← Twelve Labours of Hercules (use this)

The Zodiac—Vòng Hoàng đạo

The Zodiac—Vòng Hoàng đạo

The Presiding One looked forth upon the sons of men, who are the Sons of God. He saw their light and where they stood upon the Way which leads back to the Heart of God. The Way sweeps in a circle through the twelve great Gates, and, cycle after cycle, the Gates are opened and the Gates are shut. The Sons of God, who are the sons of men, march on.

Đấng Chủ Toạ nhìn về phía những người con của nhân loại, những người cũng là Con của Thượng Đế. Ngài thấy ánh sáng của họ và thấy họ đang đứng trên Con Đường dẫn trở về Tâm của Thượng Đế. Con Đường ấy uốn lượn theo vòng tròn qua mười hai Cổng Lớn, và theo chu kỳ, các Cổng được mở ra rồi đóng lại. Những Người Con của Thượng Đế, những người con của nhân loại, vẫn tiếp tục tiến bước.

Dim is the light at first. Selfish the trend of human aspiration, and dark the deeds resultant. Slowly men learn and, in learning, pass between the pillars of the Gates time and again. Dull is the understanding but in the Halls of Discipline, found in each section of the circle’s cosmic sweep, the truth is slowly grasped; the needed lesson learnt; the nature purified and taught until the Cross is seen—that fixed and waiting Cross which crucifies the sons of men, stretched out on the Crosses of those who serve and save.

Lúc đầu, ánh sáng chỉ le lói. Xu hướng của khát vọng nhân loại mang tính ích kỷ, và những hành động kéo theo còn đen tối. Dần dần, con người học hỏi, và trong tiến trình ấy, họ đi qua những trụ cột của các Cổng hết lần này đến lần khác. Sự thấu hiểu còn mờ mịt, nhưng trong các Phòng Kỷ Luật, được tìm thấy trong từng phân đoạn của vòng tròn vũ trụ, chân lý dần được nắm bắt; bài học cần thiết được học; bản chất được thanh lọc và rèn giũa cho đến khi Thập Giá xuất hiện—Thập Giá cố định và luôn chờ đợi, nơi những người con của nhân loại bị đóng đinh, căng mình trên những Thập Giá của những người phục vụ và cứu rỗi.

From out the mass of men, one man stood forth in ancient days and caught the great presiding Elder’s watching eye, he who eternally presides within the Council Chamber of the Lord. He turned to one who stood, close at his hand, and said: “Who is that soul upon the Way of life, whose light can now be dimly seen?”

Từ giữa đám đông nhân loại, một người đã nổi bật lên trong thời cổ đại và thu hút ánh nhìn của vị Trưởng Lão Chủ Toạ vĩ đại, Ngài luôn ngự trị trong Hội Đồng của Đức Chúa Tể. Ngài quay sang một người đứng gần bên và nói: “Linh hồn kia là ai trên Con Đường Sự Sống, người mà ánh sáng chỉ có thể được nhìn thấy một cách mờ nhạt?”

Quickly the answer came: “That is the soul who, on the Way of life, experiences and seeks the clear light which shines from the High Place.”

Lập tức có câu trả lời: “Đó là linh hồn đang trên Con Đường của Sự Sống, trải nghiệm và tìm kiếm ánh sáng quang minh tỏa ra từ Nơi Cao Cả.”

“Let him proceed upon his way, but watch his steps.” [2]

“Hãy để y tiếp tục hành trình, nhưng hãy theo dõi từng bước chân của y.”

The swiftly passing aeons ran their course. The great wheel turned and, turning, brought the seeking soul upon the Way. Later, there came a day when the Presiding One, within the Council Chamber of the Lord, again drew to the circle of his radiant life the seeking soul.

Những kỷ nguyên trôi qua nhanh chóng. Bánh xe vĩ đại tiếp tục quay, và khi quay, nó đưa linh hồn đang tìm kiếm tiến bước trên Con Đường. Sau đó, có một ngày khi Đấng Chủ Toạ, trong Hội Đồng của Đức Chúa Tể, một lần nữa thu hút linh hồn đang tìm kiếm vào vòng sự sống chói lọi của Ngài.

“Whose is this soul upon the Way of high endeavor whose radiance dimly shineth forth?” Came the reply: “A soul who seeks the light of understanding, a struggling soul.”

“Linh hồn này là ai trên Con Đường đầy nỗ lực cao cả, người mà ánh sáng yếu ớt vẫn đang tỏa ra?” Lời đáp lại vang lên: “Một linh hồn đang tìm kiếm ánh sáng của sự thấu hiểu, một linh hồn đang tranh đấu.”

“Tell him from me to return the other way and then to travel round the circle. Then will he find the object of his search. Watch o’er his steps and, when he has an understanding heart, an eager mind and skillful hand, bring him to me.”

“Hãy nói với y lời của Ta rằng hãy quay lại theo hướng khác và sau đó đi vòng quanh chu kỳ. Khi đó y sẽ tìm thấy điều mình tìm kiếm. Theo dõi từng bước đi của y, và khi y có một trái tim thấu hiểu, một trí tuệ nhiệt thành và một đôi tay khéo léo, hãy dẫn y đến gặp Ta.”

Again the centuries passed. The great wheel turned and turning, carried all the sons of men, who are the Sons of God upon their way. And as these centuries passed, a group of men emerged who slowly turned the other way. They found the Way. They passed the Gates and struggled towards the mountain top, and towards the place of death and sacrifice. The watching Teacher saw a man emerge from out this crowd, mount the fixed Cross, demanding deeds to do, service to render unto God and man, and willingness to travel the Way to God. He stood before the great Presiding One who works within the Council Chamber of the Lord and heard a word go forth:

Lại một lần nữa, các thế kỷ trôi qua. Bánh xe vĩ đại vẫn quay và khi quay, nó đưa tất cả những người con của nhân loại, những Người Con của Thượng Đế, tiến bước trên hành trình của họ. Và trong suốt những thế kỷ ấy, một nhóm người xuất hiện, họ từ từ xoay sang hướng khác. Họ đã tìm thấy Con Đường. Họ đi qua các Cổng và vật lộn để hướng đến đỉnh núi, đến nơi của cái chết và sự hy sinh. Vị Huấn Sư quan sát thấy một người nổi bật lên từ đám đông này, tiến lên Thập Giá Cố Định, mong muốn thực hiện những hành động, phụng sự Thượng Đế và nhân loại, và sẵn sàng bước đi trên Con Đường trở về Thượng Đế. Chàng đứng trước Đấng Chủ Toạ vĩ đại, Ngài hoạt động trong Hội Đồng của Đức Chúa Tể, và nghe một lời phán ra:

“Obey the Teacher on the Way. Prepare for the last tests. Pass through each Gate and in the sphere which they reveal and guard, perform the labor which befits their sphere. Learn thus the lesson and begin with love to serve the men of earth.” Then to the Teacher went the final word: “Prepare the candidate. Give him his labors to perform and place his name upon the tablets of the living Way”. [3]

“Hãy tuân theo Vị Huấn Sư trên Con Đường. Hãy chuẩn bị cho những thử thách cuối cùng. Hãy đi qua từng Cổng, và trong phạm vi mà chúng bộc lộ và bảo vệ, hãy thực hiện những công việc phù hợp với cõi giới của chúng. Hãy học bài học đó và bắt đầu với tình thương để phụng sự nhân loại trên trần gian.” Rồi đến lượt Vị Huấn Sư, lời phán cuối cùng được truyền đến: “Hãy chuẩn bị ứng viên. Hãy giao cho y những công việc cần làm và khắc tên y vào tấm bia của Con Đường sống động.”

The Tibetan (Djwhal Khul).

Foreword—Lời Mở Đầu

The Purpose of this Study—Mục đích của việc nghiên cứu này

The intense interest evinced at this time in the subject of the spiritual life is in itself the warrant for such a study as this series of articles purposes. In defiance of the fact that academic and theological religion has no longer its ancient appeal and in spite of the revolt against organized religion, the urge towards spiritual realities has never been so keen as now. The day of empirical experience on a large scale is now with us, and men and women everywhere are refusing any longer to believe and blindly accept, because they are determined to know. Acceptance of imposed dogmas is now giving place to experiment, and a divine self-determination, based on a realized unity with the Life in which we live and move and have our being, is taking the place of credulity and superstition.

Mối quan tâm mãnh liệt hiện nay đối với đời sống tinh thần chính là minh chứng rõ ràng cho giá trị của một nghiên cứu như loạt bài này hướng đến. Bất chấp thực tế rằng tôn giáo học thuật và thần học không còn hấp dẫn như trước, và bất chấp sự phản kháng đối với các tổ chức tôn giáo có hệ thống, khát vọng hướng đến những thực tại tinh thần chưa bao giờ mãnh liệt như bây giờ. Chúng ta đang sống trong thời đại của những trải nghiệm thực nghiệm trên quy mô lớn, và khắp nơi, con người không còn tin tưởng và chấp nhận một cách mù quáng nữa, vì họ quyết tâm tự mình tìm hiểu. Việc tiếp nhận những giáo điều áp đặt đang dần nhường chỗ cho sự thử nghiệm, và một sự tự quyết thiêng liêng—dựa trên nhận thức về sự hợp nhất với Sự Sống mà trong đó chúng ta sống, hoạt động và hiện hữu—đang thay thế cho niềm tin mù quáng và mê tín.

The problem of every teacher today is to discover new ways in which to express the old truths, and so present the ancient formulas for spiritual development that they will acquire new and vivid life. In both hemispheres there have been many books written on the subject of the Path of Discipleship, the Path of Holiness, and the Path of Illumination. The restatement of the problems of that universal Path and of its inherent difficulties is not warranted unless the application can be modern and practical. It must indicate the inclusiveness of the goal, once those problems have been surmounted, and must avoid the tiresome reiteration of that basic rule of life, which has been expressed in the two words: “Be good”. Again and again we have been told that we must overcome the lure of the world, the flesh and the devil. There has been built up in the mind of the western aspirant a feeling that the Path is necessarily one of misery, of self-abnegation and of endless distress. His attitude is one of active endurance until such time as he mysteriously and miraculously breaks through into a world of peace and plenty, wherein all troubles come to an end, the [4] flesh ceases to annoy, and the devil comes to an untimely end. And this as the reward of a meek submission to the will of an inscrutable creator.

Vấn đề của mỗi huấn sư ngày nay là tìm ra những phương thức mới để diễn đạt những chân lý cổ xưa, và trình bày lại những công thức của sự phát triển tinh thần theo cách mà chúng có thể mang lại sức sống mới và sinh động. Ở cả hai bán cầu, đã có rất nhiều sách được viết về Con Đường Đệ Tử, Con Đường Thánh Thiện, và Con Đường Giác Ngộ. Việc nhắc lại các vấn đề và khó khăn vốn có trên Con Đường phổ quát này sẽ không có giá trị trừ khi chúng có thể được áp dụng một cách hiện đại và thực tiễn. Việc nhấn mạnh tính bao quát của mục tiêu, một khi những thử thách đã được vượt qua, quan trọng hơn nhiều so với việc lặp lại một cách mệt mỏi quy tắc cơ bản của đời sống, vốn từ lâu đã được tóm gọn trong hai từ: "Hãy sống tốt." Chúng ta đã được nhắc đi nhắc lại rằng cần phải vượt qua sự cám dỗ của thế gian, của xác thịt và của ma quỷ. Một cảm giác rằng Thánh đạo nhất thiết phải là con đường đầy đau khổ, hy sinh bản thân và khổ hạnh vô tận đã được khắc sâu trong tâm trí của người chí nguyện phương Tây. Y thường mang một thái độ chịu đựng thụ động, chờ đợi thời điểm khi y bất ngờ và kỳ diệu vượt qua được thực tại trần thế để bước vào một thế giới hòa bình và dồi dào, nơi mọi phiền muộn chấm dứt, nơi thể xác không còn gây phiền toái và ác ma bị tiêu diệt. Và tất cả điều này được xem như là phần thưởng cho sự quy phục ngoan ngoãn trước ý chí của một Đấng Sáng Tạo bí ẩn.

There is, however, dawning on the human consciousness, a growing realization of innate divinity and that man is in very truth made in the image of God, and one in nature with his Father in Heaven. The idea of purpose and of plan is being grasped, and the entire attitude of the aspirant towards life is rapidly changing. Surely it should now be possible to gain such a synthetic picture of the progress of the soul from ignorance to wisdom, from material desire to spiritual achievement that the end may be visioned from the beginning and intelligent cooperation with soul purpose take the place of blind endeavor? When this comes about, the pilgrim can proceed upon his way with his face turned towards the light, and irradiated with joy.

Tuy nhiên, trong tâm thức nhân loại đang dần lóe lên một nhận thức mới về thiên tính nội tại—rằng con người thực sự “được tạo dựng theo hình ảnh của Thượng Đế”, và rằng y đồng nhất trong bản chất với Cha Trên Trời của mình. Ý niệm về mục đích và Thiên Cơ đang dần được lĩnh hội, và toàn bộ thái độ của người chí nguyện đối với cuộc sống đang thay đổi nhanh chóng. Hẳn là giờ đây chúng ta có thể có một bức tranh tổng hợp về sự tiến hóa của linh hồn—từ vô minh đến minh triết, từ dục vọng vật chất đến thành tựu tinh thần—đến mức có thể nhìn thấy mục tiêu ngay từ lúc khởi đầu và thay thế sự nỗ lực mù quáng bằng sự hợp tác thông tuệ với Thiên Cơ của linh hồn? Khi điều này xảy ra, người lữ hành có thể tiếp tục hành trình của mình với khuôn mặt hướng về ánh sáng, rạng rỡ trong niềm hoan hỷ.

The story of the dramatic experiences of that great and ancient Son of God, Hercules or Herakles, will be found to give us just such a synthetic picture. It leaves untouched no phase in the life of the aspirant and yet links him up with cosmic enterprise. Its theme will be found to be so inclusive that all of us, struggling in our present modern life, can make application to ourselves of the tests and trials, the failures and achievements of this heroic Figure, who strove, centuries ago, towards the same goal as we do. Through a reading of his story, fresh interest may be evoked in the mind of the bewildered aspirant, and such a picture painted of universal sequential development and destiny that he will go forward with fresh courage.

Câu chuyện về những trải nghiệm kịch tính của Người Con Thiêng Liêng cổ đại—Hercules hay Herakles—sẽ mang đến cho chúng ta một bức tranh tổng hợp như vậy. Nó không bỏ sót bất kỳ khía cạnh nào trong đời sống của người chí nguyện, đồng thời liên kết y với sứ mệnh vũ trụ. Chủ đề của nó bao quát đến mức tất cả chúng ta—những người đang vật lộn với cuộc sống hiện đại—đều có thể áp dụng vào chính mình những thử thách và gian nan, những thất bại và thành tựu của nhân vật anh hùng này, người đã chiến đấu hàng thế kỷ trước để hướng đến cùng một mục tiêu như chúng ta ngày nay. Qua việc đọc câu chuyện của Hercules, một mối quan tâm mới đối với đời sống tinh thần có thể được khơi dậy trong tâm trí của người chí nguyện đang bối rối, giúp y tiến lên với lòng can đảm mới khi có được một bức tranh toàn cảnh về sự phát triển và vận mệnh phổ quát.

We shall trace the story of Hercules and endeavor to show how he, in his twelve labors, played the part of the aspirant upon the Path of Discipleship. On it, he undertook certain tasks, symbolic in nature, and passed through certain episodes and events which portray for all time the nature of the training and attainments which characterize the man who is nearing liberation. He stands for the incarnated, yet not perfected, Son [5] of God, who definitely takes the lower nature in hand and willingly subjects it to the discipline which will eventually produce the emergence of divinity. Out of an erring but sincerely earnest human being, intelligently aware of the work to be accomplished, a World Savior is formed.

Chúng ta sẽ lần theo câu chuyện của Hercules và cố gắng chỉ ra cách mà chàng, thông qua mười hai kỳ công của mình, đã nhập vai như một người chí nguyện trên Con Đường Đệ Tử. Trên con đường đó, chàng đảm nhận những nhiệm vụ mang tính biểu tượng, trải qua những sự kiện và thử thách phản ánh bản chất của sự huấn luyện và những thành tựu mà một con người đang tiến gần đến sự giải thoát phải đạt được. Chàng đại diện cho Người Con của Thượng Đế nhập thế nhưng chưa hoàn thiện, một người quyết tâm kiểm soát bản chất thấp của mình và tự nguyện tuân theo kỷ luật sẽ giúp biểu lộ thiên tính vốn có của chàng. Từ một con người đầy sai lầm nhưng chân thành và nghiêm túc, với nhận thức thông tuệ về công việc cần làm, một Đấng Cứu Thế Hoàn Cầu được tạo thành.

Two great and dramatic stories have been held constantly before the eyes of men down the ages. In the twelve labors of Hercules, that Path of Discipleship is depicted, and his experiences preparatory to the great concluding cycle of Initiation meet with a ready response from every aspiring man. In the life and work of Jesus the Christ, that radiant and perfected Son of God, who “has entered for us within the veil, leaving us an example that we should follow his steps”, we have portrayed the five stages of the Path of Initiation, which are the climaxing episodes for which the twelve labors have prepared the disciple.

Hai câu chuyện vĩ đại và đầy kịch tính đã được kể lại cho nhân loại qua các thời đại. Trong Mười Hai Kỳ Công của Hercules, Con Đường Đệ Tử được mô tả, và những trải nghiệm của chàng trước giai đoạn cuối cùng—Con Đường Điểm Đạo—luôn tìm thấy sự đồng cảm nơi mỗi con người đang khao khát chân lý. Trong cuộc đời và công việc của Đức Jesus Christ—Đấng Con rạng rỡ và toàn thiện của Thượng Đế, Đấng "đã đi vào bức màn thay cho chúng ta, để lại cho chúng ta một tấm gương mà chúng ta nên noi theo bước chân Ngài"—chúng ta thấy năm giai đoạn của Con Đường Điểm Đạo được minh họa, như là những giai đoạn đỉnh điểm mà mười hai công việc đã chuẩn bị cho người đệ tử.

The oracle has spoken, and down the ages the word has sounded forth: Man, know thyself. This knowledge is the outstanding attainment upon the Path of Discipleship, and the reward of all the work done by Hercules.

Lời sấm truyền đã vang lên, và qua các thời đại, câu nói ấy vẫn vọng mãi: "Hỡi con người, hãy tự biết mình." Đây chính là thành tựu nổi bật nhất trên Con Đường Đệ Tử và là phần thưởng cho tất cả những công việc mà Hercules đã thực hiện.

The Nature of Discipleship—Bản Chất của Con Đường Đệ Tử

It might be of value here if we considered briefly the nature of discipleship. It is a word in constant use among aspirants in Christian lands, as in the oriental religions. Discipleship could be defined as the final stage of the path of evolution, and as that period in a man’s experience in which he is definitely self-conscious. It is the stage in which he knowingly pledges himself to impose the will of the soul (which is essentially the will of God) upon the lower nature. Upon this path he submits himself to a forcing process, so that the flower of the soul can unfold more quickly. The inevitability of human perfection underlies his willingness to make the attempt to tread the path. This perfection can be attained in two ways. It can be the result of slow and steady evolutionary growth, carried forward under nature’s laws, cycle after cycle, until gradually the hidden God can be seen in man and in the universe. Or, it can be the result [6] of systematized application and discipline on the part of the aspirant, producing a more rapid unfoldment of the power and life of the soul.

Sẽ có giá trị nếu chúng ta xem xét ngắn gọn về bản chất của địa vị đệ tử. Đây là một thuật ngữ được sử dụng thường xuyên trong những người chí nguyện ở các vùng đất Cơ Đốc giáo cũng như trong các tôn giáo phương Đông. Địa vị đệ tử có thể được định nghĩa là giai đoạn cuối cùng trên con đường tiến hóa, và là khoảng thời gian trong kinh nghiệm của một con người khi y trở nên thực sự tự thức. Đây là giai đoạn mà y có ý thức cam kết áp đặt ý chí của linh hồn (vốn thực chất là ý chí của Thượng Đế) lên bản chất thấp của mình. Trên con đường này, y tự nguyện đặt mình vào một quá trình cưỡng ép nhằm đẩy nhanh sự khai nở của hoa linh hồn. Nhận thức về tính tất yếu của sự toàn thiện của nhân loại là nền tảng cho sự sẵn lòng của y trong việc dấn bước trên Thánh đạo. Sự toàn thiện này có thể đạt được theo hai cách. Thứ nhất, đó có thể là kết quả của sự tiến hóa chậm rãi và vững chắc, diễn ra theo các định luật tự nhiên, chu kỳ này tiếp nối chu kỳ khác, cho đến khi vị Thượng Đế tiềm ẩn có thể được nhìn thấy trong con người và trong vũ trụ. Hoặc thứ hai, nó có thể là kết quả của sự áp dụng có hệ thống và kỷ luật nghiêm ngặt từ phía người chí nguyện, giúp đẩy nhanh sự khai mở của quyền năng và sự sống của linh hồn.

In one analysis of discipleship, it has been defined as “a psychic resolvent, which eats away all dross and leaves only the pure gold behind.” It is a process of refining, of sublimation and of transmutation, carried steadily forward until at length the Mount of Transfiguration and of Illumination is attained. The hidden mysteries and the forces, latent in human beings, need to be discovered and require to be utilized in a divine manner and in line with divine purpose, intelligently apprehended. When they have thus been utilized, the disciple finds himself en rapport with the universal and similar divine energies and powers, underlying the operations of the natural world. Thus he becomes a worker under the plan of evolution and a cooperator with that great “cloud of witnesses”, who through the power of their onlooking, and the result of their attainment, constitute the Thrones, Principalities and Powers through the medium of which the one Life guides all creation onward to a glorious consummation.

