Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF
TCF 823-825: S7S7 Part II
|
Part II |
Phần II |
|
19 June – 3 Jul 2008 |
19 tháng 6 – 3 tháng 7 năm 2008 |
|
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình giải được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện) |
|
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the analysis. |
Có đề nghị rằng phần Bình Giải này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần phân tích. |
|
III. The inner “sacrificial” triad: |
III. Bộ ba “hi sinh” bên trong: |
|
1. This is the triad which specifically concerns the initiation process. |
1. Đây là bộ ba đặc biệt liên quan đến tiến trình điểm đạo. |
|
2. There is no initiation without the Will-to-Sacrifice and there is no Will-to-Sacrifice unless soul love is establishing itself as influential within the consciousness. |
2. Không có điểm đạo nếu không có Ý Chí-Từ Bỏ, và không có Ý Chí-Từ Bỏ nếu bác ái của linh hồn không đang thiết lập chính mình như một ảnh hưởng trong tâm thức. |
|
a. Petal 1…The Will to sacrifice through knowledge on the mental plane, and thus intelligently to dominate the entire threefold lower man. |
a. Cánh hoa 1…Ý chí hi sinh thông qua tri thức trên cõi trí, và do đó một cách trí tuệ để chi phối toàn bộ phàm nhân tam phân. |
|
3. The descriptions of the meaning of the petals become increasingly complex as we move into the third tier. |
3. Các mô tả về ý nghĩa của các cánh hoa trở nên ngày càng phức tạp khi chúng ta tiến vào tầng thứ ba. |
|
4. Throughout the expression of the third tier the factor of sacrifice is to be found. |
4. Trong suốt sự biểu lộ của tầng thứ ba, yếu tố hi sinh luôn hiện diện. |
|
5. In the first of the sacrifice petals the kind of sacrifice to be made requires knowledge, and it is not only concrete knowledge but the kind which arises through soul culture. |
5. Trong cánh hoa hi sinh thứ nhất, loại hi sinh phải được thực hiện đòi hỏi tri thức, và đó không chỉ là tri thức cụ thể mà còn là loại phát sinh qua sự tu dưỡng linh hồn. |
|
6. The domination of the threefold lower man is not completed with the completion of the major focus upon the first of the sacrifice petals. Not until the final sacrifice petal is opened is this threefold domination of the vehicles of the lower man complete, but, we must remember that the seventh petal may not be fully opened until the very last sacrifice petal is opened, so, indeed, the domination of the entire lower man through sacrificial knowledge may proceed in relation to the general ‘program’ controlling seventh petal processes. |
6. Sự chi phối phàm nhân tam phân không hoàn tất cùng với việc hoàn tất trọng tâm chính nơi cánh hoa hi sinh thứ nhất. Chỉ khi cánh hoa hi sinh cuối cùng được mở ra thì sự chi phối tam phân này đối với các vận cụ của phàm nhân mới hoàn tất, nhưng chúng ta phải nhớ rằng cánh hoa thứ bảy có thể chưa được hoàn toàn mở ra cho đến khi cánh hoa hi sinh cuối cùng được mở ra, vì vậy quả thật sự chi phối toàn bộ phàm nhân thông qua tri thức hi sinh có thể tiến hành trong mối liên hệ với “chương trình” tổng quát kiểm soát các tiến trình của cánh hoa thứ bảy. |
|
7. We note that the entire lower man (etheric-physical, emotional and mental) must be dominated intelligently. Also, that domination will not occur unless the spirit of sacrifice is active, because that which must be dominated must be sacrificed to that which is to dominate. |
7. Chúng ta lưu ý rằng toàn bộ phàm nhân (dĩ thái-hồng trần, cảm xúc và trí tuệ) phải được chi phối một cách trí tuệ. Ngoài ra, sự chi phối ấy sẽ không xảy ra nếu tinh thần hi sinh không hoạt động, bởi vì điều phải bị chi phối phải được hi sinh cho điều sẽ chi phối nó. |
|
Colours: Yellow and the four colours, orange, green, violet and rose. |
Màu sắc: Vàng và bốn màu, cam, lục, tím và hồng. |
|
8. The presence of these colors above suggests the following: |
8. Sự hiện diện của các màu sắc này ở trên gợi ý điều sau đây: |
|
a. Yellow is particularly the color of sacrifice and is the color which appears in all three of the sacrifice petals, having appeared twice before—once in each of the lower tiers, in the third petal of each. |
a. Màu vàng đặc biệt là màu của hi sinh và là màu xuất hiện trong cả ba cánh hoa hi sinh, đã xuất hiện hai lần trước đó—một lần trong mỗi tầng thấp hơn, ở cánh hoa thứ ba của mỗi tầng. |
|
b. Orange represents the increasing influence of the Solar Angel and the infusion of the concrete mind by the light of the soul and, following, increasingly by the antahkarana. |
b. Màu cam biểu thị ảnh hưởng ngày càng tăng của Thái dương Thiên Thần và sự thấm nhuần của trí cụ thể bởi ánh sáng của linh hồn và tiếp theo đó, ngày càng nhiều bởi antahkarana. |
|
c. Green correlates with the third ray and abstract mind which characterizes the function of this first the sacrifice petals. All the energies of the human energy system must be intelligently coordinated if the inner man is to control and eventually dominate them. |
c. Màu lục tương ứng với cung ba và trí trừu tượng, vốn đặc trưng cho chức năng của cánh hoa hi sinh thứ nhất này. Mọi năng lượng của hệ thống năng lượng con người phải được phối hợp một cách trí tuệ nếu con người nội tại muốn kiểm soát và cuối cùng chi phối chúng. |
|
d. Immediately before and at the time of the first initiation, the third ray (the color of which is green) characteristically rules the personality of the candidate for initiation. |
d. Ngay trước và vào thời điểm lần điểm đạo thứ nhất, cung ba (màu của nó là lục) đặc trưng cai quản phàm ngã của ứng viên điểm đạo. |
|
e. Violet suggests a higher expression of the seventh ray, helping to bring the personality under rule and order. The ‘de-mayafication’ and spiritually-responsive coordination of the etheric body is the focus of the first initiation. The seventh ray generically rules the etheric body and the color of the seventh ray is violet. Devas of violet hue characteristically rule the four systemic ethers. |
