← Thư Chân sư gửi các Đệ tử

September 1943 – Tháng Chín năm 1943

Trích nội dung chương

I am not telling your co-disciples whether you are on this side of the separating veil or not. I am not informing them whether you have crossed the “bridge of light,” to which I referred in my last communication to you. You need their [464] protective love, no matter whether you are here or there; the turmoil on the other side is so great—as great as the turmoil on the physical plane. Whether you are in the body or out of the body, you are therefore peculiarly vulnerable, because, my brother (as I have told you oft during the past years), your intense sensitivity has complicated your life problem. Your karma... holds you back from that…


September 1943 – Tháng Chín năm 1943

MY BROTHER AND MY CO-WORKER:

HUYNH ĐỆ VÀ NGƯỜI CỘNG SỰ CỦA TÔI:

I am not telling your co-disciples whether you are on this side of the separating veil or not. I am not informing them whether you have crossed the “bridge of light,” to which I referred in my last communication to you. You need their [464] protective love, no matter whether you are here or there; the turmoil on the other side is so great—as great as the turmoil on the physical plane. Whether you are in the body or out of the body, you are therefore peculiarly vulnerable, because, my brother (as I have told you oft during the past years), your intense sensitivity has complicated your life problem. Your karma... holds you back from that complete freedom and liberation which you deeply desire. Only those who have achieved freedom can return to that group with immunity and helpfulness in their hands—the group from which they have been freed.

Tôi không cho các đệ tử đồng môn của em biết liệu em có đang ở bên này bức màn ngăn cách hay không. Tôi không cho họ biết liệu em đã vượt qua “cây cầu ánh sáng” mà Tôi đã nhắc đến trong lần trao đổi trước với em hay chưa. Em cần tình thương [464] che chở của họ, dù em ở đây hay ở đó; sự hỗn loạn ở phía bên kia lớn lao vô cùng—cũng lớn như sự hỗn loạn trên cõi hồng trần. Vì vậy, dù em đang ở trong thân thể hay ngoài thân thể, em cũng đặc biệt dễ bị tổn thương, bởi vì, huynh đệ của Tôi (như Tôi đã thường nói với em trong những năm qua), sự nhạy cảm mãnh liệt của em đã làm phức tạp vấn đề đời sống của em. Nghiệp quả của em... ngăn em đạt đến sự tự do và giải thoát hoàn toàn mà em sâu sắc mong mỏi. Chỉ những ai đã đạt được tự do mới có thể trở lại nhóm mà họ đã được giải thoát khỏi đó, với khả năng miễn nhiễm và trợ giúp trong tay.

I have for you a suggestion. I will not call it an order, for no Master ever gives commands, and in any case you belong to the Ashram of K.H. and will have received your instructions direct from Him. He feels as I do, that in the pressure and anxiety and in your psychic participation in the fate of your country and in your sensitive reaction to racial strain, the import of His conversation with you a year ago may not have registered adequately. It has been difficult for you and well-nigh impossible to concentrate on planning. I am therefore going to summarise for you what He then said. The group protection accorded you (greater than perhaps you realise) enables me to reach you more easily at this time than can any other member of the Hierarchy. I can find and reach you with a minimum expenditure of force.

Tôi có một đề nghị dành cho em. Tôi sẽ không gọi đó là mệnh lệnh, vì không Chân sư nào từng ra lệnh, và dù sao em cũng thuộc về ashram của Chân sư KH và hẳn đã trực tiếp nhận được huấn thị từ Ngài. Ngài cũng cảm thấy như Tôi rằng, giữa áp lực và lo âu, giữa sự tham dự về mặt thông linh của em vào vận mệnh đất nước và phản ứng nhạy cảm của em trước những căng thẳng của nhân loại, có thể em chưa lĩnh hội đầy đủ ý nghĩa cuộc trò chuyện của Ngài với em một năm trước. Đối với em, việc tập trung lập kế hoạch đã trở nên khó khăn và gần như bất khả thi. Vì vậy, Tôi sẽ tóm lược cho em những gì Ngài đã nói khi ấy. Sự che chở của nhóm dành cho em (lớn hơn có lẽ em nhận biết) cho phép Tôi tiếp cận em vào lúc này dễ dàng hơn bất kỳ thành viên nào khác của Thánh đoàn. Tôi có thể tìm thấy và tiếp cận em với mức tiêu hao mãnh lực tối thiểu.

Your Master, K.H., asked you at that time if you were ready to begin work in preparation for a definite assignment upon the Path of World Saviours. Assignment after assignment in connection with groups, nations, races and increasingly large units is ever the mode of developing a world Saviour until the time comes when he can make a world impact and achieve a measure of world salvaging. Many times in the past, I have pointed out to you that you were on that most difficult path of service. K.H. desired to find out if you were prepared to accept your first major assignment upon that Way. When you assented and told Him that you would do what you could but that you had no inner confidence in yourself, owing to the pressures of the time which appeared to you to have a definitely disintegrating effect on your [465] vehicles, He reassured you and told you that the potent inner unfoldment of your love nature and your complete decentralisation were a vital protection. He also informed you that—at the stage of spiritual development which you had attained—the aura of His Ashram and the aura of mine would act as a shield, and that the resources of both Ashrams were behind you. This, my brother, you know well, and to this fused efficiency you can testify....