Trong một phân tích về địa vị đệ tử, nó đã được định nghĩa là “một dung môi tâm linh, ăn mòn mọi tạp chất và chỉ để lại vàng ròng.” Đây là một quá trình tinh luyện, thăng hoa và chuyển hóa, được tiến hành một cách kiên trì cho đến khi cuối cùng đỉnh cao của Biến Hình và Sự Giác Ngộ hay Soi Sáng được đạt đến. Những huyền nhiệm tiềm ẩn và các mãnh lực tiềm tàng trong con người cần phải được khám phá và sử dụng theo cách thiêng liêng, phù hợp với Thiên Ý và được lĩnh hội một cách thông tuệ. Khi những mãnh lực này được vận dụng đúng đắn, người đệ tử sẽ nhận thấy mình có sự hòa hợp với các mãnh lực và năng lượng thiêng liêng phổ quát, những năng lượng này là nền tảng cho mọi vận hành của thế giới tự nhiên. Như vậy, y trở thành một người cộng tác trong Thiên Cơ tiến hóa và là một đồng sự với “đám mây chứng nhân” vĩ đại, những vị mà, nhờ vào sự quan sát đầy quyền năng của họ và kết quả từ những thành tựu của họ, đã hợp thành các Ngai Tòa, các Quyền Lực và các Chính Quyền qua đó sự Sống duy nhất dẫn dắt toàn thể công cuộc sáng tạo tiến đến sự viên mãn huy hoàng.

Such is the goal towards which Hercules worked, and such is the goal before humanity as a whole, whose ultimate group achievement will be brought about by the many individual perfections.

Đây chính là mục tiêu mà Hercules đã hướng đến, và đây cũng là mục tiêu dành cho toàn thể nhân loại—một thành tựu tập thể sẽ được hoàn thành thông qua sự hoàn thiện của từng cá nhân riêng lẻ.

Astrological Connotations—Các Ý Nghĩa Chiêm tinh

A secondary object of this study is to present an aspect of astrology which will differ from that usually expressed. We shall trace the story of Hercules as he passed through the twelve signs of the zodiac. In each sign he expressed its characteristics, and in each sign, he achieved some fresh knowledge of himself, and through that knowledge demonstrated the power of the sign and acquired the gifts which the sign conferred. In each of the signs we shall find him surmounting his natural tendencies, controlling and governing his destiny, and demonstrating the fact that the stars incline, but do not control. [7]

Một mục tiêu thứ yếu của nghiên cứu này là trình bày một khía cạnh của chiêm tinh học khác với cách hiểu thông thường. Chúng ta sẽ theo dõi câu chuyện của Hercules khi chàng vượt qua mười hai dấu hiệu hoàng đạo. Trong mỗi dấu hiệu, chàng thể hiện các đặc tính của nó, và trong mỗi dấu hiệu, chàng đạt được một sự hiểu biết mới về bản thân mình, và thông qua sự hiểu biết đó, chàng thể hiện sức mạnh của dấu hiệu và tiếp nhận những phẩm tính mà nó ban tặng. Trong từng dấu hiệu, chúng ta sẽ thấy chàng vượt qua những khuynh hướng tự nhiên của bản thân, kiểm soát và định hướng vận mệnh của mình, qua đó chứng minh rằng các vì sao chỉ tạo khuynh hướng, nhưng không kiểm soát con người.

The form of astrology which will, I believe, in time supersede the ordinary kind, dealing with horoscopes, is that synthetic presentation of cosmic happenings which have their reflection in our planetary life, in the life of humanity as a whole, and in the life of the individual, who is ever the microcosm of the macrocosm. This type of astrology confines its attention primarily to the unfolding of the plan of the ages; this, history reveals in a small way as far as humanity is concerned, and a larger study of the times and seasons may bring to us a wider understanding of God’s purposes. There is an immense past behind humanity; aeons and aeons have come and gone; the wheel of existence turns continuously, and ever the scroll of life unrolls, and we are carried forward on the impetus of a returning force towards a newer aspect of the goal, and a wider vision and realization. Concentration upon the personal horoscope and the intense interest evinced by individuals in their own petty affairs may be natural and normal, but it is nevertheless myopic. The consciousness that we are integral parts of a greater Whole, and that knowledge of the divine sumtotal can alone reveal the vaster purpose. These are the ideas that must eventually supersede our personal concentrations. Our small life histories must disappear in the larger picture. Hercules astrologically enacted the life history of every aspirant, and demonstrated the part which the unit must play in the eternal Enterprise.

Hình thức chiêm tinh học mà tôi tin rằng sẽ thay thế dần chiêm tinh học truyền thống, vốn tập trung vào việc lập lá số cá nhân, chính là cách trình bày tổng hợp về các sự kiện vũ trụ, vốn có sự phản chiếu trong đời sống của hành tinh chúng ta, trong cuộc sống của toàn nhân loại, và trong đời sống của từng cá nhân—người luôn là tiểu thiên địa trong đại thiên địa. Loại chiêm tinh học này tập trung chủ yếu vào sự khai mở Thiên Cơ xuyên suốt các thời đại; lịch sử nhân loại hé lộ điều đó ở mức độ nhỏ, và một nghiên cứu rộng lớn hơn về các thời đại và chu kỳ có thể mang lại cho chúng ta một sự thấu hiểu sâu sắc hơn về Thiên Ý của Thượng Đế. Nhân loại có một quá khứ vô cùng xa xưa phía sau; vô số kiếp đã đến và đi; bánh xe tồn tại quay liên tục, và cuộn giấy cuộc đời không ngừng mở ra, đưa chúng ta tiến về một khía cạnh mới của mục tiêu, với một tầm nhìn rộng lớn hơn và một sự nhận thức thâm sâu hơn. Sự tập trung vào lá số cá nhân và mối quan tâm quá mức của con người đối với những vấn đề nhỏ nhặt của bản thân có thể là điều tự nhiên và bình thường, nhưng đó cũng là một góc nhìn thiển cận. Nhận thức rằng chúng ta là một phần không thể tách rời của một Tổng Thể lớn hơn, và rằng chỉ có sự hiểu biết về tổng thể thiêng liêng mới có thể tiết lộ mục đích vĩ đại hơn—đó là những ý tưởng cuối cùng sẽ thay thế cho sự tập trung vào bản thân. Những câu chuyện nhỏ về cuộc đời riêng lẻ của chúng ta sẽ dần mờ nhạt trong bức tranh lớn hơn của toàn thể nhân loại. Hercules, từ góc độ chiêm tinh học, đã thể hiện toàn bộ lịch sử của một người chí nguyện, minh họa vai trò của cá nhân trong công cuộc Đại Thiên Cơ.

A great eastern Teacher has expressed in connection with the zodiac and astrology this suggestive thought:

Một vị Đại Huấn Sư phương Đông đã bày tỏ một tư tưởng sâu sắc về chiêm tinh học và hoàng đạo:

“That astrology is a science and a coming science is true. That astrology in its highest aspect and its true interpretation will eventually enable man to focus his understanding and to function rightly is equally true. That in the revelations that astrology will make in time to come will be found the secret of the true coordination between soul and form is also correct. But that astrology has not yet been discovered. Too much is overlooked and too little known to make astrology the exact science that many claim it to be. The claim will be fulfiled at some future date, but the time is not yet. [8] Astrology as now practised is doomed to break down, owing to the rapidity with which souls are controlling their personalities. The casting of the horoscope of the soul will not be based on our three dimensional knowledge, for the laws of time and space have no hold over the soul.” (Esoteric Astrology).

"Rằng chiêm tinh học là một môn khoa học và sẽ trở thành một khoa học trong tương lai là điều chắc chắn. Rằng chiêm tinh học, trong khía cạnh cao nhất và sự giải thích đúng đắn của nó, cuối cùng sẽ giúp con người tập trung sự hiểu biết và hoạt động đúng đắn cũng là điều chắc chắn. Rằng trong những mặc khải mà chiêm tinh học sẽ mang lại trong tương lai, sẽ tìm thấy bí mật của sự phối hợp thực sự giữa linh hồn và hình tướng cũng là sự thật. Nhưng loại chiêm tinh học đó vẫn chưa được khám phá. Quá nhiều yếu tố bị bỏ qua và quá ít điều được biết đến để chiêm tinh học có thể trở thành một môn khoa học chính xác như nhiều người vẫn tuyên bố. Sự tuyên bố này sẽ được thực hiện trong một thời điểm tương lai, nhưng chưa phải lúc này. Chiêm tinh học như hiện nay đang được thực hành sẽ sụp đổ, do tốc độ nhanh chóng mà linh hồn đang kiểm soát phàm ngã của mình. Việc lập lá số chiêm tinh của linh hồn sẽ không còn dựa trên hiểu biết ba chiều của chúng ta, vì các định luật về thời gian và không gian không có tác động lên linh hồn." (Chiêm Tinh Học Nội Môn)

We will therefore in this study deal with an astrology which will be non-mathematical and which will have no relation to the casting of horoscopes. It will concern itself with the twelve types of energy by means of which consciousness of the divine Reality is brought about through the medium of form. In no distant heaven and in no subjective state did Hercules arrive at this knowledge. In the physical body, handicapped and limited by the tendencies conferred on him by the sign in which he performed the labor, he attained understanding of his own essential divinity. Through the overcoming of form and the subjugation of matter, a picture is given us of an unfolding divine self-realization. In the study therefore of Hercules the disciple, and of Christ, the World Savior, we have an entire pictorial presentation of the final stages of unfoldment which lie ahead of all of us. The five great Initiations as portrayed for us in the history of Jesus the Christ are not dealt with here, but form the subject of another book. (From Bethlehem to Calvary.)

Vì vậy, trong nghiên cứu này, chúng ta sẽ tiếp cận chiêm tinh học theo một góc nhìn phi toán học, không liên quan đến việc lập lá số cá nhân. Thay vào đó, chúng ta sẽ tập trung vào mười hai loại năng lượng, thông qua đó tâm thức về Thực Tại Thiêng Liêng được khai mở qua trung gian của hình tướng. Hercules không đạt được sự hiểu biết này trong một thiên đàng xa xôi nào đó hay trong một trạng thái nội giới trừu tượng. Ngay trong thể xác, bị giới hạn và cản trở bởi những khuynh hướng mà mỗi dấu hiệu hoàng đạo áp đặt lên chàng khi thực hiện nhiệm vụ, chàng vẫn đạt đến sự nhận thức về thiên tính nội tại của chính mình. Thông qua sự chiến thắng hình tướng và chế ngự vật chất, một bức tranh về sự tự nhận thức thiêng liêng đang khai mở được hé lộ. Vì vậy, trong việc nghiên cứu về Hercules, người đệ tử, và Đức Christ, Đấng Cứu Thế Hoàn Cầu, chúng ta có một bức tranh trực quan về những giai đoạn cuối cùng của sự khai mở tâm linh, điều đang chờ đợi tất cả chúng ta phía trước. Năm lần điểm đạo vĩ đại, như được minh họa trong lịch sử của Đức Jesus Christ, không được đề cập trong nghiên cứu này, mà sẽ là chủ đề của một cuốn sách khác (Từ Bethlehem đến Canvary).

As we study the story of Hercules and go with him through his twelve labors, passing around the great zodiac of the heavens, we will approach it from two angles: that of the individual aspirant and that of humanity as a whole. It is now possible to regard the human family as having reached, practically en masse, the stage of the aspirant, the stage of the intelligent seeker, the stage of the man who, having developed his mind and coordinated his abilities, mental, emotional and physical, has exhausted the interests of the phenomenal world, and is looking for a way out into a wider realm of awareness, and into a more sure sphere of undertakings. This stage has always [9] been expressed by the advanced individuals down the ages, but never before has the human race itself been in this condition. Herein lies the wonder of past achievement, and herein lies the hour of present opportunity.

Khi chúng ta theo dõi câu chuyện của Hercules và đồng hành cùng chàng qua mười hai công việc, tiến bước qua vòng tròn vĩ đại của hoàng đạo, chúng ta sẽ tiếp cận nó từ hai góc độ: góc độ của một cá nhân chí nguyện và góc độ của toàn nhân loại. Giờ đây, chúng ta có thể xem xét gia đình nhân loại như thể họ đã đạt đến giai đoạn của người chí nguyện trên diện rộng—giai đoạn của một người tìm kiếm thông tuệ, của một con người đã phát triển trí tuệ, điều hợp các khả năng trí tuệ, cảm xúc và thể xác của mình, và đã cạn kiệt sự quan tâm đối với thế giới hiện tượng, nay đang tìm kiếm một lối thoát vào một cảnh giới nhận thức rộng lớn hơn và một lĩnh vực hoạt động chắc chắn hơn. Giai đoạn này từ lâu đã được thể hiện bởi những cá nhân tiên tiến trong suốt các thời đại, nhưng chưa bao giờ toàn thể nhân loại lại đồng loạt ở trong tình trạng này như hiện nay. Chính trong thành tựu này mà ta thấy được sự kỳ diệu của quá khứ, và chính trong đó ta nhận ra cơ hội phi thường của thời đại hiện tại.

The World Disciple Today—Người Đệ Tử Thế Giới Ngày Nay

The tests to which Hercules willingly subjected himself and the labors into which he sometimes thoughtlessly rushed are those which are possible to many thousands now. It will become apparent also how curiously applicable to modern conditions are the various details of the dramatic and oft-times amusing story of his efforts upon the path of ascension. Each one of us is an embryo Hercules, and each one of us faces the identical labors; each of us has the same goal to achieve and the same circle of the zodiac to encompass. The work to be done has for its prime objective the elimination of all fear and the control of the natural forces of the human nature. These Hercules has to face in every possible combination before he climbs the mount of initiation in Capricorn and becomes the server of humanity.

Những thử thách mà Hercules tự nguyện đặt mình vào và những công việc mà đôi khi chàng lao vào một cách vô tình cũng chính là những thử thách mà hàng nghìn người ngày nay có thể đối mặt. Cũng sẽ trở nên rõ ràng rằng những chi tiết khác nhau trong câu chuyện đầy kịch tính—và đôi khi hài hước—về những nỗ lực của chàng trên Thánh đạo lại có sự tương ứng đáng kinh ngạc với điều kiện hiện đại. Mỗi người trong chúng ta đều là một Hercules tiềm ẩn, và mỗi người đều đối diện với những công việc giống nhau; mỗi người có cùng một mục tiêu cần đạt được và cùng một vòng tròn hoàng đạo cần đi qua. Công việc cần làm có mục tiêu chính là loại bỏ mọi nỗi sợ hãi và kiểm soát các mãnh lực tự nhiên trong bản chất con người. Đây chính là những gì mà Hercules phải đối mặt trong mọi tổ hợp có thể xảy ra trước khi chàng leo lên đỉnh điểm đạo trong Ma Kết và trở thành người phụng sự nhân loại.

Competition and selfish objectives have to be completely changed and eliminated, and we shall find Hercules learning the lesson that to grasp anything for the separated self is no part of the mission of a son of God. He has to find himself as an individual, only to discover that individualism must be sacrificed intelligently to the good of the group. He discovers likewise that personal greed has no place in the life of the aspirant who is seeking liberation from the ever recurring cycle of existence and the constant crucifixion upon the cross of matter. The characteristics of the man immersed in form life and under the rule of matter are fear, individualism, competition and greed. These have to give place to spiritual confidence, cooperation, group awareness and selflessness. This is the lesson that Hercules brings to us, and this is the demonstration [10] of the life of God which is being wrought out in the creative process, and which flowers forth more beautifully each time that the life of God makes its sweep around the zodiac which, the astronomers tell us, takes approximately twenty-five thousand years to accomplish.

Sự cạnh tranh và những mục tiêu ích kỷ phải được hoàn toàn chuyển hóa và loại bỏ, và chúng ta sẽ thấy Hercules học được bài học rằng việc chiếm đoạt bất cứ điều gì cho bản ngã thấp biệt lập không phải là sứ mệnh của một Con của Thượng Đế. Chàng phải tìm thấy bản ngã cá nhân của mình, chỉ để rồi nhận ra rằng chủ nghĩa cá nhân phải được hy sinh một cách thông tuệ vì lợi ích của nhóm. Chàng cũng phát hiện ra rằng lòng tham cá nhân không có chỗ trong đời sống của một người chí nguyện đang tìm kiếm sự giải thoát khỏi chu kỳ tồn tại lặp đi lặp lại và sự đóng đinh liên tục trên thập giá của vật chất. Những đặc điểm của một con người bị nhấn chìm trong đời sống hình tướng và bị cai trị bởi vật chất là sự sợ hãi, chủ nghĩa cá nhân, cạnh tranh và lòng tham. Những điều này phải được thay thế bằng sự tự tin tinh thần, sự hợp tác, nhận thức nhóm và tinh thần vô ngã. Đây chính là bài học mà Hercules mang đến cho chúng ta, và đây cũng là sự minh chứng về sự sống thiêng liêng đang được hoàn thiện trong tiến trình sáng tạo—mỗi lần sự sống thiêng liêng của Thượng Đế chu du qua vòng tròn hoàng đạo, điều mà các nhà thiên văn cho rằng mất khoảng hai mươi lăm nghìn năm để hoàn tất, nó lại nở hoa rực rỡ hơn.

This is the story of the cosmic Christ, crucified upon the Fixed Cross of the heavens; this is the story of the historical Christ, given us in the gospel story and enacted two thousand years ago in Palestine; this is the story of the individual Christ, crucified upon the cross of matter, and incarnated in each human being, God, incarnate in matter. This is the story of our solar system, the story of our planet, the story of the human being. Thus as we look at the starry heavens above, we have eternally pictured for us this great drama, which the story of Hercules elucidates in detail for the aspirant.

Đây chính là câu chuyện về Đức Christ Vũ Trụ, Đấng đã bị đóng đinh trên Thập Giá Cố Định của thiên giới. Đây cũng là câu chuyện về Đức Christ lịch sử, được ghi lại trong các sách Phúc Âm và được tái hiện cách đây hai nghìn năm tại Palestine. Và đây cũng là câu chuyện về Đức Christ nội tại, Đấng bị đóng đinh trên thập giá của vật chất, nhập thế trong mỗi con người—Thượng Đế hóa thân trong vật chất. Đây chính là câu chuyện của hệ mặt trời, câu chuyện của hành tinh chúng ta, và câu chuyện của mỗi con người. Khi chúng ta ngước nhìn bầu trời đầy sao trên cao, ta thấy vở kịch vĩ đại này được khắc họa vĩnh hằng trước mắt mình—một vở kịch mà câu chuyện của Hercules làm sáng tỏ trong từng chi tiết dành cho người chí nguyện.

Key Thoughts—Những Tư tưởng Chủ Chốt

Four key thoughts can be given here which express the underlying purpose of the creative process and the objective of both the Cosmic Christ and of the individual aspirant. They give us the clue to the working out of the plan. Taken together they embody the entire story of the relationship of spirit and matter, of life and form, and of soul and body.

Bốn tư tưởng then chốt có thể được đưa ra ở đây, thể hiện mục đích nền tảng của quá trình sáng tạo và mục tiêu của cả Đức Christ Vũ Trụ lẫn người chí nguyện cá nhân. Chúng cung cấp manh mối về sự triển khai của Thiên Cơ. Khi kết hợp lại, chúng thể hiện toàn bộ câu chuyện về mối quan hệ giữa tinh thần và vật chất, sự sống và hình tướng, linh hồn và thể xác.

First: “Nature expresses invisible energies through visible forms.” Back of the objective world of phenomena, human or solar, small or great, organic or inorganic, lies a subjective world of forces which is responsible for the outer form. Behind the outer material shell is to be found a vast empire of BEING, and it is into this world of living energies that both religion and science are now penetrating. Everything outer and tangible is a symbol of inner creative forces and it is this idea that underlies all symbology. A symbol is an outer and visible form of an inner and spiritual reality.

Thứ nhất: “Thiên nhiên biểu hiện các năng lượng vô hình thông qua những hình tướng hữu hình.” Đằng sau thế giới hiện tượng khách quan—dù là nhân loại hay thái dương hệ, lớn hay nhỏ, hữu cơ hay vô cơ—tồn tại một thế giới chủ quan của các mãnh lực, chính chúng tạo nên các hình tướng bên ngoài. Đằng sau lớp vỏ vật chất bên ngoài là một đế chế rộng lớn của SỰ HIỆN HỮU, và cả tôn giáo lẫn khoa học ngày nay đang thâm nhập vào thế giới những năng lượng sống động này. Mọi hình tướng bên ngoài và hữu hình đều là biểu tượng của những mãnh lực sáng tạo bên trong, và chính ý tưởng này là nền tảng của toàn bộ hệ thống biểu tượng học. Một biểu tượng là một hình tướng bên ngoài và hữu hình của một thực tại nội tại và tinh thần.

It is with this interplay of the outer form and the inner life [11] that Hercules wrestles. He knew himself to be the form, the symbol, for the dominance of the lower material nature made its presence felt with the facility of agelong expression. At the same time he knew that his problem was to express spiritual being and energy. He had to know in fact and in experience that he was God, immanent in nature; that he was the Self in close relation to the Not-Self; he had to experiment with the law of cause and effect, and this from the standpoint of the initiator of the causes in order to produce intelligent effects. Through the twelve signs of the zodiac he passed, struggling to work subjectively and trying to reject the lure and the pull of the outer tangible form.

Chính với sự tương tác giữa hình tướng bên ngoài và sự sống nội tại này mà Hercules vật lộn. Chàng biết rằng mình chính là hình tướng, là biểu tượng, vì bản chất vật chất thấp đã khẳng định sự hiện diện của nó thông qua quá trình biểu lộ lâu dài từ vô lượng kiếp. Đồng thời, y biết rằng vấn đề của mình là biểu lộ bản chất tinh thần và năng lượng tâm linh. Chàng phải thực sự biết, cả về mặt lý thuyết và kinh nghiệm, rằng y là Thượng Đế, nội tại trong thiên nhiên; rằng y là Chân Ngã trong mối liên hệ mật thiết với Phi Ngã; y phải thử nghiệm với định luật nhân quả, từ vị trí của người khởi xướng nguyên nhân để tạo ra những hiệu quả thông minh. Xuyên qua mười hai dấu hiệu hoàng đạo, y đã đi qua, đấu tranh để hoạt động từ bên trong và cố gắng khước từ sự cám dỗ cũng như lực kéo của hình tướng bên ngoài và hữu hình.

The second key thought can be expressed in the words: “The conception of a concealed Deity lies at the heart of all religions.” This is the mystic realization and the object of the search that humanity has carried on down the ages. The exponents of the world religions have embodied in their teaching one aspect of the search, accepting the fact of God as a basic premise, and with their heart’s love and devotion and worship proving the reality of his Existence. The testimony of the mystics of all time and races is so vast that it now in itself constitutes a body of proven facts and cannot be gainsaid.

