HOW WE REMEMBER OUR PAST LIVES
CÁCH CHÚNG TA NHỚ LẠI TIỀN KIẾP
By
Jinarasadasa
HOW WE REMEMBER OUR PAST LIVES—CÁCH CHÚNG TA NHỚ LẠI TIỀN KIẾP
|
Among the many ideas which have lightened the burden of men, one of the most serviceable has been that of Reincarnation. It not only explains why one man is born in the lap of luxury and another in poverty, why one is a genius and another an idiot, but it also holds out the hope that, as men now reap what they have sown in the past, so in future lives the poor and wretched of today shall have what they lack, if so they work for it, and that the idiot may, life after life, build up mentality which in far-off days may flower as genius. |
Trong số nhiều ý tưởng vốn đã làm nhẹ gánh nặng của con người, một trong những ý tưởng hữu ích nhất là Luân hồi. Nó không chỉ giải thích tại sao một người sinh ra trong nhung lụa và một người khác trong nghèo khó, tại sao một người là thiên tài và một người khác là kẻ ngốc, mà nó còn mang lại hy vọng rằng, khi con người gặt hái những gì y đã gieo trong quá khứ, thì trong những kiếp sống tương lai, những người nghèo khổ và khốn khổ của ngày hôm nay sẽ có những gì y còn thiếu, nếu y làm việc vì điều đó, và kẻ ngốc có thể, hết kiếp này đến kiếp khác, xây dựng tâm trí vốn trong những ngày xa xôi có thể nở rộ thành thiên tài. |
|
When the idea of reincarnation is heard of for the first time, the student naturally supposes that it is a Hindu doctrine, for it is known to be a fundamental part of both Hinduism and Buddhism. But the strange fact is that reincarnation is found everywhere as a belief, and its origin cannot be traced to Indian sources. We hear of it in far-off Australia (See The Northern Tribes of Central Australia, by Baldwin Spencer & F.G. Gillen, 1904, page 175, et seq.) and there is a story on record of an Australian aborigine who went cheerfully to the gallows, and replied on being questioned as to his levity: “Tumble down black-fellow, jump up white fellow, and have lots of sixpences to spend!” It was taught by the Druids of ancient Gaul, and Julius Caesar tells us how young Gauls were taught reincarnation, and that as a consequence they had no fear of death. Greek philosophers knew of it; we have Pythagoras telling his pupils that in his past lives he had been a warrior at the siege of Troy, and later was the philosopher Hermotimus of Galzomenae. It is not utterly unknown to Christian teaching, if we take the simple statement of Christ, when questioned whether John the Baptist was Elijah or Elias reborn: “If ye will receive it, this is Elias which was for to come,” and He follows up the statement with the significant words: “He that hath ears to hear, let him hear.” In later Jewish tradition, the idea is known, and the Talmud mentions several cases of reincarnation. |
Khi ý tưởng về luân hồi được nghe lần đầu tiên, người học viên đương nhiên cho rằng đó là một học thuyết của Ấn Độ giáo, vì nó được biết đến như một phần cơ bản của cả Ấn Độ giáo và Phật giáo. Nhưng sự thật kỳ lạ là luân hồi được tìm thấy ở khắp mọi nơi như một niềm tin, và nguồn gốc của nó không thể bắt nguồn từ các nguồn của Ấn Độ. Chúng ta nghe nói về nó ở tận nước Úc xa xôi (Xem Các Bộ Lạc Phía Bắc của Miền Trung Úc, của Baldwin Spencer & F.G. Gillen, 1904, trang 175, và tiếp theo) và có một câu chuyện ghi lại về một thổ dân Úc vui vẻ lên giá treo cổ, và trả lời khi được hỏi về sự phù phiếm của y: “Người da đen ngã xuống, người da trắng nhảy lên, và có rất nhiều đồng sáu xu để tiêu!” Nó đã được giảng dạy bởi các Druid của xứ Gaul cổ đại, và Julius Caesar kể cho chúng ta nghe về việc những người Gaul trẻ tuổi đã được dạy về luân hồi như thế nào, và kết quả là y không hề sợ chết. Các triết gia Hy Lạp đã biết về nó; chúng ta có Pythagoras kể cho các môn đệ của Ông rằng trong những kiếp sống trước đây, Ông đã từng là một chiến binh trong cuộc bao vây thành Troy, và sau đó là nhà triết học Hermotimus của Galzomenae. Nó không hoàn toàn xa lạ với giáo lý Cơ đốc giáo, nếu chúng ta lấy lời tuyên bố đơn giản của Đức Christ, khi được hỏi liệu John the Baptist có phải là Elijah hay Elias tái sinh hay không: “Nếu các ngươi bằng lòng nhận lấy, thì đây là Ê-li vốn phải đến”, và Ngài tiếp tục tuyên bố bằng những lời lẽ đầy ý nghĩa: “Ai có tai để nghe, hãy nghe.” Trong truyền thống Do Thái sau này, ý tưởng này được biết đến, và Talmud đề cập đến một số trường hợp luân hồi. |
|
There are many to whom reincarnation appeals forcibly, and Schopenhauer does but little exaggerate when he says: “I have also remarked that it is at once obvious to everyone who hears of it for the first time”. Some believe in the idea immediately; it comes to them like a flash of light in thick darkness, and the problem of life is clearly seen with reincarnation as the solution. Others there are who grow into belief, as each doubt is solved and each question answered |
Có rất nhiều người mà luân hồi hấp dẫn một cách mạnh mẽ, và Schopenhauer đã không hề phóng đại khi Ông nói: “Tôi cũng nhận thấy rằng nó hiển nhiên ngay lập tức đối với bất kỳ ai nghe nói về nó lần đầu tiên”. Một số người tin vào ý tưởng này ngay lập tức; nó đến với y như một tia sáng trong bóng tối dày đặc, và vấn đề của cuộc sống được nhìn thấy rõ ràng với luân hồi như một giải pháp. Những người khác thì dần dần tin tưởng, khi mỗi nghi ngờ được giải quyết và mỗi câu hỏi được trả lời |
|
There is one, and only one, objection which can logically be brought against reincarnation, if correctly understood as Theosophy teaches it. It lies in the question: “If, as you say, I have lived on earth in other bodies, why don’t I remember the past?” |
Có một, và chỉ một, phản đối vốn có thể được đưa ra một cách hợp lý chống lại luân hồi, nếu được hiểu một cách chính xác như Thông Thiên Học dạy. Nó nằm ở câu hỏi: “Nếu, như Ông nói, tôi đã sống trên trái đất trong những thể khác, tại sao tôi không nhớ về quá khứ?” |
|
Now if reincarnation is a fact in Nature, there surely will be enough other facts which will point to its existence. No one fact in Nature stands isolated, and it is possible in divers ways to discover that fact. Similarly it is with reincarnation; there are indeed enough facts of a psychological kind to prove to a thinker that reincarnation must be a fact of Nature and not a theory. |
Giờ đây, nếu luân hồi là một sự thật trong Tự Nhiên, thì chắc chắn sẽ có đủ những sự thật khác vốn sẽ chỉ ra sự tồn tại của nó. Không một sự thật nào trong Tự Nhiên đứng biệt lập, và có thể khám phá ra sự thật đó bằng nhiều cách khác nhau. Tương tự như vậy, với luân hồi; quả thực có đủ những sự thật thuộc loại tâm lý để chứng minh cho một nhà tư tưởng rằng luân hồi phải là một sự thật của Tự Nhiên chứ không phải là một lý thuyết. |
|
In answering the question why we do not remember our past lives, surely the first necessary point is to ask ourselves what we mean by “memory”. If we have some clear ideas as to the mechanism of memory, perhaps we may be able to understand why we do not (or do) “remember” our past days or lives. Now, briefly speaking, what we usually mean by memory is a summing up. If I remember today the incidents of my cutting my finger yesterday, there will be two elements in my memory: first the series of events which went to produce the pain—the misadventure in handling the knife, the cut, the bleeding, the sensorial reaction in the brain, the gesture and so on; and second, the sense of pain. As days pass, the causes of the pain recede into the periphery of consciousness, while the effects, as pain, still hold the centre. Presently, we shall find that even the memory of the pain itself recedes into the background, leaving behind with us not a direct memory as an event, but an indirect memory as a tendency—a tendency to be careful in the handling of all cutting implements. This process is continually taking place; the cause is forgotten (though recoverable under hypnosis from the subconscious mind), while the effect, transmuted into tendency, remains. |
Để trả lời câu hỏi tại sao chúng ta không nhớ được các kiếp sống trước đây, chắc chắn điểm cần thiết đầu tiên là tự hỏi bản thân chúng ta muốn nói gì khi dùng từ “ký ức”. Nếu chúng ta có một số ý tưởng rõ ràng về cơ chế của ký ức, có lẽ chúng ta có thể hiểu tại sao chúng ta không (hoặc có) “nhớ” những ngày hoặc kiếp sống đã qua. Giờ đây, nói một cách ngắn gọn, những gì chúng ta thường muốn nói đến khi dùng từ ký ức là một sự tóm lược. Nếu hôm nay tôi nhớ lại những sự việc về việc tôi bị đứt tay ngày hôm qua, thì sẽ có hai yếu tố trong ký ức của tôi: thứ nhất là chuỗi các sự kiện đã tạo ra cơn đau—sự rủi ro khi cầm dao, vết cắt, chảy máu, phản ứng giác quan trong não, cử chỉ, v.v.; và thứ hai, cảm giác đau đớn. Khi ngày tháng trôi qua, những nguyên nhân gây ra cơn đau lùi dần vào vùng ngoại vi của tâm thức, trong khi những ảnh hưởng, như cơn đau, vẫn giữ vị trí trung tâm. Hiện tại, chúng ta sẽ thấy rằng ngay cả ký ức về cơn đau cũng lùi vào dĩ vãng, để lại cho chúng ta không phải là một ký ức trực tiếp như một sự kiện, mà là một ký ức gián tiếp như một khuynh hướng—một khuynh hướng cẩn thận khi xử lý tất cả các dụng cụ cắt. Quá trình này liên tục diễn ra; nguyên nhân bị lãng quên (mặc dù có thể phục hồi dưới thôi miên từ tiềm thức), trong khi hiệu ứng, được chuyển hoá thành khuynh hướng, vẫn còn. |
|
It is here that we are specially aided by the brain. We are apt to think of the brain as a recorder of memory, without realizing that one of its most useful functions is to wipe out memories. The brain plays the dual function of remembering and forgetting. But for our ability to forget, life would be impossible. If each time we tried to move a limb, we were to remember all our infantile efforts at movement, with the hesitation and doubt and perhaps even pain involved, our consciousness would be so overwhelmed by memories that the necessary movement of the limb would certainly be delayed, or not made at all. Similarly, it is with every function now performed automatically, which was once consciously acquired; it is because we do forget the process of acquiring, that we can utilize the faculty resulting therefrom. |
Chính tại đây mà chúng ta được bộ não hỗ trợ đặc biệt. Chúng ta có khuynh hướng nghĩ về bộ não như một máy ghi ký ức, mà không nhận ra rằng một trong những chức năng hữu ích nhất của nó là xóa bỏ ký ức. Bộ não đóng vai trò kép là ghi nhớ và lãng quên. Nếu không có khả năng quên, cuộc sống sẽ không thể thực hiện được. Nếu mỗi khi chúng ta cố gắng cử động một chi, chúng ta nhớ lại tất cả những nỗ lực thời thơ ấu của chúng ta khi cử động, với sự do dự và nghi ngờ và thậm chí có thể là cả đau đớn liên quan, thì tâm thức của chúng ta sẽ bị choáng ngợp bởi những ký ức đến mức sự cử động cần thiết của chi chắc chắn sẽ bị trì hoãn, hoặc hoàn toàn không thực hiện được. Tương tự, nó cũng giống như mọi chức năng hiện đang được thực hiện một cách tự động, vốn đã từng được lĩnh hội một cách có ý thức; chính vì chúng ta quên đi quá trình lĩnh hội, mà chúng ta có thể sử dụng khả năng có được từ đó. |
|
This is what is continuously taking place in consciousness with each one of us. There is a process of exchange, similar to copper coins of one denomination being changed to silver coins of smaller bulk representing them, then into gold coins of smaller weight still, and later bank notes representing their value, and last of all to a piece of paper, a cheque, whose intrinsic worth is nil. Yet we have but to write our signature on the cheque, to put into operation the whole medium of exchange. It is a similar process which takes place with all our memories of sensations, feelings and thoughts. These are severally grouped into categories, and transmuted into likes and dislikes, and finally into talents and faculties. |
Đây là những gì liên tục diễn ra trong tâm thức với mỗi người chúng ta. Có một quá trình trao đổi, tương tự như những đồng xu bằng đồng có cùng mệnh giá được đổi thành những đồng xu bạc có số lượng nhỏ hơn đại diện cho chúng, sau đó thành những đồng xu vàng có trọng lượng nhỏ hơn nữa, và sau đó là tiền giấy đại diện cho giá trị của chúng, và cuối cùng là một tờ giấy, một tấm séc, có giá trị nội tại bằng không. Tuy nhiên, chúng ta chỉ cần viết chữ ký của mình lên tấm séc, để đưa vào vận hành toàn bộ phương tiện trao đổi. Đó là một quá trình tương tự diễn ra với tất cả những ký ức của chúng ta về cảm giác, cảm xúc và tư tưởng. Chúng được nhóm riêng lẻ thành các phạm trù, và được chuyển hoá thành thích và không thích, và cuối cùng thành tài năng và năng lực. |
|
Now we know that as we manifest a like or dislike, or exhibit any capacity, we are remembering our past, though we cannot remember one by one in detail the memories which contributed to originate the emotions or faculty. As I write these words in English on this page, I must be remembering the first time I saw each word in a reading book, and looked up its meaning in a dictionary as I prepared my home lessons; but it is a kind of transmuted memory. Nevertheless, I do remember, and but for those memories being somewhere in my consciousness (whether in touch with some brain cells or not is not now the point) I should not be able to think of the right word to express my thought, nor shape it on this paper so that the printer will recognize the letters to set them up in print. Furthermore, we know as a fact that we do forget these causative memories one by one; it would be foolish if, as I write a particular word, I were to try to call up the memory of the first time I saw it. The brain is a recording instrument of such a kind that, though it registers, it does not obey consciousness when it desires to unroll the record, except in certain abnormal cases. The desire to remember is not necessarily followed by remembrance, and we have to take this fact as it is. |
Giờ đây, chúng ta biết rằng khi chúng ta biểu lộ sự thích hay không thích, hoặc thể hiện bất kỳ năng lực nào, chúng ta đang nhớ lại quá khứ của mình, mặc dù chúng ta không thể nhớ từng chi tiết những ký ức vốn góp phần tạo ra cảm xúc hoặc khả năng đó. Khi tôi viết những dòng chữ này bằng tiếng Anh trên trang giấy này, tôi hẳn phải nhớ lần đầu tiên tôi nhìn thấy mỗi từ trong một cuốn sách tập đọc, và tra nghĩa của nó trong từ điển khi tôi chuẩn bị bài học ở nhà; nhưng đó là một loại ký ức đã được chuyển hóa. Tuy nhiên, tôi vẫn nhớ, và nếu không có những ký ức đó ở đâu đó trong tâm thức của tôi (cho dù có liên hệ với một số tế bào não hay không thì không phải là vấn đề bây giờ) thì tôi sẽ không thể nghĩ ra từ đúng để diễn đạt suy nghĩ của mình, cũng như định hình nó trên tờ giấy này để người thợ in sẽ nhận ra các chữ cái để sắp chữ in. Hơn nữa, chúng ta biết một thực tế là chúng ta quên đi những ký ức nhân quả này từng cái một; thật ngớ ngẩn nếu, khi tôi viết một từ cụ thể, tôi lại cố gắng gợi lại ký ức về lần đầu tiên tôi nhìn thấy nó. Bộ não là một công cụ ghi lại thuộc loại như vậy, mặc dù nó ghi lại, nhưng nó không tuân theo tâm thức khi nó muốn mở lại bản ghi, ngoại trừ một số trường hợp bất thường. Mong muốn nhớ lại không nhất thiết phải đi kèm với sự hồi tưởng, và chúng ta phải chấp nhận thực tế này như nó vốn là. |
|
Here it is that Bergson has very luminously pointed out that “we think with only a small part of the past; but it is with our entire past, including the original bent of our soul, that we desire, will, and act.” Clearly then it would be useless to try to remember our past lives by the mere exercise of the mind; though thought can remember something of the past, it is only a fraction of the whole. But on the other hand, let us but feel or act, and then at once our feeling or action is the resultant of all the forces, of the past which have converged on our individuality. If, therefore, we are to trace the memories of our past lives in our present normal consciousness, we must note how we feel and act, expecting to recover little of such memories in a mere mental effort to remember. |
Ở đây, Bergson đã chỉ ra một cách rất sáng suốt rằng “chúng ta suy nghĩ chỉ với một phần nhỏ của quá khứ; nhưng chính với toàn bộ quá khứ của chúng ta, bao gồm cả khuynh hướng ban đầu của linh hồn, mà chúng ta khao khát, mong muốn và hành động”. Rõ ràng là vô ích khi cố gắng nhớ lại những kiếp sống quá khứ của chúng ta chỉ bằng cách vận dụng trí óc; mặc dù tư tưởng có thể nhớ lại một điều gì đó về quá khứ, nhưng nó chỉ là một phần nhỏ của toàn bộ. Nhưng mặt khác, chúng ta hãy cảm nhận hoặc hành động, và ngay lập tức cảm xúc hoặc hành động của chúng ta là kết quả của tất cả các lực, của quá khứ đã hội tụ vào cá tính của chúng ta. Vì vậy, nếu chúng ta muốn truy tìm những ký ức về những kiếp sống quá khứ của mình trong tâm thức bình thường hiện tại, chúng ta phải lưu ý cách chúng ta cảm nhận và hành động, mong đợi thu hồi được rất ít những ký ức đó chỉ bằng một nỗ lực trí tuệ đơn thuần để nhớ lại. |
|
Every feeling and act, then, can be slowly traced to its component parts of impressions from without and reactions from within. So much is this the case with each one of us, that we can construct for ourselves what has been another’s past, as we watch that other feel and act, provided he does both in an average fashion. But if he manifests a mode that is not the average mode of thought or feeling, then he becomes incomprehensible to us and needs explanation. Since, then, the average feelings and actions can be readily explained as the result of average experiences, unusual feeling and actions must be explained as having an unusual causation. If the present writer were to deliver a lecture in English in India, where so many can speak English, each of his listeners would take for granted that he had been to school and college, without perhaps enquiring further when and where. But were he, instead of speaking English, to speak Italian, than at once each listener would be curious to know how and when that faculty of speaking Italian had been grown. Furthermore, if an Italian were present in the audience, then judging from the speaker’s phrasing and intonation, he would know that the speaker must have lived in Italy, or must have spent a considerable time among Italians. Wherever there is any manifestation of feeling or action—as indeed, too, of some expressions of thought—which has something of the quality of the expert, then we must postulate for that faculty a slow growth through experiences, which are the result of experiments along that particular line. |
Mọi cảm xúc và hành động, sau đó, có thể được truy tìm chậm rãi đến các thành phần của nó là những ấn tượng từ bên ngoài và những phản ứng từ bên trong. Điều này rất đúng với mỗi chúng ta, đến nỗi chúng ta có thể xây dựng cho mình quá khứ của một người khác, khi chúng ta quan sát người đó cảm nhận và hành động, miễn là y làm cả hai một cách bình thường. Nhưng nếu y biểu lộ một phương thức không phải là phương thức tư duy hoặc cảm xúc trung bình, thì y trở nên khó hiểu đối với chúng ta và cần được giải thích. Vì vậy, vì những cảm xúc và hành động trung bình có thể dễ dàng được giải thích là kết quả của những trải nghiệm trung bình, nên những cảm xúc và hành động khác thường phải được giải thích là có một nguyên nhân khác thường. Nếu người viết hiện tại thuyết trình bằng tiếng Anh ở Ấn Độ, nơi có rất nhiều người có thể nói tiếng Anh, thì mỗi người nghe của y sẽ mặc nhiên cho rằng y đã từng đi học và học đại học, mà có lẽ không cần hỏi thêm khi nào và ở đâu. Nhưng nếu y, thay vì nói tiếng Anh, lại nói tiếng Ý, thì ngay lập tức mỗi người nghe sẽ tò mò muốn biết khả năng nói tiếng Ý đó đã phát triển như thế nào và khi nào. Hơn nữa, nếu một người Ý có mặt trong khán giả, thì đánh giá từ cách diễn đạt và ngữ điệu của người nói, y sẽ biết rằng người nói hẳn đã sống ở Ý, hoặc hẳn đã dành một thời gian đáng kể ở giữa những người Ý. Bất cứ nơi nào có bất kỳ biểu hiện nào của cảm xúc hoặc hành động—và thực tế, cả một số biểu hiện của tư tưởng—vốn có một chút phẩm chất của chuyên gia, thì chúng ta phải giả định cho khả năng đó một sự phát triển chậm chạp thông qua những kinh nghiệm, vốn là kết quả của những thử nghiệm dọc theo dòng cụ thể đó. |
|
Now each one of us has many qualities of an average kind, as also a few of an expert kind. The former we can account for by experiences common to all. Let us examine some of the latter, and see if we can account for them on any other hypothesis than that of reincarnation. |
Giờ đây, mỗi chúng ta có nhiều phẩm chất thuộc loại trung bình, cũng như một vài phẩm chất thuộc loại chuyên gia. Cái trước chúng ta có thể giải thích bằng những kinh nghiệm chung cho tất cả. Chúng ta hãy xem xét một số cái sau, và xem liệu chúng ta có thể giải thích chúng dựa trên bất kỳ giả thuyết nào khác ngoài giả thuyết về luân hồi hay không. |
|
Now one of the principal things which characterizes men is their likes and dislikes. Sometimes these might be called rational, that is, they are such likes and dislikes as an average individual of a particular type might be said normally to possess at his stage in evolution. We can account for these normal likes and dislikes, because they are such as we ourselves manifest under similar conditions. But suppose we take the case of an extraordinary liking, such as is termed “love at first sight.” Two people meet in the seeming fortuitous concourse of human events, sometimes, it may be, coming from the ends of the earth. They know nothing of each other, and yet ensues the curious phenomenon that as a matter of fact the do know a great deal of each other. Life would be a happy thing if we could go out with deep affection to all whom we meet; but we know we cannot, for it is not in our nature. Why then should it be in our nature to “fall in love” with a particular individual? Why should we be ready to sacrifice all for this person whom, in this life at least, we have met but a few times? How is it that we seem to know the inner workings of his heart and brain from the little which he reveals at our conventional intercourse at the beginning? “ Falling in love” is indeed a mysterious psychological phenomenon, but the process is far better described as being dragged into love, since the individual is forced to obey and may not refrain. |
Giờ đây, một trong những điều chính yếu để nhận biết con người là những điều họ thích và không thích. Đôi khi, những điều này có thể được gọi là hợp lý, nghĩa là, chúng là những điều thích và không thích mà một cá nhân trung bình của một loại hình cụ thể có thể được cho là sở hữu một cách bình thường ở giai đoạn tiến hóa của y. Chúng ta có thể giải thích cho những điều thích và không thích bình thường này, bởi vì chúng là những điều mà chính chúng ta biểu lộ trong những điều kiện tương tự. Nhưng giả sử chúng ta lấy trường hợp một sự yêu thích phi thường, như được gọi là “yêu từ cái nhìn đầu tiên”. Hai người gặp nhau trong sự hội tụ dường như ngẫu nhiên của các sự kiện nhân sinh, đôi khi, có thể, đến từ tận cùng trái đất. Họ không biết gì về nhau, và tuy nhiên, xảy ra một hiện tượng kỳ lạ là trên thực tế, họ biết rất nhiều về nhau. Cuộc sống sẽ là một điều hạnh phúc nếu chúng ta có thể đi ra ngoài với tình cảm sâu sắc với tất cả những người chúng ta gặp; nhưng chúng ta biết chúng ta không thể, vì điều đó không nằm trong bản chất của chúng ta. Vậy tại sao lại nằm trong bản chất của chúng ta để “phải lòng” một cá nhân cụ thể? Tại sao chúng ta sẵn sàng hy sinh tất cả cho người này, người mà, ít nhất là trong cuộc đời này, chúng ta chỉ mới gặp một vài lần? Làm thế nào mà chúng ta dường như biết được những hoạt động bên trong trái tim và bộ não của y từ những điều nhỏ nhặt mà y tiết lộ trong cuộc giao tiếp thông thường của chúng ta khi bắt đầu? “Phải lòng” thực sự là một hiện tượng tâm lý bí ẩn, nhưng quá trình này được mô tả tốt hơn nhiều là bị lôi kéo vào tình yêu, vì cá nhân bị buộc phải tuân theo và không thể kiềm chế. |
|
Now there are two logical explanations possible: one is the ribald one of the scoffer, that it is some form of hysteria or incipient insanity, due it may be to “complexes”; the other is that, in this profound going forth of one individual as an expert in feeling towards another, we have not at first meeting but the last of many, many meetings which took place in past lives. Where or when were these meetings is of little consequence to the lovers; indeed Rudyard Kipling has suggested in his “Finest Story in the World” that it is only in order that we might not miss the delicious sensation of falling in love with our beloved, that the kindly Gods have made us drink of the river of forgetfulness before we returned to life on earth again. The principal thing to note, in this emotional mood of being in love, is that the friendship is not as one that begins, but as one that is continued; and in that psychological attitude of the two lovers we have the remembrance of past lives, when they met and loved and sacrificed for each other. |
Giờ đây, có hai lời giải thích hợp lý có thể xảy ra: một là lời giải thích tục tĩu của kẻ chế giễu, rằng đó là một dạng cuồng loạn hoặc mất trí khởi phát, có thể là do “mặc cảm”; lời giải thích còn lại là, trong sự đi ra sâu sắc của một cá nhân như một chuyên gia về cảm xúc đối với một người khác, chúng ta không có cuộc gặp gỡ đầu tiên mà là cuộc gặp gỡ cuối cùng trong số rất nhiều cuộc gặp gỡ đã diễn ra trong những kiếp sống trước đây. Những cuộc gặp gỡ này ở đâu và khi nào không quan trọng đối với những người yêu nhau; quả thực, Rudyard Kipling đã gợi ý trong “Câu chuyện hay nhất trên thế giới” của Ông rằng chỉ để chúng ta không bỏ lỡ cảm giác thú vị khi yêu người yêu của mình, mà Các Thượng đế nhân từ đã khiến chúng ta uống nước sông lãng quên trước khi chúng ta trở lại cuộc sống trên Trái Đất một lần nữa. Điều chính yếu cần lưu ý, trong tâm trạng cảm xúc đang yêu này, là tình bạn không phải là một tình bạn bắt đầu, mà là một tình bạn được tiếp tục; và trong thái độ tâm lý đó của hai người yêu nhau, chúng ta có ký ức về những kiếp sống trước đây, khi họ gặp gỡ và yêu thương và hy sinh cho nhau. |
|
Not dissimilar to this unusual liking which constitutes falling in love, is the unusual disliking which is not so very rare in human experience. Certain normal dislikes we can readily account for; but take the case of two individuals meeting for the first time, it may be knowing nothing even by hearsay of each other, and then we have sometimes the striking phenomenon of one of the two drawing back from the other, not outwardly by gesture, but inwardly by a feeling or an intuition. In all such cases of drawing back, the curious thing is that there is no personal feeling; it is not a violent feeling of “I do not like you”, but far more an impersonal state of mind where almost no feeling manifests, and which may be paraphrased into “It is wise to have little to do with you.” Sometimes we follow this intuition, but usually we brush it aside as unjust, and then turn to understanding our acquaintance with the mind. Not infrequently, it then follows that we begin to like him, perhaps even love him. |
Không khác với sự yêu thích khác thường này vốn cấu thành việc phải lòng, là sự không thích khác thường vốn không quá hiếm trong kinh nghiệm của con người. Chúng ta có thể dễ dàng giải thích một số điều không thích bình thường; nhưng hãy lấy trường hợp hai cá nhân gặp nhau lần đầu tiên, có thể là không biết gì về nhau ngay cả qua lời đồn, và sau đó đôi khi chúng ta có hiện tượng nổi bật là một trong hai người rút lui khỏi người kia, không phải bên ngoài bằng cử chỉ, mà là bên trong bằng một cảm giác hoặc một trực giác. Trong tất cả những trường hợp rút lui như vậy, điều kỳ lạ là không có cảm giác cá nhân nào; đó không phải là một cảm giác mãnh liệt “Tôi không thích bạn”, mà là một trạng thái trí tuệ vô tư hơn nhiều, nơi hầu như không có cảm giác nào biểu lộ, và có thể được diễn giải thành “Khôn ngoan là ít giao du với bạn.” Đôi khi chúng ta làm theo trực giác này, nhưng thường thì chúng ta gạt nó sang một bên vì cho là không công bằng, và sau đó chuyển sang thấu hiểu người quen của mình bằng thể trí. Không hiếm khi, sau đó, chúng ta bắt đầu thích y, thậm chí có lẽ yêu y. |
|
We forget our “first impression”, or we put it aside as mere irrational impulse. Now there are many such revulsions that are purely irrational impulses, but there is a residue of cases where after-events show that the dislike was not an impulse but an intuition. For it may happen, after years have passed of intercourse with out friend, that suddenly without any warning he, as it were, stabs us in the back and deals us a mortal blow; and then in our grief and humiliation we remember that first impression of ours, and wish that we had followed it. |
Chúng ta quên đi “ấn tượng đầu tiên” của mình, hoặc gạt nó sang một bên như một thôi thúc phi lý đơn thuần. Giờ đây, có rất nhiều sự ghê tởm như vậy chỉ là những thôi thúc phi lý, nhưng có một phần còn sót lại của những trường hợp mà các sự kiện sau đó cho thấy rằng sự không thích không phải là một sự thôi thúc mà là một trực giác. Vì có thể xảy ra, sau nhiều năm giao thiệp với bạn bè, đột nhiên không có bất kỳ cảnh báo nào, y như đâm sau lưng chúng ta và giáng cho chúng ta một đòn chí mạng; và sau đó trong nỗi đau buồn và tủi nhục, chúng ta nhớ lại ấn tượng đầu tiên đó của mình, và ước rằng chúng ta đã làm theo nó. |
|
Whence came this first impression? Reincarnation offers a solution, which is that the injured had suffered in past lives at the hands of his injurer, and that it is the memory of that suffering which flashes into the mind as an intuition. |
Ấn tượng đầu tiên này đến từ đâu? Luân hồi đưa ra một giải pháp, đó là người bị thương đã phải chịu đựng trong những kiếp sống trước dưới bàn tay của kẻ gây thương tích cho y, và đó là ký ức về sự đau khổ đó lóe lên trong thể trí như một trực giác. |
|
