Bình Giảng Lửa Vũ Trụ – S9S10 (TCF 1167-1173)

📘 Sách: Bình Giảng Luận về Lửa Vũ Trụ – S9 – Tác giả: Michael D. Robbins

S9S10 Part I

TCF 1167-1173

TCF 1166-1173

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi trình chiếu trong lớp học. Cước chú và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCFđược đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF đặt sẵn bên cạnh, vì mục đích liên tục mạch văn. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

1. We now enter a very important section dealing with occult law. Upon occult law the workings of our planet, our solar system and our cosmos are based.

1. Giờ đây chúng ta bước vào một phần rất quan trọng đề cập đến quy luật huyền bí. Trên quy luật huyền bí mà các hoạt động của hành tinh chúng ta, hệ mặt trời chúng ta và vũ trụ chúng ta được đặt nền tảng.

SECTION TWO

PHẦN HAI

DIVISION F

PHÂN ĐOẠN F

THE LAW OF ATTRACTION

ĐỊNH LUẬT HẤP DẪN

I. The Subsidiary laws.

I. Các định luật phụ thuộc.

1. Law of Chemical Affinity.

1. Định luật Ái lực Hóa học.

2. This is largely attraction within the field of matter. Of course, there must also be etheric, astral and mental chemistry, but usually when we speak of “chemical affinity” we are dealing with atoms of what is conventionally regarded as material substance.

2. Đây phần lớn là sự hấp dẫn trong phạm vi của vật chất. Dĩ nhiên, cũng phải có hóa học dĩ thái, cảm dục và trí tuệ, nhưng thông thường khi chúng ta nói về “ái lực hóa học” thì chúng ta đang đề cập đến các nguyên tử của điều vốn theo quy ước được xem là chất liệu vật chất.

2. Law of Progress.

2. Định luật Tiến bộ.

3. Progress (i.e., movement from present conditions to conditions more resembling archetypal patterns) occurs because of the great drawing power of the second ray of Love-Wisdom. One could say that archetypes are magnetic.

3. Tiến bộ (tức là sự chuyển động từ các điều kiện hiện tại đến các điều kiện giống hơn với các mô hình nguyên mẫu) xảy ra do mãnh lực lôi kéo vĩ đại của cung hai Bác Ái – Minh Triết. Có thể nói rằng các nguyên mẫu có tính từ tính.

3. Law of Sex.

3. Định luật Tính dục.

4. This is one of the great laws obviously related to the Law of Attraction. It involves, as we all realize, attraction between the poles. As we usually understand it, it is active in relation to the lower four kingdoms.

4. Đây là một trong những định luật lớn hiển nhiên có liên hệ với Định luật Hấp dẫn. Nó bao hàm, như tất cả chúng ta đều nhận ra, sự hấp dẫn giữa các cực. Theo cách chúng ta thường hiểu, nó hoạt động liên hệ với bốn giới thấp.

4. Law of Magnetism.

4. Định luật Từ điện.

5. The Law of Attraction is inseparable from the Law of Magnetism. We know that the Law of Attraction (and Repulsion) is largely a second ray law. We have also been told that magnetism is as much a first ray phenomenon as one related to the second ray. It will be interesting to see how Master DK treats this distinction.

5. Định luật Hấp dẫn không thể tách rời khỏi Định luật Từ điện. Chúng ta biết rằng Định luật Hấp dẫn (và Đẩy lùi) phần lớn là một định luật cung hai. Chúng ta cũng đã được bảo rằng từ điện cũng là một hiện tượng cung một không kém gì là điều liên hệ với cung hai. Sẽ rất thú vị khi xem Chân sư DK xử lý sự phân biệt này như thế nào.

5. Law of Radiation.

5. Định luật Phóng xạ.

6. When the Law of Attraction has done its work, the configurations completed are archetypal in nature and thus radiant.

6. Khi Định luật Hấp dẫn đã hoàn thành công việc của nó, các cấu hình được hoàn tất có bản chất nguyên mẫu và do đó có tính phóng xạ.

6. Law of the Lotus.

6. Định luật của Hoa Sen.

7. We will look for DK’s specific method of describing this law. We know that lotuses unfold (a great symbol of the unfoldment of consciousness) and that this unfoldment proceeds once the qualities and energies needed are magnetically gathered into the right configuration.

7. Chúng ta sẽ tìm kiếm phương pháp đặc thù của DK trong việc mô tả định luật này. Chúng ta biết rằng các hoa sen khai mở (một biểu tượng lớn của sự khai mở tâm thức) và sự khai mở này tiến hành một khi các phẩm tính và năng lượng cần thiết được tập hợp bằng từ tính vào đúng cấu hình.

7. Law of Colour.

7. Định luật Màu sắc.

8. The phenomenon of color is specifically related to the fourth ray and the Law of Attraction to the second ray. The fourth and second rays are intimately related, just as harmony and unity are related.

8. Hiện tượng màu sắc liên hệ đặc biệt với cung bốn và Định luật Hấp dẫn với cung hai. Cung bốn và cung hai liên hệ mật thiết với nhau, cũng như hòa điệu và hợp nhất liên hệ với nhau.

8. Law of Gravitation.

8. Định luật Trọng lực.

9. We can understand the direct connection here. Gravitation is a direct expression of the Law of Attraction; in space bodies are drawn together (yet also repelled).

9. Chúng ta có thể hiểu mối liên hệ trực tiếp ở đây. Trọng lực là một biểu hiện trực tiếp của Định luật Hấp dẫn; trong không gian các thiên thể bị kéo lại gần nhau (nhưng cũng bị đẩy ra).

9. Law of Planetary Affinity.

9. Định luật Ái lực Hành tinh.

10. If one is an astrologer, one understands this law on an elementary level. Certain planets have a natural affinity for each other and others an antipathy. Yet all, because they are all the members of a ‘solar group’, have a deep level of affinity.

10. Nếu một người là nhà chiêm tinh học, người ấy hiểu định luật này ở cấp độ sơ đẳng. Một số hành tinh có ái lực tự nhiên với nhau và những hành tinh khác thì có phản cảm. Tuy nhiên tất cả, bởi vì tất cả đều là thành viên của một “nhóm thái dương”, đều có một cấp độ ái lực sâu xa.

11. Venus and Neptune, for instance, have a strong affinity. Mercury and Uranus also. Mars and Pluto also. But Saturn and Jupiter are in a way, opposites, as are Saturn and Neptune and even Saturn and Uranus (though here affinity can be more easily found.)

11. Chẳng hạn, Sao Kim và Sao Hải Vương có ái lực mạnh. Sao Thủy và Sao Thiên Vương cũng vậy. Sao Hỏa và Sao Diêm Vương cũng vậy. Nhưng Sao Thổ và Sao Mộc theo một nghĩa nào đó là các đối cực, cũng như Sao Thổ và Sao Hải Vương, và ngay cả Sao Thổ và Sao Thiên Vương (dù ở đây ái lực có thể được tìm thấy dễ hơn.)

10. Law of Solar Unity. [full extent of this commentary]

10. Định luật Hợp nhất Thái dương. [full extent of this commentary]

12. Nothing more is said of this law, but we can imagine that through its effects all B/beings within our solar system are held together coherently and, finally, in complete mutual support and enhancement.

12. Không có gì thêm được nói về định luật này, nhưng chúng ta có thể hình dung rằng qua các hiệu quả của nó, mọi hữu thể bên trong hệ mặt trời của chúng ta được giữ lại với nhau một cách cố kết và cuối cùng trong sự hỗ trợ và tăng cường lẫn nhau hoàn toàn.

13. The following laws will be dealt with in Semester 9 Section 11.

13. Các định luật sau đây sẽ được bàn đến trong Học kỳ 9 Phần 11.

11. Law of the Schools. [see S9S11]

11. Định luật của các Trường phái. [see S9S11]

II. Its Effects.

II. Các hiệu quả của nó.

1. Association.

1. Sự kết hợp.

2. Form Building.

2. Sự kiến tạo hình tướng.

3. Adaptation of form to life.

3. Sự thích ứng của hình tướng với sự sống.

4. Group Unity.

4. Hợp nhất nhóm.

III. Group Relations.

III. Các liên hệ nhóm.

1. Three atomic relations.

1. Ba liên hệ nguyên tử.

2. Seven laws of group work.

2. Bảy định luật của công việc nhóm.

3. Twenty-two methods of interplay.

3. Hai mươi hai phương pháp tương tác.

This law is, as we know, the basic law of all manifestation, and the paramount law for this solar system.

Định luật này, như chúng ta biết, là định luật căn bản của mọi biểu hiện, và là định luật tối thượng đối với hệ mặt trời này.

14. We are speaking of the Law of Attraction. Since our solar system is profoundly a second ray solar system (perhaps the final monadic ray of the Solar Logos is the second ray) we can see why the Law of Attraction is paramount for our Solar Logos.

14. Chúng ta đang nói về Định luật Hấp dẫn. Vì hệ mặt trời của chúng ta sâu xa là một hệ mặt trời cung hai (có lẽ cung chân thần cuối cùng của Thái dương Thượng đế là cung hai), chúng ta có thể thấy vì sao Định luật Hấp dẫn là tối thượng đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta.

15. This means, of course, that no matter what may be our individual monadic ray, it must, in this solar system, be considered subsidiary to the Law of Attraction and to the great Second Ray of Love-Wisdom.

15. Dĩ nhiên điều này có nghĩa là bất kể cung chân thần cá nhân của chúng ta là gì, trong hệ mặt trời này nó phải được xem là phụ thuộc vào Định luật Hấp dẫn và vào cung Hai vĩ đại của Bác Ái – Minh Triết.

It might strictly be called the Law of Adjustment or of Balance,

Nói một cách nghiêm ngặt, nó có thể được gọi là Định luật Điều chỉnh hay Cân bằng,

16. Something of the sign Libra seems implicated as well as a certain suggestion of the third ray in the term “Adjustment”.

16. Dường như có điều gì đó của dấu hiệu hoàng đạo Thiên Bình cũng được hàm ý, cùng với một gợi ý nào đó về cung ba trong thuật ngữ “Điều chỉnh”.

17. Libra is, in many ways, a sign transmitting the second ray and so can be closely related to the second ray Law of Attraction.

17. Thiên Bình, theo nhiều cách, là một dấu hiệu truyền dẫn cung hai và vì thế có thể liên hệ chặt chẽ với Định luật Hấp dẫn của cung hai.

for it conditions that aspect of electrical phenomena which we call neutral.

vì nó tác động lên phương diện của các hiện tượng điện mà chúng ta gọi là trung tính.

18. This type of electrical phenomenon occupies the midway point between positive and negative electrical phenomena. ‘Neutral’ electricity is not yet understood, the Tibetan tells us. Probably when the nature of solar fire is better understood there will also come an understanding of this intermediary type of electricity.

18. Loại hiện tượng điện này chiếm điểm ở giữa giữa các hiện tượng điện dương và âm. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng điện “trung tính” vẫn chưa được hiểu. Có lẽ khi bản chất của Lửa Thái dương được hiểu rõ hơn thì cũng sẽ xuất hiện sự thấu hiểu về loại điện trung gian này.

19. It appears that ‘neutral electricity’ (if we can rightfully call it that) balances and equilibrates the relationship between positive and negative electricity.

19. Dường như “điện trung tính” (nếu chúng ta có thể gọi nó như vậy một cách chính đáng) cân bằng và quân bình hóa mối liên hệ giữa điện dương và điện âm.

20. One wonders, since electrical phenomena are based on the relation between the poles, whether the star “Electra” in the Pleiades is not an expression of the Law of Attraction and the second ray.

20. Người ta tự hỏi, vì các hiện tượng điện dựa trên mối liên hệ giữa các cực, liệu ngôi sao “Electra” trong chòm Thất Nữ có phải là một biểu hiện của Định luật Hấp dẫn và cung hai hay không.

The Law of Economy is the basic law of one pole, that of the negative aspect;

Định luật Tiết Kiệm là định luật căn bản của một cực, tức cực âm;

21. This is the material pole. The Law of Economy characterized systemic processes in the previous incarnation of our Solar Logos, i.e., in the previous solar system.

21. Đây là cực vật chất. Định luật Tiết Kiệm đặc trưng cho các tiến trình hệ thống trong lần lâm phàm trước của Thái dương Thượng đế của chúng ta, tức là trong hệ mặt trời trước.

the Law of Synthesis is the basic law of the positive pole,

Định luật Tổng hợp là định luật căn bản của cực dương,

22. This is the law which will characterize the solar system to come—the next incarnation of our Solar Logos. Under the Law of Synthesis we can expect culminative results in that system— if any of us actually participate in it. It is suggested that those whose monadic ray is the first are now forming a kind of ‘seed-group’ for developments in that system. Naturally, this cannot apply to all first ray Monads.

22. Đây là định luật sẽ đặc trưng cho hệ mặt trời sắp đến—lần lâm phàm kế tiếp của Thái dương Thượng đế của chúng ta. Dưới Định luật Tổng hợp, chúng ta có thể mong đợi các kết quả viên mãn trong hệ ấy— nếu bất kỳ ai trong chúng ta thực sự tham dự vào đó. Có gợi ý rằng những ai có cung chân thần là cung một hiện đang hình thành một loại “Nhóm hạt giống” cho các phát triển trong hệ ấy. Dĩ nhiên, điều này không thể áp dụng cho mọi Chân thần cung một.

but the Law of Attraction is the law for the fire which is produced [Page 1167] by the merging during evolution of the two poles.

nhưng Định luật Hấp dẫn là định luật dành cho ngọn lửa được tạo ra [Page 1167] bởi sự hòa nhập trong tiến hoá của hai cực.

23. Then did not solar fire pre-exist the merging of the two poles? Is it merely a byproduct of that merging? Or is it the manifestation of solar fire (neutral electricity) through form which occurs as a result of the merging of the two poles?

23. Vậy thì chẳng phải Lửa Thái dương đã hiện hữu từ trước khi hai cực hợp nhất hay sao? Có phải nó chỉ đơn thuần là một sản phẩm phụ của sự hợp nhất ấy không? Hay nó là sự biểu hiện của Lửa Thái dương (điện trung hòa) thông qua hình tướng xảy ra như là kết quả của sự hợp nhất hai cực?

24. Certainly solar fire and neutral electricity ( cosmically considered) pre-existed the merging of the two poles in the constitution of intra-systemic B/beings including man. We must realize that there are many strata of solar fire.

24. Chắc chắn Lửa Thái dương và điện trung hòa (nếu xét về mặt vũ trụ) đã hiện hữu trước sự hợp nhất của hai cực trong cấu tạo của các hữu thể nội hệ thống, kể cả con người. Chúng ta phải nhận ra rằng có nhiều tầng lớp của Lửa Thái dương.

25. It would seem that the great cosmic Second Aspect has been present in universe since its beginning on planes far higher than the cosmic physical.

25. Dường như Phương diện thứ hai vĩ đại của vũ trụ đã hiện diện trong vũ trụ ngay từ khởi thủy của nó trên những cõi cao hơn rất nhiều so với cõi hồng trần vũ trụ.

26. Yet we can also ask if it did not appear when the Universal Father and the Universal Mother merged through a process endlessly beyond our understanding.

26. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể hỏi liệu nó đã không xuất hiện khi Người Cha Vũ Trụ và Người Mẹ Vũ Trụ hợp nhất qua một tiến trình vượt xa sự thấu hiểu của chúng ta đến vô tận hay sao.

From the standpoint of the human being, it is that which brings about the realisation of self-consciousness;

Xét từ quan điểm của con người, chính nó mang lại sự chứng nghiệm ngã thức thực sự;

27. For man, it is the Solar Angel which provides the presence of this ‘neutral electricity’ or solar fire—at least in this solar system and on this chain.

27. Đối với con người, chính Thái dương Thiên Thần cung cấp sự hiện diện của “điện trung hòa” hay Lửa Thái dương này—ít nhất là trong hệ mặt trời này và trên dãy này.

28. In an earlier chain, animal man ‘worked his way into’ solar fire through an unconscious aspiration towards the Spirit aspect inherent in his nature.

28. Trong một dãy trước đây, người thú đã “tự mình tiến vào” Lửa Thái dương qua một khát vọng vô thức hướng về phương diện Tinh thần vốn cố hữu trong bản chất của y.

from the point of view of the subhuman beings it is that which draws all forms of life on to self-realisation;

xét từ quan điểm của các hữu thể dưới nhân loại, chính nó lôi cuốn mọi hình thức sự sống tiến tới sự tự chứng ngộ;

29. We can see that ‘neutral electricity’ does have a drawing power with respect to the third aspect of divinity through which subhuman beings express.

29. Chúng ta có thể thấy rằng “điện trung hòa” quả thật có một quyền năng lôi cuốn đối với phương diện thứ ba của thiên tính, qua đó các hữu thể dưới nhân loại biểu lộ.

30. ‘Neutral electricity’ is not neutral in the sense of being inert— such as a neutral element in the periodic table. It would seem that ‘neutral electricity’ is attracted to the positive pole and attracts the negative pole. Through solar fire or ‘neutral electricity’ the poles are mediated and brought together. We would think that Venus should be a very powerful representative of ‘neutral electricity’.

30. “Điện trung hòa” không trung hòa theo nghĩa là trơ ì— như một nguyên tố trung tính trong bảng tuần hoàn. Dường như “điện trung hòa” bị hút về cực dương và hút cực âm. Thông qua Lửa Thái dương hay “điện trung hòa”, các cực được làm trung gian và được đưa lại gần nhau. Chúng ta hẳn sẽ nghĩ rằng Sao Kim phải là một đại diện rất mạnh mẽ của “điện trung hòa”.

31. Subhuman beings are ‘raised’ towards individualization or initial self-realization. We thus see that the neutrality of ‘neutral electricity’ does not prevent it from being magnetic.

31. Các hữu thể dưới nhân loại được “nâng lên” hướng tới sự biệt ngã hóa hay sự tự chứng ngộ ban đầu. Vì vậy, chúng ta thấy rằng tính trung hòa của “điện trung hòa” không ngăn cản nó mang tính từ tính.

whilst in connection with the superhuman aspect it may be stated that this law of life expands into the processes conditioned by the higher law of Synthesis, of which the Law of Attraction is but a subsidiary branch.

trong khi liên hệ với phương diện siêu nhân loại, có thể nói rằng định luật sự sống này mở rộng vào các tiến trình được tác động bởi định luật cao hơn của Tổng Hợp, mà trong đó Định luật Hấp Dẫn chỉ là một nhánh phụ thuộc.

32. Is the Law of Economy also a subsidiary branch of the Law of Synthesis or is it a subsidiary branch of the Law of Attraction?

32. Vậy Định luật Tiết Kiệm cũng là một nhánh phụ thuộc của Định luật Tổng Hợp hay là một nhánh phụ thuộc của Định luật Hấp Dẫn?

33. There is a definite connection between the Law of Attraction and the Law of Synthesis. The results of the Law of Attraction must, however, precede the application of the Law of Synthesis.

33. Có một mối liên hệ xác định giữa Định luật Hấp Dẫn và Định luật Tổng Hợp. Tuy nhiên, các kết quả của Định luật Hấp Dẫn phải đi trước sự áp dụng của Định luật Tổng Hợp.