Tư tưởng then chốt thứ hai có thể được diễn đạt bằng câu: “Quan niệm về một Thượng Đế ẩn giấu nằm ở trung tâm của mọi tôn giáo.” Đây là sự nhận thức huyền bí và cũng là mục tiêu của cuộc tìm kiếm mà nhân loại đã thực hiện qua các thời đại. Những người truyền bá các tôn giáo thế giới đã thể hiện trong giáo lý của họ một khía cạnh của cuộc tìm kiếm, chấp nhận sự tồn tại của Thượng Đế như một tiền đề cơ bản, và bằng tình yêu, lòng sùng tín, cũng như sự thờ phụng, họ đã chứng minh thực tại về sự Hiện Hữu của Ngài. Chứng ngôn của các nhà thần bí trong mọi thời đại và chủng tộc là vô cùng phong phú, đến mức giờ đây chính nó đã trở thành một tập hợp những sự kiện được kiểm chứng và không thể bác bỏ.

The scientific investigators have sought through a knowledge of the form to find truth, and have brought us to a position of wide knowledge and at the same time to a paralleling conception of our profound ignorance. We have learned much of the outer garment of God through physics, chemistry, biology and other sciences, but we have struggled into a realm where all appears to be hypothesis and inference. All that we surely know is that all forms are aspects of energy; that there is an interplay and an impact of energies upon our planet; that the planet is itself an energy unit composed of a multitude of energy units, and that man himself is likewise a composite bundle of forces and moving in a world of force. This is where [12] science so wonderfully has led us, and this is where the astrologer, the occultist, the idealist and the mystic also meet and testify to a concealed Deity, to a living Being, to a Universal Mind, and to a central Energy.

Các nhà khoa học đã tìm cách khám phá chân lý thông qua sự hiểu biết về hình tướng, và điều này đã đưa chúng ta đến một vị trí có kiến thức rộng lớn, nhưng đồng thời cũng là một sự nhận thức song song về sự vô minh sâu sắc của chính mình. Chúng ta đã hiểu biết rất nhiều về lớp áo bên ngoài của Thượng Đế thông qua vật lý, hóa học, sinh học và các ngành khoa học khác, nhưng chúng ta cũng đã bước vào một lĩnh vực mà ở đó mọi thứ dường như chỉ là giả thuyết và suy luận. Điều duy nhất chúng ta chắc chắn biết là tất cả các hình tướng đều là những khía cạnh của năng lượng; rằng có sự tương tác và tác động qua lại của các năng lượng lên hành tinh của chúng ta; rằng chính hành tinh này cũng là một đơn vị năng lượng, bao gồm vô số các đơn vị năng lượng, và rằng con người cũng là một tổ hợp các mãnh lực, vận hành trong một thế giới của mãnh lực. Đây chính là nơi mà khoa học đã dẫn chúng ta đến một cách tuyệt vời, và cũng là nơi mà các nhà chiêm tinh học, huyền bí học, nhà lý tưởng và nhà thần bí gặp gỡ và cùng chứng thực về một Thượng Đế ẩn giấu, về một Đấng Sống Động, về một Trí Tuệ Vũ Trụ, và về một Nguồn Năng Lượng Trung Ương.

In the unfolding drama of the heavens, in the conclusions of the scientific enquirer, in the mathematical computations of the astrologers, and in the testimony of the mystic, however, we can see a steadily emerging manifestation of this concealed divinity. Little by little, through the study of history, of philosophy and of comparative religion, we see the plan of that Deity becoming significantly apparent. In the passage of the sun through the twelve signs of the zodiac, we can see the marvellous organization of the plan, the focusing of the energies and the growth of the tendency towards divinity. Now, at last, in the twentieth century, objective and subjective have become so closely blended and merged that it is almost impossible to say where one begins and another ends. The veil that hides the concealed Deity is wearing thin, and the work of those who have achieved knowledge, the program of the Christ and of his Church, the plans of the hidden band of world workers, the Rishis and the occult Hierarchy of our planet, is now focused upon leading humanity on to the Path of Discipleship, and training many of the more advanced so that they can become the knowers and initiates of the new age. Thus men will pass out of the Hall of Learning into the Hall of Wisdom, from the realm of the unreal to the Real, and from the outer darkness of phenomenal existence into the light that shines always in the kingdom of spirit.

Trong vở kịch đang khai mở của thiên giới, trong các kết luận của những nhà khoa học tìm tòi, trong các tính toán toán học của những nhà chiêm tinh, và trong chứng ngôn của những nhà thần bí, chúng ta có thể thấy một sự biểu lộ ngày càng rõ ràng của thần tính ẩn giấu này. Từng chút một, qua nghiên cứu lịch sử, triết học và tôn giáo so sánh, chúng ta thấy Thiên Cơ của Thượng Đế đang dần trở nên rõ ràng hơn. Trong hành trình của Mặt trời qua mười hai dấu hiệu hoàng đạo, chúng ta có thể nhận thấy sự tổ chức kỳ diệu của Thiên Cơ, sự tập trung của các năng lượng, và sự phát triển của khuynh hướng hướng đến thần tính. Giờ đây, cuối cùng, trong thế kỷ hai mươi, khách quan và chủ quan đã hòa nhập và hợp nhất đến mức gần như không thể nói được đâu là điểm khởi đầu của cái này và cái kia. Bức màn che giấu Thượng Đế ẩn tàng đang trở nên mỏng dần, và công việc của những người đã đạt được tri thức, chương trình của Đức Christ và Giáo Hội của Ngài, kế hoạch của nhóm những người làm việc bí mật trên thế giới, các Rishi và Huyền Giai Huyền Bí của hành tinh chúng ta, giờ đây tập trung vào việc dẫn dắt nhân loại bước vào Con Đường Đệ Tử, huấn luyện nhiều người tiến bộ hơn để họ có thể trở thành những thức giả và điểm đạo đồ của kỷ nguyên mới. Như vậy, nhân loại sẽ thoát khỏi Phòng Hiểu Biết để bước vào Phòng Minh Triết, từ lĩnh vực ảo tưởng tiến vào Thực Tại, và từ bóng tối bên ngoài của thế giới hiện tượng tiến vào ánh sáng luôn tỏa rạng trong vương quốc tinh thần.

The third key thought gives us a clue to the method. Down the ages the words have sounded forth: “I am he... who awakens the silent beholder”. It has become apparent to seekers in all fields that within all forms there is an urge to intelligent expression, and a certain livingness which we call consciousness, and which in the human family takes the form of a self-awareness. [13] This self-awareness when truly developed, enables a man to discover that the concealed Deity in the universe is identical in nature, though vastly greater in degree and consciousness, with the concealed Deity within himself. Man then can become consciously the Onlooker, the Beholder, the Perceiver. He is no longer identified with the matter aspect, but is the One who uses it as a medium of expression.

Tư tưởng then chốt thứ ba cung cấp cho chúng ta một manh mối về phương pháp. Qua các thời đại, những lời này đã vang lên: “Ta là Đấng... đánh thức Kẻ Quan Sát thầm lặng.” Các nhà tìm kiếm trong mọi lĩnh vực đã nhận ra rằng trong tất cả các hình tướng đều tồn tại một sự thôi thúc hướng đến biểu lộ thông minh, và một sự sống động nhất định mà chúng ta gọi là tâm thức—trong nhân loại, điều này thể hiện dưới hình thức tự nhận thức. Khi sự tự nhận thức này thực sự phát triển, con người có thể khám phá ra rằng Thượng Đế ẩn giấu trong vũ trụ có bản chất đồng nhất với Thượng Đế ẩn giấu trong chính y, dù trên một mức độ và tâm thức cao siêu hơn vô cùng. Khi đó, con người có thể trở thành Kẻ Quan Sát có ý thức, Kẻ Chiêm Ngưỡng, Kẻ Tri Giác. Chàng không còn đồng nhất với khía cạnh vật chất nữa, mà trở thành Đấng sử dụng nó như một phương tiện để biểu đạt.

When this stage is reached, the great labors start, and the warfare is consciously in progress. The man is torn in two directions. Habit entices him to identify himself with form. The new understanding impels him to identify himself with the soul. A reorientation then takes place, and a new and self-directed effort is initiated, which is portrayed for us in the story of Hercules, the Sun-God. The moment that the intellectual altitude has been achieved, the “silent Beholder” awakens into activity. Hercules starts upon his labors. The human being, hitherto swept along on the urge of the evolutionary tide, and governed by desire for experience and for material possession, comes tinder the control of the divine Indweller. He emerges as the aspirant, reverses himself, and begins to work through the twelve signs of the zodiac, only now working from Aries to Pisces via Taurus (anti-clockwise), instead of working in the ordinary human retrogressive fashion, from Aries to Taurus via Pisces (clockwise).

Khi đạt đến giai đoạn này, những công việc vĩ đại bắt đầu, và cuộc chiến thực sự khởi sự. Con người bị giằng xé theo hai hướng. Thói quen kéo y đồng nhất mình với hình tướng. Sự hiểu biết mới thôi thúc y đồng nhất mình với linh hồn. Một sự tái định hướng xảy ra, và một nỗ lực tự hướng dẫn mới được khởi động, điều này được thể hiện qua câu chuyện về Hercules, vị Thái Dương Thần. Khi trí năng đạt đến một độ cao nhất định, “Kẻ Quan Sát thầm lặng” thức tỉnh và bắt đầu hành động. Hercules bắt đầu những công việc của mình. Con người, trước đây bị cuốn theo dòng tiến hóa và bị chi phối bởi khao khát kinh nghiệm và sở hữu vật chất, giờ đây chịu sự kiểm soát của Đấng Nội Tại Thiêng Liêng. Chàng xuất hiện như một người chí nguyện, quay ngược lại, và bắt đầu làm việc qua mười hai dấu hiệu hoàng đạo, nhưng lần này đi theo chiều ngược kim đồng hồ, từ Bạch Dương đến Song Ngư qua Kim Ngưu, thay vì đi theo chiều thông thường từ Bạch Dương đến Kim Ngưu qua Song Ngư.

Finally, the changing focus of the life and the steady application to the twelve labors in the twelve signs enables the disciple to become the triumphant victor. Then he can comprehend the significance of the fourth key thought and can exclaim in unison with the Cosmic Deity:

Cuối cùng, sự thay đổi tiêu điểm của đời sống và việc thực hành kiên định mười hai công việc trong mười hai dấu hiệu giúp đệ tử trở thành người chiến thắng vinh quang. Khi đó, y có thể lĩnh hội được ý nghĩa của tư tưởng then chốt thứ tư và có thể thốt lên cùng với Thượng Đế Vũ Trụ:

“Listen to this great secret. Although I am above birth and rebirth, or Law, being the Lord of all there is, for all emanateth from me, still do I will to appear in my own universe and am therefore born by my Power and Thought and Will.”

“Hãy lắng nghe bí mật vĩ đại này. Mặc dù Ta vượt trên sự sinh và sự tái sinh, vượt trên cả Định Luật, vì Ta là Chúa Tể của tất cả, vì mọi thứ đều phát sinh từ Ta, nhưng Ta vẫn muốn xuất hiện trong vũ trụ của chính mình, và do đó Ta được sinh ra bởi Quyền Năng, Tư Tưởng và Ý Chí của Ta.”

(The Bhagavad Gita, as compiled and adapted by Yogi Ramacharaka). [14]

(Bhagavad Gita, được biên soạn phóng tác bởi Yogi Ramacharaka).

Hercules the Disciple—The Myth—Hrecules, Người Đệ tử—Câu chuyện Thần Thoại

He stood before his Teacher. Dimly he understood that a crisis was upon him, leading to change of speech, of attitude and plan. The Teacher looked him o’er and liked him well.

Chàng đứng trước vị Huấn Sư của mình. Mơ hồ, chàng hiểu rằng một khủng hoảng đang đến, dẫn đến sự thay đổi trong lời nói, thái độ và kế hoạch. Vị Huấn Sư nhìn chàng chăm chú và hài lòng với y.

“Your name?,” he asked and waited for an answer.

“Tên con là gì?” Ngài hỏi và chờ đợi câu trả lời.

“Herakles”, the answer came, “or Hercules. They tell me that it means Hera’s rare glory, the radiance and effulgence of the soul. What is the soul, O Teacher? Tell me truth.”

“Herakles,” câu trả lời vang lên, “hay Hercules. Người ta nói rằng cái tên đó có nghĩa là vinh quang hiếm có của Hera, sự rực rỡ và tỏa sáng của linh hồn. Linh hồn là gì, thưa Huấn Sư? Xin hãy nói cho con sự thật.”

“That soul of yours, you shall discover as you do your task, and find and use the nature which is yours. Who are your parents? Tell me this, my son.”

“Linh hồn của con, con sẽ tự khám phá khi làm công việc của mình, tìm ra và sử dụng bản chất của chính con. Cha mẹ con là ai? Hãy cho ta biết điều này, con trai của ta.”

“My father is divine. I know him not, except that, in myself, I know I am his son. My mother is an earthly one. I know her well and she has made me what you see. Likewise, O Teacher of my life, I am also one of twins. There is another one, like unto me. I also know him well, yet know him not. One is of earth, thus earthly; the other is a son of God.”

“Cha con là một vị thần. Con không biết Ngài, ngoại trừ việc con biết rằng trong chính bản thân mình, con là con trai của Ngài. Mẹ con là một người trần thế. Con biết bà rất rõ, và bà đã tạo nên con như những gì Thầy thấy. Cũng vậy, thưa Huấn Sư của đời con, con cũng là một trong cặp song sinh. Có một người khác giống như con. Con cũng biết chàng rất rõ, nhưng đồng thời lại không biết chàng. Một người thuộc về trần thế, do đó là trần tục; người kia là người con của Thượng Đế.”

“What of your training, Hercules, my son? What can you do and how have you been taught?”

“Còn về sự huấn luyện của con thì sao, Hercules, con trai của ta? Con có thể làm gì và đã được dạy dỗ ra sao?”

“In all accomplishments I am proficient; I am well taught, well trained, well guided and well known. All books I know, all arts and sciences as well; the labors of the open field are known to me, besides the skill of those who can afford to travel and know men. I know myself as one who thinks, and feels and lives.

“Trong mọi lĩnh vực, con đều thành thạo; con đã được dạy dỗ kỹ lưỡng, được rèn luyện tốt, được hướng dẫn đúng đắn và được biết đến rộng rãi. Con biết tất cả các sách, tất cả các môn nghệ thuật và khoa học; những công việc lao động trên cánh đồng con đều nắm vững, bên cạnh những kỹ năng của những người có điều kiện đi du hành và hiểu biết về con người. Con biết mình là một kẻ suy nghĩ, cảm nhận và sống.”

“One thing, O Teacher, I must tell to you and thus deceive you not. The fact is not so long ago I slew all those who taught me in the past. I killed my teachers, and in my search for liberty, I now stand free. I seek to know myself, within myself and through myself.”

“Có một điều, thưa Huấn Sư, con phải nói với Ngài để không lừa dối Ngài. Sự thật là không lâu trước đây, con đã giết tất cả những ai đã từng dạy con trong quá khứ. Con đã giết các thầy của mình, và trong cuộc tìm kiếm tự do, giờ đây con đứng đây, tự do. Con tìm cách hiểu biết chính mình, trong bản thân mình và qua chính mình.”

“My son, that was a deed of wisdom, and now you can stand [15] free. Proceed to labor now, remembering as you do, that at the final turning of the wheel will come the mystery of death. Forget this not. What is your age, my son?”

“Con trai của ta, đó là một hành động của trí tuệ, và giờ đây con có thể đứng tự do. Hãy bắt đầu lao động ngay bây giờ, luôn nhớ rằng khi bánh xe xoay vòng cuối cùng, bí ẩn của cái chết sẽ đến. Đừng quên điều này. Con bao nhiêu tuổi rồi, con trai của ta?”

“I had turned eighteen summers when I slew the lion, and hence I wear its skin. Again at twenty-one, I met my bride. Today I stand before you trebly free—free from my early teachers, free from the fear of fear, and free indeed from all desire.”

“Con đã trải qua mười tám mùa hè khi giết con sư tử, và do đó con khoác trên mình bộ da của nó. Lại vào năm hai mươi mốt tuổi, con đã gặp người vợ của mình. Hôm nay con đứng trước Ngài, ba lần tự do—tự do khỏi những Vị Huấn Sư đầu tiên, tự do khỏi nỗi sợ hãi, và thực sự tự do khỏi mọi ham muốn.”

“Boast not, my son, but prove to me the nature of this freedom which you sense. Again in Leo, will you meet the lion. What will you do? Again in Gemini, the teachers whom you slew will cross your path. Have you indeed left them behind? What will you do? Again in Scorpio, will you wrestle with desire. Will you stand free, or will the serpent meet you with his wiles and pull you down to earth? What will you do? Prepare to prove your words and liberty. Boast not, my son, but prove to me your freedom and your deep desire to serve.”

“Đừng vội khoe khoang, con trai của ta, mà hãy chứng minh cho ta thấy bản chất của sự tự do mà con đang cảm nhận. Một lần nữa, trong dấu hiệu Sư Tử, con sẽ gặp lại sư tử. Con sẽ làm gì? Một lần nữa, trong Song Tử, những Vị Huấn Sư mà con đã giết sẽ xuất hiện trên con đường của con. Con đã thực sự rời bỏ họ phía sau chưa? Con sẽ làm gì? Một lần nữa, trong Hổ Cáp, con sẽ vật lộn với dục vọng. Con sẽ đứng vững tự do, hay con rắn sẽ dụ dỗ con bằng sự quỷ quyệt của nó và kéo con xuống đất? Con sẽ làm gì? Hãy chuẩn bị để chứng minh lời nói và sự tự do của con. Đừng khoe khoang, con trai của ta, mà hãy chứng minh cho ta thấy sự tự do của con và khao khát sâu sắc của con để phụng sự.”

The Teacher sat in silence and Hercules withdrew and faced the first great Gate. Then the Presiding One, who sat within the Council Chamber of the Lord, spoke to the Teacher and bade him call the gods to witness the endeavor and start the new disciple on the Way. The Teacher called. The gods replied. They came and gave to Hercules their gifts and many words of sage advice, knowing the tasks ahead and the perils of the Way.

Vị Huấn Sư ngồi trong im lặng, và Hercules rút lui, đối mặt với Cánh Cổng vĩ đại đầu tiên. Khi đó, Đấng Chủ Toạ, người ngồi trong Hội Đồng của Chúa Tể, nói với Huấn Sư và yêu cầu Ngài kêu gọi các vị thần làm chứng cho sự nỗ lực này và khai mở con đường cho người đệ tử mới. Vị Huấn Sư cất tiếng gọi. Các vị thần hồi đáp. Họ đến và ban tặng cho Hercules những món quà của họ cùng nhiều lời khuyên minh triết, biết rõ những nhiệm vụ phía trước và những hiểm nguy trên Đường Đạo.

Minerva handed him a robe, woven by herself, a robe that fitted well, of beauty rare and fine. He put it on, with triumph and with pride; exulting in his youth He had to prove himself,

Minerva trao cho chàng một tấm áo choàng, do chính tay bà dệt, một chiếc áo choàng vừa vặn, hiếm có và tinh tế. Chàng khoác lên với niềm hân hoan và niềm kiêu hãnh; hớn hở trong tuổi trẻ của mình, chàng phải chứng minh bản thân.

A golden breastplate Vulcan forged for Hercules, to guard his heart, the source of life and strength. This golden gift was girded on, and, shielded thus, the new disciple felt secure. He had yet to prove his strength.

Vulcan rèn cho Hercules một tấm áo giáp vàng để bảo vệ trái tim y, nguồn sống và sức mạnh. Món quà bằng vàng này được đeo vào, và với sự che chở này, người đệ tử mới cảm thấy an toàn. Chàng vẫn còn phải chứng minh sức mạnh của mình.

Neptune arrived with horses twain and handed them, in leash, to Hercules. Straight from the place of waters came they, of beauty rare and proven strength. And Hercules was pleased, for he had yet to prove his power to ride the horses twain.

Neptune đến với hai con ngựa và trao dây cương vào tay Hercules. Chúng đến từ vùng nước sâu thẳm, mang vẻ đẹp hiếm có và sức mạnh đã được kiểm chứng. Hercules hài lòng, vì chàng vẫn còn phải chứng minh khả năng cưỡi hai con ngựa này.

With graceful speech and brilliant wit came Mercury, carrying [16] a sword of rare design, which he proffered, in a silver sheath, to Hercules. He strapped it on the thigh of Hercules, bidding him keep it sharp and bright. “It must divide and cut,” said Mercury, “and with precision and acquired skill must move.” And Hercules, with joyous words, tendered his thanks. He had yet to prove his boasted skill.

Với lời nói uyển chuyển và trí tuệ sáng chói, Mercury xuất hiện, mang theo một thanh kiếm thiết kế tinh xảo, được đựng trong một vỏ bọc bạc, và trao nó cho Hercules. Chàng đeo thanh kiếm lên đùi, và Mercury dặn chàng giữ nó luôn sắc bén và sáng ngời. “Nó phải chém và cắt,” Mercury nói, “và phải di chuyển với sự chính xác cùng kỹ năng đã được rèn luyện.” Hercules, với lời cảm tạ vui vẻ, đón nhận món quà. Chàng vẫn còn phải chứng minh kỹ năng mà mình tự hào.

With blaring trumpets and the rush of stamping feet the chariot of the Sun God flashed. Apollo came and with his light and charm cheered Hercules, giving him a bow, a bow of light. Through nine wide open Gates must the disciple pass before he had acquired sufficient skill to draw that bow. It took him all that time to prove himself the Archer. Yet when the gift was proffered, Hercules took it, confident of power, a power as yet unproven.

Với tiếng kèn vang dội và tiếng vó ngựa rầm rập, cỗ xe của Thái Dương Thần lóe sáng. Apollo đến, mang theo ánh sáng và sức quyến rũ của Ngài, khích lệ Hercules và trao cho chàng một cây cung—một cây cung ánh sáng. Qua chín Cánh Cổng rộng mở, người đệ tử phải vượt qua trước khi có đủ kỹ năng để giương cung. Phải mất một khoảng thời gian dài chàng mới chứng minh được mình là một Cung Thủ thực thụ. Nhưng khi nhận món quà, Hercules tiếp nhận với lòng tự tin vào sức mạnh—một sức mạnh vẫn chưa được kiểm chứng.

And thus he stood equipped. The gods stood round his Teacher, and watched his antics and his joy. He played before the gods, and showed his prowess, boasting of his strength. Suddenly he paused and pondered long; then gave the horses to a friend to hold, the sword to still another and the bow unto a third. Then, running, disappeared into the nearby wood.