More striking still are those cases where there exist at the same time both like and dislike, both love and resentment. I well remember a lady describing her attitude to a friend to whom she was profoundly attached in the following words: “I love him, but I despise him!” I wonder how many wives say this daily of their husbands, or husbands of their wives. Why should there be this incomprehensible jumble of contradictory feelings? |
Điều gây ấn tượng hơn nữa là những trường hợp mà đồng thời tồn tại cả thích và không thích, cả yêu và oán giận. Tôi nhớ rõ một quý bà mô tả thái độ của Bà đối với một người bạn mà Bà vô cùng gắn bó bằng những lời sau: “Tôi yêu anh ấy, nhưng tôi khinh anh ấy!” Tôi tự hỏi có bao nhiêu người vợ nói điều này hàng ngày về chồng mình, hoặc chồng về vợ mình. Tại sao lại có sự lẫn lộn khó hiểu của những cảm xúc mâu thuẫn này? |
|
The clue is strikingly given by W.E. Henley in his well-known poem: |
Gợi ý được đưa ra một cách nổi bật bởi W.E. Henley trong bài thơ nổi tiếng của Ông: |
|
Or ever the knightly years were gone |
Thuở những năm hiệp sĩ chưa qua |
|
With the old world to the grave, |
Với thế giới cũ về nơi an nghỉ cuối cùng, |
|
I was a king in Babylon, |
Ta là vua ở Babylon, |
|
And you were a Christian slave. |
Và nàng là một nô lệ Cơ đốc. |
|
The poet goes on to tell us how the king “saw and took,” and toyed with the maid and, as is a man’s way, finally cast her aside. Yet she loved him well, but, heart-broken at his treatment, committed suicide. Now it is obvious that the girl dies full of both love and resentment, and since what we sow we reap, each of the two in the rebirth reaps in emotional attitude the result of past causes. For, this time the man loves again, and desires to possess her; she too loves him in return, and yet does not permit him to have his heart’s desire. So the lover cries out: |
Nhà thơ tiếp tục kể cho chúng ta nghe vị vua “đã thấy và chiếm lấy”, và đùa giỡn với người hầu gái và, như cách của một người đàn ông, cuối cùng đã gạt nàng sang một bên. Tuy nhiên, nàng yêu Ngài rất nhiều, nhưng, đau lòng trước cách đối xử của Ngài, nàng đã tự sát. Giờ đây, rõ ràng là cô gái chết với cả tình yêu và sự oán giận, và vì chúng ta gieo gì thì gặt nấy, mỗi người trong hai người trong sự tái sinh gặt hái trong thái độ cảm xúc kết quả của những nguyên nhân trong quá khứ. Vì, lần này người đàn ông lại yêu và mong muốn chiếm hữu nàng; nàng cũng yêu Ngài đáp lại, nhưng lại không cho phép Ngài có được điều mong muốn trong lòng. Vì vậy, người yêu kêu lên: |
|
The pride I trampled on is now my scathe, |
Niềm kiêu hãnh mà ta chà đạp giờ là tai họa của ta, |
|
For it tramples me again; |
Vì nó lại chà đạp ta; |
|
The old resentment last like death, |
Sự oán giận xưa kéo dài như cái chết, |
|
For you love, and yet you refrain; |
Vì nàng yêu, nhưng nàng lại kiềm chế; |
|
I break my heart on your hard unfaith, |
Ta tan nát cõi lòng vì sự bất trung khó lay chuyển của nàng, |
|
And I break my heart in vain. |
Và ta tan nát cõi lòng trong vô vọng. |
|
Henley sees with is poetic vision that the present situation between the two cannot remain the same throughout eternity; there must be a true loving and understanding of each other at the long last; and so the poem ends with the man’s pride in his past, and resignation in the present, with a hint of some good from a past which need not be “undone” as of no worth at all. |
Henley nhìn thấy bằng tầm nhìn thi vị của mình rằng tình hình hiện tại giữa hai người không thể giữ nguyên như vậy trong suốt cõi vĩnh hằng; cuối cùng phải có một tình yêu và sự thấu hiểu thực sự về nhau; và vì vậy bài thơ kết thúc bằng niềm tự hào của người đàn ông về quá khứ của mình, và sự cam chịu trong hiện tại, với một gợi ý về một số điều tốt đẹp từ một quá khứ không cần phải “hủy bỏ” vì hoàn toàn không có giá trị. |
|
Yet not for an hour do I wish undone |
Nhưng không một giờ nào ta muốn hủy bỏ |
|
The deed beyond the grave |
Hành động bên kia nấm mồ |
|
When I was a king in Babylon |
Khi ta là vua ở Babylon |
|
And you were a virgin slave. |
Và nàng là một trinh nữ nô lệ. |
|
There can only be one ending, that of the fairy tale, since it needs must be a universe where there is but One who loves, that, |
Chỉ có thể có một kết thúc, đó là kết thúc của câu chuyện cổ tích, vì nó cần phải là một vũ trụ nơi chỉ có Một Đấng yêu thương, đó là, |
|
Journey’s end in lover’s meeting. |
Cuộc hành trình kết thúc trong cuộc gặp gỡ của những người yêu nhau. |
|
Every wise man’s son doth know. |
Con trai của mọi người khôn ngoan đều biết. |
|
We have been so far been considering the manifestations of an individual’s emotional nature, and it is obvious that, because of his own experiences, he will be able to understand the emotions of others, so long as such emotions are in the main like what he has known. But what of those individuals who thoroughly understand such experiences as have not come to them? Shakespeare understands the working of a woman’s heart and mind, and, too, all the intricate mental and emotional processes of the traitor; Dickens knows how the murderer feels after committing the crime. |
Cho đến nay, chúng ta đã xem xét những biểu hiện của bản chất cảm xúc của một cá nhân, và rõ ràng là, vì những kinh nghiệm của riêng y, y sẽ có thể hiểu được cảm xúc của người khác, miễn là những cảm xúc đó phần lớn giống với những gì y đã biết. Nhưng những cá nhân hoàn toàn hiểu những kinh nghiệm chưa đến với họ thì sao? Shakespeare hiểu được hoạt động của trái tim và thể trí của một người phụ nữ, và cả tất cả các quá trình trí tuệ và cảm xúc phức tạp của kẻ phản bội; Dickens biết kẻ giết người cảm thấy thế nào sau khi gây án. |
|
Furthermore, some gifted men and women, when experiencing emotions, generalize from them to what is experienced by all, while one not so gifted, though “once bitten” is not “twice shy”, nor is made appreciably wiser by the same experience coming to him over and over again. The gifted few, on the other hand, will fathom the universal quality in a single experience, and they will anticipate from it many experiences of like nature; for themselves, and sometimes for others too, they will state their experiences, reducing them as it were to algebraical formulae, and each formula including one general statement all particular cases. Their thoughts and feelings are like aphorisms, with the transmutation of many experiences into one Experience. |
Hơn nữa, một số người nam và nữ có năng khiếu, khi trải nghiệm cảm xúc, khái quát hóa từ chúng đến những gì được trải nghiệm bởi tất cả mọi người, trong khi một người không có năng khiếu như vậy, mặc dù “một lần bị cắn” không phải là “hai lần ngại ngùng”, cũng không trở nên khôn ngoan hơn đáng kể bởi cùng một trải nghiệm đến với y hết lần này đến lần khác. Mặt khác, số ít người có năng khiếu sẽ dò ra phẩm chất phổ quát trong một trải nghiệm duy nhất, và Các Ngài sẽ dự đoán từ đó nhiều trải nghiệm có bản chất tương tự; cho bản thân Các Ngài, và đôi khi cho cả những người khác nữa, Các Ngài sẽ tuyên bố những trải nghiệm của Các Ngài, quy chúng về các công thức đại số, và mỗi công thức bao gồm một tuyên bố chung cho tất cả các trường hợp cụ thể. Tư tưởng và cảm xúc của Các Ngài giống như những câu châm ngôn, với sự chuyển hoá nhiều trải nghiệm thành một Trải Nghiệm. |
|
Now, to generalize from our individual emotions is as rare a gift as to originate a philosophy from the particular thoughts which we gain about things. Yet it is this generalization from particular emotions that is characteristic of a poet, and the more universal are his generalizations, the greater is he as a poet. Why then should an individual here and there have this wonderful ability of seeing particular men as representatives of types, and particular emotions as expression of universal emotions? We say that such a man is a genius, but the word genius merely describes but does not explain. There are geniuses in every department of life—religion, poetry, art, music, statesmanship, the drama, in war and in commerce, and in many other phases of life. These geniuses are characterized by many abnormal qualities; they are always men of the future and not of their day and each genius is a lawgiver to future generations in his own department of activity; and above all, they live emotionally and mentally in wide generalizations. Whence comes this wonderful ability? |
Giờ đây, khái quát hóa từ những cảm xúc cá nhân của chúng ta là một năng khiếu hiếm có như việc khởi nguồn một triết lý từ những tư tưởng cụ thể mà chúng ta có được về mọi thứ. Tuy nhiên, chính sự khái quát hóa từ những cảm xúc cụ thể này là đặc điểm của một nhà thơ, và những khái quát hóa của Ông càng phổ quát, Ông càng vĩ đại với tư cách là một nhà thơ. Vậy tại sao một cá nhân ở đây và ở đó lại có khả năng tuyệt vời này là nhìn thấy những người nam như những đại diện của các kiểu người, và những cảm xúc cụ thể như sự biểu hiện của những cảm xúc phổ quát? Chúng ta nói rằng một người như vậy là một thiên tài, nhưng từ thiên tài chỉ mô tả chứ không giải thích. Có những thiên tài trong mọi lĩnh vực của cuộc sống—tôn giáo, thơ ca, nghệ thuật, âm nhạc, chính trị, kịch nghệ, trong chiến tranh và trong thương mại, và trong nhiều giai đoạn khác của cuộc sống. Những thiên tài này được đặc trưng bởi nhiều phẩm chất bất thường; Các Ngài luôn là những người của tương lai chứ không phải của thời đại Các Ngài và mỗi thiên tài là một nhà lập pháp cho các thế hệ tương lai trong lĩnh vực hoạt động của riêng Các Ngài; và trên hết, Các Ngài sống về mặt cảm xúc và trí tuệ trong những khái quát rộng lớn. Khả năng tuyệt vời này đến từ đâu? |
|
One explanation offered is Heredity. But how far does heredity really explain genius? According to the ordinarily accepted theory of heredity, each generation adds a little to a quality brought from the generation before, and then transmits it to the next; this in turn adds a little, and passes on the total of what it has received, plus its own contribution; and so on generation after generation, till we arrive at a particular generation, and to one individual of it, in whom the special quality in some mysterious way gets concentrated, and that individual is thereby a genius. According to this popular theory, some remote ancestor of Shakespeare had a fraction of Shakespeare’s genius, which he transmitted through heredity to his offspring; this offspring then, keeping intact what was given him by his parent, added to the stock from his own experiences, and then passed on both to his child; and so on in successive generations, each generation treasuring what was given to it from all previous generations, and adding something of its own before transmitting it to the next. Shakespeare then is as the torrent from a reservoir which has slowly been dammed up, but bursts its sides when the pressure has passed beyond a certain point. |
Một lời giải thích được đưa ra là Di truyền. Nhưng di truyền thực sự giải thích thiên tài đến mức nào? Theo lý thuyết di truyền được chấp nhận thông thường, mỗi thế hệ thêm một chút vào một phẩm chất được mang đến từ thế hệ trước, và sau đó truyền nó cho thế hệ tiếp theo; đến lượt thế hệ này thêm một chút, và chuyển tổng số những gì nó đã nhận được, cộng với đóng góp của riêng nó; và cứ thế hết thế hệ này đến thế hệ khác, cho đến khi chúng ta đến một thế hệ cụ thể, và đến một cá nhân của thế hệ đó, trong đó phẩm chất đặc biệt bằng một cách bí ẩn nào đó được tập trung lại, và cá nhân đó do đó là một thiên tài. Theo lý thuyết phổ biến này, một tổ tiên xa xôi nào đó của Shakespeare đã có một phần nhỏ thiên tài của Shakespeare, mà Ông đã truyền lại thông qua di truyền cho con cháu của Ông; con cháu này sau đó, giữ nguyên vẹn những gì đã được cha mẹ ban cho, đã thêm vào kho từ những kinh nghiệm của riêng mình, và sau đó chuyển cả hai cho con mình; và cứ thế trong các thế hệ kế tiếp, mỗi thế hệ trân trọng những gì đã được ban cho từ tất cả các thế hệ trước, và thêm một cái gì đó của riêng mình trước khi truyền nó cho thế hệ tiếp theo. Shakespeare sau đó giống như dòng thác từ một hồ chứa đã từ từ bị chặn lại, nhưng vỡ bờ khi áp lực đã vượt quá một điểm nhất định. |
|
Such a conception of heredity is based upon the assumption that what an individual acquires of faculty, as a result of adaptability to his environment, is passed on to his offspring. Such indeed is the conclusion that the Darwinian school of biologists came to, from their analysis of what happens in Nature. But biological research during the last twenty-five years, has been largely directed to testing the validity of the theory of the transmission of acquired characteristics. Not only has not one indisputable instance been found, but all experiments in breeding and crossing, on the other hand, accumulate proofs to the contrary. |
Một quan niệm như vậy về di truyền dựa trên giả định rằng những gì một cá nhân có được về năng lực, do khả năng thích nghi với môi trường của y, được truyền lại cho con cháu của y. Thật vậy, đó là kết luận mà trường phái sinh học Darwin đưa ra, từ phân tích của Các Ông về những gì xảy ra trong Tự nhiên. Nhưng nghiên cứu sinh học trong hai mươi lăm năm qua, phần lớn đã được hướng đến việc kiểm tra tính hợp lệ của lý thuyết về sự di truyền các đặc điểm thu được. Không chỉ không tìm thấy một trường hợp không thể tranh cãi nào, mà tất cả các thí nghiệm về lai tạo và lai giống, mặt khác, tích lũy các bằng chứng ngược lại. |
|
The new school of biologists known as the Mendelians have therefore come to theories about heredity which are not only novel but startling. According to them, structural characteristics, upon which must depend the mental and moral capacities of an individual, exist, in every ancestor in their fulness; and further, they must all have been in the first speck of living matter. Nothing has been added by evolution to this original stock of capacities in protoplasm. Every genius whom the world has known or will know existed potentially in it, though he had to wait millions of years before there arose the appropriate arrangement of the “genetic factors” to enable him to appear as a genius on the evolutionary stage. Nature has not evolved the complex brain structure of Shakespeare out of the rudimentary brains of the mammals; that complexity existed “in a pin-head of protoplasm”. Nature has not evolved the genius; she has merely released him from the fetters which bound him in the primordial protoplasm, by eliminating, generation after generation, such genetic factors as inhibited his manifestation. Bateson sums up these modern theories when he says: |
Trường phái sinh học mới được biết đến với tên gọi Mendelians do đó đã đưa ra các lý thuyết về di truyền không chỉ mới lạ mà còn gây kinh ngạc. Theo Các Ông, các đặc điểm cấu trúc, vốn phải phụ thuộc vào năng lực trí tuệ và đạo đức của một cá nhân, tồn tại, ở mọi tổ tiên trong sự viên mãn của Các Ngài; và hơn nữa, tất cả chúng phải đã ở trong đốm vật chất sống đầu tiên. Không có gì được thêm vào bởi sự tiến hóa vào kho năng lực ban đầu này trong tế tương. Mọi thiên tài mà thế giới đã biết hoặc sẽ biết đều tồn tại tiềm năng trong đó, mặc dù y phải đợi hàng triệu năm trước khi có sự sắp xếp thích hợp của các “yếu tố di truyền” để cho phép y xuất hiện như một thiên tài trên sân khấu tiến hóa. Tạo hóa đã không tiến hóa cấu trúc não bộ phức tạp của Shakespeare từ bộ não thô sơ của động vật có vú; sự phức tạp đó đã tồn tại “trong một đầu đinh tế tương”. Tạo hóa đã không tiến hóa thiên tài; Bà chỉ đơn giản là giải phóng y khỏi xiềng xích trói buộc y trong tế tương nguyên thủy, bằng cách loại bỏ, hết thế hệ này đến thế hệ khác, những yếu tố di truyền vốn ức chế sự biểu hiện của y. Ông Bateson tóm tắt những lý thuyết hiện đại này khi Ông nói: |
|
“I have confidence that the artistic gifts of mankind will prove to be due not to something added to the makeup of an ordinary man, but to the absence of factors which in the normal person inhibit the development of these gifts. They are almost beyond doubt to be looked upon as—”releases”—of powers normally suppressed. The instrument is there, but it is stopped down.” (Presidential Address, British Association, 1914). |
“Tôi tin rằng những năng khiếu nghệ thuật của nhân loại sẽ được chứng minh là không phải do một cái gì đó được thêm vào cấu tạo của một người bình thường, mà là do sự vắng mặt của các yếu tố vốn ở người bình thường ức chế sự phát triển của những năng khiếu này. Hầu như chắc chắn chúng phải được xem như là những sự “giải phóng” những năng lực thường bị kìm hãm. Công cụ ở đó, nhưng nó đã bị chặn lại.” (Diễn văn của Chủ tịch, Hiệp hội Anh, 1914). |
|
Time alone will show how far the Mendelian conception will need to be modified by later discoveries; but it is fairly certain already that the older Darwinian conception of heredity is untenable, and that if a man is a genius he owes very little to the intellectual and emotional achievements of his ancestors. If, however, we admit with the Mendelians that a genius is “released” merely by the removal of the inhibiting factors, and is not the result of slow accumulations, we still leave the original mystery unsolved, and that is to explain the synthetic ability of the genius. We are therefore no nearer really explaining the nature of genius along Mendelian lines than along the Darwinian; the theories of science merely tell us under what conditions genius will or will not manifest, but nothing more. |
Thời gian sẽ cho thấy quan niệm của Mendelian cần được sửa đổi bao nhiêu bởi những khám phá sau này; nhưng đã khá chắc chắn rằng quan niệm Darwinian cũ hơn về di truyền là không thể bảo vệ được, và nếu một người là một thiên tài, y nợ rất ít những thành tựu trí tuệ và cảm xúc của tổ tiên y. Tuy nhiên, nếu chúng ta thừa nhận với Mendelians rằng một thiên tài chỉ đơn giản là được “giải phóng” bằng cách loại bỏ các yếu tố ức chế, và không phải là kết quả của sự tích lũy chậm chạp, chúng ta vẫn để ngỏ bí ẩn ban đầu chưa được giải quyết, và đó là để giải thích khả năng tổng hợp của thiên tài. Vì vậy, chúng ta không gần hơn với việc thực sự giải thích bản chất của thiên tài theo đường lối Mendelian hơn là theo Darwinian; các lý thuyết của khoa học chỉ cho chúng ta biết thiên tài sẽ hoặc sẽ không biểu hiện trong những điều kiện nào, nhưng không hơn thế nữa. |
|
The only rational theory of genius, which accepts scientific facts as to heredity and also explains what genius is, comes from the conception of reincarnation. If we hold that an individual is a soul, that is an imperishable and evolving Ego, and manifests through a body appropriate to his stage of growth and to a work which he is to do in that body, then we see that his emotional and mental attributes are the results of experiences which he has gained in past lives. But since he can express them only through a suitable body and brain, these must be of such a kind as Nature has by heredity selected for such use. The manifestation of any capacity, then, depends on two indispensable factors; first, an Ego or consciousness who has developed the capacity by repeated experiments in past lives; and second, a suitable instrument, a physical body of such a nature structurally as makes possible the expression of that capacity. When therefore we consider the quality of genius, if on the one hand the genius has not a body fashioned out of such genetic factors as do not inhibit his genius, he is “stopped down”, to use Bateson’s simile, and his genius is unreleased. But on the other hand, if Nature were to produce a thousand bodies that were not “stopped down”, we should not ipso facto have a thousand geniuses. Two lines of evolution must therefore converge, before there can manifest any quality that is not purely functional. The first is that of the evolution of an indestructible Consciousness, which continually experiments with life and slowly becomes expert thereby; and the second is the evolution of the physical structure, which is selected by heredity to respond to a given stimulus from within. |
Lý thuyết duy nhất hợp lý về thiên tài, vốn chấp nhận các sự kiện khoa học về di truyền và cũng giải thích thiên tài là gì, đến từ quan niệm về luân hồi. Nếu chúng ta cho rằng một cá nhân là một linh hồn, đó là một Chân ngã bất diệt và tiến hóa, và biểu hiện thông qua một thể thích hợp với giai đoạn phát triển của y và với một công việc mà y phải làm trong thể đó, thì chúng ta thấy rằng các thuộc tính cảm xúc và trí tuệ của y là kết quả của những kinh nghiệm mà y đã đạt được trong các kiếp sống trước. Nhưng vì y chỉ có thể biểu đạt chúng thông qua một thể và bộ não phù hợp, nên chúng phải thuộc loại mà Tạo Hóa đã chọn theo di truyền cho mục đích sử dụng đó. Vì vậy, sự biểu hiện của bất kỳ năng lực nào phụ thuộc vào hai yếu tố không thể thiếu; thứ nhất, một Chân ngã hoặc tâm thức vốn đã phát triển năng lực đó bằng các thí nghiệm lặp đi lặp lại trong các kiếp sống trước; và thứ hai, một công cụ phù hợp, một thể xác có cấu trúc tự nhiên sao cho có thể biểu đạt được năng lực đó. Vì vậy, khi chúng ta xem xét phẩm chất của thiên tài, nếu một mặt, thiên tài không có một thể được tạo ra từ các yếu tố di truyền không ức chế thiên tài của y, thì y bị “dừng lại”, theo cách nói ví von của Bateson, và thiên tài của y không được giải phóng. Nhưng mặt khác, nếu Tạo Hóa tạo ra hàng ngàn thể không bị “dừng lại”, thì chúng ta không nên ipso facto có hàng ngàn thiên tài. Do đó, hai dòng tiến hóa phải hội tụ, trước khi có thể biểu hiện bất kỳ phẩm chất nào không thuần túy là chức năng. Thứ nhất là sự tiến hóa của một Tâm thức bất hoại, vốn liên tục thử nghiệm với cuộc sống và nhờ đó dần trở nên thành thạo; và thứ hai là sự tiến hóa của cấu trúc thể xác, vốn được di truyền chọn lọc để đáp ứng một kích thích nhất định từ bên trong. |
|
If with this is clue as to what is happening in Nature, we examine the various geniuses whom the world has produced, we shall see that they are remembering their past lives as they exhibit their genius. Take for instance, such a genius as the young violinist, Mischa Elman, who a few years ago began his musical career; he was then but a lad, and yet even at that age he manifested marvellous technical ability. Now we may perhaps legitimately account for this technical ability along Mendelian lines, as being due to a rare confluence of genetic factors; but by no theory of physical heredity can we explain what surprised the most exacting of musical critics—Mischa Elman’s interpretation of music. For it is just in this interpretation that a music lover can see the soul of the performer, whether that soul is a big one or a little, whether the performer has known of life superficially or has touched life’s core. Now Mischa Elman’s interpretation, absolutely spontaneous as it was, and un-imitated from a teacher, was that of a man and not that of a boy. Little wonder that many a critic was puzzled, or that the musical critic of the London Daily Telegraph should write as follows: |
Nếu với manh mối này về những gì đang xảy ra trong Tạo Hóa, chúng ta xem xét những thiên tài khác nhau mà thế giới đã sản sinh ra, chúng ta sẽ thấy rằng họ đang nhớ lại những kiếp sống trước của mình khi họ thể hiện thiên tài của mình. Lấy ví dụ, một thiên tài như nghệ sĩ vĩ cầm trẻ tuổi, Mischa Elman, người cách đây vài năm đã bắt đầu sự nghiệp âm nhạc của mình; khi đó y chỉ là một cậu bé, nhưng ngay cả ở độ tuổi đó, y đã thể hiện khả năng kỹ thuật tuyệt vời. Giờ đây, chúng ta có lẽ có thể giải thích một cách hợp pháp khả năng kỹ thuật này theo các dòng Mendelian, là do sự hợp lưu hiếm có của các yếu tố di truyền; nhưng không có lý thuyết nào về di truyền thể xác có thể giải thích được điều khiến những nhà phê bình âm nhạc khắt khe nhất ngạc nhiên—cách Mischa Elman diễn giải âm nhạc. Vì chính trong cách diễn giải này mà một người yêu âm nhạc có thể thấy được linh hồn của người biểu diễn, dù linh hồn đó lớn hay nhỏ, dù người biểu diễn đã biết về cuộc sống một cách hời hợt hay đã chạm đến cốt lõi của cuộc sống. Giờ đây, cách diễn giải của Mischa Elman, hoàn toàn tự phát và không bắt chước từ một giáo viên, là của một người đàn ông chứ không phải của một cậu bé. Không có gì ngạc nhiên khi nhiều nhà phê bình bối rối, hoặc nhà phê bình âm nhạc của tờ London Daily Telegraph đã viết như sau: |
|
“Rain beat noisily upon the roof and thunder roared and rattled, but Mischa Elman went calmly on with his prescribed Paganini and Bach and Wieniawski. Calmly is the word, be it noted, not stolidly. We have had stolid wonder-children on our musical platforms; Mischa is not one of them. Upon his face, as he plies the bow, rests a great peace, and only now and then, with a more decided expression, does he lower his cheek upon the instrument, as though he would receive from it the impulse of its vibrations and to it communicate his own soul-beats. The marvel of this boy does not lie in his execution of difficult passages. If it did, perhaps we should award it but perfunctory notice, seeing that among the children of our generation there are so many who play with difficult passages much as their predecessors did with marbles. We have gone beyond mere dexterity with bowing and fingering, and can say, in the spirit of one of old time, that from the babe and suckling comes now the perfection of such praise as lies within the compass of a violin.” |
“Mưa đập ồn ào trên mái nhà và sấm rền vang, nhưng Mischa Elman vẫn bình tĩnh tiếp tục với Paganini, Bach và Wieniawski đã định trước của mình. Bình tĩnh là từ cần lưu ý, không phải là thờ ơ. Chúng ta đã có những đứa trẻ kỳ diệu thờ ơ trên các sân khấu âm nhạc của mình; Mischa không phải là một trong số đó. Trên khuôn mặt y, khi y chơi đàn, là một sự bình yên lớn lao, và thỉnh thoảng, với một biểu cảm dứt khoát hơn, y hạ má xuống nhạc cụ, như thể y muốn nhận từ nó xung động của các rung động và truyền cho nó những nhịp đập linh hồn của chính mình. Điều kỳ diệu của cậu bé này không nằm ở việc y thực hiện những đoạn khó. Nếu vậy, có lẽ chúng ta sẽ chỉ trao cho nó một thông báo chiếu lệ, thấy rằng trong số những đứa trẻ của thế hệ chúng ta có rất nhiều đứa chơi những đoạn khó giống như những người tiền nhiệm của chúng đã chơi với những viên bi. Chúng ta đã vượt qua sự khéo léo đơn thuần với việc kéo và bấm ngón tay, và có thể nói, theo tinh thần của một thời xa xưa, rằng từ đứa trẻ sơ sinh và trẻ bú sữa mẹ giờ đây đến sự hoàn hảo của lời khen ngợi như vậy nằm trong phạm vi của một cây vĩ cầm.” |
|
Asked to account for this—to explain why Mischa Elman laying cheek to wood, reveals the insight and feeling of a man who has risen to the heights and plumbed the depths of human life—we simply acknowledge that the matter is beyond us. We can do no more than speculate, and, perhaps, hope for a day in which the all-embracing science of an age more advanced than our own shall discover the particular brain formation, or adjustment, to which infants owe the powers that men and women vainly seek. Those powers may be the Wordsworthian “clouds of glory”, brought from another world. If so, what a brilliant birth must that of Mischa Elman have been! The boy was heard in a work by Paganini and another Wieniawski, both good things of their meritricious kind, and both irradiated, as we could not but fancy, by the unconscious genius which shines alike on the evil and the good, making the best of both. Upon the mere execution of these works we do not dwell, preferring the charm of the moments in which the music lent itself to the mysterious emotion of the youthful player, and showed, not the painted visage of a mountebank, but the face of an angel! |
Khi được yêu cầu giải thích điều này—để giải thích tại sao Mischa Elman áp má vào gỗ đàn, tiết lộ sự thấu suốt và cảm xúc của một người đã vươn lên đỉnh cao và dò tận đáy sâu của cuộc sống con người—chúng ta chỉ đơn giản thừa nhận rằng vấn đề nằm ngoài tầm với của chúng ta. Chúng ta không thể làm gì hơn ngoài việc suy đoán, và có lẽ, hy vọng vào một ngày mà khoa học bao trùm tất cả của một thời đại tiên tiến hơn thời đại của chúng ta sẽ khám phá ra sự hình thành não bộ đặc biệt, hoặc sự điều chỉnh, mà trẻ sơ sinh có được những năng lực mà những người nam và nữ tìm kiếm một cách vô ích. Những năng lực đó có thể là “những đám mây vinh quang” theo cách nói của Wordsworth, mang đến từ một thế giới khác. Nếu vậy, thì sự ra đời của Mischa Elman hẳn phải rực rỡ đến mức nào! Cậu bé đã được nghe trong một tác phẩm của Paganini và một tác phẩm khác của Wieniawski, cả hai đều là những điều tốt đẹp thuộc loại phù phiếm của chúng, và cả hai đều được chiếu rọi, như chúng ta không khỏi tưởng tượng, bởi thiên tài vô thức tỏa sáng như nhau trên cái ác và cái thiện, làm cho cả hai trở nên tốt nhất. Chúng ta không đi sâu vào việc thực hiện đơn thuần những tác phẩm này, mà thích sự quyến rũ của những khoảnh khắc mà âm nhạc tự cho phép mình hòa vào cảm xúc bí ẩn của người nghệ sĩ trẻ tuổi, và cho thấy, không phải khuôn mặt tô vẽ của một kẻ bịp bợm, mà là khuôn mặt của một thiên thần! |
|
If along the lines of reincarnation we suppose that Mischa Elman is a soul who in his past lives has in truth “risen to the heights and plumbed the depths of human life”, then we have a reasonable explanation for his genius. There is reflected in each interpretation the summing up of his past experiences, and he can through his music tell us of a man’s sorrow or a man’s joy, because as a man in past lives he has experienced both, and retains their memory in emotional and intellectual generalizations. This explanation further joins hands with science, because the reincarnation theory of genius implies the need by the musical soul of a body with a musical heredity, which has been “selected” by evolution and built up by appropriate genetic factors. |