e. Màu tím gợi ý một biểu hiện cao hơn của cung bảy, giúp đưa phàm ngã vào dưới quy luật và trật tự. Sự “khử-ảo lực” và sự phối hợp đáp ứng tinh thần của thể dĩ thái là trọng tâm của lần điểm đạo thứ nhất. Cung bảy nói chung cai quản thể dĩ thái và màu của cung bảy là tím. Các thiên thần mang sắc tím đặc trưng cai quản bốn dĩ thái hệ thống. |
|
f. There is a close connection between the abstract mind (in the triad) and the etheric nature. In this method of examining correspondence, the buddhic plane would be reflected in the astral body and the atmic plane in the lower mind. |
f. Có một mối liên hệ chặt chẽ giữa trí trừu tượng (trong tam nguyên tinh thần) và bản chất dĩ thái. Trong phương pháp khảo sát định luật tương ứng này, cõi Bồ đề sẽ được phản chiếu trong thể cảm dục và cõi atma trong hạ trí. |
|
g. The rose of aspiration and purified emotion continues to express as spiritual aspiration becomes intelligently directed and the urge to transcend entrapment by the form intensifies. |
g. Màu hồng của khát vọng và cảm xúc được thanh luyện tiếp tục biểu lộ khi khát vọng tinh thần trở nên được định hướng một cách trí tuệ và sự thôi thúc vượt qua sự mắc kẹt bởi hình tướng tăng cường. |
|
b. Petal 2…The will to sacrifice through love on the mental plane, and thus to serve. |
b. Cánh hoa 2…Ý chí hi sinh thông qua bác ái trên cõi trí, và do đó để phụng sự. |
|
9. For the kind of sacrifice necessitated at the seventh petal, knowledge was required. |
9. Đối với loại hi sinh cần thiết nơi cánh hoa thứ bảy, tri thức là điều được đòi hỏi. |
|
10. Now the Will-to-Sacrifice is supported by the presence of love. |
10. Giờ đây Ý Chí-Từ Bỏ được nâng đỡ bởi sự hiện diện của bác ái. |
|
11. There is no real service without love, because love is the generic quality of the soul and service is the spontaneous radiation of soul energy. |
11. Không có phụng sự thực sự nếu không có bác ái, bởi vì bác ái là phẩm tính tổng quát của linh hồn và phụng sự là sự bức xạ tự phát của năng lượng linh hồn. |
|
12. Knowledge of higher truth and soul destiny served as motivations at the seventh petal. Love of others (and oneself) as souls motivates the sacrifices undertaken at this eighth and crucially important petal. |
12. Tri thức về chân lý cao hơn và định mệnh linh hồn đã phục vụ như những động cơ nơi cánh hoa thứ bảy. Bác ái đối với người khác (và với chính mình) như những linh hồn là động lực cho những hi sinh được đảm nhận nơi cánh hoa thứ tám quan trọng then chốt này. |
|
13. One of the important realizations in relation to this petal is that love must express itself on the mental plane. This requirement brings in the need for the Venusian energy which blends love and mind or heart and mind. |
13. Một trong những chứng nghiệm quan trọng liên quan đến cánh hoa này là bác ái phải biểu lộ trên cõi trí. Đòi hỏi này đưa vào nhu cầu về năng lượng Kim Tinh, năng lượng hòa trộn bác ái và trí tuệ hay tim và trí tuệ. |
|
14. The sentimental type of love (related to the astral body) is transcended, and increasingly impersonal soul love takes its place. Rose in relation to Venus and the love of the soul will be important. |
14. Loại bác ái cảm tính (liên hệ với thể cảm dục) được vượt qua, và bác ái linh hồn ngày càng vô ngã thay thế nó. Màu hồng trong liên hệ với Sao Kim và bác ái của linh hồn sẽ là điều quan trọng. |
|
Colours: Yellow and the four colours, orange, violet, rose and blue. |
Màu sắc: Vàng và bốn màu, cam, tím, hồng và lam. |
|
15. The presence of these colors above suggests the following: |
15. Sự hiện diện của các màu sắc này ở trên gợi ý điều sau đây: |
|
a. Yellow is pervasive throughout this final tier of the first nine petals. |
a. Màu vàng lan tỏa khắp tầng cuối cùng này của chín cánh hoa đầu tiên. |
|
b. Yellow represents the growing Will-to-Sacrifice motivated by buddhi (one of the colors of which is yellow even as one of the major planets of buddhi, Mercury, expresses the color yellow). |
b. Màu vàng biểu thị Ý Chí-Từ Bỏ đang tăng trưởng được thúc đẩy bởi Bồ đề (một trong các màu của Bồ đề là vàng cũng như một trong các hành tinh chính của Bồ đề, Sao Thủy, biểu lộ màu vàng). |
|
c. Yellow is a generic color for the linking antahkarana, and during the processes associated with this petal (strongly under the influence of Mercury) the antahkarana can be built seriously. |
c. Màu vàng là một màu tổng quát của antahkarana nối kết, và trong các tiến trình liên hệ với cánh hoa này (chịu ảnh hưởng mạnh của Sao Thủy), antahkarana có thể được xây dựng một cách nghiêm túc. |
|
d. It is also possible to achieve a degree of fusion of buddhi and manas, and yellow is representative of this fusion, for yellow is both a buddhic and manasic color (exoterically associated with the fifth ray). |
d. Cũng có thể đạt được một mức độ dung hợp giữa Bồ đề và manas, và màu vàng là đại diện cho sự dung hợp này, vì màu vàng vừa là màu Bồ đề vừa là màu manas (ngoại môn liên hệ với cung năm). |
|
e. Orange continues to intensify as the concrete mind is used as an instrument of instrument of keen discrimination between soul and personality energies. |
e. Màu cam tiếp tục tăng cường khi trí cụ thể được dùng như một công cụ của sự phân biện sắc bén giữa các năng lượng linh hồn và phàm ngã. |
|
f. The eighth petal is a Scorpio petal and the concrete mind comes under special cultivation as an organ to be used in the control of the astral body and as an instrument receptive to the soul light. |
f. Cánh hoa thứ tám là một cánh hoa Hổ Cáp và trí cụ thể được đặc biệt tu dưỡng như một cơ quan được dùng trong việc kiểm soát thể cảm dục và như một công cụ tiếp nhận ánh sáng linh hồn. |
|
g. Violet is mentioned for the second time in the third tier (it does not appear twice in any of the preceding tiers) and signifies the will of the probationary initiate to bring his personality life under rule and order. The Path of Initiation is ruled by though first and seventh ray and so upon the Path of Probationary Initiation, the seventh ray (conducting the first) will be useful. |
g. Màu tím được nhắc đến lần thứ hai trong tầng thứ ba (nó không xuất hiện hai lần trong bất kỳ tầng nào trước đó) và biểu thị ý chí của điểm đạo đồ dự bị muốn đưa đời sống phàm ngã của mình vào dưới quy luật và trật tự. Con Đường Điểm Đạo được cai quản bởi cung một và cung bảy, vì vậy trên Con Đường Điểm Đạo Dự Bị, cung bảy (dẫn truyền cung một) sẽ hữu ích. |
