Trị Liệu Nội môn I – Phần 3 (Douglas Baker)

📘 Sách: Trị Liệu Huyền Môn I (Douglas Baker) – Tác giả: Douglas Baker

Schizophrenia[148]—Tâm thần phân liệt

Schizophrenia is described as an inherited predisposition to psychological dysfunction. (1) This predisposition to manifest abnormal (and from the viewpoint of the esoteric healer, paranormal) psychological behaviour can be activated, brought to the surface, by stress. The kind of physical body the schizophrenic has inherited in terms of nervous systems and endocrine glands, the astral body which he has built in childhood and adolescence under the impact of his social environment and the mental body which he has elaborated, all play their part in emphasising or minimising the expression of the disease of the Soul with its vehicles. Where points of friction occur between the former and the latter, schizophrenic behaviour may manifest.

Tâm thần phân liệt được mô tả là một khuynh hướng di truyền dẫn đến sự rối loạn tâm lý. (1) Khuynh hướng biểu lộ hành vi tâm lý bất thường (và từ góc nhìn của nhà chữa lành huyền môn là siêu nhiên) này có thể bị kích hoạt, được đưa lên bề mặt bởi áp lực. Kiểu thể xác mà người mắc tâm thần phân liệt thừa hưởng—xét về hệ thần kinh và tuyến nội tiết, thể cảm dục mà y đã tạo lập trong thời thơ ấu và thiếu niên dưới tác động của môi trường xã hội, và thể trí mà y đã phát triển—tất cả đều đóng vai trò trong việc làm tăng hoặc giảm nhẹ biểu hiện của căn bệnh của Linh hồn thông qua các phương tiện biểu đạt của nó. Khi có những điểm xung đột giữa các thể này với Linh hồn, hành vi tâm thần phân liệt có thể xuất hiện.

(1) Schizophrenia by F. J. Fish (John Wright & Sons Ltd., Bristol, UK).

(1) Schizophrenia, F. J. Fish (John Wright & Sons Ltd., Bristol, UK).

There is relevance of schizophrenia to the esoteric healer. Firstly, he is bound to be confronted with its problems very frequently for it is a condition that shows itself too often in esoteric circles, where it may be obvious or concealed. Secondly, there are many characteristics of schizophrenia which are typical of experiences which must form part of the normal unfoldment of the disciple. So much of the disciple’s dream life resembles schizophrenic experiences, and it is no wonder that the major battleground for him is that of discriminating the real from the unreal.

Chứng tâm thần phân liệt có liên quan mật thiết đến nhà chữa lành huyền môn. Thứ nhất, y chắc chắn sẽ thường xuyên đối diện với các vấn đề của căn bệnh này, vì nó là một tình trạng thường xuất hiện trong các nhóm huyền môn—có thể lộ rõ hoặc tiềm ẩn. Thứ hai, có nhiều đặc điểm của tâm thần phân liệt rất giống với những trải nghiệm bắt buộc phải có trong tiến trình khai mở bình thường của người đệ tử. Rất nhiều trong đời sống mộng mị của người đệ tử giống với những trải nghiệm của người mắc tâm thần phân liệt, và không có gì lạ khi chiến trường chính yếu đối với y là việc phân biệt điều thực với điều ảo.

The disciple must learn to live increasingly in the mental body, shifting his consciousness always from emotional polarity to mental and higher mental polarity. In addition to this, he must cope with two worlds: the outer world in which his personality must compete on the same basis as others not on the Path of Discipleship, and the world of inner space, its furniture, its realities and its delusions. The ‘furniture’ of inner space are what we call symbols; the realities of inner space are its energies, and the delusions of inner space are the blockages, the eddies and currents into which energies are diverted by disorderly thought, poor perception, attachments and emotions. In the disciplining of the initiate, all this is carefully and progressively dealt with, but few will submit themselves to or are eligible for, or are capable of enduring, the experience of initiation. Initiation is dealt with in detail in my works The Jewel In The Lotus andMeditation, The Theory And Practice. Briefly, it is progressive and ordered revelation into the Mysteries as they form part of what we call ‘Consciousness’ and ‘the Life Force’ or what the Christ calls life more abundantly.

Người đệ tử phải học cách sống ngày càng nhiều trong thể trí, luôn chuyển tâm thức của mình khỏi phân cực cảm xúc sang phân cực trí tuệ và thượng trí. Bên cạnh đó, y phải đồng thời đối mặt với hai thế giới: thế giới bên ngoài—nơi phàm ngã của y phải cạnh tranh như những người khác không đi trên Con Đường Đệ Tử, và thế giới nội tâm—với “nội thất” của nó, các thực tại và ảo tưởng của nó. “Nội thất” của không gian nội tâm là những biểu tượng; các thực tại là năng lượng; còn ảo tưởng là những tắc nghẽn, xoáy lốc và dòng chảy lệch hướng do tư tưởng hỗn loạn, nhận thức lệch lạc, chấp thủ và cảm xúc gây ra. Trong sự rèn luyện của một điểm đạo đồ, tất cả những điều này đều được xử lý một cách cẩn thận và tuần tự, nhưng ít ai đủ cam đảm tự nguyện chịu đựng, đủ điều kiện hoặc đủ sức chịu đựng trải nghiệm điểm đạo. Điểm đạo được bàn chi tiết trong các tác phẩm Viên Ngọc Trong Hoa SenTham Thiền: Lý Thuyết và Thực Hành. Nói ngắn gọn, đó là sự khai mở có trình tự và tuần tự vào các Huyền Nhiệm như chúng là một phần của cái mà chúng ta gọi là “Tâm thức” và “Sinh Lực”, hay theo cách Đức Christ gọi là “sự sống dư dật.”

Disorders of some of the factors mentioned above, viz. disorders of thought, perception and emotions, to say nothing of physical action, are characteristic of schizophrenia. Our disorders, and I write frankly as a disciple and an initiate, do not usually show up in personality, except in what the world would describe as ‘crankiness’ (or the astrologer would terms as “Uranus in the First House”), but they certainly and always are revealed in subjective life. Progressively and increasingly, we become aware of our disorders because we are drawing nearer all the time towards Truth, Beauty and Goodness.

Các rối loạn của một số yếu tố đã đề cập—như rối loạn tư tưởng, nhận thức và cảm xúc, chưa nói đến hành vi thể chất—là đặc điểm điển hình của tâm thần phân liệt. Những rối loạn của chúng ta—và tôi viết điều này một cách thành thật với tư cách là một đệ tử và một điểm đạo đồ—thường không bộc lộ ra ngoài phàm ngã, ngoại trừ điều mà thế gian gọi là “kỳ quặc” (hay theo chiêm tinh học là “Uranus ở Nhà số Một”), nhưng chúng chắc chắn và luôn luôn được phơi bày trong đời sống chủ quan. Càng tiến xa, chúng ta càng ý thức sâu sắc hơn về những rối loạn của mình bởi vì chúng ta đang tiến gần hơn với Chân Lý, Cái Đẹp và Thiện Lành.

No esotericist, and certainly no esoteric healer should feel anything but compassion and understanding for the schizophrenic, who is someone expressing openly the nature of his disorders as he, like us, struggles to unveil that triune concept. Indeed, there is even good evidence to show that the schizophrenic may, in some cases, be picking up something of our struggles in that direction, as well as dealing with his own! Furthermore, the disciple is taught to encourage stress in his life, where this is produced through serving his fellow men and through seeking the path to Truth, Beauty and Goodness. Stress often activates spiritual experience so that it surges or percolates into consciousness. In the schizophrenic, stress, psychological or physical, exacerbates his condition.

Không một nhà huyền môn nào, và đặc biệt là không một nhà chữa lành huyền môn nào, nên cảm thấy gì ngoài sự từ bi và thấu hiểu đối với người mắc tâm thần phân liệt—người đang biểu hiện công khai bản chất của các rối loạn của y trong khi y, giống như chúng ta, vật lộn để hé mở bức màn bao phủ ba thực tại đó. Thật vậy, có bằng chứng xác đáng cho thấy người mắc tâm thần phân liệt, trong một số trường hợp, có thể đang bắt được điều gì đó từ cuộc vật lộn của chúng ta theo hướng ấy, đồng thời phải đối mặt với cuộc vật lộn riêng của chính mình! Hơn nữa, người đệ tử được dạy phải khuyến khích sự căng thẳng trong cuộc sống của mình, khi sự căng thẳng đó phát sinh từ việc phụng sự đồng loại và tìm kiếm con đường đến với Chân Lý, Cái Đẹp và Thiện Lành. Căng thẳng thường kích hoạt các trải nghiệm tâm linh để chúng dâng lên hoặc thấm vào tâm thức. Với người mắc tâm thần phân liệt, áp lực—tâm lý hoặc thể chất—làm cho tình trạng của y trở nên trầm trọng hơn.

Cause of Schizophrenia

Nguyên Nhân của Tâm Thần Phân Liệt

Many causes have been offered by investigators and clinicians since schizophrenia was first identified under the name of dementia praecox. It presents itself frequently in childhood, and there is high familial incidence. But there is no firm evidence of it being genetic. However, the English Master maintains that there is a physical basis for the condition. It is linked to hidden genes which are recessive[149]. When parents each bearing a recessive gene for schizophrenia are brought together, the child inherits a physical predisposition to schizophrenia. This may not show itself in signs and symptoms that warrant medical attention unless there are predisposing factors in the environment like stress.

Nhiều nguyên nhân đã được các nhà nghiên cứu và lâm sàng học đưa ra kể từ khi tâm thần phân liệt lần đầu được xác định dưới cái tên dementia praecox. Căn bệnh này thường xuất hiện từ thời thơ ấu và có tỷ lệ gia đình cao. Tuy nhiên, không có bằng chứng chắc chắn rằng nó là di truyền. Tuy vậy, Chân sư Anh khẳng định rằng tình trạng này có nền tảng thể chất. Nó liên quan đến các gen ẩn, tức gen lặn. Khi cả cha lẫn mẹ đều mang gen lặn gây tâm thần phân liệt, đứa trẻ sẽ thừa hưởng một khuynh hướng thể chất đối với bệnh này. Điều này có thể không biểu hiện bằng các dấu hiệu hoặc triệu chứng cần chăm sóc y tế, trừ khi có các yếu tố môi trường làm bộc phát, chẳng hạn như áp lực.

Which chromosome? This must wait for later research. Already the chromosomes are being mapped. Assistance in this work will come from the English Master in the near future, but the time is not yet.

Vậy là nhiễm sắc thể nào? Điều này phải chờ nghiên cứu sau. Việc lập bản đồ nhiễm sắc thể hiện đang được thực hiện. Sự trợ giúp cho công trình này sẽ đến từ Chân sư Anh trong tương lai gần, nhưng thời điểm đó vẫn chưa đến.

The instability of relationships between the astral body and the mental body are exaggerated when certain genetic factors are present in the schizophrenic. This was commented upon, in different language, by Stransky in 1904 who found not only inhibition of emotional expression, but dissociation and in-coordination between the emotional and mental processes of the mind. In esoteric parlance, the condition is opposite to what is called an ‘integrated personality’ where there is a blending of the mental and emotional nature under the hegemony[150] and direction of the Personality Body. The emotional nature is there, but it is disciplined and refined; the thought processes are under control and are directed willfully into channels that permit expression of the Soul’s purpose… I am that. In Man not on the Path, the dictates of the Personality are important. The Emotional and Mental Bodies are associated with personality drives and intentions… I am. In very un-integrated individuals, the personality is weak and they become the willing tool of whatever thoughts are elaborated by the Mental Body or emotions surfacing from the Astral Body.

Sự bất ổn trong mối quan hệ giữa thể cảm dục và thể trí trở nên trầm trọng hơn khi có các yếu tố di truyền nhất định nơi người mắc tâm thần phân liệt. Stransky đã nhận xét điều này bằng ngôn ngữ khác vào năm 1904, khi ông nhận thấy không chỉ có sự ức chế biểu hiện cảm xúc mà còn có sự phân ly và thiếu phối hợp giữa các quá trình cảm xúc và tư duy của tâm trí. Theo thuật ngữ huyền môn, tình trạng này đối nghịch với điều được gọi là “phàm ngã tích hợp,” nơi có sự hòa hợp giữa bản chất trí tuệ và cảm xúc dưới sự thống lĩnh và chỉ đạo của Phàm Ngã. Bản chất cảm xúc vẫn tồn tại, nhưng đã được rèn luyện và tinh luyện; các tiến trình tư tưởng được kiểm soát và hướng một cách chủ ý vào các kênh cho phép linh hồn biểu hiện mục đích của mình… Tôi là cái đó. Ở người không đi trên Con Đường, các mệnh lệnh của Phàm Ngã mới là quan trọng. Các Thể Cảm Dục và Trí Tuệ được liên kết với các động lực và ý định của phàm ngã… Tôi là. Ở những cá nhân vô cùng thiếu tích hợp, phàm ngã rất yếu và họ trở thành công cụ dễ dãi cho bất kỳ tư tưởng nào do Thể Trí tạo ra hoặc các cảm xúc dâng trào từ Thể Cảm Dục.

In schizophrenia the connections between the Personality and its vehicles become tenuous[151]. There is disorder of association. Trains of thought take unusual paths away from the hegemony of the Personality which, already lacking synthesis, becomes further weakened. Illogical thinking and incoherence in the Mental Body and its parts occur, and this situation allows categories and complexes of thought to become independent and isolated from the personality. It may now be understood why the symbol for this condition, in the English Ashram, is a bouncing rugby[152] ball—its direction is unpredictable. Then these complexes become easily charged with emotional energy and oust[153] the dominance of the Personality altogether. The Personality has no alternative but to fragment, to become a loose association of complexes… the opposite of the integrated personality. (1)

Trong tâm thần phân liệt, các mối liên hệ giữa Phàm Ngã và các thể của nó trở nên lỏng lẻo. Có sự rối loạn trong sự liên kết. Dòng tư tưởng đi theo những hướng bất thường, vượt ra ngoài quyền kiểm soát của Phàm Ngã, vốn đã thiếu sự tổng hợp lại càng trở nên yếu hơn. Suy nghĩ phi logic và mất liên kết trong Thể Trí và các phần của nó xuất hiện, và tình trạng này cho phép các nhóm tư tưởng và phức hợp trở nên độc lập, bị tách rời khỏi phàm ngã. Giờ đây có thể hiểu tại sao biểu tượng của căn bệnh này trong Ashram Anh lại là một quả bóng rugby nảy bật—hướng đi của nó không thể đoán định. Khi đó, những phức hợp tư tưởng này dễ dàng bị nạp năng lượng cảm xúc và hoàn toàn chiếm quyền kiểm soát của Phàm Ngã. Phàm Ngã không còn lựa chọn nào khác ngoài việc bị phân mảnh, trở thành một liên kết lỏng lẻo của các phức hợp… đối lập với phàm ngã tích hợp.

(1) See Section 1

(1) Xem Phần 1

Reality in terms of the personality no longer exists. The schizophrenic may not even see, much less comprehend the world which used to surround his personality. He now sees everything in terms of his little I’s or energised complexes. Their fears and wishes become paramount and may take the form of symbols. Out of their exaggerated importance (to the detriment of any central personality that remains) come delusions.

Khái niệm về thực tại dưới góc độ của phàm ngã không còn tồn tại nữa. Người mắc tâm thần phân liệt có thể không còn nhìn thấy, chứ đừng nói đến hiểu được, thế giới từng bao quanh phàm ngã của y. Giờ đây y nhìn mọi thứ qua lăng kính của những cái “tôi nhỏ” hoặc các phức hợp đã được năng lượng hóa. Những nỗi sợ và ước muốn của chúng trở nên tối thượng và có thể biểu hiện dưới hình thức các biểu tượng. Từ sự phóng đại tầm quan trọng của chúng (và sự lu mờ của bất kỳ phần nào còn sót lại của phàm ngã trung tâm) mà ảo tưởng phát sinh.

Disorders in the form of thought

Rối Loạn Trong Dạng Thức Tư Tưởng

All schizophrenics show this if their condition persists long enough. This disorder results from a lack of purpose, a central theme around which the thoughts can build themselves into a cohesive and meaningful concept. It is manifest in everyone to some degree. A business tycoon may disagree. He would emphasise that he has a central purpose in what he does. Yet, in terms of his Soul’s purpose, his activities may be meaningless or just a repetition of activities conducted in past lives.

Tất cả những người mắc tâm thần phân liệt đều biểu hiện điều này nếu tình trạng kéo dài đủ lâu. Rối loạn này bắt nguồn từ sự thiếu vắng mục đích, một chủ đề trung tâm mà quanh đó tư tưởng có thể xây dựng thành một khái niệm gắn kết và có ý nghĩa. Điều này thực tế tồn tại ở mọi người ở một mức độ nào đó. Một nhà tư bản kinh doanh có thể phản đối. Ông ta sẽ nhấn mạnh rằng mình có mục đích trung tâm trong những gì ông làm. Tuy nhiên, xét theo mục đích của Linh hồn ông, các hoạt động đó có thể hoàn toàn vô nghĩa hoặc chỉ là sự lặp lại của các hoạt động đã từng thực hiện trong các kiếp sống trước.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-57.webp

In the schizophenic, lacking purpose, even at a personality level, the condition shows as a sequence of thoughts whose direction may be altered by any intrusion into his consciousness rather than held to a steady course by a central determining idea. The thoughts, as they unfold, may be swerved by what he momentarily hears or feels or intuits and are carried hither and thither. There is always something in common between his thoughts, but they are unrelated to a central motif, purpose or idea. Thus, to the observer, they would be meaningless because the connection between the thoughts is elaborated as the thoughts proceed and is not related to a central theme, idea or purpose.

Ở người mắc tâm thần phân liệt, do thiếu vắng mục đích—ngay cả ở cấp độ phàm ngã—tình trạng này biểu hiện như một chuỗi tư tưởng mà hướng đi có thể bị thay đổi bởi bất kỳ sự xâm nhập nào vào tâm thức, thay vì được giữ vững bởi một ý tưởng trung tâm có tính quyết định. Các tư tưởng, khi triển khai, có thể bị lệch hướng bởi những gì y chợt nghe, cảm nhận hoặc trực giác và bị cuốn đi chỗ này chỗ khác. Luôn có một điểm chung nào đó giữa các tư tưởng của y, nhưng chúng không liên hệ với một chủ đề, mục đích hay ý tưởng trung tâm nào cả. Do đó, đối với người quan sát, những tư tưởng đó sẽ có vẻ vô nghĩa vì mối liên kết giữa các tư tưởng chỉ được hình thành trong lúc các tư tưởng đang diễn tiến, chứ không liên hệ đến một chủ đề trung tâm rõ ràng nào.

At a different level, we get groups of thoughts or ideas leading nowhere—flights of fancy—and for some people, when these are written down, they can be even more disordered than when spoken:-

Ở một cấp độ khác, chúng ta thấy các nhóm tư tưởng hoặc ý tưởng dẫn đến hư không—những chuyến bay của trí tưởng tượng—và đối với một số người, khi các ý tưởng ấy được viết xuống, chúng thậm chí còn rối loạn hơn cả khi được phát ngôn:

The Life and “Pedigree” of George Fox—Tiểu Sử và “Dòng Dõi” của George Fox

Published by So Long & Go. N.Y. City, N.Y.

Xuất bản bởi So Long & Go. Thành phố New York, NY.

Edited by the “Big Chief” (himself) GEORGE FOX

Biên tập bởi “Tộc Trưởng Lớn” (chính ông ta) GEORGE FOX

Well on a Balmy and Clear Day in the month of December, to be Exact, Dec. 10, 1894,1 selected for my dear old Mother, Mrs. Barbara Fox, whose maiden name was “Wilson” (that’s all) a wee bit of Scotish methinks in her parents, probably born in Old Scotland, England,—perhaps thats where I Inherit my so styled “Pins” or “Buns”—some original—mostly “Antiques” but Dressed in Kilties or a new “Calico Wrapper” they sound new to some—its strange how “Illiterate” many of us are!

Vào một ngày êm dịu và trong lành trong tháng Mười Hai, chính xác là ngày 10 tháng 12 năm 1894, tôi chọn cho người mẹ thân yêu của mình, bà Barbara Fox, nhũ danh “Wilson” (chỉ vậy thôi) — có vẻ một chút dòng máu Scotland từ cha mẹ bà, có lẽ sinh ra tại xứ Scotland cổ, nước Anh,—có lẽ đó là nơi tôi thừa hưởng những thứ gọi là “Pins” hay “Buns”—vài thứ nguyên bản—đa phần là “Đồ Cổ” nhưng khi khoác lên mình chiếc váy kilt hoặc một cái áo bông calico mới thì nghe như mới hoàn toàn—thật lạ là nhiều người chúng ta “mù chữ” đến thế nào!

My father, not having an authenticated Data of my ancestry, I’ll just say from memory, was born in the state of Virginia, where our Revered First in War, First in Peace, and First in the Hearts of His Countrymen and (the “First,” but not “Least”) President of these Wealthy if not the Wealthiest (in “Natural Resources”) at least) “Nation” on the “Face of the Globe” or in other words—The World—named “The United States of America”—“America Right”, “America Wrong”—“America Forever” or as said in the “Star Spangled Banner” May her Flag Ever Wave for the Brave and the Free, or United we “Stand” but Divided we “Fall” and as Rome “Fell” we trust God will Keep us by his “Almighty Help” from Ever Falling either by His Hands, “Earthquakes” “Floods,” “Whirl Winds” “World Wars” or other “Calamaties” or Catastrophies”. Since we are not writing the “End of the World” or The History of the United States, we might wisely return to our subject, the life of the writer George Fox.

Cha tôi, vì không có dữ liệu xác thực về dòng tộc của tôi, nên tôi chỉ nhớ mang máng, sinh ra ở tiểu bang Virginia, nơi mà Vị Đáng Kính Đầu Tiên Trong Chiến Tranh, Đầu Tiên Trong Hòa Bình, và Đầu Tiên Trong Trái Tim Đồng Bào Ông và (là “Đầu Tiên” nhưng không “Kém Quan Trọng”) Tổng thống của quốc gia giàu có nếu không muốn nói là giàu nhất (về “Tài Nguyên Thiên Nhiên” ít nhất) “trên mặt Địa Cầu” hay nói cách khác—Trên Thế Giới—được gọi tên là “Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ”—“Nước Mỹ Đúng Đắn,” “Nước Mỹ Sai Trái”—“Nước Mỹ Muôn Năm” hoặc như trong “Lá Cờ Lấp Lánh Ánh Sao” rằng “Mong sao Lá Cờ của Nàng luôn phấp phới cho người Dũng Cảm và người Tự Do,” hoặc như câu “Đoàn Kết thì Sống” nhưng “Chia Rẽ thì Diệt Vong,” và như La Mã đã “Sụp Đổ” thì chúng tôi cầu xin Chúa, nhờ “Sự Giúp Đỡ Toàn Năng” của Ngài, giữ chúng tôi không bao giờ bị sụp đổ—dù bởi Tay Ngài, “Động Đất,” “Lũ Lụt,” “Lốc Xoáy,” “Chiến Tranh Thế Giới” hay các “Thảm Họa” khác. Vì chúng ta không đang viết “Tận Thế” hay Lịch Sử Hoa Kỳ, nên tốt hơn hết chúng ta hãy quay lại với chủ đề, cuộc đời của người viết—George Fox.

Well, I was born, as I said, one of the most unpleasant things imaginable, especially for the mother of 1894, before the “Twilight Series” and other ISSUES were published (et cetera, et cetera, et cetera). (1)

Tôi đã sinh ra, như tôi đã nói, là một trong những điều khó chịu nhất có thể tưởng tượng, đặc biệt đối với người mẹ của năm 1894, trước thời “Loạt sách Twilight” và các VẤN ĐỀ khác được xuất bản (vân vân, vân vân, vân vân).

(1) The Mental Hospital by Alfred H. Stanton and Morris S. Schwartz. Basic Books, Inc., N.Y.

(1) The Mental Hospital, Alfred H. Stanton và Morris S. Schwartz, Basic Books, Inc., N.Y.

Perhaps the greatest name in modern English literature in the field of the novel is Virginia Woolf. She had a genius for describing the flow of human thought. Her novels are classics of introspection in a style that has never been copied, let alone equalled. Yet, who is there that has made a careful study of her novels and schizophrenia who cannot help noting how genius and madness are close akin:-

Có lẽ cái tên vĩ đại nhất trong văn học Anh hiện đại ở thể loại tiểu thuyết là Virginia Woolf. Bà là thiên tài trong việc mô tả dòng chảy của tư tưởng con người. Các tiểu thuyết của bà là những kiệt tác về nội quan, theo một phong cách chưa từng bị bắt chước, chứ đừng nói đến việc vượt qua. Tuy nhiên, ai đã từng nghiên cứu kỹ các tiểu thuyết của bà và chứng tâm thần phân liệt mà không nhận ra rằng thiên tài và điên loạn thật gần gũi với nhau:

It was at Bourton that summer, early in the nineties, when he was so passionately in love with Clarissa. There were a great many people there, laughing and talking, sitting round a table after tea, and the room was bathed in yellow light and full of cigarette smoke. They were talking about a man who had married his housemaid, one of the neighbouring squires, he had forgotten his name. He had married his housemaid and she had been brought to Bourton to call—an awful visit it had been. She was absurdly overdressed, ‘like a cockatoo’, Clarissa had said, imitating her, and she never stopped talking. On and on she went, on and on. Clarissa imitated her. Then somebody said—Sally Seton it was—did it make any real difference to one’s feelings to know that before they had married she had had a baby? (In those days, in mixed company, it was a bold thing to say.) He could see Clarissa now, turning bright pink; somehow contracting; and saying, “Oh, I shall never be able to speak to her again!” Whereupon the whole party sitting round the tea-table seemed to wobble. It was very uncomfortable. (1)

Chính tại Bourton vào mùa hè ấy, đầu những năm 1890, khi chàng say mê Clarissa một cách cuồng nhiệt. Có rất nhiều người ở đó, cười nói rôm rả, ngồi quanh bàn sau giờ trà, và căn phòng ngập ánh sáng màu vàng cùng khói thuốc lá. Họ đang nói về một người đàn ông đã cưới người giúp việc của mình, một trong những điền chủ gần đó, chàng đã quên tên. Ông ta đã cưới người giúp việc và bà ấy được đưa đến Bourton để ra mắt—một chuyến viếng thăm kinh khủng. Bà ấy ăn mặc lố bịch, “như một con vẹt mào,” Clarissa đã nói, bắt chước bà ta, và bà ta không ngừng nói. Cứ thế, nói mãi, nói mãi. Clarissa bắt chước bà ta. Rồi ai đó nói—Sally Seton thì phải—liệu có thay đổi gì trong cảm xúc khi biết rằng trước khi cưới, bà ta đã có một đứa con? (Hồi đó, nói điều đó trong một nhóm người nam nữ là điều táo bạo.) Chàng vẫn nhớ Clarissa lúc ấy, mặt đỏ rực; như thể co rúm lại; và nói, “Ôi, tôi sẽ không thể nói chuyện với bà ta nữa!” Ngay khi đó, cả nhóm người ngồi quanh bàn trà dường như bị chao đảo. Thật là khó chịu.

(1) Mrs. Dalloway by Virginia Woolf (Penguin Books Ltd., Harmondsworth, Middlesex, England).

(1) Mrs. Dalloway, Virginia Woolf (Penguin Books Ltd., Harmondsworth, Middlesex, England).

This tendency to disordered forms of thought is a characteristic of the Third Ray of Active Intelligence when this is not balanced by intuitive Rays or by analytical Rays. There is no lack of intellect and intelligence, just disorders of thought. A famous genius whose name I shall not mention, once a personal friend of mine, would occasionally give voice to a thought or an idea out “of the blue” which would have absolutely no connection whatever with the central theme of conversation or thoughts at the dining table. It can be disconcerting, but not necessarily pathological.

Khuynh hướng đến các dạng tư tưởng rối loạn này là đặc điểm của Cung Ba—Trí Tuệ Linh Hoạt—khi nó không được quân bình bởi các Cung trực giác hay Cung phân tích. Không phải thiếu trí tuệ hay thông minh, mà là rối loạn trong tư duy. Một thiên tài nổi tiếng (tôi xin không nêu tên), từng là bạn thân của tôi, thỉnh thoảng lại phát biểu một tư tưởng hay ý tưởng “từ trên trời rơi xuống” hoàn toàn không liên quan gì đến chủ đề đang bàn hay dòng tư tưởng tại bàn ăn. Điều đó có thể gây bối rối, nhưng không nhất thiết là bệnh lý.

To illustrate how prone we are all to this sort of condition when we are in a subjective state, I would recount an experience of my own. I have continuity of consciousness at a physical level, an esoteric quality that arrives from certain self-imposed disciplines. This means that I am conscious twenty-four hours a day, though this does not mean I don’t sleep. It does mean that, whilst sleeping, I hear sounds about me and register them as clearly inwardly as I can, at the same time, I record events occurring in the inner worlds.

Để minh họa việc tất cả chúng ta dễ rơi vào trạng thái tương tự như vậy khi ở trong trạng thái chủ quan, tôi xin thuật lại một trải nghiệm của chính mình. Tôi có khả năng liên tục ý thức ở cấp độ thể xác, một phẩm chất huyền môn đạt được qua một số kỷ luật tự nguyện. Điều này có nghĩa là tôi ý thức suốt hai mươi bốn giờ mỗi ngày, dù điều đó không có nghĩa là tôi không ngủ. Nó có nghĩa là, trong lúc ngủ, tôi vẫn nghe các âm thanh xung quanh mình và ghi nhận chúng một cách rõ ràng từ bên trong, đồng thời tôi ghi lại các sự kiện xảy ra trong các thế giới nội tại.

One morning when asleep, my attention whilst following some dream event became aware of a dog that had started to bark nearby, not in the dream, but in the street outside. I was following the course of the dream and the sound of each bark intruded… Bark! … dream content… Bark! … dream content. I tried to ignore the bark and returned to become engrossed in the dream. I was discussing some medical matter in my dream with friends, when suddenly “Bark” changed to “Bob” and in walked a neighbour friend Bob, who then joined in the discussion, and I paid no more attention to the outer stimulus which had now been replaced with an associated visual image, the mental body of Bob.