Nếu theo dòng luân hồi, chúng ta cho rằng Mischa Elman là một linh hồn mà trong những kiếp sống trước đây của Ngài đã thực sự “vươn lên đỉnh cao và dò tận đáy sâu của cuộc sống con người”, thì chúng ta có một lời giải thích hợp lý cho thiên tài của Ngài. Có sự phản ánh trong mỗi cách diễn giải sự tổng kết những kinh nghiệm trong quá khứ của Ngài, và Ngài có thể thông qua âm nhạc của mình kể cho chúng ta nghe về nỗi buồn của một người đàn ông hoặc niềm vui của một người đàn ông, bởi vì khi là một người đàn ông trong những kiếp sống trước đây, Ngài đã trải nghiệm cả hai, và giữ lại ký ức của họ trong những khái quát hóa về cảm xúc và trí tuệ. Lời giải thích này hơn nữa bắt tay với khoa học, bởi vì lý thuyết luân hồi về thiên tài ngụ ý sự cần thiết của linh hồn âm nhạc đối với một cơ thể có di truyền âm nhạc, vốn đã được “lựa chọn” bởi sự tiến hóa và được xây dựng bởi các yếu tố di truyền thích hợp. |
|
Reincarnation alone explains another genius who must remain a puzzle according to all other theories. Keats is known in English poetry as the most “Greek” of all England’s poets; he possessed by nature that unique feeling for life which was the treasure of the Greek temperament. If he had been a Greek scholar and steeped in the traditions of Greek culture, we might account for this anima naturaliter Graeca of the Greek-less Keats.” But when we consider that Keats had “little Latin and less Greek,” and began life as a surgeon’s apprentice and a medical student, we may well wonder why he sings not as a Christian poet should, but as some Greek shepherd born on the slopes of Mount Etna. The wonder, however, at once ceases if we presume that Keats is the reincarnation of a Greek poet, and that he is remembering his past lives as he reverts to Greek ways of thought and feeling. |
Luân hồi một mình giải thích một thiên tài khác vốn phải là một câu đố theo tất cả các lý thuyết khác. Keats được biết đến trong thơ ca Anh như là người “Hy Lạp” nhất trong tất cả các nhà thơ của nước Anh; Ông sở hữu một cách tự nhiên cảm xúc độc đáo về cuộc sống vốn là kho báu của khí chất Hy Lạp. Nếu Ông là một học giả Hy Lạp và đắm mình trong các truyền thống của văn hóa Hy Lạp, chúng ta có thể giải thích cho anima naturaliter Graeca này của Keats không biết tiếng Hy Lạp.” Nhưng khi chúng ta xem xét rằng Keats “biết ít tiếng Latinh và ít tiếng Hy Lạp hơn”, và bắt đầu cuộc đời với tư cách là một người học việc của bác sĩ phẫu thuật và một sinh viên y khoa, chúng ta có thể tự hỏi tại sao Ông không hát như một nhà thơ Cơ đốc nên hát, mà như một người chăn cừu Hy Lạp nào đó sinh ra trên sườn núi Etna. Tuy nhiên, sự ngạc nhiên ngay lập tức chấm dứt nếu chúng ta cho rằng Keats là sự tái sinh của một nhà thơ Hy Lạp, và rằng Ông đang nhớ lại những kiếp sống trước đây của mình khi Ông quay trở lại những cách suy nghĩ và cảm nhận của Hy Lạp. |
|
With reincarnation as a clue, it is interesting to see how a little analysis enables us to say where in the past an individual must have lived. In the culture of Europe and America, there are three main types of “reversion,” to Rome, to Greece, and to India. Anyone who has studied Roman institutions and the Roman conception of life finds little difficulty in noting how the English temperament is largely that of ancient Rome in a modern garb; the values, for instance in writing history, of such historians as Gibbon, Macaulay, Hume, are practically the same as those of Roman historians, Sallust, Tacitus, Livy, and the rest; whereas if we take the French historians we shall find them scarcely at all Roman in temperament, and far more akin to Greek. The equation Tennyson = Virgil is certainly not far-fetched to those who know the quality of both poets. |
Với luân hồi như một manh mối, thật thú vị khi thấy một chút phân tích cho phép chúng ta nói một cá nhân hẳn đã sống ở đâu trong quá khứ. Trong văn hóa của Châu Âu và Châu Mỹ, có ba loại “sự trở lại” chính, đến Rome, đến Hy Lạp và đến Ấn Độ. Bất kỳ ai đã nghiên cứu các thể chế La Mã và quan niệm La Mã về cuộc sống đều thấy không khó khăn gì khi nhận thấy khí chất Anh phần lớn là của La Mã cổ đại trong một bộ quần áo hiện đại; các giá trị, ví dụ như trong việc viết lịch sử, của những nhà sử học như Gibbon, Macaulay, Hume, thực tế giống như của các nhà sử học La Mã, Sallust, Tacitus, Livy, và những người còn lại; trong khi nếu chúng ta lấy các nhà sử học Pháp, chúng ta sẽ thấy họ hầu như không hề La Mã trong khí chất, và gần gũi với Hy Lạp hơn nhiều. Phương trình Tennyson = Virgil chắc chắn không phải là quá xa vời đối với những người biết phẩm chất của cả hai nhà thơ. |
|
We find the reversion to Greece very clearly in such writers as Goethe, Schiller and Lessing. Why should these writers have proclaimed to Germany with unbounded enthusiasm the message of “back to Greece”, except that they knew from their own experience in past lives what Greek culture had still for men? For what is enthusiasm but the springing forward of the soul to experience a freshness and a delight in life which it has known elsewhere, and whose call it recognizes again? These men of enthusiasm, these pioneers of the future, are otherwise than sports or freaks of Nature; let us but think of them as reincarnated souls remembering in their enthusiasm their past lives, and they become not sports but the first-fruits of a glorious humanity that is to be. |
Chúng ta thấy sự trở lại Hy Lạp rất rõ ràng ở những nhà văn như Goethe, Schiller và Lessing. Tại sao những nhà văn này lại tuyên bố với nước Đức một cách nhiệt thành vô bờ bến thông điệp “trở về Hy Lạp”, ngoại trừ việc họ biết từ kinh nghiệm của chính mình trong những kiếp sống trước đây rằng văn hóa Hy Lạp vẫn còn dành cho con người? Vì nhiệt huyết là gì, nếu không phải là sự vươn lên của linh hồn để trải nghiệm sự tươi mới và thích thú trong cuộc sống mà nó đã biết ở những nơi khác, và nhận ra lại tiếng gọi của nó? Những người đàn ông nhiệt huyết này, những người tiên phong của tương lai này, khác với những trò tiêu khiển hay những điều kỳ quái của Tạo hóa; chúng ta hãy nghĩ về họ như những linh hồn tái sinh đang nhớ lại những kiếp sống trước đây của họ trong sự nhiệt huyết, và họ không trở thành những trò tiêu khiển mà là những trái ngọt đầu mùa của một nhân loại vinh quang sắp đến. |
|
Who that has studied Platonism has not been reminded of Platonic conceptions when reading Emerson? Though Emerson has not the originality nor the daring of Plato, yet he is truly “Greek”; it does not require such a great flight of the imagination to see him as some Alexandrian follower of Plato. How natural then too, that Emerson, after entering the Christian ministry to give his message, should find himself unable to do it as a Christian minister, and should strike out a path for himself as an essayist to speak of the World-Soul! And who that has studied Indian philosophies does not recognize old Vedantin philosophers in Kant, Fichte, Hegel, and a Buddhist philosopher in Schopenhauer, all reverting to their philosophic interests of past lives, and uttering their ancient convictions more brilliantly than before? |
Ai đã nghiên cứu Chủ nghĩa Platon mà lại không được nhắc nhở về những quan niệm của Platon khi đọc Emerson? Mặc dù Emerson không có tính độc đáo cũng như sự táo bạo của Plato, nhưng Ông thực sự là “người Hy Lạp”; không cần đến một trí tưởng tượng bay bổng đến vậy để thấy Ông như một môn đồ Alexandrian nào đó của Plato. Vậy thì cũng thật tự nhiên, rằng Emerson, sau khi bước vào chức vụ mục sư Cơ đốc để truyền tải thông điệp của mình, lại thấy mình không thể làm được điều đó với tư cách là một mục sư Cơ đốc, và nên tự mình vạch ra một con đường với tư cách là một nhà viết tiểu luận để nói về Linh Hồn Thế Giới! Và ai đã nghiên cứu triết học Ấn Độ mà lại không nhận ra những nhà triết học Vedantin cổ đại trong Kant, Fichte, Hegel, và một nhà triết học Phật giáo trong Schopenhauer, tất cả đều quay trở lại những mối quan tâm triết học trong những kiếp sống trước đây của họ, và thốt ra những xác tín cổ xưa của họ một cách rực rỡ hơn trước? |
|
Wherever the deeper layers of a man’s being are offered to the world in some creation through philosophy, literature, art or science, there may we note tendencies started in past lives. For the pageant of the man’s life is not planned and achieved in the few brief years which begin with his birth, and he that knows of reincarnation may note readily enough where the parts of the pageant were composed. |
Bất cứ nơi nào những tầng sâu hơn trong con người được cống hiến cho thế giới trong một số sáng tạo thông qua triết học, văn học, nghệ thuật hoặc khoa học, ở đó chúng ta có thể ghi nhận những khuynh hướng bắt đầu trong những kiếp sống trước đây. Vì cuộc diễu hành của cuộc đời một người không được lên kế hoạch và hoàn thành trong một vài năm ngắn ngủi bắt đầu từ khi y sinh ra, và người biết về luân hồi có thể ghi nhận khá dễ dàng nơi các phần của cuộc diễu hành được sáng tác. |
|
Reincarnation, as it affects large groups of individuals, is a fascinating study to one with an historical bent of mind. I have mentioned that the English race as a whole is largely a reincarnation of the ancient Roman; but here and there we find a sprinkling of Greeks in men like Byron, Ruskin, Matthew Arnold, and in those Englishmen and women who have the Greek feel for life, and hemmed in by English tradition are as strangers in a strange land. Let such a return Greek, wherever he be born this life, but go to South Italy or to Greece, and he will begin to remember his past life in the instinctive familiarity which he will feel with the hidden spirit of tree and lake and hill. As none but a Greek can, he will find a joy in the sunshine, in the lemon groves and vineyards and waterfalls, which in a Greek land give the message of Nature as in no other land. |
Luân hồi, khi nó ảnh hưởng đến các nhóm lớn cá nhân, là một nghiên cứu hấp dẫn đối với một người có đầu óc lịch sử. Tôi đã đề cập rằng chủng tộc Anh nói chung phần lớn là sự tái sinh của người La Mã cổ đại; nhưng đây đó chúng ta thấy rải rác những người Hy Lạp trong những người như Byron, Ruskin, Matthew Arnold, và ở những người đàn ông và phụ nữ Anh có cảm nhận Hy Lạp về cuộc sống, và bị bao vây bởi truyền thống Anh như những người xa lạ ở một vùng đất xa lạ. Hãy để một người Hy Lạp trở về như vậy, bất cứ nơi nào y được sinh ra trong kiếp này, nhưng hãy đến Nam Ý hoặc Hy Lạp, và y sẽ bắt đầu nhớ lại kiếp sống trước đây của mình trong sự quen thuộc bản năng mà y sẽ cảm thấy với tinh thần ẩn giấu của cây cối, hồ nước và ngọn đồi. Vì không ai ngoài một người Hy Lạp có thể, y sẽ tìm thấy niềm vui trong ánh nắng mặt trời, trong những vườn chanh và vườn nho và thác nước, vốn ở một vùng đất Hy Lạp mang đến thông điệp của Thiên nhiên như ở không vùng đất nào khác. |
|
Others there are who, born last life in the Middle Ages somewhere in Europe, perhaps in Italy or Spain of Germany, where they re-visit the land of their former birth, will have a strange familiarity with the things that pass before them. In striking ways, they read into the life of the people, and understand the why of things. To some, this mysterious sense of recollection may be strongest in Egypt, or India, or Japan; but wherever we have the intuitive understanding of foreign people, we have one mode of remembering our past lives. |
Những người khác, sinh ra trong kiếp sống cuối cùng ở thời Trung Cổ ở đâu đó ở Châu Âu, có lẽ ở Ý hoặc Tây Ban Nha của Đức, nơi họ tái viếng thăm vùng đất nơi họ đã sinh ra trước đây, sẽ có một sự quen thuộc kỳ lạ với những điều đang diễn ra trước mắt họ. Một cách nổi bật, họ đọc được cuộc sống của người dân và hiểu được lý do của mọi thứ. Đối với một số người, cảm giác hồi tưởng bí ẩn này có thể mạnh mẽ nhất ở Ai Cập, hoặc Ấn Độ, hoặc Nhật Bản; nhưng bất cứ nơi nào chúng ta có sự thấu hiểu trực quan về người nước ngoài, chúng ta có một phương thức ghi nhớ những kiếp sống trước đây của mình. |
|
It is in the characteristic intellectual attitude of the French that we see the reincarnation of much that was developed in later Greece. The French intellectual clarity and dispassionate keenness to see things “as they are” (whether they bring material benefits or not) are typically Greek. And perhaps, could we know more fully of the life of the Phoenicians, we should see them reborn in the Germans of today. Then the commercial rivalry between England and Germany for the capture of the markets of the East would be but the rebirth of the ancient rivalry between Rome and Carthage for the markets of the Mediterranean. |
Trong thái độ trí tuệ đặc trưng của người Pháp, chúng ta thấy sự tái sinh của nhiều điều đã được phát triển ở Hy Lạp sau này. Sự minh bạch trí tuệ và sự sắc sảo vô tư của người Pháp để nhìn nhận mọi thứ “đúng như bản chất của chúng” (cho dù chúng có mang lại lợi ích vật chất hay không) là đặc trưng của người Hy Lạp. Và có lẽ, nếu chúng ta có thể biết đầy đủ hơn về cuộc sống của người Phoenicia, chúng ta sẽ thấy họ tái sinh trong những người Đức ngày nay. Khi đó, sự cạnh tranh thương mại giữa Anh và Đức để giành lấy thị trường phương Đông chẳng khác nào sự tái sinh của sự cạnh tranh cổ xưa giữa Rome và Carthage để giành lấy thị trường Địa Trung Hải. |
|
An eruption of Greek egos is fairly evident in the United States of America. On the Pacific Coast especially, there are many men and women of the simple Greek temperament of the pre-Periclean age, and yet their ancestors were not infrequently New England Puritans. It is in America too, that we have the Sophists of Greece in full strength in the “New Thought” writers who spring up in that land month after month. In them we have the same characteristics as had the Sophists of Greece whom Plato denounced—much sound sense and many a useful wrinkle, an independence of landmarks and traditions, an unbounded confidence in their own panacea, and a giving of their message of the Spirit “for a consideration.” The lack of distinction in their minds, when in Greece, between Sophism and Wisdom returns in the twentieth century as a confusion between the New Thought ideas of the Divine Life and the real life of the Spirit. Let us hope that as the Sophists helped to bring in the Golden Age of Greece, so the “New Thought-ers” are the forerunners of that True Thought that is to dawn, which is neither old nor new. |
Một sự bùng nổ của các chân ngã Hy Lạp khá rõ ràng ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Đặc biệt là ở Bờ biển Thái Bình Dương, có rất nhiều người nam và nữ có khí chất Hy Lạp đơn giản của thời kỳ tiền Pericles, và tổ tiên của họ thường xuyên là những người Thanh giáo ở New England. Chính ở Mỹ, chúng ta cũng có những nhà ngụy biện của Hy Lạp với đầy đủ sức mạnh trong các nhà văn “Tư Tưởng Mới” mọc lên ở vùng đất đó hết tháng này đến tháng khác. Ở họ, chúng ta có những đặc điểm tương tự như những nhà ngụy biện của Hy Lạp mà Plato đã lên án—rất nhiều ý thức lành mạnh và nhiều mánh khóe hữu ích, một sự độc lập về các cột mốc và truyền thống, một sự tự tin vô bờ bến vào phương thuốc chữa bách bệnh của riêng họ và việc truyền tải thông điệp của họ về Tinh thần “để được xem xét”. Sự thiếu phân biệt trong trí của họ, khi ở Hy Lạp, giữa Ngụy biện và Minh triết quay trở lại vào thế kỷ XX như một sự nhầm lẫn giữa những ý tưởng Tư Tưởng Mới về Đời Sống Thiêng Liêng và sự sống thực sự của Tinh thần. Chúng ta hãy hy vọng rằng khi những nhà ngụy biện giúp mang lại Thời Hoàng Kim của Hy Lạp, thì những “người theo Tư Tưởng Mới” là tiền thân của Chân Tư Tưởng sắp bình minh, vốn không cũ cũng không mới. |
|
Here and there in India we find one who is distinctly not Hindu. For the most part, the modern Hindus seem scarce to have been in other lands in their late incarnations; but now and then a man or woman is met with for whom the sacrosanct institutions of orthodoxy have no meaning, and who takes up western ideas of progress with avidity. Some of these are “England-returned,” in this present incarnation, and we can thus account for their mentality. But when we find a man who has never left India, who was reared in strict orthodoxy, and yet fights with enthusiasm for foreign ways of thought, surely we have here a “Europe-returned” ego, from Greece or Rome or from some other of the many lands of the West. |
Ở đây và ở đó tại Ấn Độ, chúng ta tìm thấy một người rõ ràng không phải là người Hindu. Phần lớn, những người Hindu hiện đại dường như hiếm khi ở những vùng đất khác trong những lần tái sinh gần đây của họ; nhưng thỉnh thoảng chúng ta gặp một người nam hoặc nữ mà các thể chế bất khả xâm phạm của chính thống giáo không có ý nghĩa gì, và người đó tiếp thu những ý tưởng tiến bộ của phương Tây một cách háo hức. Một số người trong số này là “người Anh trở về”, trong lần hóa thân hiện tại này, và do đó chúng ta có thể giải thích cho tâm lý của họ. Nhưng khi chúng ta tìm thấy một người chưa bao giờ rời Ấn Độ, người lớn lên trong sự chính thống nghiêm ngặt, nhưng lại chiến đấu nhiệt tình cho những cách suy nghĩ ngoại quốc, chắc chắn chúng ta có một chân ngã “người Âu trở về” từ Hy Lạp hoặc Rome hoặc từ một số vùng đất khác trong số nhiều vùng đất của phương Tây. |
|
We must not forget to draw attention to the egos from Greece who have returned to Europe to usher in the age of art. To one familiar with Greek sculpture and architecture, it is not difficult to see the Greek artists reborn in the Italian masters of painting and architecture. The cult is no longer that of Pallas Athene and the Gods; there is now the Virgin Mary and the saints to give them their heavenly crowns. Whence did the Italian masters gain their surety of touch, if not from a past birth in Greece? It is striking, too, how the Romans, who excelled in portraiture, should be reborn in the English school of portrait painters, Gainsborough, Reynolds, Lawrence and the rest. |
Chúng ta không được quên thu hút sự chú ý đến các chân ngã từ Hy Lạp đã trở về châu Âu để mở ra kỷ nguyên nghệ thuật. Đối với một người quen thuộc với điêu khắc và kiến trúc Hy Lạp, không khó để thấy các nghệ sĩ Hy Lạp tái sinh trong các bậc thầy hội họa và kiến trúc người Ý. Giáo phái không còn là của Pallas Athene và Các Vị Thần nữa; giờ đây có Đức Trinh Nữ Maria và các vị thánh để trao cho họ những vương miện thiên đường. Các bậc thầy người Ý đã đạt được sự chắc chắn trong nét vẽ của họ từ đâu, nếu không phải từ một kiếp trước ở Hy Lạp? Thật nổi bật, nữa là, cách người La Mã, những người vượt trội trong lĩnh vực vẽ chân dung, nên được tái sinh trong trường phái họa sĩ vẽ chân dung người Anh, Gainsborough, Reynolds, Lawrence và những người còn lại. |
|
Nor must we forget the band of Greeks who like an inundation swept over the Elizabethan stage, Marlowe, Beaumont, Fletcher, Peele, Johnson, and the rest—are they not pagans thinly veiled in English garb? They felt life in un-English modes; they felt first and then thought out the feeling. The Greek, is ever the Greek, whatsoever the language which is given him to speak, and his touch in literature and art is not easily veiled. |
Chúng ta cũng không được quên nhóm người Hy Lạp, những người như một trận lụt đã tràn qua sân khấu Elizabeth, Marlowe, Beaumont, Fletcher, Peele, Johnson và những người còn lại—chẳng phải họ là những người ngoại đạo được che đậy mỏng manh trong trang phục của người Anh sao? Họ cảm nhận cuộc sống theo những phương thức không phải của người Anh; họ cảm nhận trước rồi mới suy nghĩ về cảm xúc đó. Người Hy Lạp, mãi mãi là người Hy Lạp, bất kể ngôn ngữ nào được ban cho y để nói, và dấu ấn của y trong văn học và nghệ thuật không dễ che giấu. |
|
Strong impressions made on the consciousness in a past life often appear in the present in some curious mood or feeling. Sometimes, fears of creeping things, fires, cutting implements, etc., are thus to be accounted for, though sometimes these “phobias” may only be sub-conscious reminders of this life. In the cases where we have no sub-consciousness of the present body appearing, there is sure to have been some shock, resulting it may be, in a violent death, in a past life. The after effects appear now in some uncontrollable fear, or in discomfort in the presence of the object which caused the shock. More strange is the attitude of one individual towards another which is brought over from a past life. Sometimes one sees the strange sight of a girl of ten or twelve taking care of her mother in a maternal way, as though the positions were reversed, and almost as if she had the onerous duty of bringing up her mother in the way she should go. Of a deeper psychological nature is it when, as sometimes happens, a wife mated to a husband who causes her suffering, finds charity towards him possible only when she looks on him not as her husband but as her son. Here we have a reminiscence of a life when he was indeed her child, and his better nature came out towards her in the relation which he bore to her then. |
Những ấn tượng mạnh mẽ tác động lên tâm thức trong một kiếp sống quá khứ thường xuất hiện trong hiện tại dưới một tâm trạng hoặc cảm xúc kỳ lạ nào đó. Đôi khi, nỗi sợ hãi những thứ bò trườn, lửa, dụng cụ cắt, v.v., có thể được giải thích như vậy, mặc dù đôi khi những “ám ảnh” này có thể chỉ là những lời nhắc nhở tiềm thức về cuộc đời này. Trong những trường hợp chúng ta không có tiềm thức về thể xác hiện tại xuất hiện, chắc chắn đã có một cú sốc nào đó, có thể dẫn đến một cái chết dữ dội, trong một kiếp sống quá khứ. Những dư âm xuất hiện bây giờ trong một nỗi sợ hãi không thể kiểm soát, hoặc khó chịu khi có sự hiện diện của đối tượng gây ra cú sốc. Kỳ lạ hơn là thái độ của một cá nhân đối với một người khác được mang từ kiếp sống quá khứ. Đôi khi người ta thấy cảnh tượng kỳ lạ về một cô gái mười hoặc mười hai tuổi chăm sóc mẹ mình một cách đầy tình mẫu tử, như thể vị trí bị đảo ngược, và gần như thể cô có nhiệm vụ nặng nề là nuôi dạy mẹ mình theo cách mà cô nên đi. Về bản chất tâm lý sâu sắc hơn là khi, như đôi khi xảy ra, một người vợ kết hôn với một người chồng gây ra đau khổ cho Bà, thấy lòng trắc ẩn đối với Ông chỉ có thể có được khi Bà nhìn Ông không phải là chồng mà là con trai của Bà. Ở đây chúng ta có một hồi ức về một cuộc đời khi Ông thực sự là con của Bà, và bản chất tốt đẹp hơn của Ông đã bộc lộ đối với Bà trong mối quan hệ mà Ông đã mang đến cho Bà lúc đó. |
|
A rather humorous instance of a past recollection is found when there has been between the last life and this a change of sex of the body. In the West especially, where there is a more marked differentiation temperamentally between the sexes than in the East, not infrequently the girl who dislikes playing with dolls, who delights in boy’s games, and is a pronounced tomboy, is really an ego who has just taken up a body of the sex opposite to that with which he has been familiar for many lives. Many a girl has resented her skirts, and it takes such a girl several years before she finally resigns herself to them. Some women there are, on whose face and mode of carriage the last male incarnation seems still fairly visibly portrayed. A similar thing is to be seen in some men, who bring into this life traces of their habits of thought and feeling when last they had women’s bodies. |
Một ví dụ khá hài hước về một ký ức quá khứ được tìm thấy khi có sự thay đổi giới tính của thể xác giữa kiếp sống cuối cùng và kiếp này. Đặc biệt ở phương Tây, nơi có sự khác biệt rõ rệt hơn về tính khí giữa các giới so với phương Đông, không phải là hiếm khi cô gái không thích chơi búp bê, thích thú với các trò chơi của con trai và là một tomboy rõ rệt, thực sự là một chân ngã vừa mới tiếp nhận một thể xác có giới tính trái ngược với giới tính mà y đã quen thuộc trong nhiều kiếp sống. Nhiều cô gái đã phẫn uất váy của mình, và một cô gái như vậy phải mất vài năm trước khi cuối cùng Bà chấp nhận chúng. Có một số phụ nữ, trên khuôn mặt và cách đi đứng của họ, hóa thân nam cuối cùng dường như vẫn được khắc họa khá rõ ràng. Một điều tương tự có thể thấy ở một số người đàn ông, những người mang vào cuộc đời này dấu vết của thói quen suy nghĩ và cảm xúc của họ khi lần cuối họ có thể xác phụ nữ. |
|
A consideration of the many psychological puzzles I have enumerated will show us that, as a matter of fact, people do remember something of their past lives. Truly the memory is indirect, only as a habit or a mood, but it is nevertheless memory of the past. Now most people who are willing to accept reincarnation as a fact in life naturally ask the question: “But why don’t we remember fully?” To this there are two answers, the first of which is: “It is best for us not to remember directly or fully, till we are ready for the memories”. |
Việc xem xét nhiều câu đố tâm lý mà tôi đã liệt kê sẽ cho chúng ta thấy rằng, trên thực tế, mọi người thực sự nhớ một điều gì đó về kiếp sống quá khứ của họ. Thật vậy, ký ức là gián tiếp, chỉ như một thói quen hoặc một tâm trạng, nhưng dù sao thì đó vẫn là ký ức về quá khứ. Bây giờ hầu hết những người sẵn sàng chấp nhận tái sinh như một sự thật trong cuộc sống đều tự nhiên đặt ra câu hỏi: “Nhưng tại sao chúng ta không nhớ một cách đầy đủ?” Đối với điều này có hai câu trả lời, câu trả lời đầu tiên là: “Tốt nhất cho chúng ta là không nên nhớ một cách trực tiếp hoặc đầy đủ, cho đến khi chúng ta sẵn sàng cho những ký ức”. |
|
We are not ready for remembrance so long as we are influenced by the memories of the past. Where for instance, the memory is of a painful event, up to a certain point the past not only influences our present but also our future, and both in a harmful way; and therefore, so long as we have not gone beyond the sphere of influence of the past, our characters are weakened and not strengthened by remembrance. Let us take an extreme case, but one typical nevertheless. Suppose that in the last life a man has committed suicide as the easiest way out of his difficulties. As he dies, there will be in his mind much mental suffering, and especially he will lack confidence in his ability to weather the storm. The suicide does not put an end to his suffering, for after death it will continue for some time more acutely still, till it slowly exhausts itself. There will be a purification through his great suffering, and when it ends there will be in him a keener vision and a fuller response to the promptings of his higher nature. When, then, he is reborn, he will be born with a stronger conscience, as the result of his sufferings. But he will still retain the lack of confidence in his ability, because nothing has happened after his death to alter that. Confidence can be gained only by mastering circumstance, and it is for that very purpose that he has returned. Now sooner or later, he will be confronted with a situation similar to that before he failed in the last life. As difficulties crowd around him in the new life, once more there will be the old struggle. The fact of committing suicide will now come as a tendency to suicide once again, as a resignation to suicide as the easiest way. But on the other hand, the memory of the suffering after the last suicide will also return in a stronger urge of conscience that this time the solution must not be through suicide. In this condition of mental strain, when the man is being pulled on one side by his past and on the other by his future, if he were to know, with vivid memory, how he had committed suicide in the past in a like situation, the probabilities are that he would be influenced by his past action, and that his lack of confidence would be intensified, with suicide as a result once again. Forgetfulness of the nerve-racking details of the past enables him to fight now more manfully. We little realize how we are being domineered over by our past. It is indeed a blessing for most of us that the kindly Gods draw a veil over a record which, at our present stage of evolution, cannot be anything but deplorable in many ways. |
Chúng ta chưa sẵn sàng cho sự tưởng nhớ chừng nào chúng ta còn bị ảnh hưởng bởi những ký ức về quá khứ. Ví dụ, khi ký ức về một sự kiện đau buồn, đến một mức độ nhất định, quá khứ không chỉ ảnh hưởng đến hiện tại của chúng ta mà còn cả tương lai của chúng ta, và cả hai đều theo một cách có hại; và do đó, chừng nào chúng ta chưa vượt ra ngoài phạm vi ảnh hưởng của quá khứ, phàm ngã của chúng ta bị suy yếu chứ không được củng cố bởi sự tưởng nhớ. Chúng ta hãy lấy một trường hợp cực đoan, nhưng dù sao thì nó vẫn là điển hình. Giả sử rằng trong kiếp trước, một người đàn ông đã tự tử như là cách dễ nhất để thoát khỏi những khó khăn của y. Khi y chết, trong thể trí của y sẽ có nhiều đau khổ về tinh thần, và đặc biệt y sẽ thiếu tự tin vào khả năng vượt qua giông bão. Tự tử không chấm dứt đau khổ của y, vì sau khi chết, nó sẽ tiếp tục trong một thời gian nữa thậm chí còn gay gắt hơn, cho đến khi nó từ từ cạn kiệt. Sẽ có một sự thanh lọc thông qua sự đau khổ lớn lao của y, và khi nó kết thúc, y sẽ có một tầm nhìn sâu sắc hơn và một sự đáp ứng đầy đủ hơn đối với những thúc đẩy của bản chất cao hơn của y. Khi đó, khi y được tái sinh, y sẽ được sinh ra với một lương tâm mạnh mẽ hơn, như là kết quả của những đau khổ của y. Nhưng y vẫn sẽ giữ lại sự thiếu tự tin vào khả năng của mình, bởi vì không có gì xảy ra sau khi y chết để thay đổi điều đó. Sự tự tin chỉ có thể đạt được bằng cách làm chủ hoàn cảnh, và chính vì mục đích đó mà y đã quay trở lại. Giờ đây, sớm hay muộn, y sẽ phải đối mặt với một tình huống tương tự như tình huống trước khi y thất bại trong kiếp trước. Khi những khó khăn vây quanh y trong cuộc sống mới, một lần nữa sẽ có cuộc đấu tranh cũ. Việc tự tử giờ đây sẽ đến như một khuynh hướng tự tử một lần nữa, như một sự cam chịu tự tử như là cách dễ nhất. Nhưng mặt khác, ký ức về sự đau khổ sau vụ tự tử cuối cùng cũng sẽ quay trở lại trong một thôi thúc lương tâm mạnh mẽ hơn rằng lần này giải pháp không được thông qua tự tử. Trong tình trạng căng thẳng tinh thần này, khi người đàn ông bị kéo về một bên bởi quá khứ của y và bên kia bởi tương lai của y, nếu y biết, với ký ức sống động, cách y đã tự tử trong quá khứ trong một tình huống tương tự, thì rất có thể y sẽ bị ảnh hưởng bởi hành động trong quá khứ của mình, và sự thiếu tự tin của y sẽ tăng lên, với kết quả là tự tử một lần nữa. Quên đi những chi tiết căng thẳng thần kinh của quá khứ cho phép y chiến đấu bây giờ một cách mạnh mẽ hơn. Chúng ta ít nhận ra rằng chúng ta đang bị quá khứ thống trị như thế nào. Thật vậy, đó là một phước lành cho hầu hết chúng ta rằng Các Thượng đế nhân từ kéo một bức màn che đậy một bản ghi mà, ở giai đoạn tiến hóa hiện tại của chúng ta, không thể không đáng buồn theo nhiều cách. |