|
h. The seventh ray under violet is also useful in linking the two ‘ends’ of the antahkarana. |
h. Cung bảy dưới màu tím cũng hữu ích trong việc nối kết hai “đầu mút” của antahkarana. |
|
i. Blue appears as it did in P2 and P5 signaling the growing power of the combination of second and sixth rays. From another perspective, blue can stand (in our solar system) for the first ray. |
i. Màu lam xuất hiện như đã xuất hiện trong P2 và P5, báo hiệu quyền năng ngày càng tăng của sự kết hợp giữa cung hai và cung sáu. Từ một góc nhìn khác, màu lam có thể tượng trưng (trong hệ mặt trời của chúng ta) cho cung một. |
|
j. Within the process of this petal, much work is done upon the astral body and the second initiation becomes a possibility (a process supported by three planets—Venus, Jupiter and Neptune). Both blue and rose represent these three planets in part. |
j. Trong tiến trình của cánh hoa này, nhiều công việc được thực hiện trên thể cảm dục và lần điểm đạo thứ hai trở thành một khả năng (một tiến trình được hỗ trợ bởi ba hành tinh—Sao Kim, Sao Mộc và Sao Hải Vương). Cả màu lam lẫn màu hồng đều phần nào đại diện cho ba hành tinh này. |
|
c. Petal 3…The utter sacrifice of all forever. |
c. Cánh hoa 3…Sự hi sinh trọn vẹn của tất cả mãi mãi. |
|
16. This is an all-inclusive statement, and would seem even more fitting at the fourth degree than the third (when only nine of the twelve petals are seen to be fully open). |
16. Đây là một phát biểu bao gồm tất cả, và dường như còn thích hợp hơn ở cấp bốn so với cấp ba (khi chỉ có chín trong mười hai cánh hoa được thấy là mở hoàn toàn). |
|
17. Perhaps at the third degree there is established that orientation which leads inevitably to “the utter sacrifice of all forever”. |
17. Có lẽ ở cấp ba, sự định hướng dẫn tất yếu đến “sự hi sinh trọn vẹn của tất cả mãi mãi” được thiết lập. |
|
Colours: Yellow, orange, rose, blue and indigo. |
Màu sắc: Vàng, cam, hồng, lam và chàm. |
|
18. The presence of these colors above suggests the following: |
18. Sự hiện diện của các màu sắc này ở trên gợi ý điều sau đây: |
|
a. Yellow reaches its strongest intensity (within the nine petals) within this sacrifice/sacrifice petal. Yellow is the color of sacrifice and the bridge from manas to buddhi, which is precisely the task of the initiation of the third degree. |
a. Màu vàng đạt đến cường độ mạnh nhất của nó (trong chín cánh hoa) trong cánh hoa hi sinh/hi sinh này. Màu vàng là màu của hi sinh và của cây cầu từ manas đến Bồ đề, chính xác là nhiệm vụ của điểm đạo cấp ba. |
|
b. We have the ninth repetition of orange which, we can expect, will be at its most intense (for the following three petals do not carry the color orange—only a “lovely lemon-yellow hue”). |
b. Chúng ta có lần lặp lại thứ chín của màu cam mà, như có thể dự đoán, sẽ ở cường độ mạnh nhất của nó (vì ba cánh hoa tiếp theo không mang màu cam—chỉ có một “sắc vàng chanh đáng yêu”). |
|
c. The orange of concrete mind is brilliant and soul infused. The Solar Angels have completed the majority of their work for the unit, man. |
c. Màu cam của trí cụ thể rực rỡ và được linh hồn thấm nhuần. Các Thái dương Thiên Thần đã hoàn tất phần lớn công việc của Các Ngài đối với đơn vị là con người. |
|
d. Rose represents pure love as it conditions the now purified astral nature. Here rose links easily to buddhi. |
d. Màu hồng biểu thị bác ái thuần khiết khi nó tác động lên bản chất cảm dục nay đã được thanh luyện. Ở đây màu hồng dễ dàng nối kết với Bồ đề. |
|
e. Interestingly, both blue and indigo are found in this petal. |
e. Điều thú vị là cả màu lam và màu chàm đều được tìm thấy trong cánh hoa này. |
|
f. Just as violet was un-characteristically repeated in P7 and P8 so blue is un-characteristically repeated in P8 and P9. When such repetitions occur between adjacent petals, a bridge is created. |
f. Cũng như màu tím đã được lặp lại một cách không đặc trưng trong P7 và P8, thì màu lam cũng được lặp lại một cách không đặc trưng trong P8 và P9. Khi những sự lặp lại như thế xảy ra giữa các cánh hoa kề nhau, một cây cầu được tạo ra. |
|
g. Indigo represents both the second ray (of which it is the generally accepted color) and the fifth ray (of which it is the esoteric color). Emphasis upon the esoteric nature of the fifth ray makes sense in relation to a petal, the opening of which signifies the taking of the third initiation at which time the fifth ray rules. |
g. Màu chàm biểu thị cả cung hai (mà nó là màu thường được chấp nhận) lẫn cung năm (mà nó là màu huyền bí). Việc nhấn mạnh bản chất huyền bí của cung năm là hợp lý trong liên hệ với một cánh hoa mà sự mở ra của nó biểu thị việc tiếp nhận lần điểm đạo thứ ba, vào lúc cung năm cai quản. |
|
h. Blue opens the door to the influence of the “Blue Logos” at this first solar initiation. If blue is to carry some meaning of the first ray (as that ray functions in this Love-Wisdom solar system), then its appearance here is significant because at the third degree the initiate experiences the Monad consciously for the first time. |
h. Màu lam mở cánh cửa cho ảnh hưởng của “Thượng đế Lam” trong lần điểm đạo thái dương đầu tiên này. Nếu màu lam mang một ý nghĩa nào đó của cung một (như cung ấy vận hành trong hệ mặt trời Bác Ái – Minh Triết này), thì sự xuất hiện của nó ở đây là có ý nghĩa, bởi vì ở cấp ba điểm đạo đồ kinh nghiệm chân thần một cách có ý thức lần đầu tiên. |
|
In the mystery of these subsidiary colours and of the gradual shining forth within the lotus of five colours in any one petal at one time, |
Trong huyền nhiệm của các màu phụ này và của sự tỏa sáng dần dần bên trong hoa sen của năm màu trong bất kỳ một cánh hoa nào vào cùng một lúc, |
|
19. As is the case when dealing with the sacrifice petals… |
19. Như trường hợp khi bàn đến các cánh hoa hi sinh… |
|
20. Mercury (a fourth ray planet from the soul perspective) is a planet of sacrifice and is even more deeply related to the number five than to the number four. |
