Commentary on Rule I for Applicants
|
Rule I: |
Quy Luật I: |
|
Let the disciple search within the heart’s deep cave. If there the fire burns bright, warming his brother yet heating not himself, the hour has come for making application to stand before the door. |
Người đệ tử hãy tìm bên trong hang động sâu thẳm của trái tim. Nếu ở đó có lửa cháy sáng, sưởi ấm huynh đệ y chứ không sưởi ấm cho chính y, thì thời khắc đã đến để ứng viên đứng trước cánh cổng điểm đạo. |
|
The sentences: |
Các câu nói |
|
A. Let the disciple search within the heart’s deep cave. |
A. Người đệ tử hãy tìm kiến trong hang động sâu thẳm của trái tim. |
|
1. In the largest sense, the “heart’s deep cave” is the sum-total of one’s reincarnational past. |
1. Theo nghĩa rộng nhất, “hang động sâu thẳm của trái tim” là tổng của các kiếp quá khứ của một người. |
|
2. It is the disciple’s entire contents of consciousness, including not only contents which are recent and, therefore, more easily accessible, but contents which are long forgotten, separated from the disciple’s conscious mind by Lethe, “the river of forgetfulness”. |
2. Đó là toàn bộ các nội dung của tâm thức người đệ tử, bao gồm không chỉ những nội dung mới đây, và vì thế, dễ tiếp cận hơn, mà còn cả những nội dung đã từ bị quên lãng từ lâu, tách biệt khỏi tâm trí hữu thức của người đệ tử bởi Lethe, “dòng sông quên lãng”. |
|
3. The search within the “heart’s deep cave” demands an exploration of that which the three lower permanent atoms (physical and astral permanent atoms and mental-unit) have stored over many life cycles. |
3. Cuộc tìm kiếm bên trong “hang động sâu thẳm của trái tim” đòi hỏi một cuộc khám phá mà ba nguyên tử thường tồn của bản thể thấp (nguyên tử thường tồn thể xác và thể cảm dục và đơn vị thể trí) đã lưu trữ qua nhiều kiếp sống. |
|
4. The Buddha, immediately before his enlightenment, and under the Bodhi Tree, conducted a most thorough search, and the contents of all his previous human lives (hundreds, according to legend, and a few others in the animal kingdom) were revealed to Him sequentially, like pearls on a string. |
4. Đức Phật, ngay trước khi thành đạo, và dưới cội Bồ Đề, đã tiến hành một cuộc tìm kiếm uyên thâm nhất, và nội dung của tất cả kiếp người trước đây của Ngài (theo truyền thuyết, hàng trăm kiếp và một vài kiếp khác trong giới động vật) đã được tiết lộ cho Ngài tuần tự, như những hạt ngọc trai trên một sợi dây. |
|
5. The greater part of these memories are inaccessible to the average disciple as the details of previous incarnations cannot be accurately recalled. Often, when there is recollection, it is inaccurate and amplified by contents from the imagination and astral body. Psychism, in this respect, and at this present time, is notoriously unreliable. |
5. Phần lớn những ký ức này không thể tiếp cận được đối với một đệ tử bình thường vì các chi tiết của các lần lâm phàm trước đó không thể được nhớ lại một cách chính xác. Thông thường, khi hồi tưởng lại, nó không chính xác và bị khuếch đại bởi nội dung từ trí tưởng tượng và thể cảm dục. Về mặt này, thuyết tâm linh ở thời điểm hiện tại, mang tiếng là không đáng tin cậy. |
|
6. For practical purposes, the contents of this “cave” consist of all recollectable memories and present motivations. |
6. Vì những mục đích thực tế, các nội dung trong “hang động” này bao gồm tất cả những ký ức có thể nhớ lại và những động cơ hiện tại. |
|
7. For practical purposes, the disciple is being asked to examine the nature of his gross and subtle energy-system—its patterns, tendencies and impulses. |
7. Vì những mục đích thực tế, người đệ tử được yêu cầu kiểm tra bản chất của hệ thống năng lượng thô trược và vi tế của mình – những kiểu mẫu, khuynh hướng và xung lực của nó. |
|
8. Especially, he is being asked to see into the nature of his desires—to see whether these are still selfish or, increasingly, tending towards selflessness. |
8. Đặc biệt, anh ta được yêu cầu nhìn vào bản chất các mong muốn của mình – để thấy xem liệu những mong muốn này có còn ích kỷ hay, ngày càng có khuynh hướng hướng về tính vô kỷ (vị tha). |
|
9. From another perspective, we might say that the “heart’s deep cave” is the united influence of two chakras—the solar plexus and the heart chakras, and the dimensions of the human energy system to which they give entrance. |
9. Từ một góc độ khác, chúng ta có thể nói rằng “hang động sâu thẳm của trái tim” là ảnh hưởng hợp nhất của hai luân xa — luân xa tùng thái dương và luân xa tim, và các chiều kích của hệ thống năng lượng con người mà chúng đưa vào. |
|
10. The solar plexus is a symbol for the entire personality nature. It is ruled by Mars, Neptune and has a strong relation to the Moon. |
10. Luân xa tùng thái dương là biểu tượng cho toàn bộ bản chất phàm ngã. Nó được cai trị bởi Hỏa Tinh, Hải Vương Tinh và có mối quan hệ chặt chẽ với Mặt Trăng. |
|
11. The heart chakra is a symbol for the soul. It is ruled by the Sun, Jupiter and is solar in its nature. |
11. Luân xa tim là biểu tượng của linh hồn. Nó được cai quản bởi Mặt Trời, Mộc Tinh và có bản chất thái dương. |
|
12. Not only is personality negativity discovered in this search, but that which is deeply and intrinsically positive. |
12. Cuộc tìm kiếm này không chỉ khám phá mặt tiêu cực của phàm ngã mà còn cả những gì mang tính tích cực sâu thẳm và thuộc về bản chất. |
|
13. The heart center is twelvefold, having twelve petals or energy vortices. |
13. Luân xa tim có 12 phần, là mười hai cánh hoa hay vòng xoáy năng lượng. |
|
14. The deepest “desires of the heart” are rooted in the soul and ultimately in the spirit—both of which are as higher heart centers. The so-called “soul body” (the egoic lotus) is, from the “petal” perspective, twelvefold, and there is reason for thinking that the monad (spirit) located on the sixth or second plane of our systemic planes (depending on the way of counting) is also related to the number twelve, since it is has its “home” within the Sun—a great heart center. |
14. “Những mong muốn của trái tim” sâu thẳm nhất bắt nguồn từ linh hồn và căn cơ là trong tinh thần – cả hai đều là những luân xa tim cao hơn. Cái gọi là “thể linh hồn” (hoa sen chân ngã), theo quan điểm “cánh hoa”, có mười hai cánh, và có lý do để nghĩ rằng chân thần (tinh thần) nằm trên cõi thứ sáu hoặc thứ hai trong các cõi thái dương hệ của chúng ta (tùy thuộc vào cách đếm) cũng liên quan đến số mười hai, vì nó có “nhà” bên trong Mặt Trời – một luân xa tim lớn. |
|
15. When looking within the “heart’s deep cave”, one is searching, ultimately, for the root of Love, and the search will take us through our heart to the soul/Egoic Lotus/Solar Angel, to the monad, to the planetary heart center (Hierarchy), to the Christ (the Heart of Hierarchy), to Shamballa, and onward to the solar heart center and beyond. (cf. Esoteric Astrology, 47 for some hints) |
15. Khi nhìn vào trong “hang sâu của trái tim”, ta đang tìm kiếm, cuối cùng, cội nguồn của Tình yêu, và cuộc tìm kiếm sẽ đưa chúng ta xuyên suốt trái tim đến linh hồn / Hoa Sen Chân Ngã / Thái Dương Thiên Thần, đến chân thần, đến luân xa tim của hành tinh (Thánh Đoàn), đến Đức Christ (Trái Tim của Thánh Đoàn), đến Shamballa, và hướng tới luân xa tim của thái dương hệ và hơn thế nữa. (xem Chiêm Tinh Học Nội Môn, trang 47 để biết một số gợi ý). |
|
16. The “heart’s deep cave”, therefore, has passages which lead downward to the depths of material impulse, and upward, endlessly, along a line of solar ‘hearts’ to the very “Heart of the Sun”, itself—the soul nature of the Solar Logos (our solar systemic god). |
16. “Hang sâu của trái tim”, do đó, có những đoạn dẫn xuống những vực sâu của xung lực vật chất, và đi lên, không ngừng, dọc theo một đường từ “những trái tim” thái dương hệ đến chính “Trái tim của Mặt trời” – bản chất linh hồn của Thái Dương Thượng Đế (thượng đế của thái dương hệ chúng ta). |
|
17. Practically speaking, one simply discovers the flow of Love. |
17. Thực tế mà nói, ta chỉ đơn giản là khám phá ra dòng chảy của Tình yêu. |
|
18. Only a disciple, focussed in the mind “held steady in the light” and, thus, inspired by the light of the soul, will have the persistence to conduct a thorough search. He will diligently (and with subtle perception of his own internal states of consciousness) discover what he really desires, and will bring to light (via Pluto—a good planetary companion for this search) hidden motivations which may not be in line with the impulses of the loving soul. |
18. Chỉ người đệ tử, tập trung trong tâm trí “được giữ vững trong ánh sáng” và do đó, được truyền cảm hứng ánh sáng của linh hồn, mới có kiên trì tiến hành cuộc tìm kiếm kỹ lưỡng. Anh ta sẽ siêng năng (và với nhận thức tinh tế về trạng thái tâm thức bên trong của chính mình) khám phá ra những gì anh ta thực sự mong muốn, và sẽ đưa ra ánh sáng (thông qua Diêm Vương Tinh – một hành tinh đồng hành tốt cho cuộc tìm kiếm này) những động lực tiềm ẩn có thể không phù hợp với những thôi thúc của linh hồn đầy yêu thương. |
|
19. He will also discover that Love is a great impersonal energy, which is not at all rooted in the personal life. |
19. Y cũng sẽ khám phá ra rằng Tình Yêu Thương là một năng lượng vô ngã tuyệt vời, không hề bắt nguồn từ đời sống phàm ngã. |
|
20. This first sentence is another way of introducing the injunction of the Delphic Oracle—“Know thyself”. |
20. Câu đầu tiên này là một cách khác để giới thiệu huấn thị của Đền Delphi – “Hãy biết chính mình”. |
|
B. If there the fire burns bright, warming his brother yet heating not himself, |
B. Nếu ở đó có ngọn lửa cháy sáng, sưởi ấm người huynh đệ của y chứ không sưởi ấm cho chính y, |
|
1. Many fires are burning within the energy system of the human being. |
1. Nhiều ngọn lửa đang cháy trong hệ thống năng lượng của con người. |
|
2. Fire and motion are synonymous terms. |
2. Lửa và chuyển động là những từ đồng nghĩa. |
|
3. The various “fires” are different patterns of motion, characterized by different frequencies and varying dynamic relationships between the ‘moving parts’ of any system. |
3. Những dạng “lửa” khác nhau là những kiểu chuyển động khác nhau, được đặc trưng bởi sự khác biệt về tần số và những mối quan hệ động khác nhau giữa các “bộ phận chuyển động” của bất kỳ hệ thống nào. |
|
4. The fires (motions), which in their aggregate constitute the lower personal self are called in the Tibetan’s Teaching, “Fire by Friction”. |
4. Lửa (những chuyển động) mà trong đó tập hợp của chúng cấu thành bản thể thấp phàm ngã được gọi trong Giáo Lý của Chân Sư Tây Tạng là “Lửa (bởi) Ma Sát”. |
|
5. Fire by Friction is what might be called the most “external” fire. |
5. Lửa Ma Sát là cái có thể được gọi là dạng lửa “thuộc về bên ngoài” nhất. |
|
6. It arises through the abrasive contact of peripheries. |
6. Nó phát sinh qua tiếp xúc ma sát của các vùng ngoại vi. |
|
7. In the Teaching, Fire by Friction is associated with “heat” rather than “warmth”—though, naturally, there is no hard and fast line between these two. They are both forms of excitation. |
7. Trong Giáo Lý, Lửa Ma Sát được liên hệ với “nhiệt” hơn là “sự ấm áp” – mặc dù, về bản chất không có ranh giới chặt chẽ giữa hai khái niệm này. Chúng đều là các dạng kích thích. |
|
8. “Heat”, from one perspective, is vibratory stimulation—an increase in frequency without, necessarily, an enhancement of relationship. |
8. “Nhiệt” từ một góc độ, là kích thích rung động – sự gia tăng tần số mà không nhất thiết có sự nâng cao của mối quan hệ. |
|
9. Warmth (considered occultly) is not only an increase in frequency, but an enhancement and harmonization of relationship. |
9. Sự ấm áp (xét về mặt huyền linh), không chỉ là sự gia tăng tần số mà còn sự nâng cao và hài hòa của mối quan hệ. |
|
10. “Heat” (as here considered) stimulates that which is eternal to the entity—its “lunar” instrument. |
10. “Nhiệt” (như xét ở đây) kích thích những gì vĩnh cửu với thực thể – khí cụ “thái âm” của nó. |
|
11. “Warmth” draws forth the interior nature (soul) within the entity, and brings an entity into enhanced relationship with another entity or with many such. |
11. “Sự ấm áp” thu hút tới bản chất nội tại (linh hồn) bên trong thực thể, và đưa thực thể vào mối quan hệ được nâng cao với một thực thể khác hay với nhiều thực thể như thế. |
|
12. When a disciple or aspirant is over-stimulated, it is as a result of too much “heat”. |
12. Khi một đệ tử hay một người chí nguyện bị kích thích quá mức, đó là kết quả của quá nhiều “nhiệt”. |
|
13. When that disciple is experiencing an enhancement of soul-infusion, the “warmth” of Solar Fire is at work. This is especially the case for those whose soul or monadic nature is upon the second Ray of Love Wisdom, but since the soul is love, it is more or less true for all ray types. |
13. Khi người đệ tử đó đang trải nghiệm sự tăng cường truyền dẫn linh hồn, “hơi ấm” của Lửa Thái Dương đang hoạt động. Đây đặc biệt là trường hợp của những ai mà linh hồn hay bản chất chân thần của họ thuộc Cung 2 Bác Ái Minh Triết, nhưng bởi vì linh hồn là tình thương, nên nó ít nhiều đúng với tất cả các cung. |
|
14. The “fire” which is to burn bright—“there” in the heart chakra—is Solar Fire, and not Fire by Friction. |
14. “Lửa” cháy sáng – “ở đó” trong luân xa tim – là Lửa Thái Dương chứ không phải Lửa bởi Ma Sát. |
|
15. The Rule asks us to discover if our heart center is being animated by the “warmth” of Solar Fire. The word “animated” is important, because “anima” means the soul. |
15. Quy Luật này yêu cầu chúng ta khám phá rằng liệu luân xa tim của chúng ta có đang được làm sống động bởi “hơi ấm” của Lửa Thái Dương hay không. Từ “được làm sống động” là quan trọng, bởi vì “anima” (sống động) có nghĩa là linh hồn. |
|
