Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S3S10 (308-318)

📘 Sách: Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S3 – Tác giả: Michael D. Robbins

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

S3S9. was a Review Fortnight

S3S10: TCF 308-318

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.

Xin đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để bảo đảm tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn được chia nhỏ ra, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.

1. We begin Section Two proper now, following the nine Introductory Questions.

1. Giờ đây chúng ta bắt đầu đúng vào Phần Hai, tiếp theo chín Câu Hỏi Dẫn Nhập.

2. We have completed the first section of TCF, focusing particularly on the Fires of Matter. Our work is now with the largest section of the book focussing on the Fires of Mind—the middle fires, especially, solar fire.

2. Chúng ta đã hoàn tất phần thứ nhất của TCF, đặc biệt tập trung vào các Lửa của Vật chất. Công việc của chúng ta giờ đây là với phần lớn nhất của cuốn sách, tập trung vào các Lửa của Trí Tuệ—đặc biệt là các lửa trung gian, Lửa Thái dương.

[Page 308]

[Page 308]

DIVISION A – MANAS OR MIND AND ITS NATURE

PHÂN ĐOẠN A – MANAS HAY TRÍ TUỆ VÀ BẢN CHẤT CỦA NÓ

I. Three manifestations of manas.

I. Ba biểu hiện của manas.

II. Some definitions of manas:

II. Một số định nghĩa về manas:

1. Manas is the fifth principle.

1. Manas là nguyên khí thứ năm.

3. In such an enumeration, we are numbering from ‘below’; buddhi is the sixth and atma the seventh.

3. Trong cách liệt kê như vậy, chúng ta đang đếm từ “dưới lên”; Bồ đề là thứ sáu và atma là thứ bảy.

2. Manas is electricity.

2. Manas là điện.

4. This links manas to the Pleiades and also to the first ray energy of electric fire.

4. Điều này liên kết manas với Pleiades và cũng với năng lượng cung một của Lửa Điện.

3. Manas is that which produces cohesion.

3. Manas là cái tạo ra sự cố kết.

5. This links manas to the second ray energy which brings about coherence to attractive love.

5. Điều này liên kết manas với năng lượng cung hai, năng lượng đem lại sự gắn kết cho tình thương hấp dẫn.

4. Manas is the key opening the door into the fifth kingdom.

4. Manas là chiếc chìa khóa mở cánh cửa đi vào giới thứ năm.

6. This is an important statement which shows the necessity of mind if there is to be penetration into the Kingdom of Souls i

6. Đây là một phát biểu quan trọng cho thấy sự cần thiết của trí tuệ nếu muốn có sự thâm nhập vào Thiên Giới của các linh hồn i

5. Manas is the synthetic vibration of five rays.

5. Manas là rung động tổng hợp của năm cung.

7. This relates manas to the third ray which is, for Brahma, the Ray of Synthesis.

7. Điều này liên hệ manas với cung ba, vốn đối với Brahma là Cung của Tổng Hợp.

8. The five rays here given are the four Rays of Attribute and the third ray (a Ray of Attribute which includes the four.

8. Năm cung được nêu ở đây là bốn Cung Thuộc Tính và cung ba (một Cung Thuộc Tính bao hàm bốn cung kia.

6. Manas is the intelligent will or ordered purpose of an existence.

6. Manas là ý chí thông tuệ hay mục đích có trật tự của một hiện hữu.

9. This links manas to the first ray (the ray of purpose) as well as to the seventh ray (the ray of order).

9. Điều này liên kết manas với cung một (cung của mục đích) cũng như với cung bảy (cung của trật tự).

We enter now upon a very important division of our subject, and take up for consideration the Fire of Mind, cosmically, systemically, and humanly considered.

Giờ đây chúng ta bước vào một phân đoạn rất quan trọng của đề tài, và bắt đầu xem xét Lửa của Trí Tuệ, được xét theo vũ trụ, theo hệ thống, và theo con người.

10. We recall this threefold divisioning of the major layers of lives that concern us. A fourth division (the life of the atom of matter/substance) is also sometimes referenced, as is, occasionally, the life of a Cosmic Logos or the still greater One About Whom Naught May Be Said.

10. Chúng ta nhớ lại sự phân chia tam phân này của các tầng lớp lớn của những sự sống liên quan đến chúng ta. Một phân chia thứ tư (sự sống của nguyên tử vật chất/chất liệu) đôi khi cũng được nhắc đến, cũng như thỉnh thoảng là sự sống của một Thượng đế Vũ Trụ hay Đấng Bất Khả Tư Nghị còn vĩ đại hơn nữa.

11. In this division the Solar Logos may be considered a “cosmic” Life, the Planetary Logos a “systemic” Life and man, of course, a human life. There are also justifications for considering a Planetary Logos a cosmic life.

11. Trong sự phân chia này, Thái dương Thượng đế có thể được xem là một Sự sống “vũ trụ”, Hành Tinh Thượng đế là một Sự sống “hệ thống”, và dĩ nhiên con người là một sự sống nhân loại. Cũng có những cơ sở để xem một Hành Tinh Thượng đế là một sự sống vũ trụ.

12. In the descriptions so far offered in the TCF, we have not often considered analogies as they apply to constellational lives (who are the true Cosmic Logoi—in the ascending scale of lives, one step beyond the Solar Logos).

12. Trong những mô tả được đưa ra cho đến nay trong TCF, chúng ta chưa thường xuyên xem xét các loại suy khi chúng áp dụng cho các sự sống chòm sao (là những Thượng đế Vũ Trụ đích thực—trong thang tăng dần của các sự sống, cao hơn Thái dương Thượng đế một bậc).

We have dealt with the fire of matter, and studied for a while its purpose, origin and work.

Chúng ta đã bàn đến lửa của vật chất, và đã nghiên cứu một thời gian về mục đích, nguồn gốc và công việc của nó.

13. Can we describe for ourselves the purpose, origin and work of the fire of matter?

13. Chúng ta có thể tự mô tả cho mình mục đích, nguồn gốc và công việc của lửa của vật chất chăng?

14. This is an ‘old’ fire and is related to the “Primordial Ray”, the third, and to the first in a series of three major solar systems.

14. Đây là một ngọn lửa “cổ xưa” và có liên hệ với “Cung Nguyên Sơ”, cung ba, và với cung một trong một chuỗi ba hệ mặt trời chính.

We considered somewhat the factor of Consciousness, and saw that the great work of a solar Logos, with all included manifesting lives, was the development of a conscious control, and a psychic awareness within certain set limits.

Chúng ta đã phần nào xem xét yếu tố Tâm thức, và thấy rằng công việc lớn lao của một Thái dương Thượng đế, cùng với mọi sự sống biểu hiện bao hàm trong đó, là sự phát triển của một sự kiểm soát có ý thức, và một nhận biết thông linh trong những giới hạn nhất định.

15. We see that the Tibetan is definitely conducting a much-needed review.

15. Chúng ta thấy rằng Chân sư Tây Tạng rõ ràng đang tiến hành một sự ôn lại rất cần thiết.

16. In our particular solar system, the purpose of the Solar Logos centers on the development of consciousness.

16. Trong hệ mặt trời đặc thù của chúng ta, mục đích của Thái dương Thượng đế tập trung vào sự phát triển của tâm thức.

17. Like the human being and the Planetary Logos, the Solar Logos seeks the development of conscious control and the augmentation of psychic awareness. The word “psychic” relates mainly to the dimension of soul and to consciousness in general.

17. Giống như con người và Hành Tinh Thượng đế, Thái dương Thượng đế tìm kiếm sự phát triển của sự kiểm soát có ý thức và sự gia tăng nhận biết thông linh. Từ “thông linh” chủ yếu liên hệ đến chiều kích của linh hồn và đến tâm thức nói chung.

18. The control relates to the cosmic physical plane and the awareness to the cosmic astral plane (the cosmic plane whereon He is polarized). He is also seeking cosmic mental polarization which He has not yet achieved.

18. Sự kiểm soát liên hệ đến cõi hồng trần vũ trụ và sự nhận biết liên hệ đến cõi cảm dục vũ trụ (cõi vũ trụ nơi Ngài phân cực). Ngài cũng đang tìm kiếm sự phân cực trí tuệ vũ trụ mà Ngài vẫn chưa đạt được.

We have been told that the solar Logos, on the cosmic planes, works at the problem of cosmic mind; that He functions in His physical solar system, is polarised in His cosmic astral, or emotional body, and is developing cosmic mind. (LOM 52-53)

Chúng ta đã được cho biết rằng Thái dương Thượng đế, trên các cõi vũ trụ, đang làm việc với vấn đề của trí tuệ vũ trụ; rằng Ngài hoạt động trong hệ mặt trời vật lý của Ngài, phân cực trong thể cảm dục, hay cảm xúc, vũ trụ của Ngài, và đang phát triển trí tuệ vũ trụ. (LOM 52-53)

Having laid down these preliminary foundation thoughts, we need now to block out, for the sake of clarity, the mass of material that is available on the subject of the manasic fire, which is the animating principle of consciousness itself. Let us first of all get one broad general outline and then proceed to fill in the details. [Page 309]

Sau khi đã đặt ra những tư tưởng nền tảng sơ bộ này, giờ đây chúng ta cần phác thảo, vì sự minh bạch, khối lượng tài liệu hiện có về đề tài lửa manas, vốn là nguyên khí sinh động của chính tâm thức. Trước hết, hãy nắm lấy một đại cương rộng lớn rồi sau đó tiến tới điền đầy các chi tiết. [Page 309]

19. DK follows a general didactic method, proceeding from the general to the particular.

19. Chân sư DK theo một phương pháp giảng dạy tổng quát, tiến từ cái chung đến cái riêng.

20. We are told that manasic fire “is the animating principle of consciousness itself”. This statement, quietly mentioned, could escape notice, but it is profound. If consciousness is present, is manasic fire also present? Is there no consciousness unless it is animated by manasic fire? Or is it human consciousness which seems inescapably related to manasic fire? Are there types of consciousness in which the factor of manas is minimal?

20. Chúng ta được cho biết rằng lửa manas “là nguyên khí sinh động của chính tâm thức”. Phát biểu này, được nhắc đến một cách lặng lẽ, có thể thoát khỏi sự chú ý, nhưng nó rất sâu sắc. Nếu tâm thức hiện diện, thì lửa manas cũng hiện diện chăng? Có phải không có tâm thức nào trừ phi nó được lửa manas làm sinh động? Hay đó là tâm thức nhân loại dường như gắn liền không thể tránh khỏi với lửa manas? Có những loại tâm thức trong đó yếu tố manas là tối thiểu chăng?

21. The word “animating” is important as it relates to “anima” or soul. Manasic fire provides soul-animated consciousness.

21. Từ “sinh động” là quan trọng vì nó liên hệ đến “anima” hay linh hồn. Lửa manas cung cấp tâm thức được linh hồn làm sinh động.

22. VSK queries: “And can we anticipate, what would details to such systems be?

22. VSK nêu câu hỏi: “Và liệu chúng ta có thể dự đoán, những chi tiết của các hệ thống như thế sẽ là gì chăng?

23. VSK continues: “This method of ‘pre-thinking’ what may be coming, before reading ahead, is one way for serious students of TCF to deepen their perception of how The Tibetan’s mind structures the study.”

23. VSK tiếp tục: “Phương pháp ‘suy nghĩ trước’ về điều có thể sắp đến, trước khi đọc tiếp, là một cách để các đạo sinh nghiêm túc của TCF đào sâu nhận thức của mình về cách Trí Tuệ của Chân sư Tây Tạng cấu trúc việc nghiên cứu.”

I. THREE MANIFESTATIONS OF MANAS 20

I. BA BIỂU HIỆN CỦA MANAS 20

20: “Manas is the individuality or the spiritual Ego on the side of the higher Triad, and the personality or the kamic ego on the side of the lower quaternary.

20: “Manas là biệt ngã tính hay chân ngã tinh thần về phía Tam nguyên tinh thần cao hơn, và là phàm ngã hay chân ngã cảm dục về phía bộ tứ thấp.

24. We note immediately the divisibility of manas. There are many different aspects or expressions of manas, however whole it may be in essence.

24. Chúng ta lập tức lưu ý tính khả phân của manas. Có nhiều phương diện hay biểu hiện khác nhau của manas, dù trong bản chất nó có thể là một toàn thể.

25. Higher manas is the individuality, the soul consciousness, the “spiritual Ego” when viewed from the perspective of the spiritual triad.

25. Thượng manas là biệt ngã tính, tâm thức linh hồn, “chân ngã tinh thần” khi được nhìn từ quan điểm của Tam nguyên tinh thần.

26. There is also a quality of manas which pertains to the personality or lower quaternary. Interestingly the personality is called the “kamic ego” which means that it is much directed by desire or kama. This suggests that man’s sense of himself (i.e., ego) as a personality is much determined by his desires and resultant attachments and antipathies.

26. Cũng có một phẩm tính của manas thuộc về phàm ngã hay bộ tứ thấp. Điều đáng chú ý là phàm ngã được gọi là “chân ngã cảm dục”, điều đó có nghĩa là nó được định hướng rất nhiều bởi dục vọng hay kama. Điều này gợi ý rằng cảm nhận của con người về chính mình (tức là chân ngã) như một phàm ngã được quyết định rất nhiều bởi các dục vọng của y và những sự gắn chấp cùng ác cảm phát sinh từ đó.

27. According to HPB, manas tends both towards the spiritual triad (the “Higher Triad”) and towards the lower quaternary (the personality). It is divided in its orientation.

27. Theo HPB, manas có xu hướng cả hai về phía Tam nguyên tinh thần (Tam nguyên “Cao hơn”) và về phía bộ tứ thấp (phàm ngã). Nó bị phân chia trong định hướng của mình.

Manas is the pivot of the human structure, or the centre on which the spiritual and material parts of man are made to turn.”

Manas là điểm tựa của cấu trúc con người, hay trung tâm mà trên đó các phần tinh thần và vật chất của con người được làm cho xoay chuyển.”

28. According to the quality of his manas, a man will turn either towards the spiritual or the material.

28. Theo phẩm tính của manas của y, một người sẽ quay về phía tinh thần hoặc phía vật chất.

29. Although the fifth plane is not the central plane within the cosmic physical planes, for man it is the middle point. It is certainly the middle-point of the Brahmic planes.

29. Mặc dù cõi thứ năm không phải là cõi trung tâm trong các cõi hồng trần vũ trụ, nhưng đối với con người nó là điểm ở giữa. Chắc chắn nó là điểm giữa của các cõi Brahma.

30. It is the quality and orientation of our manas which will decide whether we will serve kama or desire (on the one hand) or love (on the other).

30. Chính phẩm tính và định hướng của manas chúng ta sẽ quyết định liệu chúng ta sẽ phụng sự kama hay dục vọng (một bên) hoặc tình thương (bên kia).

“Lower manas is only a ray of the higher manas let into the fleshly tabernacle for illuminating its being and giving it thought, desire and memory.

“Hạ manas chỉ là một tia của thượng manas được đưa vào lều xác thịt để soi sáng hiện hữu của nó và ban cho nó tư tưởng, dục vọng và ký ức.

31. From HPB we see that lower manas is derivative of higher manas.

31. Từ HPB chúng ta thấy rằng hạ manas là cái phát sinh từ thượng manas.

32. The true estate of manas is outside the “fleshly tabernacle” (i.e., the personality, from one perspective and the dense physical nature, from another). The entire personality is considered, from one perspective, “body”.

32. Trạng thái đích thực của manas ở bên ngoài “lều xác thịt” (tức phàm ngã, theo một góc nhìn, và bản chất hồng trần đậm đặc, theo một góc nhìn khác). Toàn bộ phàm ngã, theo một góc nhìn, được xem là “thể”.

33. We are told that if the ray of higher manas were not admitted into the domain of the lunar vehicles, there would be no thought, desire and memory. It is easy to see that there would be no thought and (consciousness) memory, but that there would be no desire is interesting (shall we say, ‘no desire beyond instinctual desire’?).

33. Chúng ta được cho biết rằng nếu tia của thượng manas không được đưa vào lãnh vực của các vận cụ nguyệt tính, thì sẽ không có tư tưởng, dục vọng và ký ức. Thật dễ thấy rằng sẽ không có tư tưởng và ký ức (có tâm thức), nhưng việc sẽ không có dục vọng thì thật đáng chú ý (chúng ta hãy chỉ nói rằng, ‘không có dục vọng vượt quá dục vọng bản năng’ chăng?).

34. The kind of desire meant is probably kama-manas, or desire-mind. For average man, his desires are tinged by mind and his thoughts by desire. The separation of mind from desire has not yet been effected.

34. Loại dục vọng được nói đến có lẽ là kama-manas, hay trí-cảm. Đối với con người trung bình, các dục vọng của y bị nhuốm màu bởi trí tuệ và các tư tưởng của y bị nhuốm màu bởi dục vọng. Sự tách biệt trí tuệ khỏi dục vọng vẫn chưa được thực hiện.

35. We are being told that manas, as far as man is concerned, is of triadal origin.

35. Chúng ta đang được cho biết rằng manas, xét theo phương diện con người, có nguồn gốc tam nguyên tinh thần.

36. The personality is not inherently intelligent (at least not consciously so). It is the ray of higher manas admitted into the personality that renders it intelligent.

36. Phàm ngã không vốn dĩ thông tuệ (ít nhất không phải một cách có tâm thức). Chính tia của thượng manas được đưa vào phàm ngã làm cho nó trở nên thông tuệ.

“It is because manas is the turning point in the cycle that H. P. B. has considered it under the two aspects—higher and lower—the higher the attainer and experiencer of spiritual heights and the lower, the soul of the lower three, the triangle that completes embodiment.

“Chính vì manas là điểm xoay chuyển trong chu kỳH. P. B. đã xem xét nó dưới hai phương diện—cao và thấp—phương diện cao là kẻ đạt đến và trải nghiệm các đỉnh cao tinh thần, còn phương diện thấp là linh hồn của ba thể thấp, tam giác hoàn tất sự nhập thể.

37. Manas is the “turning point in the cycle” because through its aid there can be a reorientation from material desire.

37. Manas là “điểm xoay chuyển trong chu kỳ” bởi vì nhờ sự trợ giúp của nó mà có thể có một sự tái định hướng khỏi dục vọng vật chất.

38. Manas is called here “the attainer and experiencer of spiritual heights”; this means that the consciousness ego attains and experiences spiritual heights.

38. Manas ở đây được gọi là “kẻ đạt đến và trải nghiệm các đỉnh cao tinh thần”; điều này có nghĩa là chân ngã tâm thức đạt đến và trải nghiệm các đỉnh cao tinh thần.

39. Manas is the “soul of the lower three” in as much as the intelligent ego (the soul in incarnation) is the principle of identity within the personality.

39. Manas là “linh hồn của ba thể thấp” trong chừng mực chân ngã thông tuệ (linh hồn đang nhập thể) là nguyên khí của bản sắc bên trong phàm ngã.

40. We are learning of the different (and crucial) orientations of higher and lower manas and the reason why HPB always considered manas in two aspects.

40. Chúng ta đang học về những định hướng khác nhau (và có tính quyết định) của thượng và hạ manas và lý do vì sao HPB luôn xem xét manas dưới hai phương diện.

41. The program of initiation could be introduced in Atlantis because manas (the fifth principle) reached a sufficient point of development to assist in the orientation of man towards the fifth kingdom (of souls)

41. Chương trình điểm đạo có thể được đưa vào ở Atlantis vì manas (nguyên khí thứ năm) đã đạt đến một điểm phát triển đủ để hỗ trợ trong việc định hướng con người về phía giới thứ năm (của các linh hồn)

Manas is therefore the battle-ground of forces contained in the microcosm… The stage of evolution which we have reached is the very starting point of the great struggle.”—Some Thoughts on the Gita

Vì vậy manas là chiến trường của các mãnh lực chứa đựng trong tiểu thiên địa… Giai đoạn tiến hoá mà chúng ta đã đạt tới chính là điểm khởi đầu của cuộc đấu tranh lớn.”—Một số Tư Tưởng về Gita

42. If we think carefully we shall understand that there are two battlegrounds. For average, undeveloped man, the astral plane of kama may be considered the battle ground. There is a choice to be made between high and low desire. This battle is waged in the sign Libra.

42. Nếu suy nghĩ cẩn thận, chúng ta sẽ hiểu rằng có hai chiến trường. Đối với con người trung bình, chưa phát triển, cõi cảm dục của kama có thể được xem là chiến trường. Có một sự lựa chọn phải được thực hiện giữa dục vọng cao và thấp. Trận chiến này được tiến hành trong dấu hiệu Thiên Bình.

43. When manas is the battleground, it is so especially for advanced human beings and disciples, and the battle occurs in relation to Scorpio (in which sign, Mercury, the major planet of mind, is the hierarchical ruler).

43. Khi manas là chiến trường, điều đó đặc biệt đúng đối với những con người tiến bộ và các đệ tử, và trận chiến xảy ra trong liên hệ với Hổ Cáp (trong dấu hiệu này, Sao Thủy, hành tinh chính của trí tuệ, là chủ tinh huyền môn).

44. The plane of mind is divided between lower and higher manas. It is necessary for there to be some degree of mental focus for the great struggle between lower and higher mind to become momentous.

44. Cõi trí được phân chia giữa hạ và thượng manas. Cần phải có một mức độ tập trung trí tuệ nào đó để cuộc đấu tranh lớn giữa hạ trí và thượng trí trở nên trọng đại.

45. In one way we can embody the struggle between the Black Lodge and the Great White Lodge as the struggle between lower and higher manas. The members of the Black Lodge are extremely intelligent, but they do not possess the ‘mind of love’ (the power of Venus). They are focussed in lower manas which is used as the instrument of selfish well.

45. Theo một cách, chúng ta có thể hiện thân cuộc đấu tranh giữa Hắc đoàn và Thánh đoàn như cuộc đấu tranh giữa hạ và thượng manas. Các thành viên của Hắc đoàn cực kỳ thông tuệ, nhưng họ không sở hữu ‘trí tuệ của tình thương’ (quyền năng của Sao Kim). Họ tập trung trong hạ manas, vốn được dùng như công cụ của ý chí ích kỷ.

46. The great battle fought out in Atlantis (largely on the plane of emotion) is today repeated on a higher turn of the spiral. The current battle involves for many more people, the planet of mind—Mercury.

46. Cuộc chiến lớn diễn ra ở Atlantis (phần lớn trên cõi cảm xúc) ngày nay đang được lặp lại trên một vòng xoắn cao hơn. Cuộc chiến hiện nay liên quan, đối với nhiều người hơn, đến hành tinh của trí tuệ—Sao Thủy.

47. In the next round (so we are told) the “Judgment Day” will focus precisely on the mental plane, and three-fifths will choose the way of higher manas, while two-fifths, remaining focussed in lower manas, will be transferred for further development to another planet.

47. Trong cuộc tuần hoàn kế tiếp (như chúng ta được cho biết), “Ngày Phán Xét” sẽ tập trung chính xác trên cõi trí, và ba phần năm sẽ chọn con đường của thượng manas, trong khi hai phần năm, vẫn còn tập trung trong hạ manas, sẽ được chuyển dịch sang một hành tinh khác để tiếp tục phát triển.

48. In practical terms, does desire influence mind or is it influenced by spiritual love? Mind, balanced in Libra, must eventually go in one direction or the other.

48. Xét theo phương diện thực tiễn, dục vọng ảnh hưởng đến trí tuệ hay nó bị tình thương tinh thần ảnh hưởng? Trí tuệ, được quân bình trong Thiên Bình, cuối cùng phải đi theo hướng này hay hướng kia.

1. The fire of mind, cosmically considered.

1. Lửa của trí tuệ, được xét theo vũ trụ.

2. The fire of mind viewed systemically.

2. Lửa của trí tuệ, được nhìn theo hệ thống.

3. The fire of mind in connection with a human being.

3. Lửa của trí tuệ trong liên hệ với một con người.

49. VSK suggests: “We must keep before us at all times that we are speaking about the fire of mind, which is the Second Fire—the Fire of Love. The realisation of the Fire of Mind being the Fire of Love can be pondered best in this light.

49. VSK gợi ý: “Chúng ta phải luôn ghi nhớ rằng chúng ta đang nói về lửa của trí tuệ, vốn là Ngọn Lửa thứ hai—Lửa của Bác ái. Sự chứng nghiệm rằng Lửa của Trí Tuệ là Lửa của Bác ái có thể được suy ngẫm tốt nhất dưới ánh sáng này.

50. When we consider the fire of mind “cosmically”, we are considering that fire as it relates to the Solar Logos. It is not to be forgotten that the Solar Logos is a cosmic being. From a certain perspective, Planetary Logoi are also cosmic Beings. They are far closer in development to a Solar Logos than man is to them, and their causal bodies are found on the cosmic mental plane.

50. Khi chúng ta xem xét lửa của trí tuệ “theo vũ trụ”, chúng ta đang xem xét ngọn lửa ấy trong mối liên hệ với Thái dương Thượng đế. Không nên quên rằng Thái dương Thượng đế là một hữu thể vũ trụ. Từ một góc nhìn nào đó, các Hành Tinh Thượng đế cũng là những Hữu thể vũ trụ. Các Ngài gần với sự phát triển của một Thái dương Thượng đế hơn rất nhiều so với con người đối với Các Ngài, và các thể nguyên nhân của Các Ngài được tìm thấy trên cõi trí vũ trụ.

In other words, what we are endeavoring to do is to study Mind in a solar Logos, a planetary Logos and in the Microcosm. Each of these three main divisions may be dealt with under four lesser heads which may be expressed as follows:

Nói cách khác, điều chúng ta đang cố gắng thực hiện là nghiên cứu Trí Tuệ trong một Thái dương Thượng đế, một Hành Tinh Thượng đế và trong Tiểu thiên địa. Mỗi một trong ba phân đoạn chính này có thể được bàn đến dưới bốn đề mục nhỏ hơn, có thể được diễn đạt như sau:

a. The origin of cosmic, systemic and microcosmic mind.

a. Nguồn gốc của trí tuệ vũ trụ, hệ thống và vi tiểu thiên địa.

b. The place of mind in evolution in all three cases.

b. Vị trí của trí tuệ trong tiến hoá trong cả ba trường hợp.

c. The present stage of development of mind in each of the three groups.

c. Giai đoạn phát triển hiện tại của trí tuệ trong mỗi một trong ba nhóm.

d. The future of mind, or of manasic unfoldment.

d. Tương lai của trí tuệ, hay của sự khai mở manas.

51. We will study three principle types of beings: the Solar Logos, a Planetary Logos and man, the human being.

51. Chúng ta sẽ nghiên cứu ba loại hữu thể nguyên khí: Thái dương Thượng đế, một Hành Tinh Thượng đế và con người, tức nhân loại.

52. Under each of these categories there will be four modes of study. We will study mind in terms of:

52. Dưới mỗi loại này sẽ có bốn phương thức nghiên cứu. Chúng ta sẽ nghiên cứu trí tuệ theo các phương diện:

a. Its origin

a. Nguồn gốc của nó

b. Its place in evolution

b. Vị trí của nó trong tiến hoá

c. Its present stage of development

c. Giai đoạn phát triển hiện tại của nó

d. Its future

d. Tương lai của nó

53. We gather that mind, in all three of these types of being, is evolving, becoming more intelligent and more sensitive.

53. Chúng ta hiểu rằng trí tuệ, trong cả ba loại hữu thể này, đang tiến hoá, trở nên thông tuệ hơn và nhạy cảm hơn.

When we have taken up these points, we should have a clearer idea as to the purpose and place of the fire of the intelligence, and should be able accurately to comprehend its correlating synthetic work.

Khi chúng ta đã xét đến những điểm này, chúng ta sẽ có một ý niệm rõ ràng hơn về mục đích và vị trí của lửa của trí năng, và sẽ có thể thấu hiểu một cách chính xác công việc tổng hợp có tính tương quan của nó.

54. We have been speaking of the “fire of mind”. We note that, here, the Tibetan calls it the “fire of intelligence”. We wish to see whether these are really synonymous phrases.

