
Table of Contents
Lecture III. The Building of Character

In the Outer Court
by Annie Besant
First published in 1895
This ebook edition was created and published by Global Grey on the 5th October 2022
The artwork for the cover is Washerwomen
painted by Antonio Muñoz Degrain.
You can download this book on the site:
globalgreyebooks.com/in-the-outer-court-ebook.html
![]()
©GlobalGrey 2022
globalgreyebooks.com
Lecture I. Purification—Bài giảng I. Thanh Lọc
|
If it were possible to place ourselves in thought at a centre in space from which we might see the course of evolution, from which we might study the history of our chain of worlds rather as they might be seen in imagination, in picture, than in the appearance that they present as physical, astral and mental, I think that thus looking outwards on these evolving groups, this evolving humanity, we might figure the whole in a picture. I see a great mountain standing in space, with a road that winds round the mountain, round and round until the summit is reached. And the turns on this road round the mountain are seven in number, and on each turn I see seven stations where pilgrims stay for a while, and within these stations they have to climb round and round.1 As we trace the road upwards along this spiral track we see how it ends at the summit of the mountain – that it leads to a mighty Temple, a Temple as of white marble, radiant, which stands there shining out against the ethereal blue. That Temple is the goal of the pilgrimage, and they who are in it have finished their course – finished it so far as that mountain is concerned – and remain there only for the help of those who still are climbing. If we look more closely at the Temple, if we try to see how that Temple is built, we shall see in the midst of it a Holy of Holies, and round about the centre are Courts, four in number, ringing the Holy of Holies as concentric circles, and these are all within the Temple; a wall divides each Court from its neighbours, and to pass from Court to Court the wayfarer must go through a gateway, and there is but one in each encircling wall. So all who would reach the centre must pass through these four gateways, one by one. And outside the Temple there is yet another enclosure – the Outer Court – and that Court has in it many more than are seen within the Temple itself. Looking at the Temple and the Courts and the mountain road that winds’ below, we see this picture of human evolution, and the track along which the race is treading, and the Temple that is its goal. And along that road round the mountain stands a vast mass of human beings, climbing indeed, but climbing so slowly, rising step after step; sometimes it seems as though for every step forward there is a step backward, and though the trend of the whole mass is upwards it mounts so slowly that the pace is scarcely perceptible. And this aeonian evolution of the race, climbing ever upwards, seems so slow and weary and painful that one wonders how the pilgrims have the heart to climb so long. And tracing it round and round the mountain millions of years pass in the tracing, and millions of years in following a pilgrim, and while he treads it for these millions of years an endless succession of lives seems to pass, all spent in climbing upwards – we weary even in watching these vast multitudes who climb so slowly, who tread round after round as they mount this spiral pathway. Watching them we ask ourselves: Why is it that they climb so slowly? How is it that these millions of men take so long a journey? Why are they ever striving upwards to this Temple that stands at the top? |
Nếu có thể đặt chính chúng ta, trong tư tưởng, tại một trung tâm trong không gian từ đó ta có thể thấy tiến trình tiến hoá, từ đó ta có thể khảo cứu lịch sử của dãy thế giới của chúng ta, gần như chúng có thể được thấy trong sự tưởng tượng, trong một bức tranh, hơn là trong sắc tướng mà chúng trình hiện như hồng trần, cảm dục và thể trí, thì tôi nghĩ rằng, khi nhìn ra bên ngoài như vậy vào các nhóm đang tiến hoá này, vào nhân loại đang tiến hoá này, chúng ta có thể hình dung toàn thể trong một bức tranh. Tôi thấy một ngọn núi lớn đứng trong không gian, với một con đường uốn lượn quanh núi, vòng quanh, vòng quanh cho đến khi đạt tới đỉnh. Và các khúc quanh trên con đường quanh núi ấy có bảy khúc, và ở mỗi khúc tôi thấy bảy trạm nơi các người hành hương dừng lại một thời gian, và trong các trạm ấy họ phải leo vòng quanh, vòng quanh. Khi ta lần theo con đường đi lên dọc theo lộ trình xoắn ốc này, ta thấy nó kết thúc ở đỉnh núi như thế nào—rằng nó dẫn đến một Đền Thờ hùng vĩ, một Đền Thờ như bằng cẩm thạch trắng, rực sáng, đứng đó toả chiếu trên nền xanh dĩ thái. Đền Thờ ấy là mục tiêu của cuộc hành hương, và những ai ở trong đó đã hoàn tất lộ trình của mình—hoàn tất, xét theo ngọn núi ấy—và chỉ ở lại đó để trợ giúp những người vẫn còn đang leo. Nếu chúng ta nhìn kỹ hơn vào Đền Thờ, nếu chúng ta cố xem Đền Thờ ấy được xây dựng ra sao, chúng ta sẽ thấy ở giữa nó một Nơi Cực Thánh, và bao quanh trung tâm là các Viện, bốn viện, bao quanh Nơi Cực Thánh như những vòng tròn đồng tâm, và tất cả đều ở bên trong Đền Thờ; một bức tường ngăn mỗi Viện với Viện kế cận, và để đi từ Viện này sang Viện khác, người lữ hành phải đi qua một cổng, và trong mỗi bức tường bao quanh chỉ có một cổng mà thôi. Vì vậy, tất cả những ai muốn đạt tới trung tâm đều phải đi qua bốn cổng này, lần lượt từng cổng một. Và bên ngoài Đền Thờ còn có một khu bao bọc nữa—Ngoại Viện—và trong Viện ấy có nhiều người hơn rất nhiều so với những người được thấy bên trong chính Đền Thờ. Khi nhìn Đền Thờ và các Viện và con đường núi uốn lượn phía dưới, ta thấy bức tranh này về sự tiến hoá của nhân loại, và lộ trình mà nhân loại đang bước đi, và Đền Thờ là mục tiêu của lộ trình ấy. Và dọc theo con đường quanh núi ấy là một khối người mênh mông, quả thật đang leo, nhưng leo chậm đến thế, nhích lên từng bước; đôi khi dường như cứ mỗi bước tiến lại có một bước lùi, và dù xu hướng của toàn khối là đi lên, nó vẫn nhích lên chậm đến nỗi nhịp độ hầu như không thể nhận ra. Và sự tiến hoá trường kiếp của nhân loại, cứ leo mãi lên cao, dường như chậm chạp, mệt mỏi và đau đớn đến mức người ta tự hỏi làm sao các người hành hương có đủ can đảm để leo lâu đến vậy. Và khi lần theo nó vòng quanh, vòng quanh ngọn núi, hàng triệu năm trôi qua trong việc lần theo ấy, và hàng triệu năm trong việc theo dõi một người hành hương; và trong khi y bước đi suốt những triệu năm ấy, một chuỗi đời sống nối tiếp vô tận dường như trôi qua, tất cả đều dành cho việc leo lên—ngay cả khi chỉ quan sát những đám đông khổng lồ leo chậm chạp ấy, chúng ta cũng mệt mỏi; họ bước hết vòng này đến vòng khác khi leo lên con đường xoắn ốc này. Nhìn họ, chúng ta tự hỏi: Vì sao họ leo chậm đến thế? Vì sao hàng triệu người này lại mất một hành trình dài đến vậy? Vì sao họ cứ mãi vươn lên hướng về Đền Thờ đứng trên đỉnh kia? |
|
Looking at them, it seems that they travel so slowly because they see not their goal, and understand not the direction in which they are travelling. And as we watch one or another on the pathway, we see that they are always straying aside, attracted hither and thither, and with no purpose in their going; they walk not straight onwards as though intent on business, but wander hither and thither, like children running after a blossom here, and chasing a butterfly there. So that all the time seems to be wasted, and but little progress is made when the night falls upon them and the day’s march is over. Looking at them, it does not seem as though even progress in intellect, slow as that also is, made the pace very much more rapid. When we look at those whose intellect is scarcely developed, they seem after each day of life to sink to sleep almost on the place they occupied the day before; and when we glance over those who are more highly evolved so far as intellect is concerned, they too are travelling very very slowly, and seem to make small progress in each day of life. And looking thus at them, our hearts grow weary with the climbing, and we wonder that they do not raise their eyes and under stand the direction in which their path is taking them. |
Nhìn họ, dường như họ đi chậm vì họ không thấy mục tiêu của mình, và không hiểu hướng mà họ đang đi. Và khi ta quan sát người này hay người kia trên con đường, ta thấy họ luôn đi lạc sang bên, bị hấp dẫn về phía này phía nọ, và không có mục đích trong việc đi; họ không bước thẳng về phía trước như thể đang chuyên chú vào một công việc, mà lang thang đây đó, như trẻ con chạy theo một bông hoa ở đây, và đuổi theo một con bướm ở kia. Vì thế, thời gian dường như bị lãng phí, và tiến bộ đạt được rất ít khi đêm xuống và cuộc hành trình trong ngày kết thúc. Nhìn họ, dường như ngay cả tiến bộ về trí tuệ—dù cũng chậm—cũng không làm cho nhịp độ nhanh hơn bao nhiêu. Khi ta nhìn những người mà trí tuệ hầu như chưa phát triển, họ dường như sau mỗi ngày của một đời sống lại chìm vào giấc ngủ gần như ngay tại chỗ họ đã đứng ngày hôm trước; và khi ta lướt nhìn những người tiến hoá cao hơn về mặt trí tuệ, họ cũng đang đi rất, rất chậm, và dường như chỉ tiến được chút ít trong mỗi ngày của đời sống. Và khi nhìn họ như vậy, lòng ta mệt mỏi vì cuộc leo, và ta tự hỏi sao họ không ngước mắt lên và thấu hiểu hướng mà con đường của họ đang đưa họ tới. |
|
Now that Outer Court that some of the climbers in front are reaching, that Outer Court of the Temple, seems not only to be gained by the path that winds round and round the hill so often; for as we look at it, we see that from many points in this spiral pathway the Outer Court may be reached, and that there are briefer ways that wind not round the hill but go straight up its side, paths that may be climbed if a travellers heart be brave and if his limbs be strong. And trying to see how men find their way more swiftly than their fellows to the Outer Court, we seem to gather that the first step is taken off this long spiral road, the first step is taken straight in the direction of this Outer Court that men can reach from so many points in the long roadway, when some Soul who has been travelling round and round, for millenniums perhaps, recognises for the first time a purpose in the journey, and catches for a moment a gleam from the Temple on the summit. For that White Temple sends rays of light over the mountain side, and now and then a traveller raises his eyes from the flowers and the pebbles and the butterflies upon the path, and the gleam seems to catch his glance and he looks upward at the Temple, and for a moment he sees it; and after that first momentary glimpse he is never again quite as he was before. For, though but for a moment, he has recognised a goal and an ending; for a moment he has seen the summit towards which he is climbing, and the pathway, steep, but so much shorter, that leads directly up the hill-side beyond which the Temple gleams. And in that moment of recognising the goal that lies in front, in that moment of understanding, if it be but for an instant that instead of climbing round and round full seven times and making so many little circles on the upward path – for the path winds upon itself as well as round the hill, and each spiral round the mountain side has seven turns within itself and they too take long in the treading – when the Soul has caught these glimpses of its goal and of the directer pathway that leads towards it, then it understands for that moment that the pathway has a name and that the name is “ Service,” and that those who enter on that shorter pathway must enter it through a gate on which “ Service of Man “ is shining in golden letters; it understands that before it can reach even the Outer Court of the Temple it must pass through that gateway and realise that life is meant for service and not for self-seeking, and that the only way to climb upwards more swiftly is to climb for the sake of those who are lagging, in order that from the Temple more effective help may be sent down to the climbers than otherwise would be possible. As I said, it is only the flash of a moment, only a glimpse that comes and that vanishes again; for the eye has only been caught by one of these rays of light that come down from the mountain. And there are so many attractive objects scattered along this winding path that the Soul’s glance is easily again drawn towards them; but inasmuch as once it has seen the light, there is the possibility of seeing it again more easily, and when once the goal of achievement and the duty and power of service have had even this passing imaginative realisation in the Soul, then there remains a desire to tread that shorter pathway, and to find a way straight up the hill to the Outer Court of the Temple. |
Giờ đây, Ngoại Viện mà một số người leo phía trước đang chạm tới, Ngoại Viện của Đền Thờ ấy, dường như không chỉ đạt được bằng con đường uốn lượn quanh đồi hết lần này đến lần khác; vì khi nhìn vào đó, ta thấy từ nhiều điểm trên con đường xoắn ốc này có thể đi tới Ngoại Viện, và có những lối ngắn hơn không vòng quanh đồi mà đi thẳng lên sườn, những lối có thể leo nếu trái tim người lữ hành đủ can đảm và nếu tay chân y đủ mạnh. Và khi cố xem con người làm thế nào để tìm đường nhanh hơn đồng loại tới Ngoại Viện, ta dường như nhận ra rằng bước đầu tiên rời khỏi con đường xoắn ốc dài ấy, bước đầu tiên đi thẳng theo hướng của Ngoại Viện mà con người có thể chạm tới từ rất nhiều điểm trên con đường dài, xảy ra khi một linh hồn đã đi vòng quanh, vòng quanh, có lẽ suốt hàng thiên niên kỷ, lần đầu tiên nhận ra có một mục đích trong hành trình, và trong chốc lát bắt được một tia loé từ Đền Thờ trên đỉnh. Vì Đền Thờ Trắng ấy phóng những tia sáng xuống sườn núi, và thỉnh thoảng một người lữ hành ngước mắt khỏi những bông hoa và những viên sỏi và những con bướm trên đường, và tia loé dường như bắt lấy ánh nhìn của y, và y nhìn lên Đền Thờ, và trong khoảnh khắc y thấy nó; và sau khoảnh khắc thoáng thấy đầu tiên ấy, y không bao giờ còn hoàn toàn như trước nữa. Vì, dù chỉ trong một khoảnh khắc, y đã nhận ra một mục tiêu và một điểm kết; trong một khoảnh khắc y đã thấy đỉnh mà y đang leo tới, và con đường, dốc nhưng ngắn hơn rất nhiều, dẫn thẳng lên sườn đồi nơi Đền Thờ loé sáng phía trên. Và trong khoảnh khắc nhận ra mục tiêu ở phía trước, trong khoảnh khắc thấu hiểu ấy—dù chỉ trong chớp mắt—rằng thay vì leo vòng quanh đủ bảy lần và tạo ra biết bao vòng tròn nhỏ trên con đường đi lên—vì con đường vừa tự quấn quanh chính nó vừa vòng quanh đồi, và mỗi vòng xoắn quanh sườn núi có bảy khúc quanh bên trong chính nó và chúng cũng mất rất lâu để bước qua—khi linh hồn bắt được những thoáng thấy về mục tiêu của mình và về con đường trực tiếp hơn dẫn tới đó, thì trong khoảnh khắc ấy nó hiểu rằng con đường có một tên gọi và tên ấy là “Phụng sự,” và rằng những ai bước vào con đường ngắn hơn ấy phải bước vào qua một cổng trên đó “Phụng sự Nhân loại” đang toả sáng bằng những chữ vàng; nó hiểu rằng trước khi có thể đạt tới dù chỉ Ngoại Viện của Đền Thờ, nó phải đi qua cổng ấy và chứng nghiệm rằng đời sống được dành cho phụng sự chứ không phải cho sự mưu cầu bản thân, và rằng cách duy nhất để leo lên nhanh hơn là leo vì lợi ích của những người đang tụt lại, để từ Đền Thờ có thể gửi xuống sự trợ giúp hữu hiệu hơn cho những người leo so với điều vốn có thể. Như tôi đã nói, đó chỉ là tia chớp của một khoảnh khắc, chỉ là một thoáng thấy đến rồi lại tan biến; vì mắt chỉ vừa bị một trong những tia sáng từ ngọn núi chiếu xuống bắt lấy. Và có quá nhiều đối tượng hấp dẫn rải dọc theo con đường quanh co này khiến ánh nhìn của linh hồn dễ dàng lại bị kéo về phía chúng; nhưng vì một lần đã thấy ánh sáng, nên có khả năng sẽ thấy lại dễ dàng hơn, và khi một lần mục tiêu thành tựu cùng bổn phận và quyền năng của phụng sự đã có dù chỉ sự chứng nghiệm tưởng tượng thoáng qua trong linh hồn, thì còn lại một khát vọng muốn bước trên con đường ngắn hơn ấy, và tìm một lối thẳng lên sườn đồi tới Ngoại Viện của Đền Thờ. |
|
After that first vision, gleams come from time to time, and on day after day of this long climbing the gleam returns to the Soul, and each glimpse perhaps is brighter than the last, and we see that these Souls who have just for a moment recognised that there is a goal and purpose in life, begin to climb with more steadfastness than their fellows; although they are still winding their way round the hill, we see that they begin to practise more steadily what we recognise as virtues, and that they give themselves more persistently to what we recognise as religion, which is trying to tell them how they may climb, and how the Temple may finally be won. So that these Souls who have caught a gleam of this possible ending, and feel some drawing towards the path that leads thereunto, become marked out a little from their fellows by their diligence and heedfulness, and they go to the front of this endless multitude that is climbing along the road; they travel more swiftly, because there is more purpose in their travelling, because they are taking a direction which they begin to understand, and they begin, though very imperfectly, to walk with a definite aim, and to try to live with a definite purpose. And although they scarcely yet recognise what that purpose in the end will be–it is rather a d’im intuition than a definite understanding of the way – still they are no longer roaming aimlessly from side to side, sometimes a little upwards and sometimes a little downwards; they are now climbing steadily up the winding pathway, and each day of life sees them climb a little faster, until they are distinctly ahead of the multitudes in spirituality of life, in the practice of virtue, and in the growing desire to be of service to their fellow-men. They are in this way travelling more swiftly towards the summit, though still on the winding road, and they are beginning to try to train themselves in definite ways; they are beginning also to try to help their neighbours, that they too may climb with them, and as they are making their way a little more swiftly forward they are always reaching out helping hands to those around them, and trying to take them with them upwards more swiftly along the path. And presently, with those they are thus loving and serving, they are met by a form that is beautiful, though at first somewhat stern in aspect, which speaks to them and tells them something of a shorter way; we know that the form which comes to meet them is Knowledge, and that Knowledge is beginning to whisper to them something of the conditions of a swifter progress; the Religion that has been helping them in the practice of virtue is, as it were, the sister of this Knowledge, and the Service of Man is sister to it also, and the three together begin to take charge of the Soul, until at last a brighter dawning comes, and a fuller recognition, and you hear this Soul beginning to make definite to itself the purpose of its climbing, and not only to dream of a future, but to make that dream more definite in its purpose, and you find it recognising service as the law of life. Now, with deliberate intention, a promise to help in the progress of the race breathes softly forth from the lips of the Soul; and that is the first vow the Soul makes, to give itself sometime to the service of the race – a vow not yet of full purpose, but still with the promise of purpose hidden within it. It has been written in a Scripture that one of the great Ones who trod the shorter road, one of the great Ones who climbed the steeper path, and Who climbed it so swiftly that He left behind Hun all His race and stood alone in the forefront, the first fruits, the promise of humanity; it is said of Him, Who in later ages was known as the Buddha, that “He perfected His vow, Kalpa after Kalpa”; for the achievement that was to crown His life had to begin with the promise of service, and it is that vow of the Soul which links it to the great Ones that have gone before, that makes as it were the link that draws it to the probationary path, the path that leads it into and across the Outer Court, up to the very gateway of the Temple itself. At last, after many lives of striving, many lives of working, growing purer and nobler and wiser, life after life, the Soul makes a distinct and clear speaking forth of a will that now has grown strong; and when that will announces itself as a clear and definite purpose, no longer the whisper that aspires, but the word that commands, then that resolute will strikes at the gateway which leads to the Outer Court of the Temple, and strikes with a knocking which none may deny – for it has in it the strength of the Soul that is determined to achieve, and that has learned enough to understand the vastness of the task that it undertakes. For that Soul that now is standing at the outer gateway of this Court, knows what it is striving to accomplish, realises the vastness of the difficulty that lies in front. For it means nothing less than this, that it is going to come out of its race – that race which is to be climbing round and round and round for endless millenniums, still passing from globe to globe, round that which we know as the chain, passing round and round that chain in weariful succession; this brave Soul that now is knocking at the outer gateway means to climb that same mountain in but a few human lives, means to take step by step, breasting the hill at its steepest, the path that will lead it right upwards into the very Holy of Holies; and it means to do within a space of time that is to be counted by but a few lives, that which the race will take myriads of lives to accomplish – a task so mighty that the brain might almost reel at its difficulty; a task so great that of the Soul that undertakes it one would almost say that it had begun to realise its own divinity, and the omnipotence which lies enshrined within itself. For to do in a few lives from this point of the cycle that the race has reached, what the race as a whole is going to do, not only in the races that lie in front, but in the rounds that also lie in the future – -to do that is surely a task worthy of a God, and the accomplishment means that the divine power is perfecting itself within the human form. |
Sau linh ảnh đầu tiên ấy, những tia loé đến theo thời gian, và hết ngày này qua ngày khác của cuộc leo dài, tia loé trở lại với linh hồn, và mỗi lần thoáng thấy có lẽ sáng hơn lần trước; và ta thấy những linh hồn vừa trong khoảnh khắc nhận ra rằng đời sống có mục tiêu và mục đích ấy bắt đầu leo với sự kiên định hơn đồng loại; dù họ vẫn đang uốn lượn quanh đồi, ta thấy họ bắt đầu thực hành vững vàng hơn những gì ta nhận ra là các đức hạnh, và họ hiến mình bền bỉ hơn cho điều ta nhận ra là tôn giáo, vốn đang cố nói cho họ biết họ có thể leo như thế nào, và Đền Thờ cuối cùng có thể được chiếm lĩnh ra sao. Vì vậy, những linh hồn đã bắt được một tia loé về khả năng kết thúc ấy, và cảm thấy một sức hút nào đó về con đường dẫn tới đó, trở nên nổi bật đôi chút so với đồng loại bởi sự chuyên cần và thận trọng của họ, và họ đi lên phía trước của đám đông vô tận đang leo dọc theo con đường; họ đi nhanh hơn, vì có nhiều mục đích hơn trong việc đi, vì họ đang đi theo một hướng mà họ bắt đầu hiểu, và họ bắt đầu—dù rất bất toàn—bước đi với một mục tiêu xác định, và cố sống với một mục đích xác định. Và dù họ hầu như chưa nhận ra mục đích ấy rốt cuộc sẽ là gì—nó đúng hơn là một trực giác mờ nhạt hơn là một sự thấu hiểu rõ ràng về con đường—dẫu vậy họ không còn lang thang vô định từ bên này sang bên kia, đôi khi hơi lên và đôi khi hơi xuống; giờ đây họ đang leo đều đặn trên con đường quanh co, và mỗi ngày của đời sống thấy họ leo nhanh hơn một chút, cho đến khi họ rõ ràng đi trước đám đông về đời sống tinh thần, về việc thực hành đức hạnh, và về khát vọng ngày càng tăng được phụng sự những người đồng loại. Theo cách này họ đi nhanh hơn về phía đỉnh, dù vẫn trên con đường uốn lượn, và họ bắt đầu cố rèn luyện chính mình theo những cách xác định; họ cũng bắt đầu cố giúp đỡ những người lân cận, để họ cũng có thể leo cùng, và khi họ tiến lên nhanh hơn một chút, họ luôn vươn tay giúp đỡ những người quanh mình, và cố đưa họ đi lên nhanh hơn dọc theo con đường. Và rồi, cùng với những người họ đang yêu thương và phụng sự như vậy, họ được một hình tướng đón gặp—đẹp đẽ, dù lúc đầu có phần nghiêm khắc—hình tướng ấy nói với họ và kể cho họ điều gì đó về một lối ngắn hơn; ta biết hình tướng đến gặp họ là Tri Thức, và Tri Thức đang bắt đầu thì thầm với họ về những điều kiện của một tiến bộ nhanh hơn; Tôn giáo đã giúp họ trong việc thực hành đức hạnh, như thể là chị em của Tri Thức này, và Phụng sự Nhân loại cũng là chị em của nó, và cả ba cùng nhau bắt đầu chăm lo cho linh hồn, cho đến khi cuối cùng một bình minh sáng hơn đến, và một sự nhận biết đầy đủ hơn, và các bạn nghe linh hồn này bắt đầu làm cho mục đích leo của mình trở nên xác định đối với chính nó, và không chỉ mơ về một tương lai, mà làm cho giấc mơ ấy rõ ràng hơn trong mục đích của nó, và các bạn thấy nó nhận ra phụng sự là định luật của đời sống. Giờ đây, với ý hướng có chủ tâm, một lời hứa giúp đỡ trong tiến bộ của nhân loại nhẹ nhàng thốt ra từ môi linh hồn; và đó là lời thệ nguyện đầu tiên linh hồn lập, rằng một ngày nào đó nó sẽ hiến mình cho sự phụng sự nhân loại—một lời thệ nguyện chưa phải là mục đích trọn vẹn, nhưng vẫn có lời hứa về mục đích ẩn chứa trong đó. Trong một Thánh Kinh có chép rằng một trong các Đấng Cao Cả đã bước con đường ngắn hơn, một trong các Đấng Cao Cả đã leo lối dốc hơn, và Ngài leo nhanh đến nỗi bỏ lại sau lưng toàn thể nhân loại của Ngài và đứng một mình ở tuyến đầu, hoa trái đầu mùa, lời hứa của nhân loại; người ta nói về Ngài—Đấng mà trong các thời đại về sau được biết đến như Đức Phật—rằng: “Ngài đã hoàn thiện lời thệ nguyện của Ngài, kiếp này qua kiếp khác”; vì thành tựu sẽ đội vương miện cho đời sống của Ngài phải bắt đầu bằng lời hứa phụng sự, và chính lời thệ nguyện của linh hồn ấy nối nó với các Đấng Cao Cả đã đi trước, tạo nên như một mối liên kết kéo nó tới Con Đường Dự Bị, con đường dẫn nó vào và băng qua Ngoại Viện, lên tới ngay cổng của chính Đền Thờ. Cuối cùng, sau nhiều đời nỗ lực, nhiều đời làm việc, ngày càng thanh khiết hơn, cao quý hơn và minh triết hơn, đời này qua đời khác, linh hồn thốt ra một ý chí rõ ràng và dứt khoát, nay đã trở nên mạnh mẽ; và khi ý chí ấy tự tuyên bố như một mục đích rõ ràng và xác định, không còn là lời thì thầm khát vọng mà là lời nói ra lệnh, thì ý chí kiên quyết ấy gõ vào cổng dẫn tới Ngoại Viện của Đền Thờ, và gõ bằng một tiếng gõ không ai có thể khước từ—vì trong đó có sức mạnh của linh hồn quyết tâm thành tựu, và đã học đủ để hiểu sự vĩ đại của nhiệm vụ mà nó đảm nhận. Vì linh hồn giờ đây đang đứng ở cổng ngoài của Viện này, biết mình đang nỗ lực để hoàn thành điều gì, chứng nghiệm sự to lớn của khó khăn ở phía trước. Vì điều đó không có nghĩa gì khác hơn thế này: rằng nó sẽ bước ra khỏi nhân loại của mình—nhân loại ấy sẽ còn leo vòng quanh, vòng quanh, vòng quanh suốt vô số thiên niên kỷ, vẫn đi từ bầu hành tinh này sang bầu hành tinh khác, quanh điều mà ta biết là dãy, đi vòng quanh, vòng quanh dãy ấy trong sự nối tiếp mệt mỏi; linh hồn can đảm giờ đây đang gõ cổng ngoài ấy có ý định leo cùng ngọn núi đó chỉ trong vài đời người, có ý định bước từng bước, đối mặt với sườn dốc nhất, theo con đường sẽ dẫn nó thẳng lên tới chính Nơi Cực Thánh; và nó có ý định làm trong một khoảng thời gian chỉ tính bằng vài đời, điều mà nhân loại sẽ mất vô số đời để hoàn thành—một nhiệm vụ hùng vĩ đến mức bộ não gần như choáng váng trước độ khó của nó; một nhiệm vụ lớn đến mức người ta gần như sẽ nói rằng linh hồn đảm nhận nó đã bắt đầu chứng nghiệm thiên tính của chính mình, và quyền năng vô hạn được tôn trí bên trong chính nó. Vì làm trong vài đời, từ điểm của chu kỳ mà nhân loại đã đạt tới, điều mà toàn thể nhân loại sẽ làm—không chỉ trong các giống dân ở phía trước, mà cả trong các cuộc tuần hoàn cũng còn ở tương lai—làm điều đó quả thật là một nhiệm vụ xứng đáng với một Thượng đế, và sự thành tựu ấy có nghĩa rằng quyền năng thiêng liêng đang hoàn thiện chính nó bên trong hình tướng con người. |
|
So the Soul knocks at the gateway, and the door swings open to let it through, and it passes into the Outer Court. Through that Court it has to go, traversing it step by step until it reaches the first of the gateways that lead into the Temple itself – the first of those four gateways, every one of which is one of the great Initiations, beyond the first of which no Soul may tread that has not embraced the Eternal for evermore, and that has not given up its interest in the mere transitory things that lie around. For when once a Soul has passed through the gateway of the Temple, it goeth out no more; once it passes through that gateway into one of the inner Courts that lie beyond it and that lead to the Holy of Holies, it goes out never again. It has chosen its lot for all the millenniums to come; it is in the place which none leaves when once he has entered it. Within the Temple itself the first great Initiation lies. But the Soul whose progress we are tracing is as yet only going to prepare itself in this Outer Court of the Temple, in order that in lives to come it may be able to ascend the seven steps to the first gateway, and await permission to pass over the threshold into the Temple itself. What then shall be its work in the Outer Court? How shall it lead its lives therein, in order that it may become worthy to knock at the Temple gate? That is the subject that lies in front of us – the subject I am going to try to put before you, if I may speak but to one or two to whom the speaking may appeal. For well I know, brothers and sisters mine, in depicting this Outer Court, that I may say much that may seem unattractive, much that may seem even repellent. Hard enough is it to find the way to the Outer Court; difficult enough is it to practise religion and all the virtues which make the human Soul fit even to knock at the gateway of this outer stage, this Outer Court around the Temple, and they who enter into that Court have made great progress in their past; it may be, it will be, that to some the life that is led therein may scarce seem attractive – to some who have not yet definitely recognised the aim and the end of life. For, mind you, none are in the Outer Court save those who have definitely vowed themselves to service, those who have given everything, and who have asked for nothing in return save the privilege of serving, who have definitely recognised the transitory nature of earthly things, who have definitely embraced the task which they desire to achieve, who have turned their backs on the flowery paths which go round the mountain, and are resolutely determined to climb straight upwards, no matter what the cost, no matter what the strain as day after day of life swiftly succeed each other. There is to be struggle, and much of struggle, in this Outer Court, for much has to be done therein in a brief space of time. |
Vì vậy linh hồn gõ vào cổng, và cánh cửa mở ra cho nó đi qua, và nó bước vào Ngoại Viện. Qua Viện ấy nó phải đi, băng qua từng bước cho đến khi đạt tới cổng thứ nhất dẫn vào chính Đền Thờ—cổng thứ nhất trong bốn cổng ấy, mỗi cổng đều là một trong các cuộc điểm đạo lớn, vượt qua cổng thứ nhất ấy thì không linh hồn nào có thể bước đi nếu chưa ôm lấy Vĩnh Cửu mãi mãi, và chưa từ bỏ mối quan tâm của mình đối với những điều chỉ thoáng qua quanh mình. Vì một khi linh hồn đã đi qua cổng của Đền Thờ, nó không còn đi ra nữa; một khi nó đi qua cổng ấy vào một trong các Nội Viện nằm phía bên kia và dẫn tới Nơi Cực Thánh, nó không bao giờ đi ra nữa. Nó đã chọn phần số của mình cho mọi thiên niên kỷ sắp tới; nó ở trong nơi mà không ai rời bỏ khi đã bước vào. Bên trong chính Đền Thờ là cuộc điểm đạo lớn thứ nhất. Nhưng linh hồn mà chúng ta đang lần theo tiến bộ của nó, hiện giờ mới chỉ chuẩn bị chính mình trong Ngoại Viện của Đền Thờ này, để trong những đời tới nó có thể leo bảy bậc lên cổng thứ nhất, và chờ được phép bước qua ngưỡng vào chính Đền Thờ. Vậy thì công việc của nó trong Ngoại Viện sẽ là gì? Nó sẽ sống các đời của mình ở đó như thế nào, để có thể trở nên xứng đáng gõ cổng Đền Thờ? Đó là chủ đề đang ở phía trước chúng ta—chủ đề mà tôi sẽ cố trình bày cho các bạn, nếu tôi có thể chỉ nói với một hai người mà lời nói có thể chạm đến. Vì tôi biết rõ, hỡi các anh chị em của tôi, khi mô tả Ngoại Viện này, rằng tôi có thể nói nhiều điều có vẻ không hấp dẫn, nhiều điều thậm chí có vẻ gây phản cảm. Tìm đường tới Ngoại Viện đã đủ khó; thực hành tôn giáo và mọi đức hạnh khiến linh hồn con người thích hợp dù chỉ để gõ cổng của giai đoạn bên ngoài này, Ngoại Viện quanh Đền Thờ, cũng đã đủ khó; và những ai bước vào Viện ấy đã đạt được tiến bộ lớn trong quá khứ của họ; có thể, chắc chắn sẽ có, đối với một số người, đời sống được sống ở đó hầu như không có vẻ hấp dẫn—đối với một số người chưa nhận ra một cách xác định mục tiêu và điểm kết của đời sống. Vì, các bạn hãy nhớ, không ai ở trong Ngoại Viện ngoại trừ những người đã dứt khoát thệ nguyện hiến mình cho phụng sự, những người đã cho đi mọi thứ và không xin gì để đáp lại ngoài đặc ân được phụng sự, những người đã dứt khoát nhận ra tính chất thoáng qua của những sự vật trần thế, những người đã dứt khoát ôm lấy nhiệm vụ mà họ khao khát hoàn thành, những người đã quay lưng với những con đường đầy hoa đi vòng quanh núi, và quyết tâm leo thẳng lên, bất kể cái giá, bất kể sự căng thẳng khi ngày này qua ngày khác của đời sống nối tiếp nhau nhanh chóng. Sẽ có đấu tranh, và rất nhiều đấu tranh, trong Ngoại Viện này, vì có nhiều điều phải được thực hiện ở đó trong một khoảng thời gian ngắn. |
|
The divisions of this work that I have made are arbitrary. They are not steps, as it were, across the Court, for each of these divisions has to be taken at one and the same time and is always being worked at; it is a simultaneous training, and is not divided into stages as I have had to divide it for clearness of explanation. I have called these divisions “Purification,” and “Thought Control,” and the “Building of Character,” and “Spiritual Alchemy,” and “On the Threshold”. These divisions do not mean that each is to be taken separately, because all these things have to be done at one and the same time, and the Soul that is spending its lives in the Outer Court is busy with all this work in all the lives that it spends there; it is these tasks that it must partially, at least, have learned to accomplish, ere it dare stand at the Temple gate itself. And if I take them now one by one, it is in order that we may understand them the better; but we must also understand throughout my sketching of these steps, that it is not perfect accomplishment of any one of them that the Soul must have achieved ere it may reach the gateway of the first Initiation; but only that it must have partially accomplished, only that it must be striving with something of success, only that it must understand its work and be doing it with diligence; when the work is perfectly accomplished, it will be in the Holy of Holies itself. Purification then is to be part of its work, self-purification, the purification of the lower nature, until every part of it vibrates perfectly in harmony with the higher, until everything is pure that belongs to the temporary part of man, to that which we call the personality, that which has not in it the permanent individual, but is only the assemblage of qualities and characteristics which that individual gathers round it in the course of each of its many lives – all the outer qualities and attributes round the Soul, all these garments in which it clothes itself, and which it carries with it often life after life, all that which it takes up as it comes back to incarnation, all that which it builds during incarnation, all that which the permanent individuality gathers round itself during earth-life and out of which it extracts the essence in order to transfuse it into its own growing and eternal Seif. A phrase that very well symbolises the position of the Soul at this moment, when it has deliberately entered this Outer Court and sees the work stretching in front of it, a phrase that very well de scribes its attitude has been used lately by Mr. Sinnett. It is the phrase of “ allegiance to the Higher Self,” a useful expression, if it be understood. It means the deliberate decision that all that is temporary and that belongs to the lower personality shall be cast aside; that each life that has to be lived in this lower world shall be devoted to the single purpose of gathering together material which is useful, which then shall be handed on to the Higher One who lives and grows out of that which the lower gathers; that the lower self – realising that it is essentially one with the greater that is above it, that its only work in the world is to come here as the temporary active agency which gathers together that of which its permanent Self has need – determines that the whole of its life down here shall be spent in that service, and that the life’s purpose is merely the gathering of material which then shall be taken back to the Higher, who is really the essence of itself, and who shall thus be enabled to build up the ever-growing individuality which is higher than the personality of a life. The “allegiance to the Higher Self” means the recognition of this service by the lower, the living of the lower no longer for itself but for the purpose of serving that which endures; so that all the life in the Outer Court is to be this life of definite allegiance to the Higher, and all the work that is done in the Outer Court is to be work that is done for the sake of that greater One, who is now realised as the true Self that is to endure throughout the ages, and that is to be built ever into fuller and fuller life by this deliberate, loyal service of the messenger that it sends into the outer world. |
Những phân chia công việc mà tôi đã đặt ra là tuỳ tiện. Chúng không phải là những bước, như thể, băng qua Viện, vì mỗi phân chia này phải được thực hiện cùng một lúc và luôn luôn đang được thực hiện; đó là một sự huấn luyện đồng thời, và không được chia thành các giai đoạn như tôi buộc phải chia để giải thích cho rõ. Tôi đã gọi các phân chia ấy là “Thanh Lọc,” và “Kiểm Soát Tư Tưởng,” và “Lập hạnh,” và “Thuật Luyện Kim tinh thần,” và “Trên Ngưỡng Cửa”. Những phân chia này không có nghĩa rằng mỗi điều sẽ được thực hiện riêng rẽ, vì tất cả những điều ấy phải được làm cùng một lúc, và linh hồn đang sống các đời của mình trong Ngoại Viện bận rộn với toàn bộ công việc này trong mọi đời mà nó ở đó; chính những nhiệm vụ này mà nó phải học để hoàn thành, ít nhất là phần nào, trước khi nó dám đứng tại chính cổng Đền Thờ. Và nếu giờ đây tôi lần lượt nêu từng điều, thì là để chúng ta hiểu chúng tốt hơn; nhưng chúng ta cũng phải hiểu, xuyên suốt bản phác hoạ của tôi về các bước này, rằng không phải sự hoàn thành hoàn hảo bất kỳ một điều nào trong số đó là điều linh hồn phải đạt được trước khi có thể tới cổng của cuộc điểm đạo thứ nhất; mà chỉ là nó phải hoàn thành phần nào, chỉ là nó phải đang nỗ lực với một mức thành công nào đó, chỉ là nó phải hiểu công việc của mình và đang làm nó với sự chuyên cần; khi công việc được hoàn thành một cách hoàn hảo, nó sẽ ở trong chính Nơi Cực Thánh. Vậy thì Thanh Lọc sẽ là một phần công việc của nó, sự tự thanh lọc, sự thanh lọc bản chất thấp, cho đến khi mọi phần của nó rung động hoàn toàn hoà hợp với phần cao, cho đến khi mọi thứ thuộc về phần tạm thời của con người đều thuần khiết, thuộc về điều mà ta gọi là phàm ngã, điều không chứa cá nhân trường tồn, mà chỉ là sự tập hợp các phẩm chất và đặc điểm mà cá nhân ấy gom góp quanh mình trong tiến trình của mỗi đời trong vô số đời của nó—tất cả các phẩm chất và thuộc tính bên ngoài quanh linh hồn, tất cả những y phục mà nó khoác lên mình, và thường mang theo đời này qua đời khác, tất cả những gì nó tiếp nhận khi trở lại nhập thể, tất cả những gì nó xây dựng trong khi đang lâm phàm, tất cả những gì cá nhân trường tồn gom góp quanh mình trong đời sống trần thế và từ đó rút lấy tinh tuý để truyền vào Bản Ngã vĩnh cửu đang lớn lên của chính nó. Một cụm từ tượng trưng rất hay cho vị thế của linh hồn vào lúc này, khi nó đã có chủ tâm bước vào Ngoại Viện này và thấy công việc trải dài trước mặt, một cụm từ mô tả rất hay thái độ của nó, gần đây đã được ông Sinnett dùng. Đó là cụm từ “trung thành với Bản Ngã Cao Siêu,” một cách diễn đạt hữu ích, nếu được hiểu đúng. Nó có nghĩa là quyết định có chủ tâm rằng tất cả những gì tạm thời và thuộc về phàm ngã thấp sẽ bị gạt bỏ; rằng mỗi đời sống phải sống trong cõi thấp này sẽ được hiến cho mục đích duy nhất là gom góp chất liệu hữu ích, rồi chất liệu ấy sẽ được trao lại cho Đấng Cao hơn đang sống và lớn lên từ những gì phần thấp gom góp; rằng phàm ngã—chứng nghiệm rằng nó về bản chất là một với Đấng vĩ đại hơn ở phía trên, rằng công việc duy nhất của nó trong thế gian là đến đây như tác nhân hoạt động tạm thời để gom góp điều mà Bản Ngã trường tồn của nó cần—quyết định rằng toàn bộ đời sống của nó ở dưới này sẽ được dành cho sự phụng sự ấy, và rằng mục đích của đời sống chỉ là gom góp chất liệu rồi đem trở lại cho Đấng Cao hơn, Đấng thật sự là tinh tuý của chính nó, và nhờ đó có thể xây dựng nên cá nhân tính ngày càng tăng trưởng, cao hơn phàm ngã của một đời. “Trung thành với Bản Ngã Cao Siêu” có nghĩa là sự nhận biết sự phụng sự này của phần thấp, rằng phần thấp không còn sống cho chính nó mà sống để phụng sự điều trường tồn; để cho toàn bộ đời sống trong Ngoại Viện trở thành đời sống trung thành xác định với phần Cao hơn, và toàn bộ công việc được làm trong Ngoại Viện là công việc được làm vì lợi ích của Đấng vĩ đại hơn ấy, Đấng nay được chứng nghiệm như Chân Ngã đích thực sẽ trường tồn qua các thời đại, và sẽ được xây dựng thành đời sống ngày càng sung mãn hơn nhờ sự phụng sự có chủ tâm, trung kiên của sứ giả mà Ngài phái vào thế giới bên ngoài. |
|
In this work that which is sometimes spoken of in the great Scriptures of the world as the preliminary step for the successful searching after the Soul, is one that I am imagining as now lying behind the Soul. You may remember to have read in one of the greatest of the Upanishads, that if a man would find the Soul the first thing to do is to “ cease from evil ways but that I am presuming the Soul has done ere yet it has entered into the Outer Court. For those who enter it are no longer subject to the commonest temptations of earth-life; they have grown beyond those, and when they come into the incarnation which is to see them within the Outer Court, they will at least have turned from evil ways and will have ceased from walking therein with pleasure. If ever they are found in such ways at all it will be by a sudden slip immediately retrieved, and they will have been born into the world with a conscience which refuses to let them go wrong when the right is seen before it. And though the conscience might have sometimes blundered in its choice – though the conscience (not yet perfect in its experience) might sometimes have chosen wrongly ere entering within this Outer Court, and even after having entered, still it would be keenly desirous to choose rightly. The lower self would not deliberately go against this voice, for any one who deliberately goes against the voice of conscience has not entered into this Outer Court at all, nor is ready to enter it; the Souls that have entered therein have at least chosen to strive after the right, and they would fain obey this voice that bids them choose it, and not deliberately disobey; they would come into this world with that much of their climbing behind them, and with a deliberate will to do the highest that they see. They now will have to deal with subtler temptations, those in the Outer Court: not with the grosser temptations of the outside world, but with the subtler and keener temptations that come to the Soul when it has to live so swiftly through its lives, when it has to climb so rapidly up the mountain side. For indeed it has no time to waste in paltering with temptations, in slowly building virtue; it must climb onwards and upwards ever, now it has once come within the limits of even the Outer Court of the Temple. And it will find intellectual difficulties all round it and intellectual temptations – temptations to intellectual ambition, temptations to intellectual pride, temptations to be proud of that which it has gathered, and to hold firmly for its own sake to that which it has achieved. And not only will it feel this strong grip of ambition, this grasping of the nature of pride, that would keep for itself and would build up a wall between itself and those who are below it, but it will also have a desire for knowledge, a desire for knowledge for itself, a desire for knowledge that it may gain and hold rather as against the world than for it. And this temptation veils itself as love of knowledge for its own sake, and love of truth for its own sake, and oftentimes the Soul finds, as its eyesight grows keener and clearer, that this supposed aspiring love is often only the desire to be separated from its fellows, to have what they do not share and to enjoy what it does not give to them. This separateness is one of the great dangers of the growing Soul, the pride in separateness and the desire to be separated – the desire to grow and to learn and to achieve in order that it may possess; this is one of the temptations that will touch it even when it has passed through the gateway of the Outer Court. For the Soul will see knowledge within its grasp, and will desire to hold it; will see power within its grasp, and will desire to have it; desire, not only for the sake of service, but also partly because these make itself the greater, and it is inclined to build this wall about itself so that it may keep for self that which it has achieved; presently it begins to understand that if it would ever traverse the Outer Court and reach the gateway that is shining ahead of it, it must get rid of all this intellectual ambition, and all this intellectual pride, and all this desire for knowledge which it will hold for itself, and everything that makes it separate from its brother Souls; then it will begin to purify its intellectual nature, it will begin to scrutinise the motives ‘which impel it to effort and the motives which move it to action, and it will begin carefully to look at itself in the light c that shines from the Temple, and that is ever coming through the Temple windows and illuminating this Outer Court with rays of spiritual Life; light in which every shadow seems to be darker, and the very things that look bright in the lower world are seen after all to be shadows and not to be rays of light at all. Then the Soul will realise that this desire-nature which it has brought with it, and which mixes itself with the intellectual, that this desire-nature has to be purified from every touch of the personal self; it will deliberately begin this work of purification, it will deliberately and consciously and steadfastly set itself to work to purge out of itself everything which strives to take for the personality, and everything which makes it in any sense separate from those that are below it as well as from Those that are above. For this the Soul learns – and it is one of the lessons of the Outer Court – that there is only one way which these doors swing open, the doors that shut it out of the Temple, and that is by the breaking down of the walls that separate it from its fellows that are below. Then the walls that separate it from those that are in front disappear, absorbed as it were by their own action; for that gate that has to be passed through is a gate that will only open to him who desires passage, as he breaks down the walls of his own nature and is willing to share with all that which he achieves. |
Trong công việc này, điều đôi khi được nói đến trong các Thánh Kinh vĩ đại của thế gian như bước sơ bộ cho việc tìm kiếm linh hồn thành công, là điều mà tôi hình dung như giờ đây đã ở phía sau linh hồn. Các bạn có thể nhớ đã đọc trong một trong những Upanishad vĩ đại nhất, rằng nếu một người muốn tìm linh hồn thì điều đầu tiên phải làm là “dứt bỏ các nẻo ác”; nhưng tôi giả định rằng linh hồn đã làm điều đó trước khi bước vào Ngoại Viện. Vì những ai bước vào đó không còn bị chi phối bởi những cám dỗ thông thường nhất của đời sống trần thế; họ đã vượt qua những điều ấy, và khi họ bước vào lần lâm phàm sẽ đưa họ vào trong Ngoại Viện, ít nhất họ sẽ đã quay lưng với các nẻo ác và sẽ thôi không còn bước đi trong đó với khoái lạc. Nếu họ còn bị thấy trong những nẻo ấy thì cũng chỉ là một cú trượt bất chợt lập tức được sửa lại, và họ sẽ sinh vào đời với một lương tâm không cho phép họ đi sai khi điều đúng đã hiện ra trước mặt. Và dù lương tâm đôi khi có thể đã lầm lẫn trong lựa chọn—dù lương tâm (chưa hoàn hảo trong kinh nghiệm) đôi khi có thể đã chọn sai trước khi bước vào Ngoại Viện này, và thậm chí sau khi đã bước vào—dẫu vậy nó vẫn sẽ tha thiết muốn chọn đúng. Phàm ngã sẽ không cố ý đi ngược lại tiếng nói ấy, vì bất kỳ ai cố ý đi ngược lại tiếng nói của lương tâm thì hoàn toàn chưa bước vào Ngoại Viện này, cũng chưa sẵn sàng bước vào; những linh hồn đã bước vào đó ít nhất đã chọn nỗ lực theo điều đúng, và họ muốn vâng theo tiếng nói bảo họ chọn điều ấy, và không cố ý bất tuân; họ sẽ đến với thế gian này với chừng ấy cuộc leo đã ở phía sau, và với một ý chí có chủ tâm muốn làm điều cao nhất mà họ thấy. Giờ đây họ sẽ phải xử lý những cám dỗ tinh vi hơn, những cám dỗ trong Ngoại Viện: không phải những cám dỗ thô thiển của thế giới bên ngoài, mà là những cám dỗ tinh vi và sắc bén hơn đến với linh hồn khi nó phải sống các đời của mình nhanh đến thế, khi nó phải leo nhanh đến thế lên sườn núi. Vì quả thật nó không có thời gian để lãng phí trong việc lấp lửng với cám dỗ, trong việc chậm chạp xây dựng đức hạnh; nó phải luôn leo tiếp và leo lên, một khi đã bước vào trong giới hạn dù chỉ của Ngoại Viện của Đền Thờ. Và nó sẽ thấy quanh mình đầy những khó khăn trí tuệ và những cám dỗ trí tuệ—cám dỗ của tham vọng trí tuệ, cám dỗ của kiêu hãnh trí tuệ, cám dỗ tự hào về điều nó đã gom góp, và bám chặt vì lợi ích riêng vào điều nó đã đạt được. Và không chỉ nó sẽ cảm thấy sự siết chặt mạnh mẽ của tham vọng, sự nắm giữ của bản chất kiêu hãnh muốn giữ cho riêng mình và dựng lên một bức tường giữa mình với những người ở dưới, mà nó còn sẽ có một khát vọng tri thức, một khát vọng tri thức cho riêng mình, một khát vọng tri thức để nó có thể đạt và giữ như một điều đối lập với thế gian hơn là vì thế gian. Và cám dỗ này che phủ chính nó như tình yêu tri thức vì chính nó, và tình yêu chân lý vì chính nó, và nhiều khi linh hồn thấy rằng, khi thị lực của nó trở nên sắc bén và rõ ràng hơn, tình yêu khát vọng tưởng như cao cả ấy thường chỉ là ước muốn tách biệt khỏi đồng loại, có điều mà họ không chia sẻ và hưởng điều mà nó không trao cho họ. Sự tách biệt này là một trong những nguy hiểm lớn của linh hồn đang lớn lên, sự kiêu hãnh trong tách biệt và ước muốn được tách biệt—ước muốn lớn lên và học hỏi và thành tựu để có thể sở hữu; đây là một trong những cám dỗ sẽ chạm tới nó ngay cả khi nó đã đi qua cổng của Ngoại Viện. Vì linh hồn sẽ thấy tri thức trong tầm tay, và sẽ muốn giữ nó; sẽ thấy quyền năng trong tầm tay, và sẽ muốn có nó; muốn—không chỉ vì mục đích phụng sự, mà còn một phần vì những điều ấy làm cho chính nó trở nên lớn hơn, và nó có khuynh hướng dựng bức tường quanh mình để giữ cho bản thân điều nó đã đạt được; rồi nó bắt đầu hiểu rằng nếu nó muốn băng qua Ngoại Viện và tới cổng đang toả sáng phía trước, nó phải loại bỏ mọi tham vọng trí tuệ ấy, và mọi kiêu hãnh trí tuệ ấy, và mọi khát vọng tri thức mà nó sẽ giữ cho riêng mình, và mọi thứ khiến nó tách biệt khỏi các linh hồn huynh đệ; khi ấy nó sẽ bắt đầu thanh lọc bản chất trí tuệ của mình, nó sẽ bắt đầu xem xét các động cơ thúc đẩy nó nỗ lực và các động cơ khiến nó hành động, và nó sẽ bắt đầu cẩn trọng nhìn vào chính mình trong ánh sáng c toả ra từ Đền Thờ, và luôn luôn đi qua các cửa sổ Đền Thờ và soi sáng Ngoại Viện này bằng những tia của Sự sống tinh thần; ánh sáng trong đó mọi bóng tối dường như tối hơn, và chính những điều trông có vẻ sáng trong cõi thấp rốt cuộc được thấy chỉ là bóng tối chứ hoàn toàn không phải là tia sáng. Khi ấy linh hồn sẽ chứng nghiệm rằng bản chất dục vọng mà nó mang theo, và hoà lẫn với trí tuệ, rằng bản chất dục vọng ấy phải được thanh lọc khỏi mọi chạm dính của bản ngã cá nhân; nó sẽ có chủ tâm bắt đầu công việc thanh lọc này, nó sẽ có chủ tâm, có ý thức và kiên định đặt mình vào công việc để tẩy khỏi chính mình mọi thứ cố giành lấy cho phàm ngã, và mọi thứ khiến nó theo bất kỳ nghĩa nào tách biệt khỏi những người ở dưới cũng như khỏi Các Đấng ở trên. Vì linh hồn học được điều này—và đó là một trong những bài học của Ngoại Viện—rằng chỉ có một cách để những cánh cửa ấy mở ra, những cánh cửa đang khép nó bên ngoài Đền Thờ, và đó là phá vỡ những bức tường ngăn cách nó với các huynh đệ ở dưới. Khi ấy những bức tường ngăn cách nó với những người ở phía trước biến mất, như thể bị chính hành động của chúng hấp thụ; vì cánh cổng phải đi qua là cánh cổng chỉ mở cho người khao khát được đi qua, khi y phá vỡ những bức tường trong bản chất của chính mình và sẵn lòng chia sẻ với tất cả điều y đạt được. |
|
Thus he begins this work of purifying the desire-nature, and he takes this lower self in hand to purge out of it everything which is personal. How shall he purify himself? He does not want to destroy; for that which he has gathered together is experience, and experience has been built into faculty and transmuted into power, and he now needs all these powers that he has been gathering during the climb that lies below him, and it will not do to destroy all that he has gathered; he wants to take these powers on with him, but to take them purified instead of foul. How then shall he purify them? It would be so much easier to destroy; it would need so much less patience to kill some of these qualities that he has; he feels as if he could strike at them and slay them, and so be rid of them. But it is not thus that he can enter into the Temple; for he must take there as his sacrifice that has to be offered on the very threshold of the Temple, everything that he has gathered in his past, that he has turned into power and faculty; he must not go in thither empty-handed, he must take with him all that he has gathered in his lower life. So that he dares not destroy; he must perform the harder work of purification; he must keep the essence of all the qualities, while he strikes away from them everything that is personal. All the lessons he has learnt of virtue and of vice, all these are the experiences that in the pilgrimage behind him he has gathered; he must take the essence of every quality with him, for these are the results of all his climbing; but he must take them as pure gold to the altar, and no dross must be mingled with the gold. |