16. If this animation by warmth is in process, it would mean that a degree of soul-infusion had occurred; that heart energy was superceding the desirous energy of the solar plexus center. |
16. Nếu việc làm sống động bởi sức ấm này đang trong tiến trình hoạt động, điều đó có nghĩa rằng đã xuất hiện một mức độ truyền dẫn linh hồn nhất định; rằng năng lượng luân xa tim đã đang thay thế năng lượng ham muốn của luân xa tùng thái dương. |
|
17. If the “fire” of the heart is “burning bright”, it is not an intermittent flame. This Solar Fire would burn with relative consistency, becoming always, with greater soul infusion, ever more consistent. |
17. Nếu “lửa” của trái tim đang “cháy sáng”, nó không phải là một ngọn lửa gián đoạn. Lửa Thái Dương này sẽ cháy tương đối bền bỉ, luôn trở nên ngày càng kiên định hơn, với sự truyền dẫn linh hồn ngày càng nhiều hơn. |
|
18. The disciple, however, often realizes, “Sometimes I love; sometimes I do not”. This is caused by the inconsistency of the fire of the heart. That higher fire must supercede the lower fire of the solar plexus. |
18. Tuy nhiên, người đệ tử thường nhận ra, “Đôi khi tôi yêu thương; đôi khi tôi không yêu thương”. Điều này là bởi sự không nhất quán của ngọn lửa của trái tim. Ngọn lửa cao cả hơn đó phải thay thế ngọn lửa thấp hơn của luân xa tùng thái dương. |
|
19. For a long time these two centers are at war, each seeking a greater share of the available energy. The disciple passing through this phase of energy-contention is often distressed both physically and psychologically by incessant fluctuation—there is no “firm ground” |
19. Trong suốt một thời gian dài, hai luân xa này đã xung đột với nhau, mỗi luân xa đều tìm kiếm phần chia sẻ năng lượng sẵn có lớn hơn cho mình. Người đệ tử đang đi qua giai đoạn tranh chấp năng lượng này thường đau khổ cả về mặt thể chất và tâm lý bởi sự dao động không ngừng – không có “sự trụ vững chắc chắn”. |
|
20. At length the heart chakra triumphs, which is to say that the soul triumphs ‘over’ (and through) the personality, and the disciple becomes the compassionate one instead of the passionate one. In general terms, the second Ray of Love-Wisdom supersedes the sixth Ray of Idealism and Devotion. |
20. Qua thời gian dài, luân xa tim chiến thắng, có nghĩa là linh hồn chiến thắng “vượt qua” (và thông qua) phàm ngã, và người đệ tử trở nên một người từ bi trắc ẩn thay vì một người đam mê nhiệt tình. Nói chung, Cung 2 Bác Ái Minh Triết thay thế Cung 6 Lý Tưởng và Sùng Tín. |
|
21. This simple requirement (that the “fire burns bright”) is the basis of all truly spiritual growth. |
21. Yêu cầu đơn giản này (rằng có “ngọn lửa cháy sáng”) là cơ bản cho tất cả mọi sự phát triển tinh thần thực sự. |
|
22. The Hierarchy is the “Hierarchy of Love”, and there is no way into that Hierarchy except through real and impersonal/supra-personal Love (for they are the same). |
22. Thánh Đoàn là “Thánh Đoàn của Tình Thương”, và không có con đường nào đi vào Thánh Đoàn ngoại trừ thông qua Tình Thương chân thật và vô ngã/siêu ngã (bởi vì chúng là như nhau). |
|
23. When one warms one’s brother, one draws forth all that is good in him. Warming evokes the soul. |
23. Khi một người sưởi ấm cho huynh đệ của mình, người ấy rút ra tất cả những gì tốt đẹp nơi y. Sự sưởi ấm khơi gợi linh hồn. |
|
24. When one heats oneself, one is really heating one’s not-self. One is stimulating, and probably over-stimulating, one’s “lunar” nature—consisting of the physical, astral and mental elemental lives—the “Lunar Lords” within us. |
24. Khi ta làm nóng chính mình, ta đang thực sự làm nóng phần phi ngã của mình. Ta đang kích thích, và có lẽ kích thích quá mức, bản chất “thái âm” của mình – bao gồm các sự sống tinh linh vật chất, cảm dục và trí tuệ – các “Nguyệt Thần” bên trong chúng ta. |
|
25. If these Lunar Lords become too agitated (which is what they seem to ‘want’ to do), they “kill the flickering impulses of the soul”; they occultly repulse the higher soul vibration. A cloud appears before the “Sun”. |
25. Nếu những Nguyệt Thần này trở nên bị quá kích động (đó là những gì mà chúng có vẻ “muốn” làm), chúng “giết chết những xung động chập chờn của linh hồn”; về mặt huyền linh, chúng đẩy lùi rung động cao cả của linh hồn. Một đám mây che xuất hiện trước “Mặt Trời”. |
|
26. Many aspirants and disciples get overexcited in the personal sense. They are amazed by the new knowledge available to them, so their mental elemental becomes over-stimulated. |
26. Nhiều người chí nguyện và đệ tử bị kích thích quá mức về mặt phàm ngã. Họ kinh ngạc với tri thức mới sẵn có với họ, vì thế tinh linh thể trí của họ trở nên bị kích thích quá mức. |
|
27. They burn with desire or aspiration to reach a higher state, and fail to consider the welfare of those around them. Their astral/emotional elemental becomes over-stimulated. |
27. Họ cháy bỏng ham muốn hay khao khát vươn tới một trạng thái cao cả hơn, và không xem xét đến phúc lợi của những người xung quanh họ. Các tinh linh cảm dục /cảm xúc của họ trở nên bị kích thích quá mức. |
|
28. Various fires are racing through their etheric-physical mechanism, which gets “high’ on its own intensity and occultly rejects the energies of the soul. |
28. Nhiều dạng lửa khác nhau đang chạy đua qua cơ chế thể xác – dĩ thái của họ, cơ chế này tăng cao về cường độ của chính chúng và về mặt huyền linh, không tiếp nhận những năng lượng của linh hồn. |
|
29. Thus, in this “heating” of themselves, they fall victim to illusion (mental), glamor (emotional) and maya (etheric-physical). |
29. Vì thế, trong chính sự “đốt nóng” bản thân này, họ rơi vào thành nạn nhân của ảo tưởng (thể trí), ảo cảm (thể cảm dục) và ảo lực (thể xác – dĩ thái). |
|
30. This can happen to groups as well as to individuals; the analogy holds good. If fact, many disciples, individually, have overcome illusion-glamor-maya, but the groups to which they belong have not, and their behavior within groups does not measure up to as high a standard as when they function outside the group context. Thus, an area for growth is indicated. |
30. Điều này có thể xảy ra với các nhóm cũng như với các cá nhân; tương tự như nhau. Thực tế, nhiều đệ tử, với tư cách cá nhân, đã vượt qua ảo tưởng – ảo cảm – ảo lực (ảo ảnh), nhưng các nhóm mà họ thuộc về thì chưa, và hành xử của họ trong các nhóm chưa đáp ứng với tiêu chuẩn cao như khi họ hoạt động bên ngoài bối cảnh nhóm đó. Vì thế điều này cho chúng ta thấy lĩnh vực cần phát triển. |
|
31. This “heating” is in the nature of a disturbance to the process of soul-infusion. The ‘heated one’ is often very pleased with himself, and thinks he is making spiritual progress. But, in fact, he is simply preoccupied with lunar energies, and is occultly deflecting, through an intensity of lower vibration, the higher and subtler vibrations which could draw the personality nearer the Solar Source (the supervising Solar Angel). |
31. Việc “làm nóng” này về bản chất là sự xáo trộn đối với quá trình truyền dẫn của linh hồn. “Người bị nóng lên” thường rất hài lòng với chính mình, và nghĩ anh ta đang tiến triển về tinh thần. Nhưng trên thực tế anh ta đang chỉ đơn thuần bận rộn với các năng lượng Nguyệt tinh (thái âm), và về mặt huyền linh, qua cường độ của rung động thấp hơn đang bị chệch hướng với các rung động cao cả và vi tế hơn mà đã có thể đưa phàm ngã tiến gần hơn với Nguồn Cội Thái Dương (Đấng Thái Dương Thiên Thần đang giám sát). |
|
32. It is also possible to heat one’s brother instead of warming him. |
32. Chúng ta cũng có thể làm nóng người huynh đệ của mình thay vì sưởi ấm anh ta. |
|
33. Every time we stimulate a brother’s outer nature—just his body, just his emotions, just his mind, or just all three—we heat him and fail to reach his soul. |
33. Mỗi khi chúng ta kích thích bản chất bên ngoài của một huynh đệ – chỉ thể xác của anh ta, chỉ những cảm xúc của anh ta, chỉ trí tuệ của anh ta, hay chỉ là tất cả ba thể này của người ấy – thì chúng ta đang làm nóng người ấy và không thể chạm tới linh hồn của người ấy. |
|
“Rule I. Enter thy brother’s heart and see his woe. Then speak. Let the words spoken convey to him the potent force he needs to loose his chains. Yet loose them not thyself. Thine is the work to speak with understanding. The force received by him will aid him in his work. |
“Quy tắc I. Hãy nhập vào tâm huynh đệ ngươi và xem xét nỗi khổ của y. Sau đó hãy nói. Hãy để cho những lời nói truyền cho y mãnh lực mà y đang cần để tháo lỏng các xiềng xích của y. Nhưng không phải ngươi tháo lỏng các xiềng xích đó. Công việc của ngươi là nói với sự hiểu biết. Sức mạnh mà y nhận được sẽ trợ giúp y trong công việc của y. |
|
Rule II. Enter thy brother’s mind and read his thoughts, but only when thy thoughts are pure. Then think. Let the thoughts thus created enter thy brother’s mind and blend with his. Yet keep detached thyself, for none have the right to sway a brother’s mind. The only right there is, will make him say: “He loves. He standeth by. He knows. He thinks with me and I am strong to do the right.” Learn thus to speak. Learn thus to think. |
Quy tắc II. Hãy nhập vào trí của huynh đệ ngươi và đọc các tư tưởng của y, nhưng chỉ khi nào tư tưởng của ngươi được thanh khiết. Kế đó hãy suy nghĩ. Hãy để cho những tư tưởng được tạo ra như thế nhập vào trí của huynh đệ ngươi và pha trộn với tư tưởng của y. Tuy nhiên, hãy tự tách riêng ngươi ra, vì không một ai có quyền chế ngự thể trí của một huynh đệ. Có một quyền duy nhất là sẽ làm cho y nói: “Y yêu thương. Y sẵn sàng hành động. Y hiểu biết. Y suy nghĩ như tôi và tôi mạnh mẽ để làm điều phải”. Hãy học cách nói như thế. Hãy học cách nghĩ như thế. |
|
Rule III. Blend with thy brother’s soul and know him as he is. Only upon the plane of soul can this be done. Elsewhere the blending feeds the fuel of his lower life. Then focus on the plan. Thus will he see the part that he and you and all men play. Thus will he enter into life and know the work accomplished.” (TWM 320) |
Quy tắc III. Hãy hòa quyện với linh hồn của huynh đệ ngươi và hiểu biết được y theo đúng bản chất của y. Chỉ trên cảnh giới của linh hồn mới có thể làm được điều này. Ở nơi khác, sự pha trộn này cung cấp nhiên liệu cho sự sống thấp kém của y. Sau đó hãy tập trung vào Thiên Cơ. Như thế y sẽ nhìn thấy vai trò mà y, và ngươi, và tất cả mọi người, đang tham gia. Nhờ đó y sẽ đi vào cuộc sống, và biết công việc đã được thành tựu. |
|
34. We have to be careful to think towards our brother, feel towards our brother, act towards our brother and speak to our brother in such a way that our energy travels “across the desert, over all the seas and through the fires which separate [him] from the veiled and hidden door” (Rules III for Applicants. Thus, we reach his soul (which, in effect, is our soul, and, in fact, the soul). |
34. Chúng ta phải cẩn thận khi nghĩ đến huynh đệ của mình, cảm nhận hướng về huynh đệ của mình, hành động hướng về huynh đệ mình và nói chuyện với huynh đệ của chúng ta theo cách mà năng lượng của chúng ta truyền đi “qua sa mạc, qua tất cả các biển và qua những ngọn lửa chia cắt [anh ta] với cánh cửa được che đậy và ẩn giấu ”(Quy luật III dành cho Ứng viên điểm đạo. Như vậy, chúng ta đến được linh hồn của anh ta (mà trên thực tế, là linh hồn của chúng ta, và là một linh hồn). |
|
35. This is not easy, and often for reasons of our own, we wish to stimulate one part or another of our brother, and not reach him as a soul. Our own personal nature wants this, because when we stimulate the personality of our brother, our own personality elementals are stimulated—and this they relish. |
35. Điều này không dễ dàng, và thường vì những lý do riêng, chúng ta muốn kích thích phần này hay phần khác của huynh đệ mình, chứ không tiếp cận anh ấy như một linh hồn. Bản chất phàm ngã của chính chúng ta muốn điều này, bởi vì khi chúng ta kích thích phàm ngã huynh đệ mình, các tinh linh phàm ngã của chúng ta sẽ được kích thích — và điều này khiến chúng thích thú . |
|
36. If we warm our brothers with the outflow of soul energy, through the heart, especially, and also through other chakras (especially those above the diaphragm), we will, by reflex, find ourselves “warmed”. |
36. Nếu chúng ta sưởi ấm huynh đệ mình bằng dòng chảy của năng lượng linh hồn, đặc biệt là qua luân xa tim, và cũng qua các luân xa khác (đặc biệt là những luân xa phía trên cơ hoành), bởi phản xạ, chúng ta sẽ thấy mình “được sưởi ấm”. |
|
37. If we heat our brothers, before long we will in our outer natures, likewise, be heated. In fact, we could not heat our brother if we were not, ourselves heated. With this exception, however—that sometimes soul energy flowing towards a brother is intercepted by his lunar nature, and thus, temporarily, causes heat. Thus the Masters, Themselves, have to be careful not to come to close to the unprepared, lest the lesser ones become damaged by an ‘excess of benevolent proximity’. However, this temporary misappropriation of soul energy will be overcome by persistent warming. “Love conquers all”. |
37. Nếu chúng ta làm nóng huynh đệ mình, thì chẳng bao lâu nữa, tương tự, các thể bên ngoài của chúng ta, cũng sẽ bị làm nóng. Trên thực tế, chúng ta không thể làm nóng huynh đệ mình nếu chính chúng ta không bị làm nóng. Tuy nhiên, ngoại trừ trường hợp này — đó là đôi khi năng lượng linh hồn chảy về phía một người huynh đệ bị bản chất thái âm của anh ta chặn lại, và do đó, tạm thời gây ra nhiệt. Vì vậy, bản thân các Chân Sư phải cẩn thận không đến gần những người không được chuẩn bị, kẻo những người kém hơn sẽ bị tổn hại bởi một sự gần gũi nhân từ quá mức. Tuy nhiên, sự chiếm dụng năng lượng linh hồn tạm thời này sẽ được khắc phục bằng việc kiên trì sưởi ấm. “Tình yêu thương chinh phục tất cả”. |
|