54. Chúng ta đã nói về “lửa của trí tuệ”. Chúng ta lưu ý rằng, ở đây, Chân sư Tây Tạng gọi nó là “lửa của trí năng”. Chúng ta muốn xem liệu đây có thực sự là những cụm từ đồng nghĩa hay không.

55. What is the work of the fire of intelligence or the fire of mind:

55. Công việc của lửa của trí năng hay lửa của trí tuệ là gì:

a. It is correlating work

a. Đó là công việc tương quan

b. It is synthetic work

b. Đó là công việc tổng hợp

56. We notice that the emphasis here is not on analysis and differentiation, as is the tendency of the lower mind.; The excellent functioning of these is presumed.

56. Chúng ta nhận thấy rằng ở đây trọng tâm không đặt vào sự phân tích và biến phân, như là khuynh hướng của hạ trí.; Hoạt động xuất sắc của những điều này được giả định sẵn.

57. The type of mind here studied is the mind that fuses.

57. Loại trí tuệ được nghiên cứu ở đây là trí tuệ dung hợp.

58. Thus, particularly, we are studying the second aspect of mind.

58. Vì vậy, đặc biệt, chúng ta đang nghiên cứu phương diện thứ hai của trí tuệ.

59. VSK queries: “How do we see the purpose and place of intelligent love, in its correlating synthetic work?”

59. VSK nêu câu hỏi: “Chúng ta thấy mục đích và vị trí của tình thương thông tuệ như thế nào, trong công việc tổng hợp có tính tương quan của nó?”

60. May it be suggested that through a study of the functioning of the planet Venus, the answer to this question may be approached.

60. Có thể gợi ý rằng qua việc nghiên cứu hoạt động của hành tinh Sao Kim, câu trả lời cho câu hỏi này có thể được tiếp cận.

Before, however, following up these ideas it might prove of value to us if we sought to define this principle of manas and see what is already understood by it.

Tuy nhiên, trước khi theo đuổi những ý tưởng này, sẽ có ích cho chúng ta nếu tìm cách định nghĩa nguyên khí manas này và xem điều gì đã được thấu hiểu về nó.

61. We proceed with definitions of manas in order to clear our way.

61. Chúng ta tiếp tục với các định nghĩa về manas để dọn đường cho mình.

II. DEFINITIONS OF MANAS OR MIND

II. CÁC ĐỊNH NGHĨA VỀ MANAS HAY TRÍ TUỆ

1. Manas, as we already know, is the fifth principle.

1. Manas, như chúng ta đã biết, là nguyên khí thứ năm.

62. Interestingly, MANAS, numerologically, sums to 3. MANAS = 41511=12=3. We note the emphasis on the first aspect—three ones and a five; are found within this word. The word begins with a four relating it to man (the fourth kingdom) of which it is the most characteristic quality.

62. Điều thú vị là MANAS, về mặt số học, có tổng là 3. MANAS = 41511=12=3. Chúng ta lưu ý sự nhấn mạnh vào phương diện thứ nhất—ba số một và một số năm; được tìm thấy trong từ này. Từ này bắt đầu bằng một số bốn liên hệ nó với con người (giới thứ tư) mà nó là phẩm tính đặc trưng nhất.

63. The first sum of the reduced number is 12, a number of synthesis representing the completed cycle. It also suggests the presence of the first and second rays (1. and 2) in this factor which sums to the number of intelligence, 3.

63. Tổng đầu tiên của con số rút gọn là 12, một con số của tổng hợp biểu thị chu kỳ hoàn tất. Nó cũng gợi ý sự hiện diện của cung một và cung hai (1. và 2) trong yếu tố này, yếu tố có tổng là con số của trí năng, 3.

64. The alpha number of MANAS is 13. + 1. + 14. + 1. + 19. = 48, which reduces to 12. and 3. The 4. and 8. are both numbers of manifestation, suggesting the cross (the 4) and the combination of the Cardinal Cross and Fixed Cross (the 8). The 8. within the 4. is the Christ Consciousness within humanity.

64. Con số alpha của MANAS là 13. + 1. + 14. + 1. + 19. = 48, được rút gọn thành 12. và 3. Số 4. và 8. đều là những con số của biểu hiện, gợi ý thập giá (số 4) và sự kết hợp của Thập Giá Chủ Yếu và Thập Giá Cố Định (số 8). Số 8. bên trong số 4. là Tâm thức Christ bên trong nhân loại.

65. A principle we recall is a direct expression of Spirit’s inherent quality.

65. Một nguyên khí, như chúng ta nhớ, là một biểu hiện trực tiếp của phẩm tính cố hữu của tinh thần.

66. Manas as the fifth principle is, in a way, the fifth to develop, though it is the third to emerge (and the descending arc).

66. Manas như nguyên khí thứ năm, theo một cách nào đó, là cái thứ năm phát triển, dù nó là cái thứ ba xuất hiện (và cung giáng hạ tiến hoá).

Here enter in certain factors and analogies that it would be of profit to us to mention at this juncture.

Ở đây xuất hiện một số yếu tố và loại suy mà sẽ có ích cho chúng ta nếu đề cập đến vào lúc này.

This fifth principle embodies the basic vibration of the fifth plane, either cosmically or systemically considered.

Nguyên khí thứ năm này thể hiện rung động căn bản của cõi thứ năm, dù được xét theo vũ trụ hay theo hệ thống.

67. The fifth plane is the plane of mind—the mental plane, whether systemic or cosmic.

67. Cõi thứ năm là cõi trí—cõi trí, dù là hệ thống hay vũ trụ.

A certain sound of the logoic Word, when it [Page 310] reaches the mental plane, causes a vibration in the matter of that plane, arrests its tendency to dissipate, causes it to take spheroidal form, and builds it literally into a body which is held in coherent shape by a mighty deva Entity, the Raja Lord of the mental plane.

Một âm điệu nào đó của Linh từ logoi, khi nó [Page 310] chạm đến cõi trí, gây ra một rung động trong vật chất của cõi ấy, ngăn chặn khuynh hướng làm tiêu tan của nó, khiến nó mang hình cầu, và theo nghĩa đen kiến tạo nó thành một thể được giữ trong hình dạng cố kết bởi một Thực Thể thiên thần hùng mạnh, Chúa Tể Raja của cõi trí.

68. We are dealing here with the formation of the mental plane.

68. Ở đây chúng ta đang bàn đến sự hình thành của cõi trí.

69. The Logos involved in sounding this logoic Word may be considered the Solar Logos. There are many spherical mental planes depending upon the stature of the sounding Logos.

69. Logos liên quan trong việc xướng Linh từ logoi này có thể được xem là Thái dương Thượng đế. Có nhiều cõi trí hình cầu tùy theo tầm vóc của Logos xướng ra.

70. The possibility, however, be dismissed that the Logos sounding the Word is the Planetary Logos.

70. Tuy nhiên, không thể loại bỏ khả năng rằng Logos xướng Linh từ là Hành Tinh Thượng đế.

71. Let us for clarity tabulate the effects of the sounding of this logoic Word:

71. Để rõ ràng, hãy lập bảng các hiệu quả của việc xướng Linh từ logoi này:

a. It reaches the mental plane

a. Nó chạm đến cõi trí

b. It causes a vibration in the matter of that plane

b. Nó gây ra một rung động trong vật chất của cõi ấy

c. It arrests the tendency of the matter of the mental plane to dissipate [thus it must have a cohesive effect]

c. Nó ngăn chặn khuynh hướng làm tiêu tan của vật chất cõi trí [như vậy nó hẳn phải có một hiệu quả cố kết]

d. It causes the matter of the mental plane to take spheroidal form [this suggests a cohesive Jupiterian energy— ‘sphere-forming’]

d. Nó khiến vật chất của cõi trí mang hình cầu [điều này gợi ý một năng lượng Sao Mộc có tính cố kết—‘tạo hình cầu’]

e. It builds the matter of the mental plane into a spheroidal body which is held in coherent shape by the Raja Deva Lord of the mental plane—Agni.

e. Nó kiến tạo vật chất của cõi trí thành một thể hình cầu được giữ trong hình dạng cố kết bởi Chúa Tể Raja Deva của cõi trí—Agni.

72. We see that mental matter, left to its own tendencies, is dissipative, and tends to lack coherence. In this respect is responds to the individualistic third ray.

72. Chúng ta thấy rằng vật chất trí tuệ, nếu bị bỏ mặc cho các khuynh hướng riêng của nó, thì có tính làm tiêu tan và có xu hướng thiếu sự cố kết. Về phương diện này, nó đáp ứng với cung ba mang tính cá thể hóa.

73. We see the mental plane is involved with concretizing spheroidal forms, condensing thoughtforms.

73. Chúng ta thấy cõi trí liên quan đến việc cụ thể hóa các hình tướng hình cầu, làm ngưng tụ các hình tư tưởng.

74. One of the functions of the Raja Deva Lords is here revealed; it holds a spherical plane in coherence.

74. Một trong những chức năng của các Chúa Tể Raja Deva được tiết lộ ở đây; nó giữ một cõi hình cầu trong sự cố kết.

75. A plane within the ring-pass-not of any entity is spherical within that entity. The plane, of course, extends well beyond the ring-pass-not of that entity, but the part of the plane that concerns the entity is spherical in nature.

75. Một cõi nằm trong vòng-giới-hạn của bất kỳ thực thể nào đều có tính hình cầu bên trong thực thể ấy. Dĩ nhiên, cõi đó mở rộng vượt xa vòng-giới-hạn của thực thể ấy, nhưng phần của cõi liên quan đến thực thể ấy thì có bản chất hình cầu.

76. One might wonder whether all that could possibly be related to the planar structure of cosmos is as one great universal sphere.

76. Người ta có thể tự hỏi liệu tất cả những gì có thể liên hệ đến cấu trúc cõi của vũ trụ có phải là một đại khối cầu phổ quát duy nhất hay không.

77. VSK suggests: “This is a manifesting tendency of the fifth ray, making things practical. It is a major ray of the Aquarian Era. Relation to White Magic and occultism etc.

77. VSK gợi ý: “Đây là một khuynh hướng biểu hiện của cung năm, làm cho sự vật trở nên thực tiễn. Đó là một cung chính của Kỷ Nguyên Bảo Bình. Liên hệ với Chánh Thuật và huyền bí học v.v.

78. VSK asks: “Is this is saying that ‘our’ mind is part of a spheroidal body? What are the images or other wordings that come to mind? Analogies?”

78. VSK hỏi: “Điều này có phải đang nói rằng trí tuệ ‘của chúng ta’ là một phần của một thể hình cầu không? Những hình ảnh hay cách diễn đạt nào khác xuất hiện trong trí? Những loại suy?”

Exactly the same procedure ensued on cosmic levels, when a still mightier sound was uttered by the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, and the utterance of this caused a vibration on the fifth cosmic plane.

Chính cùng một tiến trình ấy đã tiếp diễn trên các cấp độ vũ trụ, khi một âm thanh còn hùng mạnh hơn nữa được xướng lên bởi Đấng Bất Khả Tư Nghị, và sự phát ngôn này đã gây ra một rung động trên cõi vũ trụ thứ năm.

79. We understand that there is such a thing as a solar logoic Solar Angel. The sounding forth of the cosmic logoic Word of the One About Whom Naught May Be Said (whichever of the ‘Ones’ that may be), may relate to the possibility of the activation of this solar logoic Solar Angel and the beginning of the incarnation of the Solar Logos through a cosmic personality (and also of six other major Solar Logoi through their cosmic personalities.

79. Chúng ta hiểu rằng có một thực tại như Thái dương Thiên Thần mang tính logoi thái dương. Việc xướng ra Linh từ logoi vũ trụ của Đấng Bất Khả Tư Nghị (dù đó có thể là “Đấng” nào đi nữa), có thể liên hệ đến khả năng hoạt hóa Thái dương Thiên Thần mang tính logoi thái dương này và sự khởi đầu của việc lâm phàm của Thái dương Thượng đế qua một phàm ngã vũ trụ (và cũng của sáu Thái dương Thượng đế lớn khác qua các phàm ngã vũ trụ của Các Ngài.

A solar Logos uses for His energy centres the planetary schemes, each of which embodies a peculiar type of energy, and each of which, therefore, vibrates to the key of the logoic solar Angel, of which the human solar Angel is a dim reflection. (TCF 1161)

Một Thái dương Thượng đế dùng các hệ hành tinh làm các trung tâm năng lượng của Ngài, mỗi hệ hành tinh thể hiện một loại năng lượng đặc thù, và vì thế, rung động theo chủ âm của Thái dương Thiên Thần logoi, mà Thái dương Thiên Thần nhân loại chỉ là một phản ánh mờ nhạt. (TCF 1161)

Certain great Entities became active, including such relatively unimportant Beings as our solar Logos and His group.

Một số Thực Thể vĩ đại đã trở nên hoạt động, kể cả những Hữu thể tương đối không quan trọng như Thái dương Thượng đế của chúng ta và nhóm của Ngài.

80. Perhaps the One About Whom Naught May Be Said here sounding is, indeed, the Super-Cosmic Logos and not just a Cosmic Logos. A Super-Cosmic Logos manifests through seven constellations, each of which is as a major chakra. A Cosmic Logos manifests through seven Solar Logoi, each of which is as a major chakra.

80. Có lẽ Đấng Bất Khả Tư Nghị đang xướng ở đây quả thật là Thượng đế Siêu-Vũ trụ chứ không chỉ là một Thượng đế Vũ trụ. Một Thượng đế Siêu-Vũ trụ biểu hiện qua bảy chòm sao, mỗi chòm như một luân xa chính. Một Thượng đế Vũ trụ biểu hiện qua bảy Thái dương Thượng đế, mỗi vị như một luân xa chính.

81. What is the “group” of our Solar Logos? We can think of it as the Seven Solar Systems of Which Ours is One, and what is being said here is that the sounding of the great cosmic logoic Word (really—it should be called a super-cosmic logoic Word if we accept the hypothesis that a Super-Cosmic Logos is the One sounding it) brings about the higher mental plane structure of our Solar Logos and the six other Solar Logoi Who accompany Him as part of the Seven Solar Systems of Which Ours is One.

81. “Nhóm” của Thái dương Thượng đế của chúng ta là gì? Chúng ta có thể nghĩ về nó như Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một trong đó, và điều đang được nói ở đây là việc xướng lên Linh từ logoi vũ trụ vĩ đại (thật ra—nó nên được gọi là một Linh từ logoi siêu-vũ trụ nếu chúng ta chấp nhận giả thuyết rằng một Thượng đế Siêu-Vũ trụ là Đấng đang xướng nó) tạo ra cấu trúc cõi thượng trí của Thái dương Thượng đế của chúng ta và của sáu Thái dương Thượng đế khác đi cùng Ngài như một phần của Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một trong đó.

82. What is clear is the One About Whom Naught May Be Said (as that term is used here) is different from the “group” of our solar Logos (and its informing Life. The solar logoic “group” is a lower aggregation included somehow within the being of a Super-Cosmic Logos—the One Who sounds the Word here discussed.

82. Điều rõ ràng là Đấng Bất Khả Tư Nghị (theo cách thuật ngữ ấy được dùng ở đây) thì khác với “nhóm” của Thái dương Thượng đế của chúng ta (và Sự sống thấm nhuần nhóm ấy). “Nhóm” logoi thái dương là một tập hợp thấp hơn, bằng cách nào đó được bao hàm trong bản thể của một Thượng đế Siêu-Vũ trụ—Đấng xướng Linh từ đang được bàn đến ở đây.

83. There is also the possibility, and it cannot be immediately dismissed, that the One Who sounds the Word is only the Cosmic Logos Who includes within His being the Seven Solar Systems of Which Ours is One.

83. Cũng có khả năng, và không thể lập tức bác bỏ, rằng Đấng xướng Linh từ chỉ là Thượng đế Vũ trụ, Đấng bao gồm trong bản thể của Ngài Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một trong đó.

84. The phrase “One About Whom Naught May Be Said” has (as we will discover from the contexts in which it is used) two or even three levels of meaning:

84. Cụm từ “Đấng Bất Khả Tư Nghị” có (như chúng ta sẽ khám phá từ các ngữ cảnh trong đó nó được dùng) hai hay thậm chí ba cấp độ ý nghĩa:

a. A Cosmic Logos

a. Một Thượng đế Vũ trụ

b. A Super-Cosmic Logos

b. Một Thượng đế Siêu-Vũ trụ

c. Our Galactic Logos

c. Thượng đế Ngân Hà của chúng ta

85. To these levels we could add others, until finally we truly reach the ONE about WHOM absolutely nothing (true) may be said.

85. Vào các cấp độ này, chúng ta có thể thêm những cấp độ khác nữa, cho đến khi cuối cùng chúng ta thật sự đạt đến ĐẤNG mà về ĐẤNG ấy tuyệt đối không thể nói điều gì (đúng thực).

86. VSK calls to our attention: “Referencing chart Evolution of Matter, TCR 56, we note the 6th Tanmatra caused the outpicturing of the ‘Agni-tattvic’ plane”.

86. VSK lưu ý chúng ta: “Tham chiếu biểu đồ Sự tiến hoá của Vật chất, TCR 56, chúng ta lưu ý rằng thứ 6 Tanmatra đã gây ra sự biểu hiện ra ngoài của cõi ‘Agni-tattvic’”.

87. It should be noted that this chart refers only to the cosmic physical plane.

87. Cần lưu ý rằng biểu đồ này chỉ đề cập đến cõi hồng trần vũ trụ mà thôi.

88. Could a correspondence to this outpicturing also refer to cosmic levels?

88. Liệu một tương ứng với sự biểu hiện ra ngoài này cũng có thể quy chiếu đến các cấp độ vũ trụ chăng?

This fifth principle is the distinctive coloring of a particular group of solar Logoi on the causal level of the cosmic mental, and is the animating factor of Their Existence, the reason of Their manifesting through various solar systems, and the great Will-to-be that brings Them forth into objectivity.

Nguyên khí thứ năm này là sắc thái đặc trưng của một nhóm Thái dương Thượng đế đặc biệt trên cấp độ nguyên nhân của cõi trí vũ trụ, và là yếu tố linh hoạt của Sự Tồn Tại của Các Ngài, là lý do khiến Các Ngài biểu hiện qua nhiều hệ mặt trời khác nhau, và là Ý Chí-hiện hữu vĩ đại đưa Các Ngài vào tính khách quan.

89. We are speaking of a “particular group of Solar Logoi on the cosmic mental” plane. Is the “group” of Solar Logoi to which our Solar Logos belongs?

89. Chúng ta đang nói về một “nhóm Thái dương Thượng đế đặc biệt trên cõi trí vũ trụ”. Có phải đó là “nhóm” Thái dương Thượng đế mà Thái dương Thượng đế của chúng ta thuộc về không?

90. It is probable (because Sirius is so close to our Solar Logos—only 8. ly away) that our Solar Logos belongs to the same group of Solar Logoi as Sirius does. But is it a group in which the fifth principle and ray are prominent?

90. Có lẽ là đúng (vì Sirius ở rất gần Thái dương Thượng đế của chúng ta—chỉ cách 8. năm ánh sáng) rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta thuộc cùng một nhóm Thái dương Thượng đế như Sirius. Nhưng đó có phải là một nhóm trong đó nguyên khí và cung thứ năm nổi trội không?

91. Sirius is likely to be the leading star in this group, thus, this group has been called by thoughtful theorists the “Sirian System” (as opposed to the Logos of the star, Sirius, which is hypothetically simply a part of the “Sirian System”).

91. Sirius có lẽ là ngôi sao dẫn đầu trong nhóm này; vì vậy, nhóm này đã được các nhà lý thuyết sâu sắc gọi là “Hệ Sirius” (đối lập với Thượng đế của ngôi sao Sirius, mà theo giả thuyết chỉ đơn giản là một phần của “Hệ Sirius”).

92. We know that the star Sirius in informed by a Solar Logos closely identified with the principle of manas, in this case, cosmic manas.

92. Chúng ta biết rằng ngôi sao Sirius được thấm nhuần bởi một Thái dương Thượng đế được đồng nhất chặt chẽ với nguyên khí manas, trong trường hợp này là manas vũ trụ.

93. Perhaps the quality of the “Sirian System” (taking its coloration from its hypothetically leading star, Sirius) has much fifth principle and fifth ray in it?

93. Có lẽ phẩm tính của “Hệ Sirius” (mang sắc thái từ ngôi sao dẫn đầu theo giả thuyết của nó là Sirius) có rất nhiều nguyên khí thứ năm và cung thứ năm trong đó chăng?

94. If we hypothesize that the group of Solar Logoi to which our Solar Logos and the Solar Logos of the star, Sirius, belongs, is much qualified by the fifth principle and fifth ray, we would have to correlate this hypothesis with the thought that the Cosmic Logos of the Sirian System may well correlate with the cosmic solar plexus center of the One About Whom Naught May Be Said. We seem, here, to have a prescription for kama-manas.

94. Nếu chúng ta giả định rằng nhóm Thái dương Thượng đế mà Thái dương Thượng đế của chúng ta và Thái dương Thượng đế của ngôi sao Sirius cùng thuộc về, được định tính rất nhiều bởi nguyên khí thứ năm và cung thứ năm, thì chúng ta sẽ phải liên hệ giả thuyết này với ý tưởng rằng Thượng đế Vũ trụ của Hệ Sirius rất có thể tương ứng với trung tâm tùng thái dương vũ trụ của Đấng Bất Khả Tư Nghị. Ở đây, dường như chúng ta có một công thức cho trí-cảm.

95. This seems a difficult correlation until it is remembered that the solar plexus center (though it expresses the sixth ray as do all solar plexus centers) is nevertheless the fifth center numbering the chakras from above.

95. Điều này dường như là một tương quan khó khăn cho đến khi nhớ rằng trung tâm tùng thái dương (dù nó biểu lộ cung sáu như mọi trung tâm tùng thái dương đều làm) tuy vậy vẫn là trung tâm thứ năm nếu đánh số các luân xa từ trên xuống.

96. So, perhaps, these two hypotheses can be reconciled—namely, a cosmic solar plexus center which is associated with the fifth principle and fifth ray. Or perhaps, not.

96. Vì vậy, có lẽ hai giả thuyết này có thể được hòa giải—tức là, một trung tâm tùng thái dương vũ trụ gắn liền với nguyên khí thứ năm và cung năm. Hoặc có lẽ không.

97. It may be that the our solar system is not a member of that group of Solar Logoi Who are particularly qualified by the fifth ray. If not, we would wonder why DK is meaning that group here.

97. Có thể hệ mặt trời của chúng ta không phải là một thành viên của nhóm Thái dương Thượng đế đặc biệt được định tính bởi cung năm. Nếu không phải vậy, chúng ta sẽ tự hỏi vì sao Chân sư DK lại muốn nói đến nhóm ấy ở đây.

98. We are speaking of a group of Solar Logoi, the coloring of which is closely related to the fifth principle. Let us correlate what is said of this particular group of Solar Logoi on cosmic mental levels:

98. Chúng ta đang nói về một nhóm Thái dương Thượng đế mà sắc thái của nhóm ấy liên hệ chặt chẽ với nguyên khí thứ năm. Hãy liên hệ điều được nói về nhóm Thái dương Thượng đế đặc biệt này trên các cấp độ trí tuệ vũ trụ:

a. It has for its distinctive coloring the fifth principle

a. Nhóm ấy có nguyên khí thứ năm làm sắc thái đặc trưng

b. The fifth principle is the animating factor of Their Existence

b. Nguyên khí thứ năm là yếu tố linh hoạt của Sự Tồn Tại của Các Ngài

c. The fifth principle is the reason for the manifesting of the members of this group of Solar Logoi through various solar systems.

c. Nguyên khí thứ năm là lý do cho sự biểu hiện của các thành viên trong nhóm Thái dương Thượng đế này qua nhiều hệ mặt trời khác nhau.

d. The fifth principle is the great Will-to-be that brings the members of this group of Solar Logoi forth into objectivity.

d. Nguyên khí thứ năm là Ý Chí-hiện hữu vĩ đại đưa các thành viên của nhóm Thái dương Thượng đế này vào tính khách quan.

99. We could be saying that the Cosmic Logos that works through the Seven Solar Systems of Which Ours is One, is largely colored by the fifth principle.

99. Chúng ta có thể đang nói rằng Thượng đế Vũ trụ hoạt động qua Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một trong đó, phần lớn được nhuốm màu bởi nguyên khí thứ năm.

100. With this must be reconciled the idea that our particular Solar Logos is very astral-buddhic in nature and may not have much of the fifth ray, per se, and is only now working on cosmic mind.

100. Cùng với điều này phải được hòa giải ý tưởng rằng Thái dương Thượng đế đặc thù của chúng ta có bản chất rất cảm dục-Bồ đề và có thể không có nhiều cung năm, chính nó, và chỉ hiện nay mới đang hoạt động trên trí tuệ vũ trụ.

101. If this set up has merit, then each of seven constellational systems representing the seven chakras in the One About Whom Naught May Be Said, may be dedicated to the expression of a particular principle, and the principle and the chakra number may correlate.

101. Nếu cách sắp đặt này có giá trị, thì mỗi một trong bảy hệ chòm sao tượng trưng cho bảy luân xa trong Đấng Bất Khả Tư Nghị có thể được hiến dâng cho sự biểu lộ của một nguyên khí đặc biệt, và nguyên khí cùng số luân xa có thể tương ứng với nhau.

102. In other words, the group of seven solar systems which represents the sacral center of the One About Whom Naught May Be Said will be the group through which the sixth principle (numbering from above) will express—this principle will be cosmic kama (through we could also call it the second principle if we numbered from below).

102. Nói cách khác, nhóm bảy hệ mặt trời tượng trưng cho trung tâm xương cùng của Đấng Bất Khả Tư Nghị sẽ là nhóm mà qua đó nguyên khí thứ sáu (đánh số từ trên xuống) sẽ biểu lộ—nguyên khí này sẽ là kama vũ trụ (dù chúng ta cũng có thể gọi nó là nguyên khí thứ hai nếu đánh số từ dưới lên).

103. VSK offers some fascinating thoughts on color:

103. VSK đưa ra một số suy tưởng hấp dẫn về màu sắc:

a. “Likely colours for the fifth plane and principle and mind are the dual Indigo-Blue, and complements Yellow or Gold, and Orange, the colour of flame. We can consider it the colour out-pictured in the air, the blue of day and. The yellow gold is the fire of the exoteric sun and reflected moon as it divides the sky into north and south. Like abstract and concrete.

a. “Những màu có khả năng dành cho cõi, nguyên khí và trí tuệ thứ năm là cặp màu Chàm-Xanh lam, và các màu bổ sung là Vàng hay Kim sắc, và Cam, màu của ngọn lửa. Chúng ta có thể xem đó là màu được biểu hiện trong không khí, màu xanh của ban ngày và. Màu vàng kim là lửa của mặt trời ngoại môn và mặt trăng phản chiếu khi nó chia bầu trời thành bắc và nam. Giống như trừu tượng và cụ thể.

b. We can think of these two colours also as ‘flames in the sky’, the ‘agnishvattas from heaven’ who embody the colours of fire in the vast plane of mind, the sky.

b. Chúng ta cũng có thể nghĩ về hai màu này như ‘những ngọn lửa trên trời’, các ‘agnishvattas từ thiên giới’ là những vị thể hiện các màu của lửa trong cõi trí bao la, tức bầu trời.

c. The Fifth principle is that which the Second Ray uses and is most emphasized in the second solar system. Hence, the Blue of the Second Ray, tied to the Indigo-Blue of the abstract and concretizing mind.

c. Nguyên khí Thứ Năm là điều mà Cung hai sử dụng và được nhấn mạnh nhất trong hệ mặt trời thứ hai. Vì thế, màu Xanh lam của Cung hai gắn với màu Chàm-Xanh lam của trí trừu tượng và trí cụ thể hóa.

Manas has been defined as mind, or that faculty of logical deduction and reasoning, and of rational activity that distinguishes man from the animals.

