Bình giảng về Lửa Vũ Trụ S6S10 Part I (690-698)

📘 Sách: Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S6 – Tác giả: Michael D. Robbins

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF

TCF 689-698: S6S10

Part I

Phần I

7 – 14 February 2008

7 – 14 tháng 2 năm 2008

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the analysis.

Đề nghị nên đọc phần Bình luận này với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần phân tích.

1. Our study in this section of text focuses on the Fifth Logoic Principle.

1. Việc nghiên cứu của chúng ta trong phần văn bản này tập trung vào Nguyên khí Logoic thứ năm.

2. We continue our study of the Agnishvattas.

2. Chúng ta tiếp tục nghiên cứu các Agnishvatta.

a. The Fifth Principle.

a. Nguyên khí thứ năm.

The solar Angels are the Pitris, the builders of the body of the Ego, and the producers of individualisation or the realised consciousness, the Agnishvattas, the great devas of Mind.

Các Thái dương Thiên Thần là các Pitri, những đấng kiến tạo thể của chân ngã, và là những đấng tạo ra biệt ngã hóa hay tâm thức được chứng nghiệm, các Agnishvatta, những đại thiên thần của Trí Tuệ.

3. Let us tabulate these terms for clarity, adding names which have been accumulating in our studies: The Solar Angels are:

3. Hãy lập bảng các thuật ngữ này cho rõ ràng, đồng thời thêm vào những danh xưng đã tích lũy trong quá trình nghiên cứu của chúng ta: Các Thái dương Thiên Thần là:

a. Builders of the body of the Ego

a. Những đấng kiến tạo thể của Chân ngã

b. Produces of individualization

b. Những đấng tạo ra biệt ngã hóa

c. Producers of realized consciousness

c. Những đấng tạo ra tâm thức được chứng nghiệm

d. The Agnishvattas

d. Các Agnishvatta

e. The “great devas of Mind”.

e. “Những đại thiên thần của Trí Tuệ”.

f. And we can add the following names which have been accumulating:

f. Và chúng ta có thể thêm những danh xưng sau đây đã được tích lũy:

g. The self-consciousness principles

g. Các nguyên khí ngã thức

h. The Builders of the egoic body

h. Những Đấng Kiến Tạo của thể chân ngã

i. Planetary spirits

i. Các tinh thần hành tinh

j. Asuras

j. Các Asura

k. Solar Angels

k. Các Thái dương Thiên Thần

l. Fire Dhyanis

l. Các Hỏa Dhyanis

m. Manasadevas

m. Các Manasadeva

n. “Sons of Wisdom”

n. “Các Con của Minh Triết”

o. The vehicles of the Divine Mind

o. Các vận cụ của Trí Tuệ thiêng liêng

p. The dhyan-chohanic forces

p. Các mãnh lực dhyan-chohanic

q. The aggregate of the Ah-hi

q. Tổng thể của các Ah-hi

4. An important thing is here said: individualization is “realised consciousness”. This calls the our attention the fact that there is, indeed, consciousness before there is “realized consciousness”.

4. Ở đây có một điều quan trọng được nói ra: biệt ngã hóa là “tâm thức được chứng nghiệm”. Điều này khiến chúng ta chú ý đến sự kiện rằng quả thực có tâm thức trước khi có “tâm thức được chứng nghiệm”.

5. There is knowing before there is knowing that there is knowing.

5. Có sự biết trước khi có sự biết rằng có sự biết.

6. There is consciousness before consciousness becomes an object of that very consciousness.

6. Có tâm thức trước khi tâm thức trở thành một đối tượng của chính tâm thức ấy.

7. Knowing itself becomes an object of consciousness.

7. Chính sự biết trở thành một đối tượng của tâm thức.

8. “I” know that there is an “I” and of that “I”, “I” am conscious.

8. “Tôi” biết rằng có một “tôi” và về “tôi” ấy, “tôi” có tâm thức.

Certain broad and general affirmations have been laid down with the purpose in view of opening up this stupendous and practical subject, and in an endeavour to link up this solar system in its fundamental manasic aspect with the past and the future.

Một số khẳng định rộng lớn và tổng quát đã được nêu ra với mục đích mở ra chủ đề vừa vĩ đại vừa thực tiễn này, và trong nỗ lực liên kết hệ mặt trời này trong phương diện manas căn bản của nó với quá khứ và tương lai.

9. Our subject is manas in the present solar system and its relation to manas in the previous solar system.

9. Chủ đề của chúng ta là manas trong hệ mặt trời hiện nay và mối liên hệ của nó với manas trong hệ mặt trời trước.

The section we are now approaching concerns the development of the divine Manasaputras, viewing them as a collective whole, containing the Divine Mind, and considering the individual Monad, who responds to Their life as a part of the body of these Dhyani Buddhas.

Phần mà hiện nay chúng ta đang tiến gần đến liên quan đến sự phát triển của các Manasaputra thiêng liêng, xét các Ngài như một toàn thể tập thể, chứa đựng Trí Tuệ thiêng liêng, và xét chân thần cá biệt, vốn đáp ứng với sự sống của Các Ngài như một phần của thể của các Dhyani Buddha này.

10. This is quite an amazing statement with many implications.

10. Đây là một phát biểu thật đáng kinh ngạc với nhiều hàm ý.

11. The “divine Manasaputras” are not the Solar Angels (who are only “Manasaputras”), though there is one reference which says otherwise:

11. Các “Manasaputra thiêng liêng” không phải là các Thái dương Thiên Thần (vốn chỉ là “Manasaputra”), mặc dù có một tham chiếu nói khác đi:

They are the “quality names” of the Divine Manasaputras, the Agnishvattas who are ourselves. (EA 188)

Các Ngài là những “danh xưng phẩm tính” của các Manasaputra thiêng liêng, các Agnishvatta là chính chúng ta. (EA 188)

12. Usually, however “Divine Manasaputras” are Heavenly Men.

12. Tuy nhiên, thông thường “Manasaputra thiêng liêng” là các Đấng Thiên Nhân.

The seven Heavenly Men, the seven Divine Manasaputras, or the seven types of wisdom-love. (TCF 216)

Bảy Đấng Thiên Nhân, bảy Manasaputra thiêng liêng, hay bảy loại minh triết-bác ái. (TCF 216)

13. Collectively all the “Divine Manasaputras” are the Divine Mind (the Mind of the Solar Logos) and, in addition, there are hosts of “Manasaputras” which are expressions of the Divine Mind to be found within every planetary scheme.

13. Xét tập thể, tất cả các “Manasaputra thiêng liêng” là Trí Tuệ thiêng liêng (Trí của Thái dương Thượng đế), và ngoài ra còn có vô số “Manasaputra” là những biểu lộ của Trí Tuệ thiêng liêng được tìm thấy trong mọi hệ hành tinh.

14. “Divine Manasaputras”, therefore, are Planetary Logoi and are called as well, Dhyani Buddhas.

14. Vì vậy, “các Manasaputra thiêng liêng” là các Hành Tinh Thượng đế và cũng được gọi là các Dhyani Buddhas.

15. It is rare to find the term “Dhyani Buddhas” applied to a Being so exalted as a Planetary Logos.

15. Hiếm khi thấy thuật ngữ “Dhyani Buddhas” được áp dụng cho một Hữu thể cao cả như một Hành Tinh Thượng đế.

16. The Monads are part of the body of the Planetary Logoi (here called Dhyani Buddhas) but are not part of the body of Solar Angels (sometimes called “Dhyanis” and often referred to simply as “Manasaputras”).

16. Các chân thần là một phần của thể của các Hành Tinh Thượng đế (ở đây được gọi là các Dhyani Buddhas) nhưng không phải là một phần của thể của các Thái dương Thiên Thần (đôi khi được gọi là “Dhyanis” và thường được nhắc đến đơn giản là “Manasaputras”).

(a.) Cosmically considered. An occult sentence has its place here. It holds the key to the mystery of the fivefold Dhyanis:

(a.) Xét theo vũ trụ. Một câu huyền bí có chỗ đứng ở đây. Nó nắm giữ chìa khóa cho huyền nhiệm của các Dhyanis ngũ phân:

17. Presumably, these Dhyanis are the Planetary Logoi but there is a possibility that DK could be referring to the Dhyanis Who are Solar Angels.

17. Có lẽ các Dhyanis này là các Hành Tinh Thượng đế, nhưng cũng có khả năng Chân sư DK đang nói đến các Dhyanis là các Thái dương Thiên Thần.

“The higher Three in cyclic unison sought to know and to be known. The lower Three (for we count not here the eighth) knew not nor saw; they only heard and touched. The fourth had not a place. The Fifth (which also is the fourth) formed at the middle point a cosmic TAU, which was reflected on the cosmic Seventh.”

“Ba Đấng cao hơn trong sự hợp nhất theo chu kỳ tìm cách biết và được biết. Ba Đấng thấp hơn (vì ở đây chúng ta không tính đến đấng thứ tám) không biết cũng không thấy; các đấng ấy chỉ nghe và chạm. Đấng thứ tư chưa có chỗ. Đấng thứ Năm (cũng là đấng thứ tư) đã hình thành tại điểm ở giữa một TAU vũ trụ, được phản chiếu trên Đấng thứ Bảy vũ trụ.”

18. We can interpret this section from the Old Commentary in several ways:

18. Chúng ta có thể diễn giải đoạn này từ Cổ Luận theo nhiều cách:

a. In a dual solar systemic manner

a. Theo cách nhị nguyên của hệ mặt trời

i. From the perspective of the Creative Hierarchies

i. Từ góc nhìn của các Huyền Giai Sáng Tạo

ii. From the perspective of the Kingdoms

ii. Từ góc nhìn của các Giới

b. In a microcosmic manner

b. Theo cách tiểu thiên địa

c. In a devic manner

c. Theo cách thiên thần

d. In a macrocosmic manner.

d. Theo cách đại thiên địa.

17. In we interpret in terms of our solar system we may have some difficulty distinguishing the kingdoms found throughout our solar system from the Creative Hierarchy of the solar system. They are not the same though, at certain junctures, one suspects they merge into each other. There is no easy way through this.

17. Nếu chúng ta diễn giải theo hệ mặt trời của chúng ta, có thể sẽ gặp đôi chút khó khăn khi phân biệt các giới hiện diện khắp hệ mặt trời của chúng ta với Huyền Giai Sáng Tạo của hệ mặt trời. Chúng không giống nhau, dù tại một số điểm giao nhau, người ta nghi ngờ rằng chúng hòa nhập vào nhau. Không có lối đi dễ dàng nào qua vấn đề này.

18. From the perspective of the Creative Hierarchies:

18. Từ góc nhìn của các Huyền Giai Sáng Tạo:

a. The “higher Three” could be the devic Lives Who are the three highest Creative Hierarchies: the Divine Flames (Creative Hierarchy I); the Divine Builders (Creative Hierarchy II; the Lesser Builders or Triple Flowers (Creative Hierarchy III)

a. “Ba Đấng cao hơn” có thể là các Sự sống thiên thần là ba Huyền Giai Sáng Tạo cao nhất: các Ngọn Lửa Thiêng (Huyền Giai Sáng Tạo I); các Đấng Kiến Tạo Thiêng Liêng (Huyền Giai Sáng Tạo II); các vị tiểu kiến tạo hay các Hoa Tam Phân (Huyền Giai Sáng Tạo III)

b. The “lower Three” could be considered as the three lowest Creative Hierarchies: the lower part of the Fifth Creative Hierarchy who embody the “Human Personality”; the Sixth Creative Hierarchy or Lunar Lords; the Seventh Creative Hierarchy or Elemental Lives.

b. “Ba Đấng thấp hơn” có thể được xem là ba Huyền Giai Sáng Tạo thấp nhất: phần thấp của Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm, vốn hiện thân cho “Phàm ngã Con Người”; Huyền Giai Sáng Tạo thứ Sáu hay các nguyệt tinh quân; Huyền Giai Sáng Tạo thứ Bảy hay các sự sống hành khí.

c. The Fourth Creative Hierarchy of Human Monads existed long before the Fourth Kingdom (the Human Kingdom). The Fourth Creative Hierarchy “had not a place” (at least within the lower worlds) until the Fourth Kingdom had been created by the coming of the Higher Fifth (that part of the dual Fifth Creative Hierarchy represented by the Solar Angels).

c. Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư của các chân thần nhân loại đã hiện hữu rất lâu trước khi có giới thứ tư (giới nhân loại Giới). Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư “chưa có chỗ” (ít nhất là trong các cõi thấp) cho đến khi giới thứ Tư Giới được tạo ra bởi sự xuất hiện của Đấng thứ Năm Cao Hơn (phần đó của Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm nhị nguyên được đại diện bởi các Thái dương Thiên Thần).

d. The Fifth Creative Hierarchy “also is the fourth” (a strange statement in a way) because the Fourth Creative Hierarchy could not manifest or ‘have place’ on the lower planes as the Fourth Kingdom without the participation of the Fifth Creative Hierarchy.

d. Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm “cũng là thứ tư” (theo một nghĩa nào đó là một phát biểu lạ) bởi vì Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư không thể biểu hiện hay ‘có chỗ’ trên các cõi thấp như giới thứ Tư Giới nếu không có sự tham dự của Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm.

e. As for the “eighth”, we may assume that there is a Hierarchy of Lives related to the past and now living below the threshold of human consciousness. DK tells us of such lower life forms.

e. Còn về “đấng thứ tám”, chúng ta có thể giả định rằng có một Huyền Giai của các sự sống liên hệ với quá khứ và hiện đang sống dưới ngưỡng của tâm thức con người. Chân sư DK cho chúng ta biết về những dạng sống thấp hơn như thế.

19. From the perspective of Kingdoms we might say:

19. Từ góc nhìn của các Giới chúng ta có thể nói:

a. The “higher Three” could be the three highest Kingdoms—the Kingdom of Solar Lives (Seventh Kingdom), the Kingdom of Planetary Lives (Sixth Kingdom), the Spiritual Kingdom of Souls (Fifth Kingdom).

a. “Ba Đấng cao hơn” có thể là ba Giới cao nhất—Giới của các Sự sống Thái Dương (Giới thứ Bảy), Giới của các Sự sống Hành tinh (Giới thứ Sáu), Giới tinh thần của các linh hồn (Giới thứ Năm).

b. The “lower Three” could be seen as the lower three Kingdoms of Nature— the animal, vegetable and mineral kingdoms.

b. “Ba Đấng thấp hơn” có thể được xem là ba Giới thấp của Thiên Nhiên—giới động vật, giới thực vật và giới kim thạch.

c. The “eighth” is a group of lives, the existence of which is only hinted and which is lower than any of the evolving kingdoms.

c. “Đấng thứ tám” là một nhóm các sự sống, sự hiện hữu của nhóm này chỉ được ám chỉ và thấp hơn bất kỳ giới tiến hóa nào.

d. “The fourth had not a place” because the fourth or Human Kingdom did not yet exist, i.e., before the intervention of the Fifth Creative Hierarchy.

d. “Đấng thứ tư chưa có chỗ” bởi vì giới thứ tư hay giới Nhân Loại khi ấy chưa hiện hữu, tức là trước sự can thiệp của Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm.

e. The “Fifth” can be interpreted as the Hierarchy of Solar Angels.

e. “Đấng thứ Năm” có thể được diễn giải là Huyền Giai của các Thái dương Thiên Thần.

f. The “Fifth” is “also the fourth” because it participates intimately in the manifested life of the Fourth Creative Hierarchy, and also in defining the Self-consciousness of the fourth kingdom—the human. We must wonder why the word “fourth” is not capitalized. If there is anything to be gained from studying the capitalization, the term “fourth” (lower case) would refer to the Human Kingdom and the word “Fourth” (higher case) would refer to the Fourth Creative Hierarchy.

f. “Đấng thứ Năm” “cũng là thứ tư” bởi vì đấng ấy tham dự mật thiết vào sự sống biểu hiện của Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư, và cũng vào việc xác định ngã thức của giới thứ tư—con người. Chúng ta phải tự hỏi vì sao từ “thứ tư” lại không được viết hoa. Nếu có điều gì có thể đạt được từ việc nghiên cứu cách viết hoa, thì thuật ngữ “thứ tư” (chữ thường) sẽ chỉ giới Nhân Loại và từ “Thứ Tư” (chữ hoa) sẽ chỉ Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư.

g. If, however, we use the this interpretation (and, really, anything but a truly cosmic interpretation), we cannot remain entirely faithful to this Old Commentary Section, for the reflection takes place on the systemic seventh and not on the entire “cosmic Seventh”.

g. Tuy nhiên, nếu chúng ta dùng cách diễn giải này (và thật ra, bất cứ cách nào ngoài một cách diễn giải thực sự vũ trụ), chúng ta không thể hoàn toàn trung thành với đoạn Cổ Luận này, vì sự phản chiếu diễn ra trên đấng thứ bảy của hệ thống chứ không phải trên toàn bộ “Đấng thứ Bảy vũ trụ”.

20. In we interpret microcosmically, we can only interpret in part.:

20. Nếu chúng ta diễn giải theo cách tiểu thiên địa, chúng ta chỉ có thể diễn giải từng phần mà thôi:

a. The “higher three” are the three aspects of the spiritual triad or the three higher principles—atma, buddhi and manas.

a. “Ba đấng cao hơn” là ba phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần hay ba nguyên khí cao hơn—atma, Bồ đề và manas.

b. The “lower three” are the three lower principles or vehicles: lower mind, kama and prana/etheric body.

b. “Ba đấng thấp hơn” là ba nguyên khí hay vận cụ thấp hơn: hạ trí, kama và prana/thể dĩ thái.

c. The lower three did not yet see—they are evolutionary devas which touch and hear but do not see.

c. Ba đấng thấp hơn vẫn chưa thấy—chúng là các thiên thần tiến hóa biết chạm và nghe nhưng không thấy.

d. The “eighth” which is not counted is the dense physical body.

d. “Đấng thứ tám” không được tính đến là thể xác đậm đặc.

e. The “fourth” in this instance is the self-consciousness man—with a personality arising because of the individualization process.

e. “Đấng thứ tư” trong trường hợp này là con người có ngã thức—với một phàm ngã phát sinh do tiến trình biệt ngã hóa.

f. Again, the “Fifth” is the Fifth Creative Hierarchy which is responsible for producing the soul and its increasingly self-conscious personality.

f. Một lần nữa, “Đấng thứ Năm” là Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm, chịu trách nhiệm tạo ra linh hồn và phàm ngã ngày càng có ngã thức của nó.

21. From the perspective of the devas we will have to consider the following:

21. Từ góc nhìn của các thiên thần, chúng ta sẽ phải xét đến những điều sau:

a. Three higher groups of Devas who seek to know and be known. These are devas of the higher three systemic planes—logoic, monadic and atmic.

a. Ba nhóm thiên thần cao hơn tìm cách biết và được biết. Đây là các thiên thần của ba cõi cao hơn của hệ thống—logoic, chân thần và atma.

b. The “lower Three” can be considered as

b. “Ba Đấng thấp hơn” có thể được xem là

i. The mental evolutionary devas (of the lower mental plane) who may or not be called lower Agnishvattas.

i. các thiên thần tiến hóa trí tuệ (của cõi hạ trí), có thể được gọi hoặc không được gọi là các Agnishvatta thấp hơn.

ii. The Agnisuryans

ii. các Agnisuryans

iii. The Agnichaitans

iii. các Agnichaitans

c. The higher Agnishvattas who are the “Fifth” can be considered as embodying the energy of buddhi and ensuring that the “fourth” or Human Kingdom emerges and has “a place”.

c. Các Agnishvatta cao hơn là “Đấng thứ Năm” có thể được xem là hiện thân cho năng lượng của Bồ đề và bảo đảm rằng “đấng thứ tư” hay giới Nhân Loại xuất hiện và có “một chỗ”.

22. In we interpret macrocosmically, interpretation can be complete but becomes difficult:

22. Nếu chúng ta diễn giải theo cách đại thiên địa, sự diễn giải có thể trọn vẹn nhưng trở nên khó khăn:

a. The fact that there is a reflection on the “cosmic Seventh” shows the tremendous magnitude of the processes described, for the “cosmic Seventh” is the cosmic physical plane.

a. Sự kiện có một sự phản chiếu trên “Đấng thứ Bảy vũ trụ” cho thấy tầm mức to lớn phi thường của các tiến trình được mô tả, vì “Đấng thứ Bảy vũ trụ” là cõi hồng trần vũ trụ.

b. We may not be able to determine the meaning of the “higher Three” and the “lower Three”, but we are probably speaking of events which were to occur on the cosmic mental plane, and “the Fifth”, instead of being the Fifth Creative Hierarchy, may be considered the higher correspondence of that Hierarchy—those super ‘Solar Angels’ responsible for the Individualization of the Grand Heavenly Man.

b. Chúng ta có thể không xác định được ý nghĩa của “Ba Đấng cao hơn” và “Ba Đấng thấp hơn”, nhưng có lẽ chúng ta đang nói đến những biến cố sẽ xảy ra trên cõi trí vũ trụ, và “Đấng thứ Năm”, thay vì là Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm, có thể được xem là tương ứng cao hơn của Huyền Giai ấy—những ‘Thái dương Thiên Thần’ siêu việt chịu trách nhiệm cho sự biệt ngã hóa của Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại.

c. The individualization of that great Being (and of the Planetary Logoi upon the cosmic mental plane) resulted in a cosmic physical incarnation—incarnation upon the “cosmic Seventh”.

c. Sự biệt ngã hóa của Hữu thể vĩ đại đó (và của các Hành Tinh Thượng đế trên cõi trí vũ trụ) đã dẫn đến một lần lâm phàm hồng trần vũ trụ—sự lâm phàm trên “Đấng thứ Bảy vũ trụ”.

23. There is certainly an interpretation of the Old Commentary section which involves Planetary Logoi as a “higher Three” and a “lower Three”, but one is too likely to fall into error in the process of attempting to set it forth.

23. Chắc chắn có một cách diễn giải đoạn Cổ Luận này liên quan đến các Hành Tinh Thượng đế như một “Ba Đấng cao hơn” và một “Ba Đấng thấp hơn”, nhưng người ta quá dễ rơi vào sai lầm trong tiến trình cố gắng trình bày nó.

24. Perhaps it is in such a higher interpretation that a “cosmic TAU” would emerge. We can think of it as three arms of a Cosmic Cross perhaps involving certain zodiacal constellations.

24. Có lẽ chính trong một cách diễn giải cao hơn như thế mà một “TAU vũ trụ” sẽ xuất hiện. Chúng ta có thể nghĩ về nó như ba cánh tay của một Thập Giá Vũ Trụ, có lẽ liên quan đến một số chòm sao hoàng đạo nhất định.

25. It must be stated that it is not yet possible to untangle the relationship between:

25. Phải nói rằng hiện vẫn chưa thể tháo gỡ mối liên hệ giữa:

a. Creative Hierarchies

a. các Huyền Giai Sáng Tạo

b. Kingdoms

b. các Giới

c. Orders of Devic Lives

c. các cấp bậc của các Sự sống thiên thần

26. They all seem to blend together at various junctures and to merge one into another.

26. Tất cả chúng dường như hòa lẫn vào nhau tại nhiều điểm giao nhau khác nhau và nhập vào nhau.

27. For instance, the Human Kingdom, Kingdom of Souls and Kingdom of Planetary Lives are all members of the Fourth Creative Hierarchy. As human Monads also express through in-mineralization, in-vegetalization and in-zoonation, it could be said the human Monads of the Fourth Creative Hierarchy also express through the lower kingdoms of nature.

27. Thí dụ, giới Nhân Loại, giới các Linh Hồn và giới các Sự sống Hành tinh đều đều là thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư. Vì các chân thần nhân loại cũng biểu lộ qua sự khoáng vật hóa, thực vật hóa và động vật hóa, nên có thể nói rằng các chân thần nhân loại của Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư cũng biểu lộ qua các giới thấp của thiên nhiên.

28. What is the relation, for instance, between the Raja Deva Lords (of the higher three systemic planes) and Their substance-planar subordinates to the three highest Creative Hierarchies and to the three highest Kingdoms? They do not appear to be the same (i.e., their origin is quite different as is their function) but they seem to focus on some of the same systemic planes and yet we do not know enough truly to distinguish them).

