Trích nội dung chương
Lời Giới Thiệu: Trong các bình giảng về Quyền Năng Thông linh cao và thấp, Thầy MDR có nhắc nhiều đến đệ tử BSD. Trong hồ sơ lưu tại trường Arcane, ông là Herbert Adams sinh ngày 6/1/1881 tại Hoa Kỳ, cùng ngày giờ sinh với Ann Dixon (IBS). Theo thầy Hiệu trưởng, có lẽ đây là sự nhầm lẫn trong lúc lưu hồ sơ của người ghi hồ sơ, và có lẽ ông là người Anh. Ông là một linh hồn cung 3, người thứ hai cùng với LTSK có linh hồn cung 3 trong Nhóm Đệ tử của Ngài. Đọc các hướng dẫn của Chân sư cho các đệ tử ta có thể thu được rất nhiều lời khuyên hữu ích cho bản thân, nếu chúng ta đặt mình vào vị thế của vị đệ tử, “as if” chúng ta đang là đệ tử. Lời…
Lời Giới Thiệu: Trong các bình giảng về Quyền Năng Thông linh cao và thấp, Thầy MDR có nhắc nhiều đến đệ tử BSD. Trong hồ sơ lưu tại trường Arcane, ông là Herbert Adams sinh ngày 6/1/1881 tại Hoa Kỳ, cùng ngày giờ sinh với Ann Dixon (IBS). Theo thầy Hiệu trưởng, có lẽ đây là sự nhầm lẫn trong lúc lưu hồ sơ của người ghi hồ sơ, và có lẽ ông là người Anh.
Ông là một linh hồn cung 3, người thứ hai cùng với LTSK có linh hồn cung 3 trong Nhóm Đệ tử của Ngài. Đọc các hướng dẫn của Chân sư cho các đệ tử ta có thể thu được rất nhiều lời khuyên hữu ích cho bản thân, nếu chúng ta đặt mình vào vị thế của vị đệ tử, “as if” chúng ta đang là đệ tử. Lời dạy của Chân sư không phải lúc nào cũng rõ ràng, đôi khí rất bóng bẩy, mang tính biểu tượng, vì thư Ngài được phổ biến chung cho tất cả đệ tử, và khi viết như vậy, Ngài nghĩ rằng vị đệ tử sẽ hiểu được ý Ngài muốn nói.
BSD là một trong các đệ tử mà Thầy MDR có bình giảng (cùng với một số đệ tử khác như Alice Bailey, Foster Bailey, IBS, RSU, RSW, FCD).
*****
BSD: Herbert Adams
Telepathic Group
Development formula: Being, Stillness, Detachment
III-VI-5-6-3
Born in Reading KS
6/1/1881, USA
****
Tất cả trong vũ trụ đều hoạt động chu kỳ, ngay cả việc rèn luyện theo kỷ luật huyền môn”
Thiên nhiên tăng trưởng và tiến bộ qua hoạt động theo chu kỳ và nghỉ ngơi theo chu kỳ; và trước khi tôi có thể đưa em tiến tới sự khai mở kế tiếp, tôi muốn em được nghỉ ngơi khỏi áp lực trí tuệ và ngay cả khỏi lòng sùng tín đã chi phối phần lớn kinh nghiệm sống của em.
Chân sư DK luôn nhắc lại Ngài chỉ quan tâm đến mức tiến bộ bình quân của nhóm, thay vì sự tiến bộ của cá nhân.
Tôi nhìn vào thành tựu của nhóm đệ tử của tôi từ quan điểm về hiệu quả trung bình của nhóm, chứ không quá chú trọng đến thành công hay không thành công của từng đơn vị. Kết quả và thành công ấy cũng phải tuần tự được biểu lộ khi nó đi vào sự biểu hiện. Phạm vi tập trung đầu tiên là trên các cõi trí. Ở đó em không thể tự mình phán đoán về thành công hay không thành công của nó, vì em chưa phát triển được linh thị trí tuệ.