34. We see that the work of expansive Jupiter is, in our solar system, involved in the transition from the Law of Attraction to the Law of Synthesis. Jupiter has a powerful second ray and it has also been seriously questioned whether the ultimate monadic ray of Jupiter might not be the first.

34. Chúng ta thấy rằng công việc của Sao Mộc có tính mở rộng, trong hệ mặt trời của chúng ta, có liên quan đến sự chuyển tiếp từ Định luật Hấp Dẫn sang Định luật Tổng Hợp. Sao Mộc có một cung hai rất mạnh, và người ta cũng đã nghiêm túc đặt câu hỏi liệu cung chân thần tối hậu của Sao Mộc có thể lại không phải là cung một.

35. What is important for us to realize is that the Law of Attraction, if followed wisely, will lead towards synthesis.

35. Điều quan trọng để chúng ta chứng nghiệm là Định luật Hấp Dẫn, nếu được tuân theo một cách minh triết, sẽ dẫn tới tổng hợp.

36. One difference between the Law of Attraction and the Law of Synthesis is that under the Law of Synthesis difference is hidden and form is blotted out. This is not the case once the Law of Attraction has completed its work. Form still exists, but the relationship between forms is unitive rather than characterized by homogeneity as under the Law of Synthesis.

36. Một khác biệt giữa Định luật Hấp Dẫn và Định luật Tổng Hợp là dưới Định luật Tổng Hợp, sự khác biệt bị che khuất và hình tướng bị xóa mờ. Điều này không xảy ra khi Định luật Hấp Dẫn đã hoàn tất công việc của nó. Hình tướng vẫn còn tồn tại, nhưng mối liên hệ giữa các hình tướng thì hợp nhất hơn là mang đặc tính đồng nhất như dưới Định luật Tổng Hợp.

37. The Law of Synthesis carries a second ray connotation within a first ray context. It creates certain dynamics which express the Law of Attraction on a higher turn of the spiral.

37. Định luật Tổng Hợp mang một hàm ý cung hai trong một bối cảnh cung một. Nó tạo ra những động lực nhất định biểu lộ Định luật Hấp Dẫn trên một vòng xoắn cao hơn.

38. It would seem that the Law of Synthesis will reach its apotheosis in the next solar system. Inherently, it is a higher law than the Law of Attraction, yet one wonders whether in this second ray solar system the Law of Attraction might not be preeminent. One would expect that a thorough synthesis is not possible in this system as it will be in the next. In this system it might be more logical to expect a thorough expression of the Law of Attraction.

38. Dường như Định luật Tổng Hợp sẽ đạt đến cực điểm vinh quang của nó trong hệ mặt trời kế tiếp. Vốn tự thân, nó là một định luật cao hơn Định luật Hấp Dẫn, tuy nhiên người ta vẫn tự hỏi liệu trong hệ mặt trời cung hai này, Định luật Hấp Dẫn có thể không phải là định luật trổi vượt hay sao. Người ta hẳn sẽ mong đợi rằng một sự tổng hợp triệt để không thể có được trong hệ thống này như nó sẽ có trong hệ thống kế tiếp. Trong hệ thống này có lẽ hợp lý hơn khi mong đợi một sự biểu lộ triệt để của Định luật Hấp Dẫn.

Strictly speaking, the Law of Attraction is a generic term under which are grouped several other laws similar in nature but diverse in their manifestations.

Nói một cách nghiêm ngặt, Định luật Hấp Dẫn là một thuật ngữ tổng quát, dưới đó được gom nhóm một số định luật khác tương tự về bản chất nhưng khác nhau trong biểu hiện.

39. Discrimination will now be needed. Nature may be similar but manifestation distinct.

39. Giờ đây cần đến sự phân biện. Bản chất có thể tương tự nhưng biểu hiện lại khác biệt.

40. We have to isolate that factor, that common denominator which can be identified as “similar”.

40. Chúng ta phải cô lập yếu tố ấy, mẫu số chung ấy, cái có thể được nhận diện là “tương tự”.

41. It is interesting that laws often spoken of as if they were unitary actually represent a grouping of processes.

41. Điều thú vị là những định luật thường được nói đến như thể chúng là đơn nhất, thực ra lại biểu thị một sự gom nhóm các tiến trình.

It might be useful if we enumerated a few of these laws, thereby enabling the student to get (as he studies them in their totality) a broad general idea as to the Law and its modifications, its spheres of influence and the scope of its activity.

Sẽ hữu ích nếu chúng ta liệt kê một vài định luật này, nhờ đó giúp đạo sinh có được (khi nghiên cứu chúng trong tính toàn thể của chúng) một ý niệm khái quát rộng lớn về Định luật và các biến thể của nó, các phạm vi ảnh hưởng của nó và tầm mức hoạt động của nó.

42. We can imagine that the Tibetan’s treatment will not be extremely detailed. We are meant to get an overview.

42. Chúng ta có thể hình dung rằng cách Chân sư Tây Tạng trình bày sẽ không cực kỳ chi tiết. Điều chúng ta cần đạt được là một cái nhìn tổng quan.

43. In looking for the distinctions, we will be focusing on

43. Khi tìm kiếm các điểm phân biệt, chúng ta sẽ tập trung vào

a. Modifications

a. Các biến thể

b. Spheres of influence

b. Các phạm vi ảnh hưởng

c. Scope of activity

c. Tầm mức hoạt động

44. We will be searching for ‘diversity in unity.’

44. Chúng ta sẽ tìm kiếm “sự đa dạng trong hợp nhất”.

45. As we read A Treatise on Cosmic Fire we are affirmed in the idea that it is very much a treatise on Occult Law.

45. Khi đọc Luận về Lửa Vũ Trụ chúng ta càng được xác nhận trong ý tưởng rằng đây rất nhiều là một luận thuyết về Quy Luật Huyền Bí.

It should be noted here as a basic proposition in connection with all atoms that the Law of Attraction governs the Soul aspect.

Cần lưu ý ở đây như một mệnh đề căn bản liên quan đến mọi nguyên tử rằng Định luật Hấp Dẫn chi phối phương diện linh hồn.

46. By “atoms” DK will mean all the various kinds of atoms He has discussed in this book—even Solar Logoi considered as atoms.

46. Với từ “nguyên tử”, Chân sư DK muốn nói đến mọi loại nguyên tử khác nhau mà Ngài đã bàn đến trong quyển sách này—ngay cả các Thái dương Thượng đế cũng được xem như những nguyên tử.

47. The soul is the great attractive factor within our nature.

47. Linh hồn là yếu tố hấp dẫn lớn lao bên trong bản chất của chúng ta.

48. Thus, within out energy system, our soul nature is most representative of the Law of Attraction.

48. Vì vậy, trong hệ thống năng lượng của chúng ta, bản chất linh hồn của chúng ta là đại diện rõ nhất cho Định luật Hấp Dẫn.

The Law of Economy is the law of the negative electron; the Law of Synthesis is the Law of the positive central life;

Định luật Tiết Kiệm là định luật của điện tử âm; Định luật Tổng Hợp là Định luật của sự sống trung tâm dương tính;

49. Shall we call this “positive central life” the “proton”? Or is it something still more?

49. Chúng ta có nên gọi “sự sống trung tâm dương tính” này là “proton” không? Hay nó còn là một cái gì hơn nữa?

whilst the Law of Attraction governs that which is produced by the relation of these two,

trong khi Định luật Hấp Dẫn chi phối cái được tạo ra bởi mối liên hệ của hai điều này,

50. What is produced by the relation between the two? Coherence? Cosmos? Ordered beauty?

50. Điều gì được tạo ra bởi mối liên hệ giữa hai điều ấy? Sự cố kết? Vũ trụ? Vẻ đẹp có trật tự?

51. Something is produced by the relation between the Law of Synthesis and the Law of Economy. It does not say that the Law of Attraction is produced by this relation, but that the Law of Attraction governs “that” which is produced by the relation.

51. Có một cái gì đó được tạo ra bởi mối liên hệ giữa Định luật Tổng Hợp và Định luật Tiết Kiệm. Ở đây không nói rằng Định luật Hấp Dẫn được tạo ra bởi mối liên hệ này, mà là Định luật Hấp Dẫn chi phối “cái” được tạo ra bởi mối liên hệ ấy.

52. In some ways, it would seem that that which is called by physicists the “neutron” would relate to the Law of Attraction, solar fire and “neutral electricity”.

52. Theo một vài phương diện, dường như cái mà các nhà vật lý gọi là “neutron” sẽ liên hệ với Định luật Hấp Dẫn, Lửa Thái dương và “điện trung hòa”.

and is itself controlled by a greater cosmic law which is the principle of the intelligence of substance. It is the law of Akasha.

và bản thân nó được kiểm soát bởi một định luật vũ trụ lớn hơn, là nguyên khí của trí tuệ của chất liệu. Đó là định luật của Akasha.

53. This is quite an arresting statement. The Law of Akasha is certainly a cosmic law, yet so is the Law of Attraction. Perhaps the Law of Akasha originates for our local cosmosystem from the cosmic monadic plane—the ‘cosmic akashic plane’.

53. Đây quả là một phát biểu rất gây chú ý. Định luật Akasha chắc chắn là một định luật vũ trụ, nhưng Định luật Hấp Dẫn cũng vậy. Có lẽ Định luật Akasha phát sinh đối với vũ trụ-hệ thống cục bộ của chúng ta từ cõi chân thần vũ trụ—“cõi akasha vũ trụ”.

54. Perhaps DK is telling us that Akasha, so closely related to various monadic planes, is deeply involved in some kind of cosmic attraction impulsed through cosmic sound.

54. Có lẽ Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng Akasha, vốn liên hệ rất mật thiết với nhiều cõi chân thần khác nhau, có dính líu sâu xa đến một loại hấp dẫn vũ trụ nào đó được thúc đẩy qua âm thanh vũ trụ.

55. Is the Law of Akasha in some respects a super-cosmic law?

55. Phải chăng Định luật Akasha, trong một vài phương diện, là một định luật siêu vũ trụ?

56. When dealing with akasha we deal with sound, pattern, attraction and with the first formal differentiations into seven. By referring to Chart V, 344, some hints regarding sevenfoldness of akashic planes (solar and cosmic) can be gathered.

56. Khi đề cập đến akasha chúng ta đề cập đến âm thanh, mô hình, hấp dẫn và những biến phân hình thức đầu tiên thành bảy. Khi tham chiếu đến Biểu đồ V, 344, có thể thu thập được một vài gợi ý liên quan đến tính thất phân của các cõi akasha (thái dương và vũ trụ).

It must be borne in mind that these three laws are the expression of the intent or purpose of the three Logoic Aspects.

Cần ghi nhớ rằng ba định luật này là sự biểu lộ của ý định hay mục đích của ba Phương diện Thượng đế.

57. From another point of view the “three Logoic Aspects” can be considered the “Three Persons” of the Logoic Trinity.

57. Từ một quan điểm khác, “ba Phương diện Thượng đế” có thể được xem là “Ba Ngôi” của Tam Vị Thượng đế.

58. We are now speaking of these laws as they operate within a solar logoic context. They certainly must have higher correspondences. At one point DK tells us that we have been given only three cosmic laws and that other, not yet revealed, do exist.

58. Giờ đây chúng ta đang nói về các định luật này khi chúng vận hành trong một bối cảnh thái dương thượng đế. Chắc chắn chúng phải có những tương ứng cao hơn. Có lúc Chân sư DK nói với chúng ta rằng chúng ta chỉ mới được ban cho ba định luật vũ trụ và rằng những định luật khác, chưa được mặc khải, quả thật có tồn tại.

The Law of Economy is the governing principle of Brahma or the Holy Spirit;

Định luật Tiết Kiệm là nguyên khí chi phối của Brahma hay Chúa Thánh Thần;

59. Esoterically, this law rules the five systemic planes. From a higher perspective, it rules five cosmic planes.

59. Một cách huyền bí, định luật này cai quản năm cõi hệ thống. Từ một viễn tượng cao hơn, nó cai quản năm cõi vũ trụ.

the Law of Synthesis is the law of the Father’s life;

Định luật Tổng Hợp là định luật của sự sống của Người Cha;

60. This law rulers the systemic and cosmic logoic planes.

60. Định luật này cai quản cõi thượng đế của hệ thống và của vũ trụ.

whilst the Son’s life is governed by, and manifests forth divine attraction.

trong khi sự sống của Người Con được chi phối bởi, và biểu lộ ra, hấp dẫn thiêng liêng.

61. The Law of Attraction rules, particularly, the systemic and probably the cosmic monadic plane, but has resonance with the systemic and cosmic buddhic and astral planes.

61. Định luật Hấp Dẫn cai quản, đặc biệt, cõi chân thần của hệ thống và có lẽ cả cõi chân thần vũ trụ, nhưng có cộng hưởng với các cõi Bồ đề và cảm dục của hệ thống và của vũ trụ.

62. The “Son’s life” is an aspect of “that” which is produced by the relation of the Law of Synthesis and the Law of Economy: “that” is ruled by the Law of Attraction.

62. “Sự sống của Người Con” là một phương diện của “cái” được tạo ra bởi mối liên hệ giữa Định luật Tổng Hợp và Định luật Tiết Kiệm: “cái” ấy được Định luật Hấp Dẫn cai quản.

Yet these three are the three subsidiary laws of a greater impulse

Tuy nhiên, ba định luật này là ba định luật phụ thuộc của một xung động lớn hơn

63. We notice that a law is called an “impulse”. The dynamic of pulsation is ruled by the first ray. One example is the pulsating “Jewel in the Lotus”

63. Chúng ta lưu ý rằng một định luật được gọi là một “xung động”. Động lực của sự rung nhịp được cai quản bởi cung một. Một ví dụ là “Bảo Châu trong Hoa Sen” đang rung nhịp

which governs the life of the Unmanifested Logos.25 S. D., I, 56, 73, 74.[Page 1168]

điều khiển sự sống của Thượng đế Không Biểu Hiện.25 G. L. B. N., I, 56, 73, 74.[Page 1168]

64. How can we think of the “Unmanifested Logos”? Are we to think of the Solar Logos in His soul nature or in His monadic nature? Surely, both are unmanifested at this time (at least on the cosmic physical plane), especially His monadic nature which is due to manifest more fully towards the end of this solar system and particularly in the next.

64. Làm sao chúng ta có thể nghĩ về “Thượng đế Không Biểu Hiện”? Chúng ta có nên nghĩ về Thái dương Thượng đế trong bản chất linh hồn của Ngài hay trong bản chất chân thần của Ngài không? Chắc chắn cả hai đều không biểu hiện vào lúc này (ít nhất là trên cõi hồng trần vũ trụ), đặc biệt là bản chất chân thần của Ngài, vốn sẽ biểu hiện đầy đủ hơn vào cuối hệ mặt trời này và nhất là trong hệ kế tiếp.

65. I do not think we should think of the “Unmanifested Logos” as any of the Three Persons of the Logoic Trinity.

65. Tôi không nghĩ rằng chúng ta nên xem “Thượng đế Không Biểu Hiện” là bất kỳ Ngôi nào trong Ba Ngôi của Tam Vị Thượng đế.

66. The “Unmanifested Logos” seems to be the synthesis of the Three Persons and the three laws which express these Persons.

66. “Thượng đế Không Biểu Hiện” dường như là sự tổng hợp của Ba Ngôi và của ba định luật biểu lộ các Ngôi ấy.

S9S10 Part II

TCF 1168-1170

TCF 1168-1170

I. THE SUBSIDIARY LAWS

I. CÁC ĐỊNH LUẬT PHỤ THUỘC

The subsidiary aspects, or laws, of the Law of Attraction might be enumerated as follows:

Các phương diện phụ thuộc, hay các định luật, của Định luật Hấp Dẫn có thể được liệt kê như sau:

1.  The Law of Chemical Affinity.

1.  Định luật Ái lực Hóa học.

This law governs the soul aspect in the mineral kingdom.

Định luật này cai quản phương diện linh hồn trong giới kim thạch.

1. Here we are dealing with the “anima mundi” or “soul of the world”—the lower worlds especially.

1. Ở đây chúng ta đang đề cập đến “anima mundi” hay “linh hồn của thế giới”—đặc biệt là các thế giới thấp.

2. We notice that it is the consciousness or “soul aspect” of the mineral kingdom which is governed by this law more than the matter aspect.

2. Chúng ta lưu ý rằng chính tâm thức hay “phương diện linh hồn” của giới kim thạch được định luật này cai quản nhiều hơn là phương diện vật chất.

3. It may seem unusual to think of the mineral kingdom as possessing “soul”, but according to the Hylozoistic Theory there is no aspect of Creation devoid of soul or consciousness of some type.

3. Có thể có vẻ lạ khi nghĩ rằng giới kim thạch sở hữu “linh hồn”, nhưng theo Thuyết Vật Linh thì không có phương diện nào của Sáng Tạo lại thiếu vắng linh hồn hay một loại tâm thức nào đó.

It concerns the marriage of the atoms, and the romance of the elements.

Nó liên quan đến cuộc hôn phối của các nguyên tử, và mối lãng mạn của các nguyên tố.

4. DK is deliberately using analogical terms which apply more to the human level of existence than to the world of so-called “inanimate matter”. Really, He is telling us that the mineral kingdom is animate.

4. Chân sư DK cố ý dùng những thuật ngữ tương đồng áp dụng cho cấp độ hiện hữu của con người nhiều hơn là cho thế giới của cái gọi là “vật chất vô tri”. Thực ra, Ngài đang nói với chúng ta rằng giới kim thạch là hữu sinh.

5. He is also telling us that all the issues of affinity, attraction and repulsion exist in this mineral world (governed by its soul) just as they exist in the human kingdom governed by the soul aspect (both the incarnated soul aspect and the aspect of soul which is said to be “on its own plane”).

5. Ngài cũng đang nói với chúng ta rằng mọi vấn đề về ái lực, hấp dẫn và đẩy lùi đều tồn tại trong thế giới kim thạch này (được linh hồn của nó cai quản) cũng như chúng tồn tại trong giới nhân loại được phương diện linh hồn cai quản (cả phương diện linh hồn nhập thể lẫn phương diện linh hồn được nói là “ở trên cõi riêng của nó”).

6. He seems to be working against the prevalent thought that the mineral kingdom is lifeless, inert, unconscious.

6. Dường như Ngài đang chống lại quan niệm phổ biến cho rằng giới kim thạch là vô sinh, trơ lì, vô thức.

It serves to perpetuate the life of the mineral kingdom and to preserve its integrity.

Nó giúp duy trì sự sống của giới kim thạch và bảo tồn tính toàn vẹn của giới ấy.

7. This is an interesting idea. Is DK saying that without the marriage of the atoms and the romance of the elements the life of the mineral kingdom would not be perpetuated?

7. Đây là một ý tưởng thú vị. Phải chăng Chân sư DK đang nói rằng nếu không có cuộc hôn phối của các nguyên tử và mối lãng mạn của các nguyên tố thì sự sống của giới kim thạch sẽ không được duy trì?

8. This leads one to consider the question of ‘sex’ within the mineral kingdom and the methods of death and reproduction related to it, if such truly exists.