|
Only so long as we identify ourselves with our past, that past is hidden from us, except in indirect modes as faculties and dispositions. But the direct memory will come, if we learn to dissociate our present selves from our past selves. We are ever the Future, not the past: and when we can look at our past—of this life first, and after, of that of other lives—without heat, impersonally, in perspective as it were, like a judge who has no sense of identity with the facts before him for judgment, then we shall begin to remember, directly, the past in detail– but till then, as Tennyson truly says: |
Chỉ khi chúng ta đồng nhất mình với quá khứ của mình, quá khứ đó mới bị che giấu khỏi chúng ta, ngoại trừ các phương thức gián tiếp như các khả năng và khuynh hướng. Nhưng ký ức trực tiếp sẽ đến, nếu chúng ta học cách tách biệt bản thân hiện tại của mình khỏi bản thân quá khứ của mình. Chúng ta luôn là Tương Lai, không phải quá khứ: và khi chúng ta có thể nhìn vào quá khứ của mình—trước hết là của cuộc đời này, và sau đó là của những cuộc đời khác—mà không hề nóng nảy, vô tư, theo quan điểm mà nói, giống như một thẩm phán không có cảm giác đồng nhất với những sự kiện trước mặt y để phán xét, thì chúng ta sẽ bắt đầu nhớ lại, một cách trực tiếp, quá khứ một cách chi tiết– nhưng cho đến lúc đó, như Tennyson đã nói một cách chân thật: |
|
We ranging down this lower track |
Chúng ta đi xuống con đường thấp hơn này |
|
The path we came by, thorn and flower, |
Con đường chúng ta đã đi qua, gai và hoa, |
|
Is shadow’d by the growing hour. |
Bị che khuất bởi giờ phút đang lớn dần. |
|
Lest life should fail in looking back. |
Để cuộc sống không thất bại khi nhìn lại. |
|
The second reason for our not directly remembering our past lives is this:—the “I”who asks the question, “Why don’t I remember?” has not lived in the past. It is the Soul who has lived, not this “I”with all its limitations. But is not this “I” that Soul? With most people not at all, and this fact will be evident if we think over the matter. |
Lý do thứ hai khiến chúng ta không trực tiếp nhớ lại những kiếp sống quá khứ của mình là:—“Tôi” vốn đặt câu hỏi, “Tại sao tôi không nhớ?” đã không sống trong quá khứ. Chính linh hồn đã sống, chứ không phải “Tôi” này với tất cả những hạn chế của nó. Nhưng chẳng phải “Tôi” này là linh hồn đó sao? Với hầu hết mọi người thì hoàn toàn không phải vậy, và sự thật này sẽ trở nên rõ ràng nếu chúng ta suy nghĩ về vấn đề này. |
|
The average man or woman is scarcely so much a Soul as a bundle of attributes of sex, creed, and nationality. But the Soul is immortal, that is, it has no sense of diminution or death; it has no idea of time, which deludes it to think that it is young, wastes away, and grows old; it is neither man nor woman, because it is developing in itself the best qualities of both sexes; it is neither Hindu, nor Buddhist, nor Christian, nor Muslim, because it lives in One Divine Life and assimilates that Life according to its temperament; it is not Indian, nor English, nor American, for it belongs to no country, even though its outermost sheath, the physical body, belongs to a particular race; it has no caste nor class, for it knows that all partake of One Life, and that before God there is neither Brahmin nor Shudra, Jew nor Gentile, aristocrat nor plebeian. |
Người nam hay nữ bình thường hiếm khi là một Linh hồn mà chỉ là một mớ các thuộc tính về giới tính, tín ngưỡng và quốc tịch. Nhưng Linh hồn là bất tử, nghĩa là, nó không có cảm giác suy giảm hay cái chết; nó không có khái niệm về thời gian, vốn đánh lừa nó nghĩ rằng nó còn trẻ, tàn tạ và già đi; nó không phải là đàn ông hay đàn bà, bởi vì nó đang phát triển trong chính nó những phẩm chất tốt nhất của cả hai giới; nó không phải là người Hindu, hay Phật tử, hay Cơ đốc giáo, hay Hồi giáo, bởi vì nó sống trong Sự Sống Thiêng Liêng Duy Nhất và đồng hóa Sự Sống đó theo khí chất của nó; nó không phải là người Ấn Độ, hay người Anh, hay người Mỹ, vì nó không thuộc về quốc gia nào, ngay cả khi lớp vỏ ngoài cùng của nó, thể xác, thuộc về một chủng tộc cụ thể; nó không có đẳng cấp hay giai cấp, vì nó biết rằng tất cả đều dự phần vào Sự Sống Duy Nhất, và trước Thượng đế không có Brahmin hay Shudra, người Do Thái hay dân ngoại, quý tộc hay dân thường. |
|
It is this Soul which puts out a part of itself, a Personality, for the period of a life, “as a mere subject for grave experiment and experience”. Through a persona, a “mask” of a babe, child, youth or maid, man or woman, bachelor, spinster or householder, old man or old woman, it looks out into life, and, as it observes, eliminates the distorting bias which its outer sheath gives. Its personalities in the past have been Lemurian or Atlantean, Hindu or Roman or Greek, and it selects the best out of them all and discards the rest. All literatures, sciences, arts, religions and civilizations are its school and playground, its workshop and study. Its patriotism is for an indivisible Humanity, and its creed is to co-operate with “God’s plan, which is Evolution.” |
Chính Linh hồn này đưa ra một phần của chính nó, một phàm ngã, trong khoảng thời gian của một kiếp sống, “như một chủ thể đơn thuần cho thử nghiệm và kinh nghiệm nghiêm túc”. Thông qua một nhân vật, một “mặt nạ” của một đứa trẻ sơ sinh, trẻ con, thanh niên hay thiếu nữ, đàn ông hay đàn bà, cử nhân, người độc thân hay chủ hộ, ông già hay bà già, nó nhìn ra cuộc sống, và khi nó quan sát, nó loại bỏ những thành kiến méo mó mà lớp vỏ bên ngoài của nó mang lại. Các phàm ngã của nó trong quá khứ là người Lemuria hoặc Atlantis, người Hindu hoặc La Mã hoặc Hy Lạp, và nó chọn những điều tốt nhất trong số đó và loại bỏ phần còn lại. Tất cả văn học, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo và nền văn minh là trường học và sân chơi của nó, xưởng làm việc và học tập của nó. Lòng yêu nước của nó là dành cho một Nhân loại không thể chia cắt, và tín ngưỡng của nó là hợp tác với “Thiên Cơ của Thượng đế, vốn là Sự tiến hoá.” |
|
It is this Soul who has had past lives. How much of this Soul are we, the men and women who ask the question, “Why don’t we remember our past lives?” The questioner is but the personality. The body of that personality has a brain on whose cells the memories of a past life have not been impressed; those memories are in the Divine Man who is of no time, of no creed, and of no land. To remember the Soul’s past lives, the brain of the personality must be made a mirror onto which can be reflected the memories of the Soul. But before those memories can come into the brain, one by one the various biases must be removed—of mortality, of time, of sex, of color, of caste. |
Chính Linh hồn này đã có những kiếp sống trong quá khứ. Chúng ta là bao nhiêu phần của Linh hồn này, những người nam và nữ vốn đặt câu hỏi: “Tại sao chúng ta không nhớ những kiếp sống trước đây của mình?” Người đặt câu hỏi chỉ là phàm ngã. Thể xác của phàm ngã đó có một bộ não mà trên các tế bào của nó, ký ức về một kiếp sống trong quá khứ chưa được khắc ghi; những ký ức đó nằm trong Đấng Thiên Nhân vốn không thuộc về thời gian, không thuộc về tín ngưỡng và không thuộc về vùng đất nào. Để nhớ lại những kiếp sống quá khứ của Linh hồn, bộ não của phàm ngã phải được tạo thành một tấm gương mà trên đó có thể phản chiếu những ký ức của Linh hồn. Nhưng trước khi những ký ức đó có thể đi vào bộ não, từng thành kiến khác nhau phải được loại bỏ—về tính hữu hạn, về thời gian, về giới tính, về màu da, về đẳng cấp. |
|
So long as we are wrapped up in petty thoughts of an exclusive nationalism, and in narrow beliefs of creeds, so long do we retain the barriers which exist between our higher selves and our lower. An intellectual breadth and a larger sympathy, “without distinction of race, creed, sex, caste or color,” must first be achieved, before there breaks, as through clouds, flashes of our true consciousness as Souls. There is no swifter way to discover what we are as Immortals out of time than by discovering what is our Work in time. |
Chừng nào chúng ta còn chìm đắm trong những suy nghĩ nhỏ nhen về một chủ nghĩa dân tộc độc quyền, và trong những niềm tin hẹp hòi về tín ngưỡng, chừng đó chúng ta vẫn giữ lại những rào cản tồn tại giữa chân ngã và phàm ngã của chúng ta. Một tầm nhìn trí tuệ rộng lớn và một sự đồng cảm lớn hơn, “không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng, giới tính, đẳng cấp hay màu da,” trước tiên phải đạt được, trước khi có những tia sáng bùng nổ, như xuyên qua những đám mây, về tâm thức chân thật của chúng ta như là Linh hồn. Không có cách nào nhanh hơn để khám phá ra chúng ta là ai với tư cách là những Đấng Bất Tử vượt thời gian hơn là khám phá ra Công Việc của chúng ta trong thời gian là gì. |
|
Let but a man or woman find that Work for whose sake sacrifice and immolation are serenest contentment, then slowly the larger consciousness of the Soul descends into the brain of the personality. With that descent begins the direct memory of past lives. As more and more the personality presses forward, desiring no light but what is sufficient for the next step on his path to his goal of work, slowly one bias after another is burnt away in the fire of purification. Like as the sun dissipates more clouds the higher it rises, so it is for the life of the personality; it knows then, with such conviction as the sun has about its own nature when it shines, that “the soul of man is immortal, and its future is the future of a thing whose growth and splendor have no limit.” |
Chúng ta hãy để một người nam hay nữ tìm thấy Công Việc mà vì nó, sự hy sinh và hiến tế là sự mãn nguyện thanh thản nhất, thì từ từ tâm thức lớn hơn của Linh hồn giáng xuống bộ não của phàm ngã. Với sự giáng xuống đó, ký ức trực tiếp về những kiếp sống quá khứ bắt đầu. Càng ngày phàm ngã càng tiến lên phía trước, không mong muốn ánh sáng nào ngoài ánh sáng đủ cho bước tiếp theo trên con đường của y đến mục tiêu công việc của mình, thì từ từ hết thành kiến này đến thành kiến khác bị đốt cháy trong ngọn lửa thanh tẩy. Giống như mặt trời làm tiêu tan nhiều mây hơn khi nó mọc càng cao, thì cũng như vậy đối với cuộc sống của phàm ngã; khi đó y biết, với một niềm tin chắc chắn như mặt trời có về bản chất của chính nó khi nó chiếu sáng, rằng “linh hồn của con người là bất tử, và tương lai của nó là tương lai của một vật mà sự tăng trưởng và vẻ huy hoàng của nó là vô hạn.” |
|
Then come back the memories of past lives. How they come those who live the life know. There are many kinds of knowledge useful for man, but none greater than the knowledge “that evolution is a fact, and that the method of evolution is the constant dipping down into matter under the law of adjustment.” This knowledge is for all who seek, if they will but seek rightly; and the right way is to be a Brother to all men, “without distinction of race creed, sex, caste or color. |
Sau đó những ký ức về các kiếp sống trước quay trở lại. Những ký ức đó đến như thế nào thì những ai sống cuộc đời đó đều biết. Có nhiều loại tri thức hữu ích cho con người, nhưng không có tri thức nào lớn hơn tri thức “rằng sự tiến hóa là một sự thật, và phương pháp tiến hóa là sự liên tục đi xuống vật chất theo định luật điều chỉnh”. Tri thức này dành cho tất cả những ai tìm kiếm, nếu họ tìm kiếm đúng cách; và cách đúng đắn là trở thành Huynh Đệ của tất cả mọi người, “không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng, giới tính, đẳng cấp hay màu da”. |
THE VISION OF THE SPIRIT—TẦM NHÌN CỦA TINH THẦN
|
The history of humanity is the history of ideas, and the stages through which men have risen from savage to civilized are distinguishable one from the other by the influence of certain great doctrines. Among these teachings which have moulded civilizations, the idea of Evolution stands out as heralding a new era in the world of thought. Considered at first as of mere academic interest, soon it was recognized as of practical value, today it is known as necessary in the understanding of every problem in every department of being. |
Lịch sử nhân loại là lịch sử của các ý tưởng, và các giai đoạn mà con người đã vươn lên từ dã man đến văn minh có thể phân biệt được với nhau bởi ảnh hưởng của một số học thuyết vĩ đại nhất định. Trong số những giáo lý vốn đã định hình các nền văn minh này, ý tưởng về Sự Tiến Hóa nổi bật như một điềm báo về một kỷ nguyên mới trong thế giới tư tưởng. Ban đầu được coi là chỉ mang tính chất học thuật đơn thuần, chẳng bao lâu nó đã được công nhận là có giá trị thực tế, ngày nay nó được biết đến như một điều cần thiết trong việc thấu hiểu mọi vấn đề trong mọi lĩnh vực của sự sống. |
|
Nevertheless it is a fact that the doctrine of evolution is a theory after all. No one has lived long enough to see sufficient links in the evolutionary chain to attest that the charges postulated as having taken place did so actually occur, and that the chain is not a fancy but a fact. Yet evolution is accepted by all as a dynamic idea, for like a magic wand it performs wonders in the world of thought. It marshals the heterogeneous organisms of nature into orderly groups, and from inanimate atom to protoplasm, from unicellular organism to multi-cellular, from invertebrate to vertebrate, from ape to man, one ascending scale of life is seen;— |
Tuy nhiên, sự thật là học thuyết tiến hóa xét cho cùng vẫn là một lý thuyết. Không ai sống đủ lâu để chứng kiến đủ các mắt xích trong chuỗi tiến hóa để chứng thực rằng những thay đổi được cho là đã diễn ra thực sự xảy ra, và chuỗi đó không phải là một ảo tưởng mà là một sự thật. Tuy nhiên, sự tiến hóa được tất cả mọi người chấp nhận như một ý tưởng năng động, vì giống như một cây đũa thần, nó thực hiện những điều kỳ diệu trong thế giới tư tưởng. Nó sắp xếp các sinh vật không đồng nhất của tự nhiên thành các nhóm có trật tự, và từ nguyên tử vô tri đến nguyên sinh chất, từ sinh vật đơn bào đến đa bào, từ động vật không xương sống đến động vật có xương sống, từ vượn đến người, một thang tiến hóa của sự sống được nhìn thấy;— |
|
And striving to be man, the worm |
Và cố gắng trở thành người, con sâu |
|
Mounts through all the spires of form |
Leo qua tất cả các đỉnh tháp của hình tướng |
|
Yet none can say that evolution is an agreeable fact to contemplate, for there is a ruthlessness in Nature’s methods which is appalling. Utterly cruel and wasteful she seems, creating and perfecting her creatures only to prey on each other, generating more than can live in the fierce struggle for existence. “Red in tooth and claw with ravin”, she builds and un-builds and builds again, one-pointed only in this, that a type shall survive, reckless of the pleasure or pain to a single life. Men themselves, proud though they be in a fancied freedom of thought and action, are nothing but pawns in a game she plays. The more fully evolution is understood from such facts as scientists have so far gathered, the more justifiably can men say, with Omar, of their birth, life and death: |
Tuy nhiên, không ai có thể nói rằng sự tiến hóa là một sự thật dễ chịu để chiêm ngưỡng, vì có một sự tàn nhẫn trong các phương pháp của Tự nhiên vốn rất kinh hoàng. Bà dường như hoàn toàn tàn nhẫn và lãng phí, tạo ra và hoàn thiện các sinh vật của Bà chỉ để chúng ăn thịt lẫn nhau, tạo ra nhiều hơn mức có thể sống sót trong cuộc đấu tranh sinh tồn khốc liệt. “Răng và vuốt nhuốm máu vì đói khát”, Bà xây dựng và phá bỏ rồi lại xây dựng, chỉ nhất tâm ở điều này, rằng một kiểu hình sẽ sống sót, bất chấp niềm vui hay nỗi đau đối với một sự sống đơn lẻ. Bản thân con người, dù tự hào về sự tự do tư tưởng và hành động mà họ tưởng tượng, cũng chỉ là những con tốt trong một trò chơi mà Bà chơi. Sự tiến hóa càng được thấu hiểu đầy đủ hơn từ những sự thật mà các nhà khoa học đã thu thập được cho đến nay, thì con người càng có thể nói một cách chính đáng hơn, cùng với Omar, về sự ra đời, cuộc sống và cái chết của họ: |
|
Into this Universe, and Why not knowing, |
Bước vào Vũ trụ này, và Không biết Tại sao, |
|
Nor Whence, like Water—willy-nilly flowing, |
Cũng chẳng biết Từ đâu, như Nước—chảy bừa bãi, |
|
And out of it, like Wind along the Waste |
Và ra khỏi nó, như Gió dọc theo Vùng Hoang Vu |
|
I know not Whither, willy-nilly blowing. |
Ta không biết Đi đâu, thổi bừa bãi. |
|
Of course this attitude does not represent that of the majority of men. Millions of men believe in a Creator, and that “God’s in his heaven, All’s right with the world!” But it is no exaggeration to say that their optimism continually receives rude shocks. No man or woman of sensibility can look about him and not agree with Tennyson’s comparison of life to a play:– |
Tất nhiên, thái độ này không đại diện cho phần lớn mọi người. Hàng triệu người tin vào một Đấng Sáng Tạo, và rằng “Thượng đế ở trên thiên đàng của Ngài, Mọi thứ đều ổn với thế giới!” Nhưng không hề phóng đại khi nói rằng sự lạc quan của họ liên tục nhận được những cú sốc thô bạo. Không một người nam hay nữ nào nhạy cảm có thể nhìn xung quanh mình mà không đồng ý với sự so sánh cuộc sống với một vở kịch của Tennyson:– |
|
Act first, this Earth, a stage to gloom’d with woe |
Màn đầu, Trái Đất này, một sân khấu u ám với nỗi thống khổ |
|
You all but sicken at the shifting scenes |
Tất cả các bạn gần như phát ốm vì những cảnh chuyển đổi |
|
And yet be patient. Our Playwright may show |
Nhưng hãy kiên nhẫn. Nhà Viết Kịch của chúng ta có thể cho thấy |
|
In some fifth Act what this wild drama means. |
Trong một Màn thứ năm nào đó, ý nghĩa của bộ phim hoang dã này. |
|
Both the idea of Evolution and the idea of Divine Guidance, as each is at present conceived, fail to satisfy fully the needs of men for an inspiring view of life. The former indeed shows a splendid pageant of Nature, but it has no message to individual man, except to make the most of his brief day of life, and stoically resign himself to extinction when Nature shall have no further use for him. The latter speaks to men’s hearts in alluring accents of a power that maketh for righteousness, but it sees God as existing only in the gaps of that pitiless cosmic order which science reveals. It is obvious, therefore, that any philosophy which postulates an inseparable relation, between God and evolution, between Nature and man, is worthy of examination, and this is the view of life which Theosophy propounds, in the light of one great idea. |
Cả ý niệm về Sự Tiến Hóa lẫn ý niệm về Sự Dẫn Dắt Thiêng Liêng, như mỗi ý niệm hiện đang được hình dung, đều không thỏa mãn đầy đủ những nhu cầu của con người về một cái nhìn đầy cảm hứng về cuộc sống. Thật vậy, ý niệm trước cho thấy một màn trình diễn tráng lệ của Tạo Hóa, nhưng nó không có thông điệp nào cho từng cá nhân, ngoại trừ việc tận dụng tối đa ngày sống ngắn ngủi của y, và cam chịu sự diệt vong một cách khắc kỷ khi Tạo Hóa không còn cần đến y nữa. Ý niệm sau nói với trái tim của con người bằng những giọng điệu quyến rũ về một quyền năng tạo nên sự công chính, nhưng nó thấy Thượng đế chỉ tồn tại trong những khoảng trống của trật tự vũ trụ tàn nhẫn mà khoa học tiết lộ. Vì vậy, rõ ràng là bất kỳ triết lý nào khẳng định một mối quan hệ không thể tách rời giữa Thượng đế và sự tiến hóa, giữa Tạo Hóa và con người, đều đáng được xem xét, và đây là quan điểm về cuộc sống mà Thông Thiên Học đề xuất, dưới ánh sáng của một ý tưởng vĩ đại. |
|
This idea is that of the Evolution of Life. Just as modern science tells us of a ceaseless change of forms from protoplasm to man, so Theosophy asserts that there is, pari passu, a changing, growing life. This life does not originate in the forms, though we see it associated with them; and of it Theosophy says that first, it is indestructible, and second, that it evolves. |
Ý tưởng này là về Sự Tiến Hóa của Sự Sống. Giống như khoa học hiện đại cho chúng ta biết về một sự thay đổi không ngừng của các hình tướng từ tế bào chất đến con người, Thông Thiên Học cũng khẳng định rằng, pari passu, có một sự sống đang thay đổi, đang phát triển. Sự sống này không bắt nguồn từ các hình tướng, mặc dù chúng ta thấy nó liên kết với chúng; và về nó, Thông Thiên Học nói rằng thứ nhất, nó là bất diệt, và thứ hai, nó tiến hóa. |
|
It is indestructible, in the sense that when an organism is destroyed, nevertheless all is not destroyed, for there remains a life which is still conscious. If a rose fades and its petals crumble and fall to dust, the life of that rose has not therefore ceased to be; that life persists in Nature, retaining in itself all the memories of all the experiences which it gained garbed as a rose. Then in due course of events, following laws which are comprehensible, that life animates another rose of another spring, bringing to its second embodiment the memories of its first. Whenever, therefore, there seems the death of a living thing, crystal or plant, animal or man, there always persists an indestructible life and consciousness, even though to all appearance the object is lifeless, and processes of decay have begun. |
Nó là bất diệt, theo nghĩa là khi một cơ thể bị phá hủy, tuy nhiên không phải tất cả đều bị phá hủy, vì vẫn còn một sự sống vẫn còn tâm thức. Nếu một bông hồng tàn phai và cánh hoa của nó vỡ vụn và rơi xuống thành bụi, thì sự sống của bông hồng đó không vì thế mà ngừng lại; sự sống đó vẫn tồn tại trong Tạo Hóa, giữ lại trong chính nó tất cả những ký ức về tất cả những kinh nghiệm mà nó đã đạt được khi khoác lên mình hình hài một bông hồng. Sau đó, theo đúng trình tự các sự kiện, tuân theo các định luật có thể hiểu được, sự sống đó làm sinh động một bông hồng khác của một mùa xuân khác, mang đến cho hiện thân thứ hai của nó những ký ức về lần đầu tiên. Do đó, bất cứ khi nào có vẻ như có cái chết của một vật thể sống, tinh thể hoặc thực vật, động vật hoặc con người, thì luôn luôn tồn tại một sự sống và tâm thức bất diệt, ngay cả khi đối với tất cả vẻ bề ngoài, vật thể đó không còn sự sống và các quá trình phân hủy đã bắt đầu. |
|
Further, this life is evolving, in exactly the same way that the scientist says that an organism evolves. The life is at first amorphous, and responds but little to the stimuli from without; it retains only feeble memories of its experiences which it gains through its successive embodiments. But it passes from stage to stage, through more and more complex organisms, till slowly it becomes more definite, more diverse in its functions. As the outer form evolves from protoplasm to man, so evolves too the life ensouling it. All Nature, visible and invisible, is the field of an evolution of life through successive series of evolving forms. The broad stages of this evolving life are from mineral to vegetable, from vegetable to animal, and from animal to man. |
Hơn nữa, sự sống này đang tiến hóa, theo đúng cách mà nhà khoa học nói rằng một cơ thể tiến hóa. Sự sống ban đầu vô định hình, và đáp ứng rất ít với các kích thích từ bên ngoài; nó chỉ giữ lại những ký ức yếu ớt về những kinh nghiệm mà nó có được thông qua các hiện thân kế tiếp của nó. Nhưng nó đi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, thông qua các cơ thể ngày càng phức tạp hơn, cho đến khi nó dần trở nên xác định hơn, đa dạng hơn trong các chức năng của nó. Khi hình tướng bên ngoài tiến hóa từ tế bào chất đến con người, thì sự sống phú linh nó cũng tiến hóa. Tất cả Tạo Hóa, hữu hình và vô hình, là trường cho sự tiến hóa của sự sống thông qua các loạt hình tướng tiến hóa kế tiếp. Các giai đoạn rộng lớn của sự sống tiến hóa này là từ giới kim thạch đến giới thực vật, từ giới thực vật đến giới động vật và từ giới động vật đến con người. |
|
The doctrine of a life that evolves through evolving forms answers some of those questions which puzzle the biologist today. Many a fact hitherto considered outside the domain of science is seen as illustrative of new laws, and existing gaps are bridged over to make the doctrine of evolution more logical than ever. It further shows Nature as not wasteful, and only seemingly cruel, for nothing is lost, since every experience in every form which was destroyed, in the process of natural selection, is treasured by the life today. The past lives in the present, to attest that Nature’s purpose is not death crushing life, but life ever triumphant over death to make out of stocks and stones immortal men. |
Học thuyết về một sự sống tiến hóa thông qua các hình tướng tiến hóa trả lời một số câu hỏi khiến các nhà sinh vật học ngày nay bối rối. Nhiều sự kiện trước đây được coi là nằm ngoài phạm vi khoa học được xem như minh họa cho các định luật mới, và những khoảng trống hiện tại được lấp đầy để làm cho học thuyết về sự tiến hóa trở nên hợp lý hơn bao giờ hết. Nó hơn nữa cho thấy Tạo Hóa không lãng phí, và chỉ có vẻ tàn nhẫn, vì không có gì bị mất, vì mọi kinh nghiệm trong mọi hình tướng đã bị phá hủy, trong quá trình chọn lọc tự nhiên, đều được sự sống ngày nay trân trọng. Quá khứ sống trong hiện tại, để chứng thực rằng mục đích của Tạo Hóa không phải là cái chết nghiền nát sự sống, mà là sự sống luôn chiến thắng cái chết để tạo ra những con người bất tử từ đá và sỏi. |
|
In each human being is seen this same principle of an imperishable evolving life. For man is an individual life and consciousness, an immortal soul capable of living apart from the body which we usually call “the man.” In each soul, the process of evolution is at work. At his entrance on existence as a soul, he is feeble and chaotic in his consciousness, vague and indefinite in his understanding of the meaning of life, and capable only of a narrow range of thought and feeling. But he too evolves, from indefinite to definite, from simple to complex, from chaos to order. |
Trong mỗi con người đều thấy nguyên lý tương tự về một sự sống tiến hóa bất diệt. Vì con người là một sự sống và tâm thức cá nhân, một linh hồn bất tử có khả năng sống tách biệt với thể xác mà chúng ta thường gọi là “con người”. Trong mỗi linh hồn, quá trình tiến hóa đang hoạt động. Khi mới bước vào sự tồn tại như một linh hồn, tâm thức y yếu ớt và hỗn loạn, sự thấu hiểu về ý nghĩa cuộc sống mơ hồ và không rõ ràng, và chỉ có khả năng có một phạm vi suy nghĩ và cảm xúc hạn hẹp. Nhưng y cũng tiến hóa, từ không xác định đến xác định, từ đơn giản đến phức tạp, từ hỗn loạn đến trật tự. |
|
Man’s evolution is by successive manifestations in bodies of flesh, passing at the death of one body to begin life once more in another new one. In this passage, he carries with him the memory of all experiences which he has gained in the past behind him. This aspect of the evolution of life as it affects men is called Reincarnation. |
Sự tiến hóa của con người là nhờ sự biểu hiện liên tiếp trong các thể xác thịt, trải qua cái chết của một thể xác để bắt đầu lại cuộc sống một lần nữa trong một thể xác mới khác. Trong sự chuyển tiếp này, y mang theo ký ức về tất cả những kinh nghiệm mà y đã đạt được trong quá khứ. Khía cạnh này của sự tiến hóa của sự sống khi nó ảnh hưởng đến con người được gọi là Tái Sinh. |
|
As all processes of Nature are intelligible on the hypothesis of an evolution of organisms, so all that happens to men becomes comprehensible in the light of reincarnation. As evolution links all forms by species and genus, family and order, class and group, sub-kingdom and kingdom, into one unbreakable chain, so reincarnation binds all human experiences into one consistent philosophy of life. How reincarnation explains the mysteries around us and inspires us, we shall now see. |
Vì tất cả các quá trình của Tự Nhiên đều có thể hiểu được theo giả thuyết về sự tiến hóa của các sinh vật, nên tất cả những gì xảy ra với con người trở nên dễ hiểu hơn dưới ánh sáng của sự tái sinh. Vì sự tiến hóa liên kết tất cả các hình tướng theo loài và giống, họ và bộ, lớp và nhóm, phân giới và giới, thành một chuỗi không thể phá vỡ, nên sự tái sinh ràng buộc tất cả những kinh nghiệm của con người thành một triết lý sống nhất quán. Chúng ta sẽ thấy sự tái sinh giải thích những bí ẩn xung quanh chúng ta và truyền cảm hứng cho chúng ta như thế nào. |
|
Imagine with me that existence is symbolized by a mountain, and that millions are climbing to its summit. Let many days be needed before a traveler comes to his goal. Then, as he climbs day after day, the perspective of things below him and above him will change; new sights will greet his eyes, new airs will breathe around him; his eyes will adjust themselves to new horizons, and step by step objects will change shape and proportion. At last, on reaching the summit, a vast panorama will extend before him, and he will see clearly every part of the road which he climbed, and why it dipped into this valley and circled that crag. Let this mountain typify existence, and let the climbers up its sides be men and women who are immortal souls. |
Hãy tưởng tượng với tôi rằng sự tồn tại được tượng trưng bằng một ngọn núi, và hàng triệu người đang leo lên đỉnh của nó. Cần nhiều ngày trước khi một lữ khách đến được mục tiêu của mình. Sau đó, khi y leo lên ngày này qua ngày khác, viễn cảnh về những thứ bên dưới y và bên trên y sẽ thay đổi; những cảnh tượng mới sẽ chào đón đôi mắt y, những luồng không khí mới sẽ thở xung quanh y; đôi mắt y sẽ điều chỉnh theo những chân trời mới, và từng bước một các vật thể sẽ thay đổi hình dạng và tỷ lệ. Cuối cùng, khi lên đến đỉnh, một toàn cảnh rộng lớn sẽ mở ra trước mắt y, và y sẽ thấy rõ mọi phần của con đường mà y đã leo, và lý do tại sao nó lại lao vào thung lũng này và bao quanh mỏm đá đó. Hãy để ngọn núi này tượng trưng cho sự tồn tại, và hãy để những người leo lên sườn núi là những người nam và nữ vốn là những linh hồn bất tử. |