Manas đã được định nghĩa là trí tuệ, hay là năng lực suy luận logic và lý giải, và của hoạt động hợp lý, điều phân biệt con người với loài vật.

104. We have here a preliminary definition of manas.

104. Ở đây chúng ta có một định nghĩa sơ bộ về manas.

105. Man has—

105. Con người có—

a. Logical faculty

a. Năng lực logic

b. Deductive faculty

b. Năng lực suy diễn

c. Reasoning faculty

c. Năng lực lý giải

106. Animals do not (or if so, only in embryo).

106. Loài vật thì không có (hoặc nếu có, chỉ ở dạng phôi thai).

107. These faculties structure the relations between ‘presentations to consciousness’.

107. Những năng lực này cấu trúc các mối liên hệ giữa những “trình hiện đối với tâm thức”.

108. Animals do not consciously know how one set of circumstances leads to another. A rational human being using reasoned deduction and induction learns the causal relations between one set of circumstances and another. A human being learns ‘what leads to what’.

108. Loài vật không biết một cách có ý thức rằng một tập hợp hoàn cảnh dẫn đến một tập hợp khác như thế nào. Một con người hữu lý sử dụng suy diễn và quy nạp có lý lẽ sẽ học được các quan hệ nhân quả giữa tập hợp hoàn cảnh này với tập hợp hoàn cảnh khác. Con người học được “điều gì dẫn đến điều gì”.

Yet it is something much more than that for it underlies all manifestation, and the very shape of an amoeba, and the discriminative faculty of the lowest atom or cell, is actuated by mind of some kind or another.

Tuy vậy, nó còn hơn thế rất nhiều vì nó nằm bên dưới mọi biểu hiện, và chính hình dạng của một amip, cùng với năng lực phân biện của nguyên tử hay tế bào thấp nhất, đều được thúc đẩy bởi một loại trí tuệ nào đó.

109. We are given an extension of the meaning of manas. We are told that manas—

109. Chúng ta được trao cho một sự mở rộng ý nghĩa của manas. Chúng ta được bảo rằng manas—

a. Underlies all manifestation

a. Nằm bên dưới mọi biểu hiện

b. Is responsible for the kind of discriminative faculty to be found in the lowest atom or cell

b. Chịu trách nhiệm cho loại năng lực phân biện được tìm thấy trong nguyên tử hay tế bào thấp nhất

110. So manifestation and discrimination are two factors to be associated with manas when it is understood more broadly.

110. Vì vậy, biểu hiện và sự phân biện là hai yếu tố cần được gắn với manas khi nó được hiểu theo nghĩa rộng hơn.

It is only as the place of that discriminating cell or atom within its greater sphere is apprehended, and recognised, that any clear conception will be gained of what that coherent rational inclusive mentality may be.

Chỉ khi vị trí của tế bào hay nguyên tử có tính phân biện ấy trong khối cầu lớn hơn của nó được lĩnh hội và được nhận biết, thì mới có thể đạt được một quan niệm rõ ràng nào đó về điều mà trí tuệ bao gồm hợp lý mạch lạc ấy có thể là.

111. To what sort of entity does “that coherent rational inclusive mentality” belong? It seems to be the mentality expressed within and by the “greater sphere”, rather than that pertaining to the “discriminating cell or atom”, for the words “coherent”, “rational” and “inclusive” are mentioned, which hardly seem relevant to the low level of manas expressed through a discriminating cell or atom.

111. “Trí tuệ bao gồm hợp lý mạch lạc” ấy thuộc về loại thực thể nào? Dường như đó là trí tuệ được biểu lộ bên trong và bởi “khối cầu lớn hơn”, hơn là trí tuệ thuộc về “tế bào hay nguyên tử có tính phân biện”, vì các từ “mạch lạc”, “hợp lý” và “bao gồm” được nêu ra, mà hầu như không có vẻ thích đáng đối với cấp độ thấp của manas được biểu lộ qua một tế bào hay nguyên tử có tính phân biện.

112. VSK would have us note that “the use of the phrases like ‘discriminative faculty’, ‘discriminating cell’, ‘coherent rational inclusive mentality’, all are echoes of the fifth ray”.

112. VSK muốn chúng ta lưu ý rằng “việc dùng những cụm từ như ‘năng lực phân biện’, ‘tế bào có tính phân biện’, ‘trí tuệ bao gồm hợp lý mạch lạc’, tất cả đều là những tiếng vọng của cung thứ năm.

2. Manas is electricity. 21

2. Manas là điện.21

21: Electricity:

21: Điện:

…”We know of no phenomenon in nature—entirely unconnected with either magnetism or electricity—since, where there are motion, heat, friction, light, there magnetism and its Alter Ego (according to our humble opinion)—electricity will always appear, as either cause or effect—or rather both if we but fathom the manifestation to its origin.

…”Chúng ta không biết một hiện tượng nào trong thiên nhiên—hoàn toàn không liên hệ với từ điện hay điện—vì ở đâu có chuyển động, nhiệt, ma sát, ánh sáng, ở đó từ điện và Bản Ngã Cao Siêu của nó (theo ý kiến khiêm tốn của chúng tôi)—điện sẽ luôn luôn xuất hiện, hoặc như nguyên nhân hoặc như kết quả—hay đúng hơn là cả hai nếu chúng ta dò thấu biểu hiện đến tận nguồn gốc của nó.

113. It is fascinating to consider that electricity is the “Alter Ego” of magnetism.

113. Thật hấp dẫn khi suy xét rằng điện là “Bản Ngã Cao Siêu” của từ điện.

114. The term “alter ego” is used in esoteric astrology in relation to the pairs Earth and Venus; and Pluto and Mars. Venus is the alter ego of Earth and Mars is the alter ego of Pluto.

114. Thuật ngữ “alter ego” được dùng trong chiêm tinh học nội môn liên hệ với các cặp Trái Đất và Sao Kim; và Sao Diêm Vương và Sao Hỏa. Sao Kim là alter ego của Trái Đất và Sao Hỏa là alter ego của Sao Diêm Vương.

115. That one of the pair which is usually called the “alter ego” is generally higher in its development.

115. Một trong hai thành viên của cặp thường được gọi là “alter ego” nói chung cao hơn trong sự phát triển của nó.

116. Can electricity (the alter ego of magnetism) then be considered as a more developed phenomenon than magnetism? A strange question, really.

116. Vậy thì điện (alter ego của từ điện) có thể được xem là một hiện tượng phát triển hơn từ điện chăng? Quả là một câu hỏi lạ.

117. In this excerpt electricity is referred to as both cause and effect in relation to motion, heat, friction and light.

117. Trong đoạn trích này, điện được nói đến như vừa là nguyên nhân vừa là kết quả liên hệ với chuyển động, nhiệt, ma sát và ánh sáng.

118. When electricity flows, magnetism is generated. We also know that magnetism can induce the flow of electricity.

118. Khi điện lưu chuyển, từ điện được tạo ra. Chúng ta cũng biết rằng từ điện có thể cảm ứng dòng điện lưu chuyển.

119. With both electricity and magnetism we have the fundamental relations between things (a relation to be understood at a foundational level).

119. Với cả điện lẫn từ điện, chúng ta có những quan hệ nền tảng giữa các sự vật (một quan hệ cần được hiểu ở cấp độ cơ sở).

All the phenomena of earth currents, terrestrial magnetism and atmospheric electricity, are due to the fact that the earth is an electrified conductor, whose potential is ever changing owing to its rotation and its annual orbital motion, the successive cooling and heating of the air, the formation of clouds and rain, storms and winds, etc.

Mọi hiện tượng của các dòng điện địa cầu, từ điện địa cầu và điện khí quyển đều là do sự kiện rằng trái đất là một vật dẫn điện, mà điện thế của nó luôn thay đổi do sự tự quay và chuyển động quỹ đạo hằng năm của nó, do sự làm lạnh và làm nóng kế tiếp của không khí, do sự hình thành của mây và mưa, bão tố và gió, v.v.

120. The following phenomena are due to the fact that earth is an electrified conductor with an ever changing potential due to its:

120. Các hiện tượng sau đây là do sự kiện rằng trái đất là một vật dẫn điện với điện thế luôn thay đổi do:

a. rotation

a. sự tự quay

b. its annual orbital motion

b. chuyển động quỹ đạo hằng năm của nó

c. the successive cooling and heating of air

c. sự làm lạnh và làm nóng kế tiếp của không khí

d. the formation of clouds and rain, storms and winds

d. sự hình thành của mây và mưa, bão tố và gió

121. These phenomena are:

121. Những hiện tượng này là:

a. Earth currents

a. Các dòng điện địa cầu

b. Terrestrial magnetism

b. Từ điện địa cầu

c. Atmospheric electricity

c. Điện khí quyển

This you may perhaps find in some text book. But then Science would be unwilling to admit that all these changes are due to Akasic magnetism incessantly generating electric currents which tend to restore the disturbed equilibrium.”

Có lẽ bạn có thể tìm thấy điều này trong một sách giáo khoa nào đó. Nhưng rồi Khoa học sẽ không sẵn lòng thừa nhận rằng mọi biến đổi này đều là do từ điện Akasic không ngừng tạo ra các dòng điện có khuynh hướng phục hồi trạng thái quân bình bị xáo trộn.”

122. We are considering a number of changes associated with Earth processes. A. P. Sinnett is saying that they are all generated by “Akasic magnetism incessantly generating electric currents which tend to restore the disturbed equilibrium”.

122. Chúng ta đang xét đến một số biến đổi gắn với các tiến trình của Trái Đất. A. P. Sinnett đang nói rằng tất cả chúng đều được tạo ra bởi “từ điện Akasic không ngừng tạo ra các dòng điện có khuynh hướng phục hồi trạng thái quân bình bị xáo trộn”.

123. We have, then, the idea of electrical current as a means of restoring disturbed equilibrium. There is definitely a relation between electricity, the third ray and the sign of equilibrium, Libra.

123. Như vậy, chúng ta có ý tưởng về dòng điện như một phương tiện để phục hồi trạng thái quân bình bị xáo trộn. Chắc chắn có một mối liên hệ giữa điện, cung ba và dấu hiệu của quân bình, Thiên Bình.

124. When we speak of “Akasic magnetism” are we talking of the Akasha to be associated with the second etheric sub-plane, or the sub-atomic sub-plane? Perhaps. It does not seem likely that we are speaking of the second or akashic sub-plane of the cosmic physical plane—i.e., the monadic plane.

124. Khi chúng ta nói về “từ điện Akasic”, liệu chúng ta có đang nói về Akasha gắn với cõi phụ dĩ thái thứ hai, hay cõi phụ hạ nguyên tử không? Có lẽ vậy. Dường như không có khả năng là chúng ta đang nói về cõi phụ thứ hai hay cõi phụ akashic của cõi hồng trần vũ trụ—tức cõi chân thần.

…”The sun is neither a Solid nor a Liquid, nor yet a gaseous glow; but a gigantic ball of electro-magnetic Forces, the store-house of universal Life and Motion, from which the latter pulsate in all directions, feeding the smallest atom as the greatest genius with the same material unto the end of the Maha Yug.”—Mahatma Letters to A. P. Sinnett,

…”Mặt trời không phải là một khối rắn, cũng không phải là một chất lỏng, lại càng không phải là một khối sáng khí thể; mà là một quả cầu khổng lồ của các Mãnh Lực điện-từ, kho chứa của Sự sống và Chuyển động phổ quát, từ đó hai điều sau cùng đập nhịp theo mọi hướng, nuôi dưỡng nguyên tử nhỏ nhất cũng như thiên tài vĩ đại nhất bằng cùng một chất liệu cho đến tận cuối Đại Kỷ Nguyên.”—Thư Mahatma gửi A. P. Sinnett,

125. VSK suggests: “Some one of the scientists among the group may wish to review the basic statements here in terms of veracity to current thinking”. Lyn? Jose?

125. VSK gợi ý: “Một ai đó trong số các nhà khoa học trong nhóm có thể muốn xem xét lại những phát biểu cơ bản ở đây xét theo mức độ chân xác đối với tư duy hiện tại”. Lyn? Jose?

126. This description of the sun, though more than a century old, seems to refer to it in terms of the fourth ether, with which most electrical phenomena with which we are familiar are to be associated.

126. Mô tả này về mặt trời, dù đã hơn một thế kỷ, dường như quy chiếu nó theo phương diện dĩ thái thứ tư, mà phần lớn các hiện tượng điện quen thuộc với chúng ta cần được gắn với đó.

127. In fact, we seem to be dealing with what, in TCF, is called “active fire” or “radiatory fire”.

127. Thật ra, dường như chúng ta đang bàn đến điều mà trong TCF được gọi là “lửa hoạt động” hay “lửa bức xạ”.

128. We note the manner in which the term “universal” is used, and realize that it relates to our solar system—our particular “universe”.

128. Chúng ta lưu ý cách thuật ngữ “phổ quát” được dùng, và nhận ra rằng nó liên hệ đến hệ mặt trời của chúng ta—“vũ trụ” đặc thù của chúng ta.

The fire of Mind is fundamentally electricity, shown in its higher workings, and not considered so much as [Page 311] force in matter.

Lửa của Trí Tuệ về căn bản là điện, được biểu lộ trong các hoạt động cao hơn của nó, và không được xem quá nhiều như là [Page 311] mãnh lực trong vật chất.

129. Here is an important equivalence between Mind and electricity. We see that there are higher and lower forms of electricity. This is definitely to be borne in mind.

129. Ở đây có một sự tương đương quan trọng giữa Trí Tuệ và điện. Chúng ta thấy rằng có những hình thức điện cao hơn và thấp hơn. Điều này nhất định phải được ghi nhớ.

130. Mind is electricity in some of its higher workings; normal electricity is force in matter—but even so may not be entirely divorced from Mind.

130. Trí Tuệ là điện trong một số hoạt động cao hơn của nó; điện thông thường là mãnh lực trong vật chất—nhưng ngay cả như vậy, nó cũng có thể không hoàn toàn tách rời khỏi Trí Tuệ.

131. Mind (we might way) works through the electro-magnetic aggregation of the contents of consciousness.

131. Trí Tuệ (chúng ta có thể nói) hoạt động qua sự tập hợp điện-từ của các nội dung của tâm thức.

Electricity in the solar system shows itself in seven major forms, which might be expressed as follows:

Điện trong hệ mặt trời biểu lộ thành bảy hình thức chính, có thể được trình bày như sau:

132. Every one of the seven sub-planes of the cosmic physical plane is an electrical phenomenon. Let us ponder on this.

132. Mỗi một trong bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ đều là một hiện tượng điện. Hãy suy ngẫm về điều này.

Electricity on the first plane, the logoic or divine, demonstrates as the Will-to-be, the primary aspect of that force which eventually results in objectivity. Cosmically considered, it is that initial impulse or vibration, which emanates from the logoic causal body on the cosmic mental plane, and makes contact with the first cosmic etheric, or the solar plane of adi.

Điện trên cõi thứ nhất, cõi logoi hay thiêng liêng, biểu lộ như Ý Chí-hiện hữu, là phương diện sơ khởi của mãnh lực rốt cuộc dẫn đến tính khách quan. Xét về mặt vũ trụ, đó là xung lực hay rung động ban đầu, phát ra từ thể nguyên nhân logoi trên cõi trí vũ trụ, và tiếp xúc với dĩ thái vũ trụ thứ nhất, hay cõi mặt trời của adi.

133. We note how in the discussion of Manas we are immediately led into a discussion of electricity.

133. Chúng ta lưu ý rằng trong cuộc bàn luận về Manas, chúng ta lập tức được dẫn vào một cuộc bàn luận về điện.

134. We are given a technical definition the first type of electricity as it appears on the first sub-plane of the cosmic physical plane (our logoic plane).

134. Chúng ta được trao cho một định nghĩa kỹ thuật về loại điện thứ nhất khi nó xuất hiện trên cõi phụ thứ nhất của cõi hồng trần vũ trụ (cõi logoi của chúng ta).

135. The electricity of the first cosmic physical sub-plane demonstrates as the “Will-to-be which substands that force which eventually results in objectivity.

135. Điện của cõi phụ hồng trần vũ trụ thứ nhất biểu lộ như “Ý Chí-hiện hữu nâng đỡ mãnh lực rốt cuộc dẫn đến tính khách quan”.

136. So there are three things here to be considered:

136. Vì vậy, ở đây có ba điều cần được xem xét:

a. The Will-to-be

a. Ý Chí-hiện hữu

b. That force producing objectivity which the Will-to-be substands

b. Mãnh lực tạo ra tính khách quan mà Ý Chí-hiện hữu nâng đỡ

c. Objectivity itself.

c. Chính tính khách quan.

137. It would seem that the Will-to-be substands the fifth principle just as the first ray substands the fifth.

137. Dường như Ý Chí-hiện hữu nâng đỡ nguyên khí thứ năm cũng như cung một nâng đỡ nguyên khí thứ năm.

138. VSK asks: “How might this be related to Son of Necessity?”

138. VSK hỏi: “Điều này có thể liên hệ thế nào với Con của Tất Yếu?”

139. The electricity of the first cosmic physical sub-plane is emanated from the cosmic mental plane, presumably from the solar logoic causal body.

139. Điện của cõi phụ hồng trần vũ trụ thứ nhất được phát ra từ cõi trí vũ trụ, có lẽ từ thể nguyên nhân logoi thái dương.

140. We see the manner in which that which for us (focussed as we are on the cosmic physical plane) is Will and a demonstration of the first aspect, really has its origin on the level of cosmic mind. We have seen this before when seeking the practical origin of the fifth fire (of Spirit)—the fire above the two material fires and the two mental fires.

140. Chúng ta thấy cách mà điều đối với chúng ta (vốn tập trung như chúng ta đang ở trên cõi hồng trần vũ trụ) là Ý Chí và là một biểu lộ của phương diện thứ nhất, thật ra lại có nguồn gốc trên cấp độ trí tuệ vũ trụ. Chúng ta đã thấy điều này trước đây khi tìm kiếm nguồn gốc thực tiễn của ngọn lửa thứ năm (của tinh thần)—ngọn lửa ở trên hai ngọn lửa vật chất và hai ngọn lửa trí tuệ.

141. This first type of electricity must naturally be connected with the first Creative Hierarchy or Divine Flames who express through the “Sea of Fire”.

141. Loại điện thứ nhất này dĩ nhiên phải được nối kết với Huyền Giai Sáng Tạo thứ nhất hay các Ngọn Lửa Thiêng liêng biểu lộ qua “Biển Lửa”.

142. We could say that this first type of cosmic electricity is the Sea of Fire.

142. Chúng ta có thể nói rằng loại điện vũ trụ thứ nhất này Biển Lửa.

143. We will see that different types of motion and dynamics are associated with each of the types of electricity representative of the various sub-planes of the cosmic physical plane.

143. Chúng ta sẽ thấy rằng những loại chuyển động và động lực khác nhau được gắn với mỗi loại điện đại diện cho các cõi phụ khác nhau của cõi hồng trần vũ trụ.

144. We will have to research the electrical condition of the particles or constituents of the “Sea of Fire”. Its electrical nature would seem very “positive”.

144. Chúng ta sẽ phải nghiên cứu trạng thái điện của các hạt hay các thành phần của “Biển Lửa”. Bản chất điện của nó dường như rất “dương”.

Electricity on the monadic plane demonstrates as the first manifestation of form, as that which causes forms to cohere.

Điện trên cõi chân thần biểu lộ như sự biểu hiện đầu tiên của hình tướng, như điều khiến các hình tướng kết dính với nhau.

145. Where is “Form” (in the Platonic sense) to be found. Some might look for it much lower than the monadic plane, but we are given to understand that the monadic plane is the origin of form. We might say that on the monadic plane the ‘noumenon of form’ originates.

145. “Hình Tướng” (theo nghĩa Plato) được tìm thấy ở đâu? Một số người có thể tìm nó ở thấp hơn nhiều so với cõi chân thần, nhưng chúng ta được cho hiểu rằng cõi chân thần là nguồn gốc của hình tướng. Chúng ta có thể nói rằng trên cõi chân thần, ‘bản thể của hình tướng’ phát sinh.

146. Form, per se (and as it appears on the monadic plane) is that which causes forms (note the plural) to cohere. We might consider that the noumenon of magnetism (as relevant to the cosmic physical plane) appears on the second or monadic level.

146. Hình tướng, chính nó (và như nó xuất hiện trên cõi chân thần), là điều khiến các hình tướng (lưu ý số nhiều) kết dính với nhau. Chúng ta có thể xem rằng bản thể của từ điện (xét theo mức độ liên hệ với cõi hồng trần vũ trụ) xuất hiện trên cấp độ thứ hai hay cấp độ chân thần.

Matter (electrified by “fire by friction”) and the electric fire of spirit meet and blend, and form appears.

Vật chất (được điện hóa bởi “Lửa ma sát”) và lửa điện của tinh thần gặp nhau và hòa trộn, và hình tướng xuất hiện.

147. What is the usual relation of matter to “fire by friction”? Matter is “electrified” by “fire by friction”! Matter, per se, is not fire by friction.

147. Quan hệ thông thường của vật chất với “Lửa ma sát” là gì? Vật chất được “điện hóa” bởi “Lửa ma sát”! Vật chất, chính nó, không phải là Lửa ma sát.

148. Two types of electricity (the first and third types) produce, it seems, the second type which is responsible for the production of form.

148. Hai loại điện (loại thứ nhất và loại thứ ba) dường như tạo ra loại thứ hai, loại chịu trách nhiệm cho việc tạo ra hình tướng.

149. When dealing with the first, second and third sub-planes of the cosmic physical plane, we are dealing with archetypal planes, planes which are causal to all developments in the four lower worlds.

149. Khi bàn đến cõi phụ thứ nhất, thứ hai và thứ ba của cõi hồng trần vũ trụ, chúng ta đang bàn đến các cõi nguyên mẫu, những cõi là nguyên nhân của mọi phát triển trong bốn cõi thấp.

Form is the result of the desire for existence, hence the dynamic fire of Will is transmuted into the burning fire of Desire.

Hình tướng là kết quả của dục vọng hiện hữu, do đó lửa năng động của Ý Chí được chuyển hoá thành lửa bừng cháy của Dục vọng.

150. The number six is implicated in the “desire for existence”. This six is related to the one of the logoic plane.

150. Con số sáu được hàm ý trong “dục vọng hiện hữu”. Số sáu này liên hệ với số một của cõi logoi.

151. The “dynamic fire of Will” is ‘sub-standed’ by the “desire for existence” (which we may consider as emanating from the cosmic astral plane, though its source is certainly much higher).

151. “Lửa năng động của Ý Chí” được “nâng đỡ” bởi “dục vọng hiện hữu” (mà chúng ta có thể xem là phát ra từ cõi cảm dục vũ trụ, dù nguồn gốc của nó chắc chắn cao hơn nhiều).

152. We learn that dynamism is transmuted into burning. This transmutation is occurring in the reverse direction, for the “dynamic fire of Will” pertains to the first or logoic plane, and the “burning fire of Desire” pertains to the second. We are dealing with a kind of ‘downward transmutation’ or a ‘manifestory transmutation’.

152. Chúng ta học được rằng tính năng động được chuyển hoá thành sự bốc cháy. Sự chuyển hoá này đang diễn ra theo chiều ngược lại, vì “Lửa năng động của Ý Chí” thuộc về cõi thứ nhất hay cõi logoic, còn “Lửa bốc cháy của Dục vọng” thuộc về cõi thứ hai. Chúng ta đang đề cập đến một loại sự chuyển hoá ‘đi xuống

153. Without form there is no way for the desire for existence to be fulfilled.

153. Không có hình thức thì không có cách nào để dục vọng hiện hữu được thoả mãn.

154. The “burning fire of Desire” makes existence in form possible.

154. “Lửa bốc cháy của Dục vọng” khiến sự hiện hữu trong hình tướng trở nên khả hữu.

I would call attention to the choice of those two phrases, which might also be expressed under the terms:

Tôi muốn lưu ý đến việc chọn hai cụm từ này, cũng có thể diễn đạt dưới các thuật ngữ:

Dynamic electrical manifestation.

Biểu hiện điện mang tính động.

155. The first Creative Hierarchy is “dynamic” in expression, and (we may infer) very positive—electrically.

155. Huyền Giai Sáng Tạo thứ nhất “mang tính động” trong biểu lộ, và (chúng ta có thể suy) rất dương —về điện.

156. The second Creative Hierarchy is “burning” in expression. This “burning” relates to purification, which is that shamballic quality associated with the second ray, even as destruction is associated with the first ray and organization with the third.

156. Huyền Giai Sáng Tạo thứ hai “mang tính bốc cháy” trong biểu lộ. Sự “bốc cháy” này liên hệ với thanh luyện, vốn là phẩm tính shamballa gắn với cung hai, cũng như phá huỷ gắn với cung một và tổ chức gắn với cung ba.

Burning electrical manifestation.

Biểu hiện điện mang tính bốc cháy.

157. We must remember that we are speaking of electricity: the first type of “dynamic electrical manifestation”; the second type of “burning electrical manifestation”.

157. Chúng ta phải nhớ rằng chúng ta đang nói về điện: loại thứ nhất là “biểu hiện điện mang tính động”; loại thứ hai là “biểu hiện điện mang tính bốc cháy”.

158. We might ask how is dynamism related to the Will, and “burning” related to Desire and form?

158. Chúng ta có thể hỏi tính động liên hệ ra sao với Ý Chí, và “bốc cháy” liên hệ thế nào với Dục vọng và hình thức?

159. Dynamism is related to the “Divine Lives” or “Divine Flames”—the member of the first Creative Hierarchy. Desire/form is related to the “Divine Builders” who are the “Burning sons of desire”.

159. Tính động liên hệ với “các Sự Sống Thiêng” hay “các Ngọn Lửa Thiêng”—thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ nhất. Dục vọng/hình thức liên hệ với “các Đấng Kiến Tạo Thiêng liêng” là “những Con cháy bỏng của dục vọng”.

160. The property of “burning” is usually associated with the number six and Mars. It is unusual to see it associated with the number two, but then the second systemic plane is really the sixth, from another perspective.

160. Thuộc tính “bốc cháy” thường gắn với con số sáu và Hỏa Tinh. Thật khác thường khi thấy nó gắn với con số hai, nhưng rồi cõi hệ thống thứ hai thực ra là cõi thứ sáu nhìn từ một quan điểm khác.

161. The “Sea of Fire” describes the first systemic plane, but “burning” describes the second.

161. “Biển Lửa” mô tả cõi hệ thống thứ nhất, nhưng “bốc cháy” mô tả cõi thứ hai.

162. The property of “burning” in some way preserves the coherence of the seven archetypal “forms” found on this plane. That which would conduce to homogeneity is burned away and prevented from reducing the distinctive “forms” to oneness (as may be found in the “Sea of Fire”).

162. Phẩm tính “bốc cháy” bằng một cách nào đó duy trì tính cố kết của bảy “hình tướng” nguyên mẫu được tìm thấy trên cõi này. Điều gì dẫn đến tính đồng nhất thì bị đốt cháy đi và bị ngăn không cho làm giảm các “hình tướng” đặc thù ấy thành một tính duy nhất (như có thể thấy trong “Biển Lửa”).

163. This type of “burning” is magnetic. The “burning” burns away all but the intent to manifest in specific ways through specific forms. The “burning” preserves distinctive archetypal forms, promoting their purity and coherency by destroying that which would compromise their purity and coherency.

163. Loại “bốc cháy” này có tính từ tính. Sự “bốc cháy” thiêu rụi mọi thứ ngoại trừ ý định biểu lộ theo những cách đặc thù qua những hình tướng đặc thù. Sự “bốc cháy” bảo tồn các hình tướng nguyên mẫu đặc thù, thúc đẩy sự thuần khiết và tính cố kết của chúng bằng cách hủy diệt điều gì có thể làm tổn hại sự thuần khiết và tính cố kết ấy.

164. VSK says the following: “Notice that here follows a long section dealing exclusively with the manifestation on the second subplane, the monadic. The third plane, the atmic, is addressed much further down. This section of study, S3S10, covers only to the third subplane of the physical.”