Một buổi sáng nọ, khi đang ngủ, sự chú ý của tôi trong khi đang theo dõi một sự kiện trong giấc mơ bỗng nhận ra có tiếng chó bắt đầu sủa gần đó—không phải trong giấc mơ, mà là trên đường phố bên ngoài. Tôi vẫn đang theo mạch của giấc mơ, và tiếng sủa chen vào… Sủa! … nội dung giấc mơ … Sủa! … nội dung giấc mơ. Tôi cố phớt lờ tiếng sủa và quay lại chìm vào giấc mơ. Trong mơ, tôi đang thảo luận một vấn đề y khoa với vài người bạn, thì đột nhiên “Sủa” biến thành “Bob” và một người bạn hàng xóm tên Bob bước vào và tham gia cuộc trò chuyện. Lúc này tôi không còn chú ý đến kích thích bên ngoài nữa vì nó đã được thay thế bởi một hình ảnh liên tưởng—thể trí của Bob.

I mention this to emphasise what I wrote earlier, that for those who are developing a subjective life—who are in the course of exploring inner space—what may appear to be abnormal in the personality life may be normal content of the new world within. In this thought disorder the patient is unable to confine himself to the business in hand, to focus his mind on the given topic. He seizes on any of the thought objects coming into his mind and may elaborate on them or become over-concerned with some quite superficial quality of an object that confronts his gaze. He isolates himself in doing this from the rest of his nervous system, and because “energy follows thought”, his focus of attention to the object or scene before him becomes energised. It engrosses him. He becomes the dramatic “I” in it. This isolation may continue so that he is eternally being diverted away from the mainstream of matters concerning the rest of himself, into backwaters. Thus the schizophrenic’s symptoms show lack of ability to concentrate, increased rigidity and distraction from intellectual performance. His isolating tendencies fix him on any stimulus that presents itself and he responds excessively to them, adopts the centre of that scene and acts out its ramifications giving what has sometimes been called the split personality—the ability to divorce himself from one set of circumstances to become the central dramatic “I” (1) in another.

Tôi kể điều này để nhấn mạnh điều tôi đã viết trước đó: đối với những ai đang phát triển đời sống chủ quan—đang khám phá không gian nội tâm—thì những gì có vẻ bất thường trong đời sống phàm ngã có thể là nội dung bình thường của thế giới mới bên trong. Trong rối loạn tư tưởng, bệnh nhân không thể giới hạn mình vào công việc hiện tại, không thể tập trung tâm trí vào đề tài được giao. Y chộp lấy bất kỳ đối tượng tư tưởng nào xuất hiện trong tâm trí và có thể triển khai chúng hoặc trở nên quá bận tâm với một đặc điểm rất hời hợt của một đối tượng nào đó mà ánh mắt y chạm đến. Y tự cô lập mình khi làm điều đó, tách rời khỏi phần còn lại của hệ thần kinh, và bởi vì “năng lượng theo sau tư tưởng,” sự tập trung của y vào đối tượng hoặc cảnh tượng trước mặt trở nên được nạp năng lượng. Nó thu hút hoàn toàn y. Y trở thành cái “Tôi” kịch tính trong đó. Sự cô lập này có thể tiếp diễn đến mức y mãi mãi bị chuyển hướng khỏi dòng chính các vấn đề liên quan đến phần còn lại của bản thân mình, và bị cuốn vào những nhánh rẽ. Do đó, các triệu chứng của người tâm thần phân liệt thể hiện sự thiếu khả năng tập trung, sự cứng nhắc gia tăng và sự xao nhãng trong hoạt động trí tuệ. Khuynh hướng cô lập khiến y bị cố định vào bất kỳ kích thích nào xuất hiện và y phản ứng quá mức với chúng, tự đặt mình làm trung tâm trong cảnh tượng đó và diễn vai của mình, tạo nên điều đôi khi được gọi là nhân cách phân lập—khả năng tách mình ra khỏi một hoàn cảnh này để trở thành cái “Tôi” kịch tính trung tâm (1) trong một hoàn cảnh khác.

He may do this with sudden and great rapidity, especially when stress or crises makes the normal personality untenable. I asked the Master R.B. to give me a visual symbol for the way in which this transference of attention of the schizophrenic from one personality to another was evoked:-

Y có thể làm điều này rất nhanh chóng, đặc biệt khi căng thẳng hoặc khủng hoảng khiến nhân cách thông thường không thể duy trì được. Tôi đã hỏi Chân sư R.B. cho tôi một biểu tượng trực quan để diễn tả cách mà sự chuyển hướng chú ý của người mắc tâm thần phân liệt từ một nhân cách này sang nhân cách khác xảy ra như thế nào:

(1) The jewel In The Lotus, p 166, by D. Baker. See also, Meditation, The Theory And Practice, p. 135. by D. Baker.

(1) Viên Ngọc Trong Hoa Sen, tr. 166, D. Baker. Xem thêm Tham Thiền: Lý Thuyết và Thực Hành, tr. 135, D. Baker.

You are in a tank battle… your own vehicle becomes a main target. Shot after shot pounds the hull. One penetrates and kills the crew. The enemy are closing in. Another shot sets the tank on fire. You peer through the periscope at the battle. You note the green trees of the forest nearby. There is no other recourse; you must flee. You hurl open the turret cover and dash from the blazing inferno. Now you are free and amongst the trees. Here you may lie in cool comfort and watch the denizens of the forest, the chipmunks at play, perhaps if you look closely there are elves beneath those mushroom stools. The tank battle seems far away because you are an elf and have things to do here… .

Bạn đang ở giữa trận chiến xe tăng… chiếc xe của bạn trở thành mục tiêu chính. Hết phát đạn này đến phát đạn khác dội vào thân xe. Một viên đạn xuyên thủng và giết chết tổ lái. Kẻ thù đang tiến gần. Một viên đạn khác làm xe bốc cháy. Bạn nhìn qua kính tiềm vọng thấy trận địa. Bạn nhận ra những hàng cây xanh của cánh rừng gần đó. Không còn lựa chọn nào khác; bạn phải thoát. Bạn mở nắp tháp pháo và phóng ra khỏi biển lửa. Giờ bạn đã tự do và ở giữa rừng. Tại đây, bạn có thể nằm nghỉ mát mẻ và quan sát các cư dân rừng—những chú sóc đang chơi đùa, thậm chí nếu bạn nhìn kỹ có thể thấy những nàng tiên nhỏ dưới các cây nấm. Trận chiến xe tăng giờ đây dường như xa vời vì bạn đã là một nàng tiên và có những điều cần làm ở đây…

The schizophrenic may for instance be standing on the roadside thumbing a lift. Each time he is passed by, a surge of energy inflames his thoughts and feelings of insecurity, of rejection, of self-pity, so that these become entities on their own—vehicles for his consciousness. When he finally is offered a lift, he may not want it because one of these entities has presented a completely new set of interests, new scenery into which he quickly inserts his dramatic and current “I”.

Người mắc tâm thần phân liệt, chẳng hạn, có thể đang đứng bên đường giơ tay xin đi nhờ. Mỗi lần bị lướt qua, một luồng năng lượng bùng lên trong tư tưởng và cảm xúc về sự bất an, bị từ chối, sự thương thân, khiến những cảm xúc này trở thành những thực thể riêng—những phương tiện mang tâm thức của y. Khi cuối cùng có ai đó dừng lại cho quá giang, y có thể không muốn đi nữa vì một trong những thực thể ấy đã trình ra một bộ cảnh hoàn toàn mới—một bối cảnh mới mà y nhanh chóng đưa cái “Tôi” hiện tại và kịch tính của mình vào.

When the environment of the Personality Body becomes hostile or in the absence of a strongly seated Personality, he will try out other fragments of it or little I’s, and like some histrionic person trying on new hats in front of the mirror, he will adopt and quickly dramatise himself into a new personality triggered off by the sight of himself in the hat.

Khi môi trường của Thể Phàm Ngã trở nên thù địch hoặc khi thiếu một Phàm Ngã được xác lập vững chắc, y sẽ thử nghiệm những mảnh vỡ khác của nó, những cái “tôi nhỏ”, và giống như một người diễn viên thích đóng kịch đang thử nhiều chiếc mũ trước gương, y sẽ khoác lên mình và nhanh chóng nhập vai một nhân cách mới được kích hoạt chỉ bởi cái nhìn thoáng qua chính mình trong chiếc mũ đó.

All the disorders of speech (the incoherence, the over discussion of irrelevancies, or the inability to comment at all) are part of this isolative procedure which leads him into more benign scenes wherein he may act out his life.

Tất cả các rối loạn về ngôn ngữ (nói không mạch lạc, lan man về những điều không liên quan, hoặc hoàn toàn không phản hồi) đều là một phần của tiến trình cô lập này, vốn đẩy y vào những khung cảnh ôn hòa hơn nơi y có thể diễn xuất cuộc đời của mình.

How prone we all are to do this and how distracting it can be for the Soul’s purpose, I emphasised in Volumes I and II of The Seven Pillars Of Ancient Wisdom} There I showed how meditation leads one away from the unreality of little I’s to the Silent One, the I within.

Chúng ta đều rất dễ làm điều này và nó gây sao lãng biết bao cho mục đích của Linh hồn—tôi đã nhấn mạnh điều này trong Tập I và II của Bảy Trụ Cột Minh Triết Cổ Đại. Ở đó tôi chỉ ra rằng tham thiền giúp ta thoát khỏi những cái “tôi nhỏ” không thực để đến với Đấng Thinh Lặng—cái “Tôi” bên trong.

We are always identifying ourselves with these little “I’s”, which lie on the rim of the wheel. And we are too preoccupied with these diversions to be aware of the real “I”, the hub of the wheel. We feel naked without these little I’s and comforted and diverted with them:-

Chúng ta luôn đồng hóa mình với những cái “Tôi” nhỏ này, những cái nằm ở rìa của bánh xe. Và chúng ta quá bận tâm với những phân mảnh đó đến mức không nhận thức được cái “Tôi” thật sự—trục của bánh xe. Chúng ta cảm thấy trần trụi nếu thiếu những cái “tôi” nhỏ ấy, và cảm thấy an tâm khi được chúng che chở, làm sao lãng:

– There is the “I” that we present to a class of school children if we are a teacher.

– Có cái “Tôi” mà ta trình ra trước học sinh khi là giáo viên.

– .. And then there is the very different “I” that we show to the bank manager when we ask for a loan!

– Và một cái “Tôi” rất khác khi ta đứng trước giám đốc ngân hàng để xin vay.

– There is the “I” that we keep for our wives—and the one for our children and pets.

– Có cái “Tôi” mà ta giữ cho vợ mình—và cái “Tôi” cho con và thú cưng.

These are the unenduring parts of our nature. They are the rim of the wheel in contact with harsh or smooth soil. Meanwhile, the hub is hidden. We are diverted by the glamour of maya—by the feathers of the peacock!

Đó là những phần không bền vững trong bản chất của chúng ta. Chúng là rìa bánh xe tiếp xúc với mặt đất gồ ghề hay mịn màng. Trong khi đó, trục thì bị ẩn giấu. Chúng ta bị phân tâm bởi ảo cảm của maya—bởi lông công lấp lánh!

In meditation we learn to identify ourselves with the Silent One, the real possessor of the vehicles of consciousness and learn to affirm with meaning “I am That“. I am not just the physical body that may be, at this moment, lying in the corner in a drunken stupor. Surely, I am something more than this. I am not this emotionally distraught entity fuming in a traffic jam. I am not this coldly calculating individual pouring over a microscope, in deep analysis. I am that within, the nucleus of my being. I am the prisoner of my five senses which anchor me to the rim of my wheel and to the wheel of rebirth. It is they and my various personalities which say:-

Trong tham thiền, chúng ta học cách đồng hóa với Đấng Thinh Lặng, với chủ thể thực sự của các phương tiện tâm thức và học cách khẳng định với ý nghĩa thực thụ: “Tôi là Cái Đó.” Tôi không chỉ là thể xác đang nằm kia trong góc phòng trong cơn mê rượu. Chắc chắn tôi còn là điều gì hơn thế. Tôi không phải là thực thể đau khổ về cảm xúc đang giận dữ giữa dòng xe kẹt cứng. Tôi không phải là kẻ lạnh lùng tính toán đang cúi đầu soi kính hiển vi trong một cuộc phân tích sâu. Tôi là cái bên trong, là hạt nhân của sự hiện hữu. Tôi là kẻ bị giam cầm bởi năm giác quan—chúng trói buộc tôi vào vành bánh xe và vào bánh xe của luân hồi. Chính chúng, cùng với những nhân cách khác nhau của tôi, đã cất tiếng nói rằng:—

I am lonely…..

Tôi cô đơn…

I am weary…..

Tôi mệt mỏi…

I am sexy…..

Tôi quyến rũ…

I am hungry…..

Tôi đói…

I am unappreciated

Tôi không được trân trọng…

The environment, at home or in the office or anywhere, need not be obviously hostile. The schizophrenic may be so sensitive to the presence of emotional currents that he can sense them before most normal individuals can. He is ultra-sensitive, like Virginia Woolf, to the thoughts and feelings of others.

Môi trường—dù là ở nhà, tại nơi làm việc, hay bất cứ đâu—không nhất thiết phải rõ ràng thù địch. Người mắc tâm thần phân liệt có thể nhạy cảm đến mức cảm nhận được các dòng cảm xúc trước cả khi những người bình thường khác nhận ra. Y quá mức nhạy cảm, giống như Virginia Woolf, trước tư tưởng và cảm xúc của người khác.

It is then that the genetically acquired factors in his brain and sensory mechanisms deal their cruelest karmic blow. The criticisms of others though expressed only in thought or feeling, surface within the centre of his brain as his own—speak to him through his own neurons, associated as they are with guilt or grandeur, symbol or phobia. This inner voice (which is very much a real phenomenon to the schizophrenic) will one day be recordable because it is ultimately a physical phenomenon! This is where it differs from that glorious inner voice (of the Silence) which is heard by the mystic and the man who, through meditation, establishes contact with his higher nature, his overself or with the consciousness of higher beings.

Chính lúc đó, những yếu tố di truyền tiềm tàng trong não bộ và các cơ chế cảm giác của y giáng đòn nghiệt ngã nhất theo chiều hướng nghiệp quả. Những lời chỉ trích của người khác—dù chỉ tồn tại dưới dạng tư tưởng hay cảm xúc—trồi lên trong trung tâm não bộ y như là của chính y—nói với y thông qua chính các neuron của y, gắn liền với mặc cảm tội lỗi hay hoang tưởng vĩ cuồng, biểu tượng hay ám ảnh. Giọng nói bên trong này (vốn là một hiện tượng rất thực đối với người tâm thần phân liệt) một ngày nào đó sẽ có thể được ghi nhận vì suy cho cùng, nó là một hiện tượng vật lý! Đây chính là điểm khác biệt với giọng nói thiêng liêng (của Đấng Thinh Lặng) mà nhà thần bí hay người tham thiền nghe được khi thiết lập mối liên hệ với bản thể cao hơn của mình, với chân ngã hoặc với tâm thức của các Đấng cao siêu hơn.

The voice of the schizophrenic, especially in times of stress, advises him, cajoles him, comforts or berates. Because he is under tremendous stress, he is more receptive (1) to the admonitions of this voice. He may feel that he should take a drive into the country to get away from the hostility about him. Immediately the voice intrudes: “Yes, go on, go on, go on.” Or, according to the dramatised situation in which he is momentarily the central actor, it may interject with “Dirty coward, coward, coward.” And so on. If the world outside is completely unbearable, he will begin to draw comfort from his voices; he will pay attention to them. If that world improves, or is blessed with a compassionate therapist or counsellor, then the voices will embarrass him, and though they distract him, he may pay them no attention.

Giọng nói của người mắc tâm thần phân liệt, đặc biệt trong thời điểm bị áp lực, khuyên răn y, dụ dỗ y, an ủi hoặc mắng nhiếc y. Bởi vì y đang chịu đựng áp lực khủng khiếp, y trở nên dễ tiếp thu (1) những lời nhắn nhủ ấy hơn. Y có thể cảm thấy rằng mình nên lái xe ra ngoại ô để tránh khỏi sự thù địch xung quanh. Ngay lập tức, giọng nói chen vào: “Đúng rồi, đi đi, đi đi, đi đi.” Hoặc, tùy theo tình huống kịch tính mà y tạm thời đang làm trung tâm, nó có thể chen vào với: “Đồ hèn nhát, đồ hèn nhát, đồ hèn nhát.” Cứ thế mà tiếp diễn. Nếu thế giới bên ngoài hoàn toàn không thể chịu đựng được, y sẽ bắt đầu tìm thấy sự an ủi từ những tiếng nói ấy; y sẽ chú ý đến chúng. Nếu thế giới ấy được cải thiện, hoặc được ban tặng một nhà trị liệu hay tư vấn đầy từ bi, thì những tiếng nói ấy sẽ khiến y lúng túng, và dù vẫn gây sao lãng, y có thể không còn chú ý đến chúng nữa.

(1) See section on brainwashing in Meditation, The Theory and Practice, page 139, by Douglas Baker.

(1) Xem phần về “Tẩy não” trong Tham Thiền: Lý Thuyết và Thực Hành, tr. 139, Douglas Baker.

Sometimes, in more spiritual individuals, the voice will blend with a waking dream or vivid inner experience so that it may be given the status of a divine instruction or injunction, and this is the most heart-breaking manifestation of all delusion… the blending of the Real and the unreal:-

Đôi khi, ở những cá nhân mang thiên hướng tâm linh cao hơn, giọng nói này sẽ hòa vào một giấc mộng tỉnh hoặc một trải nghiệm nội tâm sống động đến mức nó được gán cho địa vị của một lệnh truyền hoặc mệnh lệnh thiêng liêng—và đây chính là dạng ảo tưởng đau lòng nhất: sự pha trộn giữa Cái Thực và cái không thực:

From the unreal lead me to the Real

Từ vô minh, xin dẫn con đến Chân lý

From darkness lead me to light

Từ bóng tối, xin dẫn con đến ánh sáng

From death lead me to Immortality.

Từ cái chết, xin dẫn con đến Bất Tử.

In these circumstances the schizophrenic may be aroused to take action, to crusade, to become an evangelist. We begin to see how important it is that esoteric matters should be left absolutely alone when psychosis and even neurosis are distracting the personality’s attention. There is no exception to this rule!

Trong những hoàn cảnh như vậy, người tâm thần phân liệt có thể được khơi dậy để hành động, để mở một cuộc thánh chiến, để trở thành một nhà truyền đạo. Chúng ta bắt đầu thấy rõ tầm quan trọng của việc phải tuyệt đối được tránh xa các vấn đề huyền môn khi có rối loạn tâm thần hoặc thậm chí thần kinh đang làm sao lãng sự chú tâm của phàm ngã. Không có ngoại lệ nào cho nguyên tắc này!

Nor are the schizophrenic’s surroundings always regarded as hostile. The mood may take him to regard them, for the moment, as benign, encouraging even a willing and applauding audience to whatever scene he wishes to act out. He may have just put down a book which has stirred him—some hero has caught his fancy—he is the hero. As he walks down the garden path, he acts out the Roman Triumph presented for his honour… his fierce brow bows to the waving multitudes on either side… the gardener waves to him and calls “Hello there” … immediately he turns frostily on him and from great heights answers grandly, “Sir, how dare you address me in that fashion!” and is gratified by the laughter that it provokes. As he continues down the path, he brushes aside a small hanging branch… the branch becomes a palm frond… the crowds start to call “Hosanna, Hosanna in the highest.” He accepts their plaudits now with the gentle mien of Our Lord… he will do something about the cramped conditions here in Jerusalem, after he has dealt with Pontius Pilate… Pilate with his innuendos—“Publish and be damned,” and immediately he is the Duke of Wellington and that hedge is the serried ranks of his infantry squares, and his taut face must not now betray to the men his misgiving about the arrival of that charlatan Marshall Blucher… and so on and so on.

Tâm thần phân liệt cũng không luôn xem môi trường xung quanh là thù địch. Có lúc, tâm trạng khiến y xem mọi thứ là dễ chịu, thậm chí khuyến khích, như một khán giả nhiệt tình và tán thưởng cho bất kỳ vở kịch nào y muốn diễn xuất. Y có thể vừa đọc xong một cuốn sách truyền cảm hứng—một anh hùng nào đó khiến y say mê—và y trở thành anh hùng ấy. Khi y đi xuống lối mòn trong vườn, y diễn lại khải hoàn La Mã được dâng tặng cho vinh quang của mình… cặp chân mày nghiêm nghị của y cúi chào những đám đông hai bên đường… người làm vườn vẫy tay và gọi: “Chào anh nhé”… ngay lập tức y quay người lại, lạnh lùng đáp lại từ những tầng cao vời vợi: “Thưa ông, sao ông dám xưng hô với tôi kiểu đó!” và y hài lòng với tiếng cười mà phản ứng đó khơi dậy. Khi y tiếp tục đi, y vén nhẹ một nhánh cây nhỏ… nhánh cây trở thành lá cọ… đám đông bắt đầu hô vang: “Hosanna, Hosanna trên chốn cao nhất.” Giờ đây y đón nhận những lời tán dương đó với phong thái dịu dàng của Đức Chúa… y sẽ làm gì đó cho tình trạng chen chúc ở Jerusalem này, sau khi y xử lý xong Pontius Pilate… Pilate với những lời bóng gió của hắn—“Cứ công bố và chịu hậu quả đi,” và ngay lập tức y là Công tước Wellington, và hàng rào kia là đội hình bộ binh của y, và gương mặt căng cứng của y lúc này không được phép để lộ sự lo ngại về việc tay lừa đảo Marshall Blücher có đến đúng lúc không… và cứ thế, cứ thế tiếp diễn.

This may occupy a matter of minutes or be spread over days or months. Not one of us has been exempt from having experienced some feature or the other of these delusions, especially in childhood and adolescence. All parents should read at least one of Richmal Grompton’s William books before they suspect their children of psychosis. In fact, in the supergifted child, imagination forms a great part of his play. The ability of a child to elaborate his own fantasies in connection with any toy, to play endlessly with one toy for hours, is usually indicative of a highly developed soul. (1)

Tất cả những điều này có thể chỉ diễn ra trong vài phút hoặc kéo dài nhiều ngày, thậm chí nhiều tháng. Không một ai trong chúng ta là ngoại lệ khi nói đến việc đã từng trải nghiệm một số đặc điểm của những ảo tưởng này, đặc biệt là trong thời thơ ấu và tuổi mới lớn. Tất cả các bậc cha mẹ nên đọc ít nhất một cuốn William của Richmal Crompton trước khi nghi ngờ con mình có dấu hiệu loạn thần. Thật ra, ở một đứa trẻ có năng khiếu đặc biệt, trí tưởng tượng đóng vai trò chủ đạo trong các hoạt động vui chơi của nó. Khả năng của trẻ trong việc xây dựng các tưởng tượng xoay quanh một món đồ chơi nào đó, chơi hàng giờ liền chỉ với một món đồ chơi, thường là chỉ báo của một linh hồn phát triển cao.

(1) See section on Supergifted Children in The Psychology Of Discipleship by Douglas Baker.

(1) Xem phần “Trẻ Siêu Năng Khiếu” trong Tâm Lý Học về Người Đệ Tử, Douglas Baker.

The parents are powerful influences which can contribute greatly to the inhibition or, conversely, to the outward manifestation of schizophrenia in their offspring. The immature or non-synthesised personality of the schizophrenic child can suffer easily and severely from guilt or self-blame. If the child, as is often the case today, is brought up for the convenience of the parents (“I thought having children would bring us closer together”), he may be made to feel guilty over things that inconvenience the parents, e.g., if he soils himself, he is made to feel guilty, or if he makes a noise when mother takes her rest each afternoon, he is admonished, etc.

Cha mẹ là những ảnh hưởng rất mạnh mẽ có thể góp phần lớn vào việc ức chế hoặc ngược lại—làm biểu lộ ra ngoài tình trạng tâm thần phân liệt nơi con cái. Nhân cách chưa trưởng thành hoặc chưa tích hợp của đứa trẻ mắc tâm thần phân liệt có thể dễ dàng và sâu sắc chịu tổn thương bởi mặc cảm tội lỗi hoặc sự tự trách. Nếu đứa trẻ, như thường thấy ngày nay, được sinh ra vì tiện lợi của cha mẹ (“Tôi nghĩ có con sẽ khiến chúng tôi gần nhau hơn”), thì nó có thể bị khiến cảm thấy tội lỗi vì những điều gây bất tiện cho cha mẹ, chẳng hạn: nếu nó làm bẩn người, nó bị trách mắng; nếu nó làm ồn khi mẹ đang nghỉ trưa, nó bị rầy, v.v.

Self-blame is crippling to such personalities, and these guilt complexes may take years of psychotherapy in an institution to remove before the patient can be put on the path of sanity once more. It has frequently been observed by psychiatrists that when the father goes to hospital for some disorder, the schizophrenic son will show an immediate and marked improvement.

Sự tự trách là điều tàn phá những nhân cách như vậy, và các phức cảm tội lỗi này có thể cần nhiều năm trị liệu tâm lý trong một cơ sở chuyên môn để gỡ bỏ trước khi bệnh nhân có thể được đưa trở lại con đường bình thường của sự tỉnh táo. Các bác sĩ tâm thần đã thường xuyên ghi nhận rằng khi người cha nhập viện vì một rối loạn nào đó, thì đứa con trai mắc tâm thần phân liệt sẽ có dấu hiệu cải thiện ngay lập tức và rõ rệt.

Any form of criticism, direct or implied, can be devastating to the equilibrium and stability of the patient. This is the reason why such vast sums of money are spent in providing ideal conditions in voluntary psychiatric clinics where a patient can seek refuge from his home, employment or family, thus avoiding the need for institutionalisation.

Bất kỳ hình thức chỉ trích nào—trực tiếp hay ngầm định—đều có thể phá vỡ sự quân bình và ổn định của bệnh nhân. Đó là lý do vì sao những khoản tiền khổng lồ được chi ra để tạo điều kiện lý tưởng trong các cơ sở điều trị tâm thần tự nguyện, nơi bệnh nhân có thể tìm nơi trú ẩn khỏi gia đình, công việc hay hoàn cảnh sống—nhằm tránh việc phải đưa vào bệnh viện tâm thần chính thức.

This sensitivity to guilt can be stirred up by people whose attitudes to the schizophrenic show nothing but ignorance and callousness. Those who laugh and jeer should be made aware of the karma they are setting in motion which could bring them back in a future life to the same set of circumstances which now incur their derision.

Sự nhạy cảm với mặc cảm tội lỗi có thể bị khuấy động bởi những người có thái độ dửng dưng hoặc tàn nhẫn đối với người mắc tâm thần phân liệt. Những ai cười nhạo và chế giễu nên được nhắc nhở về nghiệp quả mà họ đang tạo ra—một thứ có thể đưa họ trở lại, trong kiếp sống tương lai, với chính những hoàn cảnh mà hiện tại họ đang chế giễu.

Without help, the schizophrenic can quickly deteriorate to the point of becoming irretrievable. None of us likes to live precariously, in poor occupations or as the target for derision, yet we have personalities that face up to such vicissitudes. The schizophrenic has not got this resilience of personality. Under pressure he will over-react or, alternatively, sink into a world of his own and then he displays outwardly emotional and mental impoverishment and in-coordination with his surroundings. Before we consider the esoteric healer’s treatment of the condition, the following should be stressed concerning orthodox methods.

Nếu không được giúp đỡ, người mắc tâm thần phân liệt có thể nhanh chóng suy sụp đến mức không thể phục hồi. Không ai trong chúng ta muốn sống một cuộc đời bấp bênh, trong những công việc tồi tàn hoặc trở thành đối tượng cho sự chế giễu, nhưng chúng ta có những phàm ngã có khả năng đối diện với những thăng trầm như vậy. Người mắc tâm thần phân liệt thì không có được sự kiên cường về phàm ngã này. Dưới áp lực, y sẽ phản ứng thái quá, hoặc ngược lại, rút lui vào thế giới riêng của mình và khi đó y biểu lộ ra bên ngoài tình trạng nghèo nàn về cảm xúc và tâm trí cũng như sự thiếu hòa hợp với môi trường xung quanh. Trước khi xem xét phương pháp điều trị của nhà chữa lành huyền môn đối với tình trạng này, cần nhấn mạnh các điểm sau liên quan đến các phương pháp chính thống:

Under no circumstances should shock treatment or insulin-coma be resorted to. Both of these ghastly last-resorts have been proved utterly useless. Both British and American psychiatrists concur on this point. You should campaign against their use under all circumstances. Apart from these, currently employed psychotherapy is helpful and recommendable, especially when psychoanalysis is conducted by a humane and compassionate expert. Catharsis to bring out guilt and supportive therapy in the form of out patients’ clinics, etc., go without saying. Under no circumstances should acute attacks of schizophrenia be dealt with by the esoteric healer. For the chronic schizophrenic, for prevention of onset, and for palliative treatment, the esoteric healer should use the following together:-

Dưới bất kỳ hoàn cảnh nào, không nên sử dụng liệu pháp sốc điện hoặc gây hôn mê bằng insulin. Cả hai biện pháp cực đoan này đã được chứng minh là hoàn toàn vô ích. Các bác sĩ tâm thần ở cả Anh và Mỹ đều đồng thuận về điểm này. Các bạn nên tích cực vận động chống lại việc sử dụng chúng trong mọi hoàn cảnh. Ngoài ra, các liệu pháp tâm lý hiện đang được áp dụng là có ích và đáng được khuyến khích, đặc biệt khi phân tâm học được thực hiện bởi một chuyên gia có lòng nhân hậu và từ bi. Phương pháp “catharsis” (giải tỏa cảm xúc) nhằm đưa mặc cảm tội lỗi ra ánh sáng, cùng với trị liệu hỗ trợ thông qua các phòng khám ngoại trú, v.v., là điều hiển nhiên không cần bàn cãi. Dưới bất kỳ hoàn cảnh nào, các cơn bộc phát cấp tính của tâm thần phân liệt không nên được xử lý bởi nhà chữa lành huyền môn. Đối với người mắc tâm thần phân liệt mạn tính, cho mục đích phòng ngừa hoặc điều trị làm dịu, nhà chữa lành huyền môn nên sử dụng đồng thời hai yếu tố sau:

1. Slippery Elm Bark and

1. Vỏ cây du trơn (Slippery Elm Bark)

2. Satipatthana Method.

2. Phương pháp Satipatthana

The latter, when practised in its simplest form, is not anything more than an exercise to bring out the “I am” aspect of the patient’s personality, to reduce the mobility with which the astral and mental bodies slip out of alignment with the hegemony of the central or basic personality. The student of esoteric psychology will understand what is intended here when I say that the “I am” is reaffirmed at the expense of the “I am that”. Needless to say, all forms of introspection, from meditation right down to daydreams should be discouraged. The patient should be kept busy with gentle but interesting activities, hobbies, and productive physical occupations especially.