|
Let us now think for a moment of travelers at the mountain’s base, who are to climb to its summit. We know how limited must be their horizon, and how little they can see of the long path before them. Let such travelers typify the most backward of our humanity, the most savage and least intelligent men and women we can find today. According to reincarnation, these are child-souls, just entering into existence, in order to undergo evolution and to be made into perfect souls. To understand the process of evolution let us watch one of them stage by stage as he climbs the mountain. |
Bây giờ chúng ta hãy nghĩ trong giây lát về những lữ khách ở chân núi, những người sẽ leo lên đỉnh của nó. Chúng ta biết chân trời của họ phải hạn chế đến mức nào, và họ có thể thấy ít đến mức nào về con đường dài trước mắt họ. Hãy để những lữ khách như vậy tượng trưng cho những người lạc hậu nhất trong nhân loại chúng ta, những người nam và nữ man rợ và kém thông minh nhất mà chúng ta có thể tìm thấy ngày nay. Theo sự tái sinh, đây là những linh hồn trẻ thơ, vừa mới bước vào sự tồn tại, để trải qua quá trình tiến hóa và được tạo thành những linh hồn hoàn hảo. Để hiểu quá trình tiến hóa, chúng ta hãy quan sát một trong số họ từng giai đoạn khi y leo lên núi. |
|
The first thing which we shall note is that this child-soul manifests a duality. For he is soul and body; as a soul he is from God, but as a body he is from the brute. |
Điều đầu tiên chúng ta sẽ lưu ý là linh hồn trẻ thơ này biểu hiện một tính nhị nguyên. Vì y là linh hồn và thể xác; là một linh hồn, y đến từ Thượng đế, nhưng là một thể xác, y đến từ loài thú. |
|
The Lord let the house of a brute to the soul of man |
Đức Chúa cho linh hồn con người thuê ngôi nhà của một con thú |
|
And man said, “Am I your debtor?” |
Và con người nói: “Con có phải là con nợ của Ngài không?” |
|
And the Lord—”Not yet: but make it as clean as you can, |
Và Đức Chúa — “Chưa: nhưng hãy làm cho nó sạch hết mức có thể, |
|
And then I will let you a better.” |
Và sau đó Ta sẽ cho con thuê một cái tốt hơn.” |
|
The body which he occupies has ingrained in it a strong instinct of self-preservation stamped upon it by the fierce struggle for existence of its animal progenitors; he himself, as a soul coming from God, has intuitions as to right and wrong, but as yet hardly any will. The body demands for its preservation that he be self-assertive and selfish; lacking the will to direct his evolution, he acts as the body impels. |
Thể xác mà y chiếm giữ đã ăn sâu vào đó một bản năng tự bảo tồn mạnh mẽ được đóng dấu bởi cuộc đấu tranh sinh tồn khốc liệt của tổ tiên động vật của nó; bản thân y, với tư cách là một linh hồn đến từ Thượng đế, có trực giác về đúng và sai, nhưng cho đến nay hầu như không có ý chí nào. Thể xác đòi hỏi để bảo tồn nó rằng y phải quyết đoán và ích kỷ; thiếu ý chí để chỉ đạo sự tiến hóa của mình, y hành động theo sự thúc đẩy của thể xác. |
THE VISION OF THE SEPARATED SELF —TẦM NHÌN VỀ PHÀM NGÃ TÁCH BIỆT
|
Hence at this earliest stage of the soul, his vision of life as he climbs is that of the separated self. “Mine, not yours” is his principle of action; greed rules him, and a thirst for sensation drives him on, and he little heeds that he is unjust and cruel to others as he lives through his nights and days of selfishness and self- assertion. He seems strong-willed, for he is able to crush the weaker before him. But in reality he has no will at all, for he is but the plaything of an animal heredity which he cannot control. He has no more freedom of will than the water-wheel which turns at the bidding of the descending stream. He is but the tool of a “will to live” which accomplishes a purpose not his own. |
Do đó, ở giai đoạn sớm nhất này của linh hồn, tầm nhìn của y về cuộc sống khi y tiến lên là về bản ngã tách biệt. “Của tôi, không phải của bạn” là nguyên tắc hành động của y; lòng tham chi phối y, và sự khao khát cảm giác thúc đẩy y tiến lên, và y ít để ý rằng y bất công và tàn nhẫn với người khác khi y sống qua những đêm ngày ích kỷ và khẳng định bản thân. Y dường như có ý chí mạnh mẽ, vì y có thể nghiền nát kẻ yếu hơn trước mặt. Nhưng trên thực tế, y hoàn toàn không có ý chí, vì y chỉ là món đồ chơi của một di sản động vật mà y không thể kiểm soát. Y không có tự do ý chí hơn cái cối xay nước quay theo lệnh của dòng suối chảy xuống. Y chỉ là công cụ của một “ý chí sống” vốn hoàn thành một mục đích không phải của riêng y. |
|
Millions of men and women around us are at this first stage. Their craftiness, hardly deserving the name of intellect, is that of Falstaff for whom “the world is mine oyster which I with sword will open.” In their least animal phases, comfort is their aim in life: “They dressed, digested, talked, articulated words; other vitality showed they almost none.” The universe around them is meaningless, and they are scarce capable of wonder: “Let but a Rising of the Sun, let but a creation of the world happen twice, and it ceases to be marvellous, to be noteworthy or noticeable”. The centre of the circle of the cosmos is in themselves, and they neither know nor care if another truer centre is possible. |
Hàng triệu người nam và nữ xung quanh chúng ta đang ở giai đoạn đầu tiên này. Sự xảo quyệt của họ, khó xứng đáng với cái tên trí tuệ, là của Falstaff, đối với người mà “thế giới là con hàu của tôi mà tôi sẽ mở bằng kiếm”. Trong những giai đoạn ít tính động vật nhất của họ, sự thoải mái là mục tiêu của họ trong cuộc sống: “Họ ăn mặc, tiêu hóa, nói chuyện, phát âm từ ngữ; hầu như không có sinh lực nào khác cho thấy điều đó”. Vũ trụ xung quanh họ vô nghĩa, và họ hầu như không có khả năng kinh ngạc: “Chỉ cần Mặt Trời Mọc, chỉ cần một sự sáng tạo của thế giới xảy ra hai lần, và nó không còn kỳ diệu, đáng chú ý hay đáng để ý nữa”. Trung tâm của vòng tròn vũ trụ nằm ở chính họ, và họ không biết cũng chẳng quan tâm liệu có một trung tâm chân thật hơn khác có thể tồn tại hay không. |
|
Yet when we recognize that each of these souls is immortal, and that his future is “the future of a thing whose growth and splendour have no limit,” we begin to understand why, at this early stage, selfishness plays such a prominent part in his life. For in stages to come, he must be capable of standing alone firm on the basis of a coherent individuality; now is the time for him to develop initiative and strength. He is quick to retaliate, but the germs of swift decision are grown thereby; he is domineering and cruel, but the seeds of intelligent enterprise result from the animal cunning which he displays. Every evil which he does must some time be paid back in laborious service to his victims; yet on the whole the evil which he does at this stage is less in quantity and in force, for all its seeming, than that done in later stages, where intelligence is keener and emotion more powerful. At a certain period in human evolution, selfishness has its place in the economy of things, for selfishness too is a force used to build the battlements of heaven. |
Tuy nhiên, khi chúng ta nhận ra rằng mỗi một trong số những linh hồn này là bất tử, và rằng tương lai của y là “tương lai của một vật mà sự phát triển và huy hoàng của nó không có giới hạn”, chúng ta bắt đầu hiểu tại sao, ở giai đoạn đầu này, sự ích kỷ lại đóng một vai trò nổi bật như vậy trong cuộc sống của y. Vì trong những giai đoạn sắp tới, y phải có khả năng đứng vững một mình trên cơ sở một cá tính mạch lạc; bây giờ là thời điểm để y phát triển sáng kiến và sức mạnh. Y nhanh chóng trả đũa, nhưng mầm mống của quyết định nhanh chóng được phát triển nhờ đó; y hống hách và tàn nhẫn, nhưng hạt giống của sự nghiệp thông minh là kết quả từ sự xảo quyệt của động vật mà y thể hiện. Mọi điều ác mà y gây ra một lúc nào đó phải được trả lại bằng sự phụng sự khó nhọc cho các nạn nhân của y; tuy nhiên, nói chung, điều ác mà y gây ra ở giai đoạn này ít về số lượng và sức mạnh hơn, so với tất cả những gì có vẻ như vậy, so với những điều ác được gây ra ở các giai đoạn sau, nơi trí thông minh sắc sảo hơn và cảm xúc mạnh mẽ hơn. Vào một thời điểm nhất định trong quá trình tiến hóa của nhân loại, sự ích kỷ có vị trí của nó trong nền kinh tế của mọi thứ, vì sự ích kỷ cũng là một mãnh lực được sử dụng để xây dựng các lũy thành trên thiên đàng. |
|
These souls, whose youth alone is the cause of their selfishness, are in their essence divine. There is in them no evil of a positive kind; their vices are but the result of the absence of virtues, ad their evil “is null, is naught, is silence implying sound”. Each is a “good man” who, deep down within him, has a knowledge of “the one true way” though in his attempts to tread it he seems to retrograde rather than to evolve. Like plants in a garden, they are all tended by Him from whom they come; He knows the perfect souls that He will make out of them by change and growth as the ages pass by. |
Những linh hồn này, mà tuổi trẻ của họ là nguyên nhân duy nhất gây ra sự ích kỷ của họ, về bản chất là thiêng liêng. Trong họ không có điều ác nào thuộc loại tích cực; những thói xấu của họ chỉ là kết quả của việc thiếu đức hạnh, và điều ác của họ “là vô nghĩa, là hư vô, là sự im lặng ngụ ý âm thanh”. Mỗi người là một “người tốt”, người mà, sâu thẳm bên trong, có kiến thức về “con đường chân thật duy nhất” mặc dù trong những nỗ lực bước đi trên con đường đó, y dường như thụt lùi hơn là tiến hóa. Giống như cây cối trong vườn, tất cả đều được Ngài chăm sóc, Đấng mà từ đó chúng đến; Ngài biết những linh hồn hoàn hảo mà Ngài sẽ tạo ra từ chúng bằng sự thay đổi và phát triển khi các kỷ nguyên trôi qua. |
|
Though still confused his service is unto Me, |
Dù vẫn còn bối rối, sự phụng sự của y là cho Ta, |
|
I soon shall lead him to a clearer morning. |
Ta sẽ sớm dẫn y đến một buổi sáng rõ ràng hơn. |
|
Sees not the gardener, even while he buds his tree, |
Người làm vườn không thấy sao, ngay cả khi y đâm chồi cho cây của mình, |
|
Both flower and fruit the future years adorning? |
Cả hoa và quả tô điểm cho những năm tháng tương lai? |
|
Life after life, these souls come to birth, now as men and now as women; they live a life of selfishness, and they die, and hardly any change will be noticeable in the character; but slowly there steals into their lives a dissatisfaction. The mind is too dull to grasp the relation of the individual to the whole, and the imagination is too feeble to realize that “man doth not live by bread alone”. Hence it is that “the thousand natural shocks that flesh is heir to” are duly marshaled and employed to ruffle their self-centered contentment. Old age and death cast over them shadows which have no power to sadden a philosophic mind; disease and accident lie in wait for them to weight down their spirits and make them rebel against a fate they do not understand. Till their hearts shall enshrine a divine purpose, a Hound of Heaven pursues them, and “naught shelters thee, who wilt not shelter Me.” |
Hết kiếp này đến kiếp khác, những linh hồn này đến với sự sinh, khi là người nam và khi là người nữ; họ sống một cuộc đời ích kỷ, rồi họ chết, và hầu như không có sự thay đổi nào đáng chú ý trong tính cách; nhưng từ từ, một sự bất mãn len lỏi vào cuộc sống của họ. Thể trí quá trì độn để nắm bắt mối liên hệ của cá nhân với toàn thể, và trí tưởng tượng quá yếu ớt để nhận ra rằng “người ta sống không chỉ bằng cơm bánh”. Do đó, “hàng ngàn cú sốc tự nhiên mà xác thịt phải gánh chịu” được sắp xếp và sử dụng để làm xáo trộn sự mãn nguyện tự kỷ của họ. Tuổi già và cái chết phủ lên họ những bóng tối không có sức mạnh làm buồn một trí tuệ triết học; bệnh tật và tai nạn rình rập họ để đè nặng tinh thần và khiến họ nổi loạn chống lại một số phận mà họ không hiểu. Cho đến khi trái tim họ trân trọng một Thiên Ý, một Con Chó của Thiên Đường đuổi theo họ, và “không gì che chở cho ngươi, kẻ không che chở Ta”. |
|
Thus are they made ready to pass on to the next stage; the foundations of abilities have been laid, and the individual is firm on a basis built through selfishness. Now has come the time to begin the laborious work of “casting out of the self” and so there opens before the soul’s gaze the vision of the next stage. According to the type of soul, this vision is either the Vision of the Mind or the Vision of the Emotions. |
Như vậy, họ đã sẵn sàng để chuyển sang giai đoạn tiếp theo; nền tảng của các khả năng đã được đặt ra, và cá nhân vững vàng trên một nền tảng được xây dựng thông qua sự ích kỷ. Bây giờ đã đến lúc bắt đầu công việc khó nhọc là “tống khứ bản ngã” và vì vậy, trước mắt linh hồn mở ra tầm nhìn về giai đoạn tiếp theo. Theo loại linh hồn, tầm nhìn này là Tầm Nhìn của Thể Trí hoặc Tầm Nhìn của Cảm Xúc. |
|
There are in life two main types of souls, the one in whom intelligence controls emotion, and the other in whom emotion sways the mind. One type is not more evolved than the other; they are both stages to pass through in order to grow a higher faculty, that of Intuition. The vision of the third stage is the Vision of the Intuition, but to it souls come from the first stage either through intellect or through emotion. Let us first consider those souls whose evolution is by way of intellect. |
Có hai loại linh hồn chính trong cuộc sống, một loại mà trí thông minh kiểm soát cảm xúc và loại kia mà cảm xúc chi phối thể trí. Một loại không tiến hóa hơn loại kia; cả hai đều là những giai đoạn phải trải qua để phát triển một năng lực cao hơn, đó là Trực Giác. Tầm nhìn của giai đoạn thứ ba là Tầm Nhìn của Trực Giác, nhưng các linh hồn đến đó từ giai đoạn đầu tiên thông qua trí tuệ hoặc thông qua cảm xúc. Chúng ta hãy xem xét trước những linh hồn có sự tiến hóa theo đường lối trí tuệ. |
THE VISION OF THE MIND —TẦM NHÌN CỦA THỂ TRÍ
|
We shall see in the past of these souls that much intelligence has been developed in the first stage; their selfishness has made them quick and cunning to adapt opportunities to minister to their comfort. This intelligence is now taken up by the unseen Guides of evolution, and the soul is placed in environments that will change mere animal cunning into true intellect. The past good and evil sown by him will be adjusted in its reaping, so as to give him occupations and interests that will force him to think of men and things around him apart from their relation to himself. Instead of weighing experiences in terms of personal comfort, he begins to group them in types and categories; little by little he begins to see a material and moral order in the cosmos which is more powerful than his will. Each law of Nature, when first seen, is feared by him, for it seems to exist only to thwart him. But later, with more experience of their working, he begins to trust laws and to depend upon them to achieve his aim. A love of learning appears in him, and Nature is no longer a blank page; he has ceased to be “a pair of spectacles behind which there is no eye”. |
Chúng ta sẽ thấy trong quá khứ của những linh hồn này rằng nhiều trí thông minh đã được phát triển trong giai đoạn đầu tiên; sự ích kỷ của họ đã làm cho họ nhanh nhẹn và xảo quyệt để thích ứng các cơ hội để phục vụ cho sự thoải mái của họ. Trí thông minh này giờ đây được các Huấn Sư vô hình của sự tiến hóa tiếp nhận, và linh hồn được đặt trong môi trường sẽ thay đổi sự xảo quyệt đơn thuần của động vật thành trí tuệ đích thực. Quá khứ tốt và xấu do y gieo trồng sẽ được điều chỉnh trong việc gặt hái, để mang lại cho y những nghề nghiệp và sở thích sẽ buộc y phải suy nghĩ về những người và sự vật xung quanh y ngoài mối liên hệ của chúng với bản thân y. Thay vì cân nhắc những kinh nghiệm về sự thoải mái cá nhân, y bắt đầu nhóm chúng thành các loại và phạm trù; dần dần y bắt đầu thấy một trật tự vật chất và đạo đức trong vũ trụ mạnh mẽ hơn ý chí của y. Mỗi định luật của Tự Nhiên, khi mới được nhìn thấy, đều bị y sợ hãi, vì nó dường như chỉ tồn tại để cản trở y. Nhưng sau đó, với nhiều kinh nghiệm hơn về hoạt động của chúng, y bắt đầu tin tưởng các định luật và dựa vào chúng để đạt được mục tiêu của mình. Một tình yêu học hỏi xuất hiện trong y, và Tự Nhiên không còn là một trang giấy trắng; y đã không còn là “một cặp kính mà đằng sau không có con mắt”. |
|
At this stage, we shall see that the selfishness still in him will warp the judgments of his mind. He will be a doctrinaire, a pedant, combative and full of prejudice; for all his intellect, his character will show marked weaknesses, and he will often see and propound principles of conduct which he will not be able to apply to himself. Again and again he will fail to see how little he understands the world, since the world is the embodiment of a life which is more than mind, and whoso understands it with mind alone will always misunderstand. Excess of intellect will become in him defect of intelligence, and he will see all things as through a glass darkly. |
Ở giai đoạn này, chúng ta sẽ thấy rằng sự ích kỷ vẫn còn trong y sẽ làm sai lệch những phán xét của thể trí y. Y sẽ là một người giáo điều, một người khoe chữ, hiếu chiến và đầy thành kiến; vì tất cả trí tuệ của y, tính cách của y sẽ cho thấy những điểm yếu rõ rệt, và y sẽ thường thấy và đề xuất những nguyên tắc hành vi mà y sẽ không thể áp dụng cho bản thân. Y sẽ hết lần này đến lần khác không nhận ra mình hiểu thế giới ít đến mức nào, vì thế giới là hiện thân của một sự sống lớn hơn thể trí, và ai hiểu nó chỉ bằng thể trí sẽ luôn hiểu sai. Sự dư thừa trí tuệ sẽ trở thành sự thiếu hụt trí thông minh trong y, và y sẽ nhìn thấy mọi thứ như qua một tấm kính lờ mờ. |
|
Many a life will pass while he slowly gains experiences through the mind, and assimilates them into a truer conception of life. By now he will have begun to take part of the intellectual life of the world and when he is on the threshold of the next stage, we shall find him as a worker of science, philosophy or literature. But his intellect has too great a personal bias still, and it must be made impersonal and pure before the next vision, that of the intuition, can be his. Once again, we shall see that there enters into his life a dissatisfaction. The structure which he builds so laboriously, as the results of years of work, will crumble one by one, because Nature reveals new facts to show the world that his generalizations were only partly true. The world for which he toiled will forget him, and younger workers will receive the honors which are his due. He will be misunderstood by his dearest friends, and “he is now, if not ceasing, yet intermitting to eat his own heart, and clutches round him outwardly on the Not-me for wholesomer food”. |
Nhiều kiếp sống sẽ trôi qua trong khi y dần thu thập kinh nghiệm thông qua thể trí, và đồng hóa chúng thành một quan niệm chân thật hơn về cuộc sống. Đến giờ y sẽ bắt đầu tham gia vào đời sống trí tuệ của thế giới và khi y ở ngưỡng cửa của giai đoạn tiếp theo, chúng ta sẽ thấy y là một nhà khoa học, triết học hoặc văn học. Nhưng trí tuệ của y vẫn còn quá nhiều thành kiến cá nhân, và nó phải trở nên vô tư và thuần khiết trước khi tầm nhìn tiếp theo, đó là trực giác, có thể là của y. Một lần nữa, chúng ta sẽ thấy rằng có một sự bất mãn xâm nhập vào cuộc sống của y. Cấu trúc mà y xây dựng một cách khó nhọc, như là kết quả của nhiều năm làm việc, sẽ sụp đổ từng cái một, bởi vì Mẹ Thiên Nhiên tiết lộ những sự thật mới để cho thế giới thấy rằng những khái quát của y chỉ đúng một phần. Thế giới mà y đã vất vả làm việc sẽ quên y, và những người làm việc trẻ hơn sẽ nhận được những vinh dự thuộc về y. Y sẽ bị những người bạn thân yêu nhất của mình hiểu lầm, và “nếu không ngừng ăn mòn trái tim mình, thì y cũng đang tạm dừng, và bám víu ra bên ngoài vào cái Không-phải-ta để tìm kiếm thức ăn lành mạnh hơn”. |
|
But this suffering, though the reaping of sad sowings of injustice to others through prejudice, brings in its train a high purification sooner or later. At last the soul learns the great lesson of working for work’s sake and not for the fruit of action. Now he knows the joy of altruistic dedication of himself to the search for truth. A student of philosophies but slave of none, he now watches nature “as it is” and in a perfect impersonality of mind solves her mysteries one by one. Of him now can it be said with Sextus the Pythagorean that “a great intellect is the chorus of divinity.” Thus dawns for him the Vision of Intuition. |
Nhưng sự đau khổ này, mặc dù gặt hái những gieo rắc buồn bã về sự bất công cho người khác thông qua thành kiến, sớm muộn gì cũng mang lại một sự thanh lọc cao độ. Cuối cùng, linh hồn học được bài học lớn về làm việc vì công việc chứ không phải vì thành quả của hành động. Giờ đây, y biết được niềm vui của sự cống hiến vị tha cho việc tìm kiếm chân lý. Là một học viên của triết học nhưng không làm nô lệ cho bất kỳ ai, giờ đây y quan sát tự nhiên “như nó vốn là” và với một sự vô tư hoàn hảo của thể trí, y giải quyết những bí ẩn của nó từng cái một. Giờ đây, người ta có thể nói về y với Sextus người Pythagore rằng “một trí tuệ vĩ đại là điệp khúc của thần thánh.” Như vậy, Tầm Nhìn Trực Giác hé rạng cho y. |
THE VISION OF THE EMOTIONS—TẦM NHÌN CỦA CẢM XÚC
|
I mentioned when describing the transition from the first stage to the second, that there were in the world two main types of souls—those who pass from the Vision of the Separated Self to the Vision of the Intuition by way of the mind, and those others who develop along a parallel path and pass from the emotions to the Intuition. We have just seen how souls are trained through the intellect to cast out the self; we shall now see how the same result is achieved for those in whom emotions sway the mind. < |
Tôi đã đề cập khi mô tả sự chuyển đổi từ giai đoạn đầu tiên sang giai đoạn thứ hai, rằng trên thế giới có hai loại linh hồn chính—những người đi từ Tầm Nhìn về Bản Ngã Tách Biệt đến Tầm Nhìn về Trực Giác bằng con đường thể trí, và những người khác phát triển dọc theo một con đường song song và đi từ cảm xúc đến Trực Giác. Chúng ta vừa thấy các linh hồn được huấn luyện như thế nào thông qua trí tuệ để loại bỏ bản ngã; giờ đây chúng ta sẽ thấy kết quả tương tự đạt được như thế nào đối với những người mà cảm xúc chi phối thể trí. |
|
As the intellectual type showed in the first stage a marked development of intelligence of a low kind, so similarly shall we find that the souls whom we are going to consider show during the same stage a great deal of feeling. Not that this feeling will be refined or unselfish; indeed it will be mostly be lust and jealousy, with perhaps a little crude religious emotion thrown in. But the character will be obviously easily swayed by emotions, and this trait in the soul is now taken up, and worked upon to enable him to pass to the next stage. |
Như kiểu người trí tuệ đã thể hiện ở giai đoạn đầu tiên một sự phát triển rõ rệt về trí thông minh ở mức độ thấp, thì tương tự như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng những linh hồn mà chúng ta sẽ xem xét thể hiện trong cùng giai đoạn một lượng lớn cảm xúc. Không phải là cảm xúc này sẽ được tinh lọc hoặc vị tha; thật vậy, nó chủ yếu sẽ là dục vọng và ghen tuông, có lẽ với một chút cảm xúc tôn giáo thô thiển được ném vào. Nhưng tính cách sẽ rõ ràng là dễ bị cảm xúc chi phối, và đặc điểm này trong linh hồn giờ đây được tiếp nhận và tác động để giúp y chuyển sang giai đoạn tiếp theo. |
|
Following his emotional bent, and selfish and oblivious of the feelings of those around him, the soul will compel others weaker than himself to be the slaves of his desires. But the passion and the sense of possession which he has of those who minister to his lusts will link him to them life after life, till slowly he begins to feel that they are necessary to his emotional life, and not dispensable at will. Gradually his impure passions will be transformed into purer affections, and then he will be brought again and again into contact with them, so that his emotions shall go out impulsively towards them. But the evil which he wrought them in the past will now cast a veil over their eyes, and make them indifferent to him. He will be forced to love on, to atone for past evil by service, but despair will be his only reward. When in resentment he tries to break the bond which ties him to them, he will find he cannot. He will curse love, only to return again and again to love’s altar with his offerings. |
Đi theo khuynh hướng cảm xúc của mình, và ích kỷ và quên đi cảm xúc của những người xung quanh, linh hồn sẽ buộc những người yếu hơn mình phải làm nô lệ cho những ham muốn của y. Nhưng niềm đam mê và cảm giác sở hữu mà y có đối với những người phục vụ cho dục vọng của y sẽ liên kết y với họ hết kiếp này sang kiếp khác, cho đến khi y từ từ bắt đầu cảm thấy rằng họ là cần thiết cho đời sống cảm xúc của y, và không thể tùy ý loại bỏ. Dần dần, những đam mê ô uế của y sẽ được chuyển hóa thành những tình cảm thuần khiết hơn, và sau đó y sẽ được đưa đi đưa lại nhiều lần vào tiếp xúc với họ, để cảm xúc của y sẽ bộc phát một cách bốc đồng đối với họ. Nhưng cái ác mà y đã gây ra cho họ trong quá khứ giờ đây sẽ phủ một bức màn lên mắt họ, và khiến họ thờ ơ với y. Y sẽ buộc phải tiếp tục yêu, để chuộc lại những điều ác trong quá khứ bằng sự phụng sự, nhưng tuyệt vọng sẽ là phần thưởng duy nhất của y. Khi tức giận, y cố gắng phá vỡ mối ràng buộc trói buộc y với họ, y sẽ thấy mình không thể. Y sẽ nguyền rủa tình yêu, chỉ để quay trở lại hết lần này đến lần khác bàn thờ tình yêu với những lễ vật của mình. |
|
Though life now becomes full of disappointment and despair, in his serener moments he will acknowledge that, in spite of the suffering entailed, his emotional life has slowly opened a new sense in him. He catches now and then glimpses of an undying youth in all things, and the world that seems dreary and aging will reappear under certain emotional stress as he knew it before life became a tragedy. These glimpses are transitory at first, lasting indeed only so long as the love emotion colors his being; but there is for him a time, — |
Mặc dù cuộc sống giờ đây trở nên đầy thất vọng và tuyệt vọng, nhưng trong những khoảnh khắc thanh thản hơn, y sẽ thừa nhận rằng, bất chấp những đau khổ kéo theo, đời sống cảm xúc của y đã từ từ mở ra một giác quan mới trong y. Giờ đây, y bắt gặp thoáng qua một tuổi trẻ bất diệt trong mọi thứ, và thế giới có vẻ ảm đạm và già cỗi sẽ xuất hiện trở lại dưới một áp lực cảm xúc nhất định như y đã biết trước khi cuộc sống trở thành một bi kịch. Những thoáng nhìn này ban đầu chỉ là thoáng qua, thực sự chỉ kéo dài chừng nào cảm xúc yêu thương còn tô điểm cho sự tồn tại của y; nhưng có một thời điểm dành cho y, — |
|
When all the world is young, lad, |
Khi cả thế giới còn trẻ, chàng trai ạ, |
|
And all the trees are green, |
Và tất cả cây cối đều xanh tươi, |
|
And every goose a swan, lad, |
Và mỗi con ngỗng là một con thiên nga, chàng trai ạ, |
|
And every lass a queen. |
Và mỗi cô gái là một nữ hoàng. |
|
Life after life, fostered by his transitory loves, this sense will grow in him till it blossoms into a sense of wonder. The Nature reveals in all things in life new values, whose significance he can henceforth never wholly forget. While love sways his being, each blade of grass and leaf and flower has to him a new meaning; he sees beauty now where he saw none before. Everything beautiful around him—a face, a flower, a sunset,—will link him in mysterious ways to those he loves; the world ceases to be a blank page. |
Hết kiếp này đến kiếp khác, được nuôi dưỡng bởi những tình yêu thoáng qua của y, giác quan này sẽ phát triển trong y cho đến khi nó nở rộ thành một cảm giác kỳ diệu. Thiên nhiên tiết lộ trong mọi thứ trong cuộc sống những giá trị mới, mà từ đó về sau y không bao giờ có thể hoàn toàn quên được ý nghĩa của chúng. Trong khi tình yêu chi phối sự tồn tại của y, mỗi ngọn cỏ và lá cây và bông hoa đều mang một ý nghĩa mới đối với y; giờ đây y nhìn thấy vẻ đẹp ở nơi trước đây y không thấy. Mọi thứ tươi đẹp xung quanh y—một khuôn mặt, một bông hoa, một cảnh hoàng hôn—sẽ liên kết y một cách bí ẩn với những người y yêu; thế giới không còn là một trang giấy trắng. |
|
Love wakes men once each lifetime each. |
Tình yêu đánh thức con người mỗi người một lần trong đời. |
|
They lift their heavy lids and look; |
Họ nhấc đôi mắt nặng trĩu và nhìn; |
|
And lo! What one sweet page can teach. |
Và kìa! Một trang sách ngọt ngào có thể dạy điều gì. |
|
They read with joy, then close the book |
Họ đọc với niềm vui, sau đó gấp cuốn sách lại |
|
And some give thanks, and some blaspheme. |
Và một số người tạ ơn, và một số người báng bổ. |
|
And most forget. But either way, |
Và hầu hết mọi người đều quên. Nhưng dù thế nào đi nữa, |
|
That and the child’s unheeded dream |
Điều đó và giấc mơ không được chú ý của đứa trẻ |
|
Is all the light of all their day. |
Là tất cả ánh sáng của cả ngày của họ. |
|
It will happen that this sense of wonder is intermittent and that there comes periods when the world is veiled; but the veil is of his own making, and must be torn asunder if he is to possess the Vision of the Intuition. Once more there enters into his life a dissatisfaction—a discontent that love itself is transitory after all. Those whom he loves and who love him in return will be taken from him just when life seems in flower; friends he idealizes will shatter the ideals so lovingly made for them. Cruel as it all seems, it is but the reaping of sad sowings in past lives. But the reaping has a meaning, now as always. He has so far been loving not Love but its shadow, not the Ideal from which nothing can be taken away, but its counterfeit which suffers diminution. He must now see clearer and see truer. The character must be studied, so that it shall not rebound from enthusiasm to depression, nor be satisfied with a vague mysticism, which prefers to revel in its own feelings rather than evaluate what causes them. |