164. VSK nói như sau: “Hãy lưu ý rằng tiếp theo đây là một phần dài chỉ chuyên bàn về sự biểu lộ trên cõi phụ thứ hai, cõi chân thần. Cõi thứ ba, cõi atma, được đề cập ở phía dưới rất xa. Phần nghiên cứu này, S3S10, chỉ bao quát đến cõi phụ thứ ba của cõi hồng trần.”

165. We shall advance in our understanding by gathering a number of related ideas.

165. Chúng ta sẽ tiến bộ trong sự thấu hiểu của mình bằng cách tập hợp một số ý tưởng có liên hệ với nhau.

Here on the second plane, the sea of electrical fire, which distinguished the first plane, is transformed into the akasha, or burning etheric matter.

Ở đây trên cõi thứ hai, biển lửa điện, vốn phân biệt cõi thứ nhất, được chuyển đổi thành akasha, hay vật chất dĩ thái bốc cháy.

166. At first we spoke of the “dynamic fire of Will” being transmuted into the “burning fire of Desire”. Now we speak of the same process in terms of transformation. A first sight, the term “transformed” seems more appropriate.

166. Lúc đầu chúng ta nói về “Lửa năng động của Ý Chí” được chuyển hoá thành “Lửa bốc cháy của Dục vọng”. Giờ đây chúng ta nói về cùng tiến trình ấy theo thuật ngữ chuyển đổi. Thoạt nhìn, từ “được chuyển đổi” có vẻ thích hợp hơn.

167. We have an important process: the “sea of fire” is transformed into “akasha”.

167. Chúng ta có một tiến trình quan trọng: “biển lửa” được chuyển đổi thành “akasha”.

168. Akasha is defined as “burning etheric matter”. We note that the matter is cosmic etheric matter. Akasha relates most intimately to the second systemic plane as does “burning”, and the second systemic plane is a cosmic ether. Hence, the phrase “burning etheric matter”.

168. Akasha được định nghĩa là “vật chất dĩ thái bốc cháy”. Chúng ta lưu ý rằng vật chất ấy là vật chất dĩ thái vũ trụ. Akasha liên hệ mật thiết nhất với cõi hệ thống thứ hai cũng như “bốc cháy”, và cõi hệ thống thứ hai là một dĩ thái vũ trụ. Do đó có cụm từ “vật chất dĩ thái bốc cháy”.

169. We might ask, “Does the matter of the ‘Sea of Fire’ burn”. Apparently not in the same way.

169. Chúng ta có thể hỏi, “Vật chất của ‘Biển Lửa’ có cháy không?” Hiển nhiên là không theo cùng một cách.

170. The “burning” on this second plane seems a process of purification by means of which the matter related to the archetypal forms there found preserves its magnetic purity so that it can cohere in the appropriate types of archetypal forms.

170. Sự “bốc cháy” trên cõi thứ hai này dường như là một tiến trình thanh luyện, nhờ đó vật chất liên hệ với các hình tướng nguyên mẫu được tìm thấy ở đó bảo tồn sự thuần khiết từ tính của nó để có thể cố kết trong những loại hình tướng nguyên mẫu thích hợp.

171. We will have to remain alert for other possible meanings of “burning”. Usually the process of burning reduces to essence. On the second plane there are seven distinct types and so, perhaps, seven types of essence (preserved in distinction, perhaps, by burning).

171. Chúng ta sẽ phải luôn tỉnh táo trước những ý nghĩa khả dĩ khác của “bốc cháy”. Thông thường, tiến trình đốt cháy làm giảm xuống còn tinh chất. Trên cõi thứ hai có bảy loại riêng biệt và vì thế, có lẽ có bảy loại tinh chất (có lẽ được giữ riêng biệt nhờ sự bốc cháy).

It is the plane of the flaming Sun, just as the first plane is that of the fire mist [Page 312] or the nebulae. This idea will be easier to comprehend if it is borne in mind that we are dealing with the cosmic physical plane.

Đó là cõi của Mặt Trời rực cháy, cũng như cõi thứ nhất là cõi của sương lửa [Page 312] hay các tinh vân. Ý tưởng này sẽ dễ hiểu hơn nếu ghi nhớ rằng chúng ta đang đề cập đến cõi hồng trần vũ trụ.

172. We would not know what to think of such a statement in relation to the cosmic astral plane, for instance.

172. Chẳng hạn, chúng ta sẽ không biết phải nghĩ gì về một phát biểu như thế nếu liên hệ nó với cõi cảm dục vũ trụ.

173. We are given an important distinction. The “fire mist” does not suggest form; the “flaming Sun” does suggest form.

173. Chúng ta được trao cho một sự phân biệt quan trọng. “Sương lửa” không gợi ý hình tướng; còn “Mặt Trời rực cháy” quả thực gợi ý hình tướng.

174. The “Sea of Fire” is ‘pre-formal’. On the monadic plane, we can imagine that seven Suns abide as seven, primary or archetypal forms.

174. “Biển Lửa” là trạng thái ‘tiền hình tướng’. Trên cõi chân thần, chúng ta có thể hình dung bảy Mặt Trời tồn tại như bảy hình tướng sơ khởi hay nguyên mẫu.

175. VSK advises: “Reference Chart XII, page 1230. The lowest plane is the Kosmic Plane. It is, in this case numbered “7th Kosmic Plane”. Remember the physical is both the number one and seven, but always at the base of our charts”.

175. VSK khuyên: “Hãy tham chiếu Biểu đồ XII, trang 1230. Cõi thấp nhất là Cõi Vũ trụ. Trong trường hợp này, nó được đánh số là ‘Cõi thứ bảy Vũ trụ’. Hãy nhớ rằng cõi hồng trần vừa là số một vừa là số bảy, nhưng luôn ở đáy các biểu đồ của chúng ta”.

176. The Sun is naturally associated with the second ray, with akasha, with “burning”, with the “burning sons of desire”, and with the seven distinctive types of archetypal forms. On this we may ponder with profit.

176. Mặt Trời tự nhiên được liên kết với cung hai, với akasha, với “bốc cháy”, với “các con bốc cháy của dục vọng”, và với bảy loại hình tướng nguyên mẫu đặc thù. Đây là điều chúng ta có thể suy ngẫm một cách hữu ích.

177. The second systemic plane is certainly a solar plane, even though ruled by Virgo. Virgo then is related to “burning etheric matter” and to the “akasha”. One would think these terms more characteristic of Leo.

177. Cõi hệ thống thứ hai chắc chắn là một cõi thái dương mặc dù được Virgo cai quản. Khi ấy Virgo liên hệ với “vật chất dĩ thái bốc cháy” và với “akasha”. Người ta sẽ nghĩ rằng những thuật ngữ này đặc trưng cho Leo hơn.

178. Leo, while normally related to the Sun, animates that Creative Hierarchy which is associated not with the Sun but with the “fire mist”.

178. Leo, tuy bình thường liên hệ với Mặt Trời, lại tiếp sinh lực cho Huyền Giai Sáng Tạo được liên kết không phải với Mặt Trời mà với “sương lửa”.

179. Subjective nebulae can be considered to exist in the “fire mist” stage. Perhaps the “seven Suns” in a pre-formal stage exist there.

179. Các tinh vân chủ quan có thể được xem là tồn tại trong giai đoạn “sương lửa”. Có lẽ “bảy Mặt Trời” trong một giai đoạn tiền hình tướng tồn tại ở đó.

180. The fact that this Sun is a “flaming Sun” should be remembered as it relates the Monad to the “Divine Flame”.

180. Cần ghi nhớ rằng Mặt Trời này là một Mặt Trời “rực cháy”, vì điều đó liên hệ Chân thần với “Ngọn Lửa Thiêng”.

Certain things take place on the second plane which need realisation, even if already theoretically conceded:

Có những điều diễn ra trên cõi thứ hai cần được chứng nghiệm, dù về mặt lý thuyết đã được thừa nhận:

181. We have no choice but to work on a theoretical level, given the present limitations of our human minds.

181. Chúng ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc làm việc trên cấp độ lý thuyết, xét đến những giới hạn hiện nay của trí tuệ nhân loại chúng ta.

Heat or flaming radiation is first seen.

Nhiệt hay bức xạ rực cháy lần đầu tiên được thấy.

182. Again, “heat” is usually associated with the number six, but the second planet is the sixth plane from another perspective.

182. Một lần nữa, “nhiệt” thường được gắn với số sáu, nhưng cõi thứ hai là cõi thứ sáu từ một góc nhìn khác.

183. “Heat” is also considered “spiritual energy”, which fits, since we are considering the monadic plane.

183. “Nhiệt” cũng được xem là “năng lượng tinh thần”, điều này phù hợp vì chúng ta đang xét đến cõi chân thần.

184. “Flaming radiation” characterizes the Monad, and presumably, all the archetypal forms found on this second plane.

184. “Bức xạ rực cháy” đặc trưng cho Chân thần, và có lẽ cho mọi hình tướng nguyên mẫu được tìm thấy trên cõi thứ hai này.

185. The akasha sounds; it burns; it has heat; it flames forth in radiation.

185. Akasha phát ra âm thanh; nó bốc cháy; nó có nhiệt; nó bùng phát thành bức xạ.

Form is taken, and the spheroidal shape of all existence originates.

Hình tướng được tiếp nhận, và hình dạng cầu thể của mọi sự tồn tại phát sinh.

186. The spheroidicity of form relates directly to the influence of the planet Jupiter as it relates on this plane to Virgo (the “Mother”).

186. Tính cầu thể của hình tướng liên hệ trực tiếp với ảnh hưởng của hành tinh Sao Mộc khi nó liên hệ trên cõi này với Virgo (“Người Mẹ”).

The first interplay between the polar opposites is felt.

Sự tương tác đầu tiên giữa các cực đối nghịch được cảm nhận.

187. Apparently this is not the case within the “Sea of Fire”.

187. Hiển nhiên điều này không xảy ra trong “Biển Lửa”.

188. Since the monadic plane (resonating to the number two) is the first planet of duality, it is natural that polarity would appear on this plane. (This still leaves unanswered the nature of the electrical manifestation on the first or logoic plane.)

188. Vì cõi chân thần (cộng hưởng với số hai) là cõi đầu tiên của nhị nguyên tính, nên việc cực tính xuất hiện trên cõi này là điều tự nhiên. (Điều này vẫn chưa giải đáp bản chất của sự biểu lộ điện trên cõi thứ nhất hay cõi logoic.)

189. The seven ray streams are divided into masculine and feminine qualities.

189. Bảy dòng cung được phân chia thành các phẩm tính nam và nữ.

Differentiation is first seen, not only in the recognised duality of all things, but in differentiation in motion; two vibrations are recognised.

Sự biến phân lần đầu tiên được thấy, không chỉ trong nhị nguyên tính được nhận biết của mọi sự vật, mà còn trong sự biến phân trong chuyển động; hai rung động được nhận biết.

190. The appearance of “differentiation” accords well with the discriminative capacity of the sign Virgo, which rules this plane. Virgo, we know, is an analytical sign possessed with the power to divide.

190. Sự xuất hiện của “sự biến phân” rất phù hợp với năng lực phân biện của dấu hiệu Virgo, vốn cai quản cõi này. Như chúng ta biết, Virgo là một dấu hiệu có tính phân tích, sở hữu năng lực phân chia.

191. We do not know what two types of motion appear here.

191. Chúng ta không biết hai loại chuyển động nào xuất hiện ở đây.

192. The two vibrations, however, can accord with the masculine and feminine qualities informing the hard line rays (masculine) and the soft-line rays (feminine).

192. Tuy nhiên, hai rung động ấy có thể phù hợp với các phẩm tính nam và nữ thấm nhuần các cung đường cứng (nam tính) và các cung đường mềm (nữ tính).

193. There can be no differentiation into seven unless duality is operative.

193. Không thể có sự biến phân thành bảy nếu nhị nguyên tính không hoạt động.

194. The numbers two and seven both relate to this plane which is the seventh from one point of view and the second from another. It is also the sixth from still another.

194. Các số haibảy đều liên hệ với cõi này, vốn là cõi thứ bảy từ một quan điểm và là cõi thứ hai từ một quan điểm khác. Nó cũng là cõi thứ sáu từ một quan điểm khác nữa.

Certain vibratory factors begin to work such as attraction, repulsion, discriminative rejection, coherent assimilation, and the allied manifestation of revolving forms, orbital paths and the beginning of that curious downward pull into matter that results in evolution itself.

Một số yếu tố rung động bắt đầu hoạt động như sự hấp dẫn, sự đẩy lùi, sự khước từ có phân biện, sự đồng hoá cố kết, và biểu lộ liên hệ của các hình tướng quay tròn, các quỹ đạo cùng với sự khởi đầu của lực kéo kỳ lạ đi xuống vào vật chất vốn dẫn đến chính tiến hoá.

195. Let us tabulate these vibratory factors for clarity of assimilation:

195. Chúng ta hãy lập bảng các yếu tố rung động này để dễ đồng hoá hơn:

a. Attraction

a. Sự hấp dẫn

b. Repulsion

b. Sự đẩy lùi

c. Discriminative rejection

c. Sự khước từ có phân biện

d. Coherent assimilation

d. Sự đồng hoá cố kết

e. Revolving forms

e. Các hình tướng quay tròn

f. Orbital paths

f. Các quỹ đạo

g. The Downward pull into matter.

g. Lực kéo đi xuống vào vật chất.

196. We note that there are seven factors listed, which tempts one to correlate them with the seven rays.

196. Chúng ta lưu ý rằng có bảy yếu tố được liệt kê, điều này khiến người ta muốn liên hệ chúng với bảy cung.

197. We recall that on this second plane, the numbers two and seven are closely related.

197. Chúng ta nhớ rằng trên cõi thứ hai này, các số haibảy liên hệ chặt chẽ với nhau.

198. We note that all these factors are “vibratory factors” which suggests that they are correlated to the mathematics of frequency.

198. Chúng ta lưu ý rằng tất cả các yếu tố này đều là những yếu tố “rung động”, điều này gợi ý rằng chúng tương quan với toán học của tần số.

199. Again, we have the implication that within the “Sea of Fire” in the “fire mist” stage, these vibratory factors are not operative.

199. Một lần nữa, chúng ta có hàm ý rằng trong “Biển Lửa” ở giai đoạn “sương lửa”, các yếu tố rung động này không hoạt động.

The primary seven manifestations of logoic existence find expression and the three, with the four, commence their work.

Bảy biểu lộ sơ khởi của sự tồn tại logoic tìm thấy sự biểu lộ và bộ ba, cùng với bộ bốn, bắt đầu công việc của chúng.

200. Every type of monadic plane will have seven archetypal forms upon it.

200. Mỗi loại cõi chân thần sẽ có bảy hình tướng nguyên mẫu trên đó.

201. The word “primary” is important; it is a hint that we are dealing with the monadic level of expression, for the monadic ray is the “primary” ray. Interestingly, seven is a “prime” number—divisible only by itself. All the first four odd numbers are.

201. Từ “sơ khởi” rất quan trọng; đó là một gợi ý rằng chúng ta đang đề cập đến cấp độ biểu lộ chân thần, vì cung chân thần là cung “sơ khởi”. Thú vị thay, bảy là một số “nguyên tố” — chỉ chia hết cho chính nó. Tất cả bốn số lẻ đầu tiên đều như vậy.

202. This gives credence to the idea that there are seven types of Monads, though only three of these types are major (and perhaps relate more to the “Sea of Fire” than to the “Akasha”). We cannot say that the “Sea of Fire” is entirely formless, otherwise the three Logoi could not be focused thereon.

202. Điều này củng cố ý tưởng rằng có bảy loại Chân thần, dù chỉ có ba trong số các loại này là chính yếu (và có lẽ liên hệ với “Biển Lửa” hơn là với “Akasha”). Chúng ta không thể nói rằng “Biển Lửa” hoàn toàn vô tướng, nếu không thì ba Thượng đế không thể được tập trung trên đó.

203. We are told of “the three with the four”. Clearly in this context, the four are subsidiary to the three.

203. Chúng ta được nói đến “bộ ba cùng với bộ bốn”. Rõ ràng trong ngữ cảnh này, bộ bốn là phụ thuộc vào bộ ba.

204. The division of seven into a three and a four gets its start on the monadic plane.

204. Sự phân chia bảy thành một bộ ba và một bộ bốn bắt đầu trên cõi chân thần.

The seven wheels, or etheric centres in the body etheric of that great cosmic Entity, of Whom our solar Logos is a reflection, begin to vibrate and His life activity can be seen.

Bảy bánh xe, hay các trung tâm dĩ thái trong thể dĩ thái của Thực Thể vũ trụ vĩ đại ấy, mà Thái dương Thượng đế của chúng ta là một phản ánh của Ngài, bắt đầu rung động và hoạt động sự sống của Ngài có thể được thấy.

205. This is an extremely occult statement.

205. Đây là một phát biểu cực kỳ huyền bí.

206. There are seven vortices of force (monadically comprised) on the second systemic or monadic plane.

206. Có bảy xoáy mãnh lực (được cấu thành một cách chân thần) trên cõi hệ thống thứ hai hay cõi chân thần.

207. Of what type of cosmic Entity is our Solar Logos a reflection? A Cosmic Logos? Or a Super-Cosmic Logos?

207. Thái dương Thượng đế của chúng ta là phản ánh của loại Thực Thể vũ trụ nào? Một Thượng đế Vũ trụ? Hay một Thượng đế Siêu-vũ-trụ?

208. If man is a truer reflection of the Solar Logos than the Planetary Logos, then perhaps the Solar Logos is a truer reflection of the Super-Cosmic Logos than the Cosmic Logos. Hypothetically, one level is skipped.

208. Nếu con người là phản ánh chân thực hơn của Thái dương Thượng đế so với Đức Hành Tinh Thượng Đế, thì có lẽ Thái dương Thượng đế là phản ánh chân thực hơn của Thượng đế Siêu-vũ-trụ so với Thượng đế Vũ trụ. Theo giả thuyết, một cấp độ bị bỏ qua.

209. We are being told that the monadic centers are really as etheric centers to some great Being.

209. Chúng ta đang được cho biết rằng các trung tâm chân thần thực sự giống như các trung tâm dĩ thái đối với một Đại Hữu Thể nào đó.

210. Speculatively, it could be examined whether:

210. Theo suy đoán, có thể khảo sát xem liệu:

a. The foundational chakras of the Planetary Logos would be found upon the higher mental plane (in the egoic groups)

a. các luân xa nền tảng của Đức Hành Tinh Thượng Đế sẽ được tìm thấy trên Cõi thượng trí (trong các nhóm chân ngã)

b. The foundational chakras of the Solar Logos would be found upon the buddhic plane

b. các luân xa nền tảng của Thái dương Thượng đế sẽ được tìm thấy trên cõi Bồ đề

c. The foundational chakras of the Cosmic Logos would be found upon the atmic plane

c. các luân xa nền tảng của Thượng đế Vũ trụ sẽ được tìm thấy trên cõi atma

d. The foundational chakras of the One About Whom Naught May Be Said would be found upon the monadic plane

d. các luân xa nền tảng của Đấng Bất Khả Tư Nghị sẽ được tìm thấy trên cõi chân thần

211. VSK Advises: “Look again at the chart on TCF, 56, and trace the lines of energy that flow from the triangle above into each of the Cosmic Planes. How might that chart help bring the list above alive?”

211. VSK khuyên: “Hãy nhìn lại biểu đồ trong TCF, 56, và lần theo các đường năng lượng chảy từ tam giác phía trên vào từng Cõi Vũ trụ. Biểu đồ đó có thể giúp làm cho danh sách trên trở nên sống động như thế nào?”

212. VSK asks: “Is there a discrepancy between the type of emanating energy and what plane it manifests upon? For example, the sixth Tanmatra as influx to the fifth cosmic plane, and the seventh Tanmatra into the sixth or cosmic astral – with the lowest, Cosmic Physical Plane, a type of vestigial tail from the originating ganglion?

212. VSK hỏi: “Có sự sai biệt nào giữa loại năng lượng phát xạ và cõi mà nó biểu lộ trên đó không? Thí dụ, Tanmatra thứ sáu như một dòng tuôn vào cõi vũ trụ thứ năm, và Tanmatra thứ bảy vào cõi thứ sáu hay cõi cảm dục vũ trụ — với Cõi Hồng Trần Vũ Trụ thấp nhất như một loại đuôi thoái hóa từ hạch khởi nguyên?”

213. VSK muses: “That gives a whole new meaning to the tail wagging the dog! Siriusly!”

213. VSK ngẫm nghĩ: “Điều đó đem lại một ý nghĩa hoàn toàn mới cho cái đuôi vẫy con chó! Siriusly!”

214. VSK advises: “Note there are seven points in this list. Does each relate or have resonance to a subplane as well?”

214. VSK khuyên: “Lưu ý rằng có bảy điểm trong danh sách này. Mỗi điểm có liên hệ hay cộng hưởng với một cõi phụ nữa chăng?”

215. May it be suggested that while this chart of Tanmatras may have a higher correspondence related to the cosmic astral plane, it seems to depict occurrences on the cosmic physical plane? This could be debated, one supposes.

215. Có thể gợi ý rằng mặc dù biểu đồ này về các Tanmatras có thể có một tương ứng cao hơn liên hệ với cõi cảm dục vũ trụ, dường như nó mô tả các diễn biến trên cõi hồng trần vũ trụ? Điều này có thể được tranh luận, người ta cho là vậy.

We are at this juncture considering the manifestations of electricity on the different planes of the cosmic physical plane, or on our solar systemic planes.

Ở chặng này, chúng ta đang xem xét các biểu lộ của điện trên các cõi khác nhau của cõi hồng trần vũ trụ, hay trên các cõi của hệ mặt trời chúng ta.

216. When we get into intricate detail, it never hurts to be reminded of the major theme of our enquiry.

216. Khi đi vào chi tiết phức tạp, việc được nhắc nhớ về chủ đề lớn của cuộc khảo cứu của chúng ta luôn là điều hữu ích.

Hence, all that can be seen in manifestation is fundamentally physical electricity.

Do đó, mọi điều có thể được thấy trong biểu lộ về căn bản đều là điện hồng trần.

217. Physical electricity is electricity as it pertains to the cosmic physical plane—which is physical.

217. Điện hồng trần là điện khi nó liên hệ với cõi hồng trần vũ trụ — vốn là cõi hồng trần.

218. The term “manifestation” as used in a cosmic context, is usually related to the cosmic physical plane and not to the other cosmic planes.

218. Thuật ngữ “biểu lộ”, khi được dùng trong ngữ cảnh vũ trụ, thường liên hệ với cõi hồng trần vũ trụ chứ không phải với các cõi vũ trụ khác.

We have seen that the primary manifestation is that which vitalised, tinctured, and pervaded the matter of space, thus embodying—in connection with logoic manifestation—that which is analogous to the vital heat, activity and radiation of a human being, [Page 313] manifesting on the solar physical plane.

Chúng ta đã thấy rằng biểu lộ sơ khởi là điều đã tiếp sinh lực, nhuốm màu và thấm khắp vật chất của không gian, nhờ đó hiện thân — liên hệ với sự biểu lộ logoic — điều tương tự với nhiệt sinh lực, hoạt động và bức xạ của một con người, [Page 313] biểu lộ trên cõi hồng trần thái dương.

219. This “primary manifestation” seems to be correlated with the First Outpouring which is Fohatic.

219. “Biểu lộ sơ khởi” này dường như tương quan với Lần tuôn đổ thứ nhất vốn là Fohatic.

220. Through it come vital head, activity and radiation.

220. Qua đó đến nhiệt sinh lực, hoạt động và bức xạ.

221. Vital heat, activity and radiation all seem justifiably related to fire by friction.

221. Nhiệt sinh lực, hoạt động và bức xạ dường như đều có thể được liên hệ một cách chính đáng với Lửa ma sát.

Certain electrical phenomena distinguish a human being, only (as they have not been expressed or considered in terms of electricity) the analogy has been lost sight of.

Một số hiện tượng điện phân biệt con người, chỉ vì chúng chưa được biểu lộ hay được xem xét theo thuật ngữ điện nên sự tương tự đã bị bỏ quên.

222. We are being told that electricity is far more pervasive than we imagine and that many phenomena regularly noticed in relation to a human being are really electrical phenomena.

222. Chúng ta đang được cho biết rằng điện lan tỏa rộng khắp hơn nhiều so với điều chúng ta tưởng tượng và rằng nhiều hiện tượng thường được ghi nhận nơi con người thực ra là những hiện tượng điện.

223. We have moved from a discussion of cosmic electricity as it is manifesting on the cosmic ethers, to electrical demonstration in relation to a human being.

223. Chúng ta đã chuyển từ việc bàn về điện vũ trụ như nó đang biểu lộ trên các dĩ thái vũ trụ sang sự biểu hiện điện liên hệ với một con người.

224. All of the following are electrical demonstrations in relation to a human being.

224. Tất cả những điều sau đây đều là những biểu hiện điện liên hệ với một con người.

These demonstrations might be considered as:

Những biểu hiện này có thể được xem là:

First, that coherent VITALITY which holds the entire body revolving around the central unit of force. It must here be remembered that the entire manifestation of a solar system consists of the etheric body, and the dense body of a Logos.

Thứ nhất, SINH LỰC cố kết vốn giữ toàn bộ thể quay quanh đơn vị mãnh lực trung tâm. Ở đây cần nhớ rằng toàn bộ sự biểu lộ của một hệ mặt trời gồm thể dĩ thái và thể đậm đặc của một Thượng đế.

225. “Coherent VITALITY” is an electrical demonstration. Based on what is described below, we could consider VITATLITY is as electricity in its first aspect.

225. “SINH LỰC cố kết” là một biểu hiện điện. Dựa trên điều được mô tả dưới đây, chúng ta có thể xem SINH LỰC là điện trong phương diện thứ nhất của nó.

226. We learn that vitality is cohesive and relates the point in revolution to its nucleus.

226. Chúng ta học được rằng sinh lực có tính kết dính và liên hệ điểm đang quay với hạt nhân của nó.

227. We have a confirmation that when the term “solar system” is used, it usually does not extend beyond the cosmic physical plane. In other words, it concerns only the physical body and etheric body of the Solar Logos.

227. Chúng ta có một sự xác nhận rằng khi thuật ngữ “hệ mặt trời” được dùng, nó thường không vượt ra ngoài cõi hồng trần vũ trụ. Nói cách khác, nó chỉ liên quan đến thể xác và thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế.

228. It may be that “coherent VITALITY” can be related to the atomic sub-plane of the etheric plane, where man is concerned.

228. Có thể “SINH LỰC cố kết” có thể được liên hệ với cõi phụ nguyên tử của cõi dĩ thái, xét nơi con người.

229. It would seem that we have transferred our discussion from the cosmic ethers to systemic (or solar) ethers.

229. Có vẻ như chúng ta đã chuyển cuộc bàn luận của mình từ các dĩ thái vũ trụ sang các dĩ thái hệ thống (hay thái dương).

230. From the perspective here presented, vitality relates to the first ray.

230. Từ góc nhìn được trình bày ở đây, sinh lực liên hệ với cung một.

231. The first aspect is the life aspect, and vitality is life.

231. Phương diện thứ nhất là phương diện sự sống, và sinh lựcsự sống.

Second, that radiatory MAGNETISM which distinguishes man, and makes him active in two ways:

Thứ hai, TỪ ĐIỆN bức xạ vốn phân biệt con người, và làm cho y hoạt động theo hai cách:

232. Radiatory MAGNETISM is an electrical demonstration. We could consider it electricity in its second aspect.

232. TỪ ĐIỆN bức xạ là một biểu hiện điện. Chúng ta có thể xem nó là điện trong phương diện thứ hai của nó.

233. From the perspective here presented, magnetism relates to the second ray.

233. Từ góc nhìn được trình bày ở đây, từ điện liên hệ với cung hai.

In relation to the matter of which his vehicles are composed.

Trong liên hệ với vật chất mà các vận cụ của y được cấu thành từ đó.

