ YÊU THƯƠNG CỦA TÔI:

The last few years have been years of agony and distress for you, both physically and mentally. You have endured almost to the limit—in pain of body, in agony of anxiety, through financial stringency and its wearing uncertainty, and in the distress which comes from watching others suffer. You have stood steady, and in your steadiness, serenity and staunchness you have brought joy to my heart and strength to the Ashram. I would have you know this.

Vài năm qua là những năm đau khổ và phiền muộn đối với em, cả về thể xác lẫn tâm trí. Em đã chịu đựng gần như đến giới hạn—đau đớn về thể xác, đau đớn vì lo lắng, qua sự ngặt nghèo về tài chính và sự bấp bênh đeo đẳng nó, và trong sự đau khổ đến từ việc chứng kiến người khác đau khổ. Em đã đứng vững, và với sự vững vàng, thanh thản và kiên định của mình, em đã mang lại niềm vui cho trái tim tôi và sức mạnh cho Ashram. Tôi muốn em biết điều này.

You have worked off much karma, and whilst so working you have served. In you I now have a disciple upon whom—in your next life cycle—I can depend and lay responsibility, and whose service therefore can be great. Disciples are apt to forget that when they reach a point of complete dependability (because the lower self has been obliterated and no longer obstructs the vision) they lift a load off the Master’s shoulders.

Em đã giải quyết được nhiều nghiệp quả, và trong khi làm như vậy, em đã phụng sự. Giờ đây, tôi có một đệ tử nơi em—trong kiếp sống tiếp theo của em—tôi có thể tin tưởng và giao trách nhiệm, và do đó, sự phụng sự của em có thể rất lớn lao. Các đệ tử thường quên rằng khi họ đạt đến một điểm hoàn toàn đáng tin cậy (vì bản ngã thấp kém đã bị xóa sạch và không còn cản trở tầm nhìn) thì họ trút bỏ được một gánh nặng khỏi vai của Chơn sư.

It is your due to tell you this, for your sufferings, unselfishly endured, have earned you the right of recognition. The [656] Lighted Way stretches ahead in still greater brightness, and you can enter into the brightness with confidence and surety.

Chính vì em mà tôi nói với em điều này, vì những đau khổ mà em phải chịu đựng một cách không ích kỷ, đã mang lại cho em quyền được công nhận. [656] Con đường được thắp sáng trải dài phía trước với độ sáng còn lớn hơn, và em có thể bước vào ánh sáng với sự tự tin và chắc chắn.

This is the sum total of my brief word to you today; it will, I know, suffice. Take what I have said exactly as I say it and for what the words exactly mean, and know that I, your Master and your friend of many lives, am satisfied.

Đây là tổng số từ ngắn gọn của tôi hôm nay dành cho em; tôi biết, nó sẽ đủ. Hãy hiểu chính xác những gì tôi đã nói và ý nghĩa chính xác của từng từ, và biết rằng tôi, Chân sư của em và người bạn nhiều kiếp của em, hài lòng.

NOTE: Seventeen months later, this disciple entered “into the brightness” of the inner Ashram.

LƯU Ý: Mười bảy tháng sau, người đệ tử này bước vào “ánh sáng rực rỡ” của Ashram bên trong.

I.B.S

Huấn thị cá nhân cho IBS

Đây là bài đầu tiên trong loạt bài về các huấn thị cá nhân cho IBS. IBS là công thức phát triển của Anne Dixon, một giảng viên thanh nhạc, sinh ngày 1/6/1881 tại Hoa Kỳ. IBS là các kí tự đầu của công thức Impersonality, Being, Synthesis—Vô Ngã, Thực Tại, Tổng Hợp. Cấu trúc cung của Anne là: 1 6 463, linh hồn cung 1, phàm ngã cung 6, thể trí cung 4, cảm xúc cung 6, thể xác cung 3. Đây cũng là một trường hợp đặc biệt khi bà có linh hồn cung 1 nhưng lại là đệ tử của một Chân sư Cung 2. Trong Ashram của đức DK có 12 đệ tử có linh hồn cung 1, và ta biết rằng Chân sư DK có mối quan hệ gần gũi lâu đời với đức Morya, một Chohan cung 1. Trong thời buổi cấp bách, đức DK đảm nhận việc huấn luyện các đệ tử của Chân sư KH và Chân sư Morya để các Ngài rảnh tay lo công việc lớn hơn.