Sẽ có lúc cảm giác kỳ diệu này gián đoạn và có những giai đoạn thế giới bị che phủ; nhưng tấm màn che là do chính y tạo ra, và phải bị xé toạc nếu y muốn sở hữu Tầm Nhìn của Trực Giác. Một lần nữa, một sự bất mãn xâm nhập vào cuộc sống của y—một sự bất mãn rằng tình yêu rốt cuộc cũng chỉ là phù du. Những người y yêu và những người yêu y đáp lại sẽ bị tước khỏi y ngay khi cuộc sống dường như đang nở rộ; những người bạn y lý tưởng hóa sẽ phá vỡ những lý tưởng được tạo ra một cách yêu thương cho họ. Tàn nhẫn như tất cả những điều đó có vẻ, nó chỉ là gặt hái những gieo rắc buồn bã trong những kiếp sống trước. Nhưng việc gặt hái có một ý nghĩa, bây giờ cũng như mọi khi. Cho đến nay, y đã yêu không phải Tình Yêu mà là bóng của nó, không phải Lý Tưởng mà không gì có thể lấy đi, mà là bản sao của nó phải chịu sự suy giảm. Giờ đây, y phải nhìn rõ hơn và nhìn thật hơn. Tính cách phải được nghiên cứu, để nó không dội ngược từ sự nhiệt tình sang chán nản, cũng không hài lòng với một chủ nghĩa thần bí mơ hồ, vốn thích thú với cảm xúc của chính mình hơn là đánh giá điều gì gây ra chúng. |
|
Hence the inevitable purification through suffering; the dross of self is burned away till there remains the gold of divine desire. He then discovers that the truest feelings are only those which have in them the spirit of offering. Now for him thus purified in desire, and for that other type of soul made impersonal in intellect, there dawns the Vision of the Intuition. |
Do đó, sự thanh lọc không thể tránh khỏi thông qua đau khổ; cặn bã của bản thân bị đốt cháy cho đến khi còn lại vàng của khát vọng thiêng liêng. Sau đó, y khám phá ra rằng những cảm xúc chân thật nhất chỉ là những cảm xúc có trong chúng tinh thần hiến dâng. Giờ đây, đối với y, người đã được thanh lọc trong khát vọng, và đối với kiểu linh hồn khác đã trở nên vô ngã trong trí tuệ, Tầm Nhìn của Trực Giác hé mở. |
THE VISION OF THE INTUITION—TẦM NHÌN CỦA TRỰC GIÁC
|
“Before the eyes can see, they must be incapable of tears. Before the ear can hear, it must have lost its sensitiveness.” All souls who have come to this stage have learned by now the bitter lesson that “it is only in Renunciation that Life, properly speaking, can be said to begin.” But they have also proved in their own experience that what once seemed death was but a “repentance unto life.” They have now discovered the meaning of life—that man is a child of God come forth to life to be a co-worker with his Father. It matters not that a soul does not state to himself his relation to the whole in these terms; it only matters that he should have discovered that his part in existence is to be a worker in a Work, and that nothing happening to himself matters, so long as that Work proceeds to its inevitable end. He knows that the end of thought and feeling is action for his fellow-men, and that this action must be either dispassionate and without thought of reward, or full of a spirit of grateful offering. |
“Trước khi đôi mắt có thể nhìn thấy, chúng phải không thể rơi lệ. Trước khi tai có thể nghe thấy, nó phải mất đi sự nhạy cảm của nó.” Tất cả các linh hồn đã đến giai đoạn này đều đã học được bài học cay đắng rằng “chỉ trong Sự Từ Bỏ, Sự Sống, nói đúng ra, có thể được cho là bắt đầu.” Nhưng Các Ngài cũng đã chứng minh trong kinh nghiệm của chính mình rằng những gì từng có vẻ là cái chết chỉ là một “sự ăn năn để được sống.” Giờ đây, Các Ngài đã khám phá ra ý nghĩa của cuộc sống—rằng con người là một người con của Thượng đế đến với cuộc sống để trở thành một người cộng tác với Cha của mình. Không quan trọng việc một linh hồn không tự tuyên bố mối quan hệ của mình với toàn thể theo những điều khoản này; điều quan trọng là y phải khám phá ra rằng vai trò của y trong sự tồn tại là một người làm việc trong một Công Việc, và không có gì xảy ra với bản thân y quan trọng, miễn là Công Việc đó tiến triển đến kết thúc không thể tránh khỏi của nó. Y biết rằng mục đích của tư tưởng và cảm xúc là hành động vì đồng loại của mình, và hành động này phải là vô tư và không nghĩ đến phần thưởng, hoặc tràn đầy tinh thần hiến dâng biết ơn. |
|
He possesses now the faculty of intuition, which transcending both reason and emotion, yet can justify its judgments to either. He grows past “common sense,” the criterion for common things, into an uncommon sense; for life is full of uncommon things, of whose existence others are not aware. In men and women, he discerns those invisible factors which are inevitable in human relations, and hence his judgment of them is “not of this world.” In all things, he see and feels One Life. Whatever unites attracts him; if intellectual, he will love to synthesize in science or philosophy; if emotional, he will dedicate himself to art or philanthropy. |
Giờ đây, y sở hữu khả năng trực giác, vốn vượt lên trên cả lý trí lẫn cảm xúc, nhưng vẫn có thể biện minh cho các phán đoán của mình với cả hai. Y trưởng thành vượt qua “lẽ thường”, tiêu chuẩn cho những điều thông thường, để đạt đến một giác quan phi thường; vì cuộc sống đầy rẫy những điều phi thường, mà sự tồn tại của chúng người khác không hề hay biết. Ở những người nam và nữ, y nhận ra những yếu tố vô hình vốn không thể tránh khỏi trong các mối quan hệ giữa người với người, và do đó, phán đoán của y về họ “không thuộc về thế giới này”. Trong mọi sự vật, y thấy và cảm nhận Sự Sống Duy Nhất. Bất cứ điều gì hợp nhất đều thu hút y; nếu thuộc về trí tuệ, y sẽ thích tổng hợp trong khoa học hoặc triết học; nếu thuộc về cảm xúc, y sẽ cống hiến hết mình cho nghệ thuật hoặc hoạt động từ thiện. |
|
Now slowly for him Many become the One. The Unity will be known only in the vision of the next stage; but, preparing for it, science and art, religion and philosophy, will deduce for him eternal fundamental types from the kaleidoscope of life. Types of forms, types of thought, types of emotions, types of temperament—these he sees everywhere round him, and life in all its phases becomes transformed, because it reflects as in a mirror Archetypes of a realm beyond time and space and mutability. |
Giờ đây, từ từ đối với y, Nhiều trở thành Một. Sự Hợp Nhất sẽ chỉ được biết đến trong tầm nhìn của giai đoạn tiếp theo; nhưng, để chuẩn bị cho nó, khoa học và nghệ thuật, tôn giáo và triết học, sẽ suy ra cho y những kiểu mẫu nền tảng vĩnh cửu từ kính vạn hoa của cuộc sống. Các kiểu hình tướng, các kiểu tư tưởng, các kiểu cảm xúc, các kiểu khí chất—y nhìn thấy chúng ở khắp mọi nơi xung quanh mình, và cuộc sống trong tất cả các giai đoạn của nó trở nên biến đổi, bởi vì nó phản ánh như trong một tấm gương Các Nguyên Mẫu của một cõi vượt thời gian, không gian và vô thường. |
|
Everything of mortal birth |
Mọi thứ sinh ra từ cõi phàm |
|
-Is but a type; |
-Chỉ là một kiểu mẫu; |
|
What was of feeble worth |
Những gì yếu ớt |
|
-Here becomes ripe. |
-Ở đây trở nên chín muồi. |
|
What was a mystery |
Những gì là một bí ẩn |
|
-Here meets the eyes; |
-Ở đây gặp gỡ đôi mắt; |
|
The Ever-womanly |
Tính Vĩnh Cửu Nữ Tính |
|
-Draws us on high. |
-Kéo chúng ta lên cao. |
|
“The Ever-womanly” now shows him everywhere one Wisdom. Science tells him of the oneness of Nature, and philosophy that man is a consciousness creating his world; art reveals in all things youth and beauty, and religion whispers to his heart that Love broods over all. His sympathies go to all, as his will is ever at their service. |
“Tính Vĩnh Cửu Nữ Tính” giờ đây cho y thấy ở khắp mọi nơi một Minh triết. Khoa học cho y biết về tính duy nhất của Thiên nhiên, và triết học rằng con người là một tâm thức tạo ra thế giới của mình; nghệ thuật tiết lộ trong mọi thứ tuổi trẻ và vẻ đẹp, và tôn giáo thì thầm vào trái tim y rằng Tình Thương/Bác ái ấp ủ tất cả. Sự đồng cảm của y dành cho tất cả, khi ý chí của y luôn phục vụ họ. |
|
Not far now is the time when for him shall dawn the Vision of the Spirit. But to bring him to its portal, a dissatisfaction once more enters his soul. No longer can that dissatisfaction be personal; the sad reaping of sorrow for evil done is over, and “only the sorrow of others casts its shadow over me.” Nor is it caused by any sense of the mutability of things, for, absolutely, without question, he knows his immortality, and that, though all things change, there is behind them THAT which changes never. Yet he climbs to his appointed goal, dissatisfaction must always be. |
Không còn xa nữa là thời điểm mà Tầm Nhìn của Tinh Thần sẽ ló dạng cho y. Nhưng để đưa y đến cổng của nó, một sự bất mãn một lần nữa xâm chiếm linh hồn y. Sự bất mãn đó không còn có thể là cá nhân nữa; việc gặt hái nỗi buồn cho những điều ác đã làm đã qua, và “chỉ nỗi buồn của người khác mới phủ bóng lên ta”. Nó cũng không phải do bất kỳ cảm giác nào về tính vô thường của mọi thứ gây ra, vì, một cách tuyệt đối, không nghi ngờ gì nữa, y biết sự bất tử của mình, và rằng, mặc dù mọi thứ thay đổi, nhưng đằng sau chúng có ĐIỀU vốn không bao giờ thay đổi. Tuy nhiên, y leo lên mục tiêu đã định của mình, sự bất mãn phải luôn luôn tồn tại. |
|
It comes to him now, as a creator. For with intuition to guide him, he creates in that field of endeavor in which he has trained himself in past lives. As poet, artist, statesman, saint, or scientist, he is one of the world’s geniuses. But though his creations are a miracle to all, yet to him they are only partly true and only partly beautiful, for he sees the ideal which he would fain bring down to men, and knows his failure as none others can know. Life is teaching him “to attain by shadowing forth the unattainable.” |
Nó đến với y bây giờ, như một đấng sáng tạo. Vì với trực giác dẫn đường, y sáng tạo trong lĩnh vực nỗ lực mà y đã rèn luyện bản thân trong những kiếp sống trước. Là nhà thơ, nghệ sĩ, chính khách, thánh nhân hoặc nhà khoa học, y là một trong những thiên tài của thế giới. Nhưng mặc dù những sáng tạo của y là một phép lạ đối với tất cả, nhưng đối với y, chúng chỉ đúng một phần và chỉ đẹp một phần, vì y thấy lý tưởng mà y muốn mang xuống cho mọi người, và biết sự thất bại của mình mà không ai khác có thể biết. Cuộc sống đang dạy y “đạt được bằng cách phác họa những điều không thể đạt được”. |
|
And thus he grows life after life, scientist, poet, artist and saint now merge into a new type of being who sees with “larger, other eyes than ours.” He has regained his integrity of heart and his innocency of hands, and is become “a little child”; “by pity enlightened”. He is now Parsifal, the “Pure Fool,” who enters upon his heritage. |
Và như vậy, y trưởng thành hết kiếp này đến kiếp khác, nhà khoa học, nhà thơ, nghệ sĩ và thánh nhân giờ hợp nhất thành một kiểu người mới, người nhìn thấy bằng “đôi mắt lớn hơn, khác với chúng ta”. Y đã lấy lại được sự chính trực trong trái tim và sự ngây thơ trong đôi tay của mình, và trở thành “một đứa trẻ nhỏ”; “được soi sáng bởi lòng trắc ẩn”. Giờ đây, y là Parsifal, “Kẻ Khờ Dại Thuần Khiết”, người bước vào di sản của mình. |
|
Then it is that at its threshold there meets him One who has watched him climbing for many a life, and all unseen has encouraged him. This is the Master, one of that “goodliest fellowship of famous knights whereof the world holds record”. In Him the soul sees in realization all those ideals which have drawn him onward and upward. Hand in hand with this “Faith in God,” he now treads “the Way” while the Vision of the Spirit is shown him by his Master. Who shall describe that Vision but those who have it, and how may one less than a Master here speak with authority? And yet since Masters of the Wisdom have moved among men, since Buddha, Krishna and Christ have shown us, in Their lives something of what that vision is, surely from Their lives we can deduce what the vision must be. |
Sau đó, tại ngưỡng cửa của nó, y gặp Một Người đã theo dõi y leo lên trong nhiều kiếp sống, và tất cả đều được khuyến khích một cách vô hình. Đây là Chân sư, một trong “những hiệp sĩ nổi tiếng có mối liên hệ tốt đẹp nhất mà thế giới ghi nhận”. Trong Ngài, linh hồn thấy trong sự nhận ra tất cả những lý tưởng đã thu hút y tiến lên và đi lên. Tay trong tay với “Niềm Tin vào Thượng đế” này, giờ đây y bước đi trên “Thánh Đạo” trong khi Tầm Nhìn của Tinh Thần được Chân sư của y cho y thấy. Ai sẽ mô tả Tầm Nhìn đó ngoài những người có nó, và làm sao một người kém hơn Chân sư có thể nói ở đây với thẩm quyền? Và tuy nhiên, vì Các Chân sư Minh triết đã di chuyển giữa loài người, vì Đức Phật, Krishna và Đức Christ đã cho chúng ta thấy, trong cuộc đời của Các Ngài một phần nào đó về Tầm nhìn đó là gì, chắc chắn từ cuộc đời của Các Ngài, chúng ta có thể suy ra Tầm nhìn đó phải là gì. |
|
In that Vision of the Spirit, the Many is One. “Alone within this universe he comes and goes; it is He who is the fire, the water He pervadeth; Him and Him only knowing, one crosseth over death; no other path at all is there to go.” |
Trong Viễn kiến Tinh thần đó, Nhiều là Một. “Một mình trong vũ trụ này Ngài đến rồi đi; chính Ngài là lửa, Ngài thấm nhuần nước; chỉ biết Ngài và chỉ Ngài thôi, người ta vượt qua cái chết; không có con đường nào khác để đi cả.” |
|
Now for the soul who has come to the end of his climbing, each man is only “the spirit he worked in, not what he did but what he became”. There is no high nor low in life, for in all he sees a ray from the Divine Flame. As through the highest so through the lowest too, to him “God stooping shows sufficient of His light for us in the dark to rise by.” Life is henceforth become a Sacrament, and he is its celebrant; with loving thoughts and deeds, he celebrates and at-ones man with God and God with man. He discerns, purifies in himself, and offers to God “infinite passion and the pain of finite hearts that yearn”. From God on high, he brings to men what alone can satisfy that yearning. |
Giờ đây, đối với linh hồn đã đi đến cuối chặng đường leo trèo của mình, mỗi người chỉ là “tinh thần mà y đã làm việc trong đó, không phải những gì y đã làm mà là những gì y đã trở thành”. Không có cao hay thấp trong cuộc sống, vì trong tất cả y đều thấy một tia sáng từ Ngọn Lửa Thiêng Liêng. Cũng như qua những điều cao cả nhất, cũng vậy qua những điều thấp kém nhất, đối với y “Thượng đế hạ mình cho thấy đủ ánh sáng của Ngài để chúng ta trong bóng tối trỗi dậy”. Từ nay, cuộc sống đã trở thành một Bí tích, và y là người cử hành bí tích đó; với những ý nghĩ và hành động yêu thương, y cử hành và hợp nhất con người với Thượng đế và Thượng đế với con người. Y nhận thức, thanh lọc trong chính mình, và dâng lên Thượng đế “niềm đam mê vô hạn và nỗi đau của những trái tim hữu hạn khao khát”. Từ Thượng đế trên cao, y mang đến cho con người những gì duy nhất có thể thỏa mãn sự khao khát đó. |
|
He has renounced “the will to live,” and thereby has made its purpose his own; “Foregoing self, the universe grows I.” Yet he knows with rapture that, that— “I” is but a tiny lens in a great Light. Henceforth he lives only in order that a Greater than he may live through him, love through him, act through him. Evermore shall his heart whisper, in heaven or in hell, whithersoever his work may take him; “him know I, the Mighty Man, resplendent like the Sun, beyond the Darkness; Him and Him only knowing one crosseth over death; no other path at all is there to go.” |
Y đã từ bỏ “ý chí sống”, và do đó đã biến mục đích của nó thành của riêng mình; “Từ bỏ bản thân, vũ trụ lớn lên thành Tôi”. Tuy nhiên, y biết với sự ngây ngất rằng, “Tôi” đó chỉ là một thấu kính nhỏ bé trong một Ánh Sáng vĩ đại. Từ nay y chỉ sống để một Đấng Vĩ Đại hơn y có thể sống qua y, yêu thương qua y, hành động qua y. Trái tim y sẽ mãi mãi thì thầm, trên thiên đàng hay trong địa ngục, bất cứ nơi nào công việc của y có thể đưa y đến; “Tôi biết Ngài, Đấng Hùng Mạnh, rực rỡ như Mặt Trời, vượt lên trên Bóng Tối; chỉ biết Ngài và chỉ Ngài thôi, người ta vượt qua cái chết; không có con đường nào khác để đi cả.” |
|
Thus do we, happy few, the precursors of a new age, see life in the light of reincarnation. As the evolutionist sees all nature linked in one ladder of life, and sky and sea testify to him of evolution, so do we all men linked in one common purpose, and their hopes and fears, their self-sacrifice and their selfishness, testify to us of reincarnation. Life and its experiences have ceased to be for us— |
Như vậy, chúng ta, số ít người hạnh phúc, những người tiền phong của một kỷ nguyên mới, nhìn cuộc sống dưới ánh sáng của luân hồi. Như nhà tiến hóa luận thấy tất cả thiên nhiên liên kết trong một bậc thang sự sống, và bầu trời và biển cả làm chứng cho y về sự tiến hóa, thì chúng ta thấy tất cả mọi người liên kết trong một mục đích chung, và những hy vọng và nỗi sợ hãi của họ, sự hy sinh bản thân và sự ích kỷ của họ, làm chứng cho chúng ta về luân hồi. Cuộc sống và những kinh nghiệm của nó đã không còn là đối với chúng ta— |
|
An arch wherethro’ |
Một mái vòm xuyên qua đó |
|
Gleams that untravell’d world, whose margin fades |
Lấp lánh thế giới chưa từng đi qua, có rìa mờ dần |
|
For ever and ever when I move. |
Mãi mãi khi tôi di chuyển. |
|
No longer can the world be for us as the poet sang: |
Thế giới không còn có thể là đối với chúng ta như nhà thơ đã hát: |
|
Act first this Earth, a stage so gloom’d with woe, |
Hành động đầu tiên, Trái Đất này, một sân khấu u ám với nỗi đau, |
|
You all but sicken at the shifting scenes. |
Tất cả các bạn đều phát ốm vì những cảnh chuyển đổi. |
|
And yet be patient. Our Playwright may show |
Tuy nhiên, hãy kiên nhẫn. Nhà soạn kịch của chúng ta có thể cho thấy |
|
In some fifth Act what this wild Drama means. |
Trong một Đạo luật thứ năm nào đó, bộ phim hoang dã này có ý nghĩa gì. |
|
The Fifth Act is here before your eyes. It is that Vision of the Spirit which is the heritage of every soul, and thither all men are slowly treading, for “no other path at all is there to go.” |
Đạo luật thứ năm ở đây trước mắt bạn. Đó là Viễn kiến Tinh thần vốn là di sản của mọi linh hồn, và tất cả mọi người đang chậm rãi bước đi đến đó, vì “không có con đường nào khác để đi cả.” |
THE LAW OF RENUNCIATION —ĐỊNH LUẬT TỪ BỎ
|
The joy of life! Is it not everywhere? In plant and animal and man, do we not see an instinct for happiness which impels all creation to rise from good to better, from better to best? Since God said, “Let there be light!” are not all men seeking to step out of darkness into light—blindly, dimly feeling that happiness must be their goal? Yet how few find happiness in life! It is easy to sing:— |
Niềm vui của cuộc sống! Chẳng phải nó ở khắp mọi nơi sao? Trong thực vật, động vật và con người, chẳng phải chúng ta thấy một bản năng hướng đến hạnh phúc vốn thúc đẩy tất cả sự sáng tạo vươn lên từ tốt đến tốt hơn, từ tốt hơn đến tốt nhất sao? Kể từ khi Thượng đế phán, “Hãy có ánh sáng!” chẳng phải tất cả mọi người đang tìm cách bước ra khỏi bóng tối vào ánh sáng—một cách mù quáng, lờ mờ cảm thấy rằng hạnh phúc phải là mục tiêu của họ sao? Tuy nhiên, có bao nhiêu người tìm thấy hạnh phúc trong cuộc sống! Thật dễ dàng để hát:— |
|
God’s in his heaven, |
Thượng đế ở trên thiên đàng của Ngài, |
|
All’s right with the world! |
Mọi thứ đều ổn với thế giới! |
|
But to sing so for long, one must be blind to the facts. Life is a tragedy to many, and far more truly is it described by Tennyson:— |
Nhưng để hát như vậy trong một thời gian dài, người ta phải mù quáng trước sự thật. Cuộc sống là một bi kịch đối với nhiều người, và nó được Tennyson mô tả chân thực hơn nhiều:— |
|
Act first, this Earth, a stage so gloom’d with woe |
Hành động đầu tiên, Trái Đất này, một sân khấu u ám với nỗi đau |
|
You all but sicken at the shifting scenes, |
Tất cả các bạn đều phát ốm vì những cảnh chuyển đổi, |
|
And yet be patient. Our Playwright may show |
Tuy nhiên, hãy kiên nhẫn. Nhà soạn kịch của chúng ta có thể cho thấy |
|
In some fifth Act what this wild Drama means. |
Trong một Đạo luật thứ năm nào đó, bộ phim hoang dã này có ý nghĩa gì. |
|
Nevertheless all feel that happiness must be the goal of life, and humanity never errs in its deepest feelings. But then why should not the attainment of happiness be easier than it is? |
Tuy nhiên, tất cả đều cảm thấy rằng hạnh phúc phải là mục tiêu của cuộc sống, và nhân loại không bao giờ sai lầm trong những cảm xúc sâu sắc nhất của mình. Nhưng tại sao việc đạt được hạnh phúc lại không dễ dàng hơn so với thực tế? |
MAN AN EVOLVING SOUL—CON NGƯỜI MỘT LINH HỒN TIẾN HÓA
|
There is a philosophy of life which holds that man is an immortal soul, living not one life on earth but many, growing through the experiences which he gains in them manifold capacities and virtues. This philosophy further postulates that all men are the children of One father, who has created a universe, in order that working therein His children may know something of Him, and come to Him in joy. According to this theory, the purpose of life is not to achieve a stable condition of happiness for any individual, but rather to train him to work in a Plan of an Ideal Future, and find in that work an ever-changing and ever-growing contentment. |
Có một triết lý sống cho rằng con người là một linh hồn bất tử, không chỉ sống một cuộc đời trên trái đất mà là nhiều cuộc đời, trưởng thành thông qua những kinh nghiệm mà y có được trong vô vàn năng lực và đức tính. Triết lý này còn khẳng định rằng tất cả mọi người đều là con cái của một Cha Duy Nhất, Đấng đã tạo ra một vũ trụ, để khi làm việc trong đó, con cái của Ngài có thể biết điều gì đó về Ngài, và đến với Ngài trong niềm vui. Theo lý thuyết này, mục đích của cuộc sống không phải là đạt được một trạng thái hạnh phúc ổn định cho bất kỳ cá nhân nào, mà là huấn luyện y làm việc trong một Thiên Cơ về một Tương Lai Lý Tưởng, và tìm thấy trong công việc đó một sự mãn nguyện luôn thay đổi và luôn phát triển. |
|
From the standpoint of the Theosophist, all men are indeed working for a foreordained ideal future; but they work at different stages, according to their differing capacities. A recognition of these stages, and the laws of life appropriate to each, makes life less the riddle that it is. There are three broad stages on the Path of Bliss which leads to the Highest Good, and they are happiness, renunciation, and transfiguration. |
Từ quan điểm của nhà Thông Thiên Học, tất cả mọi người thực sự đang làm việc cho một tương lai lý tưởng đã được định trước; nhưng họ làm việc ở các giai đoạn khác nhau, tùy theo năng lực khác nhau của họ. Việc nhận biết các giai đoạn này và các quy luật của cuộc sống phù hợp với từng giai đoạn, làm cho cuộc sống bớt đi sự bí ẩn vốn có. Có ba giai đoạn rộng lớn trên Thánh Đạo Hạnh Phúc vốn dẫn đến Điều Thiện Tối Thượng, và đó là hạnh phúc, từ bỏ và biến hình. |
THE STAGE OF HAPPINESS—GIAI ĐOẠN HẠNH PHÚC
|
God calls upon all His children at this stage to co-operate with Him, by offering them happiness as the aim of life. He has implanted in them a craving for happiness, and He provides work for them which shall make them happy. Love of wife and child and friend, fame and the gratitude of men, success and ease—these are His rewards for them that serve Him. Many are the pleasant paths in life for the young souls at this stage, to reap happinesses as they prove those pleasures. |
Thượng đế kêu gọi tất cả con cái của Ngài ở giai đoạn này hợp tác với Ngài, bằng cách ban cho họ hạnh phúc như là mục tiêu của cuộc sống. Ngài đã gieo vào họ một khao khát hạnh phúc, và Ngài cung cấp công việc cho họ để làm cho họ hạnh phúc. Tình yêu vợ chồng, con cái và bạn bè, danh tiếng và lòng biết ơn của mọi người, thành công và an nhàn—đây là những phần thưởng của Ngài cho những ai phụng sự Ngài. Có rất nhiều con đường dễ chịu trong cuộc sống cho những linh hồn trẻ tuổi ở giai đoạn này, để gặt hái hạnh phúc khi họ chứng minh những niềm vui đó. |
|
That hills and valleys, dale and field, |
Rằng đồi và thung lũng, thung lũng và cánh đồng, |
|
And all the craggy mountains yield. |
Và tất cả những ngọn núi đá lởm chởm mang lại. |
|
Useful up to a point as men are in the Great Work at this stage, yet so long as a man deliberately seeks happiness, his capabilities as a worker are soon exhausted. For soon he “settles down in life”; the precious gift of wonder slowly fades away, and his happiness ceases to be dynamic. Self-centred, he calls on the universe to give. But the Path to Bliss is by work, and if he is to go ever on, he must fit himself for a larger work than has so far fallen to his share. He must enter on the next stage, but for that he must change utterly. Hither-to he has measured men and things by the standard of his little self; henceforth the Great Self must be his measure. He must break the sway of himself, and realize that evermore what is important in life is not he, nor his happiness, but a Work. Before this realization can begin, there must be a conversion. |
Hữu ích đến một mức độ nào đó khi con người ở trong Đại Công Việc ở giai đoạn này, nhưng chừng nào một người còn cố tình tìm kiếm hạnh phúc, thì khả năng của y với tư cách là một người làm việc sẽ sớm cạn kiệt. Vì y sớm “ổn định cuộc sống”; món quà quý giá của sự kỳ diệu từ từ phai nhạt, và hạnh phúc của y không còn năng động nữa. Vị kỷ, y kêu gọi vũ trụ ban cho. Nhưng Thánh Đạo Hạnh Phúc là bằng công việc, và nếu y muốn tiếp tục tiến lên, y phải tự trang bị cho mình một công việc lớn hơn những gì y đã từng chia sẻ. Y phải bước vào giai đoạn tiếp theo, nhưng để làm được điều đó, y phải thay đổi hoàn toàn. Cho đến nay, y đã đo lường con người và sự vật bằng tiêu chuẩn của bản thân nhỏ bé của mình; từ nay trở đi, Đại Ngã phải là thước đo của y. Y phải phá vỡ sự thống trị của bản thân, và nhận ra rằng điều quan trọng trong cuộc sống không phải là y, cũng không phải là hạnh phúc của y, mà là một Công Việc. Trước khi sự nhận ra này có thể bắt đầu, phải có một sự chuyển hóa. |
CONVERSION—CHUYỂN HÓA
|
In many ways are men converted from the interests of the little self to the work of the Great Self. Some, loving Truth in religious garb, open their hearts to a Personality who dazzles their imagination. Thenceforth they must serve Him, and be like Him, and gone forever is the standpoint of the little self. Some study science and philosophy, and discover a magnificent plan of evolution, with the inevitable result that they know that the individual is but a unit in a great Whole, and not the centre of the cosmos. If they set to study rightly, they see, too, that there is a Will at work, and that, cost what it may, they must co-operate with that Will. A few there are to whom comes some mysterious experience from the hidden side of things, and life speaks to them a transforming message. Out of the invisible comes a “Saul, Saul, why persecutest thou Me?” and a persecutor of Christians is changed into an Apostle of Christ. Manifold are the ways of conversion, the same in all lands and in all faiths. One factor is common: the old personality is disintegrated, and a new one is reintegrated in the service of a Work. |
Có nhiều cách để con người chuyển hóa từ những mối quan tâm của bản thân nhỏ bé sang công việc của Đại Ngã. Một số người, yêu Chân Lý trong lớp áo tôn giáo, mở lòng mình với một Phàm ngã làm lóa mắt trí tưởng tượng của họ. Từ đó trở đi, họ phải phụng sự Ngài, và giống như Ngài, và quan điểm của bản thân nhỏ bé sẽ biến mất mãi mãi. Một số người nghiên cứu khoa học và triết học, và khám phá ra một thiên cơ tiến hóa tuyệt vời, với kết quả tất yếu là họ biết rằng cá nhân chỉ là một đơn vị trong một Tổng Thể vĩ đại, chứ không phải là trung tâm của vũ trụ. Nếu họ bắt tay vào nghiên cứu một cách đúng đắn, họ cũng thấy rằng có một Ý Chí đang hoạt động, và dù phải trả giá như thế nào, họ cũng phải hợp tác với Ý Chí đó. Một số ít người nhận được một kinh nghiệm bí ẩn nào đó từ khía cạnh ẩn giấu của sự vật, và cuộc sống nói với họ một thông điệp biến đổi. Từ vô hình xuất hiện một “Saul, Saul, sao ngươi bắt bớ Ta?” và một kẻ bắt bớ Cơ đốc nhân biến thành một Tông đồ của Đức Christ. Muôn vàn là những cách chuyển hóa, giống nhau ở mọi vùng đất và trong mọi tín ngưỡng. Một yếu tố là phổ biến: phàm ngã cũ bị phân rã, và một phàm ngã mới được tái tích hợp trong việc phụng sự một Công Việc. |
|
When, through conversion, the new personality is ready for a larger work, the tools which he uses must be made pure. They are his thoughts and feelings, and slowly a process of purification is begun. Disappointment and pain and grief are his lot—the sad harvest of a sowing of selfishness in the unseen past of many lives, for we reap as we have sown. When the worker is ready, swift is Nature’s response to free him from the burden of his past, in order that he may be fit to achieve the great work which she has prepared for him. |
Khi, thông qua chuyển hóa, phàm ngã mới sẵn sàng cho một công việc lớn hơn, những công cụ mà y sử dụng phải được làm cho thanh khiết. Chúng là những suy nghĩ và cảm xúc của y, và một quá trình thanh lọc từ từ bắt đầu. Thất vọng và đau đớn và khổ sở là số phận của y—mùa gặt buồn của một vụ gieo rắc ích kỷ trong quá khứ vô hình của nhiều kiếp sống, vì chúng ta gặt những gì chúng ta đã gieo. Khi người làm việc đã sẵn sàng, tự Nhiên sẽ nhanh chóng đáp ứng để giải thoát y khỏi gánh nặng quá khứ, để y có thể thích hợp để hoàn thành công việc vĩ đại mà Bà đã chuẩn bị cho y. |
THE MEANING OF PAIN—Ý NGHĨA CỦA NỖI ĐAU
|
With some, sorrow hardens the character, but with those who are ready to enter on the second stage, it ever purifies. Does not the very texture and the flesh of a sufferer, who has in patience and resignation borne his pain, seem luminous and pure, as though through every cell there gleamed the light of a hidden fire? How much more so is it with mental suffering? Are we not irresistibly drawn to reverence one who has suffered much and nobly, and sometimes to love, too? |