Vì vậy y bắt đầu công việc thanh lọc bản chất dục vọng, và y nắm lấy phàm ngã này để tẩy khỏi nó mọi thứ mang tính cá nhân. Y sẽ thanh lọc chính mình như thế nào? Y không muốn huỷ diệt; vì điều y đã gom góp là kinh nghiệm, và kinh nghiệm đã được xây dựng thành năng lực và được chuyển hoá thành quyền năng, và giờ đây y cần tất cả những quyền năng mà y đã gom góp trong cuộc leo phía dưới, và không thể huỷ diệt tất cả điều y đã gom góp; y muốn mang những quyền năng ấy theo, nhưng mang chúng đã được thanh lọc thay vì nhơ bẩn. Vậy y sẽ thanh lọc chúng như thế nào? Huỷ diệt thì dễ hơn nhiều; giết đi một số phẩm chất mà y có sẽ cần ít kiên nhẫn hơn nhiều; y cảm thấy như thể có thể đánh vào chúng và giết chúng, và thế là thoát khỏi chúng. Nhưng không phải như vậy mà y có thể bước vào Đền Thờ; vì y phải mang vào đó, như lễ hiến dâng phải được dâng ngay trên chính ngưỡng Đền Thờ, mọi thứ y đã gom góp trong quá khứ, mọi thứ y đã biến thành quyền năng và năng lực; y không được bước vào đó tay không, y phải mang theo tất cả điều y đã gom góp trong đời sống thấp của mình. Vì vậy y không dám huỷ diệt; y phải thực hiện công việc khó hơn là thanh lọc; y phải giữ tinh tuý của mọi phẩm chất, trong khi gạt khỏi chúng mọi thứ mang tính cá nhân. Tất cả những bài học y đã học về đức hạnh và tật xấu, tất cả đều là những kinh nghiệm mà trong cuộc hành hương phía sau y đã gom góp; y phải mang theo tinh tuý của mọi phẩm chất, vì đó là kết quả của toàn bộ cuộc leo của y; nhưng y phải mang chúng như vàng ròng đến bàn thờ, và không được để lẫn bất kỳ cặn bã nào với vàng. |
|
Let us take one or two of these qualities in order to see clearly what purification means; for if we understand it as to one or two qualities, then at our leisure we can work it out for the rest, and the lesson is all-important as to how the purification is to be worked. |
Chúng ta hãy lấy một hai phẩm chất để thấy rõ thanh lọc có nghĩa là gì; vì nếu chúng ta hiểu nó đối với một hai phẩm chất, thì khi rảnh rỗi chúng ta có thể triển khai cho phần còn lại, và bài học này là tối quan trọng về cách thức thanh lọc phải được thực hiện. |
|
Let me take first a mighty force which is in every human being, which he develops in the low stages of his growth, which he carries on with h m as he evolves, and which it is now his work to purify. Let us take the quality that in its lowest stage we know as anger, as wrath, as that tremendous power that the man develops, by which he fights his way through the world, by which he struggles, and by which he oftentimes overcomes all opposition: that tremendous energy of the Soul rushing out through the lower nature and breaking a man’s way for him through difficulties in the earlier stages of his growth ere yet he has learned to guide and to control it; an undisciplined energy, destructive because it is undisciplined; a tremendous force, valuable because it is force, although destructive in its workings as we see it in the lower world. The man ere yet he has entered into the Outer Court has somewhat changed that energy of the Soul; he has changed it into a virtue, a very real virtue, and he has had this virtue long as his possession in the outside world; then it went by the names (when it had reached the stage of virtue) of noble indignation, of passion against injustice, of hatred of all that was wrong, and that was base, and that was vile, and that was cruel, and it did good service in the outer world under these many forms of destructive energy. For this man, ere yet he came into the Outer Court, had been working for the world, and had been practising this virtue; and when he saw the cruelty that was done upon the weak his passion broke forth against it, and when an injustice was wrought by a tyrant then he rose up against it in indignation; he had learned, as he practised this virtue, to purify it from much of the dross; for the anger that he had in his earlier lives was anger for himself – he was wrathful when he was injured, he struck back when some one struck at him; but he had long ago conquered that mere brute wrath in the lower nature which guards itself by destructive energy against a wrong, and pays back evil with evil and hate with hate. Before he entered the Outer Court he had passed beyond that earlier stage, and had learned to some extent to transform that energy of anger in him; he had purified it to a great extent from the personal element, and he had learned to be angry less because he himself was injured, than because some one else was wronged; he had learned to be indignant less because he suffered, than because some one else was put to pain; and when he saw some cruel creature trampling on a helpless one, he sprang forward to rescue that helpless creature and struck at the wrong-doer and cast him to one side; in that way he had used the higher anger to conquer the lower, in that way he had used the nobler passion to slay the more animal passion of his lower life, and he had learned in these lives that now lie far behind him, to get rid so far of the grosser qualities of the passion; he had learned to be no longer angry for himself, but angry only for those whom he desired to help. For he was a man, remember, who had long recognised service as duty, and one of his ways of service was by striking down oppressors and by casting aside those who were inflicting suffering; this anger of his blazed up hotly against all forms of wrong, and he worked for the weaker, and perchance did hero’s work in the world. But within that calmer atmosphere of the Court of the Temple, illuminated by the rays of absolute compassion shining forth from the Holy of Holies, there is no place for anger of any sort, even though the anger be purged from personal antagonism. For the aspirant has now to learn that those who do the wrong are also his brothers, and that they suffer more in their wrongdoing than do their fellow-men by the injury that they may inflict; he has to learn that this noble indignation of his, and this passion of his against the wrong, and this fire that blazed forth to consume a tyranny that touched not himself, that that is not the characteristic of the Soul that is striving onwards towards the Divine; for the Divine Life loves all the children that It sends into the world, no matter what may be their position, nor how low the grade of their evolution. For the Love of the Divine that emanated all has nothing outside Itself. The Life that is Divine is the core of everything that exists, and there is God present in the heart of the evil-doer as well as in the heart of the saint. Within the Outer Court the Divine must be recognised, no matter how thick are the veils that hide it, for there the eyes of the Spirit are to be opened, and there is to be no veil between it and the Self of other men; therefore this noble indignation is to be purified until it is purged of everything that is of anger, and is changed into an energy that leaves nothing outside its helpful range; until this great energy of the Soul becomes an energy that is absolutely pure, that goes out to help the tyrant as well as the slave, and that embraces within its limit the one who is trampling as well as the one who is trampled; for the Saviours of men choose not whom They will serve – Their service is a service that knows no limitations, and They that are the servants of all hate none within the Universe. That which once was anger has to become, by purification, protection for the weak, impersonal opposition to strong evil-doing, perfect justice to all. |
Trước hết, tôi xin lấy một mãnh lực mạnh mẽ có trong mọi con người, mà y phát triển ở các giai đoạn thấp của sự tăng trưởng, mà y mang theo khi tiến hoá, và giờ đây là công việc của y phải thanh lọc. Hãy lấy phẩm chất mà ở giai đoạn thấp nhất ta biết là giận dữ, là phẫn nộ, là quyền năng ghê gớm mà con người phát triển, nhờ đó y chiến đấu để đi qua thế gian, nhờ đó y tranh đấu, và nhờ đó y thường vượt qua mọi chống đối: năng lượng ghê gớm ấy của linh hồn tuôn ra qua bản chất thấp và mở đường cho con người xuyên qua khó khăn trong các giai đoạn đầu của sự tăng trưởng trước khi y học cách hướng dẫn và kiểm soát nó; một năng lượng vô kỷ luật, phá hoại vì vô kỷ luật; một mãnh lực ghê gớm, quý giá vì là mãnh lực, dù phá hoại trong hoạt động như ta thấy trong cõi thấp. Con người trước khi bước vào Ngoại Viện đã phần nào chuyển hoá năng lượng linh hồn ấy; y đã chuyển nó thành một đức hạnh, một đức hạnh rất thực, và y đã sở hữu đức hạnh này từ lâu trong thế giới bên ngoài; khi ấy nó mang các tên gọi (khi đã đạt tới giai đoạn đức hạnh) như phẫn nộ cao quý, nhiệt tâm chống bất công, căm ghét mọi điều sai trái, hèn hạ, đê tiện, tàn nhẫn, và nó đã phụng sự tốt trong thế giới bên ngoài dưới nhiều hình thức của năng lượng phá huỷ. Vì con người này, trước khi bước vào Ngoại Viện, đã làm việc cho thế gian, và đã thực hành đức hạnh này; và khi y thấy sự tàn bạo giáng lên kẻ yếu, nhiệt tâm của y bùng lên chống lại, và khi một bạo chúa gây ra bất công, y đứng dậy chống lại trong phẫn nộ; y đã học, khi thực hành đức hạnh này, cách thanh lọc nó khỏi nhiều cặn bã; vì cơn giận trong những đời đầu của y là giận cho chính mình—y phẫn nộ khi bị tổn thương, y đánh trả khi có ai đánh vào y; nhưng từ lâu y đã chinh phục cơn phẫn nộ thú tính thuần tuý trong bản chất thấp vốn tự bảo vệ bằng năng lượng phá huỷ trước một điều sai trái, và lấy ác trả ác, lấy hận trả hận. Trước khi bước vào Ngoại Viện, y đã vượt qua giai đoạn sớm ấy, và đã học phần nào chuyển đổi năng lượng giận dữ trong mình; y đã thanh lọc nó ở mức lớn khỏi yếu tố cá nhân, và y đã học giận ít hơn vì chính mình bị tổn thương, mà giận vì người khác bị đối xử sai; y đã học phẫn nộ ít hơn vì mình chịu khổ, mà vì người khác bị gây đau đớn; và khi y thấy một kẻ tàn bạo giẫm đạp lên một kẻ bất lực, y lao tới cứu kẻ bất lực ấy và đánh kẻ làm điều sai rồi hất y sang một bên; theo cách đó y đã dùng cơn giận cao hơn để chế ngự cơn giận thấp hơn, theo cách đó y đã dùng nhiệt tâm cao quý hơn để giết đi nhiệt tâm mang tính thú vật hơn của đời sống thấp, và y đã học, trong những đời nay đã ở rất xa phía sau, cách loại bỏ phần nào những phẩm chất thô hơn của nhiệt tâm; y đã học không còn giận cho chính mình, mà chỉ giận cho những người y muốn giúp. Vì y là một người—hãy nhớ—đã từ lâu nhận ra phụng sự là bổn phận, và một trong những cách phụng sự của y là đánh đổ kẻ áp bức và gạt sang một bên những kẻ đang gây đau khổ; cơn giận của y bùng lên dữ dội chống lại mọi hình thức sai trái, và y làm việc cho kẻ yếu, và có lẽ đã làm công việc anh hùng trong thế gian. Nhưng trong bầu khí quyển tĩnh lặng hơn của Viện của Đền Thờ, được soi sáng bởi những tia của lòng từ bi tuyệt đối toả ra từ Nơi Cực Thánh, không có chỗ cho bất kỳ loại giận dữ nào, dù cơn giận đã được tẩy khỏi đối kháng cá nhân. Vì người chí nguyện giờ đây phải học rằng những kẻ làm điều sai cũng là các huynh đệ của y, và họ chịu khổ trong việc làm sai của họ nhiều hơn là đồng loại chịu khổ bởi tổn hại mà họ có thể gây ra; y phải học rằng phẫn nộ cao quý ấy của y, và nhiệt tâm của y chống lại điều sai, và ngọn lửa từng bùng lên để thiêu đốt một bạo quyền không chạm đến chính y, rằng đó không phải là đặc tính của linh hồn đang nỗ lực tiến về Thiêng Liêng; vì Sự sống thiêng liêng yêu mọi đứa con mà Nó gửi vào thế gian, bất kể vị thế của chúng là gì, hay cấp bậc tiến hoá của chúng thấp đến đâu. Vì Tình thương của Thiêng Liêng, Đấng đã xuất lộ tất cả, không có gì ở bên ngoài chính Nó. Sự sống thiêng liêng là cốt lõi của mọi điều hiện hữu, và có Thượng đế hiện diện trong tim kẻ làm ác cũng như trong tim vị thánh. Trong Ngoại Viện, Thiêng Liêng phải được nhận ra, bất kể những tấm màn che phủ Nó dày đến đâu, vì ở đó đôi mắt của tinh thần phải được mở ra, và sẽ không có tấm màn nào giữa nó và Chân Ngã của những người khác; do đó phẫn nộ cao quý này phải được thanh lọc cho đến khi nó được tẩy khỏi mọi thứ thuộc về giận dữ, và được chuyển thành một năng lượng không để bất cứ ai ở ngoài phạm vi trợ giúp của nó; cho đến khi năng lượng lớn lao của linh hồn trở thành một năng lượng tuyệt đối thuần khiết, đi ra để giúp kẻ bạo ngược cũng như nô lệ, và ôm trọn trong giới hạn của nó kẻ đang giẫm đạp cũng như kẻ bị giẫm đạp; vì các Đấng Cứu Thế của nhân loại không chọn họ sẽ phụng sự ai—sự phụng sự của Các Ngài là sự phụng sự không biết đến giới hạn, và Các Ngài là những Đấng phụng sự tất cả thì không ghét ai trong Vũ Trụ. Điều từng là giận dữ phải trở thành, nhờ thanh lọc, sự bảo vệ kẻ yếu, sự chống đối vô tư đối với hành vi ác mạnh mẽ, sự công bằng hoàn hảo đối với tất cả. |
|
And so again as he does with anger he must do with love, with love that began showing itself forth in him in its lowest and poorest form as the Soul was beginning to grow, that showed itself forth, perhaps, in forms that were foul and in forms that were vile, that only knew the goings outward to another, and that in its self-gratification troubled not much as to what happened even to that which it loved; as the Soul has been growing upwards, love has changed its character, has become nobler, less selfish, less personal, until it has attached itself to the higher elements in the beloved instead of to the outer casing, and the love that was sensual has become moralised and purified. It must be made still purer when the candidate has come within the Outer Court of the Temple; he must carry in with him love, but it is love that must have begun to lose its exclusiveness; it is love which must keep its fire ever burning more warmly, but the warmth must spread out further and further and be purified from everything of lower nature; and that means that the love shall be a love that in going out to others shall always seek to serve them rather than to serve itself, shall always seek how much it may give to them rather than how much it may take from them, and so a love that will be becoming gradually Divine in its essence, going out according to the measure of the need rather than according to the richness of the return. |
Và cũng vậy, như y làm với giận dữ, y phải làm với tình yêu, với tình yêu đã bắt đầu biểu lộ trong y ở hình thức thấp nhất và nghèo nàn nhất khi linh hồn bắt đầu tăng trưởng, đã biểu lộ, có lẽ, trong những hình thức nhơ bẩn và đê tiện, chỉ biết sự hướng ra ngoài tới một người khác, và trong sự thoả mãn bản thân của nó hầu như không bận tâm điều gì xảy đến ngay cả với đối tượng nó yêu; khi linh hồn lớn lên hướng thượng, tình yêu đã đổi tính chất, trở nên cao quý hơn, ít ích kỷ hơn, ít cá nhân hơn, cho đến khi nó gắn vào những yếu tố cao hơn trong người được yêu thay vì vào lớp vỏ bên ngoài, và tình yêu nhục dục đã trở nên được đạo hoá và được thanh lọc. Nó phải được làm cho còn thuần khiết hơn nữa khi người dự tuyển đã bước vào Ngoại Viện của Đền Thờ; y phải mang tình yêu vào, nhưng đó là tình yêu phải bắt đầu đánh mất tính độc quyền; đó là tình yêu phải giữ ngọn lửa luôn cháy ấm hơn, nhưng hơi ấm phải lan rộng hơn và hơn nữa và được thanh lọc khỏi mọi thứ thuộc bản chất thấp; và điều đó có nghĩa rằng tình yêu sẽ là tình yêu khi đi ra với người khác luôn tìm cách phụng sự họ hơn là phụng sự chính mình, luôn tìm xem mình có thể cho họ bao nhiêu hơn là mình có thể lấy từ họ bao nhiêu, và như vậy là một tình yêu sẽ dần dần trở nên thiêng liêng trong tinh tuý của nó, đi ra theo mức độ nhu cầu hơn là theo sự phong phú của sự đáp trả. |
|
As the Soul is thus striving after purification, it will have certain tests that it will apply to all this process through which it is passing itself, and when it is at work using its energy in order to accomplish some service to man it will bring to that service the Ithuriel spear of the absence of personality, and will see what starts up in answer to the touch of the spear. If it find that when it is doing service, when its energy is going out to achieve something that it realises as good, if in testing that action and its motive it find that the “I” is subtly mingled with the energy; if it find that it looks less for the success of the working than for the success of the operator; if it find that when it fails in its own working but sees that work accomplished by another, there is something of disappointment mingling in the cup of its delight at seeing the work achieved; then it knows that the personality is still lingering in it, that if it were what it ought to be, it would care only for the triumph of the service, and not for having itself contributed to the triumph. And if it find that in personal failure there is still a sting of disappointment; if it find that from the failure of its own outgoing energy there comes back to it something of depression, something of discouragement, something which clouds for a moment its peace and its serenity, then it realises that in that sting and in that cloud there is still a part of the personality that needs to be destroyed, and it sets to work to get rid also of that weakness, and to clear away that cloud from the eyes of the Soul. And if it find, when it is measuring and testing the nature of its love, that there is there also a little chill, a little feeling of disappointment, when that which it has loved remains indifferent to its giving, though it has served nobly and loved greatly; if it find that the outward flowing of its love is inclined to shrink backward and to check its course, because those to whom it gives the love answer not back with love in return; then, again, this Soul – that is so stern to itself whilst so compassionate to all other Souls – knows that in this also there is a subtle lingering of the personality, and that it is still working for something for itself, and is not finding its highest joy in the mere glory of the giving. Then, again, it sets to work, this Soul that is in the Outer Court of the Temple, to purify away that lingering part of the personality, until the love flows out, never asking whether aught comes back to it, never waiting to see if answer is there; for it knows in truth that the need for love is greatest where answer of love there is none, and it knows that those Souls have the greatest need to receive who themselves at present give nothing to the love that helps. |
Khi linh hồn đang nỗ lực thanh lọc như vậy, nó sẽ có những phép thử nhất định mà nó áp dụng cho toàn bộ tiến trình mà nó đang trải qua, và khi nó đang làm việc, dùng năng lượng của mình để hoàn thành một sự phụng sự nào đó cho nhân loại, nó sẽ mang đến sự phụng sự ấy ngọn giáo Ithuriel của sự vắng mặt của tính cá nhân, và sẽ xem điều gì bật dậy để đáp lại sự chạm của ngọn giáo. Nếu nó thấy rằng khi nó đang phụng sự, khi năng lượng của nó đang đi ra để hoàn thành điều mà nó chứng nghiệm là tốt, nếu khi thử nghiệm hành động ấy và động cơ của nó, nó thấy cái “tôi” được hoà lẫn một cách tinh vi vào năng lượng; nếu nó thấy rằng nó tìm kiếm thành công của người thực hiện hơn là thành công của công việc; nếu nó thấy rằng khi nó thất bại trong công việc của chính mình nhưng lại thấy công việc ấy được người khác hoàn thành, có một chút thất vọng hoà vào chén vui của nó khi thấy công việc được hoàn tất; thì nó biết rằng phàm ngã vẫn còn lưu lại trong nó, rằng nếu nó đúng như nó phải là, nó sẽ chỉ quan tâm đến chiến thắng của sự phụng sự, chứ không quan tâm đến việc chính nó đã góp phần vào chiến thắng ấy. Và nếu nó thấy rằng trong thất bại cá nhân vẫn còn một mũi nhói của thất vọng; nếu nó thấy rằng từ thất bại của năng lượng đi ra của chính mình có điều gì đó của u sầu trở lại với nó, điều gì đó của nản lòng, điều gì đó che mờ trong khoảnh khắc sự bình an và sự tĩnh lặng của nó, thì nó chứng nghiệm rằng trong mũi nhói ấy và trong đám mây ấy vẫn còn một phần của phàm ngã cần phải bị huỷ bỏ, và nó bắt tay vào việc loại bỏ cả sự yếu đuối ấy, và quét sạch đám mây ấy khỏi đôi mắt của linh hồn. Và nếu nó thấy, khi đo lường và thử nghiệm bản chất của tình yêu của mình, rằng ở đó cũng có một chút lạnh, một chút cảm giác thất vọng, khi đối tượng nó yêu vẫn thờ ơ với sự cho đi của nó, dù nó đã phụng sự cao quý và yêu thương sâu đậm; nếu nó thấy rằng dòng chảy ra ngoài của tình yêu của nó có khuynh hướng co rút lại và ngăn dòng chảy của nó, vì những người nhận tình yêu không đáp lại bằng tình yêu; thì, một lần nữa, linh hồn này—vốn nghiêm khắc với chính mình trong khi đầy từ bi với mọi linh hồn khác—biết rằng trong điều này cũng có một sự lưu lại tinh vi của phàm ngã, và rằng nó vẫn đang làm việc để có được điều gì đó cho bản thân, và chưa tìm thấy niềm vui cao nhất trong chính vinh quang của sự cho đi. Khi ấy, một lần nữa, nó bắt tay vào việc, linh hồn đang ở trong Ngoại Viện của Đền Thờ này, để thanh lọc đi phần phàm ngã còn lưu lại ấy, cho đến khi tình yêu tuôn chảy ra, không bao giờ hỏi liệu có điều gì trở lại với nó không, không bao giờ chờ xem có sự đáp lại hay không; vì nó biết thật sự rằng nhu cầu về tình yêu lớn nhất ở nơi không có sự đáp lại của tình yêu, và nó biết rằng những linh hồn có nhu cầu nhận lớn nhất là những linh hồn mà hiện tại chính họ không cho gì đối với tình yêu trợ giúp. |
|
In this way the Soul deliberately labours for growth; deliberately it works at itself, purifying always the lower nature with unceasing effort and with untiring demand; for ever it is comparing itself not with those who are below it but with Those who are above it, ever it is raising its eyes towards Those who have achieved, and not looking downwards towards those who are still only climbing upwards towards the Outer Court. And it can never for a moment rest, it can never be content, until it sees itself ever coming nearer to its goal, until there is less opposition within itself to the passing through it of the light of the Holy Ones who have become Divine. |
Theo cách này linh hồn có chủ tâm lao động để tăng trưởng; có chủ tâm nó làm việc trên chính mình, luôn thanh lọc bản chất thấp bằng nỗ lực không ngừng và bằng đòi hỏi không mệt; mãi mãi nó so sánh mình không với những người ở dưới mà với Các Đấng ở trên, mãi mãi nó ngước mắt về phía Các Đấng đã thành tựu, và không nhìn xuống những người vẫn chỉ đang leo lên hướng về Ngoại Viện. Và nó không thể nghỉ dù chỉ một khoảnh khắc, nó không thể thoả mãn, cho đến khi nó thấy mình luôn tiến gần hơn tới mục tiêu, cho đến khi trong chính nó có ít sự chống đối hơn đối với ánh sáng của các Đấng Thánh đã trở nên thiêng liêng khi ánh sáng ấy đi qua nó. |
|
Within this Outer Court the temptations of men are by their virtues, not by their vices; subtle temptations assail their nature that appear like angels of light; and ever the temptation comes to these Souls that are passing onwards through that which is greatest in them, by that which is noblest in them; it is their virtues which are taken, and, using the advantage of their lack of knowledge, these are turned into temptations; for they have grown beyond the point where vice could touch or tempt them, and it is only by using the mask of virtue that illusion may avail to lead them astray. That is why they learn to be so hard upon themselves, that is why they are so ceaseless in the demands that they make upon themselves; they know full well by their own slipping, and by the slipping of their comrades, that those virtues that in the lower world are difficult of achievement are the very things that become easy to those within the Outer Court, and that these are then, as it were, stolen by the enemy, in order that he may turn them into temptations by which also they may be made to falter on the Path. Therefore it is that they learn that the only safety for them is in living within the light of the Higher Self; therefore it is that they realise that they dare not stand at the Gate of the Temple until that Light shines out radiantly within them, and therefore they are ever striving to make themselves absolutely translucent. For how shall they dare to pass into a Light to which everything that is light here is but as shadow; how shall they dare to pass into a Light at which no impure eyes can look for the dazzling quality of its rays, making all that we call virtue seem imperfect of achievement, and all that we call beauty but as ugliness and as flatness; how shall they dare to go within the Temple, where the Eyes of the Master shall rest upon them, and they shall stand, the Soul naked, in His presence; how shall they dare to stand there, if within the heart there be still one stain of imperfection, and if when He looks into the heart there be found there one soil to offend the purity of His gaze? |
Trong Ngoại Viện này, những cám dỗ của con người đến với họ bởi các đức hạnh của họ, chứ không bởi các thói xấu của họ; những cám dỗ tinh vi tấn công bản chất họ, trông như các thiên thần ánh sáng; và cám dỗ luôn đến với những linh hồn đang tiến bước, xuyên qua điều vĩ đại nhất trong họ, bằng chính điều cao quý nhất trong họ; chính các đức hạnh của họ bị nắm lấy, và, lợi dụng sự thiếu hiểu biết của họ, những đức hạnh ấy bị biến thành cám dỗ; vì họ đã vượt qua điểm mà thói xấu có thể chạm tới hay cám dỗ họ, và chỉ bằng cách dùng chiếc mặt nạ của đức hạnh thì ảo tưởng mới có thể hữu hiệu để dẫn họ lạc đường. Đó là lý do họ học cách nghiêm khắc với chính mình đến thế, đó là lý do họ không ngừng đặt ra những đòi hỏi đối với chính mình; họ biết rất rõ, qua chính sự trượt ngã của mình và sự trượt ngã của các đồng bạn, rằng những đức hạnh mà ở thế giới thấp là khó đạt được, lại chính là những điều trở nên dễ dàng đối với những người ở trong Ngoại Viện, và rồi những điều ấy, như thể, bị kẻ thù đánh cắp, để y có thể biến chúng thành những cám dỗ khiến họ cũng có thể chùn bước trên Con Đường Đệ Tử. Vì vậy họ học rằng sự an toàn duy nhất của họ là sống trong ánh sáng của Bản Ngã Cao Siêu; vì vậy họ chứng nghiệm rằng họ không dám đứng nơi Cổng Đền cho đến khi Ánh Sáng ấy rực rỡ chiếu ra trong họ, và vì vậy họ luôn nỗ lực làm cho mình hoàn toàn trong suốt. Vì làm sao họ dám bước vào một Ánh Sáng mà mọi điều là ánh sáng ở đây chỉ như bóng tối; làm sao họ dám bước vào một Ánh Sáng mà không đôi mắt ô uế nào có thể nhìn, bởi phẩm tính chói lòa của các tia sáng của nó, khiến mọi điều ta gọi là đức hạnh dường như là sự thành tựu bất toàn, và mọi điều ta gọi là vẻ đẹp chỉ như xấu xí và phẳng lặng; làm sao họ dám đi vào trong Đền, nơi Đôi Mắt của Chân sư sẽ dừng lại trên họ, và họ sẽ đứng đó, linh hồn trần trụi, trong sự hiện diện của Ngài; làm sao họ dám đứng ở đó, nếu trong tim vẫn còn một vết nhơ của bất toàn, và nếu khi Ngài nhìn vào tim, ở đó còn thấy một vết bẩn xúc phạm sự tinh khiết của ánh nhìn Ngài? |
|
Therefore is it that in this Outer Court things that are painful in the world outside become as joy, and the suffering that purifies is the most welcome of friends; therefore is it that the pattern of all Yogis, He Who is said to be Himself the Great Yogi, the Master and the Patron of all; therefore is it that He stands ever in the burning-ground, and that flames play ever round His presence and consume everything that they touch. For in the hearts of those who are in the Outer Court there are still hidden places into which the light has not yet pierced, and the final purification ere they enter into the Temple comes from these living flames of the Lord Himself, and they burn up all that lurks unseen in the hidden chambers of the heart of him who is to be a disciple. He has given himself to his Lord and he keeps nothing back; in that mighty burning ground, which stands before the gateway of the Temple, is the blazing fire through which all must pass ere yet the Temple Gate can open for them: it is beyond the fire and in it that the figure of the Great Yogi is seen, from Whom those flames come forth, taking their purifying power from the glory of His Feet. It is from Him, the Great Guru, that comes this final purification of the disciple, and then he enters within the gateway that shuts him out for ever from all the interests of the lower world, save that of service; which separates him from all human desires save as he works for the redemption of Humanity; there remains nothing on earth which is able to attract him, because he has seen the Face of his Lord and before that all other lights grow dim. |
Vì vậy, trong Ngoại Viện này, những điều đau đớn ở thế giới bên ngoài trở thành niềm vui, và nỗi khổ đau thanh luyện là người bạn được chào đón nhất; vì vậy, khuôn mẫu của mọi Yogi, Đấng được nói là chính Ngài là Đại Yogi, Chân sư và Đấng Bảo Trợ của tất cả; vì vậy Ngài luôn đứng trong vùng đất cháy, và ngọn lửa luôn nhảy múa quanh sự hiện diện của Ngài và thiêu rụi mọi thứ mà nó chạm tới. Vì trong tim những người ở trong Ngoại Viện vẫn còn những nơi ẩn kín mà ánh sáng chưa xuyên thấu, và sự thanh tẩy cuối cùng trước khi họ bước vào Đền đến từ những ngọn lửa sống động này của chính Đức Chúa Tể, và chúng thiêu rụi mọi điều ẩn nấp không thấy được trong những căn phòng bí mật của trái tim người sắp trở thành một đệ tử. Y đã hiến dâng mình cho Đức Chúa Tể của y và không giữ lại điều gì; trong vùng đất cháy hùng vĩ ấy, đứng trước cổng vào của Đền, là ngọn lửa rực cháy mà tất cả phải đi qua trước khi Cổng Đền có thể mở ra cho họ: chính ở bên kia ngọn lửa và ngay trong ngọn lửa ấy, hình bóng của Đại Yogi được thấy, Đấng từ đó những ngọn lửa kia tuôn ra, nhận quyền năng thanh luyện của chúng từ vinh quang nơi Chân Ngài. Chính từ Ngài, Đại Guru, mà sự thanh tẩy cuối cùng của đệ tử này đến, và rồi y bước vào trong cổng vào vốn mãi mãi ngăn y khỏi mọi mối quan tâm của thế giới thấp, trừ mối quan tâm phụng sự; điều ấy tách y khỏi mọi dục vọng của con người, trừ khi y làm việc cho sự cứu chuộc của nhân loại; không còn gì trên đất có thể hấp dẫn y, vì y đã thấy Thánh Nhan của Đức Chúa Tể của y, và trước điều đó mọi ánh sáng khác đều trở nên mờ nhạt. |
Lecture II. Thought Control—Bài giảng II. Kiểm soát tư tưởng
|
Perhaps in the subject or rather the section of the subject that I have to deal with to-night there will be almost more of difference than in any other part of it, between the view that would be taken, say by a thoughtful well-balanced virtuous man in the world and the view which is taken by the Occultist. I shall want, as it were, to lead you step by step from the beginning, and to show you how this change of standpoint occurs; for it is perhaps especially in regard to the mind, the position that the mind holds towards the man, the place that it has in his developing nature, the functions that it performs and the way in which it performs them – it is on these matters that so much of difference will arise according to the position of the thinker, according to the view that he takes of the world at large and of the part which he there is called upon to play. Let us for a moment, in order to realise just where we are in this matter, let us for a moment try to think how a good and just and intellectual man – that is a man who is distinctly not careless nor frivolous nor worldly in the ordinary sense of the terms – let us consider how such a person, sober in his judgment and balanced in his thinking, would regard this question of mental self-control. A good man, a man who has deliberately set before himself an ideal of virtue which he strives to realise, a view of duty which he endeavours to discharge, such a man in the course of the forming of this ideal and the marking out of this line of duty, will recognise that what we call the lower nature is a thing to be mastered, to be controlled. On that no question will arise at all. The passions and the appetites of the body, the lower emotions which hurry people away without reflection and without thought, all that side of the man’s nature which is played upon from without so that he acts without consideration, as it would be said, without reflection and without thought – our virtuous man will most certainly say that this is to be dominated and to be kept under control. He will speak of that as the lower nature, and he will seek to reduce it to obedience to the higher. If we examine carefully the position of such a man, we shall find that what we mean in ordinary parlance by a self-controlled man is a man who exercises this mental control over the lower nature, so that the mind controls the desires; when we say “self-controlled “ it is the man that is thought of as the self who is controlling. More than that; if we look at him a little more closely we shall see that what we call the strong will, what we call the formed character, a character which acts along certain definite lines of conduct, a will which, under very difficult circumstances, is still able to guide the nature of which it forms a part along a clear and definite line, we shall find that we mean by such a person that he is one in whom the mind has been largely developed, so that when he comes to act and to decide upon an action he is not determined in his action by the external circumstances, he is not determined in his action by the various attractions that may surround him outside, he is not determined in his action by the answer of the animal nature to those attractions; he is determined, we shall find, by a mass of experiences recorded in what is called his memory, remembrance of past occurrences, comparison of the results which flowed from these occurrences; the mind has worked upon all of these, has, as it were, arranged them and compared them the one with the other, and has drawn from them a definite result by an intellectual and logical effort. This result remains in the mind as a rule of conduct, and when the man is under circumstances that are disturbing, circumstances that would overcome what is called a weak will, circumstances that would perhaps lead astray just an average person, this stronger and more developed mind – having laid down a rule of conduct at which it has arrived in a moment of calm, in moments when the desire-nature is not actively at work, in moments when it is not surrounded by temptations – this mind guides its conduct by this rule of conduct which has thus been ascertained and laid down, and does not permit itself to be turned out of its course by the attractions or by the impulses of the moment. In dealing with such a person you can often forecast what he will do; you know the principles upon which his conduct is based; you know the lines of thought which dominate his mind; and you feel pretty sure – looking at this character, which is definite and formed and strong – you feel pretty sure that no matter what may be the outside temptations, that man will fulfil in the moment of strife the ideal which he conceived in the moments of calm and of reflection. And in speaking of a self-controlled man this is what we generally mean; he is a man who has reached this stage of development, which is by no means a low stage you will observe, in which he has deliberately set himself to work to conquer and to rein in and to manage this lower nature, so that when it is most stimulated into action from without, the Soul shall be able to hold its own against the inrushing of temptation, and the man shall act on a noble standard, no matter what may be the temptations that surround him to act basely, or in accordance with the temptings of the lower nature. |
Có lẽ trong đề tài, hay đúng hơn là phần của đề tài mà tôi phải bàn đến tối nay, sẽ có gần như nhiều khác biệt hơn bất kỳ phần nào khác của nó, giữa quan điểm mà, chẳng hạn, một người đàn ông suy tư, quân bình, có đức hạnh trong đời sẽ có, và quan điểm của nhà huyền bí học. Tôi muốn, như thể, dẫn các bạn từng bước từ khởi đầu, và cho các bạn thấy sự thay đổi lập trường này xảy ra như thế nào; vì có lẽ đặc biệt là liên quan đến thể trí, đến vị trí mà thể trí giữ đối với con người, đến chỗ đứng của nó trong bản chất đang phát triển của y, đến các chức năng mà nó thực hiện và cách thức nó thực hiện chúng — chính ở những vấn đề này mà sẽ nảy sinh rất nhiều khác biệt tùy theo vị trí của người tư tưởng, tùy theo quan điểm mà y có về thế giới nói chung và về phần việc mà ở đó y được kêu gọi đảm trách. Hãy tạm dừng một lát, để nhận ra chính xác chúng ta đang ở đâu trong vấn đề này, hãy thử nghĩ xem một người đàn ông tốt, công bằng và trí thức — tức là một người rõ ràng không cẩu thả, không phù phiếm, không thế tục theo nghĩa thông thường của các từ — hãy xét xem một người như vậy, điềm tĩnh trong phán đoán và quân bình trong tư duy, sẽ nhìn vấn đề tự chủ thể trí này ra sao. Một người tốt, một người đã có chủ ý đặt trước mình một lý tưởng đức hạnh mà y cố gắng chứng nghiệm, một quan niệm về bổn phận mà y nỗ lực hoàn thành, một người như vậy trong tiến trình hình thành lý tưởng ấy và vạch ra đường lối bổn phận ấy, sẽ nhận ra rằng điều ta gọi là bản chất thấp là một điều cần được chế ngự, cần được kiểm soát. Về điểm đó sẽ không hề có câu hỏi nào. Những đam mê và dục vọng của thể xác, những cảm xúc thấp thúc đẩy con người lao đi không suy xét và không tư duy, toàn bộ phía ấy của bản chất con người bị tác động từ bên ngoài khiến y hành động không cân nhắc, như người ta nói, không suy xét và không tư duy — người đàn ông có đức hạnh của chúng ta chắc chắn sẽ nói rằng điều đó phải được chế ngự và phải được giữ dưới sự kiểm soát. Y sẽ gọi đó là bản chất thấp, và y sẽ tìm cách đưa nó vào sự vâng phục đối với cái cao hơn. Nếu chúng ta xem xét cẩn thận lập trường của một người như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng điều chúng ta muốn nói trong cách nói thông thường về một người tự chủ là một người thực hành sự kiểm soát của thể trí đối với bản chất thấp, để thể trí kiểm soát các dục vọng; khi chúng ta nói “tự chủ” thì người ta nghĩ đến con người như là cái ngã đang kiểm soát. Hơn thế nữa; nếu nhìn y kỹ hơn một chút, chúng ta sẽ thấy rằng điều chúng ta gọi là ý chí mạnh, điều chúng ta gọi là tính cách đã được hình thành, một tính cách hành động theo những đường lối ứng xử xác định, một ý chí mà, trong những hoàn cảnh rất khó khăn, vẫn có thể hướng dẫn bản chất mà nó là một phần của nó theo một đường lối rõ ràng và xác định, chúng ta sẽ thấy rằng chúng ta muốn nói về một người như vậy rằng y là người trong đó thể trí đã được phát triển rất nhiều, đến mức khi y hành động và quyết định một hành động, y không bị hoàn cảnh bên ngoài quyết định trong hành động của mình, y không bị các sức hấp dẫn khác nhau có thể vây quanh y bên ngoài quyết định trong hành động của mình, y không bị phản ứng của bản chất thú vật đối với những sức hấp dẫn ấy quyết định; mà y được quyết định, chúng ta sẽ thấy, bởi một khối kinh nghiệm được ghi lại trong cái gọi là ký ức của y, sự nhớ lại các biến cố quá khứ, sự so sánh các kết quả phát sinh từ những biến cố ấy; thể trí đã làm việc trên tất cả những điều này, như thể, đã sắp xếp chúng và so sánh chúng với nhau, và đã rút ra từ đó một kết quả xác định bằng một nỗ lực trí thức và hợp lý. Kết quả này còn lại trong thể trí như một quy luật ứng xử, và khi con người ở trong những hoàn cảnh gây xáo trộn, những hoàn cảnh sẽ khuất phục điều gọi là ý chí yếu, những hoàn cảnh có lẽ sẽ dẫn lạc một người trung bình, thì thể trí mạnh hơn và phát triển hơn này — đã đặt ra một quy luật ứng xử mà nó đạt được trong một khoảnh khắc bình lặng, trong những lúc mà bản chất dục vọng không hoạt động mạnh, trong những lúc mà nó không bị bao quanh bởi cám dỗ — thể trí này hướng dẫn hành vi của nó theo quy luật ứng xử đã được xác định và đặt ra như vậy, và không cho phép mình bị lệch khỏi đường đi bởi các sức hấp dẫn hay các xung lực của khoảnh khắc. Khi làm việc với một người như vậy, bạn thường có thể dự đoán y sẽ làm gì; bạn biết các nguyên tắc làm nền cho hành vi của y; bạn biết những đường lối tư tưởng chi phối thể trí của y; và bạn khá chắc chắn — nhìn vào tính cách này, vốn xác định, đã hình thành và mạnh mẽ — bạn khá chắc chắn rằng dù cám dỗ bên ngoài có thể là gì, người ấy sẽ hoàn thành trong lúc tranh đấu lý tưởng mà y đã hình dung trong những lúc bình lặng và suy xét. Và khi nói về một người tự chủ, đó thường là điều chúng ta muốn nói; y là một người đã đạt đến giai đoạn phát triển này, mà các bạn sẽ thấy không hề là một giai đoạn thấp, trong đó y đã có chủ ý đặt mình vào công việc chinh phục, kiềm chế và quản trị bản chất thấp này, để khi nó bị kích thích mạnh nhất từ bên ngoài vào hành động, linh hồn có thể giữ vững trước sự tràn vào của cám dỗ, và con người hành động theo một tiêu chuẩn cao quý, bất kể những cám dỗ vây quanh y thúc đẩy y hành động hèn hạ, hay theo những cám dỗ của bản chất thấp. |
|
So far then we have taken what may well be called a virtuous man, this man of high character, of clear thought, of sound judgment, who is by no means driven hither and thither by circumstances, nor by impulses, as is the normal unregulated or ill-regulated nature. But there is another stage to which this man may come. He may come into contact with a great philosophy of life which explains to him something more of the workings of the mind; he may come, for instance, into contact with the great Theosophical teachings, whether as expounded .n ancient or modern books, whether he gains them from India, from Egypt, from Greece, or from modern Europe. And in that philosophy he may learn a new view of the Universe, and it may largely modify his own position. |
Cho đến đây, chúng ta đã xét một người có thể gọi là người có đức hạnh, một người có tính cách cao, tư tưởng rõ ràng, phán đoán vững vàng, không hề bị hoàn cảnh xô đẩy hết bên này sang bên khác, cũng không bị các xung lực, như bản chất bình thường không điều hòa hoặc điều hòa kém thường bị. Nhưng còn một giai đoạn khác mà người này có thể đạt tới. Y có thể tiếp xúc với một triết lý lớn về sự sống, giải thích cho y thêm đôi điều về sự vận hành của thể trí; chẳng hạn, y có thể tiếp xúc với những giáo huấn lớn của Thông Thiên Học, dù được trình bày trong các sách cổ hay hiện đại, dù y nhận được chúng từ Ấn Độ, từ Ai Cập, từ Hy Lạp, hay từ châu Âu hiện đại. Và trong triết lý ấy, y có thể học một quan điểm mới về Vũ Trụ, và điều đó có thể sửa đổi rất nhiều lập trường của chính y. |
|
Suppose that such a man should come into the Theosophical Society and should accept its main teachings, he will then begin to realise, far more than he did before he studied things from a Theosophical standpoint, the enormous influence of his thoughts. He will begin to understand that when his mind is working, it is exercising that creative power which will be so familiar probably to most of you; that the mind is actually making definite existences or entities, that in this creative action of the mind it is constantly sending out into the world around active entities that work for good or for evil, and that work often upon the minds and upon the lives of people with whom the creator of these entities does not come into personal contact. He will begin to understand that it is by no means necessary in this affecting of the minds of others that he should put his thought either into spoken or into written words. Nor is it necessary that his thought should show itself in action, so that his example may become potent for good or for evil. He realises that he may be an exceedingly obscure person as the world counts obscurity; that he may be quite out of sight of the public; that he may only influence an exceedingly small circle of his friends and relatives who come into personal contact with himself; but he will see that although he does not come into contact with people personally, although he does not reach them by written or spoken words, he has a power which transcends either the force of example or the forces of speech or of tongue, and that sitting alone and isolated from men, so far as the physical world is concerned, he may be exercising a force potent for good or for evil; he may be purifying or fouling the minds of his generation; he may be contributing to, helping, or hindering the progress of the world; he may be raising his race a little higher or depressing it a little lower and quite apart from everything that ordinary people recognise as the force of precept or of example, he may be influencing the mind of his time by these subtle energies of thought, by these active forms that go into the world of men, that work the more forcibly in that they are invisible, and exercise the wider influence just because they are so subtle that they are unrecognised by the masses whom they affect. |
Giả sử một người như vậy bước vào Hội Thông Thiên Học và chấp nhận các giáo huấn chính của hội, thì y sẽ bắt đầu chứng nghiệm, nhiều hơn trước rất nhiều so với khi y nghiên cứu sự vật từ một lập trường Thông Thiên Học, ảnh hưởng to lớn của các tư tưởng của y. Y sẽ bắt đầu thấu hiểu rằng khi thể trí của y đang hoạt động, nó đang thực thi quyền năng sáng tạo mà có lẽ phần lớn các bạn đều rất quen thuộc; rằng thể trí thực sự đang tạo ra những hiện hữu hay thực thể xác định, rằng trong hành động sáng tạo của thể trí này, nó không ngừng phóng ra vào thế giới xung quanh những thực thể năng động làm việc vì thiện hay vì ác, và thường tác động lên thể trí và đời sống của những người mà người tạo ra các thực thể ấy không hề tiếp xúc cá nhân. Y sẽ bắt đầu thấu hiểu rằng trong việc tác động lên thể trí của người khác, hoàn toàn không cần thiết là y phải đặt tư tưởng của mình vào lời nói hay chữ viết. Cũng không cần thiết là tư tưởng của y phải biểu lộ thành hành động, để tấm gương của y trở nên hữu hiệu cho thiện hay cho ác. Y chứng nghiệm rằng y có thể là một người cực kỳ vô danh theo cách thế gian đánh giá sự vô danh; rằng y có thể hoàn toàn khuất khỏi công chúng; rằng y có thể chỉ ảnh hưởng đến một vòng cực nhỏ bạn bè và thân quyến tiếp xúc cá nhân với chính y; nhưng y sẽ thấy rằng mặc dù y không tiếp xúc cá nhân với người khác, mặc dù y không chạm tới họ bằng lời nói hay chữ viết, y có một quyền năng vượt lên trên cả sức mạnh của tấm gương lẫn các lực của lời nói hay của lưỡi, và rằng ngồi một mình và tách biệt khỏi con người, xét theo thế giới hồng trần, y vẫn có thể đang vận dụng một mãnh lực hữu hiệu cho thiện hay cho ác; y có thể đang thanh lọc hoặc làm ô uế thể trí của thế hệ mình; y có thể đang đóng góp, trợ giúp, hoặc cản trở sự tiến bộ của thế giới; y có thể nâng nhân loại của mình lên cao hơn một chút hoặc kéo nó xuống thấp hơn một chút, và hoàn toàn tách khỏi mọi điều mà người thường nhận ra như sức mạnh của lời răn hay của tấm gương, y có thể đang ảnh hưởng đến thể trí của thời đại mình bằng những năng lượng tinh vi của tư tưởng, bằng những hình tướng năng động đi vào thế giới loài người, tác động càng mạnh hơn vì chúng vô hình, và gây ảnh hưởng rộng hơn chính vì chúng tinh vi đến mức không được quần chúng mà chúng tác động nhận ra. |
|
In this way, as he grows in his knowledge, thought will for him take on a new complexion, and he will realise how mighty is the responsibility of thought, that is, how great is the responsibility which is upon his own shoulders, simply as exercising these faculties of the mind. He will realise that his responsibility extends much farther than he can see; that he is responsible in a very real way often for the crimes that happen in the society to which he belongs, as well as for the deeds of heroism that may also happen in that society. He will grasp that great principle that it by no means follows that the man who does an act is wholly and solely responsible for the act which he performs; but that every act is a coming into manifestation, a veritable incarnation, of ideas, and that every one who takes part in the generation of the ideas takes part in the responsibility for the action. Understanding that, and taking this wider view of life, he would begin to be very careful about his thoughts, he would begin to realise that he must control his thoughts, and this goes beyond the view which was taken by our man of the world; further, as he understands that he must control his thoughts and is responsible for his thoughts, as he begins to realise that not only is he responsible for these thoughts, and therefore must have some choice as to the kind of thoughts that he generates, he also finds if he studies a little further that the kind of thoughts that he attracts to himself from the outer world will be very largely determined by the nature of the thoughts that he himself generates. So that he is not only a magnet sending out lines of thought-force over the area of his magnetic field, but he is also a magnet attracting towards himself the substances which answer to the magnetic force that he sends out; whether then his mind be full of good thoughts or of base thoughts will very largely depend upon the lines along which his own mental force is exercised, and he will begin to understand that in generating a good thought he is not only discharging his supreme duty to his fellows, but that – as ever happens when man is in harmony with the Divine Law – he himself is gaining by that which he gives; in each case in which he gives to the world a noble thought, he has set up in himself an attractive centre to which other noble thoughts will come of their own accord, drawn, as it were, by magnetic affinity, so that his own mind will be helped and strengthened by these thoughts that flow into it from without. He recognises also with pain and shame that when he sends out into the world a foul thought he has made in his own consciousness a similar centre, which will attract the baser thoughts in the atmosphere, and so increase his own tendencies towards evil as the others increase his tendencies towards good. And as he learns to understand this mental brotherhood which binds all men together, you will realise that he will change his mental attitude, that he will feel this responsibility of giving out and of taking in, that he will recognise these ties that stretch out in every direction from him and also stretch out from every direction towards him, that he in his daily life will begin to deal more with thought than he will with action, and to understand that in that region of the invisible there are generated all the forces which come down into the psychic and the physical life. |
Theo cách này, khi y tăng trưởng trong tri thức, tư tưởng đối với y sẽ mang một sắc thái mới, và y sẽ chứng nghiệm trách nhiệm của tư tưởng mạnh mẽ đến mức nào, tức là trách nhiệm đang đặt trên chính vai y lớn đến mức nào, chỉ vì y đang vận dụng những năng lực của thể trí này. Y sẽ chứng nghiệm rằng trách nhiệm của y vươn xa hơn nhiều so với điều y có thể thấy; rằng y thường chịu trách nhiệm theo một cách rất thực đối với những tội ác xảy ra trong xã hội mà y thuộc về, cũng như đối với những hành vi anh hùng cũng có thể xảy ra trong xã hội ấy. Y sẽ nắm bắt nguyên lý lớn ấy rằng hoàn toàn không phải cứ người thực hiện một hành động thì hoàn toàn và duy nhất chịu trách nhiệm về hành động mà y làm; mà mọi hành động là một sự đi vào biểu hiện, một sự nhập thể thực sự, của các ý niệm, và mọi người tham gia vào việc tạo sinh các ý niệm đều tham gia vào trách nhiệm đối với hành động. Thấu hiểu điều đó, và mang lấy quan điểm rộng hơn này về đời sống, y sẽ bắt đầu rất cẩn trọng về các tư tưởng của mình, y sẽ bắt đầu chứng nghiệm rằng y phải kiểm soát các tư tưởng của mình, và điều này vượt ra ngoài quan điểm của người đời; hơn nữa, khi y thấu hiểu rằng y phải kiểm soát tư tưởng và chịu trách nhiệm về tư tưởng, khi y bắt đầu chứng nghiệm rằng không những y chịu trách nhiệm về các tư tưởng ấy, và vì vậy phải có một sự lựa chọn nào đó về loại tư tưởng mà y tạo ra, y cũng sẽ thấy, nếu y nghiên cứu thêm một chút, rằng loại tư tưởng mà y thu hút về mình từ thế giới bên ngoài sẽ được quyết định rất nhiều bởi bản chất của những tư tưởng mà chính y tạo ra. Vì vậy y không chỉ là một nam châm phóng ra những đường lực tư tưởng trên phạm vi trường từ tính của mình, mà y còn là một nam châm hút về phía mình những chất liệu đáp ứng với mãnh lực từ tính mà y phóng ra; do đó, thể trí của y đầy các tư tưởng tốt hay các tư tưởng thấp hèn sẽ tùy thuộc rất nhiều vào những đường lối mà mãnh lực trí tuệ của chính y được vận dụng, và y sẽ bắt đầu thấu hiểu rằng khi tạo ra một tư tưởng tốt, y không chỉ đang hoàn thành bổn phận tối thượng đối với đồng loại, mà — như vẫn luôn xảy ra khi con người hòa hợp với Định luật thiêng liêng — chính y đang được lợi bởi điều y cho đi; trong mỗi trường hợp y trao cho thế giới một tư tưởng cao quý, y đã thiết lập trong chính mình một trung tâm hấp dẫn mà các tư tưởng cao quý khác sẽ tự động đến, như thể bị kéo bởi sự tương hợp từ tính, để thể trí của chính y được trợ giúp và tăng cường bởi những tư tưởng chảy vào nó từ bên ngoài. Y cũng nhận ra, với đau đớn và hổ thẹn, rằng khi y phóng ra vào thế giới một tư tưởng ô uế, y đã tạo trong tâm thức của mình một trung tâm tương tự, sẽ thu hút các tư tưởng thấp hèn trong bầu khí quyển, và như vậy gia tăng khuynh hướng hướng ác của chính y, cũng như các tư tưởng kia gia tăng khuynh hướng hướng thiện của y. Và khi y học cách thấu hiểu tình huynh đệ thể trí này vốn ràng buộc mọi người lại với nhau, các bạn sẽ nhận ra rằng y sẽ thay đổi thái độ trí tuệ của mình, rằng y sẽ cảm thấy trách nhiệm của việc phát ra và tiếp nhận, rằng y sẽ nhận ra những mối liên hệ vươn ra mọi hướng từ y và cũng vươn đến y từ mọi hướng, rằng trong đời sống hằng ngày y sẽ bắt đầu xử lý tư tưởng nhiều hơn hành động, và thấu hiểu rằng trong vùng vô hình ấy, mọi mãnh lực đi xuống đời sống thông linh và đời sống hồng trần đều được tạo sinh. |
|
But there is a step further when he comes within the Outer Court. He is now a candidate – as you will remember from what we said last week – he is now a candidate to enter on that steeper and shorter Path leading upwards, nay, he is on the probationary stage of that Path itself. Something more then will come to him than this recognition, that we have seen belongs to the man who is beginning to understand something of the nature of the life around him. And this candidate, who has stepped across the threshold of the Outer Court, finds that he recognises something that is behind the mind, something which is greater than the mind, something to which the mind bears a relation which has an analogy to the relation which is borne to the mind itself by the lower desire-nature; that just as in the course of growth a man recognises the mind above the desires, so when he has stepped across the threshold, and even before he takes that step – for it is the recognition of this fact which leads to the gateway and partly opens that gateway to him – he realises that this mind which seemed so great, this mind which seemed so mighty, which seemed to him in the days that lie but a little way behind to be the ruler of the world and its monarch, that mind of which it was said by a thinker that “there is nothing great in the Universe but man, and there is nothing great in man but mind,” that all this comes from a view that is taken from below with a sight that is blinded, and that when the sight begins to clear itself it is seen that there is something greater in this Universe than this mind which seemed to be the greatest thing in man – something which is sublimer, something which is vaster, something which only shines out for a moment, and then again is veiled. He recognises dimly, poorly, not yet by knowledge but by hearsay, that he has caught a glimpse of the Soul, that to him a ray of light has come downwards into the mind from something that is above it, and yet that he dimly seems to feel in some strange sense is itself, is identical with it. So that at first there will be a confusion and a groping in the darkness, between this which seems to be himself although he had thought he himself was mind, and yet which seems so much greater than the mind. So that it seems to be himself, and yet greater than he, and he knows not at first whence this gleam may come, and whether the hope that it raised in him is a dream and nothing more. |