Khi ấy, Chân sư của em, Chân sư KH, đã hỏi em liệu em có sẵn sàng bắt đầu công việc chuẩn bị cho một nhiệm vụ xác định trên Con Đường của các Đấng Cứu Thế hay không. Hết nhiệm vụ này đến nhiệm vụ khác liên quan đến các nhóm, các quốc gia, các giống dân và những đơn vị ngày càng lớn luôn là phương thức phát triển một Đấng Cứu Thế, cho đến lúc Ngài có thể tạo ảnh hưởng trên toàn thế giới và thực hiện việc cứu độ thế gian ở một mức độ nào đó. Nhiều lần trong quá khứ, Tôi đã chỉ cho em thấy rằng em đang ở trên con đường phụng sự khó khăn nhất ấy. Chân sư KH muốn biết liệu em đã sẵn sàng tiếp nhận nhiệm vụ lớn đầu tiên trên Con Đường ấy hay chưa. Khi em đồng ý và thưa với Ngài rằng em sẽ làm những gì có thể, nhưng trong lòng không tự tin vì những áp lực của thời cuộc mà em cảm thấy rõ ràng đang gây tác động phân rã lên các [465] hiện thể của mình, Ngài đã trấn an em và nói rằng sự khai mở nội tâm mạnh mẽ của bản chất bác ái nơi em cùng sự phi tập trung hoàn toàn vào bản thân là một sự bảo vệ thiết yếu. Ngài cũng cho em biết rằng—ở giai đoạn phát triển tinh thần mà em đã đạt tới—hào quang ashram của Ngài và hào quang ashram của Tôi sẽ hoạt động như một tấm khiên, và nguồn lực của cả hai ashram đều ở phía sau hỗ trợ em. Huynh đệ của Tôi, em biết rõ điều này và có thể làm chứng cho hiệu lực dung hợp ấy....

I have said enough here to enable you again to resume your active position as a pledged initiate-disciple (a position which your co-disciples have ever recognised as yours), and I have shown you definitely how valuable has been to you the last immediate experience.... Though you are a trained disciple of K.H., you are still working in my Ashram, as I remain in close touch with world affairs in relation to their immediate working out, whilst K.H., being a Chohan, is more active in the handling of the deeper incentives and purposes, and of those matters which will not materialise until such time as the work done by me, and others associated with the Great White Lodge and of like rank and of lesser rank, is completed or at least well on the way to fruition.

Ở đây, Tôi đã nói đủ để giúp em trở lại vị trí hoạt động của một điểm đạo đồ-đệ tử đã cam kết (vị trí mà các đệ tử đồng môn vẫn luôn công nhận là của em), và Tôi đã chỉ rõ trải nghiệm gần đây nhất quý giá đối với em biết bao.... Dù là một đệ tử đã được Chân sư KH huấn luyện, em vẫn đang làm việc trong ashram của Tôi, vì Tôi vẫn giữ liên hệ mật thiết với các vấn đề thế giới trong sự triển khai trước mắt của chúng, còn Chân sư KH, là một Đế Quân, hoạt động nhiều hơn trong việc xử lý những động lực và mục đích sâu xa hơn, cùng những vấn đề sẽ chưa hiện hình cho đến khi công việc do Tôi và những vị khác có liên hệ với Thánh đoàn, cùng cấp bậc hoặc cấp bậc thấp hơn, được hoàn tất hoặc ít nhất đã tiến gần đến chỗ thành tựu.

The work assigned to you, my beloved brother, will be work of profoundest difficulty. You will meet with rebuff from those you seek to help and... find very little understanding; you will meet with encouragement and assistance from the enlightened among the New Group of World Servers, and this will make your work possible but it will also greatly handicap you...

Huynh đệ yêu quý của Tôi, công việc giao cho em sẽ vô cùng khó khăn. Em sẽ gặp sự khước từ của những người em tìm cách giúp đỡ và... rất ít sự thấu hiểu; em sẽ nhận được sự khích lệ và trợ giúp từ những người giác ngộ trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, và điều này sẽ giúp em thực hiện được công việc nhưng cũng sẽ gây trở ngại rất lớn cho em...

Are you big enough for this inadequately outlined task, my brother? Is your stamina, your inner spiritual orientation and your fixed psychic determination adequate to the undertaking? Can you do it with your present psychic equipment, or must you build new bodies for integration, use and service? The decision rests with you, for those who tread the Way of a World Saviour are left peculiarly free (owing to certain difficulties in time and space within the planetary life) and must work as they will, with what they choose to offer and with a trained understanding of their task.

Huynh đệ của Tôi, em có đủ tầm vóc để đảm đương nhiệm vụ mới chỉ được phác thảo sơ lược này không? Sức bền, định hướng tinh thần nội tâm và quyết tâm thông linh kiên định của em có đủ cho công việc ấy không? Em có thể thực hiện với bộ máy thông linh hiện có, hay phải xây dựng những thể mới để tích hợp, sử dụng và phụng sự? Quyết định thuộc về em, vì những ai bước trên Con Đường của một Đấng Cứu Thế đều được dành cho sự tự do đặc biệt (do những khó khăn nhất định về thời gian và không gian trong sự sống hành tinh), và phải làm việc theo ý chí của mình, với những gì họ chọn dâng hiến và với sự thấu hiểu đã qua rèn luyện về nhiệm vụ của họ.

Such was the gist of your interview with your Master. [466] You can now go forth from where you are with the endorsement of your Master, with the aid and backing of myself and of A.A.B. and, at all times, the protective aura of K.H.; and—with reverence I would call your attention to this—an aspect of the aura of the Christ is incorporated in that lesser aura.