20. Sao Thủy (một hành tinh cung bốn từ góc độ linh hồn) là một hành tinh của hi sinh và còn liên hệ sâu xa hơn với con số năm hơn là với con số bốn. |
|
21. Five is a Kumaric number but so is fifteen, the sum of the three fives, each found in a single sacrifice petal. |
21. Năm là một con số Kumaric nhưng mười lăm cũng vậy, là tổng của ba số năm, mỗi số được tìm thấy trong một cánh hoa hi sinh đơn lẻ. |
|
is veiled the mystery of the five Kumaras 62 [S. D., I, 483.] |
được che giấu là huyền nhiệm của năm Kumaras 62 [S. D., I, 483.] |
|
22. When we deal with the Five Kumaras, the three Buddha of Activity are included, Sanat Kumara also, and one of the Esoteric Kumaras as well. |
22. Khi chúng ta bàn đến Năm Kumaras, ba Đức Phật Hoạt Động được bao gồm, cả Đức Sanat Kumara nữa, và thêm một trong các Kumaras Nội Môn. |
|
23. The five liberated Creative Hierarchies will also be brought to mind as well as the meaning of the number five in relation to the previous solar system. |
23. Năm Huyền Giai Sáng Tạo được giải thoát cũng sẽ được gợi nhớ, cũng như ý nghĩa của con số năm trong liên hệ với hệ mặt trời trước. |
|
24. Below, VSK shares some interesting speculations on color in relation to the Kumaras. |
24. Dưới đây, VSK chia sẻ một số suy đoán thú vị về màu sắc trong liên hệ với các Kumaras. |
|
25. The colours of the five kumaras therefore may be corresponded to colours. If so, we look at the five liberated lives (E.A. 34). |
25. Vì vậy, các màu sắc của năm kumaras có thể được đối chiếu với các màu. Nếu vậy, chúng ta nhìn vào năm sự sống được giải thoát (E.A. 34). |
|
a. One suggestion: the 5th Kumara, Cancer, that of the 7th ray, is violet – but notice VIOLET is NOT in the last petal, the 9th. We have INDIGO INSTEAD. (Perhaps at the stage of the 9th petal activation, violet is transcended as the orb of purple dark, or earthly realm, may be said to be). Alternately, the yet-unliberated 5th kumara is not involved? Or, as it says He is “active on the intellectual plane” (EA. 34); this is more logically, perhaps, knowledge on the physical plane, and the Cancer Kumara is ORANGE. The 7th ray being the densest of the Kumaric lives, still immersed in matter of the cosmic physical plane, and wearing, therefore, the robes of orange, of the lords of flame and a colour of mind. |
a. Một gợi ý: Kumara thứ 5th, Cự Giải, thuộc cung 7th, là màu tím – nhưng lưu ý rằng TÍM KHÔNG có trong cánh hoa cuối cùng, cánh thứ 9th. Thay vào đó chúng ta có CHÀM. (Có lẽ ở giai đoạn hoạt hóa cánh hoa thứ 9th, màu tím được vượt qua như quỹ cầu màu tím sẫm, hay cõi trần thế, có thể được nói là như vậy). Hoặc, kumara thứ 5th chưa được giải thoát không tham dự? Hoặc, như đã nói Ngài “hoạt động trên cõi trí tuệ” (EA. 34); điều này có lẽ hợp lý hơn là tri thức trên cõi hồng trần, và Kumara Cự Giải là CAM. Cung 7th là cung đậm đặc nhất trong các sự sống Kumaric, vẫn còn chìm trong vật chất của cõi hồng trần vũ trụ, và do đó khoác áo màu cam, của các chúa tể của lửa và là một màu của trí tuệ. |
|
b. The Gemini Kumara, the 6th ray, that of ROSE. (And, perhaps, that ‘also’ of BLUE?) Somehow, the ‘two who fell’ seems to relate to Gemini and Cancer. If we translate the influence of the Kumaras to the Creative Hierarchies down to the cosmic physical plane, these two would relate to Aquarius, the lunar 7th ray Hierarchy, and Sagittarius, the martian 6th ray Hierarchy. If ‘unprincipled matter’ can be referred to as ‘fallen’, then ROSE and ORANGE Kumaras may have ‘fallen’ (sacrificed themselves, as fuel for the flame?, or were inadvertently drawn into indulging in?) |
b. Kumara Song Tử, cung 6th, là màu HỒNG. (Và có lẽ cũng là màu LAM?) Bằng cách nào đó, “hai vị đã sa ngã” dường như liên hệ với Song Tử và Cự Giải. Nếu chúng ta chuyển dịch ảnh hưởng của các Kumaras sang các Huyền Giai Sáng Tạo xuống cõi hồng trần vũ trụ, thì hai vị này sẽ liên hệ với Bảo Bình, Huyền Giai cung 7th nguyệt tính, và Nhân Mã, Huyền Giai cung 6martian 6th. Nếu “vật chất vô nguyên khí” có thể được gọi là “sa ngã”, thì các Kumaras HỒNG và CAM có thể đã “sa ngã” (hi sinh chính mình, như nhiên liệu cho ngọn lửa chăng?, hay vô tình bị lôi kéo vào sự buông thả chăng?) |
|
c. Next ‘up’ the Taurus Kumara is the 5th ray and in relation to color could be INDIGO or BLUE, or ORANGE, or YELLOW. If we surmise that the physical/knowledge petals on the physical plane are ORANGE, and the Love Petals related to the Gemini Kumara ROSE, it may be that YELLOW most relates to this 3rd Kumara, or the 5th Ray Kumara, Taurus (a 4th ray sign). (Note too, for fun, It’s Hierarchical symbol is that of the bird, which, same as the symbol for all five liberated hierarchies, is the bird escaping from the flaming pyre.) This is the mind set free? |
c. Kế tiếp “ở trên”, Kumara Kim Ngưu là cung 5th và trong liên hệ với màu sắc có thể là CHÀM hoặc LAM, hoặc CAM, hoặc VÀNG. Nếu chúng ta giả định rằng các cánh hoa hồng trần/tri thức trên cõi hồng trần là CAM, và các cánh hoa Bác ái liên hệ với Kumara Song Tử là HỒNG, thì có thể VÀNG liên hệ nhiều nhất với Kumara thứ 3rd này, hay Kumara Cung 5th, Kim Ngưu (một dấu hiệu cung 4th). (Cũng lưu ý thêm cho vui, biểu tượng Thánh đoàn của Nó là chim, cũng như biểu tượng của cả năm huyền giai được giải thoát, là con chim thoát ra khỏi giàn hỏa thiêu.) Đây là trí tuệ được giải phóng chăng? |
|
d. BLUE or INDIGO could be sufficiently justified to relate to both the ‘top two’ Kumaras. And, I think there’s the reference in The Secret Doctrine which suggests the kumaras who fell were the ‘top two’. |
d. Màu LAM hoặc CHÀM có thể được biện minh đầy đủ để liên hệ với cả “hai vị cao nhất” Kumaras. Và, tôi nghĩ có tham chiếu trong Giáo Lý Bí Nhiệm gợi ý rằng các kumaras đã sa ngã là “hai vị cao nhất”. |
|
The student who seeks the significance of the preponderance of orange and of rose is approaching the secret of the two Kumaras Who fell. |
Đạo sinh tìm kiếm ý nghĩa của sự trội hơner của màu cam và của màu hồng đang tiến gần đến bí mật của hai Kumaras đã sa ngã. |
|
26. Among the nine petals, the color orange appears nine times and the color rose eight times, if we count it twice in the fifth petal. |