BSD là một đệ tử lớn, có lẽ đã trải qua lần điểm đạo một, và trong kiếp sống này đã được chấp nhận là “Đệ tử Chính Thức”, và đang được Chân sư chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai, một sự kiện diễn ra khá nhanh so với thông thường:
HUYNH ĐỆ ĐƯỢC CHẤP NHẬN CỦA TÔI
Tôi muốn em lưu ý đến hình thức xưng hô của tôi. Bây giờ tôi có thể sử dụng nó, bởi vì bản thân em đã đạt đến một điểm—đã được em mong muốn từ lâu trong kinh nghiệm của mình—mà giờ đây em biết mình đang ở trên Con đường Đệ tử được Chấp nhận. Trước đó, tôi không thể gọi em như thế, vì sự nhận biết từ bên ngoài về trạng thái bên trong (cũng như về các trạng thái bên trong của tâm thức vốn là tên gọi khác của cùng một sự vật) phải luôn luôn xuất phát từ bên trong bản chất của chính đệ tử; chúng tôi, những huấn sư, chỉ được phép đóng dấu công nhận lên điều đó sau đó.
Huynh đệ của tôi, chẳng lẽ em không thấy rằng trước đây em đã sống quá nhiều trong tâm thức được tập trung nơi thể trí đến nỗi những vấn đề của huynh đệ em đối với em lại quan trọng hơn chính bản thân y? Giờ đây em không nhận ra rằng khả năng trí tuệ của em trong việc nắm bắt hoàn cảnh của y đã khiến em hứng thú nhiều hơn là linh hồn đang khổ đau của y sao? Em cũng không nhận ra rằng ước muốn sâu xa của em được tìm thấy Chân sư và có với Ngài một sự tiếp xúc rõ ràng, thực chất bắt nguồn từ một nghi vấn trí tuệ sao? Vào những ngày ấy, sự thỏa mãn khát vọng trí tuệ của em muốn xác minh sự hiện hữu của các Chân sư và xác định vị trí riêng của mình trên chiếc thang tiến hóa đã mạnh hơn tình thương của em đối với nhân loại và đối với sự phụng sự. Tình trạng này giờ đây phần lớn đã được điều chỉnh, và bất kỳ tư tưởng nào đi theo lối cũ hiện chỉ còn mang tính tái phát của thói quen suy nghĩ hơn là một bước lùi trên con đường tiến bộ.
Hai kết quả mà chính tôi có thể chỉ ra cho em và tôi cân nhắc chọn hai kết quả này vì chúng liên quan đến tôi và công việc của em với tôi, huấn sư và người bạn của em. Đầu tiên, tôi đã chấp nhận em vào nhóm của tôi theo nghĩa kỹ thuật và em hiện là đệ tử được chấp nhận (chela) trong nhóm của tôi.... Thứ hai, tôi đã nói với em và các huynh đệ của em rằng tôi đang trong quá trình chuẩn bị cho em để điểm đạo.
BSD là đệ tử đầu tiên được Chân sư chọn để đào tạo phát triển quyền năng thông linh với hai lý do: Ông đã ở độ tuổi chững chạc (năm 1935 Chân sư bắt đầu đào tạo Ông là lúc Ông 55 tuổi), có sự ổn định trí tuệ, cùng tiềm năng thông linh ở ông chưa được khơi hoạt.
Em đang ở độ tuổi và có sự ổn định trí tuệ khiến cho việc tìm kiếm—dưới sự giám sát của tôi—một mức độ khai mở thông linh trở nên an toàn và có lợi. Nhưng trên phương diện đó, chúng ta sẽ tiến hành chậm rãi, hỡi huynh đệ của tôi; trong sáu tháng tới, chúng ta chỉ đơn giản theo phương pháp một sự “tẩy rửa” hay thanh lọc thông linh tổng quát bằng bảy hơi thở năng động hay điện lực (liên quan đến điều này tôi sẽ chỉ dẫn cho em), được phóng ra bằng một hành động của ý chí. Chúng sẽ quét qua toàn bộ bản thể em và tạo ra một sự kích thích tổng quát, điều này cuối cùng sẽ dẫn đến một sự nhạy cảm rộng khắp hơn.