Đó là nội dung chính trong cuộc diện kiến của em với Chân sư của mình. [466] Giờ đây, từ nơi em đang ở, em có thể tiến bước với sự tán thành của Chân sư, với sự trợ giúp và hậu thuẫn của Tôi cùng A.A.B., và luôn có hào quang che chở của Chân sư KH; và—với lòng tôn kính, Tôi muốn em chú ý đến điều này—một phương diện hào quang của Đức Christ được kết hợp trong hào quang nhỏ hơn ấy.

In my last communication to you I stated that “love is thy note and wisdom is thy guide. You need naught else but fire.” That fire, my brother, is the residue of the pure fire which is left when you have trodden upon and passed the burning ground, through the Portal into the Presence. That you have done. The fire is there, and on it you can count if you seek to destroy opposition, to burn down barriers (inherent in yourself or presented by others), and also to blaze a trail straight from your heart into the heart of others....

Trong lần trao đổi trước với em, Tôi đã nói rằng “tình thương là âm điệu của em và minh triết là người dẫn đường cho em. Em không cần gì khác ngoài lửa.” Huynh đệ của Tôi, ngọn lửa ấy là phần lửa tinh khiết còn lại sau khi em đã bước vào và vượt qua vùng đất cháy, qua Cổng vào Hiện Diện. Em đã làm được điều đó. Lửa hiện hữu ở đó, và em có thể trông cậy vào nó nếu em tìm cách phá tan sự chống đối, thiêu rụi những rào cản (vốn có trong em hoặc do người khác dựng lên), đồng thời mở một con đường rực lửa đi thẳng từ tim em vào tim người khác....

I stand by you, my brother, unalterably and at all times, and on this you can count. Such is also the wish of K.H., my Brother and also my Master, and on that you can also count. I am giving you no set form of meditation. Reflection and deep, considered concentration upon the work which I have outlined to you, and which your Master wants to see you do, is for you adequate spiritual focussing. The deep love of all your group brothers is yours, and many, many people are today sending love to you and many, many minds are thinking of you with thoughts of gratitude, of strength, of faith and hope. On this too you must count. The path of a world Saviour is, as you know, a hard one, but of compensations which far outweigh the difficulty. My blessing is yours and my hand is ever stretched out to you in helping.

Huynh đệ của Tôi, Tôi luôn sát cánh bên em, không hề thay đổi, và em có thể trông cậy vào điều này. Đó cũng là mong muốn của Chân sư KH, Huynh đệ và cũng là Chân sư của Tôi, và em cũng có thể trông cậy vào điều ấy. Tôi không trao cho em một hình thức tham thiền cố định nào. Đối với em, suy ngẫm và tập trung sâu sắc, có cân nhắc vào công việc Tôi đã phác thảo cho em, công việc mà Chân sư của em muốn thấy em thực hiện, là sự tập trung tinh thần đầy đủ. Tình thương sâu sắc của tất cả các huynh đệ trong nhóm đều dành cho em, và ngày nay rất nhiều, rất nhiều người đang gửi tình thương đến em, rất nhiều, rất nhiều thể trí đang nghĩ đến em với những tư tưởng biết ơn, sức mạnh, niềm tin và hy vọng. Em cũng phải trông cậy vào điều này. Như em biết, con đường của một Đấng Cứu Thế rất gian nan, nhưng có những đền bù vượt xa những khó khăn ấy. Phúc lành của Tôi dành cho em, và bàn tay Tôi luôn đưa ra trợ giúp em.

November 1944 – Tháng Mười Một năm 1944

It is not my intention, my beloved brother, to give you any personal instructions at this time. Those given you during the past three years still need consideration, assimilation and factual demonstration. I simply take, at this time, those needed inner steps which are permitted to the Master of any Ashram in order to draw you into a very close relation to myself and to the group. Such a definite and close relation [467] produces healing and strengthening; it also permits of such a clear vision that the picture unfolds as a unity and the past is seen freed from karma. This sentence may mean much to you, if subjected to the inner insight, or it may mean little. It is, however, of major significance to you personally, and to no one else in this group.

Huynh đệ yêu quý của Tôi, lúc này Tôi không có ý định trao cho em bất kỳ huấn thị cá nhân nào. Những huấn thị đã trao cho em trong ba năm qua vẫn cần được suy xét, thấm nhuần và thể hiện trong thực tế. Lúc này, Tôi chỉ thực hiện những bước nội tâm cần thiết mà Chân sư của bất kỳ ashram nào cũng được phép thực hiện, nhằm đưa em vào mối liên hệ rất mật thiết với Tôi và với nhóm. Một mối liên hệ xác định và mật thiết như vậy [467] mang lại sự chữa lành và củng cố sức mạnh; nó cũng cho phép có một tầm nhìn sáng rõ đến mức toàn cảnh hiển lộ như một thể thống nhất, và quá khứ được nhìn nhận trong trạng thái thoát khỏi nghiệp quả. Câu này có thể hàm chứa nhiều ý nghĩa đối với em nếu được soi xét bằng tuệ giác nội tâm, hoặc có thể chẳng mang lại bao nhiêu ý nghĩa. Tuy nhiên, nó có thâm nghĩa trọng đại đối với riêng em, và không với ai khác trong nhóm này.

In your question, my brother (about the nature and the function of the counterparts in the head of the various chakras, and how to bring about a better adjustment between the heart centre and its counterpart in the head), you have voiced an exceedingly esoteric inquiry, and one that will warrant the most careful consideration and phrasing on my part. The reason for this is that as yet little is known (even in the esoterically instructed East) in regard to the head centre. This profound ignorance has not been realised, even by advanced students. The thousand-petalled lotus remains a secret, or closed mystery. Though much has been given out in connection with the heart centre, little has been communicated in connection with the head centre. The reason that more is known about the heart centre is due to its being the centre awakened by the highest initiation in Atlantean times. In our Aryan race the head centre is the objective of all stimulation—even the stimulation of the other centres being noted in relation to the effect upon the head centre. The race as a whole, however, is only just beginning to be ready for this awakening. Hence the complete silence hitherto held upon this subject.