8. Điều này khiến người ta suy nghĩ đến vấn đề “giới tính” trong giới kim thạch và các phương pháp chết và sinh sản liên hệ với nó, nếu quả thật điều ấy có tồn tại.

9. If reincarnation is a universal law, in what manner does it operate within the mineral kingdom with its group soul and many group soul subdivisions? Are there incarnate and discarnate members of this kingdom? Is it possible that certain ‘units’ in the mineral kingdom are ‘out of incarnation’ while, presumably, a smaller proportion are ‘in incarnation’? These are odd thoughts but it seems that the Tibetan is inclining us to think along such lines.

9. Nếu luân hồi là một định luật phổ quát, thì nó vận hành theo cách nào trong giới kim thạch với hồn nhóm của nó và nhiều phân bộ hồn nhóm? Có những thành viên nhập thể và không nhập thể của giới này chăng? Có thể nào một số “đơn vị” trong giới kim thạch đang “không lâm phàm” trong khi, có lẽ, một tỷ lệ nhỏ hơn thì “đang lâm phàm”? Đây là những ý nghĩ lạ lùng nhưng dường như Chân sư Tây Tạng đang khiến chúng ta nghiêng về cách suy nghĩ như thế.

It is the cause of the immetalisation of the Monad.

Nó là nguyên nhân của sự kim thạch hóa của Chân thần.

10. DK is telling us that the Law of Chemical Affinity is the “cause of the immetalisation of the Monad”. Has the ‘soul’ of the mineral kingdom attracted the descending Monad from its high estate? During the Second Outpouring, a Monad on the monadic plane takes to itself an atom of etheric substance which becomes, for it, a permanent atom. In this way that this permanent atom must ‘journey’ through the mineral kingdom in its many subdivisions and that this ‘journey’ is part of the pre-individualization pilgrimage of that which will one day be called the “human Monad”. Speculation on this possibility leads us towards some thoughts seldom thought!

10. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng Định luật Ái lực Hóa học là “nguyên nhân của sự kim thạch hóa của Chân thần”. Phải chăng “linh hồn” của giới kim thạch đã hút Chân thần đang giáng xuống từ địa vị cao của nó? Trong Lần tuôn đổ thứ hai, một chân thần trên cõi chân thần lấy cho mình một nguyên tử chất liệu dĩ thái, nguyên tử này trở thành, đối với nó, một nguyên tử trường tồn trường tồn. Theo cách này, nguyên tử trường tồn ấy hẳn phải “du hành” qua giới kim thạch trong nhiều phân bộ của nó, và “cuộc hành trình” này là một phần của cuộc hành hương tiền biệt ngã hóa của cái mà một ngày kia sẽ được gọi là “Chân thần nhân loại”. Suy đoán về khả thể này dẫn chúng ta đến những ý nghĩ hiếm khi được nghĩ tới!

11. In this process of monadic immetalisation, would Monads of certain types ‘incarnate’ within certain elements resonant to that type? These are questions which we are probably not accustomed to consider but all have to do with the possible relation between spiritual affinity and material affinity.

11. Trong tiến trình kim thạch hóa chân thần này, phải chăng các Chân thần thuộc những loại nhất định sẽ “nhập thể” trong những nguyên tố nhất định cộng hưởng với loại ấy? Đây là những câu hỏi mà có lẽ chúng ta không quen xem xét, nhưng tất cả đều liên quan đến mối liên hệ khả hữu giữa ái lực tinh thần và ái lực vật chất.

2.  The Law of Progress.

2.  Định luật Tiến Bộ.

It is called this in the vegetable kingdom owing to the fact that it is in this kingdom that definite objective response to stimulation can be noted.

Nó được gọi như thế trong giới thực vật vì chính trong giới này có thể ghi nhận được sự đáp ứng khách quan rõ rệt đối với kích thích.

12. Because the word “objective response” is used in relation to the vegetable kingdom, does this mean that “subjective response” is possible in the mineral kingdom?

12. Bởi vì từ “đáp ứng khách quan” được dùng liên hệ với giới thực vật, điều này có nghĩa là “đáp ứng chủ quan” là điều có thể có trong giới kim thạch chăng?

13. Or is it possible that “objective response” occurs even in relation to the mineral kingdom but cannot be “noted”—at least not by ordinary means and methods of perception?

13. Hay có thể nào “đáp ứng khách quan” cũng xảy ra ngay cả trong giới kim thạch nhưng không thể được “ghi nhận”—ít nhất không phải bằng những phương tiện và phương pháp tri giác thông thường?

14. Since there is a hierarchy in the mineral kingdom it must be possible for the lives ensouling various elements to ‘ascend’ and so, progress or progression of a type must exist.

14. Vì có một huyền giai trong giới kim thạch nên hẳn phải có khả năng để các sự sống phú linh cho những nguyên tố khác nhau “thăng lên”, và như vậy, một loại tiến bộ hay tiến trình tiến bộ nào đó hẳn phải tồn tại.

15. Yet the type of response to impact possible in the mineral kingdom must be very much less than that possible in the vegetable kingdom.

15. Tuy nhiên, loại đáp ứng đối với tác động có thể có trong giới kim thạch hẳn phải ít hơn rất nhiều so với loại có thể có trong giới thực vật.

16. To us, the vegetable kingdom seems very much ‘alive’ whereas to all but the most knowledgeable occult investigator, the mineral kingdom seems rather ‘dead’.

16. Đối với chúng ta, giới thực vật dường như rất “sống”, trong khi đối với tất cả mọi người trừ nhà khảo cứu huyền bí hiểu biết nhất, giới kim thạch lại có vẻ khá “chết”.

17. There have been experiments by the famous Indian scientist J.C. Bose pointing to the kind of ‘reaction’ in metals which suggest that they are living rather than inanimate.

17. Đã có những thí nghiệm của nhà khoa học Ấn Độ nổi tiếng J.C. Bose chỉ ra loại “phản ứng” trong kim loại, gợi ý rằng chúng là hữu sinh hơn là vô tri.

18. Here we learn something of great importance from one of Bose’s most famous lectures:

18. Ở đây chúng ta học được điều gì đó rất quan trọng từ một trong những bài diễn thuyết nổi tiếng nhất của Bose:

“I dedicate today this Institute as not merely a laboratory but a temple.” His reverent solemnity stole like an unseen cloak over the crowded auditorium. “In the pursuit of my investigations I was unconsciously led into the border region of physics and physiology. To my amazement, I found boundary lines vanishing, and points of contact emerging, between the realms of the living and the non-living. Inorganic matter was perceived as anything but inert; it was a thrill under the action of multitudinous forces.

“Hôm nay tôi hiến dâng Viện này không chỉ như một phòng thí nghiệm mà còn như một ngôi đền.” Sự trang nghiêm đầy kính cẩn của ông phủ xuống khán phòng đông nghịt như một tấm áo choàng vô hình. “Trong khi theo đuổi các cuộc khảo cứu của mình, tôi đã vô thức được dẫn vào vùng biên giữa vật lý học và sinh lý học. Trước sự kinh ngạc của tôi, các đường ranh giới đã biến mất, và các điểm tiếp xúc đã xuất hiện giữa các lĩnh vực của cái sống và cái không sống. Vật chất vô cơ được nhận thấy hoàn toàn không phải là trơ lì; nó rung động dưới tác động của vô số mãnh lực.

A universal reaction seemed to bring metal, plant and animal under a common law. They all exhibited essentially the same phenomena of fatigue and depression, with possibilities of recovery and of exaltation, as well as the permanent irresponsiveness associated with death.Filled with awe at this stupendous generalization, it was with great hope that I announced my results before the Royal Society—results demonstrated by experiments. But the physiologists present advised me to confine myself to physical investigations, in which my success had been assured, rather than encroach on their preserves. I had unwittingly strayed into the domain of an unfamiliar caste system and so offended its etiquette.”

Một phản ứng phổ quát dường như đưa kim loại, thực vật và động vật vào dưới một định luật chung. Tất cả chúng đều biểu lộ về căn bản cùng những hiện tượng mệt mỏi và suy giảm, với những khả năng phục hồi và hưng khởi, cũng như sự vô đáp ứng vĩnh viễn gắn liền với cái chết.Tràn đầy kinh ngạc trước sự khái quát hóa kỳ vĩ này, tôi đã công bố các kết quả của mình trước Hội Hoàng gia với niềm hy vọng lớn lao—những kết quả được chứng minh bằng thực nghiệm. Nhưng các nhà sinh lý học hiện diện đã khuyên tôi nên giới hạn mình trong các khảo cứu vật lý, nơi thành công của tôi đã được bảo đảm, thay vì xâm phạm vào lãnh địa của họ. Tôi đã vô tình lạc vào phạm vi của một hệ thống đẳng cấp xa lạ và vì thế xúc phạm đến lễ nghi của nó.”

It is the basis of the phenomenon of sensation, which is the key to this solar system of love, our system being a “Son of Necessity” or of desire.

Nó là nền tảng của hiện tượng cảm giác, vốn là chìa khóa của hệ mặt trời tình thương này, vì hệ thống của chúng ta là một “Con của Tất Yếu” hay của dục vọng.

19. We are obliged to relate progression to sensation. We can infer that because of capacity of consciousness to respond sentiently to contacts, progression is possible (through adaptation). This response produces that interactivity (exhibiting the dynamics of attraction and repulsion) which makes possible the gathering of all sentient beings into groups reflective of archetypal patterns.

19. Chúng ta buộc phải liên hệ tiến trình tiến bộ với cảm giác. Chúng ta có thể suy ra rằng vì khả năng của tâm thức đáp ứng một cách cảm tri đối với các tiếp xúc, nên tiến bộ là điều có thể có (thông qua thích nghi). Sự đáp ứng này tạo ra tính tương tác ấy (biểu lộ động lực của hấp dẫn và đẩy lùi) làm cho việc tập hợp mọi hữu thể cảm tri vào những nhóm phản ánh các mô hình nguyên mẫu trở nên khả hữu.

20. We live in a sentient, astral-buddhic solar system. It was the desire of the Solar Logos which brought our Solar Logos into manifestation on the cosmic physical plane. Once His desire was sufficiently intense, the precipitation of the solar system became inevitable, unavoidable, necessary. Thus He is called a “Son of Necessity”.

20. Chúng ta sống trong một hệ mặt trời cảm tri, cảm dục-Bồ đề. Chính dục vọng của Thái dương Thượng đế đã đưa Thái dương Thượng đế của chúng ta vào biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ. Một khi dục vọng của Ngài đủ mãnh liệt, sự ngưng tụ của hệ mặt trời trở nên tất yếu, không thể tránh khỏi, cần thiết. Vì vậy Ngài được gọi là một “Con của Tất Yếu”.

This law is the working out into manifestation of the informing consciousness of a part of the deva kingdom, and of certain pranic energies.

Định luật này là sự triển khai vào biểu hiện của tâm thức thấm nhuần một phần của giới thiên thần, và của một số năng lượng prana.

21. These are very occult statements which must await full clarification until another time.

21. Đây là những phát biểu rất huyền bí, phải chờ đến một lúc khác mới được làm sáng tỏ đầy đủ.

22. We may gather that certain devas and certain pranic energies are responsible for progression. These devas are builders which build in such a way that progress according to the desire and will of the Greater Being is instituted.

22. Chúng ta có thể suy ra rằng một số thiên thần và một số năng lượng prana chịu trách nhiệm về tiến trình tiến bộ. Những thiên thần này là các đấng kiến tạo, kiến tạo theo cách sao cho sự tiến bộ phù hợp với dục vọng và ý chí của Đấng Vĩ Đại hơn được thiết lập.

23. In general, prana is vitality itself, and contributes to the animation which keeps the units in any living system moving towards a more desirable arrangement.

23. Nói chung, prana chính là sinh lực, và góp phần vào tính hữu sinh giữ cho các đơn vị trong bất kỳ hệ thống sống nào cũng chuyển động hướng tới một sự sắp xếp đáng mong muốn hơn.

24. We may imagine that the “part of the deva kingdom” concerned is not the highest part but rather the consciousness of those unconscious though evolutionary Builders who work specifically with the vegetable kingdom.

24. Chúng ta có thể hình dung rằng “phần của giới thiên thần” được nói đến không phải là phần cao nhất mà đúng hơn là tâm thức của những Đấng Kiến Tạo vô thức nhưng thăng thượng tiến hoá, những vị làm việc đặc biệt với giới thực vật.

The student will find much of esoteric interest in the following line of living forces:

Đạo sinh sẽ tìm thấy nhiều điều huyền bí đáng quan tâm trong tuyến các mãnh lực sống sau đây:

a. The second chain, globe and round,

a. Dãy thứ hai, bầu hành tinh và cuộc tuần hoàn thứ hai,

25. In relation to the Earth-scheme, we are speaking of the Venus-chain and globe.

25. Liên hệ với hệ hành tinh Địa Cầu, ở đây chúng ta đang nói đến Dãy Sao Kim và bầu hành tinh Sao Kim.

26. The “round” can be the scheme round related to the Planetary Logos as a whole, or a chain round related, for instance, to the fourth chain and to the Chain-Lord of the fourth chain.

26. “Cuộc tuần hoàn” có thể là cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh liên hệ với toàn thể Hành Tinh Thượng đế, hoặc một cuộc tuần hoàn của dãy liên hệ, chẳng hạn, với dãy thứ tư và với Chúa Tể Dãy của dãy thứ tư.

b. The vegetable kingdom,

b. Giới thực vật,

27. The vegetable kingdom is the kingdom ruled by Venus and expressing all the soft line rays: two, four and six. Hence the affinity with the second round, for rays four and six are subsidiaries of the second ray.

27. Giới thực vật là giới do Sao Kim cai quản và biểu lộ tất cả các cung thuộc tuyến mềm: hai, bốn và sáu. Do đó có ái lực với cuộc tuần hoàn thứ hai, vì cung bốn và cung sáu là những cung phụ thuộc của cung hai.

c. The devas of desire in their second reflected groupings,

c. Các thiên thần của dục vọng trong những nhóm phản chiếu thứ hai của họ,

28. How many groupings are there—perhaps seven? The second grouping links with the second kingdom and the second round(s), the second chain and second globe.

28. Có bao nhiêu nhóm—có lẽ là bảy chăng? Nhóm thứ hai liên kết với giới thứ hai và cuộc tuần hoàn thứ hai, dãy thứ hai và bầu hành tinh thứ hai.

29. From whence the reflection? Are we speaking of a reflection from the Agnisuryans of the buddhic plane (through which the principle of Love-Wisdom is expressed)? The devas of desire are keyed to the astral plane (which resonates to the buddhic plane), yet are there “devas of desire” to be found upon the buddhic plane expressing, perhaps, the “ heart’s desire” of the Solar Logos?

29. Sự phản chiếu ấy từ đâu mà có? Chúng ta có đang nói đến một sự phản chiếu từ các Agnisuryan của cõi Bồ đề (qua đó nguyên khí Bác Ái – Minh Triết được biểu lộ) chăng? Các thiên thần của dục vọng được chỉnh âm theo cõi cảm dục (cõi này cộng hưởng với cõi Bồ đề), nhưng liệu có thể tìm thấy những “thiên thần của dục vọng” trên cõi Bồ đề, có lẽ biểu lộ “ khát vọng của trái tim” của Thái dương Thượng đế chăng?

d. The heart of the Sun,

d. Trái tim của Mặt Trời,

30. This is a very high link to the soul nature of the Solar Logos. Naturally a second ray quality emanates from this center and this correlates with the various entries on this listing.

30. Đây là một liên kết rất cao với bản chất linh hồn của Thái dương Thượng đế. Đương nhiên, một phẩm tính cung hai phát xạ từ trung tâm này, và điều này tương ứng với các mục khác nhau trong bảng liệt kê này.

e. The second Ray force.

e. mãnh lực Cung hai.

31. Finally, the supreme forces (for our solar system, at least) which conditions all the entries on the listing.

31. Sau cùng, đó là các mãnh lực tối thượng (ít nhất là đối với hệ mặt trời của chúng ta) tác động lên mọi mục trong bảng liệt kê này.

32. The relationship of numerical resonance to alignment is of great importance.

32. Mối liên hệ giữa cộng hưởng số học và sự chỉnh hợp có tầm quan trọng rất lớn.

3.  The Law of Sex.

3.  Định luật về Giới tính.

This is the term applied to the force which brings about the physical merging of the two poles in connection with the animal kingdom, and of man, viewing him as responsive to the call of his animal nature.

Đây là thuật ngữ được áp dụng cho mãnh lực tạo ra sự hợp nhất hồng trần của hai cực liên quan đến giới động vật, và của con người, khi nhìn y như đáp ứng với tiếng gọi của bản chất thú tính của mình.

33. We note that the Law of Sex is the third subsidiary law; both the sacral center and throat center are on the third ray line (with the seventh ray involved in relation to both centers at various points in the evolutionary process). Sex pertains more to the third aspect than to the love aspect, though it is related to the second aspect in various secondary ways.

33. Chúng ta lưu ý rằng Định luật về Giới tính là định luật phụ thuộc thứ ba; cả trung tâm xương cùng lẫn trung tâm cổ họng đều nằm trên tuyến cung ba (với cung bảy có liên hệ đến cả hai trung tâm tại nhiều điểm khác nhau trong tiến trình tiến hoá). Giới tính liên quan đến phương diện thứ ba nhiều hơn là phương diện bác ái, dù nó có liên hệ với phương diện thứ hai theo nhiều cách thứ yếu khác nhau.

34. DK is interpreting this law in relation to the human being and that aspect of his nature which is directly related to the animal kingdom, the third kingdom.

34. Ở đây Chân sư DK đang diễn giải định luật này trong liên hệ với con người và phương diện bản chất của y vốn trực tiếp liên hệ với giới động vật, tức giới thứ ba.

35. We note that the idea expressed here is not only about “merging” but, specifically, about “physical merging”. So the aspect of sex here emphasized is particularly “physical” in nature.

35. Chúng ta lưu ý rằng ý tưởng được diễn đạt ở đây không chỉ nói về “sự hợp nhất” mà, cụ thể, là về “sự hợp nhất hồng trần”. Vì vậy, phương diện của giới tính được nhấn mạnh ở đây đặc biệt mang tính “hồng trần”.

36. Of course, if sex is more broadly understood, it can be found operative in relation to all kingdoms of nature even the Solar Kingdom. Our Solar Logos is said to have His “polar opposite”—His ‘marriage partner’ and even galactic ‘marriages’ can be inferred.

36. Dĩ nhiên, nếu giới tính được hiểu theo nghĩa rộng hơn, thì có thể thấy nó hoạt động liên hệ với mọi giới trong thiên nhiên, kể cả Thiên Giới Thái Dương. Thái dương Thượng đế của chúng ta được nói là có “cực đối nghịch” của Ngài—“bạn đời” của Ngài—và ngay cả những “cuộc hôn phối” thiên hà cũng có thể được suy ra.

It concerns itself with the due guarding of the form in this particular cycle and its perpetuation.

Nó liên quan đến sự bảo vệ đúng đắn hình tướng trong chu kỳ đặc biệt này và sự duy trì của nó.

37. If we consider this requirement, we see how far humanity has deviated from the intended approach to sex. The human form is not at all well-guarded at this time and sex is prostituted for personal pleasure rather than used responsibly for the perpetuation of the race. That sex inevitably leads to perpetuation cannot be denied, but is the approach to perpetuation conscious and responsible, that is the question!