234. This type of magnetism may be thought of as relating to the sub-atomic systemic ether—man’s second ether.

234. Loại từ điện này có thể được xem là liên hệ với dĩ thái hệ thống hạ-nguyên tử — dĩ thái thứ hai của con người.

235. Again the sign Virgo (ruling matter, in general) is implicated, because Virgo is associated with the monadic plane, and thus with that sub-plane which on the etheric-physical plane corresponds to the monadic plane.

235. Một lần nữa dấu hiệu Virgo (cai quản vật chất nói chung) được hàm ý, vì Virgo liên hệ với cõi chân thần, và do đó với cõi phụ trên cõi hồng trần-dĩ thái tương ứng với cõi chân thần.

236. The matter is held in coherency by magnetism.

236. Vật chất được giữ trong tính cố kết nhờ từ điện.

237. Just as ACTIVITY, described below, is related to the physical plane, so MAGNETISM may be related to the astral. Is VITALITY, then, related to the mental? The higher three systemic planes are inversely reflected in the lower three.

237. Cũng như HOẠT ĐỘNG, được mô tả bên dưới, liên hệ với cõi hồng trần, thì TỪ ĐIỆN có thể liên hệ với cõi cảm dục. Vậy thì SINH LỰC có liên hệ với cõi trí chăng? Ba cõi hệ thống cao hơn được phản chiếu nghịch đảo trong ba cõi thấp hơn.

In relation to the units which form his group.

Trong liên hệ với các đơn vị tạo thành nhóm của y.

238. In the life of man, magnetism relates on a group level, holding in coherence the units with which a man may be associated.

238. Trong đời sống của con người, từ điện liên hệ ở cấp độ nhóm, giữ trong tính cố kết các đơn vị mà một người có thể liên kết với chúng.

Third, that ACTIVITY on the physical plane which results in due performance of the will and desire of the indwelling entity, and which in man is the correspondence of the Brahma aspect.

Thứ ba, là HOẠT ĐỘNG trên cõi hồng trần, đưa đến sự thực hiện đúng đắn ý chí và dục vọng của thực thể nội tại, và nơi con người, đó là sự tương ứng của phương diện Brahma.

239. “ACTIVITY” as here described in relation to man is an electrical demonstration. We could consider it electricity in its third aspect.

239. “HOẠT ĐỘNG” như được mô tả ở đây trong liên hệ với con người là một biểu hiện điện. Chúng ta có thể xem đó là điện trong phương diện thứ ba của nó.

240. ACTIVITY is related to “performance” or that demonstration through form of the will and desire of the indwelling entity.

240. HOẠT ĐỘNG liên hệ với “sự thực hiện” hay sự biểu hiện qua hình tướng của ý chí và dục vọng của thực thể nội tại.

241. Just as ACTIVITY pertains to Brahma, so MAGNETISM pertains for Vishnu and VITALITY to Shiva. In VITALITY is the idea of life, which pertains to the first aspect of divinity.

241. Cũng như HOẠT ĐỘNG thuộc về Brahma, thì TỪ TÍNH thuộc về Vishnu và SINH LỰC thuộc về Shiva. Trong SINH LỰC có ý niệm về sự sống, vốn thuộc về phương diện thứ nhất của thiên tính.

242. Another name for VITALITY is “fohatic impulse”. Fohat and Brahma are closely related.

242. Một tên gọi khác của SINH LỰC là “xung lực fohat”. Fohat và Brahma có liên hệ mật thiết với nhau.

These three electrical manifestations—vitality, magnetism, and fohatic impulse—are to be seen at work in a solar Logos, a Heavenly Man and a human being.

Ba biểu hiện điện này—sinh lực, từ tính và xung lực fohat—được thấy đang hoạt động trong một Thái dương Thượng đế, một Đấng Thiên Nhân và một con người.

243. We have been dealing with three kinds of electrical manifestation.

243. Chúng ta đã bàn đến ba loại biểu hiện điện.

a. Vitality—‘Shivic’

a. Sinh lực—‘Shivic’

b. Magnetism—‘of Vishnu’

b. Từ tính—‘của Vishnu’

c. Activity or fohatic impulse—“Brahmic”

c. Hoạt động hay xung lực fohat—“Brahmic”

244. All three types of electrical demonstration are to be found in relation to the three types of ‘atoms’ we are principally considering: the Solar Logos, the Planetary Logos and man.

244. Cả ba loại biểu hiện điện đều được tìm thấy trong liên hệ với ba loại ‘nguyên tử’ mà chúng ta chủ yếu đang xét đến: Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế và con người.

They are the objective manifestations of the psychic nature, which (in a solar Logos, for instance) we speak of in terms of quality, and call will, wisdom, activity.

Chúng là những biểu hiện khách quan của bản chất thông linh, mà (chẳng hạn trong một Thái dương Thượng đế) chúng ta nói đến bằng các thuật ngữ phẩm tính, và gọi là ý chí, minh triết, hoạt động.

245. We are still very much considering the physical plane—whether the cosmic physical plane or the systemic physical plane.

245. Chúng ta vẫn còn đang xét rất nhiều về cõi hồng trần—dù là cõi hồng trần vũ trụ hay cõi hồng trần của hệ thống.

246. The three electrical demonstrations—vitality, magnetism and activity—can be understood as related to the three highest ethers of either the cosmic physical plane or the systemic physical plane.

246. Ba biểu hiện điện—sinh lực, từ tính và hoạt động—có thể được hiểu là liên hệ với ba dĩ thái cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ hoặc của cõi hồng trần hệ thống.

247. The true psychic nature pertains to the astral plane. Just as activity correlates to the etheric-physical plane, so magnetism correlates to the astral and vitality, apparently and interestingly, to the mental (for the mental body is very much responsible for the vitalization of the etheric body).

247. Bản chất thông linh đích thực thuộc về cõi cảm dục. Cũng như hoạt động tương ứng với cõi dĩ thái-hồng trần, thì từ tính tương ứng với cõi cảm dục và sinh lực, dường như và một cách thú vị, tương ứng với cõi trí (vì thể trí chịu trách nhiệm rất lớn đối với việc tiếp sinh lực cho thể dĩ thái).

248. We have noticed in these studies that, depending upon the perspective, the first and third aspects are interchangeable. In this case, “vitality” and “activity” could relate to some similar planes—interchangeably.

248. Trong các nghiên cứu này, chúng ta đã nhận thấy rằng, tùy theo góc nhìn, phương diện thứ nhất và thứ ba có thể hoán đổi cho nhau. Trong trường hợp này, “sinh lực” và “hoạt động” có thể liên hệ với một số cõi tương tự—có thể thay thế cho nhau.

249. The analogy is interesting. In the psychic demonstration of a Solar Logos, the three aspects are called will, wisdom and activity.

249. Sự tương đồng này thật thú vị. Trong biểu hiện thông linh của một Thái dương Thượng đế, ba phương diện được gọi là ý chí, minh triết và hoạt động.

250. Vitality is the outer expression of will; magnetism is the outer expression of wisdom; activity is the outer manifestation of fohatic impulse. Here, then, is a correspondence and not a reflection.

250. Sinh lực là biểu hiện bên ngoài của ý chí; từ tính là biểu hiện bên ngoài của minh triết; hoạt động là biểu hiện bên ngoài của xung lực fohat. Như vậy, ở đây là một sự tương ứng chứ không phải một sự phản chiếu.

251. The psychic nature is always discussed in terms of “quality”. The physical nature is to be discussed in terms of appearance. The spiritual nature (above the psychic) is to be discussed in terms of “life”.

251. Bản chất thông linh luôn luôn được bàn đến bằng thuật ngữ “phẩm tính”. Bản chất hồng trần phải được bàn đến bằng thuật ngữ sắc tướng. Bản chất tinh thần (ở trên bản chất thông linh) phải được bàn đến bằng thuật ngữ “sự sống”.

Therefore, it should be noted here that the first three planes of the cosmic physical plane—the logoic, monadic, and atmic planes—are of prime importance and are the basic planes from whence emanate the secondary four;

Do đó, cần lưu ý rằng ba cõi đầu tiên của cõi hồng trần vũ trụ—cõi logoic, cõi chân thần và cõi atma—có tầm quan trọng hàng đầu và là những cõi căn bản từ đó bốn cõi thứ yếu phát xạ ra;

252. The four always come out of the three. This is so in the case of planes and also in the case of rays.

252. Bốn luôn luôn phát sinh từ ba. Điều này đúng trong trường hợp các cõi và cũng đúng trong trường hợp các cung.

253. When dealing with will, wisdom and activity (or fohatic impulse), and vitality, magnetism and activity, we have been dealing with factors which relate to the higher trinity and not primarily to the lower quaternary (except through reflection or correspondence).

253. Khi bàn đến ý chí, minh triết và hoạt động (hay xung lực fohat), cùng sinh lực, từ tính và hoạt động, chúng ta đã bàn đến những yếu tố liên hệ với tam vị cao hơn chứ không chủ yếu với bộ bốn thấp hơn (ngoại trừ qua phản chiếu hay tương ứng).

in other words, the first three cosmic ethers embody in a literal sense those three Entities whom we know as Mahadeva, Vishnu, and Brahma.

nói cách khác, ba dĩ thái vũ trụ đầu tiên hiện thân theo nghĩa đen ba Thực Thể mà chúng ta biết là Mahadeva, Vishnu và Brahma.

254. These Entities may be considered Raja Deva Lords (from one perspective) since we have been talking about electricity in relation to the sub-planes of the cosmic physical plane.

254. Các Thực Thể này có thể được xem là các Chúa Tể Raja Deva (theo một góc nhìn), vì chúng ta đã nói về điện trong liên hệ với các cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ.

255. Mahadeva and Shiva are equivalent terms

255. Mahadeva và Shiva là những thuật ngữ tương đương.

256. One sevenfold listing of such Entities might be the following

256. Một bảng liệt kê thất phân về các Thực Thể như thế có thể là như sau

a. Mahadeva—Shiva

a. Mahadeva—Shiva

b. Vishnu

b. Vishnu

c. Brahma

c. Brahma

d. Indra

d. Indra

e. Agni

e. Agni

f. Varuna

f. Varuna

g. Kshiti

g. Kshiti

In a similar sense these Three find Their densest objectivity in the three physical ethers.

Theo một ý nghĩa tương tự, Ba Đấng này tìm thấy tính khách quan đậm đặc nhất của Các Ngài trong ba dĩ thái hồng trần.

257. The higher three (expressive on the three cosmic ethers) find their densest manifestation on the three highest ethers of the systemic physical plane

257. Ba Đấng cao hơn (biểu lộ trên ba dĩ thái vũ trụ) tìm thấy biểu hiện đậm đặc nhất của Các Ngài trên ba dĩ thái cao nhất của cõi hồng trần hệ thống

258. Mahadeva corresponds with the first systemic etheric sub-plane (the atomic sub-plane), and all first ray constellational and planetary sources.

258. Mahadeva tương ứng với cõi phụ dĩ thái thứ nhất của hệ thống (cõi phụ nguyên tử), và với mọi nguồn tinh tú và hành tinh cung một.

259. Vishnu corresponds with the second systemic etheric sub-plane (the sub-atomic sub-plane) and all second ray constellational and planetary sources

259. Vishnu tương ứng với cõi phụ dĩ thái thứ hai của hệ thống (cõi phụ hạ nguyên tử) và với mọi nguồn tinh tú và hành tinh cung hai

260. Brahma corresponds with the third systemic etheric sub-plane (the super-etheric sub-plane), and all third ray constellational and planetary sources

260. Brahma tương ứng với cõi phụ dĩ thái thứ ba của hệ thống (cõi phụ siêu dĩ thái), và với mọi nguồn tinh tú và hành tinh cung ba

The lower four manifest during evolution, but are eventually synthesised into the higher [Page 314] three.

Bốn thấp hơn biểu hiện trong tiến hoá, nhưng cuối cùng được tổng hợp vào ba cao hơn [Page 314].

261. The “lower four” consist of one ether and three more physical demonstrations—gaseous, liquid and dense.

261. “Bốn thấp hơn” gồm một dĩ thái và ba biểu hiện hồng trần hơn nữa—thể khí, thể lỏng và thể đậm đặc.

262. There will come a time when dense physicality will be absorbed into the ethers, and the lower ethers will be absorbed into the higher.

262. Sẽ đến lúc tính hồng trần đậm đặc được hấp thu vào các dĩ thái, và các dĩ thái thấp hơn được hấp thu vào các dĩ thái cao hơn.

263. If we learn exactly how this process of absorption works on one level, we can analogize to others.

263. Nếu chúng ta học chính xác cách tiến trình hấp thu này vận hành trên một cấp độ, chúng ta có thể suy theo tương đồng sang các cấp độ khác.

264. Learning how the systemic ethers are absorbed may tell us something about how the synthesizing planets absorb the lesser planets.

264. Việc học cách các dĩ thái hệ thống được hấp thu có thể cho chúng ta biết điều gì đó về cách các hành tinh tổng hợp hấp thu các hành tinh nhỏ hơn.

It should be also remembered that on all the seven subplanes of a solar plane a process, in connection with electrical phenomena in etheric matter, will parallel all the processes on the major planes.

Cũng nên ghi nhớ rằng trên cả bảy cõi phụ của một cõi thái dương, một tiến trình liên quan đến các hiện tượng điện trong vật chất dĩ thái sẽ song hành với mọi tiến trình trên các cõi chính.

265. This is succinctly stated.

265. Điều này được phát biểu rất súc tích.

266. The four highest ethers are directly reflected in the four solar ethers (systemic ethers).

266. Bốn dĩ thái cao nhất được phản chiếu trực tiếp trong bốn dĩ thái thái dương (các dĩ thái hệ thống).

267. The two kinds of electricity parallel each other. The electrical demonstrations in the cosmic ethers are directly reflected in the electrical demonstrations in the systemic ethers.

267. Hai loại điện song hành với nhau. Các biểu hiện điện trong các dĩ thái vũ trụ được phản chiếu trực tiếp trong các biểu hiện điện trong các dĩ thái hệ thống.

This is easily to be seen on the mental plane, for instance, in connection with Theoretically, the absorption of all faculty by the causal body, and the discontinuance of all enforced objectivity in the three worlds at the close of the synthesising period is conceded.

Điều này có thể dễ dàng thấy được, chẳng hạn trên cõi trí, liên hệ với Về mặt lý thuyết, sự hấp thu mọi năng lực bởi thể nguyên nhân, và sự chấm dứt mọi tính khách quan bị cưỡng bách trong ba cõi thấp vào lúc kết thúc thời kỳ tổng hợp được thừa nhận.

268. The causal body is to be found on the second ‘ether’ of the systemic mental plane. That ether, ruled by the second ray, demonstrates the qualities of absorption, magnetism, coherence and is Jupiterian in nature.

268. Thể nguyên nhân được tìm thấy trên ‘dĩ thái’ thứ hai của cõi trí hệ thống. Dĩ thái đó, do cung hai cai quản, biểu lộ các phẩm tính hấp thu, từ tính, kết dính và có bản chất của Sao Mộc.

269. This mental ‘ether’ (the second) is also akashic (from one perspective) and hence the origin of the “Word of the Soul”.

269. ‘Dĩ thái’ trí tuệ này (thứ hai) cũng là akasha (theo một góc nhìn) và do đó là nguồn gốc của “Linh từ của Linh Hồn”.

270. We can extrapolate to the kind of absorption which must occur on the monadic plane since it is the second cosmic ether.

270. Chúng ta có thể ngoại suy đến loại hấp thu phải xảy ra trên cõi chân thần vì đó là dĩ thái vũ trụ thứ hai.

271. “Enforced objectivity in the three worlds” is of two kinds; one pertains to particular, individual incarnations. The other, and greater, pertains to the entire process of reincarnation.

271. “Tính khách quan bị cưỡng bách trong ba cõi thấp” có hai loại; một loại liên hệ với những lần nhập thể riêng biệt, cá nhân. Loại kia, và lớn hơn, liên hệ với toàn bộ tiến trình tái sinh.

272. After every incarnational life cycle, there is an absorptive period, and for a time, a discontinuance of enforced objectivity.

272. Sau mỗi chu kỳ sống nhập thể, có một thời kỳ hấp thu, và trong một thời gian, có sự chấm dứt tính khách quan bị cưỡng bách.

273. After the entire cycle of incarnational life, there is a much more significant absorptive period and a permanent discontinuance of the enforced objectivity with respect to the eighteen sub-planes. “Objectivity”, of course, is a very relative term. The entirety of the eighteen lower cosmic sub-planes are actually objective from the perspective of Beings Who have Their causal bodies on the cosmic mental plane.

273. Sau toàn bộ chu kỳ của đời sống nhập thể, có một thời kỳ hấp thu có ý nghĩa hơn nhiều và một sự chấm dứt vĩnh viễn tính khách quan bị cưỡng bách đối với mười tám cõi phụ. Dĩ nhiên, “tính khách quan” là một thuật ngữ rất tương đối. Toàn bộ mười tám cõi phụ vũ trụ thấp hơn thực ra là khách quan từ góc nhìn của các Đấng có thể nguyên nhân của Các Ngài trên cõi trí vũ trụ.

274. Between every incarnation there is a synthesizing period. As well, just before the destruction of the causal body, there is a far greater synthesizing period which relates to the unfoldment of the synthesizing petals of the egoic lotus and which gathers together and synthesizes all that has been garnered during the long evolutionary pilgrimage of the Monad into the lower three worlds.

274. Giữa mỗi lần nhập thể đều có một thời kỳ tổng hợp. Đồng thời, ngay trước khi thể nguyên nhân bị hủy diệt, có một thời kỳ tổng hợp lớn lao hơn nhiều, liên hệ với sự khai mở của các cánh hoa tổng hợp của Hoa Sen Chân Ngã và thu gom, tổng hợp tất cả những gì đã được tích lũy trong cuộc hành hương tiến hoá lâu dài của chân thần vào ba cõi thấp hơn.

275. Absorption always pertains to the second level of an etheric plane—whether viewing the case systemically or cosmically.

275. Sự hấp thu luôn luôn thuộc về cấp độ thứ hai của một cõi dĩ thái—dù xét trường hợp theo hệ thống hay theo vũ trụ.

On the other planes it is not so obvious.

Trên các cõi khác điều này không rõ ràng đến thế.

276. Yet it is inferred that such an absorption or synthesis does occur.

276. Tuy nhiên, người ta suy ra rằng một sự hấp thu hay tổng hợp như thế quả có xảy ra.

On the buddhic plane, the Builders on the evolutionary arc, or a large part of the deva evolution, undergo a paralleling synthesis.

Trên cõi Bồ đề, các đấng kiến tạo trên cung tiến hoá, hay một phần lớn của tiến hoá thiên thần, trải qua một sự tổng hợp song hành.

277. The buddhic plane is much related to devic life.

277. Cõi Bồ đề có liên hệ rất nhiều với sự sống thiên thần.

278. A large part of the deva evolution can be called “Builders on the evolutionary arc”.

278. Một phần lớn của tiến hoá thiên thần có thể được gọi là “các đấng kiến tạo trên cung tiến hoá”.

279. We are discussing ‘absorptive synthesis’ in relation to different planes and sub-planes.

279. Chúng ta đang bàn về ‘sự tổng hợp hấp thu’ trong liên hệ với các cõi và cõi phụ khác nhau.

280. If we follow the analogy, it can be presumed that this devic synthesis occurs in relation to the higher three sub-planes of the buddhic plane.

280. Nếu theo sự tương đồng, có thể giả định rằng sự tổng hợp thiên thần này xảy ra trong liên hệ với ba cõi phụ cao hơn của cõi Bồ đề.

281. Nothing is said of the highest two sub-planes of the buddhic plane. To the third sub-plane the quality of idealism is related.

281. Không có điều gì được nói về hai cõi phụ cao nhất của cõi Bồ đề. Với cõi phụ thứ ba, phẩm tính của chủ nghĩa lý tưởng được liên hệ.

282. Probably, we could analogize from the highest of the mental sub-planes (“response to group vibration” and “spiritual telepathy”) to at least infer the quality which would be found on the highest of the two buddhic sub-planes. What do we think?

282. Có lẽ, chúng ta có thể suy theo tương đồng từ cõi phụ cao nhất của các cõi phụ trí tuệ (“đáp ứng với rung động nhóm” và “viễn cảm tinh thần”) để ít nhất suy ra phẩm tính sẽ được tìm thấy trên cõi phụ cao nhất trong hai cõi phụ Bồ đề ấy. Chúng ta nghĩ sao?

283. In ascent, both man and deva are synthesized.

283. Trong sự thăng lên, cả con người lẫn thiên thần đều được tổng hợp.

On the physical plane a mysterious synthesis in connection with the “spirit of the Earth” is undergone, and the first three ethers are related to him in a way as yet little understood.

Trên cõi hồng trần, một sự tổng hợp huyền nhiệm liên hệ với “tinh linh linh địa cầu” được trải qua, và ba dĩ thái đầu tiên liên hệ với y theo một cách mà cho đến nay vẫn ít được hiểu.

284. The higher three are always the synthesizing three, just as the synthesizing planets are always considered a higher three in relation to the many Planetary Logoi.

284. Ba cao hơn luôn luôn là ba tổng hợp, cũng như các hành tinh tổng hợp luôn luôn được xem là một bộ ba cao hơn trong liên hệ với nhiều Hành Tinh Thượng đế.

285. Presumably this synthesis related to the “spirit of the Earth” is a relatively primitive synthesis related to monadic essence and elemental essence.

285. Có lẽ sự tổng hợp liên hệ với “tinh linh linh địa cầu” này là một sự tổng hợp tương đối sơ khai, liên hệ với tinh chất chân thần và Tinh chất hành khí.

286. That the first three ethers of the etheric physical plane are related to the “spirit of the Earth” is reasonable considering how identified is this being with the third aspect.

286. Việc ba dĩ thái đầu tiên của cõi hồng trần dĩ thái liên hệ với “tinh linh linh địa cầu” là điều hợp lý nếu xét mức độ thực thể này đồng hoá với phương diện thứ ba sâu sắc đến đâu.

287. In this section we have been dealing with three types of electrical demonstration in connection with two types of ethers. Most of the focus has been on the second or magnetic type of demonstration.

287. Trong phần này, chúng ta đã bàn đến ba loại biểu hiện điện liên hệ với hai loại dĩ thái. Phần lớn trọng tâm đặt vào loại biểu hiện thứ hai hay loại từ tính.

We might sum it up thus:

Chúng ta có thể tóm lược như sau:

First, the balancing of electrical phenomena, or the achievement of synthesis in connection with Man, transpires on the three higher levels of the mental plane.

Thứ nhất, sự quân bình các hiện tượng điện, hay sự đạt được tổng hợp trong liên hệ với Con Người, diễn ra trên ba cấp độ cao hơn của cõi trí.

288. Balancing and synthesis are here equated.

288. Ở đây, sự quân bình và sự tổng hợp được xem là tương đương.

289. The idea of balance relates to the Libra, through which the third ray comes. The third ray is related to the three higher levels of the mental plane, the abstract mental plane—though only the first sub-plane of the systemic mental plane is truly abstract.

289. Ý niệm về sự quân bình liên hệ với Thiên Bình, qua đó cung ba đi vào. Cung ba liên hệ với ba cấp độ cao hơn của cõi trí, cõi trí trừu tượng—dù chỉ cõi phụ thứ nhất của cõi trí hệ thống mới thực sự là trừu tượng.

290. The factor of synthesis always, we see, is related to the trinity, the three.

290. Như chúng ta thấy, yếu tố tổng hợp luôn luôn liên hệ với tam vị, với số ba.

291. With respect to man the individual, the causal plane is the plane of synthesis. All that man has been in the lower three worlds is eventually synthesized on the causal planes, and especially on the third and second levels.

291. Đối với con người cá nhân, cõi nguyên nhân là cõi của sự tổng hợp. Tất cả những gì con người đã là trong ba cõi thấp hơn cuối cùng được tổng hợp trên các cõi nguyên nhân, và đặc biệt trên cấp độ thứ ba và thứ hai.

292. In relation to the any second sub-plane, we are dealing with equilibrised electricity, which it neither positive or negative.

292. Trong liên hệ với bất kỳ cõi phụ thứ hai nào, chúng ta đang bàn đến điện đã được quân bình hóa, vốn không dương cũng không âm.

293. The higher mental plane is the domain of the soul which is the equilibrizer and, therefore, related to Libra.

293. Cõi thượng trí là lãnh vực của linh hồn, vốn là yếu tố quân bình hóa và do đó liên hệ với Thiên Bình.

294. VSK queries: “Why the three higher levels of the mental and not the lower four?”

294. VSK nêu câu hỏi: “Tại sao là ba cấp độ cao hơn của cõi trí mà không phải bốn cấp độ thấp hơn?”

295. May it be said that we have constantly been speaking of synthesizing trinities in relation to the higher three sublevels of various planes. The number three is, in this context, synthetic.

295. Có thể nói rằng chúng ta đã liên tục nói về các tam vị tổng hợp trong liên hệ với ba cõi phụ cao hơn của nhiều cõi khác nhau. Trong ngữ cảnh này, số ba mang tính tổng hợp.

Second, a similar process in connection with a Heavenly Man transpires on the three higher subplanes of the monadic plane.

Thứ hai, một tiến trình tương tự trong liên hệ với một Đấng Thiên Nhân diễn ra trên ba cõi phụ cao hơn của cõi chân thần.

296. This is an important analogy. Man and the Heavenly Man, are in this instance, separated by three planes with regard to parallel processes. The three highest levels of the systemic mental plane are three systemic planes lower than the three highest levels of the systemic monadic plane.

296. Đây là một sự tương đồng quan trọng. Trong trường hợp này, con người và Đấng Thiên Nhân cách nhau ba cõi xét về các tiến trình song hành. Ba cấp độ cao nhất của cõi trí hệ thống thấp hơn ba cõi hệ thống so với ba cấp độ cao nhất của cõi chân thần hệ thống.

297. The three major types of Monads are related to the three higher sub-planes of the monadic plane.

297. Ba loại chân thần chính liên hệ với ba cõi phụ cao hơn của cõi chân thần.

Viewed in a larger sense it takes place on the three major planes—the atmic, buddhic. and manasic—just as in the three worlds of human evolution—the physical, astral, and mental—the synthesising process proceeds on the higher of the three involved.

Xét theo nghĩa rộng hơn, điều này diễn ra trên ba cõi chính—atma, Bồ đề và manas—cũng như trong ba cõi của tiến hoá nhân loại—hồng trần, cảm dục và trí tuệ—tiến trình tổng hợp diễn ra trên cõi cao hơn trong ba cõi liên hệ.

298. We remember the special connection of the Heavenly Man (whichever Heavenly Man it may be) to the triadal levels.

298. Chúng ta nhớ mối liên hệ đặc biệt của Đấng Thiên Nhân (bất kể là Đấng Thiên Nhân nào) với các cấp độ tam nguyên tinh thần.

299. There seem to be several analogies here. The atmic, buddhic and manasic sub-planes of the cosmic physical plane may be reflected in the higher three systemic sub-planes of the systemic mental plane.

299. Dường như ở đây có một số sự tương đồng. Các cõi phụ atma, Bồ đề và manas của cõi hồng trần vũ trụ có thể được phản chiếu trong ba cõi phụ hệ thống cao hơn của cõi trí hệ thống.

300. As well the higher three sub-planes of the monadic plane are reflected in the atmic, buddhic and manasic systemic planes:

300. Đồng thời, ba cõi phụ cao hơn của cõi chân thần được phản chiếu trong các cõi hệ thống atma, Bồ đề và manas:

a. The first sub-level of the systemic monadic plane (home of first ray Monads) is reflected in the systemic atmic plane

a. Cõi phụ thứ nhất của cõi chân thần hệ thống (nơi cư ngụ của các chân thần cung một) được phản chiếu trong cõi atma hệ thống

b. The second sub-level of the systemic monadic plane (home of second ray Monads) is reflected in the systemic buddhic plane

b. Cõi phụ thứ hai của cõi chân thần hệ thống (nơi cư ngụ của các chân thần cung hai) được phản chiếu trong cõi Bồ đề hệ thống

c. The third sub-level of the systemic monadic plane (home of third ray Monads) is reflected in the systemic mental plane.

c. Cõi phụ thứ ba của cõi chân thần hệ thống (nơi cư ngụ của các chân thần cung ba) được phản chiếu trong cõi trí hệ thống.