Trong câu hỏi của em, huynh đệ của Tôi (về bản chất và chức năng của các đối phần trong đầu của những luân xa khác nhau, và làm thế nào để tạo sự điều chỉnh tốt hơn giữa trung tâm tim và đối phần của nó trong đầu), em đã nêu lên một câu hỏi hết sức huyền bí, đòi hỏi Tôi phải cân nhắc và diễn đạt hết sức cẩn trọng. Lý do là cho đến nay, người ta vẫn biết rất ít về trung tâm đầu (ngay cả ở phương Đông đã được giảng dạy về huyền bí học). Ngay cả các đạo sinh tiến bộ cũng chưa nhận ra sự thiếu hiểu biết sâu sắc này. Hoa sen nghìn cánh vẫn là một bí mật, hay một bí nhiệm chưa được mở ra. Dù nhiều điều đã được truyền dạy về trung tâm tim, người ta mới chỉ truyền đạt rất ít về trung tâm đầu. Sở dĩ người ta biết nhiều hơn về trung tâm tim là vì đó là trung tâm được đánh thức trong cuộc điểm đạo cao nhất vào thời Atlantis. Trong giống dân Arya của chúng ta, trung tâm đầu là mục tiêu của mọi sự kích thích—ngay cả sự kích thích các trung tâm khác cũng được xem xét theo tác động của nó lên trung tâm đầu. Tuy nhiên, toàn thể nhân loại chỉ vừa bắt đầu sẵn sàng cho sự thức tỉnh này. Vì thế, cho đến nay người ta vẫn hoàn toàn giữ im lặng về chủ đề ấy.

Adeptship was achieved in the Atlantean race when the heart centre was alive and its twelve petals unfolded. The fourth initiation, which confers the status of adeptship, produced the mystic realisation, the unfoldment of the lotus of the heart and the deep conviction of the pairs of opposites, yet at the same time the knowledge that the phenomenal reality and the spiritual reality were one and the same reality. Thus the Atlantean attainment established in the consciousness of its adepts, through initiation, the duality of all creation.

Trong giống dân Atlantis, người ta đạt địa vị chân sư khi trung tâm tim đã sống động và mười hai cánh hoa của nó đã khai mở. Lần điểm đạo thứ tư, vốn ban địa vị chân sư, mang lại sự chứng nghiệm thần bí, sự khai mở hoa sen của tim và niềm xác tín sâu sắc về các cặp đối cực, nhưng đồng thời cũng mang lại sự hiểu biết rằng thực tại hiện tượng và thực tại tinh thần là cùng một thực tại duy nhất. Như vậy, qua điểm đạo, thành tựu của thời Atlantis đã xác lập trong tâm thức các chân sư của thời ấy tính nhị nguyên của toàn bộ sự sáng tạo.

The Aryan unfoldment will produce occult identification, the development of the head centre, and the realisation of [468] unity. “I and the Father are One.” This constituted the real achievement of the Christ, Who was the first of our humanity to achieve the complete realisation. This point is of vital interest. Our present Masters of the Wisdom have also entered into this same recognition. The distinction between Them and the Christ is that He added to this realisation the capacity to be a channel, pure and undefiled by any form of self-identification, for a cosmic principle—that of Love. Only those Masters, however, Who reached adeptship in Atlantean times are dowered with this occult unfoldment. Disciples are apt to forget that the Masters Themselves are at various stages upon the path of Their peculiar evolution.

Sự khai mở của giống dân Arya sẽ mang lại sự đồng hoá huyền bí, sự phát triển của trung tâm đầu và sự chứng nghiệm [468] hợp nhất. “Ta và Cha là Một.” Đây chính là thành tựu thực sự của Đức Christ, Đấng đầu tiên trong nhân loại chúng ta đạt được sự chứng nghiệm trọn vẹn ấy. Điểm này vô cùng đáng quan tâm. Các Chân sư Minh Triết hiện nay của chúng ta cũng đã đạt đến cùng sự nhận biết ấy. Sự khác biệt giữa Các Ngài và Đức Christ là Ngài đã bổ sung vào sự chứng nghiệm ấy khả năng trở thành một kênh dẫn thuần khiết, không bị bất kỳ hình thức đồng hoá nào với bản ngã làm ô nhiễm, cho một nguyên khí vũ trụ—nguyên khí Bác Ái. Tuy nhiên, chỉ những Chân sư đã đạt địa vị chân sư vào thời Atlantis mới có được sự khai mở huyền bí này. Các đệ tử thường quên rằng chính các Chân sư cũng ở những giai đoạn khác nhau trên con đường tiến hoá đặc thù của Các Ngài.

You will see, therefore, that the establishing of the significance of the counterparts in the head to the heart centre, for instance, involves one of the great mysteries to be revealed at a certain high initiation. In the next great race, which succeeds upon this one, the goal will be—above everything else—a dual one. It will be:

Vì vậy, em sẽ thấy rằng, chẳng hạn, việc xác lập thâm nghĩa của các đối phần trong đầu đối với trung tâm tim liên quan đến một trong những bí nhiệm lớn sẽ được mặc khải trong một cuộc điểm đạo cao cấp nhất định. Trong giống dân vĩ đại kế tiếp, nối tiếp giống dân hiện nay, mục tiêu—trên hết mọi điều khác—sẽ mang tính kép. Đó sẽ là:

1. The conscious unity of the lower centres by means of a great awakening of the solar plexus centre. This next race will be buddhic or intuitional, and therefore will embody, as a higher expression upon the turning spiral, the higher mystery of the astral unfoldment in ancient Atlantis. It will vision forth the higher correspondence of that achievement. This consummating development will mark its fourth initiation, and will demonstrate the transmutation of the astral life into the buddhic consciousness.