Và thế là chàng đứng đó, được trang bị đầy đủ. Các vị thần đứng quanh vị Huấn Sư, quan sát chàng với niềm vui sướng. Chàng khoe khoang trước các vị thần, thể hiện tài năng, tự hào về sức mạnh của mình. Đột nhiên, chàng dừng lại và suy nghĩ thật lâu; rồi trao cương ngựa cho một người bạn giữ, đưa thanh kiếm cho một người khác, và trao cây cung cho một người thứ ba. Sau đó, chàng chạy vội vào khu rừng gần đó.

The gods awaited his return, wondering and puzzled over his strange conduct. Back from the wood he came, bearing aloft a club of wood, cut from a stalwart living tree.

Các vị thần chờ đợi chàng trở lại, ngạc nhiên và bối rối trước hành động kỳ lạ này. Khi trở lại từ khu rừng, chàng giơ cao một cây chùy bằng gỗ, được cắt từ một cây cổ thụ mạnh mẽ.

“This is mine own,” he cried, “none gave it to me. This I can use with power. O gods, watch my high deeds.”

“Đây là của ta,” chàng kêu lên, “không ai ban nó cho ta. Cái này, ta có thể sử dụng bằng sức mạnh của mình. Hỡi các vị thần, hãy quan sát những chiến công vĩ đại của ta.”

And then, and only then, the Teacher said: “Go forth to labor.”

Và rồi, chỉ khi ấy, Huấn Sư mới cất tiếng: “Hãy lên đường và lao động.”

The Tibetan (Djwhal Khul)

Elaboration of the Myth

We come now to a consideration of Hercules himself. It is a most interesting story, and one that has been treated by many writers. Discussion as to the details of his life, and argument as to the sequence of events, are not any part of our objective. The various accounts differ in detail, according to the bias of the historian, and can be studied in the many classical histories [17] and dictionaries. We will deal here only with the twelve famous labors, and of them we read:

Giờ đây, chúng ta bước vào việc xem xét chính Hercules. Đây là một câu chuyện vô cùng thú vị, đã được nhiều tác giả đề cập đến. Việc tranh luận về chi tiết cuộc đời của chàng hay bàn luận về trình tự các sự kiện không phải là mục tiêu của chúng ta. Các bản ghi chép khác nhau về chi tiết, tùy theo quan điểm của từng sử gia, và có thể được nghiên cứu trong nhiều tài liệu lịch sử cổ điển và từ điển. Ở đây, chúng ta chỉ tập trung vào mười hai công việc vĩ đại của chàng, về chúng, chúng ta đọc thấy:

“Hercules, by the will of Jupiter, was subjected to the power of Eurystheus, and obliged to obey him in every demand. He consulted the oracle of Apollo and was told that he must be subservient for twelve years to the will of Eurystheus, in compliance with the commands of Jupiter; and that, after he had achieved the most celebrated labors, he should be translated to the gods.”

“Hercules, theo ý muốn của Jupiter, đã phải chịu quyền lực của Eurystheus và buộc phải tuân theo mọi mệnh lệnh của chàng. Chàng đã tham vấn thần Apollo và được cho biết rằng chàng phải phục tùng Eurystheus trong mười hai năm, tuân theo lệnh của Jupiter; và rằng, sau khi hoàn thành những công việc vĩ đại nhất, chàng sẽ được đưa lên hàng ngũ các vị thần.”

So he started off upon his career and, as the disciple under command of his soul, undertook the twelve labors, performing each of them in one of the zodiacal signs. He, therefore, represents every disciple who seeks to tread the path and demonstrate his control over the forces of his nature, and he likewise represents the point at which humanity now finds itself.

Và thế là chàng bắt đầu hành trình của mình, như một đệ tử dưới sự chỉ huy của linh hồn, chàng đảm nhận mười hai công việc vĩ đại, thực hiện mỗi công việc trong một dấu hiệu hoàng đạo. Do đó, chàng tượng trưng cho mọi đệ tử tìm kiếm con đường đạo và cố gắng thể hiện sự kiểm soát đối với các mãnh lực trong bản chất của mình, đồng thời cũng đại diện cho điểm tiến hóa mà nhân loại hiện đang đạt đến.

His early name was Alkeides, which was changed to Hercules after he had undergone a strange experience, and before he started forth upon his labors. The name Hercules was originally Herakles, which signifies “the glory of Hera”. Hera represents Psyche, or the soul, so his name embodied his mission, which was to manifest forth in active work on the physical plane the glory and the power of his innate divinity.

Tên khi sinh của chàng là Alkeides, nhưng sau một trải nghiệm kỳ lạ, trước khi bắt đầu các công việc vĩ đại, chàng đã đổi tên thành Hercules. Tên Hercules có nguồn gốc từ Herakles, có nghĩa là “vinh quang của Hera.” Hera đại diện cho Psyche, hay linh hồn, do đó tên của chàng chứa đựng sứ mệnh của mình—biểu lộ vinh quang và quyền năng của thần tính nội tại thông qua hành động tích cực trên cõi trần.

One of the ancient scriptures of India says: “By mastery of the binding life comes radiance,” and it was this mastery of the imprisoning form which was the glorious consummation of all the undertakings of Hercules. We are told that he had a divine father and an earthly mother and so, as with all sons of God, we find the same basic symbology emerging. They typify in their persons the essential duality of God in manifestation, of life in form, of soul in body, and of spirit and matter. This duality is the glory of humanity and also constitutes the problem which every human being has to solve. Father-Spirit and Mother-Matter meet together in man, and the work of the disciple is to withdraw himself from the bonds of the mother and thus respond to the love of the Father. [18]

Một trong những thánh thư cổ xưa của Ấn Độ nói rằng: “Bằng sự làm chủ sự sống ràng buộc, sẽ đến sự tỏa sáng,” và chính sự làm chủ hình tướng trói buộc này là thành tựu huy hoàng nhất trong mọi nhiệm vụ của Hercules. Chúng ta được kể rằng chàng có một người cha thần thánh và một người mẹ trần thế, và giống như mọi “người con của Thượng Đế,” biểu tượng nền tảng này lại xuất hiện. Họ thể hiện trong bản thân mình tính nhị nguyên thiết yếu của Thượng Đế trong sự biểu lộ—sự sống trong hình tướng, linh hồn trong thể xác, và tinh thần trong vật chất. Tính nhị nguyên này là vinh quang của nhân loại, nhưng đồng thời cũng là bài toán mà mỗi con người phải giải quyết. Cha—Tinh thần và Mẹ—Vật chất hội tụ trong con người, và nhiệm vụ của đệ tử là thoát khỏi sự trói buộc của người mẹ và từ đó đáp ứng tình yêu của người Cha.

This duality is also brought out in the fact that he was one of twins. We read that one twin was born of an earthly father, and that the other was the son of Zeus. This is the great realization that comes to every developed and self-aware human being. He finds himself conscious of two aspects which meet in his nature. There is the well developed and highly organized personality through which he habitually expresses himself (mental, emotional and physical), with all three parts coordinated into an integrated unit. Then there is the spiritual nature, with its impulses and intuitions, its constant pull towards things vital and divine, and the consequent inner warfare which grows out of this realized duality. Hercules was the disciple, living in a physical body, but capable at times, like St. Paul, of being “caught up to the third heaven,” and having intercourse with divine beings. In this condition, he visioned the Plan, knew what he had to do and perceived the reality of the spiritual life.

Tính nhị nguyên này cũng được thể hiện qua thực tế rằng chàng là một trong cặp song sinh. Chúng ta đọc thấy rằng một người sinh ra từ một người cha trần thế, trong khi người kia là con trai của Zeus. Đây chính là sự nhận thức vĩ đại mà mỗi con người phát triển và tự nhận thức đều đạt đến. Chàng nhận ra rằng trong chính bản thân mình có hai khía cạnh gặp nhau. Một mặt, chàng có một phàm ngã phát triển toàn diện và có tổ chức cao—bao gồm thể trí, thể cảm xúc và thể xác—ba phần này được phối hợp thành một đơn vị tích hợp, là công cụ mà chàng thường xuyên sử dụng để biểu lộ bản thân. Mặt khác, chàng có một bản chất tinh thần, với những xung động và trực giác, luôn thôi thúc chàng hướng về những điều thiêng liêng và trọng yếu, tạo nên một cuộc chiến nội tâm không ngừng nghỉ do sự nhận thức về tính nhị nguyên này. Hercules là một đệ tử sống trong một thể xác, nhưng đôi lúc, giống như Thánh Phaolô, chàng có thể được "đưa lên tầng trời thứ ba" và giao tiếp với các Đấng Thiêng Liêng. Trong trạng thái này, chàng có thể nhìn thấy Thiên Cơ, biết được nhiệm vụ của mình và nhận thức được thực tại của đời sống tinh thần.

There is also one interesting little fact in the story of his life which has a bearing on this same truth. Whilst still an infant, we are told that Hercules killed his twin. He was no longer a divided entity, no longer a duality, but soul and body formed one unity. This indicates always the stage of the disciple. He has made the at-one-ment and knows himself to be soul in body and not soul and body, and this realization has now to color all his actions. Whilst in the cradle, history relates, the lusty infant killed two serpents, again emphasizing duality. In this act he forecast the future in which he demonstrated that the physical nature no longer controlled, but that he could strangle the serpent of matter and that the great illusion no longer had him imprisoned. He slew the serpent of matter and the serpent of illusion. If the serpent symbology is studied, we shall find that three serpents are depicted: one standing for the serpent of matter, another for the serpent of illusion, and the third for the serpent of wisdom. This last serpent is only discovered when the other two have been slain. [19]

Câu chuyện về cuộc đời Hercules cũng chứa một chi tiết thú vị có liên quan đến chân lý này. Khi còn là một đứa trẻ sơ sinh, người ta kể rằng Hercules đã giết người anh em song sinh của mình. Chàng không còn là một thực thể phân đôi, không còn bị chia rẽ, mà linh hồn và thể xác hợp nhất thành một. Điều này luôn là dấu hiệu của một đệ tử—chàng đã đạt đến sự hợp nhất và biết mình chính là linh hồn trong thể xác, chứ không phải linh hồn và thể xác là hai thực thể riêng biệt. Nhận thức này từ nay trở đi sẽ chi phối mọi hành động của chàng. Khi còn nằm trong nôi, sử sách kể lại rằng đứa trẻ cường tráng ấy đã giết hai con rắn, một lần nữa nhấn mạnh tính nhị nguyên. Hành động này tiên đoán tương lai của chàng, trong đó chàng chứng minh rằng bản chất vật chất không còn kiểm soát được chàng nữa. Chàng có thể bóp chết con rắn của vật chất, và ảo tưởng vĩ đại không còn giam cầm chàng. Chàng đã giết con rắn của vật chất và con rắn của ảo tưởng. Nếu nghiên cứu biểu tượng con rắn, chúng ta sẽ thấy rằng có ba con rắn được mô tả: một con tượng trưng cho vật chất, một con tượng trưng cho ảo tưởng, và con thứ ba là con rắn của minh triết. Chỉ khi hai con rắn đầu tiên bị tiêu diệt, con rắn của minh triết mới được khám phá.

This sense of duality is the first stage of the spiritual experience and colors the thoughts of all the great aspirants and mystics of the world. Note how St. Paul cries out as he wrestles with the problem:

Cảm giác về tính nhị nguyên này là giai đoạn đầu tiên của kinh nghiệm tinh thần và ảnh hưởng đến tư tưởng của tất cả những người chí nguyện và các nhà thần bí vĩ đại trên thế giới. Hãy lưu ý cách Thánh Phaolô đã than thở khi ông vật lộn với vấn đề này:

“I find then a law, that, when I would do good, evil is present with me.

"Tôi khám phá ra luật này: khi tôi muốn làm điều thiện, thì điều ác lại hiện diện ngay bên tôi.

“For I delight in the law of God after the inward man: But I see another law in my members, warring against the law of my mind, and bringing me into captivity to the law of sin which is in my members.

Vì trong lòng, tôi vui thích với luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng tôi thấy có một luật khác trong chi thể mình, tranh đấu với luật trong trí tôi, bắt tôi làm nô lệ cho luật của tội lỗi đang ở trong chi thể tôi.

“I thank God through Jesus Christ our Lord. So then with the mind I myself serve the law of God; but with the flesh the law of sin.” (Romans, VII, 21-25).

Tôi cảm tạ Đức Chúa Trời nhờ Đức Jesus Christ, Chúa chúng ta! Như vậy, chính tôi lấy trí khôn phục luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng lấy xác thịt phục luật pháp của tội lỗi." (Rô-ma 7:21-25).

As Hercules grew up, we are told, great care was given to his education. He was trained in all possible accomplishments, and every faculty that he had was developed and organized. What is the lesson to be learned from this? It is the need to realize that every disciple, if he truly merits that name, must necessarily be a highly developed member of the human family. All three parts of his nature have to be unfolded; his mind must be well-stocked and functioning, and he must know how to use it; his sensitive emotional nature must be responsive to every type of contact; his physical body must be a fit medium of expression for the indwelling soul and equipped to undertake the tasks to which the man has pledged himself.

Khi Hercules trưởng thành, chúng ta được kể rằng chàng được giáo dục với sự quan tâm đặc biệt. Chàng được huấn luyện trong mọi lĩnh vực có thể, và mọi khả năng của chàng đều được phát triển và tổ chức chặt chẽ. Bài học cần rút ra từ điều này là gì? Chính là nhận thức rằng mỗi đệ tử, nếu thực sự xứng đáng với danh xưng ấy, nhất định phải là một thành viên phát triển cao của nhân loại. Cả ba phương diện trong bản chất của chàng đều phải được khai mở; trí tuệ của chàng phải được trang bị đầy đủ và vận hành linh hoạt, và chàng phải biết cách sử dụng nó; bản chất cảm xúc nhạy cảm của chàng phải có khả năng đáp ứng với mọi loại tiếp xúc; thể xác của chàng phải trở thành một phương tiện thích hợp để linh hồn cư ngụ và đủ khả năng thực hiện các nhiệm vụ mà chàng đã cam kết.

There has been amongst aspirants for many centuries a tendency to decry and belittle the mind. They are apt to say glibly, “The mind is the slayer of the real,” and, through an unrecognized mental inertia and laziness, to feel that the important thing is to have the heart nature developed. They regard the mind, with its capacity to analyze and discriminate, as a snare and a delusion. But this surely is an error. Knowledge of God is as necessary and as important as love of God; and this the new age, with its new type of aspirant, will most assuredly demonstrate. Saintliness, sweetness and a pleasing, loving disposition have their place in the sumtotal of the characteristics [20] of the aspirant, but when linked to stupidity and an undeveloped mentality, they fail to be as useful as they could be when coupled to intelligence. When linked to a high grade intellect and with mental powers oriented to divine knowledge, they will produce that knower of God whose influence becomes worldwide and who can both love and teach his fellowmen.

Suốt nhiều thế kỷ, giữa những người chí nguyện luôn tồn tại khuynh hướng xem thường và hạ thấp giá trị của trí tuệ. Họ thường nói một cách sáo rỗng rằng: “Trí tuệ là kẻ sát nhân của Thực Tại,” và do tình trạng trì trệ trí tuệ không được nhận thức, họ cho rằng điều quan trọng duy nhất là phát triển phẩm chất của trái tim. Họ xem trí tuệ, với khả năng phân tích và phân biện của nó, như một cái bẫy và một ảo tưởng. Nhưng đây chắc chắn là một sai lầm. Sự hiểu biết về Thượng Đế cũng quan trọng và cần thiết như tình yêu dành cho Ngài; và đây chính là điều mà kỷ nguyên mới, với loại người chí nguyện mới, sẽ chứng minh một cách chắc chắn. Lòng thánh thiện, sự dịu dàng, một tính cách đáng mến và yêu thương có vị trí của chúng trong tổng hòa các đặc điểm của người chí nguyện, nhưng nếu đi kèm với sự ngu muội và trí tuệ chưa phát triển, chúng sẽ không thể hữu ích như khi được kết hợp với một trí tuệ sắc bén và một tâm thức định hướng về tri thức thiêng liêng. Khi được gắn kết với một trí tuệ cấp cao và với năng lực tư duy hướng đến sự hiểu biết Thượng Đế, những phẩm chất đó sẽ tạo nên một người thức giả về Thượng Đế, có ảnh hưởng trên toàn thế giới, một người vừa có thể yêu thương vừa có thể giáo huấn nhân loại.

So Hercules was trained in all accomplishments and could take his place with the thinkers of his time. We are told also that his height was four cubits, a symbolic way of expressing the fact that he had achieved his full growth in all departments of his fourfold personality, Man, we are told, is the cube, “the city that stands foursquare”. Physically, emotionally and mentally, he was developed and to these three factors is added a fourth, a soul in conscious possession of its mechanism, the developed personality.

Vậy nên, Hercules được đào luyện trong mọi lĩnh vực và có thể sánh ngang với những nhà tư tưởng của thời đại mình. Chúng ta cũng được kể rằng chàng có chiều cao bốn cubit, một cách biểu đạt mang tính biểu tượng để chỉ rằng chàng đã đạt đến sự trưởng thành hoàn thiện trong tất cả các phương diện của phàm ngã bốn phần. Người ta nói rằng con người là khối lập phương, “thành phố đứng vững trên bốn phương.” Về thể chất, cảm xúc và trí tuệ, chàng đã phát triển toàn diện, và ba yếu tố này được bổ sung bởi yếu tố thứ tư—một linh hồn làm chủ một cách có ý thức cơ chế của nó, tức là một phàm ngã được hoàn thiện.

Having achieved his growth and having been trained in all that the world could give him, we are told next that he proceeded to slay his teachers. He killed them all and got rid of them. Why? Because he had reached the point where he could stand on his own feet, forming his own conclusions, guiding his own life, and handling his own affairs. It was necessary, therefore, to rid himself of all those who sought to supervise him; he had to break away from authority and set out to find his own way and make his own contacts with life. This is where many aspirants stand at this time. They are in possession of much theory, they have a relatively wide technical knowledge of the nature of the Path and of what they should do upon it, but they do not as yet stand on their own feet and tread that Path, alone and unsupported. They need props, and look for people to tell them what to do and what they should believe. We shall find in the third labor which Hercules performed, in the sign Gemini, that he was tested on this point and had to prove that he was justified in taking this step. He then makes the interesting discovery that he is not nearly so free nor so strong as, in his youthful enthusiasm, he fancied himself to be. [21]

Sau khi đạt được sự trưởng thành và đã được đào luyện với tất cả những gì thế gian có thể ban tặng, chúng ta được kể rằng chàng tiếp tục giết các vị thầy của mình. Chàng giết tất cả họ và loại bỏ họ. Tại sao? Bởi vì chàng đã đạt đến điểm mà chàng có thể tự đứng vững trên đôi chân của chính mình, tự hình thành kết luận, tự dẫn dắt đời sống của mình và tự quản lý các công việc của bản thân. Do đó, chàng cần phải loại bỏ tất cả những ai tìm cách giám sát chàng; chàng phải tự giải phóng khỏi quyền uy và tự tìm kiếm con đường của mình, tự tạo dựng những tiếp xúc với cuộc sống. Đây chính là nơi mà nhiều người chí nguyện đang đứng tại thời điểm này. Họ sở hữu nhiều lý thuyết, họ có một nền tảng kỹ thuật tương đối rộng về bản chất của Đường Đạo và những gì họ cần làm trên con đường ấy, nhưng họ vẫn chưa thực sự đứng vững trên đôi chân của chính mình để bước đi trên Đường Đạo, một cách đơn độc và không cần sự hỗ trợ. Họ vẫn cần những chỗ dựa, và họ tìm kiếm những người có thể bảo họ phải làm gì và tin vào điều gì. Chúng ta sẽ thấy trong công việc thứ ba mà Hercules thực hiện, trong dấu hiệu Song Tử, rằng chàng đã được thử thách về điểm này và phải chứng minh rằng chàng có đủ lý do chính đáng để thực hiện bước đi đó. Khi đó, chàng đã khám phá ra một sự thật thú vị rằng chàng không hề tự do hay mạnh mẽ như chàng tưởng tượng trong sự nhiệt thành của tuổi trẻ.

When he reached the age of eighteen years, we are told, he slew a lion which was devastating the countryside and that he began to perform other public services, so that, little by little, his name came before the people. Eighteen is always a significant number. In it we have the number ten, which is the number of personality perfection, plus the number eight, which, we are told by some numerologists, is the number of the Christ force. It is the Christ force, in the new cycle of discipleship, seeking to express itself, which produces the condition of turmoil and the difficulties which characterize that stage. It is of value perhaps to note the following:

Khi đạt đến tuổi mười tám, chúng ta được kể rằng chàng đã giết một con sư tử đang tàn phá vùng đồng quê, và rằng chàng bắt đầu thực hiện các công việc công ích khác, dần dần làm cho tên tuổi của chàng trở nên nổi tiếng. Số mười tám luôn là một con số có ý nghĩa đặc biệt. Trong đó, chúng ta có số mười, con số tượng trưng cho sự hoàn thiện của phàm ngã, cộng với số tám, con số mà một số nhà thần số học cho rằng tượng trưng cho năng lượng của Đức Christ. Chính năng lượng của Đức Christ, trong chu kỳ mới của đệ tử đạo, tìm cách biểu lộ, đã tạo nên trạng thái hỗn loạn và những khó khăn đặc trưng cho giai đoạn này. Có lẽ điều có giá trị là lưu ý đến điều sau:

“Number eight is the circle which we have already found to be the container of all the potencies out of which the Light shall bring Perfection, but now twisted or turned upon itself. The serpent no longer swallows its tail, thus completing its cycle, but writhes and twists in space and out of the contortions of its writings it brings forth a perverted image of itself... But in eighteen we have the vision of the Straight and Narrow Path: the Dot has unfolded into the one and become the axis around which our life turns. At this step the Initiate has faced this one divine truth and felt the mighty urge of the One Life. Henceforth he strives to make the twisted line subservient to the straight line” (The Key of Destiny, H. A. and F. H. Curtiss. pp. 246-247).