28. Chẳng hạn, mối liên hệ giữa các Raja Deva Lords (của ba cõi cao hơn của hệ thống) và các thuộc hạ chất liệu-cõi của Các Ngài với ba Huyền Giai Sáng Tạo cao nhất và với ba Giới cao nhất là gì? Chúng dường như không phải là một (tức là, nguồn gốc của chúng khá khác nhau cũng như chức năng của chúng) nhưng chúng dường như tập trung trên một số cõi của hệ thống giống nhau và tuy vậy chúng ta không biết đủ để thực sự phân biệt chúng).

29. Let us close by saying that all these types of lives are involved in a great interplay upon the cosmic physical plane. Each group of lives, it seems, undergoes processes which are somewhat parallel to each of the other groups. The parallels exist between:

29. Chúng ta hãy kết thúc bằng cách nói rằng mọi loại sự sống này đều tham dự vào một sự tương tác lớn trên cõi hồng trần vũ trụ. Mỗi nhóm sự sống, dường như vậy, đều trải qua những tiến trình phần nào song song với từng nhóm khác. Các sự song song tồn tại giữa:

a. Planetary Logoi

a. các Hành Tinh Thượng đế

b. Creative Hierarchies

b. các Huyền Giai Sáng Tạo

c. Kingdoms

c. các Giới

d. Devic Lives of the planes and subplanes

d. các Sự sống thiên thần của các cõi và cõi phụ

e. The principles of man

e. các nguyên khí của con người

30. We can conclude that the sentences from the Old Commentary are not easy to interpret and have, as well, several possible layers of interpretation.

30. Chúng ta có thể kết luận rằng các câu từ Cổ Luận không dễ diễn giải và cũng có nhiều tầng diễn giải khả dĩ.

H. P. B. states27,28 [S.D. I, 200, 201; & S.D. I, 201; II 251, 252]

H. P. B. phát biểu27,28 [S.D. I, 200, 201; & S.D. I, 201; II 251, 252]

that the individualised Monad has more spiritual consciousness than the monad itself on its own plane, the second.

rằng chân thần đã được biệt ngã hóa có nhiều tâm thức tinh thần hơn chính chân thần trên cõi riêng của nó là cõi thứ hai.

31. We must certainly try to understand the meaning of this statement. Much will depend upon the meaning of the words “spiritual consciousness”. Certainly for the Monad, individualization is a form of limitation (even though it offers opportunity on lower planes).

31. Chúng ta chắc chắn phải cố gắng hiểu ý nghĩa của phát biểu này. Nhiều điều sẽ tùy thuộc vào ý nghĩa của các từ “tâm thức tinh thần”. Chắc chắn đối với chân thần, sự biệt ngã hóa là một hình thức giới hạn (dù nó mang lại cơ hội trên các cõi thấp hơn).

32. It seems that HPB often associates the word “spiritual” with individuality.

32. Dường như HPB thường liên kết từ “tinh thần” với tính cá thể.

33. Perhaps we must consider “spiritual consciousness” to be a limitation on the state of “monadic awareness” (the consciousness of the Monad on its own plane—which cannot be negligible).

33. Có lẽ chúng ta phải xem “tâm thức tinh thần” là một sự giới hạn đối với trạng thái “nhận biết chân thần” (tâm thức của chân thần trên cõi riêng của nó—điều này không thể là không đáng kể).

34. HPB gives the impression that the human Monad is passive. This is not the same impression received from DK.

34. HPB tạo ấn tượng rằng chân thần con người là thụ động. Đây không phải là cùng một ấn tượng nhận được từ Chân sư DK.

It must be remembered here that the planetary Logoi are only in physical incarnation in our system,

Cần ghi nhớ ở đây rằng các Hành Tinh Thượng đế chỉ đang lâm phàm hồng trần trong hệ thống của chúng ta,

35. In our solar system…which does not extend to the cosmic astral plane and beyond.

35. Trong hệ mặt trời của chúng ta…điều này không vươn tới cõi cảm dục vũ trụ và cao hơn nữa.

36. The physical incarnation of the Planetary Logoi is taken on the cosmic physical plane.

36. Sự lâm phàm hồng trần của các Hành Tinh Thượng đế diễn ra trên cõi hồng trần vũ trụ.

their bodies of individualisation being on the cosmic mental plane,

các thể biệt ngã hóa của Các Ngài ở trên cõi trí vũ trụ,

37. “Bodies of individualisation” are causal bodies or egoic lotuses of the Planetary Logoi.

37. “Các thể biệt ngã hóa” là các thể nguyên nhân hay các Hoa Sen Chân Ngã của các Hành Tinh Thượng đế.

therefore full expression for them [Page 690] is impossible during manifestation.

vì vậy sự biểu lộ trọn vẹn đối với Các Ngài [Page 690] là điều bất khả trong thời kỳ biểu hiện.

38. This is equivalent to saying that full manifestation is impossible for a human being upon the systemic physical plane because there is so much more to the man than can possibly manifest on that level.

38. Điều này tương đương với việc nói rằng sự biểu hiện trọn vẹn là bất khả đối với một con người trên cõi hồng trần của hệ thống, bởi vì nơi con người còn có nhiều điều hơn rất nhiều so với những gì có thể biểu hiện ở cấp độ đó.

39. When we spoke above of the cosmic or macrocosmic interpretation of the section of the Old Commentary under consideration, it was right to speak of the involvement of the cosmic mental plane and of a kind of “Fifth” which would be active in relation to the cosmic mental plane and not only to the systemic mental plane.

39. Khi ở trên chúng ta nói về cách diễn giải vũ trụ hay đại thiên địa của đoạn Cổ Luận đang được xem xét, thì việc nói đến sự liên hệ của cõi trí vũ trụ và của một loại “Đấng thứ Năm” sẽ hoạt động liên hệ với cõi trí vũ trụ chứ không chỉ với cõi trí của hệ thống là điều đúng đắn.

40. The kinds of Solar Angels involved with the human being have their cosmic Counterparts.

40. Những loại Thái dương Thiên Thần liên hệ với con người có các Đối phần vũ trụ của mình.

Relatively therefore, during manifestation, man is able to express himself fully when he attains the “consciousness of the high places.”

Do đó, một cách tương đối, trong thời kỳ biểu hiện, con người có thể biểu lộ chính mình một cách trọn vẹn khi y đạt đến “tâm thức của những nơi cao”.

41. For man, this would mean that he had achieved causal consciousness.

41. Đối với con người, điều này có nghĩa là y đã đạt được tâm thức nguyên nhân.

42. Given the stage of development of the Solar Logos and of our Planetary Logoi, this is not yet cosmically possible. Even the Solar Logos has not achieved the cosmic third initiation and thus does not have cosmic causal consciousness. This is even more the case for the Planetary Logoi Who—most of Them, it would seem—are working towards the cosmic second initiation in the series of initiation which pertain to Planetary Logoi.

42. Với giai đoạn phát triển của Thái dương Thượng đế và của các Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, điều này vẫn chưa thể có được một cách vũ trụ. Ngay cả Thái dương Thượng đế cũng chưa đạt đến lần điểm đạo thứ ba vũ trụ và do đó chưa có tâm thức nguyên nhân vũ trụ. Điều này lại càng đúng hơn đối với các Hành Tinh Thượng đế, là những Đấng—dường như phần lớn trong Các Ngài—đang nỗ lực hướng tới lần điểm đạo thứ hai vũ trụ trong chuỗi điểm đạo liên hệ đến các Hành Tinh Thượng đế.

43. The series of initiations which pertain to Planetary Logoi and the series which pertains to Solar Logoi may not be (in fact, probably are not) identical. Just as the series of initiations through which man passes (even when man begins to pass through what are called “cosmic initiations” is almost certainly not identical with the “cosmic” initiations of Planetary Logoi and Solar Logoi.

43. Chuỗi điểm đạo liên hệ đến các Hành Tinh Thượng đế và chuỗi liên hệ đến các Thái dương Thượng đế có thể không giống nhau (thật ra, có lẽ là không giống nhau). Cũng như chuỗi điểm đạo mà con người đi qua (ngay cả khi con người bắt đầu đi qua những gì được gọi là “các điểm đạo vũ trụ”) gần như chắc chắn không đồng nhất với các điểm đạo “vũ trụ” của các Hành Tinh Thượng đế và các Thái dương Thượng đế.

It should, therefore, be pointed out at the very beginning of our study of this fifth principle that the divine Manasaputras on their own plane must be considered from the standpoint of physical incarnation,

Vì vậy, ngay từ đầu việc nghiên cứu nguyên khí thứ năm này, cần chỉ ra rằng các Manasaputra thiêng liêng trên cõi riêng của Các Ngài phải được xem xét từ quan điểm của sự lâm phàm hồng trần,

44. Again, we are speaking of Planetary Logoi as “divine Manasaputras” and not of the “Manasadevas” or Solar Angels.

44. Một lần nữa, chúng ta đang nói về các Hành Tinh Thượng đế như những “Manasaputra thiêng liêng” chứ không phải về các “Manasadevas” hay các Thái dương Thiên Thần.

45. This is as far as our limited understanding will permit us to go, and even then, only with the help of a super-mind such as Master DK.

45. Đây là mức xa nhất mà sự thấu hiểu giới hạn của chúng ta cho phép đi tới, và ngay cả như vậy cũng chỉ với sự trợ giúp của một siêu trí như Chân sư DK.

46. Human consciousness cannot reach higher than the heights of the cosmic physical plane (and even that is only possible for the highest Chohans that the Fourth Creative Hierarchy produces). We cannot, therefore, know anything at all (experientially, that is) of our Planetary Logos or Solar Logos as They express Themselves on the cosmic astral plane and cosmic mental plane.

46. Tâm thức con người không thể vươn cao hơn các đỉnh cao của cõi hồng trần vũ trụ (và ngay cả điều đó cũng chỉ có thể đối với các Chohan cao nhất mà Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư tạo ra). Vì vậy, chúng ta hoàn toàn không thể biết gì (theo kinh nghiệm trực tiếp, tức là như vậy) về Hành Tinh Thượng đế hay Thái dương Thượng đế của chúng ta khi Các Ngài biểu lộ chính mình trên cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ.

whereas man can be considered from what is, for him, a spiritual aspect.29

trong khi con người có thể được xem xét từ điều mà, đối với y, là một phương diện tinh thần.29

47. When we consider the heights of the cosmic physical plane, we are considering planes upon which man unfolds spiritually.

47. Khi chúng ta xét đến các đỉnh cao của cõi hồng trần vũ trụ, chúng ta đang xét đến những cõi mà trên đó con người khai mở về mặt tinh thần.

48. We are learning that it is possible to know much more about man spiritually than it is to know about the Divine Manasaputras spiritually.

48. Chúng ta đang học rằng có thể biết nhiều hơn về con người về mặt tinh thần so với việc biết về các Manasaputra Thiêng Liêng về mặt tinh thần.

1.

1.

2.

2.

3.

3.

4.

4.

Kingdom………………………. Principle.

Giới………………………. Nguyên khí.

5.

5.

6.

6.

7.

7.

8.

8.

This has a cosmic and systemic significance and to throw light upon that occurrence which concerns our own scheme, the Stanzas on the coming of the Lords of Flame should here be studied.

Điều này có một thâm nghĩa vũ trụ và hệ thống, và để soi sáng cho biến cố liên quan đến hệ hành tinh của chính chúng ta, các Bài Kệ về sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Lửa nên được nghiên cứu ở đây.

49. The diagram above has, apparently, both a cosmic and systemic significance. To understand the cosmic significance one must study the lesser significance.

49. Sơ đồ trên, rõ ràng, vừa có thâm nghĩa vũ trụ vừa có thâm nghĩa hệ thống. Muốn hiểu thâm nghĩa vũ trụ, người ta phải nghiên cứu thâm nghĩa nhỏ hơn.

50. The Lords of the Flame interposed themselves between the numbers four and five in the diagram above.

50. Các Đấng Chúa Tể của Lửa đã xen mình vào giữa các số bốn và năm trong sơ đồ trên.

51. The “5” represents lower manas; the “6”, the astral nature; the “7”, the etheric nature and the “8” the dense physical body.

51. “5” tượng trưng cho hạ trí; “6” là bản chất cảm dục; “7” là bản chất dĩ thái; và “8” là thể xác đậm đặc.

52. The numbers 1, 2, 3, and 4 represent beings and occurrences upon the cosmic ethers of the cosmic physical plane.

52. Các số 1, 2, 3 và 4 tượng trưng cho các hữu thể và các biến cố trên các dĩ thái vũ trụ của cõi hồng trần vũ trụ.

53. We can apply the diagram to either the systemic planes (i.e., the cosmic physical plane) or to the cosmic planes, in which case the “8” will represent the dense physical body of the Solar Logos.

53. Chúng ta có thể áp dụng sơ đồ này cho các cõi của hệ thống (tức là cõi hồng trần vũ trụ) hoặc cho các cõi vũ trụ, trong trường hợp đó “8” sẽ tượng trưng cho thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế.

Human individualisation, or the emergence of the self-conscious units on the mental plane, is involved in a larger development,

Sự biệt ngã hóa của con người, hay sự xuất hiện của các đơn vị có ngã thức trên cõi trí, nằm trong một sự phát triển lớn hơn,

54. We recall that the activation of the heart of the Planetary Logos is the cause of human individualisation.

54. Chúng ta nhớ rằng sự hoạt hóa tim của Hành Tinh Thượng đế là nguyên nhân của sự biệt ngã hóa của con người.

55. We are interested in the planetary perspective. What does “human individualization” mean to the Planetary Logos?

55. Chúng ta quan tâm đến góc nhìn hành tinh. “Sự biệt ngã hóa của con người” có nghĩa gì đối với Hành Tinh Thượng đế?

for it synchronizes with the appropriation of a dense physical body by the Planetary Logos; this body is composed of matter of our three lower planes.

vì nó đồng bộ với việc Hành Tinh Thượng đế tiếp nhận một thể xác đậm đặc; thể này được cấu thành từ vật chất của ba cõi thấp của chúng ta.

56. As that body was always present, we have to think carefully about the meaning of “appropriation”.

56. Vì thể đó luôn hiện diện, chúng ta phải suy nghĩ cẩn thận về ý nghĩa của từ “tiếp nhận”.

57. There is probably a parallel between the process through which individualized man begins the process of cyclic incarnation through a dense physical plane and the process by means of which the Planetary Logos appropriates a dense physical body.

57. Có lẽ có một sự song hành giữa tiến trình qua đó con người đã biệt ngã hóa bắt đầu tiến trình lâm phàm theo chu kỳ qua cõi hồng trần đậm đặc và tiến trình nhờ đó Hành Tinh Thượng đế tiếp nhận một thể xác đậm đặc.

58. We may say that the higher principles and vehicles of either type of “man” become related to the lower principles and vehicles.

58. Chúng ta có thể nói rằng các nguyên khí và vận cụ cao hơn của một trong hai loại “con người” đều trở nên liên hệ với các nguyên khí và vận cụ thấp hơn.

As the etheric centres of the Manasaputras on the fourth cosmic etheric plane become vitalised,

Khi các trung tâm dĩ thái của các Manasaputra trên cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư được tiếp sinh lực,

59. Again, we are probably speaking of the lower centers of the Manasaputras, as suggested in Chart VIII, TCF, 817.

59. Một lần nữa, có lẽ chúng ta đang nói về các trung tâm thấp hơn của các Manasaputra, như được gợi ý trong Biểu đồ VIII, TCF, 817.

60. Notice that here DK is not bothering to call the Divine Manasaputras divine, but simply Manasaputras.

60. Hãy lưu ý rằng ở đây Chân sư DK không bận tâm gọi các Manasaputra Thiêng Liêng là thiêng liêng, mà chỉ đơn giản là Manasaputras.

they produce increased activity on the systemic mental plane, the cosmic gaseous, and the consciousness of the Heavenly Man and His life energy begins to make itself felt.

chúng tạo ra hoạt động gia tăng trên cõi trí của hệ thống, tức cõi khí vũ trụ, và tâm thức của Đấng Thiên Nhân cùng năng lượng sự sống của Ngài bắt đầu được cảm nhận.

61. Here we have the study of the transference of activity from a plane to the most proximate lower plane.

61. Ở đây chúng ta có sự nghiên cứu về sự chuyển dịch hoạt động từ một cõi xuống cõi thấp gần nhất.

62. From this (and from the perspective of the present day), we can gather that the activation of Ashrams upon the systemic buddhic plane produces activation of the egoic groups upon the systemic higher mental plane and also in the human chakra which are found on the fourth level of the systemic mental plane.

62. Từ điều này (và từ góc nhìn của thời hiện nay), chúng ta có thể suy ra rằng sự hoạt hóa các ashram trên cõi Bồ đề của hệ thống tạo ra sự hoạt hóa các nhóm chân ngã trên cõi thượng trí của hệ thống và cả trong các luân xa con người được tìm thấy trên cấp độ thứ tư của cõi trí của hệ thống.

63. Of course, we are mainly speaking of an individualization process which occurred long ago and so this type of activation on the systemic buddhic plane occurred long before the Ashrams, per se, had been transferred there.

63. Dĩ nhiên, chúng ta chủ yếu đang nói về một tiến trình biệt ngã hóa đã xảy ra từ rất lâu, và vì vậy loại hoạt hóa này trên cõi Bồ đề của hệ thống đã diễn ra rất lâu trước khi chính các ashram, tự chúng, được chuyển dịch đến đó.

64. We are talking about the manner in which the Heavenly Man makes His presence felt on those planes which for Him are not a principle.

64. Chúng ta đang nói về cách thức mà Đấng Thiên Nhân làm cho sự hiện diện của Ngài được cảm nhận trên những cõi mà đối với Ngài không phải là một nguyên khí.

Simultaneously, under the Law, mind force or manasic energy pours in from the fifth cosmic plane, the cosmic mental.

Đồng thời, dưới Định luật, mãnh lực trí tuệ hay năng lượng manas tuôn vào từ cõi vũ trụ thứ năm, tức cõi trí vũ trụ.

65. There is a direct connection between the systemic mental plane and the cosmic mental plane.

65. Có một mối liên hệ trực tiếp giữa cõi trí của hệ thống và cõi trí vũ trụ.

66. The Solar Angels which relate themselves to the human Monads are also related to greater Solar Angels Who are their (the Solar Angels’) higher correspondences on the cosmic mental plane.

66. Các Thái dương Thiên Thần liên hệ với các chân thần nhân loại cũng liên hệ với những Thái dương Thiên Thần vĩ đại hơn, là các tương ứng cao hơn của họ (của các Thái dương Thiên Thần) trên cõi trí vũ trụ.

67. The point third initiation gather is that cosmic planes are involved in what appears to be the process of human individualization.

67. Điểm mà lần điểm đạo thứ ba giúp chúng ta nhận ra là các cõi vũ trụ có liên quan đến điều dường như là tiến trình biệt ngã hóa của con người.

This dual energy,

Năng lượng nhị nguyên này,

68. The energy of the etheric centers of the Planetary Logos and the energy from the cosmic mental plane…

68. năng lượng của các trung tâm dĩ thái của Hành Tinh Thượng đế và năng lượng từ cõi trí vũ trụ…

contacting that which is inherent in the dense physical body of the Logos itself,

tiếp xúc với điều vốn cố hữu trong chính thể xác đậm đặc của Thượng đế,

69. The three lower systemic subplanes and the systemic mental plane especially…

69. đặc biệt là ba cõi phụ thấp của hệ thống và cõi trí của hệ thống…

produces correspondences to the centres upon that plane and the egoic groups appear.

tạo ra những tương ứng với các trung tâm trên cõi đó và các nhóm chân ngã xuất hiện.

70. The egoic groups are correspondences on the systemic higher mental plane of the chakras (on the buddhic plane) of the Planetary Logos.

70. Các nhóm chân ngã là những tương ứng trên cõi thượng trí của hệ thống của các luân xa (trên cõi Bồ đề) của Hành Tinh Thượng đế.

71. Clearly, then, the different human egoic groups have different chakric functions.

71. Rõ ràng, như vậy, các nhóm chân ngã nhân loại khác nhau có những chức năng luân xa khác nhau.

72. Who knows to what cosmic structures on the cosmic mental plane the egoic groups on the systemic mental plane correspond? By analogy we can imagine that on the cosmic mental plane there are also super Egoic Groups in which the egoic lotuses of Planetary Logoi constitute such groups.

72. Ai biết được các nhóm chân ngã trên cõi trí của hệ thống tương ứng với những cấu trúc vũ trụ nào trên cõi trí vũ trụ? Theo định luật tương đồng, chúng ta có thể hình dung rằng trên cõi trí vũ trụ cũng có những Nhóm Chân Ngã siêu việt, trong đó các Hoa Sen Chân Ngã của các Hành Tinh Thượng đế cấu thành những nhóm như thế.

73. We must remember that it is not a foregone conclusion that all etheric chakras of the Planetary Logos are found upon the buddhic plane. Other of His chakras may be found on the atmic plane and the monadic plane. The basic point of reference for this assertion is Chart VIII, TCF 823.

73. Chúng ta phải nhớ rằng không phải là điều hiển nhiên rằng mọi luân xa dĩ thái của Hành Tinh Thượng đế đều được tìm thấy trên cõi Bồ đề. Những luân xa khác của Ngài có thể được tìm thấy trên cõi atma và cõi chân thần. Điểm quy chiếu căn bản cho khẳng định này là Biểu đồ VIII, TCF 823.

74. If we are speaking of the etheric chakras of the Solar Logos, there are lesser and greater of these chakras. The Planetary Logoi (in Their cosmic etheric aspect), may serve as greater chakras in the etheric body of the Solar Logos and perhaps it is on the monadic plane that we should look for these chakras. As for lesser chakras within the etheric body of the Solar Logos, there are certainly to be found on the buddhic plane and probably (depending on what type of chakra we are considering) on still higher cosmic ethers such as the systemic atmic plane. As for chakras on the systemic logoic plane—this too is a possibility.

74. Nếu chúng ta đang nói về các luân xa dĩ thái của Thái dương Thượng đế, thì có những luân xa nhỏ hơn và lớn hơn. Các Hành Tinh Thượng đế (trong phương diện dĩ thái vũ trụ của Các Ngài) có thể đóng vai trò như những luân xa lớn hơn trong thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế, và có lẽ chính trên cõi chân thần mà chúng ta nên tìm những luân xa này. Còn về những luân xa nhỏ hơn trong thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế, chắc chắn chúng được tìm thấy trên cõi Bồ đề và có lẽ (tùy thuộc vào loại luân xa mà chúng ta đang xét) trên những dĩ thái vũ trụ còn cao hơn nữa như cõi atma của hệ thống. Còn về các luân xa trên cõi logoic của hệ thống—điều này cũng là một khả năng.

They blend in latency the three types of electricity, and are themselves electrical phenomena.

Chúng hòa trộn trong trạng thái tiềm ẩn ba loại điện và bản thân chúng là những hiện tượng điện.

75. It would seem that we are still speaking of the egoic groups formed by the impact of planetary logoic chakric energy and energy from the cosmic mental plane upon the matter of the systemic higher mental plane.

75. Có vẻ như chúng ta vẫn đang nói về các nhóm chân ngã được hình thành bởi tác động của năng lượng luân xa của Hành Tinh Thượng đế và năng lượng từ cõi trí vũ trụ lên vật chất của cõi thượng trí của hệ thống.

76. The three types of electricity are:

76. Ba loại điện là:

a. Positive electricity

a. Điện dương

b. Equilibrizing or neutral electricity

b. Điện quân bình hay điện trung tính

c. Negative electricity

c. Điện âm

77. In every egoic lotus (and in egoic groups of egoic lotuses) the three aspects of divinity are represented.

77. Trong mỗi Hoa Sen Chân Ngã (và trong các nhóm chân ngã của các Hoa Sen Chân Ngã), ba phương diện của thiên tính đều được biểu hiện.

78. Within the human egoic lotus, for instance, the Jewel in the Lotus represents the first aspect, the members of the atomic triangle the third aspect and the petals of the egoic lotus the second aspect.