1. Sự hợp nhất có ý thức của các trung tâm thấp nhờ sự thức tỉnh mạnh mẽ của trung tâm tùng thái dương. Giống dân kế tiếp này sẽ mang tính Bồ đề hay trực giác, và do đó sẽ hiện thân cho bí nhiệm cao hơn của sự khai mở cảm dục ở Atlantis cổ xưa, như một biểu hiện cao hơn trên vòng xoắn ốc đang chuyển động. Giống dân ấy sẽ phóng hiện linh ảnh về sự tương ứng cao hơn của thành tựu ấy. Sự phát triển đến mức viên mãn này sẽ đánh dấu lần điểm đạo thứ tư của giống dân ấy, và sẽ biểu lộ sự chuyển hoá đời sống cảm dục thành tâm thức Bồ đề.

2. The carrying of all this mobilised energy to the heart centre at the fifth initiation for group purposes, and the achieving of this in full waking consciousness.

2. Việc đưa toàn bộ năng lượng đã được huy động này lên trung tâm tim vào lần điểm đạo thứ năm vì các mục đích của nhóm, và thực hiện điều này trong tâm thức tỉnh táo hoàn toàn.

In the final race the process will be repeated on a still higher spiral, and all that concerns the higher centre will be unfolded and occultly consummated, again through the medium of two stages:

Trong giống dân cuối cùng, tiến trình sẽ lặp lại trên một vòng xoắn ốc còn cao hơn nữa, và tất cả những gì liên quan đến trung tâm cao hơn sẽ được khai mở và hoàn tất về mặt huyền bí, một lần nữa qua hai giai đoạn:

1. Wherein the massed energies of the solar plexus (the [469] great clearing house) and the heart and throat will be carried—at the third initiation—to the ajna centre, and the complete racial “transfiguration” will take place.

1. Trong đó, những năng lượng đã tập hợp của tùng thái dương (trạm [469] thanh lọc vĩ đại), tim và cổ họng sẽ được đưa lên trung tâm ajna—vào lần điểm đạo thứ ba—và sự “biến hình” trọn vẹn của giống dân sẽ diễn ra.

2. The process will then be carried forward and at the fourth initiation the energies will be centralised in the head centre.

2. Sau đó, tiến trình sẽ tiếp tục, và vào lần điểm đạo thứ tư, các năng lượng sẽ tập trung tại trung tâm đầu.

This will lead to a happening of such esoteric significance that I cannot express even its dimmest meaning to you because I myself do not know. It lies too far ahead, even for all Who are the Masters of the Wisdom at this time. Only the Christ and the Buddha begin dimly to sense its meaning.

Điều này sẽ dẫn đến một sự kiện có thâm nghĩa huyền bí đến mức Tôi không thể diễn đạt với em dù chỉ ý nghĩa mờ nhạt nhất của nó, bởi vì chính Tôi cũng không biết. Nó nằm quá xa phía trước, ngay cả đối với tất cả những Đấng hiện là các Chân sư Minh Triết. Chỉ Đức Christ và Đức Phật mới bắt đầu cảm nhận mơ hồ ý nghĩa của nó.

Therefore I cannot answer your question because until the head centre is somewhat more awakened my explanation would be meaningless. All I dare say is that by the use of creative imagination, by a constant application to the way of the head, and constant group activity, with an increasing capacity to be detached, and therefore not so potently identified with the individual consciousness, you yourself can perhaps get a faint glimmer of light as to that vibrant reality of which the heart is the reflection.

Vì vậy, Tôi không thể trả lời câu hỏi của em, bởi chừng nào trung tâm đầu chưa thức tỉnh thêm phần nào thì lời giải thích của Tôi vẫn sẽ không có ý nghĩa. Tất cả những gì Tôi dám nói là, bằng cách sử dụng sự tưởng tượng sáng tạo, không ngừng chuyên tâm vào con đường của trung tâm đầu và liên tục hoạt động nhóm, với khả năng tách rời ngày càng gia tăng, nhờ đó không còn đồng hoá quá mạnh mẽ với tâm thức cá nhân, có lẽ chính em sẽ nhận được một tia sáng le lói về thực tại rung động ấy mà tim là sự phản chiếu.

One thing I can add. As I told you before, the activity of the heart centre never demonstrates in connection with individuals. This is a basic fact. What devastates most disciples is the solar plexus ability (when purified and consecrated) to identify itself with individuals. The heart centre cannot react, except under group impetus, group happiness or unhappiness, and other group relations. This may give you a needed hint. It is a subject which you will do well deeply to consider, and to discuss with A.A.B. who—like yourself—is also on the difficult path of teaching and of world salvage.

Tôi có thể bổ sung một điều. Như Tôi đã nói với em trước đây, hoạt động của trung tâm tim không bao giờ biểu hiện trong mối liên hệ với từng cá nhân. Đây là một sự kiện căn bản. Điều khiến phần lớn các đệ tử suy sụp là khả năng của tùng thái dương (khi đã được thanh lọc và thánh hiến) đồng hoá với từng cá nhân. Trung tâm tim chỉ có thể phản ứng dưới xung lực của nhóm, hạnh phúc hay bất hạnh của nhóm, và những mối quan hệ nhóm khác. Điều này có thể cho em một gợi ý cần thiết. Đây là một chủ đề mà em nên suy xét sâu sắc và thảo luận với A.A.B., người—cũng như em—đang đi trên con đường khó khăn của việc giảng dạy và cứu độ thế gian.