"Số tám là vòng tròn mà chúng ta đã thấy là nơi chứa đựng tất cả các tiềm năng, từ đó Ánh Sáng sẽ mang đến sự Hoàn Thiện, nhưng giờ đây bị xoắn lại hoặc uốn cong trên chính nó. Con rắn không còn nuốt đuôi của chính mình nữa, hoàn tất chu kỳ của nó, mà quằn quại và xoắn mình trong không gian, và từ những cơn quặn mình đó, nó tạo ra một hình ảnh méo mó của chính nó... Nhưng trong số mười tám, chúng ta có viễn cảnh về Con Đường Thẳng và Hẹp: Điểm đã mở rộng thành số một và trở thành trục quanh đó cuộc sống của chúng ta xoay chuyển. Tại bước này, người Điểm Đạo đã đối diện với chân lý thiêng liêng duy nhất này và cảm nhận được động lực vĩ đại của Một Sinh Mệnh. Từ đây trở đi, chàng phấn đấu làm cho đường xoắn trở nên phục tùng đường thẳng.” (The Key of Destiny, H. A. and F. H. Curtiss, tr. 246-247).

It is interesting to note also that we are told in the Kabalah:

Cũng đáng chú ý khi chúng ta được biết trong Kabbalah rằng:

“The eighteenth path is called the House of Influence... and from the midst of the investigation the arcana and hidden sense are drawn forth which dwell in its shade and which cling to it from the cause of all causes.” (Sepher Yetzira, No. 30).

"Con đường thứ mười tám được gọi là Nhà của Ảnh Hưởng... và từ giữa sự khảo sát, những bí ẩn và ý nghĩa ẩn giấu được rút ra, chúng cư ngụ trong bóng của nó và bám vào nó từ nguyên nhân của mọi nguyên nhân." (Sepher Yetzira, No. 30).

This is what Hercules, at the age of eighteen, is setting out to do. He must tread the Path whereon all the hidden things can be brought forth into the light; he has reached the point where he can achieve knowledge of himself and can begin to investigate the hidden forces of nature. This is the problem of all disciples.

Đây chính là điều mà Hercules, ở tuổi mười tám, bắt đầu thực hiện. Chàng phải đi trên Thánh đạo nơi mà mọi điều ẩn giấu có thể được đưa ra ánh sáng; chàng đã đạt đến điểm mà chàng có thể đạt được tri thức về chính mình và bắt đầu điều tra các mãnh lực ẩn giấu của tự nhiên. Đây là vấn đề của tất cả các đệ tử.

The next episode in his career is his marriage and the birth of three children, a symbolic way of expressing the truth that he made at-one-ment with Psyche, the soul. From that union [22] the three aspects of the soul were born or began to manifest themselves. He began to know the nature of the spiritual will and to use it in the directing of his life. He experienced the workings of spiritual love and became conscious of the need to serve. Spiritual mind began to reveal truth to him and he saw the underlying purpose. These are the higher correspondences of the three aspects of the personality, his mind, his emotional nature, and his physical body.

Giai đoạn tiếp theo trong hành trình của chàng là kết hôn và sinh ba đứa con, một cách diễn đạt mang tính biểu tượng về sự thật rằng chàng đã hợp nhất với Psyche, linh hồn. Từ sự kết hợp đó, ba phương diện của linh hồn đã được sinh ra hoặc bắt đầu biểu hiện. Chàng bắt đầu nhận biết bản chất của ý chí tinh thần và sử dụng nó để chỉ đạo cuộc sống của mình. Chàng trải nghiệm hoạt động của tình thương tinh thần và trở nên ý thức về nhu cầu phụng sự. Trí tinh thần bắt đầu mặc khải chân lý cho chàng và chàng nhận thấy mục đích ẩn giấu. Đây là những tương ứng cao hơn của ba phương diện của phàm ngã—trí tuệ, bản chất cảm xúc và thể xác của chàng.

We now discover him going through a very peculiar stage. We read in the ancient story that Hera (Psyche, or the soul) drove him mad. She drove him mad through jealousy and, whilst in that curious state, we read that he slew his children and his friends and everyone connected with him. May it not be suggested in this connection that he passed through that unwholesome state common to all beginners on the Path of Discipleship, in which a morbid conscientiousness sacrifices everybody and everything to individual soul unfoldment? This is a most common fault with aspirants. Their sense of proportion is frequently at fault and their sense of values distorted. The balanced and sane life, which is the ideal for a son of God, is subordinated to a fanatical determination to make spiritual progress. Spiritual ambition sways the aspirant and he becomes destructive, unbalanced and, usually, exceedingly difficult to live with. There is much sound counsel in the Biblical injunction, “Be not righteous overmuch, why shouldst thou die?” This stage is curiously exemplified for us on a large scale in the fanatical sacrifices made in the Orient, and under the Inquisition and the Protestant Covenanters, of all who interpreted truth contrary to the conviction of a particular group of believers.

Giờ đây, chúng ta thấy chàng đang trải qua một giai đoạn rất kỳ lạ. Chúng ta đọc trong câu chuyện cổ rằng Hera (Psyche, hoặc linh hồn) đã làm chàng phát điên. Bà khiến chàng phát điên vì ghen tuông, và trong trạng thái kỳ lạ đó, chàng đã giết chết con mình, bạn bè và tất cả những ai có liên quan đến chàng. Có thể nào chúng ta gợi ý rằng chàng đã trải qua trạng thái bất ổn đó, vốn phổ biến với tất cả những người mới bắt đầu trên Con Đường Đệ Tử—trong đó một sự lương tâm quá mức bệnh hoạn hy sinh mọi người và mọi thứ cho sự phát triển cá nhân của linh hồn? Đây là một lỗi rất phổ biến đối với những người chí nguyện. Cảm giác về sự cân xứng của họ thường bị lệch lạc và giá trị bị bóp méo. Một cuộc sống cân bằng và tỉnh táo, vốn là lý tưởng của một người con của Thượng Đế, bị khuất phục bởi một quyết tâm cuồng tín để đạt được tiến bộ tinh thần. Tham vọng tâm linh chi phối người chí nguyện, khiến họ trở nên hủy diệt, mất cân bằng và thường vô cùng khó sống chung. Có rất nhiều lời khuyên hữu ích trong lời răn Kinh Thánh: “Chớ quá công chính, cớ gì con phải chết?” Giai đoạn này được thể hiện một cách kỳ lạ trên quy mô lớn trong những sự hy sinh cuồng tín ở phương Đông, dưới thời Tòa án Dị giáo và trong phong trào Thanh giáo Kháng Cách, khi tất cả những ai diễn giải chân lý khác với niềm tin của một nhóm tín đồ cụ thể đều bị hy sinh.

When Hercules had recovered from his insanity, as he fortunately did, we are told that a new name was given to him, that a new abode was assigned to him and that the twelve labors were laid upon him for fulfilment. We are told that these words were spoken to him: “From this day forth thy [23] name shall no more be Alkeides, but Herakles. In Tirjus shall thou make thy abode, and there, serving, thou shalt accomplish thy labors. When this shall be accomplished then thou shalt become one of the Immortals.” (Greek and Roman Mythology, Vol. I, Fox.) Having recovered his sanity, the focus of his life was changed. He no longer lived down where he lived before. The name of the soul became his name, and he was constantly reminded thereby that to express the glory of the soul was his mission. The twelve great labors that were to set the seal of accomplishment upon his life, and which would indicate his right to join the great group of Immortals, were outlined to him and he entered upon the Way.

Khi Hercules hồi phục khỏi cơn điên loạn của mình—may thay, chàng đã làm được—chúng ta được kể rằng một cái tên mới đã được ban cho chàng, một nơi cư trú mới được chỉ định cho chàng, và mười hai công việc được giao cho chàng hoàn thành. Chúng ta được kể rằng những lời này đã được nói với chàng: “Từ ngày hôm nay, tên của ngươi sẽ không còn là Alkeides, mà là Herakles. Ở Tirjus, ngươi sẽ cư trú, và ở đó, phụng sự, ngươi sẽ hoàn thành công việc của mình. Khi việc này được hoàn thành, ngươi sẽ trở thành một trong những Đấng Bất Tử.” (Greek and Roman Mythology, Vol. I, Fox). Sau khi hồi phục sự tỉnh táo, trọng tâm cuộc đời của chàng đã thay đổi. Chàng không còn sống ở nơi mà chàng đã từng sống. Tên của linh hồn trở thành tên của chàng, và qua đó, chàng được nhắc nhở liên tục rằng việc thể hiện sự huy hoàng của linh hồn chính là sứ mệnh của chàng. Mười hai công việc vĩ đại—được đặt ra để đặt dấu ấn hoàn thành lên cuộc đời chàng và xác định quyền của chàng để gia nhập nhóm các Đấng Bất Tử vĩ đại—đã được phác thảo cho chàng, và chàng bước vào Thánh đạo.

We are told that in his person he symbolized the Fixed Cross in the heavens, formed by the four constellations Taurus, Leo, Scorpio and Aquarius. Tradition tells us that he was physically bullnecked, as well as psychologically stubborn and ready to attack any problem and to rush blindly into any undertaking. Nothing could turn him from his purpose, and we shall see when we study the labors that he rushed headlong into them. Nothing deterred him, nothing frightened him, and one-pointedly he went his way. The ancient motto that has governed the activities of all active disciples became his and his soul enjoined upon him the need of “the power to do, the power to dare, the power to be silent, and the power to know.” “The power to do” is the motto of Taurus, and this he exemplified in his twelve labors. He symbolized Leo, because he always wore the lion’s skin as a proof of his courage, and the motto of that sign being “the power to dare,” no danger affrighted him and no difficulty turned him back.

Chúng ta được biết rằng, trong chính bản thân chàng, chàng tượng trưng cho Thập Giá Cố Định trên bầu trời, được tạo thành từ bốn chòm sao Kim Ngưu, Sư Tử, Hổ Cáp và Bảo Bình. Truyền thống kể rằng chàng có một cái cổ to và vạm vỡ, cả về mặt thể chất lẫn tâm lý, và sẵn sàng tấn công bất kỳ vấn đề nào cũng như lao vào bất kỳ nhiệm vụ nào một cách mù quáng. Không gì có thể làm chàng chệch hướng khỏi mục đích của mình, và khi chúng ta nghiên cứu các công việc của chàng, chúng ta sẽ thấy rằng chàng lao vào chúng một cách bất chấp. Không có gì có thể ngăn cản chàng, không có gì có thể làm chàng sợ hãi, và với sự nhất tâm, chàng đã tiến bước. Châm ngôn cổ xưa đã chi phối mọi hoạt động của tất cả các đệ tử tích cực cũng trở thành của chàng, và linh hồn chàng đã truyền dạy cho chàng nhu cầu về: “quyền năng để hành động, quyền năng để dám dấn thân, quyền năng để giữ im lặng và quyền năng để hiểu biết.” “Quyền năng để hành động” là phương châm của Kim Ngưu, và điều này được chàng thể hiện trong mười hai công việc của mình. Chàng tượng trưng cho Sư Tử, vì chàng luôn khoác trên mình bộ da sư tử như một bằng chứng về lòng dũng cảm của mình, và phương châm của dấu hiệu đó là “quyền năng để dám dấn thân”—không nguy hiểm nào làm chàng khiếp sợ, không khó khăn nào khiến chàng chùn bước.

Perhaps his outstanding achievement was what he accomplished in the sign Scorpio; for the great work was to overcome illusion. It was consummated and carried to completion in the sign Scorpio. The motto of that sign is silence. In Capricorn he becomes the Initiate, and this stage is always impossible until illusion has been overcome and the power of silence has been [24] achieved. Therefore, when an infant in the cradle, unable to speak, he symbolized the high water mark of his achievement by strangling the two serpents. Then, at his maturity, he symbolized in himself Aquarius the Man, whose motto is “to know”. He had a mind and used his intellect in active work and service. So, doing and daring, in silence and with knowledge, he overcame all obstacles and passed undeterred from Aries to Pisces; starting in Aries as the humble aspirant and ending in Pisces as the all-knowing, victorious World Savior.

Có lẽ thành tựu nổi bật nhất của chàng là những gì chàng đạt được trong dấu hiệu Hổ Cáp; vì công việc vĩ đại là vượt qua ảo tưởng. Điều này đã được hoàn tất và đưa đến sự hoàn thành trong dấu hiệu Hổ Cáp. Phương châm của dấu hiệu này là sự im lặng. Trong Ma Kết, chàng trở thành điểm đạo đồ, và giai đoạn này luôn là điều không thể đạt được cho đến khi ảo tưởng đã bị khắc phục và quyền năng của sự im lặng đã được lĩnh hội. Do đó, khi còn là một đứa trẻ trong nôi, không thể nói được, chàng đã biểu thị đỉnh cao thành tựu của mình bằng cách bóp chết hai con rắn. Sau đó, khi trưởng thành, chàng tượng trưng cho Bảo Bình—Người, có phương châm là “hiểu biết”. Chàng có một trí tuệ và sử dụng trí năng của mình trong công việc và phụng sự tích cực. Vì vậy, khi hành động và dám dấn thân, trong im lặng và với tri thức, chàng đã vượt qua mọi chướng ngại và tiến bước không nao núng từ Bạch Dương đến Song Ngư; bắt đầu trong Bạch Dương như một người chí nguyện khiêm tốn và kết thúc trong Song Ngư như một Đấng Cứu Thế Toàn Tri và Chiến Thắng.

One point might be made here. In the history of Hercules we are told nothing of what he ever said; we are only told of what he did. Through his deeds, he earned the right to speak. In the story of that greater Son of God, Jesus the Christ, we are told not only what he did but also what he said. In the silence of Hercules and in his steady accomplishment, no matter by what failure and difficulty he might be faced, and in his power of endurance, we have shown to us the characteristics of the disciple. In the story of Jesus the Christ, through the demonstration of his powers and by the words he spoke, we have the proofs of the Initiate.

Có một điểm đáng lưu ý ở đây. Trong lịch sử của Hercules, chúng ta không được kể về bất kỳ điều gì chàng từng nói; chúng ta chỉ được biết về những gì chàng đã làm. Thông qua hành động của mình, chàng đã giành được quyền được lên tiếng. Trong câu chuyện về Đấng Con Vĩ Đại hơn, Đức Jesus Christ, chúng ta không chỉ được biết những gì Ngài đã làm mà còn những lời Ngài đã nói. Trong sự im lặng của Hercules và trong sự hoàn thành vững chắc của chàng, bất kể chàng phải đối mặt với thất bại hay khó khăn gì, và trong quyền năng chịu đựng của chàng, chúng ta thấy được những phẩm tính của một đệ tử. Trong câu chuyện về Đức Jesus Christ, qua sự thể hiện quyền năng của Ngài và qua những lời Ngài phán dạy, chúng ta có được những minh chứng về một điểm đạo đồ.

And now having reached maturity, having evolved the characteristics necessary for his mission, we read that the gods and goddesses did their utmost to equip him for the work that he had to do. He had received all that the world could give him; now the powers of the soul were conferred upon him, and he had to learn how to use them. We read that Minerva gave him a beautiful robe but, as we never read of his wearing it, we can infer that something symbolic is intended. There are many cases in history where a robe is given: Joseph received a many-colored garment from his father; the mantle of Elijah descended upon Elisha, and the robe of Christ was divided up and quarrelled over by the soldiers at the crucifixion. It is the general opinion that the robe is the symbol of vocation. The vocation of Elijah had passed on to Elisha; the vocation of the Christ, the World Savior, came to an end at the crucifixion [25] when he entered upon greater and more important work.

Và giờ đây, khi đã đạt đến sự trưởng thành, khi đã phát triển những phẩm tính cần thiết cho sứ mệnh của mình, chúng ta đọc thấy rằng các vị thần và nữ thần đã làm hết sức mình để trang bị cho chàng những gì cần thiết để thực hiện công việc của mình. Chàng đã nhận được tất cả những gì thế gian có thể ban cho chàng; giờ đây, các quyền năng của linh hồn đã được trao cho chàng, và chàng phải học cách sử dụng chúng. Chúng ta đọc được rằng Minerva đã tặng chàng một chiếc áo choàng tuyệt đẹp, nhưng vì không thấy đề cập đến việc chàng từng mặc nó, chúng ta có thể suy luận rằng đó là một biểu tượng. Trong lịch sử có rất nhiều trường hợp một chiếc áo choàng được ban tặng: Giuse nhận được chiếc áo nhiều màu từ cha mình; chiếc áo choàng của Ê-li đã truyền lại cho Ê-li-sê; và áo choàng của Đức Christ đã bị chia cắt và tranh giành bởi những người lính tại cuộc đóng đinh. Ý kiến chung cho rằng áo choàng là biểu tượng của thiên chức. Thiên chức của Ê-li đã truyền lại cho Ê-li-sê; thiên chức của Đức Christ, Đấng Cứu Thế, đã kết thúc tại cuộc đóng đinh, khi Ngài bước vào một công việc vĩ đại hơn và quan trọng hơn.

The wisdom that was now realized by Hercules because he had made the at-one-ment with the soul, impressed upon him a sense of vocation. He was pledged to the spiritual life and nothing could deter him. Vulcan gave him a golden breastplate, magnetic and protective, the symbol of energy, emanating from high sources of spiritual power, which will enable the aspirant to undertake the twelve labors and go forward unafraid. From Neptune, the god of the waters, he received horses. The symbology underlying this gift is very interesting. Horses, as well as Neptune, the god of the waters and the deity of the watery, emotional nature, stand for the capacity to be carried away by either a line of thought or an emotional reaction. This emotional, fluidic nature, with its sensitivity and its power to feel, when rightly used and subordinated to godlike purposes, is one of the greatest assets that the disciple possesses. With the aid of Neptune and the rapid steeds, Hercules could be en rapport with the most distant sphere in which his labors could be cast. Through emotional sensitivity and response, we, too, can be en rapport with the world in which our labors are cast. Equipped, therefore, with vocation, spiritual energy and sensitivity, the gift of a sword that came from Mercury, the messenger of the gods, is of profound significance, for the sword is the symbol of the mind which divides asunder, separates and cuts off. Through its use, Mercury added to the other gifts bestowed upon Hercules that of mental analysis and discrimination. We are told that Apollo, the Sun God himself, became interested in Hercules and pondered what he could give him that would serve him. Finally he gave him a bow and arrow, symbolizing the capacity to go straight to the goal; symbol, too, of that piercing illumination, that shaft of Light which could irradiate the darkness of his path, when needed.

Minh triết mà Hercules giờ đây lĩnh hội được vì chàng đã đạt đến sự hợp nhất với linh hồn, đã khắc sâu trong chàng ý thức về thiên chức. Chàng đã cam kết với đời sống tinh thần và không gì có thể làm chàng chệch hướng. Vulcan đã ban cho chàng một tấm giáp vàng, có từ tính và bảo vệ, tượng trưng cho năng lượng phát xuất từ các nguồn quyền năng tinh thần cao cả, điều sẽ giúp người chí nguyện đảm nhận mười hai công việc và tiến bước không sợ hãi. Từ Neptune, vị thần của nước, chàng nhận được những con ngựa. Biểu tượng ẩn sau món quà này rất thú vị. Ngựa, cũng như Neptune—vị thần của nước và là thần của bản chất cảm xúc lưu động—đại diện cho khả năng bị cuốn theo một dòng suy nghĩ hoặc một phản ứng cảm xúc. Bản chất cảm xúc lưu động này, với sự nhạy cảm và quyền năng cảm nhận của nó, khi được sử dụng đúng đắn và quy phục mục đích thiêng liêng, trở thành một trong những tài sản quý giá nhất mà một đệ tử có thể có. Với sự hỗ trợ của Neptune và những con tuấn mã nhanh nhẹn, Hercules có thể thiết lập liên hệ với những lĩnh vực xa xôi nhất nơi công việc của chàng có thể diễn ra. Thông qua sự nhạy cảm và phản ứng cảm xúc, chúng ta cũng có thể liên hệ với thế giới mà chúng ta đang thực hiện công việc của mình. Với thiên chức, năng lượng tinh thần và sự nhạy cảm, món quà của một thanh kiếm đến từ Mercury, sứ giả của các vị thần, mang một ý nghĩa sâu sắc, vì thanh kiếm tượng trưng cho trí tuệ có khả năng phân tách, phân biệt và loại bỏ. Nhờ sử dụng nó, Mercury đã bổ sung cho Hercules món quà về khả năng phân tích trí tuệ và sự phân biện tinh thần. Chúng ta được biết rằng Apollo, chính vị thần Mặt Trời, đã quan tâm đến Hercules và suy ngẫm xem có thể ban cho chàng điều gì hữu ích. Cuối cùng, Ngài đã trao cho chàng một cây cung và mũi tên, biểu tượng của khả năng đi thẳng đến mục tiêu; đồng thời cũng là biểu tượng của ánh sáng soi rọi, của tia sáng minh triết có thể chiếu rọi bóng tối trên con đường của chàng khi cần thiết.

Thus equipped, Hercules stands ready for the great endeavor. And when all the gifts had been bestowed and he stood with his divine equipment, we read of a most intriguing little detail: [26] he went out and cut for himself a club. All these divine gifts were very lovely and wonderful, but as yet he did not know how to use them. He sensed his vocation, he believed in spiritual energy, he was told that he possessed the horses of contact and that, if he would, the bow and arrow of illumination were his; but he liked the familiar club of his own fashioning. He would rather bludgeon his way through with what he knew he could use than use the unfamiliar tools which had been given him. So he clutched his wooden club and set out upon his labors. [27]

Như vậy, được trang bị đầy đủ, Hercules sẵn sàng cho đại nghiệp. Và khi tất cả các món quà đã được ban tặng, và chàng đứng với những trang bị thiêng liêng của mình, chúng ta đọc được một chi tiết rất thú vị: chàng đi ra ngoài và tự tay đẽo một cây gậy. Tất cả những món quà thiêng liêng này đều tuyệt vời và kỳ diệu, nhưng chàng vẫn chưa biết cách sử dụng chúng. Chàng cảm nhận được thiên chức của mình, chàng tin vào năng lượng tinh thần, chàng được cho biết rằng chàng sở hữu những con tuấn mã của sự kết nối và rằng, nếu chàng muốn, cây cung và mũi tên của sự soi sáng đã là của chàng; nhưng chàng vẫn thích chiếc gậy quen thuộc do chính mình tạo ra. Chàng thà dùng sức mạnh thô sơ với thứ mà chàng biết cách sử dụng, hơn là dùng những công cụ xa lạ được ban tặng. Vì vậy, chàng nắm chặt cây gậy gỗ của mình và bắt đầu những công việc của mình.

LABOR I The Capture of the Man-eating Mares

(Aries, March 21st—April 20th)

The Myth

The first great Gate stood open wide. A voice came through that portal: “Hercules, my son, go forth. Pass through the Gate and enter on the Way. Perform thy labor and return to me, reporting on the deed.”