37. Nếu xét yêu cầu này, chúng ta sẽ thấy nhân loại đã lệch xa đến mức nào khỏi cách tiếp cận giới tính được dự định. Hình tướng con người hiện nay hoàn toàn không được bảo vệ tốt, và giới tính bị đem ra làm công cụ cho khoái lạc cá nhân thay vì được sử dụng một cách có trách nhiệm để duy trì nhân loại. Không thể phủ nhận rằng giới tính tất yếu dẫn đến sự duy trì nòi giống, nhưng vấn đề là: cách tiếp cận đối với sự duy trì ấy có ý thức và có trách nhiệm hay không!

It is only powerful during the period of the duality of the sexes and their separation and, in the case of man, will be offset by a higher expression of the law when man is again androgynous.

Nó chỉ mạnh mẽ trong thời kỳ nhị nguyên tính của hai giới và sự phân ly của chúng, và trong trường hợp con người, sẽ được hóa giải bởi một biểu hiện cao hơn của định luật khi con người lại trở nên lưỡng tính.

38. We see that humanity is definitely heading towards androgyny. There are many human beings who (in their present state of consciousness) would not welcome this eventuality and certainly disbelieve in the possibility.

38. Chúng ta thấy rằng nhân loại rõ rệt đang tiến về trạng thái lưỡng tính. Có nhiều con người mà (trong trạng thái tâm thức hiện nay của họ) sẽ không hoan nghênh viễn cảnh này và chắc chắn không tin vào khả năng ấy.

39. It would seem that androgyny will begin to appear in the sixth root-race with its emphasis upon the buddhic plane and perhaps be consummated in the seventh when Uranus rules. The fifth rootrace operates under the Law of Cleavages and, so it would seem, the separation of the sexes will persist during its period of expression. Yet, even now, tendencies towards at least psychological androgyny can be detected.

39. Dường như trạng thái lưỡng tính sẽ bắt đầu xuất hiện trong giống dân gốc thứ sáu với sự nhấn mạnh của nó lên cõi Bồ đề, và có lẽ được hoàn tất trong giống dân gốc thứ bảy khi Sao Thiên Vương cai quản. Giống dân gốc thứ năm hoạt động dưới Định luật Phân Ly, và vì thế dường như sự phân chia hai giới sẽ còn kéo dài trong thời kỳ biểu lộ của nó. Tuy nhiên, ngay cả bây giờ, những khuynh hướng hướng tới ít nhất là trạng thái lưỡng tính tâm lý cũng có thể được nhận ra.

40. The Law of Sex has been operative, then, since approximately the middle of the Lemurian root race and will probably persist until well into the succeeding root-races, as it cannot be expected that all men (some of whom will not even achieve entry on the Path until the next round) are to achieve androgyny at the same time. Some may, we may anticipate, during the final root-races of this round—the fourth.

40. Như vậy, Định luật về Giới tính đã hoạt động từ khoảng giữa giống dân gốc Lemuria và có lẽ sẽ còn tiếp tục sâu vào các giống dân gốc kế tiếp, vì không thể mong đợi rằng mọi người nam và nữ (một số người trong họ thậm chí sẽ chưa đạt được sự bước vào Con Đường cho đến cuộc tuần hoàn kế tiếp) đều đạt trạng thái lưỡng tính cùng một lúc. Có thể dự đoán rằng một số người sẽ đạt được điều đó trong các giống dân gốc cuối cùng của cuộc tuần hoàn này—cuộc tuần hoàn thứ tư.

41. Truly, the Divine Plan holds in store many changes of form and consciousness which cannot easily be understood at this point in our development.

41. Quả thật, Thiên Cơ cất giữ nhiều biến đổi về hình tướng và tâm thức mà ở điểm hiện nay trong sự phát triển của chúng ta, khó có thể thấu hiểu được.

It is [Page 1169] the law of marriage,

Đó là [Page 1169] định luật của hôn nhân,

42. Here DK will lift the understanding of the Law of Sex onto various higher turns of the spiral. Just above he has told us that when man is again androgynous the Law of Sex will not be entirely suspended but a higher expression of the law will be operative.

42. Ở đây Chân sư DK sẽ nâng sự thấu hiểu về Định luật về Giới tính lên nhiều vòng xoắn cao hơn. Ngay phía trên, Ngài đã cho chúng ta biết rằng khi con người lại trở nên lưỡng tính, Định luật về Giới tính sẽ không hoàn toàn bị đình chỉ, mà một biểu hiện cao hơn của định luật sẽ hoạt động.

and finds some aspects of its manifestation not only in marriage of men and animals in the physical sense, but in the “occult marriage” of

và tìm thấy một số phương diện biểu lộ của nó không chỉ trong hôn nhân của con người và động vật theo nghĩa hồng trần, mà còn trong “hôn nhân huyền bí” của

43. Here DK discriminates between physical marriage and “occult marriage”. This is an important discrimination for all who study the occult sciences, as there is a type of marriage possible for the soul under the Law of Magnetic Impulse when physical marriage, per se, is not. The Law of Magnetic Impulse is ruled by Libra just as is the process of physical-plane marriage.

43. Ở đây Chân sư DK phân biện giữa hôn nhân hồng trần và “hôn nhân huyền bí”. Đây là một sự phân biện quan trọng đối với tất cả những ai nghiên cứu các khoa học huyền bí, vì có một loại hôn nhân khả hữu cho linh hồn dưới Định luật Xung Động Từ Tính khi chính hôn nhân hồng trần tự nó lại không khả hữu. Định luật Xung Động Từ Tính được Libra cai quản cũng như tiến trình hôn nhân trên cõi hồng trần.

44. As students of occultism we must be alert to an understanding of the higher implications of apparently ‘lower’ laws. The Law of Analogy will assist us.

44. Là những đạo sinh của huyền bí học, chúng ta phải tỉnh thức trước sự thấu hiểu những hàm ý cao hơn của các định luật bề ngoài có vẻ “thấp”. Định luật tương đồng sẽ trợ giúp chúng ta.

a. The Soul and the Spirit.

a. Linh hồn và tinh thần.

45. This is an advanced form of marriage, lying quite far ahead of the average probationer or disciple. The function of Jupiter in relation to Gemini contributes to the consummation of this kind of marriage. One cannot begin to think of its possibility until the third initiation has been taken. The Masters have achieved this type of “marriage”. The Chohans have, in a way, transcended it.

45. Đây là một hình thức hôn nhân cao cấp, còn ở khá xa phía trước đối với người dự bị trung bình hay đệ tử trung bình. Chức năng của Sao Mộc trong liên hệ với Gemini góp phần vào sự hoàn tất loại hôn nhân này. Người ta không thể bắt đầu nghĩ đến khả năng của nó cho đến khi đã trải qua lần điểm đạo thứ ba. Các Chân sư đã đạt được loại “hôn nhân” này. Các Chohan, theo một nghĩa nào đó, đã vượt qua nó.

b. The Son with his Mother (or the Soul with the physical substance).

b. Người Con với Mẹ của mình (hay linh hồn với chất liệu hồng trần).

46. To those who do not approach philosophically, this type of “marriage” cannot help but seem incestuous, but we understand that we are speaking of the merging of the second and third aspects of divinity.

46. Đối với những ai không tiếp cận theo lối triết học, loại “hôn nhân” này hẳn sẽ có vẻ như loạn luân, nhưng chúng ta hiểu rằng ở đây đang nói về sự hợp nhất của phương diện thứ hai và thứ ba của thiên tính.

47. The curriculum of the modern disciple is precisely this and his meditations are primarily aimed at soul-infusion.

47. Chương trình huấn luyện của đệ tử hiện đại chính là điều này, và các bài tham thiền của y chủ yếu nhắm đến sự linh hồn thấm nhuần.

c. The negative planetary lives with the positive ones earlier pointed out.

c. Các sự sống hành tinh âm tính với các sự sống dương tính đã được chỉ ra trước đó.

48. In one sense we are speaking of the marriage of the evolutionary devas with the elemental lives. But questions of positive and negative are relative and so there are many ‘marriages’ which involve lives which are relatively positive with those which are relatively negative.

48. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta đang nói về cuộc hôn phối giữa các thiên thần thăng thượng tiến hoá với các sự sống hành khí. Nhưng các vấn đề về dương và âm là tương đối, và vì thế có nhiều “cuộc hôn phối” liên quan đến những sự sống tương đối dương tính với những sự sống tương đối âm tính.

49. Here we are largely speaking of the relationship between the members of the Army of the Voice with the elemental building essences of the various planes and subplanes.

49. Ở đây phần lớn chúng ta đang nói về mối liên hệ giữa các thành viên của Đạo Quân của Âm Thanh với các tinh chất kiến tạo hành khí của các cõi và cõi phụ khác nhau.

d. The systemic marriage, or the merging of the two final planetary schemes after their absorption of the other forces.

d.  Cuộc hôn phối hệ thống, hay sự hợp nhất của hai hệ hành tinh cuối cùng sau khi chúng hấp thu các mãnh lực khác.

50. This is a very interesting kind of marriage and will take us to an examination of Chart VI, TCF 373. We note that over and above the large Saturn-scheme (may it be the scheme of “esoteric Saturn”?) stand Uranus and Neptune—very likely the final two schemes which, having etherically absorbed all the planets in the Saturn-scheme, subsequently merge with each other.

50. Đây là một loại hôn phối rất thú vị và sẽ dẫn chúng ta đến việc khảo sát Biểu đồ VI, TCF 373. Chúng ta lưu ý rằng vượt lên trên hệ Saturn lớn lao (có thể đó là hệ của “Saturn nội môn” chăng?) là Uranus và Neptune—rất có thể là hai hệ cuối cùng, sau khi đã hấp thu bằng dĩ thái tất cả các hành tinh trong hệ Saturn, rồi sau đó hợp nhất với nhau.

51. We remember that these final mergings do not involve the dense physical planets at all, but only their subtle principles, beginning, probably, with their etheric natures.

51. Chúng ta nhớ rằng những sự hợp nhất cuối cùng này hoàn toàn không liên quan đến các hành tinh hồng trần đậm đặc, mà chỉ liên quan đến các nguyên khí vi tế của chúng, có lẽ bắt đầu với các bản chất dĩ thái của chúng.

e. The cosmic marriage, or the merging of our solar system with its opposite cosmic pole, another constellation

e. Cuộc hôn phối vũ trụ, hay sự hợp nhất của hệ mặt trời chúng ta với cực vũ trụ đối nghịch của nó, một chòm sao khác

52. Here is an interesting, possibly blinded, statement. Is our solar system a “constellation” (and our planets really “stars”) as some theorists have speculated? Is the “opposite cosmic pole” of our Solar Logos and His system really another “constellation” or is it a solar system?

52. Đây là một phát biểu thú vị, có thể đã được che giấu. Hệ mặt trời của chúng ta có phải là một “chòm sao” (và các hành tinh của chúng ta thật ra là những “ngôi sao”) như một số nhà lý thuyết đã suy đoán không? “Cực vũ trụ đối nghịch” của Thái dương Thượng đế của chúng ta và hệ của Ngài thật sự là một “chòm sao” khác hay là một hệ mặt trời?

53. If the opposite pole should happen to be Sirius, would we define Sirius as a solar system or constellation? Sirius A does have at least one other star associated with it, Sirius B, and perhaps Sirius C? Is this association enough to give it the status of the “constellation”?

53. Nếu cực đối nghịch ấy lại là Sirius, thì chúng ta sẽ định nghĩa Sirius là một hệ mặt trời hay một chòm sao? Sirius A quả thật có ít nhất một ngôi sao khác liên kết với nó, Sirius B, và có lẽ cả Sirius C? Sự liên kết này có đủ để cho nó địa vị của một “chòm sao” hay không?

54. The word “another” seems to suggest that our solar system is really a “constellation”—a thought of some interest since The Secret Doctrine seems to imply that Mars was once a Sun!

54. Từ “khác” dường như gợi ý rằng hệ mặt trời của chúng ta thật sự là một “chòm sao”—một ý tưởng khá đáng chú ý vì Giáo Lý Bí Nhiệm dường như hàm ý rằng Sao Hỏa đã từng là một Mặt Trời!

55. There is some discussion whether Sirius should be included within the “Seven Solar Systems of Which Ours is One” or whether it should stand on its own (associated with two companion stars) as a “constellation”? (cf. EA 50)

55. Có một số bàn luận về việc liệu Sirius có nên được bao gồm trong “Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một” hay liệu nó nên đứng riêng (liên kết với hai ngôi sao đồng hành) như một “chòm sao”? (xem EA 50)

56. Of course we do not know whether Sirius B and Sirius C (inferred) are really ensouled bodies or whether they were ensouled by the Logos which now ensouls Sirius A. The question of the livingness of Sirius B and Sirius C will have to be closely examined when such examination is possible.

56. Dĩ nhiên, chúng ta không biết liệu Sirius B và Sirius C (được suy ra) có thật sự là những thể được phú linh hay không, hoặc liệu chúng đã từng được phú linh bởi Thượng đế hiện đang phú linh Sirius A hay không. Vấn đề về tính sống động của Sirius B và Sirius C sẽ phải được khảo sát kỹ lưỡng khi việc khảo sát ấy trở nên khả hữu.

57. In the Egyptian Mysteries however, a place is given to Sirius B as ruling the fourth initiation, in which case it would seem to be something more than an unensouled remnant.

57. Tuy nhiên, trong các Mật Nghi Ai Cập, Sirius B được dành cho một vị trí cai quản lần điểm đạo thứ tư; trong trường hợp đó, dường như nó là một cái gì hơn là một tàn dư không được phú linh.

The cosmic marriage of stars and Systems

Cuộc hôn phối vũ trụ của các ngôi sao và các Hệ

58. By “Systems” does DK mean solar systems or systems of stars? The distinction could be important.

58. Bởi “các Hệ”, Chân sư DK muốn nói đến các hệ mặt trời hay các hệ sao? Sự phân biệt này có thể quan trọng.

59. There is much to relate the star Sirius (A) with the star Sol (our Sun).

59. Có nhiều điều liên kết ngôi sao Sirius (A) với ngôi sao Sol (Mặt Trời của chúng ta).

is the cause of the occasional irregular flaring-up or intensification of suns and their increased luminosity which is sometimes seen, and which has frequently been the subject of discussion.

là nguyên nhân của sự bùng phát bất thường từng lúc hay sự tăng cường của các mặt trời và sự gia tăng độ sáng của chúng, điều đôi khi được thấy và thường xuyên là chủ đề bàn luận.

60. Do we find Master DK speaking here of supernovae? If so, these spectacular events have usually not been seen as related to two stars but only to one.

60. Ở đây Chân sư DK có đang nói về các siêu tân tinh không? Nếu vậy, những hiện tượng ngoạn mục này thường không được xem là liên hệ với hai ngôi sao mà chỉ với một ngôi sao.

61. Where we see the intensification of one sun, then, are we supposed to search for another which, as the ‘marriage partner’ of the former, may be involved in the process of “flaring up”?

61. Vậy thì, ở nơi chúng ta thấy sự tăng cường của một mặt trời, có phải chúng ta được giả định là phải tìm kiếm một mặt trời khác mà, với tư cách “bạn đời” của mặt trời trước, có thể đang tham dự vào tiến trình “bùng phát” ấy không?

4.  The Law of Magnetism.

4.  Định luật Từ Điện.

This is the law which produces the unifying of a personality, and though it is an expression of lunar force, is, nevertheless, of a much higher order than the law of physical sex.

Đây là định luật tạo ra sự hợp nhất của một phàm ngã, và dù là một biểu hiện của mãnh lực nguyệt tính, nhưng nevertheless, nó thuộc một trật tự cao hơn nhiều so với định luật về giới tính hồng trần.

62. Here Master DK seems to be discriminating between the “Law of Physical Sex” and the “Law of Sex” which is capable of being interpreted on a number of different turns of the spiral.

62. Ở đây Chân sư DK dường như đang phân biện giữa “Định luật về Giới tính Hồng trần” và “Định luật về Giới tính”, vốn có thể được diễn giải trên một số vòng xoắn khác nhau.

63. We can see that DK has in mind some very specific levels of application when He discusses these laws. The concept of “magnetism” in general is so much greater than the application here discussed, but it is certainly an interesting application.

63. Chúng ta có thể thấy rằng Chân sư DK đang nghĩ đến một số cấp độ áp dụng rất đặc thù khi Ngài bàn về các định luật này. Khái niệm “từ điện” nói chung lớn lao hơn rất nhiều so với sự áp dụng được bàn ở đây, nhưng đây chắc chắn là một sự áp dụng thú vị.

64. In essence we see that the Law of Magnetism is responsible for the integration of the personality in various stages—the unification of the lunar lords (and their tiny elemental lives) which compose and constitute the personality vehicles.

64. Về bản chất, chúng ta thấy rằng Định luật Từ Điện chịu trách nhiệm cho sự tích hợp của phàm ngã trong nhiều giai đoạn—sự hợp nhất của các nguyệt tinh quân (và các sự sống hành khí nhỏ bé của chúng) vốn cấu thành và tạo nên các vận cụ phàm ngã.

65. We are speaking here of magnetism as it operates in the lunar realm. Obviously it has applications (if broadly understand) in much higher realms. If the Law of Sex has higher applications, we can expect that this will be true of the Law of Magnetism.

65. Ở đây chúng ta đang nói về từ điện khi nó hoạt động trong lĩnh vực nguyệt tính. Hiển nhiên, nó có những ứng dụng (nếu được hiểu rộng) trong những lĩnh vực cao hơn nhiều. Nếu Định luật về Giới tính có những ứng dụng cao hơn, chúng ta có thể mong đợi điều này cũng đúng với Định luật Từ Điện.

It is the expression of the law as it is demonstrated by the three major groups of lunar pitris.

Đó là biểu hiện của định luật như được chứng tỏ bởi ba nhóm lớn của thái âm tổ phụ.

66. These three major groups are, of course, associated with the physical-etheric, astral and lower mental planes.

66. Ba nhóm lớn này, dĩ nhiên, liên kết với các cõi hồng trần-dĩ thái, cảm dục và hạ trí.

These three groups are not concerned with the building of the forms of the animal kingdom,

Ba nhóm này không liên quan đến việc xây dựng các hình tướng của giới động vật,

67. Because they are major groups…

67. Bởi vì chúng là những nhóm lớn

for they are the builders of the body of man in the final three stages of the path of evolution:

vì chúng là những đấng kiến tạo thể của con người trong ba giai đoạn cuối cùng của con đường tiến hoá:

68. There is an implication that there are other lunar pitris who are builders of the body of man in the earlier stages of the Path of Evolution.

68. Ở đây có một hàm ý rằng có những thái âm tổ phụ khác là các đấng kiến tạo thể của con người trong những giai đoạn sớm hơn của Con Đường Tiến Hóa.

69. The lunar pitris as builders are clearly on the Path of Evolution and are not, strictly speaking, elementals or elemental lives.

69. Các thái âm tổ phụ với tư cách là những đấng kiến tạo rõ ràng đang ở trên Con Đường Tiến Hóa và, nói một cách nghiêm ngặt, không phải là các hành khí hay các sự sống hành khí.