August 1946 – Tháng Tám năm 1946

MY BELOVED BROTHER:

HUYNH ĐỆ YÊU QUÝ CỦA TÔI:

You will have, by now, read and absorbed the papers and communications which have been held for you until the close [470] of the war and the attainment of physical safety for you. There has been no great need for me to express myself on the situation which has existed, for the closeness of the link between the Master K.H., myself and you ensures understanding and precludes waste of time.

Đến nay, hẳn em đã đọc và thấm nhuần những tài liệu và thư từ đã được giữ lại cho em cho đến khi chiến tranh [470] kết thúc và em được an toàn về thể chất. Tôi không cần bày tỏ nhiều về tình hình đã diễn ra, vì mối liên kết mật thiết giữa Chân sư KH, Tôi và em bảo đảm sự thấu hiểu và tránh lãng phí thời gian.

You have come through a period of great difficulty and danger with no loss of your spiritual grip upon essential reality or of your spiritual vision; your strength has been such that you have lifted your family with you and safeguarded them also all the time. Having achieved one pinnacle of spiritual success, another can be glimpsed, and between the two pinnacles lies a field of service, a sphere of danger, a land of glamour and deep morasses through which you must struggle, until the point of attainment planned by your soul for this life is yours. You can achieve, and for your aiding, I and A.A.B. stand ready.

Em đã vượt qua một thời kỳ vô cùng khó khăn và nguy hiểm mà không mất đi sự nắm vững về mặt tinh thần đối với thực tại cốt yếu, cũng không mất đi tầm nhìn tinh thần của mình; sức mạnh của em lớn đến mức em đã nâng đỡ gia đình cùng em và luôn bảo vệ họ. Khi đã đạt đến một đỉnh cao thành tựu tinh thần, em có thể thoáng thấy một đỉnh cao khác; giữa hai đỉnh cao là một lĩnh vực phụng sự, một vùng hiểm nguy, một miền ảo cảm và những đầm lầy sâu mà em phải vật lộn vượt qua, cho đến khi đạt được mức thành tựu mà linh hồn em đã hoạch định cho kiếp này. Em có thể thành tựu, và Tôi cùng A.A.B. luôn sẵn sàng trợ giúp em.

A debate arose between your Master (K.H.) and myself. You had been sent (or loaned if I might call it so) to aid in my Ashram. We discussed the subject as to whether the sufferings of the past few years did not warrant your return to the Ashram of K.H.; the work there would be hard but not of the same kind, and there would not be so much need for contact work on the physical plane. I claimed that you were strong enough for the dual test; K.H. felt that you probably were, but that there was no need to ask a disciple always to drink the cup of sacrifice to its very last drop—not at least until the crucifixion initiation is your right. The task today proffered you, and its incidental strain and suffering, will be of another kind and the pain endured will be largely mental, but “you can take it,” as the saying is. It was decided to let you attempt the task demanded for three years or for seven (according to your own choice) and then, if you decide to do no more along the indicated lines, you can relinquish the task... with no sense of failure. This work can be undertaken only by people who, like yourself, repudiate without any difficulty all separative attitudes and who ever act and think in terms of the one humanity and with inclusive love. You, my brother, meet all these requirements.... This work is most definitely part of my work... and I shall be in touch [471] with you at frequent intervals. On that statement you can emphatically rely.

Một cuộc tranh luận đã diễn ra giữa Chân sư của em (Chân sư KH) và Tôi. Em đã được cử đến (hay cho mượn nếu Tôi có thể gọi như vậy) để trợ giúp trong ashram của Tôi. Chúng Tôi đã bàn xem liệu những đau khổ trong vài năm qua có đủ lý do để em trở về ashram của Chân sư KH hay không; công việc ở đó sẽ khó khăn nhưng thuộc một loại khác, và nhu cầu thực hiện công việc tiếp xúc trên cõi hồng trần cũng sẽ ít hơn. Tôi khẳng định rằng em đủ mạnh mẽ để vượt qua thử thách kép này; Chân sư KH cảm thấy có lẽ em đủ sức, nhưng không cần lúc nào cũng yêu cầu một đệ tử uống chén hi sinh đến giọt cuối cùng—ít nhất là cho đến khi em có quyền bước vào cuộc điểm đạo Đóng Đinh. Nhiệm vụ được trao cho em hôm nay, cùng với những căng thẳng và đau khổ đi kèm, sẽ thuộc một loại khác, và nỗi đau em phải chịu đựng sẽ chủ yếu thuộc về trí tuệ, nhưng như người ta thường nói, “em có thể chịu đựng được”. Chúng Tôi đã quyết định để em thử đảm nhận nhiệm vụ được yêu cầu trong ba năm hoặc bảy năm (tùy theo lựa chọn của chính em), rồi sau đó, nếu em quyết định không tiếp tục theo những đường hướng đã chỉ ra, em có thể buông bỏ nhiệm vụ ấy... mà không cảm thấy mình thất bại. Chỉ những người giống như em, có thể dễ dàng bác bỏ mọi thái độ chia rẽ, luôn hành động và suy nghĩ trên nền tảng một nhân loại duy nhất và với tình thương bao gồm, mới có thể đảm nhận công việc này. Huynh đệ của tôi, em đáp ứng tất cả những yêu cầu ấy.... Công việc này chắc chắn là một phần công việc của Tôi... và Tôi sẽ thường xuyên giữ liên lạc [471] với em. Em có thể hoàn toàn tin chắc vào lời khẳng định ấy.