Nhưng còn một bước nữa khi y bước vào Ngoại Viện. Giờ đây y là một ứng viên — như các bạn còn nhớ từ điều chúng ta nói tuần trước — giờ đây y là một ứng viên để bước vào Con Đường dốc hơn và ngắn hơn dẫn lên trên, đúng hơn, y đang ở giai đoạn dự bị của chính Con Đường ấy. Khi đó, sẽ đến với y nhiều hơn sự nhận biết mà chúng ta đã thấy thuộc về người đang bắt đầu thấu hiểu đôi điều về bản chất của đời sống quanh mình. Và ứng viên này, người đã bước qua ngưỡng của Ngoại Viện, thấy rằng y nhận ra có một điều ở phía sau thể trí, một điều lớn hơn thể trí, một điều mà thể trí có một mối liên hệ tương tự như mối liên hệ mà bản chất dục vọng thấp có đối với chính thể trí; rằng cũng như trong tiến trình tăng trưởng con người nhận ra thể trí ở trên các dục vọng, thì khi y đã bước qua ngưỡng, và ngay cả trước khi y bước qua — vì chính sự nhận biết sự kiện này dẫn y đến cổng vào và phần nào mở cổng ấy cho y — y chứng nghiệm rằng thể trí này vốn dường như vĩ đại đến thế, thể trí này vốn dường như hùng mạnh đến thế, vốn dường như đối với y trong những ngày chỉ mới lùi lại không xa là kẻ cai trị thế giới và là quân vương của nó, thể trí mà một nhà tư tưởng đã nói rằng: “trong Vũ Trụ không có gì vĩ đại ngoài con người, và trong con người không có gì vĩ đại ngoài thể trí,” rằng tất cả điều đó xuất phát từ một quan điểm nhìn từ bên dưới với thị lực bị che mù, và rằng khi thị lực bắt đầu tự làm trong sáng, người ta thấy rằng trong Vũ Trụ này có một điều lớn hơn thể trí vốn từng dường như là điều lớn nhất trong con người — một điều cao siêu hơn, một điều bao la hơn, một điều chỉ lóe sáng trong chốc lát, rồi lại bị che phủ. Y nhận ra một cách mơ hồ, yếu ớt, chưa phải bằng tri thức mà bằng nghe nói, rằng y đã thoáng thấy linh hồn, rằng đối với y một tia sáng đã đi xuống vào thể trí từ một điều ở phía trên nó, và tuy vậy y mơ hồ dường như cảm thấy theo một nghĩa kỳ lạ rằng điều ấy chính là mình, đồng nhất với mình. Vì vậy lúc đầu sẽ có sự lẫn lộn và dò dẫm trong bóng tối, giữa điều dường như là chính mình mặc dù y đã nghĩ mình là thể trí, và tuy vậy lại dường như lớn hơn thể trí rất nhiều. Vì vậy nó dường như là chính mình, và tuy vậy lại lớn hơn y, và lúc đầu y không biết tia lóe ấy đến từ đâu, và liệu niềm hy vọng mà nó khơi dậy trong y chỉ là một giấc mơ và không hơn gì nữa hay không. |
|
But before we can deal with the facts clearly at all, we must try to see what we mean by these words “Mind” and “Soul,” what we mean when we speak of “Consciousness”; for these words, if we are to understand, must not for us be counters to play with, but real coins that represent something that we have of mental wealth, of ideas. So let us take these words for a moment and see what is meant by them, or at least what I will mean by them in using them, so that what I say will be clear, whether you agree with the definitions or not. I define the Soul as that which individualises the Universal Spirit, which focuses the Universal Light into a single point; which is, as it were, a receptacle into which is poured the Spirit; so that that which in Itself is universal, poured into this receptacle appears as separate, identical in its essence always but separated now in its manifestation; the purpose of this separation being that an individual may develop and grow; that there may be an individualised life potent on every plane in the Universe; that it may know on the physical and on the psychical planes as it knows on the spiritual, and have no break in consciousness of any kind; that it may make for itself the vehicles that it needs for acquiring consciousness beyond its own plane, and then may gradually purify them one by one until they no longer act as blinds or as hindrances, but as pure and translucent media through which all knowledge on every plane may come. But in using the word or image “ receptacle “ I may mislead you; and here is the difficulty with all expressions fitted for intellectual thinking; that if one takes an image which on one point is applicable we find it on another misleading. For this process of individualisatior is by no means the making of a receptacle and the pouring of something into it, so that at once that which is poured into it takes definite outline and shape, moulded into the shape of the vessel. What happens is more analogous to the way in which some great system, some Solar System say, is formed; if you throw your imagination backwards in time, you might imagine space in which nothing is visible; and you might then imagine that in that space – where there seemed to be emptiness, but where there is really all fulness, only fulness invisible to the eye – that in that space there comes a slight mist, too delicate almost to be called a mist at all, and yet that is the nearest word that would explain this beginning of aggregation; and then as you watch it, the mist grows denser and denser, and denser and denser as the time goes on, aggregating more and more closely together and becoming more separated from the space around it; till that which seemed but the faintest of shadows begins to take to itself a shape, becoming more and more definite as it proceeds, until if you were watching this building of the worlds, you would see the nebula become denser and denser, and separating itself off more definitely in space, until a system was formed with a central sun and planets all around it. And so it seems, however blunderingly put, is this coming of Spirit into individualisation; it is like the faint appearance of a shadow in the universal void which is the fullest of all fulnesses, and then this shadow becomes a mist, and then it takes to itself clearer and clearer form, becoming more and more definite as evolution proceeds, until there is an individual, a Soul, where at first there was only the faintest shadow of a growing mist: such is the process (in picture) of this forming of the individual consciousness. And if you can take that thought of it for the moment, you will perchance realise how it is that the Soul is formed in the long course of evolution, and that this Soul is not a thing complete at first, plunging down like a diver into the ocean of matter, but is slowly, slowly builded, or densified, if I may still use the image, until out of the Universal it becomes the individual, and an individual that is ever growing as its evolution proceeds. That Soul lasts, as we know, from life to life through endless years, through countless centuries. It is the growing individual, and its consciousness is the consciousness of all that lies behind it in the process of its growth. The Soul is that entity, growing mighty to-day in some of the Sons of Men; it has behind it a storied past ever present to this consciousness which has grown so wide during its treading of the long path over which it has travelled; it has this vast consciousness, taking all its lives into itself and realising all its past. And then as each new birth comes, and new experience has to be gathered, this Soul which has been growing through the ages casts out into new vestures a part of itself, to gather for it new experience; and this part of itself which is flowing outwards on to the lower planes that there it may increase the knowledge out of which the Soul is to grow still greater, this part of itself flowing outwards is what we call the Mind in man; it is the part of the Soul that is working in the brain, confined in the brain, sorely fettered by the brain, with what is literally the burden of the flesh upon it, making its consciousness dimmer, for it cannot pierce through this thicker veil of matter; all that greatness that we know as the Mind is only this struggling part of the Soul, working in this brain for purposes of the Soul’s growth. And as it works in it, it shows out the powers of the Soul, for it is the Soul itself, although clothed in this limitation of matter, and as much of the Soul as can manifest through that brain is the mind of the person that we know, and sometimes much will manifest and sometimes little, according to the state of evolution which has been reached. But what the man in the Outer Court understands is that it is this Soul which is himself, and that the mind is only its passing manifestation. And then he begins to understand that just as the body and the desire-nature are to be subject to the mind, which is part of the Soul in prison, so that mind itself is to be subject to the great Soul of which it is only the projected representative of the moment; that it is only an instrument, only an organ of the Soul, manifested for the sake of the work it performs, and for that which it has to gather and to draw back into the Soul, which is itself. “ |
Nhưng trước khi chúng ta có thể bàn rõ ràng về các sự kiện, chúng ta phải cố gắng xem chúng ta muốn nói gì bằng những từ “thể trí” và “linh hồn,” chúng ta muốn nói gì khi nói về “tâm thức”; vì những từ này, nếu chúng ta muốn thấu hiểu, không được là những quân cờ để chơi, mà phải là những đồng tiền thật đại diện cho một điều gì đó mà chúng ta có như của cải trí tuệ, như các ý niệm. Vậy hãy tạm lấy những từ này và xem chúng có nghĩa gì, hoặc ít nhất là tôi sẽ dùng chúng theo nghĩa gì, để điều tôi nói được rõ ràng, dù các bạn có đồng ý với các định nghĩa hay không. Tôi định nghĩa linh hồn là điều biệt ngã hóa Tinh thần Vũ Trụ, điều tập trung Ánh Sáng Vũ Trụ vào một điểm đơn nhất; điều mà, như thể, là một vật chứa để Tinh thần được rót vào; để điều vốn tự nó là phổ quát, khi được rót vào vật chứa này thì hiện ra như riêng biệt, luôn đồng nhất về bản chất nhưng nay tách biệt trong biểu hiện; mục đích của sự tách biệt này là để một cá nhân có thể phát triển và tăng trưởng; để có một sự sống đã được biệt ngã hóa, hữu lực trên mọi cõi trong Vũ Trụ; để nó có thể biết trên các cõi hồng trần và thông linh như nó biết trên cõi tinh thần, và không có bất kỳ sự đứt đoạn nào trong tâm thức; để nó có thể tự tạo cho mình những vận cụ mà nó cần để đạt được tâm thức vượt ra ngoài cõi của chính nó, rồi dần dần thanh lọc chúng từng cái một cho đến khi chúng không còn hoạt động như những tấm màn che hay như những chướng ngại, mà như những môi giới tinh khiết và trong suốt, qua đó mọi tri thức trên mọi cõi có thể đến. Nhưng khi dùng từ hay hình ảnh “vật chứa” tôi có thể làm các bạn hiểu lầm; và đây là khó khăn với mọi cách diễn đạt phù hợp cho tư duy trí thức; rằng nếu người ta lấy một hình ảnh đúng ở một điểm, thì ở điểm khác nó lại gây hiểu lầm. Vì tiến trình biệt ngã hóa này hoàn toàn không phải là tạo ra một vật chứa và rót một cái gì đó vào nó, để ngay lập tức điều được rót vào có đường nét và hình dạng xác định, bị khuôn theo hình dạng của chiếc bình. Điều xảy ra tương tự hơn với cách một hệ thống lớn, chẳng hạn một hệ mặt trời, được hình thành; nếu bạn phóng trí tưởng tượng ngược về thời gian, bạn có thể hình dung không gian nơi không có gì thấy được; và rồi bạn có thể hình dung rằng trong không gian ấy — nơi dường như trống rỗng, nhưng thực ra là đầy tràn, chỉ là đầy tràn vô hình đối với mắt — trong không gian ấy xuất hiện một làn sương nhẹ, mỏng manh đến mức gần như không thể gọi là sương, và tuy vậy đó là từ gần nhất có thể giải thích sự khởi đầu của sự kết tụ; và rồi khi bạn quan sát, làn sương trở nên đậm hơn và đậm hơn, và đậm hơn và đậm hơn theo thời gian, kết tụ ngày càng chặt chẽ hơn và trở nên tách biệt hơn khỏi không gian xung quanh; cho đến khi điều dường như chỉ là bóng mờ nhạt nhất bắt đầu tự nhận lấy một hình dạng, ngày càng xác định hơn khi tiến trình tiếp diễn, cho đến khi nếu bạn đang quan sát sự kiến tạo các thế giới, bạn sẽ thấy tinh vân trở nên đậm hơn và đậm hơn, và tách ra rõ ràng hơn trong không gian, cho đến khi một hệ thống được hình thành với một mặt trời trung tâm và các hành tinh xung quanh nó. Và như vậy dường như, dù diễn đạt vụng về, là sự đi vào biệt ngã hóa của Tinh thần; nó giống như sự xuất hiện mờ nhạt của một bóng tối trong khoảng không phổ quát vốn là sự đầy tràn nhất của mọi sự đầy tràn, rồi bóng tối ấy trở thành một làn sương, rồi nó tự nhận lấy hình tướng ngày càng rõ ràng hơn, trở nên ngày càng xác định khi tiến hoá tiếp diễn, cho đến khi có một cá nhân, một linh hồn, nơi ban đầu chỉ có bóng mờ nhạt nhất của một làn sương đang tăng trưởng: đó là tiến trình (trong hình ảnh) của sự hình thành tâm thức cá nhân. Và nếu các bạn có thể tạm nắm lấy ý tưởng ấy, có lẽ các bạn sẽ chứng nghiệm được linh hồn được hình thành như thế nào trong tiến trình tiến hoá lâu dài, và rằng linh hồn này không phải là một điều hoàn chỉnh ngay từ đầu, lao xuống như một thợ lặn vào đại dương vật chất, mà được kiến tạo chậm rãi, chậm rãi, hay trở nên đậm đặc, nếu tôi vẫn được phép dùng hình ảnh ấy, cho đến khi từ cái phổ quát nó trở thành cái cá biệt, và một cá biệt luôn tăng trưởng khi tiến hoá tiếp diễn. Linh hồn ấy tồn tại, như chúng ta biết, từ kiếp này sang kiếp khác qua những năm tháng vô tận, qua vô số thế kỷ. Nó là cá nhân đang tăng trưởng, và tâm thức của nó là tâm thức của tất cả những gì nằm phía sau nó trong tiến trình tăng trưởng. Linh hồn là thực thể ấy, hôm nay đang trở nên hùng mạnh trong một số những người con của nhân loại; nó có phía sau một quá khứ đầy câu chuyện luôn hiện diện đối với tâm thức đã trở nên rộng lớn như vậy trong khi bước trên con đường dài mà nó đã đi qua; nó có tâm thức bao la này, thu nhận mọi kiếp sống vào chính nó và chứng nghiệm toàn bộ quá khứ của mình. Và rồi khi mỗi lần sinh mới đến, và kinh nghiệm mới phải được thu thập, linh hồn đã tăng trưởng qua các thời đại này phóng ra vào những lớp áo mới một phần của chính nó, để thu thập cho nó kinh nghiệm mới; và phần của chính nó đang tuôn chảy ra ngoài xuống các cõi thấp để ở đó gia tăng tri thức mà từ đó linh hồn sẽ tăng trưởng lớn hơn nữa, phần của chính nó đang tuôn chảy ra ngoài ấy chính là điều chúng ta gọi là thể trí trong con người; đó là phần của linh hồn đang làm việc trong bộ não, bị giam trong bộ não, bị bộ não trói buộc đau đớn, với điều đúng nghĩa là gánh nặng của xác thịt đè lên nó, làm cho tâm thức của nó mờ đi, vì nó không thể xuyên qua tấm màn vật chất dày hơn này; toàn bộ sự vĩ đại mà chúng ta biết như thể trí chỉ là phần đang vật lộn của linh hồn, làm việc trong bộ não này vì mục đích tăng trưởng của linh hồn. Và khi nó làm việc trong đó, nó biểu lộ các quyền năng của linh hồn, vì nó chính là linh hồn, dù được khoác trong sự hạn chế của vật chất, và phần linh hồn có thể biểu lộ qua bộ não ấy chính là thể trí của người mà chúng ta biết, và đôi khi biểu lộ nhiều và đôi khi ít, tùy theo trạng thái tiến hoá đã đạt được. Nhưng điều người trong Ngoại Viện thấu hiểu là chính linh hồn này là mình, và thể trí chỉ là biểu hiện thoáng qua của nó. Và rồi y bắt đầu thấu hiểu rằng cũng như thể xác và bản chất dục vọng phải phục tùng thể trí, vốn là phần linh hồn trong ngục tù, thì chính thể trí ấy cũng phải phục tùng linh hồn vĩ đại mà nó chỉ là đại diện được phóng chiếu trong khoảnh khắc; rằng nó chỉ là một công cụ, chỉ là một cơ quan của linh hồn, được biểu lộ vì công việc nó thực hiện, và vì điều nó phải thu thập và rút về lại linh hồn, vốn chính là nó.” |
|
Realising that then, what will be the position of our candidate? The mind learns; as this mind comes into contact with the outer world, it gathers together facts, it arranges them, it tabulates them, it forms its judgments on them, and carries on all the rest of its intellectual processes; the result of this activity passes upwards, passes along this expansion of the Soul upwards into the Soul itself – or rather inwards; it is this which the Soul takes with it into Devachan, and there works upon it all to change it into wisdom. For wisdom is very different from learning. Learning is all that mass of facts, and of judgments on the facts, and of conclusions drawn therefrom; wisdom is the extracted essence of the whole, that which the Soul has gathered out of all these experiences, and it is, as you are aware, its work in Devachan to turn these experiences into wisdom. But our candidate, who knows all this, will realise that it is this Soul which is ”I”; the Soul which has come through all these past lives and has been building itself in the coming, that is the “I” that is himself, so far as he yet can see. And then he begins to understand why it is said that at the very outset he has to distinguish between the “I” that endures and this mind which is only a passing manifestation of the “I”, Mind is the Soul’s manifestation in the world of matter, it is manifested there in order that it may work for the purposes of the Soul; and then he may begin to realise why it is that when the pupil sends out to the Master his first cry for teaching, when having found his way into the Outer Court, he cries: “O Teacher, what shall I do to reach to wisdom? O Wise One, what, to gain perfection?” – those words that sound strange at first come from the lips of the Wise One: “Search for the Paths. But, O Lanoo, be of clean heart before thou startest on thy journey. Before thou takest thy first step, Team to discern the real from the false, the ever-fleeting from the everlasting.”2 And then the Teacher goes on to explain the difference between learning and wisdom – what is ignorance, what is knowledge, and what is the wisdom that succeeds them both. And the distinction is drawn between the mind – the mind that is “like a mirror; it gathers dust while it reflects”; the mind that needs the “breezes of Soul-wisdom to brush away the dust of our illusions”. And on those words the candidate, if he be wise, reflects. What is this difference between the real and the fleeting, and why is it connected with the manifestation of the mind? What is this difference between the mirror that reflects and the Soul that needs to dust the mirror if illusion is to be gotten rid of? For what part can it be which this mind plays, which seems so mighty a function in man that it stood as the man himself in the lower world? What is its function after all if the first step upon the Path is to distinguish what is illusory from what is real, and the mind in some subtle fashion is connected with the making of the illusion? And there are other words which he remembers he has heard as coming also from the lips of these Masters of Wisdom. He remembers a strange word that came which spoke of the Rajah of the senses, ruler and king of the lower nature, but no friend of the disciple; he remembers that – in those very words where this Rajah of the senses is spoken of, at the outset of the teaching – he remembers that he was bidden to seek out that Rajah of the senses so as to understand him, for he is “the Thought-Producer, he who awakes illusion ”; and the disciple is told that the “ mind is the great slayer of the Real. Let the disciple slay the slayer.”3 Here then we seem to be on the track of some thought that will be illuminative to the candidate who is to seek out the Rajah of the senses; that Rajah, or king, of the senses is the thought-producer, and he who produces thought is he who awakes illusion, it is he who slays the Real. For in the Spirit-World there is Reality; as the process of differentiation proceeds, illusion is produced, and it is this mind, this growing mind, that makes the illusion. It is this growing mind that has endless images and pictures, that has the image-making faculty which we speak of as imagination, that has the reasoning faculty which builds on the airy picture that it has made – it is this which is the real creator of illusion, it is this which slays the Real, so far as the disciple is concerned, and his first work as disciple will be to slay the slayer. For unless he can get rid of this illusive power of the mind, he will never be able to penetrate beyond the Outer Court. And then listening still to the Teacher, he hears a voice which bids him seek to blend his Mind and Soul. His work then will be to make some change in this lower mind which shall make it capable of blending with the higher, some destruction of its illusory power which shall enable it to know its own parent from whom it comes, that the Father and the Son may once more become one. |
Chứng nghiệm điều đó rồi, vị thế của ứng viên của chúng ta sẽ là gì? Thể trí học hỏi; khi thể trí này tiếp xúc với thế giới bên ngoài, nó thu thập các sự kiện, nó sắp xếp chúng, nó lập bảng chúng, nó hình thành các phán đoán về chúng, và tiến hành tất cả những tiến trình trí thức còn lại; kết quả của hoạt động này đi lên, đi theo sự mở rộng của linh hồn hướng lên vào chính linh hồn — hay đúng hơn là hướng vào trong; chính điều này mà linh hồn mang theo vào Devachan, và ở đó làm việc trên toàn bộ để biến nó thành minh triết. Vì minh triết rất khác với học thức. Học thức là toàn bộ khối sự kiện, và các phán đoán về các sự kiện, và các kết luận rút ra từ đó; minh triết là tinh chất được chiết xuất của toàn bộ, là điều mà linh hồn đã thu thập từ tất cả những kinh nghiệm ấy, và như các bạn biết, công việc của nó trong Devachan là biến những kinh nghiệm ấy thành minh triết. Nhưng ứng viên của chúng ta, người biết tất cả điều này, sẽ chứng nghiệm rằng chính linh hồn này là “Tôi”; linh hồn đã đi qua tất cả những kiếp sống quá khứ ấy và đã tự kiến tạo trong tiến trình đi đến, đó là “Tôi” là chính y, trong mức độ y còn có thể thấy. Và rồi y bắt đầu thấu hiểu vì sao người ta nói rằng ngay từ lúc khởi đầu y phải phân biệt giữa “Tôi” trường tồn và thể trí này chỉ là biểu hiện thoáng qua của “Tôi”; thể trí là sự biểu lộ của linh hồn trong thế giới vật chất, nó được biểu lộ ở đó để làm việc cho các mục đích của linh hồn; và rồi y có thể bắt đầu chứng nghiệm vì sao khi người môn sinh gửi đến Chân sư tiếng kêu đầu tiên xin dạy dỗ, khi đã tìm được đường vào Ngoại Viện, y kêu lên: “Ôi Huấn sư, con phải làm gì để đạt đến minh triết? Ôi Đấng Minh Triết, làm gì để đạt sự hoàn thiện?” — những lời nghe lạ lúc đầu ấy lại thốt ra từ môi Đấng Minh Triết: “Hãy tìm các Con Đường. Nhưng, hỡi Lanoo, hãy có trái tim thanh sạch trước khi con bắt đầu cuộc hành trình. Trước khi con bước bước đầu tiên, hãy học cách phân biện cái thật với cái giả, cái luôn trôi qua với cái vĩnh hằng.” Và rồi Huấn sư tiếp tục giải thích sự khác biệt giữa học thức và minh triết — vô minh là gì, tri thức là gì, và minh triết vượt lên cả hai là gì. Và sự phân biệt được vạch ra giữa thể trí — thể trí “như một tấm gương; nó bám bụi trong khi phản chiếu”; thể trí cần “những làn gió của minh triết linh hồn để phủi đi bụi của các ảo tưởng của chúng ta”. Và trước những lời ấy, ứng viên, nếu y khôn ngoan, sẽ suy ngẫm. Sự khác biệt này giữa cái thật và cái thoáng qua là gì, và vì sao nó liên quan đến sự biểu lộ của thể trí? Sự khác biệt này giữa tấm gương phản chiếu và linh hồn cần phủi bụi tấm gương nếu muốn loại bỏ ảo tưởng là gì? Vậy vai trò nào có thể là của thể trí này, vốn dường như là một chức năng hùng mạnh trong con người đến mức ở thế giới thấp nó đứng như chính con người? Rốt cuộc chức năng của nó là gì nếu bước đầu trên Con Đường Đệ Tử là phân biệt điều gì là ảo tưởng với điều gì là thật, và thể trí theo một cách tinh vi nào đó có liên hệ với việc tạo ra ảo tưởng? Và còn có những lời khác mà y nhớ đã nghe như cũng đến từ môi các Chân sư Minh Triết. Y nhớ một từ lạ đã đến, nói về Rajah của các giác quan, kẻ cai trị và vua của bản chất thấp, nhưng không phải bạn của đệ tử; y nhớ rằng — ngay trong những lời nói về Rajah của các giác quan ấy, ở phần mở đầu của giáo huấn — y được dạy phải tìm ra Rajah của các giác quan để thấu hiểu y, vì y là “kẻ tạo ra tư tưởng, kẻ đánh thức ảo tưởng”; và đệ tử được bảo rằng “thể trí là kẻ sát hại vĩ đại của Cái Thật. Hãy để đệ tử giết kẻ sát hại.” Ở đây, dường như chúng ta đang lần theo một tư tưởng có thể soi sáng cho ứng viên phải tìm ra Rajah của các giác quan; Rajah ấy, hay vua của các giác quan, là kẻ tạo ra tư tưởng, và kẻ tạo ra tư tưởng là kẻ đánh thức ảo tưởng, chính y là kẻ sát hại Cái Thật. Vì trong Thế giới Tinh thần có Thực Tại; khi tiến trình biến phân tiếp diễn, ảo tưởng được tạo ra, và chính thể trí này, thể trí đang tăng trưởng này, tạo ra ảo tưởng. Chính thể trí đang tăng trưởng này có vô tận hình ảnh và bức tranh, có năng lực tạo ảnh mà chúng ta gọi là sự tưởng tượng, có năng lực lý luận xây dựng trên bức tranh mong manh mà nó đã tạo — chính điều này là kẻ tạo ra ảo tưởng thực sự, chính điều này sát hại Cái Thật, xét theo đệ tử, và công việc đầu tiên của y như một đệ tử sẽ là giết kẻ sát hại. Vì nếu y không thể loại bỏ quyền năng ảo tưởng của thể trí, y sẽ không bao giờ có thể xuyên qua Ngoại Viện. Và rồi, vẫn lắng nghe Huấn sư, y nghe một tiếng nói bảo y hãy tìm cách dung hợp thể trí và linh hồn. Khi đó công việc của y sẽ là tạo ra một sự thay đổi nào đó trong hạ trí để làm cho nó có khả năng dung hợp với cái cao hơn, một sự phá hủy quyền năng ảo tưởng của nó để khiến nó có thể nhận biết chính phụ mẫu của mình là nơi nó đến từ đó, để Cha và Con một lần nữa trở thành một. |
|
And then he hears a teaching which in mystic language says to him that he must destroy the lunar body, that he must cleanse the mind-body;4 and studying that, and striving to understand what it means, he learns from many an allegory and from many a symbol, now becoming familiar to him in his lessons, he learns that what is called the lunar body is that body which belongs to Kama or Desire, that which is spoken of as the astral man; and he learns that that is to be destroyed, and that the mind-body is to be cleansed. “ Cleanse thy mind-body,” the Teacher tells him, for only by cleansing away the dust of illusion will it be possible for that mind-body to re enter itself, will it be possible for it to be blended with its Soul. And now he begins to understand the work that lies before him in the Outer Court with regard to this mind. He begins to realise that he himself, this living Soul that has been climbing through the centuries, has been putting out this force of itself in order to create an instrument for its own use, a servant which is to be controlled; that instead of the mind being master, the mind is to be an obedient slave, instrument in the hand that holds it, servant to him who sent it forth; and as that grows upon him, the nature of his task unfolds itself before him and he begins to train his mind. And in seeking to do this at first he will have to begin with very simple matters; he will find that this mind is always running about from one thing to another, hard to control and difficult to curb, as Arjuna found it five thousand years ago, restless and uneasy, turbulent and difficult to restrain; and he will begin at first by training it, as you would train a steed that you are breaking in for your riding, to go definitely along the road that you choose, not leaping over hedge and ditch, and racing across country in every direction, but going along the road that is chosen by the rider, along that and along no other. And so this candidate of ours in his daily life – for he has to work out all this in the life of the world – will gradually, as he works, train his mind in thinking consecutively and thinking definitely, and he will not permit himself to be led astray by all the manifold temptations around him, to the scattering of thought in every direction. He will refuse to scatter thought; he will insist that it shall pursue a definite path; he will decline to take all his knowledge in scraps, as though he had no power of following a sustained argument; he will put aside the endless temptations that surround him in this superficial age and time; he will read by choice and by deliberate motive – for it is here that the thought of the candidate is trained – he will read with deliberate motive sustained arguments, long lines of argument which train the mind in going along one definite line for a considerable period, and he will not permit it to leap from one thing to another rapidly, thus intensifying the restlessness which is an obstacle in his path, and which will block his way utterly until it is overcome. |
Và rồi y nghe một giáo huấn, bằng ngôn ngữ thần bí, nói với y rằng y phải phá hủy thể thái âm, rằng y phải thanh tẩy thể trí; và khi nghiên cứu điều đó, và cố gắng thấu hiểu nó có nghĩa gì, y học từ nhiều ngụ ngôn và nhiều biểu tượng, nay trở nên quen thuộc với y trong các bài học, y học rằng điều được gọi là thể thái âm là thể thuộc về kama hay dục vọng, điều được nói đến như con người cảm dục; và y học rằng điều đó phải bị phá hủy, và thể trí phải được thanh tẩy. “Hãy thanh tẩy thể trí của con,” Huấn sư bảo y, vì chỉ bằng cách gột sạch bụi của ảo tưởng thì mới có thể để thể trí ấy trở về với chính nó, mới có thể để nó được dung hợp với linh hồn của nó. Và giờ đây y bắt đầu thấu hiểu công việc trước mặt y trong Ngoại Viện liên quan đến thể trí này. Y bắt đầu chứng nghiệm rằng chính y, linh hồn sống động đã leo lên qua các thế kỷ, đã phóng ra mãnh lực này của chính mình để tạo ra một công cụ cho việc sử dụng của mình, một người phục vụ phải được kiểm soát; rằng thay vì thể trí là chủ, thể trí phải là một nô bộc vâng lời, một công cụ trong tay kẻ nắm giữ nó, một người phục vụ của kẻ đã phóng nó ra; và khi điều đó thấm vào y, bản chất của nhiệm vụ của y mở ra trước y và y bắt đầu rèn luyện thể trí của mình. Và khi tìm cách làm điều này lúc đầu, y sẽ phải bắt đầu với những việc rất đơn giản; y sẽ thấy thể trí này luôn chạy nhảy từ việc này sang việc khác, khó kiểm soát và khó kiềm chế, như Arjuna đã thấy năm nghìn năm trước, bồn chồn và bất an, hỗn loạn và khó kìm giữ; và lúc đầu y sẽ bắt đầu rèn luyện nó, như bạn rèn một con ngựa bạn đang thuần để cưỡi, để nó đi một cách xác định theo con đường bạn chọn, không nhảy qua hàng rào và mương rãnh, không phóng băng đồng theo mọi hướng, mà đi theo con đường người cưỡi đã chọn, theo con đường ấy và không theo con đường nào khác. Và như vậy, ứng viên của chúng ta trong đời sống hằng ngày — vì y phải thực hiện tất cả điều này trong đời sống thế gian — sẽ dần dần, khi y làm việc, rèn luyện thể trí của mình trong việc suy nghĩ liên tục và suy nghĩ xác định, và y sẽ không cho phép mình bị dẫn lạc bởi mọi cám dỗ muôn hình quanh y, khiến tư tưởng tản mác về mọi hướng. Y sẽ từ chối tản mác tư tưởng; y sẽ đòi hỏi tư tưởng phải theo đuổi một con đường xác định; y sẽ từ chối tiếp nhận toàn bộ tri thức của mình bằng những mảnh vụn, như thể y không có năng lực theo dõi một lập luận bền bỉ; y sẽ gạt sang một bên những cám dỗ vô tận vây quanh y trong thời đại và thời gian hời hợt này; y sẽ đọc theo sự lựa chọn và theo động cơ có chủ ý — vì chính ở đây tư tưởng của ứng viên được rèn luyện — y sẽ đọc với động cơ có chủ ý những lập luận bền bỉ, những chuỗi lập luận dài rèn luyện thể trí đi theo một đường lối xác định trong một thời gian đáng kể, và y sẽ không cho phép nó nhảy nhanh từ việc này sang việc khác, như vậy làm tăng sự bồn chồn vốn là một chướng ngại trên đường y, và sẽ chặn đứng đường y hoàn toàn cho đến khi nó được vượt qua. |
|
And thus daily, and month by month, and year by year, he will work at his mind, training it in these consecutive habits of thought, and he will learn to choose that of which he thinks; he will no longer allow thoughts to come and go; he will no longer permit a thought to grip him and hold him; he will no longer let a thought come into the mind and fix itself there and decline to be evicted; he will be master within his own house. He may have troubles in his daily life; it matters not; they will help him in this training of the mind. And when these troubles are very pressing, when these anxieties are very trying, when he finds himself inclined to look forwards and to worry over the troubles that are coming to him a few days, or a few weeks, or a few months hence, he will say: “No; no such anxiety shall remain within my mind; no such thought shall have shelter within my mind; within this mind nothing stays that is not there by my choice and my invitation, and that which comes uninvited shall be turned outside the limits of my mind “. People lie awake at night, filled with anxious thoughts, people are half killing themselves not by their troubles, but by the worries that those troubles cause within the mind; all that kind of thing will be put an end to by the candidate, for he will refuse to permit any action which is not by his own consent, and he will shut and lock the doors of the mind against all these thoughts that press in thither uninvited; this will be a definite training, a difficult and a long training, for the thoughts break in and he has to turn them out. And over and over and over again he must do it, and there is no way in which it can be done save by taking such a thought, whenever it comes in, and as often as it comes in, and deliberately declining to give it harbourage. You will say, “How? “ Probably at first most easily by giving the mind something else to think about; later on by simply refusing to admit it. But until the candidate has grown strong enough thus to shut and lock the doors of his mind and remain therein undisturbed, he may do wisely to substitute one thought for another, and always to substitute some high thought which deals with the permanent for the thought he wants to get rid of, which deals with the transitory. For then it will serve the double purpose, not only of getting rid of the transitory thought, but also of habituating the mind to rest in the eternal, and to gain that sense of proportion, that sense that the present is passing, and therefore is not worth troubling about; on the side of the permanent, it will strengthen that dwelling of the mind in the eternal, which is the secret of all peace in this world, or in any other. |
Và như vậy hằng ngày, và tháng này qua tháng khác, và năm này qua năm khác, y sẽ làm việc với thể trí của mình, rèn luyện nó trong những thói quen tư tưởng liên tục này, và y sẽ học cách chọn điều mình nghĩ; y sẽ không còn để tư tưởng đến rồi đi; y sẽ không còn cho phép một tư tưởng nắm lấy y và giữ y; y sẽ không còn để một tư tưởng đi vào thể trí và bám chặt ở đó rồi từ chối bị trục xuất; y sẽ là chủ trong chính ngôi nhà của mình. Y có thể có những rắc rối trong đời sống hằng ngày; không sao cả; chúng sẽ giúp y trong sự rèn luyện thể trí này. Và khi những rắc rối ấy rất cấp bách, khi những lo âu ấy rất thử thách, khi y thấy mình có khuynh hướng nhìn về phía trước và lo lắng về những rắc rối sẽ đến với y vài ngày, hay vài tuần, hay vài tháng nữa, y sẽ nói: “Không; không một lo âu như thế sẽ ở lại trong thể trí của tôi; không một tư tưởng như thế sẽ có chỗ trú trong thể trí của tôi; trong thể trí này không điều gì ở lại nếu không do sự lựa chọn và lời mời của tôi, và điều gì đến không mời sẽ bị đẩy ra ngoài giới hạn của thể trí tôi.” Người ta thức trắng ban đêm, đầy những tư tưởng lo âu; người ta gần như tự giết mình không phải bởi rắc rối, mà bởi những lo lắng mà các rắc rối ấy gây ra trong thể trí; tất cả loại điều đó sẽ bị ứng viên chấm dứt, vì y sẽ từ chối cho phép bất kỳ hành động nào không do sự đồng ý của chính y, và y sẽ đóng và khóa các cánh cửa của thể trí chống lại mọi tư tưởng không mời mà chen vào đó; đây sẽ là một sự rèn luyện xác định, khó khăn và lâu dài, vì các tư tưởng xông vào và y phải đẩy chúng ra. Và hết lần này đến lần khác y phải làm điều đó, và không có cách nào để làm được ngoài việc nắm lấy một tư tưởng như vậy, bất cứ khi nào nó vào, và bao nhiêu lần nó vào, và có chủ ý từ chối cho nó trú ngụ. Các bạn sẽ nói: “Bằng cách nào?” Có lẽ lúc đầu dễ nhất là cho thể trí nghĩ về một điều khác; về sau chỉ đơn giản là từ chối cho nó vào. Nhưng cho đến khi ứng viên đủ mạnh để đóng và khóa các cánh cửa của thể trí mình và ở trong đó không bị xáo trộn, y có thể làm khôn ngoan khi thay thế tư tưởng này bằng tư tưởng khác, và luôn thay thế bằng một tư tưởng cao thượng liên quan đến cái trường tồn thay cho tư tưởng y muốn loại bỏ, vốn liên quan đến cái tạm bợ. Vì khi đó nó sẽ phục vụ mục đích kép, không chỉ loại bỏ tư tưởng tạm bợ, mà còn tập cho thể trí an trú trong cái vĩnh cửu, và đạt được Ý thức về tỉ lệ, ý thức rằng hiện tại đang trôi qua, và vì vậy không đáng để bận tâm; về phía cái trường tồn, nó sẽ tăng cường sự an trú của thể trí trong cái vĩnh cửu, vốn là bí quyết của mọi bình an trong thế giới này, hay trong bất kỳ thế giới nào khác. |
|
And as he trains his mind in this way, and as gradually he gains power over it, and is able to make it think of the thing that he chooses and to refrain from thinking of that which he does not choose, he will take a further step more difficult than either of these, and he will withdraw himself from the mind and think not in the mind at all, not because he is going to become unconscious, but because he is seeking a deeper consciousness; not because the life in him is dulling or becoming lethargic, but because it has become so vivid that the brain is no longer able to contain it; and with this growth of the inner life, with this increase of the life-energy that flows from the Soul, he will slowly find that it is possible to reach a stage where “thought” will no longer be the thought of the mind, but the consciousness in the Soul; long ere he will find that consciousness and realise it, as it were unbrokenly, he will have to pass through the stage of blankness, of emptiness, of void – one of the most trying stages, perchance, of this life of our candidate in the Outer Court; and then he will dimly begin to understand the meaning which is breathed in the words of the Teacher: “Restrain by thy Divine thy lower self; restrain by the Eternal the Divine “.5 The Divine Self is this Soul which is to restrain the lower mind; but then beyond the Soul is the Eternal, and, in some future that lies within the Temple, that Eternal is to restrain the Divine in him, even as the Divine restrains the lower self. And then he gradually and slowly learns that he is to be master of everything that is around him, with which mind-thought is connected in any way; that he will come to one of the stages in this Outer Court where subtle temptations will be flocking around him, temptations that do not touch the lower nature, but that dare to raise themselves against the higher, and that strive to use the mind for the destruction of the disciple, having failed to use the desire-nature or the grosser temptations of the body. And then come those subtle temptations that ensnare the inner man, those thronging crowds of temptations that come round him as he is rising upwards along his difficult path, temptations of the thought-world thronging round him from every side; he must have gained utter control over the mental images he himself has created ere he will be able to hold his own unshaken, serene, unruffled, amid all these hosts of hurrying thoughts that are now coming to him, vitalised and strengthened no longer by the feeble minds of men in the lower world, but with a tremendous impulse which has in it something of the nature of the forces of the spiritual plane, – from the dark side and not from the white, from those who would fain slay the Soul, and not from those who would help it. And in the Outer Court he finds himself face to face with these, and they rush on him with the energy that comes from those mighty forces for evil; and if he have not learned and have not trained himself to be master within the limits of the mind against the puny attacks that meet him in the outer world, how then shall he hold his own against these hosts of Mara, the Evil One? How shall he cross that fourth stage in the Outer Court, round which these enemies of the Soul are clustering, and which refuse that any shall go through who is not absolutely at peace? And then there comes this strength which grows out of the fixity of the mind, the mind which now has grown so strong that it can fix itself on what it will, and stay there unshaken, no matter what whirlwind may be going on around; a fixity so great, so steady, that nothing that ‘ is without can avail to shake it at all, which has grown so strong that it does not need effort any longer, that it does not need to slay any more, for it has gone beyond the stage where such effort is necessary; the stronger the Soul, the less of effort in its working; the mightier the power, the less it feels assaults that come to it from without. |
Và khi y rèn luyện thể trí theo cách này, và khi dần dần y đạt được quyền năng đối với nó, và có thể khiến nó nghĩ về điều y chọn và kiêng nghĩ về điều y không chọn, y sẽ bước thêm một bước nữa khó hơn cả hai bước ấy, và y sẽ rút mình ra khỏi thể trí và không nghĩ trong thể trí nữa, không phải vì y sẽ trở nên vô thức, mà vì y đang tìm một tâm thức sâu hơn; không phải vì sự sống trong y đang mờ đi hay trở nên trì trệ, mà vì nó đã trở nên sống động đến mức bộ não không còn có thể chứa đựng nó; và cùng với sự tăng trưởng của đời sống nội tại này, cùng với sự gia tăng của năng lượng sự sống tuôn chảy từ linh hồn, y sẽ chậm rãi thấy rằng có thể đạt đến một giai đoạn nơi “tư tưởng” sẽ không còn là tư tưởng của thể trí, mà là tâm thức trong linh hồn; rất lâu trước khi y tìm thấy tâm thức ấy và chứng nghiệm nó, như thể không gián đoạn, y sẽ phải đi qua giai đoạn trống rỗng, rỗng không, hư vô — một trong những giai đoạn thử thách nhất, có lẽ, của đời sống ứng viên của chúng ta trong Ngoại Viện; và rồi y sẽ mơ hồ bắt đầu thấu hiểu ý nghĩa được thổi trong lời của Huấn sư: “Hãy dùng cái thiêng liêng của con để chế ngự phàm ngã; hãy dùng cái Vĩnh Cửu để chế ngự cái thiêng liêng.” Bản Ngã Thiêng Liêng là linh hồn này, vốn phải chế ngự hạ trí; nhưng rồi vượt lên linh hồn là cái Vĩnh Cửu, và, trong một tương lai nằm bên trong Đền, cái Vĩnh Cửu ấy sẽ chế ngự cái thiêng liêng trong y, cũng như cái thiêng liêng chế ngự phàm ngã. Và rồi y dần dần và chậm rãi học rằng y phải là chủ của mọi điều quanh mình mà tư tưởng-thể trí có liên hệ theo bất kỳ cách nào; rằng y sẽ đi đến một trong những giai đoạn trong Ngoại Viện nơi những cám dỗ tinh vi sẽ kéo đến quanh y, những cám dỗ không chạm đến bản chất thấp, nhưng dám ngẩng lên chống lại cái cao hơn, và tìm cách dùng thể trí để hủy diệt đệ tử, sau khi đã thất bại trong việc dùng bản chất dục vọng hay những cám dỗ thô nặng của thể xác. Và rồi đến những cám dỗ tinh vi ấy bẫy con người nội tại, những đám đông cám dỗ chen chúc đến quanh y khi y đang vươn lên trên con đường khó khăn của mình, những cám dỗ của thế giới tư tưởng chen chúc quanh y từ mọi phía; y phải đạt được sự kiểm soát tuyệt đối đối với những hình ảnh thể trí mà chính y đã tạo ra trước khi y có thể giữ vững không lay chuyển, an nhiên, không gợn sóng, giữa tất cả những đạo quân tư tưởng hối hả đang đến với y, nay được tiếp sinh lực và tăng cường không còn bởi những thể trí yếu ớt của con người ở thế giới thấp, mà với một xung lực khổng lồ có trong nó một phần bản chất của các mãnh lực của cõi tinh thần, — từ phía tối chứ không từ phía sáng, từ những kẻ muốn giết linh hồn chứ không từ những kẻ muốn giúp nó. Và trong Ngoại Viện y thấy mình đối diện trực tiếp với những điều ấy, và chúng lao vào y với năng lượng đến từ những mãnh lực hùng mạnh vì ác; và nếu y chưa học và chưa rèn luyện mình để làm chủ trong giới hạn của thể trí trước những cuộc tấn công nhỏ nhoi gặp y ở thế giới bên ngoài, thì làm sao y có thể giữ vững trước những đạo quân của Mara, Ác Quỷ? Làm sao y có thể vượt qua giai đoạn thứ tư trong Ngoại Viện, quanh đó những kẻ thù của linh hồn đang tụ tập, và chúng không cho bất kỳ ai đi qua nếu không hoàn toàn an bình? Và rồi sức mạnh này đến, lớn lên từ sự kiên định của thể trí, thể trí nay đã trở nên mạnh đến mức nó có thể cố định mình vào điều nó muốn, và ở đó không lay chuyển, bất kể cơn lốc nào đang diễn ra xung quanh; một sự kiên định lớn đến mức, vững vàng đến mức, không điều gì “ở bên ngoài” có thể làm rung chuyển nó chút nào, đã trở nên mạnh đến mức nó không còn cần nỗ lực nữa, không còn cần phải giết nữa, vì nó đã vượt qua giai đoạn mà nỗ lực như vậy là cần thiết; linh hồn càng mạnh, càng ít nỗ lực trong hoạt động của nó; quyền năng càng hùng vĩ, càng ít cảm thấy những cuộc tấn công đến từ bên ngoài. |
|
Then that great stage of the mind is reached when, instead of being slain, thoughts fall dead of themselves when they reach the shrine; no longer need the mind slay, no longer need itself be slain; it has become cleansed, pure and obedient. And the result of that which is the beginning of the blending of the Mind and of the Soul is that the moment anything alien strikes against it, it falls dead of its own impulsion; there is no longer need to strike, for all that needs to be struck at falls dead by the throwing back of its own blow; and this is that fixity of the mind of which it is written that the lamp is placed in a steady spot where no wind can cause it to flicker. It is in that place of rest where the will is beginning to be realised; it is there that there is absolute peace; it is a spot under the shadow of the Temple walls; and it is of that that it is written in an ancient Scripture that when a man is free from desire, when he is free from grief, it is then in the tranquillity of the senses that he beholds the majesty of the Soul;6 then he sees indeed for the first time, no longer by broken_ gleam, by ray that comes and goes, but in this absolute peace and serenity where there is no desire and no ruffling of grief; there the majesty of the Soul shines out unbroken, and the mind, now a mirror which is polished, reflects it back as it really is. For this mind, that in the early days was a dust-covered mirror, this mind, that was as the lake ruffled by the winds that blow from every side, has become as the polished mirror that reflects perfectly; it has become as the lake which gives back everything in mountain and in sky, the trees to the trees, the stars to the stars, and which has every shade of colour in the heavens, throwing them back again to the heavens whence they come. But how? There is a moment of danger ere this, of which the warning voice has spoken; there is a moment when this spot is almost reached where the lamp will no longer flicker, when the mind and the Soul join for a moment in a last struggle, when the mind becomes as a mad elephant that rages in the jungle; how then shall it be tamed? It is the last struggle of the mind; it is the final effort of the lower to assert itself against the higher, feeling the bonds that are upon it – that rising up of the lower nature of which every book of Initiation has For it has been written in every book that speaks of the Hidden Wisdom that, as the candidate approaches the gateway, ere he passes into the Temple, all the powers of Nature rise up against him to drag him down; every power that is in the world comes out against him; it is the last struggle to be passed through ere the conquest is complete. On higher planes yet there is a struggle of which this is the reflection; on planes so high that we cannot image them, whereto the greatest of the great have found their way; and that is symbolised in the last struggle of the Buddha beneath the Sacred Tree; there where came to Him the last illumination that made Him Buddha, all the hosts gathered round for the last struggle to see if still His passage could be blocked; and though on infinitely lower planes, there is that crucial struggle also in the life that is now the life of the disciple, and that is now coming near the gateway of the Temple. |
Rồi thì giai đoạn vĩ đại của thể trí ấy được đạt đến, khi mà, thay vì bị giết chết, các tư tưởng tự chúng chết đi khi chạm đến thánh điện; thể trí không còn cần phải giết, cũng không còn cần phải tự bị giết; nó đã trở nên được thanh tẩy, trong sạch và vâng phục. Và kết quả của điều vốn là khởi đầu của sự hòa trộn giữa Thể Trí và Linh Hồn là: khoảnh khắc bất cứ điều gì xa lạ va chạm vào nó, điều ấy tự rơi chết bởi chính xung lực của nó; không còn cần phải đánh trả, vì mọi thứ đáng bị đánh đều tự chết bởi sự dội ngược của chính cú đánh của nó; và đó chính là sự kiên định của thể trí mà người ta đã viết rằng ngọn đèn được đặt ở một nơi vững chắc, nơi không ngọn gió nào có thể làm nó chập chờn. Chính ở nơi an nghỉ ấy, nơi ý chí đang bắt đầu được chứng nghiệm; chính ở đó có sự bình an tuyệt đối; đó là một điểm dưới bóng của các bức tường Đền Thờ; và về điều ấy, người ta đã viết trong một Thánh Kinh cổ rằng khi một người được tự do khỏi dục vọng, khi y được tự do khỏi sầu khổ, thì chính trong sự tĩnh lặng của các giác quan y chiêm ngưỡng uy nghi của Linh Hồn; bấy giờ y quả thật thấy, lần đầu tiên, không còn bằng ánh lóe đứt đoạn, bằng tia sáng đến rồi đi, mà trong sự bình an và tĩnh lặng tuyệt đối này, nơi không có dục vọng và không có sự xao động của sầu khổ; ở đó uy nghi của Linh Hồn chiếu rạng không gián đoạn, và thể trí, nay là một tấm gương đã được đánh bóng, phản chiếu lại đúng như Linh Hồn vốn là. Vì thể trí này, trong những ngày đầu là một tấm gương phủ bụi, thể trí này, vốn như mặt hồ bị gió thổi dậy sóng từ mọi phía, đã trở thành như tấm gương được đánh bóng phản chiếu hoàn hảo; nó đã trở thành như mặt hồ trả lại mọi sự trong núi và trong trời, cây cối cho cây cối, sao trời cho sao trời, và mang đủ mọi sắc độ màu trong bầu trời, rồi lại phản chiếu chúng về chính bầu trời nơi chúng đến. Nhưng bằng cách nào? Trước đó có một khoảnh khắc nguy hiểm, điều mà tiếng nói cảnh báo đã nói đến; có một khoảnh khắc khi điểm này gần như được đạt tới, nơi ngọn đèn sẽ không còn chập chờn, khi thể trí và Linh Hồn trong một khoảnh khắc kết hợp trong một cuộc giằng co cuối cùng, khi thể trí trở nên như một con voi điên cuồng gầm thét trong rừng rậm; vậy thì làm sao nó được thuần phục? Đó là cuộc giằng co cuối cùng của thể trí; đó là nỗ lực sau chót của cái thấp muốn khẳng định chính nó chống lại cái cao, cảm thấy những xiềng xích đang trói buộc nó — sự trỗi dậy của bản chất thấp mà mọi sách về điểm đạo đều đã nói đến. Vì trong mọi sách nói về Minh Triết Ẩn Tàng, người ta đã viết rằng, khi ứng viên tiến gần cổng vào, trước khi y bước vào Đền Thờ, mọi quyền năng của Thiên Nhiên đều trỗi dậy chống lại y để kéo y xuống; mọi quyền năng trong thế gian đều xuất hiện chống lại y; đó là cuộc giằng co cuối cùng phải đi qua trước khi sự chinh phục được hoàn tất. Trên các cõi cao hơn nữa vẫn có một cuộc giằng co mà đây chỉ là sự phản ánh; trên những cõi cao đến mức chúng ta không thể hình dung, nơi mà những bậc vĩ đại nhất trong các bậc vĩ đại đã tìm được đường đi tới; và điều đó được biểu trưng trong cuộc giằng co cuối cùng của Đức Phật dưới Cây Thiêng; tại đó, khi sự soi sáng cuối cùng đến với Ngài khiến Ngài thành Phật, toàn thể các đạo binh tụ hội quanh Ngài trong cuộc giằng co sau chót để xem liệu con đường của Ngài còn có thể bị chặn lại hay không; và tuy trên những cõi thấp hơn vô hạn, cuộc giằng co then chốt ấy cũng hiện diện trong đời sống vốn nay là đời sống của người đệ tử, và nay đang tiến gần cổng vào của Đền Thờ. |
|
How shall he conquer in the struggle? How shall he on his probationary pathway tread in the footsteps of those who have gone before? And still from the words of the Teacher there comes the help, still from His lips a hint which shall guide us: “It needs,” we hear spoken in the silence, “ it needs points to draw it towards the Diamond Soul “.7 What is the Diamond Soul? It is the Soul that has accomplished its union with the true Self; it is the Soul without spot or flaw in any part, translucent – as the diamond is translucent – to the Light of the Logos, which it focuses for men; the mighty Name that just now I spoke, as I might speak other Names that really mean the same although in other tongues, is that of a Soul high above all others to whom belongs this title of the Diamond Soul, through which the Light of the Logos Itself shines down to men, shines down undimmed, so pure is the Diamond, so spotless, so absolutely flawless is that Soul. It is the Soul to which we look at the moments of our highest aspiration; and that which we need to draw us upwards towards It, is only one glimpse of Its beauty, is only one touch from Its fire; for the Soul grows upwards towards its own as the flower grows towards the light, and the points that draw it upwards are these radiant outshinings from the Diamond Soul, which pour down on that which is Itself, although so weak and hesitating, and draw it upwards with Divine strength to union with Itself. And as the disciple begins to understand, there grows upon him what is meant by the Diamond Soul; he realises that in himself also that Diamond Soul is to be re-incarnate – Look inwards! Thou art Buddha! “ – that this mind of his, like this body of his, is but an instrument for Its service, and is only useful and precious as it makes music worthy to reach the higher. And then by devotion these strings of the mind are tuned, are utterly subdued to the Soul; the Soul tunes them by the power of devotion, and then it becomes an instrument of music fit for the Master’s touch; then it becomes an instrument of music from which all melodies in heaven and in earth may sound; and at last the disciple stands before the gateway and realises that what has happened is this: that he himself has found Himself; that the Soul that is Himself is looking upwards to One yet higher with whom it is now going to blend and to become one; the further union takes place only within the Temple; standing at the gateway he has only united Himself eternal to his self that was perishable – Himself the Soul to himself that was mind. And then be begins the worship which means identification with the highest; then he learns that in his daily life the Soul can always be worshipping, no matter what the mind may do, and in what the body may be active; he realises at last that the life of the disciple is absolutely unbroken worship of the Highest, contemplation that never ceases of the Diamond Soul, contemplation of the Supreme which knows no break; that while the Soul is ever thus busied in the Court of the Temple, the body and the mind will be at work for the humanity that needs them, in the Outer Court, and beyond it in the world; that this body can be ever active working for men, that this mind may be ever busy working for men; they are instruments while the man is living, they are his messengers and his workers while himself is worshipping. And then he realises what it means that “ in heaven their Angels always behold the face of the Father,” for the vision of the Father Soul is an unbroken vision, no cloud of earth may dim it, no work on earth may mar it; ever the Soul is beholding, while the mind and the body are labouring, and when that is achieved the threshold is being crossed, and from the Outer Court the Soul is entering into the Temple of its Lord. |