78. Chẳng hạn, trong Hoa Sen Chân Ngã của con người, Ngọc trong Hoa Sen biểu hiện phương diện thứ nhất, các thành viên của tam giác nguyên tử biểu hiện phương diện thứ ba, và các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã biểu hiện phương diện thứ hai.

79. All chakras on etheric planes are likewise are threefold. This being the case, it is reasonable to consider that they too blend in themselves the three types of electricity.

79. Mọi luân xa trên các cõi dĩ thái cũng đều là tam phân. Vì là như vậy, thật hợp lý khi xét rằng chúng cũng hòa trộn trong chính mình ba loại điện ấy.

They [the egoic groups] are composed of those atoms, or types of lives, which are a part of the fourth [Page 691] Creative Hierarchy, the aggregate of purely human Monads.

Chúng [các nhóm chân ngã] được cấu thành bởi những nguyên tử, hay những loại sự sống, vốn là một phần của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tổng thể các chân thần thuần túy nhân loại.[Page 691]

80. We appear to continue speaking of “egoic groups”.

80. Có vẻ như chúng ta tiếp tục nói về “các nhóm chân ngã”.

81. The egoic group are composed of the egoic outposts of the human Monads (which, themselves, go to the constitution of “centers” within the Planetary Logos).

81. Các nhóm chân ngã được cấu thành bởi các tiền đồn chân ngã của các chân thần nhân loại (mà chính chúng lại góp phần vào cấu tạo của các “trung tâm” bên trong Hành Tinh Thượng đế).

82. The human Monads are not within the egoic groups as Monads but, rather, as egoic projections of the Monad.

82. Các chân thần nhân loại không ở trong các nhóm chân ngã với tư cách là các chân thần mà đúng hơn là với tư cách những phóng chiếu chân ngã của chân thần.

83. We remember however that the centers (perhaps all or perhaps only certain centers) in the Planetary Logos are composed of atoms/lives/Monads which—as Monads—are part of the Fourth Creative Hierarchy.

83. Tuy nhiên, chúng ta nhớ rằng các trung tâm (có lẽ là tất cả hoặc có lẽ chỉ một số trung tâm) trong Hành Tinh Thượng đế được cấu thành bởi các nguyên tử/sự sống/chân thần mà—với tư cách là các chân thần—là một phần của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư.

84. We do remember, however, that the chakras of a Planetary Logos also have deva Monads, forming part of their constitution.

84. Tuy nhiên, chúng ta cũng nhớ rằng các luân xa của một Hành Tinh Thượng đế cũng có các chân thần deva, hợp thành một phần trong cấu tạo của chúng.

Similarly, this triple force, produced by this conscious appropriation by the Heavenly Man,

Tương tự, mãnh lực tam phân này, được tạo ra bởi sự chiếm hữu có ý thức này của Đấng Thiên Nhân,

85. We are speaking of a conscious appropriation of a dense physical body and of the three types of electricity to be found within the egoic groups as the Planetary Logos begins to express Himself upon the systemic higher mental plane.

85. Chúng ta đang nói về một sự chiếm hữu có ý thức một thể xác hồng trần đậm đặc và ba loại điện được tìm thấy trong các nhóm chân ngã khi Hành Tinh Thượng đế bắt đầu biểu lộ chính Ngài trên cõi thượng trí của hệ thống.

animates deva substance and the dense physical body of the planetary Logos is manifested objectively.

tiếp sinh lực cho chất liệu deva và thể xác hồng trần đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế được biểu hiệnmột cách khách quan.

86. One wonders whether DK is speaking of the first and fiery manifestation of the dense physical planet, or whether the dense physical planet had long been manifested before the Planetary Logos (in His higher aspects) decided to connect with His own lower objective manifestation.

86. Người ta tự hỏi liệu Chân sư DK đang nói về sự biểu hiện đầu tiên và rực lửa của hành tinh hồng trần đậm đặc, hay liệu hành tinh hồng trần đậm đặc ấy đã biểu hiện từ lâu trước khi Hành Tinh Thượng đế (trong các phương diện cao hơn của Ngài) quyết định kết nối với biểu hiện khách quan thấp hơn của chính Ngài.

87. It is through the animation of deva substance of the systemic lower three planes that the Planetary Logos is able to manifest objectively, but, again, we must be cautious about the meaning of the words “manifested objectively”. We have to choose between:

87. Chính nhờ sự tiếp sinh lực cho chất liệu deva của ba cõi thấp của hệ thống mà Hành Tinh Thượng đế có thể biểu hiện một cách khách quan, nhưng một lần nữa, chúng ta phải thận trọng về ý nghĩa của các từ “được biểu hiện một cách khách quan”. Chúng ta phải chọn giữa:

a. Raw appearance

a. Sự xuất hiện thô sơ

b. And the informing and permeation of that raw appearance.

b. Và sự thấm nhuần cùng sự thẩm thấu vào sự xuất hiện thô sơ ấy.

This is what is meant by the statements that devas are found only in the three worlds.

Đây là điều được hàm ý bởi những phát biểu rằng deva chỉ được tìm thấy trong ba cõi giới.

88. DK is qualifying an enigmatical statement He made earlier in the text.

88. Chân sư DK đang làm rõ một phát biểu bí ẩn mà Ngài đã nêu trước đó trong bản văn.

89. He still is referring to the devas of the three lower systemic planes.

89. Ngài vẫn đang quy chiếu đến các deva của ba cõi thấp của hệ thống.

90. There are, of course, higher devas, but for the moment He seems to be reserving the term “devas” for the lower expressions of devic life.

90. Dĩ nhiên, có những deva cao hơn, nhưng hiện giờ có vẻ như Ngài đang dành thuật ngữ “deva” cho các biểu hiện thấp hơn của sự sống deva.

It is a statement analogous to the one that humanity is only found in the three worlds;

Đó là một phát biểu tương tự như phát biểu cho rằng nhân loại chỉ được tìm thấy trong ba cõi giới;

91. This statement is not literally true because a member of the Fourth Creative Hierarchy is considered human even when the stage of Mastership is reached, and Masters and fourth degree initiates need not be ‘found’ within the three lower worlds.

91. Phát biểu này không đúng theo nghĩa đen vì một thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư vẫn được xem là con người ngay cả khi đã đạt đến giai đoạn Chân sư, và các Chân sư cùng các điểm đạo đồ cấp bốn không nhất thiết phải được “tìm thấy” trong ba cõi thấp.

92. Yet, the human being is characterized by successive incarnations in the lower three worlds and when the end of the strictly human phase of development is being reached, the evolving unit no longer finds it necessary to incarnate in the three worlds.

92. Tuy nhiên, con người được đặc trưng bởi những lần lâm phàm kế tiếp nhau trong ba cõi thấp, và khi sắp đạt đến phần cuối của giai đoạn phát triển thuần túy nhân loại, đơn vị đang tiến hoá không còn thấy cần thiết phải lâm phàm trong ba cõi giới nữa.

93. Further, DK may be using the term “humanity” in a special and limited sense, not taking into consideration (at least in this context) the higher reaches of human nature.

93. Hơn nữa, Chân sư DK có thể đang dùng thuật ngữ “nhân loại” theo một nghĩa đặc biệt và giới hạn, không xét đến (ít nhất trong ngữ cảnh này) những tầm mức cao hơn của bản chất con người.

nevertheless, the human Monads in their seven types are found on the plane of spirit—as it is the plane of duality—the deva monads are likewise found there.

tuy vậy, các chân thần nhân loại trong bảy loại của chúng được tìm thấy trên cõi tinh thần—vì đó là cõi của nhị nguyên tính—các chân thần deva cũng được tìm thấy ở đó tương tự.

94. We are given to understand that there are seven types of Monads. They are found on the “plane of spirit” (which, in this case, means the monadic plane).

94. Chúng ta được cho hiểu rằng có bảy loại chân thần. Chúng được tìm thấy trên “cõi tinh thần” (trong trường hợp này có nghĩa là cõi chân thần).

95. While there are “seven types” of Monads there are only three major types.

95. Dù có “bảy loại” chân thần, chỉ có ba loại chính.

96. Since the “plane of spirit” is the second subplane of the cosmic physical plane, it is a plane of duality. Love and Wisdom are there found in expression and both sound and light are potent factors.

96. Vì “cõi tinh thần” là cõi phụ thứ hai của cõi hồng trần vũ trụ, nên đó là một cõi của nhị nguyên tính. Tình thương và minh triết được tìm thấy đang biểu lộ ở đó, và cả âm thanh lẫn ánh sáng đều là những yếu tố đầy mãnh lực.

97. Regarding this duality on the plane of Spirit, both life and consciousness are strongly represented.

97. Liên quan đến nhị nguyên tính này trên cõi Tinh thần, cả sự sống lẫn tâm thức đều được biểu hiện mạnh mẽ.

98. As well, the duality of the plane is represented by the presence of both human and deva Monads. As important centers of the Planetary Logos are to be found on the monadic plane, it is easy to see how both human and deva Monads go to the constitution of those centers.

98. Đồng thời, nhị nguyên tính của cõi này được biểu hiện bởi sự hiện diện của cả chân thần nhân loại lẫn chân thần deva. Vì các trung tâm quan trọng của Hành Tinh Thượng đế được tìm thấy trên cõi chân thần, nên thật dễ thấy cả chân thần nhân loại lẫn chân thần deva đều góp phần vào cấu tạo của các trung tâm ấy.

99. When we speak here of deva Monads, we are speaking of the Monads of evolutionary devas, but it is not necessarily the case that the Monads of the “returning Nirvanis” (i.e., the Solar Angels) find their monadic ‘home’ on this plane. It is entirely possible that their Monads will find on the cosmic astral plane the “Father’s Home”.

99. Khi ở đây chúng ta nói về các chân thần deva, chúng ta đang nói về các chân thần của các deva tiến hoá, nhưng không nhất thiết các chân thần của các “nirvani hồi quy” (tức các Thái dương Thiên Thần) lại tìm thấy “quê nhà” chân thần của mình trên cõi này. Hoàn toàn có thể là các chân thần của họ sẽ tìm thấy “Nhà của Cha” trên cõi cảm dục vũ trụ.

Students should ever bear in mind that these occult subjects can be expressed in a twofold manner:

Các đạo sinh nên luôn ghi nhớ rằng những chủ đề huyền bí này có thể được diễn đạt theo cách nhị phân:

In terms of the three worlds, or from the standpoint of the logoic dense physical body.

Theo thuật ngữ của ba cõi giới, hoặc từ quan điểm của thể hồng trần đậm đặc của Logos.

100. We are dealing here with material expression, considered both microcosmically and macrocosmically.

100. Ở đây chúng ta đang bàn đến biểu hiện vật chất, được xét cả theo tiểu thiên địa lẫn đại thiên địa.

101. When we speak of the three worlds we are speaking largely in human terms. These are, at this time, the three worlds within which human consciousness is focussed.

101. Khi nói về ba cõi giới, phần lớn chúng ta đang nói theo thuật ngữ của con người. Hiện nay, đó là ba cõi giới trong đó tâm thức con người được tập trung.

102. This same material expression can be considered macrocosmically as to the lowest aspect of the Solar Logos, apparently—His dense physical body.

102. Cùng biểu hiện vật chất này có thể được xét theo đại thiên địa như là phương diện thấp nhất của Thái dương Thượng đế, rõ ràng là—thể xác hồng trần đậm đặc của Ngài.

103. We are not sure here whether DK is here referring to the Planetary Logos or the Solar Logos. Usually, when the term “Logos” is used by itself, the Solar Logos is meant.

103. Ở đây chúng ta không chắc Chân sư DK đang quy chiếu đến Hành Tinh Thượng đế Hành Tinh hay Thái dương Thượng đế. Thông thường, khi thuật ngữ “Logos” được dùng riêng, người ta muốn nói đến Thái dương Thượng đế.

104. However, the “three worlds” usually do not include the higher mental plane and if they do not, then DK is speaking of a Planetary Logos, for the dense physical body of a Planetary Logos do not include the higher mental plane.

104. Tuy nhiên, “ba cõi giới” thường không bao gồm cõi thượng trí, và nếu không bao gồm, thì Chân sư DK đang nói về một Hành Tinh Thượng đế, vì thể xác hồng trần đậm đặc của một Hành Tinh Thượng đế không bao gồm cõi thượng trí.

In terms of force or energy, or from the standpoint of the logoic body of prana or vitality, the four cosmic ethers.

Theo thuật ngữ của mãnh lực hay năng lượng, hoặc từ quan điểm của thể prana hay sinh lực của Logos, bốn dĩ thái vũ trụ.

105. This is the higher perspective, the perspective of the arupa planes of the cosmic ethers.

105. Đây là viễn tượng cao hơn, viễn tượng của các cõi vô sắc của các dĩ thái vũ trụ.

106. So we have two perspectives:

106. Vì vậy, chúng ta có hai viễn tượng:

a. The material perspective

a. Viễn tượng vật chất

b. The ethereal perspective

b. Viễn tượng dĩ thái

What we understand by the fifth principle is but the expression on the causal plane of that force or energy which emanates from the logoic causal body on the fifth cosmic plane, via the logoic correspondence to the mental unit.

Điều chúng ta hiểu là nguyên khí thứ năm chỉ là sự biểulộ trên cõi nguyên nhân của mãnh lực hay năng lượng phát ra từ thể nguyên nhân của Logos trên cõi vũ trụ thứ năm, thông qua đối phần của Logos với đơn vị hạ trí.

107. It becomes evident that the Logos has a mental unit. This lifts the existence of the mental unit from being a special instance applicable only to the human being.

107. Rõ ràng là Logos có một đơn vị hạ trí. Điều này nâng sự hiện hữu của đơn vị hạ trí lên khỏi chỗ là một trường hợp đặc biệt chỉ áp dụng cho con người.

108. We have to learn whether the mental unit of the Logos appears in a manner analogous to the appearance of the mental unit of humanity (a mental unit which appears on the fourth subplane of the mental plane as “instinct approximates mentality”). If the analogy holds good on the cosmic planes, we will have to speak in terms of cosmic instinct and cosmic mentality.

108. Chúng ta phải tìm hiểu xem đơn vị hạ trí của Logos có xuất hiện theo cách tương tự với sự xuất hiện của đơn vị hạ trí nơi nhân loại hay không (một đơn vị hạ trí xuất hiện trên cõi phụ thứ tư của cõi trí khi “bản năng tiến gần đến trí tuệ”). Nếu phép tương đồng này đúng trên các cõi vũ trụ, chúng ta sẽ phải nói theo thuật ngữ của bản năng vũ trụ và trí tuệ vũ trụ.

109. We are given an excellent definition of the “fifth principle” and we see that it has a cosmic source.

109. Chúng ta được trao cho một định nghĩa rất hay về “nguyên khí thứ năm”, và thấy rằng nó có một nguồn gốc vũ trụ.

110. The human mind is simply an extension of cosmic mind.

110. Trí tuệ con người chỉ đơn giản là một sự mở rộng của trí tuệ vũ trụ.

111. Who, then, really is the Thinker?

111. Vậy thì ai thật sự là Đấng Tư Tưởng?

(These correspondences involve a concept far in advance of what is possible even to an initiate at this time).

(Những tương ứng này bao hàm một khái niệm vượt xa điều có thể có ngay cả đối với một điểm đạo đồ vào lúc này).

112. By an initiate, DK means an initiate of the third degree, at least.

112. Khi nói đến một điểm đạo đồ, Chân sư DK muốn nói ít nhất là một điểm đạo đồ cấp ba.

113. We are given a correspondence involving the cosmic mental plane, but for us it must remain only a correspondence, the factual nature of which is entirely beyond our range of immediately possible experience.

113. Chúng ta được trao cho một tương ứng liên quan đến cõi trí vũ trụ, nhưng đối với chúng ta nó chỉ có thể vẫn là một tương ứng mà bản chất sự kiện của nó hoàn toàn vượt ngoài phạm vi kinh nghiệm có thể có ngay tức khắc của chúng ta.

In the fifth round, the inner significance may become more apparent to the disciple.

Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, thâm nghĩa bên trong có thể trở nên hiển nhiên hơn đối với đệ tử.

114. What is suggested is that the relationship between man and the Solar Angels may be much greater in the fifth round than it is now. In that case, an understanding of the fifth principle, as it originates from the cosmic mental plane, will probably be clearer.

114. Điều được gợi ý là mối liên hệ giữa con người và các Thái dương Thiên Thần có thể lớn lao hơn nhiều trong cuộc tuần hoàn thứ năm so với hiện nay. Trong trường hợp đó, sự thấu hiểu nguyên khí thứ năm, như nó phát sinh từ cõi trí vũ trụ, có lẽ sẽ rõ ràng hơn.

115. The numerical resonance then in effect will facilitate this understanding.

115. Khi ấy, sự cộng hưởng số học đang có hiệu lực sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự thấu hiểu này.

As the logoic will is gradually transmuted into desire and thus the physical incarnation is produced,

Khi ý chí của Logos dần dần được chuyển hoá thành dục vọng và như thế sự lâm phàm hồng trần được tạo ra,

116. We note the sequence for the production of incarnation—will/desire/incarnation.

116. Chúng ta lưu ý chuỗi trình tự tạo ra sự lâm phàm—ý chí/dục vọng/lâm phàm.

a tremendous downflow of vitalising force from the fifth cosmic plane takes place, until it arrives at our fifth plane, the mental.

một dòng tuôn đổ mãnh liệt của mãnh lực tiếp sinh lực từ cõi vũ trụ thứ năm diễn ra, cho đến khi nó đến cõi thứ năm của chúng ta, cõi trí.

117. We are seeing that not only is human individualization a planetary event involving the Planetary Logos but, apparently, a solar logoic event.

117. Chúng ta thấy rằng không chỉ biệt ngã hóa của con người là một biến cố hành tinh liên quan đến Hành Tinh Thượng đế mà rõ ràng còn là một biến cố của Thái dương Thượng đế.

118. There is no certainty whether the term “Logos” (in the past few sections of text) has meant Planetary Logos or Solar Logos. Maybe the term “the three worlds” gives the clue.

118. Không có gì chắc chắn rằng thuật ngữ “Logos” (trong vài đoạn văn vừa qua) có nghĩa là Hành Tinh Thượng đế Hành Tinh hay Thái dương Thượng đế. Có lẽ thuật ngữ “ba cõi giới” cho ta đầu mối.

119. It probably does not make that much difference as it can be inferred that because the Solar Logos is undergoing a type of fourth initiation through our Earth-scheme, He is probably involved in the initiation undergone by our Planetary Logos as human individualization takes place and a dense physical plane is appropriated.

119. Có lẽ điều đó không tạo nên khác biệt quá lớn, vì có thể suy ra rằng bởi Thái dương Thượng đế đang trải qua một loại lần điểm đạo thứ tư thông qua hệ hành tinh Trái Đất của chúng ta, nên có lẽ Ngài có liên quan đến cuộc điểm đạo mà Hành Tinh Thượng đế của chúng ta trải qua khi sự biệt ngã hóa của con người diễn ra và một cõi hồng trần đậm đặc được chiếm hữu.

This force it is which—at the correct cyclic moment — causes certain eventualities in time and space and in the three worlds, His dense physical body.

Chính mãnh lực này—vào đúng thời điểm chu kỳ—gây ra những kết quả nhất định trong thời gian và không gian và trong ba cõi giới, thể xác hồng trần đậm đặc của Ngài.

120. The “force” of which we are speaking is the force from the fifth cosmic plane, emanating form the logoic causal body.

120. “Mãnh lực” mà chúng ta đang nói đến là mãnh lực từ cõi vũ trụ thứ năm, phát ra từ thể nguyên nhân của Logos.

121. We wondered whether DK had been talking of the appearance of the objective vehicle of a Logos or of the infusion of the already present lower vehicles of that Logos by the higher principles of that Logos. The latter option seemed to be correct. When we think of how the coming of Sanat Kumara is described, His coming pertains to the second process.

121. Chúng ta đã tự hỏi liệu Chân sư DK đang nói về sự xuất hiện của vận cụ khách quan của một Logos hay về sự thấm nhập của các vận cụ thấp vốn đã hiện diện của Logos ấy bởi các nguyên khí cao hơn của Logos ấy. Phương án sau dường như là đúng. Khi nghĩ đến cách sự giáng lâm của Đức Sanat Kumara được mô tả, sự giáng lâm của Ngài thuộc về tiến trình thứ hai.

122. DK now seems to be switching between solar logoic and planetary events and will be speaking of the actual tangible appearance of the physical body of a Logos—whether solar or planetary.

122. Giờ đây Chân sư DK dường như đang chuyển đổi giữa các biến cố của Thái dương Thượng đế và các biến cố hành tinh, và sẽ nói về sự xuất hiện thực sự hữu hình của thể xác hồng trần của một Logos—dù là thái dương hay hành tinh.

123. From what is said in the section immediately following, it appears that we will first be speaking of the Solar Logos and then of Planetary Logoi.

123. Từ điều được nói trong đoạn ngay sau đây, có vẻ như trước hết chúng ta sẽ nói về Thái dương Thượng đế rồi sau đó về các Hành Tinh Thượng đế.

The first of these events is the appropriation by the Logos of that dense physical vehicle, and the flashing into manifestation [Page 692] of the physical Sun and the physical planets.

Biến cố thứ nhất trong số này là sự chiếm hữu bởi Logos vận cụ hồng trần đậm đặc ấy, và sự lóe bừng vào biểu hiện [Page 692] của Mặt Trời hồng trần và các hành tinh hồng trần.

124. We are speaking of certain great cosmic/systemic events.

124. Chúng ta đang nói về một số biến cố vũ trụ/hệ thống lớn lao.

125. We are definitely speaking of the objectification of the solar system of the Solar Logos. This is the literal appearance of the dense physical plane.

125. Chúng ta rõ ràng đang nói về sự khách thể hóa của hệ mặt trời của Thái dương Thượng đế. Đây là sự xuất hiện theo nghĩa đen của cõi hồng trần đậm đặc.

126. We had also been speaking of another kind of appropriation which was equivalent to a greater presence or focus of consciousness by a Logos in His lower vehicles.

126. Chúng ta cũng đã nói về một loại chiếm hữu khác tương đương với một sự hiện diện hay một tiêu điểm tâm thức lớn hơn của một Logos trong các vận cụ thấp của Ngài.

127. For the Solar Logos, this “appropriation” must be a type of initiation just as the appropriation of a dense physical body by our Planetary Logos is a type of initiation.

127. Đối với Thái dương Thượng đế, sự “chiếm hữu” này hẳn phải là một loại điểm đạo, cũng như việc Hành Tinh Thượng đế của chúng ta chiếm hữu một thể xác hồng trần đậm đặc là một loại điểm đạo.

128. Even the physical Sun does not flash into manifestation without an impulse from the logoic egoic lotus on the cosmic mental plane.

128. Ngay cả Mặt Trời hồng trần cũng không lóe bừng vào biểu hiện nếu không có một xung lực từ Hoa Sen Chân Ngã của Logos trên cõi trí vũ trụ.

Though this, from our standpoint, covers an inconceivably vast period of time, to the Logos it is but the brief period of gestation which all bodies undergo.

Mặc dù điều này, từ quan điểm của chúng ta, bao trùm một khoảng thời gian rộng lớn không thể nghĩ bàn, đối với Logos đó chỉ là thời kỳ thai nghén ngắn ngủi mà mọi thể đều phải trải qua.

129. The Hindu Chronology indicates to us how long a solar system may last—100 Years of Brahma. Much of the duration of a manifestation of a Solar Logos occurs ‘above’ the cosmic physical plane and certainly above the dense layers of the cosmic physical plane.

129. Niên đại học Ấn Độ cho chúng ta biết một hệ mặt trời có thể kéo dài bao lâu—100 Năm của Brahma. Phần lớn thời lượng của một biểu hiện của Thái dương Thượng đế diễn ra “bên trên” cõi hồng trần vũ trụ và chắc chắn ở bên trên các tầng đậm đặc của cõi hồng trần vũ trụ.

130. The process here discussed has probably occurred a number of times—once for each incarnation of our Solar Logos.

130. Tiến trình được bàn ở đây có lẽ đã xảy ra nhiều lần—mỗi lần cho một lần lâm phàm của Thái dương Thượng đế của chúng ta.