Phương pháp thứ hai, khi được thực hành ở hình thức đơn giản nhất, không gì khác hơn một bài tập nhằm khơi dậy khía cạnh “Tôi là” trong bản chất phàm ngã của bệnh nhân, giúp giảm bớt mức độ mà thể cảm dục và thể trí bị lệch khỏi quyền kiểm soát của phàm ngã trung tâm hoặc nền tảng. Học viên về tâm lý học huyền môn sẽ hiểu rõ điều muốn nói ở đây khi tôi bảo rằng cần khẳng định lại “Tôi là” thay cho “Tôi là Cái Đó”. Không cần nói thêm, mọi hình thức nội quan, từ tham thiền cho đến mộng tưởng ban ngày, đều nên bị loại trừ. Bệnh nhân nên được giữ cho bận rộn với những hoạt động nhẹ nhàng nhưng thú vị, các sở thích mang tính sáng tạo, và đặc biệt là các công việc thể chất có tính sản xuất.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-58.webp

How much? How often? When indicated? When terminated? These questions on the administering of Slippery Elm in relation to the treatment of schizophrenia have yet to be answered, and only careful research by capable scientific bodies will tell.

Việc sử dụng vỏ cây du trơn (Slippery Elm) trong điều trị tâm thần phân liệt—bao nhiêu? Bao lâu? Khi nào bắt đầu? Khi nào kết thúc? —vẫn còn là những câu hỏi chưa có lời giải dứt khoát. Chỉ có những nghiên cứu cẩn trọng từ các tổ chức khoa học có năng lực mới có thể cung cấp câu trả lời xác thực.

My own method, which I have tried with safety and with effective results, is to take a tablespoon heaped with the bark and bring it to a boil in a pint of water. After allowing the mixture to simmer over a lowered heat for fifteen or twenty minutes, it is allowed to cool and then strained through a sieve. The resulting potion can be sweetened or flavoured with nutmeg or mixed with a suitable drink, soup or hot milk. Most herbalists agree that it can be taken ad libertum, but as stated above, the most effective dosage for the condition of schizophrenia will depend on the research the healer has done. In the end it is the patient himself and the psychotic signs and symptoms he manifests and progressively resolves that decide this issue.

Phương pháp riêng của tôi, mà tôi đã thử nghiệm một cách an toàn và mang lại kết quả hiệu quả, là dùng một muỗng canh vỏ cây đầy, đun sôi trong một pint nước. Sau khi hỗn hợp sôi, giảm nhiệt và để liu riu trong mười lăm hoặc hai mươi phút, sau đó để nguội và lọc qua rây. Hỗn hợp thu được có thể được làm ngọt hoặc tạo hương vị với nhục đậu khấu, hoặc trộn với một loại đồ uống phù hợp, súp hoặc sữa nóng. Hầu hết các thầy thuốc thảo dược đều đồng ý rằng có thể dùng hỗn hợp này tùy thích, nhưng như đã nói ở trên, liều lượng hiệu quả nhất đối với tình trạng tâm thần phân liệt sẽ phụ thuộc vào công trình nghiên cứu mà người chữa lành đã thực hiện. Cuối cùng, chính người bệnh cùng với các dấu hiệu và triệu chứng loạn thần mà y biểu lộ và dần dần giải quyết sẽ quyết định vấn đề này.

If the esoteric healer would refer to my book “Meditation, The Theory And Practice” (1), under the section “Progressive Attrition”, the Satipatthana Method indicates the sort of therapy that the schizophrenic would be helped by—an exercise that should be modified and gently applied, with the central aim at linking the focused mind to affairs of everyday living:-

Nếu người chữa lành huyền môn tham khảo cuốn sách của tôi “Tham Thiền, Lý Thuyết và Thực Hành” (1), trong phần “Sự Hao Mòn Tiến Triển”, thì Phương Pháp Satipatthana cho thấy kiểu trị liệu có thể hỗ trợ cho người bị tâm thần phân liệt—một bài thực hành cần được điều chỉnh và áp dụng một cách nhẹ nhàng, với mục tiêu trung tâm là nối kết tâm trí được tập trung với những sinh hoạt thường nhật:

(1) “Meditation, The Theory And Practice“, by Douglas M. Baker, Baker Publications.

(1) “Meditation, The Theory And Practice”, tác giả Douglas M. Baker, Nhà xuất bản Baker Publications.

The first important requirement in the task of learning to control the mind was to restrict its activity. Conscious control of the mind is under any conditions a difficult thing to achieve, but if during the attempts to do this the mind is allowed its full field of operation, it is impossible. It must in some way be restricted. We do this unconsciously when we are particularly interested in a thing to the exclusion of all else; and if effective restriction can successfully limit the mind’s activities over a long period, it is possible for the will gradually to assume control. The whole secret of the success of the Satipatthana method lies in the selection of a natural field for these activities which, though restricted, offer the mind continuous occupation.

Yêu cầu quan trọng đầu tiên trong việc học cách kiểm soát tâm trí là hạn chế hoạt động của nó. Kiểm soát có ý thức tâm trí vốn dĩ đã là điều khó đạt được trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nhưng nếu trong lúc cố gắng làm việc đó mà tâm trí vẫn được tự do vận hành toàn bộ, thì điều đó là bất khả. Bằng cách nào đó, tâm trí cần phải bị giới hạn. Chúng ta làm điều này một cách vô thức khi đặc biệt quan tâm đến một điều gì đó đến mức loại bỏ mọi thứ khác; và nếu sự giới hạn hiệu quả có thể thu hẹp thành công các hoạt động của tâm trí trong một khoảng thời gian dài, thì ý chí có thể dần dần nắm quyền kiểm soát. Toàn bộ bí quyết thành công của phương pháp Satipatthana nằm ở việc lựa chọn một môi trường tự nhiên cho các hoạt động này, nơi mà dù bị giới hạn vẫn có thể cung cấp cho tâm trí sự chiếm dụng liên tục.

The two basic exercises that I was given at my first interview were the beginning of this restriction process. I have mentioned earlier that the simple, sensuous pleasure that I derived from my morning tea walks had to be given up to the contemplation of the movement of my feet for every step of the way there and back. Very soon the actions of eating were included in the contemplative exercises. The mind had to follow the movement of the hands and arms in lifting the food to the mouth, and the actions of chewing, swallowing, and drinking. Each consecutive action during the meal, from the first one of sitting down to the final wipe of the lips and getting up, had to be followed consciously without break. The greater the amount of detail that could be included, for example, tasting, and the feel of the cool water in the mouth, or the actual texture of the food that was being eaten, the easier it would be to keep the mind from wandering. It was not really as difficult as it sounds, once the initial disinclination to accept the task had been overcome. After this, the actions of getting up in the morning, washing, etc. and going to bed at night were added. It very soon became a habit to make my first conscious thought in the morning ‘waking, waking’ followed by a quick run round the senses to detect the touchings, sounds, etc., that they were receiving. Then came the action of sitting up, stretching out first one leg and then the other, getting out of bed, standing and so on. Each action of washing followed: stretching out the hand to turn on the shower, feeling the water on one’s body, rubbing with the soap, drying, and then on the walk back to my cell ‘lift, swing, down’, until one arrived at the door, when actions of stretching, turning and pushing were necessary to enter the cell. It can be readily understood that the mind was indeed kept busy, and this close attention to all the bodily actions continued. (1)

Hai bài thực hành cơ bản mà tôi nhận được trong buổi gặp đầu tiên là khởi đầu của tiến trình giới hạn này. Tôi đã đề cập trước đó rằng niềm vui đơn giản và cảm giác đầy khoái cảm mà tôi có được từ những buổi đi dạo buổi sáng để uống trà đã phải được từ bỏ, để thay vào đó là sự chiêm nghiệm về từng chuyển động của bàn chân trong suốt quãng đường đi và quay về. Rất nhanh sau đó, những hành động ăn uống cũng được đưa vào bài thực hành chiêm nghiệm. Tâm trí phải theo dõi chuyển động của tay và cánh tay khi đưa thức ăn lên miệng, và các hành động nhai, nuốt, uống. Mỗi hành động liên tục trong suốt bữa ăn, từ lúc đầu tiên ngồi xuống cho đến cái lau môi cuối cùng và đứng dậy, đều phải được theo dõi một cách có ý thức, không đứt đoạn. Càng bao gồm nhiều chi tiết, chẳng hạn như nếm vị, cảm nhận nước mát trong miệng, hay kết cấu thực tế của món ăn đang được ăn, thì việc giữ cho tâm trí không lang thang càng dễ dàng hơn. Thực ra việc này không khó như nghe có vẻ, miễn là vượt qua được sự miễn cưỡng ban đầu trong việc chấp nhận nhiệm vụ. Sau đó, các hành động thức dậy vào buổi sáng, rửa mặt v.v. và đi ngủ vào ban đêm được thêm vào. Rất nhanh chóng, điều đó trở thành thói quen để suy nghĩ có ý thức đầu tiên vào buổi sáng là “thức dậy, thức dậy” rồi sau đó là một vòng quét nhanh qua các giác quan để phát hiện những va chạm, âm thanh v.v. mà chúng đang tiếp nhận. Rồi đến hành động ngồi dậy, duỗi chân này rồi chân kia, ra khỏi giường, đứng dậy và cứ thế tiếp tục. Sau đó là các hành động rửa mặt: đưa tay ra mở vòi sen, cảm nhận nước trên cơ thể, chà xát với xà phòng, lau khô, rồi trên đường quay trở về phòng giam của tôi “nhấc, đong đưa, đặt xuống”, cho đến khi đến cửa phòng, thì cần thực hiện các hành động như duỗi tay, xoay, đẩy để vào phòng. Dễ thấy rằng tâm trí thật sự luôn được chiếm dụng, và sự chú tâm kỹ lưỡng này vào tất cả các hành động của thân thể đã được duy trì liên tục.

(1) An Experiment In Mindfulness by Rear Admiral E. H. Shattock (Rider & Company. London).

(1) An Experiment In Mindfulness của Chuẩn Đô Đốc E. H. Shattock (Nhà xuất bản Rider & Company. London).

Slippery Elm Bark and SchizophreniaVỏ cây Du Trơn và Bệnh Tâm thần phân liệt

Slippery Elm is synonymous with Rock Elm, Indian Elm, Sweet Elm, Moose Elm, American Elm and Red Elm.

Du Trơn đồng nghĩa với Du Đá, Du Ấn Độ, Du Ngọt, Du Nai, Du Mỹ và Du Đỏ.

Physical symptoms of taking Slippery Elm.

Triệu chứng thể chất khi dùng Du Trơn

Reduction in tension and increase in vital energy within a matter of hours. Ability to work longer and to focus the mind in sustained concentration. There is heightened muscle tone in the alimentary canal, although this action can be selective. The pyloric sphincter, for instance, may become excessively contracted for it to be a little unpleasant, but this soon passes. Bowel action is enhanced.

Cảm giác căng thẳng giảm và năng lượng sống tăng lên chỉ trong vài giờ. Có khả năng làm việc lâu hơn và tập trung tư tưởng một cách bền bỉ. Trương lực cơ ở ống tiêu hóa tăng lên, mặc dù tác dụng này có thể chọn lọc. Ví dụ, cơ thắt môn vị có thể co lại quá mức khiến gây khó chịu nhẹ, nhưng cảm giác này nhanh chóng qua đi. Chức năng đại tiện được cải thiện.

The action on the sympathetic nervous system gives sexual symptoms. The herb is contra-indicated in pregnancy through its action on the muscles of the uterus. In men there are no contra-indications for this anatomical area, but with enlarged prostate there can be a feeling of tension. It is interesting that the remnant of the uterus in the male is located as the utricle within the substance of the prostate gland. There is excessive tendency to erections in the early morning, reminiscent of youthful days and, in the case of the non-celibate, this may be turned to some advantage.

Tác động lên hệ thần kinh giao cảm gây ra các triệu chứng tình dục. Dược thảo này chống chỉ định trong thời kỳ mang thai do ảnh hưởng đến các cơ tử cung. Ở nam giới, không có chống chỉ định nào liên quan đến vùng giải phẫu này, tuy nhiên, nếu tuyến tiền liệt bị phì đại thì có thể cảm thấy căng tức. Điều thú vị là phần còn lại của tử cung ở nam giới nằm dưới dạng túi tuyến tiền liệt trong mô của tuyến tiền liệt. Có xu hướng cương cứng quá mức vào buổi sáng sớm, gợi nhớ đến thời trẻ, và trong trường hợp người không sống độc thân, điều này có thể trở thành lợi thế.

Additional properties: Antehelmintic action against bowel parasites, including worms. Where the latter are a causal factor in producing the pain of chronic appendicitis, there is relief.

Tính chất bổ sung: Tác dụng tẩy giun đối với ký sinh trùng đường ruột, bao gồm cả giun sán. Trong những trường hợp ký sinh trùng là nguyên nhân gây ra đau do viêm ruột thừa mãn tính, dược thảo này mang lại sự giảm đau.

Psychological symptomsTriệu chứng tâm lý

The emotional and mental experiences, both in the waking and dream state, tend to shift the polarity of consciousness away from the metaphysical, away from the mystical, away from the Path of discipleship and towards the material world, towards the satisfying of the basic drives. Now this may be disconcerting to the esoteric student, to those who safely and progressively explore the inner worlds where attachments and earthy experiences are anathema, but for the schizophrenic, who slips into mystical, abstract states far too easily, the effects of Slippery Elm are most palliative and efficacious in pulling the patient out of psychotic states.

Các trải nghiệm cảm xúc và tinh thần, cả trong trạng thái thức lẫn trong mộng, có xu hướng chuyển hướng phân cực của tâm thức ra khỏi lĩnh vực siêu hình, ra khỏi tính thần bí, ra khỏi Con Đường đệ tử, và hướng về thế giới vật chất, hướng về sự thoả mãn các bản năng căn bản. Điều này có thể gây khó chịu cho các học viên huyền môn—những người một cách an toàn và tiến bộ khám phá các cõi nội giới nơi mà các sự ràng buộc và trải nghiệm trần tục là điều tối kỵ—nhưng đối với người bị tâm thần phân liệt, người dễ dàng trượt vào các trạng thái trừu tượng và thần bí, thì tác dụng của Du Trơn lại có tính xoa dịu và hiệu quả rõ rệt trong việc kéo bệnh nhân ra khỏi các trạng thái loạn thần.

The dream life becomes frequented by paranoiac experiences, and these tend to ease the outward urge to express them. There is more capacity to focus the mind and to relate thoughts to central ideas. The stimulation of the sympathetic nervous system potentises the original and central personality, giving it more identity and furnishing it with strong needs and urges.

Đời sống giấc mơ thường xuyên xuất hiện những trải nghiệm hoang tưởng, và điều này có xu hướng làm dịu bớt sự thúc đẩy bộc lộ ra bên ngoài những cảm xúc ấy. Tâm trí có khả năng tập trung hơn và liên kết tư tưởng với các ý tưởng trung tâm dễ dàng hơn. Sự kích thích hệ thần kinh giao cảm làm gia tăng sức mạnh cho phàm ngã nguyên thủy và trung tâm, giúp phàm ngã có bản sắc rõ rệt hơn và được trang bị những nhu cầu và thôi thúc mạnh mẽ hơn.

The use of the herb is contra-indicated in hypertension. It will tend to raise the blood pressure, but usually only slightly, so that the hypertension must be severe for it to be dangerous to take Slippery Elm Bark.

Việc sử dụng dược thảo này chống chỉ định đối với người bị cao huyết áp. Nó có xu hướng làm tăng huyết áp, nhưng thường chỉ tăng nhẹ, do đó chỉ khi huyết áp tăng cao nghiêm trọng mới thực sự nguy hiểm khi dùng vỏ cây Du Trơn.


Section Three— Some Esoteric Healing Methods

The Magnetic Aura

The aura is by nature magnetic. We are surrounded by a body climate and interpenetrated by it. This is not to be confused with the more physical counterpart of it, the heat radiations given from the skin and the milieu interieur described by French physiologist Claude Bernard. The magnetic aura has electrical, electro-static and ionic qualities, measurable and capable of being photographed by Kirlian photography. The aura radiates outwards from a central magnetic axis with its North Pole centred in the third ventricle of the brain and its South Pole at the Base of the Spine, The outward radiation of the aura is powerfully affected by the thought content of the Mental Body, the emotional qualities of the Astral Body and vital qualities of the Etherico-Physical Body.

Hào quang vốn dĩ mang tính từ hoá. Chúng ta được bao quanh và thẩm thấu bởi một khí hậu thân thể như vậy. Điều này không nên bị nhầm lẫn với đối phần vật lý rõ rệt hơn của nó—là bức xạ nhiệt phát ra từ da và “môi trường bên trong” (milieu intérieur) do nhà sinh lý học người Pháp Claude Bernard mô tả. Hào quang từ hoá này có các đặc tính điện, điện tĩnh và ion, có thể đo lường được và có thể được chụp lại thông qua kỹ thuật chụp ảnh Kirlian. Hào quang phát xạ ra ngoài từ một trục từ trung tâm, với Cực Bắc tập trung ở não thất thứ ba và Cực Nam ở đáy cột sống. Sự phát xạ hướng ra ngoài của hào quang bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nội dung tư tưởng của Thể Trí, phẩm chất cảm xúc của Thể Cảm Dục và phẩm chất sinh lực của Thể Dĩ Thái-Vật Lý.

Kirlian photography does not photograph the interpenetrating force fields of the aura per se, but it does show that electron emissions, ionic activity in the aura and other subtle forces are powerfully affected by attitudes of mind and emotion, by the nature of the environment, the content of food and liquids digested. It is this body climate and aura of energies that has to be reached and reached through by the healer.

Kỹ thuật chụp ảnh Kirlian không trực tiếp ghi lại các trường lực giao thoa của hào quang, nhưng nó cho thấy rằng các hiện tượng phát xạ electron, hoạt động ion trong hào quang và những mãnh lực vi tế khác chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ thái độ tâm trí và cảm xúc, từ bản chất của môi trường xung quanh, và từ thành phần của thức ăn, đồ uống đã tiêu hoá. Chính khí hậu thân thể và hào quang năng lượng này là điều mà người chữa lành phải tiếp cận và xuyên qua.

Only recently, with the discovery of the powerful effects of ions, the elaboration of Kirlian photography in Russia and the de la Warr camera at Oxford, has the field of activity of the esoteric healer been seen to be a fact.

Chỉ gần đây, với việc phát hiện ra ảnh hưởng mạnh mẽ của các ion, sự phát triển kỹ thuật chụp ảnh Kirlian ở Nga và camera de la Warr tại Oxford, lĩnh vực hoạt động của người chữa lành huyền môn mới được nhìn nhận là một sự thật.

Through a careful perusal of the axioms of esoteric healing in Section One of this work, deep understanding of the nature and qualities of the body climate can be gained.

Thông qua việc khảo cứu cẩn thận các tiên đề của trị liệu huyền môn trong Phần Một của tác phẩm này, có thể đạt được sự hiểu biết sâu sắc về bản chất và phẩm chất của khí hậu thân thể.

The penetration of healing forces can be blocked by many unsatisfactory or even hostile elements in the patient’s aura. For this reason, it is helpful to know the nature of the disease and the chakra through which the disease wreaks its havoc. With sufficient knowledge and understanding of these, the healing energies can be made more effective and, instead of being dissipated over needless areas of the body, they can be concentrated into one region where the relevant chakra is sited.

Sự thâm nhập của các mãnh lực chữa lành có thể bị cản trở bởi nhiều yếu tố không hài hoà hay thậm chí là thù địch trong hào quang của bệnh nhân. Vì lý do này, việc hiểu rõ bản chất của căn bệnh và luân xa mà qua đó bệnh gây ra sự tàn phá là điều hữu ích. Với đủ kiến thức và sự hiểu biết về những yếu tố này, năng lượng chữa lành có thể được sử dụng hiệu quả hơn, và thay vì bị tiêu tán khắp các vùng không cần thiết của cơ thể, chúng có thể được tập trung vào một khu vực nơi luân xa liên quan toạ lạc.

Before we consider some of the methods which come under the heading of the Science of Healing, let us dispose of the subject of ions, the grossest feature of the etheric body and the aura. An extract from “Wide World” on the subject is illuminating: –

Trước khi chúng ta xem xét một số phương pháp nằm trong phạm trù Khoa học Trị liệu, chúng ta hãy giải quyết vấn đề liên quan đến ion—khía cạnh thô nhất của thể dĩ thái và hào quang. Một trích đoạn từ tạp chí “Wide World” về chủ đề này thật sáng tỏ:—

The Body Climate

When a vat of bubbling dye exploded in a factory on the Philadelphia waterfront, a scalding shower spewed over two workers, burning them badly. The two men, in pain, were rushed by police to nearby Northeastern Hospital. Here, they were helped to a windowless basement room and seated before a small metal box. A student doctor flicked a switch and the box began to hum. Within minutes both men looked up in surprise… the fierce pain from the burns that covered their arms and chests had vanished completely. And yet, neither man had received any pain-deadening narcotics.

Khi một thùng thuốc nhuộm đang sôi phát nổ tại một nhà máy bên bến cảng Philadelphia, một cơn mưa bỏng rát đã bắn tung lên hai công nhân, khiến họ bị bỏng nặng. Trong cơn đau đớn, hai người này lập tức được cảnh sát đưa đến Bệnh viện Northeastern gần đó. Tại đây, họ được giúp vào một căn phòng dưới tầng hầm không có cửa sổ và ngồi trước một chiếc hộp kim loại nhỏ. Một sinh viên y khoa bật công tắc, và chiếc hộp bắt đầu kêu vo vo. Chỉ trong vài phút, cả hai người đàn ông ngẩng lên đầy ngạc nhiên… cơn đau dữ dội do bỏng ở tay và ngực họ đã hoàn toàn biến mất. Tuy nhiên, cả hai đều không được dùng bất kỳ loại thuốc giảm đau nào.

This swift chasing of pain is but one of a series of ‘miracles’ scientists have been able to achieve with a substance as commonplace as air. But it is a subdy changed air, with some of its particles carrying an electric charge. These electrically charged particles, known to scientists as ions, are all around us. Using an electrically ‘hot’ wire in a box to step up ion production, doctors have been able to reduce asthma symptoms, speed the healing of post-operative wounds and burns, as well as to lower blood pressure. These almost medical results are only the beginning of the wonder of which ions may perform, and the natural mysteries they may explain. Their use may eventually reduce the dangers of illnesses caused by fog and smog and provide instant aid to victims of a major disaster.

Việc xua tan nhanh chóng cơn đau này chỉ là một trong chuỗi ‘phép màu’ mà các nhà khoa học có thể đạt được bằng một chất quen thuộc như không khí. Nhưng đây là không khí đã được biến đổi tinh vi, với một số hạt mang điện tích. Những hạt mang điện này, được các nhà khoa học gọi là ion, hiện diện khắp quanh ta. Bằng cách dùng một sợi dây điện nóng trong một chiếc hộp để gia tăng quá trình tạo ion, các bác sĩ đã có thể giảm nhẹ triệu chứng hen suyễn, đẩy nhanh sự hồi phục vết thương sau phẫu thuật và bỏng, cũng như làm giảm huyết áp. Những kết quả y học gần như kỳ diệu này mới chỉ là khởi đầu của những điều kỳ diệu mà các ion có thể mang lại và cả những bí ẩn tự nhiên mà chúng có thể giải thích. Việc sử dụng ion trong tương lai có thể giảm bớt nguy cơ mắc bệnh do sương mù và khói bụi, và cung cấp sự hỗ trợ tức thời cho nạn nhân của những thảm hoạ lớn.

What are ions? The air we breathe is filled with ions—carrying negative and positive charges—which are circulated through the body by the bloodstream. Nature produces ions—normally about 5,000 in each cubic inch of air—by radiation, storms, winds and other means.

Ion là gì? Không khí mà chúng ta hít thở chứa đầy các ion mang điện tích âm và dương, được tuần hoàn trong cơ thể qua dòng máu. Thiên nhiên tạo ra các ion—thường khoảng 5.000 ion trong mỗi inch khối không khí—thông qua phóng xạ, bão, gió và nhiều phương tiện khác.

Such mysteries as die ache in arthritic joints, the ‘spookiness’ of cattle, and the rise in crime and suicide rates that precede a storm are now being scientifically related to ions. In laboratory tests, ion generators have produced startling mood swings in people. By inhaling negative ions—the only way they can have any effect on the body people became alert, refreshed and even euphoric. Positive ions, on the other hand, produce headaches and stuffiness and ‘mad-at-the-world’ complexes. These effects vanish when the ion content of the air is restored to normal.

Những điều bí ẩn như cơn đau trong các khớp xương bị viêm khớp, sự ‘bất an’ của đàn gia súc, và sự gia tăng tội phạm hoặc tỷ lệ tự tử trước những cơn bão, nay đang được liên hệ một cách khoa học với các ion. Trong các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, các máy tạo ion đã gây ra những thay đổi tâm trạng đáng kinh ngạc ở con người. Khi hít phải ion âm—cách duy nhất để chúng có tác động đến cơ thể—con người trở nên tỉnh táo, sảng khoái, thậm chí hưng phấn. Ngược lại, ion dương gây ra nhức đầu, cảm giác ngột ngạt và trạng thái tâm lý “tức giận với cả thế giới”. Những hiệu ứng này sẽ biến mất khi hàm lượng ion trong không khí trở lại mức bình thường.

Science first took note of the electrical charges present in the air when Benjamin Franklin flew his kite. But only in the last two decades has science stepped up its efforts to learn more about the ion, both in the laboratory and nature. One of the world’s foremost research workers and authorities is Dr N. Robinson, of the Israeli Institute of Technology in Haifa. According to him, weather conditions, such as hot, dry winds peculiar to some parts of the world—e.g., the Italian sirocco, Rocky Mountain Chinook, Israeli chamsin—have been found to produce headaches, difficulty in breathing, depression and other symptoms. Dr. Robinson found that physiological effects were felt as much as ten hours before the chamsin began to blow and long before instruments recorded any meteorological changes. After intensive research, he found that the air became packed with positive ions before the chamsin started.

Khoa học lần đầu tiên chú ý đến điện tích trong không khí khi Benjamin Franklin thả diều. Nhưng chỉ trong hai thập niên gần đây, khoa học mới đẩy mạnh việc nghiên cứu về ion cả trong phòng thí nghiệm lẫn thiên nhiên. Một trong những chuyên gia nghiên cứu hàng đầu thế giới là Tiến sĩ N. Robinson thuộc Viện Công nghệ Israel tại Haifa. Theo ông, các điều kiện thời tiết như gió nóng, khô đặc trưng của một số vùng trên thế giới—ví dụ: sirocco ở Ý, Chinook ở Dãy núi Rocky, chamsin ở Israel—đã được phát hiện là gây ra nhức đầu, khó thở, trầm cảm và các triệu chứng khác. Tiến sĩ Robinson phát hiện rằng những ảnh hưởng sinh lý này được cảm nhận đến mười giờ trước khi gió chamsin bắt đầu thổi và rất lâu trước khi các thiết bị khí tượng ghi nhận được thay đổi. Sau nghiên cứu chuyên sâu, ông nhận thấy không khí bị bão hòa ion dương trước khi chamsin bắt đầu.

Dr. Paul Mussleman of Carwell Memorial Hospital, Missouri, holds the theory that the negative ions increase the blood’s capacity to carry oxygen, while positive ions decrease the ability, the result of inhaling negative ions is an increase in the patient’s sense of well-being and a speed-up of the healing process… they have the ability to dry the mucus lining of the throat and induce sleep… Hundreds of burn cases with large, superficial and discharging wounds have been treated by the metal box in Northeaster’s ion room… . People susceptible to asthma were made to wheeze and gasp after exposure to positive ions and were restored to normal when the ions were again in balance. More than sixty per-cent of hay fever victims treated with negative ions lost all symptoms. The effect on people with asthma, which conditions were due to airborne irritants, was even more dramatic and seventy-five per cent found complete relief. In the future, asthma sufferers may find relief in ion-conditioned rooms.

Tiến sĩ Paul Mussleman, thuộc Bệnh viện Tưởng niệm Carwell, Missouri, đưa ra giả thuyết rằng ion âm làm tăng khả năng vận chuyển oxy của máu, trong khi ion dương làm giảm khả năng đó. Hít thở ion âm khiến bệnh nhân cảm thấy dễ chịu và đẩy nhanh quá trình hồi phục… chúng có khả năng làm khô lớp nhầy ở họng và gây buồn ngủ… Hàng trăm trường hợp bỏng với vết thương lớn, nông và tiết dịch đã được điều trị bằng chiếc hộp kim loại trong phòng ion của Northeastern… Những người dễ bị hen suyễn bắt đầu khò khè và khó thở sau khi tiếp xúc với ion dương và trở lại bình thường khi ion được cân bằng lại. Hơn 60% bệnh nhân sốt mùa cỏ khô được điều trị bằng ion âm đã hết hoàn toàn triệu chứng. Tác động đối với người bị hen suyễn—vốn bắt nguồn từ các chất kích thích trong không khí—còn rõ rệt hơn: 75% bệnh nhân tìm thấy sự hồi phục hoàn toàn. Trong tương lai, người bị hen suyễn có thể tìm thấy sự cứu trợ trong các căn phòng có điều kiện ion.

One of the most startling uses of ions has been the development of a synthetic fabric, polyvinyl chloride, which produces vast quantities of negative ions when merely rubbed against the skin. A French research team had the fabric made up into underwear, bandages, socks, stockings and blankets, which were used by one hundred and ten arthritic and rheumatic patients. Forty-eight per cent reported considerable improvement in their condition whilst wearing the ion-producing clothes.

Một trong những ứng dụng gây kinh ngạc nhất của ion là việc phát triển một loại sợi tổng hợp, polyvinyl chloride, tạo ra một lượng lớn ion âm chỉ bằng cách cọ xát với da. Một nhóm nghiên cứu người Pháp đã dùng loại vải này để may thành đồ lót, băng vết thương, tất, vớ và chăn, được sử dụng cho 110 bệnh nhân thấp khớp và viêm khớp. 48% trong số họ báo cáo cải thiện đáng kể tình trạng bệnh khi mặc các loại quần áo tạo ion này.

The French scientists explained: “Exposure to negative ions does not eliminate the underlying cause, but brings, in a substantial number of cases, marked relief and even complete cessation of pain.”

Các nhà khoa học Pháp giải thích: “Việc tiếp xúc với ion âm không loại bỏ nguyên nhân sâu xa, nhưng mang lại, trong một số lượng đáng kể trường hợp, sự thuyên giảm rõ rệt và thậm chí là chấm dứt hoàn toàn cơn đau.”