C. …the hour has come for making application to stand before the door. |
C. … thời khắc xin được đứng trước cánh cổng điểm đạo đã đến. |
|
1. That “hour” is a period of time reached after many lives of preparation. |
1. “Thời khắc” đó là khoảng thời gian đã đạt tới sau nhiều kiếp sống chuẩn bị. |
|
2. The “hour” represents a inner state of patterned energy-relationship, or “point of tension” achieved and sustained. |
2. “Thời khắc” đó đại diện cho một trạng thái nội tâm của mối quan hệ với kiểu mẫu năng lượng, hay “điểm nhất tâm” đã đạt tới và được duy trì. |
|
3. The “hour” has not arrived if we simply, now and then, touch a certain high point of tension which we cannot sustain. |
3. “Thời khắc” đó chưa tới nếu chúng ta chỉ đơn thuần, thỉnh thoảng, chạm tới một điểm nhất tâm cao nào đó mà chúng ta không thể duy trì. |
|
4. A “point of tension” is called by the Tibetan, “focussed immovable will”. |
4. “Điểm nhất tâm” (điểm trụ) được Chân Sư Tây Tạng gọi là “điểm tập trung của ý chí không lay chuyển”. |
|
5. “The esoteric significance of tension (as far as I can explain it by limiting words) is ‘focussed immovable Will.’ Right tension is the identification of brain and soul with the will aspect, and the preservation of that identification—unchanged and immovable—no matter what the circumstances and the difficulties.” (Rays and the Initiations—R&I-45) |
5. Ý nghĩa huyền bí của sự căng thẳng/nhất tâm (ở chừng mức mà tôi có thể giải thích nó bằng ngôn từ hạn chế) là “điểm tập trung của ý chí bất biến”. Sự nhất tâm chân chính là sự đồng nhất hóa của bộ não và linh hồn với trạng thái ý chí, và việc bảo tồn sự đồng nhất hóa đó – không thay đổi và bất biến – bất kể các hoàn cảnh và những khó khăn như thế nào. |
|
6. “Application” is not a formal request or a demand for the accolade of initiation. “Application” is a serious intention to achieve the required energy-pattern within one’s personality. |
6. “Sự ứng cử” không phải là một yêu cầu chính thức hay một yêu cầu để được vinh danh điểm đạo. “Sự ứng cử” là một ý định nghiêm túc nhằm đạt tới kiểu mẫu năng lượng được yêu cầu bên trong phàm ngã của một người. |
|
7. The “application” (as intention) may be registered by the inner watching disciple who, from the inner planes, guides the disciple upon the outer plane. The “application” will, also be registered by the Master—when it is of sufficient intensity and constancy. |
7. “Sự ứng cử” (như ý định) có thể được ghi nhận bởi người đệ tử đang quan sát nội tâm, từ các cõi nội giới, hướng dẫn cho người đệ tử ở cõi giới ngoại tại. “Sự ứng cử” này cũng sẽ được ghi nhận bởi Chân Sư – khi nó đủ mạnh mẽ và kiên trì. |
|
8. Thus, application is not accepted until the required energy-pattern is not only sustained, but tested for its sustainability. |
8. Như thế, sự ứng cử sẽ không được chấp nhận cho đến khi kiểu mẫu năng lượng cần thiết không những được duy trì mà còn được kiểm nghiệm tính bền vững của nó. |
|
9. A triple personality in a sufficiently high state of frequency and of inner-harmony is, in itself, an application. Thus, in our personality vehicles, we become a living, sustained application to higher energy contacts. We become in fact, an invocation—not by what we say, but by what we are. |
9. Một phàm ngã tam phân ở một trạng thái có tần số rung động đủ cao và hài hòa nội tại thì trong chính bản thân nó đã là một sự ứng cử. Vì thế, trong các vận cụ phàm ngã của chúng ta, chúng ta trở thành một sự ứng cử sống động, bền vững với những tiếp xúc năng lượng cao cả. Thực tế, chúng ta trở thành một sự khấn nguyện, không chỉ bởi những gì chúng ta nói mà còn bởi bản chất hiện hữu của chúng ta (những gì chúng ta là). |
|
10. To “stand” before the door of initiation, is not the same thing as to “sit” before the door—though to a degree, it depends on ray types. First ray types are more given to standing. Second ray types “sit for enlightenment” as did the Buddha under the Bodhi Tree. |
10. “Đứng” trước cánh cổng điểm đạo không giống như “ngồi” trước cánh cổng – dù ở mức độ nào đó, nó tùy thuộc vào các dạng cung năng lượng. Các dạng người cung một có xu hướng đứng hơn. Dạng người cung hai thì “ngồi để giác ngộ” như Đức Phật đã làm dưới Cội Bồ Đề. |
|
11. Nevertheless, all of us, regardless of ray type must learn to take our stand. By standing we align ourselves with spiritual will—to some extent at least, for true spiritual will is profound and emanates from sources even higher than the normal soul focus. |
11. Dù vậy, tất cả chúng ta, cho dù thuộc dạng cung nào, phải học cách giữ vững lập trường (thể hiện chính kiến) của mình. Bằng cách đứng vững, chúng ta chỉnh hợp bản thân mình với ý chí tinh thần — ít nhất ở một mức độ nào đó, vì ý chí tinh thần thực sự thì sâu sắc và phát xuất từ những nguồn thậm chí còn cao hơn trọng tâm linh hồn bình thường. |
|
12. We learn to “stand on principle” and will not be moved from off the place whereon we stand. |
12. Chúng ta học cách “đứng trên nguyên tắc” và sẽ không rời khỏi vị trí mà chúng ta đang đứng. |
|
13. We also “stand and wait”, for we cannot break through the door of initiation until our energy system is synchronized with that frequency which lies on the other side of the door. |
13. Chúng ta cũng “đứng và chờ đợi”, vì chúng ta không thể vượt qua cánh cổng điểm đạo cho đến khi hệ thống năng lượng của chúng ta được đồng bộ hóa với tần số nằm ở phía bên kia của cánh cửa. |
|
14. The “door” itself, as we will study in the more advanced Rules, is a subtle electrical field which does not allow the passage through of that which is not harmonious, attuned and very similar to that which lies beyond the door. |
14. Bản thân “cánh cửa”, như chúng ta sẽ nghiên cứu trong các Quy Luật cao hơn, là một trường điện vi tế không cho phép những gì không hài hòa, hòa hợp và rất giống với trường nằm bên ngoài cửa, đi qua. |
|
15. The standing before the door, shows that we can willfully and willingly sustain the point of tension achieved before being admitted. |
15. Việc đứng trước cánh cổng cho thấy rằng chúng ta có thể, chủ ý và sẵn sàng, duy trì điểm nhất tâm đạt được trước khi được tiếp nhận. |
|
16. By standing in the right spiritual posture, we are submitting ourselves to the “test of time” (Saturn). No one can enter who does not abide in the correct energy state for the requisite amount of time. What that amount is, is probably different in the case of each individual, and much will depend upon the astrological configurations of the applicant. If the astrology is not right, he cannot pass. Thus it is, that many are, technically, initiate before they are initiated. |
16. Bằng cách đứng trong tư thế tinh thần đúng đắn, chúng ta tự phục tùng “thử thách của thời gian” (Thổ Tinh). Không ai có thể vào nếu không ở trong trạng thái năng lượng chính xác trong khoảng thời gian cần thiết. Khoảng thời gian đó là bao lâu, có thể khác nhau trong trường hợp của mỗi cá nhân, và phần lớn sẽ phụ thuộc vào các cấu hình chiêm tinh của ứng viên. Nếu cấu hình chiêm tinh không phù hợp, anh ta không thể vượt qua. Vì vậy, về mặt kỹ thuật, nhiều người đã là điểm đạo đồ trước khi họ được điểm đạo |
|
17. So, perhaps, one has to be willing to remain an applicant for a long time. As long as it takes to prove oneself as fit for the expansion of consciousness and the heightening of energy which lies beyond the repelling energy-field we call the “Door of Initiation”. |
17. Vì vậy, có lẽ, một người phải sẵn sàng để duy trì là một ứng viên trong một thời gian dài. Miễn là cần chứng tỏ bản thân phù hợp với việc mở rộng tâm thức và nâng cao năng lượng vượt trêên trường năng lượng đẩy lùi mà chúng ta gọi là “Cánh Cổng Điểm Đạo”. |
|
D. When love for all beings, irrespective of who they may be, is beginning to be a realised fact in the heart of a disciple, and yet nevertheless love for himself exists not, then comes the indication that he is nearing the Portal of Initiation, and may make the necessary preliminary pledges. |
D. Khi tình thương đối với tất cả chúng sinh, bất kể họ là ai, bắt đầu trở thành một sự thật được nhận ra trong trái tim của một đệ tử, và tuy vậy tình thương đối với bản thân không tồn tại, thì đó là dấu hiệu rằng y đang gần đến Cổng Điểm Đạo, và có thể đưa ra những lời cam kết sơ bộ cần thiết. |
|
1. Right here, we can see that this Rule does not only apply to the first initiation (the Birth of the Christ in the Heart) but even to the third (the real first initiation), the Transfiguration. |
1. Ngay tại đây, chúng ta có thể thấy rằng Quy luật này không chỉ áp dụng cho lần điểm đạo đầu tiên (Sự Giáng Sinh của Đức Christ trong Trái Tim) mà cả cho lần thứ ba (lần điểm đạo đầu tiên thực sự), Cuộc Điểm Đạo Biến Dung. |
|
2. The only word that makes this Rule applicable to the first initiation is the word “beginning”. |
2. Từ duy nhất làm cho Quy luật này áp dụng cho cuộc điểm đạo đầu tiên là từ “bắt đầu”. |
|
3. “Love for all beings irrespective of who they may be” will never come from the personality itself—the personality with all its likes and dislikes, its affinities and disinclinations. |
3. “Tình yêu đối với tất cả chúng sinh không phân biệt họ là ai” sẽ không bao giờ xuất phát từ bản thân phàm ngã — phàm ngã với tất cả những điều nó thích và không thích, những gì nó yêu thích và chán ghét. |
|
4. One can see how very demanding is this very first Rule, and how “Christ like” one must be to fulfill it completely—so that love for all beings is a realized fact in the heart of the disciples. So far, however, we are only asked for a beginning, which, for most of us, is more attainable. |
4. Ta có thể thấy Quy luật đầu tiên này đòi hỏi khắt khe như thế nào, và người ta phải “giống như Đức Christ” như thế nào để hoàn thành nó một cách trọn vẹn — để tình yêu thương dành cho tất cả chúng sinh là một sự thật được nhận biết trong trái tim các đệ tử. Tuy nhiên, cho đến nay, chúng ta mới chỉ được yêu cầu một sự khởi đầu, mà đối với hầu hết chúng ta, có thể (dễ) đạt tới hơn. |
|
5. To have such love, we must have transcended kama-manas (desire-mind). Our love becomes an impersonal love or a supra-personal love. It has nothing to do with the evident qualities of the one who is loved. To achieve such love constitutes an important test for all of us. |
5. Để có được tình yêu như vậy, chúng ta phải vượt qua kama-manas (trí cảm). Tình yêu của chúng ta trở thành một tình yêu vô ngã hay một tình yêu siêu phàm. Nó không liên quan gì đến những phẩm chất hiển nhiên của người được yêu. Đạt được tình yêu như vậy là một bài kiểm tra quan trọng cho tất cả chúng ta. |
|
6. I will love you, not because of what you are or who you are, but for the very reason that you are. You are worthy of being loved simply because you exist. |
6. Tôi sẽ yêu thương bạn, không phải vì bạn là gì hay bạn là ai, mà vì bạn là chính bạn. Bạn đáng được yêu thương chỉ đơn giản vì bạn hiện hữu. |
|
7. Please note how inclusive is the word “all”—“all beings”. It means, “with no exceptions”. This includes persons and beings who, according to their qualities, may be repulsive. We note, in this respect, that St. Francis, who was clearly an arhat, renunciant, initiate of the fourth degree, embraced the leper, doing, for the sake of soul, that his personality found repugnant. |
7. Xin lưu ý rằng từ “tất cả” – “tất cả chúng sinh” mang tính bao gồm như thế nào. Nó có nghĩa là, “không có ngoại lệ”. Điều này bao gồm những người và chúng sinh, theo phẩm chất của họ, có thể đáng ghét. Về mặt này, chúng ta lưu ý rằng Thánh Francis, ngài rõ ràng là một vị la hán, người từ bỏ, vị điểm đạo đồ bậc bốn, đã ôm lấy người bị phong cùi, đã làm điều mà phàm ngã của ngài cảm thấy ghê tởm, nhân danh linh hồn. |
|
8. The leper symbolizes all that is “untouchable”. With this word, we are reminded of the Indian Caste System, classifying some human beings as “untouchable”. This lowest class is the fourth caste, and when an initiate strives for the fourth initiation, he must meet with love all that is “untouchable”, until he, in a profound occult reversal, becomes untouchable himself. He cannot be touched by the lunar worlds and no longer needs to incarnate. “Let the group know that life is one, and naught can ever take or touch that Life” (Rule VI for Disciples and Initiates) |
8. Người phong hủi tượng trưng cho tất cả những gì “không thể chạm tới” Với từ này, chúng ta được gợi nhắc đến Hệ thống đẳng cấp của Ấn Độ, phân loại một số người là “không thể chạm tới”. Tầng lớp thấp nhất này là đẳng cấp thứ tư, và khi một điểm đạo đồ phấn đấu cho cuộc điểm đạo thứ tư, y phải đáp ứng bằng tình yêu dành cho tất cả những gì “không thể chạm tới”, cho đến khi y, trong một sự đảo ngược huyền bí sâu sắc, chính mình trở thành không thể chạm tới. Y không thể bị chạm tới bởi các thế giới thái âm và không cần phải luân hồi nữa. “Hãy để cả nhóm biết rằng sự sống là một, và không ai có thể lấy hoặc chạm vào Sự Sống đó” (Quy luật VI dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ) |
|
9. This love must become a “realized fact”. Theory will not do. The disciple must know for himself, and see for himself, factually, that such love is alive within his heart. No one can tell you it is so. Each must discover it for himself. |
9. Tình yêu này phải trở thành một “sự thật được nhận ra”. Lý thuyết sẽ không làm điều đó. Người đệ tử phải tự mình biết, và tự mình thấy rằng, thực sự, tình yêu ấy đang sống trong trái tim mình. Không ai có thể cho bạn biết nó là như vậy. Mỗi người phải tự mình khám phá ra điều đó. |
|
10. We become, then, a “living heart”. We achieve “heart realization”. We are then aligned with the “Doctrine of the Heart” and not only with the “Doctrine of the Eye”. The first of these is related to unitive consciousness. The second is still dualistic. |