70. We would have, then, for each level (physical-etheric, astral and mental) three categories of lives:

70. Vậy thì, đối với mỗi cấp độ (hồng trần-dĩ thái, cảm dục và trí tuệ), chúng ta sẽ có ba loại sự sống:

a. The inert building essence of each level

a. Tinh chất kiến tạo trì trệ của mỗi cấp độ

b. The elemental unities (sometimes called the “lunar lords” or “lunar elementals” comprised of the aggregated building essence once they have been gathered and shaped by the building forces.

b. Các hợp nhất hành khí (đôi khi được gọi là “các nguyệt tinh quân” hay “các hành khí nguyệt tính”) gồm tinh chất kiến tạo đã được tập hợp lại một khi chúng đã được các mãnh lực kiến tạo gom lại và định hình.

c. The lunar pitris as evolutionary though unconscious “builders” which build the forms of the lunar elementals.

c. Các thái âm tổ phụ như những “đấng kiến tạo” thăng thượng tiến hoá nhưng vô thức, xây dựng các hình tướng của các hành khí nguyệt tính.

a. The stage of high intellectuality, or of artistic attainment,

a. Giai đoạn của trí tuệ cao, hay của thành tựu nghệ thuật,

71. This is the stage, technically considered, of “advanced man”.

71. Xét về mặt kỹ thuật, đây là giai đoạn của “con người tiến bộ”.

b. The stage of discipleship,

b. Giai đoạn của địa vị đệ tử,

72. In this case, the stage of discipleship seems to precede that stage of treading the Path.

72. Trong trường hợp này, giai đoạn của địa vị đệ tử dường như đi trước giai đoạn bước đi trên Con Đường ấy.

c. The stage of treading the Path.

c. Giai đoạn bước đi trên Con Đường.

73. Perhaps we can consider this stage as beginning at the first initiation, though the idea of various Paths, such as the Path of Aspiration, and the Path of Probationary Discipleship, precede the first initiation.

73. Có lẽ chúng ta có thể xem giai đoạn này là bắt đầu từ lần điểm đạo thứ nhất, dù ý niệm về nhiều Con Đường khác nhau, như Con Đường Khát Vọng và Con Đường Địa vị Đệ tử Dự bị, có trước lần điểm đạo thứ nhất.

74. It seems clear that DK in speaking of the “major groups of lunar pitris”, is speaking of those who only build during the final stages of the Path!

74. Dường như rõ ràng rằng Chân sư DK, khi nói về các nhóm thái âm tổ phụ “lớn”, đang nói về những vị chỉ xây dựng trong các giai đoạn cuối cùng của Con Đường!

75. Clearly some form of building was necessary long before these advanced stages are reached. Were the earlier stages of building performed by lunar pitris who were not among the “major groups”? This seems to be the implication.

75. Rõ ràng là một hình thức xây dựng nào đó đã cần thiết từ rất lâu trước khi đạt đến các giai đoạn cao cấp này. Phải chăng các giai đoạn xây dựng sớm hơn đã được thực hiện bởi những thái âm tổ phụ không nằm trong các “nhóm lớn”? Dường như đó là hàm ý.

The lower four groups concern themselves with the earlier stages, and with the animal aspects of attraction in both the kingdoms. [Page 1170]

Bốn nhóm thấp hơn liên quan đến các giai đoạn sớm hơn, và với các phương diện thú tính của sự hấp dẫn trong cả hai giới. [Page 1170]

76. Here the clarification comes—there are four lower groups of lunar pitris associated with the human kingdom and also with the animal kingdom.

76. Ở đây sự làm rõ xuất hiện—có bốn nhóm thấp hơn của thái âm tổ phụ liên kết với giới nhân loại và cũng với giới động vật.

77. We might think, then, that the four elemental vehicles of man—the physical elemental, the astral elemental, the mental elemental and the personality elemental are built by the members of these lower four groups, and that the higher three groups build only once there has been a great deal of evolutionary experience.

77. Vậy thì, chúng ta có thể nghĩ rằng bốn hiện thể hành khí của con người—tinh linh thể xác, hành khí cảm dục, hành khí trí tuệ và hành khí phàm ngã—được xây dựng bởi các thành viên của bốn nhóm thấp hơn này, và rằng ba nhóm cao hơn chỉ xây dựng một khi đã có rất nhiều kinh nghiệm tiến hoá.

78. Where are the three major group and what are they ‘doing’ as the four lower groups are doing their work preparing the way?

78. Ba nhóm lớn ở đâu và chúng đang “làm” gì trong khi bốn nhóm thấp hơn đang làm công việc chuẩn bị con đường?

S9S10 Part III

TCF 1170-1173

TCF 1170-1173

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc cùng với quyển TCF đặt bên cạnh, vì mục đích duy trì tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

5. The Law of Radiation.

5. Định luật Phóng Xạ.

This is one of the most interesting of the laws for it only comes into activity in connection with the highest specimens of the various kingdoms,

Đây là một trong những định luật thú vị nhất vì nó chỉ đi vào hoạt động liên hệ với những mẫu mực cao nhất của các giới khác nhau,

1. This is a most important statement. We usually consider radiation to exist only in terms of the mineral kingdom. To be a “radiant” human being is considered a metaphor rather than a fact, but under the influence of occultism, the understanding of human radiation and radiation as expressed in the other kingdoms will change.

1. Đây là một phát biểu hết sức quan trọng. Chúng ta thường chỉ xem phóng xạ là tồn tại theo nghĩa của giới kim thạch. Việc là một con người “rạng chiếu” được xem là một ẩn dụ hơn là một sự kiện, nhưng dưới ảnh hưởng của huyền bí học, sự hiểu biết về phóng xạ nơi con người và phóng xạ như được biểu lộ trong các giới khác sẽ thay đổi.

2. One is reminded of Rule XIII for Applicants to Initiation:

2. Người ta được nhắc nhớ đến Quy luật XIII dành cho những người xin Điểm đạo:

“Four things the disciple must learn and comprehend before he can be shewn that inmost mystery: first, the laws of that which radiates; the five meanings of magnetisation make the second; the third is transmutation, or the secret lost of alchemy; and lastly the first letter of the Word which has been imparted, or the hidden name egoic.

“Có bốn điều người đệ tử phải học và thấu hiểu trước khi y có thể được chỉ cho thấy huyền nhiệm thâm sâu nhất ấy: thứ nhất, các định luật của điều phát xạ; năm ý nghĩa của sự từ hoá tạo thành điều thứ hai; điều thứ ba là sự chuyển hoá, hay bí mật đã mất của thuật luyện kim; và sau cùng là chữ cái đầu tiên của Linh từ đã được truyền trao, hay danh xưng chân ngã ẩn kín.

and concerns itself with the attraction that a higher kingdom of nature will have for the highest lives of the next lower kingdom.

và nó liên quan đến sự hấp dẫn mà một giới thiên nhiên cao hơn sẽ có đối với những sự sống cao nhất của giới thấp hơn kế tiếp.

3. We note that even thought radiation is often and largely associated with the first ray, its expression is dependent upon the Law of Attraction. It is as if radiation is drawn forth by the magnetism exerted by a higher kingdom upon a lower.

3. Chúng ta lưu ý rằng dù phóng xạ thường và phần lớn được liên kết với cung một, biểu hiện của nó vẫn tùy thuộc vào Định luật Hấp Dẫn. Dường như phóng xạ được rút ra bởi từ điện do một giới cao hơn tác động lên một giới thấp hơn.

4. Really, it is impossible to separate radiation from magnetism.

4. Thật ra, không thể tách rời phóng xạ khỏi từ điện.

It governs the radioactivity of minerals, the radiations of the vegetable kingdom and (curiously enough) the entire question of perfumes.

Nó chi phối tính phóng xạ của khoáng vật, các sự phát xạ của giới thực vật và (điều khá lạ) toàn bộ vấn đề về hương thơm.

5. Perfume is a form of essential radiation.

5. Hương thơm là một hình thức phóng xạ tinh yếu.

6. Since the upward thrusting stem of a plant is ruled by the sixth ray, the color by the fourth ray, the perfume must be ruled by the second ray. Again we see the connection of radiation to the second ray. Is the perfume being drawn forth and drawn up by the magnetism of the second ray?

6. Vì thân cây vươn lên trên của thực vật được cung sáu cai quản, màu sắc được cung bốn cai quản, nên hương thơm hẳn phải được cung hai cai quản. Một lần nữa, chúng ta thấy mối liên hệ của phóng xạ với cung hai. Phải chăng hương thơm được rút ra và kéo lên bởi từ điện của cung hai?

Smell is the highest of the purely physical senses;

Khứu giác là giác quan cao nhất trong các giác quan thuần hồng trần;

7. It is also considered to be, from the strictly physical point of view, the lowest and most primitive.

7. Nó cũng được xem, từ quan điểm hồng trần thuần túy, là thấp nhất và nguyên sơ nhất.

8. The higher correspondences of smell represent the highest occult senses available to man on each plane.

8. Các tương ứng cao hơn của khứu giác biểu thị những giác quan huyền bí cao nhất mà con người có thể sử dụng trên mỗi cõi.

so in the vegetable kingdom a certain series of perfumes are evidence of radiation in that kingdom.

vì vậy trong giới thực vật, một chuỗi hương thơm nhất định là bằng chứng của phóng xạ trong giới ấy.

9. This “series of perfumes” may be a septenate, one perfume correlated with each of the seven rays. While there are many types of natural scents and perfumes, perhaps only seven are fundamental.

9. “Chuỗi hương thơm” này có thể là một bộ bảy, mỗi hương thơm tương ứng với một trong bảy cung. Dù có nhiều loại mùi hương và hương thơm tự nhiên, có lẽ chỉ có bảy loại là căn bản.

10. The book “777”, by Aleister Crowley (with many ‘borrowed’ tables of correspondences) offers lists of the important perfumes.

10. Quyển sách “777” của Aleister Crowley (với nhiều bảng tương ứng được “mượn”) đưa ra các danh sách về những hương thơm quan trọng.

There is, moreover, an interesting link between those who are members of the fifth kingdom (the spiritual) and the vegetable, for in esotericism the two and the five, the Son, and the Sons of Mind, are closely allied.

Hơn nữa, có một mối liên hệ thú vị giữa những ai là thành viên của giới thứ năm (giới tinh thần) và giới thực vật, vì trong huyền bí học, số hai và số năm, Người Con và các Con của Trí Tuệ, liên hệ mật thiết với nhau.

11. One type of human egoic lotus called “Lotuses with Perfume”. It is the phase of development following “Radiant Lotuses” and preceding “Lotuses of Revelation”.

11. Có một loại Hoa Sen Chân Ngã của con người được gọi là “Hoa Sen Có Hương”. Đó là giai đoạn phát triển tiếp theo sau “Hoa Sen Rạng Chiếu” và đi trước “Hoa Sen Mặc Khải”.

12. The “Lotuses with Perfume” may indicate a stage of evolution in which the second initiation (correlated with the vegetable kingdom) has been passed.

12. “Hoa Sen Có Hương” có thể chỉ ra một giai đoạn tiến hoá trong đó lần điểm đạo thứ hai (tương ứng với giới thực vật) đã được vượt qua.

13. As an example of the close relation between the five and the two, we have Venus expressing both the fifth and second rays and intimately associated with both the vegetable kingdom and with the Solar Angels and their expression through the egoic lotus.

13. Như một ví dụ về mối liên hệ chặt chẽ giữa số năm và số hai, chúng ta có Sao Kim biểu lộ cả cung năm lẫn cung hai và liên hệ mật thiết với cả giới thực vật lẫn các Thái dương Thiên Thần cùng sự biểu lộ của các vị ấy qua Hoa Sen Chân Ngã.

It is not possible to indicate more, but it is not without significance that certain Rays are, through the initiates and Masters, represented by vegetable perfumes.

Không thể chỉ ra thêm nữa, nhưng không phải là không có thâm nghĩa khi một số Cung, qua các điểm đạo đồ và các Chân sư, được biểu trưng bằng các hương thơm thực vật.

14. One of the Tibetan’s last living disciples said that Master DK was connected with the fragrance of carnation[1]; Master KH with the white rose; Master M. with freesias[2]. This cannot be immediately verified. One wonders whether the Lord Maitreya could be associated with the fragrance of the red rose, but then there is no uniformity in such fragrances (and some red roses may have no fragrance at all).

14. Một trong những đệ tử còn sống cuối cùng của Chân sư Tây Tạng nói rằng Chân sư DK liên hệ với hương thơm của hoa cẩm chướng; Chân sư KH với hoa hồng trắng; Chân sư M. với hoa lan Nam Phi. Điều này không thể được kiểm chứng ngay lập tức. Người ta tự hỏi liệu Đức Maitreya có thể liên hệ với hương thơm của hoa hồng đỏ hay không, nhưng rồi không có sự đồng nhất trong những hương thơm như thế (và một số hoa hồng đỏ có thể hoàn toàn không có hương).

15. The sevenfold correspondences of gems, perfumes, colors, notes, etc. to the seven rays is worthy of very serious study.

15. Các tương ứng thất phân của đá quý, hương thơm, màu sắc, âm điệu, v.v. với bảy cung rất đáng được nghiên cứu hết sức nghiêm túc.

It signifies radiation, and to those who have the key reveals the quality of the egoic lotus

Nó biểu thị phóng xạ, và đối với những ai có chìa khóa, nó tiết lộ phẩm tính của Hoa Sen Chân Ngã

16. Each egoic lotus, probably according to its ray, will eventually, when sufficiently unfolded, radiate a certain quality of perfume.

16. Mỗi Hoa Sen Chân Ngã, có lẽ tùy theo cung của nó, cuối cùng sẽ, khi đã khai mở đầy đủ, phát ra một phẩm tính hương thơm nào đó.

and the place it holds in any particular planetary lotus, as well as a connection with certain devas who are the sevenfold life of the vegetable kingdom.

và vị trí mà nó giữ trong bất kỳ Hoa Sen Hành Tinh đặc thù nào, cũng như một mối liên hệ với một số thiên thần là sự sống thất phân của giới thực vật.

17. As egoic lotuses, we all have a certain “place” in our own “planetary lotus”. Maybe according to the ray of our Ego we are also related to a particular “planetary lotus” which is not the Planetary Logos of the Earth!

17. Là những Hoa Sen Chân Ngã, tất cả chúng ta đều có một “vị trí” nhất định trong “Hoa Sen Hành Tinh” của chính mình. Có lẽ tùy theo cung của Chân ngã chúng ta, chúng ta cũng có liên hệ với một “Hoa Sen Hành Tinh” đặc thù nào đó, vốn không phải là Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất!

18. So the following factors are correlated:

18. Vì vậy các yếu tố sau đây có tương quan với nhau:

a. This quality of the radiation or perfume of an egoic lotus

a. Phẩm tính của sự bức xạ hay hương thơm của một Hoa Sen Chân Ngã

b. The quality of the egoic lotus

b. Phẩm tính của Hoa Sen Chân Ngã

c. The place of the an egoic lotus within a “planetary lotus”

c. Vị trí của một Hoa Sen Chân Ngã trong một “Hoa Sen Hành Tinh”

d. One type of deva (of seven) connected with the deva kingdom

d. Một loại thiên thần (trong bảy loại) có liên hệ với giới thiên thần

We must not forget that man is occultly a “seven-leaved plant, the saptaparna.”26 [S. D., I, 251; II, 626.]

Chúng ta không được quên rằng con người, theo huyền bí học, là một “cây bảy lá, saptaparna.”26 [S. D., I, 251; II, 626.]

19. This is an alternative way of thinking of man. Often he is conceived as an animal. To conceive of him as a “saptaparna” is a more occult conception and reveals man’s septenary nature as well as his spiritual connection to the vegetable kingdom and the planet Venus.

19. Đây là một cách khác để suy nghĩ về con người. Thường thì y được quan niệm như một con vật. Quan niệm y như một “saptaparna” là một quan niệm huyền bí hơn và cho thấy bản chất thất phân của con người cũng như mối liên hệ tinh thần của y với giới thực vật và hành tinh Sao Kim.

This law in a mysterious manner, inexplicable to those ignorant of the karma of our planetary Logos,

Định luật này, theo một cách huyền nhiệm, không thể giải thích được đối với những ai không biết về nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta,

20. We are speaking of the Law of Radiation.

20. Chúng ta đang nói về Định luật Bức Xạ.

21. As those who are merely students of the Great Tradition, we are certainly among those who are ignorant of the karma of our Planetary Logos. We have been told a few things, but of the entirety of the mysterious karmic process through which our Planetary Logos has passed, we really know nothing.

21. Là những người chỉ đơn thuần là đạo sinh của Truyền Thống Vĩ Đại, chắc chắn chúng ta thuộc vào số những người không biết về nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Chúng ta đã được cho biết một vài điều, nhưng về toàn bộ tiến trình nghiệp quả huyền nhiệm mà Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đã trải qua, chúng ta thực sự không biết gì cả.

is not operative in the animal kingdom during this Cycle or chain.

không hoạt động trong giới động vật trong Chu Kỳ hay dãy này.

22. Interestingly this tells us that animals are not ‘radiant’ in the manner here discussed. The reaching forth of their nascent intelligence towards the human kingdom can, however, be considered a form of radiation. Can the love and devotion the domestic animals feel towards their human master also be considered a form of ‘radiation’?

22. Điều này cho chúng ta biết một cách thú vị rằng động vật không “bức xạ” theo cách đang được bàn đến ở đây. Tuy nhiên, sự vươn tới của trí tuệ đang nảy sinh của chúng hướng về giới nhân loại có thể được xem là một hình thức bức xạ. Tình thương và sự tận tụy mà các thú vật nuôi trong nhà cảm nhận đối với người chủ con người của chúng cũng có thể được xem là một hình thức “bức xạ” chăng?

One of the problems of the next chain

Một trong những vấn đề của dãy kế tiếp

23. This will be the fifth chain in our planetary scheme.

23. Đây sẽ là dãy thứ năm trong hệ hành tinh của chúng ta.

will be the bringing in of animal radiation; thus offsetting the method of initiation now pursued.

sẽ là việc đưa bức xạ động vật vào; nhờ đó hóa giải phương pháp điểm đạo hiện đang được theo đuổi.

24. The method of divine intervention (by solar angels Beings) is to be offset.

24. Phương pháp can thiệp thiêng liêng (do các Thái dương Thiên Thần là những Thực Thể thực hiện) sẽ được hóa giải.

25. Perhaps animal radiation was involved in the individualization process as that process was practiced on the Moon-chain.

25. Có lẽ bức xạ động vật đã tham gia vào tiến trình biệt ngã hóa như tiến trình ấy đã được thực hành trên Dãy Mặt Trăng.

26. Perhaps these future developments will bring the animal kingdom in line with the method of radiatory advancement of the other kingdoms of nature.

26. Có lẽ những phát triển tương lai này sẽ đưa giới động vật phù hợp với phương pháp thăng tiến bằng bức xạ của các giới khác trong tự nhiên.

27. One wonders whether the animal kingdom (associated as it is with the number three) has not fallen behind in its evolutionary progress. The number three, is for us, in many ways, as symbol of retardation. It may well be the third star of the Great Bear which is out of alignment and a major contributor to cosmic evil as it affects our solar system.