Ion generators are still primitive and not yet ready for use in the average home or office. But as technical problems are resolved, a whole new world of climate control, sparked by the ion, may bring about healthier, happier, more productive lives for millions. (1)

Máy tạo ion hiện vẫn còn ở mức thô sơ và chưa sẵn sàng để sử dụng trong các gia đình hay văn phòng thông thường. Nhưng khi các vấn đề kỹ thuật được giải quyết, một thế giới mới về kiểm soát khí hậu, khởi phát từ ion, có thể mang lại cuộc sống lành mạnh, hạnh phúc và hiệu quả hơn cho hàng triệu người.[154]

(1) From Wide World, January 1965.

Perhaps the reader will forgive me for reproducing so extensive a quotation, but the whole text is both relevant and important for the development of the theme of a body climate which can be changed not only by the methods suggested above, but also by an act of will on the part of the person generating his climate and also by a competent healer.

Có lẽ độc giả sẽ tha thứ cho tôi vì đã trích dẫn một đoạn quá dài như vậy, nhưng toàn bộ văn bản này đều có liên quan và quan trọng cho việc phát triển chủ đề về khí hậu thân thể—một điều có thể thay đổi không chỉ nhờ các phương pháp được gợi ý ở trên, mà còn bằng một hành động ý chí từ phía người tạo ra khí hậu ấy, cũng như từ một người chữa lành có năng lực.

Knowledge of the helpful and harmful effects of ionisation has been in Man’s possession for centuries. Long before Egypt was ancient, chambers beneath the Potala in the holy city of Lhasa in Tibet were used for initiation and also to store relics and manuscripts, protecting them from the ravages of time through the preserving qualities of the ionised air in these underground caverns:-

Kiến thức về các tác dụng lợi và hại của sự ion hóa đã được con người nắm giữ từ hàng thế kỷ. Từ lâu trước Ai Cập cổ đại, các gian phòng dưới lòng Potala tại thành phố thiêng Lhasa ở Tây Tạng đã được sử dụng để điểm đạo và lưu giữ di vật, bản thảo—bảo tồn chúng khỏi sự tàn phá của thời gian nhờ các phẩm chất bảo tồn của luồng không khí đã được ion hóa trong những hang động dưới lòng đất này:

“Then I was led down those hidden stairs and passages far below the Potala. Far down we went, flaring torches in the hands of the others, nothing in mine… Here the cold was intense, a strange cold, seemingly not of this earth. The silence was profound; what faint sounds there were served merely to accentuate the silence. Our felt boots made no footfalls; we might have been ghosts gliding along. From the saffron brocade robes of the abbots there came a faint rustle. To my horror I felt tingles and shocks allover me. My hands glowed as if a fresh aura had been added. The abbots, I saw, were also glowing. The very, very dry air and the friction of our robes, had generated a static electric charge… (2)

“Rồi tôi được dẫn xuống những bậc cầu thang và hành lang ẩn sâu bên dưới Potala. Chúng tôi đi rất sâu xuống, với các ngọn đuốc cháy sáng trong tay những người khác, còn tay tôi thì trống không… Ở đây, cái lạnh rất khắc nghiệt, một cái lạnh lạ lùng, dường như không thuộc về thế giới này. Sự tĩnh lặng thật sâu sắc; những âm thanh nhỏ bé càng làm nổi bật sự im lặng ấy. Đôi ủng nỉ của chúng tôi không tạo ra bước chân; chúng tôi như những bóng ma trượt đi. Từ những chiếc áo choàng gấm vàng nghệ của các vị trụ trì chỉ phát ra những tiếng sột soạt rất nhẹ. Tôi hoảng hốt khi cảm thấy những tia điện và sự giật nhè nhẹ khắp người. Đôi tay tôi phát sáng như thể có một hào quang mới được thêm vào. Tôi thấy các vị trụ trì cũng phát sáng. Chính không khí khô đến mức cực đoan và sự ma sát của áo choàng đã tạo ra một điện tích tĩnh điện… [155]

(2) From The Third Eye by Lobsang Rampa.

In ancient Egypt, cats were considered sacred, not only because of their many divine qualities… their serenity amidst human upheavals… their love of places rather than of people… especially secret places like sanctuaries of the temples where there was quiet, excessive dryness and a warmth from the candles and beacons that burnt ceaselessly through the night… their refusal to be ordered about like other animals, and, more than anything, their strange magnetic qualities. Their fur was considered to hold strange forces which acted like reservoirs and could be tapped by the initiated. I have many times felt a slight shock from touching the coats of white cats. Just before storms and changes in weather, cats become sensitive, either to the lowering of the barometers or to a change in the ionic content of the air. They become euphoric. They suddenly start to rush about like “wildcats”. Usually, they will start to wash behind their ears.

Tại Ai Cập cổ đại, mèo được xem là linh thiêng, không chỉ vì các phẩm chất thần thánh của chúng… sự bình thản giữa những biến động của con người… lòng yêu thích những nơi chốn hơn là con người… đặc biệt là những nơi bí mật như các thánh điện của đền thờ, nơi có sự tĩnh lặng, khô ráo quá mức và hơi ấm từ các ngọn nến, đèn dầu cháy không ngừng suốt đêm… sự không chịu bị sai khiến như các loài vật khác, và trên hết, là những phẩm chất từ tính kỳ lạ. Lông của chúng được xem như chứa đựng những lực lạ có thể được các bậc điểm đạo tiếp nhận. Tôi đã nhiều lần cảm nhận được một cú giật nhẹ khi chạm vào bộ lông của những con mèo trắng. Trước những cơn bão hay sự thay đổi thời tiết, mèo trở nên nhạy cảm, hoặc là do áp suất khí quyển giảm, hoặc do sự thay đổi hàm lượng ion trong không khí. Chúng trở nên hưng phấn. Đột nhiên, chúng bắt đầu chạy nhảy như những “con mèo hoang.” Thường thì chúng bắt đầu liếm rửa phía sau tai.

Perhaps a personal experience of the strange forces carried in winds, stands out in my memory more than any other when I think about ionisation. Just twenty-two years ago I was living a self-chosen, isolated existence on my farm, some twelve miles from Gape Town. I had begun to register the incredible downflow of spiritual energies which had driven me to seek such isolation. They were often cyclic and were often accentuated by the peculiarly propitious situation of the farm house on a slight rise in the centre of a small valley, up which winds straight from the South Pole would often shriek. A diary of the time records this episode:

Có lẽ một trải nghiệm cá nhân về những mãnh lực kỳ lạ mang theo trong gió nổi bật trong ký ức tôi hơn bất kỳ điều gì khác khi tôi nghĩ về hiện tượng ion hóa. Cách đây đúng hai mươi hai năm, tôi đang sống một cuộc đời ẩn cư do chính mình lựa chọn, trên một nông trại cách Cape Town khoảng mười hai dặm. Lúc đó, tôi bắt đầu cảm nhận được dòng năng lượng tinh thần không thể tin được đổ xuống, thứ đã thúc đẩy tôi đi tìm sự ẩn dật như vậy. Những luồng năng lượng này thường mang tính chu kỳ và thường được khuếch đại bởi vị trí thuận lợi đặc biệt của ngôi nhà trên một gò đất nhỏ ở trung tâm thung lũng, nơi những cơn gió thét gào từ Nam Cực thường xuyên thổi ngược lên. Một đoạn nhật ký thời đó ghi lại sự kiện sau:

9/10th September 1954… . This being Saturday night and most suitable/ convenient, under present circumstances, for occult devotion, to bed at 7p.m. Moon waxing fast… feeling of activity in the air… unusually restless in early part of evening… the dog (as he is wont to on certain nights), continually barking and also resdess. A very high wind blowing in varying gusts of great audibility. Lying in state half asleep… and then vibration was applied (to me)… It was now less of vibration but more exactly a ‘current’ or stream of force. It equaled the event (1) but lasted longer in three different applications. It streamed in, in terrific force through the top of my head and varied in intensity with the gusts of wind. The ‘overself’ was quite conscious of all but the physical/mental (bodies) suffered extremely. The brain seemed to stand it better than before and there was not the one climax but rather a continuous climax. I groaned several times under the strain and the dog (hearing me) came into the room putting his paws up on the bed. I am surprised to say that firstly I was able to groan and, secondly, that I was able to extend my arms which were bristling with current and embrace the dog. When I applied my hands to him, he let out a yelp and bolted from the room. He must have received some of the ‘shock’… .

9/10 tháng 9 năm 1954… Là đêm thứ Bảy và phù hợp nhất/dễ dàng nhất, trong hoàn cảnh hiện tại, cho việc tận hiến huyền môn, tôi lên giường lúc 7 giờ tối. Trăng đang dần tròn… cảm giác năng động trong không khí… bồn chồn một cách lạ thường vào đầu buổi tối… con chó (như thường làm vào một số đêm nhất định) cứ sủa không ngừng và cũng bồn chồn. Một trận gió lớn thổi từng cơn mạnh có thể nghe rất rõ. Nằm trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê… rồi sự rung động được truyền đến (cho tôi)… Lần này ít giống rung động mà đúng hơn là một ‘dòng chảy’ hay luồng mãnh lực. Nó tương đương với sự kiện[156] nhưng kéo dài hơn, được truyền đến ba lần. Nó tràn vào với sức mạnh khủng khiếp qua đỉnh đầu và cường độ của nó thay đổi theo từng cơn gió. ‘Chân ngã’ hoàn toàn nhận thức được tất cả, nhưng các thể vật lý và thể trí chịu đựng vô cùng. Não bộ có vẻ chịu đựng tốt hơn trước và không có một đỉnh điểm duy nhất mà là một cao trào liên tục. Tôi đã rên lên vài lần vì căng thẳng và con chó (nghe tiếng tôi) chạy vào phòng, đặt hai chân trước lên giường. Tôi ngạc nhiên nhận thấy rằng, thứ nhất, tôi vẫn có thể rên rỉ và thứ hai, tôi vẫn có thể dang tay—lúc đó đang đầy dòng điện—và ôm lấy con chó. Khi tôi đặt tay lên người nó, nó hét lên và bỏ chạy khỏi phòng. Nó hẳn đã nhận được một phần của “cú sốc”…

(1) A trial undergone during initiation some months earlier.

I have noticed, both in Egypt and elsewhere, an uneasiness in flies before stormy weather (a rare occurrence in a desert). Temples were often built in dry places and on hilltops. They contained a preponderance of negative ions for healing purposes. The centres of the Pyramids were also chambers of initiation and contained dry, negatively ionised air.

Tôi từng nhận thấy, cả ở Ai Cập và nơi khác, ruồi luôn trở nên bất an trước những trận thời tiết giông bão (một hiện tượng hiếm thấy ở sa mạc). Các ngôi đền thường được xây ở những nơi khô ráo và trên đỉnh đồi. Chúng chứa nhiều ion âm để phục vụ mục đích trị liệu. Các trung tâm của Kim tự tháp cũng là những phòng điểm đạo và chứa không khí khô, được ion hóa âm.

Before discussing the deliberate changing of the atmosphere about someone, it would profit us here to consider the mechanism whereby the body is able to respond to changes of ionisation. The first report quoted, despite its lame explanation that negative ions increase the capacity of the blood to carry oxygen, nevertheless carries an element of truth. The important point is that the ions have to be inhaled. The truth is that it is not oxygen that produces the sense of well-being, but rather the vitality globules made of etheric substance of the first plane that produce the euphoria… and for that matter, the healing effects. Vitality globules are attached to the oxygen molecule.

Trước khi bàn về việc thay đổi có chủ đích khí quyển xung quanh ai đó, có lẽ sẽ có ích nếu chúng ta xem xét cơ chế mà qua đó cơ thể có thể phản ứng với sự thay đổi của ion hóa. Báo cáo đầu tiên được trích dẫn, dù giải thích còn yếu rằng ion âm làm tăng khả năng vận chuyển oxy của máu, nhưng vẫn chứa một phần sự thật. Điểm quan trọng là ion phải được hít vào. Sự thật là không phải oxy tạo ra cảm giác hưng phấn mà chính là các sinh khí cầu (vitality globules) được cấu thành từ chất dĩ thái của cõi thứ nhất mới tạo ra cảm giác hưng phấn… và cũng chính chúng mang lại hiệu quả trị liệu. Các sinh khí cầu gắn liền với phân tử oxy.

An atmosphere which is negatively charged with ions is also one which has a very high percentage of oxygen molecules linked to numerous vitality globules. It is, in fact, a vitalised atmosphere capable of producing exceptionally favourable responses in the vital or etheric body which contains nadis or lines of vital force corresponding to the nerve pathways in the gross physical body. Seven reservoirs of vital energy fed by the disintegrating vitality globules underlie the main endocrine glands and through an interaction with them produce efficient secretion and high co-ordination of hormonal activity. The main bulk of vitality globules are drawn in with inspiration and this is why inhalation of the ionic particles is necessary. This will also help to explain why ozone, a molecule containing three oxygen atoms instead of the usual two and an exceptionally high count of vitality globules, is also highly beneficial and productive of euphoria.

Một khí quyển mang điện tích âm cũng là khí quyển có tỷ lệ rất cao các phân tử oxy liên kết với nhiều sinh khí cầu. Đó chính là một bầu không khí đầy sinh lực có khả năng tạo ra các phản ứng thuận lợi đặc biệt nơi thể sinh lực hay thể dĩ thái, thể này chứa các nadis hay các dòng năng lượng sống tương ứng với đường dẫn thần kinh trong thể xác thô. Bảy kho chứa năng lượng sinh lực, được nuôi dưỡng bởi các sinh khí cầu đang phân rã, nằm dưới các tuyến nội tiết chính và thông qua sự tương tác với các tuyến này, tạo ra sự bài tiết hiệu quả và sự phối hợp cao độ trong hoạt động nội tiết. Phần lớn sinh khí cầu được hít vào trong lúc hít thở, và đó là lý do tại sao phải hít các hạt ion để chúng có tác dụng. Điều này cũng giải thích vì sao ozone—một phân tử chứa ba nguyên tử oxy thay vì hai và có số lượng sinh khí cầu đặc biệt cao—cũng mang lại nhiều lợi ích và cảm giác hưng phấn.

Any heated wire will cause ionisation. The ordinary electric heater performs the task, even if the effect is only minimal. In the smog atmosphere of London, the opening of windows to ‘let in the air’ is not helpful to bronchitics and asthmatics. Providing there is adequate ventilation, a warm room, heated by electric radiator is advised. The drying of the mucus membranes of the throat brings relief and with it a drowsiness. This latter resultant of negative ionisation and dry air produces such a real tranquilising effect that it may be recorded as alterations in brain waves of the electroencephalograph with effects similar to those patients given a standard tranquiliser like Chlorpromazine. If this method of heating (and ionising) is employed, care should be taken that the room does not become too dry and an open dish of water placed in the room would counter this.

Bất kỳ sợi dây nào được làm nóng đều gây ra ion hóa. Lò sưởi điện thông thường cũng thực hiện điều này, dù hiệu quả còn tối thiểu. Trong không khí ô nhiễm của London, việc mở cửa sổ để “đón không khí” không có lợi cho người bị viêm phế quản hay hen suyễn. Nếu có đủ thông gió, một căn phòng ấm áp được sưởi bằng lò điện là điều nên có. Việc làm khô màng nhầy ở cổ họng mang lại cảm giác dễ chịu và kéo theo đó là cảm giác buồn ngủ. Hiện tượng này—kết quả từ ion hóa âm và không khí khô—tạo ra hiệu ứng làm dịu rõ rệt đến mức nó có thể được ghi nhận như những thay đổi trong sóng não đo bằng điện não đồ, với hiệu quả tương tự như những bệnh nhân được dùng thuốc an thần tiêu chuẩn như Chlorpromazine. Nếu sử dụng phương pháp sưởi (và ion hóa) này, cần chú ý không để phòng trở nên quá khô và nên đặt một chậu nước hở trong phòng để cân bằng độ ẩm.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-59.webp

Methods of Healing

Healing Method 1—At the Etheric Level

Spiritually underdeveloped men function through energies released into the three chakras below the diaphragm. It is useless, therefore, to apply healing energies to or through chakras above the diaphragm in such individuals. Furthermore, this group of young souls is most receptive to animal magnetism. (1) By that is meant the vital energies of the etheric body, rather than those emanating from the healer’s astral, mental and spiritual sources.

Những người chưa phát triển về mặt tâm linh hoạt động thông qua các năng lượng được giải phóng vào ba luân xa nằm dưới cơ hoành. Do đó, việc áp dụng các năng lượng chữa lành lên hoặc thông qua các luân xa nằm phía trên cơ hoành nơi những người như vậy là vô ích. Hơn nữa, nhóm linh hồn non trẻ này đặc biệt dễ tiếp nhận từ lực động vật. (1) Điều này có nghĩa là các năng lượng sinh lực của thể dĩ thái, chứ không phải các năng lượng phát xuất từ nguồn cảm dục, trí tuệ hay tinh thần của người chữa lành.

Animal magnetism derives from the animal mundi, (2) the etheric body of the planet itself. All plants and animals respond to this immense vital force as if it were some planetary pulse that flows through them :-

Từ lực động vật phát xuất từ anima mundi, (2) tức là thể dĩ thái của chính hành tinh. Tất cả thực vật và động vật đều phản ứng với mãnh lực sinh lực to lớn này như thể đó là một mạch đập hành tinh chảy qua chúng:

They feel the pulse of “Earth’s crammed with Heaven

“Chúng cảm được nhịp đập của ‘Địa cầu ngập tràn Thiên đàng

And every common bush afire with God” (3)

Và mọi bụi cây tầm thường đều bốc cháy trong Thượng Đế’”[157] (3)

The anima mundi, heavenly dew

Anima mundi, sương thiên thượng

Staring from every eye, glowing from every hue. [158](4)

Tỏa ra từ mọi ánh mắt, rực sáng từ mọi sắc màu. (4)

(1) ANIMAL MAGNETISM: Towards the end of the 16th century Paracelsus was worthily succeeded by J. B. van Helmont, a scientist of distinction and an energetic protagonist of magnetism. “Material nature,” he writes, “draws her forms through constant magnetism from above, and implores for them the favour of heaven: and as heaven, in like manner, draws something invisible from below, there is established a free and mutual intercourse, and the whole is contained in an individual.” Van Helmont believed also in the power of the will to direct the subtle fluid. There was, he held, in all created things, a magic or celestial power through which they were allied to heaven. This power or strength is greatest in the soul of man, resides in a less degree in his body, and to some extent is present in the lower animals, plants, and inorganic matter. It is by reason of his superior endowment in this respect diat man is enabled to. rule the odier creatures, and to make use of inanimate objects for his own purposes. The power is strongest when one is asleep, for then the body is quiescent, and die soul most active and dominant; and for this reason dreams and prophetic visions are more common in sleep. “The spirit,” he says, “is everywhere diffused, and the spirit is the medium of magnetism; not the spirits of heaven and of hell, but the spirit of man, which is concealed in him as the fire is concealed in the flint. The human will makes itself master of a portion of its spirit of life, which becomes a connecting property between the corporeal and the incorporeal, and diffuses itself like the light.” To this ethereal spirit he ascribes the visions seen by the inner man in ecstasy, and also those of the outer man and the lower animals. In proof of the mutual influence of living creatures he asserts diat men may kill animals merely by staring hard at diem for a quarter of an hour. (Quoted from An Encyclopedia of Occultismby Lewis Spence, The Citadel Press, Secaucus, New Jersey, U.S.A.)

(1) TỪ LỰC ĐỘNG VẬT: Vào cuối thế kỷ 16, Paracelsus được kế tục xứng đáng bởi J. B. van Helmont, một nhà khoa học lỗi lạc và là người cổ súy mạnh mẽ cho từ học. Ông viết: “Tự nhiên vật chất thu nhận hình tướng của mình thông qua từ lực liên tục từ trên cao và cầu xin thiên giới ban ân huệ cho chúng; và khi thiên giới, cũng như vậy, thu hút một điều gì đó vô hình từ bên dưới, sẽ hình thành một sự giao tiếp tự do và tương hỗ, và toàn bộ được bao hàm trong một cá thể duy nhất.” Van Helmont cũng tin vào năng lực của ý chí có thể điều khiển chất lưu vi tế. Theo ông, trong mọi vật được tạo ra đều có một sức mạnh thần diệu hay thiên giới liên kết chúng với cõi trời. Sức mạnh này mạnh nhất nơi linh hồn con người, hiện diện ít hơn nơi thân thể, và ở một mức độ nào đó cũng có mặt trong động vật, thực vật, và vật chất vô cơ. Chính nhờ sự thụ hưởng vượt trội này mà con người có thể cai quản các sinh vật khác, và sử dụng vật thể vô tri cho mục đích riêng của mình. Sức mạnh này mạnh nhất khi con người đang ngủ, vì khi đó thân thể yên tĩnh và linh hồn hoạt động mạnh mẽ và chi phối; vì lý do đó mà giấc mơ và thị kiến tiên tri thường xảy ra trong giấc ngủ. Ông nói: “Tinh thần lan toả khắp nơi, và tinh thần là môi giới của từ lực; không phải là tinh thần của thiên đàng hay địa ngục, mà là tinh thần của con người, thứ ẩn giấu trong y như lửa ẩn trong đá lửa. Ý chí con người làm chủ một phần tinh thần sinh lực của mình, vốn là yếu tố nối kết giữa cõi vật chất và phi vật chất, và lan toả như ánh sáng.” Ông quy mọi thị kiến của con người nơi trạng thái xuất thần và cả của loài vật vào tinh thần vi tế này. Để chứng minh ảnh hưởng tương hỗ của sinh vật sống, ông khẳng định rằng con người có thể giết động vật chỉ bằng cách nhìn chằm chằm vào chúng trong vòng mười lăm phút. (Trích từ An Encyclopedia of Occultism của Lewis Spence, The Citadel Press, Secaucus, New Jersey, Hoa Kỳ)

(2) ANIMA MUNDI: The soul of die world; a pure ethereal spirit which was said by some ancient philosophers to be diffused throughout all nature. Plato is considered by some to be die originator of this idea; but it is of more ancient origin, and prevailed in the systems of certain eastern philosophers. By die Stoics it was believed to be the only vital force in the universe; it has been entertained by many philosophical sects in a variety of forms, and in more modern times by Paracelsus and others. It is also incorporated in the philosophy of Schelling. Rich says, “The anima mundi, or heaven of this world, in which the stars are fixed, is understood to be a receptivity of the empyrean or heaven in which God dwells so that die forms or seminal conceptions of die one correspond to the divine ideas of die other.”

(2) ANIMA MUNDI: Linh hồn của thế giới; một tinh thần thuần khiết được cho là lan tỏa trong toàn thể tự nhiên theo các triết gia cổ đại. Một số người cho rằng Plato là người đầu tiên đưa ra ý tưởng này; nhưng nó có nguồn gốc xa xưa hơn và được thịnh hành trong các hệ thống tư tưởng của một số triết gia phương Đông. Theo các nhà Khắc kỷ, anima mundi là mãnh lực sinh lực duy nhất của vũ trụ; nó đã được các trường phái triết học tiếp nhận theo nhiều hình thức khác nhau, và sau này được Paracelsus cùng nhiều người khác thừa nhận. Nó cũng được tích hợp vào triết học của Schelling. Rich viết: “Anima mundi, hay thiên giới của thế giới này, nơi các vì sao được gắn định, được hiểu là sự tiếp nhận của tầng trời empyrean—nơi Thượng Đế cư ngụ—để các hình thể hay các hạt giống tư tưởng của thế giới này tương ứng với các ý tưởng thiêng liêng của cõi kia.”

(3) Paracelsus by Robert Browning.

(3) Paracelsus, thơ của Robert Browning.

(4) A Sonnet by Douglas Baker. See Jewel In The Lotus, page 8.

(4) Một bài Sonnet của Douglas Baker, trích Jewel In The Lotus, trang 8.

It is this “force that through the green fuse drives the Flower” (Dylan Thomas) that flows so strongly in the primitive and the simple that it will regenerate the limbs of a starfish or the tail of a lizard. It is stronger in children than in adults. It waxes and wanes with the breath. It regenerates the physical form in the refreshing processes of sleep. It is only when the initiate takes his Third Degree that this planetary force can be consciously contacted and used with studied effect. Until then it will flow from one to another, from healer to patient, as water of a higher region will flow to and level up with water at a lower region. It is, in origin, the same vital force that rushes from one to the other at the moment of orgasm. In the healer, when he knows how, it is quickly replaced. In the patient it rushes through the nadis, replenishes the etheric matrix and with the help of healing devas, wounds are knit, nerves are regenerated, blood is detoxified and bones are consolidated.

Chính là “mãnh lực đẩy bông hoa mọc lên qua ống dẫn xanh” (Dylan Thomas) này chảy mạnh trong người nguyên thủy và đơn giản, đủ để tái sinh cánh tay của sao biển hoặc đuôi thằn lằn. Nó mạnh hơn ở trẻ em so với người lớn. Nó mạnh lên và yếu đi theo nhịp thở. Nó tái tạo hình tướng vật lý trong quá trình phục hồi khi ngủ. Chỉ khi điểm đạo đồ đạt được lần điểm đạo thứ ba, mãnh lực hành tinh này mới có thể được tiếp xúc một cách có ý thức và sử dụng với hiệu quả có nghiên cứu. Trước đó, nó sẽ chảy từ người này sang người khác, từ người chữa lành sang bệnh nhân, như nước từ vùng cao chảy xuống và san bằng với nước ở vùng thấp. Về bản chất, đó là cùng một sinh lực tuôn chảy từ người này sang người kia trong khoảnh khắc cao trào. Ở người chữa lành, khi y biết cách, sinh lực này nhanh chóng được bù lại. Ở bệnh nhân, nó chảy qua các nadis, bổ sung khuôn mẫu dĩ thái và với sự trợ giúp của các thiên thần chữa lành, vết thương được hàn gắn, dây thần kinh được tái tạo, máu được giải độc và xương được củng cố.

The application of animal magnetism was the first healing force ever used consciously and it was conducted through the laying on of hands. The hands themselves contain, within the palms, minor chakras that are donative or receptive, usually one or the other. Occasionally they are both ‘positive’ or donative and, very rarely, are both receptive or negative. Each polarity has its uses. Polarity in the hands of an expert healer can be reversed according to his will, or to the polarity of the healer as a whole.

Việc áp dụng từ lực động vật là mãnh lực chữa lành đầu tiên từng được con người sử dụng một cách có ý thức và nó được truyền qua việc đặt tay lên. Bàn tay chứa các luân xa phụ nơi lòng bàn tay—hoặc có tính cho, hoặc có tính nhận, thường là một trong hai. Đôi khi cả hai đều mang tính dương (cho) và hiếm khi cả hai đều mang tính âm (nhận). Mỗi cực tính đều có công dụng riêng. Cực tính trong tay của một người chữa lành giỏi có thể được đảo ngược theo ý chí của y, hoặc theo cực tính tổng thể của y.

The receptive palm will draw off excesses of the anima mundi where it may accumulate, for instance, in a region of inflammation like a carbuncle or where there is overstimulation, as in most cases of anaemias. Conversely, the positive palm may add vitality to a region of etheric depletion, e.g. a leg ulcer or any chronic condition that leads to physical depletion or wasting like muscular dystrophies and multiple (disseminated) sclerosis.

Bàn tay nhận sẽ rút ra phần dư thừa của anima mundi nơi nó tích tụ, ví dụ như ở vùng viêm nhiễm như nhọt độc, hoặc nơi có sự kích thích quá mức, như trong hầu hết các trường hợp thiếu máu. Ngược lại, bàn tay dương có thể thêm sinh lực vào vùng bị suy giảm dĩ thái, ví dụ như loét chân hoặc bất kỳ tình trạng mãn tính nào dẫn đến sự tiêu hao thể chất như chứng loạn dưỡng cơ hoặc bệnh xơ cứng rải rác.

With the transfer of etheric energies by the laying on of hands, direct application to the site of injury or disability is recommendable, rather than going to the nearest major chakra. Instead, the hands should be placed over the site of the difficulty but not touching, or the nearest minor chakra could receive attention. For instance, it is quite useless going to the Throat Chakra to heal an inflamed wrist if the individual is not yet taking the energy of the Sacral Chakra to the Throat Chakra. It would be better to reach the minor chakras in the soft hollow of the elbow joint (cubital fossa) and in the palm of the related hand or the one in the wrist joint itself. All joints are associated with minor chakras, and it is an interesting fact that in joints, nerves that pass through the joint also supply branches to that area. Thus, just as the major chakras are related to nerve plexuses and ganglia, the minor chakras in joints are related to multiple nerve concentrations and this is a factor of importance in esoteric healing.

Với việc truyền năng lượng dĩ thái bằng cách đặt tay lên, nên áp dụng trực tiếp lên vị trí thương tổn hoặc tật bệnh, thay vì đi đến luân xa chính gần nhất. Thay vào đó, nên đặt tay lên vị trí khó khăn, nhưng không chạm vào, hoặc chú tâm đến luân xa phụ gần nhất. Ví dụ, việc hướng đến luân xa cổ họng để chữa lành cổ tay viêm là vô ích nếu người đó chưa đưa được năng lượng từ luân xa xương cùng lên luân xa cổ họng. Tốt hơn nên tiếp cận các luân xa phụ trong hõm khuỷu tay (fossa cubitalis), lòng bàn tay liên quan, hoặc chính luân xa ở khớp cổ tay. Tất cả các khớp đều liên quan đến các luân xa phụ, và một điều thú vị là ở các khớp, dây thần kinh đi qua khớp cũng tỏa nhánh đến vùng ấy. Do đó, cũng như các luân xa chính liên kết với các đám rối thần kinh và hạch, thì các luân xa phụ nơi các khớp cũng liên quan đến sự tập trung thần kinh, và đây là một yếu tố quan trọng trong trị liệu huyền môn.

The question is often asked: “How does one ascertain the polarity of the palms of the hands?” This is not easy without help. A person able to use a pendulum can make an assessment. Rotation of the pendulum usually differs, clockwise and anti-clockwise for each palm indicating different polarity. Which is which? I am always silent on this matter. So many existential factors are at play both in the one using the pendulum and the would-be-healer that it is safer to let the former decide, but he usually knows already.

Câu hỏi thường gặp là: “Làm sao xác định được cực tính của lòng bàn tay?” Điều này không dễ nếu không có sự trợ giúp. Một người biết dùng con lắc có thể đánh giá được. Hướng quay của con lắc thường khác nhau—thuận chiều và ngược chiều kim đồng hồ—cho mỗi lòng bàn tay, cho thấy sự khác biệt về cực tính. Cái nào là gì? Tôi luôn giữ im lặng về vấn đề này. Có quá nhiều yếu tố hiện sinh đang vận hành cả nơi người dùng con lắc và người chữa lành nên tốt hơn hãy để người dùng con lắc tự quyết, và họ thường đã biết rõ điều đó.