131. We are speaking of a kind of cosmic birth which, naturally, must be preceded by a cosmic gestation process.

131. Chúng ta đang nói về một loại sinh ra vũ trụ mà dĩ nhiên phải được đi trước bởi một tiến trình thai nghén vũ trụ.

132. The cosmic gestation process must occur on planes other than those on which the physical body of a Solar Logos (or Planetary Logos) appears.

132. Tiến trình thai nghén vũ trụ phải diễn ra trên những cõi khác với những cõi mà trên đó thể xác hồng trần của một Thái dương Thượng đế (hay Hành Tinh Thượng đế) xuất hiện.

133. To the perception of man such a process would be invisible and would occur on the cosmic ethers, on the cosmic astral plane and also the cosmic mental plane.

133. Đối với tri giác của con người, một tiến trình như thế sẽ là vô hình và sẽ diễn ra trên các dĩ thái vũ trụ, trên cõi cảm dục vũ trụ và cả cõi trí vũ trụ.

A second momentous occurrence is the appropriation by the various Prajapatis,30 or Heavenly Men of their physical bodies—again at varying times and according to their evolutionary stage.

Một biến cố trọng đại thứ hai là sự chiếm hữu bởi các Prajapatis,30 hay Đấng Thiên Nhân, các thể xác hồng trần của Các Ngài—một lần nữa vào những thời điểm khác nhau và tùy theo giai đoạn tiến hoá của Các Ngài.

134. In answer to our questions above regarding the focus of DK’s thoughts (whether solar logoic or planetary logoic), it appears that we are speaking about both solar logoic processes and planetary logoic processes.

134. Để trả lời những câu hỏi ở trên của chúng ta về tiêu điểm tư tưởng của Chân sư DK (dù là tiến trình của Thái dương Thượng đế hay của Hành Tinh Thượng đế), có vẻ như chúng ta đang nói về cả các tiến trình của Thái dương Thượng đế lẫn các tiến trình của Hành Tinh Thượng đế.

135. DK is speaking of the way in which these great Beings appropriate bodies and how They flash into objectivity.

135. Chân sư DK đang nói về cách các Đại Hữu Thể này chiếm hữu các thể và cách Các Ngài lóe bừng vào tính khách quan.

136. To review—there may be at least two approaches to appropriating a dense physical vehicle:

136. Để ôn lại—có thể có ít nhất hai cách tiếp cận đối với việc chiếm hữu một vận cụ hồng trần đậm đặc:

a. In the first of these approaches the focus is on the way in which the dense physical vehicle of the Logos or Planetary Logos appears, or flashes into objectivity.

a. Trong cách tiếp cận thứ nhất, trọng tâm là cách vận cụ hồng trần đậm đặc của Logos hay Hành Tinh Thượng đế xuất hiện, hay lóe bừng vào tính khách quan.

b. In the second of these approaches, the focus in on the way in which Logos or Planetary Logos creates an especially focal presence within the already objectified dense physical vehicle. This, too, is called “taking an incarnation”.

b. Trong cách tiếp cận thứ hai, trọng tâm là cách Logos hay Hành Tinh Thượng đế tạo ra một sự hiện diện đặc biệt tập trung bên trong vận cụ hồng trần đậm đặc đã được khách thể hóa. Điều này cũng được gọi là “đảm nhận một lần lâm phàm”.

137. We note that not all Prajapatis appropriate a physical body at the same time. The time of appropriation depends somewhat on Their evolutionary status, though there is not necessarily an easy formula to determine this and to compare evolutionary status to any easily understood sequence of planetary manifestation.

137. Chúng ta lưu ý rằng không phải mọi Prajapati đều chiếm hữu một thể xác hồng trần cùng một lúc. Thời điểm chiếm hữu phần nào tùy thuộc vào tình trạng tiến hoá của Các Ngài, dù không nhất thiết có một công thức dễ dàng để xác định điều này và để so sánh tình trạng tiến hoá với bất kỳ trình tự biểu hiện hành tinh nào dễ hiểu.

138. When we speak of the physical body of a Prajapati, we realize that we are not only speaking of the manifestation upon the systemic dense physical plane, but upon the cosmic dense physical plane, which includes the systemic astral and mental planes.

138. Khi nói về thể xác hồng trần của một Prajapati, chúng ta nhận ra rằng mình không chỉ nói về sự biểu hiện trên cõi hồng trần đậm đặc của hệ thống, mà còn trên cõi hồng trần đậm đặc vũ trụ, vốn bao gồm các cõi cảm dục và cõi trí của hệ thống.

30: Prajapatis. The Progenitors; the givers of life to all on this

30: Prajapatis. Những Đấng Sinh Thành; những Đấng ban sự sống cho mọi sự trên

earth. They are seven and then ten corresponding to the seven and ten Sephiroth.

địa cầu này. Có bảy vị rồi đến mười vị, tương ứng với bảy và mười Sephiroth.

139. The numbering of the Prajapatis is related to the Tree of Life.

139. Số lượng các Prajapati có liên hệ với Cây Sự Sống.

140. As we have often stated, in occultism, whenever there is a seven there is implied a ten.

140. Như chúng ta thường nói, trong huyền bí học, hễ có bảy thì hàm ý có mười.

141. The Progenitors give life not only to “this earth” but to all the planets which are Their vehicles.

141. Những Đấng Sinh Thành không chỉ ban sự sống cho “địa cầu này” mà còn cho mọi hành tinh là các vận cụ của Các Ngài.

Cosmically, they are the seven Rishis of the Great Bear;

Về mặt vũ trụ, Các Ngài là bảy Rishi của Đại Hùng Tinh;

142. The Seven Rishis correspond to the Seven Planetary Logoi. There are systemic Prajapatis (the seven major Planetary Logoi) and cosmic Prajapatis (the seven Rishis of the Great Bear).

142. Bảy Rishi tương ứng với Bảy Hành Tinh Thượng đế. Có các Prajapati của hệ thống (bảy Hành Tinh Thượng đế chính) và các Prajapati vũ trụ (bảy Rishi của Đại Hùng Tinh).

143. We might think of the Seven Rishis as giving life to each of the “Seven Solar Systems of Which Ours is One” as well as to the lesser Prajapatis—the Planetary Logoi.

143. Chúng ta có thể nghĩ đến Bảy Rishi như ban sự sống cho từng “Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một” cũng như cho các Prajapati nhỏ hơn—các Hành Tinh Thượng đế.

systemically they are the seven planetary Logoi, and from the standpoint of our planet they are the seven Kumaras. [see S.D. I, 109, 122, 459, 661; II, 33, 36; note 80.]

về mặt hệ thống, Các Ngài là bảy Hành Tinh Thượng đế, và từ quan điểm của hành tinh chúng ta, Các Ngài là bảy Kumara. [xem Giáo Lý Bí Nhiệm I, 109, 122, 459, 661; II, 33, 36; chú thích 80.]

144. We are given some important correspondences: The Seven Rishis are reflected in the Seven Planetary Logoi, Who are reflected (on our planet at least) by our “Seven Kumaras” of which Sanat Kumara is One (the First Kumara as well as the Fourth Kumara).

144. Chúng ta được trao cho một số tương ứng quan trọng: Bảy Rishi được phản chiếu trong Bảy Hành Tinh Thượng đế, các Ngài này lại được phản chiếu (ít nhất trên hành tinh chúng ta) bởi “Bảy Kumara” của chúng ta mà Đức Sanat Kumara là Một trong số đó (Kumara Thứ Nhất cũng như Kumara Thứ Tư).

This is of later date for the seven than for the three.

Điều này đến muộn hơn đối với bảy vị so với ba vị.

145. Are we speaking here of the appropriation by Prajapatis of dense physical bodies?

145. Ở đây có phải chúng ta đang nói về việc các Prajapati chiếm hữu các thể xác hồng trần đậm đặc không?

146. We seem to be given certain hints about the moment of objectification of the Heavenly Men.

146. Có vẻ như chúng ta được trao cho một số gợi ý về thời điểm khách thể hóa của các Đấng Thiên Nhân.

147. Is it here suggested that the three greater Heavenly Men appropriate Their dense physical bodies earlier in the solar systemic process than the lesser Planetary Logoi (even thought they may unfold later in the solar systemic process than the lesser Planetary Logoi).

147. Ở đây có phải đang gợi ý rằng ba Đấng Thiên Nhân lớn hơn chiếm hữu các thể xác hồng trần đậm đặc của Các Ngài sớm hơn trong tiến trình hệ mặt trời so với các Hành Tinh Thượng đế nhỏ hơn (dù các Ngài có thể khai mở muộn hơn trong tiến trình hệ mặt trời so với các Hành Tinh Thượng đế nhỏ hơn).

148. Since, however, the planet Venus lasts throughout the mahamanvantara, a complication arises, since Venus is, obviously, not one of the synthesizing planets or of the true Greater Three. It is however the conduit for one of the three super-principles at this particular phase of solar systemic development.

148. Tuy nhiên, vì hành tinh Sao Kim tồn tại suốt Đại giai kỳ sinh hóa, nên nảy sinh một sự phức tạp, vì Sao Kim rõ ràng không phải là một trong các hành tinh tổng hợp hay thuộc về Ba Đấng Vĩ Đại đích thực. Tuy vậy, nó là ống dẫn cho một trong ba siêu nguyên khí ở giai đoạn đặc biệt này của sự phát triển hệ mặt trời.

An idea of the meaning of this distinction can be gleaned by the student, as he studies the process of the incarnating ego.

Đạo sinh có thể lĩnh hội được một ý niệm về ý nghĩa của sự phân biệt này khi y nghiên cứu tiến trình của chân ngã đang lâm phàm.

149. When matters become abstruse, we must resort to the clarifying power of analogy. We focus on what we can grasp in the attempt to fathom the dimension outlines of what we cannot yet grasp.

149. Khi các vấn đề trở nên quá trừu tượng, chúng ta phải dùng đến năng lực làm sáng tỏ của phép tương đồng. Chúng ta tập trung vào điều mình có thể nắm bắt trong nỗ lực dò thấu những đường nét chiều kích của điều mình chưa thể nắm bắt.

What do we consequently find? First of all, impulse, or the will-to-be, emanating from the mental plane; then desire, emanating from the astral plane, producing manifestation on the dense physical.

Vậy hệ quả là chúng ta thấy gì? Trước hết là xung lực, hay ý chí-tồn tại, phát ra từ cõi trí; rồi đến dục vọng, phát ra từ cõi cảm dục, tạo ra sự biểu hiện trên cõi hồng trần đậm đặc.

150. This is the normal manifestational process which occurs within the microcosm.

150. Đây là tiến trình biểu hiện bình thường xảy ra trong tiểu thiên địa.

151. The will-to-be is followed by desire which, in turn, is followed body the manifestation of the dense physical body.

151. Ý chí-tồn tại được tiếp theo bởi dục vọng, rồi đến lượt nó được tiếp theo bởi sự biểu hiện của thể xác hồng trần đậm đặc.

This idea must be extended to the three Logoi or logoic Aspects and we then have the key to the mystery of the nine Sephiroth, the triple Trimurti.

Ý tưởng này phải được mở rộng đến ba Logos hay các Phương diện của Logos, và khi ấy chúng ta có chìa khóa cho huyền nhiệm của chín Sephiroth, Tam Vị Trimurti.

152. We are speaking of the logoic Trinity surrounding the Solar Logos.

152. Chúng ta đang nói về Ba Ngôi của Logos bao quanh Thái dương Thượng đế.

153. The “three Logoi or logoic Aspects” do not express through only one planet, but through three at a time.

153. “Ba Logos hay các Phương diện của Logos” không biểu lộ chỉ qua một hành tinh, mà qua ba hành tinh cùng một lúc.

154. We might wonder whether the objectifications of the Planetary Logoi, per se, begin to appear as the “three Logoi or logoic Aspects” move towards manifestation.

154. Chúng ta có thể tự hỏi liệu các sự khách thể hóa của chính các Hành Tinh Thượng đế có bắt đầu xuất hiện khi “ba Logos hay các Phương diện của Logos” tiến về phía biểu hiện hay không.

155. To clarify these thoughts we should consult EP II, 99.

155. Để làm sáng tỏ những tư tưởng này, chúng ta nên tham khảo EP II, 99.

156. The three great Lives which each express through three of our usual planets are, it seems, involved with the nine Sephiroth and the “triple Trimurti”.

156. Ba Sự sống lớn, mỗi Sự sống biểu lộ qua ba hành tinh quen thuộc của chúng ta, dường như có liên quan đến chín Sephiroth và “Tam Vị Trimurti”.

157. The three groups are:

157. Ba nhóm là:

a. Earth, Mars and Saturn for the Third Ray Life

a. Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Thổ cho Sự Sống Cung ba

b. Venus, Jupiter and Uranus for the Second Ray Life

b. Sao Kim, Sao Mộc và Sao Thiên Vương cho Sự Sống Cung hai

c. Vulcan, Neptune and Pluto for the First Ray Life

c. Vulcan, Sao Hải Vương và Sao Diêm Vương cho Sự Sống Cung một

d. Mercury, the Divine Intermediary, links all together and is not associated with any one of these Great logoic Lives.

d. Sao Thủy, Đấng Trung Gian thiêng liêng, liên kết tất cả lại với nhau và không gắn với bất kỳ một Đại Sự Sống logoic nào trong số này.

158. Given what we know about the mahamanvantaric duration of Venus, however, it is difficult to say that the planets appear in order of the appearance of the Three Logoi containing them (in the usual three, two, one sequence).

158. Tuy nhiên, xét theo điều chúng ta biết về thời lượng Đại giai kỳ sinh hóa của Sao Kim, thật khó để nói rằng các hành tinh xuất hiện theo thứ tự xuất hiện của Ba Thượng đế chứa đựng chúng (theo trình tự thông thường ba, hai, một).

159. What we are suggesting is that the third aspect of divinity usually manifests first in the threefold sequence, followed by the second aspect and finally by the first aspect.

159. Điều chúng tôi muốn gợi ý là phương diện thứ ba của thiên tính thường biểu hiện trước tiên trong trình tự tam phân, tiếp theo là phương diện thứ hai và sau cùng là phương diện thứ nhất.

The other event might be noted,—the appropriation at a still later period in time and space by the individual Monads of their bodies of manifestation.

Biến cố khác cũng có thể được lưu ý,—đó là sự chiếm hữu, vào một thời kỳ còn muộn hơn nữa trong thời gian và không gian, của các chân thần cá biệt đối với các thể biểu hiện của chúng.

112. We continue to discuss “certain eventualities in time and space”.

112. Chúng ta tiếp tục bàn đến “một số khả tính chung cuộc trong thời gian và không gian”.

113. We are dealing with three periods of appropriation:

113. Chúng ta đang đề cập đến ba thời kỳ chiếm hữu:

a. The appropriation of the Solar Logos of a body of manifestation

a. Sự chiếm hữu của Thái dương Thượng đế đối với một thể biểu hiện

b. The appropriation by the Planetary Logoi or Prajapatis or Progenitors of a body of manifestation.

b. Sự chiếm hữu của các Hành Tinh Thượng đế hay các Prajapati hay các Đấng Tiên Tổ đối với một thể biểu hiện.

c. The appropriation by the “individual Monads” of a body of manifestation.

c. Sự chiếm hữu của các “chân thần cá biệt” đối với một thể biểu hiện.

114. We note, here, that the Monads are called “individual”—a term usually reserved to the individualized aspects of them expressing through egoic lotuses.

114. Ở đây, chúng ta lưu ý rằng các chân thần được gọi là “cá biệt”—một thuật ngữ thường dành cho các phương diện đã được biệt ngã hóa của chúng đang biểu lộ qua các hoa sen chân ngã.

The pouring in of this force of energy, emanating from the fifth logoic Principle, brings about two things:

Sự tuôn đổ vào của mãnh lực năng lượng này, phát ra từ nguyên khí logoic thứ năm, đem lại hai điều:

The appropriation by the sevenfold Logos of His dense physical body.

Sự chiếm hữu của Thượng đế thất phân đối với thể xác đậm đặc của Ngài.

The appearance on the fifth systemic plane of the causal bodies of the human Monads.

Sự xuất hiện trên cõi thứ năm của hệ thống của các thể nguyên nhân của các chân thần nhân loại.

160. These two statements are in the nature of a review of what has been stated in the foregoing sections of text.

160. Hai phát biểu này có tính chất như một sự điểm lại những gì đã được trình bày trong các phần văn bản trước.

161. The two occurrences are separated by a vast period of time.

161. Hai biến cố này cách nhau bởi một khoảng thời gian mênh mông.

162. This appearance of the causal bodies does not, as we have studied, occur at the same time with regard to all the Planetary Logoi.

162. Như chúng ta đã nghiên cứu, sự xuất hiện này của các thể nguyên nhân không xảy ra đồng thời đối với mọi Hành Tinh Thượng đế.

163. Once the Solar Logos has flashed forth into physical manifestation through the physical Sun and the dense physical bodies of planets, it will be a very long time before the causal bodies of the human Monads appear on the fifth systemic plane. A number of systemic, scheme and chain rounds must run their courses.

163. Một khi Thái dương Thượng đế đã bừng phát vào biểu hiện hồng trần qua Mặt Trời vật lý và các thể xác đậm đặc của các hành tinh, thì sẽ còn rất lâu nữa trước khi các thể nguyên nhân của các chân thần nhân loại xuất hiện trên cõi thứ năm của hệ thống. Một số cuộc tuần hoàn của hệ thống, hệ hành tinh và dãy phải hoàn tất tiến trình của chúng.

164. Intermediary between these processes is the process of the appearance of the dense physical bodies of the Planetary Logoi.

164. Trung gian giữa các tiến trình này là tiến trình xuất hiện của các thể xác đậm đặc của các Hành Tinh Thượng đế.

or

hay

For the greater Life it was incarnation.

Đối với Sự sống lớn hơn, đó là sự lâm phàm.

165. We are learning that the appearance of the dense physical body of the Solar Logos should not be called “Individualization”. Perhaps the time of that type of cosmic individualization occurred five solar systems ago when He Who is now the Solar Logos expressed in a completely physical incarnation—a cosmically Lemurian incarnation.

165. Chúng ta đang học rằng sự xuất hiện của thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế không nên được gọi là “Biệt ngã hóa”. Có lẽ thời điểm của loại biệt ngã hóa vũ trụ ấy đã xảy ra cách đây năm hệ mặt trời khi Đấng hiện nay là Thái dương Thượng đế biểu lộ trong một lần lâm phàm hoàn toàn hồng trần—một lần lâm phàm Lemuria theo nghĩa vũ trụ.

For the lesser lives it was individualisation.

Đối với các sự sống nhỏ hơn, đó là sự biệt ngã hóa.

166. The pouring in of force from the fifth cosmic plane causes these two events (really three, if the appropriation of a body of manifestation by the Planetary Logoi is considered), but the events take a long time to occur. That which is caused, is caused in sequence and not simultaneously, although in The Secret Doctrine we are told that the Sun and His seven Brothers appeared more or less simultaneously—as comets!

166. Sự tuôn đổ vào của mãnh lực từ cõi vũ trụ thứ năm gây ra hai biến cố này (thật ra là ba, nếu tính cả sự chiếm hữu một thể biểu hiện của các Hành Tinh Thượng đế), nhưng các biến cố ấy cần một thời gian dài mới xảy ra. Điều được gây ra, được gây ra theo trình tự chứ không đồng thời, mặc dù trong Giáo Lý Bí Nhiệm chúng ta được cho biết rằng Mặt Trời và bảy Huynh Đệ của Ngài đã xuất hiện gần như đồng thời—như những sao chổi!

167. It is probable that for each type of conscious L/life there is a period and type of individualization unique to the nature and scope of that L/life.

167. Có lẽ đối với mỗi loại Sự sống/sự sống có tâm thức đều có một thời kỳ và một loại biệt ngã hóa độc nhất theo bản chất và tầm mức của Sự sống/sự sống ấy.

168. A human Monad has its own kind of individualization; so does a Planetary Logos (an Individualization of a cosmic nature). A Planetary Logos did not individualize as a human Monad but as a planetary logoic Monad. A Solar Logos also has its own kind of Individualization (also of a cosmic nature).

168. Một chân thần nhân loại có loại biệt ngã hóa riêng của nó; một Hành Tinh Thượng đế cũng vậy (một sự Biệt ngã hóa có bản chất vũ trụ). Một Hành Tinh Thượng đế đã không biệt ngã hóa như một chân thần nhân loại mà như một chân thần hành tinh logoic. Một Thái dương Thượng đế cũng có loại Biệt ngã hóa riêng của Ngài (cũng mang bản chất vũ trụ).

169. This means, for instance, that although the units of life (Monads) which go to the formation of the centres of a Planetary Logos undergo a type of microcosmic individualization, the Planetary Logos as a group Being consisting of many microcosmically individualized Monads, undergoes a kind of cosmic Individualization which is far in advance of the individualization undergone by a human Monad. An extension and elevation of this process can be applied to the individualization of a Solar Logos.

169. Điều này có nghĩa, chẳng hạn, rằng mặc dù các đơn vị sự sống (các chân thần) góp phần tạo thành các trung tâm của một Hành Tinh Thượng đế trải qua một loại biệt ngã hóa tiểu thiên địa, thì Hành Tinh Thượng đế, với tư cách một Hữu thể nhóm gồm nhiều chân thần đã được biệt ngã hóa theo cách tiểu thiên địa, lại trải qua một loại Biệt ngã hóa vũ trụ vượt xa sự biệt ngã hóa mà một chân thần nhân loại trải qua. Sự mở rộng và nâng cao của tiến trình này có thể được áp dụng cho sự biệt ngã hóa của một Thái dương Thượng đế.

170. The matter is not easy to solve. Microcosmic individualization and cosmic Individualization (experienced by Planetary Logoi, Solar Logoi and Cosmic Logoi) are each of a very different nature, and each of these type of Individualization is distinct.

170. Vấn đề này không dễ giải quyết. Biệt ngã hóa tiểu thiên địa và Biệt ngã hóa vũ trụ (được các Hành Tinh Thượng đế, các Thái dương Thượng đế và các Vũ trụ Thượng đế kinh nghiệm) mỗi loại đều có bản chất rất khác nhau, và mỗi loại Biệt ngã hóa này đều riêng biệt.

This needs pondering upon.

Điều này cần được suy ngẫm.

115. We can do that, but the entire question will remain obscure until we understand how groups of Solar Angels ‘become’ Planetary Logoi and how groups of Planetary Logoi ‘become’ Solar Logoi, etc.

115. Chúng ta có thể làm điều đó, nhưng toàn bộ vấn đề vẫn sẽ còn mờ tối cho đến khi chúng ta hiểu được cách các nhóm Thái dương Thiên Thần “trở thành” các Hành Tinh Thượng đế và cách các nhóm Hành Tinh Thượng đế “trở thành” các Thái dương Thượng đế, v.v.

116. What might be called the ‘cosmic, pyramidal, amalgamative group process’ must be fathomed.

116. Điều có thể được gọi là “tiến trình nhóm vũ trụ, hình tháp, dung hợp” phải được thấu hiểu.

117. The trouble lies with our understanding of the principle of hierarchy in a cosmic sense. Is it built up from below or does it descend from above or both?

117. Khó khăn nằm ở sự thấu hiểu của chúng ta về nguyên lý thánh đoàn theo một nghĩa vũ trụ. Nó được xây dựng từ dưới lên, hay giáng xuống từ trên, hay là cả hai?

[Page 693]

[Page 693]

It will, therefore, be apparent to all thinkers why this fifth principle stirred the third aspect into self-conscious activity.

Do đó, mọi nhà tư tưởng sẽ thấy rõ vì sao nguyên khí thứ năm này đã khuấy động phương diện thứ ba vào hoạt động ngã thức.

171. DK has been explaining how it happened.

171. Chân sư DK đã giải thích điều đó đã xảy ra như thế nào.

172. It seems that a dual stimulation (both systemically-buddhic relating to the chakras of the Planetary Logos or Solar Logos, and cosmically mental) was applied, and that causal bodies arose simultaneously with a bridging initiative (towards the third aspect) from the Fifth Creative Hierarchy which represents the far greater energy from the cosmic mental plane.