27. Người ta tự hỏi liệu giới động vật (vốn gắn liền với số ba) có phải đã tụt lại phía sau trong tiến trình tiến hoá của nó hay không. Số ba, đối với chúng ta, theo nhiều cách, là biểu tượng của sự trì trệ. Rất có thể chính ngôi sao thứ ba của Đại Hùng Tinh đang lệch khỏi sự chỉnh hợp và là một tác nhân lớn góp phần vào điều ác vũ trụ khi nó ảnh hưởng đến hệ mặt trời của chúng ta.

It must never be forgotten that the chain process of individualisation, and the earlier three Initiations concern the animal kingdom and man is viewed therein as an animal.

Không bao giờ được quên rằng tiến trình biệt ngã hóa theo dãy, và ba lần điểm đạo đầu tiên liên quan đến giới động vật và trong đó con người được xem như một con vật.

28. Is there a process of individualization which is not a “chain process”?

28. Có một tiến trình biệt ngã hóa nào không phải là một “tiến trình theo dãy” chăng?

29. Usually man at the first two initiations is still considered to be in the “animal” state. However, since Mars is one of the prominent planets at the third initiation, we can understand why even at that initiation man is viewed as an animal.

29. Thông thường con người ở hai lần điểm đạo đầu tiên vẫn còn được xem là ở trong trạng thái “động vật”. Tuy nhiên, vì Sao Hỏa là một trong những hành tinh nổi bật ở lần điểm đạo thứ ba, chúng ta có thể hiểu vì sao ngay cả ở lần điểm đạo ấy con người vẫn được xem như một con vật.

30. Perhaps at the third initiation may truly achieves a kind of liberation from the animal kingdom. The peculiar testing potency of Scorpio, which is esoterically ruled by Mars, is no longer applied after the third initiation.

30. Có lẽ ở lần điểm đạo thứ ba con người mới thực sự đạt được một loại giải thoát khỏi giới động vật. Mãnh lực thử thách đặc thù của Hổ Cáp, vốn được Sao Hỏa cai quản một cách huyền bí, không còn được áp dụng sau lần điểm đạo thứ ba.

In the final Initiation or the offering up of the entire bodily nature,

Trong Cuộc Điểm Đạo cuối cùng hay sự dâng hiến toàn bộ bản chất thể xác,

31. Here it appears that Master DK is calling the fourth initiation the “final initiation”, for it is at that initiation that the “entire bodily nature is offered up”—both the first of the four elementals within the personality and the personality as a whole; the personality can be considered “body” in the trinity of Spirit, soul and body.

31. Ở đây dường như Chân sư DK đang gọi lần điểm đạo thứ tư là “cuộc điểm đạo cuối cùng”, vì chính ở lần điểm đạo ấy mà “toàn bộ bản chất thể xác được dâng hiến” — cả hành khí đầu tiên trong bốn hành khí bên trong phàm ngã lẫn toàn thể phàm ngã; phàm ngã có thể được xem là “thể” trong bộ ba tinh thần, linh hồn và thể.

[Page 1171] this part

[Page 1171] phần này

32. The tiny part that the individual initiate represents…

32. Phần cực nhỏ mà điểm đạo đồ cá nhân đại diện…

of the general karma of the planetary Logos and the Life of the informing Spirit of the animal kingdom become adjusted.

của nghiệp quả chung của Hành Tinh Thượng đế và Sự sống của Tinh Linh đang thấm nhuần giới động vật được điều chỉnh.

33. The fourth initiation is a highly karmic initiation. The individual initiate is expiating a tiny part of the general karma of the Planetary Logos in relation to the Life of the Entity informing the animal kingdom.

33. Lần điểm đạo thứ tư là một lần điểm đạo có tính nghiệp quả rất cao. Điểm đạo đồ cá nhân đang đền bù một phần cực nhỏ của nghiệp quả chung của Hành Tinh Thượng đế trong liên hệ với Sự sống của Thực Thể đang thấm nhuần giới động vật.

If this is meditated upon, some light may be thrown upon the problem as to why the Adepts of the left hand path in Atlantean days were called “the Trees,”27 [S. D., II, 519, 520, 521] and were destroyed with the entire Atlantean vegetation.

Nếu điều này được tham thiền, một ít ánh sáng có thể được rọi vào vấn đề vì sao các chân sư của tả đạo trong thời Atlantis được gọi là “Những Cây Cối,”27 [S. D., II, 519, 520, 521] và đã bị hủy diệt cùng với toàn bộ thảm thực vật Atlantis.

34. We must connect the fact that man is called the “Saptaparna” with the fact that Adepts of the left hand path were called “the Trees”.

34. Chúng ta phải nối kết sự kiện con người được gọi là “Saptaparna” với sự kiện các chân sư của tả đạo được gọi là “Những Cây Cối”.

35. It is fascinating to realize that no vegetation now found upon the Earth can rightly be called “Atlantean vegetation”, though there must necessarily be some kind of continuity between that earlier form of vegetation and the type now found—shall we call it ‘Aryan vegetation’?

35. Thật hấp dẫn khi nhận ra rằng không có thảm thực vật nào hiện nay trên Trái Đất có thể được gọi đúng là “thảm thực vật Atlantis”, mặc dù tất yếu phải có một vài loại tính liên tục nào đó giữa hình thức thực vật trước kia ấy và loại hiện nay đang tồn tại — chúng ta có nên gọi nó là ‘thảm thực vật Arya’ chăng?

36. The Adept of left hand path was reaping karma in relation to the vegetable kingdom and not participating in the fulfillment of planetary logoic karma in relation to the animal kingdom, as does the one who presently passed through the fourth initiation. So many of them were destroyed in the great “floods” of the times. It is noteworthy that Noah took into his ark pairs of animals. Animals were mobile. The standing “Trees” rooted in the Earth (the past) were destroyed.

36. Chân sư của tả đạo đang gặt nghiệp quả trong liên hệ với giới thực vật và không tham dự vào sự hoàn thành nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế trong liên hệ với giới động vật, như người hiện nay đã đi qua lần điểm đạo thứ tư đang làm. Vì thế nhiều kẻ trong số họ đã bị hủy diệt trong những trận “đại hồng thủy” thời ấy. Đáng chú ý là Noah đã đem vào con tàu của mình từng cặp động vật. Động vật thì di động. Những “Cây Cối” đứng yên, cắm rễ trong Trái Đất (quá khứ), đã bị hủy diệt.

37. The title, “the Trees” may suggest that such Adepts may have stood very tall. One wonders whether these “Trees” produced any “fruit”, and if so, about the nature of such “fruit”.

37. Danh xưng “Những Cây Cối” có thể gợi ý rằng những chân sư ấy hẳn đã đứng rất cao. Người ta tự hỏi liệu những “Cây Cối” này có tạo ra “quả” nào không, và nếu có, thì bản chất của những “quả” ấy là gì.

In the oldest of all the Commentaries the mystery is expressed thus:

Trong bản Cổ Luận cổ xưa nhất, huyền nhiệm được diễn tả như sau:

“They (the Adepts of the Left Hand Path) became thus separated through their own fault. Their smell rose not up to Heaven; they refused to merge.

“Họ (các chân sư của Tả Đạo) vì thế đã trở nên tách biệt do chính lỗi của họ. Mùi của họ không bay lên Thiên giới; họ từ chối hòa nhập.

38. The stench of separatism characterized them.

38. Mùi hôi của sự phân ly là đặc điểm của họ.

39. They had no fragrance such as flowering plants produce. From another perspective they refused to flower. If they did flower, they likely produced what could be called “flowers of evil” (after the French Poet, Baudelaire).

39. Họ không có hương thơm như loài thực vật có hoa tạo ra. Từ một góc nhìn khác, họ từ chối nở hoa. Nếu họ có nở hoa, có lẽ họ đã tạo ra cái có thể gọi là “những đóa hoa của điều ác” (theo nhà thơ Pháp Baudelaire).

No perfume was theirs.

Họ không có hương thơm.

40. They did not express the radiation of the second ray—perfume, the subtle emanated essence expressing beautiful, coherent qualities.

40. Họ không biểu lộ bức xạ của cung hai — hương thơm, tinh chất vi tế được phát xạ biểu lộ những phẩm tính đẹp đẽ, cố kết.

41. They had no true relation to the fifth kingdom of nature which expresses the second ray, nor to the Fifth Creative Hierarchy of Solar Angels, also largely expressive of the second ray.

41. Họ không có mối liên hệ chân chính nào với giới thứ năm của tự nhiên, vốn biểu lộ cung hai, cũng không với Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm là các Thái dương Thiên Thần, cũng phần lớn biểu lộ cung hai.

They hugged to their greedy bosoms all the gains of the flowering plant.”

Họ ôm chặt vào lòng tham lam của mình mọi thành quả của loài thực vật có hoa.”

42. They did not release, did not share, the advanced qualities (the fruits or “gains”) which they cultivated. They used such qualities only for their own selfish purposes. Various siddhis, for instance, are such qualities. Strong intelligence is another such quality.

42. Họ không giải phóng, không chia sẻ, những phẩm tính cao cấp (những quả hay “thành quả”) mà họ đã vun trồng. Họ chỉ dùng những phẩm tính ấy cho những mục đích ích kỷ của riêng mình. Chẳng hạn, các siddhi là những phẩm tính như vậy. Trí tuệ mạnh mẽ là một phẩm tính khác như thế.

43. They did not conform to the Law of Radiation and consequently did not (through radiation) begin to merge with the fifth or spiritual kingdom of nature.

43. Họ không tuân theo Định luật Bức Xạ và do đó đã không bắt đầu hòa nhập (thông qua bức xạ) với giới thứ năm hay giới tinh thần của tự nhiên.

6. The Law of the Lotus.

6. Định luật Hoa Sen.

44. As we continue to study these laws, we notice that they have increasingly advanced applications.

44. Khi tiếp tục nghiên cứu các định luật này, chúng ta nhận thấy rằng chúng có những ứng dụng ngày càng cao hơn.

This is the name given to the mysterious influence from the cosmic Law of Attraction which brought in the divine Sons of Mind,

Đây là tên được đặt cho ảnh hưởng huyền nhiệm từ Định luật Hấp Dẫn vũ trụ, vốn đã đưa vào các Con thiêng liêng của Trí Tuệ,

45. In this case, the “divine Sons of Mind” are to be considered the Solar Angels who, at the individualization of animal-man, intervened in order to bestow that which would flower as self-consciousness upon certain advanced members of the third kingdom, thereby transforming them into human beings.

45. Trong trường hợp này, “các Con thiêng liêng của Trí Tuệ” phải được xem là các Thái dương Thiên Thần, những Đấng đã can thiệp vào lúc người-thú biệt ngã hóa để ban cho một số thành viên tiến hóa cao của giới thứ ba điều sẽ nở hoa thành ngã thức, nhờ đó chuyển đổi họ thành những con người.

46. Solar Angels, we are told, are trained on or in Sirius. Sirius might be considered a source of “the cosmic Law of Attraction”. Of course, our Solar Logos is a cosmic Being and is the source of the Law of Attraction which we feel most intensely within our solar system.

46. Chúng ta được cho biết rằng các Thái dương Thiên Thần được huấn luyện trên hoặc trong Sirius. Sirius có thể được xem là một nguồn của “Định luật Hấp Dẫn vũ trụ”. Dĩ nhiên, Thái dương Thượng đế của chúng ta là một Thực Thể vũ trụ và là nguồn của Định luật Hấp Dẫn mà chúng ta cảm nhận mãnh liệt nhất trong hệ mặt trời của mình.

and thus linked the two poles of Spirit and matter, producing upon the plane of mind that which we call the egoic lotus, or “the Flower of the Self.

và nhờ đó nối kết hai cực của tinh thần và vật chất, tạo ra trên cõi trí điều mà chúng ta gọi là Hoa Sen Chân Ngã, hay “Hoa của Bản Ngã”.

47. The egoic lotus of the human being was produced under the Law of the Lotus. Since there are higher forms of egoic lotus, we can imagine that a higher aspect of this law was operative in their production—for instance the production of the egoic lotus of the Planetary Logos or Solar Logos.

47. Hoa Sen Chân Ngã của con người được tạo ra dưới Định luật Hoa Sen. Vì có những hình thức Hoa Sen Chân Ngã cao hơn, chúng ta có thể hình dung rằng một phương diện cao hơn của định luật này đã hoạt động trong việc tạo ra chúng — chẳng hạn việc tạo ra Hoa Sen Chân Ngã của Hành Tinh Thượng đế hay của Thái dương Thượng đế.

48. We note with care that the egoic lotus is also known as “the Flower of the Self”—an important and revelatory name. It seems that consciousness is always associated with the symbol of the flower because consciousness unfolds just as the flower unfolds.

48. Chúng ta cẩn trọng lưu ý rằng Hoa Sen Chân Ngã cũng được biết đến như “Hoa của Bản Ngã” — một danh xưng quan trọng và đầy mặc khải. Dường như tâm thức luôn gắn liền với biểu tượng của hoa bởi vì tâm thức khai mở cũng như hoa khai mở.

It is the law which enables the lotus to draw from the lower nature (the matter aspect and the water aspect) the moisture and heat necessary for its unfoldment,

Đó là định luật giúp hoa sen rút từ bản chất thấp hơn (phương diện vật chất và phương diện nước) độ ẩm và nhiệt cần thiết cho sự khai mở của nó,

49. The life of man lived in the three lower worlds produces moisture and heat which are built into the egoic lotus as quality.

49. Đời sống của con người được sống trong ba cõi thấp tạo ra độ ẩm và nhiệt, những thứ được xây dựng vào Hoa Sen Chân Ngã như phẩm tính.

50. The Law of the Lotus (related as it is to the Law of Attraction) produces that ‘drawing power’ which draws that which is below and builds it into that which is above.

50. Định luật Hoa Sen (có liên hệ như nó vốn có với Định luật Hấp Dẫn) tạo ra “quyền năng thu hút” kéo cái ở dưới lên và xây dựng nó vào cái ở trên.

51. There must be greater and lesser (macrocosmic and microcosmic) applications of this law

51. Ắt hẳn phải có những ứng dụng lớn hơn và nhỏ hơn (đại thiên địa và tiểu thiên địa) của định luật này

52. It is interesting that the unfoldment of the egoic lotus does not occur with the aid of spiritual energies alone.

52. Thật thú vị khi sự khai mở của Hoa Sen Chân Ngã không chỉ xảy ra với sự trợ giúp của riêng các năng lượng tinh thần.

53. All this suggests that there would be no unfoldment of the egoic lotus unless man lives his life in the lower three worlds and offers up his experience to the Solar Angel.

53. Tất cả điều này gợi ý rằng sẽ không có sự khai mở nào của Hoa Sen Chân Ngã nếu con người không sống đời mình trong ba cõi thấp và dâng kinh nghiệm của mình lên cho Thái dương Thiên Thần.

54. One may gather that the building of substance into the egoic lotus occurs under the direction not only of the Spirit of man but that the Solar Angel (identified with the Spirit aspect) has its part to play.

54. Người ta có thể suy ra rằng việc xây dựng chất liệu vào Hoa Sen Chân Ngã diễn ra không chỉ dưới sự chỉ đạo của tinh thần con người mà Thái dương Thiên Thần (đồng hóa với phương diện tinh thần) cũng có phần của nó trong đó.

and to bring down from the levels of the Spirit that which is to it what the rays of the sun are to the vegetable kingdom.

và mang xuống từ các cấp độ của tinh thần điều mà đối với nó cũng như tia nắng mặt trời đối với giới thực vật.

55. The rays of the Spirit are to the egoic lotus what the rays of the sun are to the vegetable kingdom. The substance required for the unfoldment of a plant is drawn from earth and moisture, but without the rays of the sun it could not be built into the plant and contribute to the growth of the plant.

55. Các tia của tinh thần đối với Hoa Sen Chân Ngã cũng như tia nắng mặt trời đối với giới thực vật. Chất liệu cần cho sự khai mở của một cây được rút từ đất và độ ẩm, nhưng nếu không có tia nắng mặt trời thì nó không thể được xây dựng vào cây và góp phần vào sự tăng trưởng của cây.

56. Thus it is for the substance drawn from the lower worlds into the egoic lotus; in order for this substance to be built into the egoic lotus and contribute to its unfoldment, the rays of the Spirit are required.

56. Đối với chất liệu được rút từ các cõi thấp vào Hoa Sen Chân Ngã cũng vậy; để chất liệu này được xây dựng vào Hoa Sen Chân Ngã và góp phần vào sự khai mở của nó, các tia của tinh thần là điều cần thiết.

57. The rays of the Spirit, in this case, are identified with solar fire and not with electric fire.

57. Trong trường hợp này, các tia của tinh thần được đồng hóa với Lửa Thái dương chứ không phải với Lửa Điện.

58. We see that Master DK is speaking in rich analogical language.

58. Chúng ta thấy Chân sư DK đang nói bằng ngôn ngữ tương đồng rất phong phú.

It governs the process of petal unfoldment,

Nó cai quản tiến trình khai mở các cánh hoa,

59. The Law of the Lotus governs the process of petal unfoldment.

59. Định luật Hoa Sen cai quản tiến trình khai mở các cánh hoa.

and therefore itself demonstrates as a triple law:

và do đó tự biểu lộ như một định luật tam phân:

a. The Law of Solar Heat…..Knowledge petals.

a. Định luật Nhiệt Thái dương…..cánh hoa tri thức.

b. The Law of Solar Light….Love petals.

b. Định luật Ánh sáng Thái dương….cánh hoa bác ái.

c. The Law of Solar Fire…..Sacrifice petals.

c. Định luật Lửa Thái dương…..cánh hoa hi sinh.

60. The Law of the Lotus demonstrates as a triple law.

60. Định luật Hoa Sen biểu lộ như một định luật tam phân.

61. The three types of petals are related to the three aspects of divinity. Thus we see (in this context) that heat is related to the third aspect, light to the second aspect and fire to the first aspect.

61. Ba loại cánh hoa có liên hệ với ba phương diện của thiên tính. Vì vậy chúng ta thấy (trong ngữ cảnh này) rằng nhiệt liên hệ với phương diện thứ ba, ánh sáng với phương diện thứ hai, và lửa với phương diện thứ nhất.

62. We usually speak principally of “solar fire”. It is interesting and instructive to see it divided into three parts.

62. Chúng ta thường nói chủ yếu về “Lửa Thái dương”. Thật thú vị và bổ ích khi thấy nó được chia thành ba phần.

63. From a planetary perspective, we can understand the non-sacred planet Mars as related to heat; the sacred planet Venus as related to light; and the planet of spiritual will, Vulcan, related to Fire.

63. Từ góc nhìn hành tinh, chúng ta có thể hiểu hành tinh không thiêng liêng Sao Hỏa là liên hệ với nhiệt; hành tinh thiêng liêng Sao Kim là liên hệ với ánh sáng; và hành tinh của ý chí tinh thần, Vulcan, liên hệ với Lửa.

64. From a certain perspective, these three planets can be considered the rulers of the three circles of petals. Another set of rulers is Saturn, Neptune and Uranus.