10. Khi đó, chúng ta trở thành một “trái tim sống động”. Chúng ta đạt được “nhận thức trái tim”. Sau đó, chúng ta chỉnh hợp với “Giáo Lý của Trái Tim” chứ không chỉ với “Giáo Lý của Con Mắt”. Giáo Lý đầu tiên (của Trái Tim) liên quan đến tâm thức hợp nhất. Giáo Lý thứ hai (của Con Mắt) vẫn là nhị nguyên. |
|
11. We realize through the sentence above that the true portal of initiation is only approached through love. We may think we are approaching that portal through intensified personal will or through aspiration, or through much self-discipline (all of these, good at the right time and place), but only through love is the approach real. This we must get through our sometimes thick heads! |
11. Qua câu trên, chúng ta nhận ra rằng cánh cổng điểm đạo thực sự chỉ được tiếp cận thông qua tình yêu. Chúng ta có thể nghĩ rằng chúng ta đang tiếp cận cánh cổng đó thông qua tăng cường ý chí phàm ngã hoặc thông qua khát vọng (chí nguyện), hoặc thông qua kỷ luật bản thân chặt chẽ (tất cả những điều này đều tốt khi ở đúng nơi và đúng lúc), nhưng chỉ thông qua tình yêu thương mới là cách tiếp cận thực sự. Điều này, đôi khi chúng ta phải vượt qua sự cứng đầu của mình! |
|
12. St. Paul said it, and I will simply paraphrase: “If we don’t have love, it doesn’t make any difference what other abilities, qualities and powers we have—for they are as nothing compared to love”. Again, this is an experience we must have (and I am sure that many, if not all of us, have at times gathered the sense of this in our hearts—at our highest moments). Love is the key to abundant life. Love, and love alone, opens the door. In this solar system, all other qualities (though indispensable in their own way) are secondary. |
12. Thánh Paul đã nói điều đó, và tôi sẽ diễn giải lại một cách đơn giản: “Nếu chúng ta không có tình yêu, thì cũng sẽ chẳng có gì khác biệt cho dù chúng ta có những thứ khác như khả năng, phẩm tính và sức mạnh, bởi vì không gì có thể sánh với tình yêu thương. Một lần nữa, đây là trải nghiệm mà chúng ta phải có (và tôi chắc chắn rằng nhiều người, nếu không phải tất cả chúng ta, đã có lúc thu thập ý thức về điều này trong trái tim mình — vào những thời khắc cao cả nhất của chúng ta). Tình yêu là chìa khóa của cuộc sống trù phú. Tình thương, và chỉ tình thương mới sẽ mở ra cánh cửa. Trong thái dương hệ này, tất cả các phẩm chất khác (mặc dù không thể thiếu theo cách riêng của chúng) chỉ là thứ yếu. |
|
13. Thus, the initiate of the Great White Lodge, no matter what his ray type, loves. The other lodge can be approached through intellect and separatism, but who want to? |
13. Như vậy, vị điểm đạo đồ của Đại Bạch Đoàn, bất kể là y thuộc dạng cung năng lượng nào, đều yêu thương. Đoàn Giai kia (hắc đạo) có thể được tiếp cận thông qua trí tuệ và chia rẽ, nhưng ai mà muốn chứ? |
|
14. If, however, love for myself exists not, do I hate myself, do I despise myself? No. We have to understand carefully what is meant here. What is really being said is that ‘love for my not-self exists not’. This means that I do not inordinately love my lunar vehicles. Yes, I respect them. I have gratitude for them. And in a larger way, I do, indeed, love them in their proper place and function, but I place the love of the true Self, the soul/spirit, first. |
14. Tuy nhiên, nếu tình yêu đối với bản thân không tồn tại, liệu tôi có ghét chính mình, có phải tôi tự khinh thường chính mình không? Không. Chúng ta phải hiểu cẩn thận ý nghĩa ở đây. Điều thực sự đang được nói là “tình yêu dành cho cái phi-ngã của tôi không tồn tại”. Điều này có nghĩa là tôi không yêu thích một cách thất thường những vận cụ nguyệt tinh (thái âm) của mình. Vâng, tôi tôn trọng chúng. Tôi biết ơn chúng. Và theo một cách rộng lớn hơn, tôi thực sự yêu thương chúng ở đúng vị trí và chức năng của chúng, nhưng tôi đặt tình yêu của Chân ngã, linh hồn / tinh thần lên trên hết. |
|
15. So many of us, at times, love our personality too much and put its demands before the demands of the soul. This is natural in the course of evolution, but one day we have to outgrow this ancient habit of loving the lesser more than the greater. |
15. Rất nhiều người trong chúng ta đôi khi quá yêu phàm ngã của mình và đặt những đòi hỏi của nó trước những đòi hỏi của linh hồn. Điều này là tự nhiên trong quá trình tiến hóa, nhưng một ngày nào đó chúng ta phải phát triển vượt trên thói quen cổ xưa này – thói quen yêu cái thấp kém nhiều hơn cái cao cả. |
|
16. When one is harmless (having “perfect poise, a completed point of view and divine understanding”), all things are seen in right proportion, illusion, glamor and maya disappear, and first things come first. |
16. Khi một người vô hại (có “sự cân bằng hoàn hảo, một quan điểm hoàn chỉnh và sự hiểu biết thiêng liêng”), mọi thứ được nhìn thấy theo đúng tỷ lệ, ảo tưởng, ảo cảm và ảo ảnh (ảo lực) biến mất, và mọi thứ đi vào trật tự, ưu tiên những gì quan trọng, thực sự (những gì cần làm trước thì làm trước). |
|
17. Under the Law of Repulse (the Fourth Law of the Soul) we must learn to repulse the personality for the sake of the love of the soul, but then, in the full flow of soul love, we regather the repulsed personality, and bring it into the sphere of soul influence so that it becomes an excellent instrument of the soul. |
17. Theo Định Luật Đẩy Lùi (Định luật thứ tư của Linh Hồn), chúng ta phải học cách đẩy lùi phàm ngã vì tình yêu của linh hồn, nhưng sau đó, trong dòng chảy trọn vẹn của tình yêu linh hồn, chúng ta tập hợp lại phàm ngã đã bị đẩy lùi, và đưa nó vào phạm vi ảnh hưởng của linh hồn để nó trở thành một công cụ tuyệt vời của linh hồn. |
|
18. We cannot reach this point, however, if “love for himself” is initially too strong. This is what the text is suggesting. We put the Self/Soul/Spirit first, loving it most, and the “not-Self” (so often wrongly called the “Self”) second. |
18. Tuy nhiên, chúng ta không thể đạt đến điểm này, nếu “tình yêu dành cho bản thân” ban đầu quá mạnh mẽ. Đây là những gì đoạn văn đang gợi ý. Chúng ta đặt Bản thể / Linh Hồn / Tinh Thần lên hàng đầu, yêu thương nó nhất, và “cái phi Ngã” (thường bị gọi sai là “Bản ngã”) là thứ hai. |
|
19. A selfish man is one who loves the not-Self more than the true Self/Soul/Spirit, mistakenly thinking that the not-Self is the Self. |
19. Người ích kỷ là người yêu cái phi-Ngã hơn Chân Ngã/ Linh Hồn / Tinh Thần thật sự, lầm tưởng rằng cái phi-Ngã là Chân Ngã. |
|
20. A pledge is a promise, above all, to ‘ones-Self’; to the Solar Angel, and ultimately to the Master. |
20. Lời cam kết (thệ nguyện) là một lời hứa, trên hết, đối với ‘chính mình’; tới Thái Dương Thiên Thần, và cuối cùng là với Chân Sư. |
|
21. We live in a world of fluctuation; it is a lunar world of inconstancy. Principle is not easily sustained. |
21. Chúng ta đang sống trong một thế giới luôn biến động; đó là một thế giới thái âm của sự bất ổn, hay thay đổi. Nguyên tắc không dễ dàng được duy trì. |
|
22. But we are trying to become as “Suns”—centers of sustained radiance. |
22. Nhưng chúng ta đang cố gắng trở thành những “Mặt trời” – những trung tâm ánh sáng tỏa chiếu bền vững. |
|
23. Pledges, promises, vows, oaths, commitments—keep us constant. We begin to imitate the Sun (in its sustained, rhythmic pulsations). It is said that the “Sun always shines”. We attempt to emulate this state. |
23. Những tuyên thệ, lời hứa, lời thề, lời nguyện, cam kết — giữ cho chúng ta không đổi thay. Chúng ta bắt đầu noi gương Mặt Trời (theo các xung động bền vững, nhịp nhàng của nó). Người ta nói rằng “Mặt Trời luôn tỏa sáng”. Chúng ta cố gắng tích cực noi gương trạng thái này. |
|
24. Initiation is not for those who will weaken and give way at the first test. The lunar wheel is turning in the opposite direction to the wheel of love and life. One must be able to withstand this rending friction. |
24. Điểm đạo không dành cho những ai yếu đuối và chùn bước ở lần kiểm tra đầu tiên. Bánh xe thái âm đang quay ngược chiều với bánh xe của tình yêu và sự sống. Ta phải có khả năng chịu được ma sát giằng xé này. |
|
25. Through the pledge we strengthen ourselves so we can, indeed, withstand the counterforce. And the counterforce will become stronger, in our experience, the moment we take our stand and make our pledge. |
25. Thông qua lời cam kết, chúng ta củng cố bản thân để thực sự có thể chống chọi lại lực lượng phản kháng. Và theo kinh nghiệm của chúng tôi, lực lượng phản kháng sẽ trở nên mạnh mẽ hơn vào thời điểm chúng ta thể hiện lập trường và thực hiện lời tuyên thệ (cam kết) của mình. |
|
26. In a group of this nature, all should be what is called “accepting disciples” moving towards making a significant pledge to the soul, the group soul, to the Master and to the Hierarchy as a whole with Christ at its heart. |
26. Trong một nhóm có tính chất này, tất cả đều nên được gọi là “những đệ tử chấp nhận”, hướng tới việc thực hiện một cam kết quan trọng đối với linh hồn, linh hồn nhóm, đối với Chân Sư và Thánh Đoàn như một toàn thể mà Đức Christ ở trung tâm Thánh Đoàn. |
|
27. We are in process of becoming “pledged disciples”. Some already are, but if you are, you will know. It is not the business of others. |
27. Chúng ta đang trong quá trình trở thành “những đệ tử thệ nguyện”. Một số đã là, nhưng nếu bạn là như vậy thì bạn sẽ biết. Đó không phải là việc của những người khác. |
|
28. No one can pass through the portal of initiation who has not “made his pledge” and kept it. |
28. Không ai có thể đi qua cánh cổng điểm đạo mà không “tuyên thệ” và giữ lời. |
|
29. What will be the nature of your pledge? That will be up to you and your Solar Angel. No one can tell you what it should be. But all pledges have in them the intention of unwavering commitment to the higher values and energies. |
29. Bản chất lời cam kết của bạn là gì? Điều đó sẽ tùy thuộc vào bạn và Thái Dương Thiên Thần của bạn. Không ai có thể cho bạn biết nó phải như thế nào. Nhưng tất cả những lời cam kết đều mang trong mình ý định cam kết bền bỉ đối với những giá trị và năng lượng cao cả. |
|
30. There is Solar Principle in life and a Lunar Principle. Both are indispensable. We are, however, reaching the point in our development when we are learning about the Solar Principle and how to live according to its nature. Only thus can the Lunar Principle be, at length, fulfilled. |
30. Có Nguyên lý Thái Dương trong cuộc sống và Nguyên lý Thái Âm. Cả hai đều không thể thiếu. Tuy nhiên, chúng ta đang đạt đến điểm phát triển khi chúng ta đang học về Nguyên lý Thái Dương và làm thế nào để sống theo bản chất tự nhiên của nó. Chỉ như vậy, về lâu dài, Nguyên lý Thái Âm mới có thể được hoàn thành. |
|
31. The preliminary pledges are a kind of “warm-up” or rehearsal for the far more demanding vows and oaths that one must keep after initiation. |
31. Những lời cam kết sơ bộ ban đầu là một kiểu “khởi động” hoặc diễn tập cho những lời nguyện thề và lời thề khắt khe hơn rất nhiều mà một người phải giữ lời sau khi điểm đạo. |
|
E. These are necessitated before his Master hands in his name as a candidate for initiation. |
E. Cần có những điều sau, trước khi Chân Sư y đưa tên y vào danh sách các ứng viên điểm đạo. |
|
1. All progress through the ranks of Hierarchy is supervised. |
1. Tất cả mọi tiến triển thông qua các cấp bậc của Thánh Đoàn đều được giám sát. |
|
2. The soul/Solar Angel has ‘us’ (the little, imbedded human soul) under supervision for many life-times (though not for all lifetimes—not until we become, shall we say, ‘spiritually interesting’ to that Angel). |
2. Linh hồn / Thái Dương Thiên Thần đã giám sát ‘chúng ta’ (mảnh linh hồn nhỏ bé trong con người) trong nhiều kiếp (mặc dù không phải trong tất cả các kiếp – Ngài không giám sát cho đến khi chúng ta trở thành, có thể nói là, ‘đáng quan tâm về mặt tinh thần’ đối với Thái Dương Thiên Thần) . |
|
3. The Master, through the agency of His inner assistants—advanced disciples working on the inner planes—keeps the aspirant/disciple under supervision. |
3. Chân Sư, thông qua trung gian là những phụ tá nội môn của Ngài — các đệ tử cao cấp đang làm việc trên các cõi nội giới — giữ những người chí nguyện / đệ tử trong vòng giám sát. |
|
4. The Master, too, may look in now and then. We have been told—and it should humble us a bit—once every three hundred years or so. |
4. Chân Sư cũng có thể thỉnh thoảng nhìn đến. Chúng ta đã được cho biết – và điều đó nên làm chúng ta khiêm tốn một chút – cứ khoảng ba trăm năm hoặc lâu hơn mỗi lần. |
|
“The ‘cycles of interest,’ or those periods in which the Masters pay close attention to the quality aspect of mankind, are also being speeded up; the “gauging” process will take place now every three hundred years, instead of every one thousand years, as has been the case until 1575 A.D.” (DINA II, 335) |
“Các ‘chu kỳ quan tâm’, hoặc những giai đoạn mà các Chân Sư chú ý kỹ đến khía cạnh phẩm chất của con người, cũng đang được đẩy nhanh; quá trình “đo lường” sẽ diễn ra bây giờ cứ sau ba trăm năm, thay vì một nghìn năm một lần, như trường hợp trước đây cho đến năm 1575 sau công nguyên ”. (DINA II, 335) |
|
5. What are the criteria which the Master uses to gauge our readiness? Well, some of them have been given in this Rule and its explanatory text. Also, we must not forget our own usefulness. The Master does not recommend an elevation of our spiritual frequency which initiation will confer, unless we can be spiritually useful in service to our fellow human beings. This should give us pause, as we ask ourselves, “In what ways, and to whom, am I really spiritually useful”? |