172. Dường như một sự kích thích kép (vừa có tính hệ thống-Bồ đề liên hệ đến các luân xa của Hành Tinh Thượng đế hay Thái dương Thượng đế, vừa có tính trí tuệ vũ trụ) đã được áp dụng, và các thể nguyên nhân phát sinh đồng thời với một sáng kiến bắt cầu (hướng tới phương diện thứ ba) từ Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm, vốn tượng trưng cho năng lượng lớn lao hơn nhiều từ cõi trí vũ trụ.

(b.) Hylozoistically considered.31 

(b.) Xét theo thuyết vật hoạt luận.31

31: Hylozoism:—From Greek “ule,” matter; “zoon,” animal; and “ism.” Ism is a suffix embodying the doctrine or abstract idea of the noun to which it is attached. Hylozoism is the doctrine that all matter is endowed with life.

31: Hylozoism:—Từ tiếng Hy Lạp “ule”, vật chất; “zoon”, động vật; và “ism”. Ism là một tiếp vĩ ngữ bao hàm học thuyết hay ý niệm trừu tượng của danh từ mà nó gắn vào. Thuyết vật hoạt luận là học thuyết cho rằng mọi vật chất đều được phú cho sự sống.

173. It is most needed that this doctrine enter modern thought. Its entry would end the illusory split in men’s minds as they consider that which appears to them as ‘alive’ or organic and that which appears ‘dead’ or inorganic—animate and inanimate substance.

173. Học thuyết này hết sức cần được đưa vào tư tưởng hiện đại. Sự đi vào của nó sẽ chấm dứt sự phân chia ảo tưởng trong tâm trí những người nam và nữ khi họ xem xét điều hiện ra với họ là “sống” hay hữu cơ và điều hiện ra là “chết” hay vô cơ—chất liệu hữu sinh và vô sinh.

“When we have attained to this conception of hylozoism of a living material universe, the mystery of nature will be solved.”—Standard Dictionary.

“Khi chúng ta đạt tới quan niệm này về thuyết vật hoạt luận của một vũ trụ vật chất sống động, thì bí ẩn của thiên nhiên sẽ được giải quyết.”—Từ điển Chuẩn.

118. The universe is to be considered one great, animated, living ‘body’.

118. Vũ trụ phải được xem là một “thể” vĩ đại, sống động, được linh hoạt.

119. The Doctrine of Hylozoism helps us overcome the “Great Heresy of Separateness”.

119. Học thuyết Vật Hoạt Luận giúp chúng ta vượt qua “Đại Tà thuyết về sự tách biệt”.

In continuing our consideration of the fifth logoic Principle, we will now view it in its hylozoistic aspect. We have seen that it can be regarded as the force, the energy or the quality which emanates from the logoic mental unit on the cosmic mental plane;

Khi tiếp tục xem xét nguyên khí logoic thứ năm, giờ đây chúng ta sẽ nhìn nó trong phương diện vật hoạt luận của nó. Chúng ta đã thấy rằng nó có thể được xem như mãnh lực, năng lượng hay phẩm tính phát ra từ đơn vị hạ trí logoic trên cõi trí vũ trụ;

174. If analogy holds, the logoic mental unit will be found on the fourth cosmic subplane of the cosmic mental plane.

174. Nếu định luật tương đồng đúng, đơn vị hạ trí logoic sẽ được tìm thấy trên cõi phụ vũ trụ thứ tư của cõi trí vũ trụ.

175. We suspect, however, that the energy pouring through the logoic mental unit must originate within the logoic causal body or egoic lotus. There does not seem to be any good reason to exclude the cosmic higher mental plane as the Source of the fifth principle or of logoic manas.

175. Tuy nhiên, chúng ta nghi ngờ rằng năng lượng tuôn qua đơn vị hạ trí logoic hẳn phải phát sinh bên trong thể nguyên nhân logoic hay hoa sen chân ngã. Dường như không có lý do xác đáng nào để loại trừ cõi thượng trí vũ trụ như là Nguồn của nguyên khí thứ năm hay của manas logoic.

176. In fact, Sources can be inferred upon the Super-Cosmic Planes.

176. Thật ra, có thể suy ra các Nguồn trên các cõi Siêu Vũ Trụ.

this necessarily has a definite effect on the fifth systemic plane,

điều này tất yếu có một tác động xác định trên cõi thứ năm của hệ thống,

177. Presumably, on the entirety of the fifth systemic plane.

177. Có lẽ là trên toàn thể cõi thứ năm của hệ thống.

and on the fifth subplane of the physical plane, the gaseous.

và trên cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần, tức cõi khí.

178. On the entirety of the systemic gaseous plane and not on four sevenths of it.

178. Trên toàn thể cõi khí của hệ thống chứ không phải trên bốn phần bảy của nó.

Before taking up the subject of the Agnishvattas in detail, there are three points which should be borne in mind.

Trước khi bàn chi tiết về các Agnishvatta, có ba điểm cần được ghi nhớ.

First, it should be remembered that all the planes of our system, viewing them as deva substance,

Thứ nhất, cần nhớ rằng mọi cõi của hệ thống chúng ta, nếu xem chúng như chất liệu thiên thần,

179. This means that we view our systemic planes as both elemental substance and the substance of the evolutionary devas.

179. Điều này có nghĩa là chúng ta xem các cõi hệ thống của mình vừa là chất liệu hành khí vừa là chất liệu của các thiên thần tiến hoá.

form the spirillae in the physical permanent atom of the solar Logos.

tạo thành các loa tuyến trong nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế.

180. This is another of those very important statements. Systemic planes are solar logoic spirillae.

180. Đây là một phát biểu rất quan trọng khác. Các cõi hệ thống là các loa tuyến của Thái dương Thượng đế.

181. We know that the degree of activation of the spirillae of the permanent atoms of the human beings correspond with the stage of evolution at which a human being stands. We can analogically infer that the degree of activation or stimulation of the systemic planes relates to the evolutionary stage at which a Planetary Logos or Solar Logos stands.

181. Chúng ta biết rằng mức độ hoạt hóa của các loa tuyến trong các nguyên tử trường tồn của con người tương ứng với giai đoạn tiến hoá mà một con người đang đứng ở đó. Theo phép loại suy, chúng ta có thể suy ra rằng mức độ hoạt hóa hay kích thích của các cõi hệ thống liên hệ với giai đoạn tiến hoá mà một Hành Tinh Thượng đế hay Thái dương Thượng đế đang đứng ở đó.

This has earlier been pointed out, but needs re-emphasising here.  All consciousness, all memory, all faculty is stored up in the permanent atoms, and we are consequently dealing here with that consciousness;

Điều này đã được chỉ ra trước đây, nhưng cần được nhấn mạnh lại ở đây.  Mọi tâm thức, mọi ký ức, mọi năng lực đều được tích trữ trong các nguyên tử trường tồn, và do đó ở đây chúng ta đang đề cập đến tâm thức ấy;

182. We are dealing with the consciousness, memory and faculty of a Planetary Logos or Solar Logos, as that consciousness, memory or faculty applies to the cosmic physical plane.

182. Chúng ta đang đề cập đến tâm thức, ký ức và năng lực của một Hành Tinh Thượng đế hay Thái dương Thượng đế, khi tâm thức, ký ức hay năng lực ấy được áp dụng vào cõi hồng trần vũ trụ.

183. Let us compare the memory chips of modern computer technology with the incomparably more sophisticated ‘memory chips’ represented by the permanent atoms.

183. Hãy so sánh các chip nhớ của công nghệ máy tính hiện đại với những “chip nhớ” tinh vi hơn không thể so sánh được do các nguyên tử trường tồn tượng trưng.

the student should nevertheless bear in mind that it is on the atomic subplanes that the logoic consciousness (remote as even that may be from the Reality) centres itself.

tuy vậy đạo sinh vẫn nên ghi nhớ rằng chính trên các cõi phụ nguyên tử mà tâm thức logoic (dù ngay cả điều đó vẫn còn xa với Thực Tại) tự tập trung.

184. DK may also be saying that the solar logoic consciousness expresses itself through the systemic atomic planes of the systemic planes—at least through the atomic subplanes of the cosmic ethers.

184. Chân sư DK cũng có thể đang nói rằng tâm thức thái dương logoic biểu lộ qua các cõi nguyên tử hệ thống của các cõi hệ thống—ít nhất là qua các cõi phụ nguyên tử của các dĩ thái vũ trụ.

185. If we are speaking cosmically, then the subplanes have to be considered from the cosmic perspective.

185. Nếu chúng ta đang nói theo nghĩa vũ trụ, thì các cõi phụ phải được xét từ quan điểm vũ trụ.

186. The logoic subplane of the cosmic physical plane is the atomic subplane for the cosmic physical plane. The Solar Logos will express especially through the logoic physical permanent atom on the logoic level of the cosmic physical plane.

186. Cõi phụ logoic của cõi hồng trần vũ trụ là cõi phụ nguyên tử của cõi hồng trần vũ trụ. Thái dương Thượng đế sẽ biểu lộ đặc biệt qua nguyên tử trường tồn hồng trần logoic trên cấp độ logoic của cõi hồng trần vũ trụ.

187. We could wonder about solar logoic expression on the atomic subplane of the cosmic astral plane. It may be that the Solar Logos is not yet developmentally ready to work with the permanent atom found on the atomic level of the cosmic mental plane.

187. Chúng ta có thể tự hỏi về sự biểu lộ thái dương logoic trên cõi phụ nguyên tử của cõi cảm dục vũ trụ. Có thể là Thái dương Thượng đế chưa sẵn sàng về mặt phát triển để làm việc với nguyên tử trường tồn được tìm thấy trên cấp độ nguyên tử của cõi trí vũ trụ.

188. The Reality of the Solar Logos is far from even His highest level of etheric expression—i.e., His expression through His physical permanent atom.

188. Thực Tại của Thái dương Thượng đế còn xa ngay cả mức biểu lộ dĩ thái cao nhất của Ngài—tức là sự biểu lộ của Ngài qua nguyên tử trường tồn hồng trần của Ngài.

This permanent atom of the solar system, which holds the same relation to the logoic physical body as the human permanent atom does to that of a man,

Nguyên tử trường tồn này của hệ mặt trời, vốn giữ cùng một tương quan với thể hồng trần logoic như nguyên tử trường tồn của con người đối với thể của một người,

189. We are speaking of the logoic physical permanent atom on the first or logoic cosmic subplane of the cosmic physical plane.

189. Chúng ta đang nói về nguyên tử trường tồn hồng trần logoic trên cõi phụ vũ trụ thứ nhất hay cõi phụ logoic của cõi hồng trần vũ trụ.

190. In this case the analogical relationship between man and the Solar Logos is closer than that between man and the Planetary Logos.

190. Trong trường hợp này, mối tương quan loại suy giữa con người và Thái dương Thượng đế gần hơn mối tương quan giữa con người và Hành Tinh Thượng đế.

is a recipient of force, and is, therefore, receptive to force emanations from another extra-systemic source.

là một nơi tiếp nhận mãnh lực, và do đó tiếp nhận được các phát xạ mãnh lực từ một nguồn ngoài hệ thống khác.

191. We must be cautious when we encounter the term “extra-systemic”. It can simply mean a source which is ‘above’ the cosmic physical plane. It can also mean a source which is entirely beyond the ring-pass-not of the entire aura of the Solar Logos.

191. Chúng ta phải thận trọng khi gặp thuật ngữ “ngoài hệ thống”. Nó có thể chỉ đơn giản có nghĩa là một nguồn ở “bên trên” cõi hồng trần vũ trụ. Nó cũng có thể có nghĩa là một nguồn hoàn toàn vượt ra ngoài vòng-giới-hạn của toàn bộ hào quang của Thái dương Thượng đế.

Some idea of the illusory character of manifestation, both human and logoic, may be gathered from the relation of the permanent atoms to the rest of the structure. Apart [Page 694] from the permanent atom, the human physical body does not exist.

Một ý niệm nào đó về tính chất ảo tưởng của biểu hiện, cả nơi con người lẫn logoic, có thể được rút ra từ mối liên hệ của các nguyên tử trường tồn với phần còn lại của cấu trúc. Ngoài [Page 694] nguyên tử trường tồn ra, thể xác của con người không tồn tại.

120. The physical permanent atom has engendered the entire etheric-physical body of the human being. The physical permanent atom is, at least, relatively permanent, whereas the physical body, per se, is extremely transitory, a maya, an illusion.

120. Nguyên tử trường tồn hồng trần đã sinh ra toàn bộ thể dĩ thái-hồng trần của con người. Nguyên tử trường tồn hồng trần, ít nhất, là tương đối trường tồn, trong khi thể xác, chính nó, lại cực kỳ tạm bợ, là ảo lực, là ảo tưởng.

121. DK has referred to the physical body as a “congestion”:

121. Chân sư DK đã gọi thể xác là một “sự tắc nghẽn”:

the dense physical vehicle is not so much the result of their work as it is the result of the meeting of the seven streams of force or electricity, which causes that apparent congestion in matter that we call the dense physical planes (the three lower subplanes). This apparent congestion is, after all, but the exceeding electronic activity or energy of the mass of negative atoms awaiting the stimulation that will result from the presence of a certain number of positive atoms. This needs to be borne in mind. (TCF 321)

thể hồng trần đậm đặc không hẳn là kết quả công việc của các Ngài cho bằng là kết quả của sự gặp gỡ của bảy dòng mãnh lực hay điện lực, gây nên sự tắc nghẽn biểu kiến trong vật chất mà chúng ta gọi là các cõi hồng trần đậm đặc (ba cõi phụ thấp). Sự tắc nghẽn biểu kiến này, rốt cuộc, chỉ là hoạt động điện tử hay năng lượng cực độ của khối các nguyên tử âm đang chờ sự kích thích sẽ phát sinh từ sự hiện diện của một số nguyên tử dương nhất định. Điều này cần được ghi nhớ. (TCF 321)

Again, forms differ as do kingdoms according to the nature of the force flowing through them.

Một lần nữa, các hình tướng khác nhau cũng như các giới khác nhau tùy theo bản chất của mãnh lực chảy qua chúng.

122. It is the interplay of forces which produces the form and the appearance of that form.

122. Chính sự tương tác của các mãnh lực tạo ra hình tướng và sắc tướng của hình tướng ấy.

123. Forces and forms will make a worthy study. Through the form of each kingdom diversified forces flow. Which and why?

123. Các mãnh lực và các hình tướng sẽ là một đề tài nghiên cứu xứng đáng. Qua hình tướng của mỗi giới, các mãnh lực đa dạng chảy qua. Là những mãnh lực nào và vì sao?

In the animal kingdom that which corresponds to the permanent atom responds to force of an involutionary character, emanating from a particular group. 

Trong giới động vật, điều tương ứng với nguyên tử trường tồn đáp ứng với mãnh lực có tính chất giáng hạ tiến hoá, phát ra từ một nhóm đặc biệt. 

124. We seem still to be speaking of the physical permanent atom.

124. Dường như chúng ta vẫn đang nói về nguyên tử trường tồn hồng trần.

125. Let us assume that DK is speaking of the physical permanent atom (though it would also make sense, in this case, to speak of the astral permanent atom).

125. Chúng ta hãy giả định rằng Chân sư DK đang nói về nguyên tử trường tồn hồng trần (mặc dù trong trường hợp này, nói về nguyên tử trường tồn cảm dục cũng có ý nghĩa).

126. The physical permanent atom of the animal directs its physical nature in a manner which holds the animal within the lower worlds of form.

126. Nguyên tử trường tồn hồng trần của con vật điều khiển bản chất hồng trần của nó theo cách giữ con vật ở trong các thế giới thấp của hình tướng.

127. We might ask the nature of the “particular group” which DK mentions. Group of what?

127. Chúng ta có thể hỏi bản chất của “nhóm đặc biệt” mà Chân sư DK nhắc đến là gì. Nhóm của cái gì?

The human permanent atom responds to force emanating from a group on the evolutionary arc

Nguyên tử trường tồn của con người đáp ứng với mãnh lực phát ra từ một nhóm trên cung tiến hoá

128. DK is still ambiguous about the “group” which stimulates various kinds of permanent atoms—in this permanent atom of the animal kingdom and the permanent atom of the human kingdom.

128. Chân sư DK vẫn còn mơ hồ về “nhóm” kích thích các loại nguyên tử trường tồn khác nhau—trong nguyên tử trường tồn của giới động vật và nguyên tử trường tồn của giới nhân loại này.

129. We could assume that He is referring to groups of devas. We already have discovered that the permanent atoms of man are stimulated by various kinds of evolutionary devas.

129. Chúng ta có thể giả định rằng Ngài đang nói đến các nhóm thiên thần. Chúng ta đã khám phá rằng các nguyên tử trường tồn của con người được kích thích bởi nhiều loại thiên thần tiến hoá khác nhau.

130. Are there involutionary lives which stimulate the permanent atoms of the animal kingdom and the other lower kingdoms?

130. Có phải có những sự sống giáng hạ tiến hoá kích thích các nguyên tử trường tồn của giới động vật và các giới thấp khác không?

131. Is there a good reason, however, for supposing that there are no evolutionary devas (of the Agnichaitans or Agnisuryans type) stimulating the permanent atoms of the members of the animal kingdom? The animal kingdom is, as we know, an evolutionary kingdom.

131. Tuy nhiên, có lý do xác đáng nào để giả định rằng không có các thiên thần tiến hoá (thuộc loại Agnichaitan hay Agnisuryan) kích thích các nguyên tử trường tồn của các thành viên trong giới động vật không? Giới động vật, như chúng ta biết, là một giới tiến hoá.

and the Ray of a particular planetary Logos in Whose body a human Monad as a definite place.

và cung của một Hành Tinh Thượng đế đặc biệt mà trong thể của Ngài một chân thần nhân loại có một vị trí xác định.

132. Each human Monad has place within the body of a particular Planetary Logos.

132. Mỗi chân thần nhân loại có vị trí trong thể của một Hành Tinh Thượng đế đặc biệt.

133. Although each of us as Monads can be said to hold place within a particular center of the Planetary Logos of the Earth-scheme, it is inferred that, as Monads, we also have a definite place in another and greater Planetary Logos (probably one of the Planetary Logoi working through a sacred planet).

133. Mặc dù mỗi chúng ta với tư cách các chân thần có thể được nói là giữ vị trí trong một trung tâm đặc biệt của Hành Tinh Thượng đế của hệ Địa Cầu, nhưng có thể suy ra rằng, với tư cách các chân thần, chúng ta cũng có một vị trí xác định trong một Hành Tinh Thượng đế khác và lớn hơn (có lẽ là một trong các Hành Tinh Thượng đế đang hoạt động qua một hành tinh thiêng liêng).

134. We are not told which Ray of the Planetary Logos stimulates the permanent atoms. Is it the personality ray? This would be likely when we consider the lower permanent atoms. Or is it the soul ray, which might be more likely in relation to the higher or triadal permanent atoms?

134. Chúng ta không được cho biết cung nào của Hành Tinh Thượng đế kích thích các nguyên tử trường tồn. Có phải là cung phàm ngã không? Điều này có vẻ hợp lý khi chúng ta xét các nguyên tử trường tồn thấp. Hay là cung linh hồn, điều có thể hợp lý hơn liên hệ đến các nguyên tử trường tồn cao hơn hay các nguyên tử trường tồn tam nguyên tinh thần?

135. With respect to the animal kingdom, we are not told that its permanent atom is stimulated by any ray of the Planetary Logos but only by an involutionary group. Animals are evolving, but not evolving self-consciously.

135. Đối với giới động vật, chúng ta không được cho biết rằng nguyên tử trường tồn của nó được kích thích bởi bất kỳ cung nào của Hành Tinh Thượng đế mà chỉ bởi một nhóm giáng hạ tiến hoá. Động vật đang tiến hoá, nhưng không tiến hoá một cách ngã thức.

Secondly, it must be noted that in view of the above it will be apparent that we are, at this period of manasic inflow and development, concerned with the coming into full vitality and activity of the fifth logoic spirilla;

Thứ hai, cần lưu ý rằng xét theo điều trên, sẽ rõ ràng rằng trong thời kỳ hiện nay của sự tuôn đổ vào và phát triển của manas, chúng ta đang quan tâm đến sự đi vào sinh lực và hoạt động trọn vẹn của loa tuyến logoic thứ năm;

136. If systemic planes are spirillae for the Solar Logos, can we infer that it is fifth spirilla (counting from above) that is coming into full vitality? Or should we think that it is the spirilla that corresponds to the systemic atmic plane?

136. Nếu các cõi hệ thống là các loa tuyến đối với Thái dương Thượng đế, liệu chúng ta có thể suy ra rằng chính loa tuyến thứ năm (đếm từ trên xuống) đang đi vào sinh lực trọn vẹn không? Hay chúng ta nên nghĩ rằng đó là loa tuyến tương ứng với cõi atma của hệ thống?

137. We must remember that a Solar Logos is a cosmic Initiate of the second degree and has not yet taken His third cosmic initiation.

137. Chúng ta phải nhớ rằng một Thái dương Thượng đế là một Điểm đạo đồ vũ trụ bậc hai và Ngài chưa nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ ba của Ngài.

138. Man has four spirillae activated and when He begins to come under the influence of his soul ray, it is his fifth spirilla that is activated and then, also under the egoic ray, the sixth.

138. Con người có bốn loa tuyến được hoạt hóa và khi y bắt đầu chịu ảnh hưởng của cung linh hồn của mình, thì loa tuyến thứ năm của y được hoạt hóa và rồi, cũng dưới cung chân ngã, loa tuyến thứ sáu được hoạt hóa.

139. If the analogy holds good, and the Solar Logos is pushing towards His cosmic third initiation, it should be His fifth spirilla which is coming into full vitality (that fifth spirilla being higher than His fourth, and thus correlating with the atmic systemic plane).

139. Nếu phép loại suy là đúng, và Thái dương Thượng đế đang tiến tới lần điểm đạo vũ trụ thứ ba của Ngài, thì hẳn là loa tuyến thứ năm của Ngài đang đi vào sinh lực trọn vẹn (loa tuyến thứ năm ấy cao hơn loa tuyến thứ tư của Ngài, và do đó tương ứng với cõi atma của hệ thống).

140. These conclusions are drawn upon the basis that for the Solar Logos, systemic planes are spirillae.

140. Những kết luận này được rút ra trên cơ sở rằng đối với Thái dương Thượng đế, các cõi hệ thống là các loa tuyến.

141. Yet, the text below indicates the importance of the mental plane in connection with the fifth spirilla, and when a man has his fifth spirilla stimulated, he is entering the fifth kingdom (the Kingdom of Souls) and thus for him, the higher mental plane and the lower mental plane as well, are coming into intense stimulation.

141. Tuy vậy, đoạn văn dưới đây cho thấy tầm quan trọng của cõi trí liên hệ với loa tuyến thứ năm, và khi một người có loa tuyến thứ năm được kích thích, y đang đi vào giới thứ năm (Thiên Giới của các linh hồn) và do đó đối với y, cõi thượng trí cả cõi hạ trí nữa đều đang đi vào sự kích thích mãnh liệt.

142. So, perhaps, for the Solar Logos, the counting is done from ‘above’ to ‘below’ and the fifth spirillae is, indeed, the systemic mental plane.

142. Vì vậy, có lẽ đối với Thái dương Thượng đế, sự đếm được thực hiện từ “trên” xuống “dưới” và loa tuyến thứ năm quả thực là cõi trí của hệ thống.

143. From another perspective, it is unlikely that the logoic atmic plane would be achieving full stimulation because the Solar Logos is not yet a sufficiently high cosmic Initiate to warrant such stimulation.

143. Từ một góc nhìn khác, khó có khả năng cõi atma logoic lại đang đạt đến sự kích thích trọn vẹn vì Thái dương Thượng đế chưa phải là một Điểm đạo đồ vũ trụ đủ cao để xứng với sự kích thích như vậy.