Probably a more diagnostic method would be to tape a thermometer (not a clinical one) with the bulb in the centre of each palm and note normal readings. Then visualise energy flowing to the region of the thermometer, or imagine the palm becoming warm. Do this with each hand and note changes in temperature. Swami Rama, the doyen of Hindu yogi’s operating in experimental research laboratories in North America, can raise or lower the temperature of each palm more than five degrees using the occult principle of energy follows thought. Simple experimentation will soon determine which palm is more negative or positive in relation to the other, the one which raises the temperature of the thermometer more than the other is the more positive.

Có lẽ một phương pháp chẩn đoán hiệu quả hơn là dán nhiệt kế (loại không dùng trong lâm sàng) vào giữa mỗi lòng bàn tay và ghi lại chỉ số bình thường. Sau đó hình dung năng lượng đang chảy về khu vực của nhiệt kế, hoặc tưởng tượng lòng bàn tay ấm lên. Làm điều này với từng tay và ghi nhận sự thay đổi nhiệt độ. Swami Rama—người đứng đầu các đạo sĩ Hindu trong các phòng thí nghiệm nghiên cứu ở Bắc Mỹ—có thể nâng hoặc hạ nhiệt độ của từng lòng bàn tay hơn năm độ bằng cách sử dụng nguyên lý huyền môn: “năng lượng đi theo tư tưởng.” Việc thực hành đơn giản sẽ sớm cho thấy tay nào có cực tính âm hay dương hơn tay còn lại; tay làm nhiệt kế tăng cao hơn là tay có tính dương hơn.

Frequently, with the laying on of hands there will be an attempt by the healer to align himself with his soul. This is not so necessary when pure animal magnetism is being used for reasons given above. What can be helpful is the sounding of a mantra, words of power or even a short prayer. These should be done silently, lest they detract from the healing transfer. The OM may be used in Japa (1) with great effect, especially if the patient will cooperate and join in. Japa used with prolonged intake of breath is effective in healing involving negative polarity (for drawing off), and Japa used in exhalation will have the complementary action. If the patient is co-operating, he should exhale while you inhale and vice versa.

Thường thì khi đặt tay lên để chữa lành, người chữa lành sẽ cố gắng chỉnh hợp mình với linh hồn. Tuy nhiên, điều này không quá cần thiết khi chỉ sử dụng từ lực động vật thuần túy, vì những lý do đã nêu ở phần trên. Điều có thể hữu ích là việc xướng một thần chú (mantra), các quyền năng từ (words of power) hoặc thậm chí một lời nguyện ngắn. Những điều này nên được thực hiện trong im lặng, để tránh làm phân tán sự chuyển giao năng lượng chữa lành. Linh từ OM có thể được dùng trong thực hành Japa[159] với hiệu quả lớn, đặc biệt nếu bệnh nhân hợp tác và cùng tham gia. Japa kết hợp với việc hít vào kéo dài có hiệu quả trong việc chữa lành liên quan đến cực tính âm (để rút năng lượng ra), và Japa khi thở ra sẽ mang tác động bổ sung. Nếu bệnh nhân hợp tác, y nên thở ra trong khi bạn hít vào, và ngược lại.

(1) Meditation, The Theory And Practice, page 65.

Christian mantras may be equally effective, but they can seldom be coordinated with breathing: “Thou that takest away the sins of the world. Have mercy upon me (and you).” This powerful mantra can be used in the following way:-

Các thần chú Kitô giáo cũng có thể hiệu quả tương đương, tuy hiếm khi đồng bộ được với nhịp thở: “Ngài, Đấng xóa tội trần gian, xin thương xót tôi (và người bệnh).” Thần chú mạnh mẽ này có thể được sử dụng theo cách sau:

Positive application:

Ứng dụng dương (tăng năng lượng):

– Slow inhalation (with thoughts of Him).

– Hít vào chậm (với tư tưởng hướng về Ngài).

– “Thou that takest away the sins of the world…”

– “Ngài, Đấng xóa tội trần gian…”

– Slow exhalation (with attention focused on that part of the patient being healed).

– Thở ra chậm (với sự chú tâm vào bộ phận đang được chữa lành của bệnh nhân).

– “Have mercy upon him (the patient).”

– “Xin thương xót người ấy (người bệnh).”

Negative application:

Ứng dụng âm (rút năng lượng):

– Slow exhalation (with thoughts on Him).

– Thở ra chậm (với tư tưởng hướng về Ngài).

– “Thou that takest away the sins of the world…”

– “Ngài, Đấng xóa tội trần gian…”

– Slow inhalation (with attention on patient’s affected area).

– Hít vào chậm (với sự chú tâm vào vùng bị ảnh hưởng của bệnh nhân).

– “Have mercy upon him (the patient).”

– “Xin thương xót người ấy (người bệnh).”

Where possible, it is helpful to use both hands so that the patient’s limb lies between both palms. This incorporates the affected part in your own circulation of etheric magnetic forces, but makes it more encumbent on the healer to cleanse himself after the healing session.

Khi có thể, tốt nhất là dùng cả hai tay sao cho chi thể của bệnh nhân nằm giữa hai lòng bàn tay. Điều này giúp đưa phần cơ thể bị ảnh hưởng vào trong vòng lưu chuyển của các mãnh lực từ tính dĩ thái của bạn, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với người chữa lành trong việc tự thanh lọc sau buổi chữa trị.

Cleansing the aura of the healer

Thanh lọc hào quang của người chữa lành

Any rapid exercise assisted by devices to bring the circulation rapidly into the surface of the body will cleanse the etheric tracts, nadis and body climate of contamination by the patient. The healer must find his own way. A mildly hot bath followed by brisk toweling is as effective as anything, according to the inclinations of the healer. Slapping the surface of the trunk and shaking the limbs regionally are equally helpful. In every instance there should first be a rapid inhalation and exhalation of air through the nostrils for a brief period. The bellows breath can be useful in this respect. (2)

Bất kỳ bài vận động nhanh nào được hỗ trợ bởi các phương tiện giúp đẩy nhanh lưu thông máu đến bề mặt cơ thể sẽ giúp thanh lọc các dòng năng lượng dĩ thái, nadis và khí hậu thân thể khỏi sự nhiễm ô từ bệnh nhân. Người chữa lành cần tự tìm ra cách phù hợp với mình. Một bồn tắm nước nóng nhẹ, sau đó lau khô mạnh bằng khăn cũng hiệu quả như bất kỳ phương pháp nào khác, tùy theo sở thích cá nhân. Việc vỗ lên bề mặt thân mình và lắc các chi từng vùng cũng rất hữu ích. Trong mọi trường hợp, trước tiên nên có một giai đoạn hít vào và thở ra nhanh qua mũi trong thời gian ngắn. Kỹ thuật “hơi thở bễ lò” (bellows breath) có thể hữu ích trong trường hợp này. [160]

(2) Meditation, The Theory And Practice, pages 124-126

Meditation, The Theory And Practice, trang 124–126.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-60.webp

It is obvious that all injuries sustained and emanating from the physical level, e.g. cuts, bruises, insect bites, superficial inflammations, cellulitis and where there are no psychosomatic causes, are treated by these methods, but always remembering that, where necessary, the patient should first submit to examination by the appropriate medical practitioner. Esoteric healing can only be supportive where drastic and immediate attention is required.

Rõ ràng là tất cả những thương tổn xảy ra và phát xuất từ cõi hồng trần—ví dụ như vết cắt, vết bầm, vết côn trùng cắn, viêm nông, viêm mô tế bào—và những trường hợp không có nguyên nhân tâm thể (psychosomatic) đều có thể được điều trị bằng các phương pháp này. Tuy nhiên, luôn cần ghi nhớ rằng, khi cần thiết, bệnh nhân nên được kiểm tra trước bởi bác sĩ chuyên khoa thích hợp. Trị liệu huyền môn chỉ có thể đóng vai trò hỗ trợ trong những trường hợp cần can thiệp quyết liệt và khẩn cấp.

Healing Method 2—Know the EnergiesIn ninety per cent of disease, there are contributing causes emanating from levels higher than the etherico-physical. These call for more sophisticated application of healing energies than merely transfer of vitality through the medium of the hands.

Trong chín mươi phần trăm các trường hợp bệnh tật, có những nguyên nhân góp phần phát sinh từ các cõi cao hơn cõi dĩ thái–vật lý. Những trường hợp này đòi hỏi việc áp dụng các năng lượng chữa lành một cách tinh tế hơn là chỉ đơn thuần truyền sinh lực qua trung gian của đôi tay.

Ray rules for healing

Các quy luật về Cung trong chữa lành

Healing by focus is more appropriate to disciples predominantly on the Will Rays. By that is meant that out of a complement of five Bodies, at least three should be responding to anyone of the four Rays of Will:-

Phép chữa lành bằng sự tập trung (healing by focus) phù hợp hơn với những đệ tử chủ yếu thuộc các Cung Ý Chí. Điều này có nghĩa là trong năm thể, ít nhất ba thể phải phản ứng với một trong bốn Cung của Ý Chí sau đây:

I Ray of Will and Power

– Cung I: Ý Chí và Quyền Lực

II Ray of Active Intelligence

– Cung II: Trí Tuệ Tích Cực

III Ray of Concrete Knowledge

– Cung III: Kiến Thức Cụ Thể

IV Ray of Ceremonial Order and Ritual

– Cung IV: Trật Tự và Nghi Lễ

The five Bodies—Soul, Personality, Mental Body, Astral Body, Physical Body, (and Brain)—are depicted as the formula:-

Năm thể—gồm Linh hồn, Phàm ngã, Thể Trí, Thể Cảm Dục, Thể Xác (và não bộ)—được biểu thị theo công thức như sau:tiếp theo văn bản sẽ trình bày công thức

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-61.webp

The Ray of Personality or of the Mental Body (or both) would always be on a Will Ray, e.g.:-

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-62.webpesoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-63.webp

The Seven Chakras

Generally speaking, all Second Ray souls have healing potential, and they number at this time some sixty per cent of the Fifth Subrace (now the main population of the United Kingdom, the United States of America and Canada). First Ray souls with appropriate Will Rays of Personality and/or Mind do much better healing through methods involving instruments as technical devices, e.g. a radionic instrument, acupuncture, magnetism, etc. This applies more to where the Seventh Ray is part of the Ray complement:

Nói chung, tất cả các linh hồn thuộc Cung Hai đều có tiềm năng chữa lành, và hiện nay họ chiếm khoảng sáu mươi phần trăm của Phân chủng thứ năm (hiện là thành phần dân số chính của Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và Canada). Những linh hồn thuộc Cung Một có Cung Ý Chí phù hợp nơi phàm ngã và/hoặc nơi thể trí thì thực hiện việc chữa lành tốt hơn thông qua các phương pháp sử dụng dụng cụ hay thiết bị kỹ thuật, ví dụ như thiết bị trường lực (radionic), châm cứu, từ lực, v.v… Điều này đặc biệt đúng hơn khi Cung Bảy là một phần trong tổ hợp các cung của họ.

First Ray souls with Love Rays dominant in personality bodies are better suited to use Healing Method 3 (healing by radiation or engulfment):-—

Những linh hồn thuộc Cung Một mà có các Cung Tình Thương chi phối nơi các thể phàm ngã thì phù hợp hơn với việc sử dụng Phương pháp Chữa lành số 3 (chữa lành bằng bức xạ hay bao trùm).

Generally, Healing Method 2 is more appropriate to conditions where causes arising from the mental body or the inability to operate the Will are being expressed. The purpose of the technique is to bring the power of the Head Centre to bear upon a specific area of the patient. This should be the chakra related to the disease condition; e.g. the throat, oesophagus, larynx, and the thyroid, mucus membranes, lining of the lungs and bronchial tubes, seven cervical vertebrae, brachial plexus and the tongue are related to the Throat Chakra. The healing energies of the Head Chakra are best directed through the Brow Chakra which forms part of its complex. (1) The energy streams out through the Ajna Chakra through the application of two main stimuli: The focussed gaze, and Coordinated breathing.

Nói chung, Phương pháp Chữa lành số 2 phù hợp hơn với những tình trạng mà nguyên nhân phát sinh từ thể trí hoặc do không có khả năng vận dụng Ý Chí đang được biểu lộ. Mục tiêu của kỹ thuật này là đưa năng lượng từ Luân xa Đầu tác động lên một vùng cụ thể của bệnh nhân. Vùng này nên là luân xa liên quan đến tình trạng bệnh lý; ví dụ: họng, thực quản, thanh quản, tuyến giáp, màng nhầy, lớp lót phổi và ống phế quản, bảy đốt sống cổ, đám rối cánh tay và lưỡi—tất cả đều liên hệ đến Luân xa Cổ Họng. Năng lượng chữa lành của Luân xa Đầu nên được dẫn truyền thông qua Luân xa Trán, vốn là một phần trong cấu trúc của nó. (1) Năng lượng tuôn ra qua Luân xa Ajna thông qua hai kích thích chính: Ánh nhìn tập trung và hô hấp phối hợp.

(1) See “Head Chakras Integrated” The Jewel In The Lotus, page 229. See also Meditation, The Theory And Practice,

(1) Xem “Head Chakras Integrated” trong The Jewel In The Lotus, trang 229; xem thêm Meditation, The Theory And Practice.

Any focussing of the two eyes (Venus and Mercury) (2) brings Ajna, the Brow, into a donatory condition. There will be an outpouring from the brow region. The energy of Ajna is twofold, stemming from its two major petals. These two energies should be made to pass through the palms of the hands where there are two powerful healing chakras. This exercise allows for all these factors.

Bất kỳ sự tập trung nào của hai mắt (được ví như VenusMercury) (2) cũng đưa Luân xa Trán (Ajna) vào trạng thái cho (donatory). Khi đó sẽ có một luồng năng lượng tuôn chảy từ vùng trán. Năng lượng của Ajna có tính chất kép, xuất phát từ hai cánh chính của nó. Hai luồng năng lượng này nên được dẫn qua lòng bàn tay, nơi có hai luân xa chữa lành rất mạnh. Bài thực hành dưới đây cho phép vận dụng tất cả các yếu tố này.

(2) See “Divine Physiognomy”, The Jewel In The Lotus, page 132. See also Meditation, The Theory And Practice, page 71, by Dr. Douglas M. Baker.

(2) Xem “Divine Physiognomy”, The Jewel In The Lotus, trang 132; xem thêm Meditation, The Theory And Practice, trang 71, của Dr. Douglas M. Baker.

Projection of the Healing Force (Type 1)

Chiếu Xuất Mãnh Lực Chữa Lành (Loại 1)

(The fingers form a Triangle, see next image.) The healer decides which of the patient’s chakras he is going to apply energy to. He stations himself before the recumbent patient who is lying in a posture which allows the chakra concerned to be approached directly by the healing force. The healer forms his fingers a triangle. The triangle acts as:-

(Các ngón tay tạo thành hình tam giác; xem hình minh họa kế tiếp) Người chữa lành quyết định luân xa nào của bệnh nhân sẽ được truyền năng lượng. Người ấy đứng trước bệnh nhân đang nằm với tư thế sao cho luân xa được chọn có thể tiếp cận trực tiếp bởi mãnh lực chữa lành. Người chữa lành chụm các ngón tay lại để tạo thành một tam giác. Hình tam giác này có các chức năng sau:

A symbol of the Higher Triad, the healer’s Soul, with which he must align himself.

Là biểu tượng của Tam nguyên cao – tức là Linh hồn của người chữa lành, mà y phải chỉnh hợp với.

It assists in limiting the gaze to a confined area.

Giúp giới hạn ánh nhìn vào một vùng cụ thể.

It locates the site of healing and excludes other areas which may not require healing or should not be stimulated in any way.

Định vị vùng chữa lành, đồng thời loại trừ các vùng khác không cần thiết hoặc không nên kích thích.

The illustration shows the thorax of the male patient through the triangle formed by the healer’s fingers. The region of the Heart Chakra has been located as the central focus. Out of a wide range of conditions, this particular site would be appropriate for: All heart conditions: Pneumonia, bronchitis, tuberculosis: Blood disorders (anaemias, septicaemia, etc.): When the causal nature of the condition is not known or the appropriate chakra is undecided.

Hình minh họa cho thấy vùng ngực của một bệnh nhân nam được nhìn qua tam giác tạo bởi các ngón tay người chữa lành. Vùng Luân xa Tim đã được định vị làm tiêu điểm trung tâm. Trong số rất nhiều tình trạng, vùng này đặc biệt thích hợp với: Các bệnh về tim; Viêm phổi, viêm phế quản, lao phổi; Các rối loạn về máu (thiếu máu, nhiễm trùng huyết, v.v.); Khi chưa biết rõ nguyên nhân gây bệnh hoặc chưa xác định được luân xa phù hợp để chữa lành.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-64.webp

**************************************

Projection of the Healing Force (Type 2)

Phóng chiếu Lực chữa lành (Loại 2)

(the eyes are focused through the Triangle.) Diagram No. 2 of the series shows the appropriate distance maintained between patient and healer and the position of the hands in front of the brow. This leaves the healer free to move and to bring his powerfully directed gaze into coordination with his breathing.

(đôi mắt được tập trung xuyên qua Tam giác.) Hình 2 trong loạt sơ đồ minh hoạ khoảng cách thích hợp được giữ giữa bệnh nhân và người chữa lành, cùng vị trí của hai tay trước trán. Điều này giúp người chữa lành có thể di chuyển tự do và phối hợp ánh nhìn được hướng dẫn mạnh mẽ với nhịp thở của mình.

He has first aligned himself with his soul, with his Master, his Guide or whoever he invokes to assist him from high levels. This is done efficiently and smoothly when meditation techniques are practised as part of his way of life. (1) He begins to breathe rhythmically in a four-phase series of 6: 3: 6: 3 seconds:-

Trước hết, y đã chỉnh hợp chính mình với linh hồn, với Chân sư, với Đấng Hướng Dẫn hoặc bất kỳ ai mà y kêu gọi để trợ giúp mình từ các cấp độ cao. Điều này được thực hiện một cách hiệu quả và trôi chảy khi các kỹ thuật tham thiền được thực hành như một phần trong lối sống của y. (1) Y bắt đầu thở theo nhịp điệu trong một chuỗi bốn pha với tỉ lệ 6: 3: 6: 3 giây:

(1) Meditation, The Theory And Practice, by Dr. Douglas M. Baker.

(1) Meditation, The Theory And Practice, của Dr. Douglas M. Baker.

Phase I

Pha I

(6 seconds). Breath is drawn in through both nostrils, and the words: “The Divine Life fills me” are sounded silently. The eyes are closed.

(6 giây). Hít vào bằng cả hai lỗ mũi, và câu: “Sự Sống Thiêng Liêng tràn ngập tôi” được xướng thầm. Mắt nhắm lại.

Phase 2

Pha 2

(3 seconds). The breath is held for three seconds; the Master or Soul is visualised as the source of divine healing, light. The eyes may remain closed.

(3 giây). Giữ hơi thở trong ba giây; Chân sư hoặc Linh hồn được hình dung như là nguồn chữa lành thiêng liêng, ánh sáng. Mắt có thể vẫn nhắm.

Phase 3

Pha 3

(6 seconds).The breath is exhaled, again through the nose. The eyes are open; the gaze is focussed through the triangle at the patient’s chakra. The words: “The Divine Life fills you” are sounded silently with the exhalation.

(6 giây). Thở ra bằng mũi. Mắt mở; ánh nhìn tập trung xuyên qua tam giác vào luân xa của bệnh nhân. Câu: “Sự Sống Thiêng Liêng tràn ngập bạn” được xướng thầm trong khi thở ra.

Phase 4

Pha 4

(3 seconds).The patient is visualised whole, healthy and happy.

(3 giây). Hình dung bệnh nhân lành lặn, khoẻ mạnh và hạnh phúc.

The cycle is repeated three times. Then the healer must rest to breathe normally for some minutes. Usually five minutes of healing suffices to call up the healing devas to assist the patient’s own forces.

Chu kỳ này được lặp lại ba lần. Sau đó, người chữa lành phải nghỉ để thở bình thường trong vài phút. Thông thường năm phút chữa lành là đủ để triệu thỉnh các deva chữa lành đến hỗ trợ cho các mãnh lực riêng của bệnh nhân.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-65.webp

Above: Projection of The Healing Force (2).

********************************************

Projection of the Healing Force (Type 3)

Phóng chiếu Lực chữa lành (Loại 3)

(The triangle is reduced and each petal of Ajna lies opposite the back of each hand) Illustration No. 3 shows how the triangle can be effectively narrowed as the healer’s focusing ability improves with experience and practice so that eventually the triangle can be used to isolate, for attention, the smallest ‘targets’ . The picture illustrates the relationship of the outflow of the two Ajna petals to the chakras in the palms of the hands. If the two pages that follow are placed together over or in front of a light source, they will reveal much to the students of esoteric healing.

(Tam giác được thu nhỏ và mỗi cánh hoa của Ajna nằm đối diện với mặt sau của mỗi bàn tay) Hình minh hoạ số 3 cho thấy cách tam giác có thể được thu hẹp một cách hiệu quả khi khả năng tập trung của người chữa lành được cải thiện qua kinh nghiệm và thực hành, để rồi cuối cùng tam giác có thể được sử dụng để cô lập những “mục tiêu” nhỏ nhất nhằm tập trung sự chú ý vào đó. Bức hình minh hoạ mối liên hệ giữa dòng lưu xuất từ hai cánh hoa của Ajna với các luân xa trong lòng bàn tay. Nếu hai trang tiếp theo được đặt chồng lên nhau trên hoặc trước một nguồn sáng, chúng sẽ tiết lộ nhiều điều cho các học viên nghiên cứu về trị liệu huyền môn.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-66.webp

Số 3. PHÓNG CHIẾU MÃNH LỰC CHỮA LÀNH

Hình tam giác được tạo bởi các ngón tay sẽ dần được thu hẹp lại cho đến khi lòng bàn tay (hướng về phía bệnh nhân) nằm ngay trước mỗi cánh hoa của Trung tâm Ajna, và hình tam giác được căn chỉnh chính xác vào luân xa hoặc khu vực khiếm khuyết của bệnh nhân.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-67.webp

*********************************************

Healing Method 3—Via Love

The healer has a preponderance of Love Ray energy (see Rays and Healing Method 2), and this, in the act of healing, is made to radiate outwards in waves that engulf the patient. The aura of the patient is, for a period, definitely replaced by that of the healer. The highly vibratory energy of the healer recharges the nadis and tracts of the patient’s etheric and astral bodies. The flow stimulates the devas of the various tissues to respond and to resume their work of reconstruction and replenishment of diseased areas.

Người chữa lành mang năng lượng của Cung Tình Thương vượt trội (xem Cung và Phương pháp chữa lành số 2), và trong hành động chữa lành, năng lượng này được làm cho lan tỏa ra ngoài thành từng làn sóng bao phủ lấy bệnh nhân. Trường hào quang của bệnh nhân, trong một khoảng thời gian, thực sự bị thay thế bởi hào quang của người chữa lành. Năng lượng có tần số rung động cao của người chữa lành sẽ nạp lại sinh lực cho các nadis và các đường dẫn trong thể dĩ thái và thể cảm xúc của bệnh nhân. Dòng lưu chuyển này kích thích các deva của các mô khác nhau phản ứng và tiếp tục công việc tái cấu trúc và phục hồi các vùng bị bệnh.

The healing sessions may have to be prolonged until the energies of the patient’s own Higher Triad can take up the same task once more, otherwise the patient will relapse, which so often is the case when Love qualities are employed.

Các buổi chữa lành có thể phải kéo dài cho đến khi năng lượng của chính Tam Nguyên Thượng của bệnh nhân có thể đảm nhận lại nhiệm vụ này, nếu không bệnh nhân sẽ bị tái phát — điều này thường xảy ra khi các phẩm tính Tình Thương được sử dụng.

The healer may use the breathing techniques set out in Healing Method 2, but the approach to the patient is different. The loving help of the healer’s Soul is invoked. The attitude of mind, poised as it is momentarily before the healing act, is one of oneness, the oneness of all things that live, including the patient and the healer.

Người chữa lành có thể sử dụng các kỹ thuật thở được trình bày trong Phương pháp chữa lành số 2, nhưng cách tiếp cận với bệnh nhân thì khác. Sự trợ giúp đầy tình thương từ Linh hồn của người chữa lành được cầu khẩn. Trạng thái tâm thức, được giữ thăng bằng ngay trước hành động chữa lành, là một cảm nhận về sự đồng nhất — sự đồng nhất của mọi sự sống, bao gồm cả bệnh nhân và người chữa lành.

The healer approaches the patient with an attitude that a mother might bear as she approaches her child when the latter has hurt himself: a deep, engulfing sentiment, like that of a World Mother to Whom all women in childbirth, if they only knew it, might appeal. It is hard to convey what is required without resorting to a parallel which occurs when we might approach a dearly loved animal or pet. We use words of endearment: “Oh, mon petit chien.” and put our arms out. The dog responds, may even roll on his back in submission and whine and lick our fingers. He has surrendered… we have conquered.

Người chữa lành tiếp cận bệnh nhân với một thái độ mà một người mẹ có thể mang theo khi đến bên con mình lúc đứa trẻ bị đau: một cảm xúc sâu sắc, tràn ngập — như của một Người Mẹ Thế Gian mà tất cả phụ nữ khi sinh con, nếu họ nhận biết điều đó, có thể hướng đến để cầu xin. Thật khó để truyền đạt điều cần thiết nếu không viện đến một ví dụ song song, như khi chúng ta đến gần một con vật hay thú cưng mà mình hết mực yêu quý. Chúng ta thốt lên những lời âu yếm: “Ồ, chú chó nhỏ của tôi.” và dang tay ra. Con chó đáp lại, thậm chí có thể lăn ngửa ra biểu hiện sự quy phục và rên rỉ, liếm tay chúng ta. Nó đã đầu hàng… và chúng ta đã chinh phục được.

When the positive radiation of the healer overcomes the negative condition of the patient, healing will result.

Khi sự phóng chiếu năng lượng dương tính của người chữa lành vượt qua được tình trạng âm tính của bệnh nhân, sự chữa lành sẽ diễn ra.

Healer and patient are one, aura-wise, the work of healing commences. This method obviously is more suited to emotional conditions, e.g. emotional exhaustion, mania, depression. There is no need to worry about positive and negative action. The healer’s aura is shared and provides stability. The words of St. Francis are so apt here:-

Người chữa lành và bệnh nhân trở thành một, về mặt hào quang, và công việc chữa lành bắt đầu. Phương pháp này rõ ràng phù hợp hơn với các tình trạng cảm xúc, như kiệt sức cảm xúc, cuồng loạn, trầm cảm. Không cần lo lắng về hành động dương hay âm. Hào quang của người chữa lành được chia sẻ và mang lại sự ổn định. Những lời của Thánh Francis thật phù hợp ở đây:

Lord, make me an instrument of Your peace.

Lạy Chúa, xin hãy làm cho con trở thành khí cụ của bình an Ngài.

Where there is hatred, let me, sow love.

Nơi nào có hận thù, xin cho con gieo Tình Thương.

Where there is injury, pardon.

Nơi nào có tổn thương, xin cho con đem lại sự tha thứ.

Where there is doubt, faith.

Nơi nào có nghi ngờ, xin cho con đem đến niềm tin.

Where there is despair, hope.

Nơi nào có tuyệt vọng, xin cho con mang lại hy vọng.

Where there is darkness, light.

Nơi nào có bóng tối, xin cho con mang ánh sáng.

And where there is sadness, joy.

Nơi nào có buồn đau, xin cho con đem đến niềm vui.

O DIVINE MASTER,

LẠY ĐẤNG THIÊNG LIÊNG,

Grant that I may not so much seek to be consoled as to console;

Xin ban cho con không chỉ tìm được sự an ủi, mà còn biết an ủi người khác;

To be understood as to understand;

Không chỉ mong được thấu hiểu, mà còn biết thấu hiểu người khác;

To be loved as to love;

Không chỉ mong được yêu thương, mà còn biết yêu thương người khác;

For it is in giving that we receive;

Vì chính khi ban cho là khi được nhận lãnh;

It is in pardoning that we are pardoned;

Chính khi tha thứ là khi được tha thứ;

And it is in dying that we are born to eternal life.

Và chính khi chết đi là khi được sinh ra trong sự sống đời đời.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-68.webp

Healing Method 4—Absent Healing

The healer must combine the techniques of both Method 2 and 3. He must be able to send his Love energies to the patient through the process of visualisation. The ‘target’—perhaps a group of afflicted refugees or a single (known) person—is visualised. The more accurate the visual image is, in terms of likeness to the patient, the more focused and effective will become the energy transferred.

Người chữa lành phải kết hợp các kỹ thuật của cả Phương pháp 2 và 3. Y phải có khả năng truyền năng lượng Tình thương của mình đến bệnh nhân thông qua tiến trình hình dung. “Đối tượng” — có thể là một nhóm người tị nạn đang chịu khổ hoặc một cá nhân (được biết đến) — được hình dung. Hình ảnh thị giác càng chính xác, càng giống với bệnh nhân, thì năng lượng được chuyển giao càng trở nên tập trung và hiệu quả hơn.

When the healer works in a group, a list of names of patients is sufficient. Merely the sounding of the patient’s name or the fact that one of the group knows the patient and can visualise him is sufficient.

Khi người chữa lành làm việc trong một nhóm, một danh sách tên các bệnh nhân là đủ. Chỉ cần xướng tên bệnh nhân hoặc việc một thành viên trong nhóm biết bệnh nhân và có thể hình dung ra y là đủ.

Instructions in greater detail with regard to visualisation, objects for meditation and coordinated breathing are given in my book Meditation, The Theory And Practice.

Các chỉ dẫn chi tiết hơn liên quan đến hình dung, các đối tượng để tham thiền và hô hấp phối hợp được trình bày trong sách của tôi Tham Thiền: Lý Thuyết và Thực Hành.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-69.webp

Healing Method 5—Healing by Microcosmic Visualisation

The patient is not only visualised whole, healthy, happy and joyous, but the visualisation is taken into the microcosm and organs and tissues relative to the condition are visualised.

Bệnh nhân không chỉ được hình dung là toàn vẹn, khỏe mạnh, hạnh phúc và vui tươi, mà việc hình dung còn được đưa sâu vào tiểu vũ trụ, các cơ quan và mô liên quan đến tình trạng bệnh cũng được hình dung.