Làm sao y sẽ chiến thắng trong cuộc giằng co? Làm sao y, trên Con Đường Dự Bị của mình, có thể bước theo dấu chân của những người đã đi trước? Và vẫn từ lời của Huấn Sư mà sự trợ giúp đến, vẫn từ môi Ngài mà một gợi ý đến để dẫn dắt chúng ta: “Cần có,” chúng ta nghe được nói trong thinh lặng, “cần có những điểm để kéo nó hướng về Linh Hồn Kim Cương.” Linh Hồn Kim Cương là gì? Đó là Linh Hồn đã hoàn tất sự hợp nhất với Bản Ngã chân thật; đó là Linh Hồn không tì vết hay khiếm khuyết ở bất kỳ phần nào, trong suốt — như kim cương trong suốt — đối với Ánh Sáng của Thượng đế, mà Linh Hồn ấy hội tụ cho nhân loại; Danh Xưng hùng vĩ mà vừa rồi tôi đã nói, cũng như tôi có thể nói những Danh Xưng khác thật sự mang cùng một ý nghĩa dù ở những ngôn ngữ khác, là Danh Xưng của một Linh Hồn cao vượt trên mọi linh hồn khác, thuộc về Linh Hồn ấy tước hiệu Linh Hồn Kim Cương, qua đó Ánh Sáng của chính Thượng đế chiếu xuống nhân loại, chiếu xuống không suy giảm; kim cương tinh khiết biết bao, không tì vết biết bao, Linh Hồn ấy hoàn toàn không khiếm khuyết biết bao. Đó là Linh Hồn mà chúng ta hướng nhìn trong những khoảnh khắc khát vọng cao nhất; và điều chúng ta cần để kéo chúng ta đi lên hướng về Linh Hồn ấy chỉ là một thoáng nhìn vẻ đẹp của Linh Hồn ấy, chỉ là một chạm nhẹ từ ngọn lửa của Linh Hồn ấy; vì linh hồn vươn lên hướng về chính cội nguồn của nó như hoa vươn lên hướng về ánh sáng, và những điểm kéo nó đi lên chính là những tia rực rỡ tỏa chiếu từ Linh Hồn Kim Cương, tuôn xuống trên điều vốn là chính Linh Hồn ấy, dù còn yếu ớt và do dự, và kéo nó đi lên bằng sức mạnh thiêng liêng để hợp nhất với chính nó. Và khi người đệ tử bắt đầu thấu hiểu, trong y dần lớn lên ý nghĩa của Linh Hồn Kim Cương; y chứng nghiệm rằng ngay trong chính mình, Linh Hồn Kim Cương ấy cũng sẽ được tái lâm phàm — Hãy nhìn vào bên trong! Ngươi là Phật! — rằng thể trí của y, cũng như thể xác của y, chỉ là một công cụ để phụng sự Linh Hồn ấy, và chỉ hữu ích, quý giá chừng nào nó tạo nên âm nhạc xứng đáng vươn tới cõi cao. Rồi thì, nhờ lòng sùng kính, những dây đàn của thể trí được lên dây, được hoàn toàn khuất phục trước Linh Hồn; Linh Hồn lên dây chúng bằng quyền năng của lòng sùng kính, và rồi nó trở thành một nhạc cụ thích hợp cho sự chạm tay của Chân sư; rồi nó trở thành một nhạc cụ mà từ đó mọi giai điệu trên trời và dưới đất đều có thể vang lên; và cuối cùng người đệ tử đứng trước cổng vào và chứng nghiệm rằng điều đã xảy ra là thế này: chính y đã tìm thấy Chính Mình; Linh Hồn vốn là Chính Mình ấy đang nhìn lên một Đấng còn cao hơn nữa, với Đấng ấy Linh Hồn nay sẽ hòa trộn và trở thành một; sự hợp nhất xa hơn chỉ diễn ra bên trong Đền Thờ; đứng ở cổng vào, y chỉ mới hợp nhất Chính Mình vĩnh cửu với cái ngã vốn hư hoại — Chính Mình là Linh Hồn với cái ngã là thể trí. Và rồi y bắt đầu sự thờ phụng, nghĩa là sự đồng nhất với Đấng Tối Cao; rồi y học rằng trong đời sống hằng ngày, Linh Hồn luôn có thể thờ phụng, bất kể thể trí làm gì, và thể xác hoạt động ra sao; cuối cùng y chứng nghiệm rằng đời sống của người đệ tử là sự thờ phụng không gián đoạn đối với Đấng Tối Cao, là sự chiêm ngưỡng không bao giờ dứt đối với Linh Hồn Kim Cương, là sự chiêm ngưỡng Đấng Tối Thượng không hề có gián đoạn; rằng trong khi Linh Hồn luôn bận rộn như thế trong Tiền Đình của Đền Thờ, thì thể xác và thể trí sẽ làm việc cho nhân loại đang cần chúng, ở Ngoại Viện, và vượt ra ngoài nó trong thế gian; rằng thể xác này có thể luôn năng động làm việc cho con người, rằng thể trí này có thể luôn bận rộn làm việc cho con người; chúng là những công cụ khi con người còn sống, chúng là những sứ giả và những người thợ của y trong khi chính y đang thờ phụng. Và rồi y chứng nghiệm ý nghĩa của lời rằng “trên trời, các Thiên Thần của họ luôn chiêm ngưỡng dung nhan của Cha,” vì linh ảnh về Linh Hồn của Cha là một linh ảnh không gián đoạn, không đám mây trần thế nào có thể làm nó mờ đi, không công việc trần thế nào có thể làm nó hoen ố; Linh Hồn luôn chiêm ngưỡng, trong khi thể trí và thể xác đang lao động, và khi điều đó được đạt đến thì ngưỡng cửa đang được vượt qua, và từ Ngoại Viện Linh Hồn đang bước vào Đền Thờ của Chúa Tể của nó. |
Lecture III. The Building of Character—Bài giảng III. Lập hạnh
|
In beginning this third lecture of the course, I want as a preliminary step to repeat the warning that I gave you in the first lecture, with regard to the qualifications with which I am dealing, and the line of thought and of action which will be followed by those who are in the position that I have called “ In the Outer Court”. You will remember that I said to you that the position of an aspirant who had reached that Court was very different from the position even of the good and virtuous and religious man, who had not thoroughly seen the goal which was before him, who had not thoroughly realised the magnitude of his task. And I want again to remind you that in the whole of this, in which I am sketching the qualifications of those who come into the Court, I am dealing with everything from this standpoint of a deliberate self-training towards an aim that is definitely recognised; and more than that, that I by no means mean in speaking of these qualifications that they arc completely achieved while the aspirant still remains in the Outer Court of the Temple. He begins, as it were, the making of the character, he realises to some extent what he ought to be, and he strives more or less effectively to become that which he aspires to achieve. It is not that the definite purification, or the complete control of the thoughts, or the perfect building of the character, or the entire transmutation of the lower into the higher – it is not that all these must be accomplished ere he -an stand on the threshold of the Temple; he is really employed whilst in the Outer Court in drawing as it were the foundations of his buildings, in sketching out carefully and fairly fully the outlines of that edifice which he hopes to carry to perfection. The working out of all these lines, the building on this foundation, the raising of the walls higher and higher, the placing of the crowning stone finally upon the work – that is done rather within the Temple than without it, after the eyes have been opened, not while they are still partially blinded and the aspirant is in the Outer Court. But what I do want you to understand is that the plan is sketched, that the plan is recognised; that nothing less than this – very much more may come in the course of the ages – that nothing less than this is the goal that the candidate sets before himself for the reaching; so that however great may seem the aspirations, however magnificent may seem the outline which is to be filled in, that outline is to be definitely recognised in the Outer Court, although not to be filled in in detail, and however lowly may be the achievements of the present they are none the less the definite foundations on which the glorious achievements of the future are to be based. And I say this thus explicitly, although it be a repetition, because it was suggested to me that in making so wide a scope for the Outer Court, in tracing so vast an outline, it might come on some of my hearers with a sense of discouragement if not of despair; so that it is well that all should understand that while the beginnings are traced they may still be only the beginnings, and that after the threshold is crossed, there are still many lives in front in which these beginnings may be carried to fulfilment, and this plan of the architect serves as basis for the finished edifice. Taking then that as a thing to be understood, let me remind you of the building of the character, which is to be a distinct and a positive building which this candidate in the Outer Court will set before himself; we have seen already that he is to have been in past lives a virtuous and a religious man, that is, that he will have already realised that nothing of absolute vice must have its place in him, that nothing of evil must be permitted to remain; that if any seed of vice remain, it must at once be flung without, that if any tendencies towards positive evil are still there, they must be completely and entirely rooted out. Here in this Court there can be at least no compromise with evil, here there can be at least no paltering with that which is not right and pure and good. While there may still be failures in the achievement of the F right, there is most definitely no contented remaining in the wrong; that has had the back of the aspirant definitely turned upon it, and all the grosser part of the nature will already have been eliminated, all the rougher part of the inner struggle will have been finished. Into the Court of the Temple utterly unhewn stones cannot be brought for the building; the hewing must have been going on during many previous lives, much work must have been done upon the characters before they become fit to be built at all even in the Outer Court of such a Temple. And this rough-hewing of the character is supposed to lie behind us; we are dealing with the building of the positive virtues, and virtues of an exceedingly high and noble type; virtues which are not those simply that are recognised as necessary in the world, but far rather those which the aspirant desires to achieve in order that he may become one of the Helpers and the Saviours of the world, those characteristics that go to make up one of the world’s Redeemers, one of the pioneers of the first-fruits of mankind. |
Khi bắt đầu bài giảng thứ ba này của khóa học, như một bước mở đầu, tôi muốn lặp lại lời cảnh báo mà tôi đã đưa ra cho các bạn trong bài giảng thứ nhất, liên quan đến những phẩm chất mà tôi đang bàn đến, và đường lối tư tưởng cùng hành động sẽ được những người ở vị thế mà tôi đã gọi là “Trong Ngoại Viện” noi theo. Các bạn sẽ nhớ rằng tôi đã nói với các bạn rằng vị thế của một người chí nguyện đã đạt đến Ngoại Viện ấy rất khác với vị thế ngay cả của người tốt lành, đức hạnh và mộ đạo, người chưa thấy thấu đáo mục tiêu ở trước mặt, người chưa chứng nghiệm đầy đủ tầm vóc của nhiệm vụ của mình. Và tôi lại muốn nhắc các bạn rằng trong toàn bộ điều này, nơi tôi đang phác họa các phẩm chất của những người bước vào Ngoại Viện, tôi đang xét mọi sự từ quan điểm của một sự tự rèn luyện có chủ ý hướng tới một mục tiêu được nhận biết rõ ràng; và hơn thế nữa, rằng khi nói về các phẩm chất này, tôi tuyệt nhiên không có ý rằng chúng được hoàn tất trọn vẹn trong khi người chí nguyện vẫn còn ở Ngoại Viện của Đền Thờ. Y bắt đầu, như thể, việc tạo dựng lập hạnh; y chứng nghiệm phần nào điều y nên là, và y nỗ lực, ít nhiều hiệu quả, để trở thành điều mà y khao khát đạt được. Không phải rằng sự thanh tẩy dứt khoát, hay sự kiểm soát tư tưởng hoàn toàn, hay việc lập hạnh hoàn hảo, hay sự chuyển hoá trọn vẹn cái thấp thành cái cao — không phải rằng tất cả những điều ấy phải được hoàn tất trước khi y có thể đứng trên ngưỡng cửa của Đền Thờ; thật ra, trong khi ở Ngoại Viện, y bận rộn như thể đang vạch ra nền móng cho công trình của mình, đang phác thảo cẩn trọng và khá đầy đủ các đường nét của tòa kiến trúc mà y hy vọng đưa đến sự hoàn hảo. Việc triển khai tất cả những đường lối ấy, việc xây trên nền móng này, việc nâng các bức tường lên cao dần, việc cuối cùng đặt viên đá đỉnh lên công trình — điều đó được thực hiện ở bên trong Đền Thờ hơn là ở bên ngoài, sau khi đôi mắt đã được mở ra, chứ không phải khi chúng còn bị che mờ phần nào và người chí nguyện còn ở Ngoại Viện. Nhưng điều tôi thực sự muốn các bạn hiểu là: bản thiết kế được phác ra, bản thiết kế được nhận biết; rằng không gì ít hơn thế — dù trong tiến trình các thời đại có thể còn đến nhiều hơn rất nhiều — rằng không gì ít hơn thế là mục tiêu mà ứng viên đặt trước mình để vươn tới; để cho dù khát vọng có vẻ lớn lao đến đâu, dù đường nét cần được lấp đầy có vẻ huy hoàng đến đâu, thì đường nét ấy vẫn phải được nhận biết dứt khoát ở Ngoại Viện, dù chưa được lấp đầy chi tiết; và dù những thành tựu hiện tại có khiêm tốn đến đâu, chúng vẫn là những nền móng xác định mà trên đó những thành tựu huy hoàng của tương lai sẽ được xây dựng. Và tôi nói điều này một cách minh nhiên như vậy, dù là lặp lại, bởi vì có người gợi ý với tôi rằng khi dành một phạm vi quá rộng cho Ngoại Viện, khi vạch ra một đường nét quá bao la, điều đó có thể đến với một số thính giả của tôi như một cảm giác nản lòng, nếu không muốn nói là tuyệt vọng; vì vậy, thật tốt khi mọi người đều hiểu rằng tuy những khởi đầu được vạch ra, chúng vẫn có thể chỉ là những khởi đầu, và rằng sau khi ngưỡng cửa được vượt qua, vẫn còn nhiều kiếp sống phía trước, trong đó những khởi đầu này có thể được đưa đến sự viên mãn, và bản thiết kế của kiến trúc sư này phục vụ như nền tảng cho tòa kiến trúc hoàn chỉnh. Vậy, lấy điều đó như một điều cần được hiểu, tôi xin nhắc các bạn về việc lập hạnh, vốn sẽ là một sự xây dựng rõ rệt và tích cực mà ứng viên ở Ngoại Viện này sẽ đặt trước mình; chúng ta đã thấy rằng trong các kiếp trước y hẳn đã là một người đức hạnh và mộ đạo, nghĩa là y đã chứng nghiệm rằng không điều gì thuộc tội lỗi tuyệt đối được phép có chỗ trong y, rằng không điều gì xấu ác được phép còn lưu lại; rằng nếu còn bất kỳ hạt giống tật xấu nào, nó phải lập tức bị quăng ra ngoài; rằng nếu còn bất kỳ khuynh hướng nào hướng tới điều ác rõ rệt, chúng phải được nhổ tận gốc hoàn toàn và triệt để. Ở Ngoại Viện này, ít nhất không thể có sự thỏa hiệp với điều ác; ở đây, ít nhất không thể có sự lấp lửng với điều không đúng, không trong sạch và không thiện lành. Dù vẫn có thể còn những thất bại trong việc đạt được điều đúng, thì tuyệt đối không có sự an phận ở trong điều sai; điều đó người chí nguyện đã dứt khoát quay lưng lại, và mọi phần thô kệch hơn của bản chất đã được loại bỏ, mọi phần gay gắt hơn của cuộc đấu tranh nội tâm đã được kết thúc. Những viên đá hoàn toàn chưa đẽo gọt không thể được đem vào Ngoại Viện của Đền Thờ để xây dựng; việc đẽo gọt hẳn đã diễn ra trong nhiều kiếp trước, nhiều công việc hẳn đã được thực hiện trên lập hạnh trước khi chúng trở nên thích hợp để được xây dựng, dù chỉ ở Ngoại Viện của một Đền Thờ như thế. Và sự đẽo gọt thô sơ của lập hạnh ấy được giả định là đã ở phía sau chúng ta; chúng ta đang bàn đến việc xây dựng các đức hạnh tích cực, và những đức hạnh thuộc một loại cực kỳ cao quý; những đức hạnh không chỉ là những điều được thừa nhận là cần thiết trong thế gian, mà đúng hơn là những điều người chí nguyện khao khát đạt được để y có thể trở thành một trong những Đấng Trợ Giúp và những Đấng Cứu Rỗi của thế gian, những đặc tính góp phần tạo nên một trong những Đấng Cứu Chuộc của thế gian, một trong những người tiên phong của những trái đầu mùa của nhân loại. |
|
The first thing perhaps that will strike us, in this building ‘of character by one who is in the Outer Court, is its exceedingly deliberate nature. It is not a thing of fits and starts, it is not a casual building and leaving off, it is not an effort in this direction one day and in another direction to-morrow, it is not a running about seeking for aims, it is not a turning about looking for a purpose; the whole of this at least is definitely done, the purpose is recognised and the aim is known. And the building is a deliberate building, as by one who knows that he has time, and that nothing in Nature can be lost; a deliberate building which begins with the materials ready to hand, which begins with the character as it is recognised to exist, which looks, as we shall see, quietly at all its strength and at all its weaknesses, and sets to work to improve the one and to remedy the other; a deliberate building towards a definite aim, a carving in permanent material of a statue of which the mould has already been made. |
Điều đầu tiên có lẽ sẽ gây ấn tượng cho chúng ta, trong việc xây dựng ‘lập hạnh bởi một người ở Ngoại Viện, là tính hết sức có chủ ý của nó. Nó không phải là điều thất thường lúc có lúc không, không phải là xây dựng tùy hứng rồi bỏ dở, không phải là một ngày nỗ lực theo hướng này và ngày mai theo hướng khác, không phải là chạy ngược chạy xuôi tìm mục tiêu, không phải là quay tới quay lui tìm một mục đích; ít nhất toàn bộ điều này được thực hiện một cách dứt khoát, mục đích được nhận biết và mục tiêu được biết rõ. Và sự xây dựng là một sự xây dựng có chủ ý, như bởi một người biết rằng y có thời gian, và rằng không điều gì trong Thiên Nhiên có thể bị mất; một sự xây dựng có chủ ý bắt đầu với những vật liệu sẵn có, bắt đầu với lập hạnh như nó được nhận biết là đang hiện hữu, và nhìn, như chúng ta sẽ thấy, một cách bình thản vào mọi sức mạnh và mọi yếu kém của nó, rồi bắt tay vào việc cải thiện điều này và khắc phục điều kia; một sự xây dựng có chủ ý hướng tới một mục tiêu xác định, một sự tạc khắc trong chất liệu bền vững một pho tượng mà khuôn mẫu đã được tạo sẵn. |
|
And so the first thing that will be noticed in these candidates in the Outer Court is this definiteness of purpose and this deliberateness of action. The man knows that he will carry everything on that he makes; that from life to life he will take with him the treasures that he has accumulated; that if he finds a deficiency and only partly fills it up, still it is filled up to that extent, that part of the work is done; that if he makes for himself a power, that power is his for ever more, a part of the Soul never to be taken away from it, woven into the texture of the individual, not again ever to be separated from him. And he builds with this deliberate purpose which has its root in knowledge, recognising the Law that underlies every aspect of Nature. Realising that that Law is changeless, knowing that he may trust it with uttermost and completest faith, he calls upon the Law and knows that the Law will answer, he appeals to the Law and is confident that the Law will judge. There is in him then no trace of wavering, no shadow of doubting; he gives out that which must needs bring to him his harvest, and every seed that he sows, he sows with this absolute certainty that the seed will bear fruit after its kind, that that and none other will come back to him in future days. So there is naught of hurry in his work, naught of impatience in his labour; if the fruit be not ripe, he can wait for the gathering; if the seed be not ready, he can wait for the growing. He knows that this Law to which he has given himself is at once changeless and good; that the Law will bring all in its appointed time, and that the appointed time is best for him and for the world. And so, as I said, he starts with his available material, content with it because it is what the Law brings him from his past; content with it because it is that with which he has to work, that and nothing else; and whether full or scanty, whether poor and small or rich and great, he takes it and begins to work with it, knowing that however scanty it be there is no limit to the wealth to which it may be increased, and knowing that however small it may bulk to-day, there is no limit to the vastness to which it may grow in the years which lie in front. He knows that he must succeed; not a question of possibility but of certitude, not a question of chance but of definite reality. The Law must give back the equivalent of that which he gives, and even if he give but l.’ttle, that little will come back to him, and from that he will build in the future, adding always something to the store, standing a little higher with each achievement, with each new accomplishment. |
Và vì thế, điều đầu tiên sẽ được nhận thấy nơi những ứng viên này ở Ngoại Viện là tính xác định của mục đích và tính có chủ ý của hành động. Người ấy biết rằng y sẽ mang theo mọi điều y tạo dựng; rằng từ kiếp này sang kiếp khác y sẽ đem theo những kho tàng mà y đã tích lũy; rằng nếu y thấy một sự thiếu hụt và chỉ lấp đầy được một phần, thì nó vẫn được lấp đầy đến mức ấy, phần công việc ấy đã xong; rằng nếu y tạo cho mình một năng lực, năng lực ấy là của y mãi mãi, một phần của Linh Hồn không bao giờ bị lấy khỏi nó, được dệt vào cấu trúc của cá thể, không bao giờ lại bị tách khỏi y. Và y xây dựng với mục đích có chủ ý này, vốn có cội rễ trong tri thức, nhận biết Định luật nằm dưới mọi phương diện của Thiên Nhiên. Chứng nghiệm rằng Định luật ấy là bất biến, biết rằng y có thể tin cậy nó với niềm tin tuyệt đối và trọn vẹn nhất, y kêu gọi Định luật và biết rằng Định luật sẽ đáp lời, y thỉnh cầu Định luật và tin chắc rằng Định luật sẽ phán xét. Vậy nên trong y không còn dấu vết do dự, không còn bóng dáng hoài nghi; y phát ra điều tất yếu sẽ đem về cho y mùa gặt của mình, và mỗi hạt giống y gieo, y gieo với sự chắc chắn tuyệt đối rằng hạt giống sẽ kết trái theo đúng loại của nó, rằng chính điều ấy và không điều nào khác sẽ trở lại với y trong những ngày tương lai. Vì thế, trong công việc của y không có gì vội vã, trong lao động của y không có gì nóng nảy; nếu trái chưa chín, y có thể chờ ngày thu hoạch; nếu hạt giống chưa sẵn, y có thể chờ ngày nảy nở. Y biết rằng Định luật mà y đã hiến mình cho vừa bất biến vừa thiện lành; rằng Định luật sẽ đem mọi sự đến đúng thời điểm đã định, và thời điểm đã định ấy là tốt nhất cho y và cho thế gian. Và vì thế, như tôi đã nói, y bắt đầu với vật liệu sẵn có, hài lòng với nó vì đó là điều Định luật đem đến cho y từ quá khứ; hài lòng với nó vì đó là điều y phải làm việc cùng, chỉ điều ấy mà thôi; và dù dồi dào hay ít ỏi, dù nghèo nàn nhỏ bé hay phong phú lớn lao, y tiếp nhận nó và bắt đầu làm việc với nó, biết rằng dù ít ỏi đến đâu cũng không có giới hạn cho sự giàu có mà nó có thể được gia tăng, và biết rằng dù hôm nay nó có vẻ nhỏ nhoi đến đâu cũng không có giới hạn cho sự vĩ đại mà nó có thể lớn lên trong những năm tháng phía trước. Y biết rằng y phải thành công; không phải là vấn đề khả dĩ mà là vấn đề chắc chắn, không phải là vấn đề may rủi mà là thực tại xác định. Định luật phải hoàn trả tương đương với điều y cho đi; và dù y chỉ cho đi rất ít, cái ít ấy sẽ trở lại với y, và từ đó y sẽ xây dựng trong tương lai, luôn luôn thêm vào kho dự trữ, đứng cao hơn một chút với mỗi thành tựu, với mỗi sự hoàn tất mới. |
|
Already we know something of the way in which he will build; we know that he will begin with right thought; and we studied last week this control of the thoughts, which is necessary in order that the right may be chosen, and the wrong may be rejected; working steadily at that thought control and knowing its conditions, understanding the laws by which thoughts are generated and by which thoughts act in the world and react upon their generator, he is now in a condition definitely to choose right thought for the building of his character. And this stage of right thinking will be one of the early steps that he will take while he is traversing the Outer Court. First of all because his right thinking affects others – and all those who are thus candidates for the Temple have their primary motive in the service of others – so that, in the choosing of his thought, in the selection of the thoughts that he either generates or permits to come within his consciousness, his first motive for such choice will be the effect that these thoughts will have upon others, not in the first place the effect they will have upon himself; far above and beyond all else he is qualifying for service, and therefore as he chooses the thoughts to which he will bend his energy, he calculates their action on the outer world – how far they will work for helping, how far they will work for strengthening, how far they will work for purifying; and into the great stream of thoughts that he knows must go out from his consciousness, understanding how that stream is working, he will send the thoughts that are useful to others, with the deliberate purpose of this serving, with the deliberate object of this helping of the world. |
Chúng ta đã biết đôi điều về cách y sẽ xây dựng; chúng ta biết rằng y sẽ bắt đầu bằng tư tưởng đúng; và tuần trước chúng ta đã khảo sát sự kiểm soát tư tưởng này, vốn cần thiết để điều đúng được chọn và điều sai bị loại bỏ; làm việc bền bỉ với sự kiểm soát tư tưởng ấy và biết các điều kiện của nó, thấu hiểu các định luật theo đó tư tưởng được tạo sinh và theo đó tư tưởng tác động trong thế gian và phản tác động lên chính người tạo ra nó, giờ đây y ở trong tình trạng có thể dứt khoát chọn tư tưởng đúng để xây dựng lập hạnh của mình. Và giai đoạn tư duy đúng này sẽ là một trong những bước sớm mà y sẽ thực hiện trong khi đang băng qua Ngoại Viện. Trước hết bởi vì tư duy đúng của y ảnh hưởng đến người khác — và tất cả những ai là ứng viên cho Đền Thờ đều có động cơ chính yếu là phụng sự người khác — vì vậy, trong việc chọn lựa tư tưởng, trong việc tuyển chọn những tư tưởng mà y hoặc tạo ra hoặc cho phép đi vào trong tâm thức của mình, động cơ đầu tiên của y cho sự chọn lựa ấy sẽ là tác động mà những tư tưởng này sẽ có lên người khác, chứ không phải trước hết là tác động chúng sẽ có lên chính y; vượt lên trên và vượt ra ngoài mọi điều khác, y đang tự chuẩn bị để phụng sự, và vì thế khi y chọn những tư tưởng mà y sẽ dồn năng lượng vào, y tính toán tác động của chúng lên thế giới bên ngoài — chúng sẽ giúp đỡ đến mức nào, chúng sẽ tăng cường đến mức nào, chúng sẽ thanh tẩy đến mức nào; và vào dòng chảy tư tưởng lớn lao mà y biết phải tuôn ra từ tâm thức của mình, thấu hiểu dòng chảy ấy đang vận hành ra sao, y sẽ gửi đi những tư tưởng hữu ích cho người khác, với mục đích có chủ ý là phụng sự này, với đối tượng có chủ ý là trợ giúp thế gian này. |
|
And next he will consider the nature of the thoughts as they affect himself, as they react upon him to make his character, a thing that in a few moments we shall see is of the most vital importance, for here indeed is the instrument by which the character will be built; and not only as they react upon his character, but also as, in making that character, they turn it into a magnet for other thoughts, so that he, acting as a focus for high and noble thoughts – not now, we may hope, for thoughts that are actively injurious – will deliberately make his consciousness a magnet for everything that is good, so that all that is evil may die as it strikes against him, as we saw last week, and all that is good may flow into his consciousness to gain there fresh nourishment, to gain there fresh strength and fresh energy; that the good thoughts of others coming to him may go out with new life-impulse given to them, and that he may act not only as a source of help by the thoughts he generates, but as a channel of helping by the thoughts that he receives, that he revivifies, and that he transmits. And these will go to the making of character, so that at the beginning of the building this right thinking will be one dominant influence in his mind, and he will constantly be watching his thoughts, scrutinising them with the most jealous care, in order that into this sanctuary of the consciousness nothing may come which will offend, for unless this be guarded all else is left open to the enemy. It is the very citadel of the castle; at the same time it is the gateway through which everything enters in. |
Và kế đó y sẽ xét đến bản chất của các tư tưởng khi chúng ảnh hưởng đến chính y, khi chúng phản tác động lên y để tạo nên lập hạnh của y, một điều mà chỉ trong ít phút nữa chúng ta sẽ thấy là vô cùng thiết yếu, vì chính ở đây là công cụ mà nhờ đó lập hạnh sẽ được xây dựng; và không chỉ khi chúng phản tác động lên lập hạnh của y, mà còn khi, trong việc tạo nên lập hạnh ấy, chúng biến nó thành một nam châm hút các tư tưởng khác, để y, hành động như một tiêu điểm cho những tư tưởng cao quý và cao thượng — không phải, chúng ta hy vọng, cho những tư tưởng đang tích cực gây hại — sẽ có chủ ý làm cho tâm thức của mình trở thành một nam châm cho mọi điều thiện lành, để mọi điều xấu ác có thể chết đi khi va chạm vào y, như chúng ta đã thấy tuần trước, và mọi điều thiện lành có thể tuôn vào tâm thức của y để nhận ở đó sự nuôi dưỡng mới, nhận ở đó sức mạnh mới và năng lượng mới; để những tư tưởng thiện lành của người khác khi đến với y có thể đi ra với một xung lực sinh mệnh mới được ban cho chúng, và để y không chỉ hành động như một nguồn trợ giúp bằng những tư tưởng y tạo ra, mà còn như một kênh trợ giúp bằng những tư tưởng y tiếp nhận, y tiếp sinh lực, và y truyền đi. Và những điều này sẽ góp phần tạo nên lập hạnh, để ngay từ lúc khởi đầu của sự xây dựng, tư duy đúng này sẽ là một ảnh hưởng chủ đạo trong thể trí của y, và y sẽ không ngừng quan sát các tư tưởng của mình, xem xét chúng với sự cẩn trọng nghiêm ngặt nhất, để không điều gì có thể đi vào thánh điện của tâm thức mà gây xúc phạm, vì nếu điều này không được canh giữ thì mọi thứ khác đều bị bỏ ngỏ cho kẻ thù. Đây là thành lũy của tòa thành; đồng thời cũng là cổng vào qua đó mọi thứ đi vào. |
|
And then he will learn in this building of character – perhaps he has already learned – to guard his speech; for right speech, to begin with, must be true, scrupulously and accurately true, not with the commonplace truthfulness of the world, though that be not a thing to be despised, but of that scrupulous and strict truthfulness which is necessary above all to the student of Occultism – truth of observation, truth of recording, truth of thinking, truth of speaking, truth of acting; for where there is not this seeking after truth and this strenuous determination to become true, there is no possibility of Occultism which is aught but a danger, there is no possibility of anything but fall, deep and terrible, in proportion to the height to which the student may have climbed. For this quality of truth in the Occultist is at once his guide and his shield: his guide, in that it gives him the insight which enables him to choose the true road from the false, the right-hand path from the left; and his shield, in that only as he is covered with this shield of truth, can all the delusions and the glamours of the planes through which he passes fall harmless. For it is in the practice of truth in thought, in speech, and in act. that there gradually wakes up that spiritual insight which pierces through every veil of illusion, and against which there can be in Nature no possibility of setting up a successful deception. Everywhere veils are spread, everywhere in the world of illusion this deceitfulness of appearances is to be found, until the spiritual insight can pierce through the whole of them with unchanging and direct vision. There is no such thing as the development of spiritual insight, save as truth is followed in the character, as truth is cultivated in the intellect, as truth is developed in the conscience; without this nothing but failure, without this nothing but inevitable blunder and mistake. |
Rồi thì y sẽ học trong việc lập hạnh — có lẽ y đã học rồi — cách canh giữ lời nói của mình; vì lời nói đúng, trước hết, phải chân thật, chân thật một cách tỉ mỉ và chính xác, không phải chỉ là sự chân thật thông thường của thế gian, dù điều đó không phải là thứ đáng khinh, mà là sự chân thật nghiêm cẩn và chặt chẽ vốn cần thiết hơn hết cho đạo sinh huyền bí học — chân thật trong quan sát, chân thật trong ghi nhận, chân thật trong tư duy, chân thật trong lời nói, chân thật trong hành động; vì nơi nào không có sự tìm kiếm chân lý và quyết tâm mãnh liệt để trở nên chân thật, nơi đó không có khả năng nào cho huyền bí học mà không phải là nguy hiểm, không có khả năng nào ngoài sự sa ngã, sâu và khủng khiếp, tương xứng với độ cao mà đạo sinh có thể đã leo lên. Vì phẩm tính chân thật này nơi nhà huyền bí học vừa là người dẫn đường vừa là tấm khiên của y: là người dẫn đường, vì nó cho y sự thấu thị giúp y chọn con đường chân thật thay vì con đường giả dối, chánh đạo thay vì tả đạo; và là tấm khiên, vì chỉ khi y được che chở bởi tấm khiên chân thật này, mọi ảo tưởng và mọi ảo cảm của các cõi mà y đi qua mới có thể rơi xuống vô hại. Vì chính trong việc thực hành chân thật trong tư tưởng, trong lời nói và trong hành động mà dần dần thức dậy sự thấu thị tinh thần xuyên thủng mọi bức màn ảo tưởng, và trước đó, trong Thiên Nhiên, không thể có khả năng nào dựng lên một sự lừa dối thành công. Khắp nơi các bức màn được giăng ra, khắp nơi trong thế giới ảo tưởng này có thể thấy sự dối trá của sắc tướng, cho đến khi sự thấu thị tinh thần có thể xuyên thấu toàn bộ chúng bằng linh ảnh trực tiếp và bất biến. Không có điều gì gọi là sự phát triển của sự thấu thị tinh thần, ngoại trừ khi chân lý được theo đuổi trong lập hạnh, khi chân lý được nuôi dưỡng trong trí tuệ, khi chân lý được phát triển trong lương tâm; không có điều này thì chỉ có thất bại, không có điều này thì chỉ có sai lầm và nhầm lẫn tất yếu. |
|
The speech first of all, then, will be true, and next it will be gentle. For truth and gentleness are not in opposition, as too often we are inclined to think, and speech loses nothing of its truth by being perfect in its gentleness and perfect also in its courtesy and its compassion. The more true it is the more gentle it needs must be, for at the very heart of all things is truth and also compassion; therefore the speech that reflects the innermost essence of the Universe can neither causelessly wound any living being, nor be false with the slightest shadow of suspicion. True and gentle then the speech must be, true and gentle and courteous; that is said to be the austerity of speech, the true penance and sacrifice of speech which is offered up by every aspirant. And then out of the right speaking and the right thinking, inevitably must flow right acting; that, as an outcome, must be the result of this flowing forth from the source. For action is only the manifestation of that which is within, and where the thought is pure, where the speech is true and right, there the action must inevitably be noble; out of such sweet source the water can only be sweet in the flowing, out of the heart and the brain that have been purified necessarily the action must be right and good. And that is the three-fold cord by which the aspirant is bound alike to humanity and to his Master; the threefold cord which, in some great religions, stands as type of this perfect self-control; self-control in thought, in speech and in action – that is the triple cord which binds the man to service that is perfect in its character, which binds the disciple to the Feet of his Master; the three-fold cord which may not easily be broken. |
Vậy nên, trước hết lời nói sẽ chân thật, và kế đó sẽ dịu dàng. Vì chân thật và dịu dàng không đối lập nhau, như quá thường chúng ta có khuynh hướng nghĩ, và lời nói không mất đi chút chân thật nào khi hoàn hảo trong sự dịu dàng và cũng hoàn hảo trong sự nhã nhặn và lòng từ mẫn. Càng chân thật bao nhiêu thì càng phải dịu dàng bấy nhiêu, vì ngay tại trung tâm của mọi sự là chân lý và cũng là lòng từ mẫn; do đó lời nói phản chiếu tinh túy thẳm sâu nhất của Vũ Trụ không thể vô cớ làm tổn thương bất kỳ sinh linh nào, cũng không thể giả dối dù chỉ với bóng dáng nhỏ nhất của sự khả nghi. Vậy nên lời nói phải chân thật và dịu dàng, chân thật và dịu dàng và nhã nhặn; điều đó được gọi là khổ hạnh của lời nói, sự sám hối chân thật và sự hi sinh của lời nói được dâng lên bởi mọi người chí nguyện. Và rồi, từ lời nói đúng và tư tưởng đúng, tất yếu phải tuôn chảy hành động đúng; như một hệ quả, đó phải là kết quả của sự tuôn chảy từ nguồn. Vì hành động chỉ là sự biểu lộ của điều ở bên trong, và nơi tư tưởng trong sạch, nơi lời nói chân thật và đúng đắn, ở đó hành động tất yếu phải cao quý; từ một nguồn ngọt như thế, dòng nước chảy ra chỉ có thể ngọt; từ trái tim và bộ não đã được thanh tẩy, hành động tất yếu phải đúng và thiện lành. Và đó là sợi dây tam phân mà nhờ đó người chí nguyện được ràng buộc đồng thời với nhân loại và với Chân sư của y; sợi dây tam phân mà trong một số tôn giáo lớn được xem như biểu tượng của sự tự kiểm soát hoàn hảo này; tự kiểm soát trong tư tưởng, trong lời nói và trong hành động — đó là sợi dây tam phân ràng buộc con người vào sự phụng sự hoàn hảo trong lập hạnh của nó, ràng buộc người đệ tử vào Dưới Chân Thầy; sợi dây tam phân không dễ gì bị đứt. |
|
When all this is realised, and the beginning of it attempted, this candidate of ours will begin a very definite method of practice in his building of the character, and first he will form what is called an “Ideal”, Let us have clearly in the mind what we mean when we use this word “Ideal”. The mind working within itself builds an internal image, which is made as the mind grows in strength out of much that it draws from the outer world; but although it draws the materials from the outer world, the idea is the result of the internal action of the mind upon the materials. An idea is at its highest an abstract thing, and if we realise how the abstract idea is formed in the mere brain-consciousness, we shall then have a very clear view of what is meant by an ideal; a little enlargement of the idea will give us exactly what we require. Let me take the ancient illustration, an abstract idea of a triangle. The idea of a triangle may be gained at first by the brain-consciousness working in the child through a study of many forms which he is told are triangles. He will notice that they are of many different shapes, that they are made up of lines which go in very different directions. He will find – when he looks at them separately and with this brain-consciousness of the child – he will find them exceedingly different, so that looking at them at first he will see them as many figures, and will not recognise certain underlying unities which give them all the same name. But as he goes onward in his thinking he will gradually learn that there are certain definite conceptions which underlie this one conception of the triangle; that it always has three lines and no more; that it always has three angles and no more; that these three angles put together have always a certain definite value, and that the three lines, called the sides of the triangle, bear certain relations to each other, and so on. All these different conceptions he will gain as he studies, and the mind, working upon the whole of these, extracts from them what is called an abstract idea of a triangle, which has no particular size, and no particular shape, and no particular angles taken separately. And this abstract idea is made up by the working of the mind on all the many concrete forms, so far as the brain-consciousness is concerned. What greater idea this may be the reflection of, I am not now considering; but it is thus that in the brain what is called an abstract idea is built, which has neither colour nor shape nor any special characteristic of any one form, and which unites within itself that which makes the many forms of it a unity. And so when we build an ideal it is an idea of this abstract kind, it is the work of the image-building faculty of the mind, which draws out the essence of all the different ideas that it has gained of great virtues – of that which is beautiful, of that which is true, of that which is harmonious, of that which is compassionate, of that which is in every sense satisfying to the aspirations of the mind, of the heart. From all these different ideas, as they have been seen limited in manifestation, the essence is extracted, and then the mind constructs and throws outwards a vast heroic figure in which everything is carried to perfection; in which everything touches its highest and most complete expression; in which we no longer deal with the things that are true, but with truth; no longer with the things that are beautiful, but with beauty; no longer with the things that are strong, but with strength; no longer with the things that are tender, but with tenderness; no longer with the beings who are loving, but with love; and this perfect figure – mighty and harmonious in all its proportions, grander than anything we have seen, only not grander than that which in rare moments of inspiration the Spirit has cast downwards into the mind – that ideal of perfection it is which the aspirant makes for himself as perfect as he is able to conceive it, knowing all the time that his most perfect dreaming is but the faintest shadow of the reality whence this reflection has come. For in the world of the Real, there exists in living light that which down here he sees, as it were, in faint reflection of colour, hanging high in the heavens over the snowy mountains of human aspiration; it is still only the shadow of the Reality whence it has been reflected, all that the human soul may image of the perfect, of the sublime, of the ultimate All that we seek. This ideal he forms is still imperfect, for it must needs be so! But, however imperfect it may be, none the less for him it is the ideal according to which his character is to be built. |
Khi tất cả điều này được chứng nghiệm, và sự khởi đầu của nó được thử thực hiện, ứng viên của chúng ta sẽ bắt đầu một phương pháp thực hành rất xác định trong việc lập hạnh, và trước hết y sẽ hình thành điều được gọi là một “Lý Tưởng”. Chúng ta hãy làm rõ trong thể trí điều chúng ta muốn nói khi dùng từ “Lý Tưởng” này. Thể trí, hoạt động bên trong chính nó, xây dựng một hình ảnh nội tại, được tạo ra khi thể trí lớn mạnh nhờ nhiều điều nó rút lấy từ thế giới bên ngoài; nhưng dù nó rút vật liệu từ thế giới bên ngoài, ý niệm vẫn là kết quả của hoạt động nội tại của thể trí tác động lên các vật liệu. Một ý niệm, ở mức cao nhất, là một điều trừu tượng; và nếu chúng ta chứng nghiệm cách ý niệm trừu tượng được hình thành trong tâm thức bộ não đơn thuần, thì chúng ta sẽ có một cái nhìn rất rõ về điều được hàm ý bởi một lý tưởng; chỉ cần mở rộng ý niệm một chút là sẽ cho chúng ta đúng điều cần thiết. Tôi xin lấy minh họa cổ xưa: một ý niệm trừu tượng về một tam giác. Ý niệm về một tam giác lúc đầu có thể được tâm thức bộ não đạt được khi nó hoạt động trong đứa trẻ qua việc nghiên cứu nhiều hình dạng mà người ta bảo là tam giác. Nó sẽ nhận thấy chúng có nhiều hình dạng khác nhau, được tạo bởi những đường thẳng đi theo những hướng rất khác nhau. Nó sẽ thấy — khi nó nhìn chúng riêng rẽ với tâm thức bộ não của đứa trẻ — nó sẽ thấy chúng cực kỳ khác nhau, đến nỗi lúc đầu nhìn vào chúng nó sẽ thấy chúng như nhiều hình, và sẽ không nhận ra những tính thống nhất nền tảng khiến tất cả chúng mang cùng một tên gọi. Nhưng khi nó tiến lên trong tư duy, nó sẽ dần học rằng có những quan niệm xác định nằm dưới quan niệm duy nhất về tam giác này; rằng nó luôn có ba đường và không hơn; rằng nó luôn có ba góc và không hơn; rằng ba góc ấy cộng lại luôn có một giá trị xác định; và rằng ba đường, gọi là các cạnh của tam giác, mang những quan hệ nhất định với nhau, v.v. Tất cả những quan niệm khác nhau này nó sẽ đạt được khi học tập, và thể trí, hoạt động trên toàn bộ những điều ấy, rút ra từ chúng điều được gọi là một ý niệm trừu tượng về tam giác, không có kích thước riêng, không có hình dạng riêng, không có các góc riêng xét riêng rẽ. Và ý niệm trừu tượng này được tạo ra bởi hoạt động của thể trí trên tất cả những hình thức cụ thể, xét theo tâm thức bộ não. Ý niệm lớn hơn mà điều này có thể là sự phản ánh của nó, tôi không bàn đến lúc này; nhưng chính như vậy mà trong bộ não, điều được gọi là một ý niệm trừu tượng được xây dựng, vốn không có màu sắc, không có hình dạng, không có đặc tính riêng của bất kỳ hình thức nào, và hợp nhất trong chính nó điều khiến nhiều hình thức của nó trở thành một thống nhất. Và cũng vậy, khi chúng ta xây dựng một lý tưởng, đó là một ý niệm thuộc loại trừu tượng này; đó là công việc của năng lực tạo hình ảnh của thể trí, năng lực rút ra tinh túy của mọi ý niệm khác nhau mà nó đã đạt được về các đức hạnh lớn lao — về điều đẹp đẽ, về điều chân thật, về điều hài hòa, về điều từ mẫn, về điều theo mọi nghĩa đều làm thỏa mãn khát vọng của thể trí, của trái tim. Từ tất cả những ý niệm khác nhau ấy, như chúng đã được thấy là bị giới hạn trong biểu lộ, tinh túy được rút ra, và rồi thể trí kiến tạo và phóng chiếu ra ngoài một hình tượng anh hùng vĩ đại, trong đó mọi sự được đưa đến sự hoàn hảo; trong đó mọi sự chạm đến biểu hiện cao nhất và trọn vẹn nhất; trong đó chúng ta không còn xử lý những điều chân thật, mà là chân lý; không còn những điều đẹp đẽ, mà là vẻ đẹp; không còn những điều mạnh mẽ, mà là sức mạnh; không còn những điều dịu dàng, mà là sự dịu dàng; không còn những hữu thể yêu thương, mà là tình thương; và hình tượng hoàn hảo ấy — hùng vĩ và hài hòa trong mọi tỉ lệ, cao cả hơn bất cứ điều gì chúng ta đã thấy, chỉ không cao cả hơn điều mà trong những khoảnh khắc hiếm hoi của cảm hứng, Tinh Thần đã gieo xuống vào thể trí — chính lý tưởng về sự hoàn hảo ấy là điều người chí nguyện tạo cho mình, hoàn hảo nhất có thể theo khả năng y hình dung, đồng thời biết rằng giấc mơ hoàn hảo nhất của y cũng chỉ là cái bóng mờ nhạt nhất của thực tại nơi sự phản ánh này đã đến. Vì trong Thế Giới của Thực Tại, tồn tại trong ánh sáng sống động điều mà ở đây y thấy, như thể, trong sự phản chiếu nhạt của màu sắc, treo cao trên bầu trời phía trên những dãy núi tuyết của khát vọng nhân loại; nó vẫn chỉ là cái bóng của Thực Tại nơi nó đã được phản chiếu, tất cả những gì linh hồn con người có thể hình dung về sự hoàn hảo, về cái siêu tuyệt, về Cái Toàn Thể tối hậu mà chúng ta tìm kiếm. Lý tưởng mà y hình thành vẫn bất toàn, vì tất yếu phải như vậy! Nhưng dù bất toàn đến đâu, đối với y nó vẫn là lý tưởng theo đó lập hạnh của y sẽ được xây dựng. |
|
But why make an ideal? Those of you who have gone so far with me in the working of thought will know why an ideal is necessary. Let me take two sentences, one from a great Hindu scripture and the other from a Christian, to show you how Initiates speak of the same facts, no matter in what tongue they talk, no matter to what civilisation their words may be addressed. It is written in one of the most mystical of the Upanishads, the Chhandogya: “Man is a creature of reflection; what he reflects upon, that he becomes; therefore reflect upon Brahman”8, And many thousand years afterwards another great Teacher, one of the builders of Christianity, wrote exactly the same thought put into other words: “But we all, with open face beholding as in a glass the glory of the Lord, are changed into the same image from glory to glory.”9 |
Nhưng vì sao phải tạo một lý tưởng? Những ai trong các bạn đã đi cùng tôi xa đến thế trong công việc tư tưởng sẽ biết vì sao một lý tưởng là cần thiết. Tôi xin lấy hai câu, một từ một thánh kinh Ấn Độ lớn và một từ một thánh kinh Cơ Đốc, để cho các bạn thấy các bậc điểm đạo nói về cùng những sự kiện, bất kể họ nói bằng ngôn ngữ nào, bất kể lời của họ được gửi đến nền văn minh nào. Người ta viết trong một trong những bộ Upanishad thần bí nhất, Chhandogya: “Con người là một hữu thể của sự phản chiếu; y phản chiếu điều gì, y trở thành điều ấy; vì vậy hãy phản chiếu về Brahman.” Và nhiều ngàn năm sau, một Huấn Sư vĩ đại khác, một trong những đấng kiến tạo của Cơ Đốc giáo, đã viết đúng cùng một tư tưởng ấy bằng những lời khác: “Nhưng tất cả chúng ta, với gương mặt mở, chiêm ngưỡng như trong gương vinh quang của Chúa, được biến đổi thành cùng một hình ảnh ấy từ vinh quang đến vinh quang.” |
|
Beholding as in a glass: for the mind is a mirror and images are cast upon it and are reflected, and the Soul that in the mirror of the mind beholds the glory of the Lord is changed into that same image from glory to glory. So that whether you take the Hindu speaker or the Christian, whether you read the scripture of the Indian or the scripture of the Western Sage, still the same teaching of the Brotherhood comes out to you – that you must have the ideal before you in order that you may reflect it, and that that on which the mind is constantly dwelling will inevitably be that which the man shall become. |
Chiêm ngưỡng như trong gương: vì thể trí là một tấm gương và các hình ảnh được in lên nó rồi được phản chiếu, và Linh Hồn, trong tấm gương của thể trí, chiêm ngưỡng vinh quang của Chúa, được biến đổi thành cùng một hình ảnh ấy từ vinh quang đến vinh quang. Vì thế, dù bạn lấy người nói Ấn Độ hay người nói Cơ Đốc, dù bạn đọc thánh kinh của hiền triết Ấn Độ hay thánh kinh của bậc hiền triết phương Tây, thì cùng một giáo huấn của Huynh đệ Đoàn vẫn đến với bạn — rằng bạn phải có lý tưởng trước mặt để bạn có thể phản chiếu nó, và rằng điều mà thể trí thường xuyên trú ngụ trong đó tất yếu sẽ là điều con người sẽ trở thành. |
|
And how shall the building towards the ideal be made? For that is the question that we must now consider. By contemplation: definitely, with full purpose, choosing his time and not permitting himself to be shaken from it, this aspirant who is disciplining his own character will contemplate day by day the ideal that he has builded. He will fix his mind upon it, and constantly reflect it in his consciousness. Day by day he will go over its outline, day by day he will dwell upon it in thought, and, as he contemplates, inevitably within him will rise up that reverence and that awe which are worship, the great transforming power by which the man becomes that which he adores, and this contemplation will essentially be the contemplation of reverence and of aspiration. And as he contemplates, the rays of the Divine Ideal will shine down upon him, and the aspiration upwards will open the windows of the Soul to receive them; so that they shall illuminate him from within, and then cast a light without, the ideal shining ever above and within him, and marking out the path along which his feet must tread. And in order that he may thus contemplate, he must train himself in concentration; the mind is not to be scattered, as our minds so often are. We have to learn to fix it, and to fix it steadily, and this is a thing that we should be working at continually, working at in all the common things of life, doing one thing at a time until the mind answers obediently to the impulse, and doing it with the concentrated energy which bends the whole mind towards a single point. No matter that many things that you have to do are trivial; it is the way of doing them, and not the things that are done, that makes the training which results in discipleship – not the particular kind of work that you have to do in the world, but the way that you do it, the mind that you bring to it, the forces with which you execute it, the training that you gain from it. And it matters not what the life may be, that life will serve for the purpose of the training; for however trivial may be the particular work in which you are engaged at the moment, you can use ft as a training ground for the mind, and by your concentration you may be making your mind one-pointed, no matter what for the moment may be the point to which it is directed. For remember, when once you have gained the faculty, then you can choose the object; when once the mind is definitely in your hand, so that you can turn it hither and thither as you will, then you can choose for yourself the end to which it shall be directed. But you may just as well practise and gain the control in little things as in great; in fact, very much better, because the little things are around us every day, whereas the great things come but seldom. When the great thing comes, the whole mind arouses itself to meet it; when the great thing comes, the whole attention is fixed upon it; when the great thing comes, every energy is called to play upon it, so that you may bear yourself well when the mighty task is to be accomplished. But the real value of the Soul is tested more in the little things where there is nothing to arouse attention, nothing in any sense to gain applause, where the man is deliberately working for the end that he has chosen, and is using everything around him in order that he may discipline himself. That self-discipline is the key of the whole. Guide your life by some plan; make to yourself certain rules into which your life shall flow; and when you have made them, keep to them, and alter them only as deliberately as at first you formed them. Take so simple a thing – for the body has to be brought under control – take so simple a thing as a definite rule of rising in the morning; fix the time that you feel is best for your work, for your place in your household, and when you have fixed it, keep to it. Do not permit the body at the moment to choose its own time, but train it in that instant and automatic obedience which makes it a useful servant of the mind. And if you find after practising for some time that you have chosen badly, then change; do not be rigid because you are striving to strengthen your will; be ready to change what does not work well; but change it at your own time and with perfect deliberation; do not change it because on the impulse of the moment passion or bodily desire or emotion may be ruling; do not change it at the demand of the lower nature that has to be disciplined, but change it if you find that you have badly chosen. For never in ruling your own life must you make your rule a hindrance to those around you, or choose ways of self-discipline that aggravate or interrupt others instead of simply training yourself. |
Và việc xây dựng hướng tới lý tưởng sẽ được thực hiện như thế nào? Vì đó là câu hỏi mà giờ đây chúng ta phải xét đến. Bằng sự chiêm ngưỡng: một cách dứt khoát, với mục đích trọn vẹn, chọn thời gian của mình và không cho phép mình bị lay chuyển khỏi nó, người chí nguyện đang kỷ luật lập hạnh của mình sẽ chiêm ngưỡng ngày qua ngày lý tưởng mà y đã xây dựng. Y sẽ cố định thể trí mình trên đó, và không ngừng phản chiếu nó trong tâm thức. Ngày qua ngày y sẽ duyệt lại đường nét của nó, ngày qua ngày y sẽ trú ngụ trong nó bằng tư tưởng, và khi y chiêm ngưỡng, tất yếu trong y sẽ dâng lên lòng tôn kính và sự kính sợ vốn là sự thờ phụng, quyền năng chuyển hóa vĩ đại nhờ đó con người trở thành điều y tôn thờ; và sự chiêm ngưỡng này về bản chất sẽ là sự chiêm ngưỡng của lòng tôn kính và của khát vọng. Và khi y chiêm ngưỡng, các tia của Lý Tưởng Thiêng Liêng sẽ chiếu xuống trên y, và khát vọng hướng thượng sẽ mở các cửa sổ của Linh Hồn để đón nhận chúng; để chúng soi sáng y từ bên trong, rồi tỏa ánh sáng ra bên ngoài, lý tưởng luôn chiếu rạng ở trên và ở trong y, và vạch ra con đường mà đôi chân y phải bước. Và để có thể chiêm ngưỡng như vậy, y phải rèn luyện mình trong sự tập trung; thể trí không được tản mác, như thể trí của chúng ta thường hay như thế. Chúng ta phải học cách cố định nó, và cố định nó một cách vững vàng, và đây là điều chúng ta nên làm việc liên tục, làm việc trong mọi điều bình thường của đời sống, làm từng việc một cho đến khi thể trí vâng phục một cách tự giác trước xung lực, và làm với năng lượng tập trung uốn toàn bộ thể trí về một điểm duy nhất. Dù nhiều việc bạn phải làm là tầm thường cũng không sao; chính cách làm chúng, chứ không phải những việc được làm, tạo nên sự rèn luyện dẫn đến địa vị đệ tử — không phải loại công việc cụ thể mà bạn phải làm trong thế gian, mà là cách bạn làm nó, thể trí bạn đem vào đó, các mãnh lực bạn dùng để thực hiện nó, sự rèn luyện bạn đạt được từ đó. Và đời sống là gì cũng không quan trọng, đời sống ấy sẽ phục vụ cho mục đích rèn luyện; vì dù công việc cụ thể mà bạn đang làm lúc này có tầm thường đến đâu, bạn vẫn có thể dùng nó như một bãi tập cho thể trí, và nhờ sự tập trung của bạn, bạn có thể làm cho thể trí mình nhất tâm, bất kể trong khoảnh khắc ấy điểm mà nó hướng đến là gì. Vì hãy nhớ: một khi bạn đã đạt được năng lực ấy, thì bạn có thể chọn đối tượng; một khi thể trí đã dứt khoát nằm trong tay bạn, để bạn có thể xoay nó hướng này hướng kia theo ý muốn, thì bạn có thể tự chọn mục đích mà nó sẽ được hướng đến. Nhưng bạn cũng có thể thực hành và đạt được sự kiểm soát trong những việc nhỏ cũng như trong những việc lớn; thật ra, tốt hơn rất nhiều, vì những việc nhỏ ở quanh ta mỗi ngày, còn những việc lớn thì hiếm khi đến. Khi việc lớn đến, toàn bộ thể trí tự khơi dậy để đối diện nó; khi việc lớn đến, toàn bộ sự chú ý được cố định trên nó; khi việc lớn đến, mọi năng lượng được huy động để tác động lên nó, để bạn có thể tự giữ mình tốt khi nhiệm vụ vĩ đại phải được hoàn thành. Nhưng giá trị thực của Linh Hồn được thử thách nhiều hơn trong những việc nhỏ, nơi không có gì khơi dậy sự chú ý, không có gì theo bất kỳ nghĩa nào để giành lấy lời tán thưởng, nơi con người có chủ ý làm việc vì mục đích y đã chọn, và đang dùng mọi thứ quanh mình để kỷ luật chính mình. Sự tự kỷ luật ấy là chìa khóa của toàn bộ. Hãy hướng dẫn đời sống của bạn theo một kế hoạch nào đó; hãy đặt cho mình những quy luật nhất định để đời sống bạn chảy vào; và khi bạn đã đặt ra chúng, hãy giữ chúng, và chỉ thay đổi chúng cũng có chủ ý như khi ban đầu bạn hình thành chúng. Hãy lấy một điều đơn giản — vì thể xác phải được đưa vào kiểm soát — hãy lấy một điều đơn giản như một quy luật xác định về việc thức dậy buổi sáng; hãy ấn định thời gian mà bạn thấy là tốt nhất cho công việc của bạn, cho vị trí của bạn trong gia đình, và khi bạn đã ấn định, hãy giữ nó. Đừng cho phép thể xác trong khoảnh khắc ấy chọn thời gian của riêng nó, mà hãy rèn luyện nó trong sự vâng phục tức thời và tự động khiến nó trở thành một người đầy tớ hữu ích của thể trí. Và nếu sau khi thực hành một thời gian bạn thấy mình đã chọn sai, thì hãy thay đổi; đừng cứng nhắc chỉ vì bạn đang cố tăng cường ý chí; hãy sẵn sàng thay đổi điều không vận hành tốt; nhưng hãy thay đổi vào thời điểm của chính bạn và với sự có chủ ý hoàn hảo; đừng thay đổi vì xung lực của khoảnh khắc khi đam mê hay dục vọng thể xác hay cảm xúc đang cai trị; đừng thay đổi theo đòi hỏi của bản chất thấp vốn phải được kỷ luật, mà hãy thay đổi nếu bạn thấy mình đã chọn sai. Vì khi cai quản đời sống của chính mình, bạn không bao giờ được làm cho quy luật của mình trở thành một trở ngại cho những người xung quanh, hay chọn những cách tự kỷ luật làm trầm trọng hoặc làm gián đoạn người khác thay vì chỉ đơn giản rèn luyện chính mình. |