26. Trong chín cánh hoa, màu cam xuất hiện chín lần và màu hồng xuất hiện tám lần, nếu chúng ta tính nó hai lần trong cánh hoa thứ năm. |
|
27. Orange is particularly the color of the Solar Angels and rose is to be associated with the astral plane and the redemption of the lunar lords there found. |
27. Màu cam đặc biệt là màu của các Thái dương Thiên Thần và màu hồng được liên hệ với cõi cảm dục và sự cứu chuộc các nguyệt tinh quân được tìm thấy ở đó. |
|
28. We must trace this “Fall”. Is it from the cosmic astral plane onto the cosmic physical plane? Or is it from the higher levels of the cosmic physical plane to the lower levels. Both changes of focus would constitute a “Fall”. |
28. Chúng ta phải truy nguyên “Sự Sa Ngã” này. Có phải từ cõi cảm dục vũ trụ xuống cõi hồng trần vũ trụ không? Hay là từ các cấp cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ xuống các cấp thấp hơn? Cả hai sự thay đổi trọng tâm ấy đều sẽ cấu thành một “Sự Sa Ngã”. |
|
29. A question arises. Do the Esoteric Kumaras express themselves only on the cosmic astral plane (as Their lowest plane of expression) while Sanat Kumara and the three Buddha of Activity express upon the cosmic physical plane? This is a possibility. |
29. Một câu hỏi nảy sinh. Có phải các Kumaras Nội Môn chỉ biểu lộ trên cõi cảm dục vũ trụ (như cõi biểu lộ thấp nhất của Các Ngài), trong khi Đức Sanat Kumara và ba Đức Phật Hoạt Động biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ? Đây là một khả năng. |
|
30. Can we, however, equate any Kumara with a Creative Hierarchy of the kind represented in EA, 35. Are not these Creative Hierarchies too ‘low’, relatively, to equate with the seven intra-planetary Kumaras? This needs careful investigation. |
30. Tuy nhiên, liệu chúng ta có thể đồng nhất bất kỳ Kumara nào với một Huyền Giai Sáng Tạo thuộc loại được trình bày trong EA, 35 không? Chẳng phải các Huyền Giai Sáng Tạo này tương đối quá “thấp” để đồng nhất với bảy Kumaras nội hành tinh sao? Điều này cần được khảo sát cẩn thận. |
|
More it is not possible to say, but the colours hold the esoteric key to this great occurrence. |
Không thể nói thêm nữa, nhưng các màu sắc nắm giữ chiếc chìa khóa huyền bí cho biến cố lớn lao này. |
|
31. Interestingly, Kumaras Who fall do so for redemptive purposes. The Kumaras and the Solar Angels are directly related to Venus (which is, for the Earth, a planet of redemption). Given the fifth ray/sixth ray nature of Venus, the colors orange and rose are peculiarly fitting. |
31. Điều thú vị là các Kumaras sa ngã làm như vậy vì những mục đích cứu chuộc. Các Kumaras và các Thái dương Thiên Thần liên hệ trực tiếp với Sao Kim (đối với Trái Đất, là một hành tinh cứu chuộc). Với bản chất cung năm/cung sáu của Sao Kim, các màu cam và hồng đặc biệt thích hợp. |
|
32. VSK comments again: |
32. VSK lại bình luận: |
|
33. This tabulation most clearly shows that the knowledge petals are effective only on the physical plane; the love petals on the physical and astral planes, and the sacrifice petals are mentioned as dominating from the mental plane (not, as could be surmised, ‘active on the mental, astral, and physical’). |
33. Bảng này cho thấy rất rõ rằng các cánh hoa tri thức chỉ hữu hiệu trên cõi hồng trần; các cánh hoa bác ái trên cõi hồng trần và cõi cảm dục, còn các cánh hoa hi sinh được nhắc đến như chi phối từ cõi trí (không phải, như có thể suy ra, là “hoạt động trên cõi trí, cảm dục và hồng trần”). |
|
34. This may be another hint regarding the orange and rose Kumaras as the ‘two who fell’, as They are the ones no longer connected to the spiritual triad, whereas the mental-yellow-sacrifice petals ARE. Thus, perhaps, indicating the sacrifice (or gift or realm of responsibility) by each of these Buddhas. |
34. Đây có thể là một gợi ý khác liên quan đến các Kumaras cam và hồng như “hai vị đã sa ngã”, vì Các Ngài là những vị không còn nối kết với Tam Nguyên Tinh Thần nữa, trong khi các cánh hoa hi sinh-vàng-trí tuệ THÌ CÓ. Vì vậy, có lẽ điều này chỉ ra sự hi sinh (hay tặng phẩm hoặc lĩnh vực trách nhiệm) của mỗi vị trong các Đức Phật này. |
|
35. It may be necessary to study our TCF Charts closely to see in what manner the permanent atoms of the spiritual triad are related to the three tiers of petals. |
35. Có thể cần nghiên cứu kỹ các Biểu Đồ TCF của chúng ta để thấy các nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần liên hệ với ba tầng cánh hoa theo cách nào. |
|
36. It is at this point that we should recall the Buddhas of Activity, the Buddhas of Love and the Buddhas of Sacrifice mentioned earlier in the text. |
36. Chính tại điểm này chúng ta nên nhớ lại các Đức Phật Hoạt Động, các Đức Phật Bác Ái và các Đức Phật Hi Sinh đã được nhắc đến trước đó trong văn bản. |
|
This inner circle of petals is organised and vitalised in the Hall of Wisdom, and simultaneously the middle circle unfolds, |
Vòng cánh hoa bên trong này được tổ chức và tiếp sinh lực trong Phòng Minh triết, và đồng thời vòng giữa khai mở, |
|
37. The middle circle unfolds as the third tier of petals is being organized and vitalized, just as the first tier of petals unfolded as the second tier was being organized and vitalized. |
37. Vòng tròn ở giữa khai mở khi tầng cánh hoa thứ ba đang được tổ chức và tiếp sinh lực, cũng như tầng cánh hoa thứ nhất đã khai mở khi tầng thứ hai đang được tổ chức và tiếp sinh lực. |
|
38. The Hall of Wisdom is an area of experience which may be considered as beginning with the Probationary Path and continuing until Mastership. In some references it seems that the Hall of Wisdom begins with the first initiation. |
38. Phòng Minh triết là một lĩnh vực kinh nghiệm có thể được xem như bắt đầu với Con Đường Dự Bị và tiếp tục cho đến Chân sư quả. Trong một số chỗ tham chiếu, dường như Phòng Minh triết bắt đầu với lần điểm đạo thứ nhất. |
|
Graduation results when initiation is taken and the initiate passes into the Hall of Wisdom. (IHS 65) |
Việc tốt nghiệp xảy ra khi điểm đạo được tiếp nhận và điểm đạo đồ bước vào Phòng Minh triết. (IHS 65) |
|