Với một số người, nỗi buồn làm chai sạn tính cách, nhưng với những người sẵn sàng bước vào giai đoạn thứ hai, nó luôn thanh lọc. Chẳng phải chính kết cấu và da thịt của một người đau khổ, người đã kiên nhẫn và cam chịu nỗi đau của mình, dường như sáng ngời và thanh khiết, như thể qua mỗi tế bào đều ánh lên ngọn lửa của một ngọn lửa ẩn giấu sao? Nó còn hơn thế nữa với những đau khổ về tinh thần? Chẳng phải chúng ta bị thu hút một cách không thể cưỡng lại để tôn kính một người đã chịu đựng nhiều và cao thượng, và đôi khi là yêu thương nữa sao? |
|
I saw my lady weep, |
Tôi thấy người yêu của tôi khóc, |
|
And Sorrow proud to be advanced so |
Và Nỗi Buồn tự hào được tiến xa như vậy |
|
In those fair eyes where all perfection keep. |
Trong đôi mắt xinh đẹp ấy, nơi mọi sự hoàn hảo đều ngự trị. |
|
Her face was full of woe: But such a woe (believe me) wins more hearts |
Khuôn mặt nàng tràn đầy đau khổ: Nhưng một nỗi đau như vậy (hãy tin tôi) chiếm được nhiều trái tim hơn |
|
Than Mirth can do with her enticing parts, |
So với Niềm Vui có thể làm được với những phần quyến rũ của mình, |
|
Sorrow was there made fair, |
Nỗi Buồn ở đó đã trở nên tươi đẹp, |
|
Passion wise; tears a delightful thing; |
Đam Mê khôn ngoan; nước mắt là một điều thú vị; |
|
Silence beyond all speech a wisdom rare. |
Sự im lặng vượt trên mọi lời nói là một sự minh triết hiếm có. |
|
She made her sighs to sing, |
Nàng khiến những tiếng thở dài của mình cất lên tiếng hát, |
|
And all things with so sweet a sadness move |
Và mọi thứ với một nỗi buồn ngọt ngào như vậy di chuyển |
|
As made a heart at once both grieve and love. |
Khiến một trái tim vừa đau buồn vừa yêu thương. |
THE STAGE OF RENUNCIATION—GIAI ĐOẠN TỪ BỎ
|
Life seems full of evil days to those who come to the end of the first stage, but its lesson is clear. That lesson is, “Thou must go without, go without!” That is the everlasting song, which every hour, all our life through, hoarsely sings to us. Truly does Carlyle voice the wisdom of the ages when he says, “The Fraction of Life can be increased in value not so much by increasing your numerator as by lessening your denominator. Nay, unless my algebra deceive me, unit divided by a zero will give infinity. Make thy claim of wages a zero then; thou hast the world under thy feet.” |
Cuộc sống dường như đầy rẫy những ngày đen tối đối với những người đi đến cuối giai đoạn đầu tiên, nhưng bài học của nó rất rõ ràng. Bài học đó là, “Ngươi phải ra đi tay trắng, ra đi tay trắng!” Đó là bài ca bất diệt, mà mỗi giờ, trong suốt cuộc đời chúng ta, khàn khàn hát cho chúng ta nghe. Carlyle thực sự nói lên sự minh triết của các thời đại khi Ông nói, “Giá trị của Phân Số Cuộc Sống có thể được tăng lên không nhiều bằng cách tăng tử số của bạn mà bằng cách giảm mẫu số của bạn. Thật vậy, trừ khi đại số của tôi đánh lừa tôi, đơn vị chia cho số không sẽ cho vô cực. Vậy thì hãy biến yêu cầu tiền công của ngươi thành số không; ngươi có thế giới dưới chân mình.” |
THE LAW OF RENUNCIATION—ĐỊNH LUẬT TỪ BỎ
|
All great workers know that the Law of renunciation is true, and that “it is only with renunciation that life, properly speaking can be said to begin”. There are no great souls who are completely happy, can ever be! Once more let the great apostle of Work speak to us: “the happy man was never yet created; the virtuous man, tho’ clothed in rags and sinking under pain, is the jewel of the Earth, however I may doubt it, or deny it in bitterness of heart. O never let me forget it! Teach me, tell me, when the Fiend of Suffering and the base Spirit of the World are ready to prevail against me, and drive me from this last stronghold.” |
Tất cả những người làm việc vĩ đại đều biết rằng Định luật từ bỏ là đúng, và rằng “chỉ với sự từ bỏ thì cuộc sống, nói đúng ra, mới có thể nói là bắt đầu”. Không có những linh hồn vĩ đại nào hoàn toàn hạnh phúc, có thể có được! Một lần nữa, hãy để vị tông đồ vĩ đại của Công Việc nói với chúng ta: “người hạnh phúc chưa bao giờ được tạo ra; người đức hạnh, dù mặc quần áo rách rưới và chìm đắm trong đau đớn, là viên ngọc quý của Trái Đất, dù tôi có nghi ngờ hay phủ nhận điều đó trong cay đắng trong lòng. Ôi đừng bao giờ để tôi quên điều đó! Hãy dạy tôi, hãy nói với tôi, khi Ác Quỷ Đau Khổ và Tinh Thần Hèn Hạ của Thế Giới sẵn sàng thắng thế trước tôi, và đuổi tôi khỏi thành trì cuối cùng này.” |
|
Take whom you will who has done a great work, and he knows that renunciation is the law. In bitterness of heart Ruskin cries out: “I have had my heart broken ages ago, when I was a boy, then mended, cracked, beaten in, kicked about old corridors, and finally, I think, flattened fairly out”. But he persevered in his work all the same. There is no greater name in the world of art than Michael Angelo, “this masterful and stern, life-wearied and labor-hardened man”, whose history “is one of indomitable will and almost superhuman energy, yet of will that had hardly ever had its way, and of energy continually at war with circumstance”. It is the same with all who have been great. |
Hãy chọn bất kỳ ai mà bạn muốn, người đã thực hiện một công việc vĩ đại, và y biết rằng sự từ bỏ là định luật. Trong cay đắng trong lòng, Ruskin kêu lên: “Trái tim tôi đã tan vỡ từ lâu, khi tôi còn là một cậu bé, sau đó được hàn gắn, nứt nẻ, bị đánh đập, bị đá vào những hành lang cũ, và cuối cùng, tôi nghĩ, đã bị san phẳng một cách công bằng”. Nhưng Ông vẫn kiên trì trong công việc của mình. Không có cái tên nào vĩ đại hơn trong thế giới nghệ thuật so với Michael Angelo, “người đàn ông khắc khổ và kiên định, mệt mỏi vì cuộc sống và vất vả lao động này”, người mà lịch sử “là một trong những ý chí bất khuất và năng lượng gần như siêu phàm, nhưng ý chí đó hầu như chưa bao giờ có được con đường của mình, và năng lượng liên tục xung đột với hoàn cảnh”. Nó cũng giống với tất cả những người vĩ đại. |
THE MEANING OF LIFE—Ý NGHĨA CỦA CUỘC SỐNG
|
But through renunciation the soul on the threshold of greatness discover’s life’s meaning. If religious, he will state it, “Thy will be done”; if scientific or artistic he will say, “Not I, but a Work”. He is now as Faust who sought happiness in knowledge, and failed; sought it in the love of Marguerite, and reaped a tragedy; and only as he planned to reclaim waste lands for men, and lost himself in the dream of that work, found that long-sought-for happy moment when he could say, “Ah, tarry a while, thou art so fair!” |
Nhưng thông qua sự từ bỏ, linh hồn trên ngưỡng cửa của sự vĩ đại khám phá ra ý nghĩa của cuộc sống. Nếu là người mộ đạo, y sẽ nói, “Ý Cha được nên”; nếu là nhà khoa học hoặc nghệ sĩ, y sẽ nói, “Không phải tôi, mà là một Công Việc”. Bây giờ y giống như Faust, người đã tìm kiếm hạnh phúc trong tri thức, và thất bại; tìm kiếm nó trong tình yêu với Marguerite, và gặt hái một bi kịch; và chỉ khi y lên kế hoạch khai hoang những vùng đất hoang cho con người, và lạc mình trong giấc mơ về công việc đó, mới tìm thấy khoảnh khắc hạnh phúc được tìm kiếm từ lâu khi y có thể nói, “A, hãy nán lại một chút, ngươi thật xinh đẹp!” |
|
So, renouncing live the souls of the second stage, lovers of a Work. Sad at heart they are; but if they are loyal to their work, then comes to them in fleeting moments more than happiness; it is the joy of creation. Such wonders they now body forth that to themselves their masterpieces are enigmas. In fitful gleams they see a Light, and know that now and then it shines through them to the world. Perfect masters of technique they are now, in religion, in art, in science, in every department of life. But alas! Just as they have discovered what it is to live, what it is to create, they are old, and life comes to a close, before it seems hardly begun. Shall the path of renunciation bring nothing but despair? |
Vì vậy, từ bỏ cuộc sống là linh hồn của giai đoạn thứ hai, những người yêu thích một Công Việc. Lòng họ buồn bã; nhưng nếu họ trung thành với công việc của mình, thì trong những khoảnh khắc phù du, họ sẽ nhận được nhiều hơn là hạnh phúc; đó là niềm vui sáng tạo. Những điều kỳ diệu như vậy giờ đây Các Ngài thể hiện ra rằng đối với chính Các Ngài, những kiệt tác của Các Ngài là những điều bí ẩn. Trong những tia sáng thất thường, họ nhìn thấy Ánh Sáng, và biết rằng thỉnh thoảng nó chiếu xuyên qua họ đến thế giới. Các Ngài giờ là những bậc thầy hoàn hảo về kỹ thuật, trong tôn giáo, trong nghệ thuật, trong khoa học, trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Nhưng than ôi! Ngay khi họ khám phá ra thế nào là sống, thế nào là sáng tạo, thì họ đã già, và cuộc đời đi đến hồi kết, trước khi dường như nó hầu như chưa bắt đầu. Liệu con đường từ bỏ có mang lại gì ngoài sự tuyệt vọng? |
|
Despair was never yet so deep. |
Sự tuyệt vọng chưa bao giờ sâu sắc đến thế. |
|
In sinking as in seeming; |
Trong sự chìm đắm cũng như trong vẻ bề ngoài; |
|
Despair is hope just dropp’d asleep |
Tuyệt vọng là hy vọng vừa chợp mắt |
|
For better chance of dreaming. |
Để có cơ hội mơ mộng tốt hơn. |
THE STAGE OF TRANSFIGURATION— GIAI ĐOẠN BIẾN HÌNH
|
“Hope just dropp’d asleep for better chance of dreaming”—that, truly, is death. The great worker leaves life but to return again, with every dream old and new nearer realization. He returns, with the inborn mastery of technique of the genius, to achieve now where once he only dreamed. The joy of creation is now his sure and priceless possession, that wondrous joy which only those who know can offer all gifts of heart and mind, and stand apart from them, while a Greater than they creates through them. “Seeking nothing, he gains al; foregoing self, the universe grows I”. Now has he found that life which he lost in the stage of renunciation; henceforth, in all places and at all times is he become “a pillar in the temple of my God, and he shall no more go out”. |
“Hy vọng vừa chợp mắt để có cơ hội mơ mộng tốt hơn” – đó thực sự là cái chết. Người lao động vĩ đại rời bỏ cuộc sống nhưng để trở lại một lần nữa, với mọi giấc mơ cũ và mới gần hiện thực hơn. Y trở lại, với sự làm chủ kỹ thuật bẩm sinh của thiên tài, để đạt được giờ đây nơi y đã từng chỉ mơ ước. Niềm vui sáng tạo giờ là tài sản chắc chắn và vô giá của y, niềm vui kỳ diệu mà chỉ những ai biết mới có thể dâng tặng tất cả những món quà của trái tim và trí tuệ, và đứng ngoài chúng, trong khi một Đấng Vĩ Đại hơn họ sáng tạo thông qua họ. “Không tìm kiếm gì, y đạt được tất cả; từ bỏ bản thân, vũ trụ phát triển thành Tôi”. Giờ đây, y đã tìm thấy cuộc sống mà y đã mất trong giai đoạn từ bỏ; kể từ nay, ở mọi nơi và mọi lúc, y trở thành “một cây cột trong đền thờ Thượng đế của ta, và y sẽ không còn ra ngoài nữa”. |
THE PATH OF BLISS— CON ĐƯỜNG HOAN LẠC
|
So life gives of its best to all—happiness to some, renunciation to others, and, to a few, transfiguration. What if now most of us, who love Truth, must “do without”? Let us but dedicate heart and mind to a Work, and we shall find that renunciation leads to transfiguration. There is but one road to God, for all to tread. It is the Path of Bliss. It has steps—happiness, renunciation, and transfiguration. Whoso will offer up all that he is to a Work, though he “lose his life” thereby, yet shall he find it soon, and “come again rejoicing, bringing his sheaves with him.” |
Vì vậy, cuộc sống ban tặng những điều tốt đẹp nhất cho tất cả – hạnh phúc cho một số người, sự từ bỏ cho những người khác và, cho một số ít, sự biến hình. Điều gì sẽ xảy ra nếu giờ đây hầu hết chúng ta, những người yêu mến Chân Lý, phải “làm mà không có”? Chúng ta hãy hiến dâng trái tim và trí tuệ cho một Công Việc, và chúng ta sẽ thấy rằng sự từ bỏ dẫn đến sự biến hình. Chỉ có một con đường dẫn đến Thượng đế, để tất cả cùng bước đi. Đó là Con Đường Hoan Lạc. Nó có các bước – hạnh phúc, từ bỏ và biến hình. Bất cứ ai dâng tất cả những gì mình có cho một Công Việc, mặc dù y “mất mạng sống” vì vậy, nhưng y sẽ sớm tìm thấy nó, và “trở lại vui mừng, mang theo những bó lúa của mình”. |
THE HIDDEN WORK OF NATURE — CÔNG VIỆC ẨN GIẤU CỦA TỰ NHIÊN
|
Never, in the history of mankind, has there been a time as to-day when it could be so truly said that, |
Chưa bao giờ, trong lịch sử nhân loại, có một thời điểm nào như ngày nay mà người ta có thể nói một cách chân thực rằng, |
|
The old order changeth, yielding place to new, |
Trật tự cũ thay đổi, nhường chỗ cho cái mới, |
|
And God fulfils Himself in many ways, |
Và Thượng đế hoàn thành Chính Ngài bằng nhiều cách, |
|
Lest one good custom should corrupt the world. |
Để một phong tục tốt không làm tha hóa thế giới. |
|
It is true that “the man in the street” knows of no such great change; life for him moves as of old in its fixed grooves, and if the world’s progress has multiplied for him life’s conveniences, it has also multiplied for him life’s needs. Change to him is largely a matter of a surplus of comforts over pains, and in this regard the old order has changed but little for him. But the man in the library, the laboratory, the studio, the pulpit, is aware of the great change, and he knows that it began with the work of Darwin and his school. |
Đúng là “người ngoài phố” không biết đến sự thay đổi lớn lao như vậy; cuộc sống đối với y vẫn diễn ra như cũ trong những rãnh cố định của nó, và nếu sự tiến bộ của thế giới đã nhân lên những tiện nghi của cuộc sống cho y, thì nó cũng đã nhân lên những nhu cầu của cuộc sống cho y. Sự thay đổi đối với y phần lớn là vấn đề về sự dư thừa tiện nghi so với đau đớn, và về mặt này, trật tự cũ đã thay đổi rất ít đối với y. Nhưng người trong thư viện, phòng thí nghiệm, studio, bục giảng, nhận thức được sự thay đổi lớn lao, và y biết rằng nó bắt đầu với công trình của Darwin và trường phái của Ông. |
|
The importance of the work of modern scientists lies in the fact that they have marshaled for us the events of nature into an orderly pageant of evolution. What exoteric religion has not been able to do, science has achieved, and that is to show Life as one. Technological trinities of Creator, Creation, and Creature, or dualities of God and Man, have not unified life for us in the way science has done. Mysticism alone, with its truth of the Immanence, has revealed to men something of that unified existence of all that is, which is the logical deduction from modern evolutionary theories. |
Tầm quan trọng của công trình của các nhà khoa học hiện đại nằm ở chỗ họ đã tập hợp cho chúng ta các sự kiện của tự nhiên thành một cuộc diễu hành có trật tự của sự tiến hóa. Những gì tôn giáo ngoại môn không thể làm được, khoa học đã đạt được, và đó là cho thấy Sự Sống là một. Các bộ ba công nghệ của Đấng Sáng Tạo, Sự Sáng Tạo và Sinh Vật, hoặc tính nhị nguyên của Thượng đế và Con Người, đã không thống nhất cuộc sống cho chúng ta theo cách mà khoa học đã làm. Chỉ có huyền bí học, với chân lý về Sự Nội Tại của nó, đã tiết lộ cho con người điều gì đó về sự tồn tại thống nhất của tất cả những gì là, vốn là sự suy luận hợp lý từ các lý thuyết tiến hóa hiện đại. |
|
When we contemplate the pageant of nature, we see her at a work of building and un-building. From mineral to bacterium and plant, from microbe to animal and man, nature is busy at a visible work, step by step evolving higher and more complex structures. Though she may seem at first sight to work blindly and mechanically, she has in reality a coherent plan of action. Her plan is to evolve structures stage by stage, so that the amount of time needed by a given creature for its self-protection and sustenance may be less and less with each successive generation. The higher the structure is in its organization and adaptability, the more time, and hence more energy, there is free for other purposes of life than sustenance and procreation. |
Khi chúng ta chiêm ngưỡng cảnh tượng thiên nhiên, chúng ta thấy Bà đang trong công cuộc xây dựng và phá bỏ. Từ khoáng vật đến vi khuẩn và thực vật, từ vi sinh vật đến động vật và con người, thiên nhiên bận rộn với một công việc hữu hình, từng bước phát triển các cấu trúc cao hơn và phức tạp hơn. Mặc dù thoạt nhìn Bà có vẻ làm việc một cách mù quáng và máy móc, nhưng trên thực tế, Bà có một kế hoạch hành động mạch lạc. Kế hoạch của Bà là phát triển các cấu trúc theo từng giai đoạn, sao cho lượng thời gian mà một sinh vật nhất định cần để tự bảo vệ và duy trì sự sống ngày càng ít đi qua mỗi thế hệ kế tiếp. Cấu trúc càng cao về tổ chức và khả năng thích ứng, thì càng có nhiều thời gian, và do đó có nhiều năng lượng hơn, dành cho các mục đích khác của cuộc sống hơn là duy trì sự sống và sinh sản. |
|
Two elements in life arise from the perfection of the structural mechanism which the higher order of creatures reveals. First, they have time for play, for it is in play that such energy manifests as is not required for gaining food and shelter. The second element manifests itself only when human beings appear in evolution, and men begin to show a desire for adaptability. Adaptability to environment exists in the plant and in the animal, but it is in them purely instinctive or mechanical; with man on the other hand there is an attempt at conscious adaptability. |
Hai yếu tố trong cuộc sống nảy sinh từ sự hoàn hảo của cơ chế cấu trúc mà trật tự cao hơn của các sinh vật tiết lộ. Thứ nhất, chúng có thời gian để vui chơi, vì chính trong vui chơi mà năng lượng biểu hiện như không cần thiết để kiếm thức ăn và nơi ở. Yếu tố thứ hai chỉ biểu hiện khi con người xuất hiện trong quá trình tiến hóa, và con người bắt đầu thể hiện mong muốn thích nghi. Khả năng thích ứng với môi trường tồn tại ở thực vật và động vật, nhưng ở chúng hoàn toàn là bản năng hoặc máy móc; mặt khác, ở con người có một nỗ lực thích ứng có ý thức. |
|
When this desire for adaptability increases, nature reveals a new principle of evolution. To the principle of the survival of the fittest by a struggle for existence, she adds the new one of evolution by interdependence. Therefore we find human units aggregating themselves into groups, and primitive men organizing themselves into families and tribes. |
Khi mong muốn thích ứng này tăng lên, thiên nhiên tiết lộ một nguyên tắc tiến hóa mới. Đối với nguyên tắc sinh tồn của kẻ mạnh nhất bằng cuộc đấu tranh sinh tồn, Bà thêm vào nguyên tắc mới về sự tiến hóa bằng sự tương thuộc. Vì vậy, chúng ta thấy các đơn vị con người tập hợp lại thành các nhóm, và những người nguyên thủy tổ chức thành các gia đình và bộ lạc. |
|
Once more this means a saving of labor and time in the material struggle for existence. Some of both is now at nature’s disposal, to train men to discover new ways of life and action. To the play of the individual, there is added a communal life which makes civilization possible. For civilization means that some individuals in a community are dissatisfied with what contents all the others, and that therefore they are burning with a zeal for reform, and the spirit of reform sooner or later is inevitable in evolution. The survival of the fittest can only come about by that mysterious arrival of the fittest which no scientist can explain. Nature now ushers in “the fittest” in the few who are planning for reform. For reform means that organisms will consciously adapt themselves more and more to the exigencies of environment, for to each successive change to greater adaptability nature has something new to give. |
Một lần nữa, điều này có nghĩa là tiết kiệm sức lao động và thời gian trong cuộc đấu tranh vật chất để tồn tại. Một phần của cả hai giờ đây tùy ý sử dụng của thiên nhiên, để huấn luyện con người khám phá những cách sống và hành động mới. Đối với trò chơi của cá nhân, có thêm một cuộc sống cộng đồng giúp cho nền văn minh trở nên khả thi. Vì nền văn minh có nghĩa là một số cá nhân trong một cộng đồng không hài lòng với những gì làm hài lòng tất cả những người khác, và do đó họ đang bừng bừng nhiệt huyết cải cách, và tinh thần cải cách sớm hay muộn là không thể tránh khỏi trong quá trình tiến hóa. Sự sống sót của kẻ mạnh nhất chỉ có thể xảy ra nhờ sự xuất hiện bí ẩn của kẻ mạnh nhất mà không nhà khoa học nào có thể giải thích được. Thiên nhiên giờ đây giới thiệu “kẻ mạnh nhất” trong số ít người đang lên kế hoạch cải cách. Vì cải cách có nghĩa là các sinh vật sẽ tự giác thích nghi ngày càng nhiều hơn với những nhu cầu của môi trường, vì đối với mỗi thay đổi liên tiếp để thích ứng tốt hơn, thiên nhiên có một cái gì đó mới để cho. |
|
Thus individual men and women become nature’s tools; she works with their hearts and minds and hands to create social and political activities. Religion and science and art appear among men; the struggle for existence is no longer nature’s sole means for bringing to realization her aim; interdependence of units, and therewith reform, are the means which she uses now. |
Như vậy, những người nam và nữ trở thành công cụ của thiên nhiên; Bà làm việc bằng trái tim, thể trí và đôi tay của họ để tạo ra các hoạt động xã hội và chính trị. Tôn giáo, khoa học và nghệ thuật xuất hiện giữa con người; cuộc đấu tranh sinh tồn không còn là phương tiện duy nhất của thiên nhiên để hiện thực hóa mục tiêu của Bà; sự phụ thuộc lẫn nhau của các đơn vị, và cùng với đó là cải cách, là những phương tiện mà Bà sử dụng bây giờ. |
|
Then it is that nature proclaims to men that message which she has kept for them through the ages. It is the joy of social service. Strange and unreal, as yet, to most men is the thought of such joy. But evolution has only lately entered on this phase of her work, and ages must yet elapse before social service becomes instinctive in men as are now self-assertion and selfishness. That day must inevitably be the handful of reformers today are as the “missing links” of a chain which stretches forward from man to superman. As, from the isolation and selfishness of the of the brute, nature has evolved the interdependence of men, so too, is self-sacrifice the next logical step in her evolutionary Self-revelation. |
Sau đó, thiên nhiên tuyên bố với con người thông điệp mà Bà đã giữ cho họ qua các thời đại. Đó là niềm vui của phụng sự xã hội. Kỳ lạ và không có thật, cho đến nay, đối với hầu hết mọi người là ý nghĩ về niềm vui như vậy. Nhưng quá trình tiến hóa chỉ mới bước vào giai đoạn công việc này của Bà, và nhiều thời đại nữa phải trôi qua trước khi phụng sự xã hội trở thành bản năng ở con người như bây giờ là sự tự khẳng định và ích kỷ. Ngày đó chắc chắn phải là một số ít nhà cải cách ngày nay giống như “mắt xích còn thiếu” của một chuỗi kéo dài từ người đến siêu nhân. Vì, từ sự cô lập và ích kỷ của con thú, thiên nhiên đã phát triển sự phụ thuộc lẫn nhau của con người, thì sự hy sinh bản thân cũng là bước hợp lý tiếp theo trong Sự tự mặc khải mang tính tiến hóa của Bà. |
|
A more inspiring picture there could hardly be than this, of nature at work on her building and un-building. Yet there are not a few dark shadows in the picture. So long as the individual lives only the few brief years of his life, so long as nothing of him remains as an individual after his death, there is a ruthlessness about nature which is appalling. Where is today “the glory that was Greece and the grandeur that was Rome”? Some day there must be an end to nature’s work, in this planet at least where we live. There are dead suns in space, and some day our sun will die out, and every satellite of his will be a frozen world. Careful of the type, nature truly builds form after form, and will build for many an age yet to come. There is indeed a far-off event “to which the whole creation moves”, but it is to that state when living organisms shall lack the warmth from the sun which they need for life. |
Một bức tranh đầy cảm hứng hơn khó có thể có được so với bức tranh này, về thiên nhiên đang làm việc xây dựng và phá bỏ của nó. Tuy nhiên, có không ít bóng tối trong bức tranh. Chừng nào cá nhân chỉ sống những năm tháng ngắn ngủi của cuộc đời y, chừng nào không có gì thuộc về y còn lại như một cá nhân sau khi y chết, thì có một sự tàn nhẫn về thiên nhiên vốn rất kinh hoàng. Ngày nay, “vinh quang vốn là Hy Lạp và sự hùng vĩ vốn là La Mã” ở đâu? Một ngày nào đó phải có một kết thúc cho công việc của thiên nhiên, ít nhất là trên hành tinh này nơi chúng ta sống. Có những mặt trời chết trong không gian, và một ngày nào đó mặt trời của chúng ta sẽ tắt, và mọi vệ tinh của nó sẽ là một thế giới đóng băng. Cẩn thận về kiểu mẫu, thiên nhiên thực sự xây dựng hết hình tướng này đến hình tướng khác, và sẽ xây dựng cho nhiều kỷ nguyên sắp tới. Quả thực có một sự kiện ở rất xa “mà toàn bộ sự sáng tạo hướng tới”, nhưng đó là trạng thái khi các sinh vật sống sẽ thiếu hơi ấm từ mặt trời mà chúng cần cho sự sống. |
|
So long as we contemplate nature’s visible work only, not the greatest altruist but must now and then feel the shadow of great despair. That which alone makes life and self-sacrifice real and inspiring to great souls—the thought and the feeling that their work will endure forever—is lacking when we consider nature’s work in the light of modern science alone. Yet many an altruist would be content to die, and be nothing thereafter, if he could but feel that nature had some pity for his fate. Well the poet voices the feeling which arises from the conception of nature, or of a deity who is as passionless as nature;— |
Chừng nào chúng ta chỉ chiêm ngưỡng công việc hữu hình của thiên nhiên, thì không một người vị tha vĩ đại nào mà không thỉnh thoảng cảm thấy bóng tối của sự tuyệt vọng lớn. Điều duy nhất làm cho cuộc sống và sự hy sinh bản thân trở nên có thật và đầy cảm hứng đối với những linh hồn vĩ đại—suy nghĩ và cảm giác rằng công việc của họ sẽ tồn tại mãi mãi—bị thiếu khi chúng ta xem xét công việc của thiên nhiên chỉ dưới ánh sáng của khoa học hiện đại. Tuy nhiên, nhiều người vị tha sẽ hài lòng chết, và không là gì sau đó, nếu họ có thể cảm thấy rằng thiên nhiên có chút thương xót cho số phận của họ. Vâng, nhà thơ cất lên tiếng nói cảm xúc nảy sinh từ quan niệm về thiên nhiên, hoặc về một vị Thượng đế vô cảm như thiên nhiên;— |
|
Life is pleasant, and friends may be nigh, |
Cuộc sống thật dễ chịu, và bạn bè có thể ở gần, |
|
Fain would I speak one word and be spared; |
Tôi muốn nói một lời và được tha thứ; |
|
Yet I could be silent and cheerfully die, |
Tuy nhiên, tôi có thể im lặng và vui vẻ chết, |
|
If I were only sure God cared; |
Nếu tôi chỉ chắc chắn Thượng đế quan tâm; |
|
If I had faith and were only certain |
Nếu tôi có đức tin và chỉ chắc chắn |
|
That light is behind that terrible curtain. |
Ánh sáng ở đằng sau tấm màn khủng khiếp đó. |
|
It is here that Theosophy steps in to continue the work of science, and explain the true significance of nature’s manifestations. As modern science points to nature’s visible work, so Theosophy points to a Hidden Work of Nature. |
Chính tại đây Thông Thiên Học bước vào để tiếp tục công việc của khoa học, và giải thích thâm nghĩa thực sự về những biểu hiện của thiên nhiên. Khi khoa học hiện đại chỉ ra công việc hữu hình của thiên nhiên, thì Thông Thiên Học chỉ ra một Công Việc Ẩn Tàng của Thiên Nhiên. |
|
There is a hidden Light which reveals to men that nature is but one expression of a Consciousness at work; that this Consciousness is at work with a Plan of evolution; and that this Consciousness carries out its plan through us and through us alone. The moment that we realize the significance of this message of the Hidden Light, that men are immortal souls and not perishable bodies, we begin to see that, while careful of the type, nature is not less careful of the single life too. For then we see that nature’s latest phase, a fullness of life through social service, necessarily involves the recognition of men as souls; for it would be useless for nature slowly to fashion a reformer, unless she could utilize his ability and experience for greater reforms in the future. |
Có một Ánh Sáng ẩn tàng vốn tiết lộ cho con người rằng thiên nhiên chỉ là một biểu hiện của một Tâm thức đang làm việc; rằng Tâm thức này đang làm việc với một Thiên Cơ tiến hóa; và Tâm thức đó thực hiện thiên cơ của nó thông qua chúng ta và chỉ thông qua chúng ta. Khoảnh khắc chúng ta nhận ra thâm nghĩa của thông điệp này về Ánh Sáng Ẩn Tàng, rằng con người là những linh hồn bất tử chứ không phải những thể xác dễ hư hoại, chúng ta bắt đầu thấy rằng, trong khi cẩn thận về kiểu mẫu, thiên nhiên cũng không kém phần cẩn thận về sự sống đơn lẻ. Vì sau đó chúng ta thấy rằng giai đoạn mới nhất của thiên nhiên, một sự viên mãn của cuộc sống thông qua phụng sự xã hội, nhất thiết phải liên quan đến việc công nhận con người là những linh hồn; vì sẽ vô ích cho thiên nhiên từ từ tạo ra một nhà cải cách, trừ khi Bà có thể sử dụng khả năng và kinh nghiệm của y cho những cải cách lớn hơn trong tương lai. |
|
That his specialized abilities shall not be dissipated would surely then be logical, in a nature for which we postulate an aim which persists from age to age. |
Việc những khả năng chuyên biệt của y không bị tiêu tan chắc chắn sẽ hợp lý, trong một thiên nhiên mà chúng ta cho rằng có một mục tiêu tồn tại từ thời đại này sang thời đại khác. |
|
It does not require much profound thought or speculation to deduce from this view of nature’s work that men live for ever as souls, and that, through reincarnation, they become fitter tools in nature’s hands to achieve her purpose of evolution. Let but reincarnation be considered a part of nature’s plan, and at once the tragedy of nature transforms itself into an inspiring and stately pageant. For then the future is ourselves; it is we who shall make the glorious utopias of dreams; we who painfully toil today to fashion bricks for nature’s beautiful edifice in far-off days; we, and not others, shall see that edifice in its splendor, and be its very possessors. Though the spirit of action of the best of us is ever a sic vos non vobis, “thus ye work, but not for yourselves”, yet in reality, like bread cast upon the waters, our work shall greet us ages hence, and we shall then be glad that we have toiled so well now. |