64. Từ một góc nhìn nào đó, ba hành tinh này có thể được xem là các chủ tinh của ba vòng cánh hoa. Một bộ chủ tinh khác là Sao Thổ, Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương.

7. The Law of Colour.

7. Định luật Màu sắc.

To get any comprehension of this law students should remember that colour serves a twofold purpose. It acts as a veil for that which lies behind, and is therefore attracted [Page 1172] to the central spark; it demonstrates the attractive quality of the central life.

Để có được bất kỳ sự thấu hiểu nào về định luật này, các đạo sinh nên nhớ rằng màu sắc phục vụ một mục đích nhị phân. Nó hoạt động như một bức màn che cho điều nằm phía sau, và do đó bị hút [Page 1172] về tia lửa trung tâm; nó biểu lộ phẩm tính hấp dẫn của sự sống trung tâm.

65. Master DK has given us two purposes of colour. If it is a veil for the central spark, it prevents the full nature of that spark from demonstrating. We have the triplicity colour, light and darkness. “That which lies behind” could be considered as light—light attracted to darkness.

65. Chân sư DK đã cho chúng ta hai mục đích của màu sắc. Nếu nó là một bức màn che cho tia lửa trung tâm, nó ngăn không cho bản chất trọn vẹn của tia lửa ấy biểu lộ. Chúng ta có bộ ba màu sắc, ánh sáng và bóng tối. “Điều nằm phía sau” có thể được xem là ánh sáng — ánh sáng bị hút về bóng tối.

66. Another way of understanding this is that color, itself, (considered as quality) is attracted to the central spark and is magnetically held by the central spark.

66. Một cách khác để hiểu điều này là màu sắc, tự nó, (được xem như phẩm tính) bị hút về tia lửa trung tâm và được tia lửa trung tâm giữ lại bằng từ tính.

67. The second purpose is the demonstration of the attractive quality inherent in the central life or spark. Color is more related to the second aspect of divinity (the attractive aspect) than to the first aspect (the central life or spark). Through color (which is, in a way, identical to quality) living energies and forces which can be served by the central spark or life are attracted around it. The inherent sevenfold nature of the central spark (with some aspects of that nature emphasized over others) is also demonstrated through the colors associated with the central spark—seven colors, yes, but with some emphasized over others.

67. Mục đích thứ hai là sự biểu lộ phẩm tính hấp dẫn vốn có trong sự sống hay tia lửa trung tâm. Màu sắc liên hệ với phương diện thứ hai của thiên tính (phương diện hấp dẫn) hơn là với phương diện thứ nhất (sự sống hay tia lửa trung tâm). Thông qua màu sắc (vốn, theo một cách nào đó, đồng nhất với phẩm tính) các năng lượng và mãnh lực sống mà tia lửa hay sự sống trung tâm có thể phụng sự được hút lại quanh nó. Bản chất thất phân cố hữu của tia lửa trung tâm (với một số phương diện của bản chất ấy được nhấn mạnh hơn những phương diện khác) cũng được biểu lộ qua các màu sắc gắn liền với tia lửa trung tâm — bảy màu, đúng vậy, nhưng có một số màu được nhấn mạnh hơn những màu khác.

68. We may judge that the central life is threefold (just as the Monad is shown as threefold on a number of the charts) and that it is the second aspect of the Monad which is involved in determining the colors which represent the life of the central spark.

68. Chúng ta có thể phán đoán rằng sự sống trung tâm là tam phân (cũng như chân thần được trình bày là tam phân trên một số biểu đồ) và rằng chính phương diện thứ hai của chân thần tham gia vào việc xác định các màu sắc biểu trưng cho sự sống của tia lửa trung tâm.

All colours, therefore, are centres of attraction,

Vì vậy, mọi màu sắc đều là những trung tâm hấp dẫn,

69. As human beings we are attracted or repelled by colors (i.e., by qualities). The colors or qualities which any being represents (or through which it expresses) determine whether we will draw near to that being or distance ourselves from it.

69. Là con người, chúng ta bị màu sắc thu hút hoặc đẩy lùi (tức là bởi các phẩm tính). Những màu sắc hay phẩm tính mà bất kỳ hữu thể nào biểu lộ (hay qua đó nó biểu hiện) quyết định liệu chúng ta sẽ đến gần hữu thể ấy hay tách xa khỏi nó.

are complementary, or are antipathetic to each other, and students who study along these lines can find out the law, and comprehend its working through a realisation of the purpose, the activity, and the relation of colours to or for each other.

có tính bổ sung cho nhau, hoặc đối nghịch nhau, và các đạo sinh nghiên cứu theo những đường hướng này có thể tìm ra định luật ấy, và thấu hiểu sự vận hành của nó thông qua sự chứng nghiệm về mục đích, hoạt động, và mối liên hệ của các màu sắc với nhau hay đối với nhau.

70. Under the Law of Attraction, harmonious colors are drawn together. This drawing reflects the purpose of the archetypal world. Antipathetic colors are not drawn together. When (through the application of the energy of ignorance) there arise combinations of antipathetic colors, such combinations do not reflect the patterns of the archetypal world and are characterized by dissonance (not only of color but of sound).

70. Dưới Định luật Hấp Dẫn, những màu sắc hài hòa bị hút lại với nhau. Sự hút này phản ánh mục đích của thế giới nguyên mẫu. Những màu sắc đối nghịch không bị hút lại với nhau. Khi (thông qua việc áp dụng năng lượng của vô minh) xuất hiện những tổ hợp của các màu sắc đối nghịch, những tổ hợp như vậy không phản ánh các mô hình của thế giới nguyên mẫu và được đặc trưng bởi sự bất hòa (không chỉ về màu sắc mà còn về âm thanh).

71. Clashing colors are like clashing notes or tones. They do not contribute to the intended harmony of the Divine Purpose and are tolerable (sometimes piquant) only in passing.

71. Những màu sắc xung khắc cũng như những âm điệu hay thanh âm xung khắc. Chúng không góp phần vào sự hài hòa được dự định của Thiên Ý và chỉ có thể chấp nhận được (đôi khi gây ấn tượng mạnh) trong thoáng chốc.

72. So we are to endeavor to determine the workings of the Law of Colour by learning about color harmony and color antipathy.

72. Vì vậy chúng ta phải cố gắng xác định sự vận hành của Định luật Màu sắc bằng cách học về sự hài hòa màu sắc và sự đối nghịch màu sắc.

73. If there were a Law of Music (considered as a subset of the Law of Sound) we would determine its nature in an analogous manner.

73. Nếu có một Định luật Âm nhạc (được xem như một bộ phận của Định luật Âm thanh) thì chúng ta sẽ xác định bản chất của nó theo một cách tương tự.

8. The Law of Gravitation.

8. Định luật Trọng lực.

This law is for the non-occult student the most puzzling and confusing of all the laws.

Đối với đạo sinh không huyền bí học, định luật này là điều gây bối rối và khó hiểu nhất trong tất cả các định luật.

74. And yet modern physics seems to be making some penetration into it nature. The true nature of gravitation, however, has not been solved as it is essentially an occult phenomenon.

74. Tuy nhiên, vật lý học hiện đại dường như đang thâm nhập phần nào vào bản chất của nó. Dẫu vậy, bản chất thật sự của trọng lực vẫn chưa được giải quyết vì về căn bản nó là một hiện tượng huyền bí học.

It shows itself in one aspect

Nó biểu lộ trong một phương diện

75. It, therefore, has more than one aspect.

75. Vì vậy, nó có nhiều hơn một phương diện.

as the power, and the stronger urge that a more vital life may have upon the lesser, such as the power of the spirit of the Earth (the planetary Entity, not the planetary Logos) to hold all physical forms to itself and prevent their “scattering.”

như quyền năng, và sự thúc đẩy mạnh hơn mà một sự sống sinh động hơn có thể có đối với sự sống nhỏ hơn, chẳng hạn như quyền năng của tinh linh địa cầu (Thực Thể Hành Tinh, chứ không phải Hành Tinh Thượng đế) giữ mọi hình tướng hồng trần lại với chính nó và ngăn chúng “phân tán.”

76. Master DK immediately launches into an occult interpretation of this law.

76. Chân sư DK lập tức đi vào một cách giải thích huyền bí học về định luật này.

77. The “Planetary Spirit” is different from and far higher than the “spirit of the Earth”. We note too, that in the phrase “spirit of the Earth” the term “spirit” is not capitalized.

77. “Chân Linh Hành Tinh” khác với và cao hơn rất nhiều so với “tinh linh địa cầu”. Chúng ta cũng lưu ý rằng trong cụm từ “spirit of the Earth”, từ “spirit” không được viết hoa.

78. We can see that this interpretation of the Law of Gravitation is related to systemic Law of Cohesion. We see the greater Entity (though, relatively, not a highly developed Entity) holding together many lesser entities preventing their “scattering”.

78. Chúng ta có thể thấy rằng cách giải thích này về Định luật Trọng lực có liên hệ với Định luật Cố Kết có tính hệ thống. Chúng ta thấy Thực Thể lớn hơn (dù tương đối mà nói không phải là một Thực Thể phát triển cao) đang giữ nhiều thực thể nhỏ hơn lại với nhau, ngăn chúng “phân tán”.

79. We see, too, that vitality is involved. Gravitation, from this perspective, is a kind of ‘vital grip’ which a B/being of greater vitality exerts upon a being of lesser vitality.

79. Chúng ta cũng thấy rằng sinh lực có liên quan. Trọng lực, từ góc nhìn này, là một loại ‘sự nắm giữ bằng sinh lực’ mà một H/hữu thể có sinh lực lớn hơn tác động lên một hữu thể có sinh lực nhỏ hơn.

This is due to the heavier vibration, the greater accumulative force, and the aggregated tamasic lives of the body of the planetary Entity.

Điều này là do rung động nặng hơn, mãnh lực tích lũy lớn hơn, và các sự sống tamas kết tụ của thể của Thực Thể Hành Tinh.

80. Not much is said about the “planetary Entity”. This is one of the clearest explanations of one of its functions. It is, in a way, a positive function though it can also be understood as a retarding function.

80. Không có nhiều điều được nói về “Thực Thể Hành Tinh”. Đây là một trong những giải thích rõ ràng nhất về một trong các chức năng của nó. Theo một cách nào đó, đó là một chức năng tích cực dù nó cũng có thể được hiểu như một chức năng làm trì hoãn.

81. The “planetary Entity” has a heavier vibration and greater accumulative force than the many physical forms which it aggregates and holds to itself.

81. “Thực Thể Hành Tinh” có rung động nặng hơn và mãnh lực tích lũy lớn hơn so với nhiều hình tướng hồng trần mà nó kết tụ và giữ lại với chính nó.

82. It should be remembered that “form” per se, is related to the second aspect of divinity, whereas matter/substance is related to the third.

82. Cần nhớ rằng chính hình tướng, tự nó, liên hệ với phương diện thứ hai của thiên tính, trong khi vật chất/chất liệu liên hệ với phương diện thứ ba.

83. One of the major purposes of the advancing unit of consciousness is to gain release form the “planetary Entity”.

83. Một trong những mục đích lớn của đơn vị tâm thức đang tiến lên là đạt được sự giải thoát khỏi “Thực Thể Hành Tinh”.

This force works upon the negative, or lowest, aspect of all physical forms.

Mãnh lực này tác động lên phương diện âm, hay thấp nhất, của mọi hình tướng hồng trần.

84. This is the lowest aspect of the Law of Gravitation. Physical forms have higher and lower aspects and this force works upon the lowest, we are told.

84. Đây là phương diện thấp nhất của Định luật Trọng lực. Chúng ta được cho biết rằng các hình tướng hồng trần có những phương diện cao hơn và thấp hơn, và mãnh lực này tác động lên phương diện thấp nhất.

85. Physical forms may also be considered to have their etheric aspect. From this perspective the dense material aspect of physical form is naturally lower than the etheric aspect.

85. Các hình tướng hồng trần cũng có thể được xem là có phương diện dĩ thái của chúng. Từ góc nhìn này, phương diện vật chất đậm đặc của hình tướng hồng trần tự nhiên là thấp hơn so với phương diện dĩ thái.

The Law of Gravitation shows itself also in the response of the soul of all things to the greater Soul in which the lesser finds itself.

Định luật Trọng lực cũng biểu lộ trong sự đáp ứng của linh hồn của vạn vật đối với Đại Hồn mà trong đó linh hồn nhỏ hơn tự thấy mình ở trong đó.

86. Here we have a higher application of the law. When studying these laws we must always remain open to their application on various levels of systemic and cosmic life.

86. Ở đây chúng ta có một ứng dụng cao hơn của định luật. Khi nghiên cứu các định luật này, chúng ta phải luôn mở ngỏ trước việc chúng được áp dụng trên nhiều cấp độ khác nhau của sự sống hệ thống và vũ trụ.

87. The “greater Souls” have an occult gravitational effect upon the ‘lesser souls’.

87. Các “Đại Hồn” có một hiệu ứng trọng lực huyền bí lên các ‘linh hồn nhỏ hơn’.

88. We seem to be told that in relation to this law, the greater always attracts the lesser, whether in the world of matter/form or of consciousness.

88. Dường như chúng ta được cho biết rằng, trong liên hệ với định luật này, cái lớn hơn luôn hút cái nhỏ hơn, dù trong thế giới vật chất/hình tướng hay trong thế giới tâm thức.

89. In the following excerpt from the second ray Technique of Integration, this higher form of the Law of Gravitation is at work:

89. Trong đoạn trích sau từ Kỹ Thuật Tích Hợp của cung hai, hình thức cao hơn này của Định luật Trọng lực đang hoạt động:

‘Release thyself from all that stands around, for it has naught for thee, so look to me. I am the One who builds, sustains and draws thee on and up. Look unto me with eyes of love, and seek the path which leads from the outer circle to the point.

‘Hãy giải thoát chính ngươi khỏi mọi điều đang đứng quanh ngươi, vì chúng chẳng có gì cho ngươi, vậy hãy nhìn về ta. Ta là Đấng xây dựng, duy trì và kéo ngươi tiến lên và đi lên. Hãy nhìn về ta bằng đôi mắt bác ái, và tìm con đường dẫn từ vòng tròn bên ngoài đến điểm.

I, at the point, sustain. I, at the point, attract. I, at the point, direct and choose and dominate. I, at the point, love all, drawing them to the centre and moving forward with the travelling points towards that great Centre where the One Point stands. (EP II 355)

Ta, tại điểm, duy trì. Ta, tại điểm, thu hút. Ta, tại điểm, chỉ đạo và chọn lựa và chi phối. Ta, tại điểm, yêu thương tất cả, kéo họ về trung tâm và tiến bước cùng các điểm đang du hành hướng tới Trung Tâm vĩ đại nơi Đấng Điểm Duy Nhất đứng đó. (EP II 355)

This law, therefore, affects the two lowest forms of divine life, but not the highest. It emanates in the first instance from the physical sun and the heart of the Sun.

Vì vậy, định luật này tác động đến hai hình thức thấp nhất của sự sống thiêng liêng, nhưng không tác động đến hình thức cao nhất. Trước hết, nó phát xuất từ mặt trời hồng trần và trái tim của Mặt Trời.

90. It is interesting to hear the soul aspect called one of the “two lowest forms of divine life”.

90. Thật thú vị khi nghe phương diện linh hồn được gọi là một trong “hai hình thức thấp nhất của sự sống thiêng liêng”.

91. We are here given the sources of the Law of Gravitation: first the physical sun and then the “Heart of the Sun”.

91. Ở đây, chúng ta được cho biết các nguồn của Định luật Hấp dẫn: trước hết là mặt trời vật chất và rồi đến “Trái Tim của Mặt Trời”.

92. The type of gravitation sourced in the Heart of the Sun provides eventual release for those entities who are held in the gravitational field sourced in the physical sun. Thus does the world of the soul overcome the world of lower form.

92. Loại hấp dẫn phát xuất từ Trái Tim của Mặt Trời rốt cuộc đem lại sự giải thoát cho những thực thể bị giữ trong trường hấp dẫn phát xuất từ mặt trời vật chất. Như thế, thế giới của linh hồn vượt thắng thế giới của hình tướng thấp.

93. We may infer, the, that the Law of Gravitation is not related to the Central Spiritual Sun—at least not in the way here described.

93. Vậy thì, chúng ta có thể suy ra rằng Định luật Hấp dẫn không liên hệ với Mặt trời Tinh thần Trung Ương—ít nhất không theo cách được mô tả ở đây.

The final synthesising forces which might be regarded as forms of spiritual gravitational activity are, nevertheless, not so, but are due to the working of another law, emanating from the central spiritual Sun. The one is purely systemic, the other a cosmic law.

Tuy nhiên, các mãnh lực tổng hợp tối hậu có thể được xem như những hình thức hoạt động hấp dẫn tinh thần, nevertheless, không phải như vậy, mà là do sự vận hành của một định luật khác, phát xuất từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương. Một bên hoàn toàn thuộc hệ thống, bên kia là một định luật vũ trụ.

94. Can we say that this other law (a comic law) is the Law of Synthesis?

94. Chúng ta có thể nói rằng định luật kia (một định luật vũ trụ) là Định luật Tổng Hợp chăng?

95. Master DK acknowledges that this final drawing together seems like “spiritual gravitational activity” but is not. The law involved is not a systemic but a cosmic law. It emanates from the Central Spiritual Sun which, in this case, seems not to be the monadic nature of the Solar Logos, but a cosmic Source altogether. Can this Source be the “One About Whom Naught May Be Said”?

95. Chân sư DK thừa nhận rằng sự quy tụ tối hậu này dường như là “hoạt động hấp dẫn tinh thần” nhưng không phải vậy. Định luật liên hệ không phải là một định luật thuộc hệ thống mà là một định luật vũ trụ. Nó phát xuất từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương, mà trong trường hợp này dường như không phải là bản chất chân thần của Thái dương Thượng đế, mà là một Nguồn vũ trụ hoàn toàn khác. Nguồn này có thể là “Đấng Bất Khả Tư Nghị” chăng?

96. So, gravitation pertains to the physical sun and to the Heart of the Sun, but not to the level of Spirit (the Central Spiritual Sun), howevermuch similarities may appear.

96. Vì vậy, hấp dẫn liên quan đến mặt trời vật chất và Trái Tim của Mặt Trời, nhưng không liên quan đến cấp độ của tinh thần (Mặt trời Tinh thần Trung Ương), cho dù những điểm tương đồng có thể xuất hiện nhiều đến đâu.

9. The Law of Planetary Affinity.

9. Định luật Tương Hợp Hành Tinh.

This term is used in the occult teaching specifically in connection with the interaction of the planets with each other and their eventual marriage.

Thuật ngữ này được dùng trong giáo huấn huyền bí một cách đặc biệt liên hệ với sự tương tác của các hành tinh với nhau và sự kết hợp cuối cùng của chúng.

97. We see that this ninth law is operative on a rather macrocosmic level, though for man, the true macrocosm is the Solar Logos and His solar system.

97. Chúng ta thấy rằng định luật thứ chín này hoạt động trên một cấp độ khá đại thiên địa, dù đối với con người, đại thiên địa đích thực là Thái dương Thượng đế và hệ mặt trời của Ngài.

98. It would seem that in the process of synthesis and absorption, the planets do marry and merge before their final absorption into the synthesizing planets and into the Sun.