Your meditation work must keep pace with your vision. I suggest that you follow the simple outline which I call “The Pinnacles,” and give much time for quiet thought and for impression. Know that guidance will be given—given step by step as needed. My love enfolds you, and the way into my Ashram stands open wide for you.

Công việc tham thiền của em phải theo kịp tầm nhìn của em. Tôi đề nghị em theo dàn bài đơn giản mà Tôi gọi là “Những Đỉnh Cao”, và dành nhiều thời gian để suy tư tĩnh lặng và tiếp nhận ấn tượng. Hãy biết rằng em sẽ nhận được sự hướng dẫn—từng bước một khi cần thiết. Tình thương của Tôi bao bọc em, và con đường vào ashram của Tôi rộng mở đón em.

November 1948 – Tháng Mười Một năm 1948

MY BROTHER AND MY FRIEND:

HUYNH ĐỆ VÀ NGƯỜI BẠN CỦA TÔI:

It is two years since I last communicated with you, via A.A.B., and they have been years of great stress and strain for you. Every disciple in these troubled times carries three kinds of stress; no, my brother, I would say the major stresses are of four kinds:

Đã hai năm kể từ lần cuối Tôi liên lạc với em qua A.A.B., và đó là những năm em chịu nhiều áp lực và căng thẳng. Trong thời buổi đầy biến động này, mỗi đệ tử đều mang ba loại áp lực; không, huynh đệ của tôi, Tôi muốn nói rằng những áp lực chính thuộc bốn loại:

1. There are the stresses and the strains incident to the disciple’s family life or his immediate daily relationships, and of these you have had your full share.

1. Có những áp lực và căng thẳng đi kèm đời sống gia đình hoặc những mối quan hệ trực tiếp hằng ngày của người đệ tử, và em đã trải qua đầy đủ những điều ấy.

2. There are stresses and strains due to the deep interior life of soul relation; these bring with them their own unique difficulties which can be shared with no one (except the Master, when the disciple has reached the point of unfoldment which you have now reached), and yet which bring about a life of inner tension which can lead inevitably to the next point of revelation.

2. Có những áp lực và căng thẳng do đời sống nội tâm sâu xa trong mối quan hệ với linh hồn; chúng mang theo những khó khăn riêng biệt mà người đệ tử không thể chia sẻ với ai (ngoại trừ Chân sư, khi y đã đạt đến mức độ khai mở mà nay em đã đạt tới), nhưng đồng thời lại tạo nên một đời sống căng thẳng nội tâm có thể tất yếu dẫn đến điểm mặc khải tiếp theo.

3. There are the problems and circumstances which arise out of the period in which our modern humanity lives; these today are unique and of disturbing importance; they involve the balancing of values which is going on in every department of human living and which evokes in the disciple an almost unendurable pain and anxiety.

3. Có những vấn đề và hoàn cảnh nảy sinh từ thời đại mà nhân loại hiện đại của chúng ta đang sống; ngày nay, chúng mang tính đặc thù và có tầm quan trọng gây bất an; chúng liên quan đến việc cân bằng các giá trị đang diễn ra trong mọi lĩnh vực của đời sống con người và khơi dậy nơi người đệ tử nỗi đau cùng sự lo âu gần như không thể chịu đựng nổi.

4. There are also peculiar complications and tests which have their origin in ashramic relationships which the disciple realises through his contact with the Ashram. [472] These are the result of his attempt to lift the burden of humanity and the measure of his understanding of the Plan, in unison with the entire Hierarchy. This produces an inevitable crisis and constitutes a load which—when added to the other three spheres of difficulty—often make the disciple feel that his cross (his vertical and his horizontal life) is more than he can bear. The Fixed Cross becomes a reality, and he begins to learn its true meaning.

4. Cũng có những phức tạp và thử thách đặc biệt bắt nguồn từ các mối quan hệ trong ashram mà người đệ tử nhận biết qua sự tiếp xúc với ashram. [472] Chúng là kết quả của nỗ lực gánh vác gánh nặng của nhân loại và mức độ thấu hiểu Thiên Cơ của y, trong sự hợp nhất với toàn thể Thánh đoàn. Điều này tạo nên một cuộc khủng hoảng tất yếu và trở thành một gánh nặng mà—khi cộng thêm ba lĩnh vực khó khăn kia—thường khiến người đệ tử cảm thấy thập giá của mình (đời sống theo chiều dọc và chiều ngang của y) vượt quá sức chịu đựng. Thập Giá Cố Định trở thành một thực tại, và y bắt đầu học được ý nghĩa đích thực của nó.

All these four types of difficulties are further enhanced when you consider the fact that they are felt in all three aspects of the disciple’s personality simultaneously. There is a reaction in his etheric body, in his emotional vehicle and in his mind. This makes what is sometimes called the “seven divine sorrows”; these are symbolically and most inaccurately depicted in the Christian discipline as the seven stations of the Cross. As I told you elsewhere [xix]* “from the standpoint of Christian symbolism (even though the interpretation is as yet inadequate) these seven crises correspond to the seven stations of the Cross which mark the way of an advancing world Saviour.” Here again you have the four and the three brought together in a synthesis of service, of discipline and of unfoldment.