Không cần nhiều suy nghĩ sâu sắc hay suy đoán để suy ra từ quan điểm này về công việc của thiên nhiên rằng con người sống mãi mãi như những linh hồn, và rằng, thông qua tái sinh, họ trở thành những công cụ phù hợp hơn trong tay thiên nhiên để đạt được mục đích tiến hóa của Bà. Chỉ cần tái sinh được coi là một phần trong thiên cơ của thiên nhiên, và ngay lập tức bi kịch của thiên nhiên biến thành một màn trình diễn đầy cảm hứng và trang trọng. Vì khi đó tương lai là chính chúng ta; chính chúng ta sẽ tạo ra những утопия vinh quang của những giấc mơ; chính chúng ta, những người vất vả lao động ngày hôm nay để tạo ra những viên gạch cho công trình kiến trúc tuyệt đẹp của thiên nhiên trong những ngày xa xôi; chúng ta, chứ không phải những người khác, sẽ thấy công trình kiến trúc đó trong sự huy hoàng của nó, và là chính những người sở hữu nó. Mặc dù tinh thần hành động của những người giỏi nhất trong chúng ta luôn là một sic vos non vobis, “như vậy các ngươi làm việc, nhưng không phải cho chính mình”, nhưng trên thực tế, giống như bánh mì ném xuống nước, công việc của chúng ta sẽ chào đón chúng ta nhiều thời đại sau đó, và chúng ta sẽ vui mừng vì chúng ta đã làm việc rất tốt bây giờ. |
|
So comes to us the message of the Hidden Light that nature is consciously going from good to better, from better to best, and that she works out her splendid purpose through us, who may become her ministers, or must be her slaves. |
Vì vậy, thông điệp về Ánh Sáng Ẩn giấu đến với chúng ta rằng, tự nhiên một cách có ý thức đang đi từ tốt đến tốt hơn, từ tốt hơn đến tốt nhất, và rằng Bà thực hiện mục đích tuyệt vời của mình thông qua chúng ta, những người có thể trở thành những người phụng sự của Bà, hoặc phải là nô lệ của Bà. |
|
The spirit of reform, then, being a part of the evolutionary process, the next point to note is that in all effective reform there are two elements: first the reform is brought about by individuals working as a group, and second, the group has a leader. It is fairly easy to understand the grouping of individuals to co-operate for a common aim as a part of nature’s evolutionary plan; their united action but expresses the social instinct. But it is perhaps less easy to see that nature selects the leader, and sends him to a particular group to crystallize its dreams and plans into organization and action. Yet this is the message of the Hidden Light—that a leader does not appear by a mere concatenation of chance circumstances, but only because he is selected for a particular work, and is sent to do it. For a leader does not come in evolution as a “sport”—a passing variant produced nobody knows how; he is fashioned by a slow laborious process lasting thousands of years. Life after life, in a process of rebirth, the would-be leader must earn his future position by dedication to works of reform; by little actions for reform as a savage, by larger actions as a civilized man, he trains himself for the role which nature has written for him. |
Vậy thì, tinh thần cải cách, là một phần của quá trình tiến hóa, điểm tiếp theo cần lưu ý là trong tất cả các cuộc cải cách hiệu quả đều có hai yếu tố: thứ nhất, cuộc cải cách được thực hiện bởi các cá nhân làm việc như một nhóm, và thứ hai, nhóm có một người lãnh đạo. Khá dễ dàng để hiểu việc tập hợp các cá nhân để hợp tác vì một mục tiêu chung như một phần của Thiên Cơ tiến hóa của tự nhiên; hành động thống nhất của họ chỉ thể hiện bản năng xã hội. Nhưng có lẽ ít dễ dàng hơn để thấy rằng tự nhiên chọn người lãnh đạo, và gửi y đến một nhóm cụ thể để kết tinh những ước mơ và kế hoạch của nhóm thành tổ chức và hành động. Tuy nhiên, đây là thông điệp của Ánh Sáng Ẩn giấu—rằng một nhà lãnh đạo không xuất hiện chỉ do một chuỗi các tình huống ngẫu nhiên, mà chỉ vì y được chọn cho một công việc cụ thể, và được gửi đến để thực hiện nó. Vì một nhà lãnh đạo không đến trong quá trình tiến hóa như một “sản phẩm đột biến”—một biến thể thoáng qua được tạo ra mà không ai biết bằng cách nào; y được hình thành bởi một quá trình công phu chậm chạp kéo dài hàng ngàn năm. Hết kiếp này đến kiếp khác, trong một quá trình tái sinh, người muốn trở thành lãnh đạo phải giành được vị trí tương lai của mình bằng cách cống hiến cho các công việc cải cách; bằng những hành động nhỏ để cải cách khi còn là một người man rợ, bằng những hành động lớn hơn khi là một người văn minh, y tự rèn luyện mình cho vai trò mà tự nhiên đã viết cho y. |
|
If we look at reformers in the light of reincarnation, we shall see that their present ability to lead is simply the result of work done in past lives. Since biologists are agreed that acquired characters are not transmissible, we must look for that rare inborn capacity to lead, not in the heredity of the organism, but in a spiritual heredity which is in the life and in the consciousness of the individual. This is exactly what reincarnation says; the individual acquired his ability to lead today only be endeavors to lead many a past life, and by partial successes at least in so doing. |
Nếu chúng ta nhìn vào những nhà cải cách dưới ánh sáng của luân hồi, chúng ta sẽ thấy rằng khả năng lãnh đạo hiện tại của họ chỉ đơn giản là kết quả của công việc được thực hiện trong những kiếp trước. Vì các nhà sinh vật học đều đồng ý rằng các đặc điểm thu được không thể truyền lại được, chúng ta phải tìm kiếm khả năng bẩm sinh hiếm có để lãnh đạo, không phải trong di truyền của sinh vật, mà trong một di sản tinh thần vốn nằm trong sự sống và trong tâm thức của cá nhân. Đây chính xác là những gì luân hồi nói; cá nhân có được khả năng lãnh đạo ngày hôm nay chỉ bằng những nỗ lực lãnh đạo nhiều kiếp trước, và ít nhất là bằng những thành công một phần trong việc đó. |
|
Furthermore, the Hidden Light reveals to us that each present movement for reform was rehearsed in many a primitive setting long ago, with the present leaders and their coadjutors as actors. We need but look at the reform movements for the amelioration of the lot of the working classes in Europe, to see how the leaders of today in the various countries were tribunes of the Plebs in Rome, or “demagogues” in Athens, or leaders of the masses in Carthage. Nay, furthermore, it is not difficult to note how some of the politicians and statesmen of Greece and Rome and elsewhere, who worked to abolish abuses and to free the oppressed, have changed sex in their present incarnations, and are with us today as leaders of the various suffragist and feminine movements of the world. Where else but in past lives did these women learn the tactical strategy and mastery of leadership which they evince in their campaigns for reform? Why should certain men and women, and not all, labor and toil for their fellow-men, renouncing all and coveting martyrdom, unless they had learnt by past experiences the glory of action for reform? For the born leaders in every reform are geniuses in their way; they go unerringly to an aim, with the conviction of success; where did they develop this faith in themselves? They are in reality the “missing links” from men of today to the supermen of the future, and it is nature herself with her Hidden Work who has so fashioned them life after life. |
Hơn nữa, Ánh Sáng Ẩn giấu tiết lộ cho chúng ta rằng mỗi phong trào cải cách hiện tại đã được diễn tập trong nhiều bối cảnh sơ khai từ lâu, với các nhà lãnh đạo hiện tại và những người cộng sự của họ là những diễn viên. Chúng ta chỉ cần nhìn vào các phong trào cải cách để cải thiện số phận của giai cấp công nhân ở Châu Âu, để thấy các nhà lãnh đạo ngày nay ở các quốc gia khác nhau là những người bảo vệ Plebs ở Rome, hoặc “những nhà mị dân” ở Athens, hoặc các nhà lãnh đạo của quần chúng ở Carthage. Hơn nữa, không khó để nhận thấy một số chính trị gia và chính khách của Hy Lạp và La Mã và những nơi khác, những người đã làm việc để xóa bỏ những lạm dụng và giải phóng những người bị áp bức, đã thay đổi giới tính trong những lần tái sinh hiện tại của họ, và đang ở với chúng ta ngày nay với tư cách là những nhà lãnh đạo của các phong trào đòi quyền bầu cử và nữ quyền khác nhau trên thế giới. Nếu không phải trong những kiếp trước, những phụ nữ này đã học được chiến lược chiến thuật và khả năng làm chủ lãnh đạo mà họ thể hiện trong các chiến dịch cải cách của mình ở đâu? Tại sao một số người nam và nữ, chứ không phải tất cả, lại lao động và làm việc vì đồng loại của họ, từ bỏ tất cả và khao khát sự tử đạo, trừ khi họ đã học được từ những kinh nghiệm trong quá khứ về vinh quang của hành động vì sự cải cách? Vì những nhà lãnh đạo bẩm sinh trong mọi cuộc cải cách đều là những thiên tài theo cách của họ; họ đi một cách không sai lầm đến một mục tiêu, với niềm tin vào thành công; họ đã phát triển niềm tin này vào bản thân ở đâu? Họ thực sự là “những mắt xích còn thiếu” từ những người của ngày hôm nay đến những siêu nhân của tương lai, và chính tự nhiên với Công Việc Ẩn giấu của Bà là người đã tạo ra họ như vậy hết kiếp này đến kiếp khác. |
|
So nature plans and achieves, and the stately pageant moves on. But her purpose is not achieved slowly and leisurely, adding change to change; she does not bring about a new order of things by an accumulation of small changes. Nature goes by leaps, per saltum; and as in the biological world crises appear, and nature makes a leap and ushers in new species, so too is it in the world of human affairs. Though there is a slow steady upward movement for progress through reform, yet now and then there is a crisis in the affairs of men. Then things happen, and after the crisis is over, there is, as it were, a new species of human activity. Reform takes a new trend, and a whole host of new reforms are ushered in to make life fuller and nobler. |
Vì vậy, tạo hóa hoạch định và đạt được, và màn diễu hành uy nghi tiếp diễn. Nhưng mục đích của tạo hóa không đạt được một cách chậm chạp và thong thả, thêm sự thay đổi vào sự thay đổi; tạo hóa không mang lại một trật tự mới của sự vật bằng cách tích lũy những thay đổi nhỏ. Tạo hóa tiến lên bằng những bước nhảy vọt, per saltum; và như trong thế giới sinh học, các cuộc khủng hoảng xuất hiện, và tạo hóa thực hiện một bước nhảy vọt và mở ra những loài mới, thì cũng như vậy trong thế giới của các vấn đề nhân loại. Mặc dù có một sự chuyển động đi lên chậm rãi và ổn định để tiến bộ thông qua cải cách, nhưng thỉnh thoảng lại có một cuộc khủng hoảng trong các vấn đề của con người. Sau đó, mọi thứ xảy ra, và sau khi cuộc khủng hoảng kết thúc, có thể nói, một loài hoạt động mới của con người. Cải cách có một xu hướng mới, và vô số cải cách mới được đưa ra để làm cho cuộc sống đầy đủ và cao quý hơn. |
|
One such crisis in human affairs came in Palestine, with the coming of Christ. For though men knew not that it was a crisis, though Greece and Rome dreamed and planned of philosophy and dominion without end, a dawn had begun of a new era, and an age was ushered in, in the heyday of which Greece and Rome should be mere names. Christ ministered in Palestine, spoke to peasant and priest, and gave His sermons “on the Mount”, and a few men knew not then that with his message He gave birth to new species of idealism in action. But after two thousand years have elapsed, we of another generation can see that when Christ lived in Palestine, and the Roman Empire was beginning its day of glory, then indeed was the beginning too of the end of a world of thought and action—of that “glory that was Greece and the grandeur that was Rome”—and that Christ gave His message not so much to the men of His day as to those who were to come. |
Một cuộc khủng hoảng như vậy trong các vấn đề của con người đã đến ở Palestine, với sự xuất hiện của Đức Christ. Vì mặc dù con người không biết rằng đó là một cuộc khủng hoảng, mặc dù Hy Lạp và La Mã đã mơ ước và lên kế hoạch về triết học và sự thống trị vô tận, nhưng một bình minh đã bắt đầu của một kỷ nguyên mới, và một thời đại đã được mở ra, trong thời kỳ đỉnh cao mà Hy Lạp và La Mã chỉ là những cái tên. Đức Christ đã phụng sự ở Palestine, nói chuyện với nông dân và linh mục, và ban những bài giảng của Ngài “trên Núi”, và một vài người đàn ông không biết rằng với thông điệp của Ngài, Ngài đã khai sinh ra những loài chủ nghĩa lý tưởng mới trong hành động. Nhưng sau hai nghìn năm trôi qua, thế hệ khác của chúng ta có thể thấy rằng khi Đức Christ sống ở Palestine, và Đế chế La Mã bắt đầu ngày vinh quang của nó, thì đó thực sự cũng là sự khởi đầu của sự kết thúc của một thế giới tư tưởng và hành động—của “vinh quang đó là Hy Lạp và sự hùng vĩ đó là La Mã”—và Đức Christ đã ban thông điệp của Ngài không phải cho những người đương thời của Ngài mà là cho những người sẽ đến. |
|
So too was it in India, six centuries before Christ; another “dreamer” appeared, Siddhartha, Prince of the Satya clan. Men listened to Him and loved Him and followed Him, but they little dreamed that He was in reality building an Empire of Righteousness, which even after twenty-five centuries should embrace within it five hundred millions of souls. To the critics of His time, he was but another “Teacher”, one of hundreds then living in India pointing out “The Way.” It is only after the lapse of centuries that later generations knew that He was a teacher of teachers, a Flower on our human tree, the like of which had never been. |
Cũng như vậy ở Ấn Độ, sáu thế kỷ trước Đức Christ; một “người mơ mộng” khác xuất hiện, Siddhartha, Hoàng tử của gia tộc Satya. Mọi người lắng nghe Ngài và yêu mến Ngài và đi theo Ngài, nhưng họ ít mơ ước rằng Ngài thực sự đang xây dựng một Đế chế Công Bình, mà ngay cả sau hai mươi lăm thế kỷ sẽ bao gồm trong đó năm trăm triệu linh hồn. Đối với những nhà phê bình thời bấy giờ, Ngài chỉ là một “Huấn Sư” khác, một trong hàng trăm người đang sống ở Ấn Độ chỉ ra “Thánh Đạo”. Chỉ sau khi các thế hệ sau trôi qua nhiều thế kỷ, họ mới biết rằng Ngài là một huấn sư của các huấn sư, một đóa Hoa trên cây nhân loại của chúng ta, mà chưa từng có loài nào như vậy. |
|
Every so often, then, there is a climax in human affairs, and always such a climax is preceded by an age when men “dream dreams.” In Palestine, prophet after prophet dreamed of “the great and dreadful day of the Lord,” before Christ came, and proclaimed its coming and worked for it. In India, many a sage and philosopher prepared the way with his solutions for the message of the Buddha. |
Vậy thì, cứ sau một thời gian, có một cao trào trong các vấn đề của con người, và luôn luôn một cao trào như vậy được báo trước bởi một thời đại khi con người “mơ những giấc mơ”. Ở Palestine, hết nhà tiên tri này đến nhà tiên tri khác đã mơ về “ngày trọng đại và khủng khiếp của Chúa”, trước khi Đức Christ đến, và tuyên bố sự đến của nó và làm việc vì nó. Ở Ấn Độ, nhiều nhà hiền triết và triết gia đã chuẩn bị con đường bằng những giải pháp của mình cho thông điệp của Đức Phật. |
|
In every such climax, small or great, the resolution of the crisis comes through the intermediary of a Personality. For as nature weaves the tangled knot of human fate, “nowise moved except unto the working out of doom,” she plans too the Solver of the knot. For every crisis which is of her planning, she has prepared the Man who holds the solution in his heart and brain. |
Trong mọi cao trào như vậy, nhỏ hay lớn, việc giải quyết cuộc khủng hoảng đến thông qua trung gian của một phàm ngã. Vì khi tạo hóa dệt nên nút thắt rối rắm của số phận con người, “không hề lay chuyển ngoại trừ việc thực hiện sự diệt vong”, tạo hóa cũng lên kế hoạch cho Đấng Giải Quyết nút thắt. Vì mọi cuộc khủng hoảng do tạo hóa hoạch định, tạo hóa đã chuẩn bị Người nắm giữ giải pháp trong trái tim và bộ não của y. |
|
In this out twentieth century, men dream dreams as never heretofore. East and West, North and South, the machinery of human life grates on the ear, and there is not a single man or woman of true imagination who can say, “God’s in his heaven, All’s right with the world!” De profundis clamari better describes the wail of every nation. Millions are spent on armies and navies, while the poor are clamouring for bread; and statesmen themselves are wringing their hands that they cannot give a nation’s wealth back to the nation in hospitals and schools and fair gardens and clean habitations. For there are “wars and rumors of wars.” The spirit of charity grows year by year, but it seems as though charity but added patches to a rotting garment, and the more the patches which are put on the more the rents appear. Strife between capital and labor, race hatred between white and brown and yellow and black, a deadlock between science and religion, and more than all else, the increasing luxury of the few and the increasing misery of the many, these are but a few of the problems facing philanthropists today. |
Trong thế kỷ hai mươi của chúng ta, con người mơ những giấc mơ hơn bao giờ hết. Đông và Tây, Bắc và Nam, bộ máy của đời sống con người nghiến vào tai, và không một người nam hay nữ nào có trí tưởng tượng thực sự có thể nói, “Thượng đế ở trên thiên đàng, mọi thứ đều ổn thỏa với thế giới!” De profundis clamari mô tả đúng hơn tiếng than khóc của mọi quốc gia. Hàng triệu đô la được chi cho quân đội và hải quân, trong khi người nghèo đang kêu gào đòi bánh mì; và chính các chính khách đang vò đầu bứt tai vì họ không thể trả lại sự giàu có của một quốc gia cho quốc gia đó trong các bệnh viện và trường học và những khu vườn xinh đẹp và những nơi ở sạch sẽ. Vì có “chiến tranh và tin đồn về chiến tranh”. Tinh thần bác ái tăng lên hàng năm, nhưng dường như lòng bác ái chỉ thêm những miếng vá vào một chiếc áo choàng mục nát, và càng vá nhiều thì càng xuất hiện nhiều vết rách. Xung đột giữa tư bản và lao động, hận thù chủng tộc giữa người da trắng và da nâu và da vàng và da đen, một bế tắc giữa khoa học và tôn giáo, và hơn tất cả những điều khác, sự xa hoa ngày càng tăng của một số ít và sự khốn khổ ngày càng tăng của nhiều người, đây chỉ là một vài trong số những vấn đề mà các nhà từ thiện đang phải đối mặt ngày nay. |
|
Every reformer realizes, in whatever department he works, that for lasting reform a complete reconstruction is needed of the whole social structure, if poverty, disease and ignorance and misery shall be as a nightmare that has been but shall never be again. All are eager for reform; thousands are willing to co-operate. But none knows where to begin, in the true reconstruction. Each is indeed terrified, lest in trying to pull one brick out of the social edifice, to replace it by a better, he may pull the whole structure down, and so cause misery instead of joy. |
Mọi nhà cải cách đều nhận ra, dù Ngài làm việc trong lĩnh vực nào, rằng để cải cách lâu dài, cần phải tái thiết hoàn toàn toàn bộ cấu trúc xã hội, nếu nghèo đói, bệnh tật và ngu dốt và khổ sở sẽ như một cơn ác mộng đã từng xảy ra nhưng sẽ không bao giờ xảy ra nữa. Tất cả đều mong muốn cải cách; hàng ngàn người sẵn sàng hợp tác. Nhưng không ai biết bắt đầu từ đâu, trong công cuộc tái thiết thực sự. Mỗi người thực sự kinh hoàng, vì sợ rằng khi cố gắng kéo một viên gạch ra khỏi công trình xã hội, để thay thế nó bằng một viên gạch tốt hơn, y có thể kéo sập toàn bộ cấu trúc, và do đó gây ra đau khổ thay vì niềm vui. |
|
This is the crisis present before our eyes, confronting not one nation, but all. “Out of the depths have I cried unto Thee, O Lord,” is true today as never before. |
Đây là cuộc khủng hoảng hiện diện trước mắt chúng ta, đối đầu không chỉ một quốc gia, mà là tất cả. “Từ vực sâu con kêu cầu Ngài, lạy Chúa,” là sự thật ngày nay hơn bao giờ hết. |
|
Everywhere, in every department where men work for reform, mean are looking for a Leader. Where is He whom nature has selected,in whose mind is the Plan, in whose is the spirit and in whose hand is the Power? Let him but appear, let him but say, “This is how you shall work,” and thousands will flock to Him in joy. And it is this message of the Hidden Light that He is ready, for when from the hearts of men a cry goes forth, from the bosom of God a Son shall come. The world is in the birth throes once again for the coming of the Son of Man, and the young men who see visions today shall in their prime find Him in their midst, the Wonderful, the Councillor, the Prince of Peace. |
Ở khắp mọi nơi, trong mọi lĩnh vực mà con người làm việc để cải cách, con người đang tìm kiếm một Nhà Lãnh Đạo. Ngài ở đâu, người mà thiên nhiên đã chọn, trong trí óc của ai có Thiên Cơ, trong ai có tinh thần và trong tay ai có Quyền Năng? Hãy để Ngài xuất hiện, hãy để Ngài nói, “Đây là cách các ngươi sẽ làm việc,” và hàng ngàn người sẽ vui mừng đổ xô đến Ngài. Và chính thông điệp về Ánh Sáng Ẩn Giấu này mà Ngài đã sẵn sàng, vì khi từ trái tim của con người một tiếng kêu vang lên, từ lòng Thượng đế một Con sẽ đến. Thế giới một lần nữa đang trong cơn đau đẻ cho sự xuất hiện của Con Người, và những thanh niên nhìn thấy những khải tượng ngày nay sẽ tìm thấy Ngài ở giữa họ trong thời kỳ đỉnh cao của họ, Đấng Kỳ Diệu, Đấng Cố Vấn, Hoàng Tử Hòa Bình. |
|
Never an age, when God has need of him, |
Không bao giờ có một thời đại, khi Thượng đế cần đến y, |
|
Shall want its man, predestined by that need, |
Sẽ muốn người của mình, được định trước bởi nhu cầu đó, |
|
To pour his life in fiery word and deed, |
Để đổ cuộc đời mình vào lời nói và hành động rực lửa, |
|
The great Archangel of the Elohim. |
Đại Thiên Thần của Elohim. |
|
When He, whom the world waits for, and whom nature has planned to come “unto this hour,” shall appear, what will be His work? What but to carry on nature’s work one step further? The day is past when men can go forward with competition as their cry of progress; nothing lasting can now come for men unless it is brought about by interdependence and co-operation. The best of men today see the inevitable coming of this new age, when men shall be sons of God in deed and not merely in name; but their cry for altruism and co-operation is as a voice cast in the teeth of the tempest. They can but gather round them here an enthusiast and there a disciple; but they accomplish little, for they lack the character which compels the world to listen. Till comes that Personality who is not of one nation but of all, whose message is not for this century alone but for all others to come; till then the dawn of the new day will drag its slow length along. But when He comes, then indeed what He says and what He does will be the proof to us that it is He and not another, whom nature has planned to be the Shadow of God upon earth to men, the Savior who is born unto them this day. |
Khi Ngài, người mà thế giới đang chờ đợi, và người mà thiên nhiên đã lên kế hoạch đến “vào giờ này”, sẽ xuất hiện, công việc của Ngài sẽ là gì? Còn gì khác ngoài việc tiếp tục công việc của thiên nhiên thêm một bước nữa? Ngày mà con người có thể tiến lên với sự cạnh tranh như tiếng kêu tiến bộ của họ đã qua; không có gì lâu dài có thể đến với con người trừ khi nó được mang lại bởi sự phụ thuộc lẫn nhau và hợp tác. Những người tốt nhất ngày nay thấy sự xuất hiện không thể tránh khỏi của kỷ nguyên mới này, khi con người sẽ là con của Thượng đế trong hành động chứ không chỉ trong danh nghĩa; nhưng tiếng kêu của họ về lòng vị tha và sự hợp tác giống như một giọng nói ném vào răng của cơn bão. Họ chỉ có thể tập hợp xung quanh họ ở đây một người nhiệt tình và ở đó một đệ tử; nhưng họ đạt được rất ít, vì họ thiếu tính cách buộc thế giới phải lắng nghe. Cho đến khi xuất hiện Phàm ngã đó không thuộc về một quốc gia mà thuộc về tất cả, thông điệp của ai không chỉ dành cho thế kỷ này mà còn cho tất cả những thế kỷ khác sắp tới; cho đến lúc đó, bình minh của ngày mới sẽ kéo dài chậm chạp. Nhưng khi Ngài đến, thì quả thật những gì Ngài nói và những gì Ngài làm sẽ là bằng chứng cho chúng ta thấy rằng chính Ngài chứ không phải ai khác, người mà thiên nhiên đã lên kế hoạch trở thành Bóng của Thượng đế trên trái đất cho con người, Đấng Cứu Thế được sinh ra cho họ ngày hôm nay. |
|
Then once more shall the Hidden Light be revealed to men, that Light that “shineth in darkness, and the darkness comprehended it not.” Then science shall be our religion, and religion our art; then shall we cease to be nature’s slaves, and enter upon our heritage, and become her councillors and guides. Then shall we know, not merely believe, that behind the seeming pitiless plan of nature there is a most pitiful Mind, careful of the type and careful of the single life too. Nevermore shall our eyes be blinded by passionate tears as we look at the misery of men, and feel the utter hopelessness of its effective diminution; for we shall know that nature but veils an Eye that sees, a Heart that feels, and a Mind that plans, for One shall be with us to be a Martyros, a Witness, of that Light that shineth in darkness, even when the darkness comprehends it not. |
Rồi một lần nữa Ánh Sáng Ẩn Giấu sẽ được tiết lộ cho nhân loại, Ánh Sáng vốn “chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối không thể thấu hiểu nó”. Khi đó khoa học sẽ là tôn giáo của chúng ta, và tôn giáo sẽ là nghệ thuật của chúng ta; khi đó chúng ta sẽ không còn là nô lệ của tự nhiên nữa, và bước vào di sản của mình, và trở thành cố vấn và người dẫn đường của tự nhiên. Khi đó chúng ta sẽ biết, chứ không chỉ tin, rằng đằng sau thiên cơ dường như tàn nhẫn của tự nhiên có một Thể Trí vô cùng thương xót, cẩn trọng với chủng loại và cũng cẩn trọng với từng sinh mệnh đơn lẻ. Đôi mắt của chúng ta sẽ không bao giờ bị che mờ bởi những giọt nước mắt đau khổ khi chúng ta nhìn vào sự khốn khổ của nhân loại, và cảm thấy sự vô vọng hoàn toàn của việc giảm thiểu nó một cách hiệu quả; vì chúng ta sẽ biết rằng tự nhiên chỉ che giấu một Con Mắt vốn nhìn thấy, một Trái Tim vốn cảm nhận, và một Thể Trí vốn lên kế hoạch, vì Đấng Duy Nhất sẽ ở cùng chúng ta để làm một Martyros, một Nhân Chứng, của Ánh Sáng vốn chiếu soi trong bóng tối, ngay cả khi bóng tối không thể thấu hiểu nó. |
|
He will call on the many to co-operate in all good works “in His name and for the love of mankind”; He will teach them the next lesson which nature has planned for them, the joy of neighbourly service. But to a few He will give the call to follow Him through the ages. For He comes to usher in a new age; that age must be tended and fostered decade after decade, century by century, till the seed becomes the tree and the tree bears flowers, and by the perfecting of man comes the fulfillment of God. As He is nature’s husbandman, so will he need helpers in those fields from whence alone comes the Daily Bread for men. |
Ngài sẽ kêu gọi nhiều người hợp tác trong mọi việc thiện “nhân danh Ngài và vì tình yêu nhân loại”; Ngài sẽ dạy cho họ bài học tiếp theo mà tự nhiên đã lên kế hoạch cho họ, niềm vui của sự phụng sự tha nhân. Nhưng với một số ít người, Ngài sẽ ban lời kêu gọi đi theo Ngài qua các thời đại. Vì Ngài đến để mở ra một kỷ nguyên mới; kỷ nguyên đó phải được chăm sóc và nuôi dưỡng hết thập kỷ này đến thập kỷ khác, hết thế kỷ này sang thế kỷ khác, cho đến khi hạt giống trở thành cây và cây ra hoa, và nhờ sự hoàn thiện của con người mà sự viên mãn của Thượng đế đến. Vì Ngài là người làm vườn của tự nhiên, nên Ngài sẽ cần những người giúp đỡ trên những cánh đồng mà từ đó Bánh Hằng Ngày cho nhân loại đến. |
|
The many will love Him for the peace and joy which He will bring; but a few will answer the call to follow Him life after Life, toiling, toiling in a work seemingly without end. To these few alone will be it given to know the inwardness of the message of the Hidden Light. It is that nature keeps her diadems not for those who reap happiness in her pleasant fields and gardens, but for those who co-operate with her in her Hidden Work, and try “to lift a little of the heavy karma of the world.” For this is Nature’s Hidden Work, to weave a vesture out of the karmas of men which shall reflect the pattern given her from on high; and the weaving halts, unperfected, till through the actions of all men there shall shine one great Action. When the perfect vesture is woven for him who desires it, and the karmas of all men act in unison, then, and not before, will come “that day” when Nature can say to all men, as now to her God: “I am in my Father, and ye in me and I in you.” Unto that hour she toils at her Hidden Work, and it is the Hidden Light which reveals to men her process of evolution as she shapes in moulds of dust immortal Sons of God. |
Nhiều người sẽ yêu mến Ngài vì sự bình an và niềm vui mà Ngài sẽ mang lại; nhưng một số ít sẽ đáp lại lời kêu gọi đi theo Ngài hết kiếp này sang kiếp khác, lao động, lao động trong một công việc dường như không có hồi kết. Chỉ những người ít ỏi này mới được ban cho để biết được ý nghĩa bên trong của thông điệp về Ánh Sáng Ẩn Giấu. Đó là tự nhiên giữ lại vương miện của mình không phải cho những người gặt hái hạnh phúc trong những cánh đồng và khu vườn tươi đẹp của nó, mà là cho những người hợp tác với nó trong Công Việc Ẩn Giấu của nó, và cố gắng “gánh vác một chút nghiệp quả nặng nề của thế giới”. Vì đây là Công Việc Ẩn Giấu của Tự Nhiên, để dệt một tấm áo choàng từ nghiệp quả của nhân loại, tấm áo choàng này sẽ phản ánh mô hình được ban cho từ trên cao; và việc dệt bị đình trệ, không hoàn hảo, cho đến khi thông qua hành động của tất cả mọi người, một Hành Động vĩ đại sẽ tỏa sáng. Khi tấm áo choàng hoàn hảo được dệt cho người mong muốn nó, và nghiệp quả của tất cả mọi người hành động đồng nhất, thì khi đó, và không phải trước đó, “ngày đó” sẽ đến khi Tự Nhiên có thể nói với tất cả mọi người, như bây giờ với Thượng đế của nó: “Ta ở trong Cha ta, và các ngươi ở trong ta và ta ở trong các ngươi.” Cho đến giờ phút đó, nó miệt mài với Công Việc Ẩn Giấu của mình, và chính Ánh Sáng Ẩn Giấu tiết lộ cho nhân loại quá trình tiến hóa của nó khi nó định hình trong khuôn bụi bặm Các Con Bất Tử của Thượng đế. |