5. Các tiêu chí mà Chân Sư dùng để đánh giá mức độ sẵn sàng của chúng ta là gì? Vâng, một số trong chúng đã được đưa ra trong Quy Luật này và văn bản giải thích của nó. Ngoài ra, chúng ta không được quên sự hữu ích của chính mình. Chân Sư không khuyến nghị việc nâng cao tần số tâm linh của chúng ta mà việc điểm đạo sẽ mang lại, trừ khi chúng ta có thể hữu ích về mặt tinh thần để phục vụ đồng loại của mình. Điều này nên khiến chúng ta tạm dừng, khi chúng ta tự hỏi mình, “Bằng những cách nào, và với ai, để tôi thực sự hữu ích về mặt tinh thần”? |
|
6. If one proceeds in cultivating the necessary trinity of Meditation, Study and Service, one will become, increasingly, spiritually useful. |
6. Nếu một người tiếp tục trau dồi bộ ba công việc Tham Thiền, Học Tập và Phụng Sự cần thiết, thì người đó sẽ ngày càng trở nên hữu ích về mặt tinh thần. |
|
F. If he cares not for the suffering and pain of the lower self,…. |
F. Nếu y không bận tâm đến nỗi khổ đau của phàm ngã,… |
|
1. There are four “D’s” we all must learn and apply: Discipline, Dispassion, Detachment, Decentralization. Some might add Discrimination. |
1. Có bốn chữ “D” mà tất cả chúng ta phải học và áp dụng: Kỷ luật (Discipline), Điềm nhiên (Dispassion), Tách rời (Detachment), Phi tập trung (Decentralization). Một số có thể thêm Phân biệt (Discrimination). |
|
2. Perhaps each of these first four could be assigned to all vehicles of the personality and to the personality itself, but one way of reasonable arrangement is as follows: |
2. Có lẽ mỗi trong bốn cái đầu tiên này đều có thể được gán cho tất cả các vận cụ (các hạ thể) của phàm ngã và chính phàm ngã, nhưng có một cách sắp xếp hợp lý như sau: |
|
a) Discipline, for the etheric-physical nature; |
a) Kỷ luật đối với thể xác – dĩ thái; |
|
b) Dispassion, for the emotional nature; |
b) Điềm nhiên đối với thể tình cảm; |
|
c) Detachment and Discrimination for the mental nature; and |
c) Tách rời và Phân biệt cho thể trí; và |
|
d) Decentralization, for the personality as a whole. |
d) Phi tập trung dành cho toàn bộ phàm ngã. |
|
3. In order to carry out the implications of this phrase, the human soul must dis-identify from the not-self (the lunar vehicles) and be strongly identified with and even as the Soul/Spirit. |
3. Để thực hiện hàm ý của cụm từ này, linh hồn con người phải tách khỏi cái phi-ngã (các vận cụ nguyệt tinh/thái âm) và được đồng nhất mạnh mẽ với và thậm chí là Linh hồn / Tinh thần. |
|
4. One then has achieved what might be called ‘spiritual objectivity’. The not-Self is treated as what it really is—not the Self. It becomes one’s instrument, and one becomes willing to use that instrument in order to achieve whatever must be achieved. |
4. Như thế, ta đã đạt được điều có thể được gọi là “tính khách quan tinh thần”. Cái phi-Ngã được đối xử đúng như cái nó thực sự là — không phải là Chân Ngã/Bản Thể. Nó trở thành công cụ của ta và ta sẵn sàng sử dụng công cụ đó để đạt được bất cứ điều gì phải đạt được. |
|
5. The instrument should be kept in good shape, yes, but if the instrument undergoes stress, strain and even destruction, the true Self is not, essentially, touched thereby. |
5. Khí cụ nên được giữ ở thể trạng tốt, đúng vậy, nhưng nếu khí cụ trải qua stress, căng thẳng và thậm chí bị phá hủy, thì về cơ bản, Chân ngã không bị suy suyển. |
|
6. If one is to “care not for the suffering and pain of the lower self” there must be something else about which one cares very much, extremely much. |
6. Nếu ta muốn “không quan tâm đến những đau khổ và đau đớn của phàm ngã thấp kém” thì phải có điều gì đó khác mà ta quan tâm rất nhiều, cực kỳ nhiều. |
|
7. The intensity of caring for and about the spiritual and divine, will neutralizes the usual, habitual caring about the not-Self. |
7. Việc quan tâm mãnh liệt đến và về tinh thần và thiêng liêng, sẽ vô hiệu hóa sự quan tâm thông thường, theo thói quen về cái phi-Ngã. |
|
8. The secret to this intensified higher caring is the achievement of an even-heightening point of tension. |
8. Bí quyết để tăng cường việc quan tâm tới những thứ cao cả hơn này là ở việc điểm trụ (điểm nhất tâm) đạt được ngày càng nâng dần lên. |
|
9. Perhaps every day we should remind ourselves of who we really are. It is so easy to forget and to fall back into the numbness of habitual consciousness. |
9. Có lẽ mỗi ngày chúng ta nên tự nhắc nhở bản thân về việc chúng ta thật sự là ai. Thật dễ dàng để quên và rơi trở lại sự tê liệt của tâm thức quen thuộc. |
|
10. Sankaracarya said that the moss grows over the surface of the pond every day, unless, with a stick, we push it back—every day. You can interpret the analogy in terms of the Self, consciousness and the Great Maya to which consciousness falls victim—unless unusual caution and attentiveness is exerted. |
10. Sankaracarya nói rằng rêu mọc trên bề mặt ao mỗi ngày, trừ khi, chúng ta đẩy nó trở lại bằng một cái que, mỗi ngày. Bạn có thể giải thích tương tự về Bản ngã, tâm thức và Đại Ảo Lực mà tâm thức trở thành nạn nhân của nó — trừ khi có sự thận trọng và chú ý khác thường. |
|
11. Thus, daily, we remind ourselves that we are not the body, not the emotional states, and not the mind. What is left is what we are—the Observer. Ultimately, with even further dis-identifications, we find that the Observer is really the indestructible Spirit. |
11. Như vậy, hàng ngày, chúng ta nhắc nhở bản thân rằng chúng ta không phải là cơ thể, không phải là các trạng thái cảm xúc, và không phải là tâm trí. Những gì còn lại là chúng ta – Người quan sát. Cuối cùng, với những tách rời còn nhiều hơn nữa (không còn đồng hóa với những thể thấp), chúng ta thấy rằng Người quan sát thực sự là Tinh Thần bất diệt. |
|
12. In summary, in order not to care, one does not struggle not to care; one strives, through substitution, to care about something higher, even more than one cares about the very familiar not-Self. |
12. Tóm lại, để không quan tâm, ta không đấu tranh để không quan tâm; ta cố gắng, thông qua sự thay thế, để quan tâm đến một cái gì đó cao cả hơn, thậm chí nhiều hơn việc ta quan tâm đến cái phi-Ngã vốn rất quen thuộc. |
|
G. …if it is immaterial to him whether happiness comes his way or not, |
G. … Nếu như chuyện hạnh phúc có đến với y hay không cũng không quan trọng với y. |
|
1. How do you define happiness for yourself? |
1. Bạn định nghĩa thế nào về hạnh phúc đối với bản thân? |
|
2. Happiness, in the large sense, is highly desirable, but analysis and discrimination are needed. |
2. Hạnh phúc, theo nghĩa rộng, rất đáng được mong đợi, nhưng cần phải phân tích và phân biệt. |
|
3. In occultism, the specialized definition of happiness is the satisfaction and contentment of the lower personal self. |
3. Trong huyền linh học, định nghĩa cụ thể về hạnh phúc là sự hài lòng và mãn nguyện của bản thể thấp – phàm ngã. |
|
4. Joy is the natural state of the soul. |
4. An vui là trạng thái tự nhiên của linh hồn. |
|
5. Bliss is the natural state of the spirit. |
5. Chí phúc là trạng thái tự nhiên của tinh thần. |
|
6. The happiness discussed in the text of this Rule refers to the satisfaction and contentment of the threefold personality nature. |
6. Hạnh phúc được thảo luận trong đoạn văn của Quy Luật này đề cập đến sự hài lòng và mãn nguyện của bản chất phàm ngã tam phân. |
|
7. An advancing disciple could find himself ‘happy’ in his personality nature, yet profoundly ‘unhappy’ spiritually. The reverse is also true. |
7. Một đệ tử tiến bộ có thể thấy mình ‘hạnh phúc’ trong bản chất phàm ngã của mình, nhưng lại ‘không vui’ một cách sâu xa về mặt tinh thần. Điều ngược lại cũng đúng. |
|
8. The advancing disciple (now a candidate for initiation) does not desire the usual satisfactions and contentments more than the higher joys of soul life. |
8. Người đệ tử tiến bộ (bây giờ là một ứng viên điểm đạo) không mong muốn những thỏa mãn và hài lòng thông thường hơn những niềm vui cao cả của đời sống linh hồn. |
|
9. The wheel turns in two directions—the wheel of form and the wheel of soul. The disciple is torn by these two motions, yet is able to hold his soul-joy or ‘happiness’ in the face of what would normally be called the unhappiness of the personality. I think the Dalai Lama is most adept at this dual consciousness. |
9. Bánh xe quay theo hai hướng – bánh xe hình tướng và bánh xe linh hồn. Người đệ tử bị giằng xé bởi hai chuyển động này, nhưng vẫn có thể giữ được niềm vui của linh hồn hay “hạnh phúc” khi đối mặt với cái mà thường được gọi là sự bất hạnh của phàm ngã. Tôi nghĩ Đức Đạt Lai Lạt Ma là người tinh thông nhất về tâm thức nhị nguyên này. |
|
10. Note the word “immaterial”—“if it is immaterial to him whether happiness comes his way or not”. The candidate has realized the insubstantiality of the world of form and its satisfactions. These lower worlds are no longer real to him in the usual sense. He does not expend his precious desire energy on lesser things. |
10. Lưu ý từ “không quan trọng” (vô hình, immaterial) – “nếu như hạnh phúc có đến với y hay không cũng không quan trọng với y”. Ứng viên đã nhận ra tính không thực chất của thế giới hình tướng và những thỏa mãn của nó. Những thế giới thấp này không còn có thật đối với y theo nghĩa thông thường. Y không tiêu hao năng lượng ham muốn quý giá của mình cho những thứ thấp kém hơn. |
|
11. He has achieved impersonality with respect to his personality. |
11. Y đã đạt được sự vô ngã về mặt phàm ngã của mình. |
|
“Impersonality is possible only to the disciple who knows truly how to love, and to him who sees life and its phantasmagoria (including all associated persons) in the light of the Spiritual Triad.” (R&I, 209) |
“Vô ngã chỉ có thể xảy ra đối với người đệ tử thực sự biết cách yêu thương, và đối với người nhìn nhận cuộc sống và những ảo cảm của nó (bao gồm tất cả những người có liên quan) trong ánh sáng của Tam Nguyên Tinh Thần.” (R&I, 209) |
|
12. The greatest sages of the world want humanity to be “happy”, but by this term, they understand something entirely different than what is usually understood. They promote the integrated “happiness” of all three periodical vehicles—Personality, Soul and Spirit—the union of happiness, joy and bliss. |
12. Các nhà hiền triết vĩ đại nhất trên thế giới muốn nhân loại được “hạnh phúc”, nhưng theo thuật ngữ này, họ hiểu một điều hoàn toàn khác so với những gì thường được hiểu. Các ngài thúc đẩy “hạnh phúc” tích hợp của cả ba vận cụ theo thời kỳ — Phàm Ngã, Linh Hồn và Tinh Thần — sự kết hợp của hạnh phúc, an vui và chí phúc. |
|
13. The only way to this integrated happiness is by the temporary renunciation of conventional approaches to happiness. This is achieved through disidentification followed by re-identification. It demands a big change in who we think we are. |
13. Cách duy nhất để đạt được hạnh phúc tích hợp này là tạm thời từ bỏ các cách tiếp cận thông thường để đạt được hạnh phúc. Điều này đạt được thông qua tách rời (không đồng hóa với phàm ngã) sau đó là nhận dạng lại ( với linh hồn). Nó đòi hỏi một sự thay đổi lớn trong cách chúng ta nghĩ mình là ai. |
|
H. …if the sole purpose of his life is to serve and save the world,… |
H. …nếu như mục đích duy nhất của cuộc đời y là để phụng sự và cứu chuộc thế gian,… |
|
1. Again a demanding phrase. It is eliminative of all lesser purposes. |
1. Lại một cụm từ yêu cầu cao. Đó là loại bỏ tất cả các mục đích thấp hơn. |
|
2. Note the phonic identity of “sole” and “soul”—the isolatedly unitive solar principle is here indicated. |
2. Lưu ý sự giống nhau về ngữ âm của từ “duy nhất” (sole) và “linh hồn” (soul) — nguyên lý thái dương thống nhất cô lập được chỉ ra ở đây. |
|
3. This phrase within the text aims precisely at developing the qualities of the last two signs of the zodiac—Aquarius, producing the World Server, and Pisces, producing the World Savior. |
3. Cụm từ này trong văn bản nhằm mục đích chính xác là phát triển những phẩm chất của hai cung hoàng đạo cuối cùng – Bảo Bình, tạo ra Người Phụng Sự Thế giới và Song Ngư, tạo ra Đấng Cứu Thế. |
|
4. This kind of (sole) purpose cannot be imposed upon oneself. It arises only after one has discovered, through long reincarnational experience and travail, that all other purposes are worthless—relatively. |
4. Loại mục đích (duy nhất) này không thể được áp đặt cho bản thân. Nó chỉ nảy sinh sau khi một người đã phát hiện ra, thông qua kinh nghiệm luân hồi tái sinh lâu dài và công việc khó nhọc vất vả, rằng tất cả các mục đích khác đều vô giá trị – một cách tương đối. |
|
5. Such a purpose is what motivates and animates the members of the Spiritual Hierarchy of our planet. In cultivating this purpose, until it becomes dominating and eventually “sole”, we are emulating our elder Brothers and Sisters. |
5. Mục đích như vậy là động lực và thúc đẩy các thành viên của Huyền Giai Tinh Thần trên hành tinh chúng ta. Khi nuôi dưỡng mục đích này, cho đến khi nó trở nên thống trị và cuối cùng là “duy nhất”, chúng ta đang tích cực noi gương những huynh đệ đi trước của mình. |
|
6. So, then, let us subject our desires and “purposes” to scrutiny. Is our “sole purpose” to serve and save the world? Within our nature, what other purposes compete with this great purpose? How do we eliminate the lesser purposes, so that this admirable “sole purpose” remains? Each will have to answer for himself or herself. |
6. Vì vậy, chúng ta hãy xem xét kỹ những mong muốn và “mục đích” của mình. Có phải “mục đích duy nhất” của chúng ta là phụng sự và cứu chuộc thế giới không? Trong bản chất của chúng ta, những mục đích nào khác cạnh tranh với mục đích lớn lao cao cả này? Làm thế nào để chúng ta loại bỏ các mục đích thấp hơn, để vẫn duy trì “mục đích duy nhất” đáng ngưỡng mộ này? Mỗi người sẽ phải tự trả lời cho chính mình. |
|