Chân sư DK cũng điều chỉnh một quan niệm sai lầm mà các sinh viên huyền môn thường mắc phải: hoàn toàn bác bỏ các năng lực thông linh, hoặc ngược lại quá tôn sùng và thần thánh hóa nó:
Có một mối nguy hiểm thực sự đối với sinh viên nhiệt thành trong thái độ phổ biến của tâm trí coi thế giới của những cảm xúc và phản ứng nhạy cảm đối với các hiện tượng thông linh vi tế là nhất thiết có tác dụng thụt lùi. Nó có thể (và thường như vậy) đánh dấu một con đường đầy thảm họa thông linh. Đồng thời, nó có thể chỉ ra một phản ứng mới được đánh thức và nhận thức nhạy cảm đối với các khía cạnh khác của đời sống thiêng liêng mà—ở vị trí của chúng và được sử dụng đúng đắn—là thiêng liêng và cần thiết, và thể hiện Thiên tính như bất kỳ mục tiêu ngưỡng vọng của tín đồ.
Đời sống thông linh của một đệ tử là một phần nhất định trong biểu hiện tinh thần của y. Chỉ khi nó không được kiểm soát, nhấn mạnh quá mức và đánh giá quá cao thì nó mới là điều không mong muốn. Nó là một trở ngại khi nó bị lạm dụng hoặc bị xem là sự thay thế cho các hình thức biểu hiện thiêng liêng khác. Khi đó, nó tạo ra điều không mong muốn và khiến người đệ tử đắm chìm trong thế giới của ảo cảm và ảo tưởng. Các năng lực thông linh là những trợ giúp có giá trị cho việc phụng sự khi được phát triển đúng cách và được sử dụng một cách lành mạnh; chúng có thể được khai mở an toàn bởi người phân cực trí tuệ và định hướng đúng đắn hướng tới phụng sự.
Năng lực thông linh mà Chân sư giúp phát triển ở BSD là năng lực bậc cao, xuất phát từ luân xa tùng thái dương:
Sự khai mở thông linh, khi không bắt nguồn từ luân xa tùng thái dương, phải được thực hiện bằng sự kiểm soát đúng đắn các luân xa ajna, cổ họng, tim và luân xa tùng thái dương bởi con người tinh thần, ngồi ở đầu.
Trong trường hợp của em, trung tâm ajna rất ít được đánh thức. Nó không hoạt động và quay chậm. Do đó, tuyến yên có phần dưới mức bình thường. Luân xa tùng thái dương được đánh thức nhưng em ít chú ý đến nó như một phương tiện liên lạc, và chỉ trong hai năm qua em mới bắt đầu quy phục nó cho luân xa đầu, và điều này thông qua việc trau dồi lòng trắc ẩn. Luân xa cổ họng chuyển động lờ đờ nhưng có thể dễ dàng được kích thích hoạt động và luân xa tim đang nhanh chóng được đánh thức.
Cô đơn là một ảo cảm
em có nhớ rằng con đường cô đơn cũng là con đường được soi sáng. Cô đơn là một ảo tưởng tìm cách cản trở nỗ lực của người phụng sự; đó là một ảo cảm có thể làm suy giảm nghiêm trọng tầm nhìn thực sự.
Một lời dạy quý giá về sự phát triển của các luân xa: các luân xa nào không có cơ quan lớn liên kết với nó sẽ phát triển chậm, vì:
Bất kỳ trung tâm lực nào mà có liên kết chặt chẽ với các tuyến nội tiết, đồng thời không có cơ quan lớn nào (chẳng hạn như tim hoặc dạ dày) kết nối với chúng, sẽ phát triển chậm hơn và được bảo vệ cẩn thận hơn trong quá trình này so với các luân xa có một cơ quan sinh lý chính kết nối chặt chẽ với chúng. Chẳng hạn, tuyến ức được nối với luân xa tim và tuyến tụy với luân xa tùng thái dương. Đồng thời, năng lượng đổ qua các trung tâm đó có thể bị lệch hướng vào một số cơ quan vật chất lớn—chẳng hạn như tim và dạ dày. Do đó, những trung tâm này khi được phát triển hoặc kích thích sẽ mang lại ít nguy hiểm về mặt sinh lý hơn nhiều so với những trung tâm không có mối liên quan như thế. Trung tâm ajna có liên quan đến tuyến yên, nhưng không có cơ quan vật chất lớn nào để chuyển di năng lượng được liên hệ; do đó, mạng dĩ thái được củng cố đặc biệt tại khu vực này, và hoạt động của trung tâm lực được tạo ra chậm hơn. Điều này đáng lưu ý và mang lại sự an tâm. Chính trong những gợi ý như trên mà giáo lý thực sự được đưa ra.