For instance, in anaemias, and in rheumatoid arthritis especially, where there are circulatory disorders of affected limbs (as well as anaemia), visualisation of the blood circulatory system accentuates the healing effect. This may be carried right down into the microcosm of the patient into his blood cells and even into the molecule that carries oxygen in the red blood cells to all the body organs. It is the basic unit of circulation.

Chẳng hạn, trong các trường hợp thiếu máu và đặc biệt là viêm khớp dạng thấp, nơi có các rối loạn tuần hoàn ở các chi bị ảnh hưởng (cũng như tình trạng thiếu máu), việc hình dung hệ thống tuần hoàn máu sẽ làm tăng hiệu quả chữa lành. Việc này có thể được thực hiện đến tận tiểu vũ trụ của bệnh nhân — vào các tế bào máu và thậm chí vào phân tử mang oxy trong các hồng cầu đến tất cả các cơ quan trong cơ thể. Đây là đơn vị cơ bản của tuần hoàn.

Visualisation of this molecule in relation to the patient and the direction of healing energy into the visual matrix of it helps to place healing forces at their most appropriate site.

Việc hình dung phân tử này trong mối liên hệ với bệnh nhân và việc hướng năng lượng chữa lành vào khuôn mẫu hình dung đó sẽ giúp đặt các lực chữa lành tại vị trí phù hợp nhất.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-70.webp

When The Soul Wishes To Withdraw—Khi Linh hồn mong muốn rút lui

Perhaps the most important question that comes to every esoteric healer is to decide whether the soul of the patient really wishes to maintain occupation of the lower triad. To put it more bluntly, whether the patient really should be helped any further if the soul has obtained its goal for that life. This is a hard decision to make and nowhere in the esoteric teachings are pointers given of the indications as to how we or the healer can determine this.

Có lẽ câu hỏi quan trọng nhất đối với mọi nhà chữa lành huyền môn là quyết định xem liệu linh hồn của bệnh nhân có thực sự mong muốn duy trì sự chiếm ngụ của tam nguyên thấp hay không. Nói một cách thẳng thắn hơn, liệu bệnh nhân có thực sự nên được giúp đỡ thêm nữa hay không nếu linh hồn đã đạt được mục tiêu của nó trong kiếp sống đó. Đây là một quyết định khó khăn, và trong giáo lý huyền môn không có chỉ dẫn nào nêu rõ dấu hiệu giúp chúng ta hay người chữa lành có thể xác định điều này.

How might the healer decide whether the soul wishes to withdraw? There is firstly the receptive mechanisms of the disciple which can be of help in making the assessment. The healer will certainly have a vivid dream life if he is esoterically advanced and if he keeps a spiritual diary along the lines described classically in The Jewel In The Lotus and Meditation, The Theory And Practice. Then the following advice will be meaningful.

Làm thế nào để người chữa lành có thể quyết định liệu linh hồn có mong muốn rút lui hay không? Trước hết là cơ chế tiếp nhận của đệ tử, điều này có thể giúp ích trong việc đánh giá. Người chữa lành chắc chắn sẽ có đời sống mộng sống động nếu y đã tiến bộ về mặt huyền môn và nếu y ghi chép nhật ký tâm linh theo phương pháp được mô tả cổ điển trong Viên Ngọc Trong Hoa SenTham Thiền: Lý Thuyết và Thực Hành. Khi đó, lời khuyên sau đây sẽ trở nên có ý nghĩa.

The patient’s name should be entered in the spiritual diary and all matters concerning the patient, e.g. history, symptoms, etc. The contents of the waking dream should thereafter be noted. If the diary is kept open at the page concerning the patient, then the waking dream will become relevant to the patient if the healer indeed works through his own soul. Depending on the receptive ability of the healer will come much useful information, including symbolic reference to the patient’s soul intent. If, for instance, the healer is involved in a dream in which the patient (or the dream symbol of all patients) lags behind on a journey, say, up a hill, this will be indicative of the soul no longer wanting to maintain its hold on its lower vehicles.

Tên bệnh nhân nên được ghi vào nhật ký tâm linh cùng với mọi vấn đề liên quan đến bệnh nhân, chẳng hạn như tiền sử bệnh, triệu chứng, v.v. Nội dung của giấc mộng thức nên được ghi lại sau đó. Nếu nhật ký được mở ở trang ghi chép về bệnh nhân, thì giấc mộng thức sẽ trở nên liên quan đến bệnh nhân nếu người chữa lành thực sự làm việc thông qua linh hồn của chính mình. Tùy thuộc vào khả năng tiếp nhận của người chữa lành, nhiều thông tin hữu ích sẽ đến, bao gồm cả những biểu tượng liên quan đến ý định của linh hồn bệnh nhân. Nếu chẳng hạn người chữa lành thấy mình tham gia vào một giấc mộng trong đó bệnh nhân (hoặc biểu tượng giấc mộng đại diện cho tất cả bệnh nhân) tụt lại phía sau trên một hành trình, chẳng hạn như đi lên đồi, điều này sẽ cho thấy linh hồn không còn mong muốn duy trì sự nắm giữ của nó đối với các thể thấp.

If the patient is observed carefully, even while in reasonable health, it will be noticed that the personality drives, native passions, habits, and traits become slowly but surely alienated from the patient. This can be a very slow process and the family might have to be questioned in this connection. The personality begins to show tendencies of reviewing the life’s activities, not with such dramatic and vivid rapidity with which the whole life’s kaleidoscope is flashed before the mind of a drowning person, but with subtle unobtrusiveness. The conscience of the patient seems to become stronger. There are sad reflections of things done and left undone in the life. There may be guilt; there may be depression, during these lengthy surveys, but usually they pass unremarked by the patient’s family.

Nếu bệnh nhân được quan sát cẩn thận, ngay cả khi đang ở trong tình trạng sức khỏe tương đối tốt, sẽ nhận thấy rằng các thúc đẩy của phàm ngã, các dục vọng bẩm sinh, tập quán và đặc tính bắt đầu dần dần nhưng chắc chắn tách rời khỏi bệnh nhân. Đây có thể là một tiến trình rất chậm và có thể cần phải hỏi người thân trong gia đình về điều này. Phàm ngã bắt đầu biểu lộ xu hướng hồi tưởng lại các hoạt động của cuộc đời, không phải với tốc độ và cường độ kịch tính như khi toàn bộ bức tranh cuộc đời hiện lên trước tâm trí của một người đang chết đuối, mà một cách kín đáo và nhẹ nhàng. Lương tâm của bệnh nhân dường như trở nên mạnh mẽ hơn. Có những hồi tưởng buồn bã về những điều đã làm và chưa làm trong cuộc sống. Có thể có cảm giác tội lỗi; có thể có trầm cảm trong suốt những cuộc hồi tưởng dài này, nhưng thường thì chúng không được gia đình bệnh nhân để ý đến.

So frequently observers of a death scene note erratic behaviour on the part of the patient. The patient may want to spring out of bed and put his boots on; he may wish to make long-distance phone calls to quite unimportant people, etc. There may also be delirium in which the patient becomes strongly animated by wild passions and gestures. These may indicate a weakening of the soul’s grip on its lower vehicles, when the Dweller on the Threshold or even strange entities may use those vehicles momentarily. In fact, the patient begins to live more and more in the astral world, and because of this the astral body will draw sustenance and even stimulation from the dying physical vehicle. These are not easy observations to make with discrimination and wisdom. They are much less easy to put into words. With experience the healer will learn with accuracy to determine the answer to this question which must always present itself when a disease is chronic and of very long standing, when the patient is advanced in years and when there seems to be little point in helping the patient who seems to be determined to hold on to the disease condition.

Người chứng kiến một cảnh cận tử thường nhận thấy hành vi thất thường từ phía bệnh nhân. Bệnh nhân có thể muốn nhảy ra khỏi giường và mang giày vào; y có thể muốn thực hiện các cuộc gọi điện thoại đường dài đến những người hoàn toàn không quan trọng, v.v. Cũng có thể có tình trạng mê sảng, trong đó bệnh nhân trở nên cực kỳ kích động bởi các dục vọng mãnh liệt và những cử chỉ cuồng loạn. Những điều này có thể cho thấy sự suy yếu của sự kiểm soát của linh hồn đối với các thể thấp của nó, khi Kẻ Chận Ngõ hoặc thậm chí những thực thể kỳ lạ có thể tạm thời sử dụng những thể này. Trên thực tế, bệnh nhân bắt đầu sống ngày càng nhiều hơn trong thế giới cảm dục, và vì điều này, thể cảm dục sẽ hút năng lượng và thậm chí là được kích thích từ thể xác đang hấp hối. Đây không phải là những quan sát dễ dàng thực hiện với sự phân biện và minh triết. Chúng càng khó được diễn đạt thành lời. Với kinh nghiệm, người chữa lành sẽ học được cách xác định một cách chính xác câu trả lời cho câu hỏi này, điều vốn luôn luôn xuất hiện khi một căn bệnh là mạn tính và kéo dài trong nhiều năm, khi bệnh nhân đã lớn tuổi và khi dường như không còn nhiều lý do để giúp đỡ bệnh nhân vốn có vẻ như đang kiên quyết bám giữ lấy tình trạng bệnh tật.

Diagnosis by Dreams

In ancient days the Aesculapiads (1) used to take into account the dreams of their patients when corning to a diagnosis and in considering prognosis. Patients would rest for the night around the steps of the altars in the healing temples and in the morning the priests (Aesculapiads) would come round and ask the patients about their dreams. From these reports the priests decided on their treatments (see illustration on the next page).

Vào thời cổ đại, các thầy thuốc Aesculapiads (1) thường xem xét đến giấc mơ của bệnh nhân khi chẩn đoán bệnh và dự đoán tiên lượng. Bệnh nhân sẽ nghỉ qua đêm quanh các bậc thềm của bàn thờ trong các đền chữa bệnh, và vào buổi sáng, các vị tư tế (Aesculapiads) sẽ đi quanh hỏi bệnh nhân về những giấc mơ mà họ đã trải qua. Từ những lời kể này, các tư tế quyết định phương pháp điều trị (xem hình minh họa ở trang sau).

(1) The Aesculapiads. The cult of Asclepius was very popular. His healing temples were called asclepieion; pilgrims flocked to them to be healed. They slept overnight and reported their dreams to a priest the following day.

(1) Các Aesculapiads: Giáo phái thờ Asclepius rất phổ biến. Các đền chữa bệnh của Ngài được gọi là asclepieion; người hành hương đổ về đó để được chữa lành. Họ sẽ ngủ lại qua đêm và trình bày giấc mơ với vị tư tế vào ngày hôm sau.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-71.webp

Section Four—Nutrition and Preventive Medicine

Etheric Vitamins

The existence of etheric vitamins has been mooted[161] for some time. It has been said that their discovery before the end of the century will herald new advances in Medicine and Nutrition. At a time when vitamin therapy is coming under severe criticism, Man is seeking for better methods of releasing those precious energies which we loosely term ‘enthusiasm’, joie de vie, vitality, etc., and which so frequently let him down in his competitive environment, laden as it is with unremittent stress.

Sự tồn tại của các vitamin dĩ thái đã được gợi ý trong một thời gian. Người ta nói rằng việc phát hiện ra chúng trước khi kết thúc thế kỷ sẽ mở ra những bước tiến mới trong Y học và Dinh dưỡng. Vào thời điểm mà liệu pháp vitamin đang bị chỉ trích nghiêm trọng, nhân loại đang tìm kiếm những phương pháp tốt hơn để giải phóng những năng lượng quý báu mà chúng ta thường gọi một cách mơ hồ là “nhiệt huyết,” “niềm vui sống,” “sinh lực,” v.v. — những năng lượng vốn thường xuyên khiến con người thất vọng trong môi trường cạnh tranh đầy căng thẳng không ngừng.

Vitamins are organic compounds found in minute quantities in most foods when these are in their natural state. They are vital in the diet and without them, the process of metabolism, the building up and breaking down of body tissues, is inhibited and malnutrition sets in. They regulate metabolism and form indispensable parts of chains of reactions, in many instances. Vitamins themselves do not contribute their own energy to the order of things. Their function is to release energies or to transform them.

Vitamin là các hợp chất hữu cơ được tìm thấy với số lượng cực nhỏ trong hầu hết các loại thực phẩm ở trạng thái tự nhiên. Chúng thiết yếu trong khẩu phần ăn, và nếu không có chúng, quá trình chuyển hóa — tức là quá trình xây dựng và phá hủy các mô cơ thể — sẽ bị ức chế và tình trạng suy dinh dưỡng sẽ xuất hiện. Chúng điều tiết sự chuyển hóa và trong nhiều trường hợp là thành phần không thể thiếu trong các chuỗi phản ứng. Vitamin tự thân không cung cấp năng lượng cho cơ thể, mà chức năng của chúng là giải phóng năng lượng hoặc chuyển hóa chúng.

The Etheric Matrix

Cấu Trúc Dĩ Thái

In all these respects, physical vitamins mirror the qualities of their shining counterparts, the minute etheric hosts whose task is to fulfill the main purpose of the vital or etheric body. The etheric body interpenetrates every organ and tissue of the gross physical body. It acts as a matrix into which the physical tissues constantly rebuild themselves as they undergo the normal processes of breakdown and reconstruction. As we well know, every atom and molecule of the physical body is replaced in what has been estimated as less than two years. How new atoms are built into the same shape of the ‘established’ organs is a mystery to science. It is no mystery to esoteric healers, who know of the etheric matrix and use such knowledge in their healing methods.

Xét về tất cả các khía cạnh này, các vitamin vật lý phản ánh phẩm chất của các đối phần sáng chói của chúng — các đơn vị dĩ thái nhỏ bé có nhiệm vụ hoàn thành mục đích chính của thể sinh lực hay thể dĩ thái. Thể dĩ thái xuyên suốt mọi cơ quan và mô của thể xác thô. Nó hoạt động như một khuôn mẫu mà vào đó các mô thể chất liên tục tự tái tạo trong quá trình phân hủy và tái cấu trúc bình thường. Như chúng ta đã biết, mỗi nguyên tử và phân tử trong thể xác đều được thay thế trong khoảng thời gian được ước tính là chưa đầy hai năm. Việc các nguyên tử mới được xây dựng lại chính xác theo hình dạng của các cơ quan “đã có” là một điều bí ẩn đối với khoa học. Nhưng đó không phải là điều bí ẩn đối với các nhà chữa lành huyền môn, những người biết đến cấu trúc dĩ thái và sử dụng tri thức đó trong phương pháp chữa lành của họ.

Any break in the structure of the etheric matrix leads to poor reconstruction of the overlying physical counterpart in tissues and organs. Such weaknesses can be brought about by poor access to etheric vitamins. The etheric fault may not demonstrate outwardly in physical defects, but the ‘constitution’ of the individual is affected, i.e., he may become prone to energy gaps, to every kind of infection, to serious incapacities, none of which may be clinically evident or even biochemically assessed or radiologically photographed. The esoteric science of Biochemics, where infinitely dilute materials in the form of the Twelve Tissue Salts are administered for various conditions, deals with these faults.

Bất kỳ sự đứt gãy nào trong cấu trúc của khuôn mẫu dĩ thái đều dẫn đến sự tái cấu trúc kém của các cơ quan và mô vật lý tương ứng. Những yếu kém như vậy có thể do việc tiếp cận kém với các vitamin dĩ thái gây ra. Khiếm khuyết dĩ thái có thể không biểu lộ ra ngoài qua các biểu hiện thể chất, nhưng “cấu trúc” của cá nhân đó bị ảnh hưởng — tức là, y có thể trở nên dễ bị rơi vào trạng thái thiếu năng lượng, dễ bị nhiễm trùng các loại, bị suy yếu nghiêm trọng mà không có dấu hiệu lâm sàng rõ ràng hoặc không thể đánh giá được qua xét nghiệm sinh hóa hay hình ảnh học. Khoa học huyền môn về Hóa sinh, nơi các chất được pha loãng đến mức vô cùng trong dạng Mười Hai Muối Mô được dùng cho các tình trạng khác nhau, xử lý các khiếm khuyết này.

Homoeopathy, which prescribes the same sort of dilutions in terms of a wide range of materials, including salts, herbs, antibiotics, minerals, etc., according to the detailed signs and symptoms of the patient, also acts upon this etheric matrix. The etheric matrix may be insidiously and progressively depleted before it actually breaks down. Its capacity to channel its prana (Meditation, The Theory And Practice, pages 210-216, by Dr. D. M. Baker) and other vital qualities to the physical organs, however, is limited from the moment that weaknesses appear. These weaknesses are mainly incurred by altered states in the astral and mental bodies. Unremitting anxiety, persistent stress, negative thinking, fear, weaken the etheric matrix. On the other hand, excessive meat-eating (especially highly pigmented protein, like beef), materialistic attitudes, aggression, irritation, will tend to grossen the nadis of the etheric body, and such outward physical manifestations of etheric concretion will demonstrate in the pathology of arthritis, arteriosclerosis, ankylosing spondylitis, gall stones, kidney stones, opacities, cataracts, etc., where a free flow of etheric energies is reduced.

Vi lượng đồng căn, sử dụng các loại pha loãng tương tự gồm muối, thảo mộc, kháng sinh, khoáng chất v.v., theo các dấu hiệu và triệu chứng chi tiết của bệnh nhân, cũng tác động lên khuôn mẫu dĩ thái này. Khuôn mẫu dĩ thái có thể bị suy yếu một cách âm thầm và dần dần trước khi nó thực sự bị phá vỡ. Khả năng dẫn truyền prana của nó (xem Tham Thiền: Lý Thuyết và Thực Hành, trang 210–216, của Tiến sĩ D. M. Baker) và các phẩm tính sinh lực khác đến các cơ quan thể chất, tuy nhiên, bị giới hạn ngay từ khi các yếu điểm xuất hiện. Những yếu điểm này phần lớn phát sinh từ trạng thái bị thay đổi trong thể cảm dục và thể trí. Sự lo âu không ngơi nghỉ, căng thẳng kéo dài, tư tưởng tiêu cực, sợ hãi — làm suy yếu khuôn mẫu dĩ thái. Ngược lại, việc ăn quá nhiều thịt (đặc biệt là thịt đỏ có sắc tố đậm như thịt bò), thái độ vật chất, sự hiếu chiến, kích động — sẽ làm thô các nadis của thể dĩ thái, và các biểu hiện vật lý ra bên ngoài của sự kết đặc dĩ thái đó sẽ thể hiện qua các bệnh lý như viêm khớp, xơ cứng động mạch, viêm cột sống dính khớp, sỏi mật, sỏi thận, đục thủy tinh thể, v.v., nơi dòng năng lượng dĩ thái tự do bị cản trở.

The construction and destruction of the etheric body, does not always coincide with what is happening in the physical superstructure. George de la Warr thus described the etheric influences as pre-physical, but implied that they might sometimes be post-physical as well. The phenomenon of the ‘phantom limb’ in this respect is described elsewhere in this work.

Việc kiến tạo và phá hủy thể dĩ thái không phải lúc nào cũng trùng khớp với những gì đang xảy ra trong cấu trúc vật lý bên trên. George de la Warr mô tả các ảnh hưởng dĩ thái là tiền thể chất, nhưng cũng ngụ ý rằng đôi khi chúng có thể là hậu thể chất. Hiện tượng “chi ma” trong bối cảnh này được mô tả ở phần khác của tác phẩm này.

The construction of the etheric body cannot be adequately described in language that would satisfy modern science. The process of physical growth which we witness in childhood, adolescence and adulthood is ‘anticipated’, as it were, by the etheric matrix which is always in advance of it. Old age begins in the etheric body before it manifests outwardly. The author can only compare the increasing organisation of the etheric body from childhood to the adult stage as being something like the development of an endometrium, that tissue built rapidly each twenty-eight days of a woman’s cycle as a lining to the uterus.

Việc kiến tạo thể dĩ thái không thể được mô tả một cách đầy đủ bằng ngôn ngữ có thể làm hài lòng giới khoa học hiện đại. Quá trình tăng trưởng thể chất mà chúng ta chứng kiến trong thời thơ ấu, thiếu niên và trưởng thành được “dự đoán trước,” có thể nói như vậy, bởi khuôn mẫu dĩ thái vốn luôn đi trước tiến trình vật lý. Tuổi già bắt đầu trong thể dĩ thái trước khi nó biểu hiện ra bên ngoài. Tác giả chỉ có thể so sánh quá trình tổ chức ngày càng tăng của thể dĩ thái từ thời thơ ấu đến giai đoạn trưởng thành giống như sự phát triển của nội mạc tử cung — mô được xây dựng nhanh chóng mỗi 28 ngày trong chu kỳ của phụ nữ như là một lớp lót cho tử cung.

The construction of the lining of the womb is basically an etheric phenomenon. It is sustained by the female hormones oestrogen and progesterone and monitored by the pituitary gland. This involves the two corresponding chakras, i.e., the Sacral Centre and Ajna (the Brow Centre) which vitalise the gonads and the pituitary, respectively. There hovers constantly over the lining of the uterus a powerful etheric matrix in the young, healthy female. When conception occurs with implantation of the ovum in the lining of the uterus, the potentised etheric matrix begins progressively to energise (and with increasing strength) the embryo and foetus. Such rapid construction of tissue is enduced by the dynamic presence of the endometrial etheric counterpart. Etheric vitamins are urgently needed here and in great quantities, hence the need for special antenatal care in diet especially in terms of etheric vitamins. Any interference with these processes can lead to disorders of menstruation.

Việc kiến tạo lớp lót của tử cung về cơ bản là một hiện tượng dĩ thái. Nó được duy trì bởi các hormone nữ là estrogen và progesterone, và được kiểm soát bởi tuyến yên. Điều này liên quan đến hai luân xa tương ứng, tức là Trung Tâm Xương Cùng và Ajna (Trung Tâm Trán), chúng lần lượt tiếp sinh lực cho các tuyến sinh dục và tuyến yên. Luôn hiện diện phía trên lớp niêm mạc tử cung ở người phụ nữ trẻ khỏe mạnh là một khuôn mẫu dĩ thái mạnh mẽ. Khi quá trình thụ thai xảy ra với sự làm tổ của noãn vào lớp niêm mạc tử cung, khuôn mẫu dĩ thái được làm mạnh lên này bắt đầu tiếp sinh lực dần dần (và ngày càng mạnh mẽ hơn) cho phôi và bào thai. Quá trình kiến tạo mô nhanh chóng như vậy là do sự hiện diện mạnh mẽ của đối phần dĩ thái của nội mạc tử cung. Vitamin dĩ thái rất cần thiết ở đây và với số lượng lớn, do đó cần có sự chăm sóc đặc biệt trước sinh về chế độ ăn, đặc biệt là về mặt vitamin dĩ thái. Bất kỳ sự can thiệp nào vào các tiến trình này đều có thể dẫn đến các rối loạn kinh nguyệt.

Amenorrhea[162], Dysmonorrhea[163] and Menorrhagia[164]Vô kinh, Thống kinh và Rong kinh

The absence or suppression of menstruation in the mature female is generally concerned with a failure in the etheric matrix of the endometrium[165] described above. Frequently the condition is associated with endocrinal (= chakra) disorders where these are in imbalance due to emotional and mental upsets. Impacts of energy forces from the astral and mental bodies not only disorder related chakras but reach the endometrial matrix directly. Sexual urges are a healthy stimulus to this matrix directly, as are courting and premarital petting[166]. These accentuate the direct flow of Ajna energies to this region under the axiom of energy follows thought. Emotional excitement, frustration or extreme sexual inhibition can be disastrous to the healthy concentration of the etheric energies here. Similarly, dysmenorrhea (painful or difficult menstruation) and even menorrhagia (excessive bleeding), where there are no organic causes present, can be initiated in the same way. Frequently, especially with regard to amenorrhea, a change of climate can be related to the condition, indicating difficulty with absorption of etheric vitamins. Increased light in spring and summer affects the pituitary in such a way that (especially in animals) there is increased libido. It synchronises with that time when more etheric vitamins arc present in the now sun-laden atmosphere.

Việc không có hoặc bị ức chế kinh nguyệt ở phụ nữ trưởng thành thường liên quan đến sự thất bại trong khuôn mẫu dĩ thái của nội mạc tử cung như đã mô tả ở trên. Tình trạng này thường liên quan đến các rối loạn nội tiết (= luân xa) khi có sự mất cân bằng do xáo trộn cảm xúc và tâm trí. Các tác động của các mãnh lực năng lượng từ thể cảm dục và thể trí không chỉ làm rối loạn các luân xa liên quan mà còn tác động trực tiếp đến khuôn mẫu nội mạc. Dục năng là một tác nhân kích thích lành mạnh đối với khuôn mẫu này, cũng như việc tán tỉnh và vuốt ve tiền hôn nhân. Những điều này làm tăng dòng chảy trực tiếp của năng lượng Ajna đến vùng này theo định luật “năng lượng theo sau tư tưởng.” Sự kích động cảm xúc, thất vọng hoặc ức chế tình dục cực độ có thể gây hại nghiêm trọng cho sự tập trung lành mạnh của các năng lượng dĩ thái tại đây. Tương tự như vậy, thống kinh (kinh nguyệt đau hoặc khó) và ngay cả rong kinh (xuất huyết quá nhiều), khi không có nguyên nhân thực thể nào, cũng có thể được khởi phát theo cách tương tự. Thường thì, đặc biệt với vô kinh, việc thay đổi khí hậu có thể liên quan đến tình trạng này, cho thấy có khó khăn trong việc hấp thụ các vitamin dĩ thái. Ánh sáng tăng lên vào mùa xuân và mùa hè ảnh hưởng đến tuyến yên theo cách khiến (đặc biệt ở động vật) dục năng gia tăng. Điều này đồng bộ với thời điểm mà nhiều vitamin dĩ thái hiện diện hơn trong bầu khí quyển ngập tràn ánh nắng mặt trời.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-72.webp

The earth’s magnetic field powerfully affects the formation of etheric vitamins and indeed, as Paracelsus in earlier days, and I myself in a later life have found that magnetic therapy for disorders of the uterus and its ligaments is very effective. Part of this is due to magnetic effects on the etheric vitamins and matrix of the uterine region. Thus, pulsations in the earth’s magnetic field, stimulate production of etheric vitamins in the nearby matrix of the endometrium where they are most needed.

Từ trường của Trái đất ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành của các vitamin dĩ thái. Thật vậy, như Paracelsus trong thời kỳ trước đây và bản thân tôi trong một kiếp sau đã phát hiện, liệu pháp từ cho các rối loạn liên quan đến tử cung và các dây chằng của nó rất hiệu quả. Một phần của hiệu quả này là do tác động từ tính lên các vitamin dĩ thái và khuôn mẫu dĩ thái trong vùng tử cung. Do đó, các dao động trong từ trường Trái đất kích thích sự sản sinh các vitamin dĩ thái trong khuôn mẫu dĩ thái của nội mạc tử cung — nơi chúng cần thiết nhất.

Geomagnetic variations produce changes in weather, i.e., alterations to the physical states of water. Wherever water changes its stage, etheric vitamins are found.

Các biến động địa từ gây ra sự thay đổi trong thời tiết, tức là sự thay đổi trạng thái vật lý của nước. Ở bất kỳ nơi nào nước thay đổi trạng thái, các vitamin dĩ thái đều được tìm thấy.

Similarly, devitalised or fatigued muscles and distorted ligaments relating to the uterus can be revitalised and restored to symmetry. Esoteric healing first restores symmetry to the subtle bodies.

Tương tự, các cơ bị suy yếu hoặc mệt mỏi và các dây chằng bị biến dạng liên quan đến tử cung có thể được tiếp sinh lực và phục hồi lại trạng thái cân bằng. Chữa lành huyền môn trước hết khôi phục sự cân bằng đối xứng cho các thể vi tế.

Etheric vitamins are formed mostly in the upper atmosphere. Mountainous air gives a feeling of exhilaration and with good reason. We inhale and absorb through the chakras directly, the glistening vitamins so indispensable to the etheric body and its vitalisation of the physical counterpart. This is one reason why sages and rishis abound in the Himalayas and why longevity so often characterises inhabitants of other such regions as the Caucasus and the Andes. The heart muscle especially is strengthened by a full supply of these vitamins, and they add to the efficient running of the nervous systems.

Vitamin dĩ thái chủ yếu được hình thành ở tầng khí quyển cao. Không khí miền núi mang lại cảm giác phấn khích — và điều này hoàn toàn có lý. Chúng ta hít vào và hấp thu trực tiếp qua các luân xa những vitamin lấp lánh vốn không thể thiếu đối với thể dĩ thái và sự tiếp sinh lực của nó cho đối phần thể xác. Đây là một trong những lý do tại sao các hiền triết và đạo sĩ thường cư ngụ nơi dãy Himalaya và tại sao tuổi thọ lại thường là đặc điểm của những cư dân ở các vùng như dãy Caucasus và Andes. Cơ tim đặc biệt được tăng cường nhờ nguồn cung đầy đủ các vitamin này, và chúng giúp hệ thần kinh vận hành hiệu quả hơn.

In the years ahead recognition of the benefits of living at such altitudes will bring into being whole cities standing on stilts. Business may well be conducted at sea level, but large elevators will bring tired commuters to the enlivening atmosphere of the suburbs perched a mile high above the earth.

Trong những năm sắp tới, sự công nhận lợi ích của việc sống ở độ cao như vậy sẽ dẫn đến sự ra đời của những thành phố hoàn toàn nằm trên các cột chống đỡ. Các hoạt động thương mại có thể vẫn diễn ra ở mực nước biển, nhưng những thang máy lớn sẽ đưa các cư dân mệt mỏi lên bầu không khí đầy sức sống ở các vùng ngoại ô nằm cách mặt đất gần một dặm.

Less normally, they are created by explosive conditions like volcanic action and by the effects of lightning. Their formations is strongly favoured in the presence of negative ions and pulsating magnetic fields. Contra to beliefs one would expect prevalent in the kitchens of esoterically oriented people, cooking releases these etheric catalysts, but they are usually thrown away with the water that has boiled the vegetables or fruit in which they existed naturally.

Hiếm hơn, các vitamin dĩ thái cũng được tạo ra bởi các điều kiện bùng nổ như hoạt động núi lửa và ảnh hưởng của sét. Chúng được hình thành mạnh mẽ trong sự hiện diện của các ion âm và các từ trường dao động. Trái với niềm tin phổ biến trong các gian bếp của những người theo khuynh hướng huyền môn, nấu ăn giải phóng các xúc tác dĩ thái này, nhưng chúng thường bị đổ bỏ cùng với nước đã luộc rau củ hoặc trái cây — là nơi chúng tồn tại một cách tự nhiên.