7. Of course, we are not here enjoined to develop a morbid “savior complex”—exalting ourselves and our own importance as we run around trying to “serve” and “save” everyone, whether or not they want to be served and saved. Almost certainly we would do more damage than good, feeding nothing but a false and prideful image of ourselves, cloaked by false humility. The “Messiah Complex” in the field of religions is a great second ray glamor. The “Messiah Complex” in the field of politics is, equally, a glamor of the first ray. |
7. Tất nhiên, ở đây chúng ta không bị bắt buộc phải phát triển một “phức cảm cứu tinh” bệnh hoạn — thể hiện bản thân và tầm quan trọng của bản thân khi chạy xung quanh cố gắng “phục vụ” và “cứu” mọi người, cho dù họ có muốn được phục vụ và cứu giúp hay không. Hầu như chắc chắn chúng ta sẽ gây thiệt hại nhiều hơn là hữu ích, nuôi dưỡng không gì khác ngoài một hình ảnh giả tạo và kiêu hãnh về bản thân, được che đậy bởi sự khiêm tốn giả tạo. “Phức cảm Đấng Cứu Thế Messiah” trong lĩnh vực tôn giáo là một ảo cảm lớn của cung hai. “Phức cảm Đấng Cứu Thế Messiah” trong lĩnh vực chính trị, tương đương, là ảo cảm của cung một. |
|
8. No, a real skill in action is required if one wants to be a true server and savior. The Law of Service in Esoteric Psychology Vol. II (p. 118), is definitely worth re-reading, or reading for the first time. It sets things straight, tearing away the veils of illusion with which we comfort our own little egos as we, earnestly and diligently serve no one but ourselves. |
8. Không, cần có một kỹ năng hành động thực sự nếu một người muốn trở thành một người phụng sự và vị cứu tinh chân chính. Định Luật Phụng Sự trong Tâm lý Học Nội Môn Quyển II (trang 118), chắc chắn đáng để đọc lại, hoặc đọc đầu tiên. Nó chỉnh đốn lại mọi thứ, xé bỏ những bức màn ảo tưởng mà chúng ta an ủi những cái tôi nhỏ bé của chính mình khi chúng ta phụng sự một cách nghiêm túc và siêng năng cho không ai khác ngoài chính chúng ta. |
|
9. Perhaps the creative imagination can come to our aid as we seek to develop this “sole motivation”. The glory of the Divine Plan can be envisioned, and the attempt to do so will cause lesser purposes (which do not lead to that consummate glory) to drop away. |
9. Có lẽ trí tưởng tượng sáng tạo có thể hữu ích khi chúng ta tìm cách phát triển “động lực duy nhất” này. Vinh quang của Thiên Cơ có thể được hình dung, và việc cố gắng làm như vậy sẽ khiến những mục đích nhỏ hơn (không dẫn đến vinh quang viên mãn đó) mất đi. |
|
10. If we wish to stop desiring the lesser, we must see, with clarity, the possibility of the greater—and feel its presence by faith. “Faith is the substance of things hoped for, the evidence of things unseen”. St. Paul (a very intellectual man) knew what he was talking about here, as he made the transition into the realm of Love at the third degree. |
10. Nếu chúng ta muốn ngừng ham muốn những thứ thấp hơn, chúng ta phải nhìn thấy rõ ràng khả năng của cái vĩ đại hơn — và cảm nhận sự hiện diện của nó bằng niềm tin. “Niềm tin là bản chất của những điều được hy vọng, bằng chứng của những điều không thể nhìn thấy”. Thánh Paul (một người rất thông tuệ) biết ông đang nói gì ở đây, khi ông chuyển sang địa hạt của Tình Thương ở cuộc điểm đạo bậc ba. |
|
I. …and if his brother’s need is for him of greater moment than his own, |
I. … và nếu như nhu cầu của huynh đệ y đối với y quan trọng hơn nhu cầu của chính y, |
|
1. Venus, Jupiter, and Neptune have done their work. We should not forget Saturn, Uranus and Pluto. |
1. Kim Tinh, Mộc Tinh và Hải Vương Tinh đã thực hiện phần việc của mình. Chúng ta không nên quên Thổ Tinh, Thiên Vương Tinh và Diêm Vương Tinh. |
|
2. The ring-pass-not has expanded. |
2. Vòng giới hạn được mở rộng. |
|
3. When asked, “Who am I”, it becomes impossible to give a personal answer. The ring-pass-not no longer confines the sense of being. |
3. Khi được hỏi, “Tôi là ai”, ta không thể đưa ra câu trả lời mang tính cá nhân. Vòng giới hạn đã không còn hạn chế ý thức về hiện hữu (bản thể) nữa. |
|
4. Who is my brother? Surely, not another. My brother is my very Self. At least such is the realization that comes when the heart opens and the usual egoism falls away. The planets Venus, Jupiter and Neptune are particularly associated with the heart center. Reasons can be found for this. Can you find them? |
4. Ai là người huynh đệ của tôi? Chắc chắn, không phải một người khác. Huynh đệ tôi là chính Bản Thể của tôi. Ít nhất đó là nhận thức có được khi trái tim mở ra và chủ nghĩa vị kỷ thông thường biến mất. Các hành tinh Kim Tinh, Mộc Tinh và Hải Vương Tinh có liên quan đặc biệt đến luân xa tim. Có thể tìm được lý do cho điều này. Bạn có thể tìm thấy chúng không? |
|
5. We have just passed through the Pisces Full Moon. In Pisces, the “Me first” of Aries is at last, and irrevocably changed, into “You first”. Self-effacement is achieved—an interesting term. The “face” reveals one’s identity. What is one’s identity when on no longer has a “face”—in the personal sense? |
5. Chúng ta vừa đi qua kỳ Trăng tròn Song Ngư. Khẩu hiệu “Tôi trước tiên” của Bạch Dương, cuối cùng và chắc chắn trở thành “Bạn trước tiên” trong Song ngư. Ta đạt được việc tự làm lu mờ bản thân – một thuật ngữ thú vị. “Khuôn mặt” tiết lộ danh tính của một người. Nhân diện của một người là gì khi không còn “khuôn mặt” — theo nghĩa cá nhân (phàm ngã)? |
|
6. Who is a friend? Pythagoras answered that a “friend is another self”. This is a high Geminian perception. |
6. Ai là bạn bè? Pythagoras đã trả lời rằng “một người bạn là một bản thể khác của mình”. Đây là một nhận thức cao của Song Tử. |
|
7. If one realizes that one is one’s brother, it becomes possible to fulfill this phrase. |
7. Nếu ta nhận ra rằng ta là người huynh đệ của mình, thì có thể thỏa mãn cụm từ này. |
|
8. It is the heart that must feel that one is one’s brother. |
8. Chính trái tim phải cảm thấy rằng ta là huynh đệ của ta. |
|
J. …then the fire of love is irradiating his being and the world can warm itself at his feet. |
J. …thì bấy giờ ngọn lửa bác ái sẽ tỏa chiếu bản thể y và thế gian có thể tự sưởi ấm dưới chân y. |
|
1. This is the radiation which we seek, with is inevitably accompanying magnetism. Whoever radiates in this manner, is inevitably magnetic in the soul sense, and can wield the Law of Magnetic Impulse (the Second Law of the Soul) (see EP II). |
1. Đây là sự phát xạ mà chúng ta tìm kiếm, mà chắc chắn đi kèm với từ tính. Bất cứ ai phát xạ theo cách này, chắc chắn có từ tính thu hút theo ý nghĩa linh hồn, và có thể sử dụng Luật Xung Động Từ Tính (Định luật thứ hai của Linh Hồn) (xem Tâm Lý Học Nội Môn II). |
|
2. One becomes a “Sun-Heart”. |
2. Y trở thành một “Trái tim Mặt trời”. |
|
3. This state of being calls to the soul in others and uplifts them. |
3. Trạng thái hiện hữu này kêu gọi đến linh hồn trong những người khác và nâng cao tinh thần cho họ. |
|
4. What are the “feet”? The “feet” represent the lowest level of accomplishment of the one towards whom we aspire. |
4. “Đôi bàn chân” là gì? “Đôi bàn chân” đại diện cho mức độ thành tựu thấp nhất của Đấng mà chúng ta khao khát hướng đến. |
|
5. In the Gayatri—as we salute the Sun/Solar Logos, we journey to His “sacred feet”. Perhaps we achieve this, to some small extent, at the third initiation—the first solar initiation. And as we progress, we work our way up through the various chakras of the Great Being. |
5. Trong Gayatri — khi chúng ta chào Thái Dương/Mặt Trời Thượng Đế, chúng ta hành trình đến “bàn chân thiêng liêng” của Ngài. Có lẽ chúng ta đạt được điều này, ở một mức độ nhỏ nào đó, ở lần điểm đạo thứ ba – lần điểm đạo thái dương hệ đầu tiên. Và khi chúng ta tiến triển, chúng ta vươn lên vị trí cao hơn đi qua các luân xa khác nhau của Đấng Vĩ Đại. |
|
6. The Solar Angel is an initiate of all degrees. Long ago Solar Angels were human—in another kalpa altogether. We seek to become as they are now, and to reach the place whereon they stand. We are, in a sense, journeying to the “feet” of the Solar Angel Who for so many millions of years has supervised our progress (the progress of the human soul) in form. |
6. Thái Dương Thiên Thần là một điểm đạo đồ của mọi cấp độ. Từ rất lâu trước đây, các Thái Dương Thiên Thần đã từng là con người – ở một kalpa (thiên kiếp) hoàn toàn khác. Chúng ta cố gắng trở thành như các ngài bây giờ, và đạt được vị trí mà các ngài đang đứng. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta đang hành trình đến “chân” của Thái Dương Thiên Thần, Đấng mà trong nhiều triệu năm đã giám sát sự tiến bộ của chúng ta (sự tiến bộ của linh hồn con người) trong hình tướng. |
|
7. All progress is made this way. There are some who are journeying to our feet. “Some move ahead, he follows after. Some move behind; he sets the pace” (Rules of the Road III) |
7. Tất cả các tiến bộ đều được thực hiện theo cách này. Có một số người đang trên hành trình theo chân chúng ta. “Một số tiến phía trước; y theo sau. Một số đi sau; y dẫn lối.”(Quy Luật của Đường Đạo III) |
|
8. Again, we have the word “warm”—such an important word in this first Rule, and in general for all who would radiate the light and love of the soul. |
8. Một lần nữa, chúng ta có từ “ấm áp” —một từ quan trọng trong Quy Luật đầu tiên này, và nói chung cho tất cả những ai sẽ tỏa ra ánh sáng và tình yêu của linh hồn. |
|
9. In a way, the candidate has become a representative of the Solar Angel and of the Solar Force. The energy of “warmth” flows through him. He becomes the warming, cheerful fire dancing in the hearth—warming the traveler who has come in from the dark and the cold. Do we want to be this for other people? If we fulfill these Rules, this is what we will become. |
9. Theo một cách nào đó, ứng viên điểm đạo đã trở thành đại diện cho Thái Dương Thiên Thần và của Lực Lượng Thái Dương. Năng lượng của “sự ấm áp” tuôn chảy trong y. Y trở thành ngọn lửa ấm áp, vui vẻ nhảy múa trong lò sưởi — sưởi ấm cho người lữ khách đã bước vào từ bóng tối và giá lạnh. Chúng ta có muốn là ngọn lửa này cho những người khác không? Nếu chúng ta đáp ứng các Quy Luật này, thì đây là điều mà chúng ta sẽ trở thành. |
|
K. This love has to be a practical, tested manifestation, and not just a theory, nor simply an impractical ideal and a pleasing sentiment. |
K. Tình yêu thương này phải là một biểu hiện thực tiễn, đã được kiểm chứng, chứ không chỉ là lý thuyết, hay đơn thuần là một lý tưởng phi thực tế và một tình cảm dễ chịu. |
|
1. Esotericism is not just for the head. To read and read, and learn and learn, is a big trap—and one that can entertain one for many years. |
1. Triết học nội môn không chỉ dành cho cái đầu. Đọc và đọc, và học và học, là một cái bẫy lớn — và là một cái bẫy có thể giúp bạn giải trí trong nhiều năm. |
|
2. There is a lot of talk about love. The throat center thinks it knows what love is. But it is difficult to arrive at love through the mind alone—though it can help. |
2. Có rất nhiều lời nói về tình yêu. Luân xa cổ họng cho rằng nó biết thế nào là tình yêu. Nhưng thật khó để đạt được tình yêu chỉ thông qua tâm trí – mặc dù nó có thể giúp ích. |
|
3. The mind can spend many years theorizing about love, and the emotions can aspire to love. And kama-manas (desire mind) can catch the dim reflection of love (which we call sentiment) and take it for the real thing. The word “pleasing” is very interesting, and suggests that the lower self is pleased with itself when it feels that dim kama-manasic reflection. This reflection, however, is a pleasing little glow, while the real Love is an all-consuming fire. If we think of some of the great mystics—St. Francis, St. John of the Cross, St. Theresa—it was no mild force which had seized them. Their whole personality was being consumed by real Love (as real as we can experience when not yet liberated Masters). |
3. Tâm trí có thể dành nhiều năm để lý thuyết hóa về tình yêu, và cảm xúc có thể khao khát được yêu. Và kama-manas (trí cảm, tâm trí ham muốn) có thể bắt được sự phản chiếu lờ mờ của tình yêu (mà chúng ta gọi là tình cảm) và biến nó thành sự thật. Từ “làm hài lòng” rất thú vị, và gợi ý rằng bản ngã thấp hơn tự hài lòng với chính nó khi nó cảm thấy sự phản chiếu trí cảm (kama-manasic) lờ mờ đó. Tuy nhiên, sự phản chiếu này là một ánh sáng nhỏ dễ chịu, trong khi Tình Yêu thực sự là một ngọn lửa cháy hết mình. Nếu chúng ta nghĩ về một số nhà thần bí vĩ đại — Thánh Francis, Thánh John of the Cross, Thánh Theresa – không một thế lực nhẹ nhàng nào đã bắt giữ họ. Toàn bộ phàm ngã của họ đã cháy hết mình bởi Tình Yêu chân chính (thực như chúng ta có thể trải nghiệm khi chưa là các Chân Sư đã giải thoát). |
|
4. Yes, love is something other than all these lesser states—theories, ideals, sentiments. It is not worked up from below, but is evoked from ‘within’, or descends from ‘above’. |
4. Đúng vậy, tình yêu là một cái gì đó khác với tất cả những trạng thái thấp hơn này — những lý thuyết, lý tưởng, tình cảm. Nó không hoạt động từ dưới lên, mà được gợi ra từ “bên trong”, hoặc giáng xuống từ “bên trên”. |
|
5. Perhaps we have to be surprised by love. It comes unbidden, and cannot be compelled. |
5. Có lẽ chúng ta phải bất ngờ trước tình yêu. Nó đến một cách tự nhiên, và không thể bị ép buộc. |
|
6. The “scales fall from the eyes” and one is truly surprised that so many millennia could have been spent in a loveless state. |
6. Cuối cùng ta cũng hiểu ra và ta thực sự ngạc nhiên rằng có thể đã rất nhiều thiên niên kỷ trải qua trong trạng thái không có tình yêu. |
|
7. Fortunately, our whole solar system and all its lives, are being driven into the “Consuming Fire of Love” by the Solar Logos, who is a “Heart of Fiery Love”—a great heart center in a Super-Cosmic Logos (expressing through seven suns). All that is cosmology, and very interesting in its own way, but it makes the point. Our God is Love, and one day, we get seized by that Love and forever afterwards are a “prisoner of Love”. Sounds Piscean, doesn’t it? Let’s not forget that Pisces (the second cosmic decanate) may be, from one perspective, the most important sign of all the twelve for our Solar Logos. This needs pondering. |