144. Perhaps only when the Solar Logos is a Cosmic Master will the atmic plane (as a spirilla) be stimulated.

144. Có lẽ chỉ khi Thái dương Thượng đế là một Chân sư Vũ trụ thì cõi atma (như một loa tuyến) mới được kích thích.

this vitalisation shows itself in the intense activity of the mental plane, and the threefold nature of the electrical phenomena to be witnessed upon it.

sự tiếp sinh lực này biểu lộ trong hoạt động mãnh liệt của cõi trí, và bản chất tam phân của các hiện tượng điện lực có thể được chứng kiến trên đó.

a. The atomic subplane…manasic permanent atoms…Positive

a. Cõi phụ nguyên tử…các nguyên tử trường tồn manas…Dương

b. The fourth subplane….mental units……………………Negative

b. Cõi phụ thứ tư….các đơn vị hạ trí……………………Âm

c. The egoic groups……..causal bodies………………….Equilibrium or neutral

c. Các nhóm chân ngã……..các thể nguyên nhân………………….Quân bình hay trung tính

145. The egoic groups must be especially connected with the third kind of electricity—equilibrizing electricity even though they contain within them all three types.

145. Các nhóm chân ngã hẳn phải đặc biệt liên hệ với loại điện lực thứ ba—điện lực quân bình hóa, dù chúng chứa trong mình cả ba loại.

146. The triangle of force to be found upon mental planes (whether systemic or cosmic) display the archetypal relationship between positive, negative and neutral (harmonizing or equilibrizing).

146. Tam giác mãnh lực được tìm thấy trên các cõi trí (dù là hệ thống hay vũ trụ) biểu lộ mối tương quan nguyên mẫu giữa dương, âm và trung tính (điều hòa hay quân bình hóa).

147. We may also infer that the energy of the sign Libra has much to do with the egoic groups as the type of electricity concerned brings equilibrium.

147. Chúng ta cũng có thể suy ra rằng năng lượng của dấu hiệu hoàng đạo Thiên Bình có liên hệ rất nhiều với các nhóm chân ngã vì loại điện lực được bàn đến đem lại sự quân bình.

This is in process of demonstration during the course of evolution.

Điều này đang trong tiến trình được chứng minh trong suốt diễn trình tiến hoá.

148. Upon the mental plane, Sprit, soul and body are all represented.

148. Trên cõi trí, tinh thần, linh hồn và thể đều được biểu hiện.

149. The three types of electricity are unfolded in manifestation sequentially.

149. Ba loại điện lực được khai mở trong biểu hiện theo trình tự.

We are dealing here with the substance aspect and considering energy in its various manifestations. The response of deva substance to the inflow of force on the mental plane has a threefold effect in connection with the Logos or the Septenate:

Ở đây chúng ta đang đề cập đến phương diện chất liệu và xem xét năng lượng trong các biểu hiện khác nhau của nó. Sự đáp ứng của chất liệu thiên thần đối với sự tuôn đổ vào của mãnh lực trên cõi trí có một tác động tam phân liên hệ với Thượng đế hay Thất Nguyên:

150. We are still dealing with the Solar Logos and that which is taking place within His body of manifestation.

150. Chúng ta vẫn đang đề cập đến Thái dương Thượng đế và điều đang diễn ra trong thể biểu hiện của Ngài.

1. It produces a greatly increased vitality in the logoic centres on the fourth cosmic ether, due to reflex action, which is felt both above and below the plane of activity.

1. Nó tạo ra một sinh lực gia tăng rất lớn trong các trung tâm logoic trên dĩ thái vũ trụ thứ tư, do tác động phản hồi, được cảm nhận cả bên trên lẫn bên dưới cõi hoạt động.

151. We are speaking of the inflow of force from the cosmic mental plane to the systemic mental plane.

151. Chúng ta đang nói về sự tuôn đổ vào của mãnh lực từ cõi trí vũ trụ xuống cõi trí của hệ thống.

152. The main recipient of force from the cosmic mental plane is the systemic mental plane, the plane below the buddhic plane.

152. Nơi tiếp nhận chính của mãnh lực từ cõi trí vũ trụ là cõi trí của hệ thống, cõi bên dưới cõi Bồ đề.

153. But as we see, the reflex action here discussed “is felt both above and below the plane of activity”.

153. Nhưng như chúng ta thấy, tác động phản hồi được bàn đến ở đây “được cảm nhận cả bên trên lẫn bên dưới cõi hoạt động”.

154. We have a feedback loop created. Those chakras of the Planetary Logos or Solar Logos found upon the fourth cosmic ether cause stimulation on the systemic mental plane and the stimulation coming to the systemic mental plane from the cosmic mental plane causes stimulation in the fourth cosmic ether, the buddhic plane.

154. Một vòng phản hồi đã được tạo ra. Những luân xa của Hành Tinh Thượng đế hay Thái dương Thượng đế được tìm thấy trên dĩ thái vũ trụ thứ tư gây ra sự kích thích trên cõi trí của hệ thống, và sự kích thích đến với cõi trí của hệ thống từ cõi trí vũ trụ lại gây ra sự kích thích trong dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi Bồ đề.

2. It stimulates the efforts of the highest specimens of the third kingdom, and a dual effect is produced [Page 695] through this, for the fourth kingdom in nature makes its appearance on the physical plane and the Triads are reflected on the mental plane in the causal bodies to be found thereon.

2. Nó kích thích các nỗ lực của những mẫu mực cao nhất của giới thứ ba, và qua đó một tác động kép được tạo ra [Page 695], vì giới thứ tư trong thiên nhiên xuất hiện trên cõi hồng trần và các Tam nguyên tinh thần được phản chiếu trên cõi trí trong các thể nguyên nhân được tìm thấy tại đó.

155. Stimulation from the cosmic mental plane as it affects the systemic mental plane, stimulates the highest specimens of animal man and also causes the appearance of the fourth kingdom.

155. Sự kích thích từ cõi trí vũ trụ khi tác động lên cõi trí của hệ thống sẽ kích thích những mẫu mực cao nhất của người thú và cũng gây ra sự xuất hiện của giới thứ tư.

156. We have a very clear statement telling us that the spiritual triad is reflected in the causal body. Chart X, TCF 961, shows the triad (the higher Ego) reflected in the Ego as it expresses on the higher mental plane.

156. Chúng ta có một phát biểu rất rõ cho biết rằng Tam Nguyên Tinh Thần được phản chiếu trong thể nguyên nhân. Biểu đồ X, TCF 961, cho thấy tam nguyên tinh thần (chân ngã cao hơn) được phản chiếu trong Chân ngã khi nó biểu lộ trên cõi thượng trí.

157. It stands to reason that the spiritual triad antedates the establishing of the causal body.

157. Có lý khi nói rằng Tam Nguyên Tinh Thần có trước việc thiết lập thể nguyên nhân.

3. As earlier said, the dense physical is linked and co-ordinated with the etheric bodies of the solar logos and of the planetary Logos. Therefore, the lower three planes are synthesised with the higher four, and the devas of an earlier mahamanvantara or solar cycle are brought into conjunction with those of a newer order who were awaiting just conditions.

3. Như đã nói trước đây, thể hồng trần đậm đặc được liên kết và phối hợp với các thể dĩ thái của thái dương thượng đế và của Hành Tinh Thượng đế. Do đó, ba cõi thấp được tổng hợp với bốn cõi cao, và các thiên thần của một Đại giai kỳ sinh hóa hay chu kỳ mặt trời trước được đưa vào đồng vị với những thiên thần thuộc một trật tự mới hơn đang chờ đợi những điều kiện thích đáng.

158. It is quite obvious that a kind of ‘marriage’ is taking place—the old is being merged with the new under the influence of Libra, the sign of the “just”.

158. Rõ ràng là một loại “hôn phối” đang diễn ra—cái cũ đang được hòa nhập với cái mới dưới ảnh hưởng của Thiên Bình, dấu hiệu của sự “công chính”.

159. It is reiterated that the devas of the lower three planes are from an earlier mahamanvantara.

159. Một lần nữa, điều này được nhắc lại rằng các thiên thần của ba cõi thấp là từ một Đại giai kỳ sinh hóa trước.

160. We read of the reflex action above and below. The synthesizing of which we are here speaking pertains to the reflex action applying to planes below the systemic higher mental plane.

160. Chúng ta đọc về tác động phản hồi ở trên và ở dưới. Sự tổng hợp mà ở đây chúng ta đang nói đến liên quan đến tác động phản hồi áp dụng cho các cõi bên dưới cõi thượng trí của hệ thống.

The physical incarnation of the Logos is completed

Sự lâm phàm hồng trần của Thượng đế được hoàn tất

161. The linking of the four and the three constitutes the physical incarnation of the Solar Logos.

161. Sự liên kết của bốn và ba cấu thành sự lâm phàm hồng trần của Thái dương Thượng đế.

162. We discussed, above, two types of incarnation for the Solar Logos. This is the second kind. In this type of incarnation, the dense levels of the cosmic physical plane already exists, but a linking process occurs allowing the Presence of the Solar Logos to be focussed in relation to those lower, non-principled planes.

162. Ở trên, chúng ta đã bàn đến hai loại lâm phàm của Thái dương Thượng đế. Đây là loại thứ hai. Trong loại lâm phàm này, các cấp độ đậm đặc của cõi hồng trần vũ trụ đã hiện hữu sẵn, nhưng một tiến trình liên kết xảy ra, cho phép Sự Hiện Diện của Thái dương Thượng đế được tập trung trong tương quan với những cõi thấp, không nguyên khí ấy.

The lower three kingdoms, being negative to the higher force, the mutual attraction of these two and their interaction bring into being the fourth or human kingdom. The three fires of mind, Spirit and matter are brought together and the work of full self-consciousness begun.

Ba giới thấp, vốn âm tính đối với mãnh lực cao hơn, sự hấp dẫn hỗ tương của hai bên này và sự tương tác của chúng làm phát sinh giới thứ tư hay giới nhân loại. Ba ngọn lửa của trí tuệ, tinh thần và vật chất được đưa lại với nhau và công việc của ngã thức trọn vẹn được bắt đầu.

163. We can see that to produce self-consciousness it is not enough to link solar fire with fire by friction. Rather, all three fires must be brought together. The Monad/Spirit is definitely involved.

163. Chúng ta có thể thấy rằng để tạo ra ngã thức thì chỉ liên kết Lửa Thái dương với Lửa ma sát là chưa đủ. Đúng hơn, cả ba ngọn lửa phải được đưa lại với nhau. Chân thần/Tinh thần chắc chắn có dự phần.

164. The Monad, as we realized, establishes its presence as the “central flame” within the egoic lotus.

164. Như chúng ta đã chứng nghiệm, chân thần thiết lập sự hiện diện của nó như “ngọn lửa trung tâm” bên trong Hoa Sen Chân Ngã.

Finally, the student should very carefully study here the significance of the numbers three, four and five in the evolution of consciousness.

Sau cùng, đạo sinh nên nghiên cứu ở đây thật cẩn thận thâm nghĩa của các số ba, bốn và năm trong sự tiến hoá của tâm thức.

165. These are the number which most concern the development of three kingdoms—our own and the kingdoms most proximate to ours, the animal kingdom and the Kingdom of Souls.

165. Đây là những con số liên hệ nhiều nhất đến sự phát triển của ba giới—giới của chính chúng ta và những giới gần với chúng ta nhất, giới động vật và giới các linh hồn.

166. We are not speaking as much of the evolution of form as of consciousness. The three numbers suggest animal consciousness, human consciousness and soul consciousness.

166. Chúng ta không nói nhiều về sự tiến hoá của hình tướng bằng nói về tâm thức. Ba con số ấy gợi ra tâm thức động vật, tâm thức con người và tâm thức linh hồn.

167. As well, certain of the Creative Hierarchies are also brought into close cooperation via these numbers.

167. Đồng thời, một số Huyền Giai Sáng Tạo cũng được đưa vào sự hợp tác mật thiết qua các con số này.

a. The Fourth Creative Hierarchy of Human Monads

a. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư của các Chân thần nhân loại

b. The Fifth Creative Hierarchy of Solar Angels

b. Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm của các Thái dương Thiên Thần

c. The Third Creative Hierarchy of “Triple Flowers” Who are instrumental in relaying the Christ Consciousness to the developing human being.

c. Huyền Giai Sáng Tạo thứ ba của các “Hoa Tam phân”, những Đấng có vai trò truyền chuyển Tâm thức Christ đến con người đang phát triển.

168. We notice that the three numbers sum to twelve, which is a number of completion and the number of all heart centers

168. Chúng ta nhận thấy rằng ba con số này cộng lại thành mười hai, là con số của sự hoàn tất và là con số của mọi trung tâm tim

Numerology has hitherto been studied primarily, and rightly, from the substance aspect, but not so much from the standpoint of conscious energy.

Cho đến nay, số học chủ yếu đã được nghiên cứu, và đúng như vậy, từ phương diện chất liệu, nhưng không nhiều từ quan điểm của năng lượng có tâm thức.

169. We might say the same of astrology, for it is the personal astrology which has so much occupied the attention of those who might be interested.

169. Chúng ta cũng có thể nói như vậy về chiêm tinh học, vì chính chiêm tinh học cá nhân đã chiếm nhiều sự chú ý của những ai có thể quan tâm.

The Triad, for instance, is usually looked upon by our students as the triangle formed by the manasic-buddhic and atmic permanent atoms; the cube stands for the lower material man, and the five-pointed star has frequently a very material interpretation.

Chẳng hạn, Tam nguyên tinh thần thường được các đạo sinh của chúng ta xem là tam giác được tạo thành bởi các nguyên tử trường tồn manas, Bồ đề và atma; khối lập phương tượng trưng cho con người vật chất thấp; còn ngôi sao năm cánh thường có một cách giải thích rất vật chất.

170. The triangle, the cube and the five-pointed star also have correspondences in consciousness.

170. Tam giác, khối lập phương và ngôi sao năm cánh cũng có những tương ứng trong tâm thức.

171. The triangle represents liberated consciousness—liberated from the confines of the egoic nature on the higher mental plane. Essentially full triadal consciousness is liberated consciousness.

171. Tam giác tượng trưng cho tâm thức được giải thoát—được giải thoát khỏi những giới hạn của bản chất chân ngã trên Cõi thượng trí. Về căn bản, tâm thức tam nguyên tinh thần trọn vẹn là tâm thức được giải thoát.

172. The cube represents consciousness within the limitations of the three worlds of illusion.

172. Khối lập phương tượng trưng cho tâm thức ở trong những giới hạn của ba cõi thấp của ảo tưởng.

173. The five-pointed star represents transfigured soul consciousness.

173. Ngôi sao năm cánh tượng trưng cho tâm thức linh hồn đã được Biến hình.

All these angles of vision are necessary, and must precede the study of the subjective aspect, but they lay the emphasis upon the material rather than upon the subjective; the subject nevertheless should be studied psychologically.

Tất cả những góc độ tầm nhìn này đều cần thiết, và phải đi trước việc nghiên cứu phương diện chủ quan, nhưng chúng nhấn mạnh vào vật chất hơn là vào chủ quan; tuy nhiên chủthể vẫn nên được nghiên cứu theo tâm lý học.

174. As human beings develop they pass through various stages of consciousness represented by various numbers.

174. Khi con người phát triển, họ đi qua nhiều giai đoạn tâm thức khác nhau được biểu thị bằng những con số khác nhau.

175. Psychology has much to do with the state of consciousness in which a man finds himself and how to relate that consciousness to the environment in which he finds himself.

175. Tâm lý học liên hệ rất nhiều đến trạng thái tâm thức mà một người đang ở trong đó và cách liên hệ tâm thức ấy với môi trường mà y đang ở trong đó.

In this solar system, the above numbers are the most important from the angle of the evolution of consciousness.

Trong hệ mặt trời này, các con số trên là quan trọng nhất xét từ góc độ tiến hoá của tâm thức.

176. This is a solar system in which the soul aspect of the Solar Logos is emerging into prominence. The numbers three, four and five (central numbers) are associated with that emergence—the emergence of the “Middle Principle”.

176. Đây là một hệ mặt trời trong đó phương diện linh hồn của Thái dương Thượng đế đang nổi bật lên. Các số ba, bốn và năm (những số trung tâm) gắn liền với sự xuất hiện ấy—sự xuất hiện của “Nguyên Khí Trung Gian”.

[Page 696] In the earlier system, the numbers six and seven held the mystery hid.

[Page 696] Trong hệ trước, các số sáu và bảy che giấu huyền nhiệm.

177. The previous system (or systems) was involved with the development of the irrational part of the Solar Logos—the desire aspect and the physical activity aspect.

177. Hệ trước đó (hay các hệ trước đó) liên quan đến sự phát triển phần phi lý trí của Thái dương Thượng đế—phương diện dục vọng và phương diện hoạt động hồng trần.

178. We should not expect to see the mental aspect missing as it was a very mental and intelligent solar system. The number five can be conceived as important to that kind of evolution, but it would be five as applied to the lower concrete mind.

178. Chúng ta không nên mong đợi phương diện trí tuệ vắng mặt, vì đó là một hệ mặt trời rất trí tuệ và thông minh. Số năm có thể được xem là quan trọng đối với loại tiến hoá ấy, nhưng đó sẽ là số năm áp dụng cho hạ trí cụ thể.

179. In addition to stimulation from the cosmic physical plane, there must have been stimulation from the cosmic astral plane in that earlier solar system.

179. Ngoài sự kích thích từ cõi hồng trần vũ trụ, hẳn còn phải có sự kích thích từ cõi cảm dục vũ trụ trong hệ mặt trời trước đó.

180. We notice that the numbers progress: 7,6,5,4,3.

180. Chúng ta nhận thấy các con số tiến triển: 7,6,5,4,3.

In the next system, it will be two and one.

Trong hệ kế tiếp, sẽ là hai và một.

181. Thus, the sequence will be complete.

181. Như vậy, chuỗi này sẽ hoàn tất.

182. The suggestion is that the monadic and logoic planes will be strongly involved in the next solar system.

182. Hàm ý ở đây là các cõi chân thần và logoic sẽ dự phần mạnh mẽ trong hệ mặt trời kế tiếp.

This refers only to the psychical development.

Điều này chỉ nói đến sự phát triển tâm thức.

183. If the numbers refer to psychical development or the development of consciousness, we will have to relate these numbers to the seven principles, numbering from below.

183. Nếu các con số nói đến sự phát triển tâm thức hay sự phát triển của tâm thức, chúng ta sẽ phải liên hệ các con số này với bảy nguyên khí, đếm từ dưới lên.

184. There may or may not be a one-to-one correspondence of these numbers to the numbering of the planes.

184. Có thể có hoặc không có một sự tương ứng một-một giữa các con số này với cách đánh số các cõi.

Let me illustrate: The five-pointed star on the mental plane signifies (among other things) the evolution, by means of the five senses in the three worlds (which are also capable of a fivefold differentiation) of the fifth principle, the attainment of self-consciousness, and the development of the fifth spirilla.

Hãy để tôi minh hoạ: ngôi sao năm cánh trên cõi trí biểu thị (trong nhiều điều khác) sự tiến hoá, bằng phương tiện của năm giác quan trong ba cõi giới (vốn cũng có khả năng biến phân ngũ phân), của nguyên khí thứ năm, sự đạt đến ngã thức, và sự phát triển của loa tuyến thứ năm.

185. In this section of text and following we are discussing the difference of meaning to be assigned when comparing the five-pointed star upon the mental plane to the star of initiation as it flashes forth on the buddhic plane when the initiations of manas are begun.

185. Trong phần văn bản này và phần tiếp theo, chúng ta đang bàn đến sự khác biệt về ý nghĩa cần được gán khi so sánh ngôi sao năm cánh trên cõi trí với ngôi sao điểm đạo khi nó loé sáng trên cõi Bồ đề lúc các điểm đạo của manas được bắt đầu.

186. We may remember from earlier studies (cf. TCF 185-202) that each of the five senses were discussed in terms of their correspondences on five planes—physical, astral, mental, buddhic and atmic.

186. Chúng ta có thể nhớ từ những nghiên cứu trước đây (x. TCF 185-202) rằng mỗi một trong năm giác quan đã được bàn đến theo những tương ứng của chúng trên năm cõi—hồng trần, cảm dục, trí tuệ, Bồ đề và atma.

187. Let us tabulate that which the five-pointed star represent in relation to the mental plane.

187. Chúng ta hãy lập bảng những gì mà ngôi sao năm cánh biểu thị trong liên hệ với cõi trí.

a. The evolution of the fifth principle through the development of the five senses in the three worlds

a. Sự tiến hoá của nguyên khí thứ năm qua sự phát triển của năm giác quan trong ba cõi giới

b. The attainment of self-consciousness

b. Sự đạt đến ngã thức

c. The development of the fifth spirilla

c. Sự phát triển của loa tuyến thứ năm

188. We see that the same symbol means different things in relation to the same plane and naturally in relation to different planes.

188. Chúng ta thấy rằng cùng một biểu tượng mang những ý nghĩa khác nhau trong liên hệ với cùng một cõi và dĩ nhiên trong liên hệ với những cõi khác nhau.

On the buddhic plane, when flashing forth at initiation, this number signifies the full development of the fifth principle or quality, the completed cycle of the Ego upon the five Rays under the Mahachohan,

Trên cõi Bồ đề, khi loé sáng lúc điểm đạo, con số này biểu thị sự phát triển trọn vẹn của nguyên khí hay phẩm tính thứ năm, chu kỳ hoàn tất của Chân ngã trên năm Cung dưới Đức Mahachohan,

189. The star flashes forth at each of the first three initiations. The appearance of the star also occurs at later initiations but the initiate has different relationship to it than as a witness.

189. Ngôi sao loé sáng ở mỗi một trong ba lần điểm đạo đầu tiên. Sự xuất hiện của ngôi sao cũng xảy ra ở các lần điểm đạo sau, nhưng điểm đạo đồ có một tương quan khác với nó chứ không chỉ như một người chứng kiến.

190. The flashing forth here described definitely suggests the first initiation as, at that time, the cycle of development is complete with respect to the five brahmic rays (at least as they apply to the personality and its aspects). The Ego completes the cycle here described by working on the five brahmic personality rays. Rays one and two on the level of personality are not part of this completed cycle for one cannot have them as personality rays until one begins to tread the Path.

190. Sự loé sáng được mô tả ở đây rõ ràng gợi đến lần điểm đạo thứ nhất vì vào lúc đó, chu kỳ phát triển đã hoàn tất đối với năm cung brahmic (ít nhất là khi chúng áp dụng cho phàm ngã và các phương diện của nó). Chân ngã hoàn tất chu kỳ được mô tả ở đây bằng cách hoạt động trên năm cung phàm ngã brahmic. Cung một và cung hai ở cấp độ phàm ngã không thuộc chu kỳ hoàn tất này vì người ta không thể có chúng làm cung phàm ngã cho đến khi bắt đầu bước đi trên Con Đường.

191. From the first initiation onwards, the ray of the Bodhisattva is the focus. Approach is being made to the soul after the cycle of personality has been mostly fulfilled.

191. Kể từ lần điểm đạo thứ nhất trở đi, cung của Đức Bồ Tát là tiêu điểm. Sự tiếp cận đang được thực hiện đối với linh hồn sau khi chu kỳ phàm ngã đã được hoàn tất phần lớn.

192. We remember that the fifth principle has been referred to the mental unit and thus to the lower concrete mind.

192. Chúng ta nhớ rằng nguyên khí thứ năm đã được quy về đơn vị hạ trí và do đó về hạ trí cụ thể.

193. Yet it is problematic to think of the “full development of the fifth principle or quality” not including the fifth principle as it expresses on the higher mental plane. A “full development” defined in this way would suggest the third initiation.

193. Tuy nhiên, thật khó chấp nhận khi nghĩ rằng “sự phát triển trọn vẹn của nguyên khí hay phẩm tính thứ năm” lại không bao gồm nguyên khí thứ năm khi nó biểu lộ trên Cõi thượng trí. Một “sự phát triển trọn vẹn” được định nghĩa theo cách này sẽ gợi đến lần điểm đạo thứ ba.

and the assimilation of all that is to be learned upon them, and the attainment—not only of full self-consciousness, but also of the consciousness of the group wherein a man is found. It infers the full unfoldment of five of the egoic petals, leaving four to open before the final initiation.

sự đồng hoá tất cả những gì cần phải học trên các cung ấy, và sự đạt đến—không chỉ ngã thức trọn vẹn, mà còn cả tâm thức của nhóm mà trong đó một người được tìm thấy. Điều này hàm ý sự khai mở trọn vẹn của năm cánh hoa chân ngã, để lại bốn cánh sẽ mở ra trước lần điểm đạo cuối cùng.