Wherever streams pelter[167] down the mountainside and currents gurgle and eddy in the sunlight, etheric vitamins are being manufactured:-

Bất cứ nơi nào có các dòng suối tuôn tràn từ sườn núi và các dòng chảy róc rách, lượn xoáy dưới ánh mặt trời, các vitamin dĩ thái đang được tạo ra:

This darksome burn, horseback brown,

Dòng suối âm u này, màu nâu yên ngựa,

His rollrock highroad roaring down,

Lăn cuồn cuộn như đường lớn đổ dốc,

In coop and in comb the fleece of his foam

Trong chuồng và lược, lớp bọt trắng như lông cừu,

Flutes and low to the lake falls home.

Rì rầm rơi về phía hồ.

Inversnaid, by Gerard Manly Hopkins

Inversnaid, của Gerard Manly Hopkins.

The sea itself, especially on its surface, is a fine reservoir of etheric vitamins. Its churning and whipping[168] actions produce them, and the fine traces of all kinds of salts in solution in sea water store them. Such storage is not lost when the salts, baked out of trapped sea water by a benevolent sun, find their way to our table (see section on “Salt”). The fine mist and sometimes even a spray seen above sea water may be indicative of many physical forces at play, but they also point to the interpenetrating etheric matrix of the water as it elaborates its own etheric vitamins.

Chính biển cả, đặc biệt là trên bề mặt của nó, là một kho chứa vitamin dĩ thái tuyệt vời. Sự khuấy động và đánh bông của biển tạo ra chúng, và các vết dấu mỏng manh của đủ loại muối hòa tan trong nước biển lưu trữ chúng. Sự lưu trữ này không mất đi khi các muối đó — được nung khô từ nước biển bị giữ lại bởi mặt trời từ ái — đến được bàn ăn của chúng ta (xem phần “Muối”). Lớp sương mịn và thậm chí là những tia nước bắn lên trên mặt biển có thể chỉ ra sự hiện diện của nhiều lực vật lý, nhưng chúng cũng cho thấy khuôn mẫu dĩ thái đang xuyên suốt trong nước khi nó tạo ra chính các vitamin dĩ thái của mình.

In South Africa, the Zulus, one of the last near-to-perfect physical specimens on the planet, use sea water, swallowed and regurgitated[169], as a natural remedy for intestinal disorders and always prize a bottle of sea water brought back to Zululand by a visiting cousin fortunate enough to have been near the seashore. No wonder the old men of the sea are nostalgic[170] over its effects:-

Tại Nam Phi, người Zulu — một trong những giống người có thân thể gần như hoàn hảo cuối cùng còn lại trên hành tinh — dùng nước biển, nuốt vào rồi nôn ra, như một phương thuốc tự nhiên cho các rối loạn đường ruột và luôn trân quý một chai nước biển được người anh em họ mang về từ bờ biển. Không có gì lạ khi những ông già từng sống gắn bó với biển lại mang theo nỗi hoài niệm sâu sắc về tác dụng của nó:

I must down to the seas again, to the lonely sea and the sky,

Tôi phải trở về với biển cả, với biển vắng và bầu trời,

And all I ask is a tall ship and a star to steer her by,

Tất cả điều tôi cần là một con tàu cao và một vì sao để dẫn lối,

And the wheel’s kick and the wind’s song and the white sail’s shaking,

Cú giật của tay lái, khúc hát của gió và cánh buồm run rẩy,

And a grey mist on the sea’s face, and a grey dawn breaking.

Và màn sương xám trên mặt biển, cùng bình minh xám đang hé mở.

I must down to the seas again, for the call of the running tide

Tôi phải trở về với biển cả, vì lời gọi của dòng thủy triều

Is a wild call and a clear call that may not be denied;

Là một tiếng gọi hoang dã và rõ ràng, không thể khước từ;

And all I ask is a windy day with the white clouds flying,

Tôi chỉ cần một ngày lộng gió, với mây trắng bay vút,

And the flung spray and the blown spume, and the sea-gulls crying.

Với bọt nước văng tung tóe và làn sương biển thổi bùng, tiếng mòng biển kêu vang.

I must down to the seas again, to the vagrant gypsy life,

Tôi phải trở về với biển cả, với đời lang bạt như người Digan,

To the gull’s way and the whale’s way where the wind’s like a whetted knife;

Với đường bay của mòng biển, với hành trình của cá voi nơi gió như lưỡi dao sắc;

And all I ask is a merry yarn from a laughing fellow-rover

Tất cả tôi cần là một câu chuyện vui từ người bạn đồng hành cười vang

And quiet sleep and a sweet dream when the long trick’s over.

Và một giấc ngủ yên, một giấc mộng ngọt ngào khi phiên trực dài đã khép lại.

Sea Fever, by John Masefield (1878-1967). Poet Laureate, (1930-1967).

Cơn sốt biển, của John Masefield (1878–1967), Thi nhân đăng quang Anh quốc (1930–1967).

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-73.webp

Submarine explosions, a frequent occurrence in the greatest depths of the oceans, also produce etheric vitamins, indispensible[171] to the strange creatures that inhabit those dark regions where sun-induced etheric vitamins are non-existent.

Các vụ nổ dưới lòng biển — một hiện tượng thường xuyên xảy ra ở những độ sâu lớn nhất của đại dương — cũng tạo ra các vitamin dĩ thái, vốn không thể thiếu đối với những sinh vật kỳ lạ cư ngụ trong các vùng tối tăm nơi vitamin dĩ thái do ánh mặt trời sinh ra hoàn toàn không hiện hữu.

The exposure of pure water to sunlight filtered through colours stimulates production of etheric vitamins of different qualities. Water solarised by violet light, for instance, would tend to produce those vitamins suitable for wound healing; green light is more appropriate in its solarising effects for nerve and muscle disorders. (1) Trees like the Eucalyptus and Pine produce, through their transpiration, recombinations of prana which, as vitamins, are especially beneficial to Man. (2) The wonderful Flower Remedies of Dr. Bach were originally created through the effect of the rising sun on globules of dew lying on the surfaces of certain wild English country flowers. These remedies act in ways unaccountable to restore health in a variety of disorders. (3) Remembering the unusual properties of water and the accumulator-effect of symmetrical shapes (especially the sphere), the ways in which nature produces and stores etheric vitamins, as in spheres of dew, become conceivable. Pure water, distilled water (4) and dew have tremendous absorptive powers.

Việc phơi nước tinh khiết dưới ánh sáng mặt trời đã được lọc qua các màu sắc sẽ kích thích việc tạo ra các vitamin dĩ thái với các phẩm chất khác nhau. Chẳng hạn, nước được mặt trời hóa bằng ánh sáng màu tím sẽ có xu hướng tạo ra các vitamin phù hợp với việc chữa lành vết thương; ánh sáng màu xanh lục thì có hiệu quả mặt trời hóa phù hợp hơn cho các rối loạn thần kinh và cơ. (1) Những cây như bạch đàn và thông, qua quá trình thoát hơi nước, tạo ra các tổ hợp lại của prana, và dưới dạng các vitamin, chúng đặc biệt có lợi cho con người. (2) Các phương thuốc hoa tuyệt vời của Tiến sĩ Bach ban đầu được tạo ra nhờ hiệu ứng của mặt trời mọc lên các giọt sương nằm trên bề mặt của một số loài hoa dại ở miền quê nước Anh. Những phương thuốc này hoạt động theo những cách không thể lý giải được để phục hồi sức khỏe trong nhiều loại rối loạn. (3) Khi ghi nhớ các đặc tính bất thường của nước và hiệu ứng tích lũy của các hình dạng đối xứng (đặc biệt là hình cầu), ta có thể hiểu được cách mà thiên nhiên sản sinh và lưu trữ các vitamin dĩ thái — như trong những giọt sương hình cầu. Nước tinh khiết, nước cất (4) và sương sớm có năng lực hấp thụ rất mạnh.

(1) See The Jewel In The Lotus, pages 84 and 87, by Dr. D. M. Baker.

(1) Xem Viên Ngọc Hoa Đài Sen, các trang 84 và 87, của Tiến sĩ D. M. Baker.

(2) Ibid.

(2) Như trên.

(3) See Esoteric Healing, Part III, by Dr. D. M. Baker.

(3) Xem Chữa Lành Huyền Môn, Phần III, của Tiến sĩ D. M. Baker.

(4) See special section on “Distilled Water”.

(4) Xem phần đặc biệt về “Nước Cất”.

It should always be remembered that Man was etheric before he was physical and that etheric vitamins are older and therefore more basic to the health than ordinary vitamins.

Cần luôn nhớ rằng con người là dĩ thái trước khi là thể chất, và do đó, các vitamin dĩ thái cổ xưa hơn và do đó cơ bản hơn đối với sức khỏe so với các vitamin thông thường.

Effects of Etheric Vitamins—Tác Động của Vitamin Dĩ Thái

As one would expect, their effects are essentially vitalising and productive of light-heartedness[172] in the old and boisterous[173] activity in the young. They sharpen the wit and bring an alertness to the brain so that concentration and effort in any direction can be sustained.

Như người ta có thể mong đợi, tác động của chúng về cơ bản là tiếp sinh lực và tạo ra sự vui vẻ sảng khoái ở người già, sự năng động sôi nổi ở người trẻ. Chúng làm sắc bén trí tuệ và mang lại sự tỉnh táo cho não bộ để việc tập trung và nỗ lực trong bất kỳ hướng nào đều có thể được duy trì.

They potentise the voice through their action on the Throat Chakra and larynx[174] and are indispensable to oratory and operatic singing. They virilise[175] the organs of regeneration and strengthen the defense mechanism of the body through their action on the bone marrow and blood system. They ward off arteriosclerosis and prolong life.

Chúng làm mạnh mẽ giọng nói thông qua tác động lên luân xa cổ họng và thanh quản, và là yếu tố không thể thiếu cho diễn thuyết và hát opera. Chúng gia tăng sinh lực cho các cơ quan sinh sản và củng cố cơ chế phòng vệ của cơ thể thông qua tác động lên tủy xương và hệ thống máu. Chúng ngăn ngừa xơ cứng động mạch và kéo dài tuổi thọ.

The Astrology of Etheric Vitamins

Chiêm Tinh Học về Vitamin Dĩ Thái

Vulcan is coordinator and integrator of the etheric body, and most powerfully of the planets, it rules the circulation of etheric energies. It is veiled by the Moon which, in its turn, is the exoteric ruler of the Sign of Cancer, of the breasts, of milk and milk products, especially yoghurt. The harmony of Vulcan and the Moon helps to explain the wonderful synchronous action between yoghurt nutrition and etheric vitamins and the release of vital or etheric energies to the nervous system and glands.

Vulcan là hành tinh điều phối và hợp nhất thể dĩ thái, và trong số các hành tinh thì nó có quyền lực mạnh mẽ nhất, cai quản sự lưu thông của các năng lượng dĩ thái. Vulcan bị Mặt trăng che khuất — mà Mặt trăng, đến lượt nó, là chủ tinh ngoại môn của dấu hiệu Cự Giải, vốn liên quan đến bầu ngực, sữa và các sản phẩm từ sữa, đặc biệt là sữa chua. Sự hài hòa giữa Vulcan và Mặt trăng giúp lý giải tác động đồng bộ kỳ diệu giữa việc dinh dưỡng bằng sữa chua với các vitamin dĩ thái, cũng như sự phóng thích các năng lượng sinh lực hoặc dĩ thái đến hệ thần kinh và các tuyến nội tiết.

Ginseng

There are many, many claims made for the effects of ginseng. The author took it as a daily drink with honey and hot milk for some months. Being a great lover of tea, he found the two flavours antagonistic and never mixed them. There were effects undoubtedly, but like Marco Polo, also a great traveler, he was not particularly impressed. If you have ever been to Hawaii and have felt the tonic effect that that island gives everyone who visits, then you will have a good idea of what ginseng did for me.

Có rất nhiều, rất nhiều tuyên bố về các tác dụng của nhân sâm. Tác giả đã từng dùng nó như một thức uống hằng ngày với mật ong và sữa nóng trong vài tháng. Là một người yêu trà, ông thấy hai hương vị này kỵ nhau và chưa bao giờ trộn chúng lại. Không nghi ngờ gì là có những hiệu quả, nhưng giống như Marco Polo — cũng là một nhà du hành vĩ đại — ông không đặc biệt ấn tượng. Nếu bạn đã từng đến Hawaii và cảm nhận được hiệu ứng sinh lực mà hòn đảo đó mang lại cho mọi du khách, thì bạn sẽ có được hình dung rõ ràng về điều mà nhân sâm đã mang lại cho tôi.

But there were side-effects, highly acceptable to some but not experienced with enthusiasm by me. The claim that ginseng is an aphrodisiac is fully justified, at least for men! Early morning erection brought memories back of my school days, but such experiences are not sought after by Man on the Path. The root was dropped by me with alacrity. I would say that ginseng is a tonic, nothing more and nothing less. For me, the herb ginseng brought no psychic qualities nor emphasised any that were already there. Reproduced here is an extract of an article by the author’s friend Barbara Cartland, writing in Here’s Health Magazine :-

Nhưng cũng có những tác dụng phụ — có thể rất được hoan nghênh với một số người — nhưng lại không được tôi đón nhận với sự hào hứng. Việc nhân sâm được cho là một chất kích dục hoàn toàn có cơ sở, ít nhất là với nam giới! Hiện tượng cương dương vào sáng sớm khiến tôi nhớ lại những ngày còn đi học, nhưng những trải nghiệm như vậy không phải là điều người đang bước trên Con Đường tìm kiếm. Tôi đã nhanh chóng từ bỏ loại rễ này. Tôi có thể nói rằng nhân sâm là một chất bổ, không hơn không kém. Với tôi, thảo dược nhân sâm không mang lại bất kỳ phẩm chất thần linh nào cũng như không làm nổi bật bất kỳ phẩm chất tâm linh nào vốn đã có. Dưới đây là trích đoạn từ một bài viết của người bạn tác giả là Barbara Cartland, đăng trên tạp chí Here’s Health:

The word ginseng is derived from the Greek which means ‘all healing’. The Chinese wrote about ginseng over two thousand years ago, and as it was so very precious, it was kept only for their Emperors. The Chinese believed that ginseng would prevent premature ageing, stimulate the strength of those who took it and increase sexual vitality. What is particularly important is that it relieves stress, which is one of the most frightening human reactions to the mechanical world in which we live.

Từ “ginseng” xuất phát từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “chữa lành tất cả.” Người Trung Hoa đã viết về nhân sâm cách đây hơn hai ngàn năm, và vì nó vô cùng quý giá nên chỉ được dành riêng cho các Hoàng đế. Người Trung Hoa tin rằng nhân sâm sẽ ngăn ngừa lão hóa sớm, kích thích sức mạnh của người dùng nó và tăng cường sinh lực tình dục. Điều đặc biệt quan trọng là nó giúp giảm căng thẳng — một trong những phản ứng đáng sợ nhất của con người trước thế giới cơ giới hóa mà chúng ta đang sống.

Ginseng is especially beneficial if taken when flying. A businessman reported: “I used to dread my almost weekly trips to New York. It was so exhausting that it really used to take me forty-eight hours each way to recover from the journey. Then I took ginseng and my associates were amazed at how I could pick up my work on either side of the Atlantic the moment I arrived!”

Nhân sâm đặc biệt hữu ích nếu dùng trong khi đi máy bay. Một doanh nhân kể: “Tôi từng rất ngán ngẩm những chuyến đi hằng tuần đến New York. Chúng thật kiệt sức đến nỗi tôi cần đến 48 tiếng đồng hồ mỗi chiều để hồi phục. Rồi tôi dùng nhân sâm, và các đồng nghiệp vô cùng ngạc nhiên trước việc tôi có thể bắt tay vào công việc ngay khi đến nơi — bất kể là bên kia hay bên này Đại Tây Dương!”

Professor Petkov of the Faculty of Pharmacology in the Institute for Medical Training, Sofia, has found in his research on ginseng that it is of great value in treatment of neurotic and depressive states.

Giáo sư Petkov thuộc Khoa Dược lý của Viện Đào tạo Y khoa tại Sofia, đã phát hiện trong nghiên cứu của mình rằng nhân sâm rất hữu ích trong điều trị các trạng thái loạn thần kinh và trầm cảm.

Professor Brekham recommends that ginseng should be used to help men on jobs like sentry duty. Chinese soldiers carry ginseng, which they are told to take if they are wounded. This is to prevent them succumbing to shock before they can get to a hospital.

Giáo sư Brekham khuyến nghị rằng nhân sâm nên được sử dụng để hỗ trợ những người đàn ông làm công việc như trực gác. Binh lính Trung Hoa mang theo nhân sâm, và họ được dặn sử dụng nó khi bị thương — điều này giúp ngăn họ ngã quỵ vì sốc trước khi đến được bệnh viện.

There are so many reports on ginseng, of its medical value and its mental stimulation, that it would be impossible to list them all, but one proof of its efficiency is that it is used by one of the busiest of all men in our times: Dr. Henry Kissinger. It is hard to imagine anything more exhausting than his life as he flies allover the world and is expected to give his dynamic help as soon as he arrives, to some of the greatest problems that have ever faced mankind. Both he and his wife are said to take ginseng, and if a mastermind can find it effective, then it is obviously something which can help all.

Có quá nhiều báo cáo về giá trị y học và tác dụng kích thích tinh thần của nhân sâm đến nỗi không thể liệt kê hết. Nhưng một bằng chứng cho hiệu quả của nó là việc một trong những người bận rộn nhất thế giới hiện đại đã sử dụng nó: Tiến sĩ Henry Kissinger. Thật khó tưởng tượng điều gì mệt mỏi hơn cuộc sống của ông khi bay khắp thế giới và được kỳ vọng sẽ lập tức góp phần giải quyết những vấn đề lớn lao nhất mà nhân loại từng đối mặt. Cả ông và vợ ông được cho là đều dùng nhân sâm, và nếu một bộ óc siêu việt như vậy thấy nó hữu ích, thì rõ ràng đây là thứ có thể giúp tất cả mọi người.

Imperial Courtesans in China used to take ginseng in their tea to preserve their youthful beauty and vigour. Rejuvenation was, it is claimed, very obvious among the classes who could afford the precious ginseng. Even today, ginseng is considered in those areas to be the most fabulous tonic in the world, and it is believed that it will not only prolong life but also improve sexual capabilities. This belief is so prevalent that it has been said that nearly every owner of the hundreds of sampans which dot the beautiful harbour of Hong Kong, the busiest in the world, is working and saving to buy ginseng.

Các phi tần của triều đình Trung Hoa xưa thường cho nhân sâm vào trà để duy trì vẻ đẹp trẻ trung và sinh lực. Người ta nói rằng sự hồi xuân ở những tầng lớp có thể mua được nhân sâm quý giá này là điều rất rõ rệt. Ngay cả ngày nay, nhân sâm vẫn được coi là loại thuốc bổ tuyệt vời nhất trên thế giới ở những vùng đó, và người ta tin rằng nó không chỉ kéo dài tuổi thọ mà còn cải thiện khả năng tình dục. Niềm tin này phổ biến đến mức người ta nói rằng gần như mọi chủ tàu sampan trong hàng trăm chiếc neo đậu tại cảng Hong Kong — cảng bận rộn nhất thế giới — đều đang làm việc và tiết kiệm để mua được nhân sâm.

Finally, Mrs. Barbara Cartland stated that every day she takes the II Hwa Korean Ginseng Tea in its natural form, which has received an award from the Monopoly Office of Korea for the high quality of the product. “It is produced in gold granules by a secret process and I really think it makes me feel younger.” (1)

Cuối cùng, bà Barbara Cartland nói rằng mỗi ngày bà dùng trà Nhân sâm Hàn Quốc II Hwa ở dạng nguyên chất, đã được Văn phòng Độc quyền của Hàn Quốc trao giải thưởng cho chất lượng cao. “Nó được sản xuất thành dạng hạt vàng qua một quy trình bí mật và tôi thực sự cảm thấy nó khiến tôi thấy trẻ trung hơn.” (1)

(1) Extract of an article by the author’s friend Barbara Cartland, writing in Here’s Health Magazine, published monthly by Newman Turner Publications. Byfleet, England. Picture of Ginseng from the same publication.

(1) Trích từ bài viết của bà Barbara Cartland, bạn của tác giả, đăng trên tạp chí Here’s Health, xuất bản hằng tháng bởi Newman Turner Publications, Byfleet, Anh quốc. Hình ảnh nhân sâm cũng trích từ ấn phẩm này.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-74.webp

Magnetism

Magnetism may be used in treatment of wide numbers of conditions. It may also be used in preventive medicine. The subject will be dealt with in great detail in later Parts to this work. Here, we are concerned with one specific application of magnetic fields which has a wide variety of uses, both in treatment of disease and in its prevention. The method described hereafter as the Systemic Treatment can be used to alleviate symptoms commonly grouped under the heading of Stress. In practise, these are encountered in rheumatoid arthritis, eczema, asthma, high blood pressure, psoriasis, etc. The Systemic Treatment will assist in all of these. These and other conditions may require local treatment in addition to the Systemic Treatment.

Từ lực có thể được sử dụng trong việc điều trị nhiều loại bệnh lý khác nhau. Nó cũng có thể được ứng dụng trong y học dự phòng. Chủ đề này sẽ được bàn luận chi tiết hơn trong các Phần sau của tác phẩm này. Ở đây, chúng ta đang quan tâm đến một ứng dụng cụ thể của các từ trường — vốn có nhiều công dụng trong cả điều trị bệnh và phòng ngừa. Phương pháp được mô tả sau đây với tên gọi Điều Trị Hệ Thống có thể được dùng để giảm nhẹ các triệu chứng thường được xếp chung dưới nhóm Căng thẳng. Trên thực tế, những triệu chứng này thường thấy trong các bệnh như viêm khớp dạng thấp, chàm, hen suyễn, cao huyết áp, vảy nến, v.v. Điều Trị Hệ Thống sẽ hỗ trợ trong tất cả các trường hợp này. Những bệnh trạng này, và cả các tình trạng khác, có thể đòi hỏi thêm điều trị tại chỗ bên cạnh phương pháp điều trị hệ thống.

Where the causative nature of the condition or even the diagnosis is not clear, Systemic Treatment is given until more details are available. Systemic Treatment with magnetism involves the use of a Magnetic Therapy Unit, not yet generally available in the open market. However, some units are being used in research and, in this respect, the author should mention the valuable work being done in this field by his friends and colleagues who have taken up the research initiated by George de la Warr and himself in 1967. (1) In Canada, Mr. Clare Warner of Smith Falls, Ontario, and Dr. Al Smith, a senior Research Engineer of a large Texas research body and leader of the Metaphysical Institute of Technology and Enlightenment, have both taken our earlier instrumentation to more sophisticated heights and application.

Khi nguyên nhân gây ra bệnh hoặc thậm chí cả chẩn đoán chưa rõ ràng, thì phương pháp Điều Trị Hệ Thống sẽ được tiến hành cho đến khi có thêm thông tin chi tiết. Điều Trị Hệ Thống bằng từ lực liên quan đến việc sử dụng một Thiết Bị Trị Liệu Bằng Từ Lực, hiện chưa được bày bán rộng rãi trên thị trường. Tuy nhiên, một số thiết bị đang được sử dụng trong nghiên cứu, và trong lĩnh vực này, tác giả muốn đề cập đến công trình giá trị đang được thực hiện bởi các bạn hữu và đồng nghiệp — những người đã tiếp tục công trình nghiên cứu do George de la Warr và chính tác giả khởi xướng từ năm 1967. (1) Tại Canada, ông Clare Warner ở Smith Falls, Ontario, và Tiến sĩ Al Smith — một kỹ sư nghiên cứu cao cấp thuộc một tổ chức nghiên cứu lớn ở Texas và là lãnh đạo của Viện Công Nghệ và Khai Sáng Huyền Môn — cả hai đều đã phát triển các thiết bị ban đầu của chúng tôi lên một tầm cao và ứng dụng tinh vi hơn.

(1) Biomagnetism by C.W. de la Warr and Dr. Douglas Baker (reprinted 1981).

(1) Biomagnetism của C.W. de la Warr và Tiến sĩ Douglas Baker (tái bản năm 1981).

To the mind of the author, who has given something of the order of 6,000 treatments with magnetism, the effects of magnetism on stress are best shown on the symptoms of high blood pressure, raised blood cholesterol and clotting time. These three factors become the utmost concern to doctors treating candidates for coronary thrombosis or for survivors. It is interesting to note that for all three symptoms, there are widely conflicting ideas as to how to treat, or when to treat, or how much to treat. For instance, some recommended to the coronary ‘type’ daily exercise such as walking increasing distances to keep cholesterol down. Other doctors oppose this. Some suggest rigorous dieting with removal of saturated fats. Others say this is unimportant. Then there is equal disagreement over giving anti-coagulant, and so on.

Theo quan điểm của tác giả — người đã thực hiện khoảng 6.000 ca điều trị bằng từ lực — thì tác dụng của từ lực lên tình trạng căng thẳng được thể hiện rõ rệt nhất ở ba triệu chứng: huyết áp cao, mức cholesterol trong máu tăng và thời gian đông máu. Đây là ba yếu tố đặc biệt đáng lưu tâm đối với các bác sĩ khi điều trị cho bệnh nhân có nguy cơ bị huyết khối động mạch vành hoặc đã từng mắc bệnh này. Điều đáng chú ý là đối với cả ba triệu chứng này, vẫn tồn tại nhiều ý kiến trái ngược về cách điều trị, thời điểm điều trị và liều lượng điều trị. Ví dụ, một số bác sĩ khuyên những người thuộc “nhóm mạch vành” nên tập thể dục hằng ngày, như đi bộ với quãng đường tăng dần để giảm cholesterol. Số khác thì phản đối điều này. Một số lại đề xuất chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt, loại bỏ chất béo bão hòa. Trong khi đó, một số khác cho rằng điều này không quan trọng. Tương tự, việc có nên dùng thuốc chống đông máu cũng gây nhiều tranh cãi, và còn nhiều tranh luận khác nữa.

Magnetism applied as pulsating fields of variable frequencies (ranging from 250 to 800 cycles) for two periods of half-an-hour each week has proved effective in lowering cholesterol, increasing clotting time and reducing high blood pressure. The therapy unit gives out seven leads with alternating currents flowing in solenoids. These are applied strategically to the following anatomical sites on the surface of the body (see illustration below):-

Từ lực, khi được áp dụng dưới dạng các từ trường dao động với tần số thay đổi (từ 250 đến 800 chu kỳ/giây), trong hai đợt điều trị kéo dài nửa giờ mỗi tuần, đã cho thấy hiệu quả trong việc hạ thấp mức cholesterol, kéo dài thời gian đông máu và giảm huyết áp. Thiết bị trị liệu này phát ra bảy dây dẫn với dòng điện xoay chiều chảy qua các cuộn dây solenoid. Những cuộn dây này được đặt một cách chiến lược tại các vị trí giải phẫu sau đây trên bề mặt cơ thể (xem minh họa bên dưới):

1. Bilaterally, over the entry of the thoracic ducts into the venous system.

1. Song phương, ở vị trí nơi các ống ngực đi vào hệ thống tĩnh mạch.

2. Over the gall bladder.

2. Trên vùng túi mật.

3. Over the suprarenal glands.

3. Trên vùng tuyến thượng thận.

4. Over the sites of origin of the achilles tendons.

4. Tại các điểm bắt đầu của gân Achilles.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-75.webp

Depending on the age of the individual, effects begin to show after a week, but this may be much longer with older patients. The treatment is usually terminated when tests reveal an alleviation of the symptoms. Usually a maintenance treatment once every two weeks will be sufficient to keep the stress symptoms at bay, but this varies from individual to individual and in different circumstances. Obviously, for post-coronary treatment, the situation has to be watched carefully. No drugs need be used and diet changes need not be drastic.

Tùy theo độ tuổi của từng cá nhân, các hiệu quả bắt đầu xuất hiện sau khoảng một tuần, nhưng có thể kéo dài hơn nhiều đối với các bệnh nhân lớn tuổi. Việc điều trị thường được kết thúc khi các xét nghiệm cho thấy các triệu chứng đã được giảm nhẹ. Thông thường, một liệu trình duy trì mỗi hai tuần một lần sẽ đủ để giữ cho các triệu chứng căng thẳng không tái phát, nhưng điều này còn tùy thuộc vào từng cá nhân và từng hoàn cảnh khác nhau. Rõ ràng là trong điều trị sau cơn đau tim, tình trạng của bệnh nhân cần được theo dõi cẩn thận. Không cần sử dụng thuốc và cũng không cần thay đổi chế độ ăn một cách đột ngột.

It is hoped that with drug therapy falling into increasing disrepute, orthodox medicine will investigate magnetic therapy in the many conditions for which it is palliative. A more detailed account of magnetism and its uses must await a later volume.

Người ta hy vọng rằng, khi liệu pháp dùng thuốc ngày càng bị mất uy tín, nền y học chính thống sẽ điều tra sâu hơn về liệu pháp từ trong nhiều tình trạng mà nó có thể giúp làm dịu. Một trình bày chi tiết hơn về từ lực và các ứng dụng của nó sẽ được dành cho một tập sách sau.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-76.webp

Blood Transfusion

Sooner or later the esoteric student asks himself why the occultist lays such unusual stress on the true nature of the blood and the necessity for maintaining its purity under all possible conditions. Dr. L. Bendit, M.D., leads a group of medical men in answering the question of how the esotericist should face the problem of blood transfusion.

Sớm hay muộn, người học huyền môn cũng sẽ tự hỏi vì sao nhà huyền bí lại nhấn mạnh khác thường đến bản chất chân thực của máu và sự cần thiết phải duy trì độ tinh khiết của nó trong mọi hoàn cảnh có thể. Bác sĩ L. Bendit, M.D., dẫn đầu một nhóm bác sĩ để trả lời câu hỏi rằng người nghiên cứu huyền môn nên đối diện với vấn đề truyền máu như thế nào.

The matter of whether or not one should allow oneself to receive another person’s blood in case of emergency is one which can only be determined by each individual for himself. But there are a number of considerations beside that of one’s own like or dislike, which are sometimes overlooked.

Vấn đề liệu có nên cho phép bản thân tiếp nhận máu của người khác trong trường hợp khẩn cấp hay không là một vấn đề chỉ có thể được quyết định bởi từng cá nhân. Nhưng có một số yếu tố cần xem xét ngoài cảm xúc thích hay không thích cá nhân — những yếu tố đôi khi bị bỏ qua.