98. Dường như trong tiến trình tổng hợp và hấp thụ, các hành tinh quả thật kết hợp và hòa nhập trước khi được hấp thụ cuối cùng vào các hành tinh tổng hợp và vào Mặt Trời.

99. The number nine, numerologically indicates completion.

99. Về mặt số học huyền bí, số chín biểu thị sự hoàn tất.

As we know, the planetary schemes (the seven sacred planets) will eventually synthesise, or absorb the life of the planets which are not termed sacred and the numerous planetoids, as far as the four kingdoms [Page 1173] of nature are concerned.

Như chúng ta biết, các hệ hành tinh (bảy hành tinh thiêng liêng) rốt cuộc sẽ tổng hợp, hay hấp thụ sự sống của các hành tinh không được gọi là thiêng liêng và vô số tiểu hành tinh, xét theo bốn giới [Page 1173] trong thiên nhiên.

100.  It seems that this synthesizing and absorption concerns only the lower four kingdoms.

100.  Dường như sự tổng hợp và hấp thụ này chỉ liên quan đến bốn giới thấp.

101.  The lesser planetary Entities are absorbed into greater planetary Entities and these into the synthesizing schemes, and finally into the Sun, the final synthesizer.

101.  Các Thực Thể Hành Tinh nhỏ hơn được hấp thụ vào các Thực Thể Hành Tinh lớn hơn, rồi các thực thể này vào các hệ tổng hợp, và cuối cùng vào Mặt Trời, đấng tổng hợp tối hậu.

102.  We note that what is absorbed is the “life” of the planets and probably the life aspect (the monadic aspect) of the lives of the four kingdoms of nature.

102.  Chúng ta lưu ý rằng điều được hấp thụ là “sự sống” của các hành tinh và có lẽ là phương diện sự sống (phương diện chân thần) của các sự sống thuộc bốn giới trong thiên nhiên.

103.  It is difficult to say which planets will be “sacred” by the time absorption comes. The Earth may well be “sacred” by the time the process begins. Earth, itself, may absorb planets expressing a lesser degree of sacredness. I have speculated upon the order of possible planetary absorption in earlier commentaries.

103.  Thật khó nói hành tinh nào sẽ là “thiêng liêng” vào lúc sự hấp thụ diễn ra. Trái Đất rất có thể sẽ là “thiêng liêng” vào lúc tiến trình bắt đầu. Chính Trái Đất có thể hấp thụ các hành tinh biểu lộ mức độ thiêng liêng thấp hơn. Tôi đã suy đoán về trật tự có thể có của sự hấp thụ hành tinh trong các phần bình luận trước.

The absorption of the Spirit aspect proceeds under the Law of Synthesis.

Sự hấp thụ phương diện tinh thần diễn ra dưới Định luật Tổng Hợp.

104.  Yes, here it is directly stated. The Law of Synthesis is a cosmic law. It is concerned with the Central Spiritual Sun, as mentioned above. It is, however, connected to the monadic aspect of the Solar Logos (when that aspect is named the “Central Spiritual Sun”)?

104.  Vâng, ở đây điều ấy được phát biểu trực tiếp. Định luật Tổng Hợp là một định luật vũ trụ. Nó liên hệ với Mặt trời Tinh thần Trung Ương, như đã nói ở trên. Tuy nhiên, nó có liên hệ với phương diện chân thần của Thái dương Thượng đế chăng (khi phương diện ấy được gọi là “Mặt trời Tinh thần Trung Ương”)?

105.  Do we hear speaking of the absorption of Monads into great Monads? Yet in all of cosmos the Monad (essentially) is One.

105.  Phải chăng chúng ta đang nghe nói về sự hấp thụ các chân thần vào những chân thần vĩ đại? Tuy nhiên, trong toàn thể vũ trụ, Chân thần (về bản chất) là Một.

106.  The Monad of man is not a pure Monad. It is accompanied by its vehicle. Even the One Universal Monad has its vehicle—on the highest of all possible universal planes.

106.  Chân thần của con người không phải là một chân thần thuần túy. Nó đi kèm với vận cụ của nó. Ngay cả Chân thần Vũ trụ Duy Nhất cũng có vận cụ của Ngài—trên cõi cao nhất trong mọi cõi phổ quát khả hữu.

The minor four planetary schemes become first the two, and then the one. This one, with the major three, forms a second and higher quaternary which again repeats the process, producing from the four, the two, and from the two, the one.

Bốn hệ hành tinh nhỏ trước hết trở thành hai, rồi thành một. Một này, cùng với ba hệ lớn, tạo thành một bộ bốn thứ hai và cao hơn, rồi lại lặp lại tiến trình, tạo ra từ bốn thành hai, và từ hai thành một.

107.  In a previous commentary I have discussed this paragraph in some detail.

107.  Trong một phần bình luận trước, tôi đã bàn đến đoạn này khá chi tiết.

108.  As we presently know of only three minor planetary schemes, it would seem that the minor four planetary schemes still consist of sacred planets. Some absorption among non-sacred planets will have already occurred before the absorption here discussed is in process.

108.  Vì hiện nay chúng ta chỉ biết có ba hệ hành tinh nhỏ, nên dường như bốn hệ hành tinh nhỏ vẫn còn bao gồm các hành tinh thiêng liêng. Một số sự hấp thụ giữa các hành tinh không thiêng liêng hẳn đã xảy ra trước khi sự hấp thụ được bàn ở đây bắt đầu diễn tiến.

109.  Among the sacred planets the four minor planetary schemes are Venus, Mercury, Vulcan and Jupiter. There are various pairs which could be proposed: Mercury with Vulcan or Mercury with Jupiter; Venus with Vulcan and Mercury with Jupiter; Mercury with Venus and Vulcan with Jupiter.

109.  Trong số các hành tinh thiêng liêng, bốn hệ hành tinh nhỏ là Sao Kim, Sao Thủy, Vulcan và Sao Mộc. Có nhiều cặp khác nhau có thể được đề nghị: Sao Thủy với Vulcan hoặc Sao Thủy với Sao Mộc; Sao Kim với Vulcan và Sao Thủy với Sao Mộc; Sao Thủy với Sao Kim và Vulcan với Sao Mộc.

110.  Justifications can be found for any of these types of pairing. What is probable, however, is that Jupiter will be the remaining planet of the sacred lower four and that it will face the three synthesizing planets.

110.  Có thể tìm thấy những lý do biện minh cho bất kỳ kiểu ghép cặp nào trong số này. Tuy nhiên, điều có vẻ khả dĩ là Sao Mộc sẽ là hành tinh còn lại của bốn hành tinh thiêng liêng thấp và nó sẽ đối diện với ba hành tinh tổng hợp.

111.  When thinking of the pattern of pairings among Jupiter, Saturn, Neptune and Uranus, there are again a number of possibilities. Since it seems advisable to leave Neptune and Uranus for the final pairing, it seem logical that Jupiter would merge into Neptune and Saturn into Uranus. Then Uranus and Neptune would merge. Which would be the final planet—Neptune or Uranus? Justifications could be found for either one.

111.  Khi suy nghĩ về mô hình ghép cặp giữa Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương, lại có một số khả năng. Vì dường như nên để Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương cho lần ghép cặp cuối cùng, nên có vẻ hợp lý khi Sao Mộc sẽ hòa nhập vào Sao Hải Vương và Sao Thổ vào Sao Thiên Vương. Sau đó Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương sẽ hòa nhập. Hành tinh cuối cùng sẽ là hành tinh nào—Sao Hải Vương hay Sao Thiên Vương? Có thể tìm thấy lý do biện minh cho cả hai.

112.  Uranus is the ultimate first ray planet and Neptune the ultimate second ray planet. Usually the first ray is considered the last to remain, and yet we live in a second ray solar system.

112.  Sao Thiên Vương là hành tinh cung một tối hậu và Sao Hải Vương là hành tinh cung hai tối hậu. Thông thường, cung một được xem là cung còn lại sau cùng, thế nhưng chúng ta đang sống trong một hệ mặt trời cung hai.

113.  This final planet (whether Uranus or Neptune) would merge into the Sun.

113.  Hành tinh cuối cùng này (dù là Sao Thiên Vương hay Sao Hải Vương) sẽ hòa nhập vào Mặt Trời.

114.  At this stage of our knowledge and understanding, the accurate patterns of merging must remain a subject for speculation. It would be important to know the relative status of the four lesser sacred Planetary Logoi as then we could see which planet would be the absorber and which the absorbed. It can be presumed that Jupiter is of higher evolutionary status that Vulcan, Venus or Mercury, but which among these latter three is the most and least advanced. Certainly, Mercury is the ‘oldest’ of the three and Venus (for all its accelerated unfoldment), perhaps spiritually the ‘youngest’, but we have no certainty.

114.  Ở giai đoạn hiện nay của tri thức và sự thấu hiểu của chúng ta, các mô hình hòa nhập chính xác hẳn vẫn phải là một đề tài để suy đoán. Sẽ rất quan trọng nếu biết được địa vị tương đối của bốn Đức Hành Tinh Thượng Đế thiêng liêng nhỏ hơn, vì khi ấy chúng ta có thể thấy hành tinh nào sẽ là bên hấp thụ và hành tinh nào là bên bị hấp thụ. Có thể giả định rằng Sao Mộc có địa vị tiến hoá cao hơn Vulcan, Sao Kim hay Sao Thủy, nhưng trong ba hành tinh sau này, hành tinh nào tiến bộ nhất và kém tiến bộ nhất? Chắc chắn, Sao Thủy là hành tinh ‘già’ nhất trong ba hành tinh ấy và Sao Kim (dù có sự khai mở được gia tốc) có lẽ về mặt tinh thần là hành tinh ‘trẻ’ nhất, nhưng chúng ta không có gì chắc chắn.

This final one is eventually merged in the Sun, producing in this prolonged process, and over a vast period of time, the appearance of the “seven Suns who run together, and thus blaze forth, producing one flaming ball of fire.”

Đơn vị cuối cùng này rốt cuộc được hòa nhập vào Mặt Trời, tạo ra trong tiến trình kéo dài này, và trong một khoảng thời gian vô cùng rộng lớn, sự xuất hiện của “bảy Mặt Trời cùng chạy lại với nhau, và do đó bùng cháy rực lên, tạo thành một khối cầu lửa duy nhất.”

115.  DK is here speaking of the climactic solar systemic display of glory.

115.  Ở đây, DK đang nói về sự biểu hiện vinh quang cao trào của hệ mặt trời.

116.  Are the seven sacred planets in their etheric natures the “seven Suns who run together” with the absorbing etheric Sun representing “one flaming ball of fire”? Or does the Sun in its etheric nature seem to subdivide in this final demonstration?

116.  Phải chăng bảy hành tinh thiêng liêng trong bản chất dĩ thái của chúng là “bảy Mặt Trời cùng chạy lại với nhau”, còn Mặt Trời dĩ thái hấp thụ tượng trưng cho “một khối cầu lửa duy nhất”? Hay Mặt Trời trong bản chất dĩ thái của nó dường như tự phân chia trong sự biểu hiện cuối cùng này?

117.  Spiritually, we must think of the Planetary Logoi as expression of the chakric nature of the Solar Logos. Since all chakras come from the Monad, the Planetary Logoi may be thought of as emanating from the Monad – at least spiritually or divinely— which is a better descriptor.

117.  Về mặt tinh thần, chúng ta phải nghĩ đến các Hành Tinh Thượng Đế như những biểu hiện của bản chất luân xa của Thái dương Thượng đế. Vì mọi luân xa đều đến từ Chân thần, các Hành Tinh Thượng Đế có thể được xem là phát xuất từ Chân thần – ít nhất là về mặt tinh thần hay thiêng liêng— mà đây là cách mô tả đúng hơn.

118.  However it may be, it is likely that the final demonstration is etheric in nature.

118.  Dù thế nào đi nữa, có lẽ sự biểu hiện cuối cùng ấy có bản chất dĩ thái.

119.  This would precede the taking by the Solar Logos of the fourth initiation, which is also ‘scheduled’ by the conclusion of our solar system. Even the fifth cosmic initiation is a possibility but would not be associated with a phenomenal display as it is possible that for its fifth initiation, the Solar Logos’ phenomenal vehicles (its personality vehicles) would have been destroyed and dispersed – though taking the analogy from the human being, it is also possible that the personality vehicles may remain for the taking of a fifth initiation, as among men, it is possible to take the fourth and fifth initiations in the same life.

119.  Điều này sẽ đi trước việc Thái dương Thượng đế tiếp nhận lần điểm đạo thứ tư, vốn cũng được “ấn định” vào lúc kết thúc hệ mặt trời của chúng ta. Ngay cả lần điểm đạo vũ trụ thứ năm cũng là một khả năng, nhưng sẽ không gắn với một sự biểu hiện hiện tượng giới, vì có thể đối với lần điểm đạo thứ năm của Ngài, các vận cụ hiện tượng giới của Thái dương Thượng đế (các vận cụ phàm ngã của Ngài) sẽ bị hủy diệt và phân tán – dù theo phép loại suy từ con người, cũng có thể các vận cụ phàm ngã vẫn còn để tiếp nhận lần điểm đạo thứ năm, vì nơi những người nam và nữ, có thể tiếp nhận lần điểm đạo thứ tư và thứ năm trong cùng một kiếp sống.

On a lesser scale the same law governs the merging of the chains in a scheme.

Ở quy mô nhỏ hơn, cũng chính định luật ấy chi phối sự hòa nhập của các dãy trong một hệ hành tinh.

120.  Again there are higher and lower applications of a given law: in this case, The Law of Planetary Affinity. We must not think of these laws as confined to only one level.

120.  Một lần nữa, có những ứng dụng cao hơn và thấp hơn của một định luật nhất định: trong trường hợp này là Định luật Tương Hợp Hành Tinh. Chúng ta không được nghĩ rằng các định luật này chỉ giới hạn trong một cấp độ duy nhất.

121.  If we are astute we may be able to study the merging of chains and learn something about the merging of schemes and vice-versa.

121.  Nếu đủ sắc bén, chúng ta có thể nghiên cứu sự hòa nhập của các dãy và học được điều gì đó về sự hòa nhập của các hệ hành tinh, và ngược lại.

122.  When dealing with these mergings we must realize that DK often speaks of ten planetary schemes or even twelve. The correct pattern of merging will have to take these numbers into account.

122.  Khi bàn đến các sự hòa nhập này, chúng ta phải nhận ra rằng DK thường nói đến mười hệ hành tinh hay thậm chí mười hai. Mô hình hòa nhập đúng đắn sẽ phải tính đến các con số này.

123.  One general principle may be correct: the lesser Entities merge into greater Entities, and these greater into still greater. Greater Entities do not begin to merge before lesser Entities have completed their merging.

123.  Một nguyên lý tổng quát có thể là đúng: các Thực Thể nhỏ hơn hòa nhập vào các Thực Thể lớn hơn, và các thực thể lớn hơn này lại hòa nhập vào những Thực Thể còn lớn hơn nữa. Các Thực Thể lớn hơn không bắt đầu hòa nhập trước khi các Thực Thể nhỏ hơn hoàn tất sự hòa nhập của chúng.

124.  To understand the systemic mergings is beyond our ken, but to understand the microcosmic mergings within the human energy system (which reflects the greater system) is practically possible.

124.  Việc thấu hiểu các sự hòa nhập thuộc hệ thống vượt ngoài tầm biết của chúng ta, nhưng việc thấu hiểu các sự hòa nhập vi mô trong hệ thống năng lượng con người (phản ánh hệ thống lớn hơn) thì có thể thực hiện được trên thực tế.

10. The Law of Solar Union.

10. Định luật Hợp Nhất Thái Dương.

When the interplay of the Suns is being dealt with from the material aspect and from the consciousness aspect, this term is occultly used. It is not possible to enlarge upon it, but only to point out the universality of this Law of Attraction.

Khi sự tương tác của các Mặt Trời được bàn đến từ phương diện vật chất và từ phương diện tâm thức, thuật ngữ này được dùng một cách huyền bí. Không thể khai triển thêm về nó, mà chỉ có thể chỉ ra tính phổ quát của Định luật Hấp Dẫn này.

125.  This law appears to rule the merging of solar systems. Our Solar Logos for instance, has His polar opposite, and this is probably true of other Solar Logoi Who are related to our Solar Logos.

125.  Định luật này dường như cai quản sự hòa nhập của các hệ mặt trời. Chẳng hạn, Thái dương Thượng đế của chúng ta có cực đối nghịch của Ngài, và điều này có lẽ cũng đúng với các Thái dương Thượng đế khác có liên hệ với Thái dương Thượng đế của chúng ta.

126.  But our Solar Logos is a member of the lower quaternary in a great being, whereas, Sirius may not be—in fact, probably is not (though Venus, its lower correspondence, is a member of the solar logoic lower quaternary).

126.  Nhưng Thái dương Thượng đế của chúng ta là một thành viên của bộ bốn thấp trong một Đại Hữu Thể, trong khi Sirius có thể không phải như vậy—thật ra, có lẽ không phải (dù Sao Kim, đối phần thấp hơn của nó, một thành viên của bộ bốn thấp của Thái dương Thượng đế).

127.  Will our Sun/Solar Logos merge with the Sirian Sun/Logos? If so, we would be dealing with the merging of a Sun from the lower quaternary with a Sun from the higher triplicity. This would be an important consideration, and is certainly beyond the possibility of ascertainment—for us.

127.  Phải chăng Mặt Trời/Thái dương Thượng đế của chúng ta sẽ hòa nhập với Mặt Trời/Thượng đế Sirius? Nếu vậy, chúng ta sẽ bàn đến sự hòa nhập của một Mặt Trời từ bộ bốn thấp với một Mặt Trời từ bộ ba cao. Đây sẽ là một điều cần cân nhắc quan trọng, và chắc chắn vượt ngoài khả năng xác định—đối với chúng ta.

128.  Would our Sun then correspond to the planet Jupiter when it, hypothetically, merges with one of the three synthesizing planets?

128.  Vậy thì Mặt Trời của chúng ta có tương ứng với hành tinh Sao Mộc khi nó, theo giả thuyết, hòa nhập với một trong ba hành tinh tổng hợp chăng?

129.  If the Law of Attraction is universal, the merging of Suns/Logoi must be followed by the merging of Constellational Logoi and Their constellations. The process would continue until galaxies are found merging and families of galaxies and still greater groupings. Eventually all would merge into the One and Only Form of Cosmos—the Form of the Universal Logos.

129.  Nếu Định luật Hấp Dẫn là phổ quát, thì sự hòa nhập của các Mặt Trời/Các Thượng đế phải được tiếp nối bởi sự hòa nhập của các Thượng đế Chòm Sao và các chòm sao của Các Ngài. Tiến trình ấy sẽ tiếp tục cho đến khi các thiên hà được thấy là đang hòa nhập, rồi các họ thiên hà và những tập hợp còn lớn hơn nữa. Rốt cuộc, tất cả sẽ hòa nhập vào Hình Tướng duy nhất và độc nhất của Vũ trụ—Hình Tướng của Thượng đế Vũ Trụ.



[1] hoa cẩm chướng

[2] lan Nam Phi

Leave a Comment

Scroll to Top