|
The next stage, when all this has been clearly recognised as the way in which the character is to be builded, will be to study the character itself; for you are to work with knowledge and not blindly. You will perhaps, if you are wise, in judging your character, take some of the things that great men have put before you as outlining a character which will lead you to the Gate of the Temple. You might take, for instance, such a tracing as is given in the sixteenth discourse in the Bhagavad Gita by Shri Krishna to Arjuna, where he is telling Arjuna what should be the qualities which build up the divine character. You might take that as showing you the qualities at which you should aim in building yourself, and as marking out for you that which you desire gradually to evolve. And if you take it as it is sketched in the sixteenth discourse, you find a list of qualities, every one of which might well serve as part of your constant thought and endeavour, remembering that the character is built first by the contemplation of the virtue, and then by the working out of that virtue which has become part of the thought into the speech and the action of daily life. And the list runs – however great it is, we have time enough before us to fill it in – “Fearlessness, Purity of Heart, Steadfastness in the Yoga of Wisdom, Almsgiving, Self-restraint and Sacrifice, and Study of the Shastras, Austerity and Straightforwardness, Harmlessness, Truth, Absence of Wrath, Renunciation, Peacefulness, Absence of Calumny, Compassion to Living Beings, Uncovetousness, Mildness, Modesty, Absence of Fickleness, Boldness, Forgiveness, Fortitude, Uprightness, Amity, Absence of Pride- these become his who is born with the divine qualities”. Not are his at once, but become his, and are made in the building of the character. And you will find, if you read these at your leisure and with care, that you can group them together under very definite heads, and that each of these may be practised, at first of course very imperfectly but still steadily, and day by day – with never a feeling of discouragement at the lack of achievement, but only with joy in recognition of the goal, and knowing that each step is a step towards an end which shall be achieved. And notice how through them run the golden threads of unselfishness, of love, of harmlessness; see how courage and strength and endurance find also their place, so that you get an exquisite balance of character, a character that is at once strong and tender, that is at once self-reliant and compassionate, that is at once a helper of the weak and in itself strong and unmoved, that is full of devotion and full of harmlessness, that is full of self-discipline and therefore of harmony. Let us suppose you accept that to some extent as an ideal for the guidance of daily thinking, and you begin to work it out; let us consider a point that is often found in connection with this effort, which is often found in summing up many virtues together, and which is much misunderstood; pausing a moment upon it, let us see how the building of character towards this virtue will be carried on. It is a name which is strange in English ears: it is indifference; and sometimes it is worked out in detail as indifference to pleasure and pain, indifference to cold and heat, indifference to blame and applause, indifference to desire and aversion, and so on; what does it really mean? |
Giai đoạn kế tiếp, khi tất cả điều này đã được nhận biết rõ ràng như con đường mà lập hạnh sẽ được xây dựng, sẽ là nghiên cứu chính lập hạnh; vì bạn phải làm việc với tri thức chứ không phải mù quáng. Có lẽ, nếu bạn khôn ngoan, khi phán xét lập hạnh của mình, bạn sẽ lấy một số điều mà các bậc vĩ nhân đã đặt trước bạn như phác họa một lập hạnh sẽ dẫn bạn đến Cổng của Đền Thờ. Chẳng hạn, bạn có thể lấy một bản phác như được đưa ra trong bài giảng thứ mười sáu của Bhagavad Gita bởi Shri Krishna nói với Arjuna, nơi Ngài đang nói với Arjuna những phẩm chất nào nên là những phẩm chất xây dựng lập hạnh thiêng liêng. Bạn có thể lấy điều đó để thấy những phẩm chất mà bạn nên nhắm tới trong việc tự xây dựng, và để vạch ra cho bạn điều bạn mong muốn dần dần tiến hoá. Và nếu bạn lấy nó như được phác trong bài giảng thứ mười sáu, bạn sẽ thấy một danh sách các phẩm chất, mỗi phẩm chất đều có thể phục vụ như một phần của tư tưởng và nỗ lực thường xuyên của bạn, nhớ rằng lập hạnh được xây dựng trước hết bằng sự chiêm ngưỡng đức hạnh, và rồi bằng việc triển khai đức hạnh ấy, vốn đã trở thành một phần của tư tưởng, vào lời nói và hành động của đời sống hằng ngày. Và danh sách ấy gồm — dù dài đến đâu, chúng ta cũng có đủ thời gian trước mặt để lấp đầy nó — “Vô úy, Thanh khiết của Tâm, Kiên định trong Yoga Minh Triết, Bố thí, Tự chế và Hi sinh, và Nghiên cứu Shastra, Khổ hạnh và Thẳng thắn, Vô tổn hại, Chân thật, Không giận dữ, Sự từ bỏ, Tính an hòa, Không phỉ báng, Từ mẫn đối với các sinh linh, Không tham cầu, Nhu hòa, Khiêm tốn, Không thất thường, Can đảm, Tha thứ, Kiên cường, Chính trực, Thân thiện, Không kiêu mạn — những điều này trở thành của người được sinh ra với các phẩm chất thiêng liêng.” Không phải lập tức là của y, mà trở thành của y, và được tạo nên trong việc xây dựng lập hạnh. Và bạn sẽ thấy, nếu bạn đọc chúng lúc rảnh rỗi và cẩn trọng, rằng bạn có thể nhóm chúng lại dưới những đề mục rất xác định, và rằng mỗi điều trong số đó có thể được thực hành, dĩ nhiên lúc đầu rất bất toàn nhưng vẫn bền bỉ, và ngày qua ngày — không hề có cảm giác nản lòng vì thiếu thành tựu, mà chỉ có niềm vui trong sự nhận biết mục tiêu, và biết rằng mỗi bước là một bước hướng tới một cứu cánh sẽ được đạt đến. Và hãy lưu ý cách những sợi chỉ vàng của tính vô tư, của tình thương, của tính vô tổn hại chạy xuyên suốt chúng; hãy thấy cách dũng khí, sức mạnh và sức chịu đựng cũng có chỗ của chúng, để bạn có được một sự cân bằng tinh tế của lập hạnh, một lập hạnh vừa mạnh mẽ vừa dịu dàng, vừa tự lực vừa từ mẫn, vừa là người trợ giúp kẻ yếu vừa tự nó mạnh mẽ và bất động, đầy lòng sùng kính và đầy tính vô tổn hại, đầy tự kỷ luật và vì thế đầy hài hòa. Giả sử bạn chấp nhận điều đó phần nào như một lý tưởng để hướng dẫn tư duy hằng ngày, và bạn bắt đầu triển khai nó; chúng ta hãy xét một điểm thường gặp liên quan đến nỗ lực này, thường gặp khi tổng hợp nhiều đức hạnh lại với nhau, và thường bị hiểu lầm; dừng lại một chút ở đó, chúng ta hãy xem việc xây dựng lập hạnh hướng tới đức hạnh này sẽ được tiến hành ra sao. Đó là một danh xưng nghe lạ tai đối với tiếng Anh: điềm nhiên; và đôi khi nó được triển khai chi tiết như điềm nhiên trước khoái lạc và đau đớn, điềm nhiên trước lạnh và nóng, điềm nhiên trước chê trách và tán thưởng, điềm nhiên trước dục vọng và ghét bỏ, v.v.; vậy nó thật sự hàm ý gì? |
|
First of all, it means that sense of proportion which must come into the life of one who has gained a glimpse of the Real amid the fleeting, of the permanent amid the transitory; for when once the greatness of the goal has been recognised, when once the numberless lives have been realised, when once the aspirant has understood all the length of time that lies in front of him. all the vastness of the task that he is going to achieve, all the grandeur of the possibilities that lie still unveiled before him; when he has caught some glimpse of the Real, then all the things of one fleeting life must take their place in proportion to the whole. And when a trouble comes, that trouble will no longer bulk so largely as it did when one life was all that he realised, for he will begin to understand that he has been through many troubles before, and has come out the stronger and the more peaceful for the passage. And when joy comes, he will know that he has been through many joys before, and has learned their lessons also, and has found amid other things that they are transitory; and so when a joy comes or a pain, he will take it, not failing to feel it, feeling it really far more keenly than the ordinary man of the world can feel, but feeling it in its true place and at its true worth, and giving it only its real value in the great scheme of life. So that as he grows in this indifference, it is not that he becomes less capable of feeling, for he is ever becoming more sensitive to every thrill of the world within and of the world without – inasmuch as he has become more harmonious with the All, he must become more responsive to every shade of harmony that is therein – but that none of these may avail to shake him, that none of these may avail to change him, that none of these may touch his serenity, that none of these may cast a shadow on his calm. For he himself is rooted where storms are not, he himself is grounded where changes have no place, and while he may feel, he can never be altered by them; they take their right place in life, they bear their proper proportion to the whole span of existence of the Soul. That indifference, that true and real indifference which means strength, how shall that develop? |
Trước hết, nó hàm ý Ý thức về tỉ lệ vốn phải đi vào đời sống của người đã thoáng thấy Thực Tại giữa cái phù du, thấy cái thường hằng giữa cái chuyển biến; vì một khi sự vĩ đại của mục tiêu đã được nhận biết, một khi vô số kiếp sống đã được chứng nghiệm, một khi người chí nguyện đã thấu hiểu toàn bộ chiều dài thời gian ở trước mặt y, toàn bộ sự bao la của nhiệm vụ mà y sẽ đạt được, toàn bộ sự hùng vĩ của những khả năng vẫn còn chưa được vén mở trước y; khi y đã nắm được một thoáng nhìn về Thực Tại, thì mọi sự của một kiếp sống thoáng qua phải nhận vị trí của chúng trong tỉ lệ với toàn thể. Và khi một nỗi khổ đến, nỗi khổ ấy sẽ không còn có vẻ lớn lao như khi một kiếp sống là tất cả điều y chứng nghiệm, vì y sẽ bắt đầu thấu hiểu rằng y đã đi qua nhiều nỗi khổ trước đây, và đã bước ra mạnh mẽ hơn và an hòa hơn nhờ cuộc đi qua ấy. Và khi niềm vui đến, y sẽ biết rằng y đã đi qua nhiều niềm vui trước đây, và cũng đã học bài học của chúng, và đã nhận ra giữa những điều khác rằng chúng là vô thường; và vì thế khi niềm vui hay nỗi đau đến, y sẽ đón nhận nó, không phải là không cảm nhận nó, mà thật ra cảm nhận nó sắc bén hơn nhiều so với người thường của thế gian có thể cảm nhận, nhưng cảm nhận nó ở đúng vị trí và đúng giá trị của nó, và chỉ trao cho nó giá trị thực của nó trong đại đồ án của đời sống. Vì thế, khi y lớn lên trong sự điềm nhiên này, không phải là y trở nên kém khả năng cảm nhận, vì y đang ngày càng trở nên nhạy cảm hơn với mọi rung động của thế giới bên trong và của thế giới bên ngoài — vì y đã trở nên hài hòa hơn với Cái Toàn Thể, y tất yếu trở nên đáp ứng hơn với mọi sắc độ hài hòa ở trong đó — mà là không điều nào trong số ấy có thể làm y lay chuyển, không điều nào trong số ấy có thể làm y đổi khác, không điều nào trong số ấy có thể chạm đến sự tĩnh lặng của y, không điều nào trong số ấy có thể phủ bóng lên sự bình thản của y. Vì chính y đã bén rễ ở nơi không có bão tố, chính y đã đặt nền ở nơi không có chỗ cho đổi thay, và dù y có thể cảm nhận, y không bao giờ có thể bị chúng làm biến đổi; chúng nhận đúng vị trí của chúng trong đời sống, chúng mang đúng tỉ lệ của chúng đối với toàn bộ tầm vóc hiện hữu của Linh Hồn. Sự điềm nhiên ấy, sự điềm nhiên chân thật và thực sự vốn hàm ý sức mạnh, sẽ phát triển như thế nào? |
|
First, by this daily thinking on what it means, and working it out bit by bit until you thoroughly understand it, and working out detail after detail, so that you know exactly what you mean by it. And then when you go out into the world of men, by practising it in your daily life; practising, not by hardening yourself but by making yourself responsive, not by making round yourself a shell that throws everything off, but by making yourself answer to everything that comes from without; at the same time keeping an inner balance which refuses to vary while the change is felt right through. A hard and a difficult lesson, but a lesson that has so much in it of hope and of joy and of keener and more vivid life, that if that were all it were worth while to practise it for, as the Soul feels itself growing too strong to be shaken, and yet feels every thrill that comes from without, it has a sense of wider life, it has a sense of fuller harmony, it has a sense of ever-increasing consciousness, of ever-growing oneness with that of which it is part. And as the feeling of isolation gradually melts away there flows into it the joy which dwells at the heart of things, and even that which to the ordinary man is painful loses to the disciple its quality of pain; for he feels it, as it were, as part of the Universal Life, as a syllable which is spoken out of this vast language of Manifestation, and he can learn its meaning without any agony at his own heart, for the peace which grows out of this widening knowledge far overbears to him, and changes as it were his attitude towards everything in the outer world which men know as pain and loss. Thus thinking and thus practising, you will find this sense grow within you, this sense of calm and of strength and of serenity, so that you will feel as though you were in a place of peace, no matter what the storm in the outer world, and you will see and feel the storm and yet not be shaken by it. This peace is the first-fruits of the Spiritual Life, which shows itself first in this sense of peace and then in that of joy, and makes the life of the disciple a growth which is ever upwards and inwards to the heart which is Love. And out of this there grows the sense of self-control that the Self within is stronger than the changes without, and while it is willing to respond, it refuses to be altered by the contacts from without. And then from the self-control and from the indifference there comes that power of hating none, on which so much stress is laid in all the building of character laid down for the aspirant who would become the disciple. Nothing is to be hated, everything is to be brought within the circle of Love, no matter how outwardly repulsive, no matter how outwardly antagonistic, no matter how outwardly repugnant; the heart of all is Life and Love, and therefore this aspirant who is learning his lessons can shut nothing out from the circle of compassion; everything is taken within it according to its own power of feeling, and he is the friend of every living thing, the lover of all that lives and feels. |
Trước hết, bằng việc hằng ngày suy nghĩ về điều ấy hàm ý gì, và từng bước một triển khai nó cho đến khi các bạn thấu hiểu hoàn toàn, và triển khai hết chi tiết này đến chi tiết khác, để các bạn biết chính xác các bạn muốn nói gì khi dùng điều ấy. Rồi khi các bạn bước ra thế giới của những người nam và nữ, bằng cách thực hành nó trong đời sống hằng ngày của các bạn; thực hành, không phải bằng cách làm cho mình chai cứng, mà bằng cách làm cho mình biết đáp ứng; không phải bằng cách tạo quanh mình một cái vỏ hất văng mọi thứ, mà bằng cách làm cho mình biết đáp lại mọi điều đến từ bên ngoài; đồng thời giữ một sự quân bình nội tâm, vốn từ chối dao động dù sự đổi thay được cảm nhận xuyên suốt. Một bài học khó và gian nan, nhưng là một bài học chứa đựng quá nhiều hy vọng và niềm vui và một đời sống sắc bén hơn, sinh động hơn, đến nỗi, dù chỉ vì thế thôi, cũng đáng để thực hành; vì khi linh hồn cảm thấy mình đang lớn mạnh đến mức không thể bị lay chuyển, mà vẫn cảm thấy mọi rung động đến từ bên ngoài, thì nó có một ý thức về đời sống rộng lớn hơn, nó có một ý thức về sự hoà điệu đầy đủ hơn, nó có một ý thức về tâm thức ngày càng tăng, về sự hợp nhất ngày càng lớn với điều mà nó là một phần. Và khi cảm giác cô lập dần dần tan chảy, niềm vui vốn ngự ở trung tâm của vạn hữu tuôn chảy vào nó, và ngay cả điều mà đối với người bình thường là đau đớn cũng mất đi, đối với đệ tử, phẩm tính đau đớn của nó; vì y cảm nhận nó, như thể, như một phần của Sự Sống Vũ Trụ, như một âm tiết được thốt ra từ ngôn ngữ mênh mông của Biểu Hiện, và y có thể học ý nghĩa của nó mà không có bất kỳ nỗi thống khổ nào trong chính trái tim mình; vì sự bình an nảy sinh từ tri thức đang mở rộng này lấn át tất cả đối với y, và như thể đổi thay thái độ của y đối với mọi điều trong thế giới bên ngoài mà con người gọi là đau đớn và mất mát. Bằng cách suy nghĩ như vậy và thực hành như vậy, các bạn sẽ thấy ý thức này lớn dần trong các bạn, ý thức về sự bình thản, về sức mạnh và về sự tĩnh lặng, đến nỗi các bạn sẽ cảm thấy như thể mình đang ở trong một nơi chốn bình an, bất kể cơn bão trong thế giới bên ngoài ra sao, và các bạn sẽ thấy và cảm nhận cơn bão mà vẫn không bị nó lay chuyển. Sự bình an này là những trái đầu mùa của đời sống tinh thần, trước hết biểu lộ trong ý thức về bình an này rồi đến trong ý thức về niềm vui, và khiến đời sống của đệ tử trở thành một sự tăng trưởng luôn hướng lên và hướng vào trong, đến trái tim vốn là Bác ái. Và từ đó nảy sinh ý thức tự chủ rằng Bản Ngã bên trong mạnh hơn những đổi thay bên ngoài, và trong khi sẵn sàng đáp ứng, nó từ chối bị biến đổi bởi những tiếp xúc từ bên ngoài. Rồi từ sự tự chủ và từ sự điềm nhiên phát sinh năng lực không ghét bỏ bất cứ ai, điều mà trong toàn bộ việc lập hạnh được đặt ra cho người chí nguyện muốn trở thành đệ tử, người ta nhấn mạnh rất nhiều. Không có gì là để ghét bỏ, mọi thứ đều phải được đưa vào trong vòng tròn của Bác ái, bất kể bề ngoài đáng ghê tởm đến đâu, bất kể bề ngoài đối kháng đến đâu, bất kể bề ngoài đáng chán ghét đến đâu; cốt lõi của mọi sự là Sự Sống và Bác ái, và vì vậy người chí nguyện này, kẻ đang học các bài học của mình, không thể loại trừ điều gì khỏi vòng tròn của lòng từ bi; mọi sự đều được tiếp nhận vào đó tuỳ theo năng lực cảm nhận của chính nó, và y là bạn của mọi sinh vật, là người yêu thương mọi điều đang sống và đang cảm. |
|
And as he is thus building these stones into his character he becomes fearless; fearless, because hating nothing there is nothing that has power to harm. Injury from without is but the reaction of aggression from within; because we are the enemies of others they in their turn are our enemies, and because we go out into the world as injurers, therefore living things injure us in turn. We, who ought to be the lovers of all living things, go out as destroyers, as tyrants, as haters, grasping the world for tyranny and not for education, as though man’s work here were not to educate his younger brethren and lead them upwards by all tenderness and all compassion; we go out and we tyrannise over others, whether they be human or brute, so long as they are weaker than ourselves; and by their weakness we too often measure our tyranny, and by their helplessness too often the burden that we lay upon them. And then we wonder that living things fly from us – that as we go out into the world we are met with dread from the weak, and with hatred from the strong; and we know not in our blindness that all the hatred from the outer world is the reflection of the evil that is in ourselves, and that to the heart of love there is nothing that is hateful, and therefore nothing that can injure. The man that has love can walk unharmed through the jungle, can walk untouched through the cave of the carnivorous brute, or take in his hands the serpent; for there is nothing that has message of hate to the heart that has in it only love, and the love that radiates to the world around us, that draws all things in to serve and not to injure, draws all things in to love and not to hate. And so at the feet of the Yogi the tiger will roll in friendship, and so to the feet of the saint the wildest will bring their young for shelter and for helping, and all living things will come to the man who loves, for they are all the offspring of the Divine, and the Divine is Love, ana when that is made perfect in man it draws all things inwards to itself. So then we learn gradually and slowly to walk fearlessly in the world, fearlessly even though things may still injure; for we know if we are hurt that we are only paying the debt of an evil past, and that for every debt that is paid there is less against us, as it were, in the account book of Nature. And fearless too, because we learn to know, and fear springs from doubt as well as from hatred; the man who knows has passed beyond doubt, and walks with foot unfearing where it may tread, for it treads on solid ground alone, and there are no pitfalls in its way. And out of this grows a firm and unshaken will, a will that is based on knowledge, and a will that grows confident through love. And as the aspirant is crossing the Court of the Outer Temple, his step becomes firmer, and his course becomes more direct, unshaken in its purpose and growing in its strength; his character begins to show itself out in definite outline, clear, distinct, and firm, the Soul growing onwards to maturity. |
Và khi y đang xây những viên đá ấy vào tính cách của mình theo cách đó, y trở nên vô uý; vô uý, vì không ghét bỏ điều gì thì không có gì có quyền năng làm hại. Tổn thương từ bên ngoài chỉ là phản ứng của sự xâm hại từ bên trong; vì chúng ta là kẻ thù của người khác nên đến lượt họ là kẻ thù của chúng ta, và vì chúng ta bước ra thế giới như những kẻ gây hại, nên các sinh vật đến lượt làm hại chúng ta. Chúng ta, những kẻ lẽ ra phải là người yêu thương mọi sinh vật, lại bước ra như những kẻ huỷ diệt, như những kẻ bạo ngược, như những kẻ thù ghét, chụp lấy thế giới để bạo ngược chứ không phải để giáo hoá, như thể công việc của con người ở đây không phải là giáo dục những huynh đệ trẻ hơn của mình và dẫn dắt họ đi lên bằng mọi sự dịu dàng và mọi lòng từ bi; chúng ta bước ra và bạo ngược người khác, dù họ là người hay thú, miễn là họ yếu hơn chúng ta; và bằng sự yếu đuối của họ, chúng ta quá thường đo lường sự bạo ngược của mình, và bằng sự bất lực của họ, chúng ta quá thường đo lường gánh nặng mà ta đặt lên họ. Rồi chúng ta ngạc nhiên rằng các sinh vật chạy trốn ta — rằng khi ta bước ra thế giới, ta gặp nỗi kinh hãi từ kẻ yếu, và gặp sự thù ghét từ kẻ mạnh; và trong sự mù quáng của mình, ta không biết rằng mọi sự thù ghét từ thế giới bên ngoài là sự phản chiếu của điều ác ở trong chính ta, và rằng đối với trái tim của bác ái thì không có gì đáng ghét, và vì vậy không có gì có thể làm hại. Người có bác ái có thể đi qua rừng rậm mà không hề hấn, có thể bước qua hang động của loài thú ăn thịt mà không bị chạm đến, hoặc cầm con rắn trong tay; vì không có gì mang thông điệp thù ghét đến trái tim chỉ có bác ái, và bác ái toả rạng ra thế giới quanh ta, kéo mọi sự đến để phụng sự chứ không làm hại, kéo mọi sự đến để yêu thương chứ không thù ghét. Và vì thế, dưới chân vị Yogi, con hổ sẽ lăn mình trong tình bạn, và vì thế, đến chân vị thánh, những loài hoang dã nhất sẽ mang con non của chúng đến để được che chở và giúp đỡ, và mọi sinh vật sẽ đến với người biết yêu thương, vì tất cả đều là con cái của Thiêng Liêng, và Thiêng Liêng là Bác ái, và khi điều ấy được làm cho hoàn hảo trong con người, nó kéo mọi sự vào trong về với chính nó. Vậy nên chúng ta dần dần và chậm rãi học cách bước đi vô uý trong thế gian, vô uý ngay cả khi mọi sự vẫn có thể làm hại; vì chúng ta biết rằng nếu ta bị tổn thương thì ta chỉ đang trả món nợ của một quá khứ xấu ác, và với mỗi món nợ được trả, thì như thể, số nợ chống lại ta trong sổ cái của bản chất giảm đi. Và cũng vô uý, vì chúng ta học cách biết, và nỗi sợ phát sinh từ nghi ngờ cũng như từ thù ghét; người biết đã vượt qua nghi ngờ, và bước đi với bàn chân không sợ hãi nơi nó đặt xuống, vì nó chỉ đặt trên nền đất vững, và không có hố sập trên đường đi. Và từ đó nảy sinh một ý chí vững chắc và không lay chuyển, một ý chí dựa trên tri thức, và một ý chí lớn lên trong sự tự tin nhờ bác ái. Và khi người chí nguyện đang băng qua Sân của Ngoại Điện, bước chân của y trở nên vững hơn, và lộ trình của y trở nên trực chỉ hơn, không lay chuyển trong mục đích và tăng trưởng trong sức mạnh; tính cách của y bắt đầu biểu lộ thành đường nét xác định, rõ ràng, phân minh và vững chắc, linh hồn tiến dần đến sự trưởng thành. |
|
And then comes the absence of desire, the gradual getting rid of all those desires that tie us to the lower world, the gradual working out of all those longings which in the lives that lie behind us we found had no satisfaction for the Soul, the gradual casting aside of all the fetters that tie us down to earth, the gradual elimination of the personal desire, and the self-identification with the whole. For this one who is growing is not going to be tied to rebirth by any bonds that belong to the earth; men come back to the earth because they are held there, tied by these links of desire that bind them to the wheel of births and of deaths; but this man we are studying is going to be free; this man who is going to be free must break these links of desire for himself; there is only one thing that will bind him, only one thing that will draw him back to birth, and that is the love of his fellows, the desire of service. He is not bound to the wheel, for he is free, but he may come back and turn the wheel once more for the sake of those who still are bound upon it, and whom he will stand beside until the bonds of all Souls are broken. In his freeing he breaks the bonds of compulsion, and so he learns a perfect unselfishness, learns that what is good for all is that which he is seeking, and that what serves the All is that which alone he desires to achieve. And then he learns self-reliance; this one who is growing towards the Light, learns to be strong in order that he may help, learns to rely upon the Self which is the Self of all, with which he is growing to identify himself. |
Rồi đến sự vắng mặt của dục vọng, sự dần dần loại bỏ mọi dục vọng trói buộc chúng ta vào thế giới thấp, sự dần dần giải quyết mọi khát khao mà trong những đời sống đã qua chúng ta thấy không đem lại thoả mãn cho linh hồn, sự dần dần vứt bỏ mọi xiềng xích trói chúng ta xuống đất, sự dần dần loại trừ dục vọng cá nhân, và sự đồng hoá với toàn thể. Vì người đang tăng trưởng này sẽ không bị trói vào tái sinh bởi bất kỳ sợi dây nào thuộc về địa cầu; con người trở lại địa cầu vì họ bị giữ ở đó, bị trói bởi những mối dây dục vọng này vốn buộc họ vào bánh xe sinh và tử; nhưng người mà chúng ta đang khảo sát sẽ được tự do; người sẽ được tự do ấy phải tự mình bẻ gãy những mối dây dục vọng này; chỉ có một điều sẽ trói buộc y, chỉ có một điều sẽ kéo y trở lại sinh ra, và đó là tình thương đối với đồng loại, là ước muốn phụng sự. Y không bị trói vào bánh xe, vì y tự do, nhưng y có thể trở lại và xoay bánh xe một lần nữa vì lợi ích của những người vẫn còn bị trói trên đó, và y sẽ đứng bên họ cho đến khi các mối dây của mọi linh hồn đều được bẻ gãy. Trong sự giải thoát của mình, y bẻ gãy những ràng buộc của sự cưỡng bức, và vì thế y học được một sự vô ngã hoàn hảo, học rằng điều tốt cho tất cả là điều y đang tìm kiếm, và điều phụng sự Toàn Thể là điều duy nhất y khao khát đạt được. Rồi y học sự tự lực; người đang tăng trưởng hướng về Ánh sáng này học cách mạnh mẽ để có thể giúp đỡ, học cách nương tựa vào Bản Ngã vốn là Bản Ngã của tất cả, mà với Bản Ngã ấy y đang lớn lên để đồng hoá. |
|
There is a thing that he has to face, upon which I must say a word, for it is perchance one of the hardest of his trials while he is working in this Outer Court. When he entered that Court, knowing and seeing the mighty joy beyond, he turned his back on much that makes life glad to his fellows; but there is a time that comes sometimes, there is a time that now and then descends upon the Soul, when, as it were, he has sprung outwards into a void where no hand seems to grasp his own, and where there is darkness around him, and nothing on which his feet may rest. There are times which come in these stages of the Soul’s growth when there is nothing left on earth which can satisfy, there is nothing left on earth which can fill, when the friendships of old have lost some of their touch, and the delights of earth have lost all their savour, when the hands in front, though they are holding us, are not yet felt, when the rock beneath our feet, though our feet are planted upon it, is not yet understood as changeless and immovable, when b;. the veil of illusion the Soul is covered thickly, and it thinks itself forsaken and knows nothing of help that it can find. It is the void into which every aspirant in turn has plunged; it is the void that every disciple has crossed. When it yawns before the Soul, the Soul draws back; when it opens up dark and seemingly bottomless, he who stands upon the brink shrinks back in fear; and yet he need not fear. Plunge onwards into the void, and you shall find it full I Spring forward into the darkness, and you shall find a rock beneath your feet! Let go the hands that hold you back, and mightier Hands in front will clasp your own and draw you onwards, and they are Hands that will never leave you. The earthly grasp will sometimes loosen, the friend’s hand will unclasp your own and leave it empty, but the Friends who are on the other side never let go, no matter how the world may change. Go out then boldly into the darkness and into the loneliness, and you shall find the loneliness is the uttermost of delusions, and the darkness is a light which none may lose again in life. That trial, once faced, is found again to be a great delusion; and the disciple who dares to plunge finds himself on the other side. |
Có một điều y phải đối diện, mà tôi phải nói một lời, vì có lẽ đó là một trong những thử thách khó nhất của y khi y đang làm việc trong Ngoại Sân này. Khi y bước vào Sân ấy, biết và thấy niềm vui hùng vĩ ở bên kia, y đã quay lưng lại với nhiều điều làm cho đời sống trở nên vui tươi đối với đồng loại; nhưng đôi khi có một thời khắc đến, có một thời khắc thỉnh thoảng giáng xuống linh hồn, khi, như thể, y đã bật vọt ra ngoài vào một khoảng trống nơi không bàn tay nào dường như nắm lấy tay mình, và nơi bóng tối bao quanh, và không có gì để chân y có thể đặt lên. Có những thời điểm đến trong các giai đoạn tăng trưởng của linh hồn này khi không còn gì trên đất có thể thoả mãn, không còn gì trên đất có thể lấp đầy, khi những tình bạn xưa đã mất đi phần nào sự chạm đến của chúng, và những thú vui trần thế đã mất hết hương vị, khi những bàn tay ở phía trước, dù đang nắm giữ ta, vẫn chưa được cảm nhận, khi tảng đá dưới chân ta, dù chân ta đang đứng trên đó, vẫn chưa được hiểu là bất biến và bất lay chuyển, khi bởi tấm màn ảo tưởng linh hồn bị phủ dày đặc, và nó tưởng mình bị bỏ rơi và không biết đến sự trợ giúp nào mà nó có thể tìm thấy. Đó là khoảng trống mà mọi người chí nguyện lần lượt đã lao vào; đó là khoảng trống mà mọi đệ tử đã băng qua. Khi nó há miệng trước linh hồn, linh hồn lùi lại; khi nó mở ra tối tăm và dường như không đáy, kẻ đứng trên bờ vực co rút lại trong sợ hãi; và tuy vậy y không cần sợ. Hãy lao tới vào khoảng trống, và các bạn sẽ thấy nó đầy ắp! Hãy phóng tới vào bóng tối, và các bạn sẽ thấy một tảng đá dưới chân mình! Hãy buông những bàn tay đang giữ các bạn lại, và những Bàn Tay hùng mạnh hơn ở phía trước sẽ nắm lấy tay các bạn và kéo các bạn đi tới, và đó là những Bàn Tay sẽ không bao giờ rời bỏ các bạn. Sự nắm giữ trần thế đôi khi sẽ lỏng ra, bàn tay của người bạn sẽ buông tay các bạn và để nó trống rỗng, nhưng Những Người Bạn ở phía bên kia không bao giờ buông, bất kể thế gian đổi thay ra sao. Vậy hãy mạnh dạn bước vào bóng tối và vào sự cô đơn, và các bạn sẽ thấy sự cô đơn là ảo tưởng tột cùng, và bóng tối là một ánh sáng mà không ai có thể đánh mất lại trong đời. Thử thách ấy, một khi đã đối diện, lại được thấy là một ảo tưởng lớn; và đệ tử dám lao vào sẽ thấy mình ở phía bên kia. |
|
Thus the building of character goes on, and will go on for lives to come, nobler and nobler as each life is ended, mightier and mightier as each step is taken. These foundations which we have been laying are only the foundations of the building I have hinted at, and if the achievement seem mighty, it is because always in the mind of the architect the building is complete, and even when the ground plan is a-sketching, his imagination sees the completed edifice, and he knows whereto he builds. |
Như vậy việc lập hạnh vẫn tiếp diễn, và sẽ tiếp diễn qua những đời sống sắp tới, cao quý hơn và cao quý hơn khi mỗi đời sống kết thúc, hùng mạnh hơn và hùng mạnh hơn khi mỗi bước được thực hiện. Những nền móng mà chúng ta đã đặt chỉ là nền móng của toà kiến trúc mà tôi đã gợi ý, và nếu thành tựu có vẻ vĩ đại, ấy là vì trong thể trí của kiến trúc sư, toà nhà luôn luôn đã hoàn chỉnh, và ngay cả khi bản vẽ mặt bằng đang được phác thảo, sự tưởng tượng của ông đã thấy công trình hoàn thành, và ông biết mình đang xây về đâu. |
|
And the end? Ah! – the ending of that building of character our tongues not yet can sketch! No paintbrush which is dipped only in earth’s dull colours can limn anything of the beauty of that perfect ideal towards which we hope to, nay, towards which we know we shall, eventually rise. Have you ever caught a glimpse of it in silent moments? Have you ever seen a reflection of it when the earth was still and when the heaven was calm? Have you ever had a glimpse of those Divine Faces that live and move – Those that were men and now are more than men, superhuman in Their grandeur; man as he shall be though not as he is, save in the innermost Courts of the Temple? If you have ever caught a glimpse in your stillest moments, then you need no words of mine to tell you; you know of the compassion which at first seems the whole of the being, so radiant in its perfect on, so glorious in its divinity; the tenderness which is so mighty that it can stoop to the lowest as well as transcend the highest, which recognises the feeblest effort, as well as the mightiest achievement; nay, which is tenderer to the feeble than to the mighty, because the feeble most needs the helping of the sympathy which never changes; the love which only seems not to be divine because it is so absolutely human, and in which we realise that man and God are one. And then beyond the tenderness, the strength – the strength that nothing can change, the strength which has in it the quality of the foundations of the Universe, on which all worlds might build, and yet it would not shake, strength so infinite joined with compassion so boundless. How can these qualities be in one Being and harmonise with such absolute perfection? And then the radiance of the joy – the joy that has conquered, the joy that would have all others share its beatitude, the radiant sunshine that knows no shadow, the glory of the conquest which tells that all shall win, the joy in the eyes that see beyond the sorrow, and that even in looking at pain know that the end is peace. Tenderness and strength and joy and uttermost peace – peace without a ruffle, serenity that naught can touch: such is the glimpse which you may have caught of the Divine, such is the glimpse of the ideal that one day we shall become. And if we dare to raise our eyes so high, it is because Their Feet still tread the earth where our feet are treading. They have risen high above us; none the less stand They beside Their-brothers, and if They transcend us it is not that They have left us, although on every side They are beyond us; for all humanity dwells in the heart of the Master, and where humanity is, we, its children, may dare to realise we dwell. |
Và kết cuộc ư? A! — kết cuộc của việc lập hạnh ấy, lưỡi chúng ta còn chưa thể phác hoạ! Không cây cọ nào chỉ nhúng trong những màu sắc xám xịt của trần gian có thể vẽ nên chút gì về vẻ đẹp của lý tưởng hoàn hảo mà chúng ta hy vọng, đúng hơn, mà chúng ta biết rằng rốt cuộc chúng ta sẽ vươn lên. Các bạn đã bao giờ thoáng thấy nó trong những khoảnh khắc im lặng chưa? Các bạn đã bao giờ thấy một phản chiếu của nó khi mặt đất lặng yên và bầu trời bình an chưa? Các bạn đã bao giờ thoáng thấy những Dung Nhan Thiêng Liêng ấy, những Đấng sống và chuyển động — Những Đấng đã từng là người và nay hơn cả người, siêu nhân trong sự uy nghi của Các Ngài; con người như y sẽ là, dù không như y đang là, trừ trong những Nội Sân thẳm sâu nhất của Đền Thờ? Nếu các bạn đã từng thoáng thấy trong những khoảnh khắc tĩnh lặng nhất của mình, thì các bạn không cần lời tôi để nói cho các bạn; các bạn biết lòng từ bi mà thoạt đầu dường như là toàn bộ bản thể, rực rỡ trong sự hoàn hảo của nó, huy hoàng trong thiên tính của nó; sự dịu dàng hùng mạnh đến nỗi có thể cúi xuống tận thấp nhất cũng như vượt lên tận cao nhất, nhận ra nỗ lực yếu ớt nhất cũng như thành tựu vĩ đại nhất; đúng hơn, dịu dàng hơn với kẻ yếu so với kẻ mạnh, vì kẻ yếu cần nhất sự trợ giúp của lòng cảm thông không bao giờ đổi thay; tình thương dường như không thiêng liêng chỉ vì nó tuyệt đối là nhân tính, và trong đó chúng ta chứng nghiệm rằng con người và Thượng đế là một. Rồi vượt lên trên sự dịu dàng là sức mạnh — sức mạnh mà không gì có thể đổi thay, sức mạnh mang trong nó phẩm tính của những nền móng của vũ trụ, trên đó mọi thế giới có thể xây dựng mà nó vẫn không lay chuyển, sức mạnh vô hạn kết hợp với lòng từ bi vô biên. Làm sao những phẩm tính ấy có thể ở trong một Hữu Thể và hoà điệu với sự hoàn hảo tuyệt đối như thế? Rồi đến ánh huy hoàng của niềm vui — niềm vui đã chiến thắng, niềm vui muốn mọi người khác cùng chia sẻ phúc lạc của nó, ánh nắng rực rỡ không biết bóng râm, vinh quang của chiến thắng nói rằng tất cả sẽ thắng, niềm vui trong đôi mắt nhìn vượt qua sầu khổ, và ngay cả khi nhìn vào đau đớn vẫn biết rằng kết cuộc là bình an. Sự dịu dàng và sức mạnh và niềm vui và sự bình an tột cùng — bình an không gợn một làn sóng, sự tĩnh lặng mà không gì chạm tới: đó là thoáng nhìn mà các bạn có thể đã bắt gặp về Thiêng Liêng, đó là thoáng nhìn về lý tưởng mà một ngày kia chúng ta sẽ trở thành. Và nếu chúng ta dám ngước mắt cao đến thế, ấy là vì Bàn Chân của Các Ngài vẫn giẫm lên mặt đất nơi chân chúng ta đang giẫm. Các Ngài đã vươn cao trên chúng ta; nhưng không vì thế mà Các Ngài không đứng bên các huynh đệ của Các Ngài, và nếu Các Ngài vượt lên trên chúng ta thì không phải vì Các Ngài đã rời bỏ chúng ta, dù ở mọi phía Các Ngài đều vượt quá chúng ta; vì toàn thể nhân loại ngự trong trái tim của Chân sư, và nơi nào có nhân loại, chúng ta, con cái của nhân loại, có thể dám chứng nghiệm rằng chúng ta đang cư ngụ. |
Lecture IV. Spiritual Alchemy—Bài giảng IV. Thuật Luyện Kim Tinh Thần
|
Now during the last three lectures we have been considering the stages, carried on as we saw simultaneously, by which the aspirant for entrance into the Temple is gradually purifying himself, is bringing his thoughts under control, is building up his character, or perhaps I should be more accurate in saying, is building its foundations. These are the three stages that we have considered, and we have seen that any one who has thus entered the Outer Court and has sei before himself the great task for achievement, will take up these different efforts not so much one after the other, as one beside the other, and will gradually try to bring his whole nature under control, and to direct it towards the achievement of the object which he has set himself to attain. |
Giờ đây, trong ba bài giảng vừa qua, chúng ta đã xét đến các giai đoạn, như chúng ta đã thấy là được tiến hành đồng thời, nhờ đó người chí nguyện xin được bước vào Đền Thờ dần dần tự thanh lọc, đưa tư tưởng của mình vào sự kiểm soát, xây dựng tính cách của mình, hoặc có lẽ tôi nên nói chính xác hơn, là xây dựng những nền móng của tính cách ấy. Đó là ba giai đoạn mà chúng ta đã xét, và chúng ta đã thấy rằng bất kỳ ai đã bước vào Ngoại Sân như vậy và đã đặt trước mắt mình nhiệm vụ lớn lao cần thành tựu, sẽ đảm nhận những nỗ lực khác nhau này không phải theo kiểu cái này sau cái kia, mà là cái này bên cạnh cái kia, và sẽ dần dần cố gắng đưa toàn bộ bản chất của mình vào sự kiểm soát, và hướng nó về việc đạt được mục tiêu mà y đã tự đặt ra để đạt tới. |
|
Let us suppose then, taking these successively, as we are obliged to do for clearness’ sake, let us suppose that our candidate now turns to the consideration of another part of his great task. I have described this part of it as Spiritual Alchemy; and I had in mind, in the use of that phrase, a process of change, a process of transmutation, the allusion of course being to that work of the alchemist whereby he changed the baser metal into the nobler, whereby he changed, say, the copper into the gold. And I have in my thought a process which goes on in the world around us, to some extent I should imagine in the mind and in the life of every thoughtful and religious person, but which with our candidate becomes, as I have so often repeated, a self-conscious and deliberate process, so that he recognises his method and his end and turns himself deliberately to the achievement of that which he desires. Now this process of spiritual alchemy spoken of, may be regarded, I think, in the most general sense of the term, as a transmutation of forces. Each man has in himself life and energy and vigour, power of will and so on; these are the forces with which he is to work, these are the energies by which his object is to be attained. By a process which may fairly be described as alchemical he transmutes these forces from lower ends to higher, he transmutes them from gross energies to energies that are refined and spiritualised. It is not only that he changes their object, nor is the change of object the point to which my own mind is directed in this phrase; it is rather that he changes and purifies then, without as it were altering their essential nature, just as the alchemist, taking this grosser matter, really passed it through a process of purification; not the mere purging away of dross, but a purification that went much farther, that took the very metal itself, that reduced it into a finer and rarer state, and then, as it were, recombined it into a nobler and sublimer type. So that you may imagine the spiritual alchemist as taking all these forces of his nature, recognising them as forces, and therefore as useful and necessary, but deliberately changing, purifying and refining them. We are concerned with the method of refining, with the way in which this work may be carried out. |
Vậy chúng ta hãy giả định, lần lượt xét các giai đoạn ấy, như chúng ta buộc phải làm để được rõ ràng, hãy giả định rằng giờ đây ứng viên của chúng ta chuyển sang xem xét một phần khác của nhiệm vụ lớn lao của y. Tôi đã mô tả phần này như là thuật luyện kim tinh thần; và khi dùng cụm từ ấy, tôi nghĩ đến một tiến trình đổi thay, một tiến trình chuyển hoá, dĩ nhiên ám chỉ công việc của nhà luyện kim khi ông biến kim loại hèn thành kim loại quý, khi ông biến, chẳng hạn, đồng thành vàng. Và trong tư tưởng của tôi có một tiến trình diễn ra trong thế giới quanh ta, ở một mức độ nào đó, tôi hình dung, trong thể trí và trong đời sống của mọi người biết suy tư và mộ đạo, nhưng đối với ứng viên của chúng ta thì nó trở thành, như tôi đã lặp lại rất nhiều lần, một tiến trình có ngã thức và có chủ ý, đến nỗi y nhận ra phương pháp và mục đích của mình và cố ý hướng mình vào việc đạt được điều y mong muốn. Giờ đây, tiến trình thuật luyện kim tinh thần được nói đến ấy có thể được xem, theo tôi, theo nghĩa tổng quát nhất của thuật ngữ, như là một sự chuyển hoá các mãnh lực. Mỗi người có trong mình sự sống và năng lượng và sinh lực, quyền năng ý chí v.v.; đó là những mãnh lực mà y phải làm việc với, đó là những năng lực nhờ đó mục tiêu của y sẽ được đạt tới. Bằng một tiến trình có thể được mô tả một cách xác đáng là mang tính luyện kim, y chuyển hoá những mãnh lực này từ những mục đích thấp lên những mục đích cao, y chuyển hoá chúng từ những năng lượng thô nặng thành những năng lượng được tinh luyện và được tinh thần hoá. Không chỉ là y đổi mục tiêu của chúng, và sự đổi mục tiêu không phải là điểm mà thể trí tôi nhắm đến khi dùng cụm từ này; đúng hơn, y đổi thay và thanh lọc chúng, mà như thể không làm biến đổi bản chất thiết yếu của chúng, giống như nhà luyện kim, khi lấy thứ vật chất thô nặng này, thật sự đã cho nó đi qua một tiến trình thanh lọc; không phải chỉ là gột bỏ xỉ bã, mà là một sự thanh lọc đi xa hơn nhiều, chạm đến chính kim loại ấy, làm nó trở thành một trạng thái tinh tế hơn và hiếm hơn, rồi như thể tái kết hợp nó thành một loại cao quý hơn và siêu việt hơn. Vì vậy các bạn có thể hình dung nhà luyện kim tinh thần như đang lấy tất cả những mãnh lực trong bản chất của mình, nhận ra chúng là các mãnh lực, và vì thế là hữu ích và cần thiết, nhưng cố ý đổi thay, thanh lọc và tinh luyện chúng. Chúng ta quan tâm đến phương pháp tinh luyện, đến cách thức mà công việc này có thể được thực hiện. |
|
The object of this spiritual alchemy is not only this transmutation of the forces, though that is its essential part, but there is a subsidiary side to it which one cannot leave out of account. Souls are bound to earth-life, to the wheel of births and of deaths, by desires; they are held there by ignorance, they are fettered by their longings after material enjoyments, after separated and isolated joys as it were. Continually engaged in actions, these actions bind the Soul, whether they be in themselves good or bad, whether they be in themselves helpful or mischievous; none the less as actions they have this characteristic – that action in the ordinary man springs from desire, and that this desire is the binding ana the fettering force. Actions must continue to be accomplished as long as man remains in the world; actions are needful to be done else manifestation would no longer be. As a man grows nobler and wiser and stronger, his action becomes an ever more and more important factor in the world’s progress. And supposing the greatest should abstain from action, then the progress of the race must necessarily be delayed, its evolution must inevitably be retarded. |
Mục tiêu của thuật luyện kim tinh thần này không chỉ là sự chuyển hoá các mãnh lực ấy, dù đó là phần thiết yếu của nó, mà còn có một mặt phụ thuộc của nó mà người ta không thể bỏ qua. Các linh hồn bị ràng buộc vào đời sống trần thế, vào bánh xe sinh và tử, bởi dục vọng; họ bị giữ ở đó bởi vô minh, họ bị xiềng xích bởi những khát khao hưởng thụ vật chất, bởi những niềm vui tách biệt và cô lập như thể. Liên tục dấn thân vào hành động, những hành động ấy trói buộc linh hồn, dù tự chúng là tốt hay xấu, dù tự chúng là hữu ích hay tai hại; tuy vậy, với tư cách là hành động, chúng có đặc tính này — rằng hành động nơi người bình thường phát sinh từ dục vọng, và dục vọng này là mãnh lực trói buộc và xiềng xích. Hành động phải tiếp tục được thực hiện chừng nào con người còn ở trong thế gian; hành động là điều cần phải làm, nếu không thì biểu hiện sẽ không còn nữa. Khi một người trở nên cao quý hơn, minh triết hơn và mạnh mẽ hơn, hành động của y trở thành một yếu tố ngày càng quan trọng trong sự tiến bộ của thế giới. Và giả sử những người vĩ đại nhất lại kiêng hành động, thì sự tiến bộ của nhân loại tất yếu sẽ bị trì hoãn, sự tiến hoá của nó tất yếu sẽ bị làm chậm lại. |
|
How then shall it be possible that action shall be accomplished and yet the Soul be free? How is it possible that action shall be rendered, and yet the Soul shall not thereby be bound and fettered? Here again we shall find a case of spiritual alchemy, whereby the greatest may be the most active in service and yet his service shall touch him not as a liberated Soul, and you have exemplified what seems a paradox – a service which is perfect freedom. Now the phrase “spiritual alchemy “ taken as a means to such freedom is only a way of alluding to the fundamental Law of Sacrifice, that great Law which in the manifested universe lies at the root of all and is constantly expressing itself, whose forms are so various that it is easy to mistake them, whose action is so complicated that it is easy to blunder. Easiest of all, perhaps, to blunder in expression; for you are dealing with a many-sided truth that is seen in many aspects by the minds of men; that above all has in fact a double aspect as it is contemplated from above or from below; that is a Law which permeates the universe, to which every atom may be said to be subject, and which is, in the fullest sense of the term, the expression of the Divine Life in manifestation. In touching such a Law at all there are endless opportunities for blundering – -blundering on the part of the speaker in expression, blundering on the part of the hearers in grasping the thought which is imperfectly given; so that in dealing with this, one is apt to be one-sided according to the view which at the moment is most before the mind; according as the aspect, we may say, expresses itself on the side of Matter, or expresses itself on the side of Spirit; according as we take a standpoint without – looking inwards, or a standpoint within – looking outwards. In dealing with a mighty subject where no one word expresses the thought, and where the grasping of the thought itself is difficult to those so undeveloped as ourselves, it is, as I say, most difficult for speaker and for hearer alike to avoid misconception, to avoid laying too much stress on one side or the other, and so losing that even balance from which truth alone can be perfectly expressed. And with regard to the Law of Sacrifice, this perhaps is especially the case. |
Vậy làm sao có thể hành động vẫn được hoàn thành mà linh hồn vẫn tự do? Làm sao có thể thực hiện hành động mà linh hồn không vì thế bị trói buộc và xiềng xích? Ở đây nữa chúng ta sẽ thấy một trường hợp của thuật luyện kim tinh thần, nhờ đó người vĩ đại nhất có thể là người hoạt động nhất trong phụng sự mà sự phụng sự ấy không chạm đến y với tư cách một linh hồn đã được giải thoát, và các bạn có một minh hoạ cho điều dường như là nghịch lý — một sự phụng sự là tự do hoàn hảo. Giờ đây, cụm từ “thuật luyện kim tinh thần” được dùng như một phương tiện để đạt đến sự tự do ấy chỉ là một cách ám chỉ Định luật Hi Sinh nền tảng, Định luật vĩ đại ấy vốn trong vũ trụ biểu hiện nằm ở cội rễ của mọi sự và không ngừng tự biểu lộ, với những hình thức đa dạng đến nỗi dễ lầm lẫn, với hoạt động phức tạp đến nỗi dễ sai lạc. Có lẽ dễ sai lạc nhất là trong diễn đạt; vì các bạn đang xử lý một chân lý nhiều mặt được thể trí con người nhìn thấy dưới nhiều phương diện; và hơn hết, trên thực tế, nó có một phương diện kép tuỳ theo nó được chiêm ngưỡng từ trên xuống hay từ dưới lên; đó là một Định luật thấm nhuần vũ trụ, mà có thể nói mọi nguyên tử đều phục tùng, và là, theo nghĩa đầy đủ nhất của thuật ngữ, sự biểu lộ của Sự Sống Thiêng Liêng trong biểu hiện. Khi chạm đến một Định luật như vậy, có vô số cơ hội để sai lạc — sai lạc nơi người nói trong diễn đạt, sai lạc nơi người nghe trong việc nắm bắt tư tưởng được trình bày chưa trọn; vì vậy khi bàn về điều này, người ta dễ trở nên một chiều tuỳ theo quan điểm nào vào lúc ấy nổi bật nhất trong thể trí; tuỳ theo phương diện ấy, có thể nói, tự biểu lộ về phía vật chất, hay tự biểu lộ về phía tinh thần; tuỳ theo ta đứng ở lập trường bên ngoài — nhìn vào trong, hay lập trường bên trong — nhìn ra ngoài. Khi bàn về một chủ đề vĩ đại mà không một từ nào diễn đạt được tư tưởng, và việc nắm bắt chính tư tưởng ấy lại khó đối với những kẻ chưa phát triển như chúng ta, thì, như tôi nói, người nói và người nghe đều rất khó tránh ngộ nhận, tránh nhấn quá mạnh vào phía này hay phía kia, và vì thế đánh mất sự quân bình đều đặn mà chỉ từ đó chân lý mới có thể được diễn đạt một cách hoàn hảo. Và đối với Định luật Hi Sinh, điều này có lẽ đặc biệt đúng. |
|
Let us take it first in its lower aspect, an aspect which must not be overlooked – for it has for us many lessons – but that which is distinctly the lower aspect of it in all the worlds. Let us take it as we find it expressed in manifested Nature, as impressed on the Kosmos, working in the physical, the astral, the mental worlds, and so on; including a certain relationship between all living things, including a certain relationship not only between living things as we all know them down here, but including other living beings in the worlds which surround us; and let us stop on this lower aspect for a moment ere we venture to rise towards the higher, for here also we shall find a most useful lesson, a most luminous suggestion for our helping in this process of the Outer Court. |
Trước hết, chúng ta hãy lấy nó trong phương diện thấp của nó, một phương diện không được bỏ qua — vì nó có nhiều bài học cho chúng ta — nhưng là phương diện rõ rệt thấp của nó trong mọi cõi giới. Hãy lấy nó như ta thấy nó được biểu lộ trong bản chất biểu hiện, như được in dấu lên vũ trụ, vận hành trong các cõi hồng trần, cảm dục, cõi trí, v.v.; bao gồm một mối liên hệ nhất định giữa mọi sinh vật, bao gồm một mối liên hệ nhất định không chỉ giữa các sinh vật như chúng ta đều biết ở cõi này, mà còn bao gồm những hữu thể sống khác trong các cõi giới bao quanh chúng ta; và hãy dừng lại ở phương diện thấp này một lát trước khi chúng ta mạo hiểm vươn lên phương diện cao hơn, vì ở đây nữa chúng ta sẽ tìm thấy một bài học rất hữu ích, một gợi ý rất sáng tỏ cho việc trợ giúp chúng ta trong tiến trình của Ngoại Sân này. |
|
Regarding sacrifice in the lower worlds, it may present itself to us not unfitly as a process of mutual service or exchange, a continual turning of the wheel of life, in which each living being takes and gives, in which he cannot avoid the taking, in which he ought not to refuse the giving. So that you will see sacrifice, if you look at it for a moment in what I have called its lower aspect, as a continual turning of the wheel of life, in which all things take conscious or unconscious part, and the more highly they are developed the more conscious will be their co-operation. This view of sacrifice has been put clearly, perhaps more clearly almost than anywhere else, in The Lord’s Song, one of the Indian Scriptures, where this wheel of life is dealt with, and where you find sacrifice and action connected in a way which it is well to realise. Says the great Teacher: – |