301. All this is another way of saying that first ray Monads have a special connection to the systemic atmic plane. This is confirmed in The Rays and the Initiations (cf. 310-311)

301. Tất cả điều này là một cách khác để nói rằng các chân thần cung một có một liên hệ đặc biệt với cõi atma hệ thống. Điều này được xác nhận trong The Rays and the Initiations (xem 310-311)

302. Second ray Monads are connected to the systemic buddhic plane.

302. Các chân thần cung hai được nối kết với cõi Bồ đề hệ thống.

303. Third ray Monads are connected to the systemic mental plane

303. Các chân thần cung ba được nối kết với cõi trí hệ thống

304. VSK queries: “Why is this in connection with the Heavenly Man, specifically?”

304. VSK nêu câu hỏi: “Tại sao điều này lại đặc biệt liên hệ với Đấng Thiên Nhân?”

305. May we suggest that the Heavenly Man always has an important resonance with the monadic plane just as the individual human being has with the mental plane?

305. Chúng ta có thể gợi ý rằng Đấng Thiên Nhân luôn có một cộng hưởng quan trọng với cõi chân thần, cũng như con người cá nhân có với cõi trí chăng?

Third, in connection with a solar Logos (within the system and not considering His cosmic synthesis) the three higher subplanes of the logoic plane see His final absorption or abstraction, and the three planes of the three Logoi are similarly concerned.

Thứ ba, trong liên hệ với một Thái dương Thượng đế (bên trong hệ thống và không xét đến sự tổng hợp vũ trụ của Ngài) ba cõi phụ cao hơn của cõi logoic chứng kiến sự hấp thu hay trừu xuất cuối cùng của Ngài, và ba cõi của ba Logoi cũng liên hệ tương tự.

306. This is another important quotation.

306. Đây là một trích dẫn quan trọng khác.

307. The first, second and fifth planes are therefore involved in the absorption of these three entities.

307. Do đó, các cõi thứ nhất, thứ haithứ năm tham dự vào sự hấp thu của ba thực thể này.

308. The cosmic synthesis of a Solar Logos must necessarily involve the cosmic planes. The process of that greater synthesis has a dim reflection on the logoic level of the cosmic physical plane.

308. Sự tổng hợp vũ trụ của một Thái dương Thượng đế tất yếu phải liên hệ đến các cõi vũ trụ. Tiến trình của sự tổng hợp lớn lao hơn đó có một phản chiếu mờ nhạt trên cấp độ logoic của cõi hồng trần vũ trụ.

309. It is clear that in this section we are talking about ‘less than cosmic syntheses’—i.e., only those which pertain to the cosmic physical plane.

309. Rõ ràng trong phần này chúng ta đang nói về những ‘sự tổng hợp nhỏ hơn mức vũ trụ’—tức chỉ những sự tổng hợp thuộc về cõi hồng trần vũ trụ.

310. The logoic plane pertains to the Solar Logos and to the three Logoi—the Brahma, Vishnu and Shiva of our solar system.

310. Cõi logoic thuộc về Thái dương Thượng đế và về ba Logoi—Brahma, Vishnu và Shiva của hệ mặt trời chúng ta.

311. Absorption or abstraction mean an end (for these great Beings) of physical incarnation.

311. Sự hấp thu hay trừu xuất có nghĩa là sự chấm dứt (đối với các Đấng vĩ đại này) của sự lâm phàm hồng trần.

312. What are the “three planes of the three Logoi”? DK seems to be telling us of a process related to the logoic, monadic and atmic planes which may well be the center of focus for the three Logoi that surround our Solar Logos (cf. TCF 1238)

312. “Ba cõi của ba Logoi” là gì? Chân sư DK dường như đang cho chúng ta biết về một tiến trình liên hệ với các cõi logoic, chân thần và atma, có thể chính là trung tâm tập chú của ba Logoi bao quanh Thái dương Thượng đế của chúng ta (x. TCF 1238)

313. Perhaps, on each of these three cosmic physical sub-planes, an absorption goes on in relation to the three Logoi (expressing the three aspects of the Solar Logos).

313. Có lẽ, trên mỗi cõi phụ hồng trần vũ trụ trong ba cõi này, một sự hấp thu diễn ra trong liên hệ với ba Logoi (biểu lộ ba phương diện của Thái dương Thượng đế).

314. This would mean that the absorption for the second Logos (within the threefold expression of the Solar Logos), would have some aspects parallel to the absorption process undergone by a Planetary Logos.

314. Điều này có nghĩa là sự hấp thu đối với Logos thứ hai (trong biểu hiện tam phân của Thái dương Thượng đế) sẽ có một số phương diện song hành với tiến trình hấp thu mà một Hành Tinh Thượng đế trải qua.

315. There are two ways to view this: either the three Logoi work on the higher levels of the logoic plane as does the Solar Logos, or the three Logoi have a special relation to the three higher sub-planes of the cosmic physical plane—atmic, buddhic, manasic. Both may be true.

315. Có hai cách để nhìn điều này: hoặc ba Logoi hoạt động trên các cấp độ cao hơn của cõi logoic như Thái dương Thượng đế, hoặc ba Logoi có một liên hệ đặc biệt với ba cõi phụ cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ—atma, Bồ đề, manas. Cả hai đều có thể đúng.

It should here be carefully borne in mind that we are dealing with electrical matter, and are therefore concerned with cosmic etheric substance; all matter in the system is necessarily etheric.

Ở đây cần ghi nhớ cẩn thận rằng chúng ta đang bàn đến vật chất điện, và do đó liên hệ đến chất liệu dĩ thái vũ trụ; mọi vật chất trong hệ thống tất yếu đều là dĩ thái.

316. We are reminded of our subject: “electrical matter” which is “cosmic etheric substance”.

316. Chúng ta được nhắc lại về chủ đề của mình: “vật chất điện” tức là “chất liệu dĩ thái vũ trụ”.

317. Our higher four planes are, therefore, all, necessarily, “electrical matter”.

317. Do đó, bốn cõi cao hơn của chúng ta tất cả đều tất yếu là “vật chất điện”.

318. DK says even more however—that all matter in the solar system is “necessarily etheric”. Is this suggesting that even what we call “dense matter” (the matter of the three lowest systemic planes—cosmic gaseous, cosmic liquid and cosmic dense) is etheric—for, from the perspective of the Solar Logos, the twenty-one lowest sub-planes are material rather than etheric.

318. Tuy nhiên, Chân sư DK còn nói nhiều hơn thế—rằng mọi vật chất trong hệ mặt trời đều “tất yếu là dĩ thái”. Điều này có hàm ý rằng ngay cả cái mà chúng ta gọi là “vật chất đậm đặc” (vật chất của ba cõi hệ thống thấp nhất—khí vũ trụ, lỏng vũ trụ và đậm đặc vũ trụ) cũng là dĩ thái—vì, từ góc nhìn của Thái dương Thượng đế, hai mươi mốt cõi phụ thấp nhất là vật chất chứ không phải dĩ thái.

319. We judge from this that all matter within the entire cosmic physical plane is both electrical matter and etheric matter—though, usually, only the matter of the highest four sub-planes of the cosmic physical plane is considered cosmically etheric.

319. Từ đó chúng ta phán đoán rằng mọi vật chất trong toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ vừa là vật chất điện vừa là vật chất dĩ thái—dù thông thường chỉ vật chất của bốn cõi phụ cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ mới được xem là dĩ thái theo nghĩa vũ trụ.

320. Over and again our thoughts will revolved around what has been called the “mystery of electricity”.

320. Hết lần này đến lần khác, tư tưởng của chúng ta sẽ xoay quanh điều đã được gọi là “huyền nhiệm của điện”.

We are consequently dealing literally with physical phenomena on all planes of [Page 315] the system.

Do đó, chúng ta đang bàn theo nghĩa đen đến các hiện tượng hồng trần trên mọi cõi của [Page 315] hệ thống.

321. The terms “physical” and “etheric” are sometimes considered equivalent.

321. Các thuật ngữ “hồng trần” và “dĩ thái” đôi khi được xem là tương đương.

322. Physical phenomena are necessarily electrical phenomena and, even, so it is suggested, etheric phenomena.

322. Các hiện tượng hồng trần tất yếu là các hiện tượng điện và thậm chí, như được gợi ý, là các hiện tượng dĩ thái.

323. When dealing with the subject of electricity, we are dealing with physical phenomena—i.e., the phenomena of the cosmic physical plane.

323. Khi bàn đến chủ đề điện, chúng ta đang bàn đến các hiện tượng hồng trần—tức các hiện tượng của cõi hồng trần vũ trụ.

324. The term electricity is especially connected with the third or material aspect of divinity.

324. Thuật ngữ điện đặc biệt gắn với phương diện thứ ba hay phương diện vật chất của thiên tính.

In time and space we are concerned with units of different polarity which—during the evolutionary process—seek union, balance, equilibrium or synthesis, and eventually find it.

Trong thời gian và không gian, chúng ta liên hệ với các đơn vị có cực tính khác nhau, những đơn vị—trong tiến trình tiến hoá—tìm kiếm sự hợp nhất, quân bình, cân bằng hay tổng hợp, và cuối cùng tìm thấy điều đó.

325. Electrical interplay depends upon the fact that there are units of different polarity. The whole story of electrical interplay depends upon the quest described immediately above.

325. Sự tương tác điện tùy thuộc vào sự kiện là có những đơn vị có cực tính khác nhau. Toàn bộ câu chuyện về sự tương tác điện tùy thuộc vào cuộc tìm kiếm vừa được mô tả ở trên.

326. That which we call electricity cannot exist outside of what is here called time and space. In time and space polarity exists.

326. Điều mà chúng ta gọi là điện không thể tồn tại bên ngoài cái ở đây được gọi là thời gian và không gian. Trong thời gian và không gian, cực tính tồn tại.

327. DK seems to be saying that units of different polarity seek the Libran state characterized by union, balance, equilibrium (all Libran words) and synthesis (which is also related to the trinitarian nature of Libra.

327. Chân sư DK dường như đang nói rằng các đơn vị có cực tính khác nhau tìm kiếm trạng thái Thiên Bình được đặc trưng bởi sự hợp nhất, quân bình, cân bằng (đều là những từ ngữ của Thiên Bình) và tổng hợp (điều này cũng liên hệ với bản chất tam vị của Thiên Bình).

328. Electricity (like time and space) is dependent for its existence on bi-polarity—the existence of units of different polarity. Without the cosmic process of Self-division, therefore, there would be no electricity.

328. Điện (giống như thời gian và không gian) phụ thuộc cho sự tồn tại của nó vào lưỡng cực tính—sự hiện hữu của các đơn vị có cực tính khác nhau. Do đó, nếu không có tiến trình vũ trụ của sự Tự-phân-chia, sẽ không có điện.

329. So ‘Self-division into a bi-polar state’ is the root cause of electricity.

329. Vậy ‘sự Tự-phân-chia thành một trạng thái lưỡng cực’ là nguyên nhân gốc rễ của điện.

This electrical interplay between two units causes that which we call light, and thereby objectivity.

Sự tương tác điện này giữa hai đơn vị gây ra điều mà chúng ta gọi là ánh sáng, và nhờ đó gây ra tính khách quan.

330. Notice the very close connection between light and objectivity.

330. Hãy lưu ý mối liên hệ rất chặt chẽ giữa ánh sáng và tính khách quan.

331. Objectivity (the universe) is light.

331. Tính khách quan (vũ trụ) ánh sáng.

332. The relation between Father and Mother is electrical interplay.

332. Mối liên hệ giữa Cha và Mẹ là sự tương tác điện.

333. The Son arises through electrical interplay.

333. Người Con phát sinh qua sự tương tác điện.

334. Light=matter=objectivity.

334. Ánh sáng=vật chất=tính khách quan.

During evolution this demonstrates as heat and magnetic interaction and is the source of all vital growth;

Trong tiến hoá, điều này biểu hiện thành nhiệt và sự tương tác từ tính, và là nguồn gốc của mọi sự tăng trưởng thiết yếu;

335. Electrical interplay (during evolution) results in “heat and magnetic interaction”. We can judge that the emergence of the “Son of Light” (the universe) is equivalent to the emergence of “heat and magnetic interaction”.

335. Sự tương tác điện lực (trong tiến hoá) dẫn đến “nhiệt và sự tương tác từ tính”. Chúng ta có thể nhận định rằng sự xuất hiện của “Con của Ánh Sáng” (vũ trụ) tương đương với sự xuất hiện của “nhiệt và sự tương tác từ tính”.

336. Heat and magnetic interaction are the source of “all vital growth” but, ultimately, it is electrical interplay which is the source of all vital growth.

336. Nhiệt và sự tương tác từ tính là nguồn gốc của “mọi sự tăng trưởng thiết yếu” nhưng, rốt cuộc, chính sự tương tác điện lực mới là nguồn gốc của mọi sự tăng trưởng thiết yếu.

337. Without the interplay of the poles there would be no heat, no magnetic interaction, no vital growth.

337. Không có sự tương tác của các cực thì sẽ không có nhiệt, không có sự tương tác từ tính, không có sự tăng trưởng thiết yếu.

at the achievement of the desired goal, at union, or at-one-ment, two things occur:

khi đạt được mục tiêu mong muốn, khi hợp nhất, hay nhất như, hai điều xảy ra:

338. We are speaking of the desired result of electrical interplay.

338. Chúng ta đang nói về kết quả mong muốn của sự tương tác điện lực.

First, the approximation of the two poles, or their blending, causes a blazing forth, or radiant light.

Thứ nhất, sự xích lại gần của hai cực, hay sự hòa trộn của chúng, gây ra một sự bùng cháy rực lên, hay ánh sáng rạng ngời.

339. This is the union of male and female, of Father and Mother, of the first aspect of divinity and the third.

339. Đây là sự hợp nhất của nam và nữ, của Cha và Mẹ, của phương diện thứ nhất của thiên tính và phương diện thứ ba.

340. We are not here speaking of the initial interplay which produced the Son. We are talking about the final stages of the interplay between the poles in which the poles merge and blend. During the universal process the poles interplay, but they do not become as one until the conclusion of the process.

340. Ở đây chúng ta không nói về sự tương tác ban đầu đã tạo ra Con. Chúng ta đang nói về các giai đoạn sau cùng của sự tương tác giữa các cực, trong đó các cực nhập làm mộthòa trộn. Trong tiến trình vũ trụ, các cực tương tác, nhưng chúng không trở nên như một cho đến khi tiến trình kết thúc.

Second, obscuration, or the final disintegration of matter owing to intense heat.

Thứ hai, sự che mờ, hay sự phân rã sau cùng của vật chất do nhiệt độ mãnh liệt.

341. We can wonder whether it is matter, per se, that disintegrates, or whether it is the form into which matter was moulded that disintegrates.

341. Chúng ta có thể tự hỏi liệu chính vật chất có bị phân rã hay không, hay là hình tướng mà vật chất đã được nắn đúc vào mới bị phân rã.

342. From a certain perspective, matter is indestructible.

342. Từ một góc nhìn nào đó, vật chất là bất khả hủy diệt.

343. But disintegration is not destruction. Matter is integrated into form, and it is this integration which dis-integrates.

343. Nhưng phân rã không phải là hủy diệt. Vật chất được tích hợp vào hình tướng, và chính sự tích hợp này lại phân-rã.

344. It is clear that when Father and Mother not only come together but actually merge and become one, intense heat and light are produced.

344. Rõ ràng là khi Cha và Mẹ không chỉ đến với nhau mà thực sự nhập làm một và trở thành một, nhiệt và ánh sáng mãnh liệt được tạo ra.

345. Consummation is demonstrated through a display of heat and light.

345. Sự viên mãn được biểu lộ qua sự hiển hiện của nhiệt và ánh sáng.

346. On a still deeper level, we may also be discussing that deeper process which returns matter as we know it (i.e., differentiated Mulaprakriti) to homogeneous Mulaprakriti—Mulaprakriti proper.

346. Ở một cấp độ còn sâu hơn, chúng ta có thể cũng đang bàn đến tiến trình sâu xa hơn ấy, tiến trình đưa vật chất như chúng ta biết nó (tức Mulaprakriti đã biến phân) trở về Mulaprakriti đồng nhất—Mulaprakriti đích thực.

This can be seen in connection with man, a Heavenly Man and a solar Logos, and their bodies of objectivity.

Điều này có thể được thấy trong liên hệ với con người, một Đấng Thiên Nhân và một Thái dương Thượng đế, cùng các thể khách quan của các Ngài.

347. Again the process applies in relation to the three types of entities we have been studying

347. Một lần nữa, tiến trình này áp dụng trong liên hệ với ba loại thực thể mà chúng ta đã nghiên cứu

In man this polarity is achieved, the three different types of electrical phenomena are demonstrated, and the light blazes forth, irradiating the causal body, and lighting up the entire sutratma, or thread (literally the Path) which connects the causal vehicle with the physical brain.

Trong con người, cực tính này được đạt đến, ba loại hiện tượng điện lực khác nhau được biểu lộ, và ánh sáng bùng cháy rực lên, chiếu rọi thể nguyên nhân, và thắp sáng toàn bộ sutratma, hay sợi dây (theo nghĩa đen là Con Đường) nối kết hiện thể nguyên nhân với bộ não hồng trần.

348. What is said here is really technical and important.

348. Điều được nói ở đây thực sự mang tính kỹ thuật và quan trọng.

349. Is there a suggestion that the interplay between the energy of the first mental sub-plane and the third mental sub-plane causes the release of light and heat found in relation to the second mental sub-plane (i.e., the destruction of the causal body)?

349. Có phải ở đây có một gợi ý rằng sự tương tác giữa năng lượng của cõi phụ thứ nhất của cõi trí và cõi phụ thứ ba của cõi trí gây ra sự giải phóng ánh sáng và nhiệt được tìm thấy trong liên hệ với cõi phụ thứ hai của cõi trí (tức sự hủy diệt thể nguyên nhân) hay không?

350. The sutratma is the “life thread”. One aspect of the sutratma functions in relation to incarnating man. This aspect connects the causal body with the physical brain. It is an aspect utilized by the Solar Angel when individualization first takes place, for the initial work of the Solar Angel focuses first within the causal body and then within the physical brain of man.

350. Sutratma là “sinh mệnh tuyến”. Một phương diện của sutratma hoạt động trong liên hệ với con người đang lâm phàm. Phương diện này nối kết thể nguyên nhân với bộ não hồng trần. Đây là một phương diện được Thái dương Thiên Thần sử dụng khi biệt ngã hóa lần đầu diễn ra, vì công việc ban đầu của Thái dương Thiên Thần trước hết tập trung trong thể nguyên nhân rồi sau đó trong bộ não hồng trần của con người.

351. What are the three different types of electrical phenomena? We have been studying them under different names:

351. Ba loại hiện tượng điện lực khác nhau là gì? Chúng ta đã nghiên cứu chúng dưới những tên gọi khác nhau:

a. Vitality, magnetism and activity (or fohatic impulse)

a. Sinh lực, từ điện và hoạt động (hay xung lực fohat)

b. The electrical demonstration of the first ether, the electrical demonstration of third ether and the result of their interplay, the electrical demonstration related to the second ether.

b. Sự biểu lộ điện lực của dĩ thái thứ nhất, sự biểu lộ điện lực của dĩ thái thứ ba và kết quả của sự tương tác giữa chúng, tức sự biểu lộ điện lực liên hệ với dĩ thái thứ hai.

c. From another perspective, we have the electrical demonstration of the first aspect interplaying with the electrical demonstration of the third aspect, producing the electrical demonstration of the second aspect

c. Từ một góc nhìn khác, chúng ta có sự biểu lộ điện lực của phương diện thứ nhất tương tác với sự biểu lộ điện lực của phương diện thứ ba, tạo ra sự biểu lộ điện lực của phương diện thứ hai

352. When the causal body is irradiated, the sutratma also lights up. This sutratma will have to be used even after the destruction of the causal body, for the life aspect needs to be connected to the physical brain in the life of an Arhat who physically survives his fourth initiation (or in the life of a Master who became so in the same incarnation as He took the Arhat initiation). Even a Master creating a mayavirupa needs the sutratma to connect to the magically created physical brain.

352. Khi thể nguyên nhân được chiếu rọi, sutratma cũng sáng lên. Sutratma này sẽ phải được sử dụng ngay cả sau khi thể nguyên nhân bị hủy diệt, vì phương diện sự sống cần được nối kết với bộ não hồng trần trong đời sống của một Arhat còn sống sót về mặt thể xác sau lần điểm đạo thứ tư của y (hoặc trong đời sống của một Chân sư đã trở thành như vậy trong cùng kiếp lâm phàm mà Ngài nhận cuộc điểm đạo Arhat). Ngay cả một Chân sư tạo ra mayavirupa cũng cần sutratma để nối kết với bộ não hồng trần được tạo ra bằng huyền thuật.

353. What we have been understanding is that the creation of the causal body is the result of electrical interplay, and the destruction of the causal body (at a much later date) is also a demonstration of electrical interplay (in fact of the merging of the positive and negative poles).

353. Điều chúng ta đã hiểu là sự tạo thành thể nguyên nhân là kết quả của sự tương tác điện lực, và sự hủy diệt thể nguyên nhân (vào một thời điểm muộn hơn rất nhiều) cũng là một biểu hiện của sự tương tác điện lực (thực ra là của sự nhập làm một của các cực dương và âm).

354. We can infer that the atomic triangle (related, one would think, to the third sub-plane of the mental plane) and the manasic permanent atom related to the first sub-plane, are involved in intensive interplay at the time of the destruction of the causal body.

354. Chúng ta có thể suy ra rằng tam giác nguyên tử (có liên hệ, người ta sẽ nghĩ, với cõi phụ thứ ba của cõi trí) và nguyên tử trường tồn manas liên hệ với cõi phụ thứ nhất, đều tham gia vào sự tương tác mãnh liệt vào lúc thể nguyên nhân bị hủy diệt.

Then disintegration or destruction ensues; the causal body vanishes in a blaze of electrical fire, and the real “man” or self is abstracted from the three world-bodies.

Khi ấy sự phân rã hay hủy diệt tiếp diễn; thể nguyên nhân biến mất trong một chớp lửa điện rực cháy, và “con người” hay bản ngã thực sự được rút ra khỏi các thể của ba cõi thấp.

355. The fiery blaze which consumes the causal body is, in this reference, called “electrical fire”. It is fire caused by the intimate interplay and merging of the poles.

355. Ngọn lửa rực cháy thiêu hủy thể nguyên nhân, trong trường hợp này, được gọi là “Lửa Điện”. Đó là lửa do sự tương tác mật thiết và sự nhập làm một của các cực gây ra.

356. Such intense electrical interplay is the secret of abstraction.

356. Sự tương tác điện lực mãnh liệt như thế là bí mật của sự trừu xuất.

357. The real man is that which informs the causal body.

357. Con người thực sự là cái thấm nhuần thể nguyên nhân.

358. We can judge that all spiritual progress is the result of electrical interplay. All arrangement and re-arrangement in cosmos is an electrical process.

358. Chúng ta có thể nhận định rằng mọi tiến bộ tinh thần đều là kết quả của sự tương tác điện lực. Mọi sự sắp xếp và tái sắp xếp trong vũ trụ đều là một tiến trình điện lực.

359. We also can judge that the Rod of Initiation promotes this electrical interplay through the proper stimulation of polar factors within the candidate.

359. Chúng ta cũng có thể nhận định rằng Thần Trượng Điểm đạo thúc đẩy sự tương tác điện lực này qua sự kích thích thích đáng các yếu tố cực tính bên trong người dự tuyển.

360. The abstraction of the self from its sheaths arises through electrical interplay.

360. Sự trừu xuất bản ngã ra khỏi các lớp vỏ của nó phát sinh qua sự tương tác điện lực.

361. VSK states: “The Sutratma is the ‘thread Path’, connecting the causal vehicle to the physical brain. Hence the literalness of ‘playing with fire’ with certain practices.”

361. VSK nói: “Sutratma là ‘Con Đường sợi chỉ’, nối kết hiện thể nguyên nhân với bộ não hồng trần. Do đó có tính nghĩa đen của việc ‘đùa với lửa’ trong một số thực hành nhất định.”

So will it be seen in the body of a Heavenly Man, a planetary scheme, and so likewise in the body of the Logos, a solar system.

Điều đó cũng sẽ được thấy trong thể của một Đấng Thiên Nhân, một hệ hành tinh, và cũng tương tự như vậy trong thể của Thượng đế, một hệ mặt trời.

362. The analogy continues.

362. Phép loại suy tiếp tục.

The difficulty in apprehending these thoughts is great, for we are necessarily handicapped by lack of adequate terms,

Khó khăn trong việc lĩnh hội những tư tưởng này là rất lớn, vì tất yếu chúng ta bị hạn chế bởi sự thiếu vắng những thuật ngữ thích đáng,

363. Our science has not proceeded sufficiently far to give us the necessary terms. The processes to which such terms should apply have also not been clearly delineated.

363. Khoa học của chúng ta chưa tiến đủ xa để cung cấp cho chúng ta những thuật ngữ cần thiết. Các tiến trình mà những thuật ngữ ấy phải áp dụng vào cũng chưa được phân định rõ ràng.

but the main ideas only are those I seek to deal with,

nhưng tôi chỉ tìm cách bàn đến những ý tưởng chính yếu mà thôi,

364. A Treatise on Cosmic Fire is complex. In all this complexity we sometimes forget that DK is really presenting only the main ideas of the sciences He is elucidating.

364. Luận về Lửa Vũ Trụ rất phức tạp. Trong toàn bộ sự phức tạp này, đôi khi chúng ta quên rằng DK thực sự chỉ đang trình bày những ý tưởng chính yếu của các khoa học mà Ngài đang làm sáng tỏ.

and the one we are primarily concerned with in this division is the electrical manifestation of magnetism,

và điều mà trước hết chúng ta quan tâm trong phần này là biểu hiện điện lực của từ điện,

365. We are now in the second portion of the book—the portion that deals with the fire of mind (higher mind particularly) and with the mental expression of the second aspect of divinity.

365. Hiện nay chúng ta đang ở phần thứ hai của quyển sách—phần bàn về lửa của trí tuệ (đặc biệt là thượng trí) và về biểu hiện trí tuệ của phương diện thứ hai của thiên tính.

366. TCF deals almost exclusively with electrical phenomena.

366. TCF hầu như chỉ bàn riêng về các hiện tượng điện lực.

367. Magnetism is an electrical phenomenon—an electrical phenomenon pertaining very much to the second aspect.

367. Từ điện là một hiện tượng điện lực—một hiện tượng điện lực rất gắn với phương diện thứ hai.

just as earlier we dealt cursorily with the same electrical phenomena, manifesting as the activity of matter.

cũng như trước đây chúng ta đã chỉ bàn lướt qua cùng những hiện tượng điện lực ấy, biểu hiện thành hoạt động của vật chất.

368. Activity, we have seen, is also an electrical phenomenon—an electrical phenomenon pertaining very much to the third aspect.

368. Như chúng ta đã thấy, hoạt động cũng là một hiện tượng điện lực—một hiện tượng điện lực rất gắn với phương diện thứ ba.

369. The first part of the book dealt with the fires of matter. Another way of saying this is that it dealt with the electrical phenomena which demonstrated as the activity of matter.

369. Phần đầu của quyển sách bàn về các lửa của vật chất. Một cách nói khác là phần ấy bàn về các hiện tượng điện lực biểu lộ thành hoạt động của vật chất.

370. Now we are in a portion of the book which deals with the electrical phenomena which demonstrate as the fires of mind and the manifestation of magnetism.

370. Giờ đây chúng ta đang ở phần của quyển sách bàn về các hiện tượng điện lực biểu lộ thành các lửa của trí tuệ và sự biểu hiện của từ điện.