7. May mắn thay, toàn bộ thái dương hệ của chúng ta và tất cả mọi sự sống của nó, đang được dẫn dắt vào “Ngọn Lửa Cháy Bỏng Yêu Thương” bởi Thái Dương Thượng Đế, người là một “Trái Tim Yêu Thương Rực Cháy” —một luân xa tim vĩ đại trong một Thượng Đế Siêu Vũ Trụ (thể hiện qua bảy mặt trời). Tất cả đó là vũ trụ học, và rất thú vị theo cách riêng của nó, nhưng nó đã diễn đạt một điều quan trọng. Thượng Đế của chúng ta là Tình Yêu, và một ngày kia, chúng ta được Tình Yêu đó chiếm giữ và mãi mãi về sau là “tù nhân của Tình Yêu”. Nghe có vẻ rất Song Ngư, phải không? Đừng quên rằng Song Ngư (thập độ vũ trụ thứ hai) có thể là, từ một góc độ, dấu hiệu quan trọng nhất trong tất cả mười hai dấu hiệu đối với Thái Dương Thượng Đế của chúng ta. Chúng ta cần suy ngẫm về điều này. |
|
L. It is something that has grown in the trials and tests of life, so that the primary impulse of the life is towards self-sacrifice and the immolation of the lower nature. |
L. Đó là điều đã trưởng thành qua các thử thách và trắc nghiệm của đời sống, để cho sự thúc đẩy chính của sự sống hướng đến việc tự hy sinh và hiến dâng phàm ngã. |
|
1. The Fourth Purpose of Sanat Kumara calls for pain as a necessity. |
1. Mục đích thứ Tư của Đấng Sanat Kumara gọi đau khổ là một điều cần thiết. |
|
2. It is called “The mysterious purpose which has necessitated the calling into activity the Principle of Pain.” (R&I 242) |
2. Nó được gọi là “Mục đích bí ẩn, đòi hỏi việc kêu gọi hoạt động của Nguyên lý Đau khổ.” ( R&I 242) |
|
3. All this pain has a purpose on our laggard planet—for we are told that we, Earth, should now be as advanced as the planet Venus is! |
3. Tất cả sự đau khổ này đều có mục đích trên hành tinh chậm trễ của chúng ta—vì chúng ta được cho biết là chúng ta, Trái đất, giờ đây nên tiến hóa như Kim tinh! |
|
4. Pain, the cross, the renunciation of matter—these are the methods by which we grow into the Divine Love which is our planetary birthright. |
4. Đau khổ, thập giá, việc từ bỏ vật chất—đây là những phương pháp mà qua đó chúng ta phát triển thành Tình thương Thiêng liêng, đó là quyền bẩm sinh của hành tinh của chúng ta. |
|
5. Our planet is, in this solar system, essentially a planet of Love. It has a ray two soul and a ray three personality. These two rays are very unlike, and much adjustment is required before they harmonize. In this harmonization comes pain. The cross must be encircled, and we are in the process of it right now, as the Lord of the World, Sanat Kumara, is said to be undergoing His fourth initiation—the Crucifixion. |
5. Hành tinh của chúng ta, trong thái dương hệ này, về cơ bản là một hành tinh của Tình thương. Nó mang linh hồn cung hai và phàm ngã cung ba. Hai cung này rất khác nhau, và cần phải được điều chỉnh nhiều trước khi chúng hài hòa. Sự hài hòa này đến cùng đau khổ. Thập giá phải được bao quanh, và chúng ta đang trong quá trình này, vì Chúa tể Thế giới, Sanat Kumara, được cho là đang trải qua cuộc điểm đạo thứ tư của Ngài – Sự đóng đinh. |
|
6. We are told that love will grow in the trials and tests of life. We think of the tests to which the Lords of Karma submit all forms of life on our planet, and we realize that Their purpose is the “revelation of love”. |
6. Chúng ta được cho biết rằng tình thương sẽ lớn lên trong những thử thách và các bài kiểm tra của cuộc sống. Chúng ta nghĩ về những bài kiểm tra mà các Chúa tể Nghiệp quả đưa ra cho mọi hình tướng của sự sống trên hành tinh của chúng ta, và chúng ta nhận ra rằng mục đích của các Ngài là “sự hiển lộ của tình thương”. |
|
7. The Divine Plan is very simple in one way. It calls for the “Illumination of the Mind; the Revelation of Love; and the Evocation of the Will”. |
7. Theo một cách nào đó thì Thiên cơ rất đơn giản. Nó kêu gọi “Sự soi sáng của Trí tuệ; sự Hiển lộ của Bác ái; và sự gọi lên của Ý chí” |
|
8. Have we seen in our own lives that “trials and tests’ reveal love? From the Mantram of Unification (DINA I, 790) we read, “Let pain bring due reward of light and love”. It seems to be the way things operate on this planet. If you can think of instances in your present life when love was revealed through your own personal hardship or those close to you, you will have a practical example of what for our planet must be, virtually, a law. “Suffering reveals Love”. |
8. Trong cuộc sống của chính mình, chúng ta có thấy “những thử thách và các bài kiểm tra” làm hiển lộ tình thương không? Từ Chú nguyện Hợp nhất (DINA I, 790), chúng ta đọc, “Hãy để nỗi đau mang lại phần thưởng xứng đáng của ánh sáng và tình thương”. Đó dường như là cách mọi thứ vận hành trên hành tinh này. Nếu bạn có thể nghĩ về những trường hợp trong cuộc sống hiện tại của mình khi tình thương được bộc lộ qua khó khăn của chính bạn hoặc những người thân thiết với bạn, bạn sẽ có một ví dụ thực tế về mục đích hành tinh chúng ta phải là gì, thực sự, là một quy luật “Đau khổ hiển lộ tình thương”. |
|
9. We on Earth are now on the “fast path” because we have so much catching up to do. All this is hidden in the “Mystery of the Moon Chain” about which you can read in A Treatise on Cosmic Fire. Suffice it to say, that our evolution is now being forced. Humanity is under immense pressure to make the transition into the Kingdom of Souls. All this does not come without pain to the personal self, but the reward is so great that we are supposed to count this pain and suffering as naught, and keep our minds and hearts focussed upon the imminent unfoldment. |
9. Chúng ta trên Trái đất hiện đang đi trên “con đường nhanh” bởi vì chúng ta có quá nhiều việc phải bắt kịp. Tất cả những điều này được ẩn giấu trong “Bí ẩn về Dãy Nguyệt cầu” mà bạn có thể đọc trong Luận về lửa càn khôn. Chỉ cần nói rằng quá trình tiến hóa của chúng ta hiện đang bị thúc ép. Nhân loại đang phải chịu áp lực to lớn để thực hiện quá trình chuyển đổi sang Giới Linh hồn. Tất cả những điều này sẽ đến và sẽ gây đau khổ cho các cá nhân, nhưng phần thưởng thì lớn đến mức chúng ta nên coi nỗi đau và sự chịu đựng này không là gì cả, và giữ cho các trí tuệ và trái tim của chúng ta tập trung vào điều khai mở sắp đến. |
|
10. Perhaps the idea of “self-sacrifice” and the “immolation (burning up) of the lower nature” do not evoke very pleasant images—a bit too much like martyrdom (which, incidentally, Master Morya calls the “fast path”). Now we are entering a seventh ray age, and sixth ray terminology is rather out of fashion and seems a bit overdone. All this is true, to an extent. |
10. Có lẽ ý tưởng về “sự tự hy sinh” và “sự dâng hiến (thiêu rụi) bản chất thấp hơn” không gợi lên những hình ảnh dễ chịu – hơi quá giống như sự tử vì đạo (mà nhân đây, Chân sư Morya gọi là “con đường nhanh”). Bây giờ chúng ta đang bước vào thời đại cung bảy, và thuật ngữ cung sáu khá lỗi thời và có vẻ hơi cường điệu. Tất cả điều này là sự thật, ở một mức độ nào đó. |
|
11. Yet there is no way, ultimately, to escape the liberating fire—no matter what may be the Age through which we are passing, and what the ray which is in power. |
11. Tuy nhiên, cuối cùng thì không có cách nào để thoát khỏi ngọn lửa giải thoát — cho dù chúng ta có thể đang trải qua Thời đại nào, và cung nào đang kiểm soát. |
|
12. Immolation is not the special prerogative of only those upon the sixth ray. The destruction “so as by fire” one day awaits us all—even though the fire be an internal one, consuming a hidden temple upon the higher mental plane. |
12. Sự hy sinh không phải là đặc quyền của riêng những người cung sáu. Một ngày nào đó, sự hủy diệt “như bởi lửa” đang chờ đợi tất cả chúng ta—mặc dù ngọn lửa này là một ngọn lửa bên trong, thiêu rụi một ngôi đền ẩn trên cõi thượng trí. |
|
13. Perhaps we are to get used to the idea of this imminent fiery liberation by allowing the lower nature to be immolated in the Fire of Love—for that is what love will do—it will burn up the lower, personal self. And when real love is radiating in power, we will be happy (nay, joyful, blissful) about that burning. |
13. Có lẽ chúng ta đã quen với ý tưởng về sự giải thoát rực lửa sắp xảy ra này bằng cách cho phép bản chất thấp hơn được hiến dâng trong Lửa tình thương—vì đó là điều mà tình thương sẽ làm—nó sẽ đốt cháy bản ngã thấp hơn. Và khi tình thương thực sự tỏa ra sức mạnh, chúng ta sẽ hạnh phúc (an vui, chí phúc) về sự thiêu cháy đó. |
|
14. So, what then is the primary impulse of our life? Is it towards self-sacrifice and self-immolation? Can we accept these terms without becoming overly dramatic? One day all this has to go in favor of THAT. |
14. Vì vậy, điều gì là sự thúc đẩy chính của cuộc sống chúng ta? Đó có phải là sự tự hy sinh và tự hiến dâng? Liệu chúng ta có thể chấp nhận các điều này mà không trở nên quá kịch tính không? Một ngày nào đó, tất cả điều này phải hướng đến ủng hộ CÁI ĐÓ [ND: CHÂN NGÃ]. |
|
We have, in Rule I for Applicants, been presented with some of the initial requirements upon the Path of Initiation. In fact these Rules are now more applicable to disciples and to discipleship groups, so the requirements of initiation are still more demanding. |
Trong Quy tắc I dành cho các Ứng viên, chúng ta đã được trình bày một số yêu cầu ban đầu đối với Con đường Điểm đạo. Trên thực tế, những Quy tắc này hiện nay được áp dụng nhiều hơn cho các đệ tử và cho các nhóm đệ tử, vì vậy yêu cầu của việc điểm đạo còn khắt khe hơn. |
|
But there is no harm and much good in being realistic. The “road winds uphill all the way”. Initiation is a hard job and the cost is “not less than everything”. So often along the Path, and in various lives, we may have become faint of heart, and preferred the easier way, to which the natural course of evolution will eventually bring us. This, too, is a legitimate way. But initiation (as presently presented to humanity) is, indeed, a forcing process, impelled by the intensive concentration of the Solar Angel, and propelled by the recent decisions of the Spiritual Hierarchy and of Shamballa. |
Nhưng không có hại mà rất có ích khi trở nên thực tế. “Con đường quanh co lên dốc trên mọi nẻo đường”. Điểm đạo là một công việc khó khăn và cái giá phải trả là “không ít hơn mọi thứ”. Vì vậy, thường thì dọc theo Con đường này, và trong nhiều kiếp sống khác nhau, chúng ta có thể đã trở nên nhút nhát, và thích con đường dễ dàng hơn, con đường mà quá trình tiến hóa tự nhiên cuối cùng sẽ mang lại cho chúng ta. Đây cũng là một cách chính thống. Nhưng việc điểm đạo (như đã được trình bày với nhân loại hiện nay), thực sự là một quá trình thúc ép, được thúc đẩy bởi sự tập trung cao độ của Đấng Thái dương Thiên thần, và được thúc đẩy bởi các quyết định gần đây của Thánh đoàn Tinh thần và của Shamballa. |
|
When we study these Rules, we are putting ourselves into that fiery stream. Of course, we must remain practical, not lose our heads, and help each other along the Way—but it is a strenuous and demanding Way—and this we must realize. Yet, the “compensations are adequate” as Master D.K. has said in one of His most understated humorous remarks. |
Khi chúng ta học các Quy tắc này, chúng ta đang đặt mình vào dòng chảy rực lửa đó. Tất nhiên, chúng ta phải thực tế, không đánh mất cái đầu/trí tuệ của mình và giúp đỡ lẫn nhau trên Con đường này—nhưng đó là một Con đường căng thẳng và đòi hỏi khắt khe—và chúng ta phải nhận ra điều này. Tuy nhiên, “những sự đền bù là xứng đáng” như Chân Sư DK đã nói trong một trong những nhận xét hài hước nhất của Ngài. |
|
I find in Master DK great powers of inspiration. If ever we wonder whether great exertions of personality and soul are worth the effort, we have only to read some of His exhortations to His groups of disciples in the first part of the last century. There was a great war raging at that time, and circumstances were very dangerous for humanity. Now it is easier? Or is it? Do we really think that the 25 years or so, before the Hierarchical Conclave of 2025 will be a slow and easy drift towards a more enlightened condition of humanity. I think not. DK has told us that the “last ditch stand of materialism” will be fought with unusual ferocity. I am sure that we will have to earn our way into the promised Light through “blood, sweat, toil and tears”. This is why strong groups of illumined disciples are needed during the coming years which complete the Cycle of the Forerunner. |
Tôi tìm thấy ở Chân Sư DK những sức mạnh truyền cảm hứng tuyệt vời. Nếu có bao giờ chúng ta tự hỏi liệu những nỗ lực lớn lao của phàm ngã và linh hồn có đáng hay không, thì chúng ta chỉ cần đọc một số lời khuyên của Ngài cho các nhóm đệ tử của Ngài trong phần đầu của thế kỷ trước. Có một cuộc chiến tranh lớn đang diễn ra vào thời điểm đó, và các hoàn cảnh thì rất nguy hiểm cho nhân loại. Bây giờ liệu nó có dễ dàng hơn không? Hay nó vẫn vậy? Chúng ta có thực sự nghĩ rằng 25 năm hoặc lâu hơn, trước Mật nghị của Thánh đoàn năm 2025 sẽ là một xu hướng chậm chạp và dễ dàng tiến đến một điều kiện mang tính khai sáng hơn của nhân loại hay không? Tôi nghĩ là không. Chân sư DK đã nói với chúng ta rằng “nỗ lực cuối cùng của chủ nghĩa vật chất” sẽ được chiến đấu với sự dữ dội bất thường. Tôi chắc chắn rằng chúng ta sẽ phải tìm đường đến với Ánh sáng hứa hẹn thông qua “máu, mồ hôi, sự vất vả và nước mắt”. Đây là lý do tại sao cần có những nhóm mạnh mẽ của các đệ tử được soi sáng trong những năm tới, những người hoàn thành Chu kỳ của Những Người tiên phong. |
|