194. We see how much is conveyed by the flashing forth of a symbol and how careful one must be in assigning interpretations.

194. Chúng ta thấy biết bao điều được chuyển tải qua sự loé sáng của một biểu tượng và người ta phải cẩn trọng biết bao khi gán các cách giải thích.

195. While we might expect that the five-pointed star would flash forth on the mental plane at the third initiation and that a flashing forth of the buddhic level would suggest the experience of the fourth initiation, a closer reading reveals that this is not the case.

195. Dù chúng ta có thể mong đợi rằng ngôi sao năm cánh sẽ loé sáng trên cõi trí ở lần điểm đạo thứ ba và rằng một sự loé sáng ở cấp độ Bồ đề sẽ gợi đến kinh nghiệm của lần điểm đạo thứ tư, nhưng đọc kỹ hơn cho thấy không phải như vậy.

196. The flashing forth of the star at initiation, it appears, always occurs in relation to the buddhic plane even at the first initiation.

196. Có vẻ như sự loé sáng của ngôi sao lúc điểm đạo luôn luôn xảy ra trong liên hệ với cõi Bồ đề ngay cả ở lần điểm đạo thứ nhất.

197. We cannot restrict to the fourth initiation alone the flashing forth of the star of initiation on the buddhic plane. If it were only at the fourth initiation that the star flashed forth upon the buddhic plane, it would not be possible that four petals of the egoic lotus would still remain to be unfolded when first the star flashed forth. In fact, all of them are unfolded by the time the third initiation is taken.

197. Chúng ta không thể giới hạn chỉ riêng lần điểm đạo thứ tư sự loé sáng của ngôi sao điểm đạo trên cõi Bồ đề. Nếu chỉ ở lần điểm đạo thứ tư mà ngôi sao loé sáng trên cõi Bồ đề, thì không thể nào bốn cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã vẫn còn phải khai mở khi ngôi sao lần đầu loé sáng. Thực ra, tất cả chúng đều đã được khai mở vào lúc lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận.

198. So lesser initiations will have to be included in relation to the flashing forth of the star of initiation on the buddhic plane.

198. Vì vậy, các điểm đạo thấp hơn cũng phải được bao gồm trong liên hệ với sự loé sáng của ngôi sao điểm đạo trên cõi Bồ đề.

199. What, then, is the meaning of the “final initiation” in this context? It would appear to be the third initiation, at which time nine of the petals of the egoic lotus are fully opened.

199. Vậy thì, “lần điểm đạo cuối cùng” trong ngữ cảnh này có nghĩa là gì? Có vẻ như đó là lần điểm đạo thứ ba, vào lúc đó chín cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã đều mở trọn vẹn.

200. DK seems to be suggesting that by the time the first initiation is taken five of the petals of the egoic lotus are in “full unfoldment”, even though work is being done upon the sacrifice tier of petals.

200. DK dường như đang gợi ý rằng vào lúc lần điểm đạo thứ nhất được tiếp nhận, năm cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã đã ở trong tình trạng “khai mở trọn vẹn”, dù công việc vẫn đang được thực hiện trên tầng cánh hoa hi sinh.

201. The unfoldment of the seventh petal at the first initiation may not be full unfoldment but simply unfoldment (to be become complete unfoldment by the time the third initiation is taken).

201. Sự khai mở của cánh hoa thứ bảy ở lần điểm đạo thứ nhất có thể không phải là sự khai mở trọn vẹn mà chỉ đơn giản là sự khai mở (để trở thành sự khai mở hoàn toàn vào lúc lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận).

202. Perhaps by the time of the second initiation, the sixth petal experiences full unfoldment, just as, apparently, at the first initiation, the fifth petal is fully unfolded.

202. Có lẽ vào lúc lần điểm đạo thứ hai, cánh hoa thứ sáu trải qua sự khai mở trọn vẹn, cũng như, dường như, ở lần điểm đạo thứ nhất, cánh hoa thứ năm đã được khai mở trọn vẹn.

203. By the time the third initiation is taken all the nine petals of the egoic lotus are fully unfolded. The final stages of unfoldment, therefore, must occur very rapidly, with the full unfoldment of the final tier occurring as the third initiation is being taken.

203. Vào lúc lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận, tất cả chín cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã đều được khai mở trọn vẹn. Vì vậy, các giai đoạn cuối của sự khai mở hẳn phải diễn ra rất nhanh, với sự khai mở trọn vẹn của tầng cuối cùng xảy ra khi lần điểm đạo thứ ba đang được tiếp nhận.

204. Let us tabulate for the sake of clarity. On the buddhic plane the flashing forth of the five-pointed star means the following:

204. Chúng ta hãy lập bảng cho rõ. Trên cõi Bồ đề, sự loé sáng của ngôi sao năm cánh có nghĩa như sau:

a. The full development of the fifth principle or quality

a. Sự phát triển trọn vẹn của nguyên khí hay phẩm tính thứ năm

b. The completed cycle of the Ego upon the five Rays under the Mahachohan

b. Chu kỳ hoàn tất của Chân ngã trên năm Cung dưới Đức Mahachohan

c. The assimilation of all that is to be learned upon those rays

c. Sự đồng hoá tất cả những gì cần phải học trên các cung ấy

d. The attainment of full self-consciousness

d. Sự đạt đến ngã thức trọn vẹn

e. The attainment of consciousness of the group in which the man is found. (Note, this is probably not full consciousness of the group.)

e. Sự đạt đến tâm thức của nhóm mà người ấy được tìm thấy trong đó. (Lưu ý, đây có lẽ không phải là tâm thức trọn vẹn của nhóm.)

205. Again, the attainment of full self-consciousness must be questioned. Can this be achieved at the first initiation? Even full self-consciousness as a personality? Yet it does not make sense to think of four more of the nine petals needing to be unfolded if the initiation at which the star flashes forth on the buddhic plane is the third initiation!

205. Một lần nữa, việc đạt đến ngã thức trọn vẹn cần phải được đặt thành vấn đề. Điều này có thể đạt được ở lần điểm đạo thứ nhất chăng? Ngay cả ngã thức trọn vẹn với tư cách một phàm ngã? Tuy nhiên, sẽ không hợp lý nếu nghĩ rằng còn bốn trong chín cánh hoa cần phải khai mở nữa nếu lần điểm đạo mà tại đó ngôi sao loé sáng trên cõi Bồ đề là lần điểm đạo thứ ba!

The five-pointed star at the initiations on the mental plane flashes out above the head of the initiate. 

Ngôi sao năm cánh tại các lần điểm đạo trên cõi trí loé sáng phía trên đầu của điểm đạo đồ. 

206. We are not told here whether the star of initiation appears on the mental plane or the buddhic plane. It is not necessarily a foregone conclusion that a star of initiation cannot flash forth on the buddhic plane when the initiate is taking the first three initiations on the mental plane.

206. Ở đây chúng ta không được cho biết liệu ngôi sao điểm đạo xuất hiện trên cõi trí hay cõi Bồ đề. Không nhất thiết là một kết luận hiển nhiên rằng ngôi sao điểm đạo không thể loé sáng trên cõi Bồ đề khi điểm đạo đồ đang tiếp nhận ba lần điểm đạo đầu tiên trên cõi trí.

207. Now let us think of the word “head”. If the first three initiations (and even the fourth, to a degree) are taken in the causal body, how can a “head” be involved. The causal body, per se, has no head.

207. Bây giờ hãy nghĩ đến từ “đầu”. Nếu ba lần điểm đạo đầu tiên (và ngay cả lần thứ tư, ở một mức độ nào đó) được tiếp nhận trong thể nguyên nhân, thì làm sao một “đầu” lại có thể liên quan? Chính thể nguyên nhân không có đầu.

208. We may be able to interpret the appearance of the initiate’s head in these circumstances, by imagining that the candidate stands before the Initiator in all his subtle vehicles—these vehicles being included within the periphery of the causal body of the initiate.

208. Chúng ta có thể giải thích được sự xuất hiện của đầu điểm đạo đồ trong những hoàn cảnh này bằng cách hình dung rằng ứng viên đứng trước Đấng Điểm đạo trong tất cả các hiện thể vi tế của y—những hiện thể này được bao gồm trong chu vi của thể nguyên nhân của điểm đạo đồ.

209. It seems that the Initiator, as He faces the candidate, must have access not only to the petals of the egoic lotus but to all the chakras of the subtle vehicles and that, the subtle correspondence to the head must be involved. This correspondence would necessarily be etheric.

209. Có vẻ như Đấng Điểm đạo, khi Ngài đối diện ứng viên, phải có khả năng tiếp cận không chỉ các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã mà còn tất cả các luân xa của các hiện thể vi tế, và rằng tương ứng vi tế với đầu phải có liên quan. Tương ứng này tất yếu sẽ là dĩ thái.

This concerns the first three initiations which are undergone in the causal vehicle.

Điều này liên quan đến ba lần điểm đạo đầu tiên được trải qua trong hiện thể nguyên nhân.

210. This makes sense. Since, however, the causal body is also involved at the fourth initiation (for its destruction is then precipitated) and still exists until the completion of the fourth initiation, it would seem that at least certain parts of that initiation are taken “in the causal vehicle”.

210. Điều này hợp lý. Tuy nhiên, vì thể nguyên nhân cũng có liên quan ở lần điểm đạo thứ tư (vì sự hủy diệt của nó khi ấy được làm ngưng tụ) và vẫn còn tồn tại cho đến khi lần điểm đạo thứ tư hoàn tất, nên có vẻ như ít nhất một số phần của lần điểm đạo ấy được tiếp nhận “trong hiện thể nguyên nhân”.

It has been said that the first two initiations take place upon the astral plane and this is correct, but has given rise to a misunderstanding.

Đã có lời nói rằng hai lần điểm đạo đầu tiên diễn ra trên cõi cảm dục và điều này là đúng, nhưng điều đó đã làm nảy sinh một sự hiểu lầm.

211. If the statement is correct (to a degree) we must discover exactly the manner in which it is correct.

211. Nếu phát biểu ấy là đúng (ở một mức độ nào đó), chúng ta phải khám phá chính xác cách thức mà nó đúng.

They are felt profoundly in connection with the astral and physical bodies and with the lower mental, and effect their control.

Chúng được cảm nhận sâu sắc trong liên hệ với thể cảm dục và thể xác cùng với hạ trí, và tạo ra sự kiểm soát đối với chúng.

212. The main effect of the first three initiations are felt, respectively, in the physical-etheric body, the astral body and the lower mental body. However, even the first initiation, we are told, has a profound impact upon the astral body.

212. Tác động chính của ba lần điểm đạo đầu tiên được cảm nhận lần lượt trong thể hồng trần-dĩ thái, thể cảm dục và thể hạ trí. Tuy nhiên, ngay cả lần điểm đạo thứ nhất, như chúng ta được cho biết, cũng có một tác động sâu sắc lên thể cảm dục.

The chief effect being felt in those bodies, the initiate may interpret them as having taken place on the planes concerned,

Vì tác động chủ yếu được cảm nhận trong những thể ấy, điểm đạo đồ có thể diễn giải rằng chúng đã xảy ra trên các cõi liên hệ,

213. And by this, DK would mean, only on one of the planes concerned:

213. Và bởi điều này, DK muốn nói, chỉ trên một trong những cõi liên hệ:

a. The first initiation only in the physical-etheric body (and, therefore, upon the systemic physical plane).

a. Lần điểm đạo thứ nhất chỉ trong thể hồng trần-dĩ thái (và do đó, trên cõi hồng trần của hệ).

b. The second initiation only in the astral body

b. Lần điểm đạo thứ hai chỉ trong thể cảm dục

c. The third initiation only in the lower mental body.

c. Lần điểm đạo thứ ba chỉ trong thể hạ trí.

for the vividness of the effect, and the stimulation works out largely in the astral body.

tính sống động của tác động, và sự kích thích phần lớn biểu lộ trong thể cảm dục.

214. Even though the first three initiation are, respectively, correlated with the physical-etheric body, the astral body and the lower mental body, the astral body is affected by the greatest “vividness of effect” when dealing with the first two initiations, especially.

214. Dù ba lần điểm đạo đầu tiên lần lượt tương ứng với thể hồng trần-dĩ thái, thể cảm dục và thể hạ trí, thể cảm dục vẫn bị ảnh hưởng bởi “tính sống động của tác động” mạnh nhất, đặc biệt khi xét đến hai lần điểm đạo đầu tiên.

215. As these initiations are given by the Christ Who is Neptune (“God of the Waters”—the astral waters) the effect of vividness upon the astral plane makes sense.

215. Vì các điểm đạo này được ban bởi Đức Christ, Đấng là Sao Hải Vương (“Thượng đế của Nước”—những dòng nước cảm dục), nên tác động sống động trên cõi cảm dục là điều hợp lý.

But it must ever be remembered that the major initiations are taken in the causal body or—dissociated from that body—on the buddhic plane.

Nhưng phải luôn luôn nhớ rằng các điểm đạo chính yếu được tiếp nhận trong thể nguyên nhân hoặc—khi tách rời khỏi thể ấy—trên cõi Bồ đề.

216. The five initiations with which we are most familiar are here called “major initiations”. This, however, is not always the case. Sometimes it is said that the major initiations begin only with the third.

216. Năm lần điểm đạo mà chúng ta quen thuộc nhất ở đây được gọi là những điểm đạo “chính yếu”. Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng vậy. Đôi khi người ta nói rằng các điểm đạo chính yếu chỉ bắt đầu từ lần thứ ba.

217. If the fourth and fifth initiations are here numbered as major initiations (which they are), it could be said that both of them are taken in a state of consciousness dissociated from the causal body. In the case of the fourth initiation, the causal body still exists. In the case of the fifth initiation, the causal body has been destroyed and so the dissociation from it is complete (unless some ‘debris’ still remaining from the destruction which occurred at the fourth prevents complete dissociation).

217. Nếu ở đây lần điểm đạo thứ tư và thứ năm được kể là những điểm đạo chính yếu (và đúng là như vậy), thì có thể nói rằng cả hai đều được tiếp nhận trong một trạng thái tâm thức tách rời khỏi thể nguyên nhân. Trong trường hợp lần điểm đạo thứ tư, thể nguyên nhân vẫn còn tồn tại. Trong trường hợp lần điểm đạo thứ năm, thể nguyên nhân đã bị hủy diệt và vì thế sự tách rời khỏi nó là hoàn toàn (trừ phi một số “mảnh vụn” còn lại từ sự hủy diệt xảy ra ở lần thứ tư ngăn cản sự tách rời hoàn toàn).body. In the case of the fourth initiation, the causal body still exists. In the case of the fifth initiation, the causal body has been destroyed and so the dissociation from it is complete (unless some ‘debris’ still remaining from the destruction which occurred at the fourth prevents complete dissociation).

At the final two initiations, which set a man free from the three worlds and enable him to function in the logoic body of vitality and to wield the force which animates that logoic [Page 697] vehicle, the initiate becomes the five-pointed star, and it descends upon him, merges in him, and he is seen at its very centre.

Ở hai lần điểm đạo cuối cùng, vốn giải thoát con người khỏi ba cõi giới và giúp y có thể hoạt động trong thể sinh lực logoic và vận dụng mãnh lực làm sinh động hiện thể logoic ấy, [Page 697] hiện thể, điểm đạo đồ trở thành ngôi sao năm cánh, và nó giáng xuống trên y, hòa nhập vào y, và y được thấy ngay tại trung tâm của nó.

218. The final two initiations are, in this context, the fourth and fifth initiations, because it is the taking of these initiations which set a man free from the dense physical body of the Solar Logos and allow the man to function upon the cosmic etheric planes.

218. Hai lần điểm đạo cuối cùng, trong ngữ cảnh này, là lần điểm đạo thứ tư và thứ năm, vì chính việc tiếp nhận các điểm đạo này giải thoát con người khỏi thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế và cho phép con người hoạt động trên các cõi dĩ thái vũ trụ.

219. At the fourth and fifth initiations the man can not only wield forces which affect the dense physical body of the Solar Logos (and the dense physical body of the Planetary Logos), but can wield forces which animate the logoic etheric body.

219. Ở lần điểm đạo thứ tư và thứ năm, con người không chỉ có thể vận dụng những mãnh lực tác động đến thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế (và thể xác đậm đặc của Đức Hành Tinh Thượng Đế), mà còn có thể vận dụng những mãnh lực làm sinh động thể dĩ thái logoic.

220. At these two initiations, the initiate has a different relation to the five-pointed star which he has seen at the first three initiations. At these latter initiations, the initiate becomes the five-pointed star. In this respect he becomes a consciously functioning aspect of the Planetary Logos.

220. Ở hai lần điểm đạo này, điểm đạo đồ có một tương quan khác với ngôi sao năm cánh mà y đã thấy ở ba lần điểm đạo đầu tiên. Ở các lần điểm đạo sau này, điểm đạo đồ trở thành ngôi sao năm cánh. Xét theo phương diện này, y trở thành một phương diện hoạt động có ý thức của Đức Hành Tinh Thượng Đế.

221. Let us tabulate the processes which relate the initiate to the fourth and fifth initiations:

221. Chúng ta hãy lập bảng các tiến trình liên hệ điểm đạo đồ với lần điểm đạo thứ tư và thứ năm:

a. The initiate becomes the five-pointed star

a. Điểm đạo đồ trở thành ngôi sao năm cánh

b. The five-pointed star descends upon the initiate

b. Ngôi sao năm cánh giáng xuống trên điểm đạo đồ

c. The five-pointed star merges in the initiate

c. Ngôi sao năm cánh hòa nhập vào điểm đạo đồ

d. The initiate is seen at the very center of the five-pointed star

d. Điểm đạo đồ được thấy ngay tại trung tâm của ngôi sao năm cánh

This descent is brought about through the action of the Initiator,

Sự giáng xuống này được thực hiện qua hành động của Đấng Điểm đạo,

222. In the cases of the fourth and fifth initiations we are dealing with Sanat Kumara.

222. Trong các trường hợp của lần điểm đạo thứ tư và thứ năm, chúng ta đang nói đến Đức Sanat Kumara.

wielding the Rod of Power, and puts a man in touch with the centre in the Body of the planetary Logos of which he is a part; this is consciously effected.

vận dụng Thần Trượng Điểm đạo, và đặt con người vào sự tiếp xúc với trung tâm trong Thể của Đức Hành Tinh Thượng Đế mà y là một phần của nó; điều này được thực hiện một cách có ý thức.

223. If it is the Monad of a man which forms a part of a specific center in the Planetary Logos, then at the fourth and fifth initiations a man is put in touch with his Monad, otherwise he could not be purpose en rapport with that center in the Planetary Logos of which he is a part.

223. Nếu chính chân thần của một người tạo thành một phần của một trung tâm đặc thù trong Đức Hành Tinh Thượng Đế, thì ở lần điểm đạo thứ tư và thứ năm, con người được đặt vào sự tiếp xúc với chân thần của mình, nếu không thì y không thể có sự tương thông về mục đích với trung tâm ấy trong Đức Hành Tinh Thượng Đế mà y là một phần của nó.

224. To be in quite intimate touch with the Monad at the fourth and fifth initiations is not unreasonable as such a touch is established even at the third degree.

224. Việc có sự tiếp xúc khá mật thiết với chân thần ở lần điểm đạo thứ tư và thứ năm không phải là điều vô lý, vì sự tiếp xúc như thế đã được thiết lập ngay ở cấp độ thứ ba.

225. The particular center in the Planetary Logos of which the initiate (as a Monad) forms a part may be a question of the Monadic ray.

225. Trung tâm đặc thù trong Đức Hành Tinh Thượng Đế mà điểm đạo đồ (với tư cách một chân thần) tạo thành một phần có thể là một vấn đề của cung chân thần.

226. It is clear that we have been speaking of the fourth and fifth initiations as DK undertakes to discuss the sixth and seventh in the next section of text.

226. Rõ ràng là chúng ta đã nói về lần điểm đạo thứ tư và thứ năm, vì DK bắt đầu bàn đến lần thứ sáu và thứ bảy trong phần văn bản kế tiếp.

The two initiations, called the sixth and seventh, take place on the atmic plane;

Hai lần điểm đạo, được gọi là thứ sáu và thứ bảy, diễn ra trên cõi atma;

227. Since, in this context, the sixth and seventh initiations are said to take place on the atmic plane, we may infer that the fourth and fifth initiations take place on the buddhic plane and all earlier initiations on the higher aspects of the mental plane.

227. Vì trong ngữ cảnh này, lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy được nói là diễn ra trên cõi atma, chúng ta có thể suy ra rằng lần điểm đạo thứ tư và thứ năm diễn ra trên cõi Bồ đề và mọi lần điểm đạo trước đó diễn ra trên các phương diện cao hơn của cõi trí.

228. However, the sixth and seventh initiations also relate to the sixth and seventh systemic planes (as is shown in other contexts).

228. Tuy nhiên, lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy cũng liên hệ với cõi thứ sáu và thứ bảy của hệ (như được cho thấy trong những ngữ cảnh khác).

the five-pointed star “blazes forth from within itself” as the esoteric phrase has it, and becomes the seven-pointed star; it descends upon the man and he enters into the Flame.

ngôi sao năm cánh “bừng cháy từ bên trong chính nó” như cụm từ thần bí đã nói, và trở thành ngôi sao bảy cánh; nó giáng xuống trên con người và y đi vào trong Ngọn Lửa.

229. The description of the processes occurring at the sixth and seventh initiations is extremely occult.

229. Mô tả về các tiến trình xảy ra ở lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy là cực kỳ huyền bí học.

230. Let us tabulate the processes occurring at these two exalted initiations:

230. Chúng ta hãy lập bảng các tiến trình xảy ra ở hai lần điểm đạo cao cả này:

a. The five-pointed star “blazes forth from within itself”. The star must have a center and that center must be the Monad. The Monad in relation to the five planes of which the atmic plane is the highest, could be seen as the Monad within a five-pointed star.

a. Ngôi sao năm cánh “bừng cháy từ bên trong chính nó”. Ngôi sao hẳn phải có một trung tâm và trung tâm ấy hẳn phải là chân thần. Chân thần, trong liên hệ với năm cõi mà cõi atma là cõi cao nhất, có thể được xem như chân thần bên trong một ngôi sao năm cánh.

b. The five-pointed star becomes the seven-pointed star. One would imagine that this would take place especially in relation to the seventh initiation.

b. Ngôi sao năm cánh trở thành ngôi sao bảy cánh. Người ta có thể hình dung rằng điều này diễn ra đặc biệt trong liên hệ với lần điểm đạo thứ bảy.

c. The seven-pointed star descends upon the initiate

c. Ngôi sao bảy cánh giáng xuống trên điểm đạo đồ

d. The initiate enters into the flame. What is the “flame”? Can we think of it as the essence of the Monad? As that, which at the seventh initiation, is liberated into the “Sea of Fire”?

d. Điểm đạo đồ đi vào trong ngọn lửa. “Ngọn lửa” là gì? Chúng ta có thể nghĩ về nó như tinh túy của chân thần chăng? Như điều đó, mà ở lần điểm đạo thứ bảy, được giải thoát vào “Biển Lửa”?

Initiation and the mystery of numbers primarily concern consciousness, and not fundamentally “ability to function on a plane,” nor the energy of matter, as might be gathered from so many occult books.

Điểm đạo và huyền nhiệm của các con số trước hết liên hệ đến tâm thức, chứ không căn bản liên hệ đến “khả năng hoạt động trên một cõi”, cũng không liên hệ đến năng lượng của vật chất, như người ta có thể rút ra từ rất nhiều sách huyền bí học.