371. From this perspective, mind, as here defined, is magnetic. To entertain this thought helps an individual move from a focus strictly within the lower mind to one that re-polarizes within the higher mental plane.

371. Từ góc nhìn này, trí tuệ, như được định nghĩa ở đây, là từ tính. Chấp nhận tư tưởng này giúp một cá nhân chuyển từ sự tập trung hoàn toàn trong hạ trí sang sự tái phân cực trong Cõi thượng trí.

Therefore you have: [Page 316]

Do đó bạn có: [Page 316]

1. Activity….electrical manifestation of matter.

1. Hoạt động….biểu hiện điện lực của vật chất.

2. Magnetism…electrical manifestation of form.

2. Từ điện…biểu hiện điện lực của hình tướng.

3. Vitality….electrical manifestation of existence.

3. Sinh lực….biểu hiện điện lực của hiện hữu.

372. We have here a straightforward tabulation, but some illuminating points of view are being offered.

372. Ở đây chúng ta có một bảng liệt kê trực tiếp, nhưng một số quan điểm soi sáng đang được đưa ra.

373. That “Activity” relates to the electrical manifestation of matter is straightforward.

373. Việc “Hoạt động” liên hệ với biểu hiện điện lực của vật chất là điều rõ ràng.

374. “Magnetism”, we realize (first appearing on the monadic plane) relates to the manifestation of form, and it is on this plane that form first manifests.

374. “Từ điện”, như chúng ta nhận ra (xuất hiện đầu tiên trên cõi chân thần), liên hệ với sự biểu hiện của hình tướng, và chính trên cõi này hình tướng biểu hiện lần đầu.

375. “Vitality”, we learned, is related to the life aspect, and the term “existence” is, in this context, is another name for life.

375. “Sinh lực”, như chúng ta đã học, liên hệ với phương diện sự sống, và thuật ngữ “hiện hữu”, trong ngữ cảnh này, là một tên gọi khác của sự sống.

376. In this section of the book we are dealing with mind, magnetism and form. These three ideas go together and are related to the “burning fire of Desire”.

376. Trong phần này của quyển sách, chúng ta đang bàn đến trí tuệ, từ điện và hình tướng. Ba ý tưởng này đi cùng nhau và liên hệ với “ngọn lửa cháy bỏng của Dục vọng”.

377. In the earlier portion we were dealing with matter and activity.

377. Trong phần trước, chúng ta đã bàn đến vật chất và hoạt động.

378. In the next portion we shall deal with vitality, life and existence. (related to the Will-to-be and the “dynamic fire of Will”).

378. Trong phần kế tiếp, chúng ta sẽ bàn đến sinh lực, sự sống và hiện hữu. (liên hệ với Ý Chí-hiện hữu và “ngọn lửa năng động của Ý Chí”).

This is literally (as pointed out by H. P. B.)22. [SDI 567. II 258] fire by friction, solar fire, and electric fire.

Điều này theo nghĩa đen là (như H. P. B. đã chỉ ra)22. [SDI 567. II 258] Lửa ma sát, Lửa Thái dương, và Lửa Điện.

379. The electrical manifestation of matter is “fire by friction” or activity.

379. Biểu hiện điện lực của vật chất là “Lửa ma sát” hay hoạt động.

380. The electrical manifestation of form is “solar fire” or magnetism.

380. Biểu hiện điện lực của hình tướng là “Lửa Thái dương” hay từ điện.

381. The electrical manifestation of existence is “electric fire” (not electrical fire) or vitality.

381. Biểu hiện điện lực của hiện hữu là “Lửa Điện” (không phải lửa điện lực) hay sinh lực.

382. We are trying to put a number of ideas together so that they remain associated in the mind of the reader.

382. Chúng ta đang cố gắng kết nối một số ý tưởng lại với nhau để chúng vẫn được liên kết trong trí tuệ của người đọc.

383. What the Tibetan says in one place must be brought into relation with what He says in another.

383. Điều Chân sư Tây Tạng nói ở chỗ này phải được đặt trong liên hệ với điều Ngài nói ở chỗ khác.

Fire by friction is electricity animating the atoms of matter, or the substance of the solar system, and resulting in:

Lửa ma sát là điện lực tiếp sinh lực cho các nguyên tử của vật chất, hay chất liệu của hệ mặt trời, và dẫn đến:

384. Fire by friction is a type of electricity. Electricity is the animator and animates the atoms of matter.

384. Lửa ma sát một loại điện lực. Điện lực là tác nhân tiếp sinh lực và tiếp sinh lực cho các nguyên tử của vật chất.

385. We are to remember that the three fires are electrical.

385. Chúng ta cần nhớ rằng ba lửa đều mang tính điện lực.

386. The following are the results of the work of fire by friction:

386. Sau đây là các kết quả của công việc của Lửa ma sát:

The spheroidal form of all manifestation.

Hình dạng cầu của mọi biểu hiện.

The innate heat of all spheres.

Nhiệt nội tại của mọi khối cầu.

Differentiation of all atoms one from another.

Sự biến phân của mọi nguyên tử với nhau.

387. Much of what is described immediately above was described in relation to the monadic plane, whereon spheroidal forms were produced and whereon differentiation first occurred.

387. Phần lớn những gì được mô tả ngay trên đây đã được mô tả trong liên hệ với cõi chân thần, nơi các hình dạng cầu được tạo ra và nơi sự biến phân lần đầu xảy ra.

388. The following quotes were taken from text appearing earlier in this section and relate to the monadic plane. We see how close is the relation to what is described as the result of fire by friction.

388. Những trích dẫn sau đây được lấy từ đoạn văn xuất hiện trước đó trong phần này và liên hệ với cõi chân thần. Chúng ta thấy mối liên hệ gần gũi như thế nào với điều được mô tả là kết quả của Lửa ma sát.

Form is taken, and the spheroidal shape of all existence originates.

Hình tướng được tiếp nhận, và hình dạng cầu của mọi hiện hữu phát sinh.

Differentiation is first seen, not only in the recognised duality of all things, but in differentiation in motion; two vibrations are recognised. (TCF 313)

Sự biến phân lần đầu được thấy, không chỉ trong nhị nguyên tính được nhận biết của mọi sự vật, mà còn trong sự biến phân trong chuyển động; hai rung động được nhận biết. (TCF 313)

389. On the monadic plane, “heat or flaming radiation” also appeared, which correlates, as well, with the description of the result of fire by friction.

389. Trên cõi chân thần, “nhiệt hay bức xạ rực lửa” cũng xuất hiện, điều này cũng tương ứng với mô tả về kết quả của Lửa ma sát.

390. In a way, the energies and forces expressed throughout the cosmic physical plane are, cosmically considered, all fire by friction.

390. Theo một nghĩa nào đó, các năng lượng và mãnh lực được biểu lộ khắp cõi hồng trần vũ trụ, xét theo quan điểm vũ trụ, đều là Lửa ma sát.

391. It is safe to say that all three fires are, in some ways, active on all planes of the cosmic physical plane.

391. Có thể nói một cách an toàn rằng cả ba lửa, theo một số phương diện, đều hoạt động trên mọi cõi của cõi hồng trần vũ trụ.

Solar fire is electricity animating forms or congeries of atoms, and resulting in:

Lửa Thái dương là điện lực tiếp sinh lực cho các hình tướng hay các tập hợp nguyên tử, và dẫn đến:

392. We have just been told that fire by friction is “electricity animating the atoms of matter”.

392. Chúng ta vừa được nói rằng Lửa ma sát là “điện lực tiếp sinh lực cho các nguyên tử của vật chất”.

393. Now we are told that “solar fire is electricity animating forms or congeries of atoms”.

393. Giờ đây chúng ta được nói rằng “Lửa Thái dương là điện lực tiếp sinh lực cho các hình tướng hay các tập hợp nguyên tử”.

394. The three fires, we must constantly bear in mind, are electrical. That is one of the main points to grasp from studying the present section.

394. Chúng ta phải luôn ghi nhớ rằng ba lửa đều mang tính điện lực. Đó là một trong những điểm chính cần nắm bắt từ việc nghiên cứu phần hiện tại.

395. If the phenomenon of electricity is based on bi-polarity, then so is the phenomenon of fire.

395. Nếu hiện tượng điện lực dựa trên tính lưỡng cực, thì hiện tượng lửa cũng vậy.

396. Solar fire produces the following:

396. Lửa Thái dương tạo ra những điều sau đây:

Coherent groups.

Các nhóm kết hợp chặt chẽ.

The radiation from all groups, or the magnetic interaction of these groups.

Bức xạ từ mọi nhóm, hay sự tương tác từ tính của các nhóm này.

397. Radiation and magnetic interaction are considered equivalent.

397. Bức xạ và sự tương tác từ tính được xem là tương đương.

398. When magnetism exists, radiation occurs.

398. Khi từ điện hiện hữu, bức xạ xảy ra.

399. Where radiation exist, does magnetism occur?

399. Nơi nào có bức xạ, từ điện có xảy ra không?

The synthesis of form.

Sự tổng hợp của hình tướng.

400. We might call the production of the synthesis of form the production of the wholeness of form.

400. Chúng ta có thể gọi việc tạo ra sự tổng hợp của hình tướng là việc tạo ra tính toàn vẹn của hình tướng.

401. Solar fire is the electrical demonstration producing coherency.

401. Lửa Thái dương là biểu hiện điện lực tạo ra tính kết hợp.

402. The sequence produced could be considered as follows:

402. Trình tự được tạo ra có thể được xem như sau:

a. Coherency,

a. Tính kết hợp,

b. Unity,

b. Hợp nhất,

c. Synthesis.

c. Tổng hợp.

Electric fire is electricity demonstrating as vitality or the will-to-be of some Entity, and manifests as:

Lửa Điện là điện lực biểu lộ thành sinh lực hay ý chí-hiện hữu của một Thực Thể nào đó, và biểu hiện thành:

403. Fire by friction is “electricity animating the atoms of matter”; “solar fire is electricity animating forms or congeries of atoms”; “electric fire is electricity demonstrating as vitality or the will-to-be of some Entity”.

403. Lửa ma sát là “điện lực tiếp sinh lực cho các nguyên tử của vật chất”; “Lửa Thái dương là điện lực tiếp sinh lực cho các hình tướng hay các tập hợp nguyên tử”; “Lửa Điện là điện lực biểu lộ thành sinh lực hay ý chí-hiện hữu của một Thực Thể nào đó”.

404. It is important to associate the “will-to-be” with vitality. When the will-to-be ceases, vitality also ceases, and the animation of form ceases. We say that one has lost his “will-to-live”. Then, what we call “death” ensues.

404. Điều quan trọng là phải liên kết “ý chí-hiện hữu” với sinh lực. Khi ý chí-hiện hữu chấm dứt, sinh lực cũng chấm dứt, và sự tiếp sinh lực cho hình tướng chấm dứt. Chúng ta nói rằng một người đã mất “ý chí-sống” của mình. Khi đó, điều chúng ta gọi là “cái chết” xảy ra.

Abstract Being.

Bản Thể trừu tượng.

Darkness.

Bóng tối.

Unity.

Hợp nhất.

405. Interestingly, synthesis was mentioned in connection with the second form of electricity, but it was the “synthesis of form”—not the synthesis of life of consciousness.

405. Điều thú vị là tổng hợp đã được nhắc đến trong liên hệ với hình thức điện lực thứ hai, nhưng đó là “sự tổng hợp của hình tướng”—không phải sự tổng hợp của sự sống hay tâm thức.

406. “Darkness” and “Abstract Being” are equivalent terms. To these, unity must be added in equivalence.

406. “Bóng tối” và “Bản Thể trừu tượng” là những thuật ngữ tương đương. Vào đó, phải thêm hợp nhất như một tương đương nữa.

407. It would seem justified to say that “electric fire” results also in synthesis.

407. Có vẻ hợp lý khi nói rằng “Lửa Điện” cũng dẫn đến tổng hợp.

408. A useful table from the above paragraphs compliments of VSK:

408. Một bảng hữu ích từ các đoạn trên, do VSK cung cấp:

[table 7]

Activity

Magnetism

Vitality

Fohatic Impulse

Wisdom

Will

Matter

Form

Existence

Fire by friction

Solar fire

Electric fire

Intelligent purpose

Archetypal Form

Initial activity

Atoms of matter or substance

Congeries of atoms

Will to be of some Entity

Spheroidal form

Coherent groups

Abstract being

Innate heat

Radiation and magnetic interaction

Darkness

Differentiation

Synthesis of form

Unity

409. Naturally, this table should be pondered carefully, because it brings many ideas together into a coherent whole.

409. Tự nhiên, bảng này nên được suy ngẫm cẩn thận, vì nó gom nhiều ý tưởng lại thành một toàn thể kết hợp chặt chẽ.

410. One of the most important learnings that arises in this section is that fire is electricity and electricity is fire.

410. Một trong những điều học hỏi quan trọng nhất nảy sinh trong phần này là lửa là điện lực và điện lực là lửa.

411. Specialized electricity is specialized fire.

411. Điện lực chuyên biệt là lửa chuyên biệt.

412. Fire is polarized just as is electricity.

412. Lửa được phân cực cũng như điện lực được phân cực.

We have seen that electrical manifestation on the first plane caused initial vibration, and on the second its activity resulted in the archetypal form of all manifestation from a God to man, and an atom.

Chúng ta đã thấy rằng biểu hiện điện lực trên cõi thứ nhất gây ra rung động ban đầu, và trên cõi thứ hai hoạt động của nó dẫn đến hình tướng nguyên mẫu của mọi biểu hiện từ một Thượng đế đến con người, và một nguyên tử.

413. Here we are summarizing the effects of electrical manifestation on the cosmic physical plane.

413. Ở đây chúng ta đang tóm lược các hiệu quả của biểu hiện điện lực trên cõi hồng trần vũ trụ.

414. Archetypes are to be found on the monadic plane—akashic plane. It is, in terms of the cosmic physical plane, the “archetypal plane”.

414. Các nguyên mẫu được tìm thấy trên cõi chân thần—cõi akasha. Xét theo cõi hồng trần vũ trụ, đó là “cõi nguyên mẫu”.

415. But the monadic plane is also the plane of “archetypal form”.

415. Nhưng cõi chân thần cũng là cõi của “hình tướng nguyên mẫu”.

On the third plane which, is primarily the plane of Brahma, this electrical force showed itself in intelligent purpose.

Trên cõi thứ ba, vốn chủ yếu là cõi của Brahma, mãnh lực điện này biểu lộ thành mục đích thông tuệ.

416. The atmic plane is primarily the plane of Brahma.

416. Cõi atma chủ yếu là cõi của Brahma.

417. The atmic plane is the plane whereon “intelligent purpose” is demonstrated.

417. Cõi atma là cõi nơi “mục đích thông tuệ” được biểu lộ.

418. Atma, then, is primarily, “intelligent purpose” (a blend of the first and third rays).

418. Như vậy, atma chủ yếu là “mục đích thông tuệ” (một sự hòa trộn của cung một và cung ba).

The will-to-be, and the form desired, are correlated by intelligent purpose underlying all.

Ý chí-hiện hữu, và hình tướng được mong muốn, được tương liên bởi mục đích thông tuệ nằm bên dưới tất cả.

419. This is a synthetic statement:

419. Đây là một phát biểu tổng hợp:

a. The first plane is animated by the will-to-be

a. Cõi thứ nhất được tiếp sinh lực bởi ý chí-hiện hữu

b. On the second plane the “form desired” is produced

b. Trên cõi thứ hai, “hình tướng được mong muốn” được tạo ra

c. On the third plane, the will-to-be and the form desired are correlated by intelligent purpose.

c. Trên cõi thứ ba, ý chí-hiện hữu và hình tướng được mong muốn được tương liên bởi mục đích thông tuệ.

420. It is clear that the third ray is a ray of correlation and coordination. Vitality and form are coordinated by intelligent purpose.

420. Rõ ràng cung ba là cung của sự tương liên và phối hợp. Sinh lực và hình tướng được phối hợp bởi mục đích thông tuệ.

This intelligent purpose, or active will, utilising an instrument, brings us to that most difficult of metaphysical problems, the distinction between will and desire.

Mục đích thông tuệ này, hay ý chí hoạt động, sử dụng một công cụ, đưa chúng ta đến vấn đề siêu hình khó khăn nhất ấy, sự phân biệt giữa ý chí và dục vọng.

421. We note the equivalence of “intelligent purpose” and active will. Note that in each of these dual terms, one term relates to the first ray and one to the third.

421. Chúng ta lưu ý sự tương đương giữa “mục đích thông tuệ” và ý chí hoạt động. Hãy lưu ý rằng trong mỗi cặp thuật ngữ kép này, một thuật ngữ liên hệ với cung một và một thuật ngữ liên hệ với cung ba.

422. A most difficult problem, indeed!

422. Quả thật là một vấn đề cực kỳ khó khăn!

423. It is of value to realize that Desire as conceived on the cosmic astral plane is manifested as Will (as conceived on the cosmic physical plane).

423. Sẽ có giá trị nếu nhận ra rằng Dục vọng như được quan niệm trên cõi cảm dục vũ trụ được biểu lộ thành Ý chí (như được quan niệm trên cõi hồng trần vũ trụ).

424. Desire is relational; Will is centralized and self-contained.

424. Dục vọng có tính tương quan; Ý chí thì tập trung và tự chứa đựng.

425. When that which is desired is centralized within the one who has desired, the one who has desired becomes the one who wills.

425. Khi điều được dục vọng tập trung vào bên trong kẻ đã dục vọng, kẻ đã dục vọng trở thành kẻ ý chí.

426. Will is the end of outreach (for the sake of acquisition) and the beginning of radiation for the sake of impact.

426. Ý chí là sự chấm dứt của việc vươn ra (vì mục đích thủ đắc) và là sự khởi đầu của bức xạ vì mục đích tạo tác động.

427. Will (at least temporarily) ‘has what it needs’.

427. Ý chí (ít nhất là tạm thời) ‘có điều nó cần’.

428. Yet it is almost inconceivable that that will can manifest without association with some measure of desire, and desire without some measure of will.

428. Tuy nhiên, gần như không thể hình dung rằng ý chí ấy có thể biểu lộ mà không gắn với một mức độ dục vọng nào đó, và dục vọng mà không gắn với một mức độ ý chí nào đó.

429. VSK suggests a similarly most difficult question is embedded in the relationship of the first ray and the sixth ray, especially in regard to their relationship to the colour red and blue.

429. VSK gợi ý rằng một câu hỏi khó khăn tương tự cũng hàm chứa trong mối liên hệ giữa cung một và cung sáu, đặc biệt liên quan đến mối liên hệ của chúng với màu đỏ và xanh lam.

430. VSK continues: “Red is the colour of the water of life’s blood, that which is vitality and desire. These vitality and desire bodies are hot blooded and cold blooded, as a key factor in mammals. Blue and Red are both associated with both the first and the sixth ray. (i.e., the first or logoic plane is that of the Solar or “Blue” Logos. In the second solar system, the Second Ray is ‘in the first place’, so Blue is number one; Christ as King”.

430. VSK tiếp tục: “Đỏ là màu của nước máu sự sống, tức cái vừa là sinh lực vừa là dục vọng. Những thể sinh lực và dục vọng này là máu nóng và máu lạnh, như một yếu tố then chốt nơi loài có vú. Xanh lam và Đỏ đều liên hệ với cả cung một lẫn cung sáu. (tức cõi thứ nhất hay cõi logoic là cõi của Thượng đế Thái dương hay ‘Xanh lam’. Trong hệ mặt trời thứ hai, Cung hai ‘ở vị trí thứ nhất’, vì vậy Xanh lam là số một; Đức Christ như Vua”.

431. VSK further states: “We can also consider the relationships of this first and sixth ray and the will and desire conundrum, to the third ray, the Sixth Cosmic Path, and the movement of the sacral to the throat”.

431. VSK còn nói thêm: “Chúng ta cũng có thể xem xét các mối liên hệ của cung một và cung sáu này cùng câu đố về ý chí và dục vọng, với cung ba, Con Đường Vũ Trụ thứ Sáu, và sự chuyển dịch từ xương cùng lên trung tâm cổ họng”.

It is not possible [Page 317] here to handle this delicate subject, save simply to point out that in both will and desire, intelligence or manas is a fundamental factor, and must be recognised.

Ở đây không thể [Page 317] xử lý chủ đề tinh tế này, ngoại trừ chỉ ra đơn giản rằng trong cả ý chí lẫn dục vọng, trí tuệ hay manas là một yếu tố nền tảng, và phải được nhận biết.

432. This is perhaps a surprising statement.

432. Đây có lẽ là một phát biểu đáng ngạc nhiên.

433. It is as if desire cannot be fulfilled without manas, and will cannot be directed without manas.

433. Dường như dục vọng không thể được hoàn thành nếu không có manas, và ý chí không thể được định hướng nếu không có manas.

This permeating principle of manas—colouring as it does both the will aspect and the desire aspect—is the cause of much confusion to students, and clarity of thought will eventuate only as it is realised:

Nguyên khí thấm nhuần này của manas—nhuốm màu cả phương diện ý chí lẫn phương diện dục vọng—là nguyên nhân của nhiều sự lẫn lộn đối với các đạo sinh, và sự sáng tỏ trong tư tưởng sẽ chỉ xuất hiện khi điều đó được chứng nghiệm:

434. We are learning something about the pervasive factor of manas.

434. Chúng ta đang học được điều gì đó về yếu tố thấm nhuần khắp nơi của manas.

435. If will is to be intelligent; if desire is to be intelligent; then manas is required.

435. Nếu ý chí phải là trí tuệ; nếu dục vọng phải là trí tuệ; thì manas là điều cần thiết.

First, that all manifestation emanates, or is electrified, from the cosmic mental plane.

Thứ nhất, rằng mọi biểu hiện xuất lộ, hay được điện hóa, từ cõi trí tuệ vũ trụ.

436. We have run into this idea before. DK does not follow the impulse which produced our solar system beyond the cosmic mental plane—at least, only rarely.

436. Chúng ta đã gặp ý tưởng này trước đây. DK không lần theo xung lực đã tạo ra hệ mặt trời của chúng ta vượt quá cõi trí tuệ vũ trụ—ít nhất, chỉ rất hiếm khi.

437. Even that which we call Will has, for purpose of His discussions with us, its origin on that plane.

437. Ngay cả điều mà chúng ta gọi là Ý Chí cũng có nguồn gốc trên cõi ấy, vì mục đích các cuộc luận bàn của Ngài với chúng ta.

438. All manifestation in the three lower worlds begins, for practical purposes, with the systemic mental plane. Analogously, the lower eighteen cosmic sub-planes originate from the cosmic mental plane.

438. Mọi biểu hiện trong ba cõi thấp, xét về mục đích thực tiễn, đều bắt đầu với cõi trí của hệ thống. Tương tự, mười tám cõi phụ vũ trụ thấp bắt nguồn từ cõi trí tuệ vũ trụ.

439. We are being given a relationship between emanation and electrification. The implication is that emanation may be an electrical process, arising from the interplay of electrical poles (i.e., arising from electrical interplay).

439. Chúng ta đang được trao cho một mối liên hệ giữa sự xuất lộ và sự điện hóa. Hàm ý là sự xuất lộ có thể là một tiến trình điện, phát sinh từ sự tương tác của các cực điện (tức là, phát sinh từ sự tương tác điện).

440. In this discussion we are relating the permeating principle of manas to the will and desire aspects.

440. Trong cuộc luận bàn này, chúng ta đang liên hệ nguyên khí thấm nhuần của manas với các phương diện ý chí và dục vọng.

Second, that the Universal Mind, or the divine thinker, is the intelligent Principle which makes Itself known as the Will-to-be, Desire or Love-of-Being, and that active intelligent purpose which animates the solar system.

Thứ hai, rằng Trí Tuệ Vũ Trụ, hay Đấng tư tưởng thiêng liêng, là Nguyên khí trí tuệ tự biểu lộ như Ý Chí-hiện hữu, Dục vọng hay Bác Ái-hiện hữu, và mục đích trí tuệ linh hoạt làm sinh động hệ mặt trời.

441. We are rising no higher than solar logoic manas. Everything which we call Will within our manifested solar system, is derivative of this “intelligent Principle”.

441. Chúng ta không vươn cao hơn manas của Thái dương Thượng đế. Mọi điều mà chúng ta gọi là Ý Chí trong hệ mặt trời biểu hiện của chúng ta đều là phái sinh từ “Nguyên khí trí tuệ” này.

442. The Universal Mind relates to the mental processes of the Solar Logos and is the threefold Mind animating this Second Solar System.

442. Trí Tuệ Vũ Trụ liên hệ với các tiến trình trí tuệ của Thái dương Thượng đế và là Trí tam phân làm sinh động Hệ Mặt Trời thứ Hai này.

443. These three originate in the Universal Mind:

443. Ba điều này bắt nguồn trong Trí Tuệ Vũ Trụ:

a. The Will-to-be

a. Ý Chí-hiện hữu

b. The Desire-to-be or the “Love-of-Being”

b. Dục vọng-hiện hữu hay “Bác Ái-hiện hữu”

c. Active intelligent purpose (the third aspect) animating the solar system.

c. Mục đích trí tuệ linh hoạt (phương diện thứ ba) làm sinh động hệ mặt trời.

444. In this discussion we are continuing to relate the permeating principle of manas to the will and desire aspects.

444. Trong cuộc luận bàn này, chúng ta tiếp tục liên hệ nguyên khí thấm nhuần của manas với các phương diện ý chí và dục vọng.

Third, that Maha-deva, or the Divine Will, Vishnu, the Wisdom aspect, or the manifested “Son of Necessity,” and Brahma or active purpose are the sum-total of intelligent consciousness, and are (to the manifesting cosmic Entity) what the mental body, the desire body, and the physical body are to man, the thinker in the three worlds, functioning in the causal body.

Thứ ba, rằng Maha-deva, hay Ý Chí thiêng liêng, Vishnu, phương diện Minh triết, hay “Con của Sự Cần Thiết” biểu hiện, và Brahma hay mục đích linh hoạt là tổng thể của tâm thức trí tuệ, và là (đối với Thực Thể vũ trụ đang biểu hiện) điều mà thể trí, thể dục vọng, và thể xác là đối với con người, thức giả trong ba cõi giới, đang hoạt động trong thể nguyên nhân.

445. DK is repeating the idea that the Universal Mind or the intelligent consciousness of the Solar Logos lies behind all that we call the mental body, the desire body and the physical body of our Solar Logos.

445. DK đang lặp lại ý tưởng rằng Trí Tuệ Vũ Trụ hay tâm thức trí tuệ của Thái dương Thượng đế nằm phía sau tất cả những gì chúng ta gọi là thể trí, thể dục vọng và thể xác của Thái dương Thượng đế của chúng ta.

446. It makes sense that in this second solar system, we do not (in our discussion) rise above the cosmic mental plane, for this is the solar system of the Son, Whose major center (at this time) is the solar logoic causal body on the higher cosmic mental plane.

446. Điều hợp lý là trong hệ mặt trời thứ hai này, chúng ta không (trong cuộc luận bàn của mình) vượt lên trên cõi trí tuệ vũ trụ, vì đây là hệ mặt trời của Con, Đấng có trung tâm chính yếu (vào lúc này) là thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế trên cõi thượng trí vũ trụ.

447. We see that the three major aspects of divinity, cosmically considered, are focussed respectively in the mental, desire and etheric-physical bodies of the Solar Logos.

447. Chúng ta thấy rằng ba phương diện chính yếu của thiên tính, xét theo vũ trụ, lần lượt được tập trung trong các thể trí, dục vọng và dĩ thái-hồng trần của Thái dương Thượng đế.

448. VSK would have us note that the desire body of the cosmic Entity is as a manifested “Son of Necessity”. Analogously then, so is our own astral body.

448. VSK muốn chúng ta lưu ý rằng thể dục vọng của Thực Thể vũ trụ là một “Con của Sự Cần Thiết” biểu hiện. Tương tự như vậy, thể cảm dục của chính chúng ta cũng thế.