Xét về hi sinh trong các cõi thấp, nó có thể hiện ra với chúng ta, không phải là không thích hợp, như một tiến trình phụng sự tương hỗ hay trao đổi, một sự xoay chuyển liên tục của bánh xe sự sống, trong đó mỗi sinh vật vừa nhận vừa cho, trong đó y không thể tránh việc nhận, và y không nên từ chối việc cho. Vì vậy các bạn sẽ thấy hi sinh, nếu các bạn nhìn nó một lát trong điều tôi gọi là phương diện thấp của nó, như một sự xoay chuyển liên tục của bánh xe sự sống, trong đó mọi sự đều tham dự một cách hữu thức hay vô thức, và chúng càng phát triển cao thì sự hợp tác của chúng càng hữu thức. Quan điểm này về hi sinh đã được trình bày rõ ràng, có lẽ gần như rõ ràng hơn ở bất cứ nơi nào khác, trong Bài Ca của Chúa, một trong những Kinh điển Ấn Độ, nơi bánh xe sự sống này được bàn đến, và nơi các bạn thấy hi sinh và hành động được nối kết theo một cách đáng để chứng nghiệm. Vị Huấn Sư vĩ đại nói: — |
|
The world is bound by all action, by action with sacrifice for object; with such object, free from attachment, O son of Kunti, perform thou action. |
Thế gian bị trói buộc bởi mọi hành động, bởi hành động lấy hi sinh làm mục tiêu; với mục tiêu ấy, không dính mắc, hỡi con của Kunti, hãy thực hiện hành động. |
|
And then, going backwards into the past in order to make this cycle which is sacrifice by mutual service complete, the Teacher says that: – |
Rồi, quay ngược về quá khứ để làm cho chu kỳ này — vốn là hi sinh bằng phụng sự tương hỗ — được trọn vẹn, vị Huấn Sư nói rằng: — |
|
Having in ancient times emanated mankind by sacrifice, the Lord of Emanation said: “By this shall ye propagate; be this to you the Kamaduk (that is, the milk of desire); with this nourish ye the Gods, and may the Gods nourish you; thus nourishing one another, ye shall reap the supremest good. For, nourished by sacrifice, the Gods shall bestow on you the enjoyment you desire.” A thief verily is he, who enjoyeth what is given by Them, without returning the gift. . . . From food creatures become; from rain is the production of food; rain proceedeth from sacrifice; sacrifice arises out of action. Know thou from Brahma action groweth and Brahma from the Imperishable cometh. Therefore Brahman, the all-permeating, is ever present in sacrifice. He who on earth doth not follow the wheel thus revolving, sinful of life, and rejoicing in the senses, he, O son of Friths, liveth in vain.10 |
Thuở xưa, sau khi đã xuất lộ nhân loại bằng hi sinh, Chúa Tể của sự Xuất Lộ nói: “Nhờ điều này các ngươi sẽ sinh sôi; hãy để điều này đối với các ngươi là Kamaduk (nghĩa là, sữa của dục vọng); nhờ điều này hãy nuôi dưỡng các Thượng đế, và mong các Thượng đế nuôi dưỡng các ngươi; nhờ nuôi dưỡng lẫn nhau như vậy, các ngươi sẽ gặt hái điều tối thượng thiện. Vì, được nuôi dưỡng bởi hi sinh, các Thượng đế sẽ ban cho các ngươi sự hưởng thụ mà các ngươi ham muốn.” Quả thật là kẻ trộm, kẻ hưởng điều được Các Ngài ban, mà không hoàn lại món quà…. Từ thức ăn mà sinh vật trở thành; từ mưa mà thức ăn được tạo ra; mưa phát sinh từ hi sinh; hi sinh phát sinh từ hành động. Hãy biết rằng từ Brahma hành động sinh ra và Brahma từ Đấng Bất Hoại mà đến. Vì vậy Brahman, Đấng thấm nhuần khắp nơi, luôn hiện diện trong hi sinh. Kẻ nào trên đất không theo bánh xe đang xoay chuyển như vậy, tội lỗi trong đời sống, và vui thích trong các giác quan, kẻ ấy, hỡi con của Friths, sống uổng. |
|
Now you have there this wheel of life which lies at the root of sacrifice in all religions, and the purer and the nobler the religion, the purer and nobler will be the idea of sacrifice which pervades it. Notice how thoroughly there is carried out this alchemical idea, the changing always of one into the other; the food changes into beings, but in order that food might be, the rain had been changed into food; in order that the rain might fall, sacrifice had been offered to the Gods. Then the Gods nourish. You will find this turning of the wheel everywhere prominent in these ancient religions. The Brahman, for instance, will cast into the fire his sacrifice, for, it is said, fire, Agni, is the mouth of the Gods; and the throwing of that sacrifice into the fire in ancient days, accompanied, as it was, with Mantras made by men who knew what they were making, and made the Mantra as words of power over the lower forces in Nature, that sacrifice thus performed regulated many of these forces in Nature, which working upon the earth bring forth food for men. Although the action was in itself a symbol, that which it symbolised was real, and the force that went forth from the lips of the purified teacher and the man of power was real also. The symbol was meant to teach the people about this wheel of life, to make them understand that action is essentially sacrifice, and that all action should be of the nature of sacrifice; that is, that action should be done as duty, that it should be done because it is right and with no other object, that it should be done in order that man may be in harmony with law, that it should be done because that is his answer to the law, his part of the common task. So that under this teaching sacrifice was the bond of union, the golden thread that linked together all beings in this manifested universe; and as the root of sacrifice was action, as action came from the manifesting God, and as He was that which manifested, so it was said that Brahman permeated every sacrifice, and all action that was done could thus be done as duty in the world, not with desire for individual fruit, not with desire for personal gain, not with wish to obtain something for the personal self – there comes in the lower, the debased, the selfish view with which sacrifices were later done. As part of the turning of the wheel, as part of the accomplishment of duty for duty’s sake, there is the very essence of the alchemy which, changing action into sacrifice, burns up the bonds of desire, and liberates the wise. Thus burned in the fire of wisdom, action loses all its binding force upon the Soul; the Soul becomes a fellow-worker with the divine in Nature, and every action that is cast upon the altar of duty becomes a force which turns the wheel of life but never binds the Soul. |
Giờ đây các bạn có ở đó bánh xe sự sống vốn nằm ở cội rễ của hi sinh trong mọi tôn giáo, và tôn giáo càng thuần khiết và cao quý thì ý niệm hi sinh thấm nhuần nó càng thuần khiết và cao quý. Hãy lưu ý ý niệm luyện kim này được thực hiện triệt để đến mức nào, sự chuyển đổi luôn luôn của cái này thành cái kia; thức ăn đổi thành các hữu thể, nhưng để có thức ăn, mưa đã được đổi thành thức ăn; để mưa rơi, hi sinh đã được dâng lên các Thượng đế. Rồi các Thượng đế nuôi dưỡng. Các bạn sẽ thấy sự xoay chuyển của bánh xe này nổi bật ở khắp nơi trong các tôn giáo cổ xưa ấy. Chẳng hạn, vị Bà-la-môn sẽ ném hi sinh của mình vào lửa, vì người ta nói rằng lửa, Agni, là miệng của các Thượng đế; và việc ném hi sinh ấy vào lửa trong thời cổ, kèm theo các mantram do những người biết mình đang làm gì tạo ra, và tạo mantram như những quyền năng từ đối với các mãnh lực thấp trong bản chất, thì hi sinh được thực hiện như vậy đã điều hoà nhiều mãnh lực trong bản chất, và những mãnh lực ấy tác động lên địa cầu làm phát sinh thức ăn cho con người. Dù hành động tự nó là một biểu tượng, điều mà nó tượng trưng là có thật, và mãnh lực phát ra từ môi miệng của vị huấn sư đã được thanh lọc và người có quyền năng cũng là có thật. Biểu tượng ấy nhằm dạy dân chúng về bánh xe sự sống này, làm cho họ hiểu rằng hành động về bản chất là hi sinh, và mọi hành động đều nên mang bản chất hi sinh; nghĩa là, hành động nên được làm như bổn phận, nên được làm vì nó đúng và không vì mục tiêu nào khác, nên được làm để con người hoà điệu với định luật, nên được làm vì đó là câu trả lời của y đối với định luật, phần việc của y trong công tác chung. Vì vậy, dưới giáo huấn này, hi sinh là mối dây liên kết, là sợi chỉ vàng nối kết mọi hữu thể trong vũ trụ biểu hiện này; và vì cội rễ của hi sinh là hành động, vì hành động đến từ Thượng đế đang biểu hiện, và vì Ngài là Đấng biểu hiện, nên người ta nói rằng Brahman thấm nhuần mọi hi sinh, và mọi hành động được làm như vậy có thể được làm như bổn phận trong thế gian, không với dục vọng về quả cá nhân, không với dục vọng về lợi ích cá nhân, không với ước muốn đạt được điều gì cho phàm ngã — ở đây xuất hiện quan điểm thấp, suy đồi, ích kỷ mà về sau người ta đã làm hi sinh theo đó. Là một phần của sự xoay chuyển bánh xe, là một phần của việc hoàn thành bổn phận vì bổn phận, đó là chính yếu tính của thuật luyện kim, vốn biến hành động thành hi sinh, thiêu đốt những mối dây dục vọng, và giải thoát người minh triết. Như vậy, khi được thiêu trong lửa minh triết, hành động mất hết mãnh lực trói buộc đối với linh hồn; linh hồn trở thành một người đồng công với thiêng liêng trong bản chất, và mọi hành động được đặt lên bàn thờ của bổn phận trở thành một mãnh lực xoay bánh xe sự sống mà không bao giờ trói buộc linh hồn. |
|
That, then – this constant exchange, this mutual service – that is one form of the great Law of Sacrifice, and the change which is produced is of this nature, that where the action is done as duty, it becomes part of the universal harmony, distinctly helps forward evolution, distinctly helps m the raising of the race. The work of our aspirant in the Outer Court is gradually to train himself to perform all action in this sacrificial way, realising that he is thus performing it, asking for nothing, seeking for nothing, looking for no fruit, demanding no reward, doing it because it ought to be done, and for no other reason. Who does that, he is indeed performing this work of spiritual alchemy by which all action is purified in the fire of wisdom; he is in conscious harmony with the divine will in the manifested universe, and so becomes a force for evolution, so becomes an energy for progress, and the whole race then benefits by the action which otherwise would only have brought to the sacrificer a personal fruit, which in its turn would have bound his Soul, and limited his potentialities for good. Thus then we may regard this law of sacrifice as working, when regarded in its lower aspect. |
Vậy đó — sự trao đổi không ngừng, sự phụng sự tương hỗ — là một hình thức của Định luật Hi Sinh vĩ đại, và sự đổi thay được tạo ra có bản chất như sau: khi hành động được làm như bổn phận, nó trở thành một phần của sự hoà điệu vũ trụ, rõ rệt giúp thúc đẩy tiến hoá, rõ rệt giúp nâng cao nhân loại. Công việc của người chí nguyện trong Ngoại Sân là dần dần rèn luyện mình thực hiện mọi hành động theo cách hi sinh này, chứng nghiệm rằng y đang thực hiện nó như vậy, không xin gì, không tìm gì, không mong quả, không đòi thưởng, làm vì nó nên được làm, và không vì lý do nào khác. Ai làm như vậy, người ấy quả thật đang thực hiện công việc thuật luyện kim tinh thần, nhờ đó mọi hành động được thanh lọc trong lửa minh triết; y hoà điệu một cách hữu thức với ý chí thiêng liêng trong vũ trụ biểu hiện, và vì thế trở thành một mãnh lực cho tiến hoá, trở thành một năng lực cho tiến bộ, và toàn thể nhân loại được lợi từ hành động mà nếu không thì chỉ đem lại cho người hi sinh một quả cá nhân, mà đến lượt nó sẽ trói buộc linh hồn y và giới hạn tiềm năng làm điều thiện của y. Như vậy, chúng ta có thể xem định luật hi sinh này đang vận hành, khi được nhìn trong phương diện thấp của nó. |
|
Let us come on now to the higher, to the sublimer view, and in order that we may gain this without misconception, I will try to do it the more carefully, and dwell upon it the more fully, because I see how easily mistake may arise out of a partial presentment, for which I myself am responsible. I want to-night to delay a moment on the essence of sacrifice, and try to realise what sacrifice really means. It seems to me, and this is the thought with which I will ask you to begin, that sacrifice regarded in its innermost essence – regarded from the standpoint in which we shall all regard it more and more as we rise towards the diviner life – sacrifice is a giving or a pouring forth; it is motived by the desire to give, its essence is in the longing to pour forth something which is possessed, and which, being precious to the possessor, he desires to pour out for the helping and joy of others. So that the way to regard sacrifice, looked at from the inner side rather than from the outer, is that it is an act of gift, a pouring forth of the nature for the purpose of conferring happiness on others, and therefore it is in its essence joyous and not grievous, the gift itself being the very heart of the sacrificial action. Putting aside everything which may take place for the time in the making of the sacrifice – we will consider that presently – looking at the sacrifice as sacrifice, it is gift; and it is offered by a nature which desires to give, a nature which longs to pour itself forth, which would fain share with others all that it has of bliss, and which is motived by this one longing to pour itself forth into others, so that they may be one with it in its joy. But, you may say, why in its joy? Because I asked you to come back to the very heart and the core of Manifestation. The supreme act of sacrifice, I ventured to say elsewhere, was that Self-limitation of the One Existence by which It put forth as Energy the manifested Logos. I find – not unnaturally, perhaps, because in dealing with this in its working out in the universe, I dwelt unduly on one side of it – that this view of sacrifice has been held to imply what seems to me a contradiction in terms: “the agony of the Logos”. But what is Logos? Brahman in Manifestation; and the nature of Brahman we have been told over and over again in the ancient Scriptures, which in turn have their root in knowledge still more ancient, the nature of Brahman is Bliss. No other thought is possible, if you try to think at all of that which is beyond manifestation. That Brahman is bliss has been the keynote of the most ancient Aryan religion. And as man rises towards Brahman, the very last sheath of the Soul is called the Sheath of Bliss. If you take the Raja Yoga of India, and if you study the vehicles in which the Soul can manifest itself in the worlds, you will find that as it retires from the lower worlds, as it shakes off the lower sheaths, it casts aside the sheath of the body, and then the sheath of the subtle body, and then the sheath of desire, and then the sheath of mind; you will find that as it goes upwards and upwards, ever approaching that Brahman which is itself, and becoming ever more and more its own essential nature, you will find that at the very end there is a sheath, the highest, so subtle that it scarcely differentiates it from the One and Only, the filmy, rare individuality which is necessary in order to keep the whole harvest of the ages which lie behind. And that sheath has a name, and they call it the Sheath of Bliss, as though they would remind every one who is struggling in the world in the coils of ignorance, as though they would remind every one that this progress in Yoga, which is union with the Divine, is to be carried on from stage to stage until the Soul is enveloped in nothing but bliss, and then they say: “Brahman is Bliss”. So that you realise, if you realise this great teaching at all, that there is not possible an act of sacrifice in that lofty region which can be aught but an act of joy, aught but an act of the giving forth of bliss, and the very essence of the thought – however imperfectly I may have personally expressed the thought matters little – is that from that Supreme Nature which is bliss the universe came forth, from this Self-limiting of Existence came the Logos that is Itself. And the very object of the Self-limitation was to pour forth the bliss which was Its own essential nature, so that when the cycle of existence should be completed, there should be many individuals, radiant and joyous, to share with it that perfect bliss, a bliss which should ever grow as they approach to Itself; there is misery only in the supposed distance from It, because of the ignorance in which the Soul is wrapped. |
Giờ đây, hãy tiến lên phương diện cao hơn, siêu việt hơn, và để chúng ta có thể đạt được điều này mà không ngộ nhận, tôi sẽ cố gắng làm điều đó cẩn trọng hơn, và dừng lại ở đó đầy đủ hơn, vì tôi thấy sai lầm dễ phát sinh thế nào từ một sự trình bày phiến diện, mà chính tôi phải chịu trách nhiệm. Tối nay tôi muốn nán lại một chút ở yếu tính của hi sinh, và cố gắng chứng nghiệm hi sinh thật sự hàm ý gì. Với tôi, và đây là tư tưởng mà tôi sẽ xin các bạn bắt đầu, hi sinh được xét trong yếu tính thẳm sâu nhất của nó — được xét từ lập trường mà tất cả chúng ta sẽ xét nó ngày càng nhiều khi chúng ta vươn lên đời sống thiêng liêng hơn — hi sinh là một sự hiến tặng hay một sự tuôn đổ; nó được thúc đẩy bởi ước muốn cho đi, yếu tính của nó nằm trong khát vọng tuôn đổ điều gì đó mà mình sở hữu, và điều ấy, vì quý giá đối với người sở hữu, nên y muốn tuôn ra để giúp đỡ và đem niềm vui cho người khác. Vì vậy cách nhìn hi sinh, khi được nhìn từ phía bên trong hơn là từ phía bên ngoài, là rằng đó là một hành vi tặng hiến, một sự tuôn đổ bản chất của mình nhằm ban hạnh phúc cho người khác, và vì thế, trong yếu tính của nó, nó là hoan hỷ chứ không phải đau khổ, chính món quà là trái tim của hành động hi sinh. Gác lại mọi điều có thể xảy ra tạm thời trong việc thực hiện hi sinh — chúng ta sẽ xét điều đó ngay — nhìn hi sinh như hi sinh, nó là tặng hiến; và nó được dâng bởi một bản chất muốn cho đi, một bản chất khát khao tuôn đổ chính mình, một bản chất muốn chia sẻ với người khác mọi phúc lạc mà mình có, và được thúc đẩy bởi khát vọng duy nhất là tuôn đổ chính mình vào người khác, để họ có thể là một với nó trong niềm vui của nó. Nhưng, các bạn có thể nói, tại sao là trong niềm vui của nó? Vì tôi đã xin các bạn trở về chính trái tim và cốt lõi của Biểu Hiện. Hành vi hi sinh tối thượng, tôi đã mạo muội nói ở nơi khác, là sự tự giới hạn của Đấng Duy Nhất, nhờ đó Ngài phóng xuất Thượng đế biểu hiện như Năng Lượng. Tôi thấy — không có gì lạ, có lẽ, vì khi bàn về điều này trong sự triển khai của nó trong vũ trụ, tôi đã nhấn quá mức vào một phía — rằng quan điểm này về hi sinh đã bị xem là hàm ý điều dường như là một mâu thuẫn trong thuật ngữ: “nỗi thống khổ của Thượng đế biểu hiện”. Nhưng Thượng đế biểu hiện là gì? Brahman trong Biểu Hiện; và bản chất của Brahman, chúng ta đã được nói đi nói lại trong các Kinh điển cổ xưa, mà đến lượt chúng có cội rễ trong tri thức còn cổ xưa hơn, bản chất của Brahman là Phúc Lạc. Không thể có tư tưởng nào khác, nếu các bạn cố nghĩ về điều vượt ngoài biểu hiện. Brahman là phúc lạc đã là chủ âm của tôn giáo Arya cổ xưa nhất. Và khi con người vươn lên Brahman, lớp vỏ cuối cùng của linh hồn được gọi là Vỏ Phúc Lạc. Nếu các bạn lấy Raja Yoga của Ấn Độ, và nếu các bạn nghiên cứu các vận cụ mà linh hồn có thể biểu lộ trong các cõi giới, các bạn sẽ thấy rằng khi nó rút khỏi các cõi thấp, khi nó rũ bỏ các lớp vỏ thấp, nó gạt bỏ vỏ thể xác, rồi vỏ thể vi tế, rồi vỏ dục vọng, rồi vỏ thể trí; các bạn sẽ thấy rằng khi nó đi lên và đi lên, ngày càng tiến gần Brahman vốn là chính nó, và ngày càng trở thành bản chất thiết yếu của chính nó, các bạn sẽ thấy rằng ở tận cùng có một lớp vỏ, cao nhất, tinh tế đến nỗi hầu như không phân biệt nó với Đấng Duy Nhất, một cá tính mỏng như sương, hiếm như hơi, cần thiết để giữ toàn bộ mùa gặt của các thời đại đã qua. Và lớp vỏ ấy có một tên gọi, và họ gọi nó là Vỏ Phúc Lạc, như thể họ muốn nhắc mọi người đang vật lộn trong thế gian trong những vòng cuộn của vô minh, như thể họ muốn nhắc mọi người rằng sự tiến bộ trong Yoga, vốn là sự hợp nhất với Thiêng Liêng, phải được thực hiện từ giai đoạn này sang giai đoạn khác cho đến khi linh hồn chỉ còn được bao bọc bởi phúc lạc, và rồi họ nói: “Brahman là Phúc Lạc”. Vì vậy các bạn chứng nghiệm, nếu các bạn chứng nghiệm giáo huấn vĩ đại này, rằng không thể có một hành vi hi sinh nào trong vùng cao ấy mà lại không là một hành vi hoan hỷ, không là một hành vi tuôn phát phúc lạc, và chính yếu tính của tư tưởng — dù tôi có thể đã diễn đạt tư tưởng ấy chưa trọn vẹn đến đâu thì cũng không quan trọng — là rằng từ Bản Chất Tối Thượng vốn là phúc lạc, vũ trụ đã tuôn ra, từ sự tự giới hạn của Hiện Hữu đã xuất hiện Thượng đế biểu hiện vốn là chính Ngài. Và mục tiêu của sự tự giới hạn ấy chính là tuôn đổ phúc lạc vốn là bản chất thiết yếu của Ngài, để khi chu kỳ hiện hữu hoàn tất, sẽ có nhiều cá thể, rực rỡ và hoan hỷ, cùng chia sẻ với Ngài phúc lạc hoàn hảo ấy, một phúc lạc sẽ luôn tăng trưởng khi họ tiến gần đến chính Ngài; khổ đau chỉ có trong khoảng cách bị tưởng tượng là xa Ngài, vì vô minh bao bọc linh hồn. |
|
Take then, if you please, that as the essential thought: that the Law of Sacrifice is based on the Divine Nature, that the supreme sacrifice by which the . universe was emanated was this act of giving by the Nature which is bliss, and that, therefore, the object of the whole must essentially be this sharing or scattering of bliss, and that the root of the sacrifice is this joy in pouring forth to bring many into union with Itself, of which the end is to be the Peace which passeth all expression. Realising that, we shall be able to trace our Law of Sacrifice, and understand what I spoke of as the dual aspect: the aspect which in giving, is joy; but, inasmuch as the lower nature is a nature which grasps rather than gives, which shows itself continually from the standpoint of the lower nature as a renouncing, which is pain. And if we study this a little more closely I think we shall be able to escape from any contradiction, and perhaps clarify our eyes when we are dwelling on this great mystery, as it has well been called, of the Law of Sacrifice. Let us realise that giving is the highest joy, because it is of the essence of the Divine Nature. Let us next realise that as man becomes himself, that is, as he becomes in his own self-consciousness divine, he will become more and more joyful in himself, more and more joy-giving to others. So that bliss must increase as the highest nature develops, and pain can arise only out of the friction in the lower, out of the struggle of the lower – which is really the Self encumbered with ignorance and wrapped about with delusions. So that we shall find as we trace this onwards, that the use of pain is to get rid of ignorance; that the whole process of growth and of evolution is this getting rid of ignorance; and although that may be described, and is constantly experienced by us in our lower nature, as pain and trouble and conflict, yet in proportion as the true man within us develops, in proportion as he is consciously active, in proportion as he is able to translate himself into the lower nature, just in so far will he realise that the essence of all his efforts is to bring to the helping of a sorrowful world this manifestation of joy and peace; and he will gradually be able, as it were, to permeate the lower nature with his own conviction, as he gradually purifies it from ignorance and makes it realise the reality instead of the delusive appearance of things. |
Vậy hãy lấy, nếu các bạn vui lòng, điều ấy làm tư tưởng thiết yếu: rằng Định luật Hi Sinh dựa trên Bản Chất Thiêng Liêng, rằng sự hi sinh tối thượng nhờ đó vũ trụ được xuất lộ là hành vi cho đi này của Bản Chất vốn là phúc lạc, và rằng, vì vậy, mục tiêu của toàn thể về bản chất phải là sự chia sẻ hay rải gieo phúc lạc, và rằng cội rễ của hi sinh là niềm vui trong việc tuôn đổ để đưa nhiều người vào sự hợp nhất với chính Ngài, mà kết cuộc sẽ là Bình An vượt mọi diễn đạt. Chứng nghiệm điều đó, chúng ta sẽ có thể lần theo Định luật Hi Sinh của mình, và thấu hiểu điều tôi đã nói như phương diện kép: phương diện mà trong việc cho đi là hoan hỷ; nhưng, vì bản chất thấp là bản chất nắm giữ hơn là cho đi, nên nó liên tục biểu lộ từ lập trường của bản chất thấp như một sự từ bỏ, và đó là đau đớn. Và nếu chúng ta nghiên cứu điều này kỹ hơn một chút, tôi nghĩ chúng ta sẽ có thể thoát khỏi mọi mâu thuẫn, và có lẽ làm sáng mắt mình khi chúng ta đang chiêm nghiệm huyền nhiệm vĩ đại này, như người ta đã gọi rất đúng, của Định luật Hi Sinh. Hãy chứng nghiệm rằng cho đi là niềm vui cao nhất, vì đó là yếu tính của Bản Chất Thiêng Liêng. Kế đến, hãy chứng nghiệm rằng khi con người trở thành chính mình, nghĩa là khi y trở nên thiêng liêng trong ngã thức của mình, y sẽ ngày càng hoan hỷ trong chính mình, ngày càng đem niềm vui cho người khác. Vì vậy phúc lạc phải tăng lên khi bản chất cao nhất phát triển, và đau đớn chỉ có thể phát sinh từ sự ma sát trong bản chất thấp, từ cuộc đấu tranh của bản chất thấp — vốn thật ra là Bản Ngã bị vướng mắc trong vô minh và bị quấn quanh bởi ảo tưởng. Vì vậy, khi chúng ta lần theo điều này về sau, chúng ta sẽ thấy công dụng của đau đớn là để loại bỏ vô minh; rằng toàn bộ tiến trình tăng trưởng và tiến hoá là việc loại bỏ vô minh này; và dù điều đó có thể được mô tả, và thường xuyên được chúng ta trải nghiệm trong bản chất thấp của mình, như đau đớn và phiền não và xung đột, nhưng tuỳ theo mức độ con người chân thật bên trong chúng ta phát triển, tuỳ theo mức độ y hoạt động một cách hữu thức, tuỳ theo mức độ y có thể chuyển dịch chính mình vào bản chất thấp, thì đúng chừng ấy y sẽ chứng nghiệm rằng yếu tính của mọi nỗ lực của y là đem đến cho việc trợ giúp một thế giới sầu khổ sự biểu lộ của niềm vui và bình an này; và y sẽ dần dần có thể, như thể, thấm nhuần bản chất thấp bằng niềm xác tín của chính mình, khi y dần dần thanh lọc nó khỏi vô minh và làm cho nó chứng nghiệm thực tại thay vì sắc tướng ảo huyễn của vạn hữu. |
|
How then, it may fairly be asked, has this idea of pain been taken so continually in connection with sacrifice? Why have they been identified so much in thought that the very use of the word sacrifice conveys to the mind of a thinker or a reader the necessary idea of unmingled agony? It seems as though the root of misconception lay in the lower nature: all its first activities are directed towards grasping, towards taking, towards holding for its own isolated and separated self; coming out into this world for the gathering of experience where the higher man is as yet not at all developed, where his influence over the lower – he himself being so inchoate – is of the slightest possible kind, you will have this lower nature plunging about in the world of sensation, grasping here and there at everything that seems attractive, ignorant of the nature of things, ignorant of the result of things, simply led away by outer appearance, and unknowing of what may lie hidden beneath this delusive surface. So that these early and long continued experiences of the lower nature will be a constant grasping after apparent delights, and a constant finding that they are less satisfactory than had been imagined; and you may remember that once I worked out for you carefully this meaning and use of pain in its gradual teaching to man of the nature of law, and of the transitory nature of the desires of the senses, of the gratifications of the animal nature. In this way pain leads to knowledge, as also pleasure leads to knowledge; and experiencing these two sides of manifested nature the Soul gathers a little knowledge of the underlying reality of things. Gathering thus the experience which may be, and often is, painful in the gathering, it transmutes its experience into knowledge, changes this knowledge into wisdom, which then it takes as its guide; as the knowledge accumulates which is held by the real man, this growing self is beginning to realise what it is; as it transmutes it into wisdom, the wisdom is ever a source of pure and unadulterated joy. This growing wisdom ever means an increasing vision, an increasing serenity, and an increasing strength. So that to it, that which to the lower nature is painful, is not unwelcome as bringing with it experience; where some eagerly grasped gratification is found to bring disappointment and weariness to the true man, he changes that experience into wisdom; so that from this standpoint even pain has its joyous side, for he sees in the experience not the transitory pain of the lower nature, but the gain of knowledge to the higher, and he realises that all these experiences mean his own growth in knowledge and in power; he chooses them with a deliberate joy in the choosing, because he sees the end of the working, and the gold that comes out of the fire. |
Vậy thì, có thể hỏi một cách xác đáng, vì sao ý niệm đau đớn lại được gắn liền liên tục như vậy với hi sinh? Vì sao chúng lại được đồng nhất nhiều đến mức trong tư tưởng, đến nỗi chính việc dùng từ hi sinh đã chuyển đến thể trí của người suy tư hay người đọc ý niệm tất yếu về một nỗi thống khổ thuần tuý? Dường như cội rễ của ngộ nhận nằm ở bản chất thấp: mọi hoạt động đầu tiên của nó đều hướng về nắm giữ, hướng về lấy, hướng về giữ cho phàm ngã cô lập và tách biệt của nó; bước ra thế giới này để thu thập kinh nghiệm khi con người cao hơn còn chưa phát triển, khi ảnh hưởng của y lên bản chất thấp — vì chính y còn quá phôi thai — là nhỏ nhất có thể, các bạn sẽ có bản chất thấp này lao xao trong thế giới cảm giác, vồ chụp đây đó mọi thứ có vẻ hấp dẫn, không biết bản chất của vạn hữu, không biết kết quả của vạn hữu, chỉ bị dẫn dắt bởi sắc tướng bên ngoài, và không biết điều gì có thể ẩn dưới bề mặt ảo huyễn này. Vì vậy những kinh nghiệm sớm sủa và kéo dài của bản chất thấp sẽ là một sự vồ chụp liên tục những khoái lạc bề ngoài, và một sự liên tục phát hiện rằng chúng kém thoả mãn hơn điều đã tưởng; và các bạn có thể nhớ rằng đã có lần tôi đã triển khai cho các bạn một cách cẩn trọng ý nghĩa và công dụng của đau đớn trong việc dần dần dạy con người về bản chất của định luật, và về tính tạm bợ của những dục vọng giác quan, của những thoả mãn của bản chất thú tính. Theo cách này đau đớn dẫn đến tri thức, cũng như khoái lạc dẫn đến tri thức; và trải nghiệm hai mặt này của bản chất biểu hiện, linh hồn thu góp một ít tri thức về thực tại nền tảng của vạn hữu. Thu góp như vậy kinh nghiệm mà có thể, và thường là, đau đớn trong khi thu góp, nó chuyển hoá kinh nghiệm thành tri thức, đổi tri thức này thành minh triết, rồi lấy minh triết làm người hướng dẫn; khi tri thức tích luỹ được nắm giữ bởi con người chân thật, bản ngã đang tăng trưởng này bắt đầu chứng nghiệm nó là gì; khi nó chuyển hoá tri thức thành minh triết, minh triết luôn là một nguồn vui thuần khiết và không pha tạp. Minh triết đang tăng trưởng này luôn hàm ý một tầm nhìn ngày càng tăng, một sự tĩnh lặng ngày càng tăng, và một sức mạnh ngày càng tăng. Vì vậy đối với nó, điều mà đối với bản chất thấp là đau đớn, không phải là điều không được hoan nghênh vì mang lại kinh nghiệm; khi một sự thoả mãn được vồ chụp đầy háo hức được thấy là đem lại thất vọng và mệt mỏi cho con người chân thật, y chuyển hoá kinh nghiệm ấy thành minh triết; vì vậy từ lập trường này, ngay cả đau đớn cũng có mặt hoan hỷ của nó, vì y thấy trong kinh nghiệm không phải nỗi đau tạm bợ của bản chất thấp, mà là sự thu hoạch tri thức cho bản chất cao, và y chứng nghiệm rằng mọi kinh nghiệm ấy đều hàm ý sự tăng trưởng của chính y trong tri thức và trong quyền năng; y chọn chúng với một niềm vui có chủ ý trong việc chọn, vì y thấy kết cuộc của tiến trình vận hành, và vàng ròng đi ra từ lửa. |
|
But supposing we take the human being, blinded with ignorance, in the lower world; suppose we find him learning these lessons which nature is continually teaching, lessons which are stern and painful; suppose we see him seeking animal gratification, careless of the loss inflicted upon others, careless of the suffering which results to those around him, plunging over others in order to grasp for himself some object of desire; then certainly when he finds it fall to pieces in his grasp, his first feeling will be one of acute pain, of intense disappointment, a sense of weariness and of disgust. And so, looked at from his standpoint, the experience is a truly painful one, although from that higher standpoint it is one that was well worth the gathering, because of the wisdom which it brings, the deeper insight into nature, and the surer knowledge of law. But it is far more than that. The lower and the higher find themselves in conflict; the higher wills a certain achievement; through the lower it has to work; the lower understands not the aim of the higher, realises not the object which the higher sees; without that co-operation of the lower the object of the higher cannot be accomplished, and so there is this struggle with the lower nature, sometimes to force it forwards, sometimes to hold it back, and the whole of this, to the lower nature still wrapped in ignorance, results as a feeling of restraint, a feeling of enforced giving up of what it desires to have; but slowly there comes into that lower nature, as the higher works upon it more effectually, an understanding that it is well that this thing should be done, that although there may be pain in the doing, the gain is well worth the suffering, and that this overcoming of difficulty by effort, while the effort in itself is painful, still results in so much gain of strength that the mere passing pain of the effort is lost in the joy of the achieving. Thus as the Soul is developed, there will be, even so far as the lower nature is concerned, this double working in the intellect, in the mind of man, in which he will deliberately choose a thing which is difficult to achieve because he realises it as supremely desirable; yet he cannot gain it without sacrificing some lower desires, and he sacrifices them and burns them up, as it were, in the fire of knowledge. He then finds that as he does it he burns up limitations that held him down, that he burns up weaknesses that held him back, and that the touch of the fire, which seemed at first painful, is really nothing more than the burning of these chains that held him. Then he joyfully takes the freedom, and as the experience is repeated, he realises more and more the freedom, and less and less the suffering by which the freedom is gained. So that from that inner standpoint once more this suffering is changed into joy, for here again is the divine alchemy, and he sees that in this pouring forth of the Higher into the lower the Higher is bringing the lower to share its joy and to feel more of its permanent and increasing bliss. And when the Soul is approaching the gateway of the Temple, when this process is to a great extent understood, the Soul will begin to see that all this is really a process of getting rid of limitations, and that the whole of the suffering is in these limitations, which prevent it from realising its oneness with its brothers as well as its oneness with the Divine. As this is understood, and the pouring forth of the Divine Nature, which is the true man, expresses itself, it will constantly be felt that by the bursting of the limitation this diviner joy is found, and that the pain after all is again a question of separation, that the separation has its root in ignorance, and that with the destruction of ignorance there is also the ceasing of pain. And not only that, but as this limitation is felt to be illusory, as this limitation is seen as apparent and not real, and as having no part in the world where the true man is living, then he will begin deliberately to transmute these faculties of the lower nature, and by this alchemical process refine them in the way at which I have hinted in the beginning. |
Nhưng giả sử chúng ta lấy con người, bị mù lòa vì vô minh, ở cõi thấp; giả sử chúng ta thấy y đang học những bài học mà bản chất không ngừng dạy, những bài học nghiêm khắc và đau đớn; giả sử chúng ta thấy y tìm kiếm sự thỏa mãn của thú tính, không màng đến tổn thất gây ra cho người khác, không màng đến nỗi khổ phát sinh cho những người quanh y, chà đạp lên người khác để tự giành lấy một đối tượng dục vọng nào đó; thì chắc chắn khi y thấy nó vỡ vụn ngay trong tay mình, cảm giác đầu tiên của y sẽ là nỗi đau nhói buốt, là sự thất vọng dữ dội, là cảm giác mệt mỏi và ghê tởm. Và như vậy, xét theo lập trường của y, kinh nghiệm ấy thật sự đau đớn, mặc dù xét theo lập trường cao hơn, đó là một kinh nghiệm rất đáng thu nhận, vì minh triết mà nó đem lại, vì cái nhìn sâu hơn vào bản chất, và vì sự hiểu biết chắc chắn hơn về định luật. Nhưng còn hơn thế nữa. Cái thấp và cái cao thấy mình đang xung đột; cái cao muốn đạt một thành tựu nào đó; nó phải làm việc thông qua cái thấp; cái thấp không hiểu mục tiêu của cái cao, không nhận ra đối tượng mà cái cao nhìn thấy; nếu không có sự hợp tác của cái thấp thì mục tiêu của cái cao không thể hoàn thành, và vì thế có cuộc đấu tranh với bản chất thấp, đôi khi để thúc nó tiến lên, đôi khi để giữ nó lại; và toàn bộ điều này, đối với bản chất thấp vẫn còn bị vô minh bao bọc, sẽ thành ra một cảm giác bị kiềm chế, một cảm giác bị ép buộc phải từ bỏ điều nó ham muốn; nhưng dần dần, khi cái cao tác động lên nó hữu hiệu hơn, trong bản chất thấp nảy sinh một sự hiểu rằng làm như vậy là tốt, rằng dù có thể có đau đớn trong khi làm, nhưng cái được thì rất đáng với cái chịu, và rằng sự vượt thắng khó khăn bằng nỗ lực, tuy bản thân nỗ lực là đau đớn, vẫn đem lại một mức tăng trưởng sức mạnh lớn đến nỗi cơn đau thoáng qua của nỗ lực bị chìm mất trong niềm vui của sự thành tựu. Vì vậy, khi linh hồn được phát triển, sẽ có—ngay cả xét theo bản chất thấp—một sự vận hành kép trong trí tuệ, trong thể trí của con người, nơi y sẽ cố ý chọn một điều khó đạt được vì y nhận ra nó là vô cùng đáng khao khát; tuy nhiên y không thể đạt được nếu không hy sinh một số dục vọng thấp, và y hy sinh chúng và thiêu đốt chúng, như thể, trong lửa của tri thức. Rồi y thấy rằng khi làm như vậy, y thiêu đốt những giới hạn đã đè nén y, y thiêu đốt những yếu đuối đã níu kéo y, và rằng sự chạm của ngọn lửa, thoạt đầu tưởng như đau đớn, thật ra chỉ là sự đốt cháy những xiềng xích đã trói buộc y. Khi ấy y vui mừng đón nhận tự do, và khi kinh nghiệm ấy lặp lại, y càng ngày càng nhận ra tự do nhiều hơn, và càng ngày càng cảm thấy ít đau khổ hơn trong cái giá phải trả để có tự do. Do đó, từ lập trường nội tại ấy một lần nữa, đau khổ được chuyển thành niềm vui, vì ở đây lại là thuật luyện kim thiêng liêng, và y thấy rằng trong sự tuôn đổ của cái Cao vào cái thấp, cái Cao đang đưa cái thấp cùng chia sẻ niềm vui của nó và cảm nhận nhiều hơn phúc lạc thường hằng và ngày càng tăng của nó. Và khi linh hồn đang tiến gần đến cổng của Đền Thờ, khi tiến trình này phần lớn đã được thấu hiểu, linh hồn sẽ bắt đầu thấy rằng tất cả điều này thật sự là một tiến trình loại bỏ các giới hạn, và toàn bộ đau khổ nằm trong chính các giới hạn ấy, những giới hạn ngăn nó chứng nghiệm sự hợp nhất của nó với các huynh đệ cũng như sự hợp nhất của nó với Thiêng Liêng. Khi điều này được thấu hiểu, và sự tuôn đổ của Bản Chất Thiêng Liêng—là con người chân thật—tự biểu lộ, người ta sẽ luôn cảm thấy rằng chính nhờ sự bùng vỡ của giới hạn mà niềm vui thiêng liêng hơn này được tìm thấy, và rằng rốt cuộc nỗi đau lại là vấn đề của sự phân ly, rằng sự phân ly có gốc rễ trong vô minh, và rằng cùng với sự hủy diệt vô minh thì nỗi đau cũng chấm dứt. Và không chỉ thế, mà khi giới hạn này được cảm thấy là ảo tưởng, khi giới hạn này được thấy là bề ngoài chứ không thật, và không có phần nào trong thế giới nơi con người chân thật đang sống, thì y sẽ bắt đầu có chủ ý chuyển hoá các năng lực của bản chất thấp, và bằng tiến trình thuật luyện kim này tinh luyện chúng theo cách mà tôi đã gợi ý lúc ban đầu. |
|
Let us take one or two cases, and see how that might be. Let us take first what is one of the great sources of pain in the lower world- -the seeking of pleasure for the personal self, without regard to the wishes or the feelings of others; the desire to enjoy in separation, the desire to enjoy in a little circle which is fenced from the whole world out side, and is kept for this limited enjoyment of the lower self. That pleasure-seeking instinct, as it is sometimes called, how shall the Soul deal with that? Has it anything in it that may be changed in the fire? The pleasure-seeking which always ends in suffering may be changed into a joy-spreading faculty, in which all shall share that which the one has gained. The Soul finds that it can carry on this transmutation by gradually seeking to eliminate the element of separateness from this pleasure-seeking outgoing, by constantly trying to get rid of this desire to exclude, by knocking down the little wall of ignorance raised round itself in these lower worlds in which it is manifesting, by burning up that lower wall so that it shall no longer divide itself from its other selves, so that when a pleasure is thought of and gained the self pours itself out amongst all its brethren, and carries to them the happiness that it has found. But still in truth it finds joy in seeking obedience; for in a world where all is law, harmony with it must always bring peace and happiness, and the very presence of the discord is the showing of a disharmony with the law. But this Soul which is growing, when it finds that it has gained some spiritual power, when it finds that it has gained some spiritual knowledge, when it finds that it has gained some spiritual truth, will train itself to feel that the joy of possession lies really in the act of giving, not in the act of gaining, and that what it needs to do is to break down all these walls that it once made round itself in the days of its ignorance, and let the joy spread out over the whole world of men and of things. And thus the pleasure-seeking instinct may be transmuted into the joy-giving power, and that which once sought pleasure in isolation shall realise that joy is only found in sharing, and that nothing is worth having save that which is possessed in giving. And the joy of the giving is really the essential sacrifice, the pouring out to all of that which otherwise would become entirely worthless as being contained within a separated self. |
Chúng ta hãy lấy một hai trường hợp, và xem điều đó có thể như thế nào. Trước hết, hãy lấy một trong những nguồn đau khổ lớn ở cõi thấp—việc tìm kiếm khoái lạc cho phàm ngã, không màng đến ước muốn hay cảm xúc của người khác; ham muốn hưởng thụ trong sự phân ly, ham muốn hưởng thụ trong một vòng tròn nhỏ được rào kín khỏi toàn thế giới bên ngoài, và được giữ lại cho sự hưởng thụ giới hạn của phàm ngã. Bản năng tìm khoái lạc ấy, như đôi khi người ta gọi, linh hồn sẽ xử lý nó ra sao? Trong đó có điều gì có thể được biến đổi trong lửa chăng? Sự tìm khoái lạc vốn luôn kết thúc trong đau khổ có thể được chuyển thành một năng lực lan tỏa niềm vui, trong đó mọi người đều chia sẻ điều mà một người đã đạt được. Linh hồn thấy rằng nó có thể thực hiện sự chuyển hoá này bằng cách dần dần tìm cách loại bỏ yếu tố phân ly khỏi sự hướng ra tìm khoái lạc ấy, bằng cách liên tục cố gắng loại bỏ ham muốn loại trừ, bằng cách phá đổ bức tường nhỏ của vô minh dựng quanh chính nó trong các cõi thấp nơi nó đang biểu lộ, bằng cách thiêu đốt bức tường thấp ấy để nó không còn tự chia tách khỏi các bản ngã khác của nó nữa, để khi một khoái lạc được nghĩ đến và đạt được, bản ngã tuôn mình ra giữa tất cả các huynh đệ, và mang đến cho họ hạnh phúc mà nó đã tìm thấy. Nhưng đồng thời, thật ra nó thấy niềm vui trong việc tìm kiếm sự vâng phục; vì trong một thế giới nơi mọi sự đều là định luật, sự hòa hợp với định luật ấy hẳn luôn đem lại bình an và hạnh phúc, và chính sự hiện diện của bất hòa là dấu hiệu của sự bất hòa với định luật. Nhưng linh hồn đang tăng trưởng này, khi thấy mình đã đạt được một quyền năng tinh thần nào đó, khi thấy mình đã đạt được một tri thức tinh thần nào đó, khi thấy mình đã đạt được một chân lý tinh thần nào đó, sẽ rèn luyện để cảm nhận rằng niềm vui của sự sở hữu thật sự nằm trong hành động cho đi, chứ không nằm trong hành động đạt được, và rằng điều nó cần làm là phá đổ tất cả những bức tường mà nó từng dựng quanh mình trong những ngày vô minh, và để niềm vui lan tỏa khắp toàn thế giới của những người nam và nữ và của vạn vật. Và như vậy, bản năng tìm khoái lạc có thể được chuyển hoá thành quyền năng ban vui, và điều từng tìm khoái lạc trong cô lập sẽ nhận ra rằng niềm vui chỉ được tìm thấy trong sự chia sẻ, và rằng không có gì đáng có ngoài điều được sở hữu trong sự cho đi. Và niềm vui của sự cho đi thật sự là sự hi sinh cốt yếu, là sự tuôn đổ đến mọi người điều mà nếu không thì sẽ trở nên hoàn toàn vô giá trị vì bị giam trong một bản ngã tách biệt. |
|
Take another case for this same spiritual alchemy – the love which is selfish. Now here we have something higher than a pleasure-seeking instinct; for the very word love at least implies some giving to another, else were it not love at all; but it may still be a very selfish love, a love which is always seeking to get instead of to give, a love which is trying how much it can obtain from the objects of its love, instead of how much it can give to them, a love which just because it seeks to gain is sure to show forth the unlovely attributes of exclusiveness, of jealousy, of the desire to keep others outside, of the desire to have the beloved object for itself, and as it were to roof in the sun and keep it shining only in its own dwelling, none other benefiting from its rays. But a love that is selfish, how shall it be changed? Not by diminishing the love; that is the blunder that some men make; not by chilling it down and making it colder and harder as it were, if love could ever be cold and hard; but by encouraging the love and deliberately trying to eliminate these elements which degrade it; by watching the lower self, and when it begins to build a little wall of exclusion, knocking that wall down; when it desires to keep that which is so precious and so admirable, then at once trying to share with its neighbour; when it tries to draw the loved one from others, rather to give him out that he may be shared by others. The Soul must realise that what is beautiful and joy-giving should be given to all in order that they too may have the happiness which the one is receiving from the object which is beloved, so that all these grosser elements shall gradually disappear. When the feeling of selfishness arises, it shall deliberately be put aside; when the feeling of jealousy expresses itself, it shall at once be put an end to; so that where the feeling was “Let us keep alone and enjoy,” it shall be changed into “Let us go forth …to the world together to give and share with others the joy that together we have found”. So that by this process of alchemy, the love will become divine compassion, and will spread itself over all the world of men; so that which found its joy in receiving from the beloved, will find its delight in pouring forth to all that which it has found. And this love which once was selfish, which once perhaps was the love between one man and one woman, and then widened out into the circle of the home, and then widened out still further into the life of the community, and then widened out into the life of the nation, and then into the life of the race, shall finally widen out to include everything that lives in a universe where there is naught that lives not; and it shall have lost nothing in its depth, nothing in its warmth, nothing in its intensity, nothing in its fervour, but it shall have spread over the Universe instead of being concentrated on a single heart, and shall have become that ocean of compassion which includes everything which feels and lives. Such would be, with regard to love, this alchemy of the Soul. |
Hãy lấy một trường hợp khác cho cùng thuật luyện kim tinh thần này—tình yêu ích kỷ. Ở đây chúng ta có điều gì đó cao hơn bản năng tìm khoái lạc; vì chính từ “tình yêu” ít nhất cũng hàm ý có sự cho đi đến một người khác, nếu không thì hoàn toàn không phải là tình yêu; nhưng nó vẫn có thể là một tình yêu rất ích kỷ, một tình yêu luôn tìm cách nhận thay vì cho, một tình yêu đang thử xem nó có thể thu được bao nhiêu từ đối tượng yêu thương của nó, thay vì nó có thể cho họ bao nhiêu, một tình yêu mà chính vì tìm cách đạt được nên chắc chắn sẽ bộc lộ những thuộc tính không đáng yêu của tính độc chiếm, của ghen tuông, của ham muốn giữ người khác ở bên ngoài, của ham muốn có đối tượng yêu thương cho riêng mình, và như thể lợp mái che mặt trời và giữ cho nó chỉ chiếu sáng trong ngôi nhà của mình, không ai khác được hưởng lợi từ tia sáng ấy. Nhưng một tình yêu ích kỷ, sẽ được thay đổi ra sao? Không phải bằng cách làm giảm tình yêu; đó là sai lầm mà một số người mắc phải; không phải bằng cách làm nguội nó và khiến nó lạnh hơn và cứng hơn như thể, nếu tình yêu có thể lạnh và cứng; mà bằng cách khuyến khích tình yêu và cố ý tìm cách loại bỏ những yếu tố làm hạ thấp nó; bằng cách quan sát phàm ngã, và khi nó bắt đầu xây một bức tường nhỏ của sự loại trừ, thì phá bức tường ấy; khi nó muốn giữ điều quý giá và đáng ngưỡng mộ ấy, thì lập tức cố gắng chia sẻ với người lân cận; khi nó cố kéo người được yêu ra khỏi người khác, thì trái lại hãy trao y ra để y có thể được chia sẻ bởi người khác. Linh hồn phải nhận ra rằng điều gì đẹp đẽ và ban vui thì nên được trao cho tất cả để họ cũng có thể có hạnh phúc mà một người đang nhận từ đối tượng được yêu, để tất cả những yếu tố thô kệch ấy dần dần biến mất. Khi cảm giác ích kỷ khởi lên, nó sẽ được cố ý gạt sang một bên; khi cảm giác ghen tuông tự biểu lộ, nó sẽ lập tức bị chấm dứt; để cho nơi từng có cảm giác “Chúng ta hãy giữ riêng và hưởng thụ,” sẽ được đổi thành “Chúng ta hãy đi ra… cùng nhau đến với thế gian để cho đi và chia sẻ với người khác niềm vui mà chúng ta cùng tìm thấy”. Như vậy, bằng tiến trình thuật luyện kim này, tình yêu sẽ trở thành lòng từ bi thiêng liêng, và sẽ lan tỏa khắp thế giới của những người nam và nữ; để cho điều từng tìm niềm vui trong việc nhận từ người được yêu, sẽ tìm khoái lạc của nó trong việc tuôn đổ đến mọi người điều mà nó đã tìm thấy. Và tình yêu từng ích kỷ ấy, từng có lẽ là tình yêu giữa một người nam và một người nữ, rồi mở rộng ra thành vòng tròn của gia đình, rồi mở rộng hơn nữa thành đời sống cộng đồng, rồi mở rộng ra thành đời sống quốc gia, rồi thành đời sống của nhân loại, cuối cùng sẽ mở rộng để bao gồm mọi sự sống trong một vũ trụ nơi không có gì sống mà lại không sống; và nó sẽ không mất gì về chiều sâu, không mất gì về sự ấm áp, không mất gì về cường độ, không mất gì về nhiệt thành, nhưng nó sẽ lan tỏa khắp Vũ Trụ thay vì tập trung vào một trái tim duy nhất, và sẽ trở thành đại dương từ bi bao gồm mọi điều biết cảm và biết sống. Đó sẽ là, đối với tình yêu, thuật luyện kim của linh hồn. |
|
And thus you might take quality after quality of the lower nature, and trace it out as I have traced these two, and you will see that the whole of the process is essentially a getting rid of the separateness, a burning up of that by deliberate will and deliberate knowledge and understanding, and that the whole of the process is a joy to the true, the real man, however much the lower man may sometimes in his blindness fail to understand. And when once that is known, then that which was pain loses its aspect of pain, and becomes a joy, and even in the absolute sensation of what otherwise would have been pain, the joy overbears and changes the suffering, because the Soul sees, and the lower nature begins to understand, the end and the object of the work. |
Và như vậy, các bạn có thể lấy phẩm tính này đến phẩm tính khác của bản chất thấp, và lần theo nó như tôi đã lần theo hai điều này, và các bạn sẽ thấy rằng toàn bộ tiến trình về bản chất là loại bỏ sự phân ly, là thiêu đốt điều đó bằng ý chí có chủ ý và tri thức có chủ ý cùng sự thấu hiểu, và rằng toàn bộ tiến trình là một niềm vui đối với con người chân thật, con người thực tại, dù đôi khi phàm nhân trong sự mù lòa của y không hiểu. Và khi một khi điều đó được biết, thì điều từng là đau khổ sẽ mất đi dáng vẻ đau khổ, và trở thành niềm vui, và ngay cả trong cảm giác tuyệt đối của điều mà nếu không thì đã là đau đớn, niềm vui vẫn lấn át và chuyển hóa sự khổ, bởi vì linh hồn thấy, và bản chất thấp bắt đầu hiểu, mục đích và đối tượng của công việc. |
|
And thus tracing this subject we shall realise that there is yet another way in which this transmutation may occur; that as this fire of wisdom and of love, which is the Divine Nature in man, comes forth into the lower nature more and more, burning up these limitations that I have spoken of, and transmuting it into its own likeness, there is also a liberation of spiritual energy, a liberation of spiritual power; this Self which is thus manifested in the lower man is able to put forth energies and powers which seem in some strange way to be the outcome of the process that we have been tracing, an alchemy in Nature by which – as this Soul, with its fire of love and of wisdom, becomes manifest in the world of men – in the very manifestation it seems to liberate energy, in the very burning up of the lower it sets free subtle forces of the higher; so that the result of the burning is the liberation of the spiritual life, the setting free of that which was bound and could not manifest itself, but which, when this outer film shall be burned up, is freed for work in the world. We come dimly to understand, as the Soul is rising on to higher planes, and realising its identity with all and the oneness of all, we begin dimly to see the outline of a great truth: that it is able by virtue of its oneness with other Souls to share with them and to help them in many ways, and that it is able to surrender and feel joy in the surrender of that which it might have had for itself, but which, having identified itself with all, it must needs give to the world. And so what might be called the prize of spiritual achievements – the possibilities of spiritual rest, and spiritual bliss, and spiritual growth, which could not be shared with others – may be surrendered by this Soul as a joyful act, which is for it a necessity of its own nature, in order that all it surrenders may become common property, and spread through the race of men to help forward their evolution. And so we hear of disciples who give up Devachan, and we hear of Adepts who give up Nirvana, and we realise dimly that what it means is that these are reaching a point of self-identification with their brothers which makes it a divine necessity for them to share with others that which they have gained; that the true reward for them does not lie in the bliss of Devachan or in the unimaginable beatitude of Nirvana, but that the only joy they care to take is the throwing of all that is theirs, all that which they might have enjoyed, into the common stock, thus helping forward the common evolution, the lifting upward a little of the race of which they are a part. |