231. DK differentiates consciousness from activity. In relation to activity He lists the following factors:

231. Chân sư DK phân biệt tâm thức với hoạt động. Liên hệ với hoạt động, Ngài liệt kê các yếu tố sau:

a. “Ability to function on a plane”

a. “Khả năng hoạt động trên một cõi”

b. The “energy of matter”

b. “năng lượng của vật chất”

They deal with the subjective life, life as part of the consciousness and self-realization of a planetary Logos, or Lord of a Ray, and not life in matter as we understand it.

Chúng bàn đến sự sống chủ quan, sự sống như một phần của tâm thức và sự tự chứng nghiệm của một Hành Tinh Thượng đế, hay Chúa Tể của một cung, chứ không phảisự sống trong vật chất như chúng ta thấu hiểu.

232. We are being given hints about the value of occult numerology and its relationship to consciousness.

232. Chúng ta đang được ban cho những gợi ý về giá trị của số học huyền bí và mối liên hệ của nó với tâm thức.

233. The consciousness and self-realization of a Planetary Logos concerns the arupa systemic planes.

233. Tâm thức và sự tự chứng nghiệm của một Hành Tinh Thượng đế liên quan đến các cõi vô sắc của hệ thống.

234. “Life in matter” is activity. Consciousness, per se, is not that.

234. “Sự sống trong vật chất” là hoạt động. Chính tâm thức, tự nó, không phải là điều đó.

A Heavenly Man functions in His pranic vehicle, and there His consciousness is to be found as far as we are concerned in this system; He works consciously through His centres.

Một Đấng Thiên Nhân hoạt động trong vận cụ prana của Ngài, và ở đó tâm thức của Ngài được tìm thấy, theo như chúng ta có liên hệ trong hệ thống này; Ngài hoạt động một cách hữu thức qua các trung tâm của Ngài.

235. Whereas DK has sometimes said of the human being that there is no etheric consciousness, He does not say this of a Planetary Logos.

235. Trong khi Chân sư DK đôi khi đã nói về con người rằng không có tâm thức dĩ thái, thì Ngài không nói điều này về một Hành Tinh Thượng đế.

We now come to one of the most abstruse and difficult of all the rules for initiates; yet at the same time it is one of the most practical in application and of the greatest usefulness. It concerns the etheric levels of activity. I would have you note that I did not say the etheric levels of consciousness, for there is no such thing as consciousness upon the etheric planes. The four planes which constitute the etheric levels of the physical plane are the lowest correspondence to the four planes whereon the Monad and the Spiritual Triad are active, and—as I have oft told you—upon those levels there is no such thing as consciousness as we understand it. (R&I 178)

Giờ đây chúng ta đi đến một trong những quy luật trừu tượng và khó hiểu nhất trong mọi quy luật dành cho các điểm đạo đồ; tuy nhiên đồng thời đây cũng là một trong những quy luật thực tiễn nhất trong việc áp dụng và hữu ích nhất. Nó liên quan đến các cấp độ hoạt động dĩ thái. Tôi muốn các bạn lưu ý rằng tôi đã không nói các cấp độ tâm thức dĩ thái, vì không có cái gọi là tâm thức trên các cõi dĩ thái. Bốn cõi cấu thành các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần là sự tương ứng thấp nhất với bốn cõi mà trên đó chân thần và Tam Nguyên Tinh Thần hoạt động, và—như tôi đã thường nói với các bạn—trên những cấp độ ấy không có cái gọi là tâm thức như chúng ta thấu hiểu. (R&I 178)

236. It can be questioned whether for a Planetary Logos the first ether begins on the systemic buddhic plane or on the higher mental plane. For the Solar Logos, we know the first cosmic ether begins on the buddhic plane.

236. Có thể đặt câu hỏi rằng đối với một Hành Tinh Thượng đế, dĩ thái thứ nhất bắt đầu trên cõi Bồ đề của hệ thống hay trên cõi thượng trí. Đối với Thái dương Thượng đế, chúng ta biết dĩ thái vũ trụ thứ nhất bắt đầu trên cõi Bồ đề.

237. We note the phrase “as far as we are concerned”. This suggests that the consciousness of the Planetary Logos is also to be found on other levels which do not concern us.

237. Chúng ta lưu ý cụm từ “theo như chúng ta có liên hệ”. Điều này gợi ý rằng tâm thức của Hành Tinh Thượng đế cũng được tìm thấy trên những cấp độ khác không liên quan đến chúng ta.

To sum up: There is a stage in the evolution of consciousness where the three, the four and the five blend and merge perfectly.

Tóm lại: Có một giai đoạn trong sự tiến hoá của tâm thức mà ở đó ba, bốn và năm hòa trộn và hợp nhất một cách hoàn hảo.

238. We could say that this “stage” is the stage of initiation.

238. Chúng ta có thể nói rằng “giai đoạn” này là giai đoạn điểm đạo.

239. At the third degree we have this perfect blending. By the time we reach the fourth degree, there is no longer the number three (in the lower sense). Consciousness within the three lower worlds is no longer necessary.

239. Ở cấp độ thứ ba chúng ta có sự hòa trộn hoàn hảo này. Đến khi đạt cấp độ thứ tư, số ba không còn nữa (theo nghĩa thấp). Tâm thức trong ba cõi thấp không còn cần thiết nữa.

240. However, if the three represents the atmic plane, the three becomes increasingly prominent.

240. Tuy nhiên, nếu số ba tượng trưng cho cõi atma, thì số ba lại càng ngày càng nổi bật.

241. There is a way to view the three, four and five in such a way that the mental plane and the fifth principle are the lower factors—numerologically.

241. Có một cách để xem số ba, bốn và năm sao cho cõi trí và nguyên khí thứ năm là các yếu tố thấp hơn—xét về mặt số học huyền bí.

Confusion on this point arises from two causes which are the point of individual achievement of the student. We interpret and colour statements according to the state of our own inner consciousness.

Sự lẫn lộn về điểm này phát sinh từ hai nguyên nhân, vốn là điểm thành tựu cá nhân của đạo sinh. Chúng ta diễn giải và tô màu các phát biểu tùy theo trạng thái tâm thức bên trong của chính mình.

242. This coloring is inevitable. It is very difficult to understand the limitations of the stage of consciousness in which one is immersed.

242. Sự tô màu này là điều không thể tránh khỏi. Rất khó để hiểu các giới hạn của giai đoạn tâm thức mà người ta đang chìm trong đó.

H. P. B. hints at this32 when dealing with the principles;

H. P. B. gợi ý điều này32 khi bàn đến các nguyên khí;

243. We have already seen that according to the stage of evolution, so will be the way of enumerating the principles of man.

243. Chúng ta đã thấy rằng tùy theo giai đoạn tiến hoá, cách liệt kê các nguyên khí của con người cũng sẽ như vậy.

also the interpretation of these figures varies according to the key employed.

đồng thời sự diễn giải các con số này cũng thay đổi tùy theo chìa khóa được sử dụng.

244. We have a number of “keys” to the Secret Doctrine. Within each key, numbers will have different meanings.

244. Chúng ta có một số “chìa khóa” để vào Giáo Lý Bí Nhiệm. Trong mỗi chìa khóa, các con số sẽ có những ý nghĩa khác nhau.

245. We have to be able to manipulate sequences so that either end of a limited sequence may represent the beginning or the conclusion.

245. Chúng ta phải có khả năng vận dụng các chuỗi sao cho một trong hai đầu của một chuỗi hữu hạn đều có thể tượng trưng cho sự khởi đầu hoặc sự kết thúc.

246. Number blinds are some of the principal blinds used in occultism. The patterns to which the numbers may refer must be understood if the numbers are to be used meaningfully.

246. Những màn che bằng số là một trong những màn che chính được dùng trong huyền bí học. Các mô hình mà những con số có thể quy chiếu đến phải được thấu hiểu nếu các con số được dùng một cách có ý nghĩa.

The fifth or spiritual kingdom is entered when the units of the fourth kingdom have succeeded in vitalizing the fifth spirilla in all the atoms of the threefold lower man;

Giới thứ năm hay giới tinh thần được đi vào khi các đơn vị của giới thứ tư đã thành công trong việc tiếp sinh lực cho loa tuyến thứ năm trong mọi nguyên tử của phàm ngã tam phân;

247. This is a most important statement. The threefold lower man consists of the physical-etheric body, the astral body and the lower mental body.

247. Đây là một phát biểu hết sức quan trọng. Phàm ngã tam phân gồm thể xác-dĩ thái, thể cảm dục và thể hạ trí.

248. We can interpret the statement:

248. Chúng ta có thể diễn giải phát biểu này:

a. In relation to the permanent atoms of the atomic triangle

a. Liên hệ với các nguyên tử trường tồn của tam giác nguyên tử

b. In relation to all the atoms of the threefold lower man

b. Liên hệ với mọi nguyên tử của phàm ngã tam phân

249. Looking at the first interpretation, we may say that in connection with this lower man, the sources of vehicular generation are the physical permanent atom, the astral permanent atom and the mental unit—the so-called “atomic triangle”.

249. Xét theo cách diễn giải thứ nhất, chúng ta có thể nói rằng liên hệ với phàm ngã thấp này, các nguồn phát sinh vận cụ là nguyên tử trường tồn hồng trần, nguyên tử trường tồn cảm dục và đơn vị hạ trí—cái gọi là “tam giác nguyên tử”.

250. Within this triangle, there are only two full permanent atoms with seven spirillae.

250. Trong tam giác này, chỉ có hai nguyên tử trường tồn trọn vẹn với bảy loa tuyến.

251. So in order to enter the Kingdom of God, the fifth spirillae of the physical permanent atom and the astral permanent atom must be vitalized, but there is no fifth spirilla in the mental unit. By the time a man is a full third degree initiate, the all spirillae of the mental unit are completely vitalized but this sums to only four.

251. Vì vậy để đi vào Thiên Giới, loa tuyến thứ năm của nguyên tử trường tồn hồng trần và nguyên tử trường tồn cảm dục phải được tiếp sinh lực, nhưng không có loa tuyến thứ năm trong đơn vị hạ trí. Đến khi một người là điểm đạo đồ trọn vẹn cấp ba, thì mọi loa tuyến của đơn vị hạ trí đều được tiếp sinh lực hoàn toàn nhưng tổng cộng chỉ là bốn.

252. We might question what degree of activation there is for the third and lowest spirilla of the actual manasic permanent atom—for it has only three spirillae. It would seem that in order to enter this kingdom some activation of the manasic permanent atom would have to occur. The activation of the third spirilla of the manasic permanent atom would be like a fifth mental spirilla, if the four spirillae of the mental unit were counted.

252. Chúng ta có thể đặt câu hỏi mức độ hoạt hóa nào có đối với loa tuyến thứ ba và thấp nhất của nguyên tử trường tồn manas thực sự—vì nó chỉ có ba loa tuyến. Có vẻ như để đi vào giới này, một sự hoạt hóa nào đó của nguyên tử trường tồn manas sẽ phải xảy ra. Sự hoạt hóa loa tuyến thứ ba của nguyên tử trường tồn manas sẽ giống như một loa tuyến trí tuệ thứ năm, nếu bốn loa tuyến của đơn vị hạ trí được tính đến.

253. From another perspective, however, we may not be talking of permanent atoms particularly but of all the atoms in the vehicles of the threefold lower man. Atoms on the lower mental plane, then, may be exempt from the structural deficiencies of the mental unit and may, indeed, have seven spirillae.

253. Tuy nhiên, từ một góc nhìn khác, có thể chúng ta không đặc biệt nói về các nguyên tử trường tồn mà nói về mọi nguyên tử trong các vận cụ của phàm ngã tam phân. Khi đó, các nguyên tử trên cõi hạ trí có thể được miễn trừ khỏi những thiếu hụt cấu trúc của đơn vị hạ trí và quả thực có thể có bảy loa tuyến.

when they [Page 698] have unfolded three of the egoic petals and are in process of unfolding the fourth and fifth and when they are becoming conscious of the pranic force of the Heavenly Man.

khi họ [Page 698] đã khai mở ba cánh hoa chân ngã và đang trong tiến trình khai mở cánh hoa thứ tư và thứ năm và khi họ đang trở nên có ý thức về mãnh lực prana của Đấng Thiên Nhân.

254. We have some very important information given here and it must be linked up with the information given earlier in the text when studying more closely the petals of the egoic lotus.

254. Ở đây chúng ta được cung cấp một số thông tin rất quan trọng và nó phải được liên kết với thông tin đã được đưa ra trước đó trong bản văn khi nghiên cứu kỹ hơn các cánh hoa của hoa sen chân ngã.

255. Let us include again the following stated earlier in the text:

255. Chúng ta hãy lại bao gồm đoạn sau đã được nêu trước đó trong bản văn:

On the buddhic plane, when flashing forth at initiation, this number signifies the full development of the fifth principle or quality, the completed cycle of the Ego upon the five Rays under the Mahachohan, and the assimilation of all that is to be learned upon them, and the attainment—not only of full self-consciousness, but also of the consciousness of the group wherein a man is found. It infers the full unfoldment of five of the egoic petals, leaving four to open before the final initiation. (TCF 696)

Trên cõi Bồ đề, khi bừng lóe ra lúc điểm đạo, con số này biểu thị sự phát triển trọn vẹn của nguyên khí hay phẩm tính thứ năm, chu kỳ hoàn tất của Chân ngã trên năm cung dưới quyền Đức Mahachohan, và sự đồng hóa tất cả những gì phải học trên các cung ấy, cùng sự đạt được—không chỉ ngã thức trọn vẹn, mà còn cả tâm thức của nhóm mà một người được tìm thấy trong đó. Nó hàm ý sự khai mở trọn vẹn của năm cánh hoa chân ngã, để lại bốn cánh sẽ mở ra trước lần điểm đạo cuối cùng. (TCF 696)

256. For a reminder, we are speaking of entering the Kingdom of God, which is usually (but not always) correlated with taking the first initiation. The requirements are:

256. Để nhắc lại, chúng ta đang nói về việc đi vào Thiên Giới, điều thường (nhưng không phải luôn luôn) tương quan với việc nhận lần điểm đạo thứ nhất. Các yêu cầu là:

a. The fifth spirilla will be awakening in all atoms of the lower threefold man

a. Loa tuyến thứ năm sẽ thức tỉnh trong mọi nguyên tử của phàm ngã tam phân thấp

b. The fourth and fifth petal will be unfolding. In the reference immediately above we read of the “full unfoldment of five of the egoic petals”.

b. Cánh hoa thứ tư và thứ năm sẽ khai mở. Trong đoạn dẫn ngay phía trên chúng ta đọc thấy “sự khai mở trọn vẹn của năm cánh hoa chân ngã”.

c. The disciple will become aware of the pranic forces of the Heavenly Man (coming presumably from the cosmic ethers)

c. Đệ tử sẽ trở nên nhận biết các mãnh lực prana của Đấng Thiên Nhân (có lẽ đến từ các dĩ thái vũ trụ)

d. The disciple will be completed a cycle of the Ego concerned with the rays of Brahma and the personality

d. Đệ tử sẽ hoàn tất một chu kỳ của Chân ngã liên quan đến các cung của Brahma và phàm ngã

e. The disciple will be achieving full self-consciousness

e. Đệ tử sẽ đạt được ngã thức trọn vẹn

f. The disciple will be attaining consciousness of his group

f. Đệ tử sẽ đạt được tâm thức về nhóm của mình

257. We must bear in mind that even as the fifth petal is fully unfolding, work is being done within the sacrifice tier and that that full unfolding of petal five is accompanied by the application of the Rod within petal seven and its unfoldment if not full unfoldment.

257. Chúng ta phải ghi nhớ rằng ngay cả khi cánh hoa thứ năm đang khai mở trọn vẹn, công việc vẫn đang được thực hiện trong tầng hi sinh và rằng sự khai mở trọn vẹn cánh hoa thứ năm ấy đi kèm với việc áp dụng Thần Trượng trong cánh hoa thứ bảy và sự khai mở của nó nếu không phải là sự khai mở trọn vẹn.

258. We are discussing the unfoldment of the petals of the egoic lotus in relation to the stages of man’s evolution. We must be careful of the meaning of “unfolding” and “unfoldment”. By these words several stages in the general process of petal-opening can be indicated.

258. Chúng ta đang bàn về sự khai mở các cánh hoa của hoa sen chân ngã liên hệ với các giai đoạn tiến hoá của con người. Chúng ta phải cẩn thận với ý nghĩa của “đang khai mở” và “sự khai mở”. Bằng những từ này, một số giai đoạn trong tiến trình tổng quát của việc mở cánh hoa có thể được chỉ ra.

259. Generally speaking, the Kingdom of God is entered at the first initiation. By this time, the entire first tier of petals are unfolded and are related to each other in a new manner involving the entire tier.

259. Nói chung, Thiên Giới được đi vào ở lần điểm đạo thứ nhất. Đến lúc này, toàn bộ tầng cánh hoa thứ nhất đã khai mở và liên hệ với nhau theo một cách mới bao gồm toàn bộ tầng ấy.

260. It is possible that the Kingdom of God is opening to the one who has not yet taken the first initiation, for the initiate is always initiate before he is initiated, but entry into the Kingdom is generally correlated with the taking of the Birth of the Christ in the Heart. We must ponder this, for one must, in a way, enter the Kingdom of God as a Self-created initiate before that status is confirmed by the initiator. In this respect the fifth petal may unfold indicating achievement of the necessary status and work may be done within the seventh petal before the ‘Rod of Confirmation’ is applied.

260. Điều có thể là Thiên Giới đang mở ra cho người chưa nhận lần điểm đạo thứ nhất, vì điểm đạo đồ luôn là điểm đạo đồ trước khi được điểm đạo, nhưng việc đi vào Thiên Giới nói chung tương quan với việc tiếp nhận Sự Giáng Sinh của Đức Christ trong Tim. Chúng ta phải suy ngẫm điều này, vì theo một nghĩa nào đó, người ta phải đi vào Thiên Giới như một điểm đạo đồ tự tạo trước khi địa vị ấy được Đấng Điểm đạo xác nhận. Về phương diện này, cánh hoa thứ năm có thể khai mở, biểu thị việc đạt được địa vị cần thiết, và công việc có thể được thực hiện trong cánh hoa thứ bảy trước khi ‘Thần Trượng Xác Nhận’ được áp dụng.

261. The same can be said of the entire second tier when the second initiation is taken—the petals within it are related to each other in a new way which concerns the entire tier of petals as a tier.

261. Điều tương tự có thể được nói về toàn bộ tầng thứ hai khi lần điểm đạo thứ hai được nhận—các cánh hoa trong đó liên hệ với nhau theo một cách mới liên quan đến toàn bộ tầng cánh hoa như một tầng.

262. While later unfoldments are taking place in the second tier, the first initiation has been taken and some degree of petal unfoldment in the third or sacrifice tier has occurred in response to the application of the Rod.

262. Trong khi những sự khai mở về sau đang diễn ra trong tầng thứ hai, lần điểm đạo thứ nhất đã được nhận và một mức độ khai mở cánh hoa nào đó trong tầng thứ ba hay tầng hi sinh đã xảy ra để đáp ứng với việc áp dụng Thần Trượng.

263. It is important to realize that man is always working ahead of the unfoldment of the petals. The human being vitalizes and organizes the petals before unfoldment can occur and this is his chief labor. Unfoldment is not his labor. To realize this and also that the initiate is initiate before he is initiated will have deep implications when regarding the timing of petal unfoldment.

263. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng con người luôn luôn đi trước sự khai mở của các cánh hoa. Con người tiếp sinh lực và tổ chức các cánh hoa trước khi sự khai mở có thể xảy ra và đó là lao động chính của y. Sự khai mở không phải là lao động của y. Nhận ra điều này, và cả việc điểm đạo đồ là điểm đạo đồ trước khi được điểm đạo, sẽ có những hàm ý sâu xa khi xét đến thời điểm khai mở cánh hoa.

264. Therefore it is very possible that the first initiation can be taken, signifying work going on in the third tier and also the application of the Rod to that tier (enabling the seventh petal, for instance, to begin to unfold) while in the second tier the fourth and fifth petal are achieving full unfoldment.

264. Do đó rất có thể lần điểm đạo thứ nhất có thể được nhận, biểu thị công việc đang diễn ra trong tầng thứ ba và cả việc áp dụng Thần Trượng vào tầng ấy (chẳng hạn cho phép cánh hoa thứ bảy bắt đầu khai mở) trong khi ở tầng thứ hai cánh hoa thứ tư và thứ năm đang đạt đến sự khai mở trọn vẹn.

265. Unless there is full unfoldment of the fifth petal, it does not seem reasonable that the first initiation can be taken. While full unfoldment of the fifth petal occurs, as least some unfoldment of seventh petal can be occurring through the application of the Rod. As for the sixth petal, it will be, generally, more unfolded that the seventh petal but less so than the fifth.

265. Trừ phi có sự khai mở trọn vẹn của cánh hoa thứ năm, dường như không hợp lý khi lần điểm đạo thứ nhất có thể được nhận. Trong khi sự khai mở trọn vẹn của cánh hoa thứ năm xảy ra, ít nhất một phần sự khai mở của cánh hoa thứ bảy có thể đang diễn ra qua việc áp dụng Thần Trượng. Còn đối với cánh hoa thứ sáu, nhìn chung nó sẽ khai mở nhiều hơn cánh hoa thứ bảy nhưng ít hơn cánh hoa thứ năm.

266. We may infer that the full unfoldment of the fifth petal is to be associated with the at least partial unfoldment of the seventh petal through the application of the Rod at the first initiation. As well, the full unfoldment of the sixth petal would be associated with the at least partial unfoldment of the eighth petal through the application of the Rod at the second initiation.

266. Chúng ta có thể suy ra rằng sự khai mở trọn vẹn của cánh hoa thứ năm phải được gắn liền với sự khai mở ít nhất một phần của cánh hoa thứ bảy qua việc áp dụng Thần Trượng ở lần điểm đạo thứ nhất. Đồng thời, sự khai mở trọn vẹn của cánh hoa thứ sáu sẽ gắn liền với sự khai mở ít nhất một phần của cánh hoa thứ tám qua việc áp dụng Thần Trượng ở lần điểm đạo thứ hai.

267. These things are probably very difficult to describe in words unless a kind of ‘time-lapse’ photographic process of the unfolding lotus can be seen in action.

267. Những điều này có lẽ rất khó diễn tả bằng lời trừ phi có thể thấy một loại tiến trình chụp ảnh ‘time-lapse’ của hoa sen đang khai mở trong hoạt động.

268. As the fourth and fifth petal of the second tier are unfolding, man is becoming aware of the “pranic force of the Heavenly Man”. This force is coming either from the higher mental plane or the buddhic plane or both. The pranic force of the Solar Logos comes definitely and only from the cosmic ethers, of which the first is the buddhic plane.

268. Khi cánh hoa thứ tư và thứ năm của tầng thứ hai đang khai mở, con người đang trở nên nhận biết “mãnh lực prana của Đấng Thiên Nhân”. Mãnh lực này đến hoặc từ cõi thượng trí hoặc từ cõi Bồ đề hoặc từ cả hai. Mãnh lực prana của Thái dương Thượng đế chắc chắn và chỉ đến từ các dĩ thái vũ trụ, mà dĩ thái thứ nhất là cõi Bồ đề.

269. As the fourth and fifth petals are unfolding, and especially as the fifth is unfolding, the influence of the soul on the higher mental plane is making itself felt in the consciousness and energy apparatus of the human being.

269. Khi cánh hoa thứ tư và thứ năm đang khai mở, và đặc biệt khi cánh hoa thứ năm đang khai mở, ảnh hưởng của linh hồn trên cõi thượng trí đang làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận trong tâm thức và bộ máy năng lượng của con người.

270. This is as it should be, for an orientation towards the soul is possible at the fifth petal, and the ability to become at least dimly aware of the higher aspect of the pairs of opposites is mentioned in relation to the fourth petal.

270. Điều này đúng như phải vậy, vì một sự định hướng về phía linh hồn là điều có thể ở cánh hoa thứ năm, và khả năng trở nên ít nhất mơ hồ nhận biết phương diện cao hơn của các cặp đối đãi được nhắc đến liên hệ với cánh hoa thứ tư.

Leave a Comment

Scroll to Top