Cánh Cổng vĩ đại đầu tiên mở rộng. Một giọng nói vang lên từ phía cổng: “Hercules, con trai ta, hãy tiến lên. Hãy vượt qua Cánh Cổng và bước vào Thánh Đạo. Hãy thực hiện công việc của con và trở về báo cáo về hành động đã hoàn thành.”

With shouts of triumph Hercules rushed forth, running between the pillars of the Gate with over-weening confidence and surety of power. And thus the Labor started and the first great act of service was begun. The story that they tell carries instruction for the sons of men, who are the sons of God.

Với những tiếng hô vang chiến thắng, Hercules lao về phía trước, chạy giữa hai trụ cổng với sự tự tin thái quá và chắc chắn về sức mạnh của mình. Và như vậy, Kỳ Công bắt đầu, và hành động phụng sự vĩ đại đầu tiên được bắt đầu. Câu chuyện mà họ kể lại mang đến bài học cho những người con của nhân loại, những người là con của Thượng Đế.

The son of Mars, Diomedes of fiery fame, ruled in the land beyond the Gate, and there he raised the horses and the mares of war, upon the marshes of his land. Wild were these horses and fierce the mares and all men trembled at their sound, for they ravaged up and down the land, wreaking great damage, killing all the sons of men who crossed their path, and breeding steadily most wild and evil horses.

Con trai của sao Hỏa, Diomedes, người nổi tiếng bởi ngọn lửa chiến trận, cai trị vùng đất bên kia Cánh Cổng, nơi mà chàng đã nuôi dưỡng những con ngựa và những con cái của chiến tranh, trên những đầm lầy của vương quốc mình. Những con ngựa này hung dữ, những con cái này mãnh liệt, và tất cả mọi người đều run sợ trước tiếng vó của chúng, vì chúng tàn phá khắp vùng đất, gây ra sự hủy diệt lớn lao, giết chết tất cả những người con của nhân loại đi ngang qua con đường của chúng, và không ngừng sinh sản ra những con ngựa hoang dã và ác độc hơn nữa.

“Capture these mares, and stop these evil deeds,” was the command which fell upon the ears of Hercules. “Go, rescue this far land and those who live upon it.”

“Hãy bắt giữ những con ngựa cái này, và chấm dứt những hành động tàn ác này,” đó là mệnh lệnh vang đến tai Hercules. “Hãy đi, giải cứu vùng đất xa xôi này và những người đang sinh sống ở đó.”

“Abderis,” cried Hercules, “come forth and aid me with this task,” calling the friend he greatly loved and who ever followed in his steps as he went from place to place. And Abderis came forth and took his stand beside his friend and with him faced the task. Laying all plans with care, these two followed the horses as they ranged the meadows and the marshes of that land. Finally, he cornered these wild mares within a field [28] wherein there was no further place to move, and there he caught and tethered them. He yelled with joy at the success achieved.

“Abderis,” Hercules kêu lên, “hãy ra đây và giúp ta trong nhiệm vụ này,” gọi người bạn mà chàng hết mực yêu quý, người luôn theo chân chàng trên khắp nẻo đường. Và Abderis bước ra, đứng bên cạnh bạn mình và cùng chàng đối mặt với nhiệm vụ. Lập kế hoạch một cách cẩn thận, cả hai đuổi theo những con ngựa khi chúng rong ruổi trên những đồng cỏ và đầm lầy của vùng đất đó. Cuối cùng, chàng dồn những con ngựa hoang vào một cánh đồng nơi chúng không còn chỗ để di chuyển, và ở đó, chàng bắt được và cột chặt chúng lại. Chàng hét lên trong vui sướng trước thành công đạt được.

So great was his delight in the prowess thus displayed that he deemed it ‘neath his dignity to hold the mares or drive them on the Way to Diomedes. He called his friend, saying: “Abderis, come hither and drive these horses through the Gate”.

Niềm vui vì chiến công lẫy lừng này lớn đến mức chàng nghĩ rằng việc giữ những con ngựa hay tự tay dắt chúng về đường đến chỗ Diomedes là một việc quá tầm thường đối với mình. Chàng gọi người bạn: “Abderis, hãy đến đây và dẫn những con ngựa này qua Cánh Cổng.”

And then he turned his back and pridefully marched forward. But Abderis was weak and feared the task. He could not hold the mares, or harness them or drive them through the Gate in the footsteps of his friend. They turned on him; they rent and trod him underfoot; they killed him and escaped into the wilder lands of Diomedes.

Rồi chàng quay lưng lại và đầy kiêu hãnh tiến về phía trước. Nhưng Abderis yếu đuối và e sợ nhiệm vụ. Chàng không thể giữ được những con ngựa, không thể cột dây cương chúng, cũng không thể dẫn chúng qua Cánh Cổng theo dấu chân bạn mình. Chúng quay lại tấn công chàng; chúng xé nát và dẫm đạp chàng đến chết, rồi chạy trốn vào những vùng đất hoang vu hơn của Diomedes.

Wiser, grief-stricken, humble and discouraged, Hercules returned unto his task. He sought the mares again from place to place, leaving his friend, dying upon the ground. Again he caught the horses, and drove them through the Gate himself. But Abderis lay dead.

Trở nên khôn ngoan hơn, đau buồn, khiêm nhường và chán nản, Hercules quay trở lại nhiệm vụ của mình. Chàng lại tìm bắt những con ngựa, đi từ nơi này sang nơi khác, để lại người bạn của mình đang hấp hối trên mặt đất. Một lần nữa, chàng bắt được chúng, và lần này tự tay dẫn chúng qua Cánh Cổng. Nhưng Abderis đã chết.

The Teacher looked him o’er with care and sent the horses to the place of peace, there to he tamed and broken to their tasks. The people of that land, released from fear, welcomed the deliverer, acclaiming Hercules as savior of the land. But Abderis lay dead.The Teacher turned to Hercules and said: “Labor the first is ended; the task is done, but badly done. Learn the true lesson of this task and then pass on to further service to your fellowmen. Go forth into the country guarded by the second Gate and find and take the sacred Bull into the Holy Place.”

Vị Thầy nhìn chàng một cách cẩn trọng và sai đưa những con ngựa đến chốn bình an, nơi chúng sẽ được thuần hóa và huấn luyện cho nhiệm vụ của mình. Những người dân trong vùng đất đó, được giải thoát khỏi nỗi sợ hãi, đã chào đón vị cứu tinh của họ, tung hô Hercules như người giải cứu vĩ đại của vùng đất này. Nhưng Abderis vẫn nằm đó, đã chết. Vị Thầy quay sang Hercules và nói: “Công việc thứ nhất đã kết thúc; nhiệm vụ đã hoàn thành, nhưng đã được thực hiện một cách tồi tệ. Hãy học bài học thực sự của nhiệm vụ này, rồi tiếp tục công việc phục vụ đồng loại của con. Hãy tiến vào vùng đất được bảo vệ bởi Cánh Cổng thứ hai, tìm và dẫn con Bò Thiêng vào Nơi Thánh.”

The Tibetan (Djwhal Khul)

Chân sư Tây Tạng

The Meaning of the Myth—Ý nghĩa của Thần thoại

In combining this astrological and symbolic story with the everyday life and tests of modern discipleship, we shall tell the story of the task which Hercules undertook, and the test to which King Eurystheus subjected him; and then we shall study [29] the significance of the sign in which it took place, for there is a close link between the two, and the labor only became possible because of the characteristics conferred upon Hercules in that particular sign. Each sign subjects the man who is working in it to the influence of certain distinctive forces, and provides him with certain tendencies. These we must understand if the meaning of the test is to emerge.

Khi kết hợp câu chuyện chiêm tinh và biểu tượng này với đời sống hằng ngày và các thử thách của đệ tử hiện đại, chúng ta sẽ thuật lại câu chuyện về nhiệm vụ mà Hercules đã đảm nhận, cũng như thử thách mà Vua Eurystheus đã đặt ra cho chàng. Sau đó, chúng ta sẽ nghiên cứu ý nghĩa của dấu hiệu hoàng đạo nơi nhiệm vụ này diễn ra, vì có một mối liên kết chặt chẽ giữa hai điều này, và công việc chỉ có thể thực hiện được nhờ vào những đặc điểm mà Hercules có được khi ở trong dấu hiệu đó. Mỗi dấu hiệu đều tác động đến người đang làm việc trong nó thông qua những mãnh lực đặc trưng và mang lại cho y những khuynh hướng nhất định. Chúng ta phải hiểu rõ những điều này nếu muốn nắm bắt ý nghĩa của thử thách.

Connected with each sign of the Zodiac will be found three other constellations, which symbolically (and often in a most amazing fashion) embody the disciple’s problem and indicate the solution. These we shall have to consider, for the labor, the sign, and the allied constellations with the forces let loose through their combination, constitute a complete story which is full of instructive elements. I would like to point out for the sake of clarity, therefore, that the constellations symbolize the threefold spirit aspect; that the sign gives us the field of activity of the soul, and that the labor portrays the work of the disciple, living on the physical plane and endeavoring to demonstrate on the battlefield of the world his innate divinity and latent powers. In these three we have spirit, soul and body summarized. Life, consciousness and form meet in Hercules, the personal self, who, acting under the influence of the soul, the indwelling Christ, carries out the purposes of the Spirit, the Father in Heaven. We shall next consider the relationship of sign and constellations, and close each chapter with a definite application of the story of the test to the life of a disciple and to that of humanity as a whole.

Gắn liền với mỗi dấu hiệu hoàng đạo sẽ có ba chòm sao khác, tượng trưng một cách biểu tượng (và thường theo cách đáng kinh ngạc) cho vấn đề của đệ tử và chỉ ra giải pháp. Chúng ta sẽ cần xem xét điều này, vì nhiệm vụ, dấu hiệu, và các chòm sao liên quan—cùng với những mãnh lực được giải phóng qua sự kết hợp của chúng—cấu thành một câu chuyện hoàn chỉnh với nhiều yếu tố giáo huấn. Vì vậy, để làm rõ hơn, tôi muốn nhấn mạnh rằng: các chòm sao tượng trưng cho ba phương diện của tinh thần; dấu hiệu biểu thị lĩnh vực hoạt động của linh hồn; và nhiệm vụ thể hiện công việc của đệ tử, người đang sống trên cõi trần và nỗ lực thể hiện thiên tính vốn có cùng các năng lực tiềm ẩn của mình trên chiến trường thế gian. Trong ba yếu tố này, tinh thần, linh hồn, và thể xác được tóm gọn. Sinh mệnh, tâm thức, và hình tướng hội tụ trong Hercules—phàm ngã—người hành động dưới sự ảnh hưởng của linh hồn, Đức Christ nội tại, để thực thi Thiên Ý của Thượng Đế, Đấng Cha Trên Trời. Chúng ta sẽ tiếp tục xem xét mối quan hệ giữa dấu hiệu và các chòm sao, và kết thúc mỗi chương bằng cách áp dụng rõ ràng câu chuyện thử thách vào đời sống của một đệ tử cũng như nhân loại nói chung.

In studying the twelve labors, we follow the career of Hercules as he passes around the Zodiac from the sign Aries, which is the sign of commencement, through Taurus, Gemini, etc. (anti-clockwise) to Pisces, the sign of death and of consummation. This will be in the reverse manner to that of the apparent path of the sun (clockwise) which is begun in Aries and appears then to retrograde through the signs, passing into Pisces, and then to Aquarius, and so on through all the intervening [30] signs, back again to Aries. The man who is immersed in form and is living under the influence of the matter aspect follows necessarily the path of illusion and of appearances; but Hercules, the soul, follows the true Way, reverses the usual procedure and, figuratively speaking, goes against the tide. Hercules, the awakened soul, is realizing the day of opportunity. He has received his instructions to undertake the twelve labors and demonstrate his capacities, and has been promised that if he fulfils the requirements he will be translated into the kingdom of the gods. He has been equipped with all divine powers, though, as yet, he does not know how to use them, and he has hewn out for himself the club of his own endeavor, and with these he symbolically mounts the cross: the fixed cross of the heavens, upon which he remains in spirit until the last labor has been accomplished.

Khi nghiên cứu mười hai kỳ công, chúng ta theo dõi hành trình của Hercules khi chàng di chuyển quanh hoàng đạo, từ dấu hiệu Bạch Dương—dấu hiệu của khởi đầu—đi qua Kim Ngưu, Song Tử, v.v. (ngược chiều kim đồng hồ) đến Song Ngư—dấu hiệu của sự hoàn tất và kết thúc. Điều này đi theo chiều ngược lại so với quỹ đạo biểu kiến của Mặt Trời (thuận chiều kim đồng hồ), bắt đầu từ Bạch Dương rồi dường như đi lùi qua các dấu hiệu, vào Song Ngư, sau đó đến Bảo Bình, và tiếp tục qua các dấu hiệu trung gian để trở lại Bạch Dương. Người đang chìm đắm trong hình tướng và sống dưới sự chi phối của vật chất tất yếu đi theo con đường của ảo tưởng và vẻ ngoài; nhưng Hercules—linh hồn—đi theo Thánh Đạo chân chính, đảo ngược quy trình thông thường và, theo nghĩa tượng trưng, đi ngược dòng. Hercules, linh hồn đã thức tỉnh, nhận ra ngày cơ hội của mình. Chàng đã nhận được chỉ thị thực hiện mười hai kỳ công và chứng tỏ năng lực của mình, và được hứa rằng nếu hoàn thành nhiệm vụ, chàng sẽ được thăng lên vương quốc của chư thần. Chàng đã được trang bị tất cả các quyền năng thiêng liêng, dù cho đến lúc này, chàng vẫn chưa biết cách sử dụng chúng, và chàng đã tự mình đẽo nên cây gậy của nỗ lực cá nhân. Với những điều này, theo nghĩa biểu tượng, chàng bước lên thập giá: Thập Giá Cố Định trên cõi trời, nơi chàng sẽ ở lại về mặt tinh thần cho đến khi hoàn thành công việc cuối cùng.

Thus he sets out on his first labor, little realizing the magnitude of his task, and unprepared for failure. The delightful part of the story of Hercules is his impulsiveness and the fact that he was not always successful. He failed sometimes and had to redo the labor until success followed on his efforts.

Như vậy, chàng bắt đầu nhiệm vụ đầu tiên của mình, ít nhận thức được tầm vóc của thử thách và chưa sẵn sàng cho thất bại. Điều thú vị trong câu chuyện về Hercules là sự bồng bột của chàng và thực tế rằng chàng không phải lúc nào cũng thành công. Đôi khi chàng thất bại và phải làm lại nhiệm vụ cho đến khi thành công đến từ nỗ lực của mình.

He is told that Diomedes, the son of Mars, the god of war, possesses a large number of brood mares. These were running wild, devastating the countryside, doing much damage and subsisting on the flesh of human beings. No one was safe from them and terror had settled down on the neighborhood. Besides this, these brood mares were breeding great numbers of war horses, and Diomedes was very concerned with the outcome of the situation. Eurystheus, the King, ordered Hercules to capture them. Many attempts had been made to do so, but always the mares had escaped after killing the horses and men sent against them. But Hercules, having caught the horses, gave them to Abderis to hold, whilst he strutted on ahead, not realizing the strength of the horses, nor their savagery. Before he could take steps to prevent it, the mares turned on Abderis and trampled him to death, and again escaped and started [31] anew to ravage the countryside. So he had to start his labor all over again, and after strenuous efforts he again succeeded in capturing the mares. This first labor, therefore, starts with a partial failure, as is so often the case with the inexperienced and impetuous aspirant. Such is the story, brief, dramatic and encouraging. What of the sign in which it was undertaken?

Chàng được thông báo rằng Diomedes, con trai của sao Hỏa—vị thần chiến tranh—sở hữu một đàn ngựa cái lớn. Chúng chạy hoang dã, tàn phá vùng quê, gây ra tổn thất lớn và sống bằng cách ăn thịt con người. Không ai có thể an toàn trước chúng, và sự khủng bố bao trùm cả vùng. Ngoài ra, những con ngựa cái này không ngừng sinh sản ra các chiến mã hung dữ, và Diomedes rất lo ngại về hậu quả của tình trạng này. Vua Eurystheus ra lệnh cho Hercules bắt giữ chúng. Đã có nhiều nỗ lực nhằm thực hiện nhiệm vụ này, nhưng luôn thất bại—những con ngựa cái trốn thoát sau khi giết chết những người và chiến mã được cử đi bắt chúng. Nhưng Hercules, sau khi bắt được những con ngựa, đã giao chúng cho Abderis giữ, trong khi chàng vênh váo bước về phía trước, không nhận thức được sức mạnh và sự hung bạo của chúng. Trước khi chàng kịp ngăn chặn điều đó, những con ngựa cái quay lại tấn công Abderis, giẫm đạp chàng đến chết, rồi lại thoát thân và tiếp tục tàn phá vùng quê. Vì vậy, Hercules buộc phải bắt đầu lại công việc từ đầu, và sau những nỗ lực đầy gian khổ, chàng một lần nữa bắt được những con ngựa cái. Như vậy, nhiệm vụ đầu tiên này bắt đầu bằng một thất bại một phần—điều thường xuyên xảy ra với những người chí nguyện non trẻ và bốc đồng. Đó là câu chuyện, ngắn gọn, kịch tính và đầy khích lệ. Vậy còn dấu hiệu nơi nhiệm vụ này được thực hiện thì sao?

The Sign—Dấu hiệu

The sign Aries, which was the field of this first activity, is always spoken of as the first sign of the Zodiac. At this sign the great wheel begins its cyclic turning. It is, therefore, the sign of commencement. Cosmically speaking, it is the sign of creation, and this thought underlies the words in the Bible, “The Lamb slain from the foundation of the world,” (Rev. XIII, 8) for this sign is called the sign of the Ram or of the Lamb. In the life of the human being it marks the beginning of the first subjective, latent consciousness of existence, and the start of the human being upon the circle of experience. In the life of the aspirant to discipleship it connotes the period of reorientation and of a renewed self-conscious effort, and his start upon that final stage of the evolutionary path which will carry him out of the human kingdom and enable him to make the transition into the kingdom of the gods. Such is the promise made to Hercules and such is the reward held out to all disciples. This first labor marks the first step upon the “path of translation”.

Dấu hiệu Bạch Dương, nơi diễn ra hoạt động đầu tiên này, luôn được coi là dấu hiệu đầu tiên của Hoàng đạo. Với dấu hiệu này, bánh xe vĩ đại bắt đầu vòng quay chu kỳ của nó. Do đó, đây là dấu hiệu của sự khởi đầu. Về mặt vũ trụ, đây là dấu hiệu của sự sáng tạo, và tư tưởng này ẩn chứa trong những lời Kinh Thánh: “Chiên Con bị giết từ khi sáng thế” (Khải Huyền XIII, 8), vì dấu hiệu này được gọi là dấu hiệu của Con Cừu Đực hoặc Con Chiên. Trong cuộc đời của một con người, nó đánh dấu sự khởi đầu của nhận thức chủ quan đầu tiên, tiềm ẩn về sự tồn tại, và khởi đầu của con người trên vòng tròn kinh nghiệm. Trong cuộc đời của người chí nguyện trên Con Đường Đệ Tử, nó biểu thị giai đoạn tái định hướng và nỗ lực tự ý thức đổi mới, đánh dấu sự khởi đầu của giai đoạn cuối cùng trên con đường tiến hóa, giai đoạn sẽ đưa y ra khỏi giới nhân loại và giúp y chuyển tiếp vào Thiên giới. Đây chính là lời hứa dành cho Hercules và cũng là phần thưởng dành cho tất cả các đệ tử. Công việc đầu tiên này đánh dấu bước đi đầu tiên trên “Con Đường Siêu Thoát.”

Aries is the sign of outgoing power, of the streaming forth of divine energy from the central deity, God, or from the human being, a son of God. This energy streams forth in two directions (thus the point becomes the line, the One becomes the first): it streams forth into the world of forms, and also into the world of being or of spirit. One stream of energy expresses the path of return, of inward-going, and the two together constitute the two arcs of the great circle of existence. In this sign starts the path on which form is taken and dominates; on it likewise begins the life of inner unfoldment and the domination [32] of the soul, or of subjective Being. Reorganization, reorientation, repolarizing and regeneration, are the characteristics of this stage, and all of them are expressions of the same life force. The two uses of this force are dependent upon the mental attention of the being, divine and human, who is utilizing it. It is the same force, but used in two different ways, dependent upon whether the divine user has focused his attention upon form-taking, or upon treading the path of liberation from form.

Bạch Dương là dấu hiệu của quyền năng hướng ngoại, của dòng năng lượng thiêng liêng tuôn trào từ trung tâm Thượng Đế, hoặc từ con người, một người con của Thượng Đế. Năng lượng này chảy theo hai hướng (do đó, điểm trở thành đường, và từ Một xuất hiện điều đầu tiên): nó tuôn trào vào thế giới hình tướng, và cũng chảy vào thế giới bản thể hoặc thế giới tinh thần. Một dòng năng lượng biểu hiện con đường trở về, con đường hướng nội, và cả hai cùng tạo thành hai cung của vòng tròn vĩ đại của sự tồn tại. Trong dấu hiệu này, con đường mà trên đó hình tướng được tạo ra và chi phối được khởi đầu; đồng thời, cũng trên con đường này, sự phát triển nội tâm và sự thống trị của linh hồn, hoặc của bản thể chủ quan, bắt đầu. Tái tổ chức, tái định hướng, tái phân cực và tái sinh là những đặc điểm của giai đoạn này, và tất cả đều là sự biểu hiện của cùng một mãnh lực sự sống. Việc sử dụng mãnh lực này theo hai hướng tùy thuộc vào sự chú ý trí tuệ của thực thể thiêng liêng hoặc con người đang sử dụng nó. Đó vẫn là cùng một mãnh lực, nhưng được sử dụng theo hai cách khác nhau, tùy thuộc vào việc người sử dụng thiêng liêng tập trung sự chú ý vào việc tạo hình tướng hay trên con đường giải thoát khỏi hình tướng.

For aeons, this life force has been applied to selfish ends, to the purposes of self-gratification and to the satisfaction of desire. Little by little form-life loses its attraction until, having passed around and around the zodiacal wheel, the man finds himself back again in Aries, only this time with a new focus, a fresh interest and a different vision. He has had held before him the promise that, having achieved certain objectives, he may cease from incarnating and attain the kingdom of the gods; he has learned from experience something of his own essential duality and yearns to cease from satisfying the lower aspect of that duality and to meet the need of the higher, and he is beginning to respond to impulses coming from the world of souls, and to vision group ends and group objectives. Now he has to learn to use the life force with unselfish intent, and not for the satisfaction of his personal greeds.

Suốt hàng thiên niên kỷ, mãnh lực sự sống này đã được áp dụng cho những mục đích ích kỷ, nhằm thỏa mãn bản ngã và dục vọng cá nhân. Dần dần, cuộc sống trong hình tướng mất đi sức hấp dẫn, cho đến khi, sau khi đã đi vòng quanh bánh xe hoàng đạo hết lần này đến lần khác, con người lại quay trở lại Bạch Dương, nhưng lần này với một tiêu điểm mới, một sự quan tâm tươi mới, và một tầm nhìn khác biệt. Chàng đã được trao cho lời hứa rằng, sau khi đạt được những mục tiêu nhất định, y có thể chấm dứt luân hồi và bước vào Thiên giới; y đã học được từ kinh nghiệm về tính nhị nguyên vốn có của mình, và giờ đây y khao khát ngừng thỏa mãn khía cạnh thấp hơn của nhị nguyên đó để đáp ứng nhu cầu của khía cạnh cao hơn. Chàng bắt đầu đáp ứng với những xung động đến từ thế giới linh hồn, và nhìn nhận mục tiêu theo hướng tập thể và vì lợi ích nhóm. Giờ đây, y phải học cách sử dụng mãnh lực sự sống với ý định vị tha, thay vì nhằm thỏa mãn những ham muốn cá nhân của mình.

The Three Initial Impulses in Aries—Ba xung động đầu tiên trong Bạch Dương

Three outstanding urges characterize this sign. There is, as we have seen, the urge to begin. This may express itself simply as the urge to take form, to become involved in matter; or it may reverse the process and focus itself in the urge to achieve liberation from form, and the emergence of the soul from the prison of the form nature. Then this urge is followed by the consequent urge to create, that activity of the Deity which results in the formation of worlds of expression and satisfies His desire to incarnate in a solar system, and to begin the great [33] life cycle of the universe. It may be likewise the urge to individual creation, of the soul to take a body, or of a human being to create something which shall be specially his own. In ancient Accadian days, this sign Aries was called that “wherein the sacrifice of righteousness was made,” or the sign of “the fallen angels”. The sons of God, impelled by this basic urge, fell from their high estate, took form, and started upon their individual round upon round of the Zodiac.

Ba xung động nổi bật đặc trưng cho dấu hiệu này. Như chúng ta đã thấy, trước hết là xung động khởi đầu. Điều này có thể biểu hiện đơn thuần như sự thôi thúc nhập thể, đi vào hình tướng và trở nên gắn kết với vật chất; hoặc nó có thể đảo ngược quá trình này, tập trung vào xung động đạt đến giải thoát khỏi hình tướng, và sự xuất lộ của linh hồn ra khỏi nhà tù của bản chất hình tướng. Sau đó, xung động này được tiếp nối bởi xung động sáng tạo, hoạt động của Thượng Đế dẫn đến sự hình thành các thế giới biểu hiện, để thỏa mãn khát vọng của Ngài nhằm nhập thể trong một Thái Dương Hệ và khởi đầu chu kỳ sinh mệnh vĩ đại của vũ trụ. Điều này cũng có thể là sự thôi thúc sáng tạo cá nhân—linh hồn nhập thể vào một thân xác, hay con người tạo ra điều gì đó mang dấu ấn riêng của mình. Trong thời đại Akkad cổ đại, dấu hiệu Bạch Dương được gọi là dấu hiệu “trong đó sự hy sinh của sự công chính đã được thực hiện”, hay là dấu hiệu của “các thiên thần sa ngã”. Những người con của Thượng Đế, bị thúc đẩy bởi xung động cơ bản này, đã rời bỏ cảnh giới cao, khoác lấy hình tướng, và bắt đầu cuộc hành trình cá nhân của mình qua các vòng quay của Hoàng đạo.

Thirdly, we find the urge to resurrection. In Aries, which has seen the beginning of form life and which has initiated the creative work, there begins to be felt the urge to achieve freedom from the form, to roll away the stone from the door of the sepulchre of the soul, and to stand in the liberty of the sons of God. In Aries is found the impulse which leads to the building of the form, which for ages will constitute the prison house of the soul. This reaches its mass form in Cancer, and its human form in Leo; the densest point of illusion in form is reached in Scorpio, and in Pisces the form dies, only to be rebuilt again in the wearying round of form experience. But in this sign the Way of Liberation is first sensed, and the building of the spiritual body is begun. This is the sign of germinal spiritual activity, which later leads to the birth of the Christ child, in Virgo, to that of the world Savior, in Capricorn and in Pisces. Physical commencement and spiritual commencement, physical creation and spiritual creation, physical emergence and spiritual liberation: these are the initial impulses sensed in Aries.

Thứ ba, chúng ta tìm thấy xung động phục sinh. Trong Bạch Dương, nơi đã chứng kiến sự khởi đầu của đời sống hình tướng và khởi xướng công trình sáng tạo, bắt đầu xuất hiện sự thôi thúc đạt đến tự do khỏi hình tướng, lăn hòn đá khỏi cửa mộ của linh hồn, và đứng trong sự tự do của những người con của Thượng Đế. Trong Bạch Dương, có xung động dẫn đến việc xây dựng hình tướng—thứ sẽ trở thành nhà tù của linh hồn trong nhiều thời đại. Điều này đạt đến biểu hiện tập thể trong Cự Giải, biểu hiện nhân loại trong Sư Tử; đỉnh điểm của ảo tưởng trong hình tướng được chạm đến ở Hổ Cáp, và trong Song Ngư, hình tướng chết đi—chỉ để được xây dựng lại trong vòng xoay mệt mỏi của kinh nghiệm trong hình tướng. Nhưng cũng chính trong dấu hiệu này, Con Đường Giải Thoát lần đầu tiên được cảm nhận, và việc kiến tạo thể tâm linh được bắt đầu. Đây là dấu hiệu của hoạt động tâm linh tiềm sinh, thứ sau này sẽ dẫn đến sự sinh ra của Đấng Christ nội tại trong Xử Nữ, sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế Thế Gian trong Ma Kết và Song Ngư. Khởi đầu thể chất và khởi đầu tâm linh, sáng tạo vật chất và sáng tạo tinh thần, sự xuất lộ vật chất và sự giải thoát tâm linh—đây là những xung động khởi thủy được cảm nhận trong Bạch Dương.

It is the sign, therefore, of strong and potent impulses, and of violent fluctuations and exaggerated efforts; often a sign of failure, but always of ultimate success. In its opposite sign, Libra, it reaches its consummation of balance and of equilibrium, for the intervening experience and the lessons learned from the intermediate five labors bring about that poise and balanced attitude which we shall note in Hercules when he captures the Boar, in Libra.... [34]

Do đó, đây là dấu hiệu của những xung động mạnh mẽ và quyền năng, của những biến động dữ dội và những nỗ lực quá mức; thường là một dấu hiệu thất bại, nhưng luôn luôn dẫn đến thành công cuối cùng. Trong dấu hiệu đối diện của nó, Thiên Bình, Bạch Dương đạt đến đỉnh cao của sự cân bằng và hài hòa, vì những kinh nghiệm can thiệp và bài học thu thập được từ năm công việc trung gian đã mang lại trạng thái thăng bằng và thái độ cân bằng—điều mà chúng ta sẽ thấy trong Hercules khi chàng bắt giữ con Lợn Rừng trong Thiên Bình.

In the Brahmanical zodiac, Vishnu presides over Aries and Vishnu is the second person of the Hindu Trimurti, or the cosmic Christ in incarnation, as he initiates the process of form-taking, and ultimately brings about the final episode of resurrection. Thus Vishnu or Christ embodies the two urges, the urge to create and build form and the urge to liberation, or resurrection out of form. It is under this urge to liberation that Hercules starts upon his labors.

Trong Hoàng đạo Brahman, Vishnu cai quản Bạch Dương, và Vishnu là ngôi thứ hai trong Trimurti của Ấn Độ, hay là Đấng Christ vũ trụ trong sự nhập thể, vì Ngài khởi xướng quá trình nhập thể và cuối cùng mang đến biến cố phục sinh. Do đó, Vishnu hay Đức Christ hiện thân cho hai xung động: xung động sáng tạo và xây dựng hình tướng và xung động giải thoát hay phục sinh khỏi hình tướng. Chính dưới xung động giải thoát này mà Hercules bắt đầu các công việc của chàng.

The Sign of the Mind—Dấu hiệu và Thể Trí

Aries governs the head. It is consequently the sign of the thinker and, therefore, a powerful mental sign. All beginnings originate on the mental plane and in the mind of the creator, whether that creator is God or the soul of man. This universe had its origin in the thought of God, the cosmic Thinker. The soul started its career in matter through the same process of thought. The human family, the fourth kingdom in nature, came into being when mind emerged and differentiated man from the animals. The aspirant begins his labors when he truly becomes the thinker, and in full awareness proceeds to function as the arbiter of his own destiny....

Bạch Dương cai quản phần đầu. Do đó, đây là dấu hiệu của người tư duy, và vì vậy, nó là một dấu hiệu mang sức mạnh tinh thần to lớn. Mọi sự khởi đầu đều bắt nguồn từ cõi trí và trong tâm trí của đấng sáng tạo, dù đấng sáng tạo đó là Thượng Đế hay là linh hồn con người. Vũ trụ này có nguồn gốc từ tư tưởng của Thượng Đế—Đấng Đại Tư Duy vũ trụ. Linh hồn bắt đầu hành trình của mình trong vật chất cũng thông qua cùng một quá trình tư duy. Gia đình nhân loại, giới thứ tư trong tự nhiên, xuất hiện khi tâm trí được phát triển và phân biệt con người khỏi loài động vật. Người chí nguyện bắt đầu các công việc của mình khi chàng thực sự trở thành người tư duy, và với nhận thức đầy đủ, chàng bắt đầu hoạt động như một vị thẩm phán của chính vận mệnh mình.

It is apparent, consequently, that in Aries right direction and right orientation have their beginning, and Hercules, the newly-thinking disciple, begins his work. The key to this labor and to the significance of the sign is to be found in the words of an ancient Indian scripture: “Man does not rightly know the way to the heavenly world, but the horse does rightly know it.” In the very ancient days in India, the horse sacrifice was linked with the sun god, and, yearly, we are told, the sun god, as the zodiacal horse, was supposed by the Vedic Aryans to die to save all flesh. The sun chariot of Apollo is depicted as drawn by horses, and the “princely sign of the Ram” is closely connected with the horse symbology, a fact to which this first labor bears witness.

Do đó, có thể thấy rằng trong Bạch Dương, sự định hướng đúng đắn và phương hướng đúng đắn được khởi đầu, và Hercules—người đệ tử vừa thức tỉnh tư duy—bắt đầu công việc của mình. Chìa khóa để hiểu nhiệm vụ này cũng như ý nghĩa của dấu hiệu này có thể được tìm thấy trong lời của một kinh điển Ấn Độ cổ đại: "Con người không thực sự biết con đường đến Thiên giới, nhưng con ngựa thì biết." Vào thời kỳ cổ đại ở Ấn Độ, nghi thức hiến tế ngựa có liên quan đến thần Mặt Trời, và hàng năm, theo tín ngưỡng của người Arya trong Vệ Đà, thần Mặt Trời, được xem như con ngựa hoàng đạo, được cho là chết để cứu rỗi muôn loài. Cỗ xe mặt trời của Apollo được mô tả là được kéo bởi những con ngựa, và “dấu hiệu vương giả của Con Cừu Đực” có mối liên hệ chặt chẽ với biểu tượng con ngựa—một thực tế mà nhiệm vụ đầu tiên này của Hercules đã chứng minh.

Reference to books on symbology will show us that the horse [35] stands for intellectual activity. The white horse symbolizes the illumined mind of the spiritual man, and so we find in the Book of Revelations that Christ comes forth riding upon a white horse. Black horses represent the lower mind, with its false ideas and erring human concepts. The brood mares, such as we meet in this first labor, indicate the feminine aspect of the mind as it gives birth to ideas, to theories and to concepts. The thought-form making tendency of the mind is here symbolized, embodying the ideas conceived, and which are let loose upon the world, devastating and destroying when emanating from the lower mind, but constructing and saving when coming from the soul.

Nếu tham khảo các sách về biểu tượng, chúng ta sẽ thấy rằng con ngựa tượng trưng cho hoạt động trí tuệ. Ngựa trắng tượng trưng cho trí tuệ được soi sáng của con người tâm linh, và do đó, trong Sách Khải Huyền, Đức Christ xuất hiện cưỡi trên một con ngựa trắng. Ngựa đen tượng trưng cho hạ trí, với những ý tưởng sai lầm và các khái niệm lệch lạc của con người. Những ngựa cái hoang dã, như trong nhiệm vụ đầu tiên này, tượng trưng cho khía cạnh nữ tính của tâm trí, thể hiện khả năng sản sinh ra tư tưởng, lý thuyết và khái niệm. Ở đây, xu hướng hình thành tư tưởng của trí tuệ được biểu tượng hóa—nó có thể tàn phá và hủy hoại khi xuất phát từ hạ trí, nhưng cũng có thể xây dựng và cứu rỗi khi phát sinh từ linh hồn.

The exoteric ruler of this sign is Mars, the god of war, and so Hercules, acting under the right direction of thought and beginning his work on the mental plane, takes his stand as the warrior. His outstanding characteristic in this sign is the pioneering, militant spirit. The mares were in the possession of Diomedes, the son of Mars. (But the esoteric ruler is Mercury, which “illumines the mind and mediates between the soul and the personality.”)

Chủ tinh ngoại môn của Bạch Dương là Mars (Hỏa Tinh)—vị thần chiến tranh—và vì vậy, Hercules, khi hành động dưới sự hướng dẫn đúng đắn của tư tưởng và bắt đầu công việc của mình trên cõi trí, đã đứng vào vị trí chiến binh. Đặc điểm nổi bật của chàng trong dấu hiệu này là tinh thần tiên phong và tính hiếu chiến. Những con ngựa cái hoang dã nằm dưới quyền sở hữu của Diomedes, con trai của Mars. (Tuy nhiên, chủ tinh nội môn của Bạch Dương là Thủy Tinh—hành tinh "soi sáng tâm trí và đóng vai trò trung gian giữa linh hồn và phàm ngã").

Constellations in Aries—Choàm sao Bạch Dương

As is usual, there are three constellations connected with Aries. First, there is Cassiopeia, the Enthroned Queen, the symbol always of matter. It is most interesting to note how in the circle of the Zodiac we come across three women. In connection with Aries, the sign of commencement, we find Cassiopeia, the Dominant Woman. Woman and Child and as we shall later see, mother-matter is the nurturer of the infant Christ, the Virgin Mary gives birth to Jesus. In Pisces, at the close of the great round, we find Andromeda, the Chained Woman. First the woman enthroned and dominant, then the woman caring for the infant, Christ, and then the woman, representing matter that has been dominated and controlled. Cassiopeia will be found seated on the Arctic Circle, close to [36] Cepheus the King,or Lawgiver, whom we shall meet later as one of the three constellations in Pisces. At the commencement, Law; at the close, Law; for Cepheus has a close relation with the first and the last sign of the Zodiac. It is interesting to note that Mahomet, the founder of the most militant religion, was born in this sign, and legend says that Moses also was born in it; Moses, the lawgiver, and Mahomet, the warrior.

Như thường lệ, có ba chòm sao liên kết với Bạch Dương. Đầu tiên, có Cassiopeia, Nữ Hoàng Ngự Trị, luôn là biểu tượng của vật chất. Điều thú vị là trong vòng tròn Hoàng đạo, chúng ta bắt gặp ba người phụ nữ. Liên quan đến Bạch Dương, dấu hiệu của sự khởi đầu, chúng ta thấy Cassiopeia, Người Phụ Nữ Thống Trị. Người phụ nữ và đứa trẻ, và như chúng ta sẽ thấy sau này, mẫu thân—vật chất—là người nuôi dưỡng hài nhi Christ, cũng như Đức Trinh Nữ Maria hạ sinh Đức Jesus. Trong Song Ngư, ở điểm kết thúc của vòng tròn vĩ đại, chúng ta thấy Andromeda, Người Phụ Nữ Bị Xiềng Xích. Trước tiên là người phụ nữ trên ngai vàng và thống trị, sau đó là người phụ nữ chăm sóc hài nhi Christ, và cuối cùng là người phụ nữ tượng trưng cho vật chất đã bị chế ngự và kiểm soát. Cassiopeia có thể được tìm thấy đang ngồi trên Vòng Bắc Cực, gần Cepheus, vị Vua hoặc Đấng Ban Luật, mà chúng ta sẽ gặp sau này như một trong ba chòm sao của Song Ngư. Ở điểm khởi đầu có Luật; ở điểm kết thúc cũng có Luật; vì Cepheus có mối liên hệ mật thiết với cả dấu hiệu đầu tiên và dấu hiệu cuối cùng của Hoàng đạo. Thật thú vị khi lưu ý rằng Mahomet, người sáng lập tôn giáo chiến đấu mạnh mẽ nhất, đã sinh ra dưới dấu hiệu này, và truyền thuyết nói rằng Moses cũng vậy; Moses, Đấng Ban Luật, và Mahomet, chiến binh.

The problem of Hercules, as he enters upon his labors, is to demonstrate his power over matter and form, and so he has to recognize Cassiopeia from the very beginning, the hitherto enthroned queen.

Vấn đề của Hercules, khi chàng bắt đầu các công việc của mình, là chứng tỏ quyền năng của mình đối với vật chất và hình tướng, vì vậy chàng phải nhận ra Cassiopeia ngay từ đầu—nữ hoàng đã ngự trị bấy lâu nay.

The second constellation is Cetus, the Sea Monster, the Enemy of Little Fishes... One of the great symbols of the soul is the fish swimming in the ocean of matter, and Cetus, the sea monster, is the symbol of what we call evil, that seeks to destroy the soul in incarnation. The sea monster, in the ocean of existence, and the enthroned queen, spoke to Hercules of the magnitude of his problem, but the third constellation spoke to him of victory. Perseus is the third of the three constellations, called in the zodiac of Denderah, in Egypt, “the one who subdues”; sometimes called “the breaker”, that which can chain the enthroned woman, and that which can conquer the monster. We are told that Perseus possessed the helmet of invisibility, the sandals of swiftness, the buckler of wisdom and the sword of the spirit. Thus Hercules saw himself reflected in the heavens, and as he started upon the capture of the man-eating mares, he discovered in himself the guarantee of his ultimate achievement, even though at the time the difficulties with which he was faced seemed insuperable.

Chòm sao thứ hai là Cetus, Quái Vật Biển, Kẻ Thù của Những Con Cá Nhỏ... Một trong những biểu tượng vĩ đại của linh hồn là con cá bơi trong đại dương vật chất, và Cetus, quái vật biển, là biểu tượng của điều mà chúng ta gọi là cái ác, kẻ tìm cách hủy diệt linh hồn trong sự nhập thể. Quái vật biển trong đại dương tồn tại, và nữ hoàng trên ngai vàng, đã nói với Hercules về sự to lớn của vấn đề mà chàng phải đối mặt, nhưng chòm sao thứ ba đã nói với chàng về chiến thắng. Perseus là chòm sao thứ ba trong ba chòm sao này, được gọi trong hoàng đạo Denderah, ở Ai Cập, là "người chế ngự"; đôi khi được gọi là "kẻ phá vỡ", kẻ có thể trói buộc người phụ nữ ngự trị và kẻ có thể chinh phục quái vật. Chúng ta được kể rằng Perseus sở hữu chiếc mũ bảo hiểm vô hình, đôi dép bay, tấm khiên minh triết và thanh kiếm của tinh thần. Như vậy, Hercules thấy chính mình được phản chiếu trên bầu trời, và khi chàng bắt đầu nhiệm vụ bắt những con ngựa cái ăn thịt người, chàng phát hiện trong chính mình sự đảm bảo về thành tựu cuối cùng của mình, mặc dù vào thời điểm đó những khó khăn mà chàng phải đối mặt dường như không thể vượt qua.

The Crux of the Test—Điểm mấu chốt của thử thách.

The conquest of matter and the overcoming of illusion loomed large before Hercules and indicated from the very outset of the twelve labors the nature of his final achievement. It has been said that the keynote of the sign Aries is hope [37] and as he faced his twelve labors, hope was all the guarantee that Hercules then had that he would achieve. Hope, his untried divine equipment, his personal club, and much enthusiasm: so start all disciples.

Sự chinh phục vật chất và việc vượt qua ảo tưởng hiện rõ trước Hercules, và ngay từ đầu trong mười hai công việc, điều đó đã chỉ ra bản chất của thành tựu cuối cùng mà chàng phải đạt được. Người ta nói rằng chủ âm của dấu hiệu Bạch Dương là hy vọng, và khi đối mặt với mười hai công việc, hy vọng là tất cả những gì Hercules có để đảm bảo rằng chàng sẽ thành công. Hy vọng, cùng với những năng lực thiêng liêng chưa được thử thách, cây chùy cá nhân của chàng và lòng nhiệt huyết—tất cả đệ tử đều khởi đầu như vậy.

The meaning of the test is now surely plain. Hercules had to begin in the world of thought to gain mental control. For ages the brood mares of thought had been breeding war horses and, through wrong thought, wrong speech and erroneous ideas, had been devastating the countryside. One of the first lessons that every beginner has to learn is the tremendous power that he mentally wields, and the amount of harm that he can cause in his neighborhood and environment through the brood mares of his mind. He has, therefore, to learn the right use of his mind, and the first thing that he has to do is capture this feminine aspect of the mind and see to it that no more war horses are bred. Any would-be Hercules can easily prove that he possesses these devastating brood mares, if for one entire day he pays close attention to his thoughts and to the words he speaks, which are ever the result of thought. He will rapidly discover that selfishness, unkindness, love of gossip, and criticism constitute a large part of his thought content and that the brood mares of his mind are constantly being fertilized by selfishness and illusion. Instead of these brood mares giving birth to ideas and concepts which have their origin in the kingdom of the soul, and instead of being fertilized from the spiritual realm, they become the parents of error, falseness and cruelty, which have their origin in the lower aspects of man’s nature.

Ý nghĩa của thử thách này giờ đây chắc chắn đã trở nên rõ ràng. Hercules phải bắt đầu trong thế giới tư tưởng để đạt được sự kiểm soát trí tuệ. Suốt nhiều thời đại, những con ngựa cái sinh sản của tư tưởng đã tạo ra những con ngựa chiến, và thông qua tư tưởng sai lầm, lời nói sai lầm, cũng như những ý tưởng sai lầm, chúng đã tàn phá khắp vùng quê. Một trong những bài học đầu tiên mà bất kỳ người mới bắt đầu nào cũng phải học là sức mạnh to lớn mà chàng nắm giữ về mặt trí tuệ, cũng như mức độ tổn hại mà chàng có thể gây ra cho môi trường xung quanh thông qua những con ngựa cái sinh sản trong tâm trí mình. Do đó, chàng phải học cách sử dụng đúng đắn trí tuệ của mình, và điều đầu tiên chàng phải làm là chế ngự khía cạnh nữ tính của trí tuệ, đảm bảo rằng không còn những con ngựa chiến nào được sinh ra nữa. Bất kỳ ai mong muốn trở thành Hercules đều có thể dễ dàng chứng minh rằng chàng sở hữu những con ngựa cái tàn phá này, nếu chàng dành một ngày trọn vẹn để chú ý đến những suy nghĩ của mình cũng như những lời chàng nói—vốn luôn là kết quả của suy nghĩ. Chàng sẽ nhanh chóng nhận ra rằng ích kỷ, sự thiếu tử tế, thói ngồi lê đôi mách và sự chỉ trích chiếm phần lớn nội dung tư tưởng của mình, và những con ngựa cái sinh sản trong tâm trí chàng liên tục được thụ tinh bởi tính ích kỷ và ảo tưởng. Thay vì sinh ra những ý tưởng và khái niệm có nguồn gốc từ vương quốc linh hồn và được thụ tinh từ cõi tinh thần, chúng lại trở thành cha mẹ của sai lầm, dối trá và tàn nhẫn—những thứ có nguồn gốc từ các khía cạnh thấp kém trong bản chất con người.

Hercules realized the harm that the brood mares were doing. He rushed gallantly to the rescue of his neighborhood. He determined to capture the brood mares, but he over-estimated himself. He did succeed in rounding them up and in capturing them, but he failed to realize their potency and strength, so he gave them to Abderis, the symbol of the lower personal self, to hold. But Hercules, the soul, and Abderis, the personality [38] in unison were needed to guard these devastating horses. Abderis alone was not strong enough, and what had been happening to the people in the neighborhood, happened to Abderis; they killed him. This is an instance of the working of the great law that we pay the price in our own natures of wrongly spoken words and ill-judged actions. Again the soul, in the person of Hercules, had to deal with the problem of wrong thought, and only, when he becomes a one-pointed aspirant in the sign Sagittarius and in that sign kills the Man-Eating Birds, does he really attain complete control of the thought processes of his nature.

Hercules nhận ra sự tổn hại mà những con ngựa cái này gây ra. Chàng đã dũng cảm lao tới để giải cứu vùng đất của mình. Chàng quyết tâm bắt giữ những con ngựa cái, nhưng chàng đã đánh giá quá cao bản thân. Chàng thực sự đã gom chúng lại và bắt giữ chúng, nhưng chàng không nhận ra sức mạnh và ảnh hưởng của chúng, vì vậy chàng giao chúng cho Abderis—biểu tượng của phàm ngã thấp kém—để canh giữ. Nhưng Hercules, đại diện cho linh hồn, và Abderis, đại diện cho phàm ngã, cần phải phối hợp với nhau để chế ngự những con ngựa tàn phá này. Một mình Abderis không đủ mạnh, và những gì đã xảy ra với dân làng cũng xảy ra với Abderis: chúng đã giết chết chàng. Đây là một minh chứng cho hoạt động của định luật vĩ đại rằng chúng ta phải trả giá trong bản chất của chính mình cho những lời nói sai lầm và những hành động thiếu suy xét. Một lần nữa, linh hồn, trong hình hài Hercules, phải đối diện với vấn đề tư tưởng sai lầm, và chỉ khi chàng trở thành một người chí nguyện nhất tâm trong dấu hiệu Nhân Mã, khi chàng tiêu diệt được Những Con Chim Ăn Thịt Người trong dấu hiệu ấy, thì chàng mới thực sự đạt được sự kiểm soát hoàn toàn đối với các quá trình tư duy của mình.

The practical significance of the power of thought has been well expressed for us in the words of Thackeray: “Sow a thought, and reap an action. Sow an action, and reap a habit. Sow a habit, and reap character. Sow character and reap destiny.”

Ý nghĩa thực tiễn của sức mạnh tư tưởng đã được diễn đạt một cách sâu sắc trong lời của Thackeray: “Gieo một ý nghĩ, gặt một hành động. Gieo một hành động, gặt một thói quen. Gieo một thói quen, gặt một tính cách. Gieo một tính cách, gặt một số phận.”

The two keywords of the sign Aries are: (From Esoteric Astrology, Volume III of A Treatise on the Seven Rays, p. 108. Received three years after A.A.B. gave the Hercules lectures in New York.)

Hai từ khóa của dấu hiệu Bạch Dương là: (Từ Chiêm Tinh Học Nội Môn, Tập III của Luận về Bảy Cung, trang 108. Được nhận ba năm sau khi A.A.B. giảng về Hercules tại New York.)

“And the Word said: Let form again be sought.” (The Man).

“Và Linh Từ nói rằng: Hãy tìm kiếm hình tướng một lần nữa.” (Con Người).

“I come forth and from the plane of mind, I rule.” (The Initiate). [38]

“Tôi tiến tới, và từ cõi trí, Tôi cai quản.” (Điểm đạo đồ).

LABOR IIThe Capture of the Cretan BullBắt Giữ Con Bò Mộng Xứ Crete

(Taurus, April 21st—May 20th)

The Myth

The presiding One spoke to the Teacher of the man whose light shone forth among the sons of men, who are the sons of God.

Đấng Chủ Toạ nói với Huấn Sư của người mà ánh sáng chói lọi giữa những người con của nhân loại, và cũng là những người con của Thượng Đế.

“Where is the man who stood with power before the Gods, received their gifts and entered through the first wide open Gate to labor at his task?”

“Đâu rồi con người đứng với quyền năng trước những vị Thần, nhận quà tặng của các Ngài và bước qua Cửa Thứ Nhất rộng mở để thực hiện nhiệm vụ của mình?”

“He rests, Oh, great presiding One, and ponders on his failure, and mourns for Abderis, and seeks for help within himself.”

“Hỡi Đấng Chủ Tọa, y đang nghỉ ngơi và nghiền ngẫm về thất bại của y, than khóc cho Abderis, và tìm kiếm sự giúp đỡ bên trong y.”

“It is well. The gifts of failure guarantee success, when rightly understood. Let him proceed to labor once again, enter the second Gate, returning with dispatch.”

“Như vậy là tốt. Những món quà của sự thất bại sẽ đảm bảo thành công khi được hiểu đúng. Hãy để y thực hiện Kỳ Công lần nữa, đi qua Cổng Thứ Nhì, và trở lại khẩn trương.”

The second Gate stood open wide and, from the light which veiled the distant scene, a voice emerged and said:

Cửa thứ hai rộng mở, và từ ánh sáng che khuất cảnh tượng xa xăm, một giọng nói cất lên:

“Pass through the Gate. Proceed upon thy way. Perform thy labor and return to me, reporting on the deed.”

“Hãy đi qua Cửa. Hãy tiếp tục con đường của ngươi. Hãy thực hiện nhiệm vụ của ngươi và quay lại gặp ta, báo cáo về hành động đã thực hiện.”

Alone and sad, conscious of need and worn with deep distress, Hercules slowly passed between the pillars of the Gate into the light which shines where stands the sacred bull. On the horizon rose the island fair where dwelt the bull, and where adventurous men could enter that vast maze which lured them to bewilderment, the maze of Minos, King of Crete, the keeper of the bull.

Cô độc và buồn bã, ý thức về nhu cầu của mình và kiệt sức vì đau khổ sâu sắc, Hercules chậm rãi bước qua những trụ cột của Cửa, tiến vào ánh sáng tỏa chiếu nơi con bò thiêng đứng. Ở chân trời, hòn đảo tươi đẹp hiện ra, nơi con bò cư ngụ, và nơi những người mạo hiểm có thể bước vào mê cung rộng lớn quyến rũ họ đi vào sự lạc lối, mê cung của Minos, Vua xứ Crete, người giữ con bò.

Crossing the ocean to the sunlit isle (though how we are not told) Hercules entered on his task to seek and find the bull, and lead it to the Holy Place where dwell the one-eyed men. From place to place he chased the bull, led by the gleaming [40] star which shone upon the forehead of the bull, a bright lamp in a dark place. This light, moving as moved the bull, led him from place to place. Alone, he sought the bull; alone he chased it to its lair; alone he captured it and mounted on its back. Around him stood the Sisters seven, urging him on his way and, in the shining light, he rode the bull across the glimmering water to the isle of Crete unto the land where dwelt the Cyclops three.

Vượt qua đại dương đến hòn đảo rực nắng (mặc dù cách thức y đến không được nói rõ), Hercules bắt tay vào nhiệm vụ của mình: tìm kiếm và bắt giữ con bò, dẫn nó đến Thánh Địa, nơi những người một mắt cư ngụ. Từ nơi này đến nơi khác, chàng truy đuổi con bò, được dẫn dắt bởi ngôi sao lấp lánh chiếu sáng trên trán con bò, như một ngọn đèn rực rỡ trong bóng tối. Ánh sáng này, di chuyển theo từng bước chân của con bò, đã dẫn dắt chàng từ chỗ này đến chỗ khác. Chàng tìm kiếm con bò Một mình một mình, chàng truy đuổi nó về hang ổ; một mình, chàng bắt giữ nó và trèo lên lưng nó. Xung quanh chàng là bảy Chị Em, thúc giục chàng tiếp tục trên đường đi, và trong ánh sáng rực rỡ, chàng cưỡi con bò băng qua làn nước lung linh để đến đảo Crete, đến vùng đất nơi ba người Cyclops cư ngụ.

These three great sons of God awaited his return, watching his progress through the waves. He rode the bull as if it were a horse, and with the Sisters singing as he went, drew near unto the land.

Ba người con vĩ đại của Thượng Đế đang chờ đợi chàng trở về, dõi theo tiến trình của chàng qua những con sóng. Chàng cưỡi con bò như thể nó là một con ngựa, và khi đi cùng tiếng hát của các Chị Em, chàng dần tiếp cận vùng đất.

“He comes with strength”, said Brontes, and went to meet him on the shore.

“Hắn đến với sức mạnh,” Brontes nói và đi ra bờ biển để gặp chàng.

“He rides in light,” said Steropes, “his inner light will brighter be,” then fanned the light to sudden flame.

“Hắn cưỡi trong ánh sáng,” Steropes nói, “ánh sáng bên trong hắn sẽ càng rực rỡ hơn,” rồi thổi bùng ánh sáng thành ngọn lửa rực cháy.

“He comes with speed,” said Arges, “he is riding through the waves.”

“Hắn đến với tốc độ,” Arges nói, “hắn đang cưỡi qua những con sóng.”

Hercules nearer drew, urging the sacred bull upon the Way, throwing the light upon the trail which led from Crete unto the Temple of the Lord, within the city of the one-eyed men. Upon the mainland, at the water’s edge, these three men stood and grasped the bull, taking it thus away from Hercules.

Hercules đến gần hơn, thúc con bò thiêng đi trên Con Đường, chiếu ánh sáng trên con đường dẫn từ Crete đến Đền Thánh của Chúa, bên trong thành phố của những người một mắt. Trên đất liền, tại bờ biển, ba người đàn ông này đứng đợi và nắm lấy con bò, qua đó lấy nó từ Hercules.

“What hast thou here?” said Brontes, arresting Hercules upon the Way.

“Ngươi mang gì đến đây?” Brontes hỏi, chặn Hercules lại trên Đường.

“The sacred bull, Oh, Holy One.”

“Con bò thiêng, Hỡi Đấng Thiêng Liêng.”

“Who art thou? Tell us now thy name,” said Steropes.

“Ngươi là ai? Hãy cho chúng ta biết tên của ngươi,” Steropes hỏi.

“I am the son of Hera, a son of man and yet a son of God. I have performed my task. Take now the bull into the Holy Place and save it from due death. Minos desired its sacrifice.”

“Ta là con trai của Hera, một người con của nhân loại nhưng cũng là một người con của Thượng Đế. Ta đã hoàn thành nhiệm vụ của mình. Hãy đưa con bò vào Thánh Địa và cứu nó khỏi cái chết định sẵn. Minos muốn hiến tế nó.”

“Who told you thus to seek and save the bull?” said Arges, moving towards the Holy Place.

“Ai đã bảo ngươi tìm kiếm và cứu con bò?” Arges hỏi, tiến về phía Thánh Địa.

“Within myself I felt the urge and sought my Teacher. Told by the great Presiding One, He sent me on the Way, and with long search and many pains, I found the bull. Helped by its [41] holy light, I rode it through the separating sea unto this Holy Place.

“Ta cảm thấy sự thúc đẩy trong chính ta và đã tìm đến Huấn Sư của ta. Được Đấng Chủ Toạ vĩ đại chỉ dẫn, Ngài đã gửi ta đi trên Con Đường, và với sự tìm kiếm lâu dài cùng bao gian nan, ta đã tìm thấy con bò. Nhờ vào ánh sáng thiêng liêng của nó, ta đã cưỡi nó vượt qua biển ngăn cách để đến Thánh Địa này.”

“Depart in peace, my son, your task is done.”

“Hãy đi trong bình an, con trai của ta, nhiệm vụ của ngươi đã hoàn thành.”

The Teacher saw him coming and went forth to meet him on the Way. Across the waters came the voices of the Sisters seven, singing around the bull, and nearer still the chanting of the one-eyed men within the Temple of the Lord, high in the Holy Place.

Vị Huấn Sư thấy chàng đang đến và bước ra gặp chàng trên Con Đường. Từ bên kia làn nước vọng đến tiếng của bảy Chị Em, hát ca chung quanh con bò, và gần hơn nữa là tiếng tụng xướng của những người một mắt ở trong Đền Thánh của Đấng Chúa Tể, cao trên Thánh Địa.

“You came with empty hands, oh, Hercules,” the Teacher said.

“Này Hercules, Con đến với đôi tay trống không,” Vị Huấn Sư nói.

“I have these empty hands, because I have fulfiled the task to which I was assigned. The sacred bull is rescued, securely with the Three. What next?”

“Con có đôi tay trống không vì con đã hoàn thành nhiệm vụ được giao. Con bò thiêng đã được cứu, an toàn với Ba Người. Tiếp theo là gì?”

“Within the light shall you see light; walk in that light and there see light. Your light must brighter shine. The bull is in the Holy Place.”

“Trong ánh sáng, con sẽ thấy ánh sáng; hãy bước đi trong ánh sáng ấy, và ở đó, con sẽ thấy ánh sáng. Ánh sáng của con phải tỏa rạng hơn nữa. Con bò đã ở trong Thánh Địa.”

And Hercules reposed upon the grass and rested from his labor. Later the Teacher turned to Hercules and said: “Labor the second is performed, and easy was the task. Learn from this task the lesson of proportion. Strength to perform the arduous task; a willingness to do the task which taxes not your powers; such are two lessons learnt. Rise soon and seek the country, guarded by Gate the third, and find the golden apples. Bring them here.

Và Hercules ngã lưng trên thảm cỏ, nghỉ ngơi sau kỳ công của mình. Sau đó, Huấn Sư quay sang Hercules và nói: “Nhiệm vụ thứ hai đã hoàn thành, và đó là một nhiệm vụ dễ dàng. Hãy học từ nhiệm vụ này bài học về sự cân đối. Sức mạnh để thực hiện nhiệm vụ gian khổ; sự sẵn lòng làm nhiệm vụ không đòi hỏi quá nhiều năng lực của con; đó là hai bài học đã học được. Hãy sớm đứng lên và tìm kiếm vùng đất được bảo vệ bởi Cửa thứ ba, và tìm những quả táo vàng. Hãy mang chúng về đây.”

The Tibetan (Djwhal Khul)

Chân sư Tây Tạng (Djwhal Khul)

The Meaning of the Labor

In spite of all initial partial failure, Hercules has made his start. In line with the universal law he has begun his work oil the mental plane.

Mặc dù ban đầu chưa hoàn toàn thành công, Hercules đã khởi đầu hành trình của mình. Theo đúng luật phổ quát, chàng đã bắt đầu công việc của mình trên cõi trí.

In the working out of the creative plan, thought-impulse is followed by desire. That state of consciousness, which we call mental, is succeeded by the state of sensitivity, and this second labor deals with the desire world and with the potency of desire. It is one of the most interesting labors and one that is [42] told us in fullest detail. Some of the accounts given of the various tests to which Hercules was subjected are exceedingly sketchy and brief in outline, but the tests in Taurus and Gemini, in Scorpio and Pisces, are related at greater length. They were drastic in their application and tried out every part of the aspirant’s nature.

Trong tiến trình thực hiện kế hoạch sáng tạo, xung động tư tưởng được tiếp nối bởi khát vọng. Trạng thái tâm thức mà chúng ta gọi là trí tuệ được tiếp nối bởi trạng thái nhạy cảm, và nhiệm vụ thứ hai này liên quan đến thế giới ham muốn và năng lực của ham muốn. Đây là một trong những nhiệm vụ thú vị nhất và được kể lại một cách đầy đủ nhất. Một số ghi chép về các thử thách khác nhau mà Hercules phải trải qua được mô tả rất sơ lược và ngắn gọn, nhưng những thử thách trong dấu hiệu Kim Ngưu và Song Tử, trong Hổ Cáp và Song Ngư, lại được thuật lại chi tiết hơn. Chúng được áp dụng một cách nghiêm ngặt và thử thách mọi khía cạnh trong bản chất của người chí nguyện.

The key to the labor in Taurus is the right understanding of the law of Attraction. This is the law that governs that magnetic force and that principle of coherence which builds the forms through which God, or the soul, manifests. It produces the stability which demonstrates in the persistence of the form throughout its cycle of existence, and concerns the interrelation between that which builds the form and the form itself; between the two poles, positive and negative; between spirit and matter; between the Self and the not-Self; between male and female, and thus between the opposites.

Chìa khóa cho kỳ công trong Kim Ngưu là sự hiểu biết đúng đắn về Định luật Hấp Dẫn. Đây là định luật chi phối lực từ tính và nguyên lý kết dính, điều hình thành nên các hình tướng mà qua đó Thượng Đế, hay linh hồn, biểu lộ. Nó tạo ra sự ổn định, thể hiện qua sự bền vững của hình tướng trong suốt chu kỳ tồn tại của nó, và liên quan đến mối tương quan giữa yếu tố kiến tạo hình tướng và chính hình tướng đó; giữa hai cực dương và âm; giữa tinh thần và vật chất; giữa Ngã và phi Ngã; giữa nam và nữ, và do đó, giữa các cặp đối cực.

Four Symbolic Words—Bốn Từ Biểu tượng

We find that this test concerns predominantly the problem of sex. There are four words in the English language which are ideographic and symbolic. They consist of three letters each and are as follows: God, Sex, Law and Sin. In these four words we find expressed the sum total of all that is.

Chúng ta thấy rằng thử thách này chủ yếu liên quan đến vấn đề tính dục. Có bốn từ trong tiếng Anh mang tính tượng hình và biểu tượng, mỗi từ gồm ba chữ cái: God, Sex, Law, và Sin. Trong bốn từ này, chúng ta thấy được tổng thể của mọi sự hiện hữu.

God, the sum total of all forms, the sum total of all states of consciousness, and the energizing Life. Sex, that Life in operation, attracting spirit and matter and instituting the interplay between the objective and the subjective and between the exoteric and the esoteric. Sex, desire, attraction, the instinctive urge to creation, the pull of the soul, the urge to divinity, desire of the male for the female, the lure of matter for spirit: all these phrases can be piled up to express some of the activities of Sex in its various relations. Law, the thought-impelled response of God to form; the habits instituted by the timeless interplay between the polar opposites which have been recognized by humanity as the inevitable laws of nature; the imposition [43] of the will of God and the impress of that will upon form and its recognition by man. Sin, according to its connotation, signifies “the one who it is,” the uprising of the unit against the whole, individuality versus the group, selfishness instead of universal interest.

Thượng đế – Tổng thể của mọi hình tướng, tổng thể của mọi trạng thái tâm thức, và là Sự Sống ban năng lượng. Tính dục – đó là Sự Sống trong trạng thái vận hành, thu hút tinh thần và vật chất, thiết lập sự tương tác giữa chủ quan và khách quan, giữa ngoại môn và nội môn. Sex – ham muốn, hấp dẫn, sự thúc đẩy bản năng hướng đến sáng tạo, sức hút của linh hồn, sự thôi thúc hướng đến thiên tính, khao khát của nam đối với nữ, sự lôi cuốn của vật chất đối với tinh thần—tất cả những cụm từ này có thể được xếp chồng lên nhau để diễn đạt một số hoạt động của Sex trong các mối quan hệ khác nhau. Định Luật – Sự đáp ứng được thúc đẩy bởi tư tưởng của Thượng Đế đối với hình tướng; những thói quen được thiết lập bởi sự tương tác vô tận giữa các cực đối lập, mà nhân loại đã nhận thức như những định luật tất yếu của tự nhiên; sự áp đặt ý chí của Thượng Đế và dấu ấn của ý chí đó lên hình tướng, cũng như sự nhận thức của con người về điều đó. Sin – Tội lỗi, theo hàm nghĩa của nó, biểu thị “kẻ tự cho mình là trung tâm”, sự nổi dậy của đơn vị chống lại toàn thể, tính cá thể đối nghịch với nhóm, sự ích kỷ thay cho lợi ích phổ quát.

Thus is the story of the universe written for us in these four words. God, the Whole; Sex, the attraction between the parts within that Whole; Law, the habit of the Whole; and Sin, the revolt of the unit in the Whole.

Như vậy, câu chuyện về vũ trụ được viết ra trong bốn từ này: God – Tổng thể; Sex – Sự hấp dẫn giữa các phần trong Tổng thể; Law – Thói quen của Tổng thể; và Sin – Sự nổi loạn của cá thể bên trong Tổng thể.