Cả bốn loại khó khăn này càng gia tăng khi em xét đến sự thật rằng người đệ tử cảm nhận chúng đồng thời trong cả ba phương diện của phàm ngã. Có một phản ứng trong thể dĩ thái, trong hiện thể cảm xúc và trong thể trí của y. Điều này tạo thành cái đôi khi được gọi là “bảy nỗi đau thiêng liêng”; pháp tu Kitô giáo mô tả chúng một cách biểu tượng và hết sức thiếu chính xác là bảy chặng Thập Giá. Như Tôi đã nói với em ở một nơi khác [xix]* “xét từ quan điểm biểu tượng Kitô giáo (dù cách diễn giải hiện vẫn chưa đầy đủ), bảy cuộc khủng hoảng này tương ứng với bảy chặng Thập Giá đánh dấu con đường của một Đấng Cứu Thế đang tiến bước.” Ở đây, một lần nữa, em thấy bốn và ba kết hợp với nhau trong một sự tổng hợp của phụng sự, giới luật và sự khai mở.

All these factors have been active in your life, my brother and co-disciple. I would like to commend you on one point. You have proceeded with your Ashram work, your thinking and your service in spite of all that has been going on. This has been noted by us and it is for this quality of spiritual stability that we watch. The field of your work remains the same; it is part of your karmic obligation which may not be avoided, but the mode of work and the nature of the work which should be done will have to be altered for reasons which I am confident you will understand....

Huynh đệ và đệ tử đồng môn của tôi, tất cả những yếu tố này đều đã tác động trong cuộc đời em. Tôi muốn khen ngợi em về một điểm. Em vẫn tiếp tục công việc ashram, sự suy tư và công việc phụng sự của mình bất chấp mọi điều đang diễn ra. Chúng Tôi đã ghi nhận điều này, và chính phẩm tính vững vàng về tinh thần ấy là điều chúng Tôi tìm kiếm. Lĩnh vực công việc của em vẫn như cũ; đó là một phần nghĩa vụ nghiệp quả mà em không thể tránh né, nhưng phương thức làm việc và bản chất của công việc cần thực hiện sẽ phải thay đổi vì những lý do mà Tôi tin chắc em sẽ thấu hiểu....

I have, as you will have noted, said little to you about yourself and your own spiritual development. The war taught many disciples that it is in serving and in thinking through that true wisdom comes; they came to realise that in [473] enlightening others the radiance of the glory of God can be revealed. This you have learned and from henceforth you enter in a new stage of discipleship and can be regarded as one who can teach himself.

Như em hẳn đã nhận thấy, Tôi ít nói với em về bản thân em và sự phát triển tinh thần của riêng em. Chiến tranh đã dạy nhiều đệ tử rằng chính qua phụng sự và suy xét thấu đáo mà minh triết đích thực xuất hiện; họ đã nhận ra rằng khi [473] soi sáng cho người khác, ánh huy hoàng rạng ngời của Thượng đế có thể hiển lộ. Em đã học được điều này và từ nay em bước vào một giai đoạn mới của địa vị đệ tử và có thể được xem là người có khả năng tự dạy mình.

The work outlined for you will require only one discipline for you and that is a hard one. It is the drastic organising of your time, irrespective of personality claims, or the hindrances of an etheric body which is too loosely knit, and a sensitivity which makes life very hard for you. The great need of the service which you can render and the desperate task involved in the reorganisation of your time and plans will do much to offset the above difficulties and— in time —to cure them. You do not, my brother, belong to your family any more. You belong to humanity—a lesson which A.A.B. had much difficulty in learning.

Công việc đã vạch ra cho em sẽ chỉ đòi hỏi em tuân thủ một kỷ luật duy nhất, và đó là một kỷ luật khó khăn. Đó là tổ chức thời gian của em một cách triệt để, bất kể những đòi hỏi của phàm ngã, những trở ngại từ một thể dĩ thái có cấu trúc quá lỏng lẻo, và một sự nhạy cảm khiến cuộc sống trở nên rất khó khăn đối với em. Nhu cầu lớn lao đối với công việc phụng sự mà em có thể thực hiện, cùng với nhiệm vụ vô cùng khó khăn trong việc tổ chức lại thời gian và những kế hoạch của em, sẽ góp phần đáng kể vào việc hóa giải những khó khăn nói trên và— theo thời gian —khắc phục chúng. Huynh đệ của tôi, em không còn thuộc về gia đình mình nữa. Em thuộc về nhân loại—một bài học mà A.A.B. đã rất khó khăn mới học được.

I give you no meditation to follow. You may feel it necessary to make certain changes in the one you are now doing; feel free to change where you deem it desirable and seek constantly and daily a closer contact with your Master and with mine—the Master K.H.

Tôi không đưa cho em bài thiền nào để thực hành. Em có thể cảm thấy cần thực hiện một vài thay đổi trong bài thiền hiện tại; hãy tự do thay đổi ở những chỗ em thấy nên thay đổi, và hãy không ngừng tìm kiếm mỗi ngày một sự tiếp xúc mật thiết hơn với Chân sư của em và cũng là Chân sư của Tôi—Chân sư KH.

Daily I look towards you, brother of mine, and that is no idle statement on my part. Rest back on my understanding and call on me at need. Develop telepathic sensitivity to my voice—as I have developed it to yours.

Huynh đệ của tôi, mỗi ngày Tôi đều hướng về em, và đó không phải là một lời nói suông của Tôi. Hãy an tâm nương vào sự thấu hiểu của Tôi và kêu gọi Tôi khi cần. Hãy phát triển sự nhạy cảm viễn cảm với tiếng nói của Tôi—như Tôi đã phát triển sự nhạy cảm ấy với tiếng nói của em.