Anne Dixon thuộc nhóm đệ tử có tên gọi Trained Observers, các Nhà Quan Sát Lão Luyện. Nhiệm vụ của nhóm là:

… nhìn thấy thông suốt cả không gian lẫn thời gian bằng việc tập luyện sử dụng trực giác. Họ hoạt động rất nhiều trên cõi Trung giới, để phá tan ảo cảm để đem đến sự giác ngộ cho nhân loại. Như thế, một loại năng lực khác đã được thực động, tạo nên một loại liên lạc và giao tiếp khác nữa. Đó là sự giao tiếp giữa cõi Bồ đề (là cõi Minh Triết và Lý trí thuần khiết) với cõi Trung giới (là ảo cảm). Những quan sát viên thành thục được nhắc nhở rằng nhiệm vụ to lớn của họ là phải giải tán ảo cảm của thế gian bằng cách chiếu rọi ánh sáng. Khi nào có một số đầy đủ những nhóm đệ tử hoạt động theo những đường lối trên, thì trên cõi thế gian người ta sẽ thấy có những đường dây giao thông, tác động như những người trung gian giữa cõi giới ánh sáng và cõi ảo cảm. Họ sẽ là những trạm chuyển đi thứ năng lực đặc biệt có tác dụng phá tan những ảo cảm hiện hữu và như vậy, sẽ giải tán những tư tưởng cũ có tính cách gạt gẫm, phỉnh lừa. Họ sẽ giao rắc ánh sáng và sự bình an, nó sẽ soi sáng trung giới và dẹp tan tính chất hư ảo của đời sống trên cõi này.

Những thành viên nằm trong nhóm này là những người dễ bị ảo cảm, đã từng bị và đã vượt qua các ảo cảm đó, do đó họ mới có kinh nghiêm nhìn xuyên qua ảo cảm, đến với ánh sáng của chân lý. LTSK cũng là một thành viên của nhóm này. Qua các bức thư của đức DK, các bạn cũng sẽ học được những điều vô cùng quí giá, của một đệ tử đã sa ngã trước ảo cảm và cuối cùng vượt qua nó. Cũng giống như LTSK, với năng lực thông linh bẩm sinh, IBS đã tiếp xúc với những thực thể trên cõi trung giới, cụ thể là “bản sao” của Chân sư DK, bị quyến rũ vào đó. Và Chân sư DK đã cho bà sự lựa chọn một trong hai con đường, giữa bản sao và bản chánh, giữa phản ảnh và thực tại. Cuối cùng bà đã nhận ra sự sai lầm của mình. Qua điều này, ta có thể hình dung tại sao vô số các nhà “ngoại cảm” có những tuyên bố hùng hồn, từng gặp các đấng các như đức Saint Germain, đức DK, đức KH, và chậm chí của đức Sanat Kumara. Cũng nên biết rằng IBS là một đệ tử khá cao cấp, đã được một lần điểm đạo và đang được Chân sư huấn luyện cho lần điểm đạo thứ hai. Thắng vượt các ảo cảm là một trong các bài test, các thử thách của cuộc điểm đạo đó, làm chủ bản chất cảm xúc của mình. Chúng tôi sẽ quay trở lại phần nghiên cứu lá số chiêm tinh của bà sau phần trình bày các thư của Chân sư DK.

Bài 4

Đây là bài dịch cuối cùng của các huấn thị của đức DK cho IBS, từ năm 1940 đến năm 1946. Như đã nói trước đây, IBS là pháp danh của Anne Dixon, một giảng viên thanh nhạc. Cấu trúc cung của Bà là I6 - 463, linh hồn cung 1, phàm ngã cung 6, thể trí cung 4, cảm xúc cung 6, thể xác cung 3. Bà thuộc nhóm 9 người (Group of Nine) làm việc với Ảo Cảm với thế gian, giúp vào việc phá tan ảo cảm đó. Bản thân những đệ tử trong nhóm Trained Observers là những người từng bị ảo cảm, đã chiến thắng ảo cảm, nhờ thế mới có kinh nghiệm làm việc trong lãnh vực đó. Trong nhóm Trained Observers ta thấy các đệ tử như L.T.S-K (mà chúng tôi đã biên dịch các huấn thị cho Ông) và L.U.T.