39. When thinking of the Hall of Wisdom and the processes which occur during that stage, we must include not only the organization and vitalization of the petals but also their unfoldment, for the Hall of Wisdom continues certainly beyond the third initiation, at which time all three of the sacrifice petals are necessarily unfolded. |
39. Khi suy nghĩ về Phòng Minh triết và các tiến trình xảy ra trong giai đoạn đó, chúng ta không chỉ phải bao gồm sự tổ chức và tiếp sinh lực của các cánh hoa mà còn cả sự khai mở của chúng, vì Phòng Minh triết chắc chắn còn tiếp tục vượt quá lần điểm đạo thứ ba, vào lúc mà cả ba cánh hoa hi sinh đều tất yếu đã khai mở. |
|
40. The Halls of Initiation are entered during passage through Hall of Wisdom. |
40. Các Phòng Điểm đạo được bước vào trong khi đi qua Phòng Minh triết. |
|
so that two rows of petals are duly opened, and only the third remains to be unclosed. |
đến nỗi hai hàng cánh hoa được mở ra đúng mức, và chỉ còn hàng thứ ba là chưa được mở. |
|
41. Two rows of petals (i.e., the petals of the first two tiers) have been opened by the time the candidate treads the passages of the Hall of Wisdom. The opening of the first two tiers—as ‘interactive entireties’, however, corresponds with a degree of opening of the seventh and eighth petals, and thus, with the first two initiations. |
41. Hai hàng cánh hoa (tức các cánh hoa của hai tầng đầu) đã được mở vào lúc ứng viên bước đi trên các lối của Phòng Minh triết. Tuy nhiên, việc mở hai tầng đầu ấy—như những “toàn thể tương tác”—tương ứng với một mức độ mở của cánh hoa thứ bảy và thứ tám, và do đó, với hai lần điểm đạo đầu tiên. |
|
42. We must discriminate between the following: |
42. Chúng ta phải phân biện giữa những điều sau đây: |
|
a. The opening of three petals |
a. Sự mở của ba cánh hoa |
|
b. The unifying of the three petals in a tier |
b. Sự hợp nhất của ba cánh hoa trong một tầng |
|
c. The synthesizing of the three petals as a complete unity ready for interactivity with the next higher tier of petals. |
c. Sự tổng hợp của ba cánh hoa như một hợp nhất hoàn chỉnh, sẵn sàng cho sự tương tác với tầng cánh hoa cao hơn kế tiếp. |
|
43. If we think of the knowledge petals: |
43. Nếu chúng ta nghĩ về các cánh hoa tri thức: |
|
a. The opening of three petals of the knowledge tier represents a readiness to move out of the Hall of Ignorance |
a. Sự mở của ba cánh hoa thuộc tầng tri thức biểu thị sự sẵn sàng rời khỏi Phòng Vô Minh |
|
b. The unifying of the three petals in that tier represents the taking of a lesser initiation emphasizing some type of preliminary group awareness. When this happens the fourth and fifth petals have not been fully unfolded. |
b. Sự hợp nhất của ba cánh hoa trong tầng ấy biểu thị việc tiếp nhận một điểm đạo nhỏ hơn, nhấn mạnh một loại ngã thức nhóm sơ khởi nào đó. Khi điều này xảy ra, cánh hoa thứ tư và thứ năm chưa hoàn toàn khai mở. |
|
c. The synthesizing of the three petals of the knowledge tier and their readiness, as a unit, for interactivity with the unfolding petals of the light may be found at the first initiation, at which time the fourth and fifth petals are completely unfolded, and the seventh petal is in process of unfolding having been ‘touched’ by the Rod of Initiation. |
c. Sự tổng hợp của ba cánh hoa thuộc tầng tri thức và sự sẵn sàng của chúng, như một đơn vị, cho sự tương tác với các cánh hoa ánh sáng đang khai mở có thể được thấy nơi lần điểm đạo thứ nhất, vào lúc mà cánh hoa thứ tư và thứ năm đã hoàn toàn khai mở, và cánh hoa thứ bảy đang trong tiến trình khai mở vì đã được Thần Trượng Điểm đạo “chạm” đến. |
|
44. So we have a contradiction unless we allow that at some time during the Hall of Wisdom process, the sacrifice petals can being to open, which, indeed does seem to be the case. |
44. Vì vậy chúng ta có một mâu thuẫn trừ phi chúng ta chấp nhận rằng vào một lúc nào đó trong tiến trình của Phòng Minh triết, các cánh hoa hi sinh có thể bắt đầu khai mở, điều mà quả thật đúng là dường như xảy ra. |
|
45. We might say that during the Hall of Wisdom experience, the petals of the third tier are organized and vitalized, and later in the Hall of Wisdom the petals of the third tier are unfolded as well. |
45. Chúng ta có thể nói rằng trong kinh nghiệm của Phòng Minh triết, các cánh hoa của tầng thứ ba được tổ chức và tiếp sinh lực, và về sau trong Phòng Minh triết, các cánh hoa của tầng thứ ba cũng được khai mở. |
|
46. Trying to find the exact point at which the Hall of Wisdom is entered is elusive. |
46. Việc cố tìm ra chính xác điểm mà tại đó Phòng Minh triết được bước vào là điều khó nắm bắt. |
|
This final opening |
Sự mở cuối cùng này |
|
47. Presumably, in this context, the opening of the final tier or the tier of sacrifice petals… |
47. Có lẽ, trong ngữ cảnh này, sự mở của tầng cuối cùng hay tầng các cánh hoa hi sinh… |
|
is effected during the period of treading the stages of the Path of Initiation, |
được thực hiện trong thời kỳ bước đi qua các giai đoạn của Con Đường Điểm Đạo, |
|
48. Yet, it would seem that one treads the Path of Initiation within the Hall of Wisdom. |
48. Tuy nhiên, dường như người ta bước đi trên Con Đường Điểm Đạo bên trong Phòng Minh triết. |
|
and in this round it is hastened by the rites of initiation and by the strenuous and abnormal efforts of the man himself, aided by the electrical work of the Initiator, wielding the Rod of Power. |
và trong cuộc tuần hoàn này, nó được thúc đẩy nhanh bởi các nghi lễ điểm đạo và bởi những nỗ lực mãnh liệt và bất thường của chính con người, được trợ giúp bởi công việc điện lực của Đấng Điểm đạo, Đấng vận dụng Quyền năng trượng. |
|
49. This is one of the very important statements, telling us that an opening which might occur slowly and normally under the influence of the Solar Angels and the Second Logos is hastened by the rites of initiation and the application of the Rod of Initiation. The man, too, because he is working strenuously and with abnormal effort, hastens the otherwise slower opening of the petals. Though, we must remember that the man, per se and unaided, does not open the petals and especially the sacrifice petals. The opening occurs either automatically (under the influence of the Solar Angels and the Second Logos) following the man’s efforts to organize and vitalize, or under the influence of the applied Rod. |