Và như vậy, lần theo đề tài này, chúng ta sẽ nhận ra rằng còn một cách khác nữa mà sự chuyển hoá này có thể xảy ra; rằng khi ngọn lửa minh triết và bác ái—là Bản Chất Thiêng Liêng trong con người—tuôn ra vào bản chất thấp ngày càng nhiều, thiêu đốt những giới hạn mà tôi đã nói, và chuyển hoá nó thành giống như chính nó, thì cũng có một sự giải phóng năng lượng tinh thần, một sự giải phóng quyền năng tinh thần; Bản Ngã này, khi được biểu lộ trong phàm nhân, có thể phát ra những năng lượng và quyền năng dường như theo một cách kỳ lạ là kết quả của tiến trình mà chúng ta đang lần theo, một thuật luyện kim trong bản chất theo đó—khi linh hồn này, với lửa bác ái và minh triết của nó, trở nên biểu lộ trong thế giới của những người nam và nữ—ngay trong sự biểu lộ ấy dường như nó giải phóng năng lượng, ngay trong sự thiêu đốt cái thấp nó giải phóng những mãnh lực vi tế của cái cao; để cho kết quả của sự thiêu đốt là sự giải phóng đời sống tinh thần, là sự giải thoát điều vốn bị trói buộc và không thể tự biểu lộ, nhưng khi lớp màng bên ngoài này được thiêu đốt, thì được giải phóng để làm việc trong thế gian. Chúng ta mơ hồ thấu hiểu, khi linh hồn đang vươn lên các cõi cao hơn, và chứng nghiệm đồng nhất tính của nó với tất cả và sự hợp nhất của tất cả, chúng ta bắt đầu mơ hồ thấy phác thảo của một chân lý lớn: rằng nhờ đức tính hợp nhất của nó với các linh hồn khác, nó có thể chia sẻ với họ và giúp họ theo nhiều cách, và rằng nó có thể từ bỏ và cảm thấy niềm vui trong sự từ bỏ điều mà nó có thể đã có cho riêng mình, nhưng vì đã đồng hoá với tất cả, nó tất phải trao cho thế gian. Và như vậy, điều có thể gọi là phần thưởng của những thành tựu tinh thần—những khả thể của sự nghỉ ngơi tinh thần, và phúc lạc tinh thần, và tăng trưởng tinh thần, vốn không thể chia sẻ với người khác—có thể được linh hồn này từ bỏ như một hành động vui mừng, điều đối với nó là một tất yếu của chính bản chất nó, để cho tất cả những gì nó từ bỏ trở thành tài sản chung, và lan truyền trong nhân loại để giúp thúc đẩy tiến hoá của họ. Và vì thế chúng ta nghe nói về các đệ tử từ bỏ Devachan, và chúng ta nghe nói về các chân sư từ bỏ Niết Bàn, và chúng ta mơ hồ nhận ra rằng điều đó có nghĩa là họ đang đạt đến một điểm tự đồng nhất với các huynh đệ của mình khiến việc chia sẻ với người khác điều họ đã đạt được trở thành một tất yếu thiêng liêng đối với họ; rằng phần thưởng chân thật đối với họ không nằm trong phúc lạc của Devachan hay trong hạnh phúc không thể tưởng tượng của Niết Bàn, mà niềm vui duy nhất họ muốn nhận là ném tất cả những gì thuộc về họ, tất cả những gì họ có thể đã hưởng, vào kho chung, nhờ đó giúp thúc đẩy tiến hoá chung, nâng nhân loại—mà họ là một phần—lên cao thêm một chút. |
|
And then we catch a glimpse also of another truth, of the way in which this help may sometimes be given; and we see that when a man is weighed down under suffering that he has made for himself, and when in the great sweep of the law which may never be broken, there fall upon a human Soul pain and suffering, of which he himself has been in the past the sower and the cause – that when that suffering comes upon him, it is possible for one who knows no separation, who realises that he and this suffering Soul are one on the plane of Reality – not to take the inevitable result upon himself, leaving him who had sown the seed to escape reaping the harvest, but – to stand, as it were, beside him in the reaping, and to breathe strength and energy into his Soul; thus, while the burden is borne by the one who made it, and the harvest is reaped by the one who sowed it, there is still, as it were, thrown into that Soul a new strength, and a new life, and a new understanding, which make it possible for him to fulfil his task, which change not the task but the attitude of the Soul in the doing it; which change not the burden but the strength of the Soul which lifts it; and one of the greatest joys, one of the highest rewards which can come to the Soul which is growing, and which is asking nothing for itself save the power of service, comes, when it sees a weaker Soul that is being crushed because it is weak, and finds that it can breathe into that Soul some breath of divine courage and of relief, and of the understanding that will give hope and the power to bear. The help which is given is the strengthening of the brother-Soul to accomplish; not the setting free that Soul from a burden which it has made, and which for its own sake it should bear, but a breathing into it of that power which grows out of an understanding of the nature of things, and which really for it also changes the pain of the suffered penalty into the quiet endurance of a well-deserved pain which teaches its own lesson. A Soul thus aided becomes joyous even while bearing the burden of its Karma; and the gift which is given to it is a gift which makes it stronger now and in the future and which is the outpouring of the Divine Life from the plane where all Souls are one; that plane is kept full of this spiritual energy which can help by the constant giving of those who have found the divine joy of pouring themselves out, and who know no phase of reward other than the seeing their brothers rising upwards to the light that they themselves have achieved. |
Và rồi chúng ta cũng thoáng thấy một chân lý khác, về cách mà sự trợ giúp này đôi khi có thể được trao; và chúng ta thấy rằng khi một người bị đè nặng dưới đau khổ do chính y tạo ra, và khi trong dòng quét lớn của định luật không bao giờ có thể bị phá vỡ, đau đớn và khổ đau giáng xuống một linh hồn nhân loại—mà chính y trong quá khứ đã là kẻ gieo và là nguyên nhân—thì khi đau khổ ấy đến với y, một người không biết sự phân ly, người chứng nghiệm rằng y và linh hồn đang chịu khổ ấy là một trên cõi Thực Tại—không phải là nhận lấy kết quả tất yếu ấy thay cho y, để kẻ đã gieo hạt thoát khỏi việc gặt hái mùa màng, mà là—như thể—đứng bên cạnh y trong lúc gặt hái, và thổi sức mạnh và năng lượng vào linh hồn y; như vậy, trong khi gánh nặng được mang bởi người đã tạo ra nó, và mùa màng được gặt bởi người đã gieo nó, thì vẫn có, như thể, được ném vào linh hồn ấy một sức mạnh mới, một sự sống mới, và một sự thấu hiểu mới, khiến y có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình, không đổi nhiệm vụ nhưng đổi thái độ của linh hồn trong khi làm; không đổi gánh nặng nhưng đổi sức mạnh của linh hồn nâng nó lên; và một trong những niềm vui lớn nhất, một trong những phần thưởng cao nhất có thể đến với linh hồn đang tăng trưởng, và không xin gì cho mình ngoài quyền năng phụng sự, đến khi nó thấy một linh hồn yếu hơn đang bị nghiền nát vì yếu đuối, và nhận ra rằng nó có thể thổi vào linh hồn ấy một hơi thở của dũng khí thiêng liêng và của sự giải tỏa, và của sự thấu hiểu sẽ đem lại hy vọng cùng quyền năng chịu đựng. Sự trợ giúp được trao là sự tăng cường linh hồn-huynh đệ để hoàn thành; không phải giải thoát linh hồn ấy khỏi gánh nặng mà nó đã tạo ra, và vì lợi ích của chính nó nó nên mang, mà là thổi vào nó quyền năng nảy sinh từ sự thấu hiểu bản chất của vạn sự, và điều đó thật sự cũng chuyển hoá nỗi đau của hình phạt đã chịu thành sự chịu đựng lặng lẽ một nỗi đau xứng đáng, vốn dạy bài học của chính nó. Một linh hồn được trợ giúp như vậy trở nên vui mừng ngay cả khi đang mang gánh nặng nghiệp quả của nó; và món quà được trao cho nó là món quà làm nó mạnh hơn bây giờ và trong tương lai, và là sự tuôn đổ của Sự Sống Thiêng Liêng từ cõi nơi mọi linh hồn là một; cõi ấy được giữ đầy năng lượng tinh thần này có thể trợ giúp nhờ sự cho đi liên tục của những người đã tìm thấy niềm vui thiêng liêng của việc tuôn đổ chính mình, và không biết một dạng phần thưởng nào khác ngoài việc thấy các huynh đệ của mình vươn lên ánh sáng mà chính họ đã đạt được. |
|
But if this be true, what means the difficult thought with which we are all familiar, which our aspirant most certainly will constantly have heard, which he feels himself to be facing when he enters on these probationary stages, and which he fancies covers all that lies on the other side of the gate into the Outer Court? Why has the Path been called “the Path of Woe,” if, as the Path is trodden, it becomes ever more radiant with this diviner joy? Yet it is not hard to understand why that phrase should have been used, if you realise to whom the Path at first must needs seem a Path of Woe; if you understand that in this breasting of the mountain side, in this deliberate will to climb so rapidly, in this deliberate determination to outstrip the ordinary human evolution, one inevitable result of the effort must be the concentration into a few lives of the results that would else have been spread over many, the coming down on the Soul of the Karma of the past, which now has to be faced and to be dealt with in so brief a time, and therefore with a tremendous added force of intensity. When first that falls upon the Soul, it may come with a bewildering’ force, it may come with a blinding energy, which makes it realise suffering as it has never realised it before. But even then it is not the Soul itself which feels the woe; it is the lower nature, blinded still and ever forced onward by the higher; even in that moment of bitter trial, when all that is accumulated in many a life behind is coming down on the Soul that has dared thus to challenge its destiny, even in that moment the Soul itself is in a place of peace, and is joyous that this should be done speedily which otherwise had lasted through so many lives, and that in a fire which may be keen, but which yet is brief, the dross of the past shall be utterly purged away, and it shall be left free to go onward to the life which alone it recognises as desirable. |
Nhưng nếu điều này là đúng, thì tư tưởng khó khăn mà tất cả chúng ta đều quen thuộc, mà người chí nguyện chắc chắn sẽ thường xuyên nghe, mà y cảm thấy mình đang đối diện khi bước vào những giai đoạn dự bị này, và mà y tưởng rằng bao trùm tất cả những gì nằm ở phía bên kia cổng vào Ngoại Viện, có nghĩa là gì? Vì sao Con Đường đã được gọi là “Con Đường Khổ Nạn,” nếu khi Con Đường được bước đi, nó trở nên ngày càng rực rỡ với niềm vui thiêng liêng hơn này? Tuy vậy, không khó để hiểu vì sao cụm từ ấy đã được dùng, nếu các bạn nhận ra đối với ai mà lúc đầu Con Đường tất phải có vẻ là Con Đường Khổ Nạn; nếu các bạn hiểu rằng trong việc ưỡn ngực leo lên sườn núi này, trong ý chí có chủ ý để leo nhanh đến thế, trong quyết tâm có chủ ý để vượt lên tiến hoá nhân loại bình thường, một kết quả tất yếu của nỗ lực phải là sự tập trung vào một vài kiếp sống những kết quả vốn dĩ đã được trải ra trên nhiều kiếp, là nghiệp quả quá khứ đổ xuống linh hồn, mà nay phải được đối diện và xử lý trong một thời gian ngắn đến thế, và vì vậy với một lực cường độ tăng thêm ghê gớm. Khi điều đó lần đầu giáng xuống linh hồn, nó có thể đến với một sức mạnh làm choáng váng, nó có thể đến với một năng lượng làm mù lòa, khiến nó chứng nghiệm đau khổ như chưa từng chứng nghiệm trước đây. Nhưng ngay cả khi ấy, không phải chính linh hồn cảm thấy khổ nạn; đó là bản chất thấp, vẫn còn mù lòa và luôn bị cái cao thúc đẩy tiến lên; ngay trong khoảnh khắc thử thách cay đắng ấy, khi tất cả những gì tích lũy qua nhiều kiếp sống phía sau đang đổ xuống linh hồn đã dám thách thức định mệnh của mình như vậy, ngay trong khoảnh khắc ấy, chính linh hồn ở trong một nơi bình an, và vui mừng rằng điều này được làm nhanh chóng, điều mà nếu không thì đã kéo dài qua rất nhiều kiếp, và rằng trong một ngọn lửa có thể sắc bén nhưng vẫn ngắn ngủi, cặn bã của quá khứ sẽ được tẩy sạch hoàn toàn, và nó sẽ được để lại tự do để tiến onward đến đời sống mà duy nhất nó nhận ra là đáng khao khát. |
|
Thus it is that this path, looked at from beneath, has been called a Path of Woe, and also because men on entering it give up so much that to the world appears as pleasure – pleasures of the senses, pleasures of the worldly life, enjoyments of every description, which so many people think and feel are the very flowers along the pathway of life. But this Soul that is resolute to climb has lost its taste for them, this Soul desires them no longer, this Soul seeks something that does not fade, and joys that are not transient; and although the Path may look from the outside like a Path of Renunciation, it is a renunciation which, on the other side, means added joy and peace and happiness; for it is not the taking of woe for pleasure, but the throwing aside of a passing happiness for eternal bliss, the giving up of a thing which can be taken from it by outer circumstances for that which is the inner possession of the Soul itself, treasures which no robber can ever touch, joys which no change of earthly circumstances can dim, or mar, or cloud. And as the Soul goes onwards along the Path, the joy deepens and deepens; for we saw at the beginning that sorrow had its root in ignorance. True, the bitter pain will often come before the knowledge, but that is because of the ignorance, because of the blindness. There is sorrow in the hearts of those who, because of the sorrow perhaps, give themselves to the seeking of the Path, when they look over the world of men and see the misery and the wretchedness on every side, when they see the suffering of men, of women, and of children coming back century after century, and millennium after millennium, when they see men suffer who know not why they suffer, and so have that sting of ignorance which is really the essence of pain. In looking over the world sunk in ignorance, and on men struggling amidst its coils, then it is that the hearts of the men who are to be the Saviours of mankind feel the misery of the world, and this inspires them to seek for it the Path of Liberation. But has it never struck you, looking back to the history of those great Ones, and catching such glimpses of their lives as we may from history or tradition in the world of men, has it never struck you that this agony that They went through was before They saw the light? That the agony was the agony of helplessness, the reflection of the sorrows that They realised while yet They saw not the cause, of the sorrow that They felt while yet They knew not the curing? And if you take the sorrow of that Divine Man, whom so many millions of our race to-day regard as highest and greatest, the very flower of humanity, the Buddha who now has for lovers one-third of the human race, do you remember how He sought the cause of sorrow, how He mourned over the ignorance and the misery of the world, and saw not – it is said, perchance in parable, saw not – how that sorrow might be cured; how He went through suffering and pain and self-denial, how He renounced wife, and child, and palace, and home, and kingdom; how He went out with only the mendicant’s bowl alone into the jungle, far from the haunts of men; and how His heart was heavy within Him, and His eyes were clouded? He knew not, it is said, how to save the world, and yet He could not be at peace while the world was suffering; He went through many a danger, through many a pain, through mortification of the body, and the denser darkness and misery of the mind which sought to see but could not; and at last, sitting beneath the tree, there came illumination, and He knew the cause of sorrow; and then there came the time when sorrow vanished and joy took its place; when, in the words that have come ringing down through the centuries from His lips, there is the cry of triumph, of joy, of happiness that shall know no future change. You may remember the words in which an English poet has voiced His saying, which show how the ignorance was the cause of the sorrow, and how knowledge was the seeing, and the coming of the joy: – |
Vì vậy, con đường này, nhìn từ bên dưới, đã được gọi là Con Đường Khổ Nạn, và cũng vì những người bước vào nó từ bỏ rất nhiều điều mà đối với thế gian có vẻ là khoái lạc—khoái lạc của giác quan, khoái lạc của đời sống thế tục, những hưởng thụ đủ mọi loại, mà rất nhiều người nghĩ và cảm thấy là chính những bông hoa dọc theo lối đi của đời sống. Nhưng linh hồn quyết chí leo lên này đã mất đi khẩu vị đối với chúng, linh hồn này không còn ham muốn chúng nữa, linh hồn này tìm kiếm điều không phai tàn, và những niềm vui không thoáng qua; và dù Con Đường có thể nhìn từ bên ngoài như Con Đường Từ Bỏ, thì đó là một sự từ bỏ mà ở phía bên kia có nghĩa là niềm vui, bình an và hạnh phúc tăng thêm; vì đó không phải là chọn khổ nạn thay cho khoái lạc, mà là gạt bỏ một hạnh phúc chóng qua để lấy phúc lạc vĩnh cửu, là từ bỏ điều có thể bị hoàn cảnh bên ngoài lấy đi để lấy điều là sở hữu nội tại của chính linh hồn, những kho tàng mà không kẻ trộm nào có thể chạm tới, những niềm vui mà không sự đổi thay nào của hoàn cảnh trần thế có thể làm mờ, hay làm hỏng, hay che phủ. Và khi linh hồn tiến bước dọc theo Con Đường, niềm vui càng ngày càng sâu; vì chúng ta đã thấy lúc ban đầu rằng sầu khổ có gốc rễ trong vô minh. Đúng vậy, nỗi đau cay đắng thường đến trước tri thức, nhưng đó là vì vô minh, vì mù lòa. Có sầu khổ trong trái tim của những người, có lẽ vì sầu khổ ấy, mà hiến mình cho việc tìm kiếm Con Đường, khi họ nhìn khắp thế giới của những người nam và nữ và thấy khốn khổ và bất hạnh ở mọi phía, khi họ thấy đau khổ của những người nam và nữ và trẻ em trở lại thế kỷ này qua thế kỷ khác, và thiên niên kỷ này qua thiên niên kỷ khác, khi họ thấy con người chịu khổ mà không biết vì sao chịu khổ, và vì vậy có cái ngòi của vô minh vốn thật sự là cốt tủy của đau đớn. Khi nhìn thế giới chìm trong vô minh, và nhìn con người vật lộn giữa những vòng cuốn của nó, chính khi ấy trái tim của những người sẽ là Đấng Cứu Thế của nhân loại cảm nhận nỗi khốn khổ của thế gian, và điều này thôi thúc họ tìm cho nó Con Đường Giải Thoát. Nhưng đã bao giờ các bạn chợt nghĩ, khi nhìn lại lịch sử của những Đấng Cao Cả ấy, và bắt gặp những thoáng nhìn về đời sống của Các Ngài như chúng ta có thể từ lịch sử hay truyền thống trong thế giới của những người nam và nữ, rằng cơn hấp hối mà Các Ngài đã trải qua là trước khi Các Ngài thấy ánh sáng không? Rằng cơn hấp hối ấy là cơn hấp hối của sự bất lực, là sự phản chiếu của những nỗi sầu mà Các Ngài nhận ra trong khi vẫn chưa thấy nguyên nhân, của nỗi sầu mà Các Ngài cảm trong khi vẫn chưa biết phương thuốc? Và nếu các bạn lấy nỗi sầu của Con Người Thiêng Liêng ấy, Đấng mà ngày nay hàng triệu người trong nhân loại chúng ta xem là cao nhất và vĩ đại nhất, chính bông hoa của nhân loại, Đức Phật mà nay có những người yêu mến chiếm một phần ba nhân loại, các bạn có nhớ Ngài đã tìm nguyên nhân của sầu khổ ra sao, Ngài đã than khóc trước vô minh và khốn khổ của thế gian ra sao, và không thấy—người ta nói, có lẽ như một dụ ngôn, không thấy—sầu khổ ấy có thể được chữa lành thế nào; Ngài đã đi qua khổ đau và đau đớn và tự khước từ ra sao, Ngài đã từ bỏ vợ, và con, và cung điện, và nhà cửa, và vương quốc ra sao; Ngài đã ra đi chỉ với bình bát của người khất sĩ, một mình vào rừng sâu, xa khỏi chốn người ở ra sao; và trái tim Ngài nặng trĩu trong Ngài, và mắt Ngài mờ phủ ra sao? Ngài không biết, người ta nói, làm sao cứu thế gian, nhưng Ngài không thể bình an khi thế gian còn chịu khổ; Ngài đã trải qua biết bao hiểm nguy, biết bao đau đớn, qua sự hành xác thân thể, và bóng tối dày đặc hơn cùng khốn khổ của thể trí vốn tìm cách thấy mà không thể; và cuối cùng, ngồi dưới gốc cây, sự soi sáng đến, và Ngài biết nguyên nhân của sầu khổ; và rồi đến thời điểm sầu khổ tan biến và niềm vui thay chỗ; khi, trong những lời đã vang vọng qua các thế kỷ từ môi Ngài, có tiếng kêu khải hoàn, của niềm vui, của hạnh phúc sẽ không còn đổi thay về sau. Các bạn có thể nhớ những lời mà một thi sĩ Anh đã diễn đạt lời nói của Ngài, cho thấy vô minh là nguyên nhân của sầu khổ, và tri thức là sự thấy, và sự đến của niềm vui: – |
|
I, Buddh, who wept with all my brothers’ tears, |
Tôi, Đức Phật, người đã khóc bằng nước mắt của mọi huynh đệ tôi, |
|
Whose heart was broken with the whole world’s woe, |
Trái tim tôi tan vỡ vì nỗi khổ của cả thế gian, |
|
Laugh and am glad, for there is liberty. |
Nay cười và vui mừng, vì có tự do. |
|
Liberty! but that is joy. The tears came from ignorance; the tears came from blindness; the heart was broken with the world’s woe. as men’s hearts are breaking now because they know not. But there is liberty. And the message of liberty is that the cause of sorrow lies in ourselves and not in the universe; that it lies in our ignorance and not in the nature of things; that it lies in our blindness and not in the life. Thus it is that when the light comes, liberty comes with it, and the joy and the laughter, as it is said, of the man become divine. For the divine light has flowed in upon His Soul, He is the illuminated, the wise; and for the wise there is no such thing as sorrow, for the divinely illuminated Soul grief is dead for evermore. |
Tự do! nhưng đó là niềm vui. Nước mắt đến từ vô minh; nước mắt đến từ mù lòa; trái tim tan vỡ vì nỗi khổ của thế gian, như trái tim con người đang tan vỡ bây giờ vì họ không biết. Nhưng có tự do. Và thông điệp của tự do là nguyên nhân của sầu khổ nằm trong chính chúng ta chứ không nằm trong vũ trụ; rằng nó nằm trong vô minh của chúng ta chứ không nằm trong bản chất của vạn sự; rằng nó nằm trong mù lòa của chúng ta chứ không nằm trong sự sống. Vì vậy, khi ánh sáng đến, tự do đến cùng với nó, và niềm vui cùng tiếng cười, như người ta nói, của con người trở nên thiêng liêng. Vì ánh sáng thiêng liêng đã tuôn vào linh hồn Ngài, Ngài là bậc được soi sáng, bậc minh triết; và đối với bậc minh triết không có điều gì như sầu khổ, đối với linh hồn được soi sáng thiêng liêng thì bi sầu đã chết vĩnh viễn. |
Lecture V. On the Threshold—Bài giảng V. Trên Ngưỡng Cửa
|
To-night we stand before the Gates of Gold, those Gates that everyman may open – those Gates which, once passed, admit a man into that great Temple of which we spoke four weeks ago – that Temple from which he who enters goeth out no more. And we are to try to-night, if we can, to realise something of the state of the aspirant who is thus approaching the threshold, who is hoping soon to pass into the Temple, to join the ranks of those who are set apart for the service of the world, for the helping on of the evolution of the race, for the more rapid progress of humanity. Looking for a moment over the dwellers in this Outer Court, in which we have spent our time during the last four lectures, there is one characteristic which seems to be common to every one who is there. They differ very much in their mental and in their moral qualities; they differ very much in the progress that they have made; they differ, as is perceptible enough as we study them, in the qualifications which they have already obtained, in their fitness to pass onwards; but one thing they all seem to have in common, and that is earnestness. They have a definite purpose before them. Definitely and clearly they understand to what they are aspiring, they are looking on the world with an earnest purpose under their life; and this, it seems to me, is perhaps the most salient characteristic and the one which, as I said, is common to them all. Those of you who are at all familiar with sacred literature in other lands than this will remember how much stress is laid on this quality of earnestness, of a definite purpose working itself out in a definite way. If you look at some of the ancient books belonging to the Indian faiths you will find that heedlessness is marked as one of the most dangerous of failings; earnestness, on the other hand, as one of the most valuable of attainments; it matters not to what religion you turn, you will find on this a perfect unanimity. Every one who has reached this stage that we are thinking of has passed beyond the bounds that separate one creed from another, has realised that in all creeds there are the same great teachings, and that all religious men are seeking the same great goal; so that it is not surprising that whether you turn to the Scriptures that belong to one faith or another, inasmuch as they all come from the same great Brotherhood of Teachers you will find the same characteristics are noted as marked in the aspirant, and all of them speak of this quality of earnestness as one of the most essential for the would-be disciple. As clearly, perhaps, and a little more in detail than anywhere else, you will find the quality worked out in the second chapter of the Dhammapada. It says there: – |
Đêm nay chúng ta đứng trước Cổng Vàng, những cánh cổng mà mọi người đều có thể mở—những cánh cổng mà, một khi đã đi qua, sẽ đưa một người vào ngôi Đền Vĩ Đại mà chúng ta đã nói đến bốn tuần trước—ngôi Đền mà người đã bước vào thì không còn đi ra nữa. Và đêm nay chúng ta sẽ cố gắng, nếu có thể, chứng nghiệm phần nào trạng thái của người chí nguyện đang tiến gần ngưỡng cửa như vậy, đang hy vọng sớm đi vào Đền Thờ, để gia nhập hàng ngũ những người được dành riêng cho việc phụng sự thế gian, cho việc giúp thúc đẩy tiến hoá của nhân loại, cho sự tiến bộ nhanh hơn của nhân loại. Nhìn một lúc vào những người cư ngụ trong Ngoại Viện này, nơi chúng ta đã dành thời gian trong bốn bài giảng vừa qua, có một đặc tính dường như chung cho mọi người ở đó. Họ khác nhau rất nhiều về các phẩm tính trí tuệ và đạo đức; họ khác nhau rất nhiều về mức tiến bộ mà họ đã đạt được; họ khác nhau, như có thể nhận thấy đủ khi chúng ta nghiên cứu họ, về những tư cách mà họ đã đạt được, về sự thích hợp để đi tiếp; nhưng có một điều dường như tất cả đều có chung, đó là sự chân thành. Họ có một mục đích xác định trước mắt. Một cách xác định và rõ ràng họ hiểu họ đang khát vọng điều gì, họ nhìn thế giới với một mục đích chân thành nằm dưới đời sống của họ; và điều này, theo tôi, có lẽ là đặc tính nổi bật nhất và là điều mà, như tôi đã nói, chung cho tất cả họ. Những ai trong các bạn có chút quen thuộc với văn học thiêng liêng ở những xứ khác ngoài xứ này sẽ nhớ rằng người ta nhấn mạnh rất nhiều vào phẩm tính chân thành này, vào một mục đích xác định tự triển khai theo một cách xác định. Nếu các bạn nhìn vào một số sách cổ thuộc các tín ngưỡng Ấn Độ, các bạn sẽ thấy sự bất cẩn được ghi dấu như một trong những khuyết điểm nguy hiểm nhất; còn sự chân thành, trái lại, như một trong những thành tựu quý giá nhất; dù các bạn hướng đến tôn giáo nào, các bạn cũng sẽ thấy sự đồng thuận hoàn toàn về điều này. Mọi người đã đạt đến giai đoạn mà chúng ta đang nghĩ đến đều đã vượt qua ranh giới phân chia tín điều này với tín điều khác, đã nhận ra rằng trong mọi tín điều đều có cùng những giáo huấn lớn, và rằng mọi người tôn giáo đều đang tìm cùng một mục tiêu lớn; vì vậy không có gì lạ khi dù các bạn hướng đến Kinh điển thuộc tín ngưỡng này hay tín ngưỡng khác, vì tất cả đều đến từ cùng một Huynh đệ Đoàn Huấn Sư vĩ đại, các bạn sẽ thấy những đặc tính giống nhau được ghi nhận như dấu hiệu nơi người chí nguyện, và tất cả đều nói về phẩm tính chân thành này như một trong những điều thiết yếu nhất đối với người muốn trở thành đệ tử. Có lẽ rõ ràng, và chi tiết hơn một chút so với bất cứ nơi nào khác, các bạn sẽ thấy phẩm tính ấy được triển khai trong chương thứ hai của Pháp Cú. Ở đó nói rằng: – |
|
If an earnest person has roused himself, if he is not forgetful, if his deeds are pure, if he acts with consideration, if he restrains himself, and lives according to law, then his glory will increase. |
Nếu một người chân thành đã tự đánh thức mình, nếu y không quên lãng, nếu các hành vi của y trong sạch, nếu y hành động có cân nhắc, nếu y tự kiềm chế, và sống theo định luật, thì vinh quang của y sẽ tăng trưởng. |
|
By rousing himself, by earnestness, by restraint and control, the wise man may make for himself an island which no flood can overwhelm. |
Bằng cách tự đánh thức mình, bằng sự chân thành, bằng sự kiềm chế và tự chủ, người minh triết có thể tạo cho mình một hòn đảo mà không cơn lũ nào có thể nhấn chìm. |
|
Fools follow after vanity, men of evil wisdom. The wise man keeps earnestness as his best jewel. |
Kẻ ngu theo đuổi hư vinh, những người có minh triết xấu. Người minh triết giữ sự chân thành như viên ngọc quý nhất của mình. |
|
Follow not after vanity, nor after the enjoyment of love and lust 1 He who is earnest and meditative obtains ample joy. |
Đừng theo đuổi hư vinh, cũng đừng theo đuổi sự hưởng thụ của ái dục và dục vọng 1 Người chân thành và tham thiền đạt được niềm vui dồi dào. |
|
When the learned man drives away vanity by earnestness, he, the wise, climbing the terraced heights of wisdom, looks down upon the fools; serene he looks upon the toiling crowd, as one that stands on a mountain looks down upon them that stand upon the plain. |
Khi người học thức xua tan hư vinh bằng sự chân thành, y, bậc minh triết, leo lên những bậc thềm của minh triết, nhìn xuống kẻ ngu; an nhiên y nhìn đám đông nhọc nhằn, như người đứng trên núi nhìn xuống những kẻ đứng trên đồng bằng. |
|
Earnest among the thoughtless, awake among the sleepers, the wise man advances like a racer, leaving behind the hack. |
Chân thành giữa những kẻ vô tư, tỉnh thức giữa những kẻ ngủ mê, người minh triết tiến lên như kẻ đua, bỏ lại phía sau con ngựa thồ. |
|
By earnestness did Maghavan rise to the lordship of the Gods. People praise earnestness; thoughtlessness is always blamed. |
Nhờ sự chân thành mà Maghavan vươn lên đến địa vị Chúa Tể của các Thượng đế. Người đời ca ngợi sự chân thành; sự vô tâm luôn bị trách cứ. |
|
A Bhikshu who delights in earnestness, who looks with fear on thoughtlessness, moves about like fire, burning all his fetters, small or large. |
Một vị tỳ-kheo vui thích trong sự chân thành, người nhìn sự vô tâm với nỗi sợ, đi lại như lửa, thiêu đốt mọi xiềng xích của mình, nhỏ hay lớn. |
|
In looking back over the whole of the work that we have been tracing, you may see how this quality of earnestness underlies the whole purification of the nature, the control of the thoughts, the building of the character, the transmutation of the lower qualities into the higher; the whole of this work presupposes the earnest nature which has recognised its object and is definitely seeking its goal. |
Khi nhìn lại toàn bộ công việc mà chúng ta đã lần theo, các bạn có thể thấy phẩm tính chân thành này nằm dưới toàn bộ sự thanh lọc bản chất, sự kiểm soát tư tưởng, việc lập hạnh, sự chuyển hoá các phẩm tính thấp thành các phẩm tính cao; toàn bộ công việc này giả định một bản chất chân thành đã nhận ra đối tượng của mình và đang xác định tìm kiếm mục tiêu của mình. |
|
This then, as I say, may be taken as the common characteristic of all who are in the Outer Court, and it may be worth while perhaps to note in passing, that this characteristic shows itself in a very salient way to those whose eyes are opened. You will all of you know that the character of a person may be very largely read in what is called the aura that surrounds him; and some of you may remember that in dealing with the evolution of man, and taking different points in that evolution, I have sometimes suggested to you that in the very early days the Soul is a most indefinite thing; that it might be, and that it has been, compared to a kind of wreath of mist with no definiteness of outline, with no clear limit marked. Now as the Soul progresses, this mist-wreath assumes a more and more definite form, and the aura of the person assumes a correspondingly more and more definite shape: instead of ending vaguely, shading off into nothingness, it will take to itself a clear and definite outline, and the more the individuality is formed, the more definite this outline will become. If, then, you were looking at people in the Outer Court, this would be a characteristic that would be visible: they would be people whose auras would be well defined; not only would they show very definite qualities, but these would be clearly marked externally, this clearness of marking in the aura being the outer sign of the inward definiteness which the individual Soul is assuming. And I am saying this in order that you may understand and realise that this condition of the Soul is a thing that marks itself as it advances; it is not a thing where mistake can arise. The position of the Soul is not one given to it by arbitrary favour from any one; it is not given by any kind of chance, nor does it depend upon any sort of accident; it is a clear and definite condition, showing qualities definitely achieved, powers definitely gained, and these are marked out clearly, so that they are visible to any observer who has developed within himself the powers of sight beyond those concerned with mere physical matter. The quality of earnestness, then, results in developing the individuality, and in thus giving this clear definiteness to the aura; the definitely outlined atmosphere which surrounds the person may be said to be the external mark of the internal state -which is common to all who are in the Outer Court; and although this will be more clearly shown in some than in others, it will be characteristic of every one who is there. |
Vì vậy, như tôi nói, điều này có thể được xem là đặc tính chung của tất cả những ai ở trong Ngoại Viện, và có lẽ cũng đáng để ghi nhận thoáng qua rằng đặc tính này tự biểu lộ theo một cách rất nổi bật đối với những người có đôi mắt đã mở. Tất cả các bạn đều biết rằng tính cách của một người có thể được đọc phần lớn qua điều được gọi là hào quang bao quanh y; và một số các bạn có thể nhớ rằng khi bàn về tiến hoá của con người, và lấy những điểm khác nhau trong tiến hoá ấy, đôi khi tôi đã gợi ý với các bạn rằng trong những ngày rất sớm, linh hồn là một điều hết sức mơ hồ; rằng nó có thể, và đã từng, được so sánh với một loại vòng hoa sương mù không có sự xác định về đường nét, không có giới hạn rõ ràng. Nay khi linh hồn tiến bộ, vòng sương mù này mang một hình dạng ngày càng xác định, và hào quang của con người cũng mang một hình dạng tương ứng ngày càng xác định: thay vì kết thúc mơ hồ, nhạt dần vào hư vô, nó sẽ tự mang lấy một đường viền rõ ràng và xác định, và cá tính càng được hình thành thì đường viền này càng trở nên xác định. Nếu vậy, khi các bạn nhìn những người trong Ngoại Viện, đây sẽ là một đặc tính có thể thấy: họ sẽ là những người có hào quang được định hình rõ; không chỉ họ sẽ biểu lộ những phẩm tính rất xác định, mà những phẩm tính ấy còn được ghi dấu rõ ràng ra bên ngoài, sự rõ ràng của dấu ấn trong hào quang là dấu hiệu bên ngoài của sự xác định nội tại mà linh hồn cá biệt đang đảm nhận. Và tôi nói điều này để các bạn có thể hiểu và chứng nghiệm rằng tình trạng của linh hồn là một điều tự ghi dấu khi nó tiến triển; đó không phải là điều nơi đó có thể nảy sinh sai lầm. Vị trí của linh hồn không phải là điều được ban cho bởi sự ưu ái tùy tiện từ bất kỳ ai; nó không được ban bởi bất kỳ loại may rủi nào, cũng không tùy thuộc vào bất kỳ loại ngẫu nhiên nào; đó là một tình trạng rõ ràng và xác định, biểu lộ những phẩm tính đã đạt được một cách xác định, những quyền năng đã đạt được một cách xác định, và những điều này được đánh dấu rõ ràng, để chúng có thể thấy đối với bất kỳ người quan sát nào đã phát triển trong mình năng lực nhìn vượt quá những năng lực liên quan đến vật chất hồng trần thuần túy. Vậy thì, phẩm tính chân thành dẫn đến việc phát triển cá tính, và do đó đem lại sự xác định rõ ràng này cho hào quang; bầu khí quyển có đường viền xác định bao quanh con người có thể được nói là dấu hiệu bên ngoài của trạng thái bên trong—là điều chung cho tất cả những ai ở trong Ngoại Viện; và dù điều này sẽ được biểu lộ rõ hơn ở người này so với người khác, nó vẫn sẽ là đặc tính của mọi người ở đó. |
|
While the aspirants are in the Outer Court, it has been said, and quite truly said, in that wonderful little treatise, Light on the- Path, that the initiations are those of life , they are not the clear and definite Initiations that come later, not those definite steps which are within the Temple, the first of which comes on the passing through the Golden Gates; but they are constant initiations which come in the way of the candidate as he is going along the path of his daily life, so that in a very real sense life may here be said to be the great Initiator; and all the ordeals through which the candidate is passing here in this life thus prove his strength and develop his faculties. And if you turn to that same little treatise, Light on the Path, you will find that certain conditions are there laid down which are said, in the “Comments” afterwards published in Lucifer, to be written in every ante-chamber of any Lodge of a real Brotherhood. These rules are said to be written in every antechamber, the chamber which comes before the entrance into the Lodge itself. And those rules are put into language, mystical in its character but still intelligible enough, although indeed, as in all mystical language, difficulties may arise by taking words too literally, in the sense of the mere words rather than as explanation of the inner verities that the words are trying to express. And those four great truths which are written in the ante-chamber are, you will remember, as follows: – |
Trong khi những người chí nguyện ở trong Ngoại Viện, người ta đã nói, và nói hoàn toàn đúng, trong chuyên luận nhỏ kỳ diệu ấy, Ánh sáng trên Đường Đạo, rằng các điểm đạo là những điểm đạo của đời sống, chúng không phải là những Điểm đạo rõ ràng và xác định đến sau này, không phải là những bước xác định ở bên trong Đền Thờ, bước đầu tiên trong số đó đến khi đi qua Cổng Vàng; mà chúng là những điểm đạo liên tục đến với ứng viên trên đường đi của đời sống hằng ngày, để theo một nghĩa rất thực, đời sống ở đây có thể được nói là Đấng Điểm đạo vĩ đại; và mọi thử thách mà ứng viên đang trải qua trong kiếp sống này như vậy chứng minh sức mạnh của y và phát triển các năng lực của y. Và nếu các bạn mở chính chuyên luận nhỏ ấy, Ánh sáng trên Đường Đạo, các bạn sẽ thấy rằng ở đó đặt ra những điều kiện nhất định mà, theo “Các Bình luận” được xuất bản sau đó trong Lucifer, được nói là được viết trong mọi tiền sảnh của bất kỳ Hội quán nào của một Huynh đệ Đoàn chân thật. Những quy luật này được nói là được viết trong mọi tiền sảnh, căn phòng đến trước lối vào Hội quán chính. Và những quy luật ấy được đặt vào ngôn ngữ mang tính thần bí nhưng vẫn đủ dễ hiểu, mặc dù quả thật, như trong mọi ngôn ngữ thần bí, khó khăn có thể nảy sinh do hiểu chữ quá sát, theo nghĩa của chữ thuần túy hơn là như sự giải thích những chân lý nội tại mà chữ đang cố diễn đạt. Và bốn chân lý lớn được viết trong tiền sảnh là, các bạn sẽ nhớ, như sau: – |
|
Before the eyes can see, they must be incapable of tears. Before the ear can hear, it must have lost its sensitiveness. |
Trước khi mắt có thể thấy, chúng phải không còn có thể rơi lệ. Trước khi tai có thể nghe, nó phải mất đi tính nhạy cảm của nó. |
|
Before the voice can speak in the presence of the Masters, it must have lost the power to wound. |
Trước khi tiếng nói có thể cất lên trong sự hiện diện của các Chân sư, nó phải mất đi quyền năng làm tổn thương. |
|
Before the soul can stand in the presence of the Masters, its feet must be washed in the blood of the heart. |
Trước khi linh hồn có thể đứng trong sự hiện diện của các Chân sư, đôi chân của nó phải được rửa trong máu của trái tim. |
|
Now the same writer through whom Light on the Path itself was given was used, as you may remember, a little later to further explain Light on the Path by the writing of certain comments, and these deserve careful study, as they explain much of the difficulty that may be found by the student in the treatise itself, and may help him perhaps to avoid that over-literalness of which I spoke and to grasp the inner meaning of these four Truths, instead of being misled by the mere outer expression. It is said in these that the meaning of this first phrase, “Before the eyes can see, they must be incapable of tears,” is that the Soul must pass out of the life of sensation into the life of knowledge, must pass behind and beyond the place where it is constantly shaken by these vehement vibrations that come to it by way of the senses, must pass out of that into the region of knowledge, where there is fixity, where there is calm, and where there is peace; that the eyes are the windows of the Soul, and those windows of the Soul may be blurred by the moisture of life, as it is called; that is, by all the effects of these vivid sensations, whether of pleasure or of pain, causing a mist to be thrown upon the windows of the Soul, so that the Soul cannot see clearly when it looks through them; a mist which comes from the outer world and not from within, which comes from the personality and not from the Soul, which is the result of mere vivid sensation and not of the understanding of life. It is, therefore, represented by the name of tears, because these may be taken as the symbol of violent emotion, whether of pain or of pleasure. Until the eyes have grown incapable of such tears, until the windows of the Soul no longer are dimmed by the moisture that can be thrown upon them from without, until these windows are clear and the light of knowledge comes through them, until that has been gained, it is impossible that the eyes of the Soul shall really see. Not, as it is explained, that the disciple will lose his sensitiveness, but that nothing that comes from without will be able to throw him from his balance; not that he will cease either to suffer or to enjoy, for it is said that he will both suffer and enjoy more keenly than other men, but that neither the suffering nor the joy will be able to shake him in his purpose, will be able to shake him from that point of equilibrium which comes from the steadiness of the knowledge that he has obtained. This knowledge is the understanding of the permanent, and therefore of the incapacity of the transitory and the unreal to throw any definite veil over the vision of the Soul. |
Nay cùng tác giả ấy, qua người mà Ánh sáng trên Đường Đạo đã được trao, đã được sử dụng, như các bạn có thể nhớ, ít lâu sau để giải thích thêm Ánh sáng trên Đường Đạo bằng việc viết một số bình luận, và những bình luận này đáng được nghiên cứu cẩn thận, vì chúng giải thích nhiều khó khăn mà đạo sinh có thể gặp trong chính chuyên luận ấy, và có thể giúp y tránh sự quá sát chữ mà tôi đã nói và nắm bắt ý nghĩa nội tại của bốn Chân lý này, thay vì bị đánh lạc bởi sự diễn đạt bên ngoài thuần túy. Trong đó nói rằng ý nghĩa của cụm từ thứ nhất, “Trước khi mắt có thể thấy, chúng phải không còn có thể rơi lệ,” là linh hồn phải bước ra khỏi đời sống cảm giác để đi vào đời sống tri thức, phải bước ra phía sau và vượt khỏi nơi nó liên tục bị rung chuyển bởi những rung động mãnh liệt đến với nó qua các giác quan, phải bước ra khỏi đó để đi vào miền tri thức, nơi có sự vững định, nơi có sự an tĩnh, và nơi có bình an; rằng mắt là những cửa sổ của linh hồn, và những cửa sổ của linh hồn ấy có thể bị làm mờ bởi “hơi ẩm của đời sống,” như người ta gọi; tức là bởi mọi tác động của những cảm giác sống động ấy, dù là khoái lạc hay đau đớn, gây ra một màn sương phủ lên những cửa sổ của linh hồn, khiến linh hồn không thể thấy rõ khi nhìn qua chúng; một màn sương đến từ thế giới bên ngoài chứ không từ bên trong, đến từ phàm ngã chứ không từ linh hồn, là kết quả của cảm giác sống động thuần túy chứ không phải của sự thấu hiểu đời sống. Vì vậy, nó được biểu trưng bằng tên gọi “nước mắt,” bởi vì nước mắt có thể được xem như biểu tượng của cảm xúc mãnh liệt, dù là đau đớn hay khoái lạc. Cho đến khi đôi mắt đã trở nên không còn có thể rơi những giọt lệ như vậy, cho đến khi những cửa sổ của linh hồn không còn bị làm mờ bởi hơi ẩm có thể bị ném lên chúng từ bên ngoài, cho đến khi những cửa sổ ấy trong suốt và ánh sáng tri thức đi qua chúng, cho đến khi điều đó được đạt, thì không thể nào đôi mắt của linh hồn thật sự thấy. Không phải, như được giải thích, rằng đệ tử sẽ mất đi tính nhạy cảm, mà là không điều gì đến từ bên ngoài có thể làm y mất thăng bằng; không phải y sẽ thôi không còn chịu khổ hay hưởng thụ, vì người ta nói rằng y sẽ vừa chịu khổ vừa hưởng thụ sắc bén hơn những người khác, nhưng cả đau khổ lẫn niềm vui đều không thể làm y dao động trong mục đích của mình, không thể làm y rời khỏi điểm quân bình đến từ sự vững vàng của tri thức mà y đã đạt được. Tri thức này là sự thấu hiểu cái thường hằng, và vì vậy là sự bất lực của cái chóng qua và cái không thật trong việc phủ bất kỳ tấm màn xác định nào lên linh thị của linh hồn. |
|
And so with the second truth, Before the ear can hear, it must have lost its sensitiveness |
Và cũng vậy với chân lý thứ hai, Trước khi tai có thể nghe, nó phải mất đi tính nhạy cảm |
|
And here this same writer speaks, and speaks very strongly, of the difficulty and the struggle which come when first the silence is felt. Accustomed as we are to all the sounds around us, when silence for a moment falls upon the Soul it comes with a sense of nothingness; it is like entering into an abyss in which there is no footing, passing into a darkness which seems like a pall which has fallen on the Soul – a sense of absolute loneliness, of absolute vacuity, a feeling as though everything had given way, as though all life had vanished with the cessation of the sounds of living things. So that it is said that though the Master Himself he there, and be holding the hand of the disciple, the disciple feels as though his hand were empty; that he has lost sight of the Master and of all that have gone before him, and seems to himself as though poised alone in space, with nothing above or below, or on either hand. And in that moment of silence there seems to be a pause in the life; in that moment of silence everything seems to have stopped, even though it were the very life of the Soul itself. And it is across that silence that the voice sounds from the other side, the voice which once heard in the silence is heard for evermore amidst all sounds; for once heard, the ear will respond to it for evermore, and there are no sounds that earth can make thereafter which will be able, even for a moment, to dull the harmony that thus has once spoken to the Soul. And these two Truths, it is said, must be felt, must be experienced, before the real Golden Gate can be touched: these two Truths must be realised by the aspirant, before he can stand on the threshold and there await permission to enter within the Temple itself. |
Và ở đây chính tác giả ấy nói, và nói rất mạnh, về khó khăn và đấu tranh đến khi lần đầu cảm nhận im lặng. Quen với mọi âm thanh quanh mình, khi im lặng trong chốc lát rơi xuống linh hồn, nó đến với một cảm giác hư vô; nó như bước vào một vực thẳm không có chỗ đặt chân, đi vào một bóng tối dường như là tấm khăn phủ đã rơi xuống linh hồn—một cảm giác cô độc tuyệt đối, trống rỗng tuyệt đối, một cảm giác như thể mọi thứ đã sụp đổ, như thể mọi sự sống đã biến mất cùng với sự chấm dứt của âm thanh của các sinh linh. Vì vậy người ta nói rằng dù chính Chân sư ở đó, và đang nắm tay đệ tử, đệ tử vẫn cảm thấy như tay mình trống rỗng; rằng y đã mất dấu Chân sư và tất cả những ai đã đi trước y, và đối với y dường như y đang lơ lửng một mình trong không gian, không có gì ở trên hay dưới, hay ở bên nào. Và trong khoảnh khắc im lặng ấy dường như có một sự ngừng lại trong đời sống; trong khoảnh khắc im lặng ấy mọi thứ dường như đã dừng lại, dù đó có là chính đời sống của linh hồn. Và chính qua sự im lặng ấy mà tiếng nói vang lên từ phía bên kia, tiếng nói mà một khi đã được nghe trong im lặng thì được nghe mãi mãi giữa mọi âm thanh; vì một khi đã nghe, tai sẽ đáp ứng với nó mãi mãi, và không có âm thanh nào mà trần thế có thể tạo ra về sau sẽ có thể, dù chỉ trong chốc lát, làm cùn đi sự hòa điệu đã từng một lần nói với linh hồn. Và hai Chân lý này, người ta nói, phải được cảm nhận, phải được kinh nghiệm, trước khi Cổng Vàng chân thật có thể được chạm đến: hai Chân lý này phải được người chí nguyện chứng nghiệm, trước khi y có thể đứng trên ngưỡng cửa và ở đó chờ sự cho phép để bước vào bên trong chính Đền Thờ. |
|
The other two Truths seem, from the description that is given of them, to belong rather to the life that is within the Temple than to that without it, although indeed they be written in the ante-chamber; for much is written in that ante-chamber which is to be worked out on the other side, written for the guidance of the aspirant, that he may know the line along which he is to travel, that he may begin the preparation for the work that lies within the Temple itself. For it would seem from the description as though these other two great Truths – as to the power of speaking in the presence of the Masters, and standing upright before Them face to face – are only realised, in their fulness at least, upon the other side, even though an attempt may be made in the Outer Court to begin to make them flower in the Soul. And the first germs, as it were, may begin to show on the hither side of the Golden Gate; for this power of speaking in the presence of the Master is said to be the appeal to the great Power that is at the head of the Ray to which the aspirant belongs; that it echoes upwards, and then echoes downwards again to the disciple, and from him outward into the world; that it consists in his appeal for knowledge, and the answer to the appeal for knowledge is the giving to him of the power to speak the knowledge that he receives. And the only condition which permits him to speak in Their presence, is that he shall also speak to others of the knowledge that he has gained, and become himself a link in that great chain which joins the Highest to the lowest, handing on to those who stand not where now he stands, the knowledge which, in that place of his standing, he is able to receive. And so it is that it is said that if he demand to become a neophyte, he must at once become a servant, for he may not receive unless he be willing to impart. This power of speech – not power of outer speech which belongs rather to the lower planes, but that power of true speech which speaks from Soul to Soul, and tells the way to those who are seeking it, not by merely outer words, but by conveying to them the truth that the words so imperfectly express – that power of speech from Soul to Soul is given to the neophyte only as he desires to use it for service, as he desires to become one of the tongues of living fire which move amongst the world of men, and tell them of the secret which they are seeking. |
Hai Chân lý còn lại, theo mô tả được đưa ra về chúng, dường như thuộc về đời sống ở bên trong Đền Thờ hơn là đời sống ở bên ngoài, mặc dù quả thật chúng được viết trong tiền sảnh; vì nhiều điều được viết trong tiền sảnh ấy là để được triển khai ở phía bên kia, được viết để hướng dẫn người chí nguyện, để y biết đường hướng mà y phải đi, để y bắt đầu chuẩn bị cho công việc nằm bên trong chính Đền Thờ. Vì theo mô tả, dường như hai Chân lý lớn kia—về quyền năng nói trong sự hiện diện của các Chân sư, và đứng thẳng trước Các Ngài mặt đối mặt—chỉ được chứng nghiệm, ít nhất trong sự viên mãn của chúng, ở phía bên kia, dù rằng trong Ngoại Viện có thể có một nỗ lực để bắt đầu làm cho chúng nở hoa trong linh hồn. Và những mầm đầu tiên, như thể, có thể bắt đầu lộ ra ở phía này của Cổng Vàng; vì quyền năng nói trong sự hiện diện của Chân sư được nói là lời khẩn cầu đến Quyền Năng vĩ đại ở đầu cung mà người chí nguyện thuộc về; nó vọng lên, rồi lại vọng xuống đến đệ tử, và từ y vọng ra thế gian; nó gồm lời khẩn cầu của y xin tri thức, và câu trả lời cho lời khẩn cầu xin tri thức là việc ban cho y quyền năng nói ra tri thức mà y nhận được. Và điều kiện duy nhất cho phép y nói trong sự hiện diện của Các Ngài là y cũng phải nói với người khác về tri thức mà y đã đạt được, và tự trở thành một mắt xích trong chuỗi vĩ đại nối Đấng Tối Cao với kẻ thấp nhất, trao lại cho những người không đứng ở nơi mà nay y đang đứng, tri thức mà, tại nơi y đứng ấy, y có thể nhận. Và vì vậy người ta nói rằng nếu y đòi trở thành người sơ cơ, y phải lập tức trở thành người phụng sự, vì y không thể nhận nếu y không sẵn lòng trao. Quyền năng ngôn từ này—không phải quyền năng lời nói bên ngoài vốn thuộc về các cõi thấp hơn, mà là quyền năng của lời nói chân thật nói từ linh hồn đến linh hồn, và chỉ đường cho những người đang tìm kiếm, không phải bằng lời bên ngoài thuần túy, mà bằng cách truyền đạt cho họ chân lý mà lời nói diễn đạt quá bất toàn—quyền năng nói từ linh hồn đến linh hồn ấy chỉ được ban cho người sơ cơ khi y muốn dùng nó để phụng sự, khi y muốn trở thành một trong những chiếc lưỡi của lửa sống động di chuyển giữa thế giới của những người nam và nữ, và nói với họ về bí mật mà họ đang tìm kiếm. |
|
Then comes that last Truth that none may stand in the Masters’ presence save those whose feet are washed in the blood of the heart. That is explained to mean that just as the tears stand for that moisture of life which comes from vivid sensation, so does the blood of the heart stand for the very life itself; that when the blood of the heart is spoken of, in which the feet of the disciple are washed, it means that he no longer claims his life for himself, but is willing to pour it out so that all the world may share. And inasmuch as the life is the most precious thing a man has, that it is which he is said to give ere he may stand in the presence of Those who have given all; no longer has he a desire of life for himself, no longer seeks he birth for that which he may gain therein, or that which he may experience; he has washed his feet in the blood of the heart, he has given up the desire for life for himself, and he holds it for the good of the race, for the serving of human-ty; only when thus he gives all that is his may he stand in Their presence who have given all. You see then why t is that I say that those two last Truths seem to apply rather within the Temple than without it; for that absolute sacrifice of all life, that breaking free from all desire, that having nothing save for the sake of giving, that is in its last perfection the achievement of the very highest of those who stand on the threshold of Adeptship; that is one of the last triumphs of the Arhat, who stands just beneath that point where all knowledge is achieved, and there is naught more to learn, naught more to gain. But still the knowledge that such is the truth which is to become a living reality, is a help in the guiding of the life, and therefore I presume it is written in the ante-chamber, although there be none in that ante-chamber who may hope perfectly to attain to it. |
Rồi đến Chân Lý cuối cùng ấy mà không ai có thể đứng trong sự hiện diện của các Chân sư, ngoại trừ những ai có đôi chân được rửa trong máu của trái tim. Điều đó được giải thích là: cũng như nước mắt tượng trưng cho thứ ẩm lực của sự sống phát sinh từ cảm giác mãnh liệt, thì máu của trái tim tượng trưng cho chính sự sống ấy; rằng khi nói đến máu của trái tim, trong đó đôi chân của đệ tử được rửa, thì có nghĩa là y không còn đòi giữ sự sống cho riêng mình nữa, mà sẵn sàng tuôn đổ nó ra để toàn thế gian có thể cùng chia sẻ. Và vì sự sống là điều quý giá nhất mà một người có, nên điều ấy chính là điều mà người ta nói rằng y phải hiến dâng trước khi có thể đứng trong sự hiện diện của Những Đấng đã hiến dâng tất cả; y không còn ham muốn sự sống cho riêng mình nữa, không còn tìm kiếm sự sinh ra để đạt được điều gì trong đó, hay để trải nghiệm điều gì; y đã rửa chân mình trong máu của trái tim, y đã từ bỏ ham muốn sống cho riêng mình, và y giữ sự sống ấy vì lợi ích của nhân loại, để phụng sự nhân loại; chỉ khi nào y hiến dâng như thế tất cả những gì là của y thì y mới có thể đứng trong sự hiện diện của Các Ngài, là Những Đấng đã hiến dâng tất cả. Vậy các bạn thấy vì sao tôi nói rằng hai Chân Lý cuối cùng ấy dường như áp dụng nhiều hơn ở bên trong Đền Thờ hơn là ở bên ngoài; vì sự hi sinh tuyệt đối của toàn bộ sự sống ấy, sự bứt thoát khỏi mọi dục vọng ấy, sự không còn gì ngoại trừ vì mục đích hiến tặng ấy, trong sự hoàn hảo sau cùng của nó, là thành tựu của chính những người cao nhất trong số những ai đứng trên ngưỡng cửa của địa vị chân sư; đó là một trong những chiến thắng cuối cùng của vị A-la-hán, người đứng ngay dưới điểm mà mọi tri thức được đạt đến, và không còn gì để học nữa, không còn gì để đạt nữa. Nhưng dù vậy, tri thức rằng đó là chân lý sẽ trở thành một thực tại sống động vẫn là một sự trợ giúp trong việc hướng dẫn đời sống; và vì thế tôi cho rằng nó được viết trong tiền sảnh, mặc dù trong tiền sảnh ấy không có ai có thể hy vọng đạt tới nó một cách hoàn hảo. |
|