Là một Đệ tử Chính Thức đang chuẩn bị cho điểm đạo tất yếu sẽ dẫn đến thử thách và “vùng đất cháy:
vị trí chela (đệ tử) liên quan đến trách nhiệm, và đến lượt nó được phát triển thông qua đau khổ. Điều này chắc chắn dẫn đến sự tách rời. Quá trình tách rời đó sẽ tiến triển liên quan đến tất cả mọi người trong nhóm và phải kéo theo khó khăn. Khó khăn này có thể liên quan đến một loạt liên tục các vấn đề nhỏ và những sự tách rời sẽ nhuộm màu không ngừng cho cuộc đời phụng sự của em, cuộc sống của em trong gia đình và các mối quan hệ của em trên thế giới.
Các điểm đạo đồ và các Chân sư cũng không ngừng phát triển và nâng Cao qua thời gian. Một Chân sư của thời kỳ Atlantis phải chứng tỏ na9ng lực kiểm soát thể cảm xúc, và một điểm đạo đồ bậc 2 hiện nay phải chứng tỏ khả năng đó:
Một điểm đạo đồ bậc năm vào thời Atlantean phải chứng minh việc sử dụng cảm xúc đúng cách. Vào thời Aryan, một điểm đạo đồ bậc hai phải chứng minh điều này. Em thân mến, em có sẵn sàng nói rằng bằng chứng này có thể được đưa ra hay không?
Những ưu khuyết điểm của thể trí cung năm:
Thể trí trong trường hợp của em được điều khiển bởi năng lượng cung năm. Đây là một tình trạng rõ rệt và tạo nên phần lớn khó khăn trong cuộc sống của em. Tôi muốn nhắc em rằng việc phi từ tính trong giai đoạn phát triển của em có nghĩa là (mặc dù em có thể có một số mức độ tiếp xúc với linh hồn) nhưng em không thể tỏa sự sống linh hồn đó cho người khác như em muốn, vì thể trí cung năm chiếm ưu thế của em (cung của Khoa học cụ thể, như em biết) bị cách ly, cô lập và có xu hướng tự nhiên đối với sự phân biện dẫn đến sự chia rẽ. Hiệu ứng ngược lại cũng đúng. Bức xạ của những người khác cũng có thể bị chặn lại và do đó em không có khả năng ghi lại các ấn tượng viễn cảm. Tuy nhiên, giá trị của thể trí cung thứ năm rất lớn, vì nó có nghĩa là một thể trí nhạy bén và hữu ích và (hãy suy ngẫm về điều này) một cánh cửa rộng mở dẫn đến cảm hứng.
Chân sư DK ẩn ý BSD thỉnh thoảng bị tác động của một hình tư tưởng cũ, một “bóng dáng” của Kẻ Chận Ngõ:
Tuy nhiên, em vẫn còn chịu ảnh hưởng của một hình tư tưởng cổ xưa, mà quên rằng một trong những nhiệm vụ của một đệ tử là giải thoát mình khỏi những hình tư tưởng đang cầm giữ này. Hình tư tưởng này khiến em nhìn, vâng, để đòi hỏi những kết quả có bản chất phi thường; nó kích động em tin tưởng và thôi thúc em đòi hỏi những năm cống hiến, năng lượng phàm ngã và mãnh lực cảm xúc của em (một sự kết hợp mạnh mẽ, em thân mến!) nên được tưởng thưởng bằng sự công nhận và liên hệ với một Thành viên của Thánh đoàn. Em tìm kiếm điều này, không phải để cảm thấy bất kỳ sự thỏa mãn cá nhân hay phản ứng kiêu ngạo nào mà như một phần thưởng chính đáng và xứng đáng cho nỗ lực kiên nhẫn và sự vâng phục huyền bí thực sự.
****