49. Đây là một trong những phát biểu rất quan trọng, cho chúng ta biết rằng một sự mở vốn có thể xảy ra chậm chạp và bình thường dưới ảnh hưởng của các Thái dương Thiên Thần và Đấng Logos thứ hai, lại được thúc đẩy nhanh bởi các nghi lễ điểm đạo và việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo. Con người cũng vậy, bởi vì y đang làm việc một cách mãnh liệt và với nỗ lực bất thường, nên thúc đẩy nhanh sự mở cánh hoa vốn chậm hơn trong trường hợp khác. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng con người, chính y và không được trợ giúp, không mở các cánh hoa, đặc biệt là các cánh hoa hi sinh. Sự mở xảy ra hoặc tự động (dưới ảnh hưởng của các Thái dương Thiên Thần và Đấng Logos thứ hai) theo sau những nỗ lực của con người nhằm tổ chức và tiếp sinh lực, hoặc dưới ảnh hưởng của Thần Trượng được áp dụng. |
|
50. We note that this method of seeing to the opening of the final tier of the nine applies particularly during this fourth round. Perhaps it did not or will not apply at other times. |
50. Chúng ta lưu ý rằng phương pháp bảo đảm sự mở của tầng cuối cùng trong chín cánh này đặc biệt được áp dụng trong cuộc tuần hoàn thứ tư này. Có lẽ nó đã không áp dụng hoặc sẽ không áp dụng vào những thời điểm khác. |
|
51. The fourth ray is a bridging ray and the Solar Angels are bridging Entities. |
51. cung bốn là một cung bắt cầu và các Thái dương Thiên Thần là những Thực Thể bắt cầu. |
|
52. Below is a new version of the Chart of the Egoic Lotus. It has been Earth-designed by Tuija Robbins and careful attention has been paid to the quality of the colors presented and the numerical order of the nine petals. |
52. Dưới đây là một phiên bản mới của Biểu Đồ Hoa Sen Chân Ngã. Nó đã được Tuija Robbins thiết kế trên Trái Đất và sự chú ý cẩn trọng đã được dành cho phẩm tính của các màu sắc được trình bày cũng như thứ tự số học của chín cánh hoa. |
|
53. The white appearance of the synthesis petals will be changed to the lemon-yellow hue DK indicates. |
53. Sắc trắng của các cánh hoa tổng hợp sẽ được đổi thành sắc vàng chanh mà Chân sư DK chỉ ra. |
|
[Page 823] CHART IX—THE EGOIC LOTUS |
[Page 823] BIỂU ĐỒ IX—HOA SEN CHÂN NGÃ |
—
|
[Page 824] Though we have thus divided off the different stages of development, we have but dealt with the general average, |
[Page 824] Mặc dù như thế chúng ta đã phân chia các giai đoạn phát triển khác nhau, chúng ta chỉ mới bàn đến mức trung bình tổng quát, |
|
54. To divide the different stages of development, one from the other, is something of a distortion as it does not emphasize the very obvious factor of simultaneous, multi-leveled unfoldment. |
54. Việc phân chia các giai đoạn phát triển khác nhau, giai đoạn này với giai đoạn kia, phần nào là một sự bóp méo vì nó không nhấn mạnh yếu tố rất hiển nhiên là sự khai mở đồng thời trên nhiều cấp độ. |
|
55. As well, the mode, manner, order and speed of unfoldment will be a very individual matter for each disciple/initiate. It would be impossible to cover all the possible variations, but as time elapses, and we gain intuitive and sentient insight, the details of the process (as regards both others and ourselves) will be revealed. |
55. Hơn nữa, phương thức, cách thức, trật tự và tốc độ khai mở sẽ là một vấn đề rất cá biệt đối với mỗi đệ tử/điểm đạo đồ. Không thể nào bao quát hết mọi biến thể có thể có, nhưng khi thời gian trôi qua, và chúng ta đạt được linh thị và sự thấu cảm, các chi tiết của tiến trình (liên quan đến cả người khác lẫn chính chúng ta) sẽ được mặc khải. |
|
gathering our facts from the records to which we have access and which are grouped in relation to this subject into the three groups, related to: |
thu thập các dữ kiện của chúng ta từ những hồ sơ mà chúng ta có thể tiếp cận và được nhóm lại liên hệ với chủ đề này thành ba nhóm, liên quan đến: |
|
56. DK is telling us how the records to which He has access are grouped. |
56. Chân sư DK đang cho chúng ta biết các hồ sơ mà Ngài có thể tiếp cận được nhóm lại như thế nào. |
|
57. We can see how much there is to know and how little anent these matters we can know until we have access (and, therefore, deserve) access to the same records. |
57. Chúng ta có thể thấy có biết bao điều cần biết và chúng ta có thể biết ít đến mức nào về những vấn đề này cho đến khi chúng ta có quyền tiếp cận (và do đó, xứng đáng được tiếp cận) cùng những hồ sơ ấy. |
|
58. We will note that DK is studying the subject according to monadic groupings. This is fitting as the petals unfold in order (and perhaps in intensity of radiation) according to the monadic ray. |
58. Chúng ta sẽ lưu ý rằng Chân sư DK đang nghiên cứu chủ đề này theo các nhóm chân thần. Điều này là thích hợp vì các cánh hoa khai mở theo trật tự (và có lẽ theo cường độ bức xạ) tùy theo cung chân thần. |
|
a. The Monads of power. |
a. Các chân thần quyền lực. |
|
b. The Monads of love. |
b. Các chân thần bác ái. |
|
c. The Monads of activity. |
c. Các chân thần hoạt động. |
|
The student must remember that according to these groupings, so will be the tendency of the petals to unfold. For instance, in the case of the majority of men, being [Page 825] Monads of Love, the love petals are more easily awakened, for love is the nature of the present manifestation and the line of love in some direction (low, high, or spiritual) is the line of least resistance for the many. |
Đạo sinh phải nhớ rằng tùy theo các sự nhóm này, xu hướng khai mở của các cánh hoa cũng sẽ như vậy. Chẳng hạn, trong trường hợp đa số những người nam và nữ, vốn là các chân thần Bác Ái, các cánh hoa bác ái dễ được đánh thức hơn, vì bác ái là bản chất của biểu hiện hiện nay và đường bác ái theo một hướng nào đó (thấp, cao, hay tinh thần) là con đường ít trở ngại nhất đối với số đông. |
|
59. We have discussed this type of sequence on many occasions. The unfoldment of chakric triangles is also related to the monadic ray. |
59. Chúng ta đã bàn đến loại trình tự này trong nhiều dịp. Sự khai mở của các tam giác luân xa cũng liên hệ với cung chân thần. |
|