Taking then these stages which lead us to the threshold, we begin to realise something of what they will be who are ready to stand at the Gate, ready to cross the threshold; still with much of imperfection, still with much that remains to do, still with lives in front of them in-which much is to be achieved, still with four great stages to be passed through ere yet they reach the lofty position of the Adept. We see that they are people of definite purpose, of definite character, of purified lives, of extinguished or extinguishing passions, of self-controlled character, of longing desire for service, of aspirations towards purity, of the highest nobility of life. Dare we for a moment stand on the threshold itself, glancing forward, if only for a moment, in order that we may realise still more clearly what lies in front, and so understand also more clearly why such conditions are made, and why in the Outer Court the aspirant must practise the lessons we have been studying? Just for a moment let our eyes rest, though they can rest but imperfectly, on the four Paths, or the four stages of the one Path, that lie within the Temple, each with its own Portal, and each Portal one of the great Initiations. The first, that which you will find so often described as the Initiation which is taken by him who “enters on the stream” – that you read of in The Voice of the Silence and elsewhere in many exoteric books – which marks as it were a passage, a step definite and clear, which makes the passage over the threshold into the Temple, from which, as I was quoting just now, no one who has once entered ever again goes forth, returning backwards inter the world. He goes not forth, for he is ever in the Temple even when he is serving in the world itself. |
Vậy khi lấy những giai đoạn dẫn chúng ta đến ngưỡng cửa ấy, chúng ta bắt đầu chứng nghiệm đôi chút về những người sẽ là ai, những người sẵn sàng đứng tại Cổng, sẵn sàng bước qua ngưỡng; vẫn còn nhiều bất toàn, vẫn còn nhiều điều phải làm, vẫn còn những kiếp sống ở phía trước trong đó còn nhiều điều phải đạt được, vẫn còn bốn giai đoạn lớn phải đi qua trước khi họ đạt đến vị thế cao cả của bậc chân sư. Chúng ta thấy họ là những người có mục đích rõ rệt, có tính cách rõ rệt, có đời sống được thanh lọc, có các dục vọng đã được dập tắt hoặc đang được dập tắt, có tính cách tự chủ, có khát vọng mãnh liệt muốn phụng sự, có hoài bão hướng đến sự thanh khiết, có sự cao quý tối thượng của đời sống. Liệu chúng ta có dám, dù chỉ trong một khoảnh khắc, đứng ngay trên ngưỡng cửa ấy, nhìn về phía trước, chỉ trong một khoảnh khắc thôi, để chúng ta chứng nghiệm rõ hơn điều nằm ở phía trước, và nhờ đó cũng thấu hiểu rõ hơn vì sao những điều kiện như thế được đặt ra, và vì sao trong Ngoại Viện người chí nguyện phải thực hành những bài học mà chúng ta đã đang nghiên cứu chăng? Chỉ trong một khoảnh khắc thôi, hãy để mắt chúng ta dừng lại—dù chỉ có thể dừng lại một cách bất toàn—trên bốn Con Đường, hay bốn giai đoạn của một Con Đường duy nhất, nằm bên trong Đền Thờ, mỗi con đường có Cổng riêng của nó, và mỗi Cổng là một trong những cuộc điểm đạo lớn. Cổng thứ nhất, điều mà các bạn sẽ thấy thường được mô tả như cuộc điểm đạo được nhận bởi người “bước vào dòng”—điều mà các bạn đọc thấy trong Tiếng Nói của Im Lặng và ở nhiều nơi khác trong các sách ngoại môn—đánh dấu như thể một sự chuyển qua, một bước đi xác định và rõ ràng, tạo nên sự vượt qua ngưỡng cửa vào Đền Thờ, từ đó, như tôi vừa trích dẫn lúc nãy, không ai đã một lần bước vào lại đi ra nữa, quay trở lại thế gian theo chiều ngược. Y không đi ra, vì y luôn ở trong Đền Thờ ngay cả khi y đang phụng sự trong chính thế gian. |
|
That entering of the stream , then, is a definite step, and you will sometimes see it said in the exoteric books that there may be seven lives, and often after seven lives, that lie in front of the candidate who thus has entered the stream. In a note of The Voice of the Silence it is said that it is very very rarely that a Chela entering the stream reaches the goal in the same life-, ana generally there are seven lives that stretch in; front of him, through which he must pass ere the last, step be taken. But it may be as well to remember perhaps, in reading all these books, that these phrases must not be taken too definitely; for the lives are effects, and these lives are not measured always by mortal births and mortal deaths; they are stages of progress perhaps, more often than human lives, but still they are sometimes measured between cradle and grave, although not necessarily. And these are said to be passed, life after life, without break; passing from one to another, passing onwards constantly without break in self-consciousness. And then beyond that first is another Portal, another Initiation; and as these lives are lived, certain past weaknesses of human nature are cast off one by one, cast off for ever, cast off completely; no longer now the incomplete labours of the Outer Court, no longer now the unfinished efforts, the unaccomplished endeavours. Here each work that is undertaken is perfectly achieved, each task that is begun is perfectly finished, and we see that in each of these stages certain definite fetters, as they are called, are cast aside, certain definite weaknesses for ever gotten rid of, as the disciple advances onwards to perfection, onwards to the full manifestation of the Divine in man. |
Vậy, việc bước vào dòng ấy là một bước xác định, và đôi khi các bạn sẽ thấy trong các sách ngoại môn rằng có thể có bảy kiếp sống—và thường là sau bảy kiếp sống—ở phía trước của người ứng viên đã bước vào dòng như thế. Trong một chú thích của Tiếng Nói của Im Lặng có nói rằng rất, rất hiếm khi một đệ tử bước vào dòng lại đạt mục tiêu ngay trong cùng một kiếp sống; và nói chung có bảy kiếp sống trải dài trước mặt y, qua đó y phải đi qua trước khi bước cuối cùng được thực hiện. Nhưng có lẽ cũng nên nhớ, khi đọc tất cả những cuốn sách ấy, rằng những cụm từ ấy không được hiểu quá xác định; vì các kiếp sống là các hiệu quả, và những kiếp sống ấy không phải lúc nào cũng được đo bằng sinh ra và chết đi của phàm nhân; chúng có thể là những giai đoạn tiến bộ, thường là như vậy hơn là những kiếp sống nhân loại, nhưng đôi khi chúng vẫn được đo giữa nôi và mộ, dù không nhất thiết. Và người ta nói rằng chúng được trải qua, kiếp này qua kiếp khác, không gián đoạn; chuyển từ cái này sang cái khác, tiến lên liên tục không đứt đoạn trong ngã thức. Rồi vượt qua Cổng thứ nhất ấy là một Cổng khác, một cuộc điểm đạo khác; và khi những kiếp sống ấy được sống, những yếu kém quá khứ của bản chất con người được trút bỏ từng cái một, trút bỏ vĩnh viễn, trút bỏ hoàn toàn; không còn nữa những lao nhọc chưa trọn của Ngoại Viện, không còn nữa những nỗ lực dang dở, những cố gắng chưa thành. Ở đây, mỗi công việc được đảm nhận đều được hoàn thành một cách hoàn hảo, mỗi nhiệm vụ được bắt đầu đều được kết thúc một cách hoàn hảo; và chúng ta thấy rằng trong mỗi giai đoạn ấy, những xiềng xích xác định—như người ta gọi—được quăng bỏ, những yếu kém xác định được loại trừ vĩnh viễn, khi đệ tử tiến lên đến sự hoàn hảo, tiến lên đến sự biểu lộ trọn vẹn của Thiêng Liêng trong con người. |
|
Of the second Initiation it is said that he who passes it shall receive birth but once more. Only once more must he necessarily return, ere his compulsory rounds of births and deaths are over. Many times he may return to voluntary reincarnation, but that will be of his own free will in service, and not by the binding to the wheel of births and deaths. And as he passes through that stage and reaches the third Portal, the third great Initiation, he becomes the one who receives birth no more; for in that very birth he shall pass through the fourth stage which takes him to the threshold of Nirvana, and there can be no law that binds the Soul, for every fetter is broken and the Soul is free; the fourth stage is that of the Arhat, where the last remaining fetters are utterly thrown aside. |
Về cuộc điểm đạo thứ hai, người ta nói rằng người vượt qua nó sẽ chỉ còn thọ sinh thêm một lần nữa. Chỉ còn một lần nữa y nhất thiết phải trở lại, trước khi những vòng sinh tử bắt buộc của y chấm dứt. Nhiều lần y có thể trở lại trong sự tái sinh tự nguyện, nhưng đó sẽ là do ý chí tự do của y trong phụng sự, chứ không phải do bị trói buộc vào bánh xe sinh tử. Và khi y đi qua giai đoạn ấy và đến Cổng thứ ba, cuộc điểm đạo lớn thứ ba, y trở thành người không còn thọ sinh nữa; vì ngay trong chính lần thọ sinh ấy y sẽ đi qua giai đoạn thứ tư đưa y đến ngưỡng cửa của Niết Bàn, và không có định luật nào có thể trói buộc linh hồn, vì mọi xiềng xích đều đã bị bẻ gãy và linh hồn được tự do; giai đoạn thứ tư là giai đoạn của vị A-la-hán, nơi những xiềng xích còn lại cuối cùng bị quăng bỏ hoàn toàn. |
|
Can we trace in any fashion at all these last stages, these four steps of Initiation? Can we realise, however dimly, what the work is which makes the passing of these four Gateways possible, and which makes the changed life on the other side? We have seen that the candidate is by no means perfect. We see, in these published books that are lit by gleams from within the Temple, that still there are ten fetters of human weakness that one by one are to be cast off. I do not now take them in detail, explaining each, for that would carry us too much within the Temple itself, and my work here is only in the Outer Court; but, as you know, they may be stated, and I believe are likely before very long to be traced for you here one by one by a competent hand. Let us then, without going into detail, take them simply as guides for the moment, and ask ourselves how it is that the demands are so rigid before the threshold is crossed; why is it that so much has to be done before this entrance into the Temple is permitted, before Those who hold the key of the Gate will throw it open when the aspirant stands thereat for admission? It is easy, I think, to see that the conditions we have already studied must be partly fulfilled ere the aspirant can cross the threshold. Every step that he takes on the other side is a step that places greater and greater powers within his grasp. On the other side within the Temple his eyes will be open; on the other side within the Temple he will be able to do and live in a way that on the hither side is impossible. The seeing, and the hearing, and the doing, will make him a man very different from the men around him, holding powers that they do not share, having vision that is not theirs, knowledge in which they have no part; he is to move amongst them, but yet be partly not of them, different from them while yet sharing in their common life. But if that be so, it is needful to demand from him that he shall truly be somewhat different from them ere these powers shall be placed within his grasp; for once possessed, he holds them and can use them. |
Liệu chúng ta có thể lần theo bằng bất kỳ cách nào những giai đoạn cuối cùng ấy, bốn bước điểm đạo ấy chăng? Liệu chúng ta có thể chứng nghiệm, dù mờ nhạt, công việc nào khiến cho việc vượt qua bốn Cổng ấy trở nên khả dĩ, và khiến cho đời sống đổi khác ở phía bên kia chăng? Chúng ta đã thấy rằng người ứng viên hoàn toàn chưa phải là hoàn hảo. Chúng ta thấy, trong những sách đã được xuất bản và được soi sáng bởi những tia lóe từ bên trong Đền Thờ, rằng vẫn còn mười xiềng xích của sự yếu kém nhân loại phải được trút bỏ từng cái một. Tôi không đi vào chi tiết lúc này, giải thích từng cái, vì điều đó sẽ đưa chúng ta quá sâu vào chính Đền Thờ, trong khi công việc của tôi ở đây chỉ là trong Ngoại Viện; nhưng như các bạn biết, chúng có thể được nêu ra, và tôi tin rằng chẳng bao lâu nữa chúng sẽ được một bàn tay có năng lực lần theo cho các bạn ở đây từng cái một. Vậy, không đi vào chi tiết, hãy tạm thời lấy chúng như những chỉ dẫn, và tự hỏi vì sao những đòi hỏi lại nghiêm ngặt đến thế trước khi ngưỡng cửa được vượt qua; vì sao phải làm nhiều đến thế trước khi được phép bước vào Đền Thờ, trước khi Những Đấng nắm giữ chìa khóa của Cổng sẽ mở nó ra khi người chí nguyện đứng đó xin được thâu nhận? Tôi nghĩ thật dễ thấy rằng những điều kiện mà chúng ta đã nghiên cứu phải được thực hiện phần nào trước khi người chí nguyện có thể bước qua ngưỡng cửa. Mỗi bước mà y bước ở phía bên kia là một bước đặt vào tay y những quyền năng ngày càng lớn. Ở phía bên kia, trong Đền Thờ, mắt y sẽ mở; ở phía bên kia, trong Đền Thờ, y sẽ có thể làm và sống theo một cách mà ở phía bên này là bất khả. Việc thấy, việc nghe, và việc làm sẽ khiến y trở thành một người rất khác với những người xung quanh, nắm giữ những quyền năng mà họ không chia sẻ, có tầm nhìn không thuộc về họ, có tri thức mà họ không dự phần; y sẽ di chuyển giữa họ, nhưng đồng thời phần nào không thuộc về họ, khác với họ mà vẫn chia sẻ đời sống chung của họ. Nhưng nếu đúng như vậy, thì cần phải đòi hỏi nơi y rằng y thật sự phải khác họ phần nào trước khi những quyền năng ấy được đặt vào tay y; vì một khi đã sở hữu, y nắm giữ chúng và có thể sử dụng chúng. |
|
Suppose, then, that he had the weaknesses so common in the outer world, suppose that he was easily irritated by the faults of those around him, suppose that he was easily thrown off his balance by the common events of daily life, suppose that his temper was not well under control, that his compassion was not growing, that his sympathy was not wide and deep, that when another injured him he felt anger instead of compassion, and irritation instead of forgiveness, suppose that he had little toleration and small patience, what would be the result of admitting such a man beyond the threshold, and allowing these powers which are superhuman, if you take the ordinary man as type, to pass at all, however imperfectly, within his grasp? Would there not be the danger, nay, the certainty, that these small faults so common in men and women in the world would bring about results of the nature of catastrophes; that if he were angry these fresh powers of the Soul he has gained – the strength of his will, the power of his thought – would make him a source of danger to his fellow-men as these forces were flung out and affected others? Supposing he were not tolerant, supposing he had not learnt to sympathise and to feel, to know the weaknesses he had conquered, and to understand the easiness of failure: what, then, would be his position among men when he was able to see their thoughts, when he was able to understand and read their failings, and when those characters which we veil from each other beneath the outer appearance were no longer Veiled to him, but stood out clearly and definitely expressed (in that very aura that I spoke of, which surrounds each personality), so that he ever saw what people were instead of what they appeared to be in the outer world? Surely it would not be right, nor just, nor well that such a power – and it is one of the lowest on the Path – should be placed in the hands of any one who has not learnt by his own struggles to sympathise with the weakest, and by the remembrance of his own faults to give help and compassion, instead of condemnation, to the weakest of his brethren whom he may meet with in his daily life. |
Vậy giả sử y có những yếu kém phổ biến trong thế giới bên ngoài; giả sử y dễ bị kích động bởi lỗi lầm của những người quanh y; giả sử y dễ bị làm cho mất thăng bằng bởi những biến cố thường nhật; giả sử tính khí của y không được kiểm soát tốt, lòng trắc ẩn của y không tăng trưởng, sự cảm thông của y không rộng và sâu; giả sử khi người khác làm hại y, y cảm thấy giận thay vì trắc ẩn, bực bội thay vì tha thứ; giả sử y ít khoan dung và thiếu kiên nhẫn—thì kết quả sẽ ra sao nếu thâu nhận một người như thế vượt qua ngưỡng cửa, và để cho những quyền năng siêu nhân—nếu lấy người thường làm kiểu mẫu—đi vào, dù bất toàn đến đâu, trong tầm tay y? Chẳng phải sẽ có nguy cơ—thậm chí là sự chắc chắn—rằng những lỗi nhỏ vốn phổ biến nơi những người nam và nữ trong thế gian sẽ gây ra những kết quả mang tính thảm họa sao; rằng nếu y nổi giận, những quyền năng mới mẻ của linh hồn mà y đã đạt được—sức mạnh của ý chí, quyền năng của tư tưởng—sẽ khiến y trở thành một nguồn nguy hiểm cho đồng loại, khi những lực ấy bị phóng ra và tác động đến người khác? Giả sử y không khoan dung, giả sử y chưa học được cách cảm thông và cảm nhận, chưa biết những yếu kém mà y đã chinh phục, và chưa hiểu sự dễ dàng của thất bại: vậy thì vị thế của y giữa loài người sẽ ra sao khi y có thể thấy tư tưởng của họ, khi y có thể hiểu và đọc những sai lầm của họ, và khi những tính cách mà chúng ta che giấu nhau dưới lớp vẻ ngoài không còn bị che đối với y nữa, mà hiện ra rõ ràng và xác định (trong chính hào quang mà tôi đã nói đến, bao quanh mỗi phàm ngã), để y luôn thấy con người là gì thay vì họ có vẻ là gì trong thế giới bên ngoài? Chắc chắn sẽ không đúng, không công bằng, không tốt nếu một quyền năng như thế—và đó là một trong những quyền năng thấp nhất trên Con Đường—được đặt vào tay bất kỳ ai chưa học được, qua chính những đấu tranh của mình, cách cảm thông với kẻ yếu nhất, và qua ký ức về chính lỗi lầm của mình, biết trao trợ giúp và lòng trắc ẩn thay vì lên án đối với người huynh đệ yếu nhất mà y có thể gặp trong đời sống hằng ngày. |
|
Right is it and just then that the demand should be rigid ere the aspirant be permitted to step across the threshold; fair and right is it that the demand should be made upon him, and that he should be able to comply with it; that there should be comparatively little left, at least of these ordinary faults of men, ere he steps within that mighty Temple where there is room only for the helpers and the servants and the lovers of mankind. And the task that he has to do is also so gigantic a task, that it seems necessary that he shall have made fair progress ere he puts his hand to it at all: to get rid of every trace of human weakness, to gain all knowledge that can be gained within the limits of our system, to develop the powers which place all that knowledge within reach at will, so that by merely turning the attention anywhere everything that there can be known passes within the knowledge of the observer. For that and nothing less than that, remember, is the position of the Adept. The Adept is the “one who has no more to learn”; and Adeptship is but the last step on this Path that we are considering, which lies within the Temple, and which has to be trodden in so brief a space of time – a task so gigantic, an achievement so sublime, that were it not that men have done it, and are doing it, it would seem beyond possibility at all. For what would be this short span of lives from the ordinary standpoint for the making of such progress from the comparatively low stage which marks the first Initiation to that sublime height where the perfected Adepts are standing, the very flower and perfection of the evolution of Humanity? And since nothing less than that is the task which lies within the Temple, since nothing less than that achievement has to be accomplished, since not the slightest trace of human weakness nor of human ignorance must cling to the Arhat who is ready for the final Initiation, no wonder that before the threshold is crossed there is much for men to do, no wonder that the foundation that we have spoken of, which is to support the weight of so mighty a building and on which so vast a superstructure is to be reared, must be made strong and firm. And remember, when the eyes are opened the greatness of the task seems more than in the days when the eyes were closed: that to him who has begun to tread the Path, the Path must seem far higher and longer than it can look to those whose eyes are dim on the hither side of the Gate; for he must see more clearly Those who are beyond, and measure more accurately the distance that separates him from Them. And in the light of that perfect glory, how dull must seem his own achievement; how poor and weak everything he can do, in the light of The perfect strength; how almost measureless his ignorance in the light of Their perfect knowledge; and only four steps upon the Path, only such brief tale of lives in which that Path must be accomplished. But the conditions will be so different; and there must lie, one would think, the possibility of the achievement; there lies the strength perhaps of the feeling that the men who have done it, and are doing it, passed in crossing the threshold into a state of life so different from that they left behind, that that which would seem impossible here becomes to them possible there, and that which seemed so difficult becomes comparatively easy. For although we may not wholly realise all the conditions on the other side, there are some that it seems possible to think of, that show how different the life is within the Temple from that which lies without. For first of all in this change of conditions, there is the fact that the men who are there understand – and much lies in that word “understand”. You remember those words that I just stopped short of intentionally, last week, in quoting the cry of triumph which came from the lips of the Buddha, when He proclaimed the end of bondage and the finding of liberty; how that cry to those who are in the outer world, telling them the cause of sorrow, spoke also of the ceasing of sorrow, and that that lay in the understanding of the reality. |
Vậy thật đúng và thật công bằng khi đòi hỏi phải nghiêm ngặt trước khi người chí nguyện được phép bước qua ngưỡng cửa; thật công bằng và đúng đắn khi đòi hỏi nơi y, và y phải có khả năng đáp ứng; rằng phải còn tương đối ít điều chưa được loại bỏ—ít nhất là những lỗi thường tình của con người—trước khi y bước vào Đền Thờ hùng vĩ ấy, nơi chỉ có chỗ cho những người trợ giúp, những người phụng sự, và những người yêu thương nhân loại. Và nhiệm vụ mà y phải làm cũng là một nhiệm vụ khổng lồ đến mức dường như cần thiết rằng y phải đạt được tiến bộ đáng kể trước khi đặt tay vào đó: loại bỏ mọi dấu vết của sự yếu kém nhân loại, đạt được mọi tri thức có thể đạt trong giới hạn của hệ thống chúng ta, phát triển những quyền năng đặt toàn bộ tri thức ấy trong tầm tay theo ý muốn, để chỉ cần hướng sự chú ý đến bất cứ đâu thì mọi điều có thể biết đều đi vào tri thức của người quan sát. Vì điều đó—và không gì kém hơn điều đó—hãy nhớ, chính là vị thế của bậc chân sư. Bậc chân sư là “người không còn gì để học”; và địa vị chân sư chỉ là bước cuối cùng trên Con Đường mà chúng ta đang xét, Con Đường nằm trong Đền Thờ, và phải được bước đi trong một khoảng thời gian ngắn đến thế—một nhiệm vụ khổng lồ, một thành tựu cao cả đến thế, rằng nếu không phải con người đã làm được, và đang làm được, thì nó sẽ có vẻ hoàn toàn vượt ngoài khả năng. Vì theo quan điểm thông thường, khoảng ngắn của những kiếp sống ấy là gì để tạo nên sự tiến bộ như thế từ giai đoạn tương đối thấp đánh dấu cuộc điểm đạo thứ nhất đến tầm cao siêu việt nơi các bậc chân sư hoàn hảo đang đứng—chính là đóa hoa và sự hoàn hảo của tiến hóa nhân loại? Và vì không gì kém hơn thế là nhiệm vụ nằm trong Đền Thờ, vì không gì kém hơn thế là thành tựu phải hoàn tất, vì không một dấu vết nhỏ nhất của sự yếu kém hay sự vô minh nhân loại được phép bám vào vị A-la-hán sẵn sàng cho cuộc điểm đạo cuối cùng, nên không lạ gì trước khi ngưỡng cửa được vượt qua còn có nhiều điều cho con người phải làm; không lạ gì nền móng mà chúng ta đã nói đến—nền móng phải nâng đỡ sức nặng của một tòa kiến trúc hùng vĩ đến thế và trên đó một thượng tầng rộng lớn đến thế sẽ được dựng lên—phải được làm cho mạnh và vững. Và hãy nhớ rằng khi mắt đã mở, sự vĩ đại của nhiệm vụ dường như còn lớn hơn so với những ngày mắt còn khép: đối với người đã bắt đầu bước trên Con Đường, Con Đường hẳn phải có vẻ cao hơn và dài hơn nhiều so với cái nhìn của những người có đôi mắt mờ ở phía bên này của Cổng; vì y phải thấy rõ hơn Những Đấng ở phía bên kia, và đo lường chính xác hơn khoảng cách ngăn cách y với Các Ngài. Và trong ánh sáng của vinh quang hoàn hảo ấy, thành tựu của chính y hẳn phải có vẻ mờ nhạt biết bao; mọi điều y có thể làm hẳn phải nghèo nàn và yếu ớt biết bao trong ánh sáng của sức mạnh hoàn hảo; sự vô minh của y hẳn gần như vô lượng biết bao trong ánh sáng của tri thức hoàn hảo của Các Ngài; vậy mà chỉ bốn bước trên Con Đường, chỉ một số kiếp sống ngắn ngủi như thế trong đó Con Đường ấy phải được hoàn tất. Nhưng các điều kiện sẽ khác hẳn; và ở đó, người ta nghĩ, hẳn phải có khả năng thành tựu; ở đó có lẽ nằm sức mạnh của cảm nhận rằng những người đã làm được, và đang làm được, khi vượt qua ngưỡng cửa đã bước vào một trạng thái sống khác hẳn với trạng thái họ bỏ lại, khiến điều tưởng như bất khả ở đây trở thành khả dĩ đối với họ ở đó, và điều tưởng như khó khăn trở nên tương đối dễ. Vì dù chúng ta không thể hoàn toàn chứng nghiệm mọi điều kiện ở phía bên kia, vẫn có vài điều có thể hình dung, cho thấy đời sống trong Đền Thờ khác biết bao so với đời sống bên ngoài. Trước hết, trong sự đổi khác điều kiện này, có sự kiện rằng những người ở đó thấu hiểu—và trong từ “thấu hiểu” ấy hàm chứa rất nhiều. Các bạn còn nhớ những lời mà tuần trước tôi đã cố ý dừng lại khi trích dẫn tiếng kêu khải hoàn phát ra từ môi Đức Phật, khi Ngài tuyên bố sự chấm dứt trói buộc và sự tìm thấy tự do; rằng tiếng kêu ấy, đối với những người ở thế giới bên ngoài, khi nói cho họ nguyên nhân của khổ đau, cũng nói về sự chấm dứt khổ đau, và rằng điều ấy nằm trong sự thấu hiểu thực tại. |
|
Ho! ye who suffer! know |
Hỡi những ai đau khổ! hãy biết |
|
Ye suffer from yourselves. None else compels, |
Các bạn đau khổ bởi chính mình. Không ai khác cưỡng bức, |
|
None other holds you that ye live and die. |
Không ai khác giữ các bạn để các bạn sống và chết. |
|
And the man who has crossed the threshold knows that to be very truth. Men suffer from themselves; they are not bound; and in understanding that, the whole world must change to his vision, and all the difficulties of the Path will also change their aspect. For once that we understand, once that we realise, that all these troubles and difficulties in the world grow from the world’s ignorance, that men suffer because they do not know that they pass from life to life, and that they grow so little because they do nut know; that they make so little of life because they do not know; that they gain so little in each life because they do not know; that all this wheel of births and deaths on which they are bound holds them bound to it by their want of knowledge, by their not realising that they are really free if only they could understand; – when once the under standing comes, however weakly, when once the understanding comes, not indeed with the vision of the Enlightened One, but still with full conviction, then the whole world changes its aspect to this man who has crossed the threshold, and looking back over the world with all its sorrows and its miseries, with all its streaming eyes and breaking hearts, he knows that there is an end to sorrow, and that with the ceasing of ignorance shall come the end of pain. And thus the heartbreak of it is removed; though still the sorrow may not be utterly outgrown, that which made it despair and hopelessness has passed away from his Soul for evermore. And that is not the only change of condition – that which gives not hope but certainty, not hope of the dawn but the rising sun, and the certainty of the coming day; that is not the only change of condition which lies on the other side of the threshold. One of the vast gains that he will have obtained in crossing over that threshold will be the gaining of a consciousness which shall not again be broken, over which death shall not have power, over which birth can no longer draw the sponge of oblivion. His consciousness for the lives that lie in front is to be consciousness continuous and unbroken, self-consciousness gained not again to be lost, self-consciousness achieved not again to be clouded; lost in truth it never can wholly be, when once it has begun in man; but it does not translate itself into the lower consciousness in the lives that lie on the worldly side of the Temple. In the lives that lie on the further side, within the Temple, the self-consciousness is an unbroken knowledge, so that that Soul can look before and after and feel itself strong in the knowledge of the immortal Self And see how that will change all life; for what are two of the great sorrows of life which come to men, and which men cannot escape? Two of the worst sorrows that all have felt, and that all still feel, are those of separation and of death – separation which is made by space, when hundreds or thousands of miles may separate friend from friend, separation which is made by the change of condition when the veil of death has fallen between the Soul in the body and the Soul on the other side. But separation and death exist not for him who has crossed the threshold, as they existed for him while he was still in the outer world. To some extent he may feel them, to some extent – being still with the fetter of ignorance at least partially upon him – he may feel some pang of separation whether by distance or by death; but it cannot really cloud his life, it cannot really break his consciousness; it is only while he is in the body that the separation exists for him, and he may be out of the body at will, and go where space and time can no longer hold him. So that right out of his life are struck for all future lives these two of the great sufferings upon earth. No friend can again be lost to him, no death can again take from his side those who are knit to him in the bond of life. For to him neither separation nor death has a real existence; those are evils of the past, and in their most terrible forms they are finished with for evermore. |
Và người đã vượt qua ngưỡng cửa biết đó là chân lý. Con người đau khổ bởi chính mình; họ không bị trói buộc; và khi thấu hiểu điều đó, toàn bộ thế giới phải đổi khác trong tầm nhìn của y, và mọi khó khăn của Con Đường cũng sẽ đổi khác diện mạo. Vì một khi chúng ta thấu hiểu, một khi chúng ta chứng nghiệm rằng mọi rắc rối và khó khăn trong thế gian đều sinh từ sự vô minh của thế gian; rằng con người đau khổ vì họ không biết họ đi từ kiếp sống này sang kiếp sống khác, và họ tăng trưởng quá ít vì họ không biết; rằng họ coi đời sống quá nhỏ vì họ không biết; rằng họ thu hoạch quá ít trong mỗi kiếp sống vì họ không biết; rằng toàn bộ bánh xe sinh tử mà họ bị trói buộc giữ họ bị trói buộc bởi sự thiếu tri thức của họ, bởi việc họ không chứng nghiệm rằng họ thật sự tự do nếu họ chỉ có thể thấu hiểu;—khi sự thấu hiểu đến, dù yếu ớt, khi sự thấu hiểu đến, không phải với linh ảnh của Đấng Giác Ngộ, nhưng vẫn với niềm xác tín trọn vẹn, thì toàn bộ thế giới đổi khác diện mạo đối với người đã vượt qua ngưỡng cửa; và khi nhìn lại thế gian với mọi khổ đau và mọi thống khổ, với mọi đôi mắt đẫm lệ và mọi trái tim tan vỡ, y biết rằng khổ đau có một kết thúc, và rằng cùng với sự chấm dứt vô minh sẽ đến sự chấm dứt đau đớn. Và như thế, nỗi tan nát ấy được gỡ bỏ; dù khổ đau có thể chưa hoàn toàn vượt qua, nhưng điều khiến nó trở thành tuyệt vọng và vô vọng đã rời khỏi linh hồn y mãi mãi. Và đó chưa phải là sự đổi khác điều kiện duy nhất—điều mang lại không phải hy vọng mà là chắc chắn, không phải hy vọng về bình minh mà là mặt trời đang lên, và sự chắc chắn của ngày đang đến; đó chưa phải là sự đổi khác điều kiện duy nhất nằm ở phía bên kia ngưỡng cửa. Một trong những lợi ích to lớn mà y sẽ đạt được khi vượt qua ngưỡng cửa ấy là đạt được một tâm thức sẽ không còn bị đứt đoạn nữa, trên đó cái chết không còn quyền lực, và sự sinh ra không còn có thể kéo tấm bọt biển của sự quên lãng. Tâm thức của y cho những kiếp sống ở phía trước sẽ là tâm thức liên tục và không gián đoạn, ngã thức đã đạt được sẽ không còn mất nữa, ngã thức đã thành tựu sẽ không còn bị che mờ nữa; thật ra nó không bao giờ có thể mất hoàn toàn khi một khi đã bắt đầu trong con người; nhưng nó không tự chuyển dịch vào tâm thức thấp trong những kiếp sống ở phía thế gian của Đền Thờ. Trong những kiếp sống ở phía bên kia, bên trong Đền Thờ, ngã thức là một tri thức không gián đoạn, để linh hồn ấy có thể nhìn trước và nhìn sau và cảm thấy mình mạnh mẽ trong tri thức về Chân Ngã bất tử. Và hãy xem điều đó sẽ đổi khác toàn bộ đời sống như thế nào; vì hai trong những nỗi khổ lớn của đời sống đến với con người, và con người không thể tránh, là gì? Hai nỗi khổ tệ hại nhất mà tất cả đều đã cảm nhận, và tất cả vẫn còn cảm nhận, là sự chia lìa và cái chết—sự chia lìa do không gian tạo ra, khi hàng trăm hay hàng ngàn dặm có thể ngăn cách bạn với bạn; sự chia lìa do đổi khác điều kiện tạo ra, khi tấm màn chết chóc buông xuống giữa linh hồn trong thân thể và linh hồn ở phía bên kia. Nhưng sự chia lìa và cái chết không còn tồn tại đối với người đã vượt qua ngưỡng cửa, như chúng đã tồn tại đối với y khi y còn ở thế giới bên ngoài. Ở một mức độ nào đó y có thể cảm thấy chúng; ở một mức độ nào đó—vì xiềng xích vô minh vẫn còn ít nhiều trên y—y có thể cảm thấy vài cơn đau của chia lìa do khoảng cách hay do cái chết; nhưng nó không thể thật sự che mờ đời sống y, không thể thật sự phá vỡ tâm thức y; chỉ khi y ở trong thân thể thì sự chia lìa mới tồn tại đối với y, và y có thể rời khỏi thân thể theo ý muốn, và đi đến nơi mà không gian và thời gian không còn giữ được y. Vì thế, khỏi đời sống y—cho mọi kiếp sống tương lai—hai nỗi khổ lớn ấy trên trần gian bị gạch bỏ. Không người bạn nào có thể lại bị mất đối với y; không cái chết nào có thể lại lấy khỏi bên y những người được kết nối với y trong mối dây sự sống. Vì đối với y, cả chia lìa lẫn cái chết đều không có sự tồn tại thật; đó là những tai ương của quá khứ, và trong những hình thức khủng khiếp nhất của chúng, chúng đã chấm dứt mãi mãi. |
|
Nor is that all of this enormous change of conditions in the life of the disciple. Not only has he this unbroken consciousness which makes it impossible that any can be utterly divided from him. but he knows that it also means that in these lives in front of him he will not slip back and feel as he has felt in the lives behind; not again shall he come into the world unconscious, to waste perhaps half a life by not knowing what he seeks; not again shall he come into the world ignorant of all, for the time blinded by the matter that veils him, and knowing not the true purpose of his life; he will return again indeed, but return with knowledge; return again indeed, but return for progress: and it will be his own fault now if the progress be slackened, if he press not onwards. He has gained the consciousness that makes the progress possible, and any standing still or slackening will be his own fault, and in no sense a necessity of his life. |
Và đó cũng chưa phải là tất cả của sự đổi khác điều kiện to lớn này trong đời sống của đệ tử. Không những y có tâm thức không gián đoạn khiến cho không ai có thể bị tách khỏi y một cách tuyệt đối, mà y còn biết rằng điều đó cũng có nghĩa là trong những kiếp sống ở phía trước, y sẽ không trượt lùi và cảm thấy như y đã cảm thấy trong những kiếp sống phía sau; y sẽ không lại đến thế gian trong vô thức, có thể lãng phí nửa đời vì không biết mình tìm kiếm điều gì; y sẽ không lại đến thế gian trong sự vô minh về mọi sự, tạm thời bị vật chất che phủ làm mù, và không biết mục đích chân thật của đời sống mình; y sẽ trở lại thật, nhưng trở lại với tri thức; trở lại thật, nhưng trở lại để tiến bộ: và bây giờ sẽ là lỗi của chính y nếu tiến bộ bị chậm lại, nếu y không thúc tiến. Y đã đạt được tâm thức khiến tiến bộ trở nên khả dĩ; và bất kỳ sự đứng yên hay chậm lại nào sẽ là lỗi của chính y, và không theo nghĩa nào là một tất yếu của đời sống y. |
|
And then again his conditions will be changed by the new companionship into which he enters, companion ship where there are no clouds, where no doubts and no suspicions can arise, companionship above all the mists of earth, where they have no place and cannot again disturb the Soul. For m crossing into the Temple he has come within sight of the great Teachers, in crossing the threshold he has come within the vision of the Masters, and in the possibility of the touch of such lofty companionship, all life to him for evermore is changed. He will have touched the permanent, and the transitory cannot again shake him as in the days when he knew not the Eternal. His feet are for evermore upon the rock, and the waves will not be able to wash him away from it, and give him again the trouble of swimming in the tossing sea. So that on this other side, mighty as is the task, the conditions are so different that the task seems less impossible, and we begin to understand why it has been achieved in the past, and why it is being achieved in the present; we begin to realise that with such changes, such a Path, great as it is, may still be trodden; and that these steps up the mountain side, though they seem to raise the Soul so high, and do raise it to heights so lofty, that these steps may be taken with comparative swiftness under conditions so different, and that the evolution may well be rapid beyond almost all dreaming where the powers of the Soul are thus unfolding, and the darkness has lifted, and the light is seen. |
Rồi nữa, các điều kiện của y sẽ đổi khác bởi tình bằng hữu mới mà y bước vào—tình bằng hữu nơi không có mây mù, nơi không thể nảy sinh nghi ngờ hay ngờ vực, tình bằng hữu vượt lên trên mọi sương mù của trần gian, nơi chúng không có chỗ và không thể lại quấy nhiễu linh hồn. Vì khi bước vào Đền Thờ, y đã đến trong tầm nhìn của các Đấng Huấn Sư vĩ đại; khi vượt qua ngưỡng cửa, y đã đến trong linh ảnh của các Chân sư; và trong khả năng được chạm đến tình bằng hữu cao cả ấy, toàn bộ đời sống đối với y mãi mãi đổi khác. Y đã chạm đến cái thường hằng, và cái tạm bợ không thể lại lay chuyển y như trong những ngày y chưa biết Hiện Tại Vĩnh Cửu. Đôi chân y mãi mãi đứng trên tảng đá, và những con sóng sẽ không thể rửa trôi y khỏi đó, để lại khiến y phải bơi trong biển động. Vì thế, ở phía bên kia này, dù nhiệm vụ vĩ đại đến đâu, các điều kiện khác hẳn đến mức nhiệm vụ có vẻ ít bất khả hơn; và chúng ta bắt đầu thấu hiểu vì sao nó đã được thành tựu trong quá khứ, và vì sao nó đang được thành tựu trong hiện tại; chúng ta bắt đầu chứng nghiệm rằng với những đổi khác như thế, một Con Đường như thế, dù vĩ đại, vẫn có thể được bước đi; và rằng những bậc thang lên sườn núi ấy, dù dường như nâng linh hồn lên rất cao—và quả thật nâng nó lên những tầm cao rất lớn—những bậc ấy có thể được bước với tốc độ tương đối nhanh trong những điều kiện khác hẳn; và rằng tiến hóa có thể mau lẹ vượt xa gần như mọi mơ tưởng, khi các quyền năng của linh hồn đang khai mở như thế, và bóng tối đã được nhấc lên, và ánh sáng được thấy. |
|
And these stages that are to be trodden under these conditions, these steps that are yet to be taken, and these fetters that are still to be cast off – as we look at them we see that one after another the last phases of human weakness are disappearing, and the Soul shines out strong and calm and pure. The delusion of the lower self is falling away, and all men are seen as one with the true Self. Doubt is vanishing, for it is replaced by knowledge; and as the Soul learns the reality of things, doubt becomes impossible for evermore. And all dependence on the outer that is transitory, that too will slip from off the Soul; for in this vivid contact with realities, all the outer things must take their due proportion, and it will learn how the outer matters but little, and how all the things which divide men are mere shadows, and not realities at all; that all differences of religions, and all efficacy of one ceremony more than another, nay, all exoteric rites and ceremonies, belong to the lower world, so that they are only illusive walls set up between the Souls of men; and these shadowy fetters will slip from the Soul that is learning, and these traces of human weakness will pass away. And the powers of the Soul will be unfolding, vision and hearing, the gaining of knowledge as yet undreamed of, flowing in from every side, and the whole Soul receptive; no longer limited by the senses as here below, no longer nearly all the Universe shut off, and only a small fragment of it here and there finding its way as knowledge to the Soul; but knowledge flowing in from every side and the whole surface of the Soul receptive to take it in; so that the gaining of the knowledge seems as t were a process of continually increasing life, and it comes constantly flowing into the Soul which has opened out to receive it from every side. And then still further on we faintly see that the Soul is getting rid of those etherealised shadows of desire that still seem to cling to it, the last touches as it were of the earthly life which might have power to retain. But as we reach the last of the Initiations, that stands before the highest, that which makes the man an Arhat, we find that it is all but impossible to understand at all, impossible to realise, what fetters there can be, what blemishes in a state so exalted; and truly it is written that the path of the Arhat “is difficult to understand, like that of birds n the air”; for like them he seems to leave no footprints, he seems to wing his way untouched, unfettered, in that high atmosphere wherein he moves; and from that region there comes down a sense of peace unshaken that nothing may disturb. For we are told that nothing can move him, nothing can shake him, that he stands there unassailable by any storm of earth, in a peace which nothing may avail to ruffle, in a serenity which nothing may avail to mar. Those who know the state have written of it, and in words which needs must be weak since they are human words, have said something of the characteristics of one like that in syllables that seem faintly to image out that lofty condition; for they say that he is: – |
Và những giai đoạn phải được bước dưới những điều kiện ấy, những bước còn phải đi, và những xiềng xích vẫn còn phải trút bỏ—khi nhìn vào chúng, chúng ta thấy từng cái một những pha cuối cùng của sự yếu kém nhân loại đang biến mất, và linh hồn tỏa sáng mạnh mẽ, bình lặng và thanh khiết. Ảo tưởng của phàm ngã đang rơi rụng, và mọi người được thấy là một với Chân Ngã chân thật. Nghi ngờ đang tan biến, vì nó được thay thế bằng tri thức; và khi linh hồn học được thực tại của sự vật, nghi ngờ trở thành bất khả mãi mãi. Và mọi sự lệ thuộc vào cái bên ngoài vốn tạm bợ—điều ấy cũng sẽ tuột khỏi linh hồn; vì trong sự tiếp xúc sống động với thực tại này, mọi sự bên ngoài phải nhận đúng tỉ lệ của nó, và linh hồn sẽ học rằng cái bên ngoài chỉ quan trọng rất ít, và rằng mọi điều chia rẽ con người chỉ là bóng, hoàn toàn không phải thực tại; rằng mọi khác biệt tôn giáo, và mọi hiệu lực của nghi lễ này hơn nghi lễ khác—thậm chí mọi nghi thức và lễ nghi ngoại môn—thuộc về thế giới thấp, nên chúng chỉ là những bức tường ảo dựng lên giữa các linh hồn của con người; và những xiềng xích bóng mờ ấy sẽ tuột khỏi linh hồn đang học, và những dấu vết yếu kém nhân loại ấy sẽ qua đi. Và các quyền năng của linh hồn sẽ khai mở—linh thị và thông nhĩ, sự đạt được tri thức chưa từng mơ tới—tuôn vào từ mọi phía, và toàn bộ linh hồn tiếp nhận; không còn bị giới hạn bởi các giác quan như ở đây bên dưới, không còn gần như toàn bộ vũ trụ bị ngăn cách, và chỉ một mảnh nhỏ ở đây ở kia tìm đường vào như tri thức đến linh hồn; mà tri thức tuôn vào từ mọi phía và toàn bộ bề mặt của linh hồn tiếp nhận để thu nhận nó; để việc đạt tri thức dường như là một tiến trình của sự sống tăng trưởng liên tục, và nó đến tuôn chảy không ngừng vào linh hồn đã mở ra để tiếp nhận từ mọi phía. Và rồi xa hơn nữa, chúng ta mơ hồ thấy linh hồn đang loại bỏ những bóng mờ đã được dĩ thái hóa của dục vọng dường như vẫn còn bám vào nó—như thể những chạm cuối của đời sống trần gian vẫn có thể giữ lại. Nhưng khi chúng ta đến cuộc điểm đạo cuối cùng trong các cuộc điểm đạo—cuộc đứng trước cuộc cao nhất—cuộc làm cho con người trở thành một vị A-la-hán, chúng ta thấy gần như không thể thấu hiểu, không thể chứng nghiệm, rằng còn có thể có xiềng xích nào, còn có thể có vết tì nào trong một trạng thái cao siêu đến thế; và quả thật có viết rằng con đường của vị A-la-hán “khó hiểu như đường bay của chim trong không trung”; vì như chúng, dường như y không để lại dấu chân, dường như y tung cánh không bị chạm đến, không bị trói buộc, trong bầu khí quyển cao ấy nơi y di chuyển; và từ miền ấy tuôn xuống một cảm thức bình an bất động mà không gì có thể khuấy nhiễu. Vì người ta nói rằng không gì có thể lay chuyển y, không gì có thể làm rung chuyển y, rằng y đứng đó không thể bị công kích bởi bất kỳ cơn bão trần gian nào, trong một bình an mà không gì có thể làm xao động, trong một tĩnh lặng mà không gì có thể làm hoen mờ. Những ai biết trạng thái ấy đã viết về nó, và bằng những lời tất yếu phải yếu ớt vì đó là lời của con người, đã nói đôi điều về những đặc tính của một người như thế bằng những âm tiết dường như mờ nhạt phác họa trạng thái cao vời ấy; vì họ nói rằng y là: – |
|
Tolerant like the earth, like Indra’s bolt; he is like a lake without mud; no new births are in store for him. His thought is quiet, quiet are his word and deed, when he has obtained freedom by true knowledge, when he has thus become a quiet man. |
Khoan dung như đất, như lưỡi tầm sét của Indra; y như một hồ nước không bùn; không còn những lần thọ sinh mới dành cho y. Tư tưởng y tĩnh lặng, lời và việc y tĩnh lặng, khi y đã đạt tự do bằng tri thức chân thật, khi y đã trở thành một người tĩnh lặng. |
|
And it seems as though from that quiet there came down to us a sense of peace, of serenity, of unruffled calm, of that which naught may change or mar; and we understand why of such one it should be written, that: – |
Và dường như từ sự tĩnh lặng ấy tuôn xuống cho chúng ta một cảm thức bình an, tĩnh lặng, an nhiên không gợn, của điều mà không gì có thể đổi hay làm hư hoại; và chúng ta thấu hiểu vì sao về một người như thế lại có thể viết rằng: – |
|
There is no suffering for him who has finished his journey, and abandoned grief, who has freed himself on all sides, and thrown off all fetters. |
Không có khổ đau cho người đã kết thúc hành trình, và đã từ bỏ sầu muộn, người đã tự giải thoát mình mọi phía, và đã quăng bỏ mọi xiềng xích. |
|
Such is the Arhat who stands at the summit of the Path; such the one who has but one step more to take, and then shall have nothing more to learn; such the goal and the Path which all may tread; such the ending of the struggle, and the ending is perfect peace.11 |
Đó là vị A-la-hán đứng trên đỉnh Con Đường; đó là người chỉ còn một bước nữa phải đi, rồi sẽ không còn gì để học; đó là mục tiêu và Con Đường mà tất cả đều có thể bước; đó là sự kết thúc của đấu tranh, và sự kết thúc ấy là bình an hoàn hảo. |
|
In tracing the steps of the preliminary Path, in speaking in words all imperfect of what lies on the other side the Golden Gate, have I seemed sometimes to speak too hardly, have I seemed to paint the Path with colours too dark, too gloomy? If it be so, then the fault is mine, and not the fault of the Path; if it be so, then the error is in the speaker, and not in that which feebly she has striven to describe. For though there be difficulty and struggle and suffering, it is true for all those who enter the Outer Court, to say nothing of those who have passed beyond the Golden Gate, that when once they have entered within that Court, they would not for aught that earth can give them tread backwards to where they were before; and for those who have passed across the threshold, is there aught that earth could give of joy or promise, that would make them even glance backwards at the world they have left behind? For this Path which stretches onward before us is a Path of which the pains are better than earth’s joys, and the sufferings more glorious than earth’s fruitions. If you could press within the span of a human life every joy that the lower earth could give; if you could crowd it with pleasure, and with the giving of the pleasure could give also the power to enjoy without ceasing; if into that span of human life you could bring all that men know of the joys of the senses, nay, even what they know of the joys of the intellect; if you could make it with no touch of pain or of weariness; if you could make it an ideal life so far as earth can make ideal; then beside the steps on the Path – no matter what those steps may seem from the outer world – that life of earth’s joys would be sordid and dull in its colouring, and its harmonies would be discords beside the harmonies that lie beyond. For on this Path each step that is taken is a step that is taken for ever; each pain that is suffered on it is a pain which, if it is felt, is welcome because of the lesson that it gives. And in treading this Path it grows brighter as ignorance lessens, it grows more peaceful as weakness vanishes, it grows serener as the vibrations of earth have less power to jar and to disturb. What it is in its ending, Those only can tell who have ended; what it is at its goal, Those only may know who stand there. But even those who are treading its earlier stages know that its sorrow is joy as compared with the joy of earth, and the very smallest of its flowers is worth every jewel that earth could give. One gleam of the Light which shines always upon it and that grows ever brighter as the disciple treads onwards, one gleam of that makes all earth’s sunshine but as darkness; they who tread it know the peace that passeth understanding, the joy that earthly sorrow can never take away, the rest that is on the rock that no earthquake may shiver, the place within the Temple where for ever there is bliss. |
Khi lần theo những bước của Con Đường sơ khởi, khi nói bằng những lời bất toàn về điều nằm ở phía bên kia Cổng Vàng, liệu đôi khi tôi có vẻ nói quá nghiêm khắc, liệu tôi có vẻ tô vẽ Con Đường bằng những màu quá tối, quá u ám chăng? Nếu đúng như vậy, thì lỗi là của tôi, chứ không phải lỗi của Con Đường; nếu đúng như vậy, thì sai lầm nằm ở người nói, chứ không nằm ở điều mà bà đã yếu ớt cố gắng mô tả. Vì dù có khó khăn, đấu tranh và đau khổ, thì đúng đối với tất cả những ai bước vào Ngoại Viện—chưa nói đến những ai đã vượt qua Cổng Vàng—rằng một khi họ đã bước vào trong Viện ấy, họ sẽ không vì bất cứ điều gì mà trần gian có thể ban cho mà quay lùi về nơi họ đã ở trước kia; và đối với những ai đã bước qua ngưỡng cửa, liệu có điều gì trần gian có thể cho về niềm vui hay lời hứa khiến họ dù chỉ liếc nhìn lại thế giới họ đã bỏ lại chăng? Vì Con Đường trải dài trước mặt chúng ta là một Con Đường mà những nỗi đau của nó còn tốt hơn những niềm vui của trần gian, và những đau khổ của nó còn vinh quang hơn những hưởng thụ của trần gian. Nếu các bạn có thể nén vào trong một đời người mọi niềm vui mà cõi trần thấp có thể ban; nếu các bạn có thể nhồi đầy nó bằng khoái lạc, và cùng với việc ban khoái lạc lại ban luôn quyền năng hưởng thụ không dứt; nếu trong khoảng đời ấy các bạn có thể đem vào tất cả những gì con người biết về niềm vui của giác quan—thậm chí cả những gì họ biết về niềm vui của trí tuệ; nếu các bạn có thể làm cho nó không có một chạm nào của đau đớn hay mệt mỏi; nếu các bạn có thể làm cho nó thành một đời sống lý tưởng theo mức mà trần gian có thể làm lý tưởng; thì bên cạnh những bước trên Con Đường—bất kể những bước ấy có vẻ thế nào từ thế giới bên ngoài—đời sống của những niềm vui trần gian ấy sẽ trở nên thô tục và nhạt nhẽo trong màu sắc của nó, và những hòa âm của nó sẽ thành nghịch âm bên cạnh những hòa âm nằm ở phía bên kia. Vì trên Con Đường này, mỗi bước được bước là một bước được bước mãi mãi; mỗi nỗi đau được chịu trên đó là một nỗi đau mà, nếu nó được cảm nhận, thì được đón nhận vì bài học mà nó ban. Và khi bước Con Đường này, nó sáng hơn khi vô minh giảm, nó bình an hơn khi yếu kém tan biến, nó tĩnh lặng hơn khi những rung động của trần gian có ít quyền năng hơn để làm chói và làm xao động. Nó là gì trong sự kết thúc của nó—chỉ Những Đấng đã kết thúc mới có thể nói; nó là gì ở mục tiêu của nó—chỉ Những Đấng đứng ở đó mới có thể biết. Nhưng ngay cả những ai đang bước những giai đoạn sớm của nó cũng biết rằng nỗi buồn của nó là niềm vui khi so với niềm vui của trần gian, và bông hoa nhỏ nhất của nó đáng giá hơn mọi châu báu mà trần gian có thể ban. Một tia lóe của Ánh Sáng luôn chiếu trên nó và ngày càng rực rỡ khi đệ tử bước tiến—một tia lóe ấy khiến mọi ánh nắng trần gian chỉ như bóng tối; những ai bước nó biết sự bình an vượt quá sự thấu hiểu, niềm vui mà sầu khổ trần gian không bao giờ lấy đi được, sự nghỉ ngơi trên tảng đá mà không trận động đất nào có thể làm vỡ, nơi chốn trong Đền Thờ nơi mãi mãi có phúc lạc. |
|
THE END |
HẾT |
|
*************** |
*************** |
|
I’m Julie, the woman who runs Global Grey – the website where this ebook was published. These are my own formatted editions, and I hope you enjoyed reading this particular one. |
Tôi là Julie, người phụ trách điều hành trang web nơi sách điện tử này được xuất bản. Đây là những bản ấn hành do chính tôi dàn trang, và tôi hy vọng các bạn đã thích đọc bản này. |
|
If you have this book because you bought it as part of a collection – thank you so much for your support. |
Nếu các bạn có cuốn sách này vì đã mua nó như một phần của một bộ sưu tập—xin chân thành cảm ơn các bạn rất nhiều vì sự ủng hộ. |
|
If you downloaded it for free – please consider (if you haven’t already) making a small donation to help keep the site running. |
Nếu các bạn tải nó miễn phí—xin vui lòng cân nhắc (nếu các bạn chưa làm) đóng góp một khoản nhỏ để giúp duy trì hoạt động của trang web. |
|
If you bought this from Amazon or anywhere else, you have been ripped off by someone taking free ebooks from my site and selling them as their own. You should definitely get a refund :/ |
Nếu các bạn mua cuốn này từ Amazon hay bất cứ nơi nào khác, các bạn đã bị ai đó lừa, vì họ lấy các sách điện tử miễn phí từ trang của tôi và bán như của họ. Các bạn chắc chắn nên yêu cầu hoàn tiền:/ |
|
Thanks for reading this and I hope you visit the site again – new books are added regularly so you’ll always find something of interest 🙂 |
Cảm ơn các bạn đã đọc, và tôi hy vọng các bạn sẽ ghé lại trang web—sách mới được thêm thường xuyên nên các bạn sẽ luôn tìm thấy điều gì đó đáng quan tâm:) |
Notes—Ghi chú
|
The pilgrimage of humanity during its present cycle of evolution consists in passing seven times round a chain of seven globes; on each globe a stay is made of many millions of years, and of these stays there are forty-nine—seven globes each dwelt on seven times. |
Cuộc hành hương của nhân loại trong chu kỳ tiến hoá hiện tại của nó gồm việc đi vòng quanh bảy lần một dãy gồm bảy bầu hành tinh; trên mỗi bầu hành tinh có một thời kỳ lưu trú kéo dài nhiều triệu năm, và trong các thời kỳ lưu trú ấy có bốn mươi chín—bảy bầu hành tinh, mỗi bầu được cư ngụ bảy lần. |
|
Voice of the Silence (Lotus Leaf Edition), pp. 34, 35. |
Tiếng Nói của Im Lặng (Ấn bản Lá Sen), tr. 34, 35. |
|
Voice of the Silence, p. 13. |
Tiếng Nói của Im Lặng, tr. 13. |
|
Voice of the Silence p. 22 |
Tiếng Nói của Im Lặng tr. 22 |
|
Voice of the Silence, p. 47. |
Tiếng Nói của Im Lặng, tr. 47. |
|
Kathopanishad, ii., 20. |
Kathopanishad, ii., 20. |
|
Voice of the Silence, p. 35 |
Tiếng Nói của Im Lặng, tr. 35 |
|
Op. cit., III. xiv. i |
Tác phẩm đã dẫn, III. xiv. i |
|
2 Cor. iii. 18. |
2 Cô-rinh-tô iii. 18. |
|
Bhagavad Gltd III., 9-16. |
Bhagavad Gltd III., 9-16. |
|
The quotations are from the Dhammapada, chap, vii., “The Arhat” |
Các trích dẫn lấy từ Dhammapada, chương vii., “Vị A-la-hán” |