The planets Vulcan and Pluto are powerful before the first initiation of the individual disciple. Now we are facing, on a large scale, the first initiation of humanity, and Vulcan and Pluto will surely play their parts—two first ray planets, bringing that which the personality cannot consider pleasant. |
Các hành tinh Vulcan và Pluto Diêm Vương Tinh rất mạnh mẽ trước cuộc điểm đạo đầu tiên của một người đệ tử. Bây giờ chúng ta đang phải đối mặt, trên quy mô lớn, cuộc điểm đạo đầu tiên của nhân loại, và Vulcan và Pluto Diêm Vương Tinh chắc chắn sẽ đóng vai trò của chúng—hai hành tinh cung Một, mang lại điều mà phàm ngã không thể coi là dễ chịu. |
|
I hope we all can realize that humanity is in a crisis situation, and that we are not studying just for ourselves alone, but to offer most necessary aid to a humanity whose distress will only deepen before the Great Light breaks forth. |
Tôi hy vọng tất cả chúng ta có thể nhận ra rằng nhân loại đang ở trong một tình trạng khủng hoảng, và chúng ta không học chỉ cho riêng mình, mà còn để cung cấp những trợ giúp cần thiết nhất cho một nhân loại mà nỗi đau khổ sẽ chỉ sâu sắc hơn trước khi Ánh sáng Vĩ đại bùng nổ. |
|
Perhaps the stirring words of Master DK, at the end of the first section Volume I of Discipleship in the New Age, can be applied to our present times. I will take the liberty of offering this lengthy quotation, because it has meant so much to me, personally, and because I have returned to it time and time again if ever I have felt my aspiration or commitment flagging. Perhaps knowing this quote (if you do not already know and use it) will be useful to you too. |
Có lẽ những lời đầy xúc động của Chân Sư DK, ở cuối phần thứ nhất Tập I cuốn Đường Đạo trong Kỷ Nguyên Mới, có thể được áp dụng cho thời đại hiện tại của chúng ta. Tôi sẽ tự do đưa ra trích dẫn dài này, bởi vì nó có ý nghĩa rất lớn đối với cá nhân tôi, và bởi tôi đã xem lại nó hết lần này đến lần khác nếu vào lúc nào đó tôi cảm thấy khát vọng hoặc cam kết của mình bị lay động. Có lẽ việc biết câu trích dẫn này (nếu bạn chưa biết và chưa sử dụng nó) cũng sẽ hữu ích cho bạn. |
|
“Above all, I would say: Seek to recover the fervour of your earlier, spiritual aspiration and self-discipline. If you have never lost it (though many disciples have) seek to force that energy of inspiration to work out in an effective display of [Page 100] definite action upon the physical plane. How, you ask, my brothers? By increasing the radiance of your light in the world through love and meditation, so that others may turn to you as to a beacon light in the dark night of life which seems in this century to have descended upon humanity; seek to love more than you have ever believed was possible, so that others—frozen and chilled by life circumstance and the present horror of human existence—may turn to you for warmth and comforting. |
“Trên hết mọi sự, tôi muốn nói rằng: Hãy tìm cách phục hồi lại sự nhiệt thành, hăng hái cùng khát vọng tinh thần của buổi ban đầu. Nếu chư môn đệ chưa bao giờ để mất nó (tuy rằng nhiều đệ tử đã mất) thì hãy tìm cách làm cho năng lượng của cảm hứng tác động trong những việc làm cụ thể [Trang 100], hữu hiệu ở cõi hồng trần. Chư môn đệ có thể hỏi: Bằng cách nào? Bằng cách gia tăng cường độ ánh sáng tâm linh của chư môn đệ trên thế gian thông qua tình thương và công phu thiền định, để cho kẻ khác có thể hướng về chư môn đệ như ngọn hải đăng chiếu rọi trong đêm tối của cuộc đời, nó dường như đang chiếu xuống nhân loại trong thế kỷ này. Hãy cố gắng thương yêu nhiều hơn là chư môn đệ tưởng rằng có thể, để cho kẻ khác—trong lòng đang tê tái, giá lạnh vì những sự phũ phàng đắng cay của cuộc đời trên thế gian—có thể hướng về chư môn đệ để tìm sự an ủi và sưởi ấm tâm hồn. |
|
What I and all who are affiliated with the Hierarchy seek to do at this time of desperate crisis is to find those who are dependable points of living energy and through them pour out the love, the strength and the light which the world needs and must have if this storm is to be weathered. I ask you to render this service to me and to humanity. I ask nothing spectacular; it will, however, require a strenuous effort of your souls if you are to respond adequately; I ask nothing impossible; I would remind you that the apathy of the physical body and brain, the inertia of the feeling nature and the sense of futility of the mind when confronted with large issues will seem to hinder you. |
Những gì mà tôi và tất cả những vị có liên hệ đến Thánh đoàn cố gắng thực hiện trong thời buổi khủng hoảng tuyệt vọng ngày nay, là tìm kiếm những người có đầy đủ tư cách làm những khí cụ trung gian để ban rải tình thương, sức mạnh và ánh sáng mà thế gian đang cần và phải có, nếu muốn làm cho cơn giông tố này lắng dịu. Tôi yêu cầu chư môn đệ hãy làm công tác phụng sự này cho tôi và cho nhân loại. Tôi không yêu cầu điều gì hoành tráng. Tuy nhiên nó cần một cố gắng ráo riết của linh hồn, nếu chư môn đệ muốn đáp ứng một cách đầy đủ. Tôi không đòi hỏi điều gì không thể làm được. Tôi muốn nhắc nhở chư môn đệ rằng sự hôn trầm của thể xác và não bộ, sự khô khan bất động của cảm xúc và sự lười biếng của trí não dường như là những chướng ngại ngăn trở chư môn đệ khi phải đương đầu với những vấn đề lớn. |
|
Again I point the Way to you and again I wait. Will you intensify your inner life and achieve the power which will enable you to live simultaneously as an efficient human being and a living, loving soul? It is the establishing of the continuity of this dual process which is your main need at this time; it will lead to fusion, personality coordination and a greatly increased efficiency. Many disciples are not young and the settled habit of thought and of the feeling life is not easy to disrupt. They must, however, be disrupted and you must feel no resentment. The rhythms of the personality are stabilised and constitute your line of least resistance. You must cut athwart these, thus forming the cross of life and existence will then take on added difficulty. The results will be new rhythms of beauty. |
Lại một lần nữa, tôi chỉ đường cho chư môn đệ và sẵn lòng chờ đợi. Liệu chư môn đệ sẽ phát triển đời sống nội tâm, để đạt được quyền năng mà sẽ giúp cho chư môn đệ vừa sống như một người tốt lành hữu hiệu và đồng thời lại vừa như một chân ngã sống động và đầy tình thương hay không? Sự thực hiện liên tục lối sống song phương đó chính là điều thiết yếu của chư môn đệ trong lúc này, nó sẽ đưa đến việc hòa hợp chân ngã và phàm ngã và một hiệu năng hoạt động mạnh mẽ to lớn gấp bội phần. Nhiều đệ tử không còn trẻ tuổi nữa và cái thói quen đã cố định về tư tưởng và đời sống cảm xúc không dễ gì phá bỏ. Tuy nhiên, những điều này phải được phá bỏ và chư môn đệ phải không lấy làm bực tức. Những nhịp điệu của phàm ngã đã ổn định và tạo thành đường lối ít đối kháng trong chư môn đệ. Chư môn đệ phải cắt bỏ những thứ này, và do đó tạo nên thập giá của sự sống và sự hiện tồn rồi sẽ thêm phần khó khăn. Kết quả sẽ là những nhịp điệu đẹp đẽ mới. |
|
To those who are standing in the blaze of pain (and their numbers are Legion), of agony, anxiety and distress—seeing it on every hand and attempting to stand steady in the midst of it all—I say: That which appears is not always that which truly is; that which rends and disrupts the personality life is frequently the agent of release, if rightly apprehended; that which will emerge when the Forces of Light have penetrated the world darkness will demonstrate the nature of the undying human [Page 101] spirit. To all of you I say: My love surrounds you and the aura of the Ashram of which I am the centre stands like a great defending wall around you and around all who are battling for the right. See that you battle. You can then, if you will, sense this loving protection. |
Những người đang oằn oại trong đau khổ, lo âu và tuyệt vọng (những người này rất nhiều) nhưng vẫn cố gắng bền gan chịu đựng, hãy nên biết rằng, cái giả tưởng bên ngoài không phải luôn luôn là sự thật, những gì gây tổn thương, đau khổ cho phàm ngã lại thường là những phương tiện giải thoát, nếu biết nhận xét đúng mức. Những gì xuất hiện khi những Lực Lượng Ánh Sáng xâm nhập bóng tối của thế gian sẽ chứng tỏ tính chất thiêng liêng của tinh thần con người bất diệt. Tôi có thể nói với tất cả: tình thương của tôi bao phủ chư môn đệ và hào quang của Đạo Viện mà tôi là cái trung tâm vẫn đứng vững như bức tường thành vĩ đại che chở, bảo vệ chung quanh tất cả những người nào chiến đấu cho lẽ phải. Vậy chư môn đệ hãy chiến đấu. Chừng đó chư môn đệ sẽ có thể cảm nhận được sự che chở đầy tình thương này. |
|
Each day, if you will, you can put yourself en rapport with your Master. We are not blind or uncaring. We know, however, that there are worse evils than death and pain. We know that this is the hour of humanity’s greatest opportunity and that if men can pass triumphantly through this and (by the strength of their own souls) surmount this very present evil, then the evolution of humanity will be hastened beyond all that was believed possible. It will constitute a release, self-achieved and self-initiated. This means as much in the life of mankind as it means in the life of the individual disciple. That chance and that opportunity must not be taken from man; the gained spiritual and eternal values are of far greater importance than his temporary agony. |
Mỗi ngày nếu chư môn đệ muốn, chư môn đệ có thể giao cảm với Chân Sư của mình. Chúng tôi không phải là không nhìn thấy hay không quan tâm. Tuy nhiên, chúng tôi biết rằng có những điều ác còn tệ hại hơn là cái chết và đau khổ. Chúng tôi biết rằng đây là một thời kỳ mà cơ hội lớn lao ngàn năm một thuở đã đến với nhân loại, và nếu con người có thể vượt qua giai đoạn này trong sự thành công và bằng sức mạnh của linh hồn mình, thắng đoạt được điều ác ở trong hiện tại, thì chừng đó sự tiến hóa của nhân loại sẽ hối thúc mau chóng ngoài sức tưởng tượng. Điều này sẽ dẫn đến một sự giải thoát, tự thành tựu và tự điểm đạo. Việc này có ý nghĩa thâm sâu trong đời sống của nhân loại cũng như có ý nghĩa trong đời sống cá nhân của người đệ tử. Cơ hội đó phải không bị tước đoạt khỏi con người; những giá trị tinh thần và vĩnh cửu đạt được có tầm quan trọng lớn hơn nhiều so với sự đau đớn nhất thời của y. |
|
Little as you may realise it as you think of Us in Our so-called safe retreats, the capacity of identification with all that is involved in world pain today and the sensitivity of Those connected with the Hierarchy to the unhappy condition of humanity makes Their task of standing-by one of supreme spiritual agony. They understand the depths of the reaction of humanity; they comprehend and understand, for They are one with all men. This involves a far greater comprehension than you can grasp and one which can only be adequately expressed in the word “identification.” They need the staunch support of all Their disciples, the steadfast love, the loyal attitude, the unquestioning response to human need which will enable Them to carry more easily the heavy burden which human karma has laid upon Them and which They carry voluntarily. |
Khi chư môn đệ nghĩ đến chúng tôi ở những nơi gọi là trú ẩn an toàn, chư môn đệ có thể ít biết rằng cái khả năng đồng hóa với tất cả những gì liên hệ tới sự khốn khó của thế gian ngày nay và sự nhạy cảm của Đấng Cao Cả trong Thánh đoàn đối với tình trạng khổ đau của nhân loại, làm cho các Ngài rất đau thương, dường như đứng trước một nỗi thống khổ tinh thần vô cùng trầm trọng. Cái Ngài hiểu rõ sự phản ứng sâu xa của nhân loại bởi các Ngài là một với tất cả mọi người. Điều này đòi hỏi một sự hiểu biết thâm sâu hơn nhiều, nó vượt rất xa những gì mà chư môn đệ có thể hiểu, nó chỉ có thể được bày tỏ đầy đủ bằng từ “đồng nhất”. Các Ngài cần đến sự trợ giúp trung kiên, tình thương bền chặt, thái độ trung thành và sự đáp ứng mau chóng của tất cả những đệ tử đối với những nhu cầu của nhân loại, để giúp cho các Ngài cưu mang một cách dễ dàng hơn cái gánh nặng mà nghiệp quả đã đặt nặng trên vai các Ngài, mà các Ngài đã tình nguyện đảm trách. |
|
Will you give this? Will you aid Our work in every possible way, both as personalities, dedicated to service, and as souls who walk the lighted Way? The need of humanity for love and light, the need of the Hierarchy for channels and for those who will work under direction upon the earth can call forth all that you have to give and can evoke your soul (the only true reward that the disciple seeks) in power and love. This will happen to you, if you will forget the little self. |
Chư môn đệ có sẵn sàng cho ra những thứ đó chăng, chư môn đệ có muốn trợ giúp vào công cuộc của chúng tôi bằng mọi cách chăng? Vừa là với tư cách cá nhân hiến dâng cuộc đời cho công việc phụng sự vừa là như những linh hồn bước chân trên con đường Đạo, đường Đạo đầy ánh sáng. Nhu cầu tình thương và ánh sáng của nhân loại, nhu cầu của Thánh đoàn cần đến những đường vận hà và những người phụng sự thế gian, có thể kêu gọi đến tất cả những gì mà chư môn đệ có thể ban phát. Đó là phần thưởng thật sự duy nhất mà người đệ tử mong ước. Điều đó sẽ đến với chư môn đệ, nếu chư môn đệ quên đi cái phàm ngã nhỏ bé của mình. |
|
[Page 102] |
|
|
That your knowledge may be transmuted into wisdom and the eye of vision control your living processes and all your undertakings is the desire (deep within my heart) for each and all of you. |
Cầu mong sự hiểu biết của chư môn đệ có thể thăng hoa trở thành minh triết và nhãn quang tâm linh điều khiển tất cả mọi hành động và sinh hoạt của chư môn đệ. Đó là điều ước vọng sâu xa trong lòng tôi đối với mỗi đệ tử cũng như đối với tất cả chư môn đệ. |
|
Your Master, Friend and Teacher, |
Chân Sư, Người Bạn và Người Thầy của chư môn đệ, |
|
THE TIBETAN (DINA I, 99-102) |
CHÂN SƯ TÂY TẠNG (ĐƯỜNG ĐẠO TRONG KỶ NGUYÊN MỚI I, trang 99 – 102) |