60. Eventually, it becomes necessary to know one’s monadic ray as the specific dynamics of one’s energy-unfoldment process is determined thereby. |
60. Cuối cùng, việc biết cung chân thần của mình trở nên cần thiết vì động lực chuyên biệt của tiến trình khai mở năng lượng của mình được quyết định bởi điều đó. |
|
61. We can hypothesize that the Monads of Intelligence have the most difficult time unfolding the sacrifice petals; the Monads of Love, the knowledge petals; the Monads of Will, the love petals (even though, relatively, the knowledge petals are the easiest for all to unfold and the sacrifice petals the most difficult—generally. |
61. Chúng ta có thể giả thuyết rằng các chân thần Trí Tuệ gặp khó khăn nhất trong việc khai mở các cánh hoa hi sinh; các chân thần Bác Ái, các cánh hoa tri thức; các chân thần Ý Chí, các cánh hoa bác ái (mặc dù, tương đối mà nói, các cánh hoa tri thức là dễ khai mở nhất đối với tất cả, còn các cánh hoa hi sinh là khó nhất—nói chung). |
|
62. In our solar system, the great majority of Monads are Monads of Love and the expression of love is, therefore, for them, the line of least resistance. |
62. Trong hệ mặt trời của chúng ta, đại đa số chân thần là các chân thần Bác Ái và vì vậy, đối với họ, sự biểu lộ bác ái là con đường ít trở ngại nhất. |
|
Yet the Monads of activity are numerous and influential |
Tuy nhiên các chân thần hoạt động thì đông đảo và có ảnh hưởng |
|
63. Especially is this so upon our planet as well as Mars and Saturn. |
63. Điều này đặc biệt đúng trên hành tinh của chúng ta cũng như trên Sao Hỏa và Sao Thổ. |
|
64. Because the Monads of Activity are the “oldest” in terms of incarnational experience they are “influential”. They can more easily arrange circumstances to conform to desired outcome. |
64. Bởi vì các chân thần Hoạt Động là những chân thần “cổ xưa” nhất xét theo kinh nghiệm lâm phàm nên họ “có ảnh hưởng”. Họ có thể dễ dàng hơn trong việc sắp xếp hoàn cảnh để phù hợp với kết quả mong muốn. |
|
and the first petal in each ring is for them the easiest to unfold. |
và cánh hoa đầu tiên trong mỗi vòng là cánh hoa dễ khai mở nhất đối với họ. |
|
65. It seems that the Monads of Activity have much resistance to both love and will, but (even though will is found on their own line of energy) it seems that will is most difficult for them to unfold, perhaps because it is most easy for them to evade through the misuse of intelligence. |
65. Dường như các chân thần Hoạt Động có nhiều sự kháng cự đối với cả bác ái lẫn ý chí, nhưng (dù ý chí được tìm thấy trên chính tuyến năng lượng của họ) dường như ý chí là điều khó khai mở nhất đối với họ, có lẽ vì họ dễ né tránh nó nhất qua việc lạm dụng trí tuệ. |
|
For both groups the “knowledge” petal is the first opened, owing to the inherent nature of the Manasadevas themselves, and their basic vibration. |
Đối với cả hai nhóm, cánh hoa “tri thức” là cánh hoa đầu tiên được mở, do bản chất cố hữu của chính các Manasadevas, và rung động căn bản của các Ngài. |
|
66. The basic vibration of the Manasadevas is divine knowledge represented by orange. |
66. Rung động căn bản của các Manasadevas là tri thức thiêng liêng được biểu thị bằng màu cam. |
|
67. Manasadevas respond most, therefore, and most immediately, to the knowledge vibration, though their capacity to embody love is exceedingly strong. |
67. Vì vậy, các Manasadevas đáp ứng nhiều nhất, và tức thì nhất, với rung động tri thức, mặc dù năng lực thể hiện bác ái của các Ngài là vô cùng mạnh mẽ. |
|
For all, sacrifice is the hardest, for it involves ever the two factors of intelligence and love,—intelligent knowledge and a love that goes out to that which must be saved through sacrifice. |
Đối với tất cả, hi sinh là khó nhất, vì nó luôn luôn bao hàm hai yếu tố trí tuệ và bác ái,—tri thức thông tuệ và một tình thương hướng ra ngoài đến điều phải được cứu vớt qua hi sinh. |
|
68. Thus we have a situation in which knowledge is generally easiest and will/sacrifice is hardest. We may presume that will/sacrifice is easiest of for the Monads of Power, even though, for them as well, it is difficult—apparently more difficult, in general, than opening the knowledge petals. |
68. Như vậy chúng ta có một tình huống trong đó tri thức nói chung là dễ nhất còn ý chí/hi sinh là khó nhất. Chúng ta có thể giả định rằng ý chí/hi sinh là dễ nhất đối với các chân thần Quyền Lực, mặc dù ngay cả đối với họ, nó cũng khó—rõ ràng nói chung còn khó hơn việc mở các cánh hoa tri thức. |
|
69. It is interesting that there is no true sacrifice unless supported by both intelligence and love. So there is much assimilation to be accomplished before sacrifice can really be achieved and expressed, thus accounting for the relative difficulty in opening the sacrifice petals. |
69. Điều đáng chú ý là không có sự hi sinh đích thực nào nếu không được nâng đỡ bởi cả trí tuệ lẫn bác ái. Vì thế có rất nhiều sự đồng hoá phải được hoàn thành trước khi hi sinh thực sự có thể được đạt đến và biểu lộ, do đó giải thích cho sự khó khăn tương đối trong việc mở các cánh hoa hi sinh. |
|
70. We are leaning why it is so difficult to read the Path of Initiation—for all types, even though the Path of Initiation is ruled generically by the first and seventh rays (so presumably these types should find it easier to tread), and the second ray types are adept at teaching the science of initiation. |
70. Chúng ta đang học vì sao việc bước đi trên Con Đường Điểm Đạo lại khó đến thế—đối với mọi loại người, dù rằng Con Đường Điểm Đạo được cai quản một cách tổng quát bởi cung một và cung bảy (nên có lẽ các loại người này phải thấy dễ bước đi hơn), và những người cung hai thì thiện nghệ trong việc giảng dạy khoa học điểm đạo. |
|
71. For third ray types it may be fairly easy to be responsive to will and power, as that will and power express in personal/individual ways, but not so easy to be responsive to the loving expression of will and power. |
71. Đối với những người cung ba, có thể khá dễ để đáp ứng với ý chí và quyền lực, khi ý chí và quyền lực ấy biểu lộ theo những cách cá nhân/cá thể, nhưng không dễ đến thế để đáp ứng với sự biểu lộ đầy bác ái của ý chí và quyền lực. |