Two things should be made clear from the very beginning. One is that, whatever anybody may say, it is the most effective life-saver known today in certain cases. If there were anything to approach it, the endless trouble of finding donors (who are not paid, but give out of goodwill for their fellows), storing, grouping, and the tricky technique of actual transfusing would quickly be given up. The other is that, from a psychic point of view, the injection into one’s system of another person’s blood is highly repulsive. With this in mind, we have to think of the following points:-

Có hai điều cần làm rõ ngay từ đầu. Thứ nhất, dù ai nói gì đi nữa, truyền máu là một phương pháp cứu sống hiệu quả nhất hiện nay trong một số trường hợp. Nếu có phương pháp nào khả dĩ hơn, thì những rắc rối vô tận như tìm người hiến máu (những người không được trả tiền mà hiến máu vì thiện chí), bảo quản, phân nhóm máu, và kỹ thuật phức tạp của việc truyền máu sẽ sớm bị từ bỏ. Thứ hai, xét từ quan điểm tâm linh, việc đưa máu của người khác vào hệ thống sinh học của bản thân là điều cực kỳ khó chịu. Với điều này trong tâm trí, chúng ta cần suy xét các điểm sau:

1. Physical survival

1. Sự sống thể chất

If this is important, then other considerations have to be put aside. This is in line with submitting to surgery or to any of the other difficult and unpleasant things which sometimes have to be done to a sick or injured body. If one is old, or suffering from an incurable disease, is it wise to consider whether what amounts to an artificial prolongation of life is good. On the other hand, if one is young and blood transfusion may save one for a useful future, that too needs to be balanced against the objectionable side. But, particularly in the case of younger people, with family ties, one needs to think not only of oneself but of …….

Nếu điều này quan trọng, thì các yếu tố khác phải được gác lại. Điều này giống như việc chấp nhận phẫu thuật hay những thủ thuật khó chịu khác mà cơ thể bệnh tật hoặc bị thương phải trải qua. Nếu một người đã lớn tuổi, hoặc mắc bệnh nan y, thì nên cân nhắc liệu việc kéo dài sự sống một cách nhân tạo có thực sự là điều tốt. Mặt khác, nếu người đó còn trẻ và truyền máu có thể cứu sống họ cho một tương lai hữu ích, thì điều đó cũng cần được cân bằng với mặt khó chấp nhận của phương pháp. Đặc biệt trong trường hợp người trẻ, có gia đình, cần suy nghĩ không chỉ cho bản thân mà còn cho…

2. Other people

2. Người khác

To die ‘unnecessarily’ and to leave wife or children in moral distress or financially in difficulties may be the acme of selfishness. One may, on impersonal reflection, find that it is better to suffer some degree of …..

Chết một cách “không cần thiết” và để lại vợ con trong đau khổ tinh thần hoặc khó khăn tài chính có thể là đỉnh cao của sự ích kỷ. Khi suy xét một cách vô tư, ta có thể thấy rằng tốt hơn nên chấp nhận một mức độ…

3. Psychic pollution

3. Ô nhiễm tâm linh

of one’s physical organism than to insist on maintaining what one thinks of as a pure body—which may be lost in the process. The problem is not as simple as appears at first. For there is no doubt that a physically clean body is important. But there are far too many idealists who, trying to reach purity of mind and soul, concentrate almost entirely on their physical organism. They do this at the expense of clearing their emotional and mental fields of malice, anger, hatred, selfishness, moral weakness and all the many other less desirable qualities which beset most people, and which are not got rid of by the purest of diets or the most absolute physical hygiene. So self-interest at the expense of others has to be set against dislike of what amounts to etheric mingling.

…của cơ thể vật lý hơn là cố duy trì điều mà ta nghĩ là một thân thể thuần khiết — điều có thể bị mất đi trong tiến trình. Vấn đề không đơn giản như vẻ ngoài. Vì không nghi ngờ gì rằng một cơ thể sạch sẽ về mặt vật lý là quan trọng. Nhưng có quá nhiều người lý tưởng, khi cố gắng đạt tới sự thanh lọc của tâm trí và linh hồn, lại gần như tập trung hoàn toàn vào thể vật lý. Họ làm điều đó mà bỏ qua việc thanh lọc trường cảm xúc và trí tuệ khỏi sự thù hận, giận dữ, ích kỷ, yếu đuối đạo đức — những phẩm chất ít mong muốn mà chế độ ăn thuần khiết hay vệ sinh thể chất tuyệt đối cũng không loại bỏ được. Như vậy, sự ích kỷ lấy danh nghĩa đạo đức đôi khi lại trái ngược với sự từ chối hòa nhập dĩ thái.

But what, in fact, does this pollution of the etheric amount to? C. W. Leadbeater, a purist if ever there was one, was insistent on common sense. He told people that while the ill-effect of drugs could be cleared out of the system in a matter of weeks, especially if one has an alert and directed mind, the scars of severe pain would last a lifetime. One cannot foresee just what he would say today to the matter of blood transfusion, especially as the effects may go rather deeper and last longer than actually appears if one considers the life of the blood cells themselves. For the blood injected does not ‘grow’ and the cells in it do not reproduce, so that one is not permanently infected with somebody else’s tissues. The life of the cells is a matter of a few weeks, after which the host’s body should have replaced its own blood sufficiently to ensure recovery. So it may be that the impurity is far less severe and endures less long than one might fear. It should, moreover, be remembered that no cruelty is involved in getting the blood: it is freely given, with goodwill, by volunteers. And even if the donor might not be the kind of person one would make into a friend, he has shown his sense of brotherhood with others in giving his blood for them, which is a point worth thinking about.

Nhưng thực chất sự ô nhiễm dĩ thái này là gì? C.W. Leadbeater — một người theo chủ nghĩa thanh lọc nếu có ai như vậy — luôn nhấn mạnh vào lẽ thường. Ông từng nói rằng ảnh hưởng của thuốc có thể được loại bỏ khỏi hệ thống cơ thể trong vài tuần, nhất là nếu người đó có tâm trí tỉnh táo và tập trung; trong khi các vết sẹo của cơn đau dữ dội có thể kéo dài cả đời. Không thể đoán ông sẽ nói gì về truyền máu ngày nay, đặc biệt là khi xét đến việc hiệu ứng của nó có thể sâu hơn và kéo dài lâu hơn so với vẻ ngoài, nếu ta tính đến vòng đời của các tế bào máu. Vì máu được tiêm không “sinh trưởng” và các tế bào trong đó không tái tạo, nên người nhận không bị “nhiễm vĩnh viễn” mô của người khác. Tuổi thọ của các tế bào chỉ là vài tuần, sau đó cơ thể của người nhận sẽ sản sinh đủ máu của chính mình để hồi phục. Như vậy, mức độ “ô nhiễm” có thể ít nghiêm trọng hơn và kéo dài ngắn hơn so với lo lắng. Hơn nữa, máu được hiến hoàn toàn tự nguyện, xuất phát từ thiện chí, không có hành vi tàn nhẫn nào. Dù người hiến máu có thể không phải là người bạn thân thiết, thì họ đã thể hiện tinh thần huynh đệ — điều đáng để suy ngẫm.

These appear to be the main arguments for and against blood transfusion. The answer to the problem in one’s own case should not be reached by overweighing one side or the other, but by working out a balance between them in the light of the actual event. The following comments have been received from doctors who are theosophists:-

Dưới đây là những luận điểm chính ủng hộ và phản đối việc truyền máu. Câu trả lời cho vấn đề này trong từng trường hợp cá nhân không nên được đưa ra bằng cách thiên lệch về một phía, mà nên được xác định qua sự cân bằng giữa hai quan điểm dưới ánh sáng của sự kiện thực tế. Sau đây là một số ý kiến được ghi nhận từ các bác sĩ theo Thông Thiên Học:

– …. I heartily agree with the general principles stated… Surely the whole thing is an exercise in discrimination—that most difficult and highly important virtue.

– “Tôi hoàn toàn đồng ý với những nguyên tắc chung đã nêu… Rõ ràng toàn bộ vấn đề là một bài thực hành về phân biện — đức tính vừa khó khăn lại vô cùng quan trọng.”

– …. To give blood to certain elderly people may be unwise, but to young and healthy people, with 40 or 50 years of their life in front of them and with responsibilities to others. I would say it is most wise to transfuse if necessary.

– “Truyền máu cho người già có thể là điều không khôn ngoan, nhưng với người trẻ khỏe mạnh, còn 40 hoặc 50 năm trước mắt và có trách nhiệm với người khác, tôi cho rằng việc truyền máu khi cần là điều hoàn toàn sáng suốt.”

– …. Incidentally, from a theosophical point of view, anyone who had to go through this experience could then make use of all he had learned theoretically of the power of thought to cleanse his own aura.

– “Xét từ quan điểm Thông Thiên Học, người trải qua kinh nghiệm này có thể áp dụng những gì mình đã học được về quyền năng của tư tưởng để thanh lọc hào quang của mình.”

– …. Dr. Besant is said to have been very scornful to a lady who prided herself that she had refused to have her etheric and astral poisoned with an anaesthetic when having a minor operation of some kind. It was pointed out to her that the pain she endured had done her vehicles much more harm than the poisoning from the anaesthetic could have done, and that she had therefore shown a certain lack of wisdom.

– … Người ta kể rằng Bà Besant đã tỏ thái độ rất khinh bỉ đối với một phụ nữ tự hào rằng bà ta đã từ chối dùng thuốc gây mê trong một cuộc tiểu phẫu nào đó vì sợ làm “nhiễm độc” thể dĩ thái và thể cảm dục của mình. Bà được chỉ ra rằng, cơn đau mà bà ta phải chịu đựng thực ra đã gây hại cho các thể của bà nhiều hơn rất nhiều so với bất kỳ “sự nhiễm độc” nào do thuốc gây mê, và do đó, bà đã thể hiện một sự thiếu minh triết nhất định.

– …. The lifetime of one’s longest living blood cells is about three months only (many live only a few days) and blood cells which are transferred to one are said to last only a week or less. So the period of mixing is very short.

– “Tuổi thọ của tế bào máu dài nhất chỉ khoảng ba tháng (nhiều tế bào chỉ sống vài ngày), và tế bào máu truyền thường chỉ tồn tại trong cơ thể chưa đến một tuần. Vì vậy, thời gian hoà trộn là rất ngắn.”

– … After all, at our present stage of civilisation, we are mixing our auras with others all the time, in food we eat, especially when cooked by others, and also when we sit close together in public vehicles, theatres, etc.

– “Dù sao đi nữa, ở giai đoạn văn minh hiện nay, chúng ta luôn hòa lẫn hào quang của mình với người khác — qua thức ăn do người khác nấu, khi ngồi gần nhau trên phương tiện công cộng, trong rạp hát, v.v.”

The present craze for blood transfusion under numerous conditions ranging from the severe to the trivial arouses problems for the serious student, the solving of which he may need more information than is usually at his disposal. The problem is the more acute in that even in the case of slight shock or haemorrhage, a transfusion is more than likely to be administered almost before the patient is aware of what is happening. It is taken so much for granted by hospital authorities that it has become a routine practice, and the idea that anyone could take exception to receiving a blood transfusion is unlikely to occur to them.

Hiện nay, việc truyền máu trong vô số tình huống, từ nghiêm trọng đến tầm thường, đang trở thành một trào lưu gây ra không ít vấn đề cho những người nghiên cứu nghiêm túc, những người mà để giải quyết vấn đề ấy, có thể cần đến nhiều thông tin hơn mức mà họ thường có sẵn. Vấn đề trở nên cấp bách hơn vì ngay cả trong những trường hợp bị choáng nhẹ hay xuất huyết, việc truyền máu rất có khả năng sẽ được thực hiện gần như ngay lập tức, thậm chí trước khi bệnh nhân kịp nhận thức được điều gì đang xảy ra. Việc này được các cơ sở y tế coi là điều hiển nhiên đến mức đã trở thành một thủ tục thường quy, và việc ai đó phản đối việc nhận truyền máu dường như chưa từng được họ cân nhắc đến.

There are, of course, grave objections in the minds of many, both on aesthetic and occult grounds, to the indiscriminate acceptance into their bodies of whole blood or serum derived from it, especially when one calls to mind that any Tom, Dick or Harry is welcomed as a blood donor and in consequence the ‘blood bank’, as it is called, is a varient witches’ brew which may contain the blood and its accompanying prana of individuals who may have possessed most undesirable characters as well as the traces of disease which even the most careful tests are unable to discover. There is a long list of tragic occurrences in this connection, including the transmission of syphilis in quite a number of instances.

Dĩ nhiên, trong tâm trí của nhiều người vẫn tồn tại những phản đối nghiêm trọng, cả về mặt thẩm mỹ lẫn huyền linh, đối với việc một cách bừa bãi tiếp nhận vào cơ thể họ máu toàn phần hoặc huyết thanh chiết xuất từ máu, đặc biệt là khi nhớ lại rằng bất cứ ai – dù là Tom, Dick hay Harry – đều có thể được chấp nhận làm người hiến máu, và hậu quả là cái gọi là “ngân hàng máu” trở thành một dạng nồi lẩu phù thủy pha tạp có thể chứa đựng máu và prana đi kèm của những cá nhân có thể sở hữu những đặc tính cực kỳ không mong muốn, cũng như mang trong mình dấu vết của các bệnh tật mà ngay cả các xét nghiệm cẩn trọng nhất cũng không thể phát hiện ra. Đã có một danh sách dài những trường hợp bi thảm liên quan đến vấn đề này, bao gồm cả việc lây truyền bệnh giang mai trong khá nhiều trường hợp.

One has to bear in mind that blood transfusion is one of the most intimate fusions between the tissues and life-fluids of the bodies of two individuals that is possible. Blood is not just a fluid, but as much a tissue of the body as muscle, gland or bone. So one has to make up one’s mind whether one desires to have such an intimate fusion with another individual or a number of individuals. It is for this reason that many feel that one could only accept blood from someone already intimately related to oneself—say a member of one’s family, a close friend, a husband or wife.

Người ta cần nhớ rằng truyền máu là một trong những sự dung hợp mật thiết nhất có thể xảy ra giữa các mô và lưu chất sinh mệnh của hai thân thể khác nhau. Máu không chỉ là một chất lỏng, mà còn là một mô cơ thể chẳng khác gì cơ, tuyến hay xương. Do đó, người ta cần phải cân nhắc kỹ lưỡng xem mình có thực sự mong muốn có một sự dung hợp mật thiết như vậy với một cá nhân – hay có thể là nhiều cá nhân – khác hay không. Chính vì lý do đó mà nhiều người cảm thấy rằng mình chỉ nên tiếp nhận máu từ những người có mối liên hệ mật thiết với bản thân – như một thành viên trong gia đình, một người bạn thân, người chồng hay người vợ.

On the other hand, one is constantly assured that blood transfusion is vitally necessary to save life. This statement ignores the fact that lives were being saved just as efficiently, according to a number of medical authorities, before blood transfusion became popular, by the intravenous injection of special mixtures of gum-acacia and saline.

Mặt khác, người ta liên tục được nghe rằng truyền máu là điều sống còn để cứu sống bệnh nhân. Nhưng tuyên bố này lại phớt lờ thực tế rằng, theo lời nhiều chuyên gia y học, trước khi truyền máu trở nên phổ biến, việc tiêm tĩnh mạch các hỗn hợp đặc biệt gồm keo gôm và dung dịch muối sinh lý vẫn đang cứu sống con người một cách hiệu quả tương đương.

A Dr. G.E Gibbard wrote in The Lancet (February 1949, p. 369) to express his amazement that anyone could offer for human consumption a fluid of such dangerous potentialities as human plasma when gum-saline had for thirty years proved its value as “a safe, effective and sometimes life-saving fluid.” He said: “Anyone who has worked with modern intravenous minded doctors must know that a plentiful supply of an intravenous fluid conveniently packed is a sufficient invitation to ensure its use. If it is as poisonous as the label on the bottle (of blood plasma) suggests—and indeed it may be worse—it ought never to be distributed for general use.”

Bác sĩ G.E. Gibbard đã viết trên tạp chí The Lancet (tháng 2 năm 1949, trang 369) để bày tỏ sự kinh ngạc của ông rằng ai đó có thể dám đưa ra một loại chất lỏng nguy hiểm như huyết tương người để sử dụng cho con người, khi mà dung dịch keo muối sinh lý đã chứng minh giá trị của nó suốt ba mươi năm qua như là “một chất lỏng an toàn, hiệu quả và đôi khi có thể cứu mạng.” Ông nói: “Bất cứ ai đã từng làm việc với các bác sĩ hiện đại ưa dùng phương pháp truyền tĩnh mạch đều biết rằng chỉ cần có sẵn một nguồn cung cấp dồi dào các dung dịch truyền được đóng gói tiện lợi là đã đủ để đảm bảo nó sẽ được sử dụng. Nếu như loại huyết tương người ấy thật sự độc hại như chính nhãn cảnh báo trên chai mô tả – và có thể nó còn tệ hơn thế – thì lẽ ra nó không bao giờ nên được phân phối để sử dụng đại trà.”

Fortunately, within recent years a new product—Dextran—has been fully tested and put on the market as an effective substitute for blood-plasma. A patient is entitled to ask for this or carry on his person an instruction to hospital authorities to use this in preference to human blood. The proprietary for the product is Dextraven, prepared by Benger Laboratories, Ltd. It is claimed by the manufacturers (Lancet, October 17, 1959, p. 30) that: “In every surgical or emergency transfusion Dextraven provides the simplest, safest and most effective method of restoring the circulating blood volume. Dextraven has none of the complications associated with the administration of blood or plasma.” It is compatible with all blood groups.

May mắn thay, trong vài năm gần đây, một sản phẩm mới – Dextran – đã được kiểm nghiệm kỹ lưỡng và đưa ra thị trường như một chất thay thế hiệu quả cho huyết tương người. Một bệnh nhân có quyền yêu cầu sử dụng sản phẩm này, hoặc mang theo bên mình một chỉ dẫn gửi đến các cơ sở y tế để yêu cầu họ dùng sản phẩm này thay cho máu người. Tên thương mại của sản phẩm là Dextraven, do Benger Laboratories, Ltd. sản xuất. Theo lời nhà sản xuất (Lancet, ngày 17 tháng 10 năm 1959, trang 30), họ khẳng định rằng: “Trong mọi ca phẫu thuật hoặc truyền cấp cứu, Dextraven cung cấp phương pháp đơn giản nhất, an toàn nhất và hiệu quả nhất để phục hồi thể tích máu tuần hoàn. Dextraven không mang những biến chứng thường đi kèm với việc truyền máu hay huyết tương.” Nó tương thích với tất cả các nhóm máu.

It is quite clear, therefore, that the use of human blood or plasma is quite unnecessary; that patients have a perfect right to refuse the former and ask for a substitute; and that the medical authorities have no excuse whatsoever for refusing to comply with the request, since a product is readily available for immediate transfusion and there is no need for any preliminary and complicated blood tests for the purpose of grouping.

Vì vậy, hoàn toàn rõ ràng rằng việc sử dụng máu hay huyết tương người là hoàn toàn không cần thiết; rằng bệnh nhân hoàn toàn có quyền từ chối tiếp nhận máu và yêu cầu sử dụng chất thay thế; và rằng các nhà chức trách y tế không có bất kỳ lý do nào để từ chối yêu cầu đó, vì sản phẩm thay thế đã sẵn có để sử dụng ngay lập tức, và không cần đến các xét nghiệm máu phức tạp và mất thời gian nhằm xác định nhóm máu.

From The Theosophical Journal. January-February 1960.



[1] Viêm khớp dạng thấp.

[2] Viêm xương khớp

[3] Chứng cứng khớp

[4] (sự) ăn mòn, trượt da, sướt

[5] nguyên nhân bệnh

[6] ngăn, chặn (sự chảy của nước..)

[7] tàn phá

[8] tàn phá

[9] sự) làm tệ hại thêm; (sự) làm trầm trọng (bệnh, sự tức giận, sự đau đớn)

[10] (một cách) kỳ cục;(một cách) kệch cỡm

[11] người bệnh tật, người tàn tật, người tàn phế

[12] tàn sát nhiều; sát hại nhiều; giết hại nhiều; tiêu hao nhiều

[13] dễ bị; dễ mắc; dễ bị ảnh hưởng; dễ bị tổn thương

[14] đường nứt; kẽ; khe; khoảng cách

[15] ngón chân (người)

[16] kẻ có tội; thủ phạm

[17] khăn lau; khăn tắm

[18] cọ xát; chà xát; xoa; xoa bóp

[19] thuộc gia đình; thuộc người trong gia đình; có quan hệ huyết thống

[20] hành hạ; tra tấn; làm khổ

[21] (sự) làm tệ hại thêm; (sự) làm trầm trọng (bệnh, sự tức giận, sự đau đớn)

[22] (y học) bệnh lậu (như gonorrhoea)

[23] (sinh vật học) thuộc về bạch huyết

[24] báo trước; thuộc tiền triệu chứng (y học)

[25] sự khó ở; tình trạng bất ổn; nỗi khó chịu; tình trạng khó chịu (trước khi bệnh)

[26] làm cho mất hiệu lực; làm vô hiệu lực; làm yếu sức mạnh của (cái gì)

[27] (y học) chứng tim đập nhanh; chứng mạch nhanh

[28] hồng cầu (như red corpuscle; red blood cell)

[29] (y học) cục u nhỏ; bướu nhỏ

[30] (giải phẫu) gân; dây chằng

[31] cổ tay (khớp nối để bàn tay cử động)

[32] thuốc chống đông tụ (máu)

[33] (từ hiếm,nghĩa hiếm) độc

[34] sự tước đi

[35] không thay đổi; đều

[36] văn chương) vùng; miền; xứ (có khí hậu đặc biệt) (thường được sử dụng ở số nhiều)

sunnier climes – vùng có miền khí hậu nắng hơn

[37] làm cao cả; làm cao quý; làm cao thượng

[38] cây cà dược (cũng gọi là deadly nightshade) – thuốc điều chế từ cây cà dược

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-77.webp

[39] (giải phẫu) thuộc về cổ

[40] (y học) (sự) chảy dịch thể (máu, huyết tương)

[41] (thuộc) khớp

[42] Quanh khớp

[43] (y học) làm mất cảm giác đau, làm giảm đau

[44] cạn kiệt

[45] chứng sung huyết (cũng gọi là hyperemia)

[46] (y học) tình trạng giãn mạch máu, nhất là động mạch, khiến cho lưu lượng máu tăng lên hoặc huyết áp giảm xuống

[47] chán ăn tâm thần

[48] (sự) làm gầy mòn; (sự) làm hốc hác; (sự)gầy mòn; (sự) hốc hác

[49] làm yếu sức; làm suy nhược

[50] phim thời sự

[51] làm đau đớn; làm đau khổ; đau lòng

[52] (từ cổ) sự quá kích động; sự cuồng loạn

[53] bệnh mãn tính gây ra các triệu chứng: chán ăn, sụt cân, yếu cơ và suy nhược thần kinh lẫn cơ thể

[54] thuộc về thể xác

[55] (y) hội chứng hoảng sợ; hội chứng sợ hãi

[56] thuộc, có hoặc gây ra ám ảnh

[57] (+ over, about, of, on) tư lự; trầm ngâm suy nghĩ; ngẫm nghĩ; nghiền ngẫm

[58] quan liêu nghi thức

[59] hạ bệ; làm mất (thanh thế…)

[60] chân (có móng, vuốt của mèo, hổ…)

[61] quả dưa

[62] cảm giác như mình từng trải qua một việc gì đó (dù bây giờ mới là lần đầu tiên mình thực sự trải qua); cảm giác ngờ ngợ (xem thêm jamais vu)

[63] dễ hiểu; rõ ràng; minh bạch

[64] môn thuốc được giới thiệu giả dối là có hiệu quả; thuốc lang băm

[65] (thuộc) răng hàm

[66] thuốc chữa bách bệnh; thuốc chữa mọi bệnh tật

[67] (giải phẫu) hình vành; coronary arteries: động mạch vành

[68] sự đút nút, sự bít; tình trạng bị đút nút, tình trạng bị bít

[69] [,æθi’roumə] (y học) chứng vữa động mạch

[70] Đóng cặn cáu ở (nồi, ấm)

[71] cục; khối; hòn (do chất lỏng hay chất đặc kết lại); cục máu

[72] [si’niləti] tình trạng suy yếu về cơ thể (tinh thần) do tuổi già; tình trạng lão suy

[73] y học) sự xơ cứng

[74] Xơ cứng động mạch

[75] [,endə’θi:liəl] (sinh vật học) (thuộc) màng trong

[76] đi kèm theo; cùng xảy ra; đồng thời

[77] không thực tế; giàu tưởng tượng

[78] sinh vật học) đường nối, đường ráp, đường khớp

[79] (y học) mở; thông (động mạch, ống dẫn…)

[80] (y học) chứng tâm thần phân liệt (cũng gọi là dementia praecox)

[81] [‘saikəpæθ] (y học) người bệnh tâm thần, người thần kinh không ổn định

[82] sự lấy lại sức; sự khôi phục sức khỏe; sự bình phục; sự phục hồi (giá cổ phiếu..)

[83] (hazard to somebody/something) mối nguy hiểm

[84] đứng yên; phẳng lặng; tĩnh mịch (cảnh)

[85] lúc có lúc không; lác đác; thảng hoặc; không đều đặn, không liên tục

[86] sự thức đêm (để trông coi hoặc để cầu nguyện)

[87] (y học) bệnh vẩy nến (bệnh của da gây ra những đốm có vẩy đỏ)

[88] (sự) làm tệ hại thêm; (sự) làm trầm trọng (bệnh, sự tức giận, sự đau đớn)

[89] (sự) tha thứ; (sự) ân xá

[90] báo trước; báo hiệu

[91] (giải phẫu) (thuộc) cơ hoành ; (thuộc) trí óc; trí tuệ

[92] Algesia: (y học) sự nhạy cảm; sự nhạy đau; hyperalgesia: cực nhạy cảm với đau đớn

[93] nặng nề, khó nhọc, phiền hà

[94] Lời nguyền rủa; người/vật bị ghét cay ghét đắng, người/vật bị nguyền rủa

[95] sự không bình thường, sự dị thường; độ dị thường

[96] (y học) âm ỉ, âm thầm (bệnh)

[97] thực tế, thực dụng

[98] (thuộc) dấu vết; còn lại như một dấu vết

[99] Ataxy: (sự) mất điều hoà

[100] Glycemia: (extra) presence of sugar in the blood (Medicine)

[101] sự sớm phát triển (cây, người..)

[102] bệnh hen, bệnh suyễn

[103] ngẫu nhiên, tình cờ

[104] (thuộc) cuống phổi

[105] (y học) sự co thắt

[106] nước nhầy

[107] lớp gỗ che tường; lớp gạch giữ bờ đất; lớp đá giữ bờ đất

[108] thuốc kích thích

[109] sự ghì chặt; sự siết chặt

[110] chỗ sưng lên dưới da do nhiễm trùng và sinh ra mủ; nhọt, đinh

[111] nhọt; cụm nhọt (trên mũi hay mặt)

[112] ngứa

[113] lão khoa (như gerontology)

[114] (giải phẫu) thuộc về động mạch chủ

[115] cắt amidan

[116] sự tỉa cành, sự xén cành

[117] (y học) (sự) chảy máu; (sự) xuất huyết

[118] (y học) sự nhiễm trùng

[119] tác động đến dương vật

[120] amidan

[121] (y học) nấm V. A.; sùi vòm họng

[122] bệnh chàm dị ứng

[123] phát bệnh

[124] (+ from something) xuất phát từ, nảy sinh từ, bắt nguồn từ, là nguồn gốc của, là nguyên nhân của

[125] suối Pierian bên trong

[126] khô cạn

[127] không thấu qua được, không thấm (nước…) = imperviable

[128] (thuộc) đồ ăn, dinh dưỡng, bổ dưỡng

[129] the results of a particular event, especially when they are unexpected; the dangerous radioactive dust which is left in the air after a nuclear explosion and which slowly falls to earth:

[130] sự cấy (vi khuẩn); số lượng vi khuẩn cấy; mẻ cấy vi khuẩn

[131] (y học) tế bào trứng của nữ

[132] bẩm sinh

[133] sự khác thường

[134] sự quấn lại, sự xoắn lại – nếp, cuộn

[135] (y học) mô ghép; sự ghép mô; chỗ ghép mô

[136] khuyên can, khuyên ngăn, can gian, can ngăn

[137] (giải phẫu) amiđan

[138] sự làm cho người mắc bệnh nan y chết một cách nhẹ nhàng và không đau đớn; sự làm chết không đau đớn

[139] tính cương, tính trương (của bắp thịt)

[140] thời kỳ dưỡng bệnh

[141] (y học) chứng đần độn, ngu si

[142] (y học) phù phiếm

[143] sự ngu si, sự ngu ngốc

[144] sự xiên, sự chéo, sự chếch

[145] có đặc tính của hội chứng Down

[146] lùn và mập (người)

[147] sự ngẩn ngơ; trạng thái sững sờ

[148] [,skitsou’fri:niə] (y học) bệnh tâm thần phân liệt

[149] (sinh vật học) lặn (đặc tính trong di truyền)

[150] quyền bá chủ, quyền lãnh đạo

[151] mảnh, thanh, mỏng manh (chỉ..)

[152] môn bóng bầu dục (như) rugby football

[153] đuổi; trục xuất; hất cẳng

[154] Trích từ Wide World, tháng 1 năm 1965.

[155] Trích từ Con Mắt Thứ Ba của Lobsang Rampa.

[156] Một thử nghiệm đã trải qua trong lần điểm đạo vài tháng trước đó.

[157] Thơ Browning

[158] Một bài Sonnet của Douglas Baker, trích Jewel In The Lotus, trang 8.

[159] Meditation, The Theory And Practice, trang 65.

[160] Meditation, The Theory And Practice, trang 124–126.

[161] nêu lên để bàn (vấn đề)

[162] (y học) sự mất kinh

[163] Kinh nguyệt trắc trở

[164] Rong kinh

[165] (y học) màng trong dạ con

[166] hôn hít và vuốt ve nhau; âu yếm (người đàn ông đối với người phụ nữ)

[167] trút xuống, sự đập xuống, sự đập mạnh (mưa)

[168] trận roi, trận đòn; sự đánh đập, sự quất

[169] đưa (thức ăn đã nuốt) trở lại đằng mồm; ợ ra

[170] luyến tiếc quá khứ; hoài cổ

[171] tất yếu; không thể thiếu được

[172] cheerful and not worried about anything:

[173] náo nhiệt, huyên náo, ầm ỹ

[174] giải phẫu) thanh quản

[175] develop masculine characteristics which are usually considered abnormal (as in women), masculinise (also virilize)

Leave a Comment

Scroll to Top