449. VSK proposes what she calls an “advanced idea”: “We understand the point of evolution of the Solar Logos and His polarization on the cosmic astral plane. This emphasis may also assist in the problem of first and sixth ray energies being apparently confused in terms of will or desire. This is to say that the Solar Logos’ Purpose is our desire. So the ‘red’, the life and blood of Him, associated with the number one, is the same as our desire, giving life and blood, the desire of the sixth. They are intimately related.”

449. VSK đề xuất điều mà bà gọi là một “ý tưởng cao siêu”: “Chúng ta hiểu điểm tiến hoá của Thái dương Thượng đế và sự phân cực của Ngài trên cõi cảm dục vũ trụ. Sự nhấn mạnh này cũng có thể hỗ trợ trong vấn đề các năng lượng cung một và cung sáu dường như bị lẫn lộn xét theo ý chí hay dục vọng. Điều này có nghĩa là Mục Đích của Thái dương Thượng đế là dục vọng của chúng ta. Vì thế ‘đỏ’, sự sống và huyết mạch của Ngài, gắn với số một, cũng chính là dục vọng của chúng ta, ban sự sống và huyết mạch, dục vọng của số sáu. Chúng liên hệ mật thiết với nhau.”

450. VSK proposes another “advanced idea”: “We begin by referencing EA 34-35. Pisces is the Creative Hierarchy of the third subplane of the cosmic astral. It carries the second and sixth ray, the blue-indigo and red-rose. This is the Third Kumara, the ‘Saviour King’ on the plane that the causal body of the Solar Logos has focus upon (yes?). This sixth cosmic plane is the seventh cosmic plane’s ‘primary’, or impulsing ‘first aspect’ (relatively speaking). So again, ‘our will is God’s desire’—Vishnu’s desire. The Fish is the Saviour King. The causal body is on the 6.3. cosmic plane—Pisces.”

450. VSK đề xuất một “ý tưởng cao siêu” khác: “Chúng ta bắt đầu bằng cách tham chiếu EA 34-35. Song Ngư là Huyền Giai Sáng Tạo của cõi phụ thứ ba của cõi cảm dục vũ trụ. Nó mang cung hai và cung sáu, lam-chàm và đỏ-hồng. Đây là Kumara Thứ ba, ‘Đức Vua Cứu Thế’ trên cõi mà thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế tập trung vào (đúng chứ?). Cõi vũ trụ thứ sáu này là ‘sơ cấp’, hay phương diện thứ nhất thứ bảy của cõi vũ trụ xung động (xét tương đối). Vì vậy một lần nữa, ‘ý chí của chúng ta là dục vọng của Thượng đế’—dục vọng của Vishnu. Cá là Đức Vua Cứu Thế. Thể nguyên nhân ở trên cõi vũ trụ 6.3. —Song Ngư.”

451. I would ask VSK why she states the focus of the causal body of the Solar Logos is upon the third sub-plane of the cosmic astral plane? Is that focus not upon the first sub-plane of the cosmic mental plane?

451. Tôi muốn hỏi VSK vì sao bà nói rằng tiêu điểm của thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế nằm trên cõi phụ thứ ba của cõi cảm dục vũ trụ? Tiêu điểm ấy chẳng phải nằm trên cõi phụ thứ nhất của cõi trí tuệ vũ trụ sao?

452. I would also ask why the Third Kumara is referenced. If the Kumara referenced is Sanat Kumara, He should be either the First Kumara or the Fourth.

452. Tôi cũng muốn hỏi vì sao Kumara Thứ ba lại được nhắc đến. Nếu Kumara được nhắc đến là Đức Sanat Kumara, thì Ngài phải là Kumara Thứ nhất hoặc Thứ tư.

453. I find the other ideas here proposed sound.

453. Tôi thấy các ý tưởng khác được đề xuất ở đây là xác đáng.

454. VSK also states: “Saturn and Mars are also highlighted here by resonance to three and six—according to ray and scheme number. Thus are associated green (Saturn, ray three) and red (Mars, ray six), the colours of the solar plexus, of vitality.

454. VSK cũng nói: “Sao Thổ và Sao Hỏa cũng được làm nổi bật ở đây do cộng hưởng với số basáu—theo cung và số hệ hành tinh. Vì thế gắn liền với màu lục (Sao Thổ, cung ba) và màu đỏ (Sao Hỏa, cung sáu), là các màu của tùng thái dương, của sinh lực.

We must not forget that the causal body contains the three permanent atoms or the three spheres which embody the principle of intelligence, of desire, and of physical objectivity.

Chúng ta không được quên rằng thể nguyên nhân chứa ba nguyên tử trường tồn hay ba khối cầu hiện thân cho nguyên khí trí tuệ, dục vọng, và tính khách quan hồng trần.

455. This is true whether we are speaking of the causal body of a man, a Planetary Logos or a Solar Logos.

455. Điều này đúng dù chúng ta đang nói về thể nguyên nhân của một con người, một Hành Tinh Thượng đế hay một Thái dương Thượng đế.

456. DK makes this point to show how the principle of Intelligence (embodied in the causal body) is really, for practical purpose, the origin of—

456. DK nêu điểm này để cho thấy nguyên khí Trí Tuệ (được hiện thân trong thể nguyên nhân) thực sự, vì mục đích thực tiễn, là nguồn gốc của—

a. The Will-to-be

a. Ý Chí-hiện hữu

b. The Love-of-being

b. Bác Ái-hiện hữu

c. Intelligent purpose.

c. Mục đích trí tuệ.

457. The first, second and third aspects, as they express in the lower worlds of manifestation are centralized (as are the members of the atomic triangle) within the causal body of the entity concerned. This is important to realize. The Center of Intelligence contains the three aspects of divinity, in their lower expression.

457. Các phương diện thứ nhất, thứ hai và thứ ba, khi biểu lộ trong các cõi thấp của biểu hiện, được tập trung (cũng như các thành viên của tam giác nguyên tử) bên trong thể nguyên nhân của thực thể liên hệ. Điều này quan trọng cần chứng nghiệm. Trung Tâm Trí Tuệ chứa đựng ba phương diện của thiên tính, trong biểu hiện thấp của chúng.

Always must the analogy be held between the threefold Logos and threefold man, and definiteness of thought and of concept results when the one likeness between these is pondered on.

Luôn luôn phải giữ phép tương đồng giữa Thượng đế tam phân và con người tam phân, và sự xác định rõ ràng của tư tưởng và khái niệm sẽ phát sinh khi sự tương tự duy nhất giữa hai bên này được suy ngẫm.

458. DK seems to be telling us that when we think of man we should think of the larger Beings Who encompass him.

458. DK dường như đang nói với chúng ta rằng khi nghĩ về con người, chúng ta nên nghĩ đến các Đấng lớn lao hơn bao hàm y.

Man is a unit, functioning as a unit in the causal body. He is a triplicity functioning under the will aspect, or mental body; under the desire or wisdom aspect, the astral body; and under the activity aspect, the physical body.

Con người là một đơn vị, hoạt động như một đơn vị trong thể nguyên nhân. Y là một bộ ba hoạt động dưới phương diện ý chí, hay thể trí; dưới phương diện dục vọng hay minh triết, thể cảm dục; và dưới phương diện hoạt động, thể xác.

459. The same point is being amplified.

459. Cùng một điểm đang được khai triển thêm.

460. Man’s being within the causal body is as a “unit” or unity.

460. Sự hiện hữu của con người trong thể nguyên nhân là như một “đơn vị” hay sự hợp nhất.

461. But emanating from and embodied within the causal body is a functional triplicity related to each of the three major aspects of divinity.

461. Nhưng xuất lộ từ và hiện thân trong thể nguyên nhân là một bộ ba chức năng liên hệ với mỗi một trong ba phương diện chính yếu của thiên tính.

He electrifies or vitalises all three bodies or aspects, unifying them into one, and bringing about—by means of the Intelligence He is—coherency of action, simultaneity of purpose, and synthetic endeavour.

Y điện hóa hay tiếp sinh lực cả ba thể hay phương diện, hợp nhất chúng thành một, và mang lại—nhờ Trí Tuệ mà y là—sự nhất quán của hành động, tính đồng thời của mục đích, và nỗ lực tổng hợp.

462. Man has the function of electrifying the three bodies through which he manifests in the lower worlds.

462. Con người có chức năng điện hóa ba thể mà qua đó y biểu hiện trong các cõi thấp.

463. Electrification is vitalization. In this way, electrification is related to the first aspect of divinity as is vitality.

463. Sự điện hóa là sự tiếp sinh lực. Theo cách này, sự điện hóa liên hệ với phương diện thứ nhất của thiên tính cũng như sinh lực vậy.

464. Man like the Solar Logos is principally Intelligence. By means of this Intelligence of Mind underlying the three bodies of expression man—

464. Con người, cũng như Thái dương Thượng đế, chủ yếu là Trí Tuệ. Nhờ Trí Tuệ của Trí này làm nền cho ba thể biểu hiện, con người—

a. Unifies the three bodies into one

a. Hợp nhất ba thể thành một

b. Produces in the three bodies

b. Tạo ra trong ba thể

i. Coherency of action

i. Sự nhất quán của hành động

ii. Simultaneity of purpose

ii. Tính đồng thời của mục đích

iii. Synthetic endeavour

iii. Nỗ lực tổng hợp

465. All this is to say that the One Who is Intelligence underlies the three, which on a lower turn of the spiral, are Will, Love and Intelligence.

465. Tất cả điều này có nghĩa là Đấng là Trí Tuệ làm nền cho bộ ba mà, ở một vòng xoắn thấp hơn của đường xoắn ốc, là Ý Chí, Bác Ái và Trí Tuệ.

466. VSK queries: “And what do we know of the causal body of the Solar Logos? What are the permanent atoms within it? What are the best equivalents in relation man’s causal body and permanent atoms?

466. VSK nêu câu hỏi: “Và chúng ta biết gì về thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế? Các nguyên tử trường tồn bên trong nó là gì? Những tương đương tốt nhất liên hệ với thể nguyên nhân và các nguyên tử trường tồn của con người là gì?

467. Planetary Logoi can be as chakras to the Solar Logos of as permanent atoms. Permanent atoms embody principles and chakras are vortices the original cause of which is monadic impulse.

467. Các Hành Tinh Thượng đế có thể là các luân xa đối với Thái dương Thượng đế hoặc là các nguyên tử trường tồn. Các nguyên tử trường tồn hiện thân các nguyên khí và các luân xa là các xoáy lực mà nguyên nhân nguyên thủy của chúng là xung lực chân thần.

468. In one way, permanent atoms are of a higher order than chakras, as there are many chakras and few permanent atoms.

468. Theo một cách nào đó, các nguyên tử trường tồn thuộc một trật tự cao hơn các luân xa, vì có nhiều luân xa và ít nguyên tử trường tồn.

469. To discover the three members of the solar logoic atomic triangle, would be to discover three planets which must be consumed in fire as the Solar Logos reaches His fourth initiation.

469. Khám phá ra ba thành viên của tam giác nguyên tử của Thái dương Thượng đế sẽ là khám phá ra ba hành tinh phải bị thiêu hủy trong lửa khi Thái dương Thượng đế đạt đến lần điểm đạo thứ tư của Ngài.

[Page 318]

[Page 318]

Finally, therefore, it is apparent that, no matter from what angle we study, the threefold Logos (or His reflection, the microcosm) through the Manasic principle, intelligently reduces matter to form, and utilises that form for the fulfilment of the will, desire and purpose of the indwelling Existence; this principle can be seen underlying all three aspects.

Sau cùng, do đó, hiển nhiên là, bất kể chúng ta nghiên cứu từ góc độ nào, Thượng đế tam phân (hay phản chiếu của Ngài, tiểu thiên địa) thông qua nguyên khí Manas, một cách trí tuệ làm giảm vật chất thành hình tướng, và sử dụng hình tướng đó để hoàn thành ý chí, dục vọng và mục đích của Sự Tồn Tại ngự bên trong; nguyên khí này có thể được thấy là làm nền cho cả ba phương diện.

470. Here is another useful summary.

470. Đây là một bản tóm lược hữu ích khác.

471. What does the manasic principle do (whether the manasic principle of the Solar Logos of or man)?

471. Nguyên khí manas làm gì (dù là nguyên khí manas của Thái dương Thượng đế hay của con người)?

a. It intelligently reduces matter to form

a. Nó một cách trí tuệ làm giảm vật chất thành hình tướng

b. It utilises that form for the fulfillment of the will, desire, and purpose of the indwelling Existence.

b. Nó sử dụng hình tướng đó để hoàn thành ý chí, dục vọng, và mục đích của Sự Tồn Tại ngự bên trong.

472. In other words, manas brings forward the fulfilled expression of will and desire.

472. Nói cách khác, manas đưa ra phía trước sự biểu lộ được hoàn thành của ý chí và dục vọng.

473. The manasic principle underlies all three aspects—in their lower expressions.

473. Nguyên khí manas làm nền cho cả ba phương diện—trong các biểu hiện thấp của chúng.

There is no need here to point out the different triplicities which can be built up on the basic idea of Spirit and Matter, linked by Intelligence. This has often been done.

Ở đây không cần chỉ ra các bộ ba khác nhau có thể được xây dựng trên ý tưởng căn bản về Tinh thần và Vật chất, được nối kết bởi Trí Tuệ. Điều này đã thường được thực hiện.

474. The key here is that Intelligence is the link. Intelligence then, is as the second aspect, because the second aspect is the link between the first and third aspects.

474. Chìa khóa ở đây là Trí Tuệ là mối nối kết. Vậy thì Trí Tuệ là như phương diện thứ hai, bởi vì phương diện thứ hai là mối nối kết giữa phương diện thứ nhất và thứ ba.

475. VSK states: “While there is no need for DK to take the time to point out the triplicities, a ready ability to be able to turn any scheme into a triplicity is invaluable in studying His works.”

475. VSK nói: “Dù DK không cần dành thời gian chỉ ra các bộ ba, khả năng sẵn có để có thể chuyển bất kỳ hệ nào thành một bộ ba là vô giá trong việc nghiên cứu các tác phẩm của Ngài.”

476. A master chart of the major triplicities should be created. One need only compile the many such charts which DK has offered.

476. Nên tạo ra một biểu đồ tổng quát về các bộ ba chính yếu. Chỉ cần tập hợp nhiều biểu đồ như thế mà DK đã đưa ra.

I but seek to emphasize that INTELLIGENCE is the main quality of the Logos; that it shows as will, as desire or wisdom, and as activity; and that the reason for this is due to the work earlier accomplished by the cosmic Entity,

Tôi chỉ tìm cách nhấn mạnh rằng TRÍ TUỆ là phẩm tính chính yếu của Thượng đế; rằng nó biểu lộ như ý chí, như dục vọng hay minh triết, và như hoạt động; và rằng lý do của điều này là do công việc đã được Thực Thể vũ trụ hoàn thành từ trước,

477. The Solar Logos has already mastered Intelligence to a degree through His experience in the past solar system.

477. Thái dương Thượng đế đã làm chủ Trí Tuệ đến một mức độ nào đó nhờ kinh nghiệm của Ngài trong hệ mặt trời trước.

478. This is, perhaps, the principle reason why Intelligence underlies what we usually call will, desire/wisdom and activity.

478. Đây có lẽ là lý do chính khiến Trí Tuệ làm nền cho điều mà chúng ta thường gọi là ý chí, dục vọng/minh triết và hoạt động.

479. The Primordial Ray (associated with Divine Intelligence) is presently the strongest ray, although the Divine Ray is in process of strengthening.

479. Cung Nguyên Sơ (gắn với Trí Tuệ thiêng liêng) hiện nay là cung mạnh nhất, mặc dù Cung Thiêng Liêng đang trong tiến trình tăng cường.

480. The causal focus of the Solar Logos on the cosmic mental plane is a combination of Primordial Intelligence and Divine Love. The third and second aspects are combined.

480. Tiêu điểm nguyên nhân của Thái dương Thượng đế trên cõi trí tuệ vũ trụ là sự kết hợp của Trí Tuệ Nguyên Sơ và Bác Ái thiêng liêng. Phương diện thứ ba và thứ hai được kết hợp.

481. Interestingly, although our Solar Logos has mastered Intelligence, He is still manifesting through an astral-buddhic system and is not yet polarized on the cosmic mental plane.

481. Điều thú vị là, mặc dù Thái dương Thượng đế của chúng ta đã làm chủ Trí Tuệ, Ngài vẫn đang biểu hiện qua một hệ cảm dục-bồ đề và chưa phân cực trên cõi trí tuệ vũ trụ.

482. As is true of the unit man, intelligence is not the same as mental polarization (which demands a mind infused by soul light). The analogy is clear in relation to the Solar Logos.

482. Cũng như nơi đơn vị con người, trí tuệ không đồng nhất với sự phân cực trí tuệ (điều đòi hỏi một trí tuệ được ánh sáng linh hồn thấm nhuần). Sự tương tự này rõ ràng trong mối liên hệ với Thái dương Thượng đế.

involving cycles which have passed into the dim mist of retrospect, even from the angle of vision of a solar Logos.

bao gồm những chu kỳ đã đi vào màn sương mờ của hồi cố, ngay cả từ góc nhìn của một Thái dương Thượng đế.

483. We are being given something of the perspective of the Solar Logos. Even for Him, the period during which He developed Intelligence seems distant; His focus is not there.

483. Chúng ta đang được trao cho phần nào viễn cảnh của Thái dương Thượng đế. Ngay cả đối với Ngài, thời kỳ trong đó Ngài phát triển Trí Tuệ dường như xa xăm; tiêu điểm của Ngài không ở đó.

484. It is interesting to note the equivalence of “desire or wisdom”.

484. Thật thú vị khi lưu ý sự tương đương của “dục vọng hay minh triết”.

485. VSK brings in another of her extensive correlations: “Again, note resonance to third subplane of the Solar Logos, the 6.3; the 7.3, our Atmic plane, is the culmination of the five worlds of human evolution. The activity aspect of intelligence is our goal, in terms of ‘being human’. This is the effect side of the strength of the third aspect, third subplane, third Ray, Third Kumara, Pisces, being the ‘first of the ‘Liberated Lives’, and the key of the cosmic astral, which is what most immediately impulses us. (i.e., the cosmic Entity’s desire body or solar logoic causal body).

485. VSK đưa vào một tương quan rộng lớn khác của bà: “Một lần nữa, hãy lưu ý sự cộng hưởng với cõi phụ thứ ba của Thái dương Thượng đế, cõi 6.3; cõi 7.3, cõi atma của chúng ta, là sự viên mãn của năm thế giới của tiến hoá nhân loại. Phương diện hoạt động của trí tuệ là mục tiêu của chúng ta, xét theo nghĩa ‘làm người’. Đây là mặt hiệu quả của sức mạnh của phương diện thứ ba, cõi phụ thứ ba, cung ba, Kumara Thứ ba, Song Ngư, là ‘đầu tiên của các “Sự Sống Giải Thoát”’, và là chìa khóa của cõi cảm dục vũ trụ, là điều xung động chúng ta trực tiếp nhất. (tức là, thể dục vọng của Thực Thể vũ trụ hay thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế).

486. VSK continues: “Pisces is a synthesizing sign. Five is the synthesis of man, as manas. Manas, in this second system (or ‘world period’ specifically, according to the EA 34-35. table) we have a Piscean system, with a cosmic astral causal focus), is using man. Christ uses Jesus. Two uses six. Jesus uses the Jewish Race. Six uses three.”

486. VSK tiếp tục: “Song Ngư là một dấu hiệu tổng hợp. Năm là sự tổng hợp của con người, như manas. Manas, trong hệ thứ hai này (hay ‘thời kỳ thế giới’ này một cách chuyên biệt, theo bảng EA 34-35. chúng ta có một hệ Song Ngư, với một tiêu điểm nguyên nhân cảm dục vũ trụ), đang sử dụng con người. Đức Christ sử dụng Đức Jesus. Hai sử dụng sáu. Đức Jesus sử dụng Nhân loại Do Thái. Sáu sử dụng ba.”

487. VSK is bringing many factors together and expanding the range of our consideration.

487. VSK đang gom nhiều yếu tố lại với nhau và mở rộng phạm vi xem xét của chúng ta.

488. Since we are speaking of the principle of Intelligence, the number three is frequently mentioned, and as a result we take note of the resonance between the cosmic planes considered from the point of view of their third sub-plane.

488. Vì chúng ta đang nói về nguyên khí Trí Tuệ, số ba được nhắc đến thường xuyên, và kết quả là chúng ta lưu ý sự cộng hưởng giữa các cõi vũ trụ khi được xét từ quan điểm cõi phụ thứ ba của chúng.

489. These thoughts may seem fetched from afar, but pondered upon they can induce unitive apprehension which is the gateway to pure reason.

489. Những tư tưởng này có thể dường như gượng ép từ xa, nhưng khi được suy ngẫm, chúng có thể gây ra sự lĩnh hội hợp nhất, là cánh cổng dẫn vào lý trí thuần túy.

This developed manasic principle is the intelligent purpose that is bringing about at-one-ment on each plane of the solar system in connection with the subplanes.

Nguyên khí manas đã phát triển này là mục đích trí tuệ đang mang lại sự hợp nhất trên mỗi cõi của hệ mặt trời trong mối liên hệ với các cõi phụ.

490. When DK mentions manas, the mention of purpose is never far away.

490. Khi DK nhắc đến manas, việc nhắc đến mục đích không bao giờ ở xa.

491. We are emphasizing the fundamental importance of Manas or Intelligence, underlying all we usually differentiate into the various aspects of divinity—especially the three.

491. Chúng ta đang nhấn mạnh tầm quan trọng căn bản của Manas hay Trí Tuệ, làm nền cho tất cả những gì chúng ta thường phân biệt thành các phương diện khác nhau của thiên tính—đặc biệt là ba phương diện.

492. Manas expresses through all three aspects. Here it is emphasized that it is both intelligent and purposeful (relating it to the third and first aspects respectively) and that it brings about at-one-ment, which shows that is a factor of cohesion, thus relating it as well to the second aspect.

492. Manas biểu lộ qua cả ba phương diện. Ở đây điều được nhấn mạnh là nó vừa trí tuệ vừa có mục đích (liên hệ nó lần lượt với phương diện thứ ba và thứ nhất) và rằng nó mang lại sự hợp nhất, điều này cho thấy nó là một yếu tố của sự cố kết, do đó cũng liên hệ nó với phương diện thứ hai.

493. Without the functioning of the manasic principle there would be no “at-one-ment on each plane of the solar system in connection with the sub-planes.

493. Nếu không có sự hoạt động của nguyên khí manas thì sẽ không có “sự hợp nhất trên mỗi cõi của hệ mặt trời trong mối liên hệ với các cõi phụ”.

It will eventually bring about the synthesis of all the planes, and thus bring the cosmic physical plane, as a unified whole, under the complete control of that cosmic Entity Who is seeking expression through that threefold manifestation we call a solar system, or the body logoic.

Cuối cùng nó sẽ mang lại sự tổng hợp của tất cả các cõi, và như thế đưa cõi hồng trần vũ trụ, như một toàn thể hợp nhất, dưới sự kiểm soát hoàn toàn của Thực Thể vũ trụ đang tìm cách biểu lộ qua biểu hiện tam phân mà chúng ta gọi là một hệ mặt trời, hay thể của Thượng đế.

494. So we are to gather that manas produces synthesis—especially (in terms of this discussion) in relation to the cosmic physical plane.

494. Vì vậy chúng ta phải rút ra rằng manas tạo ra sự tổng hợp—đặc biệt (xét theo cuộc luận bàn này) trong mối liên hệ với cõi hồng trần vũ trụ.

495. When the cosmic physical plane is synthesized, and the sub-planes are at-oned, then the cosmic Entity (the Solar Logos) will have complete control on this lowest cosmic plane.

495. Khi cõi hồng trần vũ trụ được tổng hợp, và các cõi phụ được hợp nhất, thì Thực Thể vũ trụ (Thái dương Thượng đế) sẽ có sự kiểm soát hoàn toàn trên cõi vũ trụ thấp nhất này.

496. In other words, for the Solar Logos, there is no mastery of the cosmic physical plane without the assistance of Manas, considered as impulsive of all processes in on the lower eighteen cosmic sub-planes.

496. Nói cách khác, đối với Thái dương Thượng đế, không có sự làm chủ cõi hồng trần vũ trụ nếu không có sự trợ giúp của Manas, được xem như xung động cho mọi tiến trình trên mười tám cõi phụ vũ trụ thấp.

On this third plane that intelligent principle demonstrates as coherent activity, either systemic, planetary, or monadic, and also as the triple vibration of spirit-matter-intelligence, sounding as the threefold Sacred Word, or electricity manifesting as sound.

Trên cõi thứ ba này, nguyên khí trí tuệ ấy biểu lộ như hoạt động nhất quán, dù là của hệ thống, hành tinh, hay chân thần, và cũng như rung động tam phân của tinh thần-vật chất-trí tuệ, vang lên như Linh từ Thiêng liêng tam phân, hay điện biểu hiện như âm thanh.

497. We are speaking of electrical demonstration upon the atmic plane which is the third sub-plane of the cosmic physical plane.

497. Chúng ta đang nói về sự biểu lộ điện trên cõi atma, là cõi phụ thứ ba của cõi hồng trần vũ trụ.

498. Manas as the “intelligent principle” has a special resonance with this third plane of “intelligent purpose”.

498. Manas như “nguyên khí trí tuệ” có một sự cộng hưởng đặc biệt với cõi thứ ba này của “mục đích trí tuệ”.

499. On the atmic plane the “intelligent principle” demonstrates in the following ways:

499. Trên cõi atma, “nguyên khí trí tuệ” biểu lộ theo những cách sau:

a. As coherent activity (with the emphasis upon the word activity) since we are dealing with the third plane and the third or activity aspect.

a. Như hoạt động nhất quán (với sự nhấn mạnh vào từ hoạt động) vì chúng ta đang bàn về cõi thứ ba và phương diện thứ ba hay phương diện hoạt động.

b. As the sounding of the AUM—which is a triple vibration derived from the union of “spirit-matter-intelligence”.

b. Như sự xướng AUM—là một rung động tam phân phát sinh từ sự hợp nhất của “tinh thần-vật chất-trí tuệ”.

c. It is the threefold Sacred Word that sounds on the atmic plane.

c. Chính Linh từ Thiêng liêng tam phân vang lên trên cõi atma.

d. On that plane electricity manifests as sound. This is distinguished from the sounding related to the Akasha (or second plane) because of the factor of manifestation, which is not evident on the monadic plane.

d. Trên cõi ấy điện biểu hiện như âm thanh. Điều này được phân biệt với sự vang lên liên hệ với Akasha (hay cõi thứ hai) vì yếu tố biểu hiện, vốn không hiển nhiên trên cõi chân thần.

500. VSK comments: “It’s rather beautiful to think of it this way—this Piscean Christ as Cosmic Christ. So literal.”  

500. VSK bình luận: “Thật khá đẹp khi nghĩ về nó theo cách này—Đức Christ Song Ngư này như Đức Christ Vũ Trụ. Thật sát nghĩa.”  

501. VSK suggests: “The Sacred Word, the AUM, can be conceived as ‘beginning middle and end’ (as reflected in the palate as well as obviously in the construction of the word). It’s like a time ring-pass-not. In some way, by utterance, the AUM puts in vibration the ‘past=present=future’. The AUM causes occult manifestation: 1,3,5,7. It is so clear how the rays of abstraction, then, are 2,4,6.”

501. VSK gợi ý: “Linh từ Thiêng liêng, AUM, có thể được quan niệm như ‘khởi đầu, giữa và kết thúc’ (được phản chiếu trong vòm miệng cũng như hiển nhiên trong cấu trúc của từ). Nó giống như một vòng-giới-hạn của thời gian. Theo một cách nào đó, bằng sự phát âm, AUM đặt ‘quá khứ=hiện tại=tương lai’ vào rung động. AUM gây ra biểu hiện huyền bí: 1,3,5,7. Khi ấy thật rõ ràng rằng các cung của sự trừu xuất là 2,4,6.”

Scroll to Top