The Story of the Labor—Câu chuyện của Kỳ Công
Minos, King of Crete, possessed a sacred bull, which he kept on the island of Crete. Eurystheus sent for Hercules and told him that it was necessary to capture the bull and bring it from the island to the mainland. No instructions were given as to how this was to be accomplished, and all that Hercules knew was that the bull was sacred, that it was born from the sea, and that its destiny was to be offered in sacrifice to Minos. Hercules, therefore, travelled to Crete and searched all over the island, pursuing the bull from place to place until at last he cornered it. Then, we are told, he rode the bull, like a horse, across the island and through the waters which separated Crete from the mainland, and so brought it into the city of the Cyclops. These Cyclops were peculiar beings of whom it was claimed that they possessed only one eye, set in the middle of the forehead. They were ruled over by three outstanding figures, whose names were Brontes, meaning thunder, Steropes, meaning lightning, and Arges, meaning whirling activity. When Hercules arrived with the bull at the gates of the city, he was met by the three Cyclops, who received the sacred bull from him and took charge of it. And thus ended the second labor.
Minos, Vua xứ Crete, sở hữu một con bò thiêng mà ông ta giữ trên đảo Crete. Eurystheus triệu gọi Hercules và bảo rằng cần phải bắt con bò và mang nó từ đảo về đất liền. Không có hướng dẫn nào được đưa ra về cách thực hiện nhiệm vụ này, và tất cả những gì Hercules biết đó là con bò thiêng, nó sinh ra từ biển, và số phận của nó là bị hiến tế cho Minos. Vì vậy, Hercules đã du hành đến Crete và tìm kiếm khắp hòn đảo, truy đuổi con bò từ nơi này sang nơi khác cho đến khi cuối cùng chàng dồn được nó vào góc. Sau đó, theo những gì được kể lại, chàng đã cưỡi con bò như thể nó là một con ngựa, băng qua hòn đảo và vượt qua vùng nước ngăn cách Crete với đất liền, rồi mang nó đến thành phố của những người Cyclops. Những người Cyclops này là những con người kỳ lạ, được cho là chỉ có một con mắt ở giữa trán. Họ được cai trị bởi ba nhân vật nổi bật, có tên là Brontes, có nghĩa là sấm sét; Steropes, có nghĩa là tia chớp; và Arges, có nghĩa là sự vận động xoáy. Khi Hercules đến với con bò tại cổng thành phố, chàng được ba người Cyclops đón tiếp. Họ nhận con bò thiêng từ chàng và đảm nhận việc chăm sóc nó. Và như vậy, nhiệm vụ thứ hai đã kết thúc.
The Theme of Illumination—Chủ đề Soi Sáng
Taurus is one of be most interesting of the zodiacal constellations, especially at this time. It is the Fixed Cross in the heavens, [44] the Cross of the Disciple, and the following extract is of interest in this connection:
Kim Ngưu là một trong những chòm sao hoàng đạo thú vị nhất, đặc biệt là vào thời điểm này. Đây là Thập Giá Cố Định trên bầu trời, Thập Giá của người đệ tử, và trích đoạn sau đây có liên quan đáng chú ý đến điều này:
“The sky is mystically spoken of as the Temple, and the eternal consciousness of God. Its altar is the sun, whose four arms or rays typify the four corners of the cardinal cross of the universe, which have become the four fixed signs of the zodiac, and as the four powerful sacred animal signs are both cosmical and spiritual, they represent the basic elements resembling our human principles. The sign Leo represents fire or spirit; Taurus, earth or body; Aquarius, air or mind; and Scorpio represents water likened to the soul. Leo, as the lion, is the strength of the lower nature, and is the serpent of force which, if directed upward, overcomes. Taurus, the bull, is always the symbol of creative force. Aquarius, the man, is the light-bearer, or light-bringer. Scorpio, the scorpion, is often transmuted with Aquila, the eagle... which rises at the same time with Scorpio; they are closely linked in symbolism. Scorpio is ‘the monster of darkness’, who stings to death, and yet preserves and reproduces, symbolizing not only generation but regeneration. As the latter it is Aquila, the eagle, the bird of the sun which has conquered the dark side of Scorpio (that adversary that can drag man down lower than the beasts), but when transmuted is the eagle of light, which can exalt above the gods.”
“Bầu trời được nói đến một cách huyền bí như là Đền Thánh và là tâm thức vĩnh cửu của Thượng Đế. Bàn thờ của nó là Mặt Trời, có bốn cánh tay hoặc tia sáng tượng trưng cho bốn góc của Thập Giá Chủ Yếu trong vũ trụ, vốn đã trở thành bốn dấu hiệu cố định của hoàng đạo. Vì bốn dấu hiệu động vật thiêng liêng này mang cả ý nghĩa vũ trụ lẫn tinh thần, chúng tượng trưng cho những nguyên tố cơ bản tương ứng với các nguyên lý của con người. Sư Tử đại diện cho lửa hay tinh thần; Kim Ngưu, đất hay thể xác; Bảo Bình, khí hay trí tuệ; và Hổ Cáp, nước—được ví như linh hồn. Leo, với hình tượng sư tử, là sức mạnh của bản chất thấp và là con rắn của mãnh lực, nếu được hướng lên trên, sẽ chế ngự mọi thứ. Kim Ngưu, con bò, luôn là biểu tượng của mãnh lực sáng tạo. Bảo Bình, con người, là người mang ánh sáng hay người truyền ánh sáng. Hổ Cáp, con bọ cạp, thường được chuyển hóa thành Aquila, đại bàng... nó mọc lên cùng thời điểm với Hổ Cáp và có sự liên kết chặt chẽ trong biểu tượng học. Hổ Cáp là ‘con quái vật của bóng tối’, kẻ gây ra cái chết bằng nọc độc, nhưng cũng là kẻ bảo tồn và tái tạo, tượng trưng không chỉ cho sự sáng tạo mà còn cho sự tái sinh. Khi được thăng hoa, nó trở thành Aquila, đại bàng, loài chim của Mặt Trời, loài đã chế ngự mặt tối của Hổ Cáp—kẻ thù có thể kéo con người xuống thấp hơn cả loài thú vật. Nhưng khi được chuyển hóa, nó trở thành đại bàng ánh sáng, có thể vươn lên trên cả các vị thần.”
The Celestial Ship of the North. Vol. I. (E. V. Straiton).
(The Celestial Ship of the North, Vol. I, E. V. Straiton)
The “eye of the bull” in Taurus, the magnificent fixed star, Aldebaran, is one of the reasons why this constellation is regarded as conferring illumination. In ancient days it was called the leading star of the heavens, and Taurus has always been connected with light and, therefore, with Christ, who proclaimed himself as the Light of the World. Light, illumination and sound, as an expression of the creative force: these are the three basic ideas connected with this constellation. The “interpreter of the divine voice”, as Taurus was called in ancient Egypt, can be paraphrased into Christian terminology and called “the Word made flesh”. It is an interesting sidelight on the power of the zodiacal influences to recall that the bull’s-eye lantern can be traced back to the bull’s eve in Taurus, and the pontifical bull, or the papal enunciations which were regarded [45] as interpreters of God’s voice, is a term in common usage today.
“Con mắt của con bò” trong Kim Ngưu, ngôi sao cố định rực rỡ Aldebaran, là một trong những lý do khiến chòm sao này được xem là ban phát sự soi sáng. Trong thời cổ đại, nó được gọi là ngôi sao dẫn đường của các tầng trời, và từ xưa Kim Ngưu vẫn luôn gắn liền với ánh sáng, và do đó, với Đức Christ, Đấng đã tự xưng mình là Ánh Sáng của Thế Gian. Ánh sáng, sự soi sáng và âm thanh, như là sự biểu hiện của mãnh lực sáng tạo: đó là ba ý niệm nền tảng gắn liền với chòm sao này. “Kẻ diễn giải tiếng nói thiêng liêng”, như Kim Ngưu từng được gọi trong Ai Cập cổ đại, có thể được diễn đạt lại theo thuật ngữ Kitô giáo và gọi là “Ngôi Lời trở thành xác thịt”. Một khía cạnh phụ thú vị về quyền năng của các ảnh hưởng hoàng đạo là việc nhắc lại rằng chiếc đèn mắt bò có thể được truy nguyên về con mắt của con bò trong Kim Ngưu. Ngoài ra, sắc chỉ giáo hoàng (pontifical bull)—hoặc các tuyên ngôn của Giáo hoàng, được xem là sự diễn giải tiếng nói của Thượng Đế—vẫn là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến ngày nay.
It might well be asked here, in what way does Taurus, the bull, become the bringer of illumination? We are told that in this sign the moon is exalted and Venus is the ruler. The moon has always, from the standpoint of the esotericist, and among primitive agricultural peoples, been regarded as the form-building aspect. The moon is the symbol, therefore, of matter and is seen in many of our churches, closely connected with the Virgin Mary.
Một câu hỏi đặt ra: Làm thế nào Kim Ngưu, con bò, trở thành người mang lại sự soi sáng? Chúng ta được cho biết rằng trong dấu hiệu này, Mặt Trăng “vượng” và Kim Tinh là chủ tinh. Mặt Trăng luôn được các nhà huyền môn và các dân tộc nông nghiệp nguyên thủy xem là khía cạnh hình tướng. Nó là biểu tượng của vật chất, và xuất hiện trong nhiều nhà thờ, gắn liền với hình ảnh Đức Mẹ Đồng Trinh Maria.
The consummation of the work that is undertaken in Taurus, and the result of the Taurian influence, is the glorification of matter and subsequent illumination through its medium. All that at present prevents the glory, which is the soul, and the radiance which emanates from the God within the form, from shining forth in its full power, is the matter or form aspect. When that has been consecrated, purified and spiritualized, then the glory and the light can indeed shine through and the moon aspect can, therefore, be exalted in Taurus. This is done through the influence of Venus, the symbol of earthly and of heavenly love, of both spiritual aspiration and of carnal desire, and is fittingly, therefore, the ruler of this sign. She is, above everything else, love, the creator of beauty and rhythm and unity. The bull and the cow together represent creation, and so Taurus and Venus are closely linked. The following is of interest:
Sự hoàn tất công việc được đảm nhận trong Kim Ngưu, và kết quả của ảnh hưởng Kim Ngưu, là sự tôn vinh vật chất và sự soi sáng tiếp theo thông qua chính môi trường ấy. Tất cả những gì hiện nay ngăn cản vinh quang—vốn là linh hồn—và quang huy phát xuất từ Thượng đế nội tại trong hình tướng không thể chiếu rạng với trọn quyền năng của nó, chính là phương diện vật chất hay hình tướng. Khi phương diện ấy đã được thánh hoá, được thanh luyện và được tinh thần hoá, thì vinh quang và ánh sáng quả thật có thể chiếu xuyên qua, và vì thế phương diện mặt trăng có thể được tôn vinh (“vượng”) trong Kim Ngưu. Điều này được thực hiện thông qua ảnh hưởng của Sao Kim, biểu tượng của tình yêu trần gian và của tình yêu thiên thượng, của cả khát vọng tinh thần lẫn dục vọng xác thịt, và do đó, là chủ tinh phù hợp của dấu hiệu này. Trên tất cả, Sao Kim là tình yêu, đấng sáng tạo của cái đẹp, nhịp điệu, và hợp nhất. Con bò đực và con bò cái cùng nhau tượng trưng cho sự sáng tạo, và vì thế Bạch Dương và Sao Kim gắn kết chặt chẽ với nhau. Điều sau đây thật thú vị:
“The bull or cow is the symbol of this sign, and in the celestial chart it will be observed that the little group of stars called Pleiades are represented just at the shoulder of the bull. Now, in Egyptian sculpture, or painting, the Pleiades are sometimes represented by the figure of a dove with wings outspread over the bull’s saddle. The dove as we remember, is the bird sacred to Venus, and as the Pleiades are part of the constellation Taurus and, as we shall see, more Taurian in nature, if possible, than Taurus itself, the dove becomes a specially appropriate symbol for this little star-group.” (The Zodiac: A Life Epitome,Walter H. Sampson, p. 24). [46]
Hình tượng bò đực và bò cái cùng nhau đại diện cho sự sáng tạo, do đó Kim Ngưu và Kim Tinh có mối liên hệ chặt chẽ. Một trích đoạn thú vị khác như sau: “Con bò đực hoặc con bò cái là biểu tượng của dấu hiệu này, và trên bản đồ thiên thể, chúng ta có thể quan sát thấy nhóm sao nhỏ Pleiades nằm ngay trên vai của con bò. Trong điêu khắc hay hội họa Ai Cập, Pleiades đôi khi được thể hiện bằng hình tượng một con bồ câu với đôi cánh dang rộng trên yên con bò. Như chúng ta nhớ, bồ câu là loài chim thiêng liêng của Kim Tinh, và vì Pleiades là một phần của chòm sao Kim Ngưu, nên nó có tính chất Kim Ngưu mạnh mẽ hơn bất kỳ thứ gì khác. Vì thế, bồ câu trở thành một biểu tượng đặc biệt thích hợp cho nhóm sao nhỏ này.” (The Zodiac: A Life Epitome, Walter H. Sampson, p. 24).
The Theme of Sex—Chủ đề Tính Dục
From this extract and many others which could be adduced, it is apparent how closely linked with sex, in its lower and in its higher aspects, is this important constellation of Taurus. This is why it has been called in some books, the “sign of generation”, both earthly and heavenly. We have seen that the power of the sign Taurus is that of attraction, or of bringing together. It exerts a steady and continuous pull and in both the symbolical and the astronomical sense it attracts. We have seen that in this sign are to be found the Pleiades, among them Alcyone, called the central sun of our universe, and around it circles our sun, with its attendant planets. The words of Job when he said: “Canst thou bind the sweet influences of Pleiades or loose the bands of Orion?”1 thus become clear. The Pleiades are the symbol of the soul around which the wheel of life revolves.
Từ đoạn trích này và từ nhiều đoạn khác nữa có thể được dẫn ra, hiển nhiên thấy rằng chòm sao quan trọng Kim Ngưu có mối liên hệ hết sức mật thiết với giới tính, cả trong phương diện thấp lẫn phương diện cao của nó. Chính vì lý do này mà trong một số sách, Kim Ngưu đã được gọi là “dấu hiệu của sự sinh thành”, vừa trần thế vừa thiên thượng. Chúng ta đã thấy rằng quyền năng của dấu hiệu Kim Ngưu là quyền năng của sự hấp dẫn, hay của việc kết hợp lại với nhau. Nó tạo ra một lực hút bền bỉ và liên tục, và trong cả ý nghĩa biểu tượng lẫn thiên văn học, nó đều mang tính thu hút. Chúng ta đã thấy rằng trong dấu hiệu này có nhóm sao Pleiades, trong đó có Alcyone, được gọi là mặt trời trung tâm của vũ trụ chúng ta, và quanh nó mặt trời của chúng ta, cùng với các hành tinh đi theo, xoay vần. Những lời của Job khi ông nói: “Ngươi có thể buộc chặt những ảnh hưởng êm dịu của Pleiades, hay tháo gỡ những dây trói của Orion chăng?” vì thế trở nên sáng tỏ. Pleiades là biểu tượng của linh hồn, quanh đó bánh xe sự sống xoay chuyển.
It is interesting to discover again, in Taurus, the triplicity which is so constantly recurrent in astronomical lore and in mythology: Taurus, representing form and the attractive pull of matter; the Pleiades, representing soul and the vast recurring cycle of experience; and, among the seven Pleiades, [Note the “seven Sisters” singing about Hercules, in the statement of the Myth] the Lost Pleiad (for only six are visible) a symbol of the obscuration of spirit, whilst soul, through desire, takes a body. Thus the idea of the relation of the Self and the not-Self, in order to produce the ultimate revelation of the spirit, underlies all mythological teaching and the scriptures and symbols of all time, and thus we have also the emergence of the idea of the great illusion and glamor. Spirit or God is “lost”, or veiled, and disappears in the attractiveness of the outer form and in the glamor which the soul attracts around itself.
Thật thú vị khi ta khám phá lần nữa trong Kim Ngưu bộ ba thường xuyên lặp lại trong truyền thuyết thiên văn và thần thoại: Kim Ngưu, đại diện cho hình thể và sự thu hút hấp dẫn của vật chất; các Pleiades, tượng trưng cho linh hồn và chu kỳ kinh nghiệm rộng lớn; và trong số bảy Pleiades, [Ghi chú “bảy chị em” hát quanh Hercules trong câu chuyện Huyền thoại], ngôi sao đi lạc (chỉ có sáu ngôi sao có thể nhìn thấy được) một biểu tượng của sự che khuất của tinh thần, trong khi linh hồn, qua ham muốn khoác lấy một hình thể. Do đó, ý tưởng về mối quan hệ của Ngã và Phi Ngã, để tạo ra sự mặc khải tối thượng về tinh thần, nằm đằng sau tất cả các giáo lý thần thoại, kinh điển và biểu tượng của mọi thời đại, và do đó chúng ta cũng thấy xuất hiện ý tưởng về đại ảo tưởng và ảo cảm. Tinh Thần hay Thượng đế bị "thất lạc", hoặc che đậy, và biến mất trong sự hấp dẫn của hình thể bên ngoài và trong ảo cảm mà linh hồn thu hút xung quanh chính nó.
It should be remembered here that the opposite sign to Taurus is that of Scorpio, and these two signs constitute the [47] field of a stupendous effort on the part of Hercules; for in one he wrestles with the problem of sex, and in the other, he overcomes the great illusion.
Ở đây, cần nhớ ở đây rằng dấu hiệu ngược lại của Kim Ngưu là Hổ Cáp, và hai dấu hiệu này tạo thành môi trường [47] của một nỗ lực phi thường của Hercules; trong Kim Ngưu chàng đấu tranh với vấn đề tình dục, và trong Hổ Cáp chàng vượt qua ảo tưởng lớn.
Significance of the Constellations—Ý nghĩa của các Chòm Sao
The three constellations connected with this sign are Orion, Eridanus, Auriga; and the nature of the work in Taurus is beautifully foretold by the three pictures in the heavens which they present to us. The ancient name of Orion was “the three Kings”, because of the three beautiful stars found in Orion’s Belt. The Three Kings represent the three divine aspects of Will, Love and Intelligence, and Orion, therefore, symbolizes the spirit. The name Orion literally means “the breaking forth of light.”
Ba chòm sao liên kết với dấu hiệu này là Orion, Eridanus, và Auriga; và bản chất của công việc trong Kim Ngưu được tiên báo một cách tuyệt đẹp qua ba hình ảnh mà chúng trình bày trên bầu trời. Tên cổ xưa của Orion là “Ba vị Vua”, do ba ngôi sao sáng rực rỡ nằm trên đai lưng của Orion. Ba vị Vua này tượng trưng cho ba khía cạnh thiêng liêng của Ý Chí, Bác Ái và Trí Tuệ, và do đó, Orion tượng trưng cho tinh thần. Tên Orion có nghĩa đen là “sự bùng nổ của ánh sáng”.
Again and again, as we circle around the zodiac, shall we find appearing what might be called “the spiritual prototype” of Hercules; Perseus, the Coming Prince, who slew the Medusa, symbol of the great illusion. He is found in Aries; Orion, whose name means “light”, is found in Taurus; in Scorpio, Hercules himself, triumphant and victorious, appears. Then we have Sagittarius, the Archer on the Horse, going straight for his goal, and in Pisces we find the King. The more closely we study this heavenly picture book, the more we realize that ever before us is held the symbol of our divinity, the symbol of the soul in incarnation, and the story of matter, as it receives purification and glorification through the laborious work of the soul.
Hết lần này đến lần khác, khi chúng ta quay quanh vòng hoàng đạo, chúng ta sẽ bắt gặp những biểu tượng mà ta có thể gọi là “nguyên mẫu tinh thần” của Hercules: Perseus, Hoàng Tử Đang Đến, kẻ đã chém đầu Medusa, biểu tượng của đại ảo tưởng, được tìm thấy trong Bạch Dương. Orion, có tên mang ý nghĩa “ánh sáng”, thuộc về Kim Ngưu. Trong Hổ Cáp, Hercules xuất hiện, chiến thắng và vinh quang. Trong Nhân Mã, hình ảnh của xạ thủ trên lưng ngựa, tiến thẳng về mục tiêu của mình. Và trong Song Ngư, chúng ta tìm thấy Nhà Vua. Càng nghiên cứu kỹ cuốn sách thiên thể này, chúng ta càng nhận ra rằng trước mắt chúng ta luôn hiện hữu biểu tượng của tính thiêng liêng, biểu tượng của linh hồn đang nhập thể, và câu chuyện của vật chất, khi nó được thanh tẩy và vinh quang hóa thông qua công cuộc lao động đầy gian khổ của linh hồn.
The second constellation connected with this sign is an immense river of stars, which streams forth from under the feet of Orion. It is called Eridanus, or the “River of the Judge”, and is a symbol of the river of life, carrying souls into incarnation, where they learn the meaning of the words, “as a man sows, so shall he reap”, and where they undertake the stupendous task of working out their own salvation. just as Orion [48] symbolizes the spirit aspect, so Eridanus concerns itself’ with the form-taking aspect and holds before its the thought of incarnation; whilst the third constellation, Auriga, is the charioteer, leading forth to new lands and so symbolizing the soul.
Chòm sao thứ hai liên kết với dấu hiệu này là một dòng sông sao khổng lồ, tuôn chảy từ dưới chân của Orion. Nó được gọi là Eridanus, hay “Dòng Sông của Đấng Phán Xét”, và là biểu tượng của dòng sông sự sống, nơi dẫn dắt các linh hồn vào sự nhập thể, nơi họ học được ý nghĩa của câu: “Người gieo gì, sẽ gặt nấy”, và nơi họ gánh vác nhiệm vụ vĩ đại của việc tự giải thoát chính mình. Cũng giống như Orion tượng trưng cho khía cạnh tinh thần, Eridanus liên quan đến khía cạnh hình tướng, và nhắc nhở chúng ta về ý niệm nhập thể. Trong khi đó, chòm sao thứ ba, Auriga, chính là người đánh xe ngựa, dẫn dắt đến những vùng đất mới, và do đó tượng trưng cho linh hồn.
Nature of the Tests—Bản Chất của các Thử Thách
The broad lesson to be learned in this sign is to achieve right understanding of the law of attraction and right use and control of matter. In this way matter is raised up into heaven, figuratively speaking, and can enter upon its right function; which is, to constitute a medium of expression and a field of endeavor for the indwelling Christ or soul. The aspirant, therefore, is tested in two ways: first as to the caliber of his animal nature and the motives underlying its utilization; second, he is tested as to the attraction which the great illusion can exert over him. Maya, or the great illusion, and sex are but two aspects of the same force, that of attraction: one, as it manifests on the physical plane, and the other, as it expresses itself in the field of the emotional-desire nature.
Bài học lớn để học trong dấu hiệu này là đạt được sự hiểu biết đúng đắn về luật hấp dẫn, cách sử dụng và kiểm soát đúng đắn vật chất. Nói một cách tượng trưng, bằng cách này vật chất được nâng lên trời và có thể hoạt động đúng chức năng của nó; đó là, để tạo thành một phương tiện cho sự thể hiện và một lĩnh vực nỗ lực cho đức Christ hoặc linh hồn nội tại. Do đó, người chí nguyện được thử thách theo hai cách: đầu tiên là mức độ của bản chất động vật của y và động cơ phía sau của việc sử dụng nó; thứ hai, y được thử nghiệm về sự hấp dẫn mà ảo cảm vĩ đại có thể gây ra cho y. Maya, hay Đại Ảo tưởng, và tình dục là hai khía cạnh của cùng một lực, lực hấp dẫn: một cái khi nó thể hiện trên cõi trần, và cái kia khi nó tự thể trong lĩnh vực bản chất ham muốn tình cảm.
The Disciple and Sex—Đệ tử và Tính Dục
An aspirant to discipleship has in sex a real problem with which to contend. Self-indulgence and the control of the human being by any part of his organism are always inevitably wrong. When a man’s entire mind is occupied with the thought of women, or vice versa; when he lives mainly to satisfy an animal craving; when he finds himself unable to resist the lure of his polar opposite, then he is a victim of and is controlled by the lowest part of his nature, the animal.
Một người chí nguyện hướng đến Con đường Đệ tử phải tranh đấu với vấn đề tính dục. Tự buông thả và để cho bất kỳ bộ phận nào của cơ thể mình kiểm soát luôn luôn điều sai lầm không thể tránh khỏi. Khi toàn bộ tâm trí của một người bị ám ảnh bởi ý nghĩ về phụ nữ, hay ngược lại, toàn bộ tâm trí của người phụ nữ bị ám ảnh bợi tư tưởng về người đàn ông; khi người đó sống chủ yếu để thỏa mãn ham muốn thú vật; khi y thấy mình không thể chống lại sự quyến rũ của đối cực của mình, khi đó y là một nạn nhân và bị kiểm soát bởi phần thấp nhất của bản chất của mình, bản chất động vật.
But when man recognizes his physical functions as a divine heritage, and his equipment as having been given him for the good of the group and to be rightly used for the benefit of the human family, then we shall see a new motivating impulse underlying human conduct where sex is concerned. We shall see the elimination of promiscuity, with its attendant evil, [49] disease. We shall see the solution of the problem of too many children and, incidentally, easement of the economic problem. Through right control of the sex function and its relegation to the purpose for which it exists (the carrying onward of the human family and the providing of bodies whereby souls call gain experience) then right use will be made of sex. Then, passion, Lust, self-gratification, disease, and over-population will die out in the world. Matter will no longer be prostituted to selfish desire, and the relation between the sexes will be governed by understanding of divine purpose and skill-in-action.
Nhưng khi con người nhận ra các chức năng thể chất của mình như là một di sản thiêng liêng, và trang bị của y được trao cho y vì lợi ích của nhóm và được sử dụng đúng đắn cho lợi ích của gia đình nhân loại, chúng ta sẽ thấy một động lực mới đằng sau hành vi của con người trong quan hệ tình dục. Chúng ta sẽ thấy việc loại bỏ sự chung chạ bừa bãi kèm theo đó là các bệnh tật liên quan [49]. Chúng ta sẽ thấy giải pháp cho vấn đề có quá nhiều trẻ em, và một cách tình cờ, giải quyết vấn đề kinh tế. Thông qua sự kiểm soát đúng đắn chức năng tình dục và điều tiết nó với mục đích mà nó tồn tại (sự duy trì gia đình nhân loại và việc cung cấp các cơ thể qua đó linh hồn có thể trãi nghiệm), khi đó vấn đề tình dục sẽ được sử dụng đúng đắn. Khi đó, dục vọng, ham muốn, sự tự mãn, bệnh tật và sự gia tăng dân số quá mức sẽ biến mất dần trên thế giới. Vật chất sẽ không còn bị lợi dụng cho dục vọng ích kỷ, và mối quan hệ giữa các giới sẽ bị chi phối bởi sự hiểu biết về mục đích thiêng liêng và kỹ năng hành động.
Two points of view are equally wrong: in the one case we have practices taught which lead eventually to sexual orgies2. These have been dignified by the name of sex magic, and in the sexual orgasm, deliberately induced, a man is led to believe that the physical sex act is his highest point of spiritual opportunity and that, at such a moment, he can touch, if he will, the kingdom of Heaven.
Hai quan điểm đều sai lầm như nhau: trong một trường hợp, chúng ta có những thực hành được dạy mà cuối cùng dẫn đến các hành vi tình dục bừa bãi. Những điều này đã được khoác dưới tên ma thuật tình dục, và trong sự cực khoái tình dục được cố ý gây ra, một người được dẫn dắt để tin rằng hành vi tình dục thể chất là điểm cao nhất của cơ hội tâm linh của y và tại thời điểm đó, y có thể chạm vào, nếu y muốn, vương quốc Thiên Đàng.
The other attitude, which makes marriage and all expression of the sex life a sin for a disciple and which says that a man cannot be pure in the truly spiritual aspect if he marries and raises a family, is as devastatingly dangerous. There is no state of consciousness and no condition of life in which it is impossible for a man to function as a son of God. If it is not possible for a man to live the life of discipleship and the life of initiation and, with due self-control and understanding, live a normal, balanced sex life; then there is a department of human expression in which divinity is helpless, and this I refuse to recognize. There is no department of life, no field of expression, no meeting of obligation, no use of the physical apparatus, in which the soul cannot fulfil the part of the dominating factor and all things be done truly to the glory of God. But the soul must control, and not the lower nature. People forget that some of the greatest of the world initiates married; that the Buddha married and had a son, and must have been an initiate of high degree when he entered into the married state. [50] They forget that Moses, David the Psalmist, and many of the outstanding figures in the world of mysticism in both hemispheres, were married and raised families.
Thái độ khác, cho rằng hôn nhân và mọi biểu hiện của đời sống tính dục là tội lỗi đối với một đệ tử và nói rằng một người không thể trong sạch theo khía cạnh thật sự tinh thần nếu y kết hôn và nuôi nấng gia đình, cũng nguy hiểm một cách tàn phá. Không có trạng thái tâm thức nào và không có điều kiện sống nào mà trong đó một người không thể hoạt động như một con của Thượng đế. Nếu một người không thể sống cuộc sống của địa vị đệ tử và cuộc sống của điểm đạo, và với sự tự chủ và thấu hiểu thích đáng, sống một đời sống tính dục bình thường, cân bằng; thì có một lĩnh vực biểu hiện của con người mà trong đó thiên tính bất lực, và điều này tôi từ chối thừa nhận. Không có lĩnh vực sống nào, không có phạm vi biểu hiện nào, không có cuộc gặp gỡ nghĩa vụ nào, không có sử dụng bộ máy hồng trần nào, mà trong đó linh hồn không thể hoàn thành vai trò là nhân tố chi phối và mọi việc được thực hiện thật sự cho vinh quang của Thượng đế. Nhưng linh hồn phải kiểm soát, chứ không phải bản chất thấp hơn. Mọi người quên rằng một số trong những điểm đạo đồ vĩ đại nhất của thế giới đã kết hôn; rằng Đức Phật đã kết hôn và có một người con trai, và hẳn đã là một điểm đạo đồ cấp bậc cao khi Ngài bước vào trạng thái hôn nhân. [50] Họ quên rằng Moses, David nhà Thánh vịnh, và nhiều nhân vật nổi bật trong thế giới thần bí học ở cả hai bán cầu, đã kết hôn và nuôi nấng gia đình.
Disciples belong to all races, both in the occident and in the orient, and the attitude of different races towards sex is widely diversified. Standards of conduct differ. The legality or the illegality of relations varies. Different epochs and different civilizations have seen relationships that were legal at one time, and illegal at another. Some races are monogamous and some races are polygamous. In some civilizations the woman is regarded as the dominant factor, and in others the man. Down the ages sex perverts, homosexuals, true and spurious, have been with us, and today is probably no worse than 5,000 years ago, except that everything is now dragged out into the light, which is good. Everybody talks about the problem; and the rising generation are asking in no uncertain tones: “What about sex? What is right and what is wrong?” How can they be expected to deal with a question which has been discussed, seemingly in the most futile manner, down the ages?
Các đệ tử thuộc về mọi chủng tộc, cả ở phương Tây lẫn phương Đông, và thái độ của các chủng tộc khác nhau đối với giới tính thì đa dạng rộng rãi. Những tiêu chuẩn về hành vi khác nhau. Tính hợp pháp hay bất hợp pháp của các mối quan hệ thay đổi. Những kỷ nguyên khác nhau và những nền văn minh khác nhau đã chứng kiến các mối quan hệ hợp pháp tại thời điểm này, và bất hợp pháp tại thời điểm khác. Một số chủng tộc theo chế độ một vợ một chồng và một số chủng tộc theo chế độ đa thê. Trong một số nền văn minh, người phụ nữ được coi là nhân tố chi phối, và trong những nền văn minh khác thì là người đàn ông. Qua các thời đại, những kẻ đồi bại tính dục, những người đồng tính luyến ái, thật và giả, đã ở cùng chúng ta, và ngày nay có lẽ không tệ hơn 5.000 năm trước, trừ việc bây giờ mọi thứ đều được kéo ra ánh sáng, điều này là tốt. Mọi người đều nói về vấn đề này; và thế hệ đang lớn lên đang hỏi một cách không mơ hồ: "Còn về tính dục thì sao? Cái gì đúng và cái gì sai?" Làm sao có thể mong đợi họ giải quyết một câu hỏi đã được thảo luận, dường như theo cách vô ích nhất, qua các thời đại?
Here it is pertinent to note that Minos, King of Crete, who owned the sacred bull also possessed the maze in which the Minotaur lived, and the maze has ever been the symbol of the great illusion. The word “maze” comes from an old English word, meaning to bewilder, to confuse, to puzzle. The island of Crete with its maze and its bull is an outstanding symbol of the great illusion. It was separated from the mainland, and illusion and bewilderment are characteristics of the separated self, but not of the soul on its own plane, where group realities and universal truths constitute its kingdom. The bull, to Hercules, typified animal desire, and the many aspects of desire in the world of form which, in their totality, constitute the great illusion. The disciple, like Hercules, is a separated unit, divided from the mainland, the symbol of the group, by the world of illusion and the maze in which he lives. The bull of desire has to be caught and mastered and chased from one point to another [51] in the life of the separated self, until the time comes when the aspirant can do what Hercules succeeded in doing: ride the bull. To ride an animal, in the ancient myths, signifies control. The bull is not slaughtered, it is ridden and guided, and under the mastery of the man.
Ở đây, thật thích đáng khi lưu ý rằng Minos, Vua của Crete, người sở hữu con bò đực thiêng liêng cũng sở hữu mê cung trong đó Minotaur sống, và mê cung từ lâu đã là biểu tượng của ảo tưởng vĩ đại. Từ "maze" (mê cung) bắt nguồn từ một từ tiếng Anh cổ, có nghĩa là làm bối rối, làm lẫn lộn, làm hoang mang. Đảo Crete với mê cung và con bò đực của nó là một biểu tượng nổi bật của ảo tưởng vĩ đại. Nó tách rời khỏi đất liền, và ảo tưởng và sự hoang mang là những đặc điểm của cái ngã tách biệt, nhưng không phải của linh hồn trên cõi của chính nó, nơi các thực tại nhóm và các chân lý phổ quát tạo thành vương quốc của nó. Đối với Hercules, con bò đực tượng trưng cho dục vọng thú vật, và nhiều khía cạnh của dục vọng trong thế giới hình tướng mà, trong toàn thể của chúng, tạo thành ảo tưởng vĩ đại. Đệ tử, giống như Hercules, là một đơn vị tách biệt, phân chia khỏi đất liền, biểu tượng của nhóm, bởi thế giới ảo tưởng và mê cung mà y sống trong đó. Con bò đực của dục vọng phải được bắt và làm chủ và đuổi từ điểm này đến điểm khác [51] trong cuộc sống của cái ngã tách biệt, cho đến khi thời điểm đến mà người chí nguyện có thể làm những gì Hercules đã thành công trong việc làm: cưỡi con bò đực. Cưỡi một con vật, trong các thần thoại cổ đại, biểu thị sự kiểm soát. Con bò đực không bị giết thịt, nó được cưỡi và dẫn dắt, và dưới sự làm chủ của con người.
There are potencies and faculties hidden in the human being that, when developed and unfolded, may bring new powers to bear upon this problem. But, in the meantime, what shall the aspirant do? Certain suggestions may be made:
Có những mãnh lực và khả năng tiềm ẩn trong con người, khi được phát triển và khai mở, có thể mang lại những năng lực mới để giải quyết vấn đề này. Nhưng trong lúc chờ đợi điều đó xảy ra, người chí nguyện nên làm gì? Một số gợi ý có thể được đưa ra:
1. Ride, control and master the bull and let the aspirant remember that the bull has to be ridden across the waters to the mainland; which means that the solution of the whole sex problem will come when the disciple subordinates his separated personal island self to group purpose and endeavor, and begins to rule his life by the question, “What is best for the group with which I am associated?” It is by doing this that the bull is ridden to the mainland.
1. Cưỡi, kiểm soát và làm chủ con bò, và hãy để người chí nguyện nhớ rằng con bò phải được cưỡi trên mặt nước đến đất liền; có nghĩa là giải pháp của toàn bộ vấn đề tình dục sẽ đến khi đệ tử phục tùng hòn đảo cá nhân riêng biệt của mình cho mục đích và nỗ lực tập thể, và bắt đầu cai quản cuộc sống của mình bằng câu hỏi, "Điều gì là tốt nhất cho nhóm mà tôi liên kết? Chính bằng cách này mà con bò được cưỡi đến đất liền.
2. Use common sense. The ancient meaning of the word “common sense” was that there was a sense which synthesized and unified the five senses and so constituted a “common sense”, literally, the mind. Let the aspirant use his mind, and through the medium of intelligent perception, guide and control the bull of desire. If common sense is used, certain dangers will be avoided. There is a danger in the method of many aspirants in inhibiting or shutting off all sex expression. Physiologically they may succeed, but the experience of psychologists and teachers is that where inhibition and a drastic suppression is imposed upon the organism, the result is some form of nervous or mental complex. Many physically clean people have unclean minds. Many who would scorn the practise of any of the sex perversions and who hold that marriage is not for the disciple, have mental apparatuses which will not bear investigation. Their minds and their interpretations of other people’s actions are so salacious and their capacity to think evil so great, that, dangerous as this may sound, one feels that it would be better [52] for them to be ridden by the bull of desire than to continue their present practice of substituting mental indulgence for outer sin. A clean mind and a pure heart, a rightly organized and rightly used physical body, conformity to the laws of the land in which his destiny is cast, utter consideration for the welfare of those with whom he is associated, and a life of loving service: these constitute the ideals of the aspirant.
2. Sử dụng lương tri. Ý nghĩa cổ xưa của từ “lương tri” là có giác quan tổng hợp và thống nhất năm giác quan, và do đó tạo nên một “giác quan chung”, theo nghĩa đen là tâm trí. Hãy để người chí nguyện sử dụng tâm trí của mình, và thông qua phương tiện nhận thức thông minh, hướng dẫn và kiểm soát con bò của ham muốn. Nếu lương tri được sử dụng, một số nguy hiểm sẽ được tránh khỏi. Có một mối nguy hiểm trong phương pháp của nhiều người chí nguyện trong việc ức chế hoặc dập tắt tất cả các biểu hiện tình dục. Về mặt sinh lý họ có thể thành công, nhưng kinh nghiệm của các nhà tâm lý học và các huấn sư là khi sự ức chế và đàn áp mạnh mẽ được áp đặt lên cơ quan, kết quả sẽ là một dạng rối loạn thần kinh hoặc tinh thần. Nhiều người sạch sẽ về thể chất lại có tâm trí ô uế. Nhiều người sẽ khinh miệt việc thực hành bất kỳ tình dục nào và những người cho rằng hôn nhân không dành cho người đệ tử, lại có những bộ máy tâm trí không chịu sự thẩm tra. Tâm trí của họ và sự giải thích của họ về hành động của người khác rất tục tĩu, khả năng của họ nghĩ đến cái ác quá lớn đến mức nguy hiểm khiến người ta nghĩ rằng tốt hơn [52] là để họ bị con bò dục vọng cưỡi, còn hơn là tiếp tục thực hành hiện tại của họ, thay thế sự đam mê tinh thần cho tội lỗi bên ngoài. Một thể trí sạch sẽ và trái tim thuần khiết, cơ thể vật chất được tổ chức hợp lý và đúng đắn, phù hợp với luật lệ của xứ xở của y, hoàn toàn cân nhắc về phúc lợi của những người mà y có liên quan và một đời sống phụng sự trong yêu thương: đây là những lý tưởng của người chí nguyện.
3. A right understanding, of the meaning, of celibacy. The word means “single” and the meaning usually given to the word is, to refrain from the marriage relation. Many young men and women, driven by spiritual desire and under the influence of the thought-form of the church during the Middle Ages, with its many monasteries and convents, believe that for them the celibate state is essential and right, and are puzzled when they find that complexes result. But may it not be that the true celibacy has been expressed for us in the words of Christ, when he said, “If thine eye be single, thy whole body shall be full of light”? May it not be that true celibacy is the refusal of the soul any longer to identify itself with the form? May not the real marriage relation, of which the physical plane relation is but the symbol, be that of the union of the soul and the form, the positive spirit aspect and the negative mother-matter?
3. Một sự hiểu biết đúng đắn, về ý nghĩa, của sự độc thân. Từ celibacy (độc thân) có nghĩa là "duy nhất", và ý nghĩa thông thường được gán cho từ này là từ bỏ quan hệ hôn nhân. Nhiều thanh niên và phụ nữ, được thúc đẩy bởi ham muốn tâm linh và dưới ảnh hưởng của hình thức tư tưởng của Giáo Hội trong thời Trung Cổ, với nhiều tu viện của nó, tin rằng đối với họ, tình trạng độc thân là điều cần thiết và đúng đắn, nhưng họ ngạc nhiên khi thấy rằng kết quả phức tạp. Nhưng chẳng phải sự thật về sự độc thân thực sự đã được bày tỏ cho chúng ta trong lời của Đức Christ, khi Ngài Phán rằng, “Nếu mắt ngươi đơn độc, toàn thân ngươi sẽ đầy ánh sáng”? Chẳng phải rằng sự độc thân thực sự là sự từ chối của linh hồn để đồng hoá chính nó với hình tướng? Chẳng phải rằng mối quan hệ hôn nhân thực sự, mà hôn nhân trên cõi trần là biểu tượng, là sự kết hợp của linh hồn và hình thể, giữa khía cạnh tinh thần dương và người mẹ vật chất âm?
Let the soul be single in its purpose and freed from the thralldom of matter, and then right action and a right point of view will inevitably be the characteristics of the physical plane life. Let the soul ride the form, controlling and mastering it, and then it will surely know its right obligations. It will recognize the relation that it should hold to other human beings, whether its destiny is to be that of husband or wife, father or mother, brother or sister, friend or companion. Through right use of the form and right understanding of purpose, through right orientation to reality and right use of spiritual energy, the soul will act as the controlling factor and the whole body will be full of light. Through control, through the use of common sense, by a right understanding of celibacy, and by [53] identification with group purpose, the disciple will arrive at liberation from the control of sex. He will succeed in following the example of Hercules and will ride the bull of desire over to the mainland where, in the Temple of God, he will hand it over into the care of the Cyclops who were early initiates, having the single eye about which we have been speaking, the eye of Shiva, the Bull’s eye in the constellation Taurus. For Hercules himself was not only the disciple, but he was, in his lower nature, the bull, and in his higher nature the Cyclops.
Hãy để linh hồn trở thành duy nhất trong mục đích của nó và được giải phóng khỏi sự kiểm soát của vật chất, và khi đó hành động đúng và một quan điểm đúng đắn chắc chắn sẽ là những đặc điểm của cuộc sống trần gian. Hãy để linh hồn cưỡi hình thể, kiểm soát và làm chủ nó, và khi đó nó chắc chắn sẽ biết nghĩa vụ đúng đắn của nó. Nó sẽ nhận ra mối quan hệ mà nó nên giữ với người khác, cho dù định mệnh của nó là vợ hay chồng, cha hoặc mẹ, anh trai hoặc chị em, bạn bè hoặc người đồng hành. Thông qua việc sử dụng đúng hình thể và hiểu đúng mục đích, thông qua định hướng đúng với thực tế và sử dụng đúng năng lượng tinh thần, linh hồn sẽ đóng vai trò là yếu tố kiểm soát và toàn thân sẽ tràn đầy ánh sáng. Thông qua sự kiểm soát, thông qua việc sử dụng lương tri, bởi sự hiểu biết đúng đắn về sự độc thân, và bằng cách đồng hoá [53] với mục đích nhóm, người đệ tử sẽ đạt đến sự giải thoát khỏi sự kiểm soát của tình dục. Y sẽ thành công trong việc làm theo gương của Hercules, sẽ cưỡi con bò dục vọng đến đất liền, vào trong Đền thờ của Thượng đế, y sẽ giao việc chăm sóc nó cho các Cyclops là những điểm đạo đồ thuở xưa, những người có một con mắt duy nhất, mà như chúng ta đã nói,đó là con mắt của Shiva, con mắt của con bò trong chòm sao Kim Ngưu. Vì Hercules không chỉ là một đệ tử, mà trong bản chất thấp của mình, chàng còn là con bò, và trong bản chất cao là các Người Khổng Lồ Một Mắt.
When the bull of desire has been handed over to the Cyclops, to the initiate with the single eye, which is himself, the soul, the three divine aspects, will begin to manifest: Brontes, Steropes and Arges will guard the sacred bull, and Hercules, the disciple, will no longer have any responsibility. Brontes is the symbol of the first aspect of God, the Father who spoke and is the creative sound. Steropes means lightning, or light, and is the second aspect, the soul. Arges means whirling activity, the third aspect of divinity, expressing itself in the intense activity of physical plane life. These divine aspects constitute the controlling factor and once they have gained possession of the sacred bull, the problem of Hercules is solved.
Khi con bò đực của dục vọng đã được trao cho các Cyclops, cho điểm đạo đồ với con mắt duy nhất, chính là bản thân y, linh hồn, ba phương diện thiêng liêng, sẽ bắt đầu biểu hiện: Brontes, Steropes và Arges sẽ canh giữ con bò đực thiêng liêng, và Hercules, đệ tử, sẽ không còn bất kỳ trách nhiệm nào nữa. Brontes là biểu tượng của phương diện thứ nhất của Thượng đế, Đức Chúa Cha đã phán và là âm thanh sáng tạo. Steropes có nghĩa là chớp, hay ánh sáng, và là phương diện thứ hai, linh hồn. Arges có nghĩa là hoạt động xoay cuồng, phương diện thứ ba của thiên tính, tự biểu hiện trong hoạt động mãnh liệt của đời sống cõi hồng trần. Những phương diện thiêng liêng này tạo thành nhân tố kiểm soát, và một khi chúng đã giành được quyền sở hữu con bò đực thiêng liêng, vấn đề của Hercules được giải quyết.
The two Keywords of Taurus are (From Esoteric Astrology, p. 403):
Hai chủ âm của Kim Ngưu là (From Esoteric Astrology, p. 403):
“Let struggle be undismayed”. (The Form Aspect.)
“Hãy để sự đấu tranh không nao núng”. (The Form Aspect.)
“I see and when the Eye is opened, all is light”. (The Soul Aspect.) [54]
“Tôi thấy, khi Mắt đã mở ra, tất cả là ánh sáng”. (The Soul Aspect.) [54]
1 Ngươi có thế riết các dây chằng Sao rua lại, Và tách các xiềng Sao cầy ra chăng—Job 31:38
2 cuộc chè chén say sưa, cuộc truy hoan, cuộc trác táng
LABOR IIIGathering the Golden Apples of the Hesperides—Part 1
(Gemini, May 21st—June 20th)
The Myth
The great Presiding One, within the Council Chamber of the Lord, had watched the labors of the son of man who is a son of God. He and the Teacher saw the third great Gate, opening before the son of man, revealing a new chance to tread the Way. They noted how the laborer arose and prepared to enter on his task.
Đấng Chủ Tọa Vĩ Đại, trong Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể, đã dõi theo những kỳ công của người con của nhân loại, vốn cũng là Người Con của Thượng đế. Ngài và Huấn sư đã thấy Cửa Lớn thứ ba mở ra trước người con của nhân loại, hé lộ một cơ hội mới để bước đi trên Con Đường. Các Ngài ghi nhận cách người lao động đứng dậy và chuẩn bị bước vào nhiệm vụ của mình.
“Send out the word to guard the sacred tree. Let Hercules unfold the power to search without discouragement, deception or too great a speed. Let perseverance now be called upon. He has done well so far.”
“Hãy truyền lệnh canh giữ cây thiêng. Hãy để Hercules khai mở năng lực tìm kiếm mà không nản chí, không lừa dối, cũng không quá vội vàng. Giờ đây hãy kêu gọi sự kiên trì. Cho đến lúc này, y đã làm rất tốt.”
And thus the word went forth.
Và thế, lời được phát ra.
Far in a distant country grew the sacred tree, the tree of wisdom, and on it grew the golden apples of the Hesperides. The fame of these sweet fruits had gone to distant lands, and all the sons of men who knew themselves to be likewise the sons of God desired them. Hercules, too, knew of these fruits, and when the word went forth to seek for them he sought the Teacher, asking Him the way to go and find the sacred tree and pick the apples.
Ở một miền đất xa xôi, cây thiêng sinh trưởng, cây minh triết, và trên đó mọc những quả táo vàng của các Hesperides. Danh tiếng của những trái ngọt này đã vang xa đến các vùng đất xa xôi, và tất cả những người con của nhân loại, những ai biết mình cũng là Con của Thượng đế, đều khát khao chúng. Hercules cũng biết về những trái cây ấy, và khi lời truyền vang lên, kêu gọi hãy đi tìm chúng, chàng đã tìm đến Huấn sư, cầu hỏi con đường để đến cây thiêng và hái lấy những quả táo.
“Tell me the way, O Teacher of my soul. I seek the apples and I need them quickly for my use. Show me the quickest way and I will go!”
“Hãy chỉ cho con con đường, hỡi Huấn sư của linh hồn con. Con tìm kiếm những quả táo ấy và con cần chúng gấp cho việc sử dụng của mình. Xin chỉ cho con con đường nhanh nhất, và con sẽ đi ngay!”
“Not so, my son”, replied the Teacher, “the way is long. Two things alone I will confide to you, and then it is for you to prove the truth of what I say. Remember that the sacred tree is [55] guarded well. Three maidens fair cherish the tree, protecting well its fruit. A dragon with one hundred heads protects the maidens and the tree. Guard thyself well from strength too great for thee, from wiles too subtle for thy comprehension. Watch well. The second thing that I would say to thee is that thy search will carry thee where five great tests will meet thee on the Way. Each will afford thee scope for wisdom, understanding, skill and opportunity. Watch well. I fear, my son, that you will fail to recognize these points upon the Way. But time alone will show; God speed thee in thy search.”
“Không phải vậy, con trai của ta,” Huấn sư đáp, “con đường thì dài. Chỉ hai điều ta sẽ nói cho con biết, rồi chính con phải tự chứng nghiệm chân lý trong lời ta nói. Hãy nhớ rằng cây thiêng được canh giữ cẩn mật [55]. Ba trinh nữ mỹ lệ chăm nom cây, bảo vệ quả của nó. Một con rồng trăm đầu bảo vệ các trinh nữ và cây thiêng. Hãy tự giữ mình trước sức mạnh vượt quá khả năng của con, trước những mưu mẹo quá tinh vi so với sự hiểu biết của con. Hãy tỉnh thức. Điều thứ hai ta muốn nói với con là: cuộc tìm kiếm của con sẽ đưa con đến nơi năm thử thách lớn sẽ gặp con trên Con Đường. Mỗi thử thách sẽ mở ra cho con cơ hội vận dụng minh triết, thấu hiểu, kỹ năng và thời cơ. Hãy cẩn trọng. Con trai của ta, Ta e rằng con sẽ không nhận ra những điểm này trên Con Đường. Nhưng chỉ thời gian mới cho thấy; cầu mong Thượng đế gia hộ cho con trong cuộc tìm kiếm của con.”
With confidence, because success nor failure held for him a claim, Hercules went forth upon the Way, sure of himself, his wisdom and his strength. Through the third Gate he passed, going due north. Throughout the land he passed, seeking the sacred tree, but found it not. All men he met he questioned, but none could guide him on his way; none knew the place. Time passed, yet still he sought, wandering from place to place and returning oft upon his steps to the third Gate. Sad and discouraged, still he sought on every hand.3
Với sự tự tin, bởi vì thành công hay thất bại đều không còn chi phối chàng, Hercules bước ra trên Con Đường, tin tưởng vào chính mình, vào minh triết và sức mạnh của mình. Qua Cửa thứ ba, chàng bước đi, hướng thẳng về phương bắc. Chàng đi qua khắp vùng đất tìm kiếm cây thiêng, nhưng không tìm thấy. Chàng hỏi tất cả những người chàng gặp, nhưng không ai có thể chỉ đường cho chàng; không ai biết nơi ấy. Thời gian trôi qua, chàng vẫn tìm kiếm, lang thang từ nơi này sang nơi khác và thường xuyên quay trở lại Cửa thứ ba. Buồn bã và nản lòng, chàng vẫn tìm kiếm khắp mọi phía.
The Teacher, watching from afar, sent Nereus to see if he could aid. Time and again he came, in varying form and with differing words of truth, but Hercules responded not, nor knew him for the messenger he was. Skilled though he was in speech and wise with the deep wisdom of a son of God, Nereus failed, for Hercules was blind. He did not recognize the help so subtly proffered. Returned at length 4 with sadness to the Teacher, Nereus spoke of failure.
Vị Huấn sư, theo dõi từ xa, đã sai Nereus đến xem liệu ông có thể giúp được gì chăng. Hết lần này đến lần khác, với những hình dạng khác nhau và những lời chân thật khác nhau, Nereus đến gặp, nhưng Hercules không đáp ứng, cũng không nhận ra ông là sứ giả. Dù giỏi về ngôn từ và minh triết sâu xa như một Người Con của Thượng đế, Nereus vẫn thất bại, bởi Hercules đã mù lòa. chàng không nhận ra sự trợ giúp được đưa ra một cách tinh tế. Cuối cùng, trở về với nỗi buồn, Nereus thưa với Huấn sư về sự thất bại.
“The first of the five lesser tests is passed,” replied the Teacher, and failure marks this stage. Let Hercules proceed.”
“Thử thách nhỏ thứ nhất trong năm thử thách đã qua,” Huấn sư đáp, “và thất bại đánh dấu giai đoạn này. Hãy để Hercules tiếp tục.”
Finding no sacred tree upon the northern way, Hercules turned towards the south and in the place of darkness continued with his search. At first he dreamed of quick success, but Antaeus, the serpent, met him on that way and wrestled with him, overcoming him at every point. [56]
Không tìm thấy cây thiêng trên con đường phương bắc, Hercules quay về phương nam và tiếp tục tìm kiếm trong vùng tối tăm. Ban đầu chàng mơ về thành công nhanh chóng, nhưng Antaeus, con rắn, đã gặp chàng trên con đường ấy và vật lộn với chàng, đánh bại chàng ở mọi điểm [56].
“He guards the tree,” said Hercules, “this I was told, so near him must be the tree. I must break down his guard and, thus destroying him, break down and pluck the fruit.” Yet, wrestling with much strength, he conquered not.
Hercules nói, “ta được báo cho biết y canh giữ cây thiêng, vì vậy, hẳn cây thiêng phải ở gần y. Ta phải phá vỡ sự canh giữ của y, và bằng cách tiêu diệt y, ta sẽ phá vỡ và hái lấy quả.” Nhưng dù vật lộn với tất cả sức mạnh, chàng vẫn không chiến thắng.
“Where lies my fault?” said Hercules. “Why can Antaeus conquer me? E’en when an infant I destroyed a serpent in my cot. With my own hands I strangled it. Why fail I now?”
“Lỗi của ta ở đâu?” Hercules nói. “Vì sao Antaeus lại có thể đánh bại ta? Ngay khi còn là một đứa trẻ sơ sinh, ta đã giết một con rắn trong nôi của mình. Chính tay ta đã bóp chết nó. Vì sao giờ đây ta lại thất bại?”
Wrestling again with all his might, he grasped the serpent with both hands, lifting it high in air, away from off the ground. And lo! the deed was done: Antaeus, vanquished, spoke:
Một lần nữa vật lộn với tất cả sức lực, chàng nắm lấy con rắn bằng cả hai tay, nâng nó cao lên không trung, nhấc nó khỏi mặt đất. Và kìa! Công việc đã hoàn tất: Antaeus, bị khuất phục, lên tiếng:
“I come again in different guise at the eighth Gate. Prepare again to wrestle.”
“Ta sẽ trở lại trong hình dạng khác ở Cửa thứ tám. Hãy chuẩn bị để vật lộn với ta lần nữa.”
The Teacher, gazing from afar, saw all that happened, and to the great Presiding One who sits within the Council Chamber of the Lord he spoke, reporting on the deed.
Vị Huấn sư, theo dõi từ xa, đã thấy tất cả những gì xảy ra, và Ngài nói với Đấng Chủ Tọa Vĩ Đại, Đấng ngự trong Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể, tường thuật lại hành động ấy.
“The second test is passed. The danger is surmounted. Success at this point marks his way.”
“Thử thách thứ hai đã được vượt qua. Nguy hiểm đã được khắc phục. Thành công ở điểm này đánh dấu con đường của y.”
And the great Presiding One replied: “Let him proceed.”
Và Đấng Chủ Tọa Vĩ Đại đáp: “Hãy để y tiếp tục.”
Happy and confident, Hercules went on, sure of himself and with new courage for the search. Now to the west he turned himself and, turning thus, he met disaster. He entered without thought upon the third great test and failure met him and for long delayed his steps.
Hân hoan và tự tin, Hercules tiếp tục tiến bước, vững tin vào chính mình và với lòng can đảm mới cho cuộc tìm kiếm. Giờ đây chàng quay về phương tây, và khi quay như vậy, chàng gặp tai họa. Không suy nghĩ, chàng bước vào thử thách lớn thứ ba, và thất bại đã đến với chàng, khiến bước chân chàng bị trì hoãn rất lâu.
For there he met Busiris, the great arch-deceiver, son of the waters, of close kin to Poseidon. His is the work to bring delusion to the sons of men through words of seeming wisdom. He claims to know the truth and with quickness they believe. He speaks fair words saying:
Bởi tại đó, chàng gặp Busiris, kẻ đại lừa dối, con của các dòng nước, có mối thân thuộc gần gũi với Poseidon. Công việc của hắn là gieo rắc ảo tưởng cho những người con của nhân loại thông qua những lời lẽ dường như đầy minh triết. Hắn tự nhận biết chân lý, và người ta nhanh chóng tin hắn. Hắn nói những lời êm tai rằng:
“I am the teacher. To me is given knowledge of the truth and sacrifice for me. Accept the way of life through me. I know, but no-one else. My truth is right. All other truth is wrong and false. Hark to my words; stay with me and be saved.”
“Ta là huấn sư. Chân lý được ban cho ta, và sự hy sinh dành cho ta. Hãy chấp nhận con đường sống qua ta. Chỉ ta biết, không ai khác biết. Chân lý của ta là đúng. Mọi chân lý khác đều sai lạc và giả dối. Hãy lắng nghe lời ta; hãy ở lại với ta và được cứu rỗi.”
And Hercules obeyed, and daily weakened on [57] the early way (third test) seeking no further for the sacred tree. His strength was sapped. He loved, adored Busiris, and accepted all he said. Weaker from day to day he grew, until there came a day when his loved teacher bound him to an altar and kept him bound throughout a year.
Và Hercules đã vâng theo, từng ngày một, chàng suy yếu trên con đường ban đầu [57] (thử thách thứ ba), không còn tìm kiếm cây thiêng nữa. Sức lực của chàng bị hút cạn. Chàng yêu mến, tôn thờ Busiris, và chấp nhận mọi điều hắn nói. Từng ngày một chàng trở nên yếu đuối hơn, cho đến khi có một ngày, vị huấn sư được chàng yêu mến ấy trói chàng vào một bàn thờ và giữ chàng bị trói suốt một năm.
Suddenly one day, when struggling to be free, and slowly seeing Busiris for what he was, words spoken long ago by Nereus came to his mind:
Bỗng một ngày, khi vùng vẫy để được tự do, và dần dần thấy Busiris đúng như bản chất của hắn, những lời đã được Nereus nói từ lâu chợt hiện lên trong tâm trí y:
“Truth lies within yourself. There is a higher power and strength and wisdom in yourself. Turn inwards and there evoke the strength which is, the power which is the heritage of all the sons of men who are the sons of God.”
“Chân lý nằm trong chính con. Có một quyền năng, sức mạnh và minh triết cao hơn ở trong con. Hãy quay vào bên trong, và tại đó khơi dậy sức mạnh vốn có, quyền năng vốn có, là di sản của tất cả những người con của nhân loại, những ai là Con của Thượng đế.”
Silent lie lay a prisoner on the altar, bound to its corners four for one whole year. Then, with the strength which is the strength of all the sons of God, he broke his bonds, seized the false teacher (who had seemed so wise) and bound him to the altar in his place. He spoke no word, but left him there to learn.
Y nằm im lặng trên bàn thờ, bị trói vào bốn góc trong suốt một năm tròn. Rồi, với sức mạnh vốn là sức mạnh của tất cả các Người Con của Thượng đế, chàng bứt đứt xiềng xích, tóm lấy vị huấn sư giả dối (kẻ đã từng tỏ ra đầy minh triết) và trói hắn vào bàn thờ thay cho mình. chàng không nói một lời, mà bỏ đi, để hắn ở lại đó mà học hỏi.
The watching Teacher, from afar, noted the moment of release, and turning to Nereus said:
Vị Huấn sư, dõi theo từ xa, ghi nhận khoảnh khắc giải thoát, và quay sang Nereus mà nói:
“The third great test is passed. You taught him how to meet it and in due time he profited. Let him go forward on the Way and learn the secret of success.
“Thử thách lớn thứ ba đã được vượt qua. Người đã dạy y cách đối diện với nó, và đến đúng lúc y thụ hưởng từ bài học. Hãy để y tiếp tục bước đi trên Con Đường và học lấy bí mật của thành công.”
Chastened, yet full of questioning relief, Hercules continued with his search and wandered far. The year, spent prone upon the altar, had taught him much. He went with greater wisdom on his way.
Được thanh lọc, nhưng vẫn tràn đầy cảm giác nhẹ nhõm và những câu hỏi, Hercules tiếp tục cuộc tìm kiếm và lang thang xa hơn nữa. Một năm nằm sấp trên bàn thờ đã dạy cho chàng nhiều điều. Chàng bước đi với nhiều minh triết hơn trên con đường của mình.
Suddenly, he halted in his steps. A cry of deep distress smote on his ear. Some vultures circling o’er a distant rock caught his attention; then again the cry broke forth. Should he proceed upon his way, or should he seek the one who seemed in need and thus retard his steps? He pondered on the problem of delay; a year had now been lost; he felt the need for haste. Again a cry broke forth and Hercules, with rapid steps, sped to [58] his brother’s help. He found Prometheus chained upon a rock, suffering dire agonies of pain, caused by the vultures plucking at his liver, thus slowly killing him. He broke the binding chain and freed Prometheus, chasing the vultures to their distant lair, and tending the sick man until he had recovered from his wounds. Then, with much loss of time, he again started to make his way.
Bỗng nhiên, chàng dừng bước. Một tiếng kêu đau khổ sâu sắc đập vào tai chàng. Những con kền kền bay lượn trên một mỏm đá xa xa thu hút sự chú ý của chàng; rồi một lần nữa tiếng kêu lại vang lên. Chàng nên tiếp tục con đường của mình, hay nên tìm đến người đang có vẻ cần được giúp đỡ và như vậy làm chậm bước tiến của mình? Chàng suy nghĩ về vấn đề của sự trì hoãn; một năm đã bị mất đi; chàng cảm thấy cần phải vội vàng. Lại một tiếng kêu vang lên, và Hercules, với những bước chân mau lẹ, lao đi [58] cứu giúp huynh đệ của mình. Chàng tìm thấy Prometheus bị xiềng vào một tảng đá, chịu đựng những cơn đau đớn tột cùng, do những con kền kền mổ vào gan Ông, từ từ giết chết Ông. Hercules bẻ gãy xiềng xích và giải thoát Prometheus, đuổi những con kền kền về hang ổ xa xôi của chúng, và chăm sóc người bệnh cho đến khi Ông hồi phục khỏi những vết thương. Rồi, đã mất mát nhiều thời gian, chàng lại lên đường.
The Teacher, watching from afar, spoke to his seeking pupil these clear words, the first words spoken to him since he entered on his search:
Vị Huấn sư, theo dõi từ xa, đã nói với người đệ tử đang tìm kiếm của mình những lời rõ ràng này, những lời đầu tiên Ngài nói với chàng kể từ khi chàng bắt đầu cuộc tìm kiếm:
“The fourth stage on the way unto the sacred tree is passed. There has been no delay. The rule upon the chosen Path which hastens all success is, ‘Learn to serve’.”
“Giai đoạn thứ tư trên con đường dẫn đến cây thiêng đã được vượt qua. Không có sự trì hoãn nào cả. Quy luật trên Con Đường được chọn, quy luật làm cho mọi thành công được thúc đẩy, là: ‘Hãy học cách phụng sự’.”
The Presiding One, within the Council Chamber of the Lord, remarked:
Đấng Chủ Tọa Vĩ Đại, trong Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể, nhận xét:
“He has done well. Continue with the tests.”
“Y đã làm tốt. Hãy tiếp tục các thử thách.”
Upon all ways the search went on, and north and south and east and west, the sacred tree was sought, but was not found. There came a day when, worn with fear and travelling, he heard a rumor from a passing pilgrim on the way that, near a distant mountain, the tree was to be found, the first true statement given him as yet. Therefore he turned his feet to the high mountains of the east and, on a bright and sunny day, he saw the object of his search and hastened then his steps.
Trên mọi nẻo đường, cuộc tìm kiếm vẫn tiếp diễn, bắc và nam, đông và tây, cây thiêng được tìm kiếm nhưng không được tìm thấy. Rồi có một ngày, mệt mỏi vì sợ hãi và đường xa, chàng nghe được một tin đồn từ một người hành hương đi ngang rằng, gần một ngọn núi xa xôi, cây thiêng có thể được tìm thấy — lời nói chân thật đầu tiên mà chàng nhận được cho đến lúc ấy. Vì vậy, chàng hướng bước chân về những ngọn núi cao của phương đông, và vào một ngày sáng sủa đầy nắng, chàng thấy đối tượng của cuộc tìm kiếm và liền vội vã tiến bước.
“Now I shall touch the sacred tree,” he shouted in his joy, “surmount the guarding dragon; see the fair maidens of wide fame; and pluck the apples.”
“Giờ đây ta sẽ chạm đến cây thiêng,” chàng reo lên trong niềm vui, “vượt qua con rồng canh giữ; thấy những trinh nữ mỹ lệ lừng danh; và hái lấy những quả táo.”
But again, he was arrested by a sense of deep distress. Atlas confronted him, staggering ‘neath the load of worlds upon his back. His face was lined with suffering; his limbs were bowed with pain; his eyes were closed with agony; he asked no help; he saw not Hercules but stood bowed down with pain, with the weight of worlds. Hercules. trembling, watched and gauged the measure of the load and pain. He forgot about his search. [58] The sacred tree and apples faded from mind; he only sought to aid the giant and that without delay; forward he rushed and eagerly removed the load, lifting it off the shoulders of his brother onto his own back, shouldering the burden of the worlds himself. He closed his eyes, bracing himself with effort, and lo! the load rolled off, and he stood free, and likewise Atlas.
Nhưng một lần nữa, chàng bị chặn lại bởi một cảm giác đau khổ sâu sắc. Atlas đối diện với chàng, lảo đảo dưới gánh nặng của các thế giới trên lưng mình. Gương mặt Ngài hằn lên nỗi đau; tứ chi cong oằn vì khổ sở; đôi mắt khép lại trong thống khổ; Ngài không cầu xin sự giúp đỡ; Ngài không thấy Hercules, mà chỉ đứng đó, cúi gập dưới đau đớn, dưới sức nặng của các thế giới. Hercules, run rẩy, quan sát và ước lượng mức độ của gánh nặng và nỗi đau. Chàng quên mất cuộc tìm kiếm của mình. [58] Cây thiêng và những quả táo mờ dần khỏi tâm trí; chàng chỉ còn tìm cách giúp đỡ người khổng lồ ấy, và điều đó phải được thực hiện ngay tức thì. Chàng lao tới phía trước và nhiệt thành gỡ lấy gánh nặng, nhấc nó khỏi vai người huynh đệ và đặt lên chính lưng mình, tự gánh lấy sức nặng của các thế giới. chàng nhắm mắt lại, gồng mình trong nỗ lực, và kìa! gánh nặng lăn khỏi, và chàng đứng tự do, và Atlas cũng vậy.
Before him stood the giant and in his hand he held the golden apples, offering them, with love, to Hercules. The search was o’er.
Trước mặt chàng là người khổng lồ, và trong tay ông cầm những quả táo vàng, trao chúng với tình thương cho Hercules. Cuộc tìm kiếm đã kết thúc.
The sisters three held still more golden apples, and pressed them likewise into his hands, and Aegle, that fair maid who is the glory of the setting sun, said unto him, placing an apple in his hand,
Ba chị em cầm những quả táo vàng khác và cũng đặt chúng vào tay chàng, và Aegle, trinh nữ mỹ lệ là vinh quang của mặt trời lặn, nói với chàng khi đặt một quả táo vào tay chàng:
“The Way to us is always marked by service. Deeds of love are signposts on the Way.” Then Erytheia, who keeps the gate which all must pass before they stand alone before the great Presiding One, gave him an apple and upon its side, inscribed in light, was writ the golden word of Service. ”Remember this,” she said, “forget it not.”
“Con đường đến với chúng ta luôn được đánh dấu bằng sự Phụng Sự. Những hành động yêu thương là các cột chỉ đường trên Con Đường.” Rồi Erytheia, người canh giữ cánh cổng mà tất cả phải đi qua trước khi đứng một mình trước Đấng Chủ Tọa Vĩ Đại, trao cho chàng một quả táo, và trên mặt của nó, được khắc bằng ánh sáng, là dòng chữ vàng, Phụng Sự. “Hãy nhớ điều này,” nàng nói, “đừng bao giờ quên.”
And lastly Hesperis came, the wonder of the evening star, and said to him with clarity and love, “Go forth and serve, and tread the way, from henceforth and for aye, of all world servers.”
Và cuối cùng, Hesperis đến, kỳ diệu như ngôi sao buổi chiều, và nói với chàng bằng sự sáng rõ và tình thương: “Hãy đi ra và phụng sự, và từ nay cho đến mãi mãi, hãy bước đi trên con đường của tất cả những Người Phụng Sự Thế Gian.”
“Then I give back these apples for those who follow on,” said Hercules, and returned from whence he came.
“Vậy thì ta xin trao lại những quả táo này cho những ai đi sau,” Hercules nói, và trở về nơi chàng đã đến.
Before the Teacher then he stood and rendered due account of all that had transpired. To him the Teacher gave the word of cheer and then with pointing finger indicated the fourth Gate and said to him:
Rồi chàng đứng trước Huấn sư và trình bày đầy đủ mọi điều đã xảy ra. Huấn sư ban cho chàng lời khích lệ, rồi với ngón tay chỉ dẫn, Ngài chỉ cho chàng Cửa thứ tư và nói:
“Pass through that Gate. Capture the doe and enter once again the Holy Place.” [60]
“Hãy đi qua Cửa đó. Hãy bắt lấy con nai cái và một lần nữa bước vào Thánh Điện.” [60]
The Tibetan (Djwhal Khul)
Chân sư Tây Tạng (Djwhal Khul)
The Nature of the Test—Bản Chất của Thử Thách
We come now to the third labor, in the sign Gemini, concerning predominantly the active work of the aspirant on the physical plane as he comes to an understanding of himself. Before this active work becomes possible there must be a cycle of interior thought and mystical longing; the striving after the vision and a subjective process carried on, perhaps for a very long time, before the man on the physical plane really begins the labor of unifying soul and body. This is the theme of this labor. It is in this physical plane achievement, and in the work of gaining the golden apples of wisdom, that the real test of the sincerity of the aspirant takes place. A longing to be good, a deep desire to ascertain the facts of the spiritual life, spasmodic efforts at self-discipline, at prayer and meditation, precede, almost inevitably, this real and steady effort.
Bây giờ chúng ta đến với kỳ công thứ ba trong dấu hiệu Song Tử, chủ yếu liên quan đến công việc tích cực của người tầm đạo trên cõi trần khi y bắt đầu hiểu biết về chính mình. Trước khi công việc tích cực này có thể thực hiện được, phải có một chu kỳ suy nghĩ nội tâm và sự khao khát thần bí; sự phấn đấu hướng về một tầm nhìn và một quá trình chủ quan diễn ra, có lẽ trong một thời gian rất dài, trước khi con người trên cõi trần thực sự bắt đầu công việc hợp nhất linh hồn và thể xác. Đây là chủ đề của kỳ công này. Chính trong thành tựu ở cõi trần này và trong việc đạt được những quả táo vàng của trí tuệ, mà cuộc kiểm tra thực sự về sự chân thành của người tìm đạo diễn ra. Khát khao trở nên tốt đẹp, một ước muốn sâu sắc để xác định những sự thật của đời sống tinh thần, những nỗ lực không ngừng trong kỷ luật tự giác, cầu nguyện và thiền định, gần như chắc chắn xảy ra trước nỗ lực thực sự và ổn định này.
The visionary must become a man of action: desire has to be carried forward into the world of completion, and herein lies the test in Gemini. The physical plane is the place where experience is gained and where the causes, initiated in the world of mental effort, must manifest and achieve objectivity. It is the place also where the mechanism of contact is developed, where, little by little, the five senses open up to the human being new fields of awareness and present to him fresh spheres for conquest and achievement. It is the place, therefore, where knowledge is gained, and where that knowledge must be transmuted into wisdom. Knowledge, we know, is the quest of sense, whilst wisdom is the omniscience of the synthetic knowledge of the soul. Without understanding in the application of knowledge, however, we perish; for understanding is the application of knowledge in the light of wisdom to the problems of life, and to the attainment of the goal. In this labor, Hercules is faced with the tremendous task of bringing together the two poles of his being and of coordinating, or at-one-ing, soul and body, so that duality gives place to unity and the pairs of opposites are blended. [61]
Người có tầm nhìn xa phải trở thành một người hành động: mong muốn phải được chuyển tiếp vào thế giới của sự hoàn thiện, và đây là bài kiểm tra trong Song Tử. Cõi vật chất là nơi thu được kinh nghiệm và là nơi các nguyên nhân, được khởi xướng trong thế giới của nỗ lực tâm trí, phải biểu hiện và đạt được sự thể hiện khách quan. Đó cũng là nơi mà bộ máy tiếp xúc được phát triển, từng chút một, năm giác quan mở ra cho con người những lĩnh vực nhận thức mới và mang đến cho con người những phạm vi mới để chinh phục và đạt được. Do đó, đó là nơi kiến thức được thu hoạch, và cũng là nơi mà kiến thức đó phải được chuyển hóa thành minh triết. Chúng ta biết, kiến thức là sự tìm kiếm của giác quan, trong khi minh triết là sự hiểu biết toàn tri của tri thức tổng hợp của linh hồn. Tuy nhiên, nếu không thấu hiểu trong việc áp dụng kiến thức, chúng ta sẽ chết; vì sự thấu hiểu là việc áp dụng kiến thức dưới ánh sáng của minh triết vào các vấn đề của cuộc sống và để đạt đến mục tiêu. Trong Kỳ công này, Hercules phải đối mặt với nhiệm vụ to lớn là mang hai cực của con người chàng lại với nhau, và phối hợp, hay hòa làm một, linh hồn và thể xác, sao cho lưỡng nguyên nhường chỗ cho sự thống nhất và các cặp đối lập được hòa trộn. [61]
Các Biểu tượng
Eurystheus, having watched Hercules achieve mental control and then ride the bull of desire over into the Temple of the Soul, now sets him the task of fetching the golden apples from the garden of the Hesperides. The apple has long figured in mythology and in symbology. In the garden of Eden, as we know, the serpent gave the apple to Eve; and with the giving of that apple, and with its acceptance came the knowledge of good and of evil. This is a symbolic method of telling us the story of the appearance of mind, and of how it began to function in that early creature, which was neither animal nor strictly human. With the coming of mind came also the knowledge of duality, of the pull of the pairs of opposites, of the nature of the soul, which is good, and of the nature of the form, which is evil if it holds the soul and hinders it from full expression. It is not evil per se.
Eurystheus, sau khi chứng kiến Hercules đạt được sự kiểm soát trí tuệ, và cưỡi con bò mộng đến Thánh Điện của Linh hồn, giờ giao cho chàng nhiệm vụ lấy những quả táo vàng từ khu vườn của Hesperides. Quả táo từ lâu đã xuất hiện trong thần thoại và trong hệ thống biểu tượng. Như chúng ta đã biết, trong vườn Địa Đàng, con rắn đã đưa quả táo cho Eva; và cùng với việc ban cho và chấp nhận quả táo là sự hiểu biết về điều thiện và điều ác. Đây là một phương pháp tượng trưng để kể cho chúng ta câu chuyện về sự xuất hiện của thể trí và cách nó bắt đầu hoạt động trong sinh vật sơ khai đó, vốn không phải ‘thú’ mà cũng không phải ‘người’. Cùng với sự xuất hiện của tâm trí cũng là sự hiểu biết về nhị nguyên, về sức hút của các cặp đối lập, về bản chất của linh hồn, vốn tốt lành, và về bản chất của hình tướng, điều xấu xa nếu nó cầm giữ và cản trở linh hồn từ sự biểu hiện đầy đủ. Bản thân hình tướng không phải điều xấu.
It is to be noted that in the garden of Eden one single apple was given to the human being, the symbol of separateness, isolation. Hercules had to hunt for the golden apples in another garden, and in the garden of the Hesperides the apples were the symbol of plurality, of synthesis, and of the many, nourished by the one tree of Life.
Cần lưu ý rằng trong vườn Địa Đàng, con người chỉ được tặng một quả táo duy nhất, biểu tượng của sự tách biệt, cô lập. Hercules phải săn lùng những quả táo vàng trong một khu vườn khác, và trong khu vườn của Hesperides, những quả táo là biểu tượng của sự đa dạng, tổng hợp, của nhiều người, được nuôi dưỡng bởi cây Sự sống duy nhất.
Hercules was told only three facts: that there was a garden containing a tree whereon grew the golden apples; that the tree was guarded by the hundred-headed serpent; that, when he found it, he would find there these three beautiful maidens. But in what direction lay the garden, and how to find it, he was not told. This time he was not confined to the wild lands, up and down which the man-eating mares ravaged; nor was he confined to the little island of Crete. The whole planet had to be searched, and he went up and down from north to south and from east to west, until at last he met Nereus, who was skilled in all wisdom and in all forms of speech. He is called in some of the classics, “the ancient of the sea”. He was not only wise, but very elusive, assuming many forms, and refused ever [62] to give to Hercules a direct answer. Finally, he hinted as to the direction in which the apples should be sought, sending him on his way alone and somewhat discouraged, with only a vague idea as to what he would have to do and where he would have to go. All he knew was that he had to turn south; a symbol of going back into the world, the opposite pole of spirit.
Hercules chỉ được cho biết ba sự thật, rằng có một khu vườn, trong đó có một cái cây có những quả táo vàng; rằng cây đó được bảo vệ bởi con rắn trăm đầu; rằng khi chàng tìm thấy nó, chàng sẽ tìm thấy ở đó ba thiếu nữ xinh đẹp. Nhưng chàng không được cho biết khu vườn nằm ở hướng nào, và làm thế nào để tìm thấy nó. Lần này chàng không bị giới hạn ở những vùng đất hoang dã, nơi lũ ngựa ăn thịt người tàn phá khắp nơi; chàng cũng không bị giới hạn ở hòn đảo nhỏ Crete. Toàn bộ hành tinh phải được tìm kiếm. Chàng đi khắp nơi, từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây, cho đến khi cuối cùng chàng gặp Nereus, người thông thạo minh triết và mọi hình thức ngôn từ. Trong một số tác phẩm kinh điển Ông được gọi là “Người cổ đại của biển cả”. Ông không chỉ khôn ngoan mà còn rất khó nắm bắt, giả dạng dưới nhiều dạng, và từ chối đưa ra câu trả lời trực tiếp cho Hercules. Cuối cùng, ông gợi ý về hướng tìm kiếm những quả táo, khiến chàng lên đường một mình và có chút nản lòng, chỉ có một ý tưởng mơ hồ về những gì chàng sẽ phải làm và chàng sẽ phải đi đâu. Tất cả những gì chàng biết là chàng phải quay về hướng nam; một biểu tượng của việc quay trở lại thế gian, đối cực của tinh thần.
He had no sooner done so than he met the serpent with whom he had to wrestle. [Known in mythology also as the giant, Antaeus, the son of Poseidon, god of waters, and Gea, the earth. Hence when in touch with the earth, his mother, he was invincible.] In his search for the golden apples on the physical plane, Hercules had to conquer, as do all disciples, glamor and illusion; for in the carrying forward of spiritual aspiration, the disciple is very apt to be taken in by astralism and lower psychism in one form or another. As Hercules wrestled with the serpent, he found he could not overcome it until he discovered that it was invincible only so long as it was in contact with the earth. just as soon as Hercules lifted the serpent (Antaeus) high into the air, it became utterly weak and unable to defeat him.
Chẳng mấy chốc thì chàng gặp phải con rắn Antaeus và chàng phải vật lộn với nó. [Antaeus, được biết đến trong thần thoại cũng là người khổng lồ, con trai của Thần Poseidon, thần Biển cả, và Gea, mặt đất. Do đó, khi tiếp xúc với mặt đất, mẹ của Antaeus, nó bất khả chiến bại.] Trong cuộc tìm kiếm những quả táo vàng trên cõi trần, Hercules, cũng như tất cả các đệ tử, phải chinh phục ảo cảm và ảo tưởng; vì trong khi thực hiện khát vọng tâm linh, người đệ tử rất dễ bị thu hút bởi cõi trung giới và bản chất thông linh linh thấp kém dưới hình thức này hay hình thức khác. Khi Hercules vật lộn với con rắn, chàng thấy mình không thể chiến thắng nó cho đến khi chàng phát hiện ra rằng nó không thể đánh bại chừng nào nó còn tiếp xúc với mặt đất. Và ngay khi Hercules nhấc cao con rắn Antaeus lên không trung, nó trở nên hoàn toàn yếu ớt và không thể đánh bại chàng.
Gemini is an air sign, a mutable or common sign. Glamor is ever changing, ever taking one form or another. It concerns appearance and not reality, and the earth stands for appearances.
Song Tử là một dấu hiệu hành khí, một dấu hiệu biến đổi hoặc dấu hiệu “chung”. Ảo cảm luôn thay đổi, luôn ở dạng này hay dạng khác. Nó liên quan đến hình tướng chứ không phải thực tại, và trái đất tượng trưng cho hình tướng.
Having vanquished the serpent that stood in his way, Hercules passed on in his search. His next encounter was with glamor in another form. Busiris was a son of Poseidon, the god of the waters, but his mother was a mere mortal. He claimed to be a great teacher. He was fluent in speech and captivating in what he said. He made great claims for himself, leading Hercules to believe that he could show him the way, that he could lead him out into the light, and that he was the custodian of truth. Hercules was completely deceived. Little by little he fell under the power and spell of Busiris; little by [63] little he yielded up his will and his mind and accepted him as his teacher and guide. Finally, when Busiris had Hercules entirely under his control, he bound him to the altar of sacrifice and forced him to forget Nereus. The myth tells that Hercules eventually freed himself and resumed his search, binding Busiris to the altar whereon he himself had lain. Again we find discouragement, delay, failure and deceit characterizing this part of the test.
Sau khi đánh bại con rắn cản đường mình, Hercules tiếp tục cuộc tìm kiếm của mình. Cuộc gặp gỡ tiếp theo của chàng là với ảo cảm dưới một hình thức khác. Busiris là con trai của Thần Poseidon, Thần Biển Cả, nhưng mẹ của ông chỉ là một người phàm. Ông tự nhận mình là một huấn sư tuyệt vời. Ông ăn nói lưu loát và thu hút mọi người qua những gì ông nói. Ông đưa ra những tuyên bố tuyệt vời cho bản thân, khiến Hercules tin rằng ông có thể chỉ đường cho chàng, rằng ông có thể dẫn chàng đến ánh sáng, và rằng ông là người bảo vệ sự thật. Hercules đã hoàn toàn bị lừa dối. Từng chút một, chàng rơi vào sức mạnh và bùa mê của Busiris; dần dần [63] chàng từ bỏ ý chí và tâm trí của mình và chấp nhận ông như một Vị Huấn Sư và người hướng dẫn của mình. Cuối cùng, khi Busiris hoàn toàn kiểm soát được Hercules, ông trói chàng vào bàn thờ hiến tế và buộc chàng phải quên Nereus. Thần thoại kể rằng Hercules cuối cùng đã tự giải thoát và tiếp tục cuộc tìm kiếm của mình, trói Busiris lại vào bàn thờ nơi chính chàng đã nằm trên đó. Một lần nữa, chúng ta thấy sự chán nản, chậm trễ, thất bại và gian dối là đặc điểm của phần này trong bài kiểm tra.
Still searching up and down, he found Prometheus bound to a rock with the vultures tearing at his liver. The sight of such suffering was more than Hercules could bear and he turned aside from his search to release Prometheus, thus putting him in a position to drive away the vultures.
Vẫn tìm kiếm khắp nơi, chàng thấy Thần Prometheus bị trói vào một tảng đá với những con kền kền đang xé nát gan của Ngài. Hercules không thể chịu đựng được cảnh tượng đau khổ như vậy, và chàng đã quay sang tìm cách giải thoát cho Prometheus, do đó đặt chàng vào vị trí xua đuổi lũ kền kền.
We come now to the crucial point of the Labor and to that which constituted the real test. Hercules finds Atlas bearing the load of the world on his shoulders, and staggering under the weight of the task he had undertaken. Hercules is so overcome by the stupendous enterprise of Atlas, and so concerned over his sufferings as he seeks to carry the weight of the world, that he gives up his search for the golden apples. He forgets what he himself has set out to do and, in pity, takes the load off the shoulders of Atlas and bears it himself. Then we are told in the wonderful consummation of the story, that Atlas, freed from his burden, goes to the garden of the Hesperides, plucks the golden apples without any let or hindrance from the hundred-headed serpent, with the enthusiastic help of the three beautiful maidens, and brings the apples to Hercules, who now also stands free, in spite of all the obstacles and hindrances, the deviations due to glamor and illusion. Despite failures and the length of time it has taken him to arrive at wisdom, Hercules does obtain the golden apples. Note that the opposite, or consummating sign, of Gemini is that of Sagittarius, the Archer, who shoots straight and rides unhindered to the goal, no deviations, no failure! There is only a steady going forward. [64]
Bây giờ chúng ta đến điểm quan trọng của Kỳ Công, điểm tạo nên bài kiểm tra thực sự. Hercules tìm thấy Atlas đang gánh cả thế giới trên vai và loạng choạng dưới sức nặng của nhiệm vụ mà Ngài đã đảm nhận. Hercules bị chinh phục bởi công việc kỳ diệu của Atlas, và chàng quá lo lắng về những đau khổ của Ngài đã chịu khi tìm cách gánh vác sức nặng của thế gian đến nỗi chàng từ bỏ việc tìm kiếm những quả táo vàng. Chàng quên mất những gì bản thân đã đặt ra và thương cảm, trút bỏ gánh nặng khỏi vai Atlas và tự mình gánh lấy nó. Sau đó, chúng ta được kể trong đoạn kết tuyệt vời của câu chuyện, rằng Atlas được giải thoát khỏi gánh nặng của Ngài, đi đến khu vườn của Hesperides, hái những quả táo vàng mà không có bất kỳ sự ngăn cản hay cản trở nào từ con rắn trăm đầu, với sự giúp đỡ nhiệt tình của ba thiếu nữ xinh đẹp, mang những quả táo đến cho Hercules, mà giờ đây chàng cũng đứng tự do, bất chấp mọi trở ngại và cản trở, những sai lệch do ảo cảm và ảo tưởng. Dù có những thất bại và mất một thời gian cần thiết để đạt được minh triết, Hercules vẫn có được những quả táo vàng. Lưu ý rằng dấu hiệu đối lập, hay còn gọi là dấu hiệu kết thúc, của Song Tử là dấu hiệu Nhân Mã, Cung thủ, người nhắm mũi tên thẳng tiến và phi tới mục tiêu mà không bị cản trở, không sai lệch, không thất bại! Chỉ có một sự ổn định đi về phía trước. [64]
The Field of the Labor—Lãnh vực của Kỳ Công
Gemini has in it two stars, called by the Greeks, Castor and Pollux, or the Twins. These personify two major groups of stars, the Seven Pleiades, and the Seven Stars of the Great Bear, which are the two constellations, in the north, around which our universe seems to revolve. One star represents each constellation. From the standpoint of esotericism, the great mystery of God incarnate in matter, and the crucifixion of the cosmic Christ upon the cross of matter, is tied up with the relationship (presumed from most ancient times to exist) between the stars of the Pleiades and those of the Great Bear.
Song Tử có hai ngôi sao, được người Hy Lạp gọi là Castor và Pollux, hay Hai Anh Em Sinh Đôi. Những ngôi sao này tượng trưng cho hai nhóm sao chính, Bảy Ngôi Sao Pleiades và Bảy Ngôi Sao của chòm Đại Hùng, là hai chòm sao ở phía bắc, mà vũ trụ của chúng ta dường như xoay quanh. Một ngôi sao đại diện cho mỗi chòm sao. Từ quan điểm của huyền linh học, bí ẩn vĩ đại về việc Chúa nhập thể trong vật chất và sự đóng đinh của Đấng Christ vũ trụ trên thập tự giá của vật chất, gắn liền với mối quan hệ (được cho là tồn tại từ hầu hết các thời cổ đại) giữa các ngôi sao của chòm sao Pleiades và của Đại Hùng.
These two groups of stars represent God, the macrocosm, whilst in Gemini, Castor and Pollux were regarded as symbols of man, the microcosm. They were also called Apollo and Hercules: Apollo, meaning the Ruler, the Sun God; and Hercules, “the one who comes to labor”. They represent, therefore, the two aspects of man’s nature, the soul and the personality, the spiritual man and the human being through which that spiritual entity is functioning: Christ incarnate in matter, God working through form.
Hai nhóm sao này đại diện cho Thượng đế, thế giới đại thiên địa, trong khi ở Song Tử, Castor và Pollux được coi là biểu tượng của con người, thế giới tiểu thiên địa. Họ cũng được gọi là Apollo và Hercules: Apollo, nghĩa là Người Cai Trị, Thần Mặt trời; và Hercules, “người đến để lao tác”. Do đó, chúng đại diện cho hai khía cạnh của bản chất con người, linh hồn và phàm ngã, con người tinh thần và con người mà qua đó thực thể tinh thần đó đang hoạt động: Đấng Christ nhập thể trong vật chất, Thượng đế hoạt động thông qua hình tướng.
Castor was regarded as mortal and Pollux as immortal. It is an interesting astronomical fact that the star, Castor, is waning in brilliancy and has not the light that it had several hundred years ago; whilst Pollux, the immortal brother, is waxing in brightness and eclipsing his brother, so reminding one of the words of John the Baptist, spoken as he looked at the Christ, “He must increase, but i must decrease”. (St. John, III, 30) Thus [65] we have a most significant constellation, because it holds before the eyes of man the thought of the increasing potency of the spiritual life and the decreasing power of the personal self. The story of man’s growth to maturity and the history of the soul’s gradually increasing control are told for us in the constellation Gemini.
Castor được coi là phàm nhân và Pollux là bất tử. Có một sự thật thiên văn thú vị là ngôi sao Castor đang giảm dần độ sáng và không còn ánh sáng như cách đây vài trăm năm; trong khi Pollux, người anh bất tử, đang tỏa sáng rực rỡ và làm lu mờ em trai mình, vì vậy, một người nhắc lại lời của John the Baptist, đã nói khi nhìn vào Đức Christ, "Ngài phải lớn lên, nhưng tôi phải giảm đi". (St. John, III, 30) Do đó, [65] chúng ta có một chòm sao quan trọng nhất, bởi vì nó chứa đựng trước mắt con người tư tưởng về tiềm năng ngày càng tăng của đời sống tinh thần và sức mạnh giảm dần của bản ngã cá nhân. Câu chuyện về sự trưởng thành của con người và lịch sử về sự kiểm soát ngày càng tăng dần của linh hồn được kể lại cho chúng ta trong chòm sao Song Tử.
In the ancient zodiac of Denderah, this sign is called “the place of Him who cometh”, and the thought of an emerging spiritual Being is held before us. It is represented by two figures, the one male, the other female; one, the positive, spirit aspect, and the other, the negative, matter aspect. The Coptic and the Hebrew names signify “united”, and this is the status of Hercules, the aspirant. He is soul and body unified. This was the problem to be wrestled with in the sign Gemini. The at-one-ment of the lower with the higher self, of the mortal and the immortal aspects, is the objective. It was this problem that created the devious and prolonged search that Hercules undertook, for he was at length attentive to the voice of Nereus, the higher self, but sometimes under the illusion and glamor of the lower self.
Trong hoàng đạo cổ đại của Denderah, dấu hiệu này được gọi là “nơi của Đấng đang đến”, và ý nghĩ về một Thực thể tâm linh đang trỗi dậy hiện ra trước mắt chúng ta. Nó được đại diện bởi hai nhân vật, một nam, một nữ; một, khía cạnh tích cực, tinh thần, và khía cạnh kia, tiêu cực, khía cạnh vật chất. Tên gọi trong tiếng Coptic và tiếng Do Thái có nghĩa là "thống nhất", và đây là trạng thái của Hercules, người khao khát. Chàng là linh hồn và thể xác hợp nhất. Đây là vấn đề phải vật lộn với dấu hiệu Song Tử. Mục tiêu là sự thống nhất của cái thấp hơn với cái tôi cao hơn, giữa các khía cạnh hữu tử và bất tử. Chính vấn đề này đã tạo nên cuộc tìm kiếm quanh co và kéo dài mà Hercules đã đảm nhận, bởi cuối cùng y đã biết lắng nghe tiếng nói của Nereus, chân ngã cao hơn, nhưng đôi khi vẫn còn ở dưới ảo tưởng và ảo cảm của phàm ngã thấp hơn.
The duality which is emphasized in Gemini rims through a large number of the mythological stories. We meet the same brothers again in Romulus and Remus, for instance, and in Cain and Abel, one brother dying and the other living. We meet the astrological symbol for Gemini in the two pillars of Masonry, and many believe that the Masonic tradition could, if we had the power to do so, be traced back to that period, antedating the Taurian age, when the sun was in Gemini, and to that great cycle in which the Lemurian race, the first strictly human race, came into being; where the mind aspect began to emerge, and the duality of mankind became a fact in nature.
Tính nhị nguyên được nhấn mạnh trong Song Tử xuyên suốt rất nhiều câu chuyện thần thoại. Chẳng hạn, chúng ta gặp lại cùng những huynh đệ ấy trong Romulus và Remus, và trong Cain và Abel, khi một người huynh đệ chết đi và người kia sống sót. Chúng ta cũng gặp biểu tượng chiêm tinh của Song Tử trong hai trụ cột của Hội Tam Điểm, và nhiều người tin rằng truyền thống Tam Điểm, nếu chúng ta có khả năng truy nguyên, có thể được lần ngược trở về thời kỳ trước Kỷ nguyên Kim Ngưu, khi Mặt Trời ở Song Tử, và đến chu kỳ vĩ đại mà trong đó giống dân Lemuria, giống dân nhân loại thực sự đầu tiên, đã xuất hiện; nơi phương diện trí tuệ bắt đầu ló dạng, và tính nhị nguyên của nhân loại trở thành một sự kiện trong tự nhiên.
The Lemurian race was the third race; and this labor that Hercules symbolically, undertook, is the third labor. The search upon which he was engaged was for the soul, and this has ever been the unrecognized search of the human being [66] until the time comes when he knows himself to be Hercules and starts to concentrate upon the search for the golden apples of instruction and wisdom. So we have in the Masonic tradition the search of the human family typified, the search for light, the search for unity, the search for divinity. And so the two pillars, Boaz and Jachin, stand as the emblems of that duality.
Giống dân Lemuria là giống dân thứ ba; và kỳ công mà Hercules đã đảm nhận một cách biểu tượng chính là kỳ công thứ ba. Cuộc tìm kiếm mà chàng dấn thân vào là cuộc tìm kiếm linh hồn, và từ trước đến nay đây vẫn là cuộc tìm kiếm không được nhận biết của con người [66], cho đến khi thời điểm đến mà y biết mình là Hercules và bắt đầu tập trung vào việc tìm kiếm những quả táo vàng của giáo huấn và minh triết. Vì vậy, trong truyền thống Tam Điểm, chúng ta thấy cuộc tìm kiếm của gia đình nhân loại được biểu tượng: cuộc tìm kiếm ánh sáng, cuộc tìm kiếm sự hợp nhất, cuộc tìm kiếm thiên tính. Và do đó, hai trụ cột, Boaz và Jachin, đứng như những biểu tượng của tính nhị nguyên ấy.
In China, Castor and Pollux are spoken of as the two “gods of the door,” showing the tremendous power that the god of matter can assume, and also the potency of divinity.
Tại Trung Hoa, Castor và Pollux được nói đến như hai “vị thần giữ cửa”, cho thấy quyền năng to lớn mà vị thần của vật chất có thể đảm nhận, đồng thời cũng cho thấy sức mạnh của thiên tính.
Gemini is predominantly the sign of the intellect and it has a peculiarly vital effect in our Aryan race. In this race the mind faculty and the intellect have been steadily developed. Gemini, therefore, has influence in three departments, which concern themselves with human relations. First, it governs all education. It deals with knowledge, with the sciences, and lays the foundation for wisdom. One educator has said that “the ultimate purpose of education is the acquiring of knowledge in order to receive the higher revelation. The unintelligent may receive it, but they cannot interpret it”. In this labor, Hercules receives an outstanding revelation and in the five stages of his search his education is steadily carried forward.
Song Tử chủ yếu là dấu hiệu của trí năng và có ảnh hưởng sinh động đặc biệt trong giống dân Arya của chúng ta. Trong giống dân này, năng lực trí tuệ và lý trí đã được phát triển một cách ổn định. Vì vậy, Song Tử có ảnh hưởng trong ba lĩnh vực liên quan đến các mối quan hệ nhân loại. Trước hết, nó cai quản toàn bộ nền giáo dục. Nó liên quan đến tri thức, đến các khoa học, và đặt nền móng cho minh triết. Một nhà giáo dục đã nói rằng: “Mục đích tối hậu của giáo dục là việc tiếp thu tri thức để có thể đón nhận sự mặc khải cao hơn. Người không có trí tuệ vẫn có thể tiếp nhận sự mặc khải ấy, nhưng họ không thể diễn giải nó.” Trong công khó này, Hercules đã nhận được một sự mặc khải nổi bật, và trong năm giai đoạn của cuộc tìm kiếm, nền giáo dục của y được từng bước thúc đẩy.
The exoteric ruler of Gemini and of the first decanate is Mercury for, as Alan Leo tells us:
Chủ tinh ngoại môn của Song Tử và của thập độ thứ nhất là Sao Thủy, vì như Alan Leo cho biết:
“Mercury in the outer world signifies schools, colleges, and all places where teaching and learning go on, scientific and literary institutions... In consciousness, it signifies thought, understanding, reason, intelligence, intellect; the abstract kinds rather than the concrete, knowledge for its own sake... Its highest application seems to be what is called ‘pure reason’. In body, it governs the brain and nervous system, the tongue and organs of speech, the hands as instruments of intelligence.”
“Sao Thủy trong thế giới bên ngoài biểu trưng cho trường học, đại học và mọi nơi nơi việc dạy và học diễn ra, các tổ chức khoa học và văn học… Trong tâm thức, nó biểu trưng cho tư tưởng, sự thấu hiểu, lý trí, trí thông minh, trí tuệ; các dạng trừu tượng hơn là cụ thể, tri thức vì chính nó… Ứng dụng cao nhất của nó dường như là điều được gọi là ‘lý trí thuần khiết’. Trong thân thể, nó cai quản bộ não và hệ thần kinh, lưỡi và các cơ quan ngôn ngữ, đôi tay như những công cụ của trí tuệ.”
(Alan Leo, Complete Dictionary of Astrology, p. 163)
(Alan Leo, Complete Dictionary of Astrology, tr. 163)
Gemini stands, secondly, for the relation between. It governs, therefore, language, intercourse or inter-communication ‘and commerce. It is interesting to note that the United States [67] and London are both governed by Gemini; that the English language is becoming predominantly the world tongue; that the greatest lines of ocean communication start from New York or London, and that both these cities have been world markets and world centers of distribution. Mercury, the ruling planet of the sign, is the interpreter, the messenger of the gods. It is worth noticing also in this connection how Hercules comes under the influence of two teachers: Nereus, the higher teacher, and Busiris, the lower or psychic teacher; and thus we again have emphasized both the duality of Gemini and its mental quality.
Thứ hai, Song Tử biểu trưng cho mối liên hệ giữa các yếu tố. Do đó, nó cai quản ngôn ngữ, sự giao tiếp hay liên thông, và thương mại. Điều thú vị là Hoa Kỳ [67] và London đều do Song Tử chi phối; rằng tiếng Anh đang trở thành ngôn ngữ chủ đạo của thế giới; rằng những tuyến giao thông đại dương lớn nhất khởi hành từ New York hoặc London; và rằng cả hai thành phố này đều từng là thị trường thế giới và trung tâm phân phối toàn cầu. Sao Thủy, hành tinh chủ quản của dấu hiệu này, là người diễn giải, là sứ giả của các vị thần. Cũng đáng lưu ý trong mối liên hệ này là việc Hercules chịu ảnh hưởng của hai huấn sư: Nereus, huấn sư cao hơn, và Busiris, huấn sư thấp hơn hay huấn sư thông linh; và như vậy, chúng ta lại thấy tính nhị nguyên của Song Tử cùng với phẩm tính trí tuệ của nó được nhấn mạnh một lần nữa.
When this sign is in evidence as it is now, being a powerful mutable sign, it inaugurates many changes; new ideas flood the world; new impulses make their presence felt; new and undeveloped lines of approach to spiritual truth emerge, and many teachers will arise everywhere to help lead the race into a new state of spiritual awareness. Being an air sign, we find that the conquest of the air proceeds with speed, and also a constant effort is made to unify and coordinate the many and varied aspects of human endeavor.
Khi dấu hiệu này đang nổi bật như hiện nay, với tư cách là một dấu hiệu biến đổi mạnh mẽ, nó khai mở nhiều thay đổi; những ý tưởng mới tràn ngập thế giới; những xung lực mới làm cho sự hiện diện của chúng được cảm nhận; những hướng tiếp cận mới mẻ và chưa phát triển đối với chân lý tinh thần xuất hiện, và nhiều huấn sư sẽ nổi lên ở khắp nơi để giúp dẫn dắt nhân loại bước vào một trạng thái nhận thức tinh thần mới. Là một dấu hiệu hành khí, chúng ta thấy sự chinh phục không trung diễn ra nhanh chóng, và đồng thời có một nỗ lực không ngừng nhằm hợp nhất và phối hợp nhiều phương diện đa dạng của nỗ lực nhân loại.
Venus is the esoteric ruler of Gemini and governs the second decanate; for Venus makes at-one, and through its influence the law of attraction and the bringing together of the polar opposites takes place. But all these changes and unifications naturally inaugurate a new state of awareness, a new state of being, and bring in a new age and a new world. Consequently, new difficulties and problems arise and we find Saturn governing the last decanate, for Saturn is the planet of discipleship; the planet that brings about the difficulties, problems and tests that offer to the disciple immediate opportunity. It is Saturn that opens the door into incarnation, and Saturn that opens the door on to the path of initiation. Mercury, the interpreter, and the illuminating intellect; Venus, the principle of attraction and of at-one-ment; and Saturn, the generator of opportunity: these three play their parts in the life of the aspirant as [68] he unifies higher and lower, passes through the five stages in this test, and visions the goal which ultimately he must achieve.
Sao Kim là chủ tinh nội môn của Song Tử và cai quản thập độ thứ hai; bởi Sao Kim tạo nên sự hợp nhất, và thông qua ảnh hưởng của nó, định luật hấp dẫn và việc kết hợp các cực đối lập được thực hiện. Nhưng tất cả những thay đổi và sự hợp nhất này một cách tự nhiên mở ra một trạng thái nhận thức mới, một trạng thái hiện hữu mới, và mang đến một kỷ nguyên mới cùng một thế giới mới. Do đó, những khó khăn và vấn đề mới nảy sinh, và chúng ta thấy Sao Thổ cai quản thập độ cuối cùng, vì Sao Thổ là hành tinh của Địa vị đệ tử; là hành tinh mang lại những khó khăn, vấn đề và thử thách, những điều trao cho đệ tử cơ hội tức thời. Chính Sao Thổ mở cánh cửa vào sự nhập thể, và cũng chính Sao Thổ mở cánh cửa dẫn lên Con Đường Điểm Đạo. Sao Thủy, đấng diễn giải và trí tuệ soi sáng; Sao Kim, nguyên lý của sự hấp dẫn và của sự hợp nhất; và Sao Thổ, đấng tạo sinh cơ hội: ba yếu tố này đóng vai trò của mình trong đời sống của người chí nguyện khi y hợp nhất cao và thấp, đi qua năm giai đoạn trong thử thách này, và hướng tầm nhìn đến mục tiêu mà cuối cùng y phải đạt đến. [68]
The Three Symbolic Constellations—Ba Chòm sao Biểu tượng
The three constellations to be found in connection with the sign are Lepus, the Hare, Canis Major and Canis Minor, and in their interrelation and in their association with Hercules, the aspirant, the whole story of the human being is again most strikingly portrayed. In Canis Major we find Sirius, the Dog Star, called in many old books “the leader of the entire heavenly host”, for it is ten or twelve times brighter than any other star of the first magnitude. Sirius has always been associated with great heat, hence we have the phrase of “the dog days” in the middle of the summer, when the heat is supposed to be greatest. From the standpoint of the occultist, Sirius is of profound significance. “Our God is a consuming fire”, and Sirius is the symbol of the universal soul as well as of the individual soul. It is therefore, esoterically considered, the star of initiation. In the language of symbology we are told, there comes a moment when a star blazes forth before the initiate, signifying his realization of his identity with the universal soul, and this he suddenly glimpses through the medium of his own soul, his own star.
Ba chòm sao được tìm thấy liên hệ với dấu hiệu này là Lepus, Thỏ Rừng, Canis Major và Canis Minor; và trong mối tương quan của chúng với nhau, cũng như trong sự liên hệ của chúng với Hercules, người chí nguyện, toàn bộ câu chuyện về con người lại một lần nữa được phác họa một cách hết sức nổi bật. Trong Canis Major, chúng ta tìm thấy Sirius, Ngôi Sao Chó, được gọi trong nhiều sách cổ là “vị lãnh đạo của toàn thể thiên binh”, bởi lẽ nó sáng gấp mười hay mười hai lần bất kỳ ngôi sao nào khác thuộc cấp sao bậc nhất. Sirius từ lâu vẫn luôn được gắn liền với sức nóng lớn; vì thế chúng ta có cụm từ “những ngày chó” vào giữa mùa hè, khi sức nóng được cho là đạt đến mức cao nhất. Từ quan điểm của nhà huyền bí học, Sirius mang một ý nghĩa hết sức thâm sâu. “Thượng đế của chúng ta là một ngọn lửa thiêu đốt”, và Sirius là biểu tượng của linh hồn vũ trụ cũng như của linh hồn cá nhân. Do đó, xét theo huyền linh học, nó được xem là ngôi sao của điểm đạo. Trong ngôn ngữ biểu tượng, chúng ta được cho biết rằng có một khoảnh khắc khi một ngôi sao bừng cháy trước mắt điểm đạo đồ, báo hiệu sự chứng nghiệm của y về căn tính của mình với linh hồn vũ trụ; và điều này y bất chợt thoáng thấy qua trung gian của chính linh hồn mình, ngôi sao của riêng mình.
Canis Major is the immortal Hound of Heaven, that chases forever the lesser Dog, the underdog, the man in physical incarnation. This chase has been immortalised for us by Francis Thompson in The Hound of Heaven.
Canis Major là Con Chó Trời bất tử, kẻ mãi mãi truy đuổi Con Chó thấp kém hơn, kẻ bị săn đuổi, con người đang trong nhập thể hồng trần. Cuộc truy đuổi này đã được Francis Thompson bất tử hóa cho chúng ta trong The Hound of Heaven.
“I fled Him, down the nights and down the days;
“Tôi trốn chạy Ngài, qua những đêm và những ngày;
I fled Him, down the arches of the years;
Tôi trốn chạy Ngài, qua những vòm cung của năm tháng;
I fled Him, down the labyrinthine ways
Tôi trốn chạy Ngài, qua những lối quanh co như mê cung
Of my own mind; and in the mist of tears
Của chính thể trí tôi; và trong màn sương của nước mắt
I hid from Him, and under running laughter.
Tôi ẩn mình khỏi Ngài, và dưới những tràng cười cuốn chạy.
Up vistaed hopes I sped;
Qua những viễn vọng của hy vọng tôi lao đi;
And shot, precipitated,
Và lao xuống, rơi nhào,
Adown Titanic glooms of chasmed fears,
Vào những u tối khổng lồ của những nỗi sợ bị xé toạc,
From those strong feet that followed, followed after.” [69]
Trước những bước chân vững chãi vẫn theo, vẫn theo sát.” [69]
In the zodiac of Denderah, this star is called Apes, the head. We are told (in the appendix, p. 1518, of the Companion Bible) that the brightest star in Canis Major is Sirius, the Prince, called in Persian, the Chieftain. There are three other stars in the same constellation: one is called “the announcer”, another the “shining one,” and the third, “the glorious”, all of them phrases emphasizing the magnificence of Canis Major and, esoterically, the wonder and the glory of the higher self.
Trong vòng hoàng đạo Denderah, ngôi sao này được gọi là Apes, cái đầu. Chúng ta được cho biết (trong phần phụ lục, tr. 1518, của Companion Bible) rằng ngôi sao sáng nhất trong Canis Major là Sirius, Vị Hoàng Tử, được gọi trong tiếng Ba Tư là Thủ Lĩnh. Có ba ngôi sao khác trong cùng chòm sao này: một được gọi là “đấng loan báo”, một khác là “đấng chiếu sáng”, và ngôi thứ ba là “đấng vinh hiển”; tất cả đều là những cụm từ nhấn mạnh sự tráng lệ của Canis Major và, xét theo huyền linh học, sự kỳ diệu và vinh quang của chân ngã.
In Canis Minor, the “underdog”, the same writing tells us that the name of the brightest star signifies, “redeemer”, that the next brightest is “the burden bearer” or “the one who bears for others”. We have, therefore, in the significance of these two names, a portrayal of Hercules, as he works out his own salvation and as he bears the great burden of Atlas and learns the meaning of service.
Trong Canis Minor, “con chó thấp kém”, cùng nguồn ghi chép đó cho chúng ta biết rằng tên của ngôi sao sáng nhất mang ý nghĩa là “đấng cứu chuộc”, còn ngôi sao sáng kế tiếp mang ý nghĩa là “kẻ mang gánh nặng” hay “đấng gánh vác cho người khác”. Do đó, trong ý nghĩa của hai danh xưng này, chúng ta có một sự khắc họa về Hercules, khi chàng tự hoàn tất sự cứu rỗi của mình và khi chàng gánh vác gánh nặng to lớn của Atlas và học được ý nghĩa của phụng sự.
Lepus, the Hare, associated with these two constellations, contains a star of the most intense crimson color, almost like a drop of blood. Red is ever the symbol of desire for material things. In the zodiac of Denderah, the name given is Bashtibeki, which means “falling confounded”. Aratus, writing about 250 B.C., speaks of Lepus as being “chased eternally”, and it is interesting to note that the Hebrew names of some of the stars found in this constellation signify “the enemy of the Coming One”, which is the meaning of the name of the brightest star, Arneb; whilst three other stars have names meaning “the mad”, “the bound”, “the deceiver”. All these words are characteristics of the lower self chased eternally by the higher self; the human soul pursued by the Hound of Heaven.
Lepus, Thỏ Rừng, được liên kết với hai chòm sao này, chứa một ngôi sao có màu đỏ thẫm dữ dội nhất, gần như một giọt máu. Màu đỏ luôn luôn là biểu tượng của dục vọng đối với những sự vật vật chất. Trong vòng hoàng đạo Denderah, tên được đặt cho nó là Bashtibeki, có nghĩa là “ngã quỵ trong bối rối”. Aratus, viết vào khoảng năm 250 trước Công nguyên, nói về Lepus như là “bị truy đuổi vĩnh viễn”; và thật thú vị khi lưu ý rằng các tên tiếng Do Thái của một số ngôi sao được tìm thấy trong chòm sao này mang ý nghĩa là “kẻ thù của Đấng Đang Đến”, đó chính là ý nghĩa của tên ngôi sao sáng nhất, Arneb; trong khi ba ngôi sao khác mang những tên có nghĩa là “kẻ điên loạn”, “kẻ bị trói buộc”, “kẻ lừa dối”. Tất cả những từ ngữ này đều là những đặc tính của phàm ngã bị chân ngã truy đuổi vĩnh viễn; linh hồn nhân loại bị Con Chó Trời săn đuổi.
As we look at the starry heavens at night and locate Sirius, the Dog Star, the story of our past, present and future is dramatically pictured. We have the story of our past in Lepus, the Hare, fleet of foot, deceived, mad, bound to the wheel of life, identified with the matter aspect, and ever the enemy of “The Coming Prince”. In Canis Minor, we have the story of the aspirant, of our present lot. Dwelling within us is the inner [70] ruler, the hidden divinity, the redeemer. We go forth conquering and to conquer, but we have to do it as the burdened disciple, bearing for others and serving. In Canis Major we have portrayed our future and a consummation, glorious beyond all present realization. Were all religions and all scriptures of the world to be lost, and were there nothing left to us except the starry heavens, the story of the zodiac and the significance of the names of the various stars found in the different constellations, we should be able to retrace the history of man, recover the knowledge of our goal and learn the mode of its achievement.
Khi chúng ta ngước nhìn bầu trời sao vào ban đêm và xác định Sirius, Sao Chó, câu chuyện về quá khứ, hiện tại và tương lai của chúng ta được phác họa một cách đầy kịch tính. Chúng ta có câu chuyện về quá khứ của mình trong Lepus, Thỏ Rừng, nhanh nhẹn, bị lừa dối, điên loạn, bị trói buộc vào bánh xe của sự sống, đồng nhất với phương diện vật chất, và luôn luôn là kẻ thù của “Vị Hoàng Tử Đang Đến”. Trong Canis Minor, chúng ta có câu chuyện về người chí nguyện, về hoàn cảnh hiện tại của chúng ta. Ngự trị bên trong chúng ta là vị cai quản nội tâm [70], thiên tính ẩn tàng, đấng cứu chuộc. Chúng ta tiến bước để chinh phục và tiếp tục chinh phục, nhưng chúng ta phải thực hiện điều đó như người đệ tử mang gánh nặng, gánh vác cho người khác và phụng sự. Trong Canis Major, chúng ta có hình ảnh về tương lai của mình và về một sự hoàn tất, vinh quang vượt xa mọi sự chứng nghiệm hiện tại. Nếu tất cả các tôn giáo và mọi kinh điển của thế gian đều bị thất lạc, và nếu chẳng còn lại cho chúng ta điều gì ngoài bầu trời đầy sao, câu chuyện của vòng hoàng đạo và ý nghĩa của các tên gọi của những ngôi sao khác nhau được tìm thấy trong các chòm sao, thì chúng ta vẫn có thể lần theo lịch sử của nhân loại, khôi phục lại tri thức về mục tiêu của mình và học được phương thức để đạt tới mục tiêu ấy.
The Lesson of the Labor—Bài học của Kỳ Công
The whole of this story really signifies the lesson which is the first that all aspirants have to master, and one which it is impossible to learn until the tests in Aries and in Taurus have been undergone. Then, on the physical plane, in the field of the brain and in his walking consciousness, the disciple has to register contact with the soul and to recognize its qualities. He must no longer be the visionary mystic, but must add to the mystical achievement the occult knowledge of reality. This is often forgotten by aspirants. They rest content with aspiration and with the vision of the heavenly goal. They have wrought out in the crucible of life an equipment that is characterized by sincerity, good desire, fine character, and they are conscious of purity of motive, a willingness to fulfil the requirements, and the satisfaction that they have reached a certain status of development which entitles them to go on. But one thing still lacks: they have not what might be called “the technique of the presence”; they have not privilege and prerogative to possess. They believe in the fact of the soul, in the possibility of perfection, in the path which must be trodden; but belief has not yet been transmuted into knowledge of the spiritual realm and they know not how to make their goal! So they, as Hercules did start on the fivefold search. [71]
Toàn bộ câu chuyện này thực sự biểu thị bài học đầu tiên mà tất cả những người chí nguyện phải nắm vững, và một bài học không thể học được cho đến khi các bài kiểm tra ở Bạch Dương và Kim Ngưu đã được trải qua. Sau đó, trên cõi trần, trong lĩnh vực của não bộ và trong ý thức thức tỉnh của mình, người đệ tử phải ghi nhận sự tiếp xúc với linh hồn và nhận ra những phẩm chất của nó. Y không còn chỉ là nhà thần bí có tầm nhìn, mà phải thêm vào thành tựu thần bí đó tri thức huyền bí về thực tại. Điều này thường bị lãng quên bởi những người chí nguyện. Họ nghỉ ngơi bằng lòng với khát vọng và với tầm nhìn về những mục tiêu cao siêu. Họ đã tạo ra trong thử thách của cuộc sống một trang bị có đặc điểm là chân thành, mong muốn tốt, tính cách tốt, và họ có ý thức về động cơ trong sạch, sẵn sàng thực hiện các yêu cầu, và sự hài lòng rằng họ đã đạt đến một trạng thái nhất định của sự phát triển cho phép họ tiếp tục. Nhưng một điều vẫn còn thiếu: họ không có cái có thể được gọi là “Kỹ Thuật Của Sự Hiện Diện”; họ không có đặc ân và đặc quyền sở hữu. Họ tin vào sự thật của linh hồn, vào khả năng hoàn thiện, vào con đường phải đi; nhưng niềm tin vẫn chưa được chuyển hóa thành tri thức về lĩnh vực tinh thần, và họ không biết làm thế nào để đạt được mục tiêu của mình! Vì vậy, họ, như Hercules đã bắt đầu tìm cuộc tìm kiếm ngũ phân.
The first stage of that search is full of encouragement for them, had they been able to recognize the happening. Like Hercules, they meet Nereus, the symbol of the higher self, and, later on in the history of the disciple, he is the symbol of the teaching Master. When contacted, especially in the early stages of the search, the higher self will manifest as a flash of illumination, and lo! it is gone; as a sudden realization of truth, so elusive, so fleeting, that at first the disciple cannot grasp it; as a hint dropped into the consciousness in moments of one-pointed attention, when the mind is held steady and the emotions temporarily cease to control.
Giai đoạn đầu tiên của cuộc tìm kiếm đó đầy sự khích lệ đối với họ, nếu họ có thể nhận ra điều gì đang xảy ra. Giống như Hercules, họ gặp Nereus, biểu tượng của ‘cái tôi cao siêu hơn’, và sau này trong lịch sử của người đệ tử, Ngài là biểu tượng của vị Chân sư huấn luyện. Khi được tiếp xúc, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của cuộc tìm kiếm, cái tôi cao siêu sẽ thể hiện như một tia sáng lóe lên, và Ô! nó đã biến mất; như một sự nhận ra chân lý đột ngột, rất khó nắm bắt, rất thoáng qua, đến nỗi ban đầu người đệ tử không thể nắm bắt được; giống như một gợi ý được đưa vào tâm thức trong những khoảnh khắc của sự chú ý nhất tâm, khi cái trí được ổn định và cảm xúc tạm thời không còn kiểm soát.
In the case of a more advanced disciple who has established contact with his soul and who, therefore, may be supposed to be ready for instruction from one of the great Teachers of the Race, it will be found that the Master works just as Nereus did. He cannot always be contacted, and only occasionally does the disciple come into touch with him. When he does, he need not expect congratulations upon his wonderful progress, nor will he find a careful elucidation of his problem, nor a lengthy outline of the work that he should do. The Master will give a hint and disappear. He will make a suggestion and will say no more. It is for the disciple to act upon the hint as best he may and to follow up the suggestion should he deem it wise.
Trong trường hợp một đệ tử cao cấp hơn đã thiết lập được tiếp xúc với linh hồn của y và do đó có thể được cho là đã sẵn sàng để được một trong những Chân sư vĩ đại của nhân loại chỉ dẫn, thì người ta sẽ thấy rằng Chân sư làm việc giống như Nereus đã làm. Không phải lúc nào người ta cũng liên lạc được với Ngài, và chỉ thỉnh thoảng người đệ tử mới liên lạc được với Ngài. Khi làm như vậy, y không cần những lời chúc mừng về sự tiến bộ tuyệt vời của mình, cũng như không cần tìm hiểu kỹ về vấn đề của y, cũng như không cần một bản phác thảo dài dòng về công việc mà y nên làm. Chân sư sẽ đưa ra một gợi ý và rồi biến mất. Ngài sẽ đưa ra một đề nghị và sẽ không nói gì nữa. Đệ tử phải hành động theo gợi ý tốt nhất có thể và làm theo gợi ý nếu y cho là khôn ngoan.
Many well-meaning occultists would lead one to believe that the Masters of the Wisdom take a personal interest in them, that the overburdened Guides of the Race have no better occupation than to tell them personally how to live, how to solve their problems and how, in detail, to guide their undertakings. I would like here to go on record as protesting against any such belittling of the work of the Great Ones. The reasons that Nereus, the Master, is elusive and gives but a flash of thought or of momentary attention to the aspirant, are two:
Nhiều nhà huyền bí học thiện chí sẽ khiến người ta tin rằng các Chân sư Minh triết quan tâm đến họ, rằng các Vị Hướng dẫn quá bận rộn của Nhân loại không có công việc nào tốt hơn là chỉ cho họ cách sống, cách giải quyết vấn đề của họ, và hướng dẫn một cách chi tiết các chủ trương của họ. Tôi muốn ghi lại ở đây sự phản đối bất kỳ sự coi thường nào như vậy đối với công việc của Những Đấng Vĩ Đại. Những lý do mà Nereus, Vị Chân sư, khó nắm bắt và chỉ đưa ra một suy nghĩ thoáng qua hoặc một sự chú ý nhất thời đến người chí nguyện, là có hai:
First, the individual aspirant is of no personal interest to the Master until he has achieved the point in his evolution where he is so closely in touch with his soul that he becomes a [72] magnetic server in the world. Then, and then only, will it profit the Master to throw him a thought, and to give him a hint. Then, as those hints are followed, he may give him more, but, and this is the point that must be emphasized, only in connection with the work that he has to do in the field of world service. Aspirants need to remember that they become masters only by mastering, and that we are taught to be masters and are brought to the position of membership in the band of world servers through the efforts of our own soul. That soul is a divine son of God, omniscient and omnipotent. As the immortal twin increases in power and brilliance, that of the mortal brother decreases.
Đầu tiên, Chân sư không quan tâm riêng đến người chí nguyện cho đến khi y đạt được điểm trong quá trình tiến hóa của mình, nơi y liên lạc chặt chẽ với linh hồn của mình đến mức y trở thành một người phụng sự có từ tính trên thế giới. Sau đó, và chỉ sau đó, sẽ có lợi khi Chân sư ban cho y một suy nghĩ và cho y một gợi ý. Sau đó, khi những gợi ý đó được tuân theo, Ngài có thể cho y nhiều hơn, nhưng, và đây là điểm cần phải được nhấn mạnh, chỉ liên quan đến công việc y phải làm trong lĩnh vực phụng sự thế gian. Những người có nguyện vọng cần phải nhớ rằng họ chỉ trở thành các Chân sư bằng cách làm chủ, và chúng ta được dạy để trở thành các Chân sư và được đưa lên vị trí thành viên trong nhóm người Phụng sự thế giới thông qua nỗ lực của chính linh hồn chúng ta. Linh hồn đó là đứa con thiêng liêng của Thượng đế, toàn trí và toàn năng. Khi người anh sinh đôi bất tử tăng gia tăng sức mạnh và sự chói lọi, thì sức mạnh của người em phàm trần suy giảm đi.
Second, the physical bodies of the aspirants are in no condition to stand the greatly heightened vibration of One who has achieved. The body would be shattered and the brain overstrained if one of the Masters made constant contact with a disciple before he had even learned to know Nereus as the symbol of his own higher self. When by our own efforts we are beginning to live as souls, and when by our own self-initiated endeavor we are learning to serve and be channels of spiritual energy, then we shall know Nereus more intimately; and then, almost inevitably, our knowledge of the work that the Great Ones have to do will be so vital and so real that we will forego our own desire for contact and seek only to lift the burden that They carry.
Thứ hai, các thể xác vật lí của những người chí nguyện không có điều kiện để chịu đựng được sự rung động mạnh mẽ của Đấng đã thành tựu. Cơ thể sẽ tan nát và bộ não căng thẳng quá mức nếu một trong những vị Chân sư tiếp xúc liên tục với một đệ tử trước khi y thậm chí còn biết Nereus là biểu tượng của chân ngã cao siêu của chính y. Khi bằng nỗ lực của chính mình, chúng ta bắt đầu sống như những linh hồn, và khi bằng nỗ lực tự khởi xướng của chính mình, chúng ta học cách phụng sự và trở thành các kênh của năng lượng tinh thần, chúng ta sẽ biết Nereus một cách thân thiết hơn; và sau đó, hầu như tất yếu, kiến thức của chúng ta về công việc mà những Đấng Vĩ đại phải làm sẽ rất quan trọng và thực đến mức chúng ta sẽ gạt bỏ mong muốn được tiếp xúc với các Ngài, và chỉ tìm cách trút bỏ gánh nặng mà các Ngài đang gánh vác.
At the beginning of his search, Hercules met Nereus; but he was not impressed and so wandered elsewhere, furiously seeking the satisfaction of his aspiration. At the close of his search he meets Atlas, bearing the burden of the world, and so impressed is he with the weight of that responsibility and the load that Atlas, the great Master, is carrying, that he forgets all about the goal and his search for the golden apples and endeavors to lift the burden off the shoulders of Atlas. When aspirants in the religious field and in the Church, in the Theosophical field, in the Rosicrucian field, and in the many groups to which they gravitate, have learned to forget themselves in [73] service and to lose sight of their spiritual selfishness by helping humanity, there will be a much more rapid gathering in of initiates through the portal on to the Path that leads from darkness to the Light, and from the unreal to the Real. One of the Great Ones has said that "there are persons, who, without ever having any external sign of selfishness, are intensely selfish ill their inner spiritual aspiration." (p. 360, The Mahatma Letters to A.P. Sinnett). And later he holds out before us a stupendous ideal which cuts at the root of spiritual selfishness: "In our view the highest aspirations for the welfare of humanity become tainted with selfishness if, in the mind of the philanthropist, there lurks the shadow of desire for self-benefit...".
Khi bắt đầu cuộc tìm kiếm, Hercules đã gặp Nereus; nhưng chàng không có ấn tượng gì và cứ thế lang thang ở nơi khác, tức giận đi tìm kiếm sự thỏa mãn nguyện vọng của mình. Khi kết thúc cuộc tìm kiếm, chàng gặp Atlas, người đang gánh đỡ gánh nặng của thế giới, và chàng bị ấn tượng sâu sắc với sức nặng của trách nhiệm đó và gánh nặng mà Atlas, vị Thầy vĩ đại, đang gánh vác, đến nỗi chàng quên hết mục tiêu và việc tìm kiếm những quả táo vàng, nỗ lực để trút bỏ gánh nặng trên vai Atlas. Khi những người chí nguyện trong lĩnh vực tôn giáo, trong Giáo hội, trong Thông Thiên Học, Rosicrucian, và trong nhiều nhóm mà họ bị thu hút về, đã học cách quên mình trong việc phụng sự và đánh mất sự ích kỷ tinh thần của mình bằng cách giúp đỡ nhân loại, sẽ có một cuộc tập hợp các điểm đạo đồ nhanh hơn nhiều thông qua cánh cổng trên Con đường dẫn từ bóng tối đến Ánh sáng, và từ cái giả đến cái chân. Một trong những Đấng Cao Cả đã nói rằng “có những người không hề có bất kỳ dấu hiệu ích kỷ nào bên ngoài, nhưng có sự ích kỷ mãnh liệt về khát vọng tinh thần bên trong của họ.” (trang 360, Những bức thư của Chân sư gửi A.P. Sinnett). Và sau này, Ngài đã cho chúng ta một lý tưởng tuyệt vời nhằm cắt đứt tận gốc sự ích kỷ tinh thần: “Theo quan điểm của chúng tôi, những khát vọng cao nhất cho phúc lợi của nhân loại trở nên nhuốm màu ích kỷ nếu trong tâm trí của nhà từ thiện ẩn chứa bóng dáng của dục vọng để vụ lợi...”.
Hercules, the disciple, has known the touch of the higher self, but he did not know enough to stay with Nereus. So he turns south, or back into the world. He has had his high moment, when he transcended his brain consciousness and held converse with his soul. But this does not last, and he drops back into the brain consciousness and enters upon another experience. He has to wrestle with Antaeus, the serpent (or giant). But, this time, it is the serpent of astral glamor and not primarily the serpent of desire. It is with the glamors of lower psychism that he has to wrestle, and these seem, in the early stages, inevitably to attract the interest of aspirants. Any teacher who has worked with those who are seeking the Way knows the glamor under which they can so easily fall. According to the temperament of the aspirant so will be the glamor. Some get sidetracked by spiritualistic phenomena. In the endeavor to penetrate within the veil, they become engrossed with the lower side of spiritualism and pass much time in the seance room studying over and over again the same old phenomena of materialization, spirit communication and manifestations. I make here no reference to the truly scientific investigations of those who go deeply into this research, and who are equipped so to do. I refer to the ignorant participation in certain types of seance room work. This intrigues the average man or woman [74] and puts them at the mercy of the equally ignorant medium or the charlatan, for they are unequipped to verify in any way that which they see and hear.
Hercules, người đệ tử, đã chạm đến cái tôi cao siêu hơn, nhưng chàng không đủ hiểu để ở lại với Nereus. Vì vậy, chàng quay về hướng nam, hoặc quay trở lại thế gian. Chàng đã có khoảnh khắc tuyệt vời của mình khi chàng vượt qua ý thức não bộ và trò chuyện với linh hồn của mình. Nhưng điều này không kéo dài, và chàng quay trở lại với ý thức não bộ và đi vào một trải nghiệm khác. Chàng phải vật lộn với Antaeus, con rắn (hoặc người khổng lồ). Nhưng, lần này, đó là con rắn của ảo cảm cảm dục chứ không phải con rắn của dục vọng. Chính với ảo cảm của chủ nghĩa thông linh thấp kém mà chàng phải chiến đấu, và những điều này, trong giai đoạn đầu, dường như chắc chắn sẽ thu hút sự quan tâm của những người chí nguyện. Bất kỳ vị huấn sư nào đã từng làm việc với những người đang tìm kiếm Con đường đều biết những ảo cảm mà những người chí nguyện có thể dễ dàng sa ngã. Tuỳ theo tính khí của người chí nguyện mà ảo cảm sẽ như thế nào. Một số bị lạc lối bởi các hiện tượng tâm linh. Trong nỗ lực thâm nhập vào bên trong bức màn, họ trở nên say mê với phương diện thấp của chủ nghĩa thông linh và dành nhiều thời gian trong nhà cầu hồn, nghiêm túc nghiên cứu đi nghiên cứu lại các hiện tượng cũ về hiện hình, giao tiếp với vong linh, và biểu hiện của hồn ma. Ở đây tôi không đề cập đến những nghiên cứu khoa học thực sự của những người đi sâu vào nghiên cứu này, và những người được trang bị để làm điều đó. Tôi đề cập đến việc tham gia thiếu hiểu biết vào một số công việc của phòng cầu hồn. Điều này gây tò mò cho những người nam và nữ bình thường và đặt họ vào tầm ngắm của những đồng tử hoặc lang băm cũng dốt nát tương tự, vì họ không được trang bị đủ để xác minh theo bất kỳ cách nào những gì mà họ nhìn thấy và nghe.
The serpent may take the form of the more common aspect of psychic phenomena. The aspirant becomes interested in automatic writing, or he learns to sit and listen to “voices”, he becomes astrally clairvoyant or clairaudient, and adds to the confusion of the physical plane and his own particular environment, the still greater confusion of the psychic plane, and so falls into the snares and pitfalls of astralism. He becomes negative, because he is all the time trying to hear or see that which is not physical. Because we share with cats and dogs the capacity to be clairvoyant and clairaudient, in due time we shall surely see or hear, if not in truth, yet through the power of that creative faculty which we all possess, a creative imagination. But in some form or another, the aspirant who has left Nereus will meet the serpent and will have to wrestle with him. As the myth states, for a long time Hercules could not conquer, but when he lifted the serpent high up into the air, he prevailed.
Con rắn có thể ở dạng khía cạnh phổ biến hơn của các hiện tượng tâm linh. Người chí nguyện trở nên quan tâm đến hiện tượng ‘viết tự động’, hoặc anh học cách ngồi và lắng nghe “giọng nói”, anh trở thành nhà nhãn thông và nhĩ thông trung giới, và thêm vào sự nhầm lẫn của cõi trần vật lý và môi trường cụ thể của chính anh sự nhầm lẫn còn lớn hơn của cõi tâm linh, và do đó, rơi vào cạm bẫy của chủ nghĩa thông linh trung giới. Anh trở nên tiêu cực, bởi vì anh luôn cố gắng nghe hoặc nhìn thấy điều gì đó không thuộc về cõi trần. Bởi vì chúng ta chia sẻ với chó và mèo khả năng nhãn thông và nhĩ thông, nên ở thời gian thích hợp, chúng ta chắc chắn sẽ nhìn thấy hoặc nghe thấy, nếu không phải là sự thật, thông qua sức mạnh của khả năng sáng tạo mà tất cả chúng ta đều sở hữu, một trí tưởng tượng sáng tạo. Nhưng dưới hình thức này hay hình thức khác, người chí nguyện đã rời bỏ Nereus sẽ gặp con rắn và sẽ phải vật lộn với nó. Như truyền thuyết kể rằng, Hercules đã không thể chinh phục trong một thời gian dài, nhưng khi nâng con rắn lên cao, chàng đã thắng nó.
There is a great truth underlying this symbolism. The air has always been regarded as the symbol or the element related to the Christ plane, called in the Theosophical terminology and in the east, the buddhic plane. The astral plane is the distorted reflection of the buddhic plane, and it is only when we carry glamor up into the clear light of the Christ soul that we shall see truth as it is, and become invincible. Most solemnly, I would urge upon all aspirants to forego all interest in psychic phenomena, and to shut out as steadily as they can the astral plane until they have developed the power to be intuitive and to interpret their intuitions through the medium of a well-developed, well-stocked, well-trained mind.
Có một chân lí tuyệt vời nằm bên dưới biểu tượng này. Không khí luôn được coi là biểu tượng hoặc yếu tố liên quan đến cõi giới Christ, được gọi theo thuật ngữ Thông Thiên Học và ở phương đông là cõi Bồ đề. Cõi trung giới là sự phản chiếu méo mó của cõi Bồ đề, và chỉ khi nào chúng ta đưa ảo cảm vào trong ánh sáng trong trẻo của linh hồn, Đấng Christ, thì chúng ta mới thấy sự thật như nó vốn là, và trở nên bất khả chiến bại. Một cách trang trọng nhất, tôi sẽ kêu gọi tất cả những người chí nguyện từ bỏ mọi quan tâm đến các hiện tượng thông linh, và đóng lại cánh cửa trung giới càng sớm càng tốt cho đến khi họ phát triển khả năng trực giác và giải thích trực giác của họ thông qua phương tiện của một thể trí phát triển tốt, được nuôi dưỡng tốt, được đào tạo bài bản.
The next stage of the search of Hercules is equally applicable to humanity as a whole. He fell into the clutches of Busiris, who claimed to be a great teacher. For a long period of [75] time Hercules was kept in bondage. The world today is full of teachers, and like Busiris, they base their teaching upon portentous claims; they claim to be initiates, to be the custodians of truth, and to have a sure and certain way of development which must inevitably enable the aspirant to achieve. They bolster up their position by promises; they build up a strong personality relationship, and by utilizing the sincerity and the aspiration of the seeker after truth, they gather around themselves groups of men and women who innocently and sincerely believe the truth of the claims that they make, and bind them to the altar of sacrifice for a longer or a shorter period of time. The true initiate is known by his life and acts, he is too busy serving the race to find the time to interest people in himself, and he cannot make promises beyond saying to every aspirant: “These are the ancient rules, this is the way that all the saints and Masters of the Wisdom have trod, this is the discipline to which you must subject yourself; and if you will but try and have endurance and patience, the goal will surely be yours.”
Giai đoạn tiếp theo của việc tìm kiếm Hercules cũng có thể áp dụng cho toàn bộ nhân loại. Chàng rơi vào nanh vuốt của Busiris, người tự nhận mình là một Vị Huấn Sư vĩ đại. Trong một khoảng thời gian dài [75] Hercules bị giam cầm. Thế giới ngày nay có đầy rẫy những huấn sư, và giống như Busiris, họ dựa việc giảng dạy của mình dựa trên những tuyên bố phô trương; họ tự nhận mình là điểm đạo đồ, là người bảo vệ chân lý, và có một phương thức phát triển chắc chắn cho phép người chí nguyện thành tựu. Họ củng cố vị trí của mình bằng những lời hứa; họ xây dựng một mối quan hệ phàm ngã mạnh mẽ, và bằng cách sử dụng sự chân thành và khát vọng của người tìm kiếm sự thật, họ tập hợp xung quanh mình những nhóm người nam và nữ, những người ngây thơ và chân thành tin vào sự thật của những tuyên bố mà họ đưa ra, và ràng buộc họ với bàn thờ cúng tế trong thời gian dài hơn hoặc ngắn hơn. Vị điểm đạo đồ chân chính được biết đến qua cuộc đời và hành động của y, y quá bận rộn phụng sự nhân loại đến nỗi không có thời gian để thu hút mọi người chú ý đến bản thân y, và y không thể hứa gì ngoài lời nói với mọi người chí nguyện: “Đây là những quy tắc cổ xưa, đây là cách mà tất cả các vị thánh và các Chân sư Minh triết đều có, đây là kỷ luật mà bạn phải tuân theo chính mình; và nếu bạn muốn, hãy cố gắng và bền bĩ và kiên nhẫn, mục tiêu chắc chắn sẽ là của bạn.”
But Hercules freed himself, as do all sincere seekers; and having escaped from the world of psychic and pseudo-spiritual glamor, he began to serve. First he freed himself under the symbol of Prometheus, who signifies God incarnate, releasing him from the torture of the vultures of old. The solar plexus, the stomach and the liver are externalizations, if I might so express it, of the desire nature, and Hercules freed himself from the vultures of desire that had for so long tortured him. He gave up being selfish, and gave up satisfying himself. He had had two bitter lessons in this sign and for this particular cycle was relatively free. Prometheus, the God within, could go forward to the service of the world and to lifting the burden of Atlas.
Nhưng Hercules đã tự giải thoát, cũng như tất cả những người chân thành tìm kiếm; và sau khi thoát khỏi thế giới của ảo cảm tâm linh giả tạo, chàng bắt đầu phụng sự. Đầu tiên, chàng tự giải thoát mình dưới biểu tượng của Prometheus, người biểu thị cho Đấng Thượng đế nhập thế, giải phóng Ngài khỏi sự tra tấn của những con kền kền xưa cũ. Tùng thái dương, dạ dày và gan là những ngoại hiện, nếu tôi có thể diễn đạt như thế, của bản chất ham muốn, và Hercules đã giải thoát mình khỏi những con kền kền ham muốn đã hành hạ chàng bấy lâu nay. Chàng từ bỏ sự ích kỷ, và từ bỏ việc thỏa mãn bản thân. Chàng đã có hai bài học cay đắng về dấu hiệu này, và cho chu kỳ cụ thể này là tương đối tự do. Prometheus, vị thần bên trong, có thể tiến tới việc phụng sự thế giới và nâng gánh nặng của Atlas.
After the sacrifice comes the reward, and Hercules received his great surprise after freeing both Prometheus and Atlas. Having, given up his search in order to help the world, Atlas went for him to the garden and handed to him the golden [76] apples, bringing him in touch with the three beautiful maidens, the thee aspects of the soul.
Sau khi hy sinh, phần thưởng sẽ đến, và Hercules đã nhận được sự ngạc nhiên lớn của mình sau khi giải phóng cả Prometheus và Atlas. Sau khi từ bỏ việc tìm kiếm để giúp đỡ thế giới, Atlas đã đến vườn và đưa cho anh những quả táo vàng, đưa chàng tiếp xúc với ba thiếu nữ xinh đẹp, những phương diện của linh hồn.
At the beginning of this labor he contacts his soul as Nereus; at the close of this labor, having overcome much glamor, he achieves a greatly increased vision of his soul and sees it in its three aspects, each one holding in it the potency of the three principles of divinity. Aegle symbolizes the glory of the life and the splendor of the setting sun; the magnificence of manifestation on the physical plane. She gives an apple to Hercules, saying, “The way to us is ever through deeds of love”. Erytheia keeps the gate, the soul, which is ever opened by Love-Wisdom, and she gives to Hercules an apple marked with the golden word Service. Hesperis, the evening star, the star of initiation, typifies the Will. She says to Hercules, “Tread the Way”. Body, soul and spirit; Intelligence, Love and Will, visioned and contacted by the selfless aspirant through Service. [77]
Khi bắt đầu cuộc kỳ công này, chàng liên lạc với linh hồn của mình với cái tên Nereus; Khi kết thúc Kỳ công này, sau khi vượt qua nhiều ảo cảm, chàng đã đạt được tầm nhìn xa hơn rất nhiều về linh hồn của mình và nhìn thấy nó ở ba phương diện của nó, mỗi phương diện đều nắm giữ trong nó hiệu lực của ba nguyên tắc Thiêng liêng. Aegle tượng trưng cho vinh quang của cuộc sống và sự huy hoàng của mặt trời lặn; sự vĩ đại của sự biểu hiện trên cõi vật lý. Bà đưa một quả táo cho Hercules, nói rằng, "Con đường đến với chúng ta là thông qua những hành động của tình thương". Erytheia giữ cánh cổng, linh hồn, được Bác Ái-Minh triết mở ra, và Bà đưa cho Hercules một quả táo được đánh dấu bằng chữ Phụng sự. Hesperis, ngôi sao buổi tối, ngôi sao của Điểm đạo, tiêu biểu cho Ý chí. Bà nói với Hercules, "Hãy bước vào Con đường". Thể xác, linh hồn và tinh thần; Trí tuệ, Tình thương và Ý chí, được nhìn thấy và liên hệ bởi những người chí nguyện vị tha thông qua Phụng Sự.
3 in every direction
4 literary after a long time
LABOR IV
The Capture of the Doe or Hind—Part 1Bắt Con Nai hay Con Hươu Cái
(Cancer, June 21st—July 21st)
The Myth—Thần thoại
The great Presiding One, who sits within the Council Chamber of the Lord, spoke to the Teacher, standing by his side: “Where is the son of man who is the son of God? How fares he? How is he tested and with what service is he now engaged?”
Đấng Chủ tể vĩ đại, ngồi trong Phòng Hội đồng của Đấng Chúa tể, nói với vị Huấn Sư đứng cạnh Ngài: "Đâu rồi Người con của nhân loại và cũng là người con của Thượng đế? Y ra sao? Y đã được thử thách như thế nào, và y đang tham gia vào công việc gì?"
The Teacher said, casting his eye upon the son of man who is a son of God:
Vị Huấn Sư đưa mắt nhìn người con của nhân loại và cũng là người con của Thượng đế, nói:
“Naught at this time, O great Presiding One. The third great test provided much of teaching sustenance to a learner such as he. He ponders and reflects.”
"Thưa đấng Chúa Tể, y không làm gì cả. Thử thách lớn thứ ba đã cho y nhiều điều để học hỏi, y đang nghiền ngẫm và hồi tưởng về nó."
“Provide a test which will evoke his wisest choice. Send him to labor in a field wherein he must decide which voice, of all the many voices, will arouse the obedience of his heart. Provide likewise a test of great simplicity upon the outer plane, and yet a test which will awaken, on the inner side of life, the fulness of his wisdom and the rightness of his power to choose. Let him proceed with the fourth test.”
"Hãy cho y một thử thách đòi hỏi sự lựa chọn khôn ngoan nhất của y. Hãy cho y đến làm việc trên cánh đồng mà y phải quyết định xem giọng nói nào trong tất cả nhiều giọng nói sẽ khiến trái tim y vâng lời. Tương tự như thế, hãy cho y một thử thách lớn đơn giản trên cõi giới ngoại tại, thế nhưng lại sẽ đánh thức trên phương diện nội tâm tất cả sự khôn ngoan và sức mạnh của y để lựa chọn. Hãy để y tiến hành thử thách thứ tư."
Before the fourth great Gate stood Hercules; a son of man and yet a son of God. At first was silence deep. He uttered not a word or made a sound. Beyond the Gate the landscape stretched in contours fair and on the far horizon stood the temple of the Lord, the shrine of the Sun-God, the gleaming battlements. Upon a hill nearby there stood a slender fawn. And Hercules, who is a son of man and yet a son of God, both watched and listened and, listening, heard a voice. The voice [78] came out from that bright circle of the moon which is the home of Artemis. And Artemis, the fair, spoke words of warning to the son of man.
Hercules, người Con của nhân loại và cũng là người Con của Thượng đế, đứng trước Cổng vĩ đại thứ tư. Lúc đầu là sự im lặng sâu sắc. Chàng không thốt ra một lời nào hay tạo ra một tiếng động nào. Bên ngoài Cổng, phong cảnh trải dài với những đường nét đẹp đẽ, và ở phía xa chân trời là đền thờ của Đấng Chúa Tể, đền thờ Thần Mặt trời, những bức tường thành lấp lánh. Trên một ngọn đồi gần đó có một con nai mảnh khảnh. Và Hercules, người con của nhân loại và cũng là người con của Thượng đế, vừa quan sát vừa lắng nghe, nghe thấy một giọng nói. Giọng nói [78] phát ra từ vòng tròn sáng của mặt trăng là quê hương của Artemis. Và Artemis, tiên nữ, đã nói những lời cảnh báo cho người con của nhân loại.
“The doe is mine, so touch it not,” she said. “For ages long I nurtured it and tended it when young. The doe is mine and mine it must remain.”
“Con nai là của ta, vì vậy đừng chạm vào nó,” Nàng nói. “Ta đã nuôi dưỡng nó từ rất lâu và chăm sóc nó khi còn nhỏ. Con nai là của ta, và nó phải tiếp tục là của ta.”
Then into view Diana sprang, the huntress of the heavens, the daughter of the sun. Leaping on sandalled feet towards the doe, she likewise claimed possession.
Rồi Diana, nữ thợ săn của bầu trời, con gái của mặt trời, xuất hiện trong tầm nhìn. Nhảy trên đôi chân mang dép về phía con nai, Nàng cũng tuyên bố quyền sở hữu nó.
“Not so,” she said, “Artemis, fairest maid; the doe is mine and mine it must remain. Too young until today, it now can be of use. The golden antlered hind is mine, not yours, and mine it shall remain.”
“Không phải vậy,” Nàng nói, “Này Artemis, người hầu gái xinh đẹp nhất; con nai là của ta và nó phải tiếp tục là của ta. Khi đó nó quá nhỏ, cho đến ngày hôm nay, bây giờ nó có thể được sử dụng. Con nai có gạc vàng là của ta, không phải của ngươi, và nó sẽ vẫn là của ta.”
Hercules, standing between the pillars of the Gate, listened and heard the quarrel, and wondered much as the two maidens strove for possession of the doe.
Hercules, đứng giữa những cây cột của Cổng, lắng nghe tiếng cãi vã, và lấy làm lạ khi hai cô gái tranh giành quyền sở hữu con nai cái.
Another voice fell on his ear, and with commanding accents said: “The doe belongs to neither maid, O Hercules, but to the God whose shrine you see on yonder distant mount. Go rescue it and bear it to the safety of the shrine, and leave it there. A simple thing to do, O son of man, yet (and ponder well my words) being a son of God, you thus can seek and hold the doe. Go forth.”
Một giọng nói khác vang lên bên tai chàng, kiểu ra lệnh: “Này Hercules, con nai cái không thuộc về cô gái nào, mà là của Chúa, người có đền thờ mà ngươi nhìn thấy trên ngọn núi xa kia. Hãy giải cứu nó và mang nó đến nơi an toàn của ngôi đền, và để nó ở đó. Đó là công việc đơn giản phải làm, hỡi người con của nhân loại người, nhưng (và hãy suy nghĩ kỹ những lời của ta) cũng là người con của Thượng Đế, do đó người có thể tìm kiếm và giữ con nai cái. Hãy tiến lên.”
Through the fourth Gate sprang Hercules, leaving behind the many gifts received and cumbered not himself in the swift chase which lay ahead. And from a distance the quarrelling maidens watched. Artemis, the fair, bending from out the moon and Diana, beauteous huntress of the woods of God, followed the movements of the doe and, when due cause arose, they each deluded Hercules, seeking to foil his efforts. He chased the doe from point to point and each with subtlety deceived him. And this they did, time and again.
Xuyên qua Cổng thứ tư, Hercules xuất hiện, bỏ lại đằng sau rất nhiều món quà đã nhận, không vướng bận gì trong cuộc rượt đuổi nhanh chóng ở phía trước. Và từ đàng xa, hai thiếu nữ đang cãi nhau đứng quan sát. Artemis, nàng tiên nữ, xuống từ mặt trăng, và Diana, nữ thợ săn xinh đẹp trong khu rừng của Chúa, theo dõi chuyển động của con nai cái, và khi có nguyên nhân chính đáng, mỗi người đều đánh lừa Hercules, tìm cách phá hỏng nỗ lực của chàng. Chàng đuổi theo con nai cái từ điểm này sang điểm khác, và mỗi cô gái đều lừa được chàng một cách tinh vi. Và họ đã làm điều này,hết lần này đến lần khác.
Thus for the length of a full year, the son of man who is a son of God followed the doe from place to place, catching swift glimpses of its form, only to find that in the fastness of the deep [79] woods it had been lost. From hill to hill and wood to wood, he hunted it until close to a quiet pool, full-length upon the untrampled grass, he saw it sleeping, wearied with its flight.
Như vậy trong suốt một năm, người con của nhân loại và cũng là người con của Thượng đế đã đuổi theo con nai cái từ nơi này sang nơi khác, thoáng thấy hình dạng của nó, rồi chỉ để thấy rằng nó đã có bị mất hút trong rừng sâu. Từ ngọn đồi này sang ngọn đồi khác, từ khu rừng này sang khu rừng khác, chàng săn lùng nó cho đến khi gần đến một cái hồ yên tĩnh, chàng thấy nó đang ngủ, nằm dài trên bãi cỏ không bị giẫm đạp, mệt mỏi với cuộc chạy trốn của mình.
With quiet step, outstretched hand and steadfast eye, he shot an arrow towards the doe and in its foot he wounded it. Exciting all the will of which he was possessed, he nearer drew and yet the doe moved not. Thus he drew close, and clasped the doe within his arms, close to his heart. And Artemis and fair Diana both looked on.
Với bước đi lặng lẽ, bàn tay dang rộng và đôi mắt kiên định, chàng bắn một mũi tên về phía con nai cái và làm nó bị thương ở chân. Dốc toàn bộ ý chí mà chàng sở hữu, chàng tiến lại gần hơn, nhưng con nai cái vẫn không di chuyển. Vì vậy, chàng đến gần, và siết chặt con nai cái trong vòng tay, gần trái tim chàng. Cả Artemis và Diana xinh đẹp đều đứng nhìn.
“The search is o’er”, he chanted loud. “Into the northern darkness I was led, and found no doe. Into the deep dark woods I fought my way, but found no doe; and over dreary plains and arid wilderness and deserts wild, I struggled towards the doe, yet found it not. At each point reached, the maidens turned my steps, but still I did persist and now the doe is mine! the doe is mine!”
“Cuộc tìm kiếm đã xong,” chàng cất cao tiếng hát. “Ta đã bị dẫn vào bóng tối phương bắc và chẳng tìm thấy con nai. Ta đã chiến đấu mở đường vào những khu rừng tối sâu thẳm, nhưng vẫn không tìm thấy con nai; và băng qua những bình nguyên hoang vu, những miền hoang mạc khô cằn và sa mạc dữ dội, ta đã vật lộn tiến về phía con nai, nhưng vẫn không thấy nó. Ở mỗi điểm ta chạm tới, các trinh nữ lại xoay bước chân ta, thế nhưng ta vẫn kiên trì, và giờ đây con nai đã là của ta! Con nai là của ta!”
“Not so, O Hercules,” came to his ears the voice of one who stands close to the great Presiding One within the Council Chamber of the Lord. “The doe belongs not to a son of man, e’en though a son of God. Carry the doe to yonder distant shrine, where dwell the sons of God and leave it there with them.”
“Hỡi Hercules, không phải vậy,” giọng nói của Vị đứng gần Đấng Chủ toạ vĩ đại trong Phòng Hội đồng của Đấng Chúa Tể đến tai chàng. “Con nai cái không thuộc về người con của nhân loại, mặc dù đó cũng là người con trai của Thượng đế. Hãy mang con nai cái đến ngôi đền xa xôi, nơi các người con của Thượng đế ở, và để nó ở đó với họ.”
“Why so, O Teacher wise? The doe is mine; mine by long search and travel, and mine likewise because I hold the doe close to my heart.”
“Tại sao thế, hỡi Bậc Thầy thông thái? Con nai là của tôi; nó là của tôi vì tôi đã tìm kiếm và du hành lâu dài, và cũng vì tôi ôm con nai cái gần trái tim mình.
“And are you not a son of God, although a son of man? And is the shrine not also your abode? And share you not the life of all who dwell therein? Bear to the shrine of God the sacred doe, and leave it there, O son of God.”
“Thế, chẳng phải ngươi, mặc dù là con của nhân loại, lại không phải là con của Thượng đế hay sao? Và ngôi đền cũng không phải là nơi ở của ngươi sao? Và ngươi chẳng cùng chia sẻ cuộc sống của tất cả những người sống ở đó hay sao? Hãy mang con nai cái linh thiêng đến đền thờ của Chúa, và để nó ở đó, hỡi người con của Thượng đế.”
Then to the holy shrine of Mykenae, Hercules bore the doe, carrying it to the center of the holy place and there he laid it down. And as he laid it down before the Lord, he noted on its [80] foot the wound, made by an arrow from the bow he had possessed and used. The doe was his by right of search. The doe was his by right of skill and the prowess of his arm. “The doe is therefore doubly mine,” he said.
Sau đó đến thánh điện Mykenae, Hercules mang con nai cái đến trung tâm của Thánh điện và đặt nó xuống. Và khi đặt nó xuống trước mặt Chúa, chàng để ý thấy vết thương ở chân [80] của nó do một mũi tên từ cây cung mà chàng đã sở hữu và sử dụng. Con nai cái thuộc về về chàng vì chàng đã tìm kiếm nó. Con nai cái là của chàng nhờ kỹ năng và sức mạnh của cánh tay chàng. “Do đó, con nai cái hai lần là của ta,” chàng nói.
But Artemis, standing within the outer court of that most holy place heard his loud cry of victory and said: “Not so. The doe is mine and always has been mine. I saw its form, reflected in the water; I heard its feet upon the ways of earth; I know the doe is mine, for every form is mine.”
Nhưng Artemis, đang đứng ở sân ngoài của nơi linh thiêng nhất đó, đã nghe thấy tiếng reo mừng chiến thắng của chàng và nói: “Không phải vậy. Con nai cái là của ta và luôn luôn là của ta. Ta nhìn thấy hình dạng của nó, phản chiếu trong nước; Ta nghe tiếng chân của nó trên những con đường của trái đất; Ta biết con nai cái là của ta, vì mọi hình tướng đều là của ta.”
The Sun-God spoke, from out the holy place. “The doe is mine, not yours, O Artemis! Its spirit rests with me from all eternity, here in the center of the holy shrine. You may not enter here, O Artemis, but know I speak the truth. Diana, that fair huntress of the Lord, may enter for a moment and tell you what she sees.”
Thần Mặt Trời cất tiếng từ thánh điện. “Con nai cái là của ta, không phải của ngươi, hỡi nữ thần Artemis! Linh hồn của nó ở với ta từ muôn đời, ở đây, ở trung tâm của ngôi đền thánh. Này Artemis, ngươi không thể vào đây, nhưng hãy biết rằng ta nói sự thật. Diana, người thợ săn xinh đẹp của Đấng Chúa Tể, có thể vào trong một lúc và kể cho ngươi nghe những gì nàng nhìn thấy.”
Into the shrine for one brief moment passed the huntress of the Lord and saw the form of that which was the doe, lying before the altar, seeming dead. And in distress she said: “But if its spirit rests with thee, O great Apollo, noble son of God, then know the doe is dead. The doe is slain by the man who is a son of man, e’en though a son of God. Why may he pass within the shrine and we await the doe out here?”
Người thợ săn của Chúa đi ngang qua đền thờ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi và nhìn thấy hình thể của con nai cái nằm trước bàn thờ, dường như đã chết. Và trong cơn đau khổ, nàng nói: “Nhưng nếu linh hồn của nó yên nghỉ với Ngài, hỡi Thần Apollo vĩ đại, Người Con cao quý của Thượng đế, hãy biết rằng con nai cái đã chết. Con nai cái bị giết bởi một người là người con của nhân loại, mặc dù cũng là người con của Thượng đế. Tại sao y có thể đi vào trong đền thờ và chúng tôi lại chờ đợi con nai cái ở ngoài này?
“Because he bore the doe within his arms, close to his heart, and in the holy place the doe finds rest, and so does man. All men are mine. The doe is likewise mine, not yours, nor man’s but mine.”
“Bởi vì y ôm con nai cái trong vòng tay của y, gần trái tim y, và ở nơi linh thánh, con nai cái được nghỉ ngơi, và con người cũng vậy. Tất cả con người là của ta. Con nai cái cũng là của ta, không phải của các ngươi, cũng không phải của con người mà là của ta.”
And Hercules, returning from the test, passed through the Gate again and found his way, back to the teacher of his life.
Và Hercules, trở về sau đợt thử thách, đi qua Cánh Cổng một lần nữa và tìm đường trở về với Vị thầy Của đời mình.
“I have fulfiled the task, set by the great Presiding One. Simple it was, except for length of time and wariness of search. I listened not to those who made their claim, nor faltered on, the Way. The doe is in the holy place, close to the heart of God [81] and likewise, in the hour of need, close to my heart also.”
“Con đã hoàn thành nhiệm vụ do Đấng Chủ Toạ vĩ đại đặt ra. Công việc đơn giản, ngoại trừ thời gian dài và sự cảnh giác khi tìm kiếm. Con không lắng nghe những người đưa ra tuyên bố của họ, cũng không chùn bước trên Con Đường. Con nai cái ở trong thánh địa, gần với trái tim của Thượng đế, và tương tự như vậy, trong những thời khắc cần thiết, cũng ở gần với trái tim của con.”
“Go look again, O Hercules, my son, between the pillars of the Gate.” And Hercules obeyed. Beyond the Gate, the landscape stretched in contours fair and on the far horizon stood the temple of the Lord, the shrine of the Sun-God, with glistening battlements, whilst on a nearby hill there stood a slender fawn.
“Này Hercules, con trai ta, hãy đi và nhìn lần nữa, giữa những cây cột của Cánh Cổng.” Và Hercules vâng lời. Bên ngoài Cổng, phong cảnh trải dài với những đường nét đẹp đẽ, và ở phía xa chân trời là đền thờ của Đấng Chúa, đền thờ của Thần Mặt trời, với những bức tường thành lấp lánh, trong khi trên một ngọn đồi gần đó có một con nai con mảnh khảnh.
“Did I perform the test, O Teacher wise? The fawn is back upon the hill where I earlier saw it stand.”
“Có phải con đã thực hiện bài kiểm tra rồi không, thưa Đức Thầy minh triết? Con nai đã trở lại ngọn đồi nơi con đã thấy nó đứng trước đó.
And from the Council Chamber of the Lord, where sits the great Presiding One, there came a voice: “Again and yet again must all the sons of men, who are the sons of God, seek for the golden antlered fawn and bear it to the holy place; again and yet again.”
Và từ Phòng Hội đồng của Đấng Chúa Tể, nơi Đấng Chủ tọa vĩ đại đang ngồi, một giọng nói vang lên: “Hết lần này đến lần khác, tất cả các người con của nhân loại và cũng là những người con của Thượng Đế, hãy tìm kiếm con nai con có gạc vàng và mang nó đến thánh địa; hết lần này đến lần khác.”
Then said the Teacher to the son of man who is a son of God: “Labor the fourth is over, and from the nature of the test and from the nature of the doe, frequent must be the search. Forget this not, but ponder on the lesson learnt.”
Sau đó, Vị Huấn Sư nói với người con của Thượng đế: “Kỳ Công thứ tư đã kết thúc, và từ bản chất của bài kiểm tra và từ bản chất của con nai cái, phải thường xuyên tìm kiếm. Đừng quên điều này mà hãy suy ngẫm về bài học kinh nghiệm.”
The Tibetan (Djwhal Khul)
Chân sư Tây Tạng (Djwhal Khul)
Synthesis of the Signs— Tổng hợp các dấu hiệu
Cancer is the last of what we might call the four preparatory signs, whether we are considering the involution of the soul in matter, or the evolution of the aspirant as he struggles out of the human into the spiritual Kingdom. Being equipped with the faculty of mind, in Aries, and with desire, in Taurus, and having arrived at the realization of his essential duality, in Gemini, the incarnating human being enters, through birth in Cancer, into the human kingdom.
Cự Giải là dấu hiệu cuối cùng trong bốn dấu hiệu chuẩn bị, cho dù chúng ta đang xem xét sự biến đổi của linh hồn trong vật chất hay sự tiến hóa của người tìm đạo khi y đấu tranh thoát khỏi giới nhân loại để vào giới tinh thần. Được trang bị khả năng trí tuệ ở Bạch Dương, ham muốn ở Kim Ngưu, và đã đạt được nhận thức về tính hai mặt thiết yếu của mình ở Song Tử, con người tái sinh, thông qua việc sinh ra ở Cự Giải, bước vào giới nhân loại.
Cancer is a mass sign, and the influences which pour from it are held by many esotericists to bring about the formation of the human family, of the race, the nation, and the family unit. Where the aspirant is concerned, the story is somewhat different, for in these four signs, he prepares his equipment and learns to utilize it. In Aries, he grips his mind and seeks to [82] bend it to his need, learning mental control. In Taurus, “the mother of illumination”, he receives his first flash of that spiritual light which will grow increasingly more brilliant as he nears his goal. In Gemini, he not only appreciates the two aspects of his nature, but the immortal aspect begins to increase at the expense of the mortal.
Cự Giải là một dấu hiệu đám đông, và những ảnh hưởng phát ra từ nó được nhiều nhà huyền bí học cho rằng mang lại sự hình thành gia đình nhân loại, chủng tộc, quốc gia và đơn vị gia đình. Đối với người tìm đạo, câu chuyện hơi khác, vì trong bốn dấu hiệu này, y chuẩn bị thiết bị của mình và học cách sử dụng nó. Ở Bạch Dương, y nắm bắt tâm trí của mình và tìm cách [82] uốn nắn nó theo nhu cầu của mình, học cách kiểm soát trí tuệ. Ở Kim Ngưu, “Mẹ của sự khai ngộ”, y nhận được tia sáng tinh thần đầu tiên của mình, vốn ngày sẽ càng rực rỡ hơn khi y đến gần mục tiêu của mình. Ở Song Tử, y không chỉ đánh giá cao hai khía cạnh trong bản chất của mình, mà khía cạnh bất tử bắt đầu tăng lên với cái giá phải trả là khía cạnh hữu tử.
Now, in Cancer, he gets his first touch of that more universal sense which is the higher aspect of the mass consciousness. Equipped, therefore, with a controlled mind, a capacity to register illumination, an ability to contact his immortal aspect and intuitively to recognize the kingdom of spirit, he is ready now for the greater work.
Giờ đây, ở Cự Giải, lần đầu tiên y có cảm giác phổ quát hơn, khía cạnh cao hơn của tâm thức đám đông. Do đó, được trang bị với một thể trí được kiểm soát, có khả năng ghi nhận sự soi sáng, khả năng tiếp xúc với trạng thái bất tử của mình và nhận ra giới tinh thần bằng trực giác, giờ đây y đã sẵn sàng cho công việc vĩ đại hơn.
In the next four signs, which we might regard as the signs of physical plane struggle for achievement, we have portrayed for us the tremendous battle through the medium of which the Self-conscious individual, emerging out of the mass in Cancer, knows himself to be the individual in Leo, the potential Christ in Virgo, the aspirant endeavoring to balance the pairs of opposites in Libra, and the one who overcomes illusion, in Scorpio. These are the four signs of crisis and of stupendous endeavor. In them all the illumination, intuition and soul power of which Hercules, the aspirant, is capable, are utilized to the uttermost. These have their reflection, too, on the involutionary arc, and a similar sequence of unfoldment can be traced. The soul achieves individuality in Leo, becomes the nurturer of ideas and of potential capacities in Virgo, swings violently from one extreme to the other in Libra, and is subjected to the disciplining effect of the world of illusion and form in Scorpio.
Trong bốn dấu hiệu tiếp theo, mà chúng ta có thể coi là các dấu hiệu của cuộc đấu tranh trên cõi trần để đạt được thành tựu, miêu tả cho chúng ta trận chiến vĩ đại thông qua phương tiện của chúng mà Cá nhân Tự ý thức, xuất hiện từ đám đông trong Cự giải, biết mình sẽ hãy là cá nhân trong Sư Tử, Đấng Christ tiềm năng trong Xử Nữ, người chí nguyện nỗ lực cân bằng các cặp đối lập trong Thiên Bình, và là người vượt qua ảo tưởng trong Hổ Cáp. Đây là bốn dấu hiệu của sự khủng hoảng và của nỗ lực phi thường. Trong đó, tất cả sự soi sáng, trực giác và sức mạnh linh hồn mà Hercules, người chí nguyện, có khả năng, đều được sử dụng đến mức tối đa. Những điều này cũng có sự phản ánh của chúng trên cung giáng hạ tiến hóa, và có thể lần ra một trình tự khai mở tương tự. Linh hồn đạt được tính cá nhân ở Sư Tử, trở thành người nuôi dưỡng các ý tưởng và năng lực tiềm tàng ở Xử Nữ, dao động dữ dội từ cực đoan này sang cực đoan khác ở Thiên Bình, và chịu tác động kỷ luật của thế giới ảo tưởng và hình tướng trong Hổ Cáp.
In the final four signs, we have the signs of achievement. The aspirant has worked out of the world of glamor and of form, and in his consciousness is free from their limitations. Now he can be the archer in Sagittarius, going straight for his goal; now he can be the goat in Capricorn, scaling the mount of initiation; now he can be the world worker in Aquarius, and [83] the world savior in Pisces. Thus he can sum up in himself all the gains of the preparatory period and of the fiercely fought battles in the four signs of strenuous activity; and in these four final signs demonstrate the gains achieved and the powers developed.
Trong bốn dấu hiệu cuối cùng, chúng ta có những dấu hiệu của thành tựu. Người tìm đạo đã làm việc ra khỏi thế giới của ảo cảm và của hình tướng, và tâm thức của y đã thoát khỏi những giới hạn của chúng. Bây giờ y có thể là cung thủ trong Nhân Mã, đi thẳng tới mục tiêu của mình; bây giờ y có thể là con dê trong Ma Kết, leo lên đỉnh điểm đạo; bây giờ y có thể là người phụng sự thế giới trong Bảo Bình, và [83] vị cứu thế trong Song Ngư. Như vậy, y có thể tự mình tổng hợp tất cả những thành quả đạt được trong thời kỳ chuẩn bị và của những trận chiến ác liệt trong bốn cung của hoạt động tích cực; và trong bốn dấu hiệu cuối cùng này chứng tỏ những lợi ích đã đạt được và những sức mạnh đã phát triển.
This brief summation of the signs, as they affect Hercules, will serve to give some idea of the wonderful synthesis of the picture, and of the steady progression, and of the controlled unfolding of the various forces which play their subtle parts in bringing about the changes in the life of man.
Sự tổng hợp ngắn gọn này của các dấu hiệu, như chúng ảnh hưởng đến Hercules, sẽ giúp đưa ra một số ý tưởng về sự tổng hợp tuyệt vời của bức tranh, về sự tiến triển đều đặn và về sự bộc lộ có kiểm soát của các mãnh lực khác nhau đóng vai trò tinh tế của chúng trong việc tạo ra những thay đổi trong cuộc sống của con người.
Three words summarize the objective self-awareness or the conscious aspect of the evolving human being: instinct, intellect, intuition. The sign which we are now studying is predominantly the sign of instinct; but the sublimation of instinct is the intuition. In the same way, as matter has to be lifted up into heaven, so instinct has to be likewise lifted up, and when it has been thus transcended and transmuted, it manifests as intuition (symbolized by the doe). The intermediate stage is that of the intellect. The great need of Hercules now is to develop his intuition and to become familiar with that instantaneous recognition of truth and reality which is the high prerogative and potent factor in the life of a liberated son of God.
Ba từ tóm tắt sự tự nhận thức khách quan hay khía cạnh ý thức của con người đang tiến hóa: bản năng, trí tuệ, trực giác. Dấu hiệu mà chúng ta đang nghiên cứu chủ yếu là dấu hiệu của bản năng; nhưng sự thăng hoa của bản năng là trực giác. Cũng vậy, vật chất phải được nâng lên trời cao, thì bản năng cũng phải được nâng lên như vậy, và khi nó đã được siêu việt và chuyển hóa như vậy, nó biểu hiện thành trực giác (tượng trưng là con nai cái). Giai đoạn trung gian là giai đoạn của trí tuệ. Nhu cầu lớn nhất của Hercules bây giờ là phát triển trực giác của mình và làm quen với việc nhận ra ngay lập tức chân lý và thực tại, vốn là yếu tố đặc quyền và mạnh mẽ trong cuộc đời của một người con được giải thoát của Thượng đế.
Meaning of the Story—Ý nghĩa của câu chuyện
Eurystheus, therefore, sent Hercules to capture the golden horned Keryneian doe or hind. The word “hind” comes from an old Gothic word, meaning “that which must be seized”, in other words, that which is elusive and difficult to secure. This doe was sacred to Artemis, the goddess of the moon; but Diana, the huntress of the heavens, the daughter of the sun, also claimed it and there was a quarrel as to ownership. Hercules accepted the charge of Eurystheus and set out to capture the gentle hind. He was a whole year hunting it, going from one forest to another, just catching sight of it and then again losing [84] it. Month after month went by, and he never could catch and hold it. Success at last crowned his efforts and he seized the doe, flung it over his shoulder, “held it close to his heart”, and carried it to the sacred temple at Mykenae, where he laid it down before the altar, in the holy place. Then he stood back, pleased with his success.
Do đó, Eurystheus đã cử Hercules đi bắt con hươi cái Keryneian có sừng vàng. Từ “hind” xuất phát từ một từ Gothic cổ, có nghĩa là “cái phải được nắm giữ”, nói cách khác, thứ khó nắm bắt và khó bảo đảm. Con nai cái này rất linh thiêng đối với Artemis, nữ thần mặt trăng; nhưng Diana, nữ thợ săn của bầu trời, con gái của mặt trời, cũng tuyên bố điều đó và xảy ra tranh cãi về quyền sở hữu. Hercules nhận nhiệm vụ của Eurystheus và lên đường đi bắt con nai hiền lành. Chàng đã săn lùng nó cả năm trời, đi từ khu rừng này sang khu rừng khác, chỉ thoáng thấy nó rồi lại mất [84] nó. Tháng này qua tháng khác, chàng không bao giờ có thể nắm bắt và giữ nó. Nỗ lực của chàng cuối cùng đã đạt được thành công và chàng tóm lấy con nai cái, ném nó lên vai, “ôm nó vào lòng”, và mang nó đến ngôi đền linh thiêng ở Mykenae, nơi chàng đặt nó trước bàn thờ, ở nơi linh thiêng. Rồi anh đứng lùi lại, hài lòng với thành công của mình.
This is one of the shortest of the stories but though we are told very little, this labor, when considered thoughtfully, is one of profound and outstanding interest and the lesson it holds is of deep import. There is no success for the aspirant until he has transmuted instinct into intuition, nor is there right use of the intellect until the intuition is brought into play, interpreting and extending the intellect and bringing realization. Then instinct is subordinated to both. [85]
Đây là một trong những câu chuyện ngắn nhất nhưng mặc dù chúng ta được kể rất ít, nhưng Kỳ công này, khi được suy ngẫm kỹ lưỡng, là một điều thú vị sâu sắc và nổi bật, và bài học mà nó chứa đựng là vô cùng quan trọng. Không có thành công nào cho người tầm đạo cho đến khi anh ta chuyển hóa bản năng thành trực giác, cũng như không có việc sử dụng trí năng một cách đúng đắn cho đến khi trực giác được phát huy tác dụng, giải thích và mở rộng trí năng và mang lại sự chứng ngộ. Khi đó bản năng phụ thuộc vào cả hai. [85]
LABOR IV
The Capture of the Doe or Hind—Part 2
(Cancer, June 21st—July 21st)
Qualities of the Sign— Các Phẩm chất của dấu hiệu
Cancer is called the Crab and the Greeks tell us that it was the crab that was sent by Hera to bite the foot of Hercules. (Again we meet this symbol in the vulnerable “heel of Achilles”.) This is an interesting way of expressing the liabilities of the incarnation process and of illustrating the handicaps which beset the soul as it travels along the path of evolution. It symbolizes the limitations of all physical incarnation, for Cancer is one of the two great gates of the zodiac. It is the gate into the world of forms, into physical incarnation, and the sign wherein the duality of form and of soul is unified in the physical body.
Cự Giải được gọi là Con cua và người Hy Lạp nói với chúng ta rằng đó là con cua được Hera gửi đến để cắn vào chân Hercules. (Một lần nữa chúng ta gặp biểu tượng này trong “gót chân Achilles” dễ bị tổn thương.) Đây là một cách thú vị để diễn tả những trách nhiệm của tiến trình luân hồi và minh họa những khuyết tật bủa vây linh hồn khi nó di chuyển dọc theo con đường tiến hóa. Nó tượng trưng cho những hạn chế của tất cả các kiếp sống ở cõi trần, vì Cự Giải là một trong hai cánh cổng lớn của cung hoàng đạo. Nó là cánh cổng đi vào thế giới của các hình tướng, đi vào hoá thân vật chất, và là dấu hiệu trong đó tính hai mặt của hình hài và linh hồn được thống nhất trong thể xác.
The opposite sign to Cancer is Capricorn, and these two constitute the two gates, one being the gate into form life, and the other into spiritual life; one opening the door into the mass form of the human family, and the other into the universal state of consciousness, which is the Kingdom of spirit. One marks the beginning of human experience on the physical plane, the other marks its climax. One signifies potentiality, and the other consummation.
Dấu hiệu đối lập với Cự Giải là Ma Kết, và hai cung này tạo thành hai cánh cổng, một là cánh cổng dẫn vào đời sống vật chất và cánh cổng còn lại dẫn vào đời sống tinh thần; một cánh cửa mở ra hình thức đám đông của gia đình nhân loại, và cánh cửa kia vào trạng thái tâm thức phổ quát, đó là giới tinh thần. Một đánh dấu sự bắt đầu trải nghiệm của con người trên cõi trần, cái kia đánh dấu đỉnh cao của nó. Một biểu thị tiềm năng, và cái kia biểu thị sự viên mãn.
We are told that Christ gave to Saint Peter the keys of heaven and earth; He gave to him, therefore, the keys of these two gates. We read:
Chúng ta được biết rằng Đức Christ đã trao cho Thánh Peter chìa khóa của trời và đất; Do đó, Ngài đã trao cho ông chìa khóa của hai cánh cổng này. Chúng ta đọc như sau:
“Jesus gives to Peter... the keys to the two principal gates of the zodiac, which are the two solsticial points, the zodiacal signs Cancer and Capricorn, called the gates of the sun. Through Cancer, or the ‘gate of man’, the soul descends upon earth (to unite with the body), which is its spiritual death. Through Capricorn, the ‘gate [86] of the gods’, it reascends to heaven.” (E. Valentia Straiton, The Celestial Ship of the North Vol. II, p. 206).
“Chúa Giê-su trao cho Phi-e-rơ... chìa khóa của hai cánh cổng chính của vòng hoàng đạo, đó là hai điểm chí, các cung hoàng đạo Cự Giải và Ma Kết, được gọi là cổng mặt trời. Thông qua Cancer, hay 'cánh cổng của con người', linh hồn xuống trái đất (để hợp nhất với thể xác), đó là cái chết tâm linh của nó. Thông qua Ma Kết, 'cánh cổng [86] của các vị thần', nó bay lên thiên đàng.” (E. Valentia Straiton, The Con tàu thiên thể của phương Bắc Vol. II, tr. 206).
In the zodiac of Denderah, the sign Cancer is represented by a beetle, called in Egypt, the scarab. The word “scarab” means “only begotten”; it stands, therefore, for birth into incarnation, or, in relation to the aspirant, for the new birth. The month of June, in ancient Egypt was called “meore”, which again means rebirth”, and thus both the sign and the name hold steadily before us the thought of the taking of form and of coming in physical incarnation. In an ancient zodiac in India, dated about 400 B.C., the sign is represented again by a beetle.
Trong vòng hoàng đạo Denderah, dấu hiệu Cự Giải được đại diện bởi một con bọ cánh cứng, được gọi ở Ai Cập là con bọ hung (scarab). Từ "con bọ hung" có nghĩa là "chỉ được sinh ra"; do đó, nó đại diện cho sự tái sinh vào trần gian, hoặc, liên quan đến người tìm đạo, tượng trưng cho sự sinh mới. Ở Ai Cập cổ đại, tháng Sáu, được gọi là “meore”, một lần nữa có nghĩa là tái sinh, và do đó, cả dấu hiệu và tên gọi đều giữ vững trước mắt chúng ta ý nghĩ về sự hình thành và tái sinh trong thể xác. Trong vòng hoàng đạo cổ đại ở Ấn Độ, có niên đại khoảng 400 năm trước Công nguyên, dấu hiệu này lại được đại diện bởi một con bọ cánh cứng (beetle).
The Chinese called this sign “the red bird”, for red is the symbol of desire, and the bird is the symbol of that flashing forth into incarnation and of appearance in time and space. The bird appears quite frequently in the zodiac and mythological stories, Hamsa, the bird of the Hindu tradition, “the bird out of time and space”, stands equally for the manifestation of God and of man. Out of the darkness flashes the bird and flies across the horizon in the light of the day, disappearing again into the darkness. Our word, “goose”, comes from the same Sanskrit root, through the Icelandic, and when we say, “What a goose you are”, we are really making a most esoteric affirmation; we are saying to another human being: “You are, the bird out of time and space, you are the soul taking form; you are God in incarnation!”
Người Trung Quốc gọi dấu hiệu này là “con chim đỏ”, vì màu đỏ là biểu tượng của dục vọng, và con chim là biểu tượng của sự hóa thân và xuất hiện trong thời gian và không gian. Là loài chim xuất hiện khá thường xuyên trong các câu chuyện thần thoại và vòng hoàng đạo, Hamsa, loài chim trong truyền thống Ấn Độ giáo, “con chim vượt thời gian và không gian”, tượng trưng cho sự biểu hiện của Thượng đế và con người. Từ trong bóng tối, con chim vụt bay lên và bay qua đường chân trời trong ánh sáng ban ngày, rồi lại biến mất vào bóng tối. Từ "ngỗng" (goose) của chúng ta bắt nguồn từ cùng một gốc tiếng Phạn, thông qua tiếng Iceland, và khi chúng ta nói, "Bạn thật như một con ngỗng", chúng ta thực sự đang đưa ra một lời khẳng định bí truyền nhất; chúng ta đang nói với một con người khác: “Bạn là con chim vượt thời gian và không gian, bạn là linh hồn đang hình thành; bạn là Thượng đế đang lâm phàm!
The crab lives half on the earth, and half in the water. It the sign, therefore, of the soul dwelling in the physical body but predominantly living in the water, which is the symbol of the emotional, feeling nature.
Con cua sống một nửa trên mặt đất và một nửa trong nước. Do đó, nó là dấu hiệu của linh hồn trú ngụ trong cơ thể vật chất nhưng chủ yếu sống trong nước, là biểu tượng của bản chất tình cảm, cảm xúc.
Exoterically Cancer is ruled by the moon, which is always the mother of form, controlling the waters and the tides. Therefore, in this sign the form is dominant, and constitutes a handicap. The crab builds its house or shell and carries it upon its back, and people born in this sign are always conscious of that which they have built; they are usually over-sensitive, [87] over-emotional, ever seeking to hide away. The Cancer native is so sensitive that he is difficult to handle and so elusive and sometimes so indefinite, that it is hard to understand him or to pin him down.
Về mặt phổ truyền, Cự Giải được cai quản bởi mặt trăng, vốn luôn là mẹ của hình tướng, điều khiển nước và thủy triều. Do đó, trong dấu hiệu này, hình tướng chiếm ưu thế và tạo thành một trở ngại. Con cua xây dựng ngôi nhà hoặc cái vỏ của nó, và mang nó trên lưng, và những người sinh ra trong dấu hiệu này luôn ý thức về những gì họ đã xây dựng; họ thường quá nhạy cảm, [87] quá xúc động, luôn tìm cách trốn tránh. Người thuộc dấu hiệu Cự Giải nhạy cảm đến mức khó đối phó, khó nắm bắt và đôi khi vô định đến mức khó có thể hiểu